Giải đáp thắc mắc cho người trẻ công giáo Bài 41-60

Thứ sáu - 21/03/2025 16:19
700 giải đáp cho người trẻ công giáo
700 giải đáp cho người trẻ công giáo
Giải đáp thắc mắc cho người trẻ công giáo Bài 41-60
Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giai-dap-thac-mac-cho-nguoi-tre-cong-giao-50477
---------------------------------

Nội Dung:

Bài 41: LÀM SAO TU? TU LÀM SAO?. 1
Bài 42: KHI CON ĐAU KHỔ, THIÊN CHÚA Ở ĐÂU?. 6
Bài 43: NGUYÊN NHÂN NGƯỜI TRẺ RỜI XA THIÊN CHÚA.. 9
Bài 44: THIÊN CHÚA VÀ SỰ ĐAU KHỔ.. 14
Bài 45: NGƯỜI CÔNG GIÁO CÓ NÊN ĐI XEM BÓI?. 18
Bài 46: CHÚA DỰNG NÊN CON CÁCH LẠ LÙNG.. 22
Bài 47: THỦ DÂM CÓ PHẠM TỘI KHÔNG?. 26
Bài 48: KHÔN NGOAN THÌ THA THỨ.. 30
Bài 49: BÍ QUYẾT GIỮ GÌN HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH.. 35
Bài 50: GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO ĐÓNG GÓP CHO XÃ HỘI VIỆT.. 40
Bài 51: VỢ, HAY “CON VỢ”?. 45
Bài 52: TÓM LƯỢC ĐẠO CÔNG GIÁO.. 49
Bài 53: ĐỨC MẸ ĐỒNG TRINH TRỌN ĐỜI 54
Bài 54: BẬN LÒNG CÙNG CHÚA.. 61
Bài 55: SỐNG CHIỀU SÂU.. 65
Bài 56: TỰ DO.. 69
Bài 57: ƯƠM MẦM ĐỨC TIN.. 72
Bài 58: CÁC THÁNH TRONG CỰU ƯỚC VÀ TÂN ƯỚC.. 77
Bài 59: VẤN ĐỀ SỰ SỐNG ĐỜI SAU.. 82
Bài 60: NGHE LÀ LÀM THEO.. 88


---------------------------------

 

Bài 41: LÀM SAO TU? TU LÀM SAO?


Giuse Lê Đắc Thắng, SJ

Hỏi: Xin cho con hỏi mình muốn đi tu thì phải làm thế nào?

Trả lời:

Bạn thân mến,

Có vẻ như thật dễ dàng để trả lời câu hỏi bạn đang thắc mắc: nếu bạn có ước muốn đi tu thì cứ việc tới gõ cửa tìm hiểu các nhà dòng hay chủng viện, những nơi đó luôn mở cửa chào đón bạn. Mỗi nhà dòng hay chủng viện đều có những điều kiện đặc trưng trong việc tiếp nhận ứng viên. Nếu họ nhận thấy nơi bạn có những dấu hiệu phù hợp với ơn gọi tận hiến và linh đạo của họ thì bạn sẽ được thâu nhận. Việc thâu nhận này chỉ là bước đầu để giúp ứng viên có điều kiện tìm hiểu thêm và quyết định dấn thân sống đời tu nếu muốn.

Tuy nhiên, tôi đoán rằng khi bạn đặt câu hỏi như trên thì bạn không chỉ hỏi về tiến trình cũng như thủ tục giấy tờ để gia nhập dòng tu hay chủng viện. Những thứ đó bạn có thể dễ dàng tìm thấy trên Internet hoặc từ các nguồn thông tin khác.

Như vậy câu hỏi của bạn có thể được hiểu theo một nghĩa khác; đó là bạn muốn biết mình phải làm thế nào để có được ước muốn đi tu. Thật không may cho bạn là tôi hay bất cứ ai khác sẽ không bao giờ có thể tìm ra được câu trả lời một vấn đề như thế. Nếu bạn không có ước muốn đi tu thì không có cách nào giúp bạn có được ước muốn ấy cả.

Con người chỉ ước muốn một điều gì đó khi họ cảm thấy thiếu nó. Nếu bạn không cảm thấy “thiếu” một điều chỉ được tìm thấy trong đời tu thì làm sao người khác có thể bắt bạn phải “thiếu” nó được! Ước muốn là hoạt động của tâm lý, khác với nhu cầu của thể lý. Nhu cầu thể lý có thể giải thích theo quy luật vận hành tự nhiên. Ví dụ như đói thì cần ăn, khát thì cần uống, mệt thì cần nghỉ ngơi. Trái lại, ước muốn thì không có những điều kiện ràng buộc; nó xuất hiện một cách tự nhiên trong đời sống tâm lý của con người, không ai có thể cố tình phủ nhận hay tạo ra ước muốn cho mình được.

Có thể bạn cho rằng nhiều người ước muốn đi tu là bởi vì từ nhỏ họ đã tham gia các hoạt động của nhà thờ, tiếp xúc gần gũi và được đánh động bởi gương sáng của các cha, các sơ. Tuy nhiên, giữa những điều kiện kể trên và ước muốn đi tu thực ra không hề có mối liên hệ nhân quả; nghĩa là những điều kiện đó có thể giúp củng cố nhưng không thể tạo ra ước muốn đi tu nơi một người nào đó được. Nếu ước muốn đi tu có thể được tạo ra bởi những điều kiện nhất định thì có lẽ Giáo Hội sẽ không lo thiếu ơn gọi, bởi vì chỉ cần đáp ứng những điều kiện đó thì tức khắc sẽ có người muốn đi tu. Thế nhưng vấn đề không hề đơn giản như vậy.

Xét theo một nghĩa nào đó thì ước muốn đi tu hay sống đời tận hiến là hạt mầm được Chúa gieo nơi tâm hồn con người và cần điều kiện nuôi dưỡng phù hợp để lớn lên và trổ sinh hoa trái. Đời tu là một lời mời mời gọi yêu thương chứ không phải là một mệnh lệnh bắt buộc.

Tất nhiên, có nhiều trường hợp muốn đi tu nhưng bị gia đình ngăn cản hoặc điều kiện chính trị xã hội không cho phép, rồi cuối cùng họ không thể sống đời tu được. Như thế, nếu như có những điều kiện ngoại cảnh giúp củng cố ước muốn đi tu thì cũng có cả những điều kiện làm cản trở và dập tắt ước muốn ấy. Chừng nào bạn còn có ước muốn đi tu và có đầy đủ điều kiện thực hiện ước muốn ấy thì chừng đó bạn có thể sống đời tu được.

Ngay từ đầu tôi đã khẳng định là không thiếu những dòng tu hay chủng viện mở cửa đón nhận bạn nếu bạn thực sự có ước muốn đi tu. Điều này có nghĩa là Giáo Hội không thiếu điều kiện để nuôi dưỡng và củng cố ơn gọi của bạn. Tôi cũng đã chia sẻ với bạn là ước muốn đi tu nơi mỗi người đến một cách tự nhiên. Có thể hiểu theo đức tin của chúng ta là ước muốn đó do chính Thiên Chúa tác động, không ai có thể tạo ra ước muốn đi tu nơi người khác được. Do vậy, tôi suy luận đến một cách hiểu khác nữa về câu hỏi mà bạn đặt ra, đó là nơi chính bạn đã nhen nhóm ước muốn đi tu dù chưa có quyết định chính thức hoặc chưa nói cho ai biết, và điều bạn đang thao thức là làm sao biến ước muốn đó trở thành hiện thực, được củng cố chứ không bị dập tắt. Nếu hiểu theo nghĩa như vậy, sau đây tôi sẽ gợi ý cho bạn một vài bước tiếp cận vấn đề này.

Trước hết, bạn cần xác minh ước muốn đi tu của mình là có thật hay không. Vì bạn là người hiểu rõ nhất điều bản thân mình muốn nên không ai khác có thể thay thế bạn trả lời câu hỏi này. Tất nhiên ban đầu bạn sẽ cảm thấy bối rối về lựa chọn của mình. Một mặt, bạn muốn tận hiến phục vụ tha nhân trong đời sống tu trì. Mặt khác, bạn không dám chắc rằng đây là con đường Chúa muốn mình dấn thân suốt đời hay chỉ là thứ cảm xúc nhất thời mà thôi.

Cứ yên tâm vì bạn không phải loay hoay một mình tìm lối đi, bởi vì Chúa sẽ gửi những người có nhiều kinh nghiệm trong đời sống thiêng liêng đến giúp bạn. Họ có thể là cha xứ, cha giải tội, cha linh hướng, sơ, thầy hoặc bất cứ người nào mà bạn quen biết. Thiên Chúa sẽ có cách hướng dẫn bạn thông qua sự đồng hành của những người có kinh nghiệm hơn. Việc bạn cần làm là mở lòng thẳng thắn trao đổi với họ những biến chuyển nội tâm và cảm xúc chân thật của bạn. Thông thường trong các dòng tu hay chủng viện sẽ có những vị chuyên trách hướng dẫn các bạn trẻ định hướng ơn gọi của mình, bạn có thể nhờ họ giúp.

Thứ đến, ngay cả khi bạn đã xác tín rằng mình thực sự ao ước đi tu thì bạn cũng cần kiểm tra lại động lực ước muốn của mình. Người ta có thể thích đi tu vì nhiều lý do khác nhau, và không phải lý do nào cũng chính đáng và thánh thiện. Bạn đừng vội ngạc nhiên về điều này, bởi có người đi tu vì nghĩ rằng mình sẽ sống đời sung túc dư giả, có người đi tu vì muốn được người khác kính trọng, có người đi tu vì không muốn gánh vác trách nhiệm gia đình… Có thể bạn muốn đi tu không phải vì những lý do kể trên nhưng biết đâu chúng cũng xen lẫn một phần nào đó trong động lực ước muốn của bạn.

Để nhận ra mình có ước muốn đi tu với động lực đúng đắn hay không, bạn cần hỏi chính mình: “Ước muốn sâu xa nhất của tôi là gì?” Ví dụ, giả sử tôi muốn đi tu để được làm linh mục hay bà sơ thì một câu hỏi khác nữa cần được đặt ra là tôi muốn làm linh mục hay bà sơ để làm gì. Cứ tiếp tục đặt ra những câu hỏi “để làm gì?” xoáy sâu như vậy rồi cuối cùng bạn sẽ nhận ra động lực sâu xa và chân thực nhất của mình trong việc ao ước sống đời tu, từ đó có thể xác định được là động lực đó thánh thiện hay phàm tục.

Thực tế là không có ai bước vào đời tu với một động lực tinh tuyền cả, thế nào cũng bị pha trộn tinh thần thế tục. Những động lực không tinh tuyền ấy vẫn có thể được chấp nhận trong bước đầu một người tìm hiểu đời tu nhưng sớm muộn gì chúng cũng phải được thanh lọc. Nếu động lực không được thanh lọc thì người đó sẽ không thể tiếp tục sống đời tu hoặc có sống đời tu thì cũng không thể trổ sinh hoa trái tốt đẹp được.

Đời tu là bước theo Đức Giêsu Kitô một cách triệt để hơn, thể hiện cách cụ thể qua việc sống ba lời khấn Khó nghèo, Vâng phục và Khiết tịnh. Do đó, tu không phải là để được phục vụ mà là để phục vụ như Đức Giêsu Kitô. Nếu bạn vẫn còn đang phân vân không biết mình có thực sự khao khát đi tu chỉ vì yêu mến Đức Giêsu hay không thì chẳng sao cả, vì điều này cần thời gian để kiểm chứng. Bạn sẽ không cần phải đợi từ ai khác bên ngoài chỉ ra điều đó bởi vì bạn là người biết rõ chính mình nhất.

Do vậy bạn hãy cứ mạnh dạn bước vào sống đời tu nếu cảm thấy mình được thôi thúc. Trong đời tu, chương trình huấn luyện trong các nhà dòng hay chủng viện sẽ giúp bạn sống đời tu một cách đúng đắn và ý nghĩa hơn.

Điều cuối cùng và cũng là điều quan trọng nhất, đó là sau khi nhận ra mình thực sự có ước muốn đi tu với động lực ngay lành thì làm thế nào để duy trì được ước muốn ấy. Có thể nói rằng chỉ khi nào bạn còn lòng muốn đi tu thì khi đó bạn mới có thể sống đời tu vui vẻ hạnh phúc được. Cũng giống như những loại tình cảm khác trong đời sống tâm lý con người, ước muốn sống đời tận hiến nếu không được nuôi dưỡng hay chăm sóc tốt thì sớm muộn gì cũng nhạt phai.

Thêm vào đó, trong quá trình phát triển tâm sinh lý tự nhiên của con người, đến một độ tuổi nào đó, ước muốn đi tu sẽ gặp không ít thách đố. Số là khi người ta chọn con đường độc thân khiết tịnh, tự nguyện vâng phục bề trên và sống đời đơn sơ khó nghèo, những thách đố trong đời tu càng trở nên căng thẳng hơn. Đó chưa kể là họ phải chịu thêm áp lực của công việc và những xung đột có thể xảy ra trong tương quan giữa anh chị em trong dòng hay với người ngoài.

Nói chung là để duy trì được ước muốn đi tu thì mỗi người cần phải trở về với động lực tinh tuyền của đời tu. Đó là ao ước được bước theo Đức Giêsu cách triệt để.

Ơn gọi tận hiến phát xuất từ tình yêu tự nguyện chứ không phải bị ép buộc, từ phía người gọi lẫn người đáp trả. Vì yêu thương, Thiên Chúa đã mời gọi một số người gắn kết với Ngài cách mật thiết hơn trong đời sống tu trì. Cũng vậy, vì nhận ra tình yêu Thiên Chúa dành cho mình và cho nhân loại, người tu sĩ đã đáp trả bằng cuộc đời dấn thân phục vụ Chúa và tha nhân. Tình yêu đó cần được nuôi dưỡng củng cố trong đời sống của người tu sĩ qua:

- Nhịp sống đều đặn hàng ngày,

- qua những giờ cầu nguyện và Thánh lễ,

- qua việc lãnh nhận các bí tích,

- qua những công việc nhỏ bé thầm lặng trong nhà,

- qua tình yêu thương họ dành cho những anh chị em trong cộng đoàn,

- và qua các hoạt động dấn thân nơi các môi trường tông đồ khác nhau.

Người tu sĩ được mời gọi đón nhận và trao ban tình yêu nơi những gì nhỏ bé bình thường nhất. Càng sống lâu trong đời tu người tu sĩ càng hạnh phúc và muốn dấn thân nhiều hơn vì thấy mình được lớn lên trong tình yêu Chúa và tha nhân.

Để đúc kết lại những gì đã chia sẻ, tôi nói thêm điều này để bạn yên tâm phần nào nếu bạn còn cảm thấy mình chưa đủ tự tin để dấn thân sống đời tu: tu sĩ không phải là con người hoàn thiện mà là người đi trên đường hoàn thiện. Nếu đời tu được coi là đời sống hoàn thiện thì tính chất hoàn thiện đó nằm ở “con đường” mà người tu sĩ bước đi chứ không phải ở “con người” của họ. Con đường đó chính là Giêsu, chừng nào người tu sĩ còn khao khát bước theo Ngài thì chừng đó họ đang thực sự sống đời tu.

Chúa gọi một người sống đời tu không phải vì người đó tốt lành hay nổi bật hơn những người khác. Tuy nhiên, khi Chúa đã gọi một người theo bậc sống này thì chắc chắn Ngài sẽ ban đủ ơn để giúp họ đủ sức dấn bước đến trọn con đường yêu thương. Nếu Chúa đặt để nơi tâm hồn bạn khao khát dấn thân cho Chúa và tha nhân trong đời tận hiến thì Ngài cũng sẽ giúp bạn hoàn thành ước nguyện. Vấn đề là bạn có tin tưởng phó thác vào bàn tay Chúa dẫn dắt trong mọi hoàn cảnh sống của mình hay không mà thôi.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 2, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (28.02.2021)

---------------------------------

 

Bài 42: KHI CON ĐAU KHỔ, THIÊN CHÚA Ở ĐÂU?


Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Hỏi: Nếu Thiên Chúa tốt lành, tại sao Ngài lại để khổ đau xảy ra trên thế giới? Nhiều khi con nghĩ dường như Thiên Chúa vắng bóng khi con hoặc người thân đang phải chịu bệnh tật, khổ đau và tuyệt vọng! Nhất là trong chiến tranh, biết bao đau khổ đang diễn ra. Mong nhận được chia sẻ của cha!

Trả lời:

Chào bạn,

Chúng tôi rất vui khi nhận được câu hỏi trên của bạn. Nếu được bình chọn ai là người “xui xẻo” nhất, đau khổ nhất hành tinh, thì bạn và chúng tôi phải để tâm bầu chọn cho ông Gióp. Ông là ai?

Tên ông được lấy làm tựa đề một cuốn sách trong Kinh Thánh. Trong đó, từng dòng chữ lột tả hết thân phận bi thương của ông. Khi đọc sách ông Gióp, người ta có thể thấy nhiều bất công. Ở hiền sao ông không gặp lành? Ông làm gì sai mà bị quả báo đến nỗi khó có ai đau khổ như ông? Những đau khổ ta đang phải chịu so với núi xui xẻo, nỗi đau đớn tận cùng của ông thì chẳng thấm vào đâu!

Ông Gióp là người công chính, giàu có và hằng tôn thờ Thiên Chúa. Đàn gia súc của ông nhiều khôn kể. Bất động sản của ông cò bay thẳng cánh. Ông có con đàn cháu đống. Ông tốt bụng, hiền lành và thương người. Đặc biệt ông một lòng tin tưởng vào Thiên Chúa và phó thác mọi sự trong tay Đức Chúa. Với những đặc tính ấy, ông được Thiên Chúa khen ngợi và giữ gìn.

Tuy nhiên, Satan, ác quỷ là kẻ luôn mang đến cho người ta đau khổ và chết chóc. Nó tin rằng con người chỉ tin Thiên Chúa trong hoàn cảnh ăn sung mặc sướng, còn đau khổ là con người chẳng biết Thiên Chúa là ai.[1] Để chứng minh điều này, Satan xin với Thiên Chúa thử thách ông Gióp. Nó tin rằng khi đau khổ đến, Gióp cũng nguyền rủa Thiên Chúa, sụp đổ hoàn toàn. Sau lần trò chuyện đó, Thiên Chúa cho phép Satan làm mọi thứ với Gióp, nhưng không được lấy mạng ông.[2]

Từ đó, người ta chứng kiến biết bao chuyện khổ đau đổ xuống cuộc đời ông. Người ta cướp phá tài sản của ông. Các con ông bị tai nạn qua đời. Có lẽ đau khổ hơn hết là thân thể ông tự dưng bị lở loét. Từng thớ thịt u nhọt bủa vây ông. Chắc ta chẳng thể tưởng tượng được nỗi đau ông phải chịu. Đúng là có đứt tay mới biết đau thế nào! Ngoài những đau thương ấy, ông còn bị người đời soi mói, mỉa mai và đay nghiến. Chỉ có kẻ tội lỗi, làm điều xấu xa mới chịu đau khổ như thế. Ông phân trần: Tôi đâu làm gì sai!

Khổ đau quá, ông trách mình, nguyền rủa ngày ông chào đời (G 3,1–26). Trách thân xong, ông quay sang Đức Chúa. Ông còn muốn tìm Chúa để đôi co, tranh luận (G 13,3). Nhưng biết tìm Chúa ở đâu? Ông hy vọng có ai đó bệnh vực và chữa lành cho ông. Nhưng dường như ông vẫn phải ở trong đau khổ. Trên hết, ông không bao giờ từ bỏ niềm xác tín của mình là: người công chính luôn nắm phần chiến thắng!

Người đời ngả mũ khen niềm tin và lòng kiên nhẫn của ông trong cơn đau khổ. Thử hỏi ai làm được như ông: “Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng Đức Chúa” (G 1,21). Tuy nhiên, người ta cũng thông cảm cho ông vì những lần ông tìm Chúa để phân trần, để đôi co về những đau khổ. Đừng quên, ông cũng là người trần mắt thịt với những cảm xúc tự nhiên của kiếp người. Do đó, khi đau khổ quá, ông thống thiết kêu gào đến tận trời xanh. Biết bao lần ông hỏi Chúa: “Tại sao, tại sao và tại sao?” “Thiên Chúa tốt lành, thì đau khổ ở đâu ra?” “Thiên Chúa có công bình không?” Đức Chúa dường như vẫn hơi lặng tiếng và tiếp tục thử thách ông. Lạ thay, ông Gióp vẫn tin tưởng và trân nhận quyền năng cao cả của Thiên Chúa (G 5–13).

Đúng là niềm tin có sức giúp ông vượt qua tất cả và tìm lại được mọi thứ. Ở tận cùng nỗi đau, chính Đức Chúa đến và trao lại cho ông hơn những gì ông mất. Ông đong cho Chúa đấu nào, thì giờ đây Thiên Chúa trả lại cho ông những đấu ân sủng đầy dư! Ông được Thiên Chúa chữa lành bệnh tật. Ông giàu có hơn trước. Nhất là ông được sống lâu và hạnh phúc miên trường. Đó chẳng phải là phần thưởng xứng đáng dành cho những ai tin tưởng, trông cậy vào Thiên Chúa sao?

Đó là chuyện trong Kinh Thánh. Ngoài đời chúng ta cũng bắt gặp nhiều người đang phải chịu đau khổ. Tiếc là khổ đau, bệnh tật không tha một ai, và nó cũng đang bám lấy chúng ta. Trong văn học Việt Nam thì sao? Chị Dậu (Tắt Đèn) chẳng phải là ví dụ điển hình cho những người phụ nữ khổ đau thời phong kiến sao? Hình ảnh Chí Phèo (trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao) chẳng phải là những người đang chịu sức nặng của cường hào ác bá sao? Hoặc, chính cô Mị (Vợ Chồng A Phủ) suýt chọn ăn lá ngón để giải thoát nỗi đau đó sao?

Bên cạnh đó, trên báo đài không ít những mảnh đời bất hạnh, những cuộc đời trần ai đó sao? Gần hơn, chính họ hàng, gia đình và mỗi người chúng ta cũng đang có những khổ đau riêng đó sao? Nhìn lại năm 2020, ai cũng thấy nỗi kinh hoàng đã xảy ra cho cả thế giới với nạn dịch Covid–19. Hậu quả của nó đang còn đè nặng trên hầu hết chúng ta. Phải chăng chúng ta đã làm điều gì gian ác để rồi phải chịu hậu quả khủng khiếp đến thế? Nói cho cùng người ta vẫn thừa nhận rằng đau khổ là một mầu nhiệm!

Chúng ta nhớ thời sách Gióp được viết ra (khoảng VI và IV TCN), quan niệm thưởng phạt nơi dân Israel hoàn toàn theo viễn tượng cuộc sống tại thế. Nghĩa là kẻ tội lỗi phải chịu đau khổ, lầm than và chết chóc. Sách Gióp đã khai mở một lối nhìn mới. Dù chịu mọi khổ đau, Gióp vẫn luôn trung thành và tín thác vào Thiên Chúa. Cuối cùng, câu trả lời cho vấn nạn: “Thiên Chúa có công bình?” đã được giải đáp: Thiên Chúa hành động theo ý của Người, chứ không theo ý của phàm nhân.

Vậy ai có thể giải thoát chúng ta khỏi đau khổ? Mỗi tôn giáo đều có câu trả lời thú vị về vấn đề này. Là người Công giáo, khi đau khổ, chúng ta có dám kêu lên: Thiên Chúa đang ở đâu khi con đau khổ? Kêu gào không để đay nghiến, trách móc Chúa cho bằng, để xin Ngài trợ giúp. Đừng quên chính Đức Giêsu cũng chịu biết bao đau khổ, và phải chết tất tưởi trên thập giá. Đức Giêsu đón nhận muôn vàn cực hình với tất cả tình yêu và niềm tin tưởng vào Chúa Cha. Nhờ đó, Ngài đã chiến thắng và mở ra một con đường giúp người ta đón nhận khổ đau trong bình an.

Nói về đau khổ, hoặc ủi an người khổ đau thì dễ vô cùng. Chỉ người trong cuộc mới thấm thía thế nào là tận cùng của nỗi đau. Tuy nhiên, câu chuyện ông Gióp trong Kinh Thánh phần nào giúp cho những người đang gặp đau khổ, những gia đình đang gặp khó khăn, biết phải làm gì. Có thể:

- Than thở với Thiên Chúa một chút!

- Hỏi Chúa tại sao?

- Phân trần với Chúa.

- Van nài Thiên Chúa.

- Và có thể nguyện cầu với Ngài thật nhiều.

Nhưng trên hết, xin bạn và tôi đừng bỏ cuộc, xin đừng mất niềm tin vào Thiên Chúa quan phòng và yêu thương. Với tâm thế ấy, chúng ta cầu chúc cho nhau có thể vượt qua những đau khổ ở đời này. Đừng trách đau khổ vì nó không có lỗi. “Thà thắp lên một ngọn nến, hơn là nguyền rủa bóng đêm.” (Eleanor Roosevelt). Bởi nói như cụ Phan Bội Châu: “Ví thử đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai.” Đường ấy có thể dễ đi hơn chỉ khi ta: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay.” (Tv 37,5).

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (06.3.2021)

------------
[1] Ma quỷ liền trả lời: “Dĩ nhiên là hắn vâng lời và tuân phục Ông, vì Ông đã che chở và ban phát cho hắn đầy đủ mọi thứ: Nhà cửa, súc vật, ruộng nương, vợ đẹp con khôn. Thử lấy đi hết những gì hắn đang thụ hưởng, xem hắn có nguyền rủa Ông hay không?”

[2] Ở điểm này, chúng ta có thể bức bối với quyết định lạ lùng của Thiên Chúa. Ngài tốt lành và yêu thương con người, tại sao Ngài lại cho Satan hay đau khổ dày xéo thân phận con người? Đành rằng mỗi đau khổ đều có ẩn giấu một sứ điệp mà Thiên Chúa muốn gửi ta, nhưng sao Ngài không dùng cách khác? Chắc chúng ta tạm chấp nhận giải thích của thánh Thánh Tôma Aquinô: “Thiên Chúa vẫn luôn có thể rút ra những điều tốt lành từ những sự dữ. Chẳng một đau khổ nào ta có thể giải mã được. Nhưng nó vẫn luôn đặt nền tảng trên sự khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa.” (Youcat 51).

---------------------------------

 

Bài 43: NGUYÊN NHÂN NGƯỜI TRẺ RỜI XA THIÊN CHÚA


Thiên Di CND – CSA

Hỏi: Tại sao giới trẻ hiện nay lại dần xa Thiên Chúa? Đúng là câu hỏi này quá lớn, nhưng con ước mong biết được vài lý do. Để từ đó hi vọng người trẻ chúng con ý thức để trở về với Thiên Chúa.

Trả lời:

Bạn thân mến,

Cám ơn bạn đã gợi ý cho chúng tôi về câu hỏi này. Như bạn thấy, đây đứng là một câu hỏi lớn, vì vậy cần có những cuộc nghiên cứu sâu xa để tìm ra nguyên nhân. Đồng thời ta cũng cần có những giải pháp giúp cho người trẻ vượt thắng trước thách đố về niềm tin. Tuy nhiên, trong giới hạn cho phép chúng ta có thể nhận diện một vài nguyên nhân bằng trực quan hay kinh nghiệm mục vụ. Để từ đó mỗi cá nhân ý thức được trách nhiệm của mình, làm sao giúp bản thân mình cũng như bạn trẻ khác sống vững lòng đạo trước những rào cản đức tin hôm nay.

Trong tập 2 Giải Đáp Thắc Mắc, chúng ta đã biết được thực trạng người trẻ qua câu hỏi: Thiên Chúa có vị trí trong trái tim và mối quan tâm của người trẻ hiện nay như thế nào. Câu trả lời đã cho chúng ta thấy: bên cạnh những bạn trẻ có đức tin vững mạnh, sống gắn bó với Giáo Hội qua các sinh hoạt, hoạt động tổ chức của giáo xứ, thì không ít những bạn trẻ đang hững hờ với niềm tin của mình. Họ sống đức tin một cách mờ nhạt hay chỉ qua loa chiếu lệ cho xong bổn phận. Hôm nay, tôi và bạn cùng ngồi lại tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng người trẻ đang xa rời với niềm tin Công giáo. Chúng ta cùng bắt đầu với Gia đình.

Gia đình:

Công đồng Vaticanô II (1962–1965) nhìn nhận rằng “gia đình là nền tảng của xã hội” (MV II, 52) hay bạn còn nghe “gia đình là Hội Thánh tại gia” nơi khởi đầu nuôi dưỡng đức tin, trong đó ông bà, cha mẹ là những tấm gương cho thế hệ con cháu noi theo. Bên cạnh đó, nơi gia đình mỗi thành viên được đón nhận sự yêu thương nâng đỡ từ ông bà cha mẹ…, họ được tin tưởng và được thừa nhận phẩm giá của chính mình… Từ gia đình, chúng ta cũng sẽ cảm nhận sự yêu thương của Thiên Chúa qua Giáo hội như thế nào.

Tuy nhiên theo thời gian, gia đình truyền thống (gia đình ba thế hệ) đã không còn nhiều. Thay vào đó là những gia đình hạt nhân chỉ có cha mẹ và con cái. Cùng với sự thay đổi này những thói quen đọc kinh chung, cầu nguyện sáng tối, đọc lời nguyện tắt đã không còn nhiều. Hình ảnh người ông, người bà sáng sáng thức dậy đi lễ không tồn tại trong tâm trí nhiều người trẻ.

Bên cạnh đó, một số phụ huynh xem việc đạo nghĩa là thứ yếu, họ coi trọng việc học văn hóa hơn là việc nuôi dưỡng đức tin. Những giờ giáo lý nếu trùng với việc học thêm thì họ sẵn sàng cho con bỏ giáo lý để học thêm. Thậm chí có gia đình tạm hoãn cho con đi lễ, tạm nghỉ học giáo lý một năm để tập trung vào năm tốt nghiệp chuyển cấp. Tiếc là họ quên luôn việc sống và nuôi dưỡng đức tin vào những năm sau đó. Không ít bạn trẻ quay trở lại lớp giáo lý cấp tốc để xin lãnh các bí tích khi đã đến ngày lập gia đình.

Cũng dễ hình dung, khi những gì không được coi trọng và nhìn nhận giá trị thì chúng sẽ trở thành tầm thường. Nó sẽ bị cho ra “bên ngoài cuộc sống của tôi”. Đức tin cũng không ngoại lệ và Thiên Chúa trở thành một ai đó xa lạ trong tâm thức của một số người trẻ Công giáo.

Phải nhìn nhận rằng, cơn lốc kinh tế đã đẩy nhiều gia đình lao vào làm ăn, buôn bán, việc giữ đạo, sống đức tin, hay nhắc nhở con cái giữ lễ nghĩa gia phong cũng trở nên thật khó. Bởi cha mẹ mấy khi nhìn thấy mặt con. Thật đau lòng khi có bạn trẻ tâm sự: gia đình con không khác gì một quán trọ sáng đi – tối về. Con đi ngủ cha mẹ mới về. Gia đình tìm một bữa cơm chung thật khó. Cuộc sống tẻ nhạt trôi qua như những người vô hình, “con có mọi sự nhưng không có hạnh phúc”. Đó là còn chưa kể đến những cuộc cãi vã “bất phân thắng bại” trong gia đình làm hình ảnh “Giáo hội tại gia” bị méo mó trong tâm thức người trẻ. Họ không cảm nhận được sự yêu thương, nâng đỡ từ gia đình. Họ chỉ cảm thấy mình có giá trị khi sống ảo. Họ được thăng hoa trong những lối sống vắng bóng Thiên Chúa. 

Giáo Hội:

Một mặt nào đó chúng ta cũng phải nhìn nhận là sức hút của Giáo hội qua các Giáo xứ chưa đủ hấp dẫn để lôi kéo người trẻ. Nơi một số xứ đạo, việc học hỏi giáo lý để sống đức tin còn chưa được chú trọng và quan tâm. Từ không gian lớp học đến người đồng hành hướng dẫn còn quá sơ sài hay dạng bù đắp chỗ trống. Đội ngũ giáo lý viên chưa được đào tạo, thiếu khả năng sư phạm. Vì thế mà những buổi học trở nên nặng nề cứng nhắc, người học không cảm thấy có Chúa trong lớp học, “học giáo lý cũng khắt khe như ngoài xã hội”. Những bài giảng giáo lý thiếu thuyết phục và không lôi cuốn. Lớp trẻ theo học giáo lý vì miễn cưỡng, có được tấm bằng, lãnh đủ các bí tích là xong bổn phận. Sau đó, người trẻ cho Chúa qua một bên để họ sống theo cách của mình. “Chúa không gần với cuộc sống của con”.

Ngoài ra tương quan Mục tử và đàn chiên không giống “Người mục tử nhân lành”(Ga 10,11– 18). Ở Giáo xứ nọ, giáo dân chỉ nhìn thấy cha xứ trên tòa giảng, hiếm khi ngài gặp gỡ trò chuyện cùng giáo dân ngoài Thánh lễ, nói chi đến việc thăm viếng cuộc sống giáo dân trong các họ đạo. Khoảng cách cha sở và giáo dân quá xa nên tương quan Thiên Chúa và lòng người cũng trở nên vô tận.

Họ không cảm thấy được sự nâng đỡ, yêu thương của Giáo hội giữa những sóng gió cuộc đời. Thêm nữa, nhiều Kitô hữu vật lộn với cuộc sống mưu sinh. Họ chỉ tham dự được Thánh lễ ngày Chúa Nhật. Thế nhưng, suốt bài giảng gần một tiếng đồng hồ của cha chủ tế là ngài la ông này mắng bà kia. Trong khi Tin Mừng Chúa không được loan báo. Người trẻ thực sự “dị ứng” trước thánh lễ thiếu bác ái của vị chủ chăn. Việc đi tham dự Thánh lễ hiệp thông trong Giáo hội trở thành một việc họ cần phải cân nhắc kỹ lưỡng hay so sánh chọn lựa giữa những công việc khác nhau. Thật buồn, khi nơi xứ đạo chưa truyền tải được niềm vui của Tin Mừng.

Xã Hội:

Những năm gần đây, các Game Show trên truyền hình thực tế khá thu hút người trẻ. Nơi đây họ chia sẻ những quan điểm, lối sống khá hiện đại. Một số người trẻ đưa ra tiêu chuẩn để đánh giá một con người khi họ sở hữu nhà cửa, xe cộ, điện thoại, trang sức. Họ cho rằng tất cả vật chất mới đem lại giá trị cho một người trong xã hội. Họ nhìn nhận giá trị của vật chất như một tiêu chuẩn để đánh giá lẫn nhau.

Mặc nhiên chủ nghĩa tiêu thụ đã xâm nhập và điều khiển nhiều người trẻ. Họ lao vào để có được vật chất như gặp “dốc không phanh”. Đồng thời, họ coi những chuẩn mực về gia đình, xã hội, niềm tin trước đây trở thành lạc hậu, thay vào đó là những giá trị “lệch chuẩn” được họ coi là thời thượng hợp tình hợp lý với thời đại. Tỉ như lối sống hưởng thụ, tình yêu đồng giới, coi trọng vẻ bề ngoài hơn là phẩm chất bên trong của một con người, công danh sự nghiệp quan trọng hơn là đạo đức văn hóa sống, v.v…

Trào lưu tục hóa chi phối cách nhìn và lối sống của nhiều người trẻ làm họ xa rời với những giá trị nhân văn, niềm tin tôn giáo, truyền thống gia đình. Trước những trào lưu của xã hội, ít nhiều người trẻ Công giáo bị tác động trong lối sống của mình. Họ để Thiên Chúa bên ngoài những quyết định cuộc đời vì cho rằng: Thiên Chúa quá cao vời so với thực tế sống của họ.

Người trẻ:

Cuối cùng, chúng ta cùng nhìn lại mình những người trẻ trong thế giới hôm nay – thế hệ thời kỹ thuật số. Thật dễ để nhìn thấy một người trẻ đang “cặm cụi” bên chiếc Smartphone và biểu lộ cảm xúc một mình. Còn nữa, bạn bè thời công nghệ rủ nhau uống cà phê, ngồi quán cóc chuyện trò 5–3 câu. Sau đó là mỗi người một thế giới riêng trên màn hình Smartphone. Chúng ta thích kể chuyện đời mình trên mạng xã hội, biểu lộ hỉ – nộ – ái – ố xem bàn dân thiên hạ “tung hứng, ném đá” ra sao. Những khoảnh khắc bạn bè hàn huyên câu chuyện gia đình – học hành, quyển sách này, câu chuyện kia thật hiếm hoi. Kỹ thuật số thực sự đã quản lý thời gian và cảm xúc của người trẻ. Vô tình những thói quen, nếp nghĩ, cách sống của mình cũng được kỹ thuật số định hình.

Chúng ta dành thời gian cho mạng xã hội, tìm kiếm vật chất quá nhiều lấy đâu thời gian dành cho Chúa. Một số người trẻ chỉ quan tâm xây dựng vỏ bọc bên ngoài, còn ngôi nhà thiêng liêng bị bỏ quên. Thể xác thì lực lưỡng – tâm hồn lại tong teo. Ngoài ra, chủ nghĩa tiêu thụ đang đánh lừa cảm xúc thị hiếu của nhiều người, chúng kích thích ham muốn và tạo nhu cầu ảo cho người tiêu dùng. Ví như quảng cáo dầu gội đầu X – MEN “X – men đàn ông đích thực”. Trong khi tôi chỉ cần gội sạch gầu là đạt yêu cầu, nhưng xài X Men mới đích thực là đàn ông.

Những giá trị ảo nghe phê tai, trông đẹp mắt đã thuyết phục chúng ta phải có nó, phải mua chúng… Chúng ta chạy đua với thời gian để sở hữu những thứ xã hội vẫn miệt mài đi tìm. Ngoài ra, phải kể đến một thế giới thông tin đa chiều đang chiếm lĩnh xã hội. Thực hư xen lẫn với những giả dối làm nhiều người trẻ chới với trong niềm tin yếu kém của mình. Vì thế họ dễ rơi vào trạng thái a dua: cái gì cũng tin, cái gì cũng nghi vấn, tin hay không tùy thuộc vào “kẻ mạnh thế yếu” quan tâm số lượng hơn chất lượng. Đức tin vào Thiên Chúa họ cũng thận trọng, nghi ngờ hay “thế nào cũng được”.

Bạn thân mến, 24 giờ/ngày đã đủ cho bạn chưa? Có người nói có, nhiều người nói chưa. Ngân quỹ thời gian Thiên Chúa dành cho chúng ta là như nhau. Chính mỗi người sẽ dùng ngân quỹ này để xây dựng con người mình mạnh thể xác khỏe linh hồn. Cuộc sống thường nhật xô bồ những âm thanh, những lời mời hấp dẫn. Vì thế, mỗi chúng ta cần tạo cho mình một khoảng lặng để lắng nghe tiếng Chúa, lắng đọng trong sâu thẳm cõi lòng để nhận ra nhu cầu thực của ta là gì? Đó là sự sống đích thực từ Thiên Chúa: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,1 – 6)

Mỗi ngày, bạn hãy dành thời gian bên Chúa để cảm nhận cuộc sống này là một món quà tuyệt đẹp Chúa dành cho chúng ta. Hãy trân quý những gì tầm thường nhất ngang qua đời bạn:

- Một bông hoa dại ven đường,

- Một nghĩa cử đẹp bạn gặp trên phố,

- Hay như một chén cơm nóng đong đầy tình thương gia đình,

- Và biết chạnh lòng với người đang đau khổ cần lắm một bờ vai.

- V.v.

Bạn đừng lướt qua cuộc sống một cách vội vã và vô vị. Hãy sống chậm lại để thấy Chúa, thấy nhau trên đường đời. Hãy biến cuộc sống này là quà tặng, để Chúa Giêsu chạm vào trái tim bạn trong những buồn vui của cuộc sống. Ngài luôn có đó để chờ đợi bạn đến thổ lộ tâm tình. Thầy Giêsu của chúng ta không cầu kỳ hay khách sáo. Ngài cũng chẳng khắt khe hay nóng giận. Ngài nói: “Hãy đến và hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiên nhường trong lòng” (Mt 11,29).

Bạn còn băn khoăn điều gì nữa hãy đến cùng Giêsu. Ở bên Ngài và chọn Ngài làm bạn đường của mình. Hãy sống trọn vẹn giây phút hiện tại thật tròn đầy và sống lịch sử đời mình như lịch sử ơn cứu độ bạn nhé.

Chào bạn!

 (Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (14.3.2022)

---------------------------------

 

Bài 44: THIÊN CHÚA VÀ SỰ ĐAU KHỔ


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Hỏi: Có một điều mà con vẫn luôn thắc mắc là sự dữ ở đâu ra. Thiên Chúa có thật sự là Đấng toàn năng và yêu thương con người không? Tại sao Ngài không dẹp bỏ sự dữ ra khỏi thế giới này? Mỗi khi đối diện với sự dữ, con cảm thấy rất sợ và mất bình an! Chúa giàu lòng thương xót và luôn cứu con người. Vậy sao con thấy lúc nào cũng có đau khổ, nhiều chết chóc?

Trả lời:

Chào bạn,

Vấn đề sự dữ tồn tại là một vấn đề muôn thuở. Đã có không ít giấy mực được viết ra để giải thích về chuyện này. Các đầu óc tầm cỡ của nhân loại cũng đã tốn rất nhiều chất xám để cố gắng đưa ra một lời giải đáp cho vấn đề vẫn luôn thách thức trí khôn và sự hiểu biết của con người. Đứng trước sự dữ, nhiều người, trong đó có người Công Giáo, đã đặt câu hỏi về sự hiện hữu của một Thiên Chúa nhân lành và quyền năng. Họ cho rằng Thiên Chúa không thể quyền năng được vì Ngài đã thua sự dữ, hoặc nếu Ngài quyền năng thì Ngài cũng không nhân lành, vì Ngài đã để mặc cho sự dữ xảy ra.

Ở đây, chúng tôi không có tham vọng trình bày một bài luận về nó, nhưng chỉ xin đưa ra một vài giải thích vắn tắt, cùng chút tâm tình mà mẹ Giáo Hội đã dạy chúng ta.

Một vài lời giải thích

Nhiều người đã cố gắng đưa ra lời giải đáp về sự tồn tại của sự dữ. Chẳng hạn, đối với thánh Âu–tinh, sự dữ cũng giống như bóng tối, tự nó không phải là một cái gì đó, mà chỉ là sự thiếu vắng của điều thiện, của tình yêu, của ánh sáng. Người khác thì ví sự dữ như một chấm đen trong trật tự vũ trụ, giúp làm nên một bức tranh đẹp nhiều màu sắc; bức tranh mà chỉ có một màu thì không đẹp, thậm chí, đôi khi bức tranh cũng cần những mảng tối đen thì mới trở nên lôi cuốn và hấp dẫn.

Số khác nữa thì coi sự dữ như một phương tiện mà Thiên Chúa dùng để giáo dục con người, giống như bố mẹ dùng đòn roi để sửa dạy hay nhắc nhở con cái khi chúng làm điều gì đó sai. Cũng có người cho rằng những sự dữ xảy đến trong thế giới này là lời cảnh báo hay những dấu chỉ và có khi là hình phạt mà Thiên Chúa gửi đến nhân loại. Nhưng lý thuyết vẫn là lý thuyết. Sự dữ vẫn cứ nhan nhản đó. Bất chấp bao nhiêu lời giải thích đưa ra, sự dữ vẫn nằm trong cái mà ta gọi là mầu nhiệm.

Người ta phân biệt giữa sự dữ thể lý (động đất, sóng thần, lũ lụt…) và sự dữ luân lý (giết người, lừa gạt, gian dối…). Sự dữ thể lý phần lớn xảy ra theo quy luật vận hành của thế giới tự nhiên. Vì vũ trụ này chưa hoàn hảo nên nó phải trải qua những giai đoạn chuyển biến. Sự thay đổi của thế giới này nhắc nhớ chúng ta về sự mau qua của kiếp sống mà chúng ta đang trải qua, để hướng về một thực tại vĩnh viễn. Tuy vậy, cũng có nhiều sự dữ thể lý xảy đến do sự tham lam và thiếu trách nhiệm của con người (ví dụ: phá rừng vô tội vạ sẽ dẫn đến thiên tai, lũ lụt…). Còn sự dữ luân lý thì liên quan đến tự do của con người. Nói cách khác, chính con người lạm dụng tự do của mình để rồi gây ra bao sự dữ cho thế giới.

Tác giả sách Sáng Thế đã cố gắng đưa ra một câu trả lời mà có lẽ chúng ta cần nhiều thời gian để suy nghĩ về nó: sự dữ đến trong trần gian này từ thói hống hách ngang tàng của con người. Con người vốn dĩ là loài thụ tạo, thân phận nhỏ bé như hạt cát giữa vũ trụ này, vậy mà cứ luôn cho rằng mình là Tạo Hóa, là Chúa Tể, là số một, là nhất. Hình ảnh Adam và Eva đã ăn trái cấm theo lời dụ dỗ của con rắn bất chấp mệnh lệnh của Thiên Chúa chính là minh hoạ cho việc con người (mà Adam và Eva là hình mẫu đại diện) đã cãi lệnh Thiên Chúa, muốn làm theo ý riêng, muốn tự quyết định cuộc đời mình, thậm chí là muốn mình ngang hàng với thần linh.

Thế nhưng, chẳng cần ai giải thích, từ khi có ý thức, con người đã nhận biết rằng mình có tự do, nhưng tự do của mình là một tự do có giới hạn. Ấy vậy mà chẳng bao giờ con người chịu bằng lòng với sự thật này. Con người luôn muốn vượt qua giới hạn của mình để cố gắng chiếm đoạt cái không thuộc về mình. Con người nuôi trong mình tham vọng bá chủ thế giới mà quên đi thân phận thật sự của mình. Nếu Ngài ra tay xoá bỏ sự dữ thì cũng đồng nghĩa với việc Ngài lấy đi khỏi con người sự tự do. Lúc đó, con người không còn là con người nhưng  chỉ là những cỗ máy mà thôi. Thật ra, chính con người đã tự đưa mình vào chỗ chết khi không chấp nhận sự giới hạn của mình.

Có phải chúng ta đang đổ lỗi cho Thiên Chúa?

Khi xảy ra chiến tranh, dịch bệnh, lũ lụt, sóng thần… dẫn đến cái chết của bao nhiêu người, người ta vẫn tự hỏi “Thiên Chúa ở đâu rồi”, “có Thiên Chúa tồn tại không” rồi người ta chối bỏ Thiên Chúa. Phải chăng khi đặt những câu hỏi như thế, ta dường như cho rằng Thiên Chúa phải có trách nhiệm cho những gì con người chúng ta gây ra từ lối sống bừa bãi của mình? Phải chăng trong mắt ta, đáng lẽ Thiên Chúa phải dùng quyền năng của mình để dẹp bỏ những chuyện này đi? Hình bóng của những điều xấu xa như thế không được xuất hiện trên thế giới này. Nếu Thiên Chúa làm được như thế, thì họ sẽ tin là có Thiên Chúa. Không thì thôi!

- Họ muốn rằng họ cứ bất chấp phá rừng, phá núi theo ý muốn của họ nhưng Thiên Chúa đừng để lũ lụt xảy đến.

- Họ muốn rằng họ cứ tham nhũng, lộng quyền, ghen ghét, đua tranh, nhưng Thiên Chúa đừng để chuyện đánh chém chết người xảy đến.

- Họ muốn rằng họ cứ mặc sức hãm hại nhau, nói xấu nhau, gian lận với nhau, lừa gạt nhau… nhưng Thiên Chúa đừng để điều tai hại nào xảy đến với họ.

- Họ muốn rằng tất cả những người xấu trên thế giới này chết hết đi, chỉ trừ họ mà thôi, như thể họ là người công chính, chẳng bao giờ vương phải tội lỗi nào!

Những ước muốn vô lý này của họ như muốn biến Thiên Chúa thành trò cười, một nhà ảo thuật và một nô lệ phục vụ họ. Nhưng thử đặt câu hỏi: Nếu Thiên Chúa ra tay tiêu diệt hết những người có tội, liệu có ai tồn tại trên đời để đặt câu hỏi về vấn đề sự dữ nữa không? Chúng ta có chắc là mình đủ thánh thiện và trong sạch để còn ngồi đây mà đặt câu hỏi “tại sao Thiên Chúa không xoá bỏ mọi bóng dáng sự dữ trên thế giới này”?

Thiên Chúa không thể mâu thuẫn với chính mình khi sáng tạo ra quy luật tự nhiên rồi phá vỡ nó cách tuỳ thích, như thế chẳng còn khoa học nữa. Thiên Chúa cũng không thể lấy lại tự do đã ban cho con người. Con người, vì sống như một cộng đồng nhân loại, phải gánh chịu những gì mà chính mình đã gây ra.

Xét cho cùng, cả thế giới hay vũ trụ này có tiêu tan đi chăng nữa thì đối với Chúa cũng chẳng có gì ghê gớm. Ngài có thể tạo ra cả tỷ vũ trụ như thế này “trong vòng một nốt nhạc”. Nhưng Ngài đã không làm điều đó. Huỷ bỏ thế giới cũ để làm lại một thế giới mới sẽ là một bằng chứng cho thấy sự thất bại của Thiên Chúa. Quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện ở chỗ: Ngài không huỷ bỏ cái cũ, nhưng chính từ trong bùn lầy của cái xấu xa đó, Ngài làm phát sinh sự sống. Sự dữ sẽ bị thất bại ngay tại nơi mà nó tưởng là nó chiến thắng.

Tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa được thể hiện thế nào trước sự dữ?

Dù con người chúng ta phải chịu những gì do chính mình gây ra, Thiên Chúa vẫn biểu lộ tình yêu và quyền năng của Ngài. Quả vậy, nếu Thiên Chúa không còn yêu thương thế giới này, chắc nó đã tan vào hư vô, con người chúng ta chắc chắn cũng sẽ không còn tồn tại. Sẽ chẳng còn nụ cười, chẳng còn tình thương, không còn hơi ấm.

Thiên Chúa cũng thể hiện quyền năng của Ngài không theo như cách chúng ta vẫn nghĩ. Nếu có ai đặt câu hỏi là tại sao Thiên Chúa cứ dửng dưng trước sự dữ như thế, thì câu trả lời sẽ là: bạn có chắc là như thế không. Ta vẫn thường bị ám ảnh khi một cây to đổ xuống, nhưng lại không để ý đến chuyện có cả tỷ tỷ cây nhỏ đang mọc lên, như lời một khuyết danh nào đó đã nói.

Giữa thế giới này, ta đâu chỉ thấy những điều xấu xa. Đâu đó vẫn có rất nhiều những tổ chức thiện nguyện, những con người dám hy sinh cả cuộc đời mình vì người khác. Cuộc sống này tuy nhiều bùn lầy, nhưng cũng không thiếu những cánh sen đẹp. Đang khi có nhiều người nhắm mắt lìa đời vì nhiều lý do khác nhau, thì cũng có biết bao em bé được đi vào thế giới. Bên cạnh những con người tàn ác, ta vẫn thấy biết bao anh hùng giữa thế gian. Chẳng qua là giữa ruộng lúa tươi tốt vẫn còn chen chút đám cỏ dại xen ngang. Bản thân chúng ta được mời gọi hãy sống thật tốt với bản tính lương thiện của mình.

Còn những người làm nên những điều ác, ta đành để họ nói chuyện với Thiên Chúa thôi. Thật ra, có nhiều chuyện xảy ra chúng ta không thể biết thực hư đúng sai thế nào. Chỉ có Thiên Chúa, Đấng toàn tri và toàn năng mới biết rõ lòng người, và với tư cách là Đấng Công Bình, Ngài sẽ có cách mang mọi sự đến chỗ tốt đẹp tuỳ theo công trạng của mỗi người.

Kinh nghiệm của chúng ta cho thấy, sau những biến cố tang thương, luôn có một cái gì đó tốt lành xuất hiện. Không phải là Thiên Chúa chỉ có thể làm ra cái tốt đẹp từ cái xấu xa như thể Ngài là người “chủ mưu” làm ra điều xấu ấy, và cũng không phải là Thiên Chúa tìm cách khắc phục nó như một giải pháp “chữa cháy tức thời” như thể Ngài chỉ là người “đi sau”, cố gắng giải quyết vấn đề trong thế bị động. Chẳng có điều gì xảy đến mà nằm ngoài sự quan phòng của Thiên Chúa. Tất cả đều nằm trong “tri thức thần linh” của Ngài. Ngài là chủ của mọi sự và có quyền năng trên mọi sự.

Khi Đức Giêsu đến trong trần gian này, Ngài bước vào thân phận thụ tạo, Ngài cũng chịu biết bao phiền phức do sự dữ gây ra, nhưng chẳng bao giờ Ngài giải thích cho chúng ta biết do đâu mà sự dữ xuất hiện. Dường như Ngài chẳng quan tâm đến chuyện đó và cũng không đặt vấn đề về nó. Nhưng bằng lối sống và cách hành xử của mình, Ngài chỉ cho chúng ta làm sao để chiến thắng nó: đó chính là sự vâng phục thánh ý Cha.

Ngài thậm chí còn dạy rằng phúc cho những người chịu đau khổ (x. Mt 5,1–12; Cv 5,41). Thánh Phaolô đã cảm thấy hạnh phúc khi gặp đau khổ[1]. Sự dữ có thể đến với chúng ta như nó vẫn thường đến, nhưng chúng ta đã được chỉ cho cách làm sao để vẫn có được bình an ngay nơi tâm điểm của sự dữ. Chúng ta đã được mặc khải cho biết dựa vào đâu và dựa vào Ai mà ta có thể hiên ngang đối diện với nó mà không chút sợ hãi gì. Chúng tôi tin rằng bạn đã hiểu chúng tôi đang muốn nói điều gì và đến Ai rồi, đúng không?

Vũ trụ này vốn được tạo dựng, nên nó luôn có những bất ổn trong đó. Chỉ nơi Thiên Chúa, mới có sự hoàn hảo, không có một vết ô nhơ nào. Chúng ta được mời gọi để hướng về Ngài để có được hạnh phúc vĩnh viễn là vì vậy. Hơn hết, chúng ta được mời gọi để chiêm ngắm mầu nhiệm Thương khó và Phục sinh của Đức Giêsu để cảm nghiệm cách rõ ràng và thâm sâu cách Thiên Chúa làm việc. Chiến thắng của Đức Giêsu trên thập giá là một bằng chứng hùng hồn hơn bao giờ hết về một Thiên Chúa tình yêu và cũng quyền năng vô cùng.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (21.3.2021)

----------
[1] x. Rm 5,3; 2Cor 11,23–30, 12,9; Col 1,24.

---------------------------------

 

Bài 45: NGƯỜI CÔNG GIÁO CÓ NÊN ĐI XEM BÓI?


Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Hỏi: Con hay nghe bạn kể về chuyện đi xem bói, con cũng tò mò và muốn thử xem sao. Không biết quan niệm của Giáo hội Công Giáo về vấn đề này như thế nào?



Trả lời:

Đây là chủ đề thú vị và gây nhiều tranh cãi trong các tôn giáo[1]. Thú vị vì bản tính con người muốn biết tương lai, số phận của mình sẽ ra sao; tranh cãi vì không chỉ thời nay, từ xa xưa, các tôn giáo đã bàn luận đến hiện tượng này. Cụ thể chúng ta thử xem Thiên Chúa nói gì về xem bói trong Kinh Thánh. Từ đó, chúng ta có thể thấy được giáo huấn của Giáo Hội về vấn đề này. Sau cùng là cách thực hành đức tin của người tín hữu trước những lôi cuốn của mê tín dị đoan, bói toán.

1. Giải thích từ ngữ

Xem bói nghĩa là muốn thấy trước tương lai của mình sẽ ra sao. Dĩ nhiên chúng ta không có khả năng biết chính xác về tương lai của mình. Thế nhưng, trước giờ có nhiều nhà xem bói về: công danh, sự nghiệp, tình yêu và gia đạo… Họ nói về tương lai tốt xấu của một người. Đồng thời họ cũng giúp giải hạn điềm xấu cho người đó. Tại Việt Nam, chúng ta thường thấy người ta đi xem ngày lành tháng tốt để xây nhà, động thổ, cưới hỏi, v.v.

Hình thức cao siêu hơn là gọi hồn để giải mã tương lai. Người ta kháo với nhau một số người có khả năng gọi được những người thuộc thế giới bên kia về. Khi đó, họ sẽ nói về tương lai của chúng ta. Nghe có vẻ hoang đường dưới cái nhìn của khoa học, nhưng đó lại là truyền thuyết thực hư lẫn lộn.

Tôi biết có nhiều người đi xem bói. Họ chia sẻ với tôi những điều đã xảy ra. Có phần đúng, có khi sai. Một vài kiểu xem bói họ có thể chọn. Chẳng hạn:

- Xem tử vi: đây là hình thức xem bói số phận đời người dựa trên Kinh Dịch, Can Chi, Ngũ Hành…(Vì không phải là thầy bói, nên tôi chẳng thể biết nhiều hơn!)

- Tử Bình Tứ Trụ. Tử Bình là một môn khoa học xem bói dựa trên giờ, ngày, tháng, năm sinh giống như Tử Vi.

- Xem bói chỉ tay. Bói chỉ tay là môn bói dựa trên hình dáng, màu sắc cũng như các đường trên lòng bàn tay để đưa ra luận đoán.

- Nhân tướng học. Nhân tướng học là phạm trù xem bói rộng hơn của bói chỉ tay. Đây là môn bói dựa trên hình tướng, dáng vóc, lời nói, sắc thái…

- Bói dịch (Gieo quẻ). Người xem bói gieo đồng xu, gieo quẻ để nhận được thông điệp. Dịp lễ Tết nhiều người vẫn đi gieo quẻ đầu năm.

Còn nhiều hình thức bói nữa. Nhưng tựu trung, mục đích của xem bói là nhằm biết trước tương lai của mình ra sao.

2. Kinh thánh nói gì về bói toán?

Ngay chương thứ 3 của sách Sáng Thế, chúng ta thấy con rắn cám dỗ con người. Hắn đã thủ thỉ, thuyết phục Eva ăn trái cấm. Số là Thiên Chúa cảnh báo Ađam và Eva không được ăn trái ở giữa vườn Địa Đàng. Nếu ăn, họ sẽ phải chết. Con rắn nói ngược lại: “Chẳng chết chóc gì đâu!”. Hắn bồi thêm một câu đầy tiên đoán: “Ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” (St 3,5).

Qua câu nói trên, chúng ta biết tà ý của con rắn. Hắn muốn hai ông bà bất tuân Thiên Chúa, kiêu ngạo và muốn vượt lãnh vực của mình. Ăn trái ấy không chỉ không ngang bằng với Thiên Chúa, mà còn bị Thiên Chúa đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng. Đó là thân phận của con người. Một mặt, con người muốn làm chủ cuộc đời mình, có thể đối phó mọi hiểm nguy và trắc trở xảy đến. Mặt khác, con người hằng bất lực trước tương lai của mình. Con người không toàn năng. Do đó, chính khi con người ước mong làm chủ mọi thứ, họ trở nên kiêu ngạo và đánh mất chính mình. Kết quả là đau khổ cứ ôm ghì lấy họ.

Một trường hợp điển hình về việc xem bói là vua Sa–un của Ít–ra–en. Ông là vị vua tài đức, đẹp lòng Thiên Chúa. Tuy vậy, có những lần vua hỏi ý Thiên Chúa về tình hình chiến sự với quân Phi–li–tinh, Ngài vẫn im hơi lặng tiếng. Ông chạy đi xem bói!

– Hãy tìm cho ta một bà đồng bóng, để ta thỉnh ý bà ấy.

Và triều thần đã giới thiệu với Vua một bà đồng bóng ở Ên Đo. Thế là vua Sa–un cải trang, mặc áo khác rồi ra đi, có hai người cùng đi với vua. (1 Sm 28,3–25)

Người đồng bóng là người có khả năng nối kết người sống với những linh hồn thế giới bên kia. Họ tin mình có khả năng gọi hồn để về trình bày những gì sẽ diễn ra. Các nhà nghiên cứu cho thấy hiện tượng này giống với lên đồng tại Việt Nam.

Trong sách Luật, Ðức Chúa cũng cảnh báo người ta không được làm nghề bói toán, chiêm tinh, tướng số, phù thuỷ, bỏ bùa, ngồi đồng ngồi cốt, chiêu hồn. Thật vậy, hễ ai làm điều ấy thì là điều ghê tởm đối với Ðức Chúa. (Dnl 18,9–20).

Luật Cựu Ước cũng ngăn cấm đi xem bói hoặc lên đồng (Lv 19,31; Đnl 18,11). Điều ấy cho thấy ngay từ thời xa xưa đã có hiện tượng huyền bí này. Sang thời Tân Ước, nhiều lần Chúa Giêsu nhắc con người: “Đừng lo lắng về ngày mai, ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (x. Mt 6,34)[2]. Trong Giáo Hội sơ khai, chúng ta thấy nhiều người từ bỏ trò ảo thuật, bỏ xem bói để chọn Chúa Kitô (x. Cv 19,18–19).

3. Có nên đi xem bói?

Tiếc là nhiều người đi theo Chúa, nhưng có khi đến với cả thầy bói, phù thủy. Bởi đó có lần Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ:

“Ma thuật không phải là Kitô giáo. Những điều được thực hiện để đoán tương lai hoặc đoán nhiều thứ hoặc thay đổi tình huống cuộc sống không phải là Kitô giáo. Ân sủng của Chúa Kitô mang đến cho bạn tất cả mọi thứ: hãy cầu nguyện và phó thác chính mình nơi Chúa.”[3]

Dĩ nhiên Giáo Hội lên án những trò bói toán và ma thuật. Tương lai luôn thuộc về sự quan phòng của Thiên Chúa. Con người muốn điều khiển tương lai, nghĩa là muốn ngang bằng Thiên Chúa. Vì thế Giáo Lý Công Giáo dạy rằng:

“Phải loại bỏ mọi hình thức bói toán: cậy nhờ Satan hay Ma Quỷ, gọi hồn người chết hay những cách khác ngỡ rằng sẽ đoán được tương lai. (x. Đnl 18,10; Gr 29,8). Coi tử vi, chiêm tinh, xem chỉ tay, giải điều mộng, xin xăm, bói toán quá khứ vị lai, đồng bóng, là những hình thức che giấu ước muốn có quyền trên thời gian, trên lịch sử và trên cả con người, cũng như ước muốn liên kết với các thế lực huyền bí. Điều này nghịch lại với lòng tôn kính và thần phục chỉ dành cho Thiên Chúa.” (số 2116).

Bạn thân mến,

Là con người ai cũng tò mò, như bạn nói về vấn đề xem bói. Chỉ những ai hiểu rõ vấn đề, họ mới đi đúng đường. Thật tốt khi bạn quan tâm đến thực hành phổ biến này ở Việt Nam. Tôi biết nhiều người Công Giáo cũng có lần đi xem bói. Xin đừng theo họ! Nếu ai từng vướng vào điều ấy, xin ăn năn trở về với Thiên Chúa. “Đừng để ma quỷ thừa cơ lợi dụng.” (Ep 4,27).

Về vấn đề xem bói, rất nhiều người đã đoán được cách các thầy bói muốn trục lợi. Thậm chí nhiều thầy bói giả mạo muốn lừa tình, lừa tiền những ai nhẹ dạ cả tin. Đừng quên, họ có nhiều chiêu trò để đưa người xem bói vào trạng thái hoang mang và phụ thuộc. Từ đó, nhiều người xem bói xem thầy bói như thần thánh và luôn đến tham vấn và làm theo!

Chúng ta chỉ thờ phượng một mình Thiên Chúa, Đấng làm chủ muôn loài, không gian và thời gian. Những điều bí nhiệm chưa bao giờ thuộc về con người. Hẳn là con người có quyền tìm hiểu về những điều ấy. Đừng quên làn ranh giữa tìm hiểu và thực hành nó là rất mong manh. Ước gì người Công Giáo luôn chạy đến với Thiên Chúa trước; sau đó họ sẽ tìm được những câu trả lời hợp ý Chúa.

4. Vài chỉ dẫn tránh xem bói

Thực tế nhiều chúng bạn cứ tỉ tê, rủ rê tôi đi xem bói. Họ chia sẻ chân thành, thuyết phục và cả mời gọi. Do đó, tôi rất dễ ngã lòng. Trong trường hợp ấy, tôi nghĩ mình cứ nghe với thái độ tôn trọng, nhưng giữ vững lập trường của mình. Bên cạnh đó, hãy trò chuyện với những người khôn ngoan, nhất là với cha giải tội. Linh mục ấy biết cách an ủi và hướng dẫn bạn.

Dường như người đi xem bói khó thể thoát ra. Nghĩa là xem bói được một lần, họ sẽ vướng vào vòng xoáy của nó. Giải hạn, cầu may và tiên đoán luôn ám ảnh, thu hút người ta. Rốt cuộc động chút là đi xem thầy bói. Như thế thì mệt lắm! Ngược lại, người Công Giáo có Thiên Chúa là Đấng biết trước mọi sự. Ngài từ từ hé lộ cho con người những gì chúng ta cầu xin. Hãy chạy đến với Ngài để cầu nguyện. Trong bầu không khí đó, Thiên Chúa cùng với con người khám phá những điều thú vị ở tương lai. Có người nói vui rằng: “Giả như biết trước mọi sự, cuộc sống này sẽ tẻ nhạt vô cùng!” Điều ấy có vẻ đúng. Hơn nữa, “Hãy ký thác đường đời cho Chúa. Tin tưởng nơi Người, Người sẽ ra tay.” (Tv 36,5).

Nếu bạn muốn thay đổi tương lai, hãy bắt đầu từ chính khả năng của bạn. Thành công, may mắn hoặc tương lai tươi sáng hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ đúng đắn của chúng ta. Nếu thái độ ấy cộng với ơn của Thiên Chúa nữa, cuộc sống của chúng ta sẽ thật nhiều bình an, hạnh phúc. Hãy làm chủ cuộc đời mình trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa. Xin đừng đánh cược chính mình vào chuyện xem bói, mê tín dị đoan. Tôi tin bạn không muốn rơi vào bước đường u mê ấy.

Chào bạn.   

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (29.3.2021)

-----------
[1] https://thuvienhoasen.org/a11571/39-quan-diem-cua-dao-phat-ve-tu-vi-boi-toan
Quan điểm của đạo Hồi: “Trong tôn giáo Islam không có việc mê tín dị đoan hoặc hành nghề bói toán hoặc tìm người xem bói hoặc làm thầy bùa hoặc tìm đến thầy bùa. Đối với người (Muslim) nào tìm đến thầy bùa và tin tưởng vào mọi điều chúng nói là y đã phủ nhận tất cả mọi thông tin được mặc khải cho Muhammad.” (theo Hadith).
[2] Đừng cực đoan mà ngồi chờ sung rụng. Thiên Chúa mời gọi con người lao động. Chúa Thánh Thần ban cho ta ơn lo liệu để kiến tạo cuộc sống này.
[3] Đọc thêm: https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2019-12/dtc-phanxico-tiep-kien-chung-cong-vu-tong-do-ma-thuat.html

---------------------------------

 

Bài 46: CHÚA DỰNG NÊN CON CÁCH LẠ LÙNG


Phương An, CND – CSA

Hỏi: Con yêu thai nhi, con muốn các em có được hạnh phúc mà các em đáng được nhận, nhưng nạn phá thai vẫn cứ tồn tại, con phải làm sao?

Trả lời:

Cám ơn bạn về những thao thức cho quyền sống của con người. Đó là bổn phận cốt yếu, bởi chúng ta biết, ai cũng phải có trách nhiệm đối với sự sống của mình cũng như của người khác. Nhất là với các sinh linh bé bỏng không có khả năng tự vệ, thì mỗi người càng cần có trách nhiệm bảo vệ, nuôi dưỡng để sự sống của các em trở nên viên mãn, dồi dào.

1. Sự sống linh thánh cần được bảo vệ

Đối với Người Công giáo, sự sống của mỗi người có giá trị linh thánh, vì chính Thiên Chúa đã tạo dựng họ theo hình ảnh Ngài, đã thổi vào con người sự sống (sách Sáng Thế chương 1). Sự sống này do chính Thiên Chúa và mãi mãi có liên hệ đặc biệt với Đấng Tạo Hóa. Đó là món quà mà chúng ta cần trân quý và ra sức bảo vệ.

Cách đây 25 năm thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã lên tiếng mạnh mẽ để bảo vệ thai nhi. Điều ấy cũng được khẳng định trong Thánh Kinh, tái khẳng định trong Truyền Thống của Giáo hội, lưu truyền và được Huấn quyền phổ quát giảng dạy. Bảo vệ sự sống luôn là con đường Giáo hội theo đuổi.

Dù hoàn cảnh khó khăn đến đâu, sự kiện phá hủy sự sống con người vô tội, vẫn luôn là sự xấu nghiêm trọng. Đồng cảm với thử thách mà nhiều cặp vợ chồng phải đối phó, Giáo Hội thừa nhận đôi khi phải cần nhân đức “anh hùng” để tuân giữ các chân lý luân lý vốn gắn liền với đức tin về phẩm giá nội tại con người.[1]

2. Chứng nhân bảo vệ sự sống

Bạn có thể chia sẻ chứng từ về những trường hợp can đảm trong công tác bảo vệ sự sống. Trên mạng có kể về nhiều mẫu gương mà chúng ta có thể đọc được.

Chẳng hạn như Cô Trần Thị Hương, giáo xứ Tân Long, Long Xuyên, bị gọi là “Bao đồng” hay “Hương khùng”, đã can ngăn được hơn 9 người mẹ muốn trút bỏ đứa con từ 1 tháng đến 6 tháng.

Hoặc như Chân phước Maria Beltrame gặp khó khăn khi mang thai người con út. Các bác sĩ yêu cầu phá. Hai vợ chồng ngài cương quyết từ chối. Cuối cùng, Maria Beltrame đã sinh được một bé gái khỏe mạnh là Enrichetta. Sau này, Enrichetta sống thánh thiện cũng được Đức Giáo hoàng Phanxicô phong lên bậc đáng kính ngày 30.8.2021. Hai anh trai và chị gái của Enrichetta đều là những người sống đời thánh hiến linh mục và tu sĩ.[2]

Hay như trường hợp bác sĩ Agnieszka Pisuła – người mẹ hy sinh để con được chào đời. Bà bị ung thư khi mang thai và đã chọn chế độ trị liệu hạn chế để con được chào đời khỏe mạnh. Bà qua đời vào thứ ba Tuần Thánh 2018.

Ngày 25.1.2018, tại thủ đô Washington, trước 18.000 bạn trẻ tại cuộc biểu tình và Thánh lễ vì Sự Sống, cha Martino Choi đã trình bày chứng tá của mẹ mình trong quyết định bảo vệ sự sống. Cha ấy nhắn với mỗi người tham dự rằng: “Tôi biết có một phụ nữ mang thai, khi bà đi siêu âm, bác sĩ nói rằng cơ phận của thai nhi không bình thường, họ khuyên bà nên phá thai. Người phụ nữ đó chính là mẹ của tôi và tôi là đứa trẻ đó.”

Thực tế cho thấy, nhiều người “khuyết tật thể lý” lại dạy cho những người “hoàn mỹ thể lý” các bài học tinh thần, thiêng liêng về mầu nhiệm sự sống mà chúng ta không thể tìm thấy trong thế giới của những con người “hoàn mỹ thể lý”.

Theo Khánh Hà, VnExpress.net ngày 10.02.2015, dịch từ Newstral, một người không Công giáo, đó là ông bố Samuel quyết không từ bỏ con trai bệnh Down mặc cho vợ đòi ly hôn vì bà muốn bỏ con. Con trai ông sau này trở thành niềm vui lớn cho ông. Một chứng nhân khác đó là Nick Vujicic – người đàn ông không tay, không chân nhưng nổi tiếng với nghị lực phi thường đã truyền niềm tin, cảm hứng, sức mạnh sự sống cho hàng triệu người trên thế giới. Anh hiện là chủ tịch và CEO tổ chức quốc tế Life Without Limbs, Giám đốc công ty Thái Độ Sống và là một diễn giả đầy lòng quả cảm, mà khi nhắc đến anh hàng triệu người phải ngả mũ kính phục.

3. Những việc chúng ta có thể đóng góp để bảo vệ thai nhi

Hầu hết người Công giáo quan ngại về hiện trạng phá thai hiện nay. Như vậy, vì yêu mến các thai nhi và tôn trọng sự sống, có những việc bạn có thể thực hiện tùy theo khả năng: hy sinh và cầu nguyện, tham gia nhóm bảo vệ sự sống, phát tờ bướm khuyến khích tôn trọng sự sống,...

Hơn nữa, bạn có thể tham gia tư vấn và đồng hành với bạn bè của bạn trong môi trường học hành và làm việc hiện tại hay, nơi bạn đang sống, ngay cả với các bạn nam chứ không phải chỉ riêng với bạn nữ. Để làm được việc này thì bạn rất cần cập nhật và nắm rõ thông tin cũng như giáo huấn Giáo hội về phá thai, việc bảo vệ sự sống.

Bên cạnh đó, bạn nên giúp người trẻ quanh mình đừng dấn thân vào các cuộc tình phiêu lưu. Bạn không nên, không cổ võ cho việc tôn thờ thân xác hay dùng tất cả mọi sự chỉ để lo sắc đẹp và thành công về danh vọng.

Đồng thời, bạn hãy tìm cách động viên bạn bè mình tránh mọi thứ thái quá về ăn nhậu, hút chích, dùng thuốc kích thích, không đặt giá trị vật chất được lên trên giá trị tinh thần, thiêng liêng,… nhưng vẫn cần chăm lo sức khỏe của mình, giữ nhân đức tiết độ, tôn trọng nhu cầu của người khác và chọn lựa sự sống.

À, bạn cũng có thể tham gia công việc của nhóm Bảo Vệ Sự Sống, hoặc ít là cầu nguyện cho những ai đang bảo vệ sự sống. Họ đã đến bệnh viện xin bào thai bị phá về chôn cất đàng hoàng. Nhiều nơi đã thành lập Nghĩa trang thai nhi. Thật dễ để bạn đọc tìm hiểu những thông tin liên quan đến những nhóm bảo vệ sự sống này trên mạng Internet.

Bạn nghĩ sao khi trưởng khoa tâm lý – ĐH sư phạm tp HCM, Huỳnh Văn Sơn nói rằng: “Để tháo bỏ nút thắt này, điều cơ bản, gia đình có người trong cuộc không may có thai ngoài ý muốn cần có cái nhìn đúng đắn nhằm động viên, đón nhận các em lấy lại thăng bằng tâm lý, trở lại cuộc sống!”

Chúng ta sẽ ngạc nhiên khi các nghiên cứu cho rằng thai nhi hoàn toàn có thể cảm nhận được trạng thái tâm lý của người mẹ. Em bé dù chưa được chào đời nhưng sẽ nhận được tín hiệu từ người mẹ thông qua cơ thể và tâm hồn. Nếu người mẹ ấy có ý định bỏ con thì đứa bé đã cảm nhận được và sau này dù không bị phá bỏ, bé vẫn có khuôn mặt rất buồn, tự ti, nhút nhát... Do đó, đồng hành với các thai phụ và kể cả các người ở giai đoạn hậu phá thai bằng cách giúp họ được chữa lành những chấn thương tâm lý, lãnh bí tích giao hòa… cũng là điều cần thiết.

Tôi biết một trường hợp từng phá thai, được chữa lành và trở thành người chia sẻ kinh nghiệm để cho các bạn khác không đi vào vết xe đỗ của mình. Tuy thế, việc chữa lành không xảy ra ngay lập tức mà phải mất một thời gian khá dài thì người ấy mới trở nên quân bình và tha thứ cho chính mình. Bà White (Mỹ) chia sẻ, bà phải chiến đấu để đón nhận sự tha thứ. Bà nói: “Phá thai không chỉ giết đứa bé mà còn gây thương tổn tinh thần nơi lòng của người phụ nữ. White xin cha giải tội hướng dẫn, bà bắt đầu cảm nhận con bà đang ở trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa”. Bà tham dự chương trình “Vườn nho của Rachel”– tĩnh tâm giúp các người nam nữ có cơ hội chấp nhận và than khóc về mất mát của họ từ việc phá thai và cuối cùng hướng họ đến hòa giải và bình an.

Ngày 20.9.2013, Đức Giáo Hoàng Phanxicô phát biểu trong buổi nói chuyện với các nhà phụ khoa Công giáo: “Một đứa trẻ không được sinh ra, nhưng bị kết án phá thai cách bất công, đều mang khuôn mặt của Chúa, Đấng đã cảm nghiệm bị thế gian từ khước ngay cả trước khi sinh ra cũng như khi mới sinh ra”. Chúng ta cùng cầu xin ơn can đảm đón nhận mầm sống mới trong chính mình cho những người đang có ý định phá thai và xin lòng Chúa thương xót tưới mát tâm hồn đau khổ của những người đã phá thai.

Như vậy, việc cầu nguyện, hy sinh của chúng ta, cùng với việc xin Lễ cho các linh hồn thai nhi là điều rất nên. Bạn cứ làm hết lòng những gì có thể để giúp các linh hồn ấy, Thiên Chúa nhân lành, sẽ luôn bao bọc các em vì “Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa, thì hãy còn có Chúa đón nhận con” (Tv 27,10).

Những công việc bảo vệ sự sống không dễ chút nào. Nhưng tôi tin bạn sẽ làm được vì “khi yêu thì chúng ta luôn sáng tạo”. Nếu bạn thao thức thì Chúa Thánh Thần sẽ chỉ cách cho bạn phải làm gì.

Mến chúc bạn mạnh khỏe và tìm được niềm vui trong những nghĩa cử cao đẹp này. 

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (04.4.2021)

(Cập nhật lúc 20h30 ngày 25.6.2022)

----------
[1] x. Trần Như Ý-Lan, Đức tin và luân lý sự sống: nhận định vài vấn đề luân lý y-sinh học tại Việt- Nam trên quan điểm y khoa và luân lý Công Giáo, Đăng trong Thời Sự Thần Học, Trung tâm Học vấn Đa Minh.
[2] Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt, Vợ chồng chân phước Luigi Beltrame Quattrocchi và Maria Corsini, tại https://sites.google.com/site/jesusmarysaves0uls/cac-thanh/vo-chong-chan-phuoc/vo-chong-chan-phuoc-luigi-beltrame-quattrocchi-va-maria-corsini

---------------------------------

 

Bài 47: THỦ DÂM CÓ PHẠM TỘI KHÔNG?


Phêrô Dương Hải Văn, SDB

Hỏi: Con chào cha, xin cho con hỏi người từ 18 tuổi, thủ dâm có bị coi là phạm tội không? Nhân đây xin cha cho con vài lời khuyên để sống tốt giới răn thứ 6: chớ mê dâm dục. Con cảm ơn cha nhiều.

Trả lời:

Chào bạn, trước khi đi vào câu trả lời này, chúng ta cần hiểu rõ thế nào là thủ dâm trước nhé.

Thủ dâm là gì?

Theo một số nhà tâm lý học đương đại, thủ dâm là hình thức kích thích bằng tay hoặc sử dụng những dụng cụ hỗ trợ tình dục vào các cơ quan sinh dục để tạo khoái cảm, thường đạt tới mức cực khoái[1].

Còn Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo thì nói: “Thủ dâm hiểu là việc chủ ý kích thích cơ quan sinh dục để đạt được khoái lạc tình dục.” (GLHTCG, 2352). Điều này có nghĩa là chủ thể tác động vào bộ phận sinh dục của mình, để tự thỏa mãn những nhu cầu và khoái lạc tình dục, nhằm đạt đến kích thích cực độ, được biểu hiện bằng sự xuất tinh nơi người nam, và sự xuất tiết chất nhầy ở âm đạo nơi người nữ.

Thủ dâm có thể thực hiện bằng tiếp xúc cơ thể hoặc bằng những phim ảnh kích dục hay sự tưởng tượng (thủ dâm trong tư tưởng), hay có khi vừa cả kích thích thân xác lẫn tư tưởng. Theo nghĩa rộng hơn thủ dâm có thể được thực hiện giữa hai người khi đương sự đụng chạm vào cơ quan sinh dục của nhau[2].

Phải chăng thủ dâm là tốt?

Thực ra, việc thủ dâm là để thỏa mãn bản năng tính dục nơi chính chủ thể, chứ không phải nhằm trao ban những giá trị cao đẹp của mục đích tính dục nơi con người. Theo đó, “Việc thủ dâm có thể chỉ làm cho con người qui hướng về chính mình, ngược lại với ý nghĩa và tính chất sinh động của tính dục là thúc đẩy con người đến sự hiệp thông và trao ban cho nhau”[3]. Nó đi ngược lại với ý hướng của Thiên Chúa về khả năng tính dục nơi con người, là sinh sản và nuôi dưỡng tình yêu trong đời sống vợ chồng: “Mọi hành vi tình dục phải nằm trong khuôn khổ hôn nhân… Với bất cứ lý do nào, việc chủ ý sử dụng khả năng tình dục ngoài quan hệ vợ chồng đúng đắn cũng là sai mục đích”[4].

Kinh Thánh và Huấn Quyền nói gì về thủ dâm?

Tuy Kinh Thánh không nói đến trực tiếp và chính xác về tội thủ dâm, nhưng khi nói: “Ngươi không được ngoại tình” (Xh 20,14), hay chính Chúa Giêsu đã nói: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5,27), được truyền thống Giáo Hội hiểu rằng, điều ngăn cấm này bao trùm lên tất cả các lãnh vực của giới tính con người, tức là mọi tội nghịch với đức thanh khiết.

Truyền thống Giáo Hội cũng hiểu rằng, Kinh Thánh kết án hành vi thủ dâm khi dùng những từ ngữ như “không trong sạch”, “không khiết tịnh” và những tật xấu trái nghịch với đức thanh khiết và sự tiết dục[5]: “Chuyện gian dâm, mọi thứ ô uế hay tham lam, thì dù nói đến, anh em cũng phải tránh. Đừng nói lời thô tục, nhảm nhí, cợt nhả: đó là những điều không nên...” (Ep 5,3–4); “Thiên Chúa đã không kêu gọi chúng ta sống ô uế, nhưng sống thánh thiện.” (1Tx 4,7).

Tuyên ngôn Persona humana của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin đã khẳng định: “Giáo lý truyền thống Công Giáo cho rằng thủ dâm tạo nên một rối loạn luân lý nghiêm trọng, .... là một hành vi rối loạn tự nội tại và nghiêm trọng. Lý do chính yếu là, với bất kỳ động cơ nào để hành động như vậy, việc sử dụng có chủ ý chức năng tình dục ngoài quan hệ vợ chồng bình thường là đối nghịch một cách chính yếu với mục đích của chức năng tình dục. Bởi vì nó thiếu mối tương quan tính dục mà trật tự luân lý đòi phải thực hiện, cụ thể là tương quan thực hiện “ý nghĩa trọn vẹn của việc tự hiến cho nhau và sự truyền sinh trong bối cảnh tình yêu chân thật.”[6] Tất cả các thực hành tính dục có chủ ý đều phải dành cho mối tương quan thông thường này.” (số 9).

Ngoài ra, Đức Giáo Hoàng Lêô IX khẳng định rằng, thủ dâm là tội nặng bởi nó vi phạm luật Thiên Chúa và luật tự nhiên (DS, 687). Kế đó, Đức Piô XI cũng đã xác định không được phép thủ dâm dù là để khám bệnh (DS, 3687). Còn Đức Piô XII trong bài diễn văn đọc ngày 8/10/1953 tuyên bố: “Dù mục đích của thủ dâm có tốt đi nữa, chẳng hạn làm thần kinh bớt căng thẳng hay để khám nghiệm, thì cũng không biện minh được cho sự lạm dụng cơ năng truyền sinh, vì hoàn toàn ngoài mục đích tự nhiên của nó. Đó là phản luật tự nhiên và luân lý”.

Vậy thủ dâm có là tội?

Từ những xác tín qua Kinh Thánh và Giáo Huấn của Giáo Hội, chúng ta có thể khẳng định rằng: thủ dâm là phạm tội nghịch lại với điều răn thứ Sáu trong Mười điều răn của Thiên Chúa; và nếu trong tình trạng bình thường, thì đó là tội nặng: “Dựa theo truyền thống bền vững, cả Huấn Quyền cả cảm thức luân lý của các Kitô hữu, không hoài nghi khẳng định rằng, thủ dâm là một hành vi tự bản chất là vô trật tự cách nghiêm trọng” (GLHTCG, 2352).

Tuy nhiên: “Để có thể phán đoán đúng đắn về trách nhiệm luân lý của đương sự, cũng như đưa ra một đường hướng mục vụ, cần lưu ý đến tình trạng thiếu trưởng thành tình cảm, áp lực của các thói quen đã có, tâm trạng lo âu cũng như những yếu tố khác về tâm lý và xã hội. Các nhân tố trên có thể làm cho sự quy tội luân lý được giảm nhẹ, thậm chí đến mức tối thiểu.” (GLHTCG, 2352).

Như vậy, thủ dâm là tội phạm đến điều răn của Thiên Chúa, cũng như đã sử dụng khả năng tình dục sai mục đích mà chính Thiên Chúa đã ban cho con người. Thủ dâm là hành vi đi ra ngoài tình yêu thương và sự truyền sinh trong đời sống hôn nhân gia đình, làm vấy bẩn phẩm giá cao đẹp của chính mình, và khiến cho bản thân luôn bị ám ảnh về những đòi hỏi của bản năng tình dục.

Làm thế nào để giữ sự trong sạch về tính dục?

Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy biết trân trọng và gìn giữ nhân đức thanh khiết, qua việc sống và thực hành sự tự chủ trước những cám dỗ về sách báo và phim ảnh khiêu dâm; siêng năng cầu nguyện và tham dự cách tích cực các Bí tích. Nhờ đó ân sủng Chúa luôn nâng đỡ chúng ta trước những cơn cám dỗ về dục tình, cách riêng là với việc thủ dâm. Ngoài ra, khi ý thức cách sâu sắc về giá trị cao quý của nhân phẩm và ơn gọi làm con Thiên Chúa, chúng ta sẽ biết gìn giữ đức thanh khiết trước những cám dỗ và bản năng dục tình nơi chúng ta.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (11.4.2021)

Bài cùng chủ đề:

1. BS Trần Như Ý-Lan, Dòng Đức Bà, Bạn trẻ Công giáo nói không với thủ dâm, tại sao?

2. Linh mục Giuse Đỗ Mạnh Thịnh, Giáo sư Đại Chủng viện Xuân Lộc, Đồng hành cùng bạn trẻ trong gia đình vài vấn nạn thường gặp: Thủ dâm, khiêu dâm, tình dục trước hôn nhân

-----------
[1]  X. Lehmiller JJ, The Psychology of Human Sexuality, John Wiley & Sons, 2017, 402; Nadal KL, The SAGE Encyclopedia of Psychology and Gender, USA, 2017, 1123; Merriam-Webster's Collegiate Dictionary, Eleventh Edition, Merriam-Webster, Inc., 2003.
[2] X. John F. Harvey, OSFS, “Vượt qua thói thủ dâm”, <https://couragetiengviet.com/ap-dung/song-trong-su-that/van-de-thu-dam/>
[3] Lm. Augustinô Nguyễn Văn Dụ, Giải Đáp Thắc Mắc Về Luân Lý, Trung tâm mục vụ Việt Nam –Italia, 2005, 77.
[4] Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên ngôn Persona humana, 7.
[5] Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên ngôn Persona humana, 9.
[6] X. Gaudium et Spes, 51.

---------------------------------

 

Bài 48: KHÔN NGOAN THÌ THA THỨ


Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ

Hỏi: Con thấy đạo Công Giáo luôn dạy người ta yêu thương tha thứ, kể cả với kẻ thù. Nhiều người bạn của con cho rằng ý tưởng đó là cao vời, bất công. Vậy tha thứ có tầm quan trọng như thế nào và làm thế nào để có thể tha thứ?

Trả lời:

Không có tương quan nào lại không phảng phất “mùi vị” của phiêu lưu, của căng thẳng và của đổ vỡ. Ra khỏi mình để bước vào tương quan với người khác, và mở rộng cánh cửa đời mình cho người khác bước vào căn nhà của mình, là sẵn sàng đi vào một cuộc phiêu lưu, là ý thức và chấp nhận mình có thể bị tổn thương, bị đau đớn. Nhưng nếu chỉ ý thức và chấp nhận những hậu quả tiêu cực xảy ra, thì chưa đủ. Thêm vào đó, cũng cần ý thức để tìm cách chữa lành những vết thương, xoa dịu những khổ đau và xây dựng lại mối tương quan trong hòa bình và tình yêu. Cụ thể hơn, bước đầu tiên cần có là cần phải cảm thông và tha thứ. Tuy nhiên, tại sao lại phải tha thứ và làm thế nào để có thể tha thứ?

Tha thứ là yêu thương và quý trọng chính mình

Văn hào Nga Leon Tonstoi có kể câu chuyện ngắn ngủi như sau:

Một người hành khất đến trước cửa nhà một người giàu có để xin bố thí. Nhưng mặc cho người khốn khổ van nài, người giàu có vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Đến một lúc không chịu được những lời van xin đó, thay vì bố thí, người giàu có đã lấy viên đá nằm ven đường ném vào người hành khất. Con người khốn khổ ấy lặng lẽ nhặt hòn đá cho vào bị, rồi thì thầm trong miệng: “Ta mang viên đá này cho đến ngày nhà ngươi sa cơ thất thế. Ta sẽ dùng nó để ném trả lại ngươi.”

Năm tháng trôi qua, lời chúc dữ của người hành khất đã thành sự thật. Vì lừa dối, người giàu có bị tước đoạt tất cả tài sản và bị tống giam vào ngục. Ngày hôm đó người hành khất cũng chứng kiến cảnh người ta áp giải người giàu có vào ngục. Nỗi căm hờn sôi sục trong lòng. Ông đi theo đoàn người áp tải tay không rời hòn đá mà người giàu có đã ném vào người ông cách đây mười mấy năm. Ông muốn ném hòn đá đó vào người tù để rửa sạch mối nhục hằng đeo đẳng bên ông.

Nhưng cuối cùng nhìn thấy gương mặt tiều tụy đáng thương của kẻ đang bị cùm tay, người ăn xin nhẹ nhàng cất hòn đá vào trong túi của mình rồi tự nhủ: “Tại sao tôi lại mang hòn đá bên mình trong bao nhiêu năm qua. Con người này giờ đây cũng chỉ là một con người khốn khổ như ta”. Sau đó thì anh ta tha thứ cho kẻ thù. Đúng thật, ai khôn thì luôn tha, ai khôn thì mau chóng quên đi lỗi lầm của người khác.

Hòn đá của hận thù cần được để xuống, nỗi đau cuộc sống cần được giải thoát khỏi cái vòng quỷ quyệt gây ra đau khổ. Hận thù được tháo cởi, con người tìm lại được sự thảnh thơi, an bình và nét đẹp trong tâm hồn. Nhưng không chỉ tìm lại nét đẹp bên trong, mà khi tha thứ còn tìm được nét đẹp bên ngoài được diễn tả qua thân xác nữa. Có vài lần bắt gặp những đôi mắt hận thù rực lửa trên khuôn mặt của người sống trong hận thù, chỉ muốn trốn xa họ, vì khi ôm ấp hận thù trong lòng, họ đánh mất đi nét đẹp của đôi mắt và khuôn mặt, dù cho họ có make up biết bao lớp phấn đi nữa. Và từ họ không còn toả ra niềm vui thanh thoát trong sáng nữa, mà một sự trì nặng của tức giận và thù hận đang kéo ghì họ xuống. Người ôm ấp hận thù đang đánh mất vẻ đẹp và niềm vui sống.

Nếu chúng ta cứ “cứng đầu” ôm ấp nỗi đau và nỗi hận trong lòng thì cũng chẳng giải quyết được gì tốt đẹp cả. Walter Kasper đã đặt lại vấn nạn chúng ta sẽ đi về đâu, khi chúng ta không nhân từ và không tha thứ, nếu chúng ta trả thù kẻ gây ra những bất hạnh cho chúng ta, bằng hành động xấu xa của chúng ta – Mắt đền mắt, răng đền răng. Với Kasper, khi nhìn những kinh nghiệm thật đau thương và ghê gớm của những hành động trả thù trong thế kỷ thứ 20, thì giới răn yêu thương cần được cập nhất hoá trở lại, và lòng thương xót nhân từ và tha thứ cần được mọi người nhắc đến như là những hành động khôn ngoan nhất. Chỉ có những ai vượt trên những nấm mồ cũ kỹ, và sẵn sàng đưa tay để bắt tay người khác, để xin được thứ tha, cũng như để sẵn sàng tha thứ, thì những xung đột gây ra nhiều đau thương và làm cho bao dòng máu phải chảy được đặt lại trên bàn để đi tìm hướng giải quyết.

Nói như thế, không phải là chúng ta sẽ giấu nhẹm hay quên khuấy những bất công, những hành động bất nhân. Thật vậy, chúng ta không được phép cất chúng vào trong những ngăn tủ bàn. Chúng ta cần phải thành thật với nhau, đặt những hành động bất nhân và bất công trên bàn, và chúng ta cần phải thú nhận tội lỗi mà chúng ta gây ra với tất cả sự hối lỗi xin thứ tha, cũng như chúng ta mở rộng lòng khoan nhân để tha thứ, để cùng hướng tới một tương lai mới hơn và tốt hơn. Có như thế, thì tinh thần tha thứ sẽ đến, tinh thần này sẽ tẩy trừ nọc độc của thù hận, và làm cho tương quan của chúng ta không còn vướng mắc hai từ ngữ “kẻ thù”. Như vậy, một sự khởi đầu mới sẽ lên đường, và một tương lai mới của chúng ta sẽ tìm thấy lối đi. Trong tinh thần này, thì giới răn yêu thương kẻ thù không còn là một thứ của credo quia absurdum est – một kiểu hành động vô lý, mà là một kiểu của credo quia rationabile est, nghĩa là giới răn yêu thương kẻ thù là một kiểu hành động của lý trí đầy khôn ngoan.

Cũng thế, hận thù như là cỏ dại trong cánh đồng đời mình, nên nếu chúng ta cứ nuôi hận thù, thì cỏ dại có thể lan tràn và theo thời gian sẽ tràn ngập cánh đồng, lấy màu mỡ của đất và lấn át những cây lúa tốt tươi. Vì vậy, nếu còn yêu thương mình và quý trọng cuộc sống của mình, thì chúng ta cần phải thoát ra nỗi khổ đau của hận thù, cần phải nhổ cỏ dại ra khỏi cánh đồng tâm hồn mình và tha thứ thật sự.

Nhớ đến ngày lìa đời và khôn ngoan chấm dứt hận thù

Trong sách Huấn Ca viết:

“Hãy nhớ đến ngày tận số
mà chấm dứt hận thù,
nhớ mình sẽ phải hao mòn và phải chết
mà trung thành giữ các điều răn” (Hc 28,6).
Một số lần đồng hành với những người đau yếu nặng trên giường bệnh, tôi nhận ra một điều rất đẹp, đặc biệt và khôn ngoan. Người bệnh nặng, trước khi vào cơn hấp hối, luôn khôn ngoan mở lời xin lỗi mọi người trong gia đình, xin lỗi vợ, xin lỗi chồng, xin lỗi con cái, xin lỗi tất cả và xin mọi người trong gia đình và họ hàng cùng bạn bè thân quen tha thứ cho mình. Có lần, một người có mặt đáp lời: “Cháu cũng xin lỗi và cũng xin Cô tha thứ cho cháu về những lời nói, cử chỉ, hành động làm mất lòng Cô”. Hận thù gì nữa, khi chuẩn bị bước vào cõi chết. Thật vậy, cần bước vào cõi chết với đôi mắt thanh thoát từ từ nhắm lại trong an bình, như là bước vào giấc ngủ say của cõi ngàn thu, mà không có hận thù và căng thẳng nào đeo bám. Đó là sự khôn ngoan của đời người.

Tha thứ không chỉ là hành động khôn ngoan, mà còn là một hành động yêu thương bản thân và yêu thương người khác với một tấm lòng bao la, sẵn sàng ban tặng cơ hội cho người mắc lỗi, để họ có thể sửa đổi lại những gì không hay trong quá khứ mà chính họ đã gây ra, để nhờ đó tương lai đời họ được đẹp hơn.

Tha thứ cho người khác là cho họ một tương lai

“Tha thứ cho người có lỗi với chúng ta, nghĩa là hoàn toàn bỏ qua những chuyện quá khứ. Chấp nhận rằng tương lai vẫn còn trong sáng và chưa bị vẩn đục” (Simon Weil). Ý tưởng của Simon Weil thật mạnh mẽ và rõ ràng. Còn trong thực tế, tương lai thường bị những lỗi lầm “ám ảnh”, đến nỗi khó có thể xây dựng một tương lai cho đẹp. Vì vậy, con người sẽ trao tặng cho nhau “món quà tương lai”, khi con người yêu thương và tha thứ cho nhau.

Qua tha thứ, người ta không để cho sức mạnh tiêu cực của quá khứ ảnh hưởng trên hiện tại và trên tương lai nữa, cả tương lai của người tha thứ lẫn tương lai của người được thứ tha. Ở đây, nếu nhắc đến người được tha, chúng ta lại trở về với dụ ngôn người cha nhân hậu trong Luca. Người con đi hoang được Cha yêu thương, tha thứ và đón nhận trở về cách rộng lượng vô cùng. Cách hành xử của Cha vượt trên tất cả những thành kiến và khổ đau, để vẫn giữ được một cái nhìn thật thanh cao của tình yêu tràn đầy sự cảm thông và tha thứ. Cái nhìn thanh cao này không chỉ trao lại cho người con hoang chiếc nhẫn diễn tả vị thế làm con, mà cái nhìn này còn mở ra cho người con, đã mất nay tìm thấy, đã chết nay sống lại, một chân trời mới, một tương lai với những viễn tượng mới đầy tràn tình yêu thương. Hơn nữa, qua sự tha thứ của người Cha tốt lành khôn ngoan dành cho con mình, bầu khí của gia đình và cộng đoàn cũng tìm lại sức sống mới.

Tha thứ đem lại sức sống mới cho gia đình và cho cộng đoàn

Tại bàn tiệc của lòng nhân hậu và tha thứ, người con hoang đàng trong Tin Mừng tìm lại vị trí “Cậu” trong gia đình. Niềm vui của “Cậu” chắc là lớn lắm. Niềm vui đó được hòa chung với niềm vui của nhiều người trong nhà. Niềm vui đó cũng chính là sức sống mới mà gia đình và cộng đoàn của “Cậu” nhận được qua sự tha thứ, để mọi người bắt đầu xây dựng lại bầu khí yêu thương.

Trở về với Đức Kitô chúng ta thấy, sau khi tỏ lòng nhân từ và tha thứ cho Gia–kêu, cho Lê–vi, Ngài đã đến gia đình của họ để chia sẻ bàn tiệc với họ, nghĩa là qua sự tha thứ cho một thành viên, Đức Kitô cũng muốn đem lại một làn gió mát cho gia đình và cộng đoàn của họ. Nói cách khác, sự tha thứ không chỉ quan trọng đối với đời sống cá nhân, mà cộng đoàn cũng nhận được những ảnh hưởng rất tích cực từ sự tha thứ cho mỗi thành viên trong gia đình và trong cộng đoàn. Nếu tội lỗi làm đổ vỡ cộng đoàn, thì sự tha thứ nối kết và xây dựng lại cộng đoàn. Vâng, “nếu cộng đoàn là nơi tội lỗi hiện diện, thì chúng ta phải mạnh dạn xin mọi người tha thứ cho chúng ta, và chúng ta cũng cần tha thứ cho mọi người”.

Trong bài giảng trên núi, Chúa Giê–su đã dạy rằng: “Vậy, khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5, 23–24). Sự chia cách và khuynh hướng tạo nên những căng thẳng không được phép “có mặt” trong đời sống cộng đoàn và giữa anh chị em với nhau. Nếu không, thì mọi người trong cộng đoàn sẽ không xứng đáng dâng lễ để thờ lạy Thiên Chúa. Nói khác đi, sự bất hòa của anh chị em với nhau làm rách mối tương quan giữa họ với Thiên Chúa. Lễ tế dâng lên Thiên Chúa của cộng đoàn cần được phát xuất từ những con tim hiệp nhất, yêu thương và sẵn sàng tha thứ cho nhau.

Thật vậy, chúng ta không thể đi vào cộng đoàn để cầu nguyện, để dâng của lễ lên Chúa, cũng như để sống tinh thần hiệp thông yêu thương, nếu lòng chúng ta nặng trĩu những nỗi đau, những nỗi hận đang trì kéo chúng ta xuống những hố sâu đen đủi. Cộng đoàn của Tin Mừng được thành lập trên tinh thần tha thứ. Cộng đoàn đó chỉ hiện hiện ở nơi mà tất cả các anh chị em, nghĩa là từng cá nhân một trong cộng đoàn có được một chỗ để hiện diện, được góp mặt vào trong một tập thể chung, vượt trên sự khác biệt về tính tình, và bất chấp mặt ưu và mặt khuyết của họ. Trong cộng đoàn đó, anh chị em chấp nhận mỗi người như họ là, chấp nhận tất cả những lỗi lầm và tội lỗi họ gây ra.

Tha thứ thuộc về cuộc sống thường ngày của người Công Giáo

Là người Công Giáo, chúng ta từ thuở nhỏ ai cũng thuộc làu làu Kinh Lạy Cha. Trong đó có lời cầu nguyện: xin tha thứ cho chúng con, như chúng con tha thứ cho những người có lỗi với chúng con. Lời cầu nguyện này thật đặc biệt, vì nó đưa chúng ta đi vào thực tế đời sống hằng ngày, với biết bao đụng chạm, với biết bao bực dọc, cũng như không thiếu tức tối, ghen ghét và hận thù. Có những người đã chia sẻ rằng, càng đọc lời kinh này, thì càng nhức nhối, vì thật là khó để tha thứ, đặc biệt tha thứ cho những người đã gây ra biết bao đau khổ cho cuộc đời mình. Đó là một thực tế không ai chối cãi được. Thực tế đó cũng chỉ ra giới hạn của con người chúng ta, vì vậy chúng ta cần có ơn Chúa ban, cần được Thánh Thần Chúa hướng dẫn, hoán chuyển mọi nỗi hận thù tức giận trong lòng, để từng bước mặc lấy chính tinh thần của Đức Ki–tô, sống tha thứ thật sự cho kẻ thù.

Cùng cộng tác với ơn Chúa ban, chúng ta liên lỷ tập sống tha thứ, dù khó đến mấy. Đúng vậy, khó thì mới tập, mà càng khó thì càng phải nỗ lực tập mỗi ngày. Một tâm tình có thể giúp chúng ta tập sống tinh thần tha thứ, là chúng ta nên nhớ lại sự tha thứ của Chúa dành cho chúng ta như thế nào. Biết bao lần lầm lỡ, biết bao tội lỗi chúng ta gây ra, làm thương tổn người khác, làm thương tổn đến chính bản thân mình, và xúc phạm đến Chúa, nhưng Chúa đều tha thứ tất cả. Chúa yêu thương chúng ta đến nỗi, Ngài đã nói lời xin vâng của tình yêu đối với mỗi người chúng ta, thì lời xin vâng đó có giá trị đời đời. Sự tha thứ của Chúa luôn “có chỗ” trong cuộc đời của chúng ta.

Nhưng trong tha thứ có giới hạn về thời gian và không gian không? Có lần Chúa Giêsu đòi phải tha thứ đến bảy mươi lần bảy (Mt 18,21–22). Đức hồng Y Martini đã làm một con tính, lấy 1440 phút của mỗi ngày để chia với 490 lần là kết quả của 70 lần 7, thì trong một ngày, cứ gần 3 phút cần phải tha thứ một lần. Như thế tha thứ cho nhau là thái độ thường xuyên và cần thiết cho cuộc sống thường ngày. Còn đối với Bonhoeffer, một thần học gia và mục sư bị phát xít Đức giết vào thế chiến thứ hai, thì tha thứ không cần con số. Đừng đếm bao nhiêu lần cần phải tha thứ. Tha thứ không “quen” số lượng và không biết đến “chấm hết”. Tha thứ là thái độ sống hằng ngày và không ngừng nghỉ.

Có một phương cách khác giúp tập tha thứ mỗi ngày, là chúng ta nên dành vài phút ngắn ngủi vào đêm khuya để nhìn lại ngày sống, trước khi đặt mình lên giường nghỉ. Trong cầu nguyện chúng ta xin Chúa Thánh Thần trở thành “nhà tư vấn”, để xin Ngài giúp chúng ta nhận ra những cảm xúc giận hờn, bực tức và hận thù trong ngày chúng ta có. Chúng ta tự hỏi: Cảm xúc tiêu cực đó đến từ đâu vậy? Chúng ảnh hưởng trên tôi trong ngày sống như thế nào và chúng dẫn tôi đến đâu? Sau đó, trong âm thầm và khiêm tốn xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta biết dâng lên Chúa những cảm xúc tiêu cực đó, và nếu có ai đó trong ngày đã làm cho chúng ta giận hờn, tức tối và hận thù, thì xin Chúa dạy chúng ta biết cảm thông mở lòng tha thứ cho họ. Cuối cùng, chúng ta dâng lời cầu nguyện cho người đã làm mất lòng chúng ta.

Chắc chắn khi nhìn lại như vậy xong, thì Chúa sẽ vui lòng và ban lại cho chúng ta bình an và sự thảnh thơi, để lên giường ngủ thật ngon. Nếu mỗi ngày được Chúa Thánh Thần tư vấn và hướng dẫn, và khôn ngoan bước theo đường Ngài chỉ dẫn, thì niềm vui sống luôn hiện diện trên hành trình cuộc đời.

Lời kết

Khôn ngoan thì tha thứ. Tinh thần tha thứ đóng một vai trò quan trọng và nền tảng trong đời sống làm người, làm Ki–tô hữu.

Ý thức tinh thần tha thứ thật khó đối với phận người, nên chúng ta cùng chạy đến với Chúa. Xin mời bạn cùng bắt đầu tập sống tha thứ với lời cầu nguyện sau đây:

Lạy Chúa Giê–su, cùng với Chúa, con xin tha thứ cho kẻ thù của con.
Như Chúa, con xin cầu nguyện cho họ và xin Chúa đoái nhìn đến họ,
để họ cũng được Chúa yêu thương, như Chúa yêu thương con,
và cuối cuộc đời, Chúa cũng đón nhận cả kẻ thù và cả con
vào hưởng hạnh phúc bên Chúa, Đấng Yêu Thương và luôn tha thứ. Amen.
(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (18.4.2021)

---------------------------------

 

Bài 49: BÍ QUYẾT GIỮ GÌN HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Hỏi: “Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”(Mt 19,6). Đó là luật của Chúa. Luật dân sự cho phép ly dị. Số cặp vợ chồng Công Giáo ly hôn cũng tăng, không có điểm dừng. Xin cho người trẻ vài bí quyết để gìn giữ hôn nhân gia đình trong thời đại hôm nay?

Trả lời:

Chào bạn,

Đọc câu hỏi của bạn, tôi gõ trên Google với cụm từ “tỷ lệ ly hôn ở Việt Nam” và thấy được thông số sau từ trang web của Uỷ Ban Mục Vụ Gia Đình của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam:

“Cuộc điều tra do Bộ VH–TT&DL, phối hợp với Tổng cục Thống kê, với sự hỗ trợ của UNICEF cho thấy, số vụ ly hôn đang tăng nhanh. Nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ ly hôn thì năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ. Người vợ đứng đơn ly hôn hiện gấp 2 lần so với người chồng đứng đơn. Người tốt nghiệp đại học, cao đẳng có tỷ lệ ly hôn từ 1,7–2%, thấp hơn tỷ lệ 4–6% của người không có bằng cấp. Số năm sống trung bình trước khi ly hôn của các cặp vợ chồng 18–60 tuổi là 9,4 năm; còn riêng ở các khu vực nội thành, các thành phố lớn chỉ 8 năm. Có 4 nguyên nhân thường xảy ra nhiều là: mâu thuẫn về lối sống (chiếm 27,7%); ngoại tình (25,9%); kinh tế (13%); bạo lực gia đình (6,7%).”[1]

Thực trạng ly hôn – thực trạng đáng báo động

Liên quan đến việc ly hôn, có nhiều ý kiến khác nhau. Có người ủng hộ, cho rằng “tình hết thì chia tay”, giải thoát cho nhau. Có người phản đối khi nghĩ đến những hệ quả tiêu cực mà nó mang lại. Khi quyết định kết ước hôn phối vợ chồng, có lẽ người ta luôn mong ước sẽ cùng nhau đi hết cuộc đời chung thuỷ với nhau. Người thân bằng hữu khi đến dự tiệc cưới cũng thường chúc cho đôi bạn trẻ những điều tốt đẹp nhất như “đầu bạc răng long”, “trăm năm hạnh phúc”… Ly hôn chắc hẳn là điều chẳng ai mong muốn. Việc người ta “hốt hoảng” khi thấy tỷ lệ ly hôn tăng cao bất ngờ càng cho thấy nỗi hoang mang của họ trước tình trạng này. Nó hệt như một lời cảnh báo, đặc biệt cho những người chuẩn bị kết hôn, nhắc nhở họ phải suy nghĩ thật kỹ trước khi gắn kết trọn vẹn đời mình với người khác và luôn nỗ lực xây dựng cuộc hôn nhân này, đừng để nó có một kết cục bi thảm là ly hôn.

Có không ít gia đình Công Giáo tan vỡ, dù trước khi kết hôn, họ đã được dạy đầy đủ về ý nghĩa của hôn nhân Kitô giáo, về những đặc tính và đòi hỏi của nó, cũng như những cách thức để xây dựng gia đình. Tuy vậy, có thể do nhiều lý do khác nhau, họ vẫn quyết định ly hôn. Người nào còn ý thức về tư cách Kitô hữu của mình thì chấp nhận sống trong tình trạng ly thân. Còn nhiều người khác, bất chấp tất cả luật lệ của Giáo Hội, xác lập hôn phối mới khi người phối ngẫu kia vẫn còn sống (dĩ nhiên là hôn phối này chỉ được thừa nhận trên bình diện dân sự, chứ với Giáo Hội, nó không thành, vì người đó còn bị ràng buộc bởi hôn nhân trước) và sống trong tình trạng “rối”, bỏ nhà thờ, bỏ rước lễ, thậm chí là “bỏ đạo”. Đây là một thực trạng đáng buồn!

Ly hôn có thể là giải pháp của cặp vợ chồng, nhưng lại mang đến những tổn thương rất lớn cho con cái. Một đứa trẻ muốn phát triển lành mạnh và quân bình thì cần có sự quan tâm chăm sóc của cả bố và mẹ. Nếu không được nâng đỡ bởi bố và mẹ, chúng sẽ cảm thấy thiếu thốn tình cảm, ngày càng trở nên khép kín, cô lập bản thân. Ngoài ra, việc chứng kiến bố mẹ ly hôn cũng sẽ để lại trong lòng chúng một suy nghĩ tiêu cực về hôn nhân. Nhìn rộng ra, một xã hội mà tỷ lệ ly hôn cao chắc chắn cũng cho thấy một sự xáo trộn ít nhiều trong nếp sống của người dân, sự phát triển kinh tế và chất lượng cuộc sống của toàn thể cộng đồng.

Có những cặp ta cứ ngỡ là “thanh mai trúc mã” vậy mà cũng ly hôn. Có những người phải rất khó khăn và đấu tranh rất nhiều mới đến được với nhau, câu chuyện tình của họ đã khiến nhiều người cảm động, cuối cùng cũng chia lìa. Vì thế, có lẽ một trong những vấn đề mà các bạn trẻ chuẩn bị quyết định kết hôn lo sợ là liệu mình và “một nửa định mệnh” kia của mình có đủ yêu thương, quan tâm, bao dung, để cùng nhau vượt qua tất cả những khó khăn chông gai trên con đường tạo lập hạnh phúc phía trước hay không.

Chúng tôi thiết nghĩ người có thể cho các bạn câu trả lời chính xác và phù hợp nhất là những cặp vợ chồng cao niên, những người đã trải qua trăm ngàn kinh nghiệm sương gió, có khi tưởng chừng chẳng thể tiếp tục sánh vai, vậy mà đến bây giờ, họ vẫn còn sống hạnh phúc với nhau. Những người mừng 30 năm, 40 năm, 50 năm, thậm chí nhiều hơn nữa, ngày hôn phối của họ. Người gần gũi nhất có thể là bố mẹ, ông bà, cô chú…

Hơn ai hết, họ sẽ chia sẻ cho các bạn những bài học xương máu và hết sức thực tiễn. Dưới đây, chúng tôi chỉ có thể chia sẻ với các bạn một vài bí quyết trên bình diện lý thuyết, dựa trên những nghiên cứu và kinh nghiệm ngàn đời truyền lại. Có thể nó sẽ không cụ thể và giúp ích cách trực tiếp, nhưng nó sẽ vạch ra một đường hướng, giúp các bạn biết cách phải làm sao để xây dựng hạnh phúc cho gia đình nhỏ của mình.

Một vài chỉ dẫn

Chúng tôi nghĩ là với các bạn Công Giáo, không cần phải nhắc lại điều tiên quyết là phải cố gắng tạo lập một bầu khí thiêng liêng trong gia đình. Cùng nhau đi lễ, đọc kinh, dạy bảo con cái theo đường hướng Kitô giáo, tham gia các hoạt động của giáo xứ cách tích cực… chắc chắn sẽ giúp các bạn rất nhiều trong việc xây dựng gia đình. Sau đây sẽ là những chỉ dẫn khác mang tính tâm lý nhiều hơn.

Cần phải biết nâng niu tình yêu, vì tình yêu không phải là cái lãnh nhận một lần cho tất cả. Tình yêu không phải là cái trơ trơ năm này qua tháng khác. Tình yêu hệt như một em bé dễ thương, nằm ngọ nguậy, khóc oe oe, đòi mẹ chăm sóc. Tình yêu hệt như cây non cần được chăm bón, tưới nước, cắt tỉa. Tình yêu cũng như chiếc bình ngọc thạch quý giá, cần được người khác nâng niu, chìu chuộng và thưởng thức nhẹ nhàng. Không chăm sóc cho tình yêu, không nâng niu tình yêu, nó sẽ lụi tàn đi, héo úa đi, chết đi ngay lập tức.

Vậy nên, khi đã yêu, ta hãy chăm lo cho tình yêu bằng những lời nói dịu ngọt, bằng sự nâng đỡ chân thành, bằng những quan tâm sâu sắc. Những bữa ăn thân mật, những cánh hoa bất ngờ, những nụ cười nhẹ, cái nắm tay, một nụ hôn truyền sức sống… tất cả đều là những “lương thực” rất tốt để nuôi dưỡng tình yêu.

Trong tình yêu, rất cần sự chung thuỷ và một sự trong sáng dành cho nhau. Một trong những nét tuyệt vời của tình yêu chính là “sự ích kỷ” của nó. Nó không thích bị chia sẻ. Nó muốn một sự trọn vẹn. Chỉ yêu một nửa thì không phải là yêu. Thậm chí, yêu đến 99% thì cũng không phải là yêu. Trái tim sẽ không thể chịu đựng được khi bị chia cắt làm hai, làm ba hay làm nhiều phần. Chỉ khi nào người ta trao dâng cho nhau một trái tim nguyên vẹn, trái tim ấy mới giúp cả hai thăng tiến và hưởng nếm hương vị ngọt ngào của tình yêu.

Khi đã yêu, ta muốn mình trở thành “nhất” trong mắt người yêu và người yêu của mình cũng có một ước muốn như vậy. Một con tim không thể cùng một lúc trao cho nhiều người được. Khi trao con tim mình cho ai, ta trao cho người ấy trọn vẹn con người mình, không để sót lại điều gì cả. Thế nhưng, có một nghịch lý thường tồn tại trong ta là ta đòi hỏi người yêu mình phải chung thủy với mình, còn mình thì lại buông thả, yêu vô tội vạ. Ta cảm thấy đau khi bị người mình yêu phản bội, nhưng ta chẳng hề nghĩ đến cảm xúc của người khác khi mình phản bội người ta. Ta cao ngạo, cho rằng mình quá tuyệt vời đến độ không thể chỉ dành cho một người, nhưng khi người kia cũng có thái độ như vậy thì ta không chấp nhận được. Ta lồng lộn lên với bao cảm giác tức tối. Để tình yêu được triển nở, ta không được phép chia đôi con tim, không được phép thả lỏng mình chiều theo những cảm xúc thấp hèn. Đó là quy luật mà ta không thể phá bỏ được. Nó đòi hỏi ta phải hy sinh rất nhiều.

Để tình yêu tồn tại, cũng cần một sự tôn trọng lẫn nhau. Dù tình yêu đòi sự độc nhất, nhưng nó cũng không chấp nhận một sự bó buộc hay kiềm kẹp nào. Một tình yêu sẽ chết khi người ta bóp nghẽn nó trong lòng bàn tay, chứ không để cho nó tự do tung tăng bay nhảy. Một tình yêu đích thực thì không làm cho người ta mất tự do, bị tù túng, nhưng làm cho người ta thấy mình được triển nở và thành toàn một cách thật sung mãn.

Hãy cố gắng vun đắp và gìn giữ tình yêu, nhưng hãy làm điều đó bằng sự chân thành, bằng con tim nồng ấm, chứ đừng bằng những thủ đoạn và những toan tính đầy ích kỷ và muốn chiếm hữu của ta. Khi một tình yêu được trao ban, nó sẽ tự tìm đường để bắt gặp một tình yêu đồng điệu khác. Ta không cần phải vẽ đường cho nó, không cần lèo lái nó theo ý muốn chủ quan của ta.

Lý do là vì lý trí không thể bắt trái tim yêu hay không yêu ai được. Yêu một người, hiển nhiên là mong muốn người ấy thuộc về mình, nhưng không phải là buộc người ấy phải cắt đứt tất cả mọi tương quan và sở thích của người ấy. Yêu một người thì cũng yêu luôn tất cả những thế mạnh và điểm yếu của người ấy. Yêu một người là cùng xây đắp với nhau con đường chung để hai người cùng bước. Yêu một người tuyệt nhiên không phải là đưa người ấy vào trong vòng kiểm soát của mình. Làm như thế, tình yêu sẽ mất đi khoảng không để vùng vẫy. Khi ấy, hoặc là nó sẽ tuột khỏi bàn tay ta, hoặc là nó sẽ vỡ vụn.

Để được như thế, bản thân mỗi bên phải thay đổi chính mình. Phải bỏ đi cái tôi kiêu hãnh. Phải biết hạ mình khiêm tốn. Phải dành cho nhau những hy sinh. Phải biết nghĩ đến người mình yêu mà phấn đấu cải thiện bản thân, biến mình trở nên tốt hơn, tuyệt vời hơn để xứng đáng với tình yêu ấy. Yêu là một lời mời gọi bản thân bước vào một thế giới mới, nơi đó, con người cũ xấu xí và bất xứng của mình phải bị bỏ lại đàng sau. Dĩ nhiên, ta không khoác lên mình một bộ mặt tốt đẹp giả tạo. Ta cũng không thể biến thành một con người hoàn toàn khác. Ta cũng chẳng thể bỏ được những thói hư tật xấu của mình trong một thoáng chốc. Nhưng để tình yêu của mình được lớn lên và đơm hoa kết trái, ta phải biết sửa chữa những gì “chưa được” nơi bản thân, để có thể cùng người mình yêu tiến đến một sự hoà hợp hoàn hảo trong cuộc sống chung của hai người.

Khi vợ chồng có vấn đề, hãy nhớ lại những khoảng thời gian cả hai đã hạnh phúc bên nhau. Hay như người ta vẫn nói, khi muốn kết thúc, hãy nghĩ đến lý do mà mình đã bắt đầu. Đặc biệt, hãy nghĩ đến con cái của mình. Tình yêu và sự hy sinh dành cho con cái có thể giúp hai bên kiềm chế bản thân, kiềm chế cảm xúc và suy nghĩ chín chắn hơn. Con cái là kết tinh tình yêu vợ chồng. Chúng có thể giúp hàn gắn những hiểu lầm, thậm chí có thể cho chúng ta sức mạnh để tha thứ cho nhau.

Khi mọi chuyện đã vượt quá tầm kiểm soát của hai bên, có lẽ chúng ta cần sự can thiệp và giúp đỡ của những người lớn hơn. Chúng ta nên thưa chuyện với bố mẹ, anh chị hoặc người nào đó có tiếng nói, có sự khôn ngoan và thông thái để cho chúng ta những lời khuyên hữu ích. Phải biết ngồi xuống và lắng nghe. Đừng lúc nào cũng khăng khăng ý riêng.

Nói tóm lại, mọi hướng dẫn và phương pháp chỉ là kỹ thuật bên ngoài, điều quan trọng chính là tình yêu mà hai bạn dành cho nhau. Nếu các bạn có đủ yêu thương, các bạn sẽ biết phải làm gì. Tìm được một người chịu kết hôn với mình là điều không dễ dàng, đừng vì một chút ích kỷ và nóng vội mà đánh mất nó.

Mong sao với ơn trợ lực của Chúa, các gia đình, đặc biệt là các gia đình Công Giáo luôn theo gương Thánh Gia và trở nên chứng nhân cho tình yêu Thiên Chúa giữa cuộc đời.

Ngoài ra, bạn có thể xem thêm các bí quyết khác trong loạt bài Bí quyết hôn nhân hạnh phúc tại đây!


(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (25.4.2021)

----------
[1] Xem thêm tại: https://afamily.vn/giat-minh-ve-con-so-thong-ke-cua-gia-dinh-viet-20090626103055685.chn

---------------------------------

 

Bài 50: GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO ĐÓNG GÓP CHO XÃ HỘI VIỆT


Phương An, CND _CSA

Hỏi: Con thấy người Công Giáo thường có những khác biệt trong xã hội nước mình. Vậy gia đình Công Giáo đóng góp điều gì cho xã hội Việt Nam hiện tại?

Trả lời:

Lúc khởi đầu, Thiên Chúa dựng nên người nam, nữ để họ sống bên nhau và bổ túc cho nhau. Hôn nhân có chỗ đứng quan trọng trong chương trình của Chúa. Gia đình là nguồn gốc, cơ sở và nền tảng của xã hội. Tuy nhiên, vài quan niệm trong xã hội hiện nay mà gia đình Công Giáo không thể theo đường lối ấy, như phá thai, ly dị,…

Bài viết xin đương cử một số nét tích cực của các gia đình Công Giáo trên đất Việt. Trong cuộc sống nhân sinh, cho tới bây giờ, họ vẫn cố hết sức giữ các giá trị Kitô giáo. Ấy là cảm thức về tầm quan trọng của nhân phẩm, nhân quyền, tự do theo Thần Khí, văn minh tình thương và sự sống, tinh thần các mối phúc, v.v.

1. Thủy chung

Bí tích hôn phối: vẻ đẹp độc đáo và chứng tá bền vững của hôn nhân Công Giáo. Hai người nam nữ đưa nhau đến Nhà Thờ, sánh duyên với nhau, sinh con cái, lập thành mái ấm có Chúa hiện diện ở giữa. Do đó, gia đình Công Giáo còn là gia đình thiêng liêng, siêu nhiên. Vợ chồng tùng phục, yêu thương và tôn trọng nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan. Đó là lời thề trước mặt Giáo Hội: thuộc về nhau và thuộc về Chúa. Họ phải trung thành suốt mọi ngày trong đời vì được Thiên Chúa se kết và không thể phân ly. Giáo Hội không chấp nhận việc ly dị và hôn nhân đồng tính vì nó trái tự nhiên và luật Chúa. Sự trung tín của cha mẹ sẽ giúp con cái và xã hội không phải khổ vì những cuộc chia ly cùng với hậu quả kéo theo của nó!

2. Công bình và bác ái

Gia đình Công giáo thực thi giới răn trọng nhất: “thờ Chúa và thương người thân cận như chính mình”. Vì xác tín mọi người là con cùng một Cha, họ không để người nghèo bị loại ra ngoài. Nhiều người Công giáo ở mọi độ tuổi tham gia các hoạt động xã hội; đồng thời cố gắng đem vương quốc bình an đến những nơi còn bất công, tàn bạo. Giữa môi trường họ đang sống, người Kitô hữu biểu lộ khả năng cảm thông và đón nhận, chung chia số phận với kẻ khác trong nỗ lực nhằm đạt những gì cao quý hơn.

Chẳng hạn:

- Các bạn trẻ đến đọc sách cho người khiếm thị ở mái ấm.

- Tổ chức “mùa hè vui”, dạy học và tạo thư viện lưu động cho thiếu nhi vùng sâu.

- Tham gia làm sạch môi trường, tình nguyện hiến máu.

- Hàng tuần, các bà mẹ Công Giáo có những “bữa ăn tình thương” cho người khuyết tật, đi thăm viếng và an ủi kẻ liệt, người già neo đơn, di dân, bệnh nhân.

- Thiếu nhi sẵn lòng thực hành việc tốt mỗi ngày theo sức của mình.

- Các vị cao niên thì đọc kinh cầu nguyện cho mọi người.

- Nhiều gia đình có suất học bổng cho sinh viên nghèo, nhận cưu mang trẻ mồ côi, chia sẻ mùa chay, khoan giếng, dựng nhà cho người gặp khó khăn.

Bạn có thể thường xuyên nhìn thấy họ tỏ tình liên đới cách âm thầm, phục vụ như một điều tự nhiên.

3. Mối tình Ba Ngôi hiệp nhất

Gia đình là nơi cuộc sống bắt đầu và tình thương không kết thúc; là mái trường đầu tiên cho trẻ thơ học tương giao, nhân bản, giúp phát triển toàn diện, thăng tiến và khám phá chính mình. Không những thế, gia đình Công Giáo cùng nhau sống từ bàn tiệc của ăn tới bàn tiệc Thánh Thể, qua đó, các thành viên tạo mối thâm tình sâu sắc trong cộng đoàn nhỏ tại gia.

Điều đó không dễ, nhưng họ phải “bắt đầu và lại bắt đầu” tạo bầu khí chan hòa, hiệp thông. Cha mẹ thương nhau – tấm gương sáng chói – là sự ngưỡng mộ của con cái. Họ sẽ cho ra đời những người trưởng thành có tuổi thơ ấm áp, tin tưởng lẫn nhau. Được nuôi dưỡng bằng dòng sữa tình mến, Giáo Hội tại gia trở thành tế bào xã hội viên mãn – cộng đồng đẹp giữa trần gian.

4. Yêu quê hương

Ai sinh ra cũng gắn bó với quê hương. Có những người, vì hoàn cảnh, phải phiêu bạt, xa nơi chôn nhau cắt rốn. Nhưng có lẽ, tình yêu ấy luôn chảy trong lòng những người dân trên mảnh đất hình chữ S này. Gia đình là điểm tựa, bến đỗ cho mỗi người. Các thành viên của ngôi nhà ấy còn là công dân trong một chính thể xã hội, nên họ phải tôn trọng luật lệ quốc gia. Tôi tớ Chúa, Ðức Hồng Y P.X. Nguyễn Văn Thuận nhắn nhủ:

Là người Công Giáo Việt Nam, con phải yêu Tổ Quốc gấp bội.
Chúa dạy con, Hội Thánh bảo con.
Cha mong giòng máu ái quốc, sôi trào trong huyết quản con.
... Con phục vụ hết tâm hồn, con trung thành hết nhiệt huyết.
Con bảo vệ bằng xương máu, con xây dựng bằng tim óc.
Vui niềm vui của đồng bào, buồn nỗi buồn của Dân Tộc[1],…

Vì cùng một tổ quốc, gia đình Công Giáo luôn muốn mở lòng với mọi bạn hữu, đồng hành với dân tộc, đùm bọc lẫn nhau. Nhiều người đã hợp tác để xây dựng quê hương: Giới trí thức cộng tác trong công việc giáo dục. Giới y khoa lo chăm sóc y tế. Sinh viên tích cực làm xanh sạch đẹp môi trường, góp phần đẩy lui tệ nạn bằng cách thay vào đó những điều tốt đẹp. Các thành phần khác sẵn sàng cống hiến, giúp đỡ dân mình.

Điển hình, họ đã gặp nhau, đưa ra đề xuất sáng tạo, đóng góp cách vô vị lợi, vô điều kiện, cho việc ngăn chặn cơn đại dịch Covid–19 vừa qua. Họ hiện diện ở tất cả mọi nơi, trước mặt người đời, để mang lại cho đất nước gương mặt rạng ngời về tình người. Bên cạnh đó, dù công nghệ số phát triển, người trẻ năng động hơn, nhưng họ vẫn cố giữ bản sắc dân tộc, sự trong sáng của tiếng Việt, học biết về lịch sử, văn hóa của dân mình.

5. Truyền thống gia đình

Gia đình Công Giáo là cái nôi sự sống, lớp học đầu đời về giá trị đạo đức và niềm tin. Đó còn là ngôi nhà thờ phượng, nơi ấy, các thành viên được chăm lo, huấn luyện về phương diện thể chất,  tinh thần, được giáo dục trở thành Kitô hữu tốt. Sau những giờ kinh chung, họ vui vẻ trò chuyện với nhau. Thiếu nhi đến với lớp giáo lý, hướng đạo,... và có cơ hội được đào tạo, giao lưu, tương quan bằng hữu, tham gia hoạt động cộng đồng, mở rộng và rèn luyện trong nhiều lĩnh vực, từ đó có khả năng đối diện thách thức.

Hơn nữa, các cha mẹ quảng đại thường khích lệ con cái đáp lại tiếng gọi hiến dâng, xả thân giúp đời, sống tử tế, khiêm tốn, không chửi thề nhưng kiến tạo tình huynh đệ đại đồng, nghĩ tới tha nhân – vẻ đẹp của lòng thương xót, kín múc sức mạnh thiêng liêng từ cầu nguyện, trân quý sự sống, gần gũi và hòa hợp với thiên nhiên. Mong sau này ra đời, họ cố giữ môi trường làm việc minh bạch, lương thiện, bênh vực sự thật,...

6. Đối thoại liên tôn và đại kết

“Đối thoại là sinh hoạt có phẩm cách riêng, được hướng dẫn bởi sự tôn trọng sâu đối với những gì Thánh Thần, “Đấng thổi ở đâu tuỳ ý Ngài”, đã tác động trong con người. Giáo hội khám phá “hạt giống của Ngôi Lời”, “những tia chân lý soi dọi mọi người” được tìm thấy nơi những con người trong các truyền thống tôn giáo”[2]. Người Công Giáo Việt tiếp xúc ngày càng nhiều với các đồng bào tín đồ tôn giáo khác. Họ gặp gỡ, cộng tác với anh chị em tôn giáo bạn. Thí dụ: Phòng khám Kênh 7: các thành viên trong gia đình Phật Giáo, Tin Lành và Công Giáo cùng làm việc với nhau. Đó không phải là xây dựng sự hòa hợp dân tộc sao?

7. Kính nhớ tổ tiên

Gia đình Công Giáo ráng dạy trẻ học cám ơn, trước hết là tri ân Chúa, nhớ ơn các bậc sinh thành, những người đã làm ơn cho mình dù chỉ là một điều rất nhỏ.

Gia đình tôi có người thuộc tôn giáo bạn. Khi tôi hỏi họ ấn tượng điều gì nhất ở đạo Công Giáo, người đó nói, họ “ưa” cách bên Công Giáo tổ chức lễ tang cầu nguyện cho người đã ra đi. Điều ấy thật chân tình, linh thiêng, ấm áp và “có hậu”. Lúc đưa tiễn người thân ra nơi an nghỉ cuối cùng, giáo dân và gia đình hát, đọc kinh, cha và các hội đoàn hiệp thông chia sẻ với gia quyến, không rải vàng mã gây ô nhiễm môi trường,... Do vậy, họ thích được kết thúc hành trình cuộc đời theo nghi thức Công Giáo!

Thật vậy, người Công Giáo tin có đời sau, có sự thông công. Các thánh trên thiên quốc chuyển cầu cho chúng ta. Còn chúng ta, những ngày đặc biệt như mồng ba tết và tháng 11, ngày giỗ và hằng ngày cầu nguyện, xin lễ cho ông bà, để nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục. Nhiều gia đình thường đến thăm người quá cố tại nhà chờ Phục Sinh hoặc ra đất thánh viếng mộ. Ấy là một phong tục đẹp về đạo hiếu mà ông cha ta lưu truyền và được đưa vào nghi lễ Công Giáo.

Bạn và tôi đều từng được sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công Giáo và cùng sống trong một bối cảnh xã hội. Chắc bạn hiểu, ngày nay có nhiều biến động trong gia đình: tục hóa, sống ảo, sống vội, buông thả, trào lưu hưởng thụ, con cái đi học hay làm xa nhà, chủ nghĩa cá nhân, bạo lực, kỹ thuật số đã kéo thành viên trong gia đình “tuy gần mà xa”. Cho nên, một số gia đình Công Giáo Việt Nam chưa sống được như những ý nêu trên, nhưng đó là ao ước của họ. Xin Thánh Gia Thất giúp các gia đình được vững vàng tin yêu trước mọi thử thách...

“Đức Giêsu được sinh ra và lớn lên trong một gia đình cụ thể và đem lại cho gia đình những phẩm giá sung mãn, cao quý nhất. Gia đình cũng tìm được nền tảng vững chắc nhờ đặt trong viễn tượng mới mẻ ấy”[3]. Mong rằng các gia đình Công Giáo sống tình làng nghĩa xóm mặn nồng, dốc tâm lực dấn thân cho dãy đất Việt này, để đạo Công Giáo mãi là “đạo yêu thương”.

Dĩ nhiên bạn có thể liệt kê nói tiếp danh sách trên đây! Bạn nhé!

 (Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (2.5.2022)

-----------
[1] P.X. Nguyễn Văn Thuận. Đường Hy Vọng. Trang 83–84.
[2] x.Thông điệp Đối Thoại và Rao Truyền RM
[3] Bản Tóm lược Học thuyết Xã Hội, số 210

---------------------------------

 

Bài 51: VỢ, HAY “CON VỢ”?


Maria Antôn Quỳnh Thoại

Hỏi: Mỗi khi tham dự lễ cưới, con nghe bài đọc cho rằng vợ phải phục tùng chồng như Giáo Hội phục tùng Đức Giêsu. Vậy phải hiểu chữ phục tùng như thế nào? Con cảm thấy có vẻ không có bình đẳng giữa vợ chồng!

Trả lời:

Nó phải mất cả tháng để học thuộc bản độc tấu piano “Mariage d'amour” (có nghĩa là cuộc hôn nhân đến từ Tình Yêu) do nhạc sĩ Paul de Senneville biên soạn. Vừa đánh, nó vừa thưởng thức giai điệu, nghĩ về tình yêu của cha mẹ nó, tưởng tượng ngày hai ông bà cầm tay nhau trong nhà thờ, còn xưng anh, em ngọt xớt nữa chứ:

– Anh là … nhận em… làm vợ… để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời!

Và mẹ cũng đáp lại y chang:

– Em là … nhận anh … làm chồng … để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời!

Sự yêu thương và tôn trọng mà cha mẹ nó dành cho nhau phát xuất từ sự tự nguyện, cùng với sự chứng giám của cộng đoàn, và bà con hai họ. Lời hứa gắn kết nên một của cả hai trong tình yêu được thể hiện qua những chung chia vui buồn của cuộc sống gia đình. Cha mẹ đã để mình liên lụy nhau trong bổn phận và trách nhiệm giáo dục con cái. Chính Thánh Phaolô cũng đã nhắn nhủ những ai trong bậc gia đình, rằng:

“Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh chị em hãy tùng phục lẫn nhau. Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa. Vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng Cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy.

Người làm chồng hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tì ố, không vết nhăn, hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ, trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người. Sách thánh có lời chép rằng: Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh. Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng”. (Ep. 5, 28. 21–33)

Trong thư trên, nhiều người có lý khi thắc mắc rằng: Thánh Phaolô chỉ chủ tâm khuyên bảo người vợ phải “phục tùng” chồng mình? Ngài lặp đi lặp lại những bốn lần “phải phục tùng”, trong khi đối với người chồng, thánh nhân lại nhấn mạnh là “phải yêu thương” vợ. Hôn nhân, nhìn chung là vì tình, như cuộc hôn nhân của cha mẹ nó, để yêu thương và tôn trọng nhau trong tự do và bình đẳng.

Vậy thì tại sao vợ phải phục tùng chồng, mà chồng thì không làm vậy với vợ? Không ổn rồi! Một bạn trẻ đặt vấn đề. Mỗi dịp dự lễ hôn phối, nghe lời Chúa dạy “người làm vợ phải phục tùng chồng”, bạn cảm thấy dường như không có sự bình đẳng trong hôn nhân Công giáo. Tưởng cái thời “trọng nam khinh nữ” chỉ là tàn dư của xã hội phong kiến, nhưng xem ra, vị trí của người vợ trong gia đình, theo cái nhìn của giáo hội, vẫn thấp kém và thụ động trước uy quyền của người chồng.

Trong xã hội hiện đại như hôm nay, hai chữ “phục tùng” dường như không còn phù hợp nữa trong tương quan vợ chồng. Có phải “chồng chúa vợ tôi” nữa đâu mà phải phục tùng? Theo cái nhìn của các nhà nữ quyền, đó là một kiểu áp bức, phân biệt đối xử theo giới, và thiếu công bằng đối với người nữ, người làm vợ. Hay là vì “đàn ông sao hỏa, đàn bà sao kim” nên từ đó mặc định đàn bà chỉ cần được quan tâm, yêu thương, chìu chuộng là đã hạnh phúc lắm rồi; còn đàn ông thì mạnh mẽ, quyết đoán, gia trưởng, nên họ cần lắm người phụ nữ ít nói, dễ bảo, biết tôn trọng và phục quyền mình?

Để giải đáp cho vấn đề trên, thiết nghĩ chúng ta hãy cùng nhau đọc lại và tìm hiểu thêm về bối cảnh và ý nghĩa thực sự của “phục tùng” theo tinh thần Thánh Kinh, biết đâu đằng sau hai chữ phục tùng là một bài học còn dang dở chờ chúng ta suy gẫm, để hiểu cho đúng, và áp dụng sao cho hợp ý Chúa.

Bối Cảnh:

Đọc hết từ đầu đến cuối bức thư Thánh Phaolô gửi cho giáo đoàn Êphêsô, ta sẽ thấy được mấu chốt của vấn đề không nằm ở hai chữ “PHỤC TÙNG” mà là hai chữ “NHƯ CHÚA”. Không cần biết vợ/chồng phải làm gì cho nhau, miễn “NHƯ CHÚA” là ổn. Vì có Chúa ở đâu là mọi chuyện sẽ khác, khác từ ý nghĩa lẫn hành động. Thâm ý của Thánh Phaolô là dùng hình ảnh hôn nhân để diễn tả “mầu nhiệm cao cả” giữa Đức Kitô và Hội Thánh: Ngài đã nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh là thân thể Ngài (Ep 5,32). Sự nuôi nấng và chăm sóc này được diễn ra trong tình yêu hy sinh hiến tế, bất chấp tính mạng. Và Hội Thánh, là mỗi người chúng ta, được mời gọi để đáp lại tình yêu này qua sự phục tùng Đấng đã yêu mình hơn sinh mệnh.

Dù ảnh hưởng của cả hai nền văn hóa Hi Lạp và Do Thái, nhưng Thánh Phaolô không nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo, gia trưởng của người chồng, người cha trong gia đình. Ngài dùng rất nhiều động từ “yêu thương”, “nuôi nấng”, “chăm sóc”, “gắn bó”, để đưa người chồng đi vào tương quan với vợ mình. Nếu sự phục tùng là thái độ, và hành động phải có nơi người vợ, thì tất cả những gì thánh Phaolô đòi hỏi nơi người chồng chính là chất xúc tác để sự phục tùng ấy được triển nở, trong thái độ tôn trọng.

Vậy đó, như bản “Mariage d'amour” dịu dàng, sâu lắng, man mác chút buồn, tình yêu hoàn mỹ nơi Đức Kitô, hay tình yêu nơi vợ chồng sẽ khiến họ tự nguyện cho đi bản thân mình, chứ không phải quyền bính nào buộc họ phải phục tùng và yêu thương.

Ý Nghĩa:

“Phục Tùng” trong tiếng Hi Lạp “Hypotassō”, tạm dịch là “ở dưới quyền, lệ thuộc vào ai hoặc điều gì đó”[1]. Quả thật, chế độ gia trưởng của Do Thái cũng ảnh hưởng ít nhiều ở đây khi đặt người chồng là “trụ cột”, là chủ gia đình, và đòi hỏi người vợ, những người phụ nữ phải “dựa cột mà nghe”. Tư tưởng phụ thuộc này cũng đã được thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh, nhà công tác xã hội nổi tiếng của Việt Nam chất vấn khi một số phụ nữ Việt vẫn còn xem sự tùng phục là đạo đức, là “nữ tính”[2].

Bà Oanh cho rằng, nhà có hai trụ cột thì sẽ vững hơn là một trụ. Trở lại ý nghĩa của sự phục tùng trong Kinh Thánh, chúng ta phải hiểu sự phục tùng của người vợ đối với chồng được đặt trong mối tương quan giữa Hội Thánh và Đức Kitô: “Như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy” (Ep 5,24). Vậy, phải hiểu Hội Thánh đã tùng phục Đức Kitô như thế nào để người vợ biết mà bắt chước? Theo Tim Challies, ông đưa ra năm cách thức để diễn tả sự phục tùng mà Hội Thánh dành cho Đức Kitô:

Một, phục tùng với thái độ LẮNG NGHE. Hội thánh, dân Thiên Chúa, tin vào quyền bính của Đức Kitô, Đấng là vua vũ trụ. Mọi sự Ngài truyền dạy đều có uy quyền và được thực thi. Thái độ lắng nghe là một quá trình dài của sự đối thoại trong thảo luận, chia sẻ, phân định và cuối cùng là lựa chọn phục tùng.

Hai, phục tùng với thái độ SẴN LÒNG. Khác với kiểu phục tùng kiểu chủ–tớ, bị ép buộc bởi quyền bính, hội thánh phục tùng Đức Kitô trong tâm thế tự giác. Việc tuân theo các lề luật, giới răn Chúa truyền giúp các Kitô hữu yêu mến và hướng tới sự hoàn thiện hơn. Cho nên, khi phục tùng, họ phục tùng với, chứ không phải phục tùng dưới quyền bính.

Ba, phục tùng cách TỰ TIN. Khác với các bạn thuộc tôn giáo khác, mỗi người Kitô hữu chúng ta đều được học để nhận biết và đi vào mối tương quan với Đức Kitô. Chúng ta biết Ngài không phải là một Thiên Chúa xa lạ nhưng là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống. Phục tùng và đi theo đường lối, sự hướng dẫn của Ngài, chúng ta sẽ luôn bình an.

Bốn, phục tùng cách NĂNG ĐỘNG. Vì mỗi người chúng ta được dựng nên cách độc nhất. Chúng ta được trao cho những nén bạc khác nhau nên cũng phải phát huy và phục tùng Ngài bằng tất cả những gì chúng ta có cách mau mắn, sáng tạo, và chủ động.

Năm, phục tùng cách TRỌN VẸN. Hội Thánh phục tùng Đức Kitô trong mọi sự. Dụ ngôn những người đầy tớ trung tín và những nén bạc, họ đã sinh lời từng nén bạc được giao phó, toàn tâm toàn ý để đầu tư sinh lợi cho những gì mình được ban phát.

Từ những cách thức trên: lắng nghe, sẵn lòng, tự tin, năng động, và trọn vẹn, ta học được sự phục tùng của Hội Thánh dành cho Đức Kitô. Đó không chỉ là hành động của ý chí con người, nhưng được sự tác động của Chúa Thánh Thần, và ơn sủng Chúa.

Thế cho nên, để bắt chước sự phục tùng của Hội Thánh, người vợ cũng hãy tự tin, năng động, sẵn lòng, lắng nghe, và toàn tâm toàn ý với chồng mình. Sự phục tùng này xuất phát từ chọn lựa của người vợ muốn hỗ trợ và giúp đỡ chồng mình thực hiện sứ mạng “trụ cột” gia đình[3]. Sự phục tùng này không làm giảm đi giá trị và vai trò của người vợ trong gia đình. Nhưng trái lại, nó làm triển nở đời nhau và đưa cuộc hôn nhân của họ trở thành dấu chỉ của sự hiệp nhất và tình yêu của Thiên Chúa giữa lòng Hội Thánh. Tình yêu này liên kết cả hai thành “đôi bạn”, hay chúng ta hay gọi họ là “bạn đời” của nhau. Mà trong tình bạn thì họ đối xử bình đẳng và tôn trọng nhau. Nên những người làm chồng, hãy yêu thương và tôn trọng vợ mình như một cá vị! Họ là vợ, chứ không phải “con vợ”.

 (Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (9.5.2022)

----------
[1] Margaret Y. MacDonald. Colossians Ephesians. Sacra Pagina Series 17.
[2] Nguyễn Thị Oanh. Phụ Nữ Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Đại Hóa, 15.
[3] “The Biblical Meaning of Submission in Marriage for Wives”. Cornerstone. Marriage and Family Ministries. Accessed on October 1, 2020. https://www.marriageministry.org/the-biblical-meaning-of-submission-in-marriage-for-wives/ 

---------------------------------

 

Bài 52: TÓM LƯỢC ĐẠO CÔNG GIÁO


Rômualđô M. Bùi Văn Nghĩa, CRM

Hỏi: Xin tóm tắt ngắn gọn giúp con về đạo Công Giáo được không ạ?

Trả lời:

“Tóm tắt ngắn gọn đạo Công Giáo” là một việc làm không dễ chút nào, vì đây là một đề tài quá lớn, quá rộng. Nhiều khi trải qua mấy lớp giáo lý mà sự hiểu biết vẫn chưa đâu vào đâu. Tuy nhiên, đây là một ý tưởng hay, và có thể là một việc làm hữu ích, giúp chúng ta có được một cái nhìn khái quát, tổng thể về giáo lý của Hội Thánh cũng như chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Vì là tóm tắt, nên người viết chỉ xin tập trung vào mấy ý chính sau:

Niềm Tin của người Công Giáo

Ở Việt Nam, đạo Công Giáo thường được gọi là đạo Thiên Chúa. Tuy đó không phải là tên gọi chính thức, nhưng xét về từ ngữ thì danh xưng đạo Thiên Chúa là rất hợp lý, vì tôn giáo này tôn thờ Thiên Chúa là Chủ tể vũ trụ vạn vật. 

Niềm tin này con người có được không chỉ nhờ những tìm tòi và suy luận bằng lý trí tự nhiên, mà còn nhờ ơn mạc khải của chính Thiên Chúa. Nghĩa là chính Thiên Chúa đã tỏ cho con người biết về Ngài và chương trình cứu độ của Ngài dành con người qua Thánh Kinh, một bộ sách do chính Ngài đã linh hứng cho một số người viết ra.

Tín điều căn bản hàng đầu của người Công Giáo là chỉ có một Thiên Chúa duy nhất. Ngài diễn tả mình là Đấng Tự Hữu, tức tự mình mà có, không do ai tạo thành, Ngài vẫn có từ trước vô cùng và tồn tại mãi vô cùng. Ngài là Đấng thiêng liêng siêu việt, không bị lệ thuộc vào không gian và thời gian. Ngài đã tạo dựng nên muôn loài muôn vật từ hư vô. Việc tạo dựng này có thể là một tiến trình tiệm tiến lâu dài.

Công trình tạo dựng này bao gồm thế giới thiêng liêng vô hình là vô số các thiên sứ; và thế giới hữu hình là các thực thể vật chất: mặt trời, trăng sao, trái đất, cây cỏ, dã thú, chim trời, cá biển… Giữa các thực thể đó, Thiên Chúa đã dựng nên loài người có hồn và xác, có lý trí, có tự do và có tình yêu. Con người là tác phẩm tuyệt hảo của Thiên Chúa, được Thiên Chúa ban cho những phẩm tính giống như Ngài, được mời gọi thông chia vào chính sự sống thần thiêng của Ngài và được Ngài trao quyền làm chủ vũ trụ.

Người Công Giáo cũng tin vào Đức Giêsu Kitô, con một Thiên Chúa và cũng là Thiên Chúa, Đấng đã giáng sinh làm người để cứu chuộc loài người thoát vòng tội lỗi. Loài người thay vì sống theo thánh ý Chúa, đã chạy theo tham vọng của mình mà quay lưng lại với Đấng tạo thành, phản bội lại tình yêu của Ngài, đã sa ngã trước cám dỗ và ngày càng ngập chìm trong tội lỗi, chuốc lấy khổ lụy và chết chóc.

Dầu vậy, Thiên Chúa vẫn yêu thương loài người đến nỗi sai con của mình đến để cứu chuộc họ. Để thực hiện kế hoạch này, Thiên Chúa đã tuyển lựa dân tộc Do thái như dân riêng để dọn đường cho Chúa Cứu Thế. Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu thế đã sinh ra trong dân tộc nhỏ bé này. Người đã nhập thể và được sinh ra bởi một người Mẹ nhân đức vẹn tuyền là Đức Trinh Nữ Maria.

Sứ vụ của Đức Kitô là giảng dạy cho nhân loại biết về Thiên Chúa tình yêu và về chương trình cứu độ loài người. Người tuyển chọn nhóm 12 tông đồ làm nền móng cho Hội Thánh Công Giáo, để Hội Thánh tiếp tục sứ vụ của người ở trần gian. Người thiết lập các Bí Tích làm phương tiện truyền thông ơn thiêng cho các giáo hữu.

Cuối cùng, theo đúng như lời đã tiên báo, Người đã hiến thân chịu chết trên thập giá như một lễ tế để đền tội cho mọi người, hòa giải con người với Thiên Chúa, để họ lại có thể được thừa hưởng hạnh phúc vĩnh hằng với Thiên Chúa. Và cũng đúng như lời đã hứa, sau ba ngày, Người sống lại và trở về trời vinh hiển bên Chúa Cha. Chưa hết, Người hứa rằng đến ngày tận cùng của thế giới, Người sẽ lại đến để phán xét toàn thể nhân loại. Kẻ lành được đưa về hưởng hạnh phúc bất tận với Chúa; kẻ dữ phải sa hỏa ngục đời đời.

Cùng với Chúa Cha và Chúa Con, người Công Giáo cũng tin sự hiện hữu của Chúa Thánh Thần, Đấng cùng một bản tính và quyền năng như Chúa Cha và Chúa Con. Ngài là Đấng không thể diễn tả. Chúng ta không biết Ngài cách trực tiếp mà chỉ có thể biết Ngài qua những biểu lộ, những hoạt động và dấu chỉ của Ngài trong lịch sử cứu độ, nhất là qua lời giới thiệu của Chúa Giêsu: “Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy (Ga 15,26); Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13).

Chúa Thánh Thần đã đến với Hội Thánh trong ngày lễ Ngũ Tuần. Ngài không ngừng tác động để đưa thế giới vào thời đại của Hội Thánh. Nhờ quyền năng của Thánh Thần, con cái Thiên Chúa có thể làm được những việc tốt lành và trổ sinh hoa quả là “bác ái, hoan lạc, bình an, quảng đại, nhân từ, lương thiện, trung tín, hiền hòa, tiết độ.” (Gl 5,22–23).

Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là ba ngôi vị khác biệt nhau, nhưng cả ba ngôi có cùng một thiên tính, một vinh quang, một uy quyền vĩnh cửu. Cả ba ngôi cùng là Thiên Chúa, nhưng cả ba ngôi vẫn chỉ là Một Thiên Chúa duy nhất. Trong đó mỗi ngôi hướng về ngôi khác với tất cả tình yêu trao ban và đón nhận. Đây là mầu nhiệm, là chân lý đức tin vượt quá trí khôn hữu hạn của loài người. Để có thể hình dung phần nào, chúng ta hãy nhìn về Mặt Trời để so sánh: Mặt Trời sinh ra Ánh Sáng, Mặt Trời và Ánh Sáng phát ra sức nóng. Mặt Trời – Ánh Sáng – Sức Nóng vừa là ba nhưng vẫn chỉ là một thực tại, phân biệt nhưng không tách biệt.

Hội Thánh Công Giáo

Ban đầu, Chúa Giêsu Kitô chỉ thiết lập có một Giáo Hội duy nhất, cũng như chỉ có một chân lý duy nhất mà Người đã giảng dạy. Theo dòng thời gian, Giáo Hội phát triển lớn mạnh, như một cây đại thụ sum sê cành lá. Điều đáng buồn là đôi khi lại có những cành gãy xuống khỏi cây đại thụ ấy; tức là những nhóm người xa rời Giáo Hội nguyên thủy của Chúa Kitô, lập nên những giáo hội khác:

- Đầu thế kỷ thứ 11 (1054), một nhóm tín hữu bên Đông Âu tự tách ra lập thành Chính Thống giáo, với một số nghi thức mới riêng biệt.

- Đầu thế kỷ 16, vua Henry VIII của nước Anh vì muốn có con trai nối dõi đã xin Đức Giáo Hoàng cho được tiêu hôn để cưới vợ mới, không được chấp thuận nên nhà vua đã ra sắc lệnh tách nước Anh ra khỏi Hội Thánh và lập nên Anh Giáo.

- Năm 1517, ông Martin Luther cùng với một số đồng bạn chủ xướng tại Đức phong trào Kháng Cách để lập thành giáo hội Tin Lành (Protestantism). Từ giáo hội mới này đã nảy sinh ra cả ngàn các hệ phái khác nhau với những giáo thuyết khác biệt ở nhiều nơi. Và rồi mỗi giáo phái, dù lớn dù nhỏ cũng đều nhận rằng chỉ có mình mới là chân chính, là đạo thật.

Nhưng Giáo Hội nguyên thủy của Chúa Kitô – Hội Thánh Công Giáo – vẫn là cây đại thụ sừng sững bao la. Giáo Hội vẫn thủy chung gìn giữ nguyên vẹn mọi giáo huấn và truyền thống của các tông đồ. Giáo Hội không ngừng làm cho giáo lý ấy thêm sáng tỏ và thích nghi theo từng thời đại, vẫn trung thành tuân phục quyền bính các đấng kế vị các tông đồ mà Chúa Giêsu đã đặt. Đặc biệt Giáo Hội Công Giáo Rôma vẫn hiệp thông với Đức Giáo Hoàng là Đấng kế vị thánh Phêrô, thay mặt Chúa Kitô ở trần gian.

Công Giáo có nghĩa là toàn vẹn và phổ quát, vì đạo chứa đựng mọi điều cần thiết để được ơn cứu rỗi. Công Giáo cũng có nghĩa là đạo chung, đạo cho toàn thể nhân loại, đạo dành cho tất cả mọi người không phân biệt màu da, tiếng nói, văn hóa hay địa vị.

Nhờ Hội Thánh và qua Hội Thánh của Chúa Kitô, người tín hữu qua suốt chặng đường dài từ nhỏ tới khi về già, được chăm sóc và nuôi dưỡng bởi các Bí Tích do chính Đức Kitô thiết lập và trao cho Hội Thánh cử hành để ban ân sủng cho con người, đó “là những phương linh nghiệm cho chúng ta được nên thánh”.

- Khi mới sinh ra, con cái Hội Thánh được lãnh nhận chịu phép Thánh Tẩy để được xóa bỏ tội Nguyên Tổ và làm con cái Chúa.

- Khi trẻ em đủ trí khôn thì lãnh phép Thêm Sức để được vững mạnh trong niềm tin nhờ ơn Chúa Thánh Thần.

- Khi có lỗi lầm đáng kể nơi lương tâm, người tín hữu lãnh nhận bí tích Hòa Giải để được ơn tha thứ và bình an.

- Khi tâm tư được thanh sạch, người tín hữu được khuyến khích lãnh nhận bí tích Thánh Thể như của ăn thiêng liêng cho linh hồn, thường được cử hành trong các Thánh Lễ hàng ngày, đặc biệt là ngày Chúa nhật.

- Khi trưởng thành và sẵn sàng sống đời lứa đôi, họ lãnh nhận bí tích Hôn Phối để được thêm ân sủng đặc biệt giúp chu toàn đời sống gia đình.

- Lúc yếu đau bệnh tật và tuổi già, người tín hữu đón nhận bí tích Xức Dầu Thánh để mạnh mẽ và bền đỗ tới cùng trong niềm tin, đồng thời chuẩn bị cho họ cuộc vượt qua sang đời sống vĩnh cửu.

- Riêng với một số người được ơn gọi đặc biệt, họ lãnh nhận bí tích Truyền Chức Thánh để được năng quyền thay mặt Chúa Kitô thực thi ba chức năng: giảng dạy Lời Chúa, quản trị cộng đoàn và cử hành các nghi thức phụng vụ, nhất là Thánh Lễ.

Người Công Giáo vững tin mình thuộc Hội Thánh thực sự được thiết lập bởi chính Thiên Chúa. Họ gặp được nơi giáo huấn của Hội Thánh những điều thích đáng phù hợp với lý trí và lương tâm. Và dù còn nhiều khuyết điểm tội lỗi, với tâm hồn hướng thiện, họ đón nhận lòng nhân từ và chữa lành của Thiên Chúa, nhờ đó họ được thánh hóa.

Niềm hy vọng của người Công Giáo

Nếu hỏi người Công Giáo: Ta sống ở đời này để làm gì? Họ sẽ trả lời: Ta sống ở đời này để tìm hạnh phúc. Mà hạnh phúc thật là hiệp thông với Thiên Chúa. Vì ta được Chúa tạo dựng nên chỉ có Thiên Chúa mới là hạnh phúc thật của ta, hạnh phúc tròn đầy, hạnh phúc vĩnh hằng không bao giờ chán.

Để đạt được hạnh phúc ấy, điều kiện đầu tiên đối với mỗi người là Tin và chịu phép rửa (x. Mc 16,16). Ngoài ra người tín hữu cũng phải biết sống sao cho xứng đáng bổn phận làm con với Cha trên trời và sống theo sự chỉ dẫn của Ngài, được chuyển tải qua bốn hình thức sau:

- Luật tự nhiên Thiên Chúa in trong lương tâm mỗi người, thúc giục con người làm điều thiện, tránh điều ác.

- Mười Điều Răn: là bản đúc kết những điều chính yếu Thiên Chúa truyền cho dân của Ngài, nhờ đó con người biết cách tôn thờ Thiên Chúa là Chúa duy nhất, biết thảo kính cha mẹ, tôn trọng sự sống, danh dự và tài sản người khác, biết giữ gìn bản thân cho thanh sạch xứng đáng là “hình ảnh Thiên Chúa”.

- Lời Chúa dạy trong Kinh Thánh: đây là sách dạy ta cách chắc chắn và không sai lầm những chân lý mà Thiên Chúa muốn ghi lại vì phần rỗi chúng ta. “Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính.” (2 Tm 3,16).

- Giáo huấn và những luật lệ Hội Thánh: với tư cách là Mẹ và là Thầy, Hội Thánh có nhiệm vụ giáo huấn, giúp đưa mọi người vào sự hiệp thông với Thiên Chúa và đạt tới ơn cứu độ.

Dĩ nhiên, để đạt được ơn cứu độ và hạnh phúc viên mãn nơi Thiên Chúa, người tín hữu không hoàn toàn cậy vào sức mình, họ ý thức rằng tự mình không thể đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu ấy, nhưng họ nương tựa vào Chúa. Chính ơn Chúa sẽ nâng đỡ sự yếu hèn nơi thân phận con người của họ. Phần con người chỉ là cộng tác với ân sủng của Thiên Chúa.

Kết

Bạn thân mến, bản tóm tắt dù là không hoàn hảo trên đây, hy vọng có thể giúp bạn có được một chút ý niệm căn cốt nhất về đạo Công Giáo. Nếu bạn thấy bài viết vẫn còn dài dòng khó hiểu, tôi xin giới thiệu bạn tìm đọc lại “Kinh Nghĩa Đức Tin”, lời kinh thường được đọc trước lễ Chúa nhật tại các nhà thờ, đó thật là bản tóm tắt ngắn gọn tuyệt vời.

Và nếu vẫn muốn ngắn gọn hơn nữa, thì đây, tất cả niềm tin và thực hành của người Công Giáo có thể tóm gọn trong hai điều: “Mến Chúa – yêu người”. Đạo Công Giáo dạy cho con người nhận biết, tôn thờ, yêu mến một Thiên Chúa toàn năng, toàn mỹ, toàn thiện, toàn ái. Đồng thời yêu thương mọi người như anh em và cùng nhau xây dựng xã hội tốt đẹp. Đời sống cầu nguyện và bác ái giúp họ an vui trong cuộc sống hiện tại và tiến về cuộc sống vĩnh cửu.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (16.5.2022)

---------------------------------

 

Bài 53: ĐỨC MẸ ĐỒNG TRINH TRỌN ĐỜI


Cao Gia An, S.J.

Hỏi: Tín điều Đức Mẹ Đồng Trinh trọn đời nghĩa là sao? Con có nghe người ta hay nói là Đức Mẹ còn có con là ông Gia–cô–bê, ngoài Chúa Giêsu. Nếu thế thì đâu phải đồng trinh trọn đời?

Trả lời:



Trong đức tin của Giáo Hội Công Giáo, có bốn tín điều về Đức Maria: Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời và Đức Mẹ Đồng Trinh Trọn Đời. Tín điều là điều được xem như một chân lý mạc khải và cần thiết cho đức tin của một người tín hữu.

Trong bốn tín điều trên, Đức Mẹ Đồng Trinh Trọn Đời là niềm tin thường xuyên bị phê phán và bị công kích từ nhiều phía. Để hiểu được tín điều này, trước hết chúng ta sẽ nhìn lại lịch sử lâu dài của niềm tin về sự Đồng Trinh Trọn Đời của Đức Mẹ trong dòng lịch sử Kitô giáo. Đồng thời, chúng ta cũng phải xét đến các ý kiến chống đối và những căn cứ của các ý kiến ấy. Tiếp đến, chúng ta sẽ xét xem liệu những ý tưởng chối có thể phá đổ tín điều Đức Mẹ Đồng Trinh hay không. Cuối cùng, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu xem tín điều Đức Mẹ Đồng Trinh trọn đời có tầm quan trọng như thế nào trong toàn bộ niềm tin của một người Công Giáo.

Một lịch sử lâu dài

Trong tất cả truyền thống Kitô giáo, bao gồm cả Công Giáo, Chính Thống Giáo, Tin Lành hay Anh Giáo, không ai nghi ngờ gì về việc Đức Mẹ Đồng Trinh trước biến cố Truyền Tin. Khi được loan tin về việc sẽ mang thai, Đức Maria đã bày tỏ sự bối rối: “Chuyện ấy xảy ra thế nào được, vì tôi chưa hề biết đến chuyện vợ chồng?” (Lc 1,34). Tuy đã đính hôn với Giuse theo luật Do–thái (x. Lc 1,27), Đức Maria vẫn còn là một trinh nữ.

Cũng vậy, trong việc sinh hạ Đức Giêsu, niềm tin căn bản mà tất cả các Giáo Hội Kitô chia nhau đó là: Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, sinh ra bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, như được tuyên tín trong Kinh Tin Kính, chứ không phải bởi sự tác động bởi bất cứ một con người nào. Việc cưu mang và sinh hạ con Thiên Chúa chẳng những không làm mất đi sự đồng trinh thanh vẹn của Đức Mẹ, ngược lại, chính thân xác của Đức Mẹ còn được thánh hoá bởi việc cưu mang Con Thiên Chúa trong lòng mình. Ngôn ngữ truyền thống của Kitô giáo xem thân xác của Đức Mẹ được xem như là Cung Điện, Đền Thánh, Hòm Bia… là nơi vẹn sạch và thánh thiện, vì là nơi Thiên Chúa ngự.

Vậy thì vấn đề nằm ở đâu? Hầu hết những tranh luận đều hệ tại câu hỏi này: sau khi sinh Đức Giêsu rồi, Đức Mẹ có còn gìn giữ sự đồng trinh của mình không? Từ đâu mà có niềm tin rằng sự đồng trinh của Đức Mẹ là trọn đời?

Khởi đầu của niềm tin này có thể tìm thấy nơi một bản văn cổ gọi là Tiền–Tin Mừng (Protoevangelium) theo Thánh Gia–cô–bê. Theo các nhà chuyên môn, bản văn này được viết vào khoảng  năm 120, nghĩa là trong thời kỳ của các Kitô hữu đầu tiên, khi mà những ấn tượng về Đức Maria vẫn còn sống động và lòng sùng kính Đức Maria còn mới mẻ.

Bản văn Protoevangelium khởi đầu bằng những nét tương đồng giữa câu chuyện của bà Anna, mẹ của Samuen trong Cựu Ước, với bà Anna mẹ của Đức Maria. Giống như mẹ của Samuen, mẹ của Đức Maria cũng là người son sẻ, bà cầu xin Thiên Chúa cho mình một đứa con, và khấn hứa sẽ dâng con của mình cho Chúa. Vì thế, từ nhỏ Đức Maria đã làm người phục vụ Đền Thờ với lời khấn trọn đời đồng trinh. Theo bản văn này, việc đính hôn của Giuse với Maria không phải là để nên vợ chồng, nhưng là để Giuse trở thành người bảo hộ và giúp Maria sống chu toàn với lời khấn trọn đời đồng trinh của mình.

Bản văn Protoevangelium này không được Giáo Hội công nhận là Tin Mừng, vì nội dung chính của bản văn này không phải tập trung vào Đức Giêsu nhưng là những câu chuyện trước khi Chúa Giêsu sinh ra. Tuy nhiên, có thể thấy rằng bản văn này phản ánh rất rõ niềm xác tín được chia sẻ trong cộng đoàn các Kitô hữu đầu tiên về việc trọn đời đồng trinh của Đức Maria.

Niềm xác tín ấy trở thành một di sản của truyền thống được suy tư cách nghiêm túc và được xác quyết qua những trang viết của rất nhiều giáo phụ trong lịch sử Giáo Hội như Origen, Athanasio, Basilio, Jerome, Ambrosio, Augustino hay Cyril thành Alexandria… Ngoài ra, từ rất sớm trong dòng lịch sử, đã có rất nhiều tiếng nói chính thức từ phía Giáo Hộ khẳng định và tái khẳng định về tín điều Đức Mẹ Đồng Trinh Trọn Đời.

Chẳng hạn:

Thượng Hội Đồng Milano, dưới sự hướng dẫn của thánh Ambrosio Cả, năm 390; Công Đồng Ê–phê–sô năm 431; Công Đồng Chung Constantinope năm 553. Năm 649, tại Công Đồng Laterano, Đức Giáo Hoàng Martin tái khẳng định cách rõ ràng rằng Đức Mẹ Đồng Trinh Trọn Đời là một tín điều. Theo đó, Đức Maria trọn đời đồng trinh và vô nhiễm nguyên tội hoài thai Con Thiên Chúa là do bởi quyền năng Chúa Thánh Thần. Khi sinh Đức Giêsu, Đức Maria không mất đi sự đồng trinh thanh vẹn của mình. Trong suốt cuộc đời của Đức Maria, sự đồng trinh ấy cũng không bị mất đi. Tuyên tín này được tóm lại trong công thức: ante partum, in partu, et post partum, nghĩa là Đức Mẹ đồng trinh trước–trong–và sau khi sinh hạ Đức Giêsu.

Gần đây nhất là khẳng định của Công Đồng Vatican II, dạy rằng việc sinh hạ Đức Giêsu chẳng những không làm ảnh hưởng đến sự đồng trinh của Đức Mẹ, ngược lại, còn thánh hiến sự đồng trinh ấy[1].

Như thế, có thể thấy rằng trong truyền thống của Giáo Hội Công Giáo, Đức Mẹ Đồng Trinh Trọn Đời là một tín điều đã có lịch sử lâu đời. Tín điều Đức Mẹ Đồng Trinh Trọn Đời phản ánh một cảm thức đức tin chung (sensus fidelium), vốn đã bám rễ rất sâu trong lòng đạo đức bình dân của người tín hữu qua mọi thời đại.

Những ý kiến chống đối và những căn cứ

Điều mà trong câu hỏi bạn gọi là “con có nghe người ta hay nói” thật ra không phải là điều gì mới mẻ. Ý tưởng cho rằng ngoài Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Giuse còn có những người con khác thật ra đã xuất hiện từ rất sớm trong dòng lịch sử chú giải Kinh Thánh. Chẳng hạn, vào thế kỷ thứ IV, một tác giả sống tại Roma tên là Helvidius đã viết về điều này. Ý tưởng ấy sau này được tiếp nhận cách nhiệt tình bởi những người Tin Lành cải cách.

Cần biết rằng một trong những điều những người muốn cải cách Giáo Hội chủ trương đó là từ chối tính thánh thiêng của việc giữ mình đồng trinh. Với họ, thật ra việc đồng trinh trọn đời không phải là một giá trị đáng trân trọng. Ngược lại, đời sống hôn nhân vợ chồng và ơn gọi làm cha mẹ mới được xem là thiên chức. Do đó, những người này xem Đức Mẹ và Thánh Giuse cũng chỉ như những cặp vợ chồng bình thường khác.

Có một số chi tiết trong Kinh Thánh được những người này sử dụng như là những “bằng chứng” về việc Đức Mẹ còn có thể có thêm những người con khác ngoài Chúa Giêsu. Chẳng hạn, trong các Tin Mừng có nhiều chỗ kể về việc Đức Giêsu trở về rao giảng tại quê hương mình là làng Na–gia–rét. Dân làng Na–gia–rét ngạc nhiên vì họ vốn biết rõ nguồn gốc xuất thân của Đức Giêsu. Họ biết rõ anh em và chị em của người. Trong số những cái tên anh chị em của Đức Giêsu được dân làng Na–gia–rét kể ra có: Gia–cô–bê, Giu–se, Si–mon và Giu–đa[2].

Ở nhiều nơi khác, các Tin Mừng cũng kể rằng trong thời gian Đức Giêsu đi rao giảng, thỉnh thoảng có Mẹ và anh em của Người đến thăm[3]. Trong các thư của Thánh Phao–lô, có nhiều lần nhân vật Gia–cô–bê được nhắc đến, và có một lần nhân vật ấy được minh nhiên gọi là “Gia–cô–bê, người anh em của Chúa Giêsu” (x. Gl 1,19).

Một số chi tiết khác trong Kinh Thánh cũng được nhiều người diễn giải như là những bằng chứng “chứng minh” Đức Mẹ có thể có những người con khác ngoài Chúa Giêsu. Chẳng hạn chi tiết được kể lại bởi Tin Mừng Luca “bà sinh con đầu lòng” (Lc 2,6), được diễn giải như là một ám chỉ rằng Đức Mẹ còn có những người con khác.

Lý luận của họ là thế này: có con thứ hai, con thứ ba, thì người thứ nhất mới được gọi là “con đầu lòng”. Hoặc một chi tiết khác theo trần thuật của Tin Mừng Mát–thêu: “Ông (Giuse) không ăn ở với bà cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu” (Mt 1,25). Những người này diễn giải rằng việc Thánh Giuse không ăn ở với Đức Maria “cho đến khi bà sinh một con trai” có nghĩa là: việc họ không ăn ở với nhau chỉ diễn ra trước đó và cho đến thời điểm Chúa Giêsu được sinh ra mà thôi, còn sau đó họ có thể ăn ở với nhau!

Lượng giá về những ý kiến chống đối và những “chứng cứ”

Lý luận nghiêm túc một tí, chúng ta sẽ nhận ra điều mà những người phản đối tín điều Đức Mẹ Đồng Trinh trọn đời gọi là “chứng cứ” thật ra không có giá trị chứng cứ tí nào.

Chẳng hạn, việc hiểu thuật ngữ “con đầu lòng” như là ám chỉ về việc có thể có con thứ hai, con thứ ba… thật ra chỉ là một lối diễn giải võ đoán. Như thánh Giê–rôm chỉ ra, khi sinh hạ đứa con duy nhất người ta vẫn có thể gọi đó là “con đầu lòng”.

Việc hiểu câu Kinh Thánh Mt 1,25 như ám chỉ về việc Thánh Giuse và Đức Maria ở với nhau sau khi sinh Đức Giêsu cũng chỉ là một lối suy luận dựa trên hiểu biết không đúng về cụm trạng từ “cho đến khi”, trong nguyên ngữ Hy–lạp là ἕως οὗ. Thật ra, ἕως οὗ có tác dụng như một cặp trạng từ được dùng để chuyển mạch văn nhằm nhấn mạnh đến việc Thánh Giuse không ăn ở với Đức Maria, và Đức Maria sinh con đầu lòng. Ngụ ý của tác giả Mát–thêu ở đây là việc Đức Maria thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần chứ không phải do tác động nào của Giuse. Việc dựa vào cụm trạng từ này để diễn giải như thể đó là một ám chỉ về việc Giuse và Maria ăn ở với nhau sau khi sinh Chúa Giêsu thật ra chỉ là một lối duy diễn thiên lệch và không có căn cứ.

Cũng vậy, hoàn toàn không có chỗ nào trong Kinh Thánh cho phép một người có liêm khiết về tri thức suy diễn rằng Đức Mẹ có những người con khác. Cụm từ “anh em” hay “chị em” của Đức Giêsu không thể được xem như một bằng chứng, vì nhiều lý do khác nhau.

Nên biết rằng “anh em” (אָח – đọc là: āḫ) là một từ vô cùng đặc biệt trong Kinh Thánh Cựu Ước và văn hoá Do–thái. Từ này có thể được hiểu theo hai lớp nghĩa khác nhau. Thứ nhất, “anh em” có thể được hiểu theo nghĩa hẹp: anh em ruột thịt trong gia đình. Thí dụ: Ca–in và A–bel, Gia–cóp và Ê–xau. Thứ hai, “anh em” có thể được hiểu theo nghĩa rộng: anh em là họ hàng thân thuộc hoặc đồng hương, đồng tộc, đồng bào.

Chẳng hạn, khi tác giả sách Lê–vi viết: “Các ngươi không được thống trị cách hà khắc anh em của các ngươi là con cái của Ít–ra–en” (Lv 25,46). “Anh em” trong mạch văn ở đây đương nhiên không phải chỉ là anh em ruột thịt, mà là những người đồng hương đồng tộc Israel. Cả trong bối cảnh tương quan gia đình, thuật ngữ “anh em” cũng thường được hiểu theo nghĩa rộng.

Chẳng hạn: sách Sáng Thế chương 13 kể về cuộc xung đột giữa Abraham và Lót. Ai cũng biết Lót là cháu gọi Abraham là cậu/ hoặc bác. Vậy mà khi có chuyện xảy ra xung đột giữa các đầy tớ của họ với nhau, Abraham đã nói gì: “Sao cho đừng có chuyện tranh chấp giữa bác và cháu… vì chúng ta là anh em – (אַחִים) của nhau.” Nguyên văn tiếng Do–thái của bản văn này dùng từ “anh em”. Từ này được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác là “anh em họ hàng”. Lối dịch ấy là chính xác nếu đặt trong mạch văn, vì từ “anh em” trong Kinh Thánh có thể được dùng để chỉ anh em họ hàng và bà con quyến thuộc.

Trong tiếng Hy–lạp của Kinh Thánh Tân Ước cũng vậy. Anh em (“ἀδελφὸς” – adelphos) cũng là một từ đa nghĩa, được sử dụng trong nhiều bối cảnh chung chứ không chỉ hiểu theo nghĩa hẹp.

Chẳng hạn: “Sao ngươi thấy cái rác trong mắt của người anh em (ἀδελφὸν),  mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới” (Mt 7,3), hoặc: “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em (ἀδελφούς) của anh nên vững mạnh” (Lc 22,32). Trong câu thứ nhất, “anh em” chỉ về những người chung quanh mình. Trong câu thứ hai, “anh em” chỉ về các tông đồ khác, là những người cùng chung chí hướng với nhau.

Cũng vậy, rất nhiều lần Đức Giêsu gọi các môn đệ của mình là anh em. Khi sống lại và hiện ra với nhóm phụ nữ thành Giê–ru–sa–lem, Người sai họ: “Hãy đi và báo cho anh em của Thầy biết (Mt 28:10). Khi hiện ra với các môn đệ của mình, Người chào họ: “Bình an cho anh em” (Lc 24,38; Ga 20,19), v.v… Thánh Phao–lô cũng gọi những người môn đệ trong cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên với cùng một thuật ngữ: “Người hiện ra với 500 anh em.” (Cor 15,6).

Ngoài ra, có thể tìm thấy vô số lần sử dụng khác của thuật ngữ này trong Kinh Thánh để ám chỉ về “anh em” theo nghĩa rộng. Như trường hợp thánh Phê–rô giảng cho cộng đồng Do–thái, và gọi họ là anh em (Cv 1,16; 2,29; 3,17, v.v.), hay thánh Phao–lô gọi những người mình viết thư là anh em (Rm 7,1; 8,12; 8,29, v.v.). Tương tự như cách ngày nay người ta hay mở đầu bài diễn thuyết của mình bằng câu chào “anh chị em thân mến”… Không ai có thể ngang ngược đến độ nói rằng khi gặp từ “anh em”, hay “anh chị em” thì buộc chúng ta phải hiểu theo nghĩa là anh chị em ruột thịt!

Thêm nữa, đây là một câu hỏi rất đáng suy tư của thánh Giáo Phụ Hilary Poitiers, sống vào đầu thế kỷ IV: Nếu thật sự Đức Maria còn có những người con khác ngoài Chúa Giêsu, tại sao trong giây phút cuối cùng của mình trên Thập Giá, Đức Giêsu còn phải bận tâm đến độ phải trối Mẹ lại cho một người môn đệ của mình? (x. Ga 19,26–27).

Như thế, có thể thấy rõ rằng: không thể chỉ dựa vào một từ “anh em” hay “anh chị em” của Chúa Giêsu để đi đến kết luận Đức Mẹ có những người con khác ngoài Chúa Giêsu. Ấy là một lối chú giải thiên lệch, vì hoàn toàn bị chi phối bởi thành kiến.

Tín điều Đức Mẹ Đồng Trinh Trọn Đời trong niềm tin Công Giáo

Xét về mặt thần học, sự đồng trinh của Đức Mẹ, như được khẳng định trong Kinh Thánh (Lc 1,34), là một chân lý có giá trị mạc khải về bản tính Thiên Chúa của Đức Giêsu. Việc Mẹ sinh con không phải là kết quả của xác thịt loài người, nhưng là do tác động thần diệu của Thánh Thần Thiên Chúa. Do đó, Đấng được Mẹ sinh ra là Con Thiên Chúa. Đấng ấy vừa mang bản tính Thiên Chúa, nhận từ Thiên Chúa, vừa mang bản tính loài người, nhận từ máu thịt của Mẹ. Như thế, sự Đồng Trinh của Đức Mẹ thật ra chỉ là một điểm nhỏ nằm trong một cuộc tranh luận có lịch sử dài hơn rất nhiều về bản tính Thiên Chúa của Đức Giêsu.

Sự Đồng Trinh trọn đời của Đức Mẹ cũng là một điều quan trọng và đặc biệt ý nghĩa. Bằng việc cưu mang Con Thiên Chúa trong cung lòng mình, thân xác của Mẹ hoàn toàn được thánh hoá để trở nên Cung Cực Thánh của Thiên Chúa, do đó, Mẹ thuộc trọn về Chúa. Từ điểm này, chúng ta có thể thấy bốn tín điều về Đức Mẹ đều có liên hệ mật thiết với nhau từ góc nhìn thần học: Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, vì từ thân xác của Mẹ đã sinh ra Đức Giêsu là người thật và là Thiên Chúa thật. Mẹ là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, vì thân xác và cuộc đời Mẹ được chuẩn bị từ trước muôn đời để xứng đáng cưu mang Thiên Chúa. Mẹ Hồn Xác Lên Trời, thân xác của Mẹ không phải hư mất, vì thân xác ấy đã được thánh hoá bởi biến cố cưu mang Con Thiên Chúa. Mẹ Đồng Trinh Trọn Đời như một người thuộc trọn về Chúa, cả cuộc đời của Mẹ là một hành trình đồng công với Con của mình trong công trình cứu chuộc.

Việc đặt câu hỏi về tín điều Đức Mẹ Đồng Trinh Trọn Đời có thể đến từ chính não trạng tục hoá của xã hội hiện đại. Khi không còn tin rằng việc giữ mình đồng trinh vì Nước Trời là một giá trị, người ta cũng dễ thấy chẳng có lý do gì để tin rằng Đức Mẹ phải giữ mình đồng trinh Trọn đời.

Người ta cũng nghi ngờ và công kích về lối sống giữ mình đồng trinh và lời khấn trọn đời khiết tịnh trong truyền thống tu trì của Giáo Hội Công Giáo. Nhưng điều đó có khi đơn giản chỉ vì chính họ không muốn hoặc không thể sống giá trị ấy trong đời mình. Khi đã chọn lựa hoặc đã thoả hiệp trong chọn lựa của mình rồi, mọi suy tư và tranh luận đều chỉ có thể đi theo hướng người ta đã chọn, để biện minh và ủng hộ cho chọn lựa hoặc thoả hiệp ấy.

Ngày nay, tín điều Đức Mẹ Đồng Trinh Trọn đời vẫn giữ vẹn nguyên sức sống trong lòng Giáo Hội. Tín điều ấy là nguồn gợi hứng và là điểm bám tựa đặc biệt quan trọng đối với những người chọn sống đời thánh hiến với lời khấn giữ mình khiết tịnh trọn đời. Xuyên suốt dòng lịch sử, bất chấp những bài bác và giễu cợt, Giáo Hội Công Giáo luôn xác tín rằng việc giữ mình đồng trinh vì Nước Trời là một giá trị thiêng liêng và cao cả.

Hãy nhìn vào lớp lớp những con người bước theo mẫu gương của Đức Trinh Nữ Maria, dâng mình trọn vẹn cho việc phục vụ Chúa, phục vụ Giáo Hội, phục vụ con người. Đó chính là lời chứng hùng hồn nhất về giá trị của việc giữ mình đồng trinh, của chọn lựa sống đời độc thân và khiết tịnh vì Nước Trời.

 (Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (23.5.2022)

-----------
[1] x. Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân, số 57.
[2] Mc 6,3; Mt 13,55-56.
[3] Mc 3,31-35; Mt 12,46-50; Lc 18,19-21.

---------------------------------

 

Bài 54: BẬN LÒNG CÙNG CHÚA


Maria Antôn Quỳnh Thoại

Hỏi: Con thấy cầu nguyện hình như mình nói với chính mình, chứ không nói với Thiên Chúa? Không biết cầu nguyện như thế nào mới đúng cách và lắng nghe được tiếng Chúa?

Trả lời:

Em,

Có lần em hỏi tôi cầu nguyện như thế nào cho đúng? Tôi rất vui vì câu hỏi ấy, em biết không? Khi nhịp sống hiện đại dường như cơn lốc xoáy, cuốn con người vào những mối bận tâm: Tiền –Tình–Danh Vọng, thì em, một người trẻ, rất thanh xuân và sôi nổi, lại “bận lòng” tìm kiếm cõi riêng tư để gặp gỡ Chúa, mong được nghe tiếng Ngài. Cám ơn em đã sống chậm như thế để tôi được chia sẻ đôi điều với em, một chút thôi!

Em thân mến!

Em nói đúng, cầu nguyện là lắng nghe tiếng Chúa, ý thức sự hiện diện của Ngài trong cuộc đời. Đó là lý do tại sao khi cầu nguyện, người Kitô Hữu thường THINH LẶNG. Chúng ta thường đến nhà thờ, hoặc tìm nơi thanh vắng để dễ “nâng tâm hồn lên cùng Chúa”. (Thánh John Damascene). Chúa Giêsu đã từng cùng các môn đệ Ngài tìm nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi sau những ngày rao giảng bôn ba, vừa là để lấy lại sức, vừa để Thầy trò có thời giờ nhỏ to tâm sự.

Thinh lặng để lắng nghe. Các Thánh, và những bậc tiền nhân đi trước đã để lại cho tôi và em những góc nhìn và những kinh nghiệm quý báu trong cầu nguyện, mình cùng tham khảo nhé!

Hai chiều kích của Thinh Lặng

Thinh lặng trong cầu nguyện được nhìn từ hai chiều kích. Trước tiên là sự thinh lặng bên ngoài. Nơi đó đưa ta tạm thời rời khỏi những ồn ào, những mối bận tâm vốn nhiều áp lực, khiến trí lực và năng lực tiêu hao. Nếu sự thinh lặng bên ngoài cần thiết cho thân xác như thế nào, thì sự thinh lặng nội tâm lại càng quan trọng hơn biết bao trong đời sống thiêng liêng. Đó là sự yên tĩnh, và an bình nội tâm. Nơi đó, ta thật sự lắng nghe được tiếng Chúa, tiếng anh chị em, tiếng lòng mình, và tạo vật.

Sự thinh lặng quả là một hành trình từ ngoài vào trong, để rồi những gặp gỡ nơi tận thâm sâu của thinh lặng làm ta được đổi mới.

Mẹ thánh Têrêsa Calcutta đã từng chia sẻ: “Chúa nói trong sự thinh lặng của những cõi lòng”. Điều em và tôi cần làm là chuẩn bị cho mình một tâm thế để đi vào sự thinh lặng gặp gỡ ấy. Nhân đây, tôi muốn kể cho em nghe về ba đặc tính rất hay nơi người có sự thinh lặng nội tâm mà tôi học được, mình cùng nhìn lại nhé.

Ba đặc tính của sự Thinh Lặng

Thứ nhất, “Amerimmnia”, tiếng Hi–lạp có nghĩa là: không lo lắng. Đặc điểm này giúp ta tín thác vào Chúa trong tâm tình con thảo (Filial Trust). Thái độ không lo lắng khi đến với Chúa giúp ta trở nên tự nhiên và tự do hơn trong tương quan gặp gỡ với Ngài. Cảm giác “như trẻ thơ” chỉ cần được cha mẹ đón nhận, đơn giản bằng một cái ôm thôi, cũng thấy hạnh phúc và được an ủi lắm rồi. Nếu ta đến với Chúa trong tâm thế này thì còn gì bằng! “Không lo lắng” còn là thái độ phải có trong “cuộc chiến tinh thần” chống lại những lo lắng, sợ hãi và những khuynh hướng tự nhiên của con người. Nơi người không lo lắng khi thinh lặng, họ sẵn sàng để Thiên Chúa lấp đầy cuộc sống mình bằng tình yêu của Người.

Thứ hai, “Nepsis”, có thể tạm dịch là “sự thận trọng”. Đặc điểm này giúp ta cảnh giác hơn trước những nguy hiểm và khó khăn có thể xảy đến. Đây là thái độ của người mà tâm trí luôn phản tỉnh, nhất là luôn ghi nhớ Thánh Ý của Chúa trong cuộc đời mình. Nepsis còn được thấy nơi người có “lương tâm trong sạch”. Khi đó trong họ luôn có “hệ thống báo động”, nhắc nhở họ rằng luôn có sự hiện hữu của cả hai trong con người mình, đó là: thánh thiện và sự dữ.

Thứ ba, “Melete”, có nghĩa là “rèn luyện, suy ngẫm”. Tất cả mọi thói quen đều do luyện tập. Thinh lặng cũng vậy. Đó là bước đầu của cầu nguyện. Nếu một ai đó sợ thinh lặng, họ không thể cầu nguyện được! Và nếu có ai cho rằng khi cầu nguyện trong thinh lặng, sẽ bị cám dỗ nói nhiều về mình hơn là nói với Chúa và về Chúa, thì hãy thử dùng chính Lời của Chúa để suy ngẫm và cầu nguyện. Một lời nguyện tắt “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa” được lập đi lập lại và suy ngẫm trong ngày cũng sẽ giúp bạn gắn kết với Chúa hơn.

Đó là ba đặc tính nổi bật từ sự thinh lặng. Tôi đã học để thôi không lo lắng, học cảnh giác, và luyện tập mỗi ngày để biết thinh lặng khi cầu nguyện. Hành trình này cũng gian nan nhưng đầy thú vị, nên tôi muốn kể cho em nghe câu chuyện của riêng tôi…

Khi vào dòng, tôi chỉ sợ duy nhất một điều, đó là tiếng kẻng báo thức lúc 4 giờ sáng và 1:15 chiều, cái lúc mà tôi vẫn tha thiết muốn gắn bó với chiếc giường của mình. Sáng thì ngủ gật. Chiều thì buồn ói. Sự thinh lặng của tu viện làm tôi đau đầu, đổ mồ hôi lạnh, rồi buồn nôn. Cả ngày nói cười không sao, cứ đến giờ viếng Thánh Thể hay nguyện gẫm là tôi ỉu xìu, như đang trong trận chiến thiêng liêng mà kẻ thù không ai khác là chính mình. Đứa con nít mười ba tuổi như tôi lúc đó chỉ ước giá mà không phải thức vào hai giờ đó thì đời tu đúng là thiên đàng!

Ước vậy thôi, chứ tôi không cầu xin Chúa điều này. Bốn giờ sáng, tôi vẫn cùng chị em bật dậy như một cái máy và quỳ gối trên giường để đọc kinh dâng mình ngày mới. Vệ sinh cá nhân xong, chúng tôi cùng nhau nguyện gẫm lời Chúa, đọc kinh sáng cho đến 5 giờ và xếp hàng đi vô nhà thờ dự lễ. Riết rồi cũng quen. Tôi miễn nhiễm với tiếng kẻng ồn ào, và quen dần với thinh lặng. Chỉ có ngủ gật là luôn bên tôi, nên lúc nào tôi cũng đem theo cái khăn ướt để lau mắt, và nhiều lần nó cũng vô hiệu lực với tôi. Tôi ngủ trong Chúa! Thinh lặng không còn là nỗi ám ảnh nữa, tôi làm bạn với thinh lặng.

Thay vì ngồi không rồi ngủ gật, tôi lấy tập ra viết vào đó tất cả và dâng cho Giêsu. Những dòng chữ nguệch ngoạc chẳng ngay hàng thẳng lối nhưng giờ đọc lại, khiến tôi hạnh phúc. Tình yêu tôi dành cho Chúa tuy gập ghềnh con chữ, nhưng tâm tình ấy rất mộc mạc đơn sơ. Có khi chỉ là câu: “Chúa ơi con buồn ngủ quá! Chúa ơi, sao mà lâu hết giờ vậy? Chúa ơi, xin mở mắt con! Con thương Chúa lắm!...”

Khi vào Tập Viện, chúng tôi sống thinh lặng và cầu nguyện nhiều hơn. Hằng ngày suy ngẫm lời Chúa cùng nhau, tôi gặp được những tâm tình thật đẹp. Cách các chị cầu nguyện làm tôi thiết nghĩ: các chị yêu Chúa thật nhiều. Và đó là điều tôi muốn chia sẻ với em:

Hãy biết khiêm tốn. Vì cầu nguyện, là lúc em gặp gỡ Chúa với con người thật của mình, cả ưu điểm lẫn khuyết điểm. Nhận ra mình chỉ là bụi đất, mọn hèn sẽ giúp em biết cậy dựa hơn vào sự chăm sóc quan phòng của Chúa, cũng như sự nâng đỡ của anh chị em mình. Khi cầu nguyện, tôi thường mặc lấy ba tâm tình này: TẠ ƠN – XIN LỖI – VÀ XIN ƠN. Tôi biết tôi chẳng là gì nếu không nhờ ơn Chúa, nên tôi tạ ơn Chúa vì những khả năng Người ban. Tôi biết tôi yếu hèn, bất toàn, dễ sai phạm, nên tôi xin lỗi Chúa và quyết tâm đổi mới canh tân. Và tôi biết tôi cần Chúa luôn luôn để Người đồng hành với tôi. Có ơn Chúa, tôi tự tin xây dựng cuộc sống mình.

Hãy biết kính sợ Chúa. Lòng kính sợ Chúa là biểu hiện của một người nhận ra tình yêu tuyệt đối Chúa dành cho mình, và muốn gắn kết với Chúa trong cầu nguyện. Chính sự kết nối này đã thôi thúc tôi gắn kết với mình, với mọi người, và với thế giới. Có câu nói này khiến tôi rất tâm đắc: “Kẻ biết quỳ trước Chúa sẽ đứng vững trước mặt người đời”. Kính sợ Chúa giúp tôi càng muốn thực thi Ý Chúa và yêu mến Chúa hơn.

Hãy biết ăn năn. Cầu nguyện là dịp để tôi nhìn lại những đổ vỡ trong từng mối quan hệ: với Chúa, với chính mình, và với người khác. Sự thinh lặng mời gọi tôi hoán cải về những bất trung với Chúa, và những tổn thương gây ra cho anh chị em mình, dù vô tình hay hữu ý. Lòng ăn năn sám hối giúp tôi làm lại cuộc đời mới trong Chúa.

Hãy sống bác ái. Cầu nguyện không chỉ ở trên môi miệng, nơi trí lòng, nhưng còn là một thái độ sống được cụ thể hóa bằng hành động: yêu người như yêu chính mình. Đó là thực thi bác ái với người chung quanh, bắt đầu từ những người thân cận với mình. Như vậy là chúng ta đang lắng nghe và chu toàn luật Chúa.

Em thân mến,

Chút tâm tình trên đây tôi chia sẻ với em. Chúc em tìm thấy niềm vui trong sự thinh lặng nội tâm, tìm về giá trị của chính mình nơi Chúa qua cầu nguyện. Tặng em bài hát này, tôi đã viết từ trong chính mối bận tâm như em, đó là giữa muôn sự bận tâm của cuộc sống, tôi xin được bận lòng cùng Chúa, vì chỉ với Ngài, tôi tìm được chính tôi và sự bình an.

“Để tìm về con và tìm về với Ngài
Bận lòng cùng Chúa nơi tình yêu không phai
Xác hồn này, trí lòng này xin bận cùng Ngài
Bận lòng cùng Chúa con tìm được bình an
Bận lòng cùng Chúa cuộc đời con tươi sáng
Chúa gọi mời con đáp lời xin bận cùng Chúa”. (Trích trong ca khúc: Bận Lòng Cùng Chúa)
 (Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (30.5.2022)

---------------------------------

 

Bài 55: SỐNG CHIỀU SÂU


Giuse Lê Đắc Thắng, SJ

Hỏi: Sinh viên chúng con muốn đi sâu, tìm hiểu sâu hơn về đời sống thiêng liêng, cũng như đi sâu vào đời sống xã hội một cách đúng đắn nhất. Chúng con phải làm sao?

Trả lời:

Bạn thân mến,

Câu hỏi của bạn làm tôi ấn tượng bởi những tính từ mạnh mẽ như “sâu” (3 lần), “đúng đắn nhất,” đi kèm những động từ thể hiện sự quyết liệt như “đi (sâu)”, “tìm hiểu (sâu).” Hẳn là trong lòng bạn đang dấy lên một thao thức muốn được sống cuộc đời thật đầy đủ ý nghĩa. Bạn đang muốn dấn thân trọn vẹn cho niềm tin lý tưởng của mình.

Thật ra không chỉ những sinh viên như bạn, tất cả mọi người nói chung đều có khao khát đó. Tuy nhiên, khác với những người có tâm hồn già nua, người trẻ thường năng động và nhạy bén hơn trước những điều mới lạ. Các bạn mong muốn được học hỏi thêm để hoàn thiện mình, dễ dàng mở lòng ra đón nhận điều hay lẽ phải, nhiệt tình mạnh mẽ dấn thân đấu tranh cho những gì mình tin tưởng.

Là sinh viên, bạn có thuận lợi là được cung cấp khí cụ tri thức, được đào tạo trong môi trường học đường. Bạn có nhiều cơ hội vươn tới những chân trời mới, không chỉ là kiến thức, nghề nghiệp hay tiền bạc, mà còn là nhân cách, lẽ sống và lý tưởng của đời người. Phía trước bạn là một tương lai dài với những cánh cửa đang dần được mở ra, chờ đợi bạn bước tới. Tương lai đó hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp nhưng cũng đầy cạm bẫy, rủi ro.

Do vậy bạn muốn tìm ra cho mình một chìa khóa vạn năng để có thể bước qua những cánh cửa tương lai ấy một cách tự tin và vững vàng. Theo như từ ngữ bạn sử dụng trong câu hỏi đặt ra, tôi nghĩ rằng hành trang bạn cần không phải cụ thể là cái này hay cái kia, mà là cách tiếp cận có “chiều sâu” trong mọi thứ: từ đời sống thiêng liêng (tương quan với Thiên Chúa) cho đến đời sống xã hội (tương quan với tha nhân).

Nói cách khác, bạn không cầu xin những bữa ăn được dọn sẵn nhưng bạn cần ai đó chỉ cho bạn nguyên tắc nấu nướng. Điều ấy giúp bạn có khả năng biến tấu tất cả mọi gia vị đắng cay mặn ngọt mà cuộc đời gửi đến cho mình thành những món ăn ngon, hoặc chí ít là dùng được. Nếu không hiểu nhầm ý của bạn thì tôi gọi nguyên tắc đó chính là “chiều sâu.”

Bạn đủ khôn ngoan để nhận ra hậu quả của một lối sống hời hợt. Đó là lối sống chỉ tìm kiếm những giá trị vật chất hay danh vọng chóng qua ở đời này, không có chiều sâu nội tâm và nhất là không hề thao thức về chiều kích thiêng liêng. Những người sống như vậy rất dễ bị bầm dập trước sóng gió cuộc đời. Vì cái họ theo đuổi không bao giờ đủ để đem lại cho họ hạnh phúc và bình an đích thực.

Ví dụ, rất nhiều nhà có điều kiện nhưng con cái hư hỏng, thay vì chăm chỉ học hành đầu tư cho tương lai thì chúng lại sống buông thả, hưởng thụ, ỷ lại cha mẹ. Các em nghĩ rằng sống như vậy là sung sướng hạnh phúc nhưng đâu biết rằng đó là con đường dẫn đến ngõ cụt. Không chỉ có người trẻ mà người lớn cũng lâm vào tình trạng này. Nhiều người thay vì chăm chỉ làm ăn, vun đắp mái ấm gia đình, chăm sóc con cái hay giúp đỡ người khác thì lại chiều theo thú vui xác thịt, tiêu xài phung phí để rồi khi biết nhận ra sai lầm của mình thì đã quá muộn màng. Theo suy tính khôn khéo của con người, họ được coi là những người nghĩ ngắn mà không nghĩ dài, hiểu cạn chứ không sâu, thấy gần mà chẳng thấy xa.

Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của những biểu hiện trên chính là một đời sống thiếu nền tảng, không có mục đích hay định hướng cuộc đời. Lỗi của họ không phải là do tìm kiếm vật chất hay danh vọng, nhưng là vì không biết dùng chúng như thế nào để vun đắp cho cuộc sống mình thêm ý nghĩa và để có thể tìm thấy hạnh phúc đích thực. Cái nền tảng hay định hướng cuộc sống mà người ta đang cần đó vượt lên trên những gì họ có thể sở hữu ở đời này. Con người được đặt trong tương quan với Đấng siêu việt, quy hướng mọi sự về Thiên Chúa. Đó mới là cùng đích của đời mình.

Bạn đủ trưởng thành để hiểu rằng dù có muốn thì bạn cũng không thể né tránh cuộc đời. Cách duy nhất là bạn phải can đảm bước tới đối diện những thử thách xảy đến với mình. Vì thế nên bạn mới thao thức về một đời sống có “chiều sâu,” vì cái sâu hơn thì chắc chắn sẽ bám chắc hơn, dù là trong lĩnh vực nào đi nữa. Bạn khao khát tìm cái sâu vì nghĩ rằng cái hiện tại vẫn chưa đủ sâu, chưa đủ vững chắc. Mà như thế nào là sâu? Như thế nào là cạn? Đâu là thước đo?

Suy cho cùng thì “chiều sâu” mà bạn đề cập tới dường như không có giới hạn. Bạn càng đi sâu thì càng thấy những chân trời mới được mở ra mời gọi bạn khám phá. Nhất là bạn ở trong chiều sâu của mối tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Bạn sẽ không bao giờ đi đến tận cùng của “chiều sâu” mà bạn muốn. Tuy vậy khao khát ấy nâng bạn lên cao. Để rồi từ đó bạn sẽ nhìn về cuộc đời và nhìn về con người trong xã hội với con mắt khác:

- Bạn sẽ có được một cái nhìn bao quát hơn về mọi biến cố xảy đến trong cuộc đời theo kế hoạch của Thiên Chúa. Để rồi bạn không chán nản thất vọng mỗi khi gặp điều không may.

- Bạn sẽ thấy được tất cả mọi người đều đáng yêu mến và trân trọng. Họ và bạn là anh chị em của nhau trong Chúa.

- Bạn sẽ bao dung hơn với lầm lỗi của người khác, vì bạn nhận thấy mình cũng bao lần vấp ngã nhưng được Chúa thứ tha.

- Thêm vào đó, bạn sẽ không còn coi mình hay bất cứ tạo vật nào khác là trung tâm của vũ trụ nữa, nhưng biết quy hướng mọi sự về Thiên Chúa.

Bởi vì “chiều sâu” này chính là thái độ sống của bạn. Nó là đôi mắt bạn nhìn về thế giới này. Thái độ này xâm nhập tất cả, chiếm trọn tất cả mọi chiều kích trong cuộc sống bạn. Do đó, khi bạn chỉ ra hai lĩnh vực mà bạn muốn sống có “chiều sâu” là đời sống thiêng liêng và đời sống xã hội, tức là bạn cũng đang hướng đến chiều sâu trong tất cả mọi sự rồi. Thực ra hai mảng này không thể dễ dàng tách rời nhau như bạn nghĩ. Không phải cứ thiêng liêng là hướng lên trời, còn xã hội là sống dưới đất.

Là tín hữu, bạn được mời gọi phải hội nhất hay kết nối toàn bộ mọi chi tiết trong đời sống của bạn với Chúa. Nghĩa là bạn để Thiên Chúa chiếm trọn con người trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nói cách khác, bạn phải sống thiêng liêng trong lòng xã hội, và sống đời sống xã hội một cách thiêng liêng. Mọi tư tưởng, lời nói và hành động của bạn đều phản chiếu chiều sâu thiêng liêng. Khi đó dường như không còn ranh giới giữa đời sống thiêng liêng và đời sống xã hội nữa.

Dù có nhận biết và tin vào Thiên Chúa hay không, đời sống của mỗi người đều mang chiều kích thiêng liêng. Đời sống của con người không thể tách rời khỏi mối tương quan với Thiên Chúa. Tất cả mọi người đều là con cái Thiên Chúa và đều được Chúa yêu thương. Do đó, nơi mỗi người đều có một khao khát sâu thẳm là được tìm về với cội nguồn và cùng đích của đời mình.

Hành trình tìm kiếm có thể được gọi theo ngôn từ của bạn là hướng về “chiều sâu.” Chỉ trong sâu thẳm nội tâm thì con người mới nhận ra ý nghĩa đích thực của đời mình, biết xác định những gì đáng để tìm kiếm. Tôi là ai? Tôi từ đâu tới? Tôi sống trên đời này để làm gì? Rồi cuộc đời tôi sẽ đi về đâu?...

Không ai có thể tìm ra câu trả lời rốt ráo cho những câu hỏi trên. Đó sẽ mãi là nỗi khắc khoải khôn nguôi của phận người. Chính vì chưa tìm thấy lời giải đáp thỏa mãn nên con người tiếp tục thao thức, tiếp tục tìm kiếm, tiếp tục đi vào “chiều sâu.” Vì được đặt trong tương quan với Thiên Chúa nên dù con người có giới hạn nhưng vẫn luôn được mời gọi đắm mình trong “chiều sâu” của Thiên Chúa là Đấng không bị giới hạn.

Xét từ thái độ đức tin, con người bước vào tương quan với Thiên Chúa ở các cấp độ “chiều sâu” khác nhau. Có người không tin có Chúa (vô thần). Có người tin có Chúa nhưng không phó thác đời mình cho Chúa. Có người khác nữa không chỉ tin có Chúa mà còn tin nơi Chúa. Tuy nhiên, khi nói tới “chiều sâu” là chúng ra đang nhìn ở khía cạnh con người, chứ thật ra ở trong Thiên Chúa thì mọi sự đều mang lấy chiều sâu của Ngài. Nghĩa là tất cả mọi tạo vật đều được bao bọc bởi tình yêu của Thiên Chúa. Ngay cả người sống tương quan với Chúa đang ở mức thấp nhất là vô tín thì họ vẫn được Thiên Chúa yêu thương và tìm cách mời gọi đi vào “chiều sâu” với Ngài trong hoàn cảnh sống của họ.

Như vậy, một đời sống gắn kết Thiên Chúa trong tương quan tình yêu mang lại cho bạn đôi mắt biết nhìn nhận mọi sự vật, sự việc với “chiều sâu.” Đó cũng chính là yếu tố nền tảng để bạn đi sâu vào đời sống thiêng liêng cũng như đời sống xã hội. “Chiều sâu” này trước hết phải có tác dụng nơi chính bản thân bạn.

Một người sống với Thiên Chúa trong chiều sâu thiêng liêng thì không thể không trổ sinh những hoa trái tốt đẹp trong cách họ tương quan với tha nhân cũng như với những tạo vật khác. Trong tương quan với tha nhân, một người yêu mến Chúa phải là người yêu mến tất cả mọi người. Cũng vậy, người yêu mến Chúa cũng phải là mẫu gương trong việc bảo vệ môi trường. Vì đó chính là ngôi nhà chung do Thiên Chúa dựng nên cho vạn vật sinh sống.

Tin nơi Chúa không phải là một quan niệm hay nhận thức mà phải là một lối sống. Nói cách khác, tin nơi Chúa là sống nơi Chúa, với Chúa và cho Chúa. Chúng ta có thể nhận thấy các cấp độ của “chiều sâu” thiêng liêng, đỉnh cao nhất là “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki–tô sống trong tôi.” (Gl 2,20). Hiểu theo nghĩa như vậy thì sống có chiều sâu cũng đồng nghĩa với việc hoán cải, thay đổi đời sống của mình để ngày càng gắn kết mật thiết với Thiên Chúa hơn.

Nếu bạn cần một mẫu gương về chủ đề này: đó chính là Đức Giêsu. Trong tương quan với Thiên Chúa, Ngài với Chúa Cha là một. Đó là sự kết hợp không thể nào “sâu” hơn được nữa! Chúng ta không phải là người ngoài cuộc trong mối tương quan tình yêu ấy. Như Chúa Giêsu đã chỉ ra một con đường và chính Ngài là con đường để chúng ta đi vào chiều sâu với Thiên Chúa:“Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.” (Ga 14,23).

Chính sự gắn kết mật thiết với Chúa Cha chính là nguồn động lực và sức mạnh để Chúa Giêsu dấn thân sâu vào đời sống xã hội. Chúa Giêsu sống dấn thân trong xã hội không chỉ để hòa mình vào trong đó, nhưng còn là để soi chiếu cho mọi người thấy giá trị Nước Trời. Đó là nơi những gì nhỏ bé tầm thường, nơi những con người bị xã hội đối xử ghẻ lạnh. Chúa Giêsu mạnh mẽ lên án thói giả hình. Ngài ra tay bảo vệ kẻ cô thân cô thế, bênh vực người nghèo, chữa lành bệnh tật thể xác và tâm hồn những người cần Ngài giúp đỡ.

Ước gì chúng ta ngày càng tiến gần hơn đến một đời sống có chiều sâu. Mỗi ngày giống Chúa Giêsu một chút.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (06.6.2022)

---------------------------------

 

Bài 56: TỰ DO


Phêrô Dương Hải Văn, SDB

Hỏi: Sự tự do đích thực của con người là gì?

Trả lời:

Tự do là một trong những giá trị cao quý của con người, là nét đặc trưng của các hành vi nhân linh mà con người thể hiện trong các hành động của mình. Thế nhưng, nhiều khi con người lại không dùng tự do cách thích đáng để làm tăng trưởng đời sống của mình cách xứng hợp, mà chỉ sử dụng tự do theo ý muốn cá nhân, nhằm làm theo những điều mình thích, hoặc chỉ để đòi hỏi những điều mình muốn mà thôi. Vậy đâu là sự tự do đích thực mà con người cần nhận biết và ý thức trong cuộc đời mình, để qua đó con người sống đúng với sự tự do, như là một hồng ân được đón nhận?

Tự do là gì?

Trước hết, tự do theo nghĩa phổ quát được hiểu là “thiếu vắng sự cưỡng chế”[1], nghĩa là hành động theo bản tính và theo tiềm năng thị dục bẩm sinh. Tự do theo nghĩa này được hiểu như là tự do tự phát, là quyền được làm điều mình muốn, không bị một áp lực nào, có thể làm điều mình muốn, theo cách mình muốn và tùy vào lúc nào mình muốn[2]: “Không phải chịu một cưỡng ép nào, không bị một ràng buộc vào một mệnh lệnh nào, chỉ chấp nhận làm điều muốn làm trong hiện tại”[3].  Bên cạnh đó, tự do còn là tự do khỏi những bản năng xấu xa, khỏi những khả năng làm điều xấu. Đó là trạng thái của những người đạt tới sự trọn hảo về luân lý[4]. Còn theo thánh Tôma Aquinô, thì tự do là “khả năng của ý chí con người, nhờ đó con người có thể điều hướng những hoạt động của mình đến cùng đích”[5]. Do đó, có thể nói tự do như là một sức năng động nội tại, giúp con người chọn lựa để thực hiện một hành vi hoặc hoạt động nào đó, nhằm đạt được mục đích mà mình đề ra.

Vậy sự tự do đích thực của con người là gì?

Có thể nói, tự do là quà tặng cao quý mà con người đã được đón nhận từ Thiên Chúa, để hoàn thiện chính mình và tăng triển trong ơn gọi làm người: “Tự do là điều thời nay rất ngưỡng mộ và hăng say theo đuổi... vì tự do đích thực là dấu hiệu đặc sắc nhất về hình ảnh Thiên Chúa nơi con người... vì thế phẩm giá con người đòi hỏi họ phải hành động theo một chọn lựa có ý thức, và tự do, nghĩa là chính họ phải được thúc đẩy và hướng dẫn từ nội tâm chứ không do bản năng hoặc áp lực bên ngoài.” (Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, số 17).

Sự tự do của con người không phải là việc muốn làm gì thì làm, theo bản năng và sở thích riêng của mình, nhưng trên hết và trước hết là để làm cho phẩm giá của con người được tăng trưởng trong sự thiện toàn.

Từ ý nghĩa trên, tự do không chỉ là khả năng để ta chọn lựa và thực hiện điều này điều kia theo ý muốn và mục đích của mình, nhưng còn là khả năng để cống hiến cho tha nhân, và cho những giá trị tối hậu của cuộc đời: “Tự do đích thực là dấu chỉ cao cả nhất của hình ảnh Thiên Chúa trong con người. Bởi vì Thiên Chúa đã muốn để con người tự định liệu, tự quyết định đi tìm Đấng Tạo Hoá và nhờ kết hợp với Ngài cách tự do, con người tiến tới sự hoàn thiện trọn vẹn và hạnh phúc.” (Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, số 17).

Chỉ những người nhận thức được giá trị của tự do (quy hướng về Thiên Chúa) thì mới có thể dùng sự tự do mà Chúa ban để làm tăng trưởng những giá trị cao quý của chính mình trong mối tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Do đó, sự tự do đích thực của con người là sự tự do hướng thượng: “Ai càng làm điều tốt, người đó càng trở nên tự do" (Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 1733); là sự tự do "hướng đến Thiên Chúa trong yêu thương và đáp lại lời Ngài” (Docat, số 56).

Tuy nhiên, do hậu quả tội lỗi, nên sự tự do của con người có giới hạn và cũng có thể lầm lạc. Vì thế, con người cần phải nỗ lực để vượt thắng khát vọng và ước muốn ích kỷ của bản thân, cũng như khỏi những ràng buộc của những đam mê xấu khiến chúng ta trở thành nô lệ cho những điều xấu: “Con người sẽ đạt tới phẩm giá ấy khi biết tự giải thoát khỏi mọi kiềm tỏa của đam mê, để theo đuổi cùng đích của mình trong sự tự do chọn lấy điều thiện, và sử dụng cách hiệu quả những phương tiện thích hợp và những nỗ lực cần thiết.” (Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, số 17).

Đồng thời, mỗi người cần phải mở ra trước ân sủng cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, để chúng ta được thấu hiểu và đón nhận sự tự do mà chính Ngài đã ban cho chúng ta trong giá máu cứu chuộc của Ngài. Khi đó nó giúp chúng ta “gia tăng sự tự do nội tâm của chúng ta và sự vững vàng của chúng ta trong các thử thách, cũng như trước những áp lực và cưỡng bách của thế giới bên ngoài”. (Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 1742).

Như vậy, con người chỉ có sự tự do đích thực khi biết làm cho mình ngày một trở nên giống hình ảnh Thiên Chúa hơn. Sống và hành động theo ý muốn của Thiên Chúa là hướng đến sự thiện trong cuộc đời mình. Sự tự do đó giúp chúng ta biết sống yêu thương, phục vụ và hiến thân, bằng một con tim rộng mở cho Thiên Chúa và tha nhân.

Ước mong rằng, mỗi người chúng ta không phải chỉ biết đòi hỏi tự do trong mọi sự, nhưng cần biết dùng tự do như một ơn ban, một quà tặng từ Thiên Chúa để làm cho cuộc đời mình trở nên thánh thiện, và ngày một giống hình ảnh Thiên Chúa – Đấng là Tự Do và là cùng đích của sự tự do cho nhân loại.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (13.6.2022)

----------
[1] Etienne Gilson, The Spirit of Mediaeval Philosophy, New York, 1940, 304.
[2] X. Dominique Morin, Gọi Tên Thượng Đế, Paris, 1989, 90.
[3] Maurice Zundel, Quel homme et quel Dieu, Fayard, 1976, 30.
[4] X. Phạm Đình Phước SDB, Triết Học Về Con Người, Đà Lạt, 2015, 198-201.
[5] Tôma Aquinô, ST, I-II, q. 13, a.6.

---------------------------------

 

Bài 57: ƯƠM MẦM ĐỨC TIN


Giuse Lê Đắc Thắng, SJ

Hỏi: Làm cách nào để giáo dục giới trẻ theo tinh thần Công giáo? Bởi ngày nay lớp trẻ dù mới 8–10 tuổi đã bắt đầu phân biệt hiệu này hiệu kia, cứ muốn Macbook mà không phải HP hay Dell.



Trả lời:

Bạn thân mến,

Câu hỏi của bạn đã đề cập đến một sứ mạng rất quan trọng của Giáo hội trong thời đại ngày nay, đó là đồng hành với các bạn trẻ. Từ kinh nghiệm của bản thân, có thể bạn đã cảm nhận được phần nào sự thách đố trong việc giáo dục người trẻ. Là người Công giáo, bạn có thêm một thao thức khác nữa là làm sao giúp thế hệ trẻ lớn lên theo “tinh thần Công giáo” chứ không phải là “tinh thần” khác!

Có vẻ như ngày nay “tinh thần Công giáo” đang bị lép vế trước “tinh thần thế gian”. Bạn đã đưa ra một quan sát thực tế là “đứa trẻ dù mới 8–10 tuổi đã bắt đầu phân biệt hiệu này hiệu kia”. Qua đó bạn cũng bày tỏ lo lắng là cứ đà này sẽ dẫn giới trẻ đến nguy cơ xa rời “tinh thần Công giáo,” kiểu như “cứ muốn Macbook mà không phải HP hay Dell.”

Trước hết, tôi xin nói đôi lời về cái bạn gọi là “tinh thần Công giáo.” Có lẽ bạn đã nghe người ta nói nhiều về “tinh thần” như:

- Tinh thần dân tộc
- Tinh thần yêu nước
- Tinh thần công dân
- Tinh thần đồng đội
- Tinh thần hiếu học
- Tinh thần cầu tiến
- Tinh thần trách nhiệm
- v.v

Chữ “tinh thần” ở đây có thể được hiểu như một thái độ được hình thành trong suy nghĩ. Quan trọng hơn, thái độ đó có vai trò định hướng mọi hành động của một cá nhân trong những hoàn cảnh cụ thể. Do đó, chúng ta có thể hiểu “tinh thần Công giáo” như thái độ sống đức tin của người tín hữu được biểu hiện qua những việc làm cụ thể của họ.

Như vậy, một người được cho là có tinh thần Công giáo thì không thể có tư tưởng và hành động ngược lại với đức tin Công giáo. Mặc dù đức tin Công giáo được tuyên xưng một phần bằng ngôn từ nơi những tín điều Giáo hội dạy và những luật phải giữ, nhưng tinh thần Công giáo không chỉ giới hạn và có khi không thể hiện ở việc tuân thủ đầy đủ các luật lệ.

Ở đây, thái độ đóng vai trò quan trọng hơn và quyết định giá trị của hành động. Tất nhiên, một người tuyên bố tin vào Thiên Chúa mà không tuân thủ những điều luật Giáo hội dạy là kẻ nói dối. Ngược lại, nếu một người tuân thủ đầy đủ các luật lệ của Giáo hội nhưng không hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa thì họ cũng chỉ đang giữ đạo hình thức mà thôi.

Chúa Giêsu vẫn thường lên án những người Pharisêu khi họ giữ luật rất chi li nhưng lại thiếu lòng nhân từ với người khác. Chẳng hạn họ hà khắc với những người bị gạt ra bên lề xã hội Do Thái thời bấy giờ. Như thế cần phải nói thêm rằng sống đức tin Công giáo không phải là giữ đầy đủ những luật lệ nhưng chính là sống theo khuôn mẫu Đức Giêsu Kitô. Nói cách khác, “tinh thần Công giáo” cũng chính là “tinh thần Giêsu.” Khi bạn lo lắng cho “tinh thần Công giáo” của những người trẻ, chắc hẳn bạn không chỉ nghĩ tới trường hợp họ công khai chối bỏ những tín điều đức tin hay ra mặt chống đối Giáo hội. Đúng hơn, bạn sợ rằng họ sẽ có thái độ và việc làm không phù hợp với đời sống của một người biết, tin và bước theo Chúa Giêsu.

Bạn muốn tìm cách hướng dẫn người trẻ bước theo Chúa Giêsu, giúp người trẻ sống đức tin. Muốn giúp người trẻ bước theo Chúa Giêsu thì trước hết phải giúp họ biết Ngài. Người ta vẫn thường nói “Vô tri bất mộ,” tức là nếu không biết thì không thể yêu mến được. Chúa Giêsu có thể được biết đến như một nhân vật lịch sử với những thông tin căn bản về đời sống của Ngài được mô tả qua nhiều trình thuật trong 4 sách Tin Mừng.

Tuy nhiên biết về Chúa Giêsu thôi vẫn chưa đủ để giúp người trẻ có kinh nghiệm sống động về Ngài. Thật vậy, Chúa Giêsu vẫn luôn hiện diện với Giáo hội và trong Giáo hội qua mọi thời đại, đặc biệt là nơi đời sống đức tin của các cộng đoàn tín hữu. Do đó, người trẻ cần được người có kinh nghiệm hơn giúp đỡ và đồng hành để nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện một cách sống động trong chính kinh nghiệm của bản thân họ. Người trẻ có thể nhận ra Thiên Chúa nơi gương mẫu đời sống đức tin của các thành viên khác trong cộng đoàn gia đình, giáo xứ, là những người họ có cơ hội tiếp xúc hàng ngày.

“Tinh thần Công giáo” không phải là thứ giáo lý để học thuộc lòng nhưng chính là mối thân tình với Chúa Giêsu. Nó cần được sống và được truyền lại qua các thế hệ tín hữu. Bạn có thể hiểu được điều này khi nhìn về truyền thống đức tin trong gia đình mình. Ông bà hay cha mẹ bạn nói cho bạn rất ít về Thiên Chúa, chỉ là dạy làm dấu Thánh Giá và vài kinh nguyện ngắn thôi. Thế nhưng từ nhỏ bạn đã có cảm thức về Thiên Chúa nhờ bởi “tinh thần Công giáo” của họ. Tinh thần đó không chỉ thể hiện qua những gì họ nói mà còn qua cách họ chăm lo cho gia đình và cộng tác vào các công việc xã hội mà bạn có thể quan sát thấy được.

Như thế, người lớn phải là gương mẫu về một đời sống gắn kết với Chúa Giêsu. Sẽ là mâu thuẫn nếu cha mẹ thường xuyên cãi nhau với hàng xóm mà lại dạy con cái phải yêu thương tha thứ người khác. Cha mẹ buôn gian bán lận nhưng lại dạy con sống trung tín thật thà. Cha mẹ bỏ bê việc đạo đức nhưng khuyên con đến nhà thờ. Việc giáo dục người trẻ theo tinh thần Công giáo sẽ trở nên dễ dàng và thiết thực hơn nếu mỗi người lớn đều trở thành một thầy dạy đức tin, không chỉ bằng lời nói mà còn bằng những việc làm cụ thể.

Ngoài ra, người trẻ cũng có thể cảm nghiệm và học hỏi được tinh thần Công giáo qua những sinh hoạt đức tin của cộng đoàn dân Chúa. Khi tham dự các nghi thức phụng vụ, đặc biệt là thánh lễ, bạn trẻ sẽ nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện một cách sống động nơi sự hiệp thông của cộng đoàn dân Chúa và nơi bí tích Thánh Thể.

Tinh thần Công giáo còn được cảm nhận một cách cụ thể qua các hoạt động bác ái xã hội mà các bạn trẻ có cơ hội tham gia. Các bạn sẽ nhận ra rằng tương quan với Thiên Chúa không phải là chuyện trên trời nhưng cần phải được thể hiện dưới đất này trong tình liên đới giữa con người với nhau. Chúng ta không nên nói về tinh thần Công giáo một cách chung chung bởi vì tinh thần đó cũng chính là lối sống được thể hiện qua đời sống của từng cá nhân và của cộng đoàn đức tin. Tinh thần đó cũng không phải là một thứ lý tưởng hay ý thức hệ nào đó được tuyên truyền từ bên ngoài nhưng xuất phát từ kinh nghiệm nội tâm sâu thẳm của mỗi người. Kinh nghiệm được đụng chạm Chúa Giêsu sẽ có sức tác động làm thay đổi toàn bộ cuộc sống của bạn trẻ.

Nói đúng ra, tinh thần Công giáo cần cho mọi tín hữu chứ không chỉ dành riêng cho các bạn trẻ. Tuy nhiên, nơi người trẻ có những điều kiện đặc trưng giúp họ đón nhận và thể hiện tinh thần đó một cách sinh động hơn so với người lớn.

Bạn có đưa ra ví dụ về một đứa trẻ 8–10 tuổi có khả năng “phân biệt hiệu này hiệu kia.” Khả năng phân biệt của người trẻ chính là một tín hiệu rất đáng mừng. Đó còn là mảnh đất màu mỡ để gieo mầm đức tin. Khi các em biết phân biệt giữa những thứ khác nhau tức là các em đã có đủ kiến thức hiểu biết và khả năng tư duy độc lập, không còn tin theo người khác một cách mù quáng.

Các em “cứ muốn Macbook mà không phải HP hay Dell” là bởi vì nơi các em đã hình thành một thang giá trị cho việc lựa chọn. Do đó các em không đánh đồng mọi thứ và sẽ luôn ưu tiên lựa chọn tốt hơn theo quan điểm của mình. Thang giá trị đó có thể chuẩn hoặc chưa chuẩn, có hoặc không có tinh thần Công giáo. Nhưng nó luôn luôn là bước khởi đầu quan trọng, là cơ sở để sau này điều chỉnh nếu cần thiết. Chúng ta đừng quá lo lắng khi thấy các em chưa nhận thức đúng hoặc đưa ra lựa chọn sai lầm. Thang giá trị sẽ thay đổi theo thời gian tương ứng với sự biến chuyển trong trình độ hiểu biết của các em.

“Tinh thần Công giáo” theo đó cũng được truyền đạt dần dần theo một tiến trình thời gian chứ không phải là chuyện một sớm một chiều, muốn có là được ngay. Tiến trình đó phải được thực hiện liên tục qua mọi giai đoạn phát triển của một con người, và không bao giờ có điểm dừng. Nói theo ngôn ngữ đức tin thì đó là quá trình hoán cải không ngừng.

Do đó, tinh thần Công giáo là giá trị được chính đương sự tự mình nhận ra nhờ sự hướng dẫn đồng hành của những người trưởng thành hơn. Nói cách khác, “tinh thần Công giáo” không phải là loại tài sản chỉ để đặt trong lồng kính hay cất giữ trong két sắt. Ngược lại, nó là viên ngọc quý cần phải được mài giũa sáng bóng qua: cọ xát, trao đổi, đối thoại, chất vấn, điều chỉnh và được hoàn thiện dần dần qua những tình huống khác nhau trong đời sống hàng ngày.

Chúng ta tin rằng đời sống mỗi người là cả một thế giới mầu nhiệm nơi đó Chúa Thánh Thần luôn hoạt động và chính là thầy dạy trực tiếp. Là người Công giáo, chúng ta được diễm phúc làm con cái Chúa nhờ ân sủng của bí tích Rửa tội. Tuy nhiên, “tinh thần Công giáo” nơi chúng ta lại cần phải được trau dồi và củng cố trong đời sống hàng ngày dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Nhờ đó càng ngày chúng ta càng gắn kết mật thiết với Chúa Giêsu hơn, càng có tinh thần Công giáo hơn.

“Tinh thần Công giáo” không ở trong thế cạnh tranh giành giật với những “tinh thần” khác như những đối thủ ngang tầm. Đúng hơn, tinh thần Công giáo đóng vai trò nền tảng để soi sáng, hướng dẫn, mang lại ý nghĩa cho toàn bộ đời sống con người.

Nói cách khác, những “tinh thần” khác nếu được điều chỉnh bởi “tinh thần Công giáo” thì chúng vẫn có thể là con đường tốt dẫn chúng ta đến gần hơn với Thiên Chúa. Cụ thể, đạo Công giáo không bao giờ cấm người ta chọn Macbook thay vì HP hay Dell. Chúng ta chỉ biết rằng Chúa Giêsu dạy sống tinh thần nghèo khó, liên đới chia sẻ với anh chị em gặp cảnh khó khăn và phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Không làm tôi cho của cải vật chất. Do đó, việc “chọn Macbook hơn là HP hay Dell” có phù hợp với điều Chúa dạy hay không thì phải xét theo từng hoàn cảnh cụ thể. Không thể có quy luật nào là cứ chọn đồ đắt là không có tinh thần nghèo khó hay không có tinh thần Công giáo, và ngược lại.

“Cứ muốn Macbook mà không phải HP hay Dell” tự nó không phải là điều gì xấu xa hay đi ngược với tinh thần Công giáo. Một lựa chọn như vậy có thể là nguy cơ hay là biểu hiện của một lối sống hưởng thụ, tiêu xài quá mức. Tuy nhiên, nếu áp dụng nhận định đó vào trường hợp một em nhỏ thì có thể chúng ta đã trầm trọng hóa vấn đề. Chọn lựa của các em có thể bị tác động bởi truyền thông quảng cáo hay từ bạn bè, nói chung là từ môi trường bên ngoài chứ không phải từ sự cân nhắc sáng suốt và hiểu biết đầy đủ của các em.

Muốn các em nhận ra những giá trị tốt đẹp thì phải tạo dựng một không gian sống lành mạnh và giúp che chắn bảo vệ các em khỏi môi trường độc hại. Ngày nay, nhờ sự phát triển rộng rãi của Internet, ngay từ nhỏ các em đã tiếp xúc với thế giới rộng lớn vượt ra ngoài phạm vi gia đình hay nhà trường. Tuy nhiên thế giới mạng lại là con dao hai lưỡi. Nơi đó các em bị ảnh hưởng cả điều tốt lẫn điều xấu. Do vậy trách nhiệm của các bậc làm cha làm mẹ đối với con em mình lại cần được thể hiện một cách năng động và quyết liệt hơn, không chỉ là cấm đoán mà còn phải là hướng dẫn chỉ dạy nữa.

Tôi hiểu nỗi bận tâm của bạn khi thấy lớp trẻ ngày nay đang lớn lên ngoài tầm kiểm soát của cha mẹ. Theo đó việc truyền đạt dạy dỗ đức tin Công giáo cho con trẻ càng khó khăn hơn. Khi lãnh nhận bí tích hôn phối, họ đã thề hứa trước mặt Chúa và Hội thánh là: “Sẵn sàng yêu thương đón nhận con cái mà Chúa sẽ ban, và giáo dục chúng theo luật Chúa Kitô và Hội thánh.” Điều đó có nghĩa là chúng ta phải trở nên gương mẫu cho con em mình về đời sống đức tin về không chỉ bằng lời nói mà còn là hành động cụ thể.

Khi nhận thấy con trẻ có xu hướng sống xa rời “tinh thần Công giáo,” chúng ta hãy tìm cách khắc phục và xây dựng, thay vì chỉ than phiền hay quở trách. Các bạn trẻ ngày nay đã biết đưa ra chọn lựa từ độ tuổi rất sớm, không chỉ là chọn đồ vật này hay đồ vật kia mà có khi còn quyết định cả những vấn đề quan trọng hơn như là niềm tin tôn giáo hoặc lý tưởng sống của mình. Đó là tự do và là sự trưởng thành của các em, chúng ta cần phải tôn trọng.

Các em cần được trao cơ hội để lựa chọn, còn trách nhiệm của gia đình và xã hội là luôn đồng hành hỗ trợ các em. Ước sao các em có nhận thức hiểu biết để tự đưa ra quyết định chọn lựa đúng đắn và phù hợp nhất, không chỉ trong lĩnh vực đức tin mà còn trong bất cứ mọi lĩnh vực khác.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (20.6.2022)

---------------------------------

 

Bài 58: CÁC THÁNH TRONG CỰU ƯỚC VÀ TÂN ƯỚC


Cao Gia An, S.J.

Hỏi: Tại sao trong Cựu Ước không có các vị Thánh như thời Tân Ước?

Trả lời:

Trong Cựu Ước vẫn có các Thánh chứ nhỉ. Chẳng hạn, chúng ta vẫn mừng lễ kính các Thánh Tổng Lãnh Thiên Thần Micael, Gabriel và Raphael. Họ là những nhân vật của Cựu Ước đấy chứ! Giáo Hội Công Giáo cũng mừng lễ Thánh Gioankim và thánh Anna, song thân Đức Maria. Họ cũng là những nhân vật sống trước thời Chúa Giêsu, nghĩa là thuộc về Cựu Ước, phải không?

Tuy nhiên, câu hỏi của bạn là một câu hỏi thú vị. Xoay quanh câu hỏi ấy, rất nhiều điều có thể được bàn thảo và khám phá về hai não trạng khác nhau giữa Cựu Ước và Tân Ước. Trước hết, chúng ta thử tìm hiểu về sự khác biệt của khái niệm “Thánh” trong Cựu Ước và việc sử dụng khái niệm ấy trong Tân Ước. Sau đó, chúng ta sẽ bàn về khái niệm “Thánh” như được sử dụng trong Giáo Hội Công Giáo ngày nay.

1. “Thánh” trong Cựu Ước

Gốc từ Do–thái קדש  (qdš) được dùng trong nhiều bản văn Cựu Ước khác nhau, và thường được dịch là “Thánh”. Gốc từ ấy xuất phát từ vùng ngôn ngữ Akkadian, có nguyên nghĩa là “tách biệt”, “tách riêng”, hoặc “dành riêng”[1]. Nhiều dạng thức khác nhau của gốc từ này thường được dùng để chỉ về một phẩm tính đặc biệt, tách rời khỏi những gì thuộc thế trần và phàm tục, xa khỏi những gì là tội lỗi và ô uế (Lv 20,26; 21,7; Ds 6,8; Đnl 7,6). Như thế, “Thánh” trong Cựu Ước là thuật ngữ được dùng để chỉ về phẩm tính thánh thiêng, vượt lên trên những gì thấp hèn và trần tục.

Cần biết rằng trong quan niệm của Cựu Ước, chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng Thánh. Tất cả những sự khác: con người, nơi chốn, sự vật… chỉ là “Thánh” trong mức độ được thông dự vào phẩm tính thánh thiêng của Thiên Chúa. Chẳng hạn: dân Thiên Chúa chọn làm dân riêng được gọi là dân Thánh (Xh, 19,6; Đnl 7,6; Lv 19,2). Đất của Thiên Chúa được gọi là Đất Thánh (Xh 3,5; Dcr 2,16). Thành của Thiên Chúa được gọi là Thành Thánh (Is 48,2; Nkm 11,1). Nơi phụng thờ Thiên Chúa được gọi là Đền Thánh (Is 64,10; Tv 122,1). Núi của Thiên Chúa được gọi là Núi Thánh (Tv 14,1; 134,3). Tất cả những gì được gọi là Thánh đều gắn liền với Thiên Chúa.

Khái niệm “Thánh” ít khi nào được áp dụng cho cá nhân con người. Trong Cựu Ước, có rất nhiều người ngay chính, hoàn hảo và đẹp lòng Thiên Chúa như Nô–ê (St 6,8–9); công chính và đầy lòng tin như Tổ Phụ Áp–ra–ham (St 15,6; x. Rm 4); vẹn toàn, ngay thẳng và kính sợ Thiên Chúa như ông Gióp (G 1,1); có những ngôn sứ và thủ lãnh vĩ đại như Mô–sê hay Ê–lia… Nhưng trong số họ không ai được gọi là Thánh.

Con người có thể được thánh hoá cho Thiên Chúa để làm dân thánh[2], để làm tư tế chuyên lo việc tế tự và phụng sự cho Thiên Chúa (Lv 21,6; Ds 6,5). Tuy niên quan niệm của Cựu Ước rất rõ rằng: con người tự bản chất không phải là Thánh.

Ngược lại, mọi con người đều là tội nhân trước mặt Thiên Chúa. Thân phận con người được thường được vẽ lên như thế này: “lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đang mang tội khi mẹ mới hoài thai” (Tv 51,7). Chẳng một con người nào được xem là thanh sạch từ giữa chốn phàm trần (Gióp 14,4). Không một ai có thể được xem là thánh thiện thanh sạch trước mặt Chúa: “Trước nhan Thiên Chúa, phàm nhân cho mình là công chính thế nào được? Và đứa con do người phụ nữ sinh ra, làm sao dám coi mình là thanh sạch?” (Gióp 25,4)…

Thế nên không ngạc nhiên khi chân dung của những nhân vật trổi trang nhất trong lịch sử Cựu Ước, dù là Tổ Phụ Áp–ra–ham, Mô–sê, Sa–mu–en, hay vua Đa–vít… đều được hoạ lại không chỉ với những gương sáng nhưng còn có cả bóng mờ về những lỗi lầm và thất bại của họ.

Tóm lại, chúng ta thấy rằng các tác giả Cựu Ước không gọi những con người cụ thể là Thánh, dù đó là những con người mẫu mực và đẹp lòng Chúa. Nếu phẩm tính thánh thiêng được nhìn như là đối nghịch với phàm trần, thì chỗ của các Thánh là ở trên trời chứ không thuộc trần thế này.

2. “Thánh” trong Tân Ước

Trong Tân Ước, άγιος là từ Hy–lạp thường được dùng với nghĩa tương tự như từ קדש  trong tiếng Do–thái. Tuy nhiên việc sử dụng từ άγιος trong Tân Ước rất khác.

Trung tâm của Tân Ước là Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa nhập thể làm người và ở giữa con người. Người vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật. Do đó, nơi Người có một sự hiệp nhất bất khả phân ly giữa hai phẩm tính thánh thiêng và phàm trần. Với Người, “Thánh” không chỉ là một khái niệm chỉ về những thực tại trên trời. Đúng hơn, khái niệm ấy được hiện thực hoá dưới đất, nơi những ai tin vào Đức Giêsu và để cho mình được kết hợp với Người.

Do đó, những người tin và theo Đức Giêsu trong cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên thường được gọi là “các Thánh” hay “các Thánh của Chúa” (x.Cv 9,13.32; 26,10). Họ thông dự vào sự thánh thiện của Thiên Chúa, ngang qua Đức Kitô, và được được kêu gọi là thánh. Cộng đoàn của những người bước theo để phục vụ và loan báo Tin Mừng về Đức Kitô được gọi là cộng đoàn dân thánh[3].

Như thế, trong Tân Ước đã có những con người được gọi là Thánh. Cần lưu ý rằng họ nên thánh không phải nhờ công trạng của riêng mình hay vì một phẩm chất luân lý nào đặc biệt nơi mình. Đúng hơn, họ được gọi là Thánh vì họ được thánh hoá và được cứu chuộc trong Đức Kitô. Họ là những con người bằng xương bằng thịt, sống trong trần thế, nhưng chính việc đón nhận và sống niềm tin vào Đức Giêsu Kitô đã đảm bảo cho họ một chỗ trên quê hương thiên quốc. Họ thuộc về Thiên Chúa, vì thế, họ được gọi là Thánh.

3. “Thánh” trong lịch sử Giáo Hội

Từ việc được sử dụng chung cho tất cả những người tin vào Đức Giêsu, danh hiệu “Thánh” càng ngày càng được sử dụng theo hướng hẹp hơn và ngặt hơn trong dòng lịch sử Giáo Hội Công Giáo. Chỉ những người theo Chúa và sống một cuộc đời mẫu mực mới xứng đáng được gọi là Thánh. Mẫu mực lớn nhất là việc sẵn sàng từ bỏ chính mạng sống của mình để tuyên xưng niềm tin vào Đức Kitô và làm chứng cho Tin Mừng của Người. Bởi thế, rất sớm, tước hiệu “Thánh” được đặc biệt sử dụng cho các vị tử đạo. Họ được gọi là μάρτυς, nghĩa là chứng nhân. “Họ từ những đau khổ lớn lao mà đến. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên. Vì thế, họ được chầu trước ngai Thiên Chúa” (Kh 7,14–15).

Nên biết rằng trong các Giáo Hội tiên khởi không hề có một nghi thức chính thức hay long trọng tuyên phong một ai đó là Thánh. Chính các vị mục tử địa phương là những người quyết định một gương mẫu chứng nhân nào đó, nhất là gương mẫu chứng nhân của các vị tử đạo, sẽ được tôn vinh và sùng kính. Họ được gọi là các Thánh.

Cho đến cuối thế kỷ thứ X, việc phong thánh mới có một nghi thức chính thức trong Giáo Hội Công Giáo. Vị thánh đầu tiên được tuyên phong bằng nghi thức long trọng là Thánh Ulrich, Giám Mục của thành phố Ausburg, được phong thánh bởi Đức Giáo Hoàng Gioan XV tại Công Đồng Laterano vào năm 993. Từ đó trở đi, việc tuyên thánh cho một ai đó trong Giáo Hội Công Giáo trở thành đặc quyền của Đức Giáo Hoàng, thường là sau một tiến trình điều tra và xác minh rất dài. Một người được nhìn nhận là Thánh khi người ấy sống một cuộc đời mẫu mực theo gương Chúa Kitô, và cuộc đời ấy mang theo một sứ điệp đặc biệt nào đó cho con người ngày nay.

Tuy nhiên, cần phân biệt rằng các Thánh không chỉ bao gồm những người được Đức Giáo Hoàng tuyên phong, có ngày mừng Lễ, và có nghi thức tôn kính trong Giáo Hội Công Giáo. Những người được tuyên phong bởi Đức Giáo Hoàng chỉ là đại diện và là thiểu số của một cộng đoàn đông đảo các Thánh trên trời. Họ là những người “được diễm phúc chiêm ngưỡng Thiên Chúa, chúc tụng tôn vinh Người, và không ngừng cầu thay nguyện giúp cho những người còn ở dưới thế.”[4]

Thế thì thử đặt lại câu hỏi: những nhân vật trổi trang và thánh thiện trong Cựu Ước có phải là Thánh không? Phải, họ là Thánh. Ngày nay họ được tôn phong như là Thánh trong lòng các cộng đoàn Do–thái giáo, Chính Thống Giáo, hay cả Hồi Giáo. Có Thánh Tổ Phụ Áp–ra–ham, các Thánh Ngôn Sứ như Mô–sê, Ê–li–a, I–sa–ia, v.v... Theo nghĩa rộng, Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận rằng các vị này đã có một vị trí đặc biệt trên quê hương thiên quốc trước Nhan Thánh Chúa, và do đó, họ là những vị Thánh. Thế nên Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo dạy rằng: “các tổ phụ, các ngôn sứ, và những nhân vật khác của Cựu Ước đã và sẽ luôn được tôn kính như là những vị thánh trong tất cả truyền thống phụng vụ của Hội Thánh” (Giáo Lý Công Giáo, chương 2, mục 1, số 61).

Vậy tại sao Giáo Hội Công Giáo lại không chính thức “phong thánh” cho các nhân vật Cựu Ước? Có hai điều cần lưu ý.

Thứ nhất, khi Giáo Hội không có nghi thức phong thánh cho một người, không hoàn toàn có nghĩa rằng người ấy không phải là Thánh. Thí dụ: các nhân vật trong Tân Ước như các Thánh Tông Đồ, các môn đệ, các Thánh Sử… là những vị Thánh mà không cần bất cứ một nghi thức tôn phong nào. Họ được minh nhiên nhìn nhận là Thánh vì gương sống và tầm quan trọng của họ trong Giáo Hội tiên khởi. Cũng thế, một số các tổ phụ, các ngôn sứ, các người công chính của Cựu Ước hoàn toàn có thể được nhìn nhận như là những vị thánh.

Thứ hai, có một phân biệt quan trọng cần phải lưu ý rằng: trong Giáo Hội Công Giáo, các Thánh được tôn phong phải là những nhân vật lịch sử có thật, là những con người cụ thể sống một cuộc đời gương mẫu. Nên biết rằng có nhiều nhân vật của Cựu Ước để lại những mẫu nhân đức sáng ngời. Nhưng có một số nhân vật được kể lại theo lối văn chương dân gian. Một số nhân vật không chắc và không nhất thiết là những nhân vật đã từng tồn tại trong lịch sử.

Chẳng hạn ông Gióp là một nhân vật nổi tiếng về việc kiên vững trong đức tin, bám tựa vào Thiên Chúa, bất chấp đau khổ và bất công liên tiếp đổ dồn lên cuộc đời ông. Nhưng chúng ta không gọi ông là Thánh Gióp. Đơn giản bởi vì nhân vật ông Gióp của Cựu Ước chưa hẳn phải nhất thiết là một nhân vật có thật. Đó là một câu chuyện về một mẫu gương sống niềm tin anh hùng. Nhưng nhân vật ấy được kể lại bằng ngôn ngữ truyền thuyết dân gian.

Có rất nhiều chi tiết cho thấy hình ảnh nhân vật Gióp được xây dựng như là biểu tượng của những người công chính đau khổ, biểu trưng của dân Thiên Chúa, một dân tộc luôn cố gắng bước đi theo đường lối của Chúa, nhưng luôn gặp hết đau khổ này đến đau khổ khác. Đó là một nhân vật của văn chương, và không ai xác minh được chắc chắn liệu đó có phải là một nhân vật lịch sử hay không. Điều quan trọng là bài học người ta học được từ câu chuyện và gương mẫu của Gióp, chứ không phải là chính con người của nhân vật ấy.

Điều này cũng có thể đúng với nhân vật các ngôn sứ. Đương nhiên, trong suốt dòng lịch sử của dân Chúa, có rất nhiều nhân vật lịch sử là các ngôn sứ. Giê–rê–mia, I–sa–ia, Ê–dê–ki–en, hay các ngôn sứ khác… đều là những cái tên trổi trang trong Cựu Ước. Nhưng chúng ta không có bất cứ một tư liệu lịch sử nào đầy đủ và trọn vẹn về cuộc đời của các vị ấy, ngoài một số rất ít những chi tiết về cuộc đời họ được đề cập ngang qua các bản văn.

Cũng không hẳn các nhân vật ngôn sứ này là tác giả của những quyển sách mang tên họ, vì các sách ấy là công trình được biên soạn qua rất nhiều giai đoạn, với nhiều thế hệ học trò khác nhau… Như thế, không có một chân dung thật sự của một con người cụ thể để có thể gọi con người ấy là Thánh, theo góc nhìn của Giáo Hội Công Giáo.

Tóm lại, việc chúng ta không minh nhiên gọi các nhân vật trổi trang trong Cựu Ước là các Thánh không đồng nghĩa với việc không có các Thánh trong thời Cựu Ước. Thời nào cũng có những con người sống đẹp lòng Chúa và xứng đáng hưởng hạnh phúc viên mãn mà Thiên Chúa hứa ban. Dù chúng ta gọi họ bằng bất cứ tước hiệu gì đi nữa, họ vẫn là những vị Thánh của Chúa.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 3, Nxb Tôn Giáo, 2020)

WHĐ (27.6.2022)

Đọc thêm:

----------
[1] Cf. F. Brown, S.R. Drive, C.A. Briggs,  A Hebrew and English Lexicon of the Old Testament (Harvard University Library; Boston - New York – Chicago 1906) 871.
[2] Xh 19,6; Lv 11,4; 19,2; 20,7.
[3] x. Rm 1,7; 8,27; 12,13; 15,31; 16,2.15; 1 Cr 1,2; 6,1-2; 14,33; 16,1.15; 2Cr 1,1; 8,4; 9,1; Ep 1,1.15.18; 2,19; 3,18; 6,18; Pl 1,1; 4,21; Col 1,2.4.12.26; 1Tx 3,13; Plm 1,5.7; Dt 6,10.
[4] Trích Giáo Lý Công Giáo, số 2683.

---------------------------------

 

Bài 59: VẤN ĐỀ SỰ SỐNG ĐỜI SAU


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Hỏi: Xin cho con hỏi trong kinh Tin Kính, có tín điều “tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Cha xứ dạy chúng con rằng chúng ta sẽ không sống lại với thân xác hiện nay vì nó đã bị hoen ố bởi tội lỗi rồi nhưng thân xác sẽ phục sinh là một thân xác khác đang do chính Chúa Thánh Thần cất giữ. Xin cho con biết có đúng như thế không ạ? Nhiều khi nghĩ sau khi chết, vợ chồng, con cái có còn biết nhau không? Hoặc Kinh thánh nói gì về tương quan sự sống đời sau? Con cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn,

Câu hỏi của bạn thật thú vị. Hẳn là bạn sẽ đồng ý với chúng tôi một điều là chúng ta đang nói về điều mà chúng ta không hề biết nó là cái gì. Bởi lẽ, chẳng ai trong chúng ta đã từng chết để có thể biết được khi ấy “tình trạng” của chúng ta sẽ ra thế nào. Chúng tôi cũng không thể không thừa nhận sự bất lực của mình trước câu hỏi của bạn. Tuy nhiên, chúng tôi dựa vào những mặc khải của Kinh Thánh cùng những lời giảng dạy của Giáo hội, để đưa ra câu trả lời mà lý trí có thể chấp nhận được. Để làm điều đó, trước hết, vì chỉ có Đức Giêsu là Đấng từ trời xuống nên biết rõ mọi sự trên trời, chúng ta cùng lược lại Tin Mừng, xem Ngài mặc khải cho chúng ta biết điều gì. Sau đó, chúng ta hãy cùng chiêm ngắm chính Đức Giêsu phục sinh, vì sự phục sinh của Ngài cho chúng ta biết về tình trạng phục sinh mà chúng ta sẽ trải qua. Nào, chúng ta cùng bắt đầu!

Mặc khải của đức Giêsu về sự sống sau cái chết

Thời kỳ đầu của Cựu Ước, người ta chỉ biết đến đời này. Cuộc sống hiện tại là nơi sự hiện diện của Thiên Chúa được phô bày cách trọn vẹn. Vì thế, giàu có được xem là điềm may, một diễm phúc, được Thiên Chúa ân thưởng. Đến thời Hy Lạp hoá, dân ngoại chà đạp Thiên Chúa, xúc phạm Đền Thờ, dẫn đến cuộc nổi dậy của anh em nhà Macabe. Trong trình thuật về cuộc tử đạo của bảy anh em (x.2Mcb 7,1–41), ta thấy thấp thoáng bóng dáng tư tưởng về sự sống đời sau. Tất cả đều sẵn sàng chết chứ nhất quyết không vi phạm luật Chúa vì tin rằng Chúa sẽ cho họ sống lại để vui hưởng sự sống đời đời. Khi có ý thức về sự sống đời sau, người ta bắt đầu phóng tầm nhìn ra xa hơn. Cái nghèo nói riêng và những đau khổ ở đời này nói chung không còn là một mối hoạ, một điềm gở hay một sự chúc dữ của Thiên Chúa nữa, bởi vì “sự sống đời sau” mới quan trọng.

Quả vậy, từ thời xa xưa, người ta đã tin là có cái gì đó nơi con người sẽ tồn tại ngay cả sau khi chết. Người ta gọi đó là “linh hồn”. Có rất nhiều cách hiểu về linh hồn, đôi khi là sai lệch, mà chúng tôi không tiện nói rõ ở đây. Cách chung, người ta nói và tin vào “linh hồn bất tử”.[1] Đôi khi, người ta còn đồng hoá “linh hồn” ấy với chính người chết. Chúng ta sẽ ra sao sau khi chết? Nhiều người sẽ tưởng tượng ra một kiểu “bóng ma” nào đấy, vất vưởng, hoặc sẽ tiến về cõi đầy ánh sáng, hoặc sẽ bị đưa vào chốn tối tăm. Có người còn cho rằng khi chết, chúng ta “bị tách” ra làm hai: thân xác bị thối rữa trong lòng đất, còn linh hồn thì tiêu diêu tự tại siêu thoát. Những kiểu suy tưởng này chỉ do con người chúng ta dùng kinh nghiệm ở cuộc sống này để thoả mãn cho sự tò mò của mình. Đây cũng là cũng suy nghĩ mang tính nhị nguyên, nghĩa là phân chia cách rõ ràng hai thực thể “hồn” và “xác” đối nghịch nhau (thân xác là ngục tù giam cầm linh hồn, chết là hồn lìa khỏi xác).

Thế nhưng, nếu con người là một hợp thể giữa “hồn” và “xác” thì sẽ không còn là con người nữa khi chỉ có “hồn” hoặc “xác”. Khi ta trút hơi thở cuối cùng, ta đi vào trong tình trạng “chết”, tình trạng không có sự sống. Dân gian hay dùng từ “an giấc ngàn thu” để nói về cái chết, như muốn diễn tả nó tựa một giấc ngủ dài, người ta buông ra tất cả, nghỉ ngơi, sống vô ý thức, quên cả không gian và thời gian. Đây chính xác là điều mà chúng ta không hề biết nó là gì, nhưng chỉ có thể dùng những hình ảnh tương đương của thế giới hữu hình này để diễn tả.

Tuy vậy, chúng ta vẫn tin là sau khi chết, chúng ta vẫn tồn tại ở một dạng thức nào đó, có “cái gì đó” bất biến và cái chết thể lý không thể xâm phạm đến. Đó là lý do chúng ta cầu nguyện cho những người qua đời, hoặc xin sự chuyển cầu của các thánh. Có thể nói, người chết đang tạm thời “vắng bóng”, đang “ngủ”, tách khỏi những tương quan thể lý với người còn đang sống và trong niềm tin Kitô giáo, họ “chờ” để được “trỗi dậy”, “sống lại” để sống đời sống mới. Khi ấy, từng người trong chúng ta sẽ trở về là chính chúng ta trong tình trạng đã được biến đổi nhờ Thánh Thần.

Nhóm Xađốc vào thời Chúa Giêsu đã không tin vào điều này, nên đã có lần chất vấn Chúa Giêsu bằng cách tạo ra một câu chuyện (x.Lc 20,27–38). Họ hỏi Chúa Giêsu rằng:

“Thưa Thầy, ông Mô–sê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. Người thứ hai, rồi người thứ ba đã lấy người vợ góa ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?”

Dụng ý của họ là muốn đưa Chúa Giêsu vào thế bí, vì nếu có sự sống lại sẽ rất khó để xác định thân phận của người đàn bà trong câu chuyện trên. Nhưng Chúa Giêsu đã mặc khải cho chúng ta biết rằng:

“Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô–sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp–ra–ham,Thiên Chúa của tổ phụ I–xa–ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia–cóp. Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.”

Như thế, chúng ta không hề biết “sau khi chết” mình sẽ thế nào, nhưng “khi sống lại”, chúng ta sẽ giống như các thiên thần, sống sự sống của Thiên Chúa, quy hướng về Thiên Chúa, chứ không còn lệ thuộc vào những cơ cấu và quy định của thế giới này. Vì chính chúng ta sẽ sống lại, nên chắc là chúng ta sẽ “nhận ra” nhau, thậm chí, có thể “nhận ra” luôn cả những người thân bao đời trước mà khi còn sống tại thế, chúng ta chưa từng biết họ. Tuy nhiên, chuyện ấy sẽ không còn là vấn đề bận tâm và quan trọng nữa. Khi sống lại, tất cả sẽ được “hợp đoàn cùng muôn thần thánh, phúc miên trường vui hưởng ánh vinh quang” (Thánh Thi “Lạy Thiên Chúa” – Te Deum). Đó hẳn sẽ là một tình trạng hạnh phúc miên viễn mà không một lời lẽ nào có thể diễn tả cho được.

Tại sao Giáo hội lại tin rằng thân xác cũng phải phục sinh?

Là bởi vì chúng ta chỉ có thể là con người trọn vẹn khi có cả hồn (phần linh thiêng) và xác (phần vật chất). Nếu chỉ có hồn hoặc chỉ có xác thôi thì không phải là ta. Thân xác là một phần của ta, hay thậm chí có thể nói, ta chính là nó, như nhiều triết gia nói, theo nghĩa ta sẽ không thể nhận ra, tiếp xúc, đụng chạm với ai nếu người đó không có thân xác, và ngược lại. Trong khi đó, Đức Giêsu đến thế gian này là để cứu con người của ta một cách trọn vẹn, chứ không chỉ cứu linh hồn ta mà thôi. Nếu Ngài chỉ cứu linh hồn ta thì Ngài đang cứu “cái gì đó”, chứ không phải là ta. Đấng Cứu Thế đã muốn mặc lấy xác phàm và trở thành một con người thực thụ chính là muốn cứu lấy cả “xác phàm”, phần vật chất của con người, chứ không chỉ là phần thiêng liêng. Bởi thế, nếu thân xác không được phục sinh thì việc xuống thế làm người của Đấng Cứu Thế trở nên vô nghĩa.

Nhưng phải làm sao để giải quyết những vấn đề khúc mắc ở trên liên quan đến thân xác? Hay nói cách khác, chúng ta cần phải hiểu như thế nào về sự phục sinh của thân xác? Dựa vào mặc khải của Kinh Thánh và dựa vào lý trí, chúng ta có thể tìm được câu trả lời dù rằng trong chúng ta, chưa ai trải nghiệm được điều này. Hơn hết, chúng ta có một mẫu gương rõ ràng và khả tín nhất là chính Đức Giêsu phục sinh. Căn cứ vào những gì Kinh Thánh nói với chúng ta về Đức Giêsu sau khi Ngài đã phục sinh, chúng ta có thể biết chắc hai điều:

Thứ nhất, thân xác được phục sinh phải là một thân xác đã chết vì nếu không chết thì cũng sẽ không có chuyện phục sinh. Đó cũng phải là thân xác mà ta đang sở hữu đây vì nếu hồn của ta kết hợp với một thân xác của người khác thì sẽ trở thành người khác, chứ không phải là ta. Nếu Thiên Chúa làm nên một cái xác khác hoặc sử dụng cái xác của ai đó để kết hợp với hồn của ta thì càng không phải là ta.

Quả vậy, khi Đức Giêsu phục sinh, thân xác phục sinh của Ngài là chính thân xác Ngài đã sống trước đó, với tất cả những dấu đinh, vết sẹo (x. Lc 24,39). Thân xác Ngài phải như trước thì các môn đệ mới nhận ra Ngài được. Nếu Đức Giêsu phục sinh với một thân xác khác thì hẳn là xác chết của Ngài vẫn còn trong mộ. Nhưng thực tế là từ sau ngày phục sinh, không ai – kể cả những kẻ thù của Ngài – có thể tìm thấy xác Ngài.

Ngoài ra, thân xác được phục sinh phải là thân xác mà ta có thể đụng chạm được cách cụ thể, chứ không phải là một cái bóng mờ mờ ảo ảo. Đức Giêsu cũng khẳng định với các môn đệ rằng Ngài vẫn “có xương có thịt”, chứ không phải ma (x. Lc 24,39). Chính Tôma là người đã được Đức Kitô phục sinh cho đụng chạm vào cạnh sườn mình (x. Ga 20,27). Dù ta không biết chắc chắn là Toma có đụng vào cạnh sườn của Chúa không, nhưng lời mời gọi của Đức Giêsu cho thấy Người có thịt xương như bao con người khác.

Điều thứ hai rất quan trọng: thân xác phục sinh là một thân xác được biến đổi theo một cách thức mà thánh Phaolô gọi là “mầu nhiệm” (1Cr 15,51), bởi “xác thịt và khí huyết không thể thừa hưởng Nước Thiên Chúa” (1Cr 15,50). Ngài còn nói thêm: “…tất cả chúng ta sẽ được biến đổi trong một giây lát… Cái thân phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử” (1Cr 15,52–53).

Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolô nói: “Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,31). Ở đây, ta thấy thánh nhân nói rằng Đức Giêsu sẽ biến đổi “thân xác chúng ta” (chứ không phải một thân xác lạ lẫm nào khác), và thân xác được biến đổi ấy sẽ giống như “thân xác vinh hiển của Người”; nghĩa là thân xác phục sinh của Đức Giêsu thế nào thì thân xác phục sinh của chúng ta cũng sẽ giống như vậy.

Như thế, thân xác phục sinh của chúng ta sẽ là một thân xác không còn bị huỷ hoại, không còn vết tích của sự dữ, không còn lệ thuộc vào thời gian không gian, không phải chịu một giới hạn nào, không bị lão hoá, không bệnh tật… Thân xác ấy sẽ như thân xác của Đấng Phục Sinh. Chúa sẽ thanh tẩy thân xác hư nát này của chúng ta thành một thân xác thanh khiết và ngập tràn ân sủng.

Thân xác ấy trông như thế nào, chẳng ai trong chúng ta biết được, nhưng với mạch suy tư này, ta có quyền đi đến kết luận rằng vào lúc phục sinh, người khác nhìn vào ta thì sẽ thấy ta và nhận ra ta (vì ta có thân xác) và sẽ nhìn thấy nơi ta một sự sáng láng tuyệt đẹp, thanh khiết đến lạ kỳ (vì những hậu quả xấu xa của sự dữ và tội lỗi làm cho thân xác của chúng ta bị huỷ hoại và xấu đi đã bị ơn cứu độ của Đức Giêsu gỡ bỏ).

Nhưng với những trường hợp như bị phanh thây, bị chặt đầu, tùng xẻo, hay thậm chí có rất nhiều các nhà truyền giáo đã bị thú dữ hoặc các bộ tộc hoang dã ăn thịt, họ sẽ phục sinh như thế nào? Họ đâu còn thân xác nữa mà phục sinh! Chúng ta biết rằng ngay cả những người chết với một thân xác bình thường, thì sau một thời gian bị chôn vào lòng đất, thân xác họ cũng không còn được nguyên vẹn. Thân xác của chúng ta, dù chết cách nào đi chăng nữa, cũng sẽ bị mục nát và không còn hình hài. Cơ thể của chúng ta sẽ tan ra, bị chia nhỏ, trở về với các nguyên tố hoá học.

Thật khó để chúng ta tưởng tượng là khi phục sinh, các nguyên tố này sẽ kết hợp lại với nhau ra sao để làm nên con người ta trở lại. Tuy nhiên, nếu chúng ta tin rằng Chúa là Đấng quyền năng, Ngài có thể biến từ không ra có tất cả mọi sự thì chuyện làm cho một cái xác bị thối rữa được sống lại và biến đổi chẳng có gì là khó với Ngài.[2]

Thánh Phaolô lấy hình ảnh hạt giống gieo vào đất và nảy mầm thành một cây mới để minh hoạ cho sự phục sinh này. Khi chẻ đôi một hạt lúa, ta không hề thấy trong đó có cây lúa nào. Vậy mà khi gieo xuống đất, tưới nước, bón phân, ta lại thấy chính tại nơi ta gieo hạt lúa nảy sinh một cây lúa. Cây lúa này chính là hạt lúa lúc trước chứ không phải từ một hạt gì khác, hay thậm chí là hạt lúa khác. Ta biết chắc rằng cây lúa này từ hạt lúa kia mà ra, nhưng ta không biết được là tại sao hạt lúa lại trở thành cái cây như vậy. Hạt lúa trước kia chính là cái cây mà ta đang thấy lúc này đây. Hạt lúa không còn nữa, chỉ còn lại cây lúa.

Nói cách khác, hạt lúa ấy đã được biến đổi để trở nên một cái gì đó khác đi, hoàn hảo hơn, tràn đầy sức sống hơn. Hình ảnh minh hoạ này giúp chúng ta hiểu về sự biến đổi thân xác diệu kỳ mà ơn phục sinh của Thiên Chúa sẽ thực hiện trên chúng ta. Chúng ta chỉ đang ở trong giai đoạn “hạt lúa”, cần phải chết đi trong niềm tin vào Đấng Phục Sinh, để Đấng ấy làm nơi ta một sự biến đổi lạ thường chỉ “trong một giây lát, trong một nháy mắt, khi tiếng kèn cuối cùng vang lên.” (1Cr 15,52).

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (04.10.2022)

-------------

Đọc thêm:

 [1] Hãy lưu ý: người ta tin rằng “linh hồn” còn tồn tại sau khi con người chết, chứ không hề có chuyện “kẻ chết sống lại”, trong khi đó, tín điều mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính là “tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Đây là hai vấn đề khác nhau. Với người Công Giáo, không phải chỉ là linh hồn bất tử, nhưng còn là chính tôi sẽ sống lại vào ngày sau hết. Thánh Phaolo, khi giảng dạy về sự phục sinh cho người dân thành Athens đã gặp phải sự kháng cự của người dân nơi đây, vì những người này bám vào triết thuyết của Plato, một kiểu triết học coi thường thân xác. (x.Cv 17,16-23). Nói chung, họ không tin vào sự phục sinh, hay sự sống đời sau.

[2] Bạn có thể đọc trong sách Tiên Tri Ezekiel, chương 37,1-14, nói về thị kiến mà Thiên Chúa ban cho vị Tiên Tri này để hiểu hơn về quyền năng của Thiên Chúa. Trong đoạn này, Ezekiel đã thấy Thiên Chúa ban Thần Khí nối các xương người chết, lắp thịt gân... ban hơi thở để làm cho người chết sống lại. Những hình ảnh giúp chúng ta nghĩ đến ngày chính mỗi người chúng ta cũng được cho sống lại trong quyền năng của Thần Khí Đấng Phục Sinh.

---------------------------------

 

Bài 60: NGHE LÀ LÀM THEO


Giuse Lê Đắc Thắng, SJ

Hỏi: Làm thế nào để có thể lắng nghe thực sự được lời Chúa muốn nói và muốn mình thực hiện?

Bạn thân mến,

Bạn đã đặt ra một câu hỏi quan trọng không chỉ đối với bạn mà còn với bất cứ người tín hữu nào khác, bởi vì tin vào Chúa tức là ao ước được lắng nghe và thi hành ý muốn của Ngài. Giả như Chúa hiện ra với bạn và bảo bạn làm điều này điều kia, tôi tin chắc là bạn sẽ không ngần ngại làm theo. Thế nhưng một trường hợp giả định như thế lại chưa bao giờ và rất có thể là sẽ không bao giờ xảy ra trong cuộc đời của bạn.

Có thể bạn đã từng nghe chuyện Chúa hay Đức Mẹ hiện ra với một số vị thánh và trao cho họ những sứ mạng đặc biệt. Thế nhưng đó chỉ là vài trường hợp rất họa hiếm. Vậy số đông các tín hữu lắng nghe lời Chúa bằng cách nào? Và bạn cũng đang tự đặt ra câu hỏi đó cho bản thân mình khi phân vân không biết những gì mình đang làm và ơn gọi mình đang sống có đúng là ý Chúa muốn hay không. Khi bạn nêu ra câu hỏi như vậy tức là bạn đã tin chắc rằng Chúa đang muốn bạn thực hiện một điều gì đó, vấn đề là bạn không biết phải làm thế nào để có thể nhận ra tiếng Chúa mời gọi. Dường như có người nói mà chưa có người nghe, hoặc là người nghe vẫn chưa nghe được.

Vì bạn tin rằng Thiên Chúa muốn ngỏ lời với bạn nên tôi sẽ bắt đầu chia sẻ từ điểm này: Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa thích trò chuyện. Ngài không phải là Đấng câm lặng. Tôi đề cập điều này là bởi vì không phải ai cũng nghĩ như vậy. Không ít người cho rằng không có Thiên Chúa, hoặc nếu có thì Thiên Chúa đó xa cách ngàn dặm và bỏ mặc con người. Trong những tình huống khó khăn của cuộc sống như thiên tai, chiến tranh, tội ác, nghèo khổ, bệnh tật, đau đớn, chết chóc… con người đã kêu lên Thiên Chúa nhưng không nghe thấy Ngài hồi âm.

Trong những trường hợp như thế, thay vì mong muốn lắng nghe tiếng Chúa “như thế nào” thì nhiều người đã rơi vào tuyệt vọng và đặt vấn đề “có Chúa hay không.” Họ đã đánh đồng việc họ không nghe thấy tiếng Chúa với việc không có tiếng Chúa, hoặc thậm chí là không có Chúa. Đối với những người này thì tiếng Chúa, nếu có, cần phải rõ mười mươi, có thể được kiểm chứng dễ dàng, kiểu như xin cái gì là phải cho đúng cái đó mới “linh”!

Như vậy, thay vì mở rộng tâm hồn để lắng nghe tiếng Chúa trong mọi tình huống của cuộc sống thì nhiều người đã khép lòng mình lại, ép Chúa phải nói theo cách họ muốn nghe, phải làm theo cách họ nghĩ. Một thái độ như thế chính là trở ngại lớn nhất trong việc lắng nghe và đón nhận tiếng Chúa. Do đó, nếu bạn muốn nghe được tiếng Chúa thì trước hết bạn phải tin rằng có Thiên Chúa đang nói chuyện với mình và xin ơn được mở lòng ra để hiểu và đón nhận lời ấy.

Như bạn có thể đã biết, trong bất cứ cuộc trò chuyện nào thì người nghe luôn luôn ở thế thụ động, tức là họ chỉ “nghe” thấy những gì được nói ra và được truyền đạt tới, không có gì khác hơn. Yếu tố chủ động nơi người nghe chính là việc “lắng” đọng tâm hồn để đón nhận thông điệp. Người nghe không thể tự ý cắt xén hay bóp méo nội dung thông điệp được truyền tải. Như vậy, việc lắng nghe bao gồm thái độ bị động của phần “nghe” lẫn chủ động của phần “lắng.” Lắng nghe lời Chúa cũng vậy, tâm hồn bạn cần có độ lắng nhất định, chứ không phải cứ muốn nghe là nghe được ngay, cho dù Chúa vẫn hằng luôn trò chuyện với bạn.

Thật dễ hiểu vì sao có rất nhiều người chọn tham gia các cuộc tĩnh tâm hàng năm hoặc là trước những quyết định quan trọng trong cuộc đời họ. Những đợt tĩnh tâm được tổ chức nhằm tạo điều kiện giúp người ta lắng đọng tâm hồn trong bầu khí thinh lặng, cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, phản tỉnh về dữ kiện xảy ra trong cuộc sống, chú ý hơn đến những chuyển động cảm xúc trong tâm hồn dưới sự hướng dẫn đồng hành của người có nhiều kinh nghiệm trong đời sống thiêng liêng.

Nếu bạn không có điều kiện tham gia những cuộc tĩnh tâm chính thức như vậy thì bạn vẫn có thể dành riêng cho Chúa không gian tĩnh lặng cả bên ngoài lẫn bên trong tâm hồn của mình để nghe được tiếng Ngài. Do đó, nếu bạn cảm thấy rằng mình không nghe được tiếng Chúa, câu hỏi cần đặt ra là bạn đã lắng đọng tâm hồn đủ để những lời thì thầm của Chúa được vang lên trong lòng mình hay chưa.

Một điểm khác mà có lẽ bạn cũng đã có kinh nghiệm trải qua, đó là tính chọn lọc và cá vị (hay riêng tư) của việc lắng nghe. Tính chọn lọc ở đây không hẳn là thái độ phản kháng hay cố chấp, khước từ mọi thông điệp được truyền tải. Điều tôi muốn nói ở đây là ngay cả khi bạn thật lòng khao khát lắng nghe thì việc lắng nghe vẫn mang tính chọn lọc ở một mức độ nhất định. Nghĩa là bạn sẽ chỉ nghe rõ những điều gần gũi hay đụng chạm đến mình nhiều nhất, còn những điều khác dễ bị “bỏ ngoài tai” dù bạn không cố ý. Ví dụ, sau khi được nghe cùng một bài giảng ở nhà thờ, có người nhớ chi tiết này nhưng người khác lại nhớ chi tiết khác, tùy vào mối bận tâm riêng của họ. Nói cách khác, chúng ta chỉ đón nhận được những âm thanh có tần số phù hợp với ăng–ten của mình thôi.

Trò chuyện với Chúa cũng vậy, nhiều lúc chúng ta không nhận ra và hiểu được tiếng Chúa chỉ vì chúng ta không đặt trọn tâm trí vào việc tìm kiếm và lắng nghe thánh ý của Ngài. Lời Chúa không thể lọt tai chúng ta được nếu tâm hồn chúng ta chỉ hướng đến những giá trị khác trái ngược với đức tin. Chúa Giêsu đã dạy chúng ta cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Như thế, muốn được, muốn thấy hay muốn mở cho thì trước hết chúng ta phải giữ thái độ tha thiết cầu xin, khao khát kiếm tìm, kiên trì gõ cửa nhà Chúa. Trong đời sống đức tin, những người càng thờ ơ nguội lạnh, không cố gắng xây dựng tương quan với Thiên Chúa, ít khi thao thức về đời sống thiêng liêng, sống kiểu được chăng hay chớ thì càng khó nghe được tiếng Chúa.

Ngoài ra, lời Chúa không phải chỉ để nghe cho vui tai mà là để thực thi. Lời Chúa là lời của sự sống, chắc chắn sẽ làm trổ sinh hoa trái nơi đời sống người nghe. Do vậy rất nhiều khi chúng ta nghe được tiếng Chúa nhưng lại phớt lờ đi chỉ vì từ trong thâm tâm chúng ta không sẵn sàng hoặc là không muốn làm theo lời đó. Ví dụ khi bạn đang thù ghét một người nào đó thì bạn sẽ thấy lời Chúa dạy phải yêu thương mọi người ngay cả kẻ thù có lẽ chỉ dành cho ai khác chứ không phải cho mình, hoặc có thể là cho mình nhưng không phải lúc này! Như thế, nếu bạn không nghe được tiếng Chúa thì phải tự hỏi mình đã sẵn sàng và khao khát để được lời Chúa biến đổi con người mình ngay lúc này hay chưa.

Bản chất siêu việt của Thiên Chúa không bị giới hạn trong thế giới vật chất, nhưng không phải vì thế mà Thiên Chúa không có cách ngỏ lời với con người. Lời của Thiên Chúa là lời nhập thể, tức là lời đó được diễn tả theo cách phù hợp với khả năng đón nhận của con người. Lời Chúa không phải là thứ ngôn ngữ huyền bí chỉ những người có khả năng đặc biệt mới nghe và hiểu được.

Những gì xa lạ với kinh nghiệm con người thì không thể được coi là lời Chúa, bởi vì Thiên Chúa nói lời của Ngài là để con người nghe được và sống theo chứ không phải để chơi trò úp úp mở mở đánh đố con người. Quan trọng hơn cả, lời của Thiên Chúa không phải là âm thanh hay chữ viết nhưng chính là Ngôi Lời, tức là Lời mang lấy thân xác con người, ở giữa con người và nói cho con người về Thiên Chúa. “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.” (Dt 1,1–2)

Suốt cuộc đời mình ở trần gian, đặc biệt là trong thời gian sứ vụ công khai, Đức Giêsu chính là hiện thân của lời Thiên Chúa nói với dân Ngài. Đức Giêsu đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng, có quyền năng chữa lành mọi bệnh tật, làm cho kẻ chết sống lại, ban sự sống mới cho con người khi hòa giải tội nhân với Chúa, giải phóng con người khỏi xiềng xích tội lỗi, kêu gọi con người hoán cải đón nhận giá trị Nước Trời. Như thế, lắng nghe lời Chúa chính là để Chúa Giêsu “lọt” vào đời mình. Kinh Thánh được viết ra cũng nhằm mục đích duy nhất là để giúp con người thêm hiểu biết, yêu mến và bước theo Đức Giêsu mỗi ngày một hơn.

Tóm lại, hiểu theo nghĩa chung nhất thì những gì Chúa muốn con người thực hiện chính là kết hiệp nên một với Đức Giêsu Kitô trong ân sủng của Chúa Thánh Thần. Do đó, sẽ không còn khoảng cách thời gian và không gian giữa việc lắng nghe và làm theo lời Chúa. Không phải là “nghe để làm theo” hoặc “nghe và làm theo”, nhưng “nghe là làm theo.” Lắng nghe lời Chúa là để Đức Giêsu chiếm trọn con người mình, là trở thành một Đức Giêsu khác, là chứng nhân đức tin giữa lòng thế giới hôm nay.

Để kết thúc, tôi xin đưa ra một ví dụ để giúp hiểu hơn về việc “nghe là làm theo.” Khi nhận xét một đứa trẻ biết “nghe lời” bố mẹ, chúng ta không có ý nhấn mạnh đến khả năng thính giác hay những lời “dạ vâng” mau mắn của nó. Trái lại, chúng ta muốn khẳng định rằng đứa trẻ này luôn sẵn sàng làm mọi điều đẹp lòng bố mẹ. Có những điều bố mẹ nó không cần phải nói ra nhưng nó vẫn hiểu và ngoan ngoãn thực hiện. Đối với lời Chúa cũng vậy, chúng ta được coi là biết “nghe lời” khi và chỉ khi toàn bộ đời sống chúng ta đều nhắm đến việc tìm kiếm và thi hành những điều đẹp lòng Chúa. Bởi vì khả năng giới hạn của con người, đôi khi rất khó để chúng ta có thể xác định rõ điều nào là đúng ý Chúa và điều nào là không phải. Tuy nhiên, chính thái độ khao khát được lắng nghe và thi hành ý Chúa đã là điều đẹp lòng Chúa rồi.

Nếu chúng ta cần một mẫu gương để noi theo thì không ai khác chính là Đức Giêsu Kitô. Trọn cuộc đời Ngài chỉ để nhằm một mục đích duy nhất là tìm kiếm và thi hành ý muốn của Chúa Cha, kể cả việc sẵn sàng đón nhận hậu quả nặng nề nhất là cái chết treo trên thập giá. Ước gì bạn, tôi và tất cả chúng ta ngày càng trở nên giống Chúa Giêsu hơn ở điểm này, từ đó suốt cuộc đời của chúng ta không chỉ nhằm mục đích tìm kiếm và thi hành lời Chúa mà còn trở thành chính lời Chúa cho người khác được lắng nghe.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (10.10.2022)

---------------------------------
 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây