Chuyện Cha Mễn kể cho các gia đình - Sách 35 Sức mạnh của lòng yêu mến Chúa thúc bách tôi
Lm. Phêrô NguyễnVăn Mễn
(sưu tầm)
Sức mạnh của lòng yêu mến Chúa thúc bách tôi
Chuyện Cha Mễn kể cho các gia đình - Sách 35
Nguồn: https://linhmucmen.com/news/chuyen-ke-gia-dinh/
**** Đọc các bài của Lm. Mễn:
1. Vào Facebook.com; tìm: Nguyễn Mễn;
hoặc https://www.facebook.com/ nguyen.men.71;
2. Vào Internet: Youtube, Google, Cốc Cốc, Safari, hoặc Yahoo.com;
tìm: Cha Mễn, Cha Mễn kể chuyện, hoặc linh mục Mễn
3. https://linhmucmen.com
4. Email: mennguyen296@gmail.com
5. ĐT: 0913 784 998 có zalo; 0394 469 165
**** "Bao lâu còn thời giờ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người” (Galata 6,10)
**** Lạy Chúa, xin hãy hoàn thành nơi con những ý định của Chúa. Và xin ban cho con ơn: Không làm trở ngại ý định của Chúa do hành vi của con. Lạy Chúa, con muốn điều Chúa muốn, chỉ vì Chúa muốn, như Chúa đã muốn và tới mức độ Chúa muốn. Amen.
---------------------------------
Bài 1: Sức mạnh của lòng yêu mến Chúa thúc bách tôi
Bài 2: Chuyện Thánh Faustina thị kiến Luyện Ngục
Bài 3: Chuyện linh mục là con người, nên cũng sợ ma lắm
Bài 4: Thánh lễ Misa cứu được các linh hốn nơi Luyện Ngục
Bài 5: Thiên Chúa chọn con đường yêu thương để đến với con người
Bài 6: Ốc đảo hy vọng giữa sa mạc cuộc đời
Bài 7: Kinh nghiệm sau khi chết của Cha Jose Mani-yangat
Bài 8: Đi theo Chúa, chúng ta sẽ được biến đổi
Bài 9: Đức Kitô, Đấng dẫn ta về với Thiên Chúa Cha
Bài 10: Những câu chuyện biến hình
Bài 11: Qua thập giá, ta sẽ đạt tới vinh quang
Bài 12: Chuyện ông Leonardo da Vinci
Bài 13: Chúa mời gọi chúng ta canh tân liên lỉ
Bài 14: Tha thứ là bài học, cần phải học mãi suốt đời
Bài 15: Tình cha vẫn mãi là như thế
Bài 16: Thập Giá vẫn còn đó giữa cuộc đời hôm nay
Bài 17: Yêu là hiến dâng mạng sống cho người mình yêu
Bài 18: Giáo hội Chúa vẫn luôn phát triển trong âm thầm và đau khổ
Bài 19: Lòng mến sẽ hóa giải được đau khổ
-------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 779
Bạn thân mến,
Vị linh mục trẻ người Pháp, tên là Jean Cassaigne đến Sài Gòn năm 1926, và sau đó, được bài sai đi nhận thí điểm truyền giáo tại vùng Di Linh.
Ngài tiếp xúc với anh em dân tộc Thượng, học tiếng của họ, dạy học và chữa bệnh cho những người Thượng bị phong, đó là những công việc thường ngày của cha Cassaigne.
Vào một ngày thứ Năm, cuối 1927, khi đi săn kiếm thức ăn, Cha gặp một phụ nữ cùi rên la, bị gia đình bỏ mặc trong một chòi lá trên cao, chờ chết.
Cha trèo lên đến sát bên an ủi. Hôm sau Cha đem thuốc và đồ ăn tới. Cha tiếp tục thăm và chăm sóc, và rửa tội cho bà, được hai tuần bà chết, ngày 08-12-1927, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm.
Trước khi nhắm mắt, bà nói: “Ông Lớn ơi, con sẽ nhớ đến Ông Lớn, khi con về Nước Trời”.
Đó là viên đá đầu tiên trong đời truyền giáo của Cha. Cha đã dâng thánh lễ tạ ơn sốt sắng như lễ mở tay. Nhờ đó, Cha biết có nhiều người cùi lang thang trong rừng. Cha tiếp tục tìm kiếm người cùi, thuyết phục họ về sống chung, gần ngài. Từ từ Cha tập trung họ sống thành làng. Cuối tháng 3-1927, cha cất nhà nguyện bằng lá, bắt đầu có thánh lễ mỗi Chúa nhật. Tháng 7-1927, ban ngày mở lớp học cho trẻ em, vừa dạy chữ, vừa giáo lý. Ban đêm cho người lớn.
Ngày 19-3-1929, cha chọn lễ thánh Giuse, làm ngày khai sinh làng cùi, rửa tội cho người thượng đầu tiên tên Giuse Braé. Làng được 23 bệnh nhân cả nam nữ, tại đồi Kala, ở trong 6 nhà lá.
Noel 1930, một gia đình được rửa tội, khánh thành tháp chuông. Tiếng chuông đầu tiên vang lên thay cho tiếng cồng. Một mình coi xứ đạo, và làm đủ việc: y tá có, khi đỡ đẻ có, chạy gạo và thuốc men cho dân làng cùi.
Từ đây, Cha nhuốm bệnh sốt rét và lao phổi. Một năm bị sốt tới 10 tháng như cha vẫn nói: ‘‘Trong 12 tháng, tôi bị sốt hết 10 tháng. Nhưng tôi không thể nằm nghỉ, vì không chút yên lòng và không có một ai thay thế tôi lo cho bệnh nhân’’.
Năm 1938, có thêm 3 nữ tu dòng Bác Ái Vinh Sơn người Pháp đến giúp. Làng cùi, lúc đó đã có tới 100 người.
*****
Ngày 24/2/1941, cha Cassaigne nhận được quyết định của Tòa Thánh bổ nhiệm ngài làm Giám mục, kế vị Đức cha Dumortier, trong sứ vụ Giám mục Sài Gòn.
Xa rời đàn con bất hạnh của ngài trong hơn 14 năm, mà ngày đêm ngài hằng nhớ tới họ... và hình như ngài chỉ mong sao có ngày được đoàn tụ lại với họ.
Từ đầu năm 1947, sức khỏe của Đức cha Cassaigne xấu đi rõ rệt. Thêm vào đó là bệnh sốt rét cũ tái phát trầm trọng và chứng suy gan của ngài, sự giảm chất vôi cột sống rất đau đớn; và trên tất cả còn có một mối đe dọa khác: Năm 1943, người ta đã tìm thấy trong cơ thể của ngài có “vi trùng Hansen”.
Ngày 15/7/1955 Đức cha xin từ nhiệm và về hưu tại làng cùi Di Linh, tại đó ngài còn có thể phục vụ những người mắc bệnh phong và cũng để tự chữa bệnh nữa.
Ngày 31/10/1973, ngài trút hơi thở cuối cùng giữa những con cái phong cùi của ngài, như ngài hằng ước nguyện.
Ngài đã được mai táng bên cạnh ngôi nhà nguyện của người phong cùi, để họ có ngài ở với họ luôn mãi.
Lòng yêu mến Chúa là sức mạnh thúc bách vị Giám mục Cassaigne hiến thân phục vụ anh chị em mình, dù là những người con bị bệnh cùi hủi.
*****
“Phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi… ngươi hãy yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22:37-39).
Đó là hai giới răn trọng nhất trong niềm tin được Đức Giêsu trích dẫn từ sách Đệ Nhị Luật 6,5 và sách Lêvi 19,18 trong 613 điều răn trong luật của Do Thái giáo.
Các thầy rabbi thường tranh luận với nhau về tầm mức quan trọng của mỗi luật để chia ra thành điều răn “lớn” và điều răn “nhỏ”.
Đệ Nhị Luật 6,5 là điều răn căn bản và chính yếu của Do Thái giáo. Điều răn này luôn được dùng để mở đầu cho mỗi buổi lễ của người Do Thái, và đây cũng là luật đầu tiên các trẻ em Do Thái phải nhớ nằm lòng.
Lòng kính yêu Thiên Chúa phải là hoàn toàn, bao gồm mọi suy xét, cảm kích và là động lực cho cuộc sống.
Đức Giêsu liên kết hai điều răn này lại với nhau và Ngài đặt kính yêu Thiên Chúa trước tiên, sau đó là thương người.
Sự liên hệ gắn bó giữa hai giới răn này: Tình yêu tha nhân càng sâu sắc, khi chúng ta kính yêu Thiên Chúa.
Tình yêu với Đấng tối cao: “Hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi…” là đưa cuộc sống ta theo sự dẫn dắt của Ngài.
Với người Do Thái, tình yêu tha nhân được định hướng theo sách Lêvi 19,18 viết: “Ngươi phải yêu mến người lân cận như chính mình ngươi”.
Nhãn quan Kitô giáo lại đặt tình yêu tha nhân vào địa vị trung tâm, then chốt chủ yếu trong sự gắn bó với Thiên Chúa: “Ai không yêu anh em mình là kẻ mình thấy, thì sẽ không yêu được Thiên Chúa, Ðấng mình chẳng thấy. Khi chúng ta yêu mến Thiên Chúa thì chúng ta yêu mến con cái Chúa” (1Ga 4,20; 5,2).
Tình yêu của Thiên Chúa là mô phạm cho các hành động yêu thương nhân loại: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu các con” (Ga 13,34).
Yêu thương nhau trong Chúa là dấu chỉ thuộc về Thiên Chúa: “Cứ dấu này mọi người sẽ nhận ra các con là môn đệ Thầy: Đó là tình yêu các con trao cho nhau” (Ga 13,35).
Yêu Chúa và yêu người là hai giới răn gắn bó chặt chẽ với nhau đến nỗi thánh Gioan tông đồ tuyên bố yêu Chúa, mà không yêu tha nhân, là kẻ nói láo (x. 1Ga 4,20).
Chính Thiên Chúa khởi xướng việc tỏ tình thương: “Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, chúng ta phải yêu thương nhau” (1Ga 4,11; x. Ml 2,10; 1Cr 8,11-13; 1Ga 3,16).
Tình yêu khuyến khích hiến thân phục vụ (x. 1Tx 2,8; Cn 17,17; 2Cr 12,15; Gl 4,13; Pl 2,30; 4,10; 1Tx 1,9).
Như thế, tình yêu thường dành cho nhau, trong nhãn quan Kitô giáo, gắn chặc với tình yêu Thiên Chúa (x.1Ga 4,20; 5,2), với Lề Luật Thánh: “Yêu thương là chu toàn Lề Luật” (Rm 13,10; x. 1Pr 1,22; 2,17; 1Ga 3,23. 4,22; 2Ga 5; 1Tx 4,9; Dt 13,1; Gc 2,8).
*** Khi chúng ta yêu mến Thiên Chúa thì chúng ta yêu mến con cái Chúa (x. 1Ga 4,20; 5,2).
----------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 780
Bạn thân mến,
Thánh Faustina đã đến nghĩa trang vào chiều tối ngày lễ Các Linh Hồn, 02-11-1936.
Sau khi cầu nguyện một lúc, chị đến nhà nguyện và cầu nguyện để “lãnh ơn đại xá.” (Nhật Ký, 748)
Các ân xá mà chị đã cầu xin là món quà đặc biệt mà Giáo Hội ban tặng hằng năm vào đầu tháng 11, khi tín hữu có thể lãnh ơn toàn xá cho các linh hồn nơi Luyện Ngục.
Ngày hôm sau, khi tham dự Thánh Lễ, Thánh Faustina nhìn thấy “ba con chim bồ câu trắng bay từ bàn thờ lên trời.” Chị hiểu rằng ba linh hồn đó, cùng với nhiều linh hồn khác, đã được lên Thiên Đàng.
Ba năm trước, năm 1933, Thánh Faustina được linh hồn của một nữ tu cùng dòng đến thăm. Nữ tu này qua đời hai tháng trước đó. Nữ tu này “ở trong tình trạng khủng khiếp, bốc cháy với khuôn mặt méo mó một cách đau đớn,”
Thánh Faustina đã gia tăng cầu nguyện cho nữ tu này.
Đêm hôm sau, Thánh Faustina vô cùng kinh ngạc khi thấy nữ tu đó trở lại trong tình trạng thậm chí còn tồi tệ hơn, xung quanh là lửa cháy dữ dội hơn, với nỗi tuyệt vọng “hằn trên khuôn mặt.”
Thánh Faustina hỏi: “Những lời cầu nguyện của em không giúp được gì cho chị sao?”
Nữ tu đó nói rằng: Những lời cầu nguyện của cô ấy đã không giúp ích được gì, và chẳng có gì giúp ích được cho nữ tu đó.
Thánh Faustina hỏi: “Còn những lời cầu nguyện mà cả cộng đoàn dành cho chị, cũng không giúp được gì cho chị sao?”
Nữ tu đó nói: “Không, những lời cầu nguyện đó đã giúp các linh hồn khác.”
Thánh Faustina nói: “Nếu những lời cầu nguyện của em không giúp được gì cho chị, xin đừng đến với em nữa.”
Linh hồn đó biến mất ngay lập tức.
Mặc dù vậy, Thánh Faustina vẫn tiếp tục cầu nguyện.
Một thời gian sau, nữ tu kia trở lại vào ban đêm. Tuy nhiên, lần này nhìn nữ tu hoàn toàn thay đổi. Ngọn lửa đã biến mất, và “khuôn mặt rạng rỡ, đôi mắt sáng niềm vui.” (Nhật Ký, 58) Nữ tu kia nói rằng Thánh Faustina có một tình yêu đích thực đối với người lân cận và nhiều linh hồn khác đã nhận được lợi ích từ những lời cầu nguyện của chị.
Thánh Faustina cho biết: “Chị ấy thúc giục tôi không ngừng cầu nguyện cho các linh hồn trong Luyện Ngục, và chị ấy nói thêm rằng: Chị ấy sẽ không phải ở đó lâu hơn nữa. Đường lối Chúa thật đáng kinh ngạc biết bao!”
Mặc dù nữ tu đó vẫn ở Luyện Ngục trong lần thứ ba đến thăm Thánh Faustina, nhưng mức độ đau khổ của chị đã hoàn toàn thay đổi. Nhờ hy vọng không ngừng và những lời cầu nguyện của Thánh Faustina, nữ tu đó đã đi từ đau khổ và tuyệt vọng, đến rạng rỡ và vui vẻ. Nữ tu đó chưa ở Thiên Đàng, nhưng chị ấy đang trên đường đi đến Thiên Đàng.
1. CỨU GIÚP CÁC LINH HỒN
Năm 1926, khoảng mười ngày trước khi Thánh Faustina nhìn thấy ba linh hồn bay lên trời trong Thánh Lễ, chị đã cầu xin Chúa vào một đêm nọ. Chúa Giêsu nói với chị rằng, đêm hôm sau, Ngài sẽ cho chị biết.
Đêm hôm sau, chị nhìn thấy Thiên Thần Bản Mệnh của chị. Thiên Thần đưa chị đến “một nơi đầy lửa, nơi có rất nhiều linh hồn đau khổ.”
Thánh Faustina hỏi nỗi khổ lớn nhất của họ là gì, và bằng giọng nói, họ cho biết rằng nỗi đau khổ lớn nhất của họ là KHAO KHÁT THIÊN CHÚA.
Thánh Faustina nói về các linh hồn: “Họ nhiệt thành cầu nguyện cho chính họ, nhưng vô ích; chỉ chúng ta mới có thể giúp đỡ họ.” (Nhật Ký, 20)
Sau đó, Thánh Faustina nhìn thấy Đức Mẹ đến thăm các linh hồn trong Luyện Ngục và mang lại cho họ sự sảng khoái.
Sau đó, Thiên Thần Bản Mệnh lại dẫn chị ra ngoài.
Chị viết: “Kể từ lúc đó, tôi gần gũi hơn với các linh hồn đau khổ.”
Như Thánh Faustina đã thị kiến, các linh hồn trong Luyện Ngục không thể cầu xin cho chính họ. Vì vậy, ngay cả khi một nữ tu quá cố đến gặp chị vào năm 1933 đã cầu nguyện hết sức, để được thoát khỏi lửa thiêu và sự tuyệt vọng, những lời cầu nguyện của nữ tu đó không có hiệu quả.
Theo kế hoạch bí ẩn của Thiên Chúa, nữ tu đó cần những lời cầu của các tín hữu, để được giải thoát khỏi đau khổ.
Tương tự, tất cả các linh hồn trong Luyện Ngục lúc này rất cần những lời cầu của chúng ta, vì dù họ có cầu cho họ cách nào thì vô ích, nhưng lời cầu của chúng ta rất hữu ích đối với họ.
Mặc dù các linh hồn trong Luyện Ngục không thể cầu nguyện cho chính, nhưng họ vẫn có thể cầu nguyện cho chúng ta.
Và trong một hành động thương xót có đi có lại tốt đẹp, nếu chúng ta cầu nguyện cho họ, họ có thể cầu nguyện cho chúng ta.
Giáo lý Công giáo (số 958) nói: “Lời cầu nguyện của chúng ta cho các linh hồn không chỉ có thể giúp đỡ họ, mà còn làm cho lời cầu thay của họ cho chúng ta có hiệu quả.”
Lời cầu của chúng ta dành cho các linh hồn là chìa khóa mở những lời cầu của họ dành cho chúng ta.
Một đội chiến binh cầu nguyện đang chờ chúng ta trong Luyện Ngục. Khi cầu cho các linh hồn, chúng ta có thể cầu xin họ chuyển cầu cho chúng ta, để chúng ta có thể nhận được phúc lành lớn lao từ những lời cầu của họ.
Mọi lời cầu nguyện, dù lớn hay nhỏ cho các linh hồn trong Luyện Ngục, đều giúp ích cho họ.
Ngay cả khi lời cầu được dâng lên cho một người đã lên Thiên Đàng, lời cầu đó sẽ được nhường cho một linh hồn khác. Không có lời cầu nào lãng phí.
Không có hành động yêu thương nào đối với các linh hồn thánh thiện không được đáp lại.
Không có lễ vật nào không đem lại sự thoải mái, an ủi và sự rạng rỡ của Thiên Đàng cho các linh hồn đau khổ thân yêu này.
2. ƠN TOÀN XÁ
Đầu tháng 11, các tín hữu có thể nhận được sự ân xá toàn thể cho các linh hồn trong Luyện Ngục, như Thánh Faustina đã làm, bằng cách viếng thăm nghĩa trang từ ngày 1 đến ngày 8 tháng 11 và cầu cho các linh hồn.
Mỗi ngày có thể lãnh nhận một ơn toàn xá, với các điều kiện thông thường.
Để có thể lãnh nhận ân xá, người Công giáo trong tình trạng ân sủng phải có ý tốt lành và đáp ứng các điều kiện này:
– Từ ngày 1-8 tháng 11, hãy đi viếng nghĩa trang và cầu cho những người đã chết.
Hoặc vào ngày 2 tháng 11, đi viếng nhà thờ, đọc một kinh Lạy Cha và một kinh Tin Kính cầu theo ý Đức Giáo Hoàng.
– Xưng tội (trong vòng khoảng 20 ngày trước hoặc sau đó, sẽ đủ cho tất cả cá ân xá mà một người có thể lãnh nhận trong khoảng thời gian đó).
– Rước lễ (mỗi lần được lãnh một ân xá).
– Không mắc tội, kể cả tội nhẹ.
Lưu ý: Đôi khi người ta tự hỏi: Liệu họ có thể hoàn toàn thoát khỏi tội nhẹ hay không.
Tôi tin rằng câu trả lời được tìm thấy trong Mc 10, khi Chúa Giêsu nói với các môn đệ về việc người giàu khó vào Nước Trời, họ hỏi rằng như vậy thì ai có thể được cứu.
Chúa Giêsu nói với họ: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được.” (Mc 10:27)
Ngay cả khi chúng ta không thể hoàn toàn thoát khỏi tội lỗi, đó không phải là không thể đối với Thiên Chúa.
Chúa Giêsu nhắc chúng ta: “Cứ xin thì sẽ được.” (Mt 7:7)
Cha chúng ta ở trên trời ban “những điều tốt lành cho những ai cầu xin Ngài.”
Vậy, chúng ta hãy cầu xin Ngài để có được ơn thoát khỏi mọi tội lỗi.
Bạn tôi là Suzie đề nghị thêm lời cầu nguyện nhỏ này khi xin ơn tha thứ: “Lạy Chúa Thánh Thần, nếu con không thoát khỏi mọi tội lỗi, xin hãy làm cho con được tách ra ngay bây giờ, để con có thể lãnh nhận ơn toàn xá mà Mẹ Giáo Hội trao ban cho con là con cái của Giáo Hội.”
Thiên Chúa ở bên chúng ta. Ngài muốn chúng ta có được đặc ân này như một hành động bác ái dành cho các linh hồn nơi Luyện Ngục, và Ngài sẽ giúp chúng ta hoàn thành các điều kiện nếu chúng ta cầu xin.
Lạy Thiên Chúa vĩnh hằng, xin cho các linh hồn được yên nghỉ muôn đời và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn.
Xin cho linh hồn các tín hữu đã ly trần được hưởng nhờ lòng thương xót của Chúa, và được yên nghỉ muôn đời. Amen.
Maura Roan Mckeegan
Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
------------------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 781
Bạn thân mến,
Trong bài giảng Thánh lễ tháng 11, tháng cầu cho các linh hồn tại nhà thờ Huyện Sĩ, tôi được nghe cha Anre Dũng DCCT kể về chuyện một linh hồn hiện về như sau:
Một buổi tối đã khuya, sau khi cầu nguyện lên gường đi ngủ khoảng hơn 1g đêm, cha Anre bỗng nghe tiếng một người phụ nữ gọi :
- Cha ơi !
Cha giật mình nghĩ: Đang đêm thanh vắng, trong phòng ngủ của linh mục, sao lại có người đàn bà nào vào được ? Trốn chỗ nào mà chưa nhìn thấy ? Cha đang đặt câu hỏi trong đầu thì lại nghe tiếng gọi :
- Cha ơi !
Lúc này Cha nổi gai ốc, nhìn quanh phòng, không hề thấy ai, cha nghĩ ngay chắc chắn đay là ma quỷ quấy phá. Ớn quá, Cha cầm chuỗi Mân Côi, liên tục đọc kinh, thì không nghe gọi nữa .. rồi vì quá căng thẳng, Cha không ngủ được, nên thức đến sáng luôn.
Sáng hôm sau rất mệt mỏi, vì đã thức suốt đêm, nhưng Cha vẫn không thể nghỉ ngơi, vì nghĩ lo sợ: Có lẽ đêm nay sẽ bị ma tiếp tục gọi nữa, nên Cha đã xuống kho nhà Dòng, tìm chọn các Thánh gia lớn nhất, vác về phòng, dựng chung quang gường ngủ, để xin Chúa bảo vệ khỏi ma quỷ quấy nhát tối nay....
Khoảng 1giờ như đêm qua, lại nghe tiếng đàn bà gọi :
- Cha ơi !
Cha lạnh người, nhắm mắt, hai tay cầm hai chuỗi Mân Côi, lần liên tục. Những vẫn nghe gọi tiếp:
- Cha ơi !
Cứ ngưng chút lại gọi...Cha oi !
Im lặng, cũng không yên thân được, Cha rất sợ, nhưng nghĩ đã có Thánh Giá Chúa chung quanh gường che chở, ma quỉ phải sợ Chúa, sẽ không dám nhát hay tấn công gì.
Rồi Cha lấy hết dũng khí can đảm, mở miệng nhân danh Chúa hỏi, thì kinh sợ hết hồn, khi thấy lù lù hiện ra, đứng ngay trước mặt, một linh hồn phụ nữ hiện ra rất rõ trả lời Cha:
- Con là linh hồn tên là .... người thuộc giáo xứ của Cha, con đã chết cách nay 3 tháng, hiện đang bị án phạt luyện ngục, nóng nảy, đau đớn vô cùng.
Trước khi chết, con có chồng, là người hiền lành, luôn yêu thương con. Gia đình đang êm ấm, không xung khắc gì cả, nhưng vì ra ngoài gặp gỡ, con đã yêu người khác và đã bỏ chồng, đi theo sống với người ta. Một thời gian, thì bị tai nạn chết.
Hôm nay, vì lòng nhân từ Chúa xót thương, khi con còn sống, cũng có những thời gian thờ kính Chúa, giữ đạo, Ngài cho phép con được về gặp Cha, xin giúp chuyển lời tới chồng con tên là.... Xin anh tha thứ lỗi đã bỏ anh và xin anh dâng thánh lễ cầu nguyện cho linh hồn con, để con được Chúa tha thứ, mà sớm được giải thoát, ra khỏi lửa luyện hình. Con cám ơn Cha.
Sau đó, linh hồn biến mất.
Nghe linh hồn nói rồi, thì Cha không còn sợ nữa.
Từ sau khi gặp linh hồn Cha không thể ngủ được, sáng mới 4g Cha đã vội qua nhà thờ quì cầu nguyện, cảm tạ Chúa đã cho gặp một linh hồn, được cảm nhận rõ về Lòng xót thương của Chúa đối với con người, về đền phạt của con người với những lỗi tội.
Ngay trước thánh lễ Cha nhắn tin trong nhà thờ :
- Ai là người thân của người đã qua đời tên... hãy gặp Cha ngay sau thánh lễ.
Hôm đó, có cô em chồng đi dự lễ, đã vào gặp Cha, để nghe Cha nói việc linh hồn chị dâu về xin chồng tha thứ và xin lễ cầu nguyện cho chị,...
Hai ngày sau, người chồng đi công tác về vào gặp cha, anh đã nhìn nhận những lời linh hồn vợ về nói là đúng sự thật, anh đã rộng lòng tha thứ và xin lễ cầu nguyện cho linh hồn vợ.
Anh quả là người chồng rất nhân hậu với những hành động cụ thể đối với linh hồn người đã từng bỏ rơi, dù mình rất yêu thương..
Cũng từ lần gặp gỡ linh hồn người phụ nữ giúp Cha tin rõ về thưởng phạt của Thiên Chúa, và sẽ can đảm hơn sau này, khi có cơ hội gặp linh hồn về xin giúp đỡ, cha không hãi sợ nữa..
*** Đây là một trong những câu chuyện: Sự hiện về của linh hồn, giúp chúng ta tin và hiểu rõ hơn việc đền trả của tội lỗi nơi luyện ngục, là chốn thanh luyện linh hồn sau khi chết.
Maria Lệ Yến
------------------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 782
Bạn thân mến,
Chúa Giêsu phán với Thánh nữ Ge-tru-đê rằng:
"Vào giờ chết, Cha sẽ sai nhiều Thánh đến an ủi giúp đỡ những ai siêng năng sốt sắng tham dự Thánh lễ khi còn sống".
Trong Thánh lễ, Giáo hội dâng nhiều lời cầu nguyện cho hàng Giáo phẩm và các tín hữu trên thế giới, cho những ai đang dự lễ, những ai dâng của lễ và những người đang an nghỉ trong Chúa Kitô chờ ngày sống lại. (Charity p. 186).
Công đồng Trentô xác quyết rằng: "Các tín hữu còn sống có thể cầu nguyện cứu giúp các linh hồn Luyện ngục, nhưng lời cầu nguyện giá trị nhất chính là Thánh lễ Misa".
Công đồng còn dạy thêm rằng: "Thánh lễ Misa ngày nay Linh mục thay Chúa dâng trên bàn thờ không đổ máu, cũng chính là Thánh lễ hy sinh xưa Chúa Kitô dâng mình trên bàn thờ thập giá với máu đổ chan hòa.
Thánh lễ hy sinh này đền bù mọi tội lỗi, mà không phải chỉ đền bù cầu khẩn cho người sống, mà còn được dâng lên để đển bù cầu khẩn cho những người đã chết trong Chúa Kitô, nhưng chưa được thanh tẩy vẹn toàn. Đây là thói lành từ thời các thánh Tông đồ truyền lại" (D. 940).
* Thánh Tôma Aquinô cũng dạy rằng, "Không có hy sinh nào giải cứu các linh hồn Luyện ngục bằng hy sinh của Thánh lễ Misa".
* Thánh Chrisôtômô viết: "Khi lễ Misa được cử hành ở trần gian, các Thánh trên trời xuống mở cửa Luyện ngục".
* Thánh Augustinô viết: "Chúng ta không thể nghi ngờ rằng, những lời cầu nguyện của Giáo hội, thánh lễ Misa, việc chia sẻ của bố thí chỉ cho các người đã qua đời, có sức cứu các linh hồn này lắm, có sức làm cho Thiên Chúa cư xử nhân từ với họ hơn là tội họ đáng phạt. Đó là những điều thường thực hành trong Giáo hội, những thực hành có từ thời các giáo phụ ban đầu, từ các tông đồ" (Purgatory p. 195).
* Thánh nữ Monica, Mẹ thánh Augutinô, khi sắp chết chỉ xin các con nhớ tới Mẹ nơi bàn thờ. Thánh Augutinô đã viết điều này trong sách "Tự thuật". Ngài xin các độc giả cùng nhớ tới Mẹ ngài khi dâng lễ.
* Thánh nữ Isave Hoàng hậu nước Bồ có một công chúa tên là Constance qua đời đột ngột. Công chúa đã được hiện về với một thầy ẩn tu ở tỉnh Santarem. Thầy vội chạy đi tìm thánh nữ báo tin công chúa của người hiện đang bị giam phạt ở tầng sâu trong Luyện ngục, và còn phải giam ở đó lâu dài, chịu những hình phạt khủng khiếp. Nhưng công chúa sẽ được giải thoát, nếu có linh mục dâng thánh lễ chỉ cho linh hồn công chúa trong vòng một năm.
Khi nghe thế, các cận thần quanh thánh nữ hoàng hậu phì cười, cho là ông thầy điên, ăn nói xằng bậy.
Nhưng thánh nữ quay sang hỏi đức vua, đức vua trả lời: Ông tin điều đó là đúng.
Linh mục Ferdinand Mendez được mời dâng lễ cho công chúa hằng ngày.
Sau một năm, công chúa đã hiện về sáng láng cùng Mẹ nói rằng: "Mẹ ơi, hôm nay con được ra khỏi Luyện ngục để vào Thiên đàng".
Cảm động vô ngần, thánh nữ Isave vội đi vào nhà thờ dâng lời cảm tạ Chúa.
Thánh nữ đi tìm cha Mendez, ngài nói, hôm qua ngài đã dâng xong 365 thánh lễ như đã được chỉ định.
Thánh Isave hiểu là Chúa đã giữ lời hứa với thầy ẩn sĩ.
Thánh nữ đã phân phát nhiều của cải cho người nghèo khó để tạ ơn Chúa.
* Thánh Benađô kể: Có một tu sĩ đã chết hiện về với một anh em dòng của người, cảm ơn đã cứu mình khỏi bị giam lâu trong Luyện ngục.
Khi hỏi bởi lý do nào mà được giải cứu, linh hồn ấy chỉ về phía bàn thờ nói rằng: "Đây chính là "khí giới ơn thánh" cứu rỗi chúng tôi".
* Thánh Gioan Vianey xứ Ars bên nước Pháp, một hôm kể trong lớp giáo lý truyện sau:
Chắc các con còn nhớ, một lần cha đã kể về một linh mục thánh thiện, có lẽ được Chúa cho biết bạn ngài đang bị giam trong Luyện ngục. Linh mục ấy muốn cứu người bạn. Ngài nghĩ rằng không có gì cứu nhanh hơn là Thánh lễ Misa, nên ngài lo liệu dâng lễ sớm.
Trước khi dâng lễ, ngài thưa với Chúa đơn sơ như trẻ nhỏ nói với cha Mẹ rằng:
"Lạy Cha chí thánh hằng có đời đời, con xin đánh đổi như sau: Cha đang giữ linh hồn bạn con trong Luyện ngục, còn con có thể đổi tấm bánh nên Mình Thánh Chúa Giêsu. Bây giờ xin Cha tha cho bạn con ra khỏi Luyện ngục, và con sẽ dâng cho Cha mọi công nghiệp Chúa Giêsu Con Cha đã chịu nạn chịu chết".
Sau khi truyền phép, ngài nâng Mình Thánh Chúa lên, ngài đã thấy linh hồn bạn ngài lên Thiên đàng.
* Thánh Laurensô Justianô nhận xét rằng: "Một Thánh lễ Misa có giá trị cứu rõi hơn mọi việc đền tội của cả thế giới. Bỏ lên hai đĩa cân, một bên là Thánh lễ, bên kia là các việc đền tội ăn chay bố thí của chúng ta xem bên nào nặng hơn?"
* Á thánh Henry Suso và linh mục bạn, khi cả hai còn sống đã làm lời đoan kết với nhau rằng: "Nếu ai chết trước, thì người còn sống sẽ dâng mỗi tuần hai thánh lễ trong đủ một năm cầu cho người chết trước".
Sau ít năm, cha bạn qua đời, Thánh Suso ngày nào cũng cầu nguyện rất sốt sắng, lại thêm ăn chay và những việc đền tội khác, bởi chưa thể dâng lễ cầu cho cha bạn ngay như đã hứa.
Sau ít ngày, cha bạn hiện về với vẻ mặt buồn bã trách móc nặng lời rằng: "Ôi ông bạn bất trung, sao ông không giữ lời hứa đã đoan kết với tôi ngày trước?"
Thánh Suso trả lời rằng mình đã cầu nguyện và dâng rất nhiều hy sinh hãm mình, nhưng người chết nói: "Lời cầu của ông rất đẹp lòng Chúa, nhưng không có hiệu lực giải cứu tôi. Rồi người đó đập bàn la lên: "Máu! Máu! Những linh hồn đau khổ như chúng tôi cần máu, Máu Chúa Giêsu dâng lên trong Thánh lễ cầu cho chúng tôi sẽ giải thoát chúng tôi khỏi cực hình, nếu ông dâng lễ như đã hứa với tôi thì tôi đã được giải thoát khỏi Luyện ngục cực dữ rồi, bởi ông chậm trễ mà tôi còn chịu khổ, hãy dâng lễ cầu cho tôi, những lễ ông đã hứa với tôi" (Charity p. 191).
* Thánh Giêronimô dạy rằng, " Các linh hồn trong Luyện ngục được giải thoát ngay khi linh mục dâng lễ cầu cho họ và các giáo dân xin lễ hoặc dự lễ cầu cho họ."
Chúng ta hãy sắp xếp thời giờ, siêng năng và sốt sắng tham dự Thánh lễ hằng ngày, hoặc nhiều ngày trong tuần, để cầu cho các linh hồn.
Đây là việc quan trọng, thánh thiện tôn vinh danh Chúa, ích lợi cho phần rỗi ta, và cứu rỗi các linh hồn đang đau khổ trong Luyện ngục.
Lm. Mark, CMC.
------------------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 783
Bạn thân mến,
Trong quyển tự thuật "Vì Danh Ta", một Mục sư người Hungari đã kể lại kinh nghiệm của ông:
- Bị bắt và bị chuyển từ trại này sang trại khác, vị Mục sư vẫn âm thầm rao giảng Lời Chúa cho các bạn tù.
Trong 13 năm tù, ông đã giúp cho rất nhiều bạn tù được gặp gỡ Chúa. Ông đã kết thúc quyển tự thuật cũng là bài ca tuyên xưng đức tin của ông như sau:
"Trong suốt thời gian bị tù đày, tôi đã hiểu được rằng: Lời Chúa đi vào tâm hồn con người dễ dàng hơn giữa những nơi đau khổ và bách hại. Ðó là lý do cho thấy mùa gặt thiêng liêng trong các ngục tù luôn luôn dồi dào. Tôi không tự cho mình là người anh hùng, lại càng không phải là vị tử đạo. Nhưng vào lúc sống tự do, nhìn lại đằng sau, tôi có thể nói với tất cả thành thật rằng: 13 năm bị tra tấn đánh đập, đói khát, 13 năm đau khổ và xa gia đình để làm mục sư cho hàng ngàn tù nhân trong các trại giam, 13 năm như thế quả thật đáng giá".
Những dòng trên đây quả là một phấn khởi cho tất cả những ai đang vì niềm tin của mình mà phải chịu bách hại và đau khổ.
Những đau khổ thử thách mà các Kitô hữu phải trải qua, thường là dấu chỉ cao đẹp nhất, qua đó Thiên Chúa tỏ mình ra cho con người.
Chúa Giêsu như muốn nói đến điều đó, khi Ngài mượn hình ảnh tiên tri Yôna, để loan báo về chính cái chết của Ngài.
Cũng như Yôna đã vâng phục Thiên Chúa đến rao giảng sự sám hối cho dân thành Ninivê, thì Chúa Giêsu cũng vâng phục Chúa Cha để sống kiếp con người và trở thành dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa cho con người.
Qua hình ảnh Yôna để loan báo sự vâng phục cho đến chết của Ngài, Chúa Giêsu muốn nói đến con đường mạc khải của Thiên Chúa, đó là con đường tình yêu.
Ngài đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài, nghĩa là có tự do và biết yêu thương, cho nên Thiên Chúa đã chọn con đường yêu thương để đến với con người: Ngài đã hóa thân làm người, sống trọn vẹn kiếp người, và cuối cùng chịu chết treo trên Thập giá, tất cả để trở thành lời mời gọi đối thoại yêu thương.
Mãi mãi Thiên Chúa chỉ đến với con người qua dấu chỉ của tình yêu.
Người Kitô hữu luôn được mời gọi để nhận ra những dấu chỉ yêu thương ấy trong cuộc sống của mình, không những qua những chúc lành và may mắn, mà còn qua những mất mát, khổ đau, thua thiệt nữa.
Nhận ra những dấu chỉ yêu thương của Thiên Chúa trong cuộc sống, người Kitô hữu cũng được mời gọi để trở thành những dấu chỉ yêu thương của Ngài cho mọi người chung quanh.
Trở thành dấu chỉ yêu thương, có nghĩa là chấp nhận sống vâng phục và vâng phục cho đến chết như Chúa Giêsu.
Trở thành dấu chỉ yêu thương giữa tăm tối của cuộc sống, giữa đọa đày bách hại, người Kitô hữu vẫn tiếp tục chiếu sáng trong tín thác, yêu thương, phục vụ, tha thứ.
Lạy Chúa, xin cho lý tưởng chứng nhân nơi mỗi chúng con luôn bừng sáng, để dù sống trong bất cứ hoàn cảnh khổ đau, thử thách nào, chúng con vẫn luôn trung thành tỏa sáng tình yêu Chúa, nơi môi trường sống của chúng con. Amen.
------------------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 784
Bạn thân mến,
Một đoàn các nhà khoa học thám hiểm vùng sa mạc Sahara (Châu Phi), đang khi giữa cuộc nghiên cứu, thì đoàn bị mất liên lạc và mất cả phương hướng để ra khỏi sa mạc mênh mông.
Họ phải chịu đựng cái nắng thiêu đốt vào ban ngày, và cái giá lạnh khắc nghiệt khi đêm về.
Lương thực đoàn mang theo thì đã cạn dần, thể xác họ cũng cạn kiệt sức lực, lại giữa chốn hoang vu, nên tinh thần cùng ý chí cũng dần dần suy sụp.
Sự tuyệt vọng bắt đầu xâm chiếm mọi người. Họ muốn tìm một khe suối, một bóng mát, thế nhưng chung quanh họ chỉ toàn là cát với cát, nắng với nắng vào ban ngày và cái lạnh thấu xương vào ban đêm. Họ thất vọng và không muốn cất bước nữa. Họ định buông xuôi cho định mệnh đen đủi. Mọi người đều nghĩ rằng:
“Có lẽ chúng ta sẽ chết giữa sa mạc hoang vu này thôi”.
Bỗng người trưởng đoàn cất tiếng:
“Anh em ơi, có bóng cây từ xa xa”.
Nghe được câu nói đó, như được tiếp thêm sức mạnh, mọi người hối hả cất bước tiếp, dù chính họ không hề thấy gì, chỉ tin tưởng vào lời anh trưởng đoàn.
Trong mỏi mệt, họ cố gắng thêm những bước đi trong hy vọng trước mặt họ sẽ là một ốc đảo, với những bóng cây mát và ao hồ nước. Dù quá mệt mỏi, nhưng họ vẫn phấn khởi tiến bước, tiến bước...
Cuối cùng, nhờ những bước đi đầy hy vọng đó, mà họ tìm được ốc đảo giữa sa mạc...
Được nghỉ ngơi, dưỡng sức và đội cứu hộ đã tìm thấy họ trong sự kinh ngạc, vì sức chịu đựng phi thường của đoàn thám hiểm. Vì mọi người, ai cứ tưởng sẽ không thể tìm được họ trong sự sống...
*****
Cuộc đời của chúng ta được ẩn dụ như một cuộc lữ hành, cuộc thám hiểm và đôi lúc chúng ta bị lạc lối giữa sa mạc hoang vu của cuộc đời, như các nhà thám hiểm mất hướng trên hoang mạc Sahara. Chúng ta cũng cần và cố bước đi trong hy vọng được nghỉ ngơi bên suối hồng ân.
Ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan, là những người theo sát Chúa Giêsu nhất. Các Ngài là người kề cận với Chúa trong mọi hành trình của sứ mạng Thiên Sai, đặc biệt là trong những giây phút khủng hoảng nhất với chính Chúa Giêsu và cả với chính họ.
Ba môn đệ này sẽ nói về tương lai của Giáo hội và cuộc sống của mỗi người chúng ta:
Phêrô lãnh đạo Giáo hội phải đương đầu với bao thử thách.
Giacôbê chứng nhân thử thách đầu tiên trong hàng ngũ các tông đồ qua việc tử đạo.
Và Gioan là người đã hiện diện trong lòng Giáo hội sơ khai, như niềm hy vọng giữa bao thăng trầm.
Cuộc đời của các ngài như hình ảnh của chúng ta hiện diện giữa cuộc sống với bao thăng trầm của lịch sử xã hội và của cả lịch sử cá nhân đầy sóng gió, mà tôi và bạn, mỗi người có cảm nghiệm riêng biệt.
Cả ba môn đệ này đã chứng kiến cảnh Chúa trong vườn Giêtsêmani, thất bại, chán chường và cũng chính trong cơn thử thách đó, họ đã từng bị khủng hoảng và mất phương hướng: Có người bỏ Chúa, chối Thầy... (x. Mt 26,56.69-75; Mc 15,50. 66-72; Lc 22,55-62; Ga 18,15-27).
Đức Giêsu hình như đã nhìn thấy lòng hoang mang, khủng hoảng của các đồ đệ mình trong hành trình sứ mạng, nên Ngài đã cho các ông thấy “ốc đảo” của sự hạnh phúc:
Ngài dẫn ba tông đồ lên núi, để chứng kiến vinh quang Thiên Chúa, qua dung mạo Ngài hiển dung sáng láng trước mắt họ.
Vinh quang, mà ba môn đệ thấy, tiên báo cho họ biết về vinh quang Phục sinh, sau khi hoàn tất khổ nạn thập giá Chúa Kitô sẽ Phục sinh sau này.
Trong Ngài, chúng ta cũng được hiển dung như Ngài. Nhưng trước khi được biến đổi hoàn toàn và vĩnh viễn, Chúa Giêsu phải đi trong mầu nhiệm vượt qua:
Ngài phải chịu khổ hình thập giá và chết đau thương.
Trong mầu nhiệm thánh này, con người cùng Ngài vượt qua trần gian với tất cả thực tại: Con người vượt qua, từ sự chết do tội, đến sự sống lại vinh hiển bởi tình yêu Thiên Chúa.
Ngài hiển dung, cũng để minh chứng tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa nơi nhân loại:
Đả đưa vinh quang hiển dung như là một “ốc đảo” nuôi dưỡng sự hy vọng cho các tông đồ, để họ tiếp tục cất bước, tất cả như lời khuyến khích:
Các con sẽ vinh quang và hạnh phúc, dù rằng phải bước những bước chân mịt mù sắp tới.
Bên cạnh Đức Giêsu hiển dung, xuất hiện Êlia và Môisê, hai gương mặt nổi bật trong lịch sử dân Israel.
Môisê tượng trưng cho sự ân cần của Thiên Chúa đối với dân, đồng hành với Dân Ngài đi tìm đất hứa. Đồng hành trong 40 năm trên sa mạc, với lời khẳng định sẽ có miền Đất Hứa, mặc dù dân Chúa trong 40 năm đầy bôn ba, đầy thử thách giữa sa mạc.
Còn Êlia tượng trưng cho cuộc tranh đấu của ngài cho dân, vì Êlia đã tranh đấu trong một niềm tin bị thử thách, để Lời Chúa được đến với Dân Ngài một cách vẹn toàn và trung thực.
Sứ mạng và nhiệm vụ của Đức Giêsu được làm tròn đầy sứ mạng và nhiệm vụ của hai vị.
Môisê và Êlia là những nhân vật được báo trước về Đức Giêsu: Tình yêu và lòng ân cần của Thiên Chúa và dấn thân của Ngài tranh đấu cùng với con người trong lịch sử cứu độ.
Hình ảnh Chúa hiển dung trên núi Taborê là lời mời gọi mọi người tín hữu hãy can đảm dấn bước theo Chúa trong tiến trình vượt qua.
Đó là hành trình được biến đổi hầu trở nên giống Chúa và được sống hạnh phúc trong Ngài, dù có thể xuyên qua những khổ đau của cuộc đời.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn can đảm bước từng bước theo Chúa giữa cuộc đời này. Amen.
------------------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 785
Bạn thân mến,
Tôi (Lm. Jose Maniyangat) sinh ngày 16/07/1949 tại Kerala, Ấn Độ. Cha mẹ của tôi là Joseph và Theresa Maniyangat.
Tôi là người con lớn nhất trong 7 anh chị em: Jose, Mary, Theresa, Lissama, Zachariah, Valsa và Tom.
Vào năm 14 tuổi, tôi gia nhập tu viện St. Mary ở Thiruvalla. Bốn năm sau đó, tôi đổi sang tu viện St. Joseph ở Alwaye, Kerala để tiếp tục đời tu.
Sau 7 năm triết học và thần học, tôi được thụ phong linh mục vào ngày 01/01/1975.
Sau đó, tôi làm công tác truyền giáo ở Giáo Phận Thiruvalla.
Vào năm 1978, trong thời gian tôi đang dạy ở tu viện St. Thomas ở Bathery, tôi là một thành viên hoạt động trong phong trào Canh Tân Đặc Sủng ở Kerala và bắt đầu tổ chức các cuộc tĩnh tâm, đại hội của phong trào Canh Tân Đặc Sủng ở Kerala.
Vào Chúa Nhật Lễ Kính Lòng Thương Xót ngày 14/04/1985, khi trên đường đi dâng lễ cho một nhà thờ phía bắc ở Kerala, tôi đã bị tai nạn thật khủng khiếp:
Tôi đang lái xe gắn máy thì bị một người say rượu lái chiếc xe jeep đụng vào đầu xe.
Sau đó người ta chuyển tôi tới bệnh viện cách xa khoảng 35 dặm (x 1,61 Km = 56,35 km).
Trên đường tới bệnh viện, linh hồn tôi đã lìa khỏi xác, và tôi đã cảm nghiệm được sự chết.
Ngay lúc đó, tôi gặp Thiên Thần bản mệnh. Tôi được nhìn thấy thân xác của tôi và những người đưa tôi đến bệnh viện. Tôi nghe tiếng họ đang khóc và cầu nguyện cho tôi.
Lúc đó Thiên Thần bản mệnh nói với tôi rằng:
“Tôi sẽ đưa cha lên Thiên Đàng; Thiên Chúa muốn gặp và nói chuyện với cha.”
Thiên Thần bản mệnh cũng nói với tôi: Trên đường đi, sẽ cho tôi thấy Hỏa Ngục và Luyện Ngục.
Trước tiên, Thiên Thần dẫn tôi tới Hỏa Ngục.
Thật là một cảnh rất khủng khiếp! Tôi đã nhìn thấy Satan và các quỷ dữ với độ nóng phừng phực khoảng 2.000 độ F, giòi bọ bò lúc nhúc, người ta la hét và chửi bới, một số khác đang bị tra tấn bởi quỷ dữ.
Thiên Thần bảo tôi: Những người này đã mắc tội trọng, mà không ăn năn hối cải khi còn sống.
Tôi đã hiểu ở đó có 7 mức độ đau đớn của hình phạt khác nhau, tuỳ theo tội trọng, mà họ đã phạm khi còn sống. Linh hồn họ rất xấu xí, độc ác và kinh khiếp.
Đó là một kinh nghiệm đáng sợ.
Tôi có nhìn thấy một số người quen, nhưng tôi không được phép nêu tên của họ.
Những tội bị rơi vào Hỏa Ngục, chính yếu là các tội: Phá thai, dâm dục, trợ tử, ghen ghét, không tha thứ và phạm thánh.
Thiên Thần bảo tôi: Nếu những người này thống hối trước giờ chết, thì họ có thể tránh được Hỏa Ngục, chỉ phải đền bù ở Luyện Ngục.
Tôi còn hiểu rằng: Nếu số người này chịu hối cải và chịu đau khổ ở trần gian để đền tội, thì họ sẽ tránh được luyện ngục và được lên thẳng Thiên Đàng.
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy có cả các linh mục và giám mục ở Hỏa Ngục.
Trong số những người đó, một số người tôi không bao giờ dám nghĩ là họ sẽ bị sa Hỏa Ngục.
Những giám mục và linh mục này bị sa Hỏa Ngục, vì đã giảng dạy sai lầm và làm gương xấu.
Sau khi thăm Hỏa Ngục, Thiên Thần đưa tôi đến Luyện Ngục.
Ở đây cũng vậy, có 7 mức độ hình phạt và lửa cháy phừng phực khác nhau. Nhưng ở Luyện Ngục thì không khủng khiếp như ở Hỏa Ngục.
Người ta không tranh giành và chửi bới. Nỗi đau khổ chính của họ là không được chiêm ngắm Thiên Chúa.
Một số người trong Luyện Ngục họ mắc tội trọng, nhưng họ đã ăn năn thống hối với Chúa trước khi chết.
Mặc dù những linh hồn này đang chịu hình phạt, nhưng họ vẫn cảm nhận được sự bình an và họ biết rằng một ngày nào đó, họ sẽ được hưởng thánh nhan Chúa. Tôi đã được phép nói chuyện với vài linh hồn ở Luyện Ngục.
Họ xin tôi và mọi người cầu nguyện cho họ, để họ sớm được về Thiên Đàng.
Khi chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Ngục, họ sẽ nhớ ơn và cầu nguyện lại cho chúng ta, khi họ về Thiên Đàng.
Thật rất khó mà diễn tả Thiên Thần của tôi đẹp như thế nào. Thiên Thần sáng như ánh hào quang. Thiên Thần luôn đồng hành với tôi trong công việc mục vụ, đặc biệt là mục vụ chữa lành.
Thiên Thần luôn đi với tôi bất cứ nơi nào và tôi rất biết ơn về sự bảo vệ của thiên thần cho đời sống của tôi.
Kế tiếp, Thiên Thần đưa tôi lên Thiên Đàng.
Chúng tôi băng qua con đường hầm sáng láng. Tôi chưa bao giờ cảm nghiệm được sự bình an và hoan hỉ bằng lúc này.
Ngay tức khắc, tôi nghe thấy điệu nhạc du dương những Thiên Thần đang ca hát và tôn thờ Chúa.
Tôi nhìn thấy những vị Thánh đặc biệt là Đức Mẹ Maria, Thánh Giuse, nhiều giám mục và linh mục thánh thiện. Những vị này sáng láng như các vì sao.
Khi tôi đến trước mặt Chúa, Chúa Giêsu bảo tôi:
“Cha muốn con trở lại trần gian, trong cuộc sống thứ hai của con, con sẽ trở nên dụng cụ hòa bình và chữa lành cho mọi người, con sẽ đến một nơi đất lạ và con sẽ nói tiếng nước ngoài, mọi sự sẽ được Cha chúc phúc.”
Sau những lời đó, Đức Mẹ Maria bảo tôi: “Con hãy làm những gì Chúa bảo con, Mẹ sẽ giúp con trong công việc mục vụ của con.”
Không một ngôn từ nào có thể diễn tả được sự đẹp đẽ của Thiên Đàng. Nơi đó chúng ta đầy tràn bình an và hạnh phúc, vượt quá hằng triệu lần sự tưởng tượng của chúng ta.
Thiên Chúa rất là tốt đẹp hơn bất cứ sự tưởng tượng nào. Mặt của Ngài thì sáng láng và rực rỡ hơn ngàn lần ánh sáng của mặt trời.
Những bức tranh mà chúng ta nhìn thấy ở thế giới này, chỉ là những bóng mờ so với sự lộng lẫy của Ngài.
Bên cạnh Chúa Giêsu là Mẹ Maria, Mẹ rất đẹp và sáng láng. Không có một hình ảnh nào trên thế giới có thể so sánh với vẻ đẹp thật sự của Mẹ.
Thiên Đàng là quê thật của mỗi người chúng ta. Chúng ta cố gắng trở về Thiên Đàng và hưởng hạnh phúc nhan thánh Chúa mãi mãi.
Sau đó tôi cùng Thiên Thần trở lại trần gian.
Lúc xác tôi còn nằm ở bệnh viện, bác sĩ đã kiểm tra toàn bộ và xác nhận tôi đã chết. Nguyên nhân của sự tử vong là do mất quá nhiều máu.
Gia đình tôi đã được thông báo khi họ còn ở xa. Nhân viện bệnh viện quyết định đưa xác tôi xuống nhà xác. Bởi vì bệnh viện không có máy lạnh, nên họ lo ngại xác sẽ có mùi hôi.
Ngay lúc họ chuyển xác tôi tới nhà xác, linh hồn tôi trở lại thân xác.
Tôi cảm thấy rất đau đớn, bởi vì những vết thương và nhiều xương bị gẫy.
Tôi bắt đầu rên la, những người xung quanh tôi chạy tán loạn, la hoảng lên, vì sợ hãi.
Một trong những người đó đã đi gọi bác sĩ và nói: “Xác chết đang rên la.”
Bác sĩ đến kiểm tra lại thân thể tôi và phát hiện tôi vẫn còn sống.
Bác sĩ ấy nói rằng:
“Cha Jose vẫn còn sống, đây là một phép lạ, hãy đem cha trở lại bệnh viện.”
Khi họ đưa tôi đến phòng để truyền máu, đồng thời họ mổ và sửa lại những xương đã bị gẫy. Họ sửa lại xương quai hàm, xương sườn, xương chậu, xương cổ tay và xương chân phải của tôi.
Sau hai tháng điều trị tại bệnh viện, bác sĩ về xương đã cho tôi biết là tôi sẽ không bao giờ có thể đi lại được nữa.
Nhưng tôi đã nói với bác sĩ: “Thiên Chúa đã cho tôi sống lại, gửi tôi về trần gian thì cũng sẽ chữa lành tôi.”
Sau một tháng cắt băng bột, tôi vẫn không thể đi lại được.
Trong lúc chúng tôi đang cầu nguyện tại nhà, tôi cảm thấy rất đau đớn ở nơi xương chậu.
Nhưng chỉ một thời gian ngắn, sự đau đớn đã hoàn toàn biến mất và tôi nghe thấy có tiếng nói với tôi: “Con đã được chữa lành, đứng dậy và đi.”
Tôi cảm thấy an bình và được chữa lành hoàn toàn trong con người của tôi. Tôi đứng dậy và bước đi. Tôi ngợi khen và tạ ơn Chúa cho phép lạ này.
Tôi báo cho bác sĩ về cái tin mà tôi đã được chữa lành, ông ta rất ngạc nhiên. Ông ta nói với tôi rằng:
“Thiên Chúa của ông là Chúa thật. Tôi phải theo Thiên Chúa của ông.”
Bác sĩ này là người theo đạo Hindu, ông ta đã hỏi tôi về đạo thánh.
Sau đó, ông ta đã học đạo và chính tôi là người đã rửa tội cho ông, để gia nhập đạo Công Giáo.
Theo sứ điệp của Thiên Thần, tôi đã đến Hoa Kỳ vào ngày 10/11/1986, với công tác là linh mục truyền giáo.
Lúc đầu, tôi làm việc cho Giáo Phận Boise ở Idaho, từ năm 1987 tới 1989.
Kế đến, tôi làm tuyên úy cho một nhà tù trong Giáo Phận Orlando, Florida từ năm 1989 tới 1992.
Năm 1992, tôi thuyên chuyển đến Giáo Phận Thánh Augustinô và làm việc tại nhà thờ Thánh Máthêu ở thành phố Jacksonville trong hai năm.
Sau đó, tôi được chỉ định làm chính xứ của nhà thờ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời từ năm 1994 đến 1999.
Vào năm 1997, tôi được chính thức công nhận là linh mục trong giáo phận.
Từ tháng 6 năm 1999 đến nay, tôi là cha quản nhiệm nhà thờ Đức Mẹ của Lòng Thương Xót ở thành phố MacClenny, Florida.
Đồng thời, tôi cũng phục vụ cho trại tù Starke, trung tâm cải huấn Raiford và trong bệnh viện MacClenny.
Hơn nữa, tôi cũng là cha linh hướng của Hội Lêgiô Marie của địa phận.
Trong mỗi ngày thứ bảy đầu tháng, giáo xứ tôi có giờ chầu Thánh Thể và Thánh Lễ chữa lành. Mọi người đến từ nhiều nơi trong tiểu bang Florida và các tiểu bang khác.
Tôi đã được mời đến cho mục vụ chữa lành ở nhiều thành phố lớn trong nước như New York, Philadelphia, Washington DC, San Jose, Dallas, Chicago, Birmingham, Denver, Boise, Idaho Falls, Ontario, Miami, Ft. Lauderdale, Poolsville và nhiều nước trên thế giới như Ireland, Spain, Czech Republic, India, France, Portugal, Yugoslavia, Italy, Canada, Mexico, Cayman Island và Hawaiian Islands.
Xuyên qua công tác mục vụ chữa lành qua phép Thánh Thể, tôi đã thấy nhiều người được chữa lành về thể xác, linh hồn, tâm hồn cũng như cảm xúc.
Nhiều bệnh khác nhau như ung thư, siđa, tim, mắt, xuyễn, đau lưng, lãng tai và nhiều bệnh khác đã được chữa lành hoàn toàn.
Thêm vào đó, nhiều lần trong năm, có những cuộc chữa lành đặc biệt về giòng tộc, mà đã ảnh hưởng bởi tội lỗi của cha ông, cũng đã được chữa lành hoàn toàn.
Vì thế, chúng ta cần sự chữa lành về gia tộc.
Các bác sĩ và nhiều thuốc men, không thể giúp chúng ta chữa lành về các loại bệnh tật này.
Trong mục vụ chữa lành, đã có nhiều người được nghỉ ngơi trong ơn Chúa Thánh Thần, trước Thánh Thể Chúa và nhiều người được đổi mới tâm linh, cũng như chữa lành về thân xác.
Trên đây là tường thuật của Linh Mục Jose Maniyangat.
*****
*** Chuyển dịch: Anna Liên Nguyễn Seattle ngày 07/11/2007.
*** Thiên Chúa hết sức nhân từ, nhưng cũng rất mực công thẳng. Ai sống làm sao, thì Chúa sẽ trả cho như vậy. Đong đấu nào, thì hưởng đấu ấy.
*** Lạy Chúa, xin cho con luôn biết sống tỉnh thức, sẵn sàng, sám hối, khiêm nhường, yêu thương… luôn được sống trong ơn nghĩa của Chúa. Amen.
*** Khi chia sẻ kinh nghiệm sau khi chết này của Cha Jose Maniyangat, được Chúa cho sống lại năm 1985, là vì tôi không muốn bất kỳ ai trong chúng ta phải sa vào Hỏa Ngục.
*** Nguồn: Tổng hội Mân Côi CN Việt Nam/ Tổng Đoàn Hiệp Sĩ Mân Côi
------------------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 786
Bạn thân mến,
Chúng ta vừa nghe một bài Tin mừng tường thuật cho chúng ta câu chuyện về việc Chúa biến hình trên một ngọn núi cao (Lc 9, 28b-36).
Đây là một câu chuyện rất đặc biệt cho nên đã được cả ba Tin Mừng nhất lãm: Mathêô, Marcô và Luca đã thuật lại.
Nếu đọc lại và so sánh, thì chúng ta sẽ thấy cả ba tường thuật lại câu chuyện này theo một bối cảnh chung xuất phát từ truyền thống có trước. Đại cương thì sự việc diễn tiến như sau:
Phêrô tuyên xưng đức tin,
Chúa loan báo về cuộc tử nạn và Phục sinh của Người lần thứ nhất
Chúa đưa ra những điều kiện để được theo Chúa
Chúa biến hình.
Chúa loan báo về cuộc tử nạn và phục sinh lần của Người lần thứ hai.
Chúa lên Giêrusalem để chịu tử nạn và sau đó Chúa phục sinh.
Câu chuyện biến hình của Chúa xẩy ra vào giữa những biến cố rất quan trọng, vào cuối cuộc đời của Chúa. Như vậy nó phải mang một ý nghĩa nào đó. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu.
Chúng ta tự hỏi: Chúa Biến Hình để làm gì?
Mục đích của việc Đức Giêsu biến hình hay hiển dung trên núi trước mặt ba môn đệ, không phải là để cho các ông dựng lều ở lại ngay trên đó. Nhưng là để giúp các môn đệ nhận ra thiên tính của một Con Người, mà họ đang cùng đồng hành và nói chuyện với họ.
Con Người đó không phải chỉ là ngườim nhưng còn là Con Thiên Chúa:
- Lần thứ nhất Thiên Chúa xác nhận Đức Giêsu là Con của Ngài bên sông Gio-đan.
- Và đây là lần thứ hai Thiên Chúa Cha xác nhận Đức Giêsu là Con của Ngài trên núi cao.
Ngài là Con Thiên Chúa, nhưng đồng thời Ngài cũng là Người Tôi Tớ chịu đau khổ, bởi vâng lời Thánh ý của Thiên Chúa Cha, đến đổ máu chết trên thập giá.
Núi Tabor nơi Chúa biến hình tỏ vinh quang của Ngài, là dấu báo trước chuẩn bị cho cảnh hy sinh trên núi Can-vê.
Sau khi chứng kiến Chúa biến hình thì các môn đệ đã có cơ hội biết rõ hơn Thầy của họ thực sự là ai, và họ được hưởng nếm trước cái vinh quang và hạnh phúc đang chờ đón họ bởi việc đi theo Ngài.
Đây cũng là sự chuẩn bị tinh thần cho họ, để khi Thầy của họ bị sỉ nhục, bắt bớ, thì họ không bị mất niềm tin mà thất vọng.
Thực ra, thoạt đầu, khi bước theo Đức Giêsu, cả ba ông Phêrô, Giacôbê và Gioan cũng như các môn đệ khác đã không biết cái giá họ phải trả khi theo Chúa như thế nào. Chính vì thế, mà khi được chứng kiến dung nhan vinh quang của Đức Giêsu trên núi, họ đã sung sướng ngất ngây và muốn ở lại luôn trên đó.
Nhưng chương trình của Đức Giêsu và của Thiên Chúa không như thế. Ngài đã dẫn họ xuống núi trở lại và ngăn cấm không cho họ nói với ai về những gì họ đã thấy, cho đến khi “Con Người từ cõi chết sống lại” (Mt 17,9).
Ngài đã trích dẫn lời chép về Ngài: “Người phải chịu nhiều đau khổ và khinh bỉ” (Mt 16,21).
Nhưng họ vẫn không hiểu và hỏi nhau: “Từ cõi chết sống lại nghĩa là gì?”
*****
Qua việc tường thuật là biến có Chúa biến hình hôm nay Giáo Hội muốn nhắc cho chúng ta điều gì?
- Câu trả lời không khó lắm: Giáo Hội muốn cho chúng ta hãy nghe Lời Đức Kitô.
Trách nhiệm của người Kitô hữu chúng ta là mở tai, mở lòng và mở trí, để đón nhận những gì Đức Giêsu giảng dạy và làm gương bằng cuộc sống của Ngài.
- Lắng nghe lời Ngài, không có nghĩa là chỉ nghe những gì Ngài nói, nhưng còn phải chú ý đến những gì Ngài đã làm;
- Đi theo con đường Ngài đã đi, là bắt chước cách Ngài đã làm trong việc xử sự với Thiên Chúa và với những người khác.
- Chúng ta đáp lại tình yêu của Ngài, không phải chỉ bằng việc ca hát tôn vinh, xin ơn và tạ ơn. Nhưng còn bằng việc dốc tâm dấn bước sống theo gương của Ngài.
- Chúng ta đi theo Ngài lên núi để cảm nghiệm niềm hạnh phúc vinh quang, để rồi lại cùng Ngài xuống núi, trở về với những phận vụ hằng ngày, đi vào vườn cây dầu, để đổ mồ hôi máu, hành trình trên khắp nẻo đường để rao giảng Tin Mừng và làm việc thiện.
- Sau cùng tiến thẳng lên Giêrusalem, nhận lấy bản án, vác thập giá, và tiến lên đồi Can-vê để chịu chết.
Con đường Đức Kitô đi đã thay đổi lịch sử nhân loại.
Con đường Đức Kitô đi đã mang lại ơn cứu độ cho loài người.
Con đường Đức Kitô đi đã làm thỏa lòng Thiên Chúa Cha.
Con đường Đức Kitô đi đã hấp dẫn nhiều tâm hồn.
Đó cũng là con đường mà mỗi người chúng ta được mời gọi bước theo.
Việc nghe Chúa, đi theo Chúa, dứt khoát Chúa sẽ làm cho chúng ta được biến đổi.
Biến đổi như thế nào, thì thánh Phaolô đã gợi ý: “Trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô”.
*****
Xin đan cử một thí dụ để minh họa:
Một nhóm doanh nhân đi dự một buổi họp ở Chicago. Họ đã dặn vợ con ở nhà, là sẽ trở về nhà để kịp bữa ăn tối.
Nhưng rồi cứ hết việc này lại giây sang việc kia, khiến cho cuộc họp kéo dài hơn dự định.
Sau khi kết thúc, họ đã vội vàng chạy ra phi trường cho kịp chuyến bay.
Khi họ hấp tấp chạy tới cổng phi trường thì không may một người trong họ đụng vào một chiếc bàn có để một rổ táo của một cô bé đang đứng bán. Tất cả đã không dừng lại, cứ cúi đầu chạy thẳng để kịp chuyến bay.
Khi đến nơi, họ thở phào nhẹ nhõm. Nhưng rồi một người trong nhóm đã ý thức được mình phải làm gì để cảm thông với cô bé bán táo kia. Anh đã giơ tay ra chào các bạn và quay trở lại. Anh thấy vui vì đã làm như thế. Anh nhận ra cô bé bán táo là một cô gái mù. Anh đã thu lượm các trái táo đổ lăn trên trên lối đi. Anh nhận ra có một số trái táo đã bị dập bể. Anh liền móc túi lấy bóp ra và nói với cô bé bán táo mù đó rằng: “Đây xin cô cầm lấy 10 dollars để đền bù cho thiệt hại chúng tôi đã gây ra. Tôi hy vọng cô không buồn.”
Khi người thanh niên vừa quay bước đi thì cô bé mù đó sửng sốt hỏi:
“Thưa ông! Ông có phải là Chúa Giêsu không?”
Câu hỏi đó đã làm cho người doanh nhân suy nghĩ:
- Bạn và tôi, chúng ta có phải là Giêsu không?
- Chúng ta có đi con đường Giêsu đã đi không?
- Chúng ta có hành xử như Giêsu đã hành xử không?
Lạy Chúa Giêsu, xin biến đổi con từ từ, mỗi khi con cầu nguyện.
Mỗi lần con thấy Chúa, xin biến đổi ánh mắt con.
Mỗi lần con rước Chúa, xin biến đổi môi miệng con.
Mỗi lần con nghe lời Chúa, xin biến đổi tai con.
Xin làm cho khuôn mặt con rạng ngời hơn, sau mỗi lần gặp Chúa.
Ước chi mọi người thấy nét tươi tắn của Chúa trong nụ cười của con, thấy sự dịu dàng của Chúa trong lời nói của con.
Thế giới hôm nay không cần những Kitô hữu có bộ mặt chán nản và thất vọng.
Xin cho con biết nhẫn nại và can đảm, cùng đi với Chúa và với tha nhân, trên những nẻo đường gập ghềnh con gặp phải. Amen.
Lm Giuse Đinh Tất Quý
------------------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 787
Bạn thân mến,
Sau trận cháy rừng ở Yellowstone Park, tiểu bang Wyoming, Hoa Kỳ, những nhân viên kiểm lâm đã khám phá thấy một con chim bị cháy thành than khô cứng dưới một gốc cây.
Thật đau buồn, khi phải dùng cây gậy đâm nhẹ vào mình chim mẹ, để nhận thấy có ba chim con thu mình dưới đôi cánh của chim mẹ.
Người ta đã đặt giả thuyết rằng: Chim mẹ đã đem được con của nó tới gốc cây, tập hợp chúng lại dưới đôi cánh.
Theo bản năng: Chim mẹ dư biết rằng, hơi độc của đám khói cháy rừng kia đang bừng lên và lan rộng, sẽ làm cho mình mất mạng. Chim mẹ đã có thể bay đi thoát nạn, nhưng nó lại không nỡ bỏ rơi con của mình như thế.
Ngay cả khi bị đốt cháy, nó vẫn không nhúc nhích để bảo vệ bầy con mình, và sẵn sàng chịu chết, để bầy con được sống dưới đôi cánh của mình.
*****
Hình ảnh hy sinh của chim mẹ, đã dùng chính mạng sống mình, để bảo vệ bầy chim con, cũng đã được Chúa Giêsu dùng để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa đối với dân Người, khi nhìn thành thánh Giêru salem và than trách rằng:
“Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu” (Lc 13:34).
Mùa chay là thời gian để ý thức về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người.
Trong Tông Huấn Tertio Milennio Adveniete, ĐGH Gioan Phaolô II đã viết:
“Đối với các tôn giáo khác thì đầu tiên là con người đi kiếm tìm Thiên Chúa. Còn theo Kitô giáo thì điểm khởi đầu là cuộc Nhập Thể của Ngơi Lời. Ở đây ta thấy không còn chỉ là con người kiếm tìm Thiên Chúa, mà chính Thiên Chúa đích thân đến nói với con người và vạch chỉ cho họ con đường đạt tới Người” (đoạn 6).
“Trong Đức Kitô Thiên Chúa không chỉ nói với con người, mà còn là tìm kiếm con người” (đoạn 7).
Không phải căn cứ vào những việc đạo đức chúng ta làm trong Mùa Chay, để nói rằng, đó là những nỗ lực đi tìm kiếm Thiên Chúa!
- Một tuần kiêng thịt một lần.
- Một chút sám hối trong tòa giải tội.
- Vài việc bác ái chưa đếm hết các ngón tay.
- Đọc thêm mấy câu kinh, đi chặng dàng thánh giá, sụt sùi với mấy vần kinh cầu chịu nạn…
- Tình cảm dâng cao khóc thương cho những đau khổ Chúa Giêsu phải chịu vì tội lỗi nhân loại....
Với bấy nhiêu việc làm đó, mà ta dám nghĩ rằng mình đã yêu thương Thiên Chúa và đi tìm kiếm Ngài thực sự hay sao?
Chúng ta phải khiêm tốn nhận rằng, con người xác thịt của mình rất yêu đuối, cứ muốn đắm chìm trong sự phù vân của trần thế tội lỗi, cứ muốn lẩn tránh Thiên chúa.
Sách Giảng Viên có lời khuyên dạy: “Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân” (GV 1:2).
Họa sĩ C. Allan Gilbert đã vẽ một bức tranh mà tôi đặt tên là “Phù Vân”.
Họa sĩ có một cái nhìn vừa đạo đức – theo sự gợi ý của lời khuyên trong sách Giảng Viên - vừa trào phúng khi vẽ bức hình diễn tả người phụ nữ đẹp đẽ sang trọng đang trang điểm, soi ngắm mình trong gương.
Trên mặt bàn trang điểm, bày đủ loại phấn son, những chai dầu thơm hảo hạng, hoa tươi và ngọn nến.
Mặc chiếc áo thời trang bằng tơ lụa mỏng của Tây phương, người phụ nữ hơi khom mình về phía trước để ngắm khuôn mặt cho rõ hơn.
Rõ ràng người phụ nữ này đang có tất cả mọi sự thế gian cung ứng cho nàng – sắc đẹp, của cải và tuổi xuân.
Với một phối cảnh rộng hơn: “Gương mặt xinh đẹp này, chẳng bao lâu nữa sẽ biến thành hình ảnh chiếc sọ người”.
Nhưng nếu bước lùi ra xa một chút, người nhìn sẽ phải ngạc nhiên ngay: Với một phối cảnh rộng hơn, người phụ nữ đang say đắm ngắm mình trong gương đây sẽ bị biến thành hình ảnh một chiệc sọ người!
Thật là mỉa mai: Tất cả những sự sang trọng của thế gian chỉ là phù vân, như sách Giảng viên khuyên dạy. Của cải, tài sản, khoái lạc, và ngay cả sự khôn ngoan của loài người cũng chỉ là một đám mây mờ bay qua bầu trời, hay “hơi nước xuất hiện trong giây lát, rồi lại tan biến đi” (Gc 4:14).
Ngày 7 tháng 12 năm 1998 ở tây Bắc Armenia đã xảy ra trận động đất lớn, với độ rung tới 6-9 Richter, đã làm xụp đổ bình địa thành phố với khoảng 25 ngàn người bị thiệt mạng với câu chuyện rất cảm động như sau:
Sau trận động đất, giữa nhừ đám người hoảng hốt và lo sợ, có một người cha đang tuyệt vọng rảo bước qua những con đường đầy gió bụi đổ nát và điều tàn. Ông vội vã tiến về phía trường học đi tìm người con trai yêu quí đi học từ sáng sớm. Vừa bước đi ông vừa nghĩ tới những lời hứa hẹn đã thề thốt với con ông: “Armand con ơi, bất cứ chuyện gì xảy ra, ba cũng luôn luôn ở với con!”
Vừa tới vị trí trường học, ông nhận ra chỉ còn là một đống gạch vụn. Đứng lau chùi nước mắt… rồi phỏng đoán phương hướng lớp học của con ông, ông cúi xuống lượm từng miếng gạch vỡ quăng ra ngoài. Bằng tay không, ông bắt đầu đào bới. Nào là gạch, ván tường, tôn kẽm… Những người qua lại tuyệt vọng nói với ông: “Thôi đi ông ơi! Chúng chết hết rồi!”
Nhưng ông ngẩng lên trả lời: “Các bạn chỉ trích tôi hay giúp tôi nâng những viên gạch này ra?”
Một số người cũng tiếp tay với ông thu dọn gạch vụn, nhưng chẳng được bao lâu họ cũng bỏ cuộc vì mệt mỏi và tay chân đau nhức.
Riêng ông vẫn làm việc không ngưng nghỉ, vì ông luôn luôn nghĩ tới sinh mạng của con ông.
Ông kiên trì làm việc từ giờ này qua giờ khác, 2 giờ qua đi… 18 giờ… 24 giờ… 36 giờ… và sau cùng, vào giờ thứ 38 ông nghe được một tiếng rên rỉ yếu ớt phát ra từ phía dưới một mảng tường đổ nát.
Ông nắm lấy mảng gạch, lay mạnh và gọi lớn: “Armand! Aramand! Armand!”
Từ bóng tối phía dưới bức tường đổ vang lên một giọng trẻ thơ trả lời: “Ba! Ba! Ba!”
Tiếp ngay sau đó là những tiếng gọi yếu ớt khác của những em học sinh sống sót vang dội lên.
Công việc đào bới để cứu các em ra khỏi tai nạn được các bậc phụ huynh thực hiện ngay sau đó.
Người đã cứu được 14 em học sinh trong tổng số 33 em.
Khi em Armand được cứu thoát em vẫn mạnh mẽ khẳng định: “Đã bảo mà, cha tôi không bao giờ quên tôi”.
*****
Bác sĩ Scott đã kể lại câu chuyện trên trong cuốn sách nổi tiếng của ông có nhan đề:
“A Father Who Keeps His Promises”
“Người Cha giữ lời hứa”.
Và ông đã kết luận như sau:
“Đó là loại đức tin, mà chúng ta đang cần, bởi vì đó là Người Cha mà chúng ta có”.
Chúa chúng ta là Người Cha yêu thương, luôn giữ lời hứa, và tìm kiếm ta về với Ngài.
Qua những thiên tai động đất, nhắc nhở chúng ta ý thức rằng, trái đất mà chúng ta coi là vững bền “Terra Firma” quả không bền vững tí nào! Đừng ngủ quên trên sự phù vân của vật chất trần gian. Cuộc sống trần thế này chỉ là phù vân. Tất cả những của cải trần gian đều tùy thuộc vào sự mong manh của trái đất, như lời giáo hội kêu gọi khi nhận tro: “Hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro”.
Bài phúc âm hôm nay (Lc 9:28b-36), kể lại chuyện Chúa Giêsu biến hình trên núi khi Ngài đang cầu nguyện. Chúa Giêsu đã mặc khải cho chúng ta nhìn thấy: Thiên Chúa chính là nền tảng vững chắc, giúp chúng ta xây dựng cuộc đời của mình. Ngài đã biểu tỏ vinh quang và thập giá của ngài cho Pherô, Giacôbê và Gioan. Ngài đã biểu lộ cho nhân loại thấy chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa, khởi sự từ thời Cựu Ước, với các vị tổ phụ và các tiên tri của dâng Israel, Môse và Êlia. Mạc khải này làm cho những ai đặt ngưỡng vọng nơi trần thế phù vân này phải bối rối và thất vọng.
Trong bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô cảnh tỉnh con người rằng:
“Có nhiều người sống thù nghịch với thập giá Đức Kitô. Chung cuộc, đời họ là hư vong, chúa tể của họ là cái bụng, và họ đặt vinh danh của họ trong những điều ô nhục; họ chỉ ưa chuộng những cái trên cõi đời này. Phần chúng ta, quê hương của chúng ta ở trên trời…” (Phil 3:20).
Khi nhập quốc tịch hoa kỳ, để chính thức trở nên một người công dân với bổn phận và quyền lợi, là một điều quan trọng đối với nhừ người di dân.
Nhưng đối với các cụ già, đó là điều vô cùng gay go:
Các cụ phải học Anh Ngữ, phải biết lịch sử nước Hoa Kỳ, rồi trải qua một cuộc thi khảo: vừa nghe, vừa đọc và nói.
Có cụ thi mãi không đậu, lo lắng mất ăn mất ngủ, vì có quyền công dân mới bảo lãnh con cái sang Mỹ được.
Có cụ ốm đau gần chết, mà vẫn cứ lo quốc tịch!
Có cụ khôn ngoan hơn, âm thầm làm các việc đạo đức, chuẩn bị cho mình quyền công dân của Nước Trời mới là quan trọng! Ai thi cũng được. Ngôn ngữ của Nước Trời là tình yêu, có sẵn trong tim, không cần phải học vất vả, chỉ đem ra áp dụng Nước Trời, một quê hương mới, “Một Cõi Đi Về” an nghỉ.
Còn nước Hoa Kỳ này vẫn chỉ là phù vân, như “hơi nước xuất hiện trong giây lát, rồi lại tan biến đi” (Gc 4:14).
Thành phố Chicago có nhiều sắc dân. Nét độc đáo của một xứ đạo là tính cách đa chủng tộc.
Tôi thường nghe dân chúng than van: Họ luôn luôn nhớ về quê hương của họ. Nhớ đồ ăn thức uống. Nhớ dòng sông, con kênh. Nhớ thân bằng quyến thuộc, bạn bè. Mặt trời lặn ở quê nhà, với khói lam chiều vẫn đẹp hơn mặt trời Hiệp Chủng Quốc!
Ai cũng ngóng trông về quê nhà. Trong mỗi người đều mang một nỗi nhớ, một nỗi buồn vương vấn thật sâu trong lòng mình. Đó là khúc ruột ngàn dặm vì chúng ta luôn thuộc về quê hương của mình. Không bỏ được. Các nhà thương mại bán vé máy bay thuyết phục rằng: Chỉ cần cầm lấy vé máy bay là bạn trở về quê hương ngay. Điều đó đúng với quê hương phù vân trần thế!
Nhưng còn quê hương vĩnh cứu trên trời thì sao?
ĐGH Gioan Phaolô II trả lồi rằng:
Con người trên dường lữ hành về với Đấng Tuyệt Đối: Đời sống con người trên trái đất là một cuộc lữ hành… Đức tin lữ hành của con người hướng con người về Thiên Chúa, giúp con người chọn lựa những gì sẽ làm cho mình đạt tới sự sống vĩnh hằng. Do vậy, mỗi giây phút trong cuộc lữ hành trên trái đất đều quan trọng – quan trọng với những thách đố và những chọn lựa của nó.” (TVNNTB, Đức Tin).
Trong Mùa Chay giáo hội cảnh tỉnh chúng ta đừng ngủ quên trong sự phù vân của trần thế, phải ý thức chúng ta là những người lữ hành đang đi về quê hương vĩnh cửu trên trời (Pl 3:20; 2Cr 5:1).
Con đường về Nước Trời, đó chính là con đường Chúa Giêsu Kitô đã đi qua với thập giá trên vai. Đi theo Ngài, “Đức Kitô, Đấng dẫn ta về với Thiên Chúa Cha”
(ĐGH Gioan Phaolô II, TVNNTB, Đức Tin).
------------------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 788
Bạn thân mến,
Tác giả cuốn sách The Seven Habits of Highly Effective People (“Bảy Thói Quen Của Người Làm Việc Có Hiệu Quả”), Steve Covey, trên một chuyến xe điện ngầm tại thành phố New York vào một sáng Chúa nhật, đã thu được một kinh nghiệm sống rất quí như sau. Steve kể:
Mọi người ngồi yên lặng. Vài kẻ đang đọc báo. Số khác đang chập chờn ru giấc ngủ. Số khác nữa đang suy nghĩ miên man. Thật là một cảnh yên tĩnh, thanh bình.
Tàu dừng lại tại một nhà ga. Một người đàn ông và mấy đứa nhỏ, có lẽ là con ông ta, bước lên. Lập tức bầu khí yên bình bị phá tan. Những đứa bé la hét om sòm. Chúng vất đồ đạc qua lại. Thậm chí còn lấy báo của người khác vò lại ném nhau. Thật là phiền hà hết sức! Nhưng sao người cha của mấy đứa bé kia lại không có phản ứng nào?
Steve cảm thấy bực bội khó chịu trước thái độ của cha con những người khách mới. Anh ta không thể hình dung ra được trên đời này lại có những kẻ vô cảm và vô tâm như gã đàn ông kia. Con cái quậy phá làm phiền biết bao nhiêu người, thế mà vẫn cứ ngồi im. Steve quan sát và thấy nhiều hành khách khác cũng có vài nếp nhăn khó chịu.
Cuối cùng, khi sức kiên nhẫn đã vượt mức tối đa, Steve bèn lên tiếng với người bố: “Thưa ông, con ông đang làm phiền nhiều người lắm đấy. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy ông không làm gì để kiềm chế chúng một chút.” Người đàn ông nhướng mắt nhìn Steve như vừa sực tỉnh lại từ một ưu trầm lắng. Nén tiếng thở dài, ông ta nói: “Tôi thành thật xin lỗi. Tôi cũng không biết phải làm sao. Chúng tôi mới rời khỏi bệnh viện nơi mẹ chúng nó vừa qua đời cách đây một giờ. Tôi suy nghĩ mãi mà không biết cuộc đời rồi đây sẽ ra sao khi không còn nhà tôi, và chắc là chúng nó cũng không biết chịu đựng thế nào khi chẳng còn có mẹ.”
Steve kết luận bài viết của mình: “Bạn có thể tưởng tượng được cảm giác của tôi lúc đó như thế nào không?
Ngay lập tức tôi thấy mọi sự đổi khác.
Vì thấy mọi sự đổi khác, nên thái độ của tôi cũng đổi theo:
- Cơn khó chịu bực bội trong tôi biến mất.
- Thay vào đó là niềm cảm thông cho nỗi đau của người chồng mất vợ và những đứa con mất mẹ.”
Nhờ “thấy” được chiều sâu tâm hồn của cha con người đồng hành, mà Steve đã thắng vượt những khó chịu bực bội trong mình, và sau đó đã đến với họ bằng tâm tình cởi mở chân thành.
Phải chăng, trong đời sống, người ta cũng cần có con mắt nội tâm để “thấy” được nền tảng và ý nghĩa của cuộc đời, hầu có những thái độ và cách sống thích hợp?
Phải chăng, nhờ sự biến hình trên núi Tabor, các môn đệ đã “thấy” được hình ảnh phục sinh vinh quang của Đức Giêsu, để từ đó, họ bớt nao núng, khi bước vào nẻo đường thánh giá và đón nhận khổ nạn với Ngài? P
hải chăng, đời ta và đời người cũng cần những giây phút biến hình, để dung nhan Thiên Chúa, trong tha nhân và nơi mình tôi, được bừng sáng, đón nhận, và tin yêu hơn?
*****
Trong một bài báo tự thuật, Malcolm Muggeridge có kể lại việc nhóm chuyên viên truyền hình của anh ta cố gắng thực hiện một bộ phim tài liệu về Mẹ Têrêsa Calcutta.
Họ muốn quay cảnh mẹ cùng các chị nữ tu Bác ái đang làm việc trong căn nhà Hấp Hối, bên cạnh những kẻ sắp từ biệt cõi đời.
Thế nhưng, nhóm của Malcolm đã gặp phải một vấn đề khó khăn: Căn phòng họ tính quay phim hơi tối, không đủ ánh sáng cần thiết cho việc thâu hình, mà trong nhà lại không có một ổ cắm điện nào cả.
Tuy nhiên, sau khi bàn thảo, họ quyết định cứ tiến hành thu hình trong cảnh tranh sáng tranh tối của căn phòng Hấp Hối.
Nhưng rồi, kết quả, trước bao cặp mắt ngạc nhiên, những thước phim thâu được lại tuyệt vời quá sức tưởng tượng. Ánh sáng trong các hình ảnh đạt đến mức độ hoàn hảo. Dường như đã có một luồng sáng ấm dịu nào đó phát ra trong lúc họ đang quay phim.
Malcolm, người mà sau này trở thành một Kitô hữu, lúc bấy giờ đã bị thuyết phục hoàn toàn với ý nghĩ là ánh sáng đã phát ra từ tình thương, mà người ta có thể bắt gặp khắp nơi trong căn nhà Hấp Hối kia.
Malcolm viết lại trong nhật ký của mình: “Chính tình yêu đã chiếu sáng, một thứ ánh sáng giống như hào quang trên đầu các thánh mà tôi từng được xem thấy.”
Phải chăng, đó cũng là thứ ánh sáng, mà Đức Giêsu đã tỏ cho ba môn đệ thân tín là Phêrô, Gioan và Giacôbê khi Ngài biến hình trước mặt các ông?
Trong cuộc biến hình này, các môn đệ được nghe một lời phán bảo: “Đây là Con Ta yêu dấu, kẻ Ta đã chọn, các ngươi hãy nghe lời Ngài” (Lc 9:35).
Trong chương kế tiếp, Thánh sử Luca đã khéo léo trình bày việc “nghe lời” Đức Giêsu, không gì khác hơn là ra đi rao giảng Tin mừng Tình thương.
Chương 10 đã kể việc Chúa sai 72 môn đệ lên đường truyền giáo, đồng thời cũng làm nổi bật giáo lý của Đấng Cứu Thế qua câu hỏi “giới răn nào trọng nhất” của một luật sĩ và qua câu chuyện “Người Samari Nhân Hậu” như những minh hoạ cho giáo lý yêu thương.
Cao điểm của cuộc biến hình là lời mời gọi “Hãy nghe Ngài”.
“Nghe Ngài” là để tiếp nối những cuộc biến hình khác, giữa cuộc đời này, bằng tình yêu. Chính nhờ tình yêu, mà Mẹ Têrêsa đã biến những thân xác tanh hôi, đau yếu, bị bỏ rơi, nên những con người có đầy đủ phẩm giá và đáng tôn trọng.
Chính nhờ tình yêu, mà mẹ đã biến đổi tâm hồn của Malcolm, một kẻ “coi trời bằng vung”, nên cung điện tươi xinh cho Thiên Chúa ngự trị.
Không phải Chúa Giêsu đã từng nói: “Chính nơi điều này mà mọi người sẽ biết các ngươi là môn đệ của Ta: ấy là các ngươi có lòng mến thương nhau” (Ga 13:35)?
Chính với yêu thương, cảm thông, cứu giúp, chia sẻ mà tha nhân thấy được dung mạo của Đức Kitô trong cuộc đời của bạn và tôi.
Ước gì tình yêu thương nhau sẽ biến hình đời ta và biến đổi đời người.
Ước gì tình yêu đó cũng giúp ta thắng vượt bao gian nan, trắc trở, và khổ giá trên đường đời, để tiến đến một ngày Phục sinh tươi sáng.
Lạy Chúa, thật sự con là kẻ yếu lòng tin. Xin Ngài hãy đến với con, giúp cho con biết bám chặt vào Chúa mỗi khi con gặp thử thách. Amen.
-------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 789
Bạn thân mến,
Năm 1982, các nữ tu Dòng Con Đức Bà Phù Hộ, quen gọi là Dòng nữ Salêsiên ở Cáp bên Haiti, muốn thuê nhà điêu khắc Pêrikhêt làm một cây thánh giá lớn để đặt trong nhà thờ mới của các chị. Nhưng lúc đó, ông Pêrikhêt đã bị ung thư nặng.
Các chị nhờ một nữ tu cùng dòng đến gặp nhà điêu khắc, để nói về ý định này.
Hôm đó viên bác sĩ của ông cũng có mặt, ông nói với chị nữ tu:
- Lẽ ra chỉ phải đến đây sớm hơn. Rất tiếc là bây giờ căn bệnh ung thư của ông Pêrikhêt đã quá nặng rồi.
Im một lát, bác sĩ quay sang nói với nhà điêu khắc:
- Ông là người có đức tin, vậy ông cứ tiếp tục hy vọng, dù có điều gì xảy ra đi nữa.
Từ ngày đó, nhà điêu khắc Pêrikhêt chẳng muốn cầm bút để rèn tác phẩm nghệ thuật nào nữa.
Vài ngày sau, một nữ tu khác lại đến gặp ông và năn nỉ:
- Ông Giovani Pêrikhêt à, các nữ tu ở nhà thờ mới của chúng tôi tại Cáp, mong muốn ông làm cho một cây thánh giá thật đẹp, dài hai mét. Chúng tôi biết tài năng của ông mà.
Nhà điêu khắc trầm ngâm suy nghĩ và cầu nguyện, rồi bình thản nói với chị nữ tu:
- Tôi xin nhận lời. Cây thánh giá này sẽ là tác phẩm cuối cùng, tôi sẽ làm cây thánh giá nầy để chuẩn bị chết, và xin Chúa thương xót tôi.
Thế là nhà điêu khắc bắt tay vào công việc, với tất cả tâm hồn của một người mong gặp được Chúa Giêsu.
Đây thật là một công việc nặng nhọc vì bệnh tình của ông.
Nhưng ông cảm thấy một điều thật lạ lùng, mỗi nhát búa đập trên thanh sắt nóng đỏ, thay vì làm cho ông mệt mỏi thêm, thì lại làm cho ông cảm thấy như được bồi dưỡng sinh lực trở lại.
Ông tiếp tục làm việc ngày qua ngày, và khi ông hoàn thành cây thánh giá thật đẹp, ông cảm thấy như khoẻ hẳn. Chúa Giêsu đã giải thoát ông khỏi căn bệnh quái ác.
Ngày nay, cây thánh giá do ông thực hiện vẫn còn được treo ở nhà thờ thánh phố Cáp và tiếp tục thu hút nhiều tín hữu: Người lành mạnh cũng như kẻ yếu đau đến kính viếng thường xuyên.
*****
Nhà điêu khắc Giovani Pêrikhêt tưởng rằng: Cây thánh giá ở nhà thờ thành phố Cáp ấy sẽ là tác phẩm cuối cùng. Ông dùng cây thánh giá ấy để chuẩn bị chết.
Nhưng với niềm tin và lòng hăng say rèn cây thánh giá, Pêrikhêt đã được Chúa thương cách đặc biệt và chữa lành cho ông khỏi bệnh ung thư.
Đó là hình ảnh ơn cứu độ, mà Thánh giá Chúa Kitô đã, đang và sẽ còn đem đến cho nhân loại.
*****
Chính vì để củng cố niềm tin của chúng ta vào ơn cứu độ và niềm hy vọng vào sự sống vinh quang ngang qua mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô, mà hằng năm, vào Chúa Nhật 2 Mùa Chay, phụng vụ Giáo Hội cho nghe bài đọc Tin Mừng tường thuật cuộc biến hình vinh quang của Chúa Giêsu (Lc 9, 28b-36). Nhờ đó, mà người Kitô hữu ý thức rằng: Sự Chết và Phục Sinh, thập giá và vinh quang là hai mặt của cùng một thực tại cứu độ, không thể tách rời nhau.
- Vinh quang mà không có khổ nạn, chỉ là vinh quang của thế tục, sẽ nhạt nhoà theo năm tháng;
- Ngược lại, khổ nạn, mà không có vinh quang, thì vô nghĩa và là một thất bại hoàn toàn.
Do đó, sống tinh thần Mùa Chay, có nghĩa là gắn bó chặt chẽ với cái Chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô:
- Chết đi cho con người cũ và tội lỗi, chết đi cho con người đối nghịch với Thập giá, để cùng sống lại với Đức Kitô, Đấng có thể “biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Ngài” (Bđ. 2)/
*****
Đây chính là một quá trình lột xác đầy gian khổ, nhưng cũng tràn ngập vinh quang, mà sự kiện Chúa biến hình được gợi lại trong Chúa nhật hôm nay, đã trở nên như một lời loan báo và một lời động viên khích lệ tín hữu.
Loan báo điểm tới là Phục Sinh đang ở phía trước, đồng thời động viên khích lệ người Kitô hữu hãy can đảm tiếp tục cuộc hành trình dù lắm gian nan.
Để có thể trung thành bước theo con đường Chúa Giêsu đã sống và vạch ra, người Kitô hữu không thể coi nhẹ hay dửng dưng với tâm tình cầu nguyện.
Chính trong giây phút cầu nguyện, chìm sâu trong cuộc gặp gỡ ân tình với Chúa Cha, Chúa Giêsu đã đón nhận kế hoạch cứu độ của Cha như lẽ sống của đời mình.
Đây cũng là lúc Ngài biến hình vinh quang. được tỏ lộ khi Ngài chấp nhận cái chết, như một phương thế tuyệt hảo, để tỏ lòng vâng phục Cha và yêu thương nhân loại, đến nỗi hiến dâng chính mạng sống mình.
Vì thế, trong cuộc sống còn lắm vất vả bon chen và không hề thiếu vắng những cạm bẫy thử thách hôm nay, chỉ có sự chuyên cần cầu nguyện, thường xuyên đón nhận ánh sáng soi dẫn, và sức mạnh đỡ nâng của Chúa, người Kitô hữu mới thoát khỏi sự hoang mang sợ hãi hay trạng thái mê ngủ, trốn tránh thực tại trần thế, với những bổn phận và trách nhiệm phải thi hành.
Đành rằng, quê hương vĩnh cửu ở trên trời, nhưng đường lên trời lại khởi đi từ mặt đất, từ chính cuộc sống, mà chúng ta phải xây dựng và làm cho phát triển mỗi ngày.
*****
Một khi đã chiêm ngưỡng Đức Giêsu Kitô trên núi biến hình như Phêrô, Giacôbê và Gioan rồi, thì việc còn phải làm là đi theo Ngài trên con đường khiêm tốn, phục vụ anh em và không vắng mặt trên các nẻo đường tiến lên đỉnh Golgotha, những nẻo đường đau thương và tử nạn thập giá với Ngài, với niềm xác tín rằng, Đức Kitô Phục Sinh sẽ chia sẻ vinh quang cho các tín hữu trung thành.
Ước gì Lời Chúa và Mình Máu Thánh Chúa chúng ta lãnh nhận trong thánh lễ hôm nay sẽ bổ sức, giúp chúng ta mạnh mẽ bước vào lòng đời, để sống cho Chúa và hiến mạng vì anh em, trong một cuộc sống nhiều hy sinh gian khổ, nhưng cũng không kém vinh quang, vinh quang thấp thoáng hôm nay sẽ bộc lộ trọn vẹn mai sau.
-------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 790
Bạn thân mến,
Khi nhắc đến ông Leonardo da Vinci, chúng ta thường nghĩ đến những phát minh khoa học và những bức họa nổi tiếng của ông.
Chúng ta không hề biết rằng: Để giải trí, ông Leonardo de Vinci còn sưu tầm những chuyện cổ tích, hoặc đặt ra những câu chuyện vui như sau đây, về một cuộc đối thoại tưởng tượng, giữa một tờ giấy trắng và cái bút:
Tờ giấy trắng từ lâu nằm ù lì trên bàn giấy, cùng với những đồng bạn khác, nhưng bỗng nó được chọn đem ra nằm giữa bàn và chịu cảnh cây viết mực đen ngòm vẽ lên nó không biết bao nhiêu là dấu hiệu, mà nó không hiểu gì cả. Nó phàn nàn với cái bút như sau:
- Tại sao anh lại làm thế? Anh vẽ trên mình tôi những dấu đen, làm mất đi sự trong trắng ban đầu. Anh làm nhục tôi như thế này sao? Anh làm hư cả cuộc đời tôi rồi.
Nhưng cái bút trả lời:
- Không đâu anh giấy ạ. Anh hiểu lầm tôi rồi. Tôi không bôi đen anh đâu, tôi vẽ lên anh những dấu hiệu, những dòng chữ, kể từ nay, anh không còn là tờ giấy vô dụng nữa, nhưng có mang trên mình những sứ điệp. Anh trở thành kẻ cộng tác với con người. Lưu giữ những tư tưởng cao siêu. Và vì thế, anh sẽ được con người nâng niu, bảo vệ. Anh sẽ được sống mãi để trợ giúp cho con người.
Tờ giấy chưa kịp trả lời cái bút thì nó bỗng nhìn thấy một bàn tay người quơ lấy những tờ giấy khác, trước kia trắng tinh nay đã đổi màu, đầy bụi mà quăng vào ngọn lửa bên cạnh.
Tờ giấy bị vẽ trên mình những lằn mực đen kia mới hiểu được hành động của cái bút và lấy làm sung sướng, vì được trở thành như người cộng tác, lưu giữ trong kho tàng trí khôn con người (R.Veritas, Mạch nước trường sinh, tr 52).
*****
Lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ, đồng thời cũng nói với mọi người chúng ta, những người tin theo Ngài như môn sinh:
“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. (Mt 16, 24)
Mối tình thâm sâu của người môn sinh Chúa Giêsu được biểu tượng bằng hình ảnh thập giá, chính thập giá liên kết vận mệnh của môn đệ với vận mệnh của chính Thầy: Thầy sao trò vậy, như Chúa Giêsu đã từng quả quyết: “Môn sinh không hơn Thầy”, Thầy vác thập giá, trò cũng mang thập tự.
Như lời Chúa mời gọi các môn đệ, chúng ta cũng được mời gọi đi theo bước chân Ngài: Bước đầu là từ bỏ và vô hiệu hóa những ràng buộc chính mình với thế gian, để được tự do thanh thoát dưới ân sủng của Thánh Linh và tình yêu, bước tiếp những bước đi mới, những bước đi huyền nhiệm thập giá để có thể tiếp nhận khổ đau và cái chết theo kế hoạch và tình yêu của Chúa Cha, như Thầy đã bước đi trong hành trình thập giá tiến về đồi Canvê.
Trong thập giá, khám phá ra sự phục sinh vinh quang, mà Thầy Giêsu đã khai mở bằng sự phục sinh của chính Ngài, khi bước qua thập tự.
Hình ảnh đó được ẩn dụ dưới hình ảnh chim cú đã phát triển được đôi mắt sáng, nhờ “bị” đẩy vào bóng đen. Chính trong bóng tối, chim cú được khai mở khả năng thấy sáng của mình và bóng đêm không thể khuất phục được sức sống của chim cú ngay trong đêm.
Hình ảnh chim cú sáng mắt trong đêm tối, là biểu tượng của sự khám phá ra nét công hiệu của những “mũi tên ngược” trong cuộc sống của kiếp nhân sinh, cách đặc biệt của đời sống niềm tin, đó là những thập giá, mà chúng ta mang qua những thử thách, với những chén đắng, mà chúng ta uống xuyên qua những nghịch cảnh xảy đến trong cuộc sống.
Thập giá và chén đắng này làm bừng sáng con mắt đức tin và khai mở con mắt tình yêu, nơi người sống trong huyền nhiệm thập giá. Chính họ có một nhãn quan mới, nhìn vào cuộc sống với biết bao nhiêu biến động có thể mang dáng dấp của bóng tối.
Trong thập giá tình yêu, trở nên hy lễ sống động: Hy lễ tình yêu mà Chúa Giêsu dâng tiến lên Chúa Cha để đền tội cho nhân loại. Hy tế đó luôn kéo dài trong lịch sử và mời gọi mọi người chúng ta bằng sự đóng góp của bản thân tham dự vào hy tế, qua cuộc sống được thánh hóa dưới thập giá, như tâm tình thánh Phaolô khuyên tín hữu thành Rôma: “Hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12,1).
Hãy cùng lên Giêrusalem để vác thập giá theo Chúa. là lời mời gọi từ bỏ những thực tại hào nhoáng. phù du. lôi kéo con người đi vào thế gian. với vỏ bọc an toàn tạm bợ:
“Được cả thế giới”, nhưng lại đánh mất chính mình, mất tư cách bạn hữu, mất tư cách môn sinh. Từ bỏ tất cả để vác thập giá tiến lên Giêrusalem, để tôi và bạn được như thánh Phaolô: “Ðối với tôi, sống là Ðức Kitô” (Pl 1,21) và “biết Đức Kitô là một mối lợi” (Pl 3,8).
Khám phá ra thập giá trong đời, mà mỗi chúng ta mang và tiến đến đồi Canvê, với một tinh thần “vượt qua” mang tình yêu Thiên Chúa.
Nơi thập giá, Ngài mời gọi tôi và bạn cùng xốc vác cuộc đời, trong đó có cái tôi của tài năng, thánh thiện, nhưng cũng có sự khiếm khuyết, bất toàn, đau khổ, thử thách…
Ngài không ngừng cứu thoát chúng ta, và chúng ta vác thập giá là cùng Ngài chiến đấu như lời mời gọi của thánh Phaolô: “Anh em hãy cùng tôi chiến đấu...” (Rm 15,30).
Lạy Chúa, đức tin chúng con còn non yếu lắm, dễ bị sụp đổ khi gặp thử thách, nghiệt ngã. Xin Chúa hãy luôn nói với chúng con như xưa Chúa đã nói với các tông đồ: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ” (Mt 14, 27) để chúng con an tâm bước theo Chúa cho đến cùng. Amen.
------------------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 791
Bạn thân mến,
Ghi lại kinh nghiệm sống của mình trong tập nhật ký có tựa đề là “Những người bạn muôn thuở”, bà Ressa Marita, vợ của triết gia công giáo người Pháp Jack Maritain đã viết như sau:
"Trong cuộc sống thiêng liêng, chúng ta không nên so sánh mình với ai cả, mà chỉ nên so sánh mình với mẫu gương trọn lành của Chúa mà thôi.
Bởi so sánh mình với kẻ khác, ta sẽ thấy mình dễ bị cám dỗ, thấy những điểm tiêu cực nơi anh chị em và trở nên tự kiêu, luôn cho mình là tốt hơn.
Nhưng nếu nhìn vào mẫu gương trọn lành của Chúa, ta được mời gọi canh tân liên lỉ, tiến mãi không ngừng, vì Chúa là Ðấng trọn tốt trọn lành vô cùng".
Những lời tâm sự của bà Ressa Marita hướng chúng ta đến những lời dạy của Chúa Giêsu cho các môn đệ mà tác giả Phúc Âm thánh Luca đã ghi lại nơi chương 6.
Mức độ đo lường của tình yêu thương chúng ta là không có mức độ nào cả, hay đúng hơn là chính mẫu gương trọn tốt trọn lành vô cùng của Thiên Chúa Cha. Bao lâu còn sống trên trần gian này, chúng ta còn cần tiến thêm mãi trên con đường yêu thương. Không ai dám tự phụ cho rằng mình đã thành toàn, đã đạt đến mức độ trọn lành như Thiên Chúa.
Những hành động yêu thương được Chúa Giêsu nhắc đến mà tác giả Phúc Âm theo thánh Luca (Lc 6, 27-38) ghi lại, là những hành động yêu thương thiết thực, yêu thương kẻ thù, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phúc cho kẻ nguyền rủa mình, cầu nguyện cho kẻ vu khống mình.
"Hãy ra đi mà không tính toán hơn thiệt, đừng xét đoán, hãy tha thứ".
Ðó là những chân trời mới, bao la, rộng mở tình yêu thương nơi tâm hồn người môn đệ Chúa.
Chúng ta không thể nào chỉ nói ngoài môi miệng, mà còn cần phải thực hiện tình yêu thương như Chúa đã nêu gương bằng những hành động cụ thể.
Nếu không, ta sẽ bị xét xử như là những kẻ giả hình, nói mà không làm, không sống thật Lời Chúa dạy.
Một cô giáo nọ ra bài cho các học sinh như sau: "Chiều nay về nhà, mỗi em phải làm một việc tốt đối với người thân nào đó trong gia đình".
Ngày hôm sau, một em học sinh đến trường than phiền với cô giáo như sau: "Thưa cô, con không thể tiếp tục làm công tác này được nữa".
Trước sự ngạc nhiên của cô giáo, học sinh này giải thích như sau:
Bữa cơm tối qua con đã khen mẹ nấu ngon. Thay vì vui mừng, mẹ con nổi giận nói con chọc tức và gián tiếp chê bữa ăn không ngon.
Con giải thích với mẹ, nhưng mẹ không tin, và nổi giận ra lệnh con phải rửa chén để chứng minh cụ thể bữa ăn ngon.
Tiếc thay, em bé thành tâm khen ngợi mẹ, nhưng người mẹ thì ngược lại không tin, cho rằng em giả vờ khen và có hậu ý nào khác.
Thay vì yêu thương thật tình và cảm nhận tình thương của anh chị em đối với mình, thì nhiều lúc ta cũng hành động như người mẹ trong câu chuyện vui trên.
Ta nghi ngờ tình thương của anh chị em, vì có bao giờ ta yêu thương thật sự anh chị em đâu, có chăng chỉ là những lời nói xã giao bên ngoài cho qua lúc.
Thật là, suy bụng ta ra bụng người.
-------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 792
Bạn thân mến,
Sau thế chiến II chấm dứt, bà Coritanbun, với những vết sẹo trên thân thể, tàn tích của những khổ hình bà phải chịu trong trại tập trung Đức quốc xã, bà đã đi khắp Âu Châu, để rao giảng sự tha thứ cho những kẻ đã làm hại mình.
Thế nhưng, vào một Chúa nhật nọ, sau khi bà kêu gọi mọi người hãy tha thứ cho nhau trong một nhà thờ của thành phố Munich, bước ra ngoài, bà bất ngờ đối diện với một khuôn mặt quen thuộc: Dung mạo của người lính đã từng hành hạ bà và hàng ngàn nữ tù nhân khác ở trại tập trung. Tiếng than khóc, cảnh tra tấn, rồi bỗng những tiếng kêu trả thù nổi dậy mạnh mẽ trong tâm trí bà.
Người đàn ông tiến lại gần, khiêm tốn đưa tay ra, vừa muốn bắt tay bà, vừa nói lời xin lỗi:
“Thưa bà, tôi rất cảm ơn những lời tốt đẹp của bà kêu gọi sự tha thứ. Xin bà tha thứ cho tôi”.
Coritanbun đứng lặng người, như chết điếng.
Trước đây, bà cầu nguyện và quyết tha thứ. Nhưng giờ đây, đối diện với con người cụ thể đã tra tấn mình, bà đứng lặng im, tay không thể đưa ra để bắt tay người đến xin bà tha thứ.
Sau này, vào năm 1971, khi kể lại:
“Trong giây phút thinh lặng đó, tôi đã cố gắng dâng lên Chúa lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa thấy con chưa thể tha thứ cho người đã hành khổ con. Xin Chúa hãy ban cho con những tâm tình của Chúa, để con có thể tha thứ như Chúa”.
Và chính trong lúc đó, bà đã hiểu rằng, con người chỉ có thể tha thứ cho nhau, khi nhìn nhận tình yêu thương và sự tha thứ của Thiên Chúa (Trích “Món quà Giáng sinh”).
*****
Để đạt tới đức ái tuyệt hảo, thì Đức Kitô lại mong muốn sự thứ tha trong mọi tương quan, với những người mình không thích và với những kẻ mình ít ưa, thậm chí với cả kẻ thù:
“Các con hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn cho những kẻ ghét mình, hãy chúc phúc cho những kẻ nguyền rủa mình, hãy cầu nguyện cho những kẻ vu khống mình… ” (Lc 6,27-28).
Với kẻ thù, trước khi yêu thì phải có sự tha thứ.
Đức Kitô đã gợi mở cho chúng ta tinh thần vị tha tuyệt hảo và mời gọi chúng ta bước vào, “Tha thứ tới bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22), tha thứ không ngừng.
Chúa Giêsu dạy con người phải tha thứ mãi, vì tha thứ cũng là trao ban cho chính kẻ mình ghét cay ghét đắng, bằng đức ái, như chúng ta đã trao cho người thân, bạn bè…
Chúa Giêsu còn nhấn mạnh:
Tha thứ là điều kiện để được thứ tha, như Ngài đã dạy chúng ta cầu nguyện mỗi ngày:
“Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (Mt 6,12).
Tuy nhiên, sẽ không có được sự tha thứ vĩ đại như Chúa Giêsu đã tha thiết mời gọi: “Tha thứ cho kẻ thù của mình”, nếu chúng ta không có một quá trình học biết tha thứ.
Sự tha thứ, mà Chúa Kitô mời gọi chúng ta sẽ chỉ hiện hữu, nếu chúng ta biết đào luyện cho mình một tiến trình tiệm tiến: Từ bản thân, đến những người thân lầm lỗi, những người ta không thích, không ưa…
Và tất cả sự tha thứ đều bắt nguồn từ đỉnh cao của đức ái.
Tha thứ cho anh em trong gia đình, bạn bè, để nơi tâm hồn chúng ta luôn chan chứa tình huynh đệ bao dung, gia đình đầy ắp tiếng cười.
Nhưng tha thứ cho người hãm hại mình, quả là điều rất khó khăn. Đó là một bài học có lẽ khó nhất và là bài học thể hiện lòng yêu thương trọn vẹn nhất trong cuộc đời.
Đó cũng là đỉnh cao của lòng vị tha Kitô giáo, mà Chúa Giêsu đã đề nghị: Yêu kẻ ghét mình và làm ơn cho người hại mình.
Chính Ngài trên thập giá đã sống đỉnh cao yêu thương này và làm gương cho chúng ta, khi Ngài đối xử với những kẻ giết mình, bằng lời cầu nguyện với Chúa Cha và cũng là di chúc cho chúng ta:
“Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23,34).
Lời di chúc này gợi trong lòng tôi và bạn: Yêu thương tha thứ như Chúa Giêsu, đến độ triệt để khai trừ mọi hành động trả thù và luôn luôn sẵn sàng đối thoại, lập lại sự giao hảo với người ghét mình, với kẻ hại mình. Sẵn sàng chia sẻ và quảng đại làm ơn cho họ: “Thi ân xóa bỏ thù hận”, cách hành xử yêu thương này là luật vàng của lòng bác ái.
Lạy Chúa, Chúa thấy chúng con chưa thể tha thứ trọn vẹn cho người đã hành khổ con. Xin Chúa hãy ban cho chúng con những tâm tình của Chúa, để chúng con có thể tha thứ như Chúa. Amen.
------------------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 793
Bạn thân mến,
“The Pursuit of Happyness”, là một bộ phim xúc động, mang tới những thông điệp đầy tính nhân văn, về ý nghĩa thực sự của từ “hạnh phúc”. Được dựa trên một câu chuyện có thật, nhân vật chính của phim là Chris, một nhân viên bán máy soi xương, luôn gặp thất bại trong việc kinh doanh.
Quá bức bối với việc nợ nần của gia đình, vợ Chris đã bỏ đi và để lại cậu con trai nhỏ Christopher Jr.
Điều tồi tệ nhất xảy ra, khi hai cha con anh bị đuổi ra khỏi căn hộ, do không đủ tiền trả, và đã trở thành những kẻ lang thang.
Đi phiêu bạt khắp nơi để kiếm sống, có lúc Chris và con trai đã phải ngủ qua đêm trong nhà vệ sinh bẩn thỉu của một ga tàu điện.
Tuy nhiên, với nỗ lực phi thường, anh không ngừng mưu cầu một cuộc sống hạnh phúc cho chính mình và con trai... (Theo afamily.vn).
Tình cha là thế, lo lắng và cùng con bước vào đời với bao gian nan.
Tình Chúa dành cho con người được phác họa bằng hình ảnh của tình Cha:
Ngài như người cha hiền luôn đồng hành và lo lắng cho con cái ở dưới nhân gian. Dù rằng nhân loại “thuộc hạ giới” (Ga 8,23).
*****
Lời kinh “Abba” (Lạy Cha chúng con ở trên Trời), mà Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ cầu nguyện, diễn tả tâm tình đơn sơ phó thác của cả một cuộc sống thường ngày:
- Đầu tiên “nguyện cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến”, vì Cha là tình yêu, khi danh Cha tỏa sáng, là tình yêu Cha trải dài trên trái đất, nơi những người con của Cha hiện hữu.
- Tiếp đến là những nhu cầu cấp thiết nhất của cuộc sống, những thực tế của thân phận con người, sự vấp ngã, đối diện với cám dỗ và hiểm nguy cuộc sống. Trong danh Cha tỏa sáng và tình yêu Cha trải dài, con tha thiết mong Cha ở bên con vượt khó:
Lương thực hàng ngày trong lời cầu là cơm bánh và những gì cần cho sự sống của thân xác.
Lương thực cũng được hiểu là Lời Chúa, là bí tích Thánh Thể, thứ lương thực thiêng liêng cho phận người.
Đời sống của chúng ta cần được Cha trên trời nuôi dưỡng. Chúng ta cần cơm bánh nuôi thân xác, nhưng cũng cần thức ăn nuôi đời sống tinh thần. Của ăn tinh thần đó là tình yêu của Cha hiện diện bên con, dù con có hờ hững làm ngơ.
Tha nợ: Nợ là tượng trưng cho thân phận yếu đuối của con người. Đời sống của con cái Cha vẫn còn dính bén đến tội, vì xuất phát từ bụi tro.
Ai cũng có tội: Tôi phạm tội và cũng có người lỗi phạm đến tôi.
Con mong được Thiên Chúa tha thứ, là tình yêu của Cha được tỏa sáng trải dài trên thế gian.
Khi yêu cầu tha thứ, con cũng tha thứ cho anh em, vì con học nơi Cha tình yêu tha thứ.
Khỏi sa chước cám dỗ: Cám dỗ trong đời sống hàng ngày là điều không sao tránh khỏi trong kiếp người, Chúa Giêsu cũng đã bị cám dỗ và đã vượt qua (x. Mt 4,1-11), Ngài cũng mong chúng ta vượt qua (x. Lc 22,40-46).
Con người với những cám dỗ từ ngoài vào và những nghiêng chiều theo từ bên trong tâm hồn chính mình.
Con không xin mình khỏi bị cám dỗ hay thử thách, chỉ xin được vượt qua chước cám dỗ, mà vẫn giữ vẹn lòng tín trung, vững vàng trưởng thành trước những phong ba cuộc đời.
Cha luôn đồng hành với con trong cuộc sống: Chúa Giêsu khuyến khích con hãy kiên trì trong lòng trông cậy Cha bằng dụ ngôn người láng giềng xin bánh giữa đêm khuya để tiếp khách, chủ nhà nếu không vì lòng nhân, nhưng vì bị quấy rầy nên phải thức dậy mà cho bánh anh láng giềng (x. Lc 11,5-8).
Cha chúng ta, Người không để chúng ta thiếu thốn kia mà... Ngài luôn cho chúng ta những gì tốt nhất cho cuộc đời mình, hãy vững tin, dù những lúc thử thách nhất, thử thách đó chẳng phải là “hòn đá”, “rắn rết” hay “bọ cạp” của Cha ban đâu. Ngài sẽ ban Thánh Thần để chúng ta vượt qua đồi Canvê, mà tiến tới Phục sinh cùng với Đức Giêsu.
Lạy Chúa, ước chi con luôn “nhớ” về Cha và thể hiện “chữ hiếu trọn vẹn” cùng Cha, cũng là lúc con thành “người”, người quân bình và phát triển nhân cách và tâm linh cho chính mình. Lạy Chúa, xin giúp con. Amen.
---------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 794
Bạn thân mến,
Tôi vừa nhận được một video clip do một người bạn gửi qua email.
Nội dung clip này ghi lại cảnh những binh lính thuộc tổ chức tự xưng Nhà nước Hồi giáo (IS) giết hại những Kitô hữu tại Syria:
- Hàng chục người tín hữu tay bị trói và bị bắt quỳ trên đất. Những người lính bịt mặt dí súng vào đầu họ rồi bóp cò. Trong lúc hàng trăm người khác nhảy mừng, tung hô, như những kẻ say máu.
Tôi không thể xem hết những hình ảnh này, vì nó quá dã man và kinh hoàng.
Chúa ơi, tại sao những người này lại tàn sát các tín hữu của Chúa một cách ghê rợn?
Không thể tưởng tượng: Tại sao những hành động như vậy, lại đang xảy ra trên hành tinh của chúng ta, ở thế kỷ 21, khi mà con người không ngừng kêu gọi ngưng bạo lực và bảo vệ nhân quyền, thậm chí là bênh vực và bảo vệ những loài động vật.
Không chỉ giết hại những người công giáo, những hình ảnh do chính nhóm Nhà nước Hồi giáo phát tán trên internet còn cho thấy những cuộc tàn sát dân lành, trẻ em và phụ nữ tại Iraq và Syria.
Từng đoàn người đang bỏ lại đàng sau quê hương xứ sở của mình, để lên đường tỵ nạn tới một nơi vô định và một tương lai mù mịt.
Trong những ngày qua, dư luận thế giới bàng hoàng trước việc binh lính Nhà nước Hồi giáo giết hại hai nhà báo người Mỹ là James Wright Folley 40 tuổi và Steven Sotloff, 31 tuổi.
Hai nhà báo này đã bị giết hại bằng hình thức chặt đầu, như thời trung cổ.. James Wright Folley bị giết ngày 19-8-2014 và Steven Sotloff bị giết ngày 2-9-2014.
Sự kiện này cùng với bạo lực ngày càng nghiêm trọng, đã khiến cho tổng thống Mỹ Obama hôm 10/09 thề sẽ tiêu diệt hoàn toàn nhóm Nhà nước Hồi giáo ở Iraq và Syria.
*****
Không chỉ những Kitô hữu ở Syria hay ở vùng Trung Đông, những nhà truyền giáo và hoạt động tông đồ đang bị bách hại và giết chết ở nhiều nơi trên thế giới:
- Ngày chúa nhật 7-9 vừa qua, ba nữ tu cao niên, cả đời phục vụ người nghèo ở Phi châu, chị Lucia Pulici 75 tuổi, và Olga Raschietti 83 tuổi, bị cắt cổ chiều Chúa nhật trong tu viện ở Kamenge, ngoại ô Bujumbura của Burundi. Sau đó, nữ tu Bernedetta Boggian, 79 tuổi, từ hơn 44 năm nay phục vụ tại Trung Phi, Congo và Burundi, cũng bị chém đầu trong đêm hôm ấy.
Trước tình hình bạo động và tàn sát các Kitô hữu tại một số nước vùng Trung Đông, Đức Thánh Cha đã cử vị Đặc sứ của Ngài là Đức Hồng Y Filoni, Tổng trưởng Bộ Rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc, đến thăm và ủy lạo các cộng đoàn tín hữu tại Iraq, từ ngày 13 đến ngày 20-8-2014.
Đức Hồng Y đặc sứ đã trình bày với Đức Thánh Cha về tình trạng thê thảm tại Iraq: Các làng mạc bị bỏ hoang, vì người dân lành bị xua đuổi. Các nhà thờ bị tàn phá. Người dân ở đây thiếu thốn mọi nhu cầu cần thiết cho cuộc sống hằng ngày và bạo lực mỗi ngày một gia tăng.
Khi tàn sát dã man những người dân vô tội, những người Hồi giáo dòng SITE gọi cuộc khủng bố của họ là một cuộc thánh chiến. Họ mượn danh Thiên Chúa để làm điều ác. Họ phong thánh “tử đạo” cho những binh lính chết, trong khi tham gia những cuộc bạo loạn này!
Con người không ngừng nhân danh Chúa để tàn sát lẫn nhau.
Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta: “Sẽ đến giờ mà kẻ nào giết anh em cũng tưởng đó là phụng thờ Thiên Chúa” (Ga 16,2).
Người Do Thái đã kết án Chúa Giêsu khổ hình thập giá. Người đã chịu chết trên thập giá để biểu lộ tình yêu thương của Chúa đối với nhân loại.
Trải qua hơn 20 thế kỷ, con người vẫn không ngừng ghen ghét sát hại những người tin Chúa.
- Thập giá ngày hôm nay vẫn đang hiện diện nơi cuộc đời, khi con người đối xử tệ bạc với nhau.
- Thập giá hiện diện nơi gia đình, khi sự chung thủy và tình yêu bị phản bội.
- Thập giá hiện diện nơi cộng đoàn giáo xứ, khi mọi người chia rẽ và thù ghét nhau.
- Thập giá hiện diện nơi cuộc đời, khi con người đối xử với nhau bằng mưu mô tính toán và ích kỷ hẹp hòi.
- Thập giá vẫn còn đó và chúng ta được mời gọi hãy mang thập giá cho nhau, bằng cách hãy sống với nhau cách trung thực, nhân hậu. Đừng tăng thêm gánh nặng cuộc đời cho anh chị em mình, vì cuộc đời đã là một gánh nặng khó vác.
*****
Trong bối cảnh xã hội vùng Trung Đông và trên thế giới hôm nay, chúng ta là những Kitô hữu được mời gọi hiệp thông cầu nguyện cho những anh chị em của chúng ta đang phải vác thánh giá.
Sứ mạng làm chứng và tử đạo, luôn luôn gắn liền với cuộc đời Kitô hữu.
Đây đó trên thế giới này, luôn luôn có những cuộc tàn sát đẫm máu, vì lý do sắc tộc hoặc lý do tôn giáo.
Thế gian ghen ghét các môn đệ của Chúa, như họ đã ghen ghét và lên án tử cho Người.
Người Kitô hữu chân chính là người biết nhìn lên thập giá để mỗi ngày, để nhận ra sự hiện diện của Đấng đã chịu treo trên đó, đồng thời cảm nhận tình thương của Thiên Chúa đối với chúng ta. Ngắm nhìn thập giá cũng giúp chúng ta tìm được sức mạnh, để bước đi trong cuộc đời đầy gian nan thử thách này, nhờ đó mà chúng ta vững tin như Chúa nói với chúng ta: “Hãy can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33).
Lạy Chúa, chúng con cầu xin cho anh chị em chúng con đang chịu bách hại trên khắp thế giới. Xin Chúa thêm sức cho họ, để họ biết chiến thắng bạo lực bằng tình yêu thương và tha thứ.
Xin Chúa giúp chúng con vác thập giá cuộc đời hôm nay, để nhờ ơn Chúa, chúng con cũng biết vác thập giá giúp anh chị em chúng con. Amen.
+ Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên
------------------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 795
Bạn thân mến,
Một tờ báo Ý đã tiết lộ một tin quan trọng về Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II (Wojtyla):
Tờ báo cho biết, khi Đức Giáo hoàng còn là sinh viên, du học tại Rôma, một hôm đã cùng với các bạn đi thăm cha đáng kính Piô, vị linh mục được Chúa in năm dấu thánh.
Vừa gặp, cha Piô đã ôm chầm lấy ngài và nói rằng: Một ngày kia, cha sẽ làm Giáo hoàng và sẽ chịu đau khổ, máu sẽ chảy.
Cha Wojtyla trả lời: “Điều ấy con không sợ vì con sẽ không bao giờ làm Giáo hoàng”.
Nhưng thánh ý Chúa nhiệm mầu! Wojtyla đã làm Giáo hoàng và máu đã chảy trong cuộc mưu sát ngày 13/10/1981 tại công trường thánh Phêrô.
Gioan Phaolô là vị Giáo hoàng thứ 264, từ ngày vị Giáo hoàng tiên khởi là thánh Phêrô được Chúa trao quyền tối thượng (Theo Lm. Hồng Phúc, Suy niệm lời Chúa, năm A, tr. 128).
*****
Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là “Đấng Kitô”, một “Đấng Kitô vinh hiển”, Đấng đến giải thoát dân tộc Do Thái khỏi ách đô hộ của người Rôma và làm cho nước Do Thái được hùng cường.
Các môn đệ vẫn một mực bám vào quan niệm sai lầm về Đấng Kitô đến thiết lập một vương quốc trần gian hùng cường, cho nên, các ông vẫn tiếp tục mong chờ một: “biến cố vẻ vang”, chứng tỏ quyền năng của Đấng Mêssia. Một vương quyền, quyền uy chiến thắng sắp đến với Đấng Kitô.
Thật thế, Phêrô và các bạn vẫn chưa hiểu hết về một Đấng Kitô như Đức Giêsu loan báo “Đấng Kitô đau khổ”, mà Chúa Giêsu nhấn mạnh về Đức Kitô khổ nạn và truyền cho các môn đệ phải luôn ghi tâm khắc cốt: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời”.
Ngài chấp nhận chết, để tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ, đó là hy sinh vô bờ bến, để cứu chuộc nhân loại: “Không có tình yêu nào cao cả bằng tình yêu của người hiến dâng mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15,13).
Chính vì thế, Đấng Kitô sẽ hy sinh trên thập tự, đã làm cho cuộc sống con người có ý nghĩa và được cứu độ.
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn tin vào Chúa, để được cứu độ. Và luôn hiểu rằng, vì tội lỗi nhân loại, mà Chúa Kitô đã chịu khổ hình, bị đóng đinh...
Lạy Chúa, xin cứu độ chúng con. Amen.
----------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 796
Bạn thân mến,
Cho đến năm 1896, vùng Cayenne ở Saint Ouen (nước Pháp), không bao giờ thấy bóng dáng một chiếc áo dòng đen nào. Nhưng một ngày trong năm đó, có một vị linh mục cả gan xâm nhập vào vùng này.
Một người nghịch Đạo trong vùng nầy thấy vậy liền lấy một hòn đá ném mạnh vào đầu vị linh mục. Vị linh mục lặng lẽ cúi xuống, nhặt lấy viên đá đầy máu đỏ của mình lên và nói:
- Xin cảm ơn ông, đây sẽ là viên đá đầu tiên của một đền thờ tôi muốn xây dựng ở đây.
Và thật sự, viên đá đó là viên đá đầu tiên của đền thờ Mân côi, được xây lên đó.
Nước Chúa trên mặt đất này là Giáo hội, cũng bắt đầu trong nhỏ hèn, trong bạc đãi như vậy. Giáo hội vẫn phát triển trong âm thầm và đau khổ (Theo Nguyễn Hài Đồng, Tự điển câu chuyện, 1969, tr. 114).
*****
Chúa Giêsu với những giáo huấn mới lạ, kèm theo những phép lạ, làm cho người câm nói được, người điếc được nghe, người mù thấy được, người què và bại liệt đi lại được, người bị quỷ ám được giải thoát…
Dân chúng bàn tán về Ngài, người thì cho rằng: Ngài là ngôn sứ Êlia, vị ngôn sứ phải đến chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế, hay Gioan Tẩy giả mà vua Hêrôđê đã sát hại, nay sống lại trở về, hay một ngôn sứ thời xưa đã sống lại…
Đức Giêsu đặt câu hỏi trên cho các môn đệ: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?”, khi họ đã ở với Ngài, đã thấy việc Ngài làm, nghe lời Ngài giảng và được Ngài sai đi (x. Mc 3,14).
Nhóm Mười hai, mà thánh Phêrô đứng đầu trả lời: “Thầy là Đấng “Christos” nghĩa là Kitô”, “Mêssia” (Mesiah), trong tiếng Hêbrơ có một nghĩa rất mạnh, như biến cố bùng nổ tại Israel: Đó là Đấng được Thiên Chúa xức dầu, Đấng mà mọi người mong đợi để đến “hoàn tất lịch sử”, đã được các ngôn sứ báo trước.
Dù tuyên xưng Thầy là Đức Kitô, Đấng Mêssia, nhưng Phêrô vẫn chưa hiểu hết được mầu nhiệm cứu độ của Ngài trong sứ mạng Mêssia. Theo ông, Đấng Mêssia phải vinh quang, chiến thắng theo kiểu loài người, Đấng đến để giải phóng dân tộc Do Thái và làm cho nước này trở nên hùng cường, bá chủ địa cầu.
Với Phêrô, Đức Kitô phải được tôn vinh như: Thiên Chúa hùng mạnh, danh Ngài lừng vang trên toàn cõi đất, Người là Đấng Thánh của Israel và nước Người tồn tại đến vô cùng tận (x. Tv 11; Tv 12).
Nhưng Chúa Giêsu lại mạc khải Đấng Kitô phải đối diện với thập giá, phải chịu đau khổ như ngôn sứ Isaia loan báo về tư thế của người tôi tớ đau khổ (Is 50,5-9a).
Khi nhìn nhận Đức Giêsu là Đấng Kitô, Đấng bước vào đau khổ và sự chết, chúng ta cũng được mời gọi bước theo Người: Vác thập giá và bước đi như Người, bên cạnh Người, được Người nâng đỡ, để tiến về với Chúa Cha.
Lạy Chúa, xin cho cuộc sống của chúng con luôn hướng về thập giá Chúa Kitô và bước theo từng bước, trong tâm tình yêu mến, phụng sự và tín thác. Amen.
------------------------------------------
Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 797
Bạn thân mến,
Có một cụ bà đến bàn ghi ý lễ và nói: “Cho tôi xin lễ với ý xin ơn chết lành!”.
Vị ghi ý lễ muốn tránh chữ “chết” nghe khó nghe, nên đã tự ý ghi lại là: “Xin lễ như ý” cho dễ nghe hơn.
Biết được, bà cụ không đồng ý và yêu cầu phải ghi lại đúng nguyên văn.
Ôi đúng thật là một người có đức tin vững mạnh và tràn đầy, bởi chết là về với Chúa, có gì đâu mà đáng sợ !
*****
Cũng có một câu chuyện khác kể về hai người nọ đang gặp đau khổ đã đến xin một vị ẩn sĩ tìm cách giúp cho mình vượt qua thực trạng của cuộc sống, mà họ đang phải đối đầu.
Sau khi nghe họ giãi bày tâm sự, vị ẩn sĩ trả lời:
“Tốt hơn các anh hãy tìm đến một vị khác, tôi không có đủ tư cách để trả lời câu hỏi đó, bởi vì cả đời tôi chưa bao giờ nhận điều xấu từ bàn tay Chúa đâu!”.
Nghe đến đây, hai người thanh niên chợt hiểu rằng khi con người vui vẻ đón nhận khổ đau, thì khổ đau không còn là vấn đề bi đát nữa.
Tin Mừng hôm nay (Lc 9, 43b-45) cho thấy Đức Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn của Ngài sẽ phải chịu, đang khi dân chúng và chính các môn đệ thì đang trầm trồ khen ngợi vẻ huy hoàng, vinh quang qua quyền năng của Đức Giêsu, nơi các việc Ngài đã làm cho dân.
Khi tiên báo con đường khổ nạn lúc này, là Đức Giêsu muốn các môn đệ hãy đi theo con đường hy sinh, từ bỏ và đón nhận đau khổ, vì tình yêu thì sẽ đạt được hạnh phúc đích thực.
Khổ đau không bao giờ buông tha chúng ta! Nếu chúng ta đối đầu với chúng trong sự tiêu cực, thì chính khổ đau sẽ vùi dập cuộc đời và nó sẽ làm cho chúng ta thất vọng.
Còn nếu chúng ta đón nhận nó trong lòng mến Chúa và vì sứ vụ, thì sẽ được bình an và đôi khi hạnh phúc hiện lên, từ những gian nan khốn khổ. Bởi lẽ, theo niềm tin của người Công Giáo thì: “Qua đau khổ mới tới được vào vinh quang”.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn hiểu rằng: Con đường theo Chúa, là con đường của đau khổ và hy sinh.
Tuy nhiên, trung thành với Chúa trong lòng mến, thì chúng con sẽ được phục sinh vinh hiển mai ngày. Amen.
------------------------------------------
Những sách cha Mễn đã in (85 cuốn):
như lương thực tinh thần hổ trợ bà con qua lại thời Covid,
từ khi nhà thờ không có thánh lễ, không có giảng dạy, không có các lớp Giáo Lý và không có các sinh hoạt đoàn thể....
https://linhmucmen.com/news/kho-sach-quy/nhung-sach-da-in-1654.html
*** Bạn muốn có những sách này, hãy chép đường link trên của sách vào thẻ nhớ, hoặc vào USB, đưa cho tiệm Photo, họ sẽ in, chỉ khoảng 15 phút là xong, vì mỗi sách đều đã có sẵn bìa, và mỗi sách không quá 100 trang A5. (Chỉ khoảng 24 tờ A4).
*** Bạn cũng có thể đọc trực tiếp các bài này, trên Điện Thoại cảm ứng, khi bạn dùng ngón tay chạm vào đường link trên: https://...
*** Và bạn cũng có thể chép đường link trên: https://... gởi qua Zalo, Messenger, Line, Viber, Tango... làm quà tặng cho các bạn bè, nhiều người được đọc, sẽ có nhiều lợi ích.
---------------------------------
I. - Chuyện minh họa Tin Mừng Chúa Nhật: (12 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-minh-hoa-tin-mung/
1. Chuyện người đàn ông say mê quảng cáo - sách 1
2. Chuyện linh mục vào Thiên Đàng - Sách 2
3. Chuyện con két đi khám bác sĩ – Sách 3
4. Chuyện gà mái ấp trứng đại bàng – Sách 4
5. Chuyện “Số Con Rệp” – Sách 5
6. Thiên Chúa là Đấng hay quên – Sách 6
7. Chuyện một người con chọn mẹ để sinh ra – Sách 7
8. Family, một định nghĩa hay về gia đình – Sách 8
9. Hộ Chiếu Nước Trời – Sách 9
10. Chuyện bán linh hồn cho ma quỉ, để đổi lấy danh tiếng – Sách 10
11. Những câu chuyện biến hình – Sách 11
12. Yêu thương không phải là chiếm đoạt, nhưng là trao ban – Sách 12
II. – Chuyện đời chuyện đạo: (23 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-doi-chuyen-dao/
1. Hãy vui hưởng hạnh phúc ta đang có - sách 1
2. Chuyện đời to và nhỏ - Sách 2
3. Những lời khuyên hữu ích - Sách 3
4. Những chuyện nhỏ mang nhiều ý nghĩa cho cuộc sống - Sách 4
5. Một phép lạ từ một tình thương cho đi - Sách 5
6. Phút thánh hoá gia đình đầu năm mới - Sách 6
7. Năm Mão nói chuyện con mèo - Sách 7
8. Một kiểu sống lại không vui - Sách 8
9. Chuyện con gà trống - Sách 9
10. Kinh cầu các thánh chẳng hề được phong - Sách 10
11. Làm phúc giúp các linh hồn nơi Luyện Ngục - Sách 11
12. Các linh hồn nơi Luyện Ngục sẽ không quên sự giúp đỡ của chúng ta - Sách 12
13. Tình Mẫu Tử trong dịp Lễ Giáng Sinh - Sách 13
14. Năm Thìn, nói chuyện con rồng - Sách 14
15. Nhật ký của một linh hồn sau khi chết - Sách 15
16. Những lời tâm sự của người cận kề cái chết - Sách 16
17. Tội nhân trở thành thánh nhân - Sách 17
18. Chuyện ông Panov gặp Chúa đêm Giáng Sinh - Sách 18
19. Cách hành xử của Chúa luôn là bất ngờ - Sách 19
20. Năm Thánh - Ất Tỵ 2025 - Sách 20
21. Đừng hành động đang khi nóng giận - Sách 21
22. Chuyện chưa từng kể về Giáo Hoàng Lê-ô XIV - Sách 22
23. Lòng Thương Xót Chúa đã thắng - Sách 23
III. - Chuyện kể cho các gia đình: (35 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-ke-gia-dinh/
1. Chuyện người thu thuế và Người biệt phái - sách 1
2. Đừng bỏ cuộc - sách 2
3. Bí quyết hạnh phúc - Sách 3
4. Một chuyện không ngờ thê thảm - Sách 4
5. Đi tìm một bảo hiểm -Sách 5
6. Một mẫu người sống đạo đáng khâm phục - sách 6
7. Yêu là yêu cho đến cùng - Sách 7
8. Những chuyện lạ có thật – Sách 8
9. Một niềm vui bất ngờ - Sách 9
10. Chuyện mẹ ghẻ con chồng - Sách 10
11. Chứng nhân giữa đời thường - Sách 11
12. Cho Chúa mượn thuyền - Sách 12
13. Nét đẹp của lòng thương xót - Sách 13
14. Chuyện tôi vào đạo Chúa - Sách 14
15. Chuyện cô giáo năm xưa - Sách 15
16. Kinh nghiệm của những người trở về “Từ Cõi Chết” nói với ta - Sách 16
17. Quyển nhật ký của mẹ - Sách 17
18. Phép lạ từ việc sùng kính Đức Mẹ - Sách 18
19. Ngày của bố - Sách 19
20. Chuyện 2 cha con hoang đàng - Sách 20
21. Chuyện Kẻ “tự bắc thang lên trời” - Sách 21
22. Chuyện Quỷ Ám là có thật - Sách 22
23. Chuyện bán linh hồn cho ma quỉ - Sách 23
24. Thảm họa: Một Thiên Đường không có Thiên Chúa – Sách 24
25. Nếu Thiên Chúa không có, thì tại sao lại chống Ngài ? – Sách 25
26. Ông già Noel không mặc đồ đỏ – Sách 26
27. Tình yêu có sức mạnh biến đổi – Sách 27
28. Chuyện một mối tình thật đẹp – Sách 28
29. Một kinh ngiệm truyền giáo thật dễ thương – Sách 29
30. Tháng các đẳng linh hồn và những ước nguyện – Sách 30
31. Các Con đã Bỏ Quên Mẹ trong Luyện Ngục – Sách 31
32. Đừng lân la, đùa giỡn hay thách thức ma quỉ – Sách 32
33. Một đức tin đích thực, cần phải được tôi luyện trong đau khổ – Sách 33
34. Phép lạ của lòng quảng đại – Sách 34
35. Sức mạnh của lòng yêu mến Chúa thúc bách tôi – Sách 35
IV.- Chuyện lẽ sống: (8 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-le-song/
1. Chuyện Chúa Giêsu đi xem bóng đá - Sách 1
2. Tình yêu là sức mạnh vạn năng - Sách 2
3. Ðời là một chuyến đi - Sách 3
4. Căn hầm bí mật - Sách 4
5. Thất bại, là khởi điểm của thành công - sách 5
6. Lịch sử ngày của mẹ - Sách 6
7. Chuyện tình Romeo và Juliet - Sách 7
8. Một cách trả thù độc đáo - Sách 8
V. – Kho sách quý: (7 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/kho-sach-quy/
1. Bí mật đầy kinh ngạc về các linh hồn trong luyện ngục – Sách 1
2. Lần hạt mân côi – Thánh Josémaria Escrivá– Sách 2
3. Tiếng nói từ luyện ngục – Sách 3
4. Sách tháng các linh hồn – Sách 4
5. 300 Chuyện ngắn giúp minh họa lời Chúa (Phần I) – Sách 5
6. 300 Chuyện ngắn giúp minh họa lời Chúa (Phần II)– Sách 6
7. Tinh hoa và những lời nói sau hết của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu (Phần I)– Sách 7.
---------------------------------
Tác giả: Nguyễn Văn Mễn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn