Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày Xếp gọn trong Tuần 1-2025 Mùa Vọng

Thứ sáu - 06/12/2024 20:14
Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày Xếp gọn trong Tuần 1-2025 Mùa Vọng
Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày Xếp gọn trong Tuần 1-2025 Mùa Vọng
Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày
Xếp gọn trong Tuần 1-2025 Mùa Vọng
----------------------------------
Mục Lục:

Thứ 2: 3
Lời Chúa: Mt 8, 5-11. 3
Suy Niệm 1: Từ phương Đông phương Tây. 4
Suy Niệm 2: Từ phương Đông phương Tây. 5
Suy Niệm 3: Xin Ngài Chỉ Phán Một Lời 6
Suy Niệm 4: Mùa của đức cậy và đức tin. 8
Suy Niệm 5: Chúa ơi, xin về với con đi 9
Suy Niệm 6: Được cứu độ hay không là tùy ta. 11
Suy Niệm 7: Lời tuyên tín khiêm tốn nhưng mạnh mẽ. 11
Suy Niệm 8: Niềm tin đích thực. 13
Suy Niệm 9: Đức tin của viên đại đội trưởng. 15
Suy Niệm 10: Lòng tốt và đức tin của sĩ quan ngoại giáo. 17
Suy Niệm 11: Nhiều người đến trong Nước Chúa. 19
Suy Niệm 12: Xin ngự đến giải thoát 21

Thứ 3: 3/12 Thánh Phanxicô Xaviê. 22
LỜI CHÚA: Mc 16, 15-20. 23
Suy Niệm 1.Rao giảng cho mọi dân tộc. 23
Suy Niệm 2. Loan báo Tin Mừng cho mọi thọ tạo. 25
Suy Niệm 3. Cuộc sống theo tinh thần Phúc Âm.. 26
Suy Niệm 4. Thánh Phanxicô Xaviê. 27
Suy Niệm 5. Thánh Phanxicô Xaviê. 29
Suy Niệm 6. Giác ngộ. 31
Suy Niệm 7. Cuộc đời và tiếng gọi 33
Suy Niệm 8. Thánh Phanxicô Xaviê, quan thầy các xứ truyền giáo. 40
Suy Niệm 10. Thánh Phanxicô Xaviê, Tông đồ Ấn Độ và Nhật Bản. 43
Suy Niệm 11. Thánh Phanxicô Xaviê, bổn mạng các xứ truyền giáo. 47
Suy Niệm 12. Nhiệt thành tông đồ. 49
Suy Niệm 13. Thánh Phanxicô Xaviê: nghiệt ngã phận người, vinh quang cho tôi tớ Chúa. 51
Suy Niệm 14. Thánh Phanxicô Xaviê với sứ vụ truyền giáo. 53
Suy Niệm 15. Thánh Phanxicô Xaviê, Linh Mục. 55
Suy Niệm 16. Hãy theo Thầy. 56
Suy Niệm 17. Thánh Phanxicô Xaviê. 64
Suy Niệm 18. Thánh Phanxicô Xaviê. 65
Suy Niệm 19. Suy Niệm Lễ Kính Thánh Phanxicô Xaviê. 67
Suy Niệm 20. Thánh Phanxicô Xaviê. 69
Suy Niệm 21. Chứng nhân Tin Mừng. 70
Suy Niệm 22. Chứng nhân tin mừng. 72
Suy Niệm 23. Nhiệt thành truyền giáo. 73

Thứ 4: 74
LỜI CHÚA: Mt 15, 29-37. 74
Suy Niệm 1: Ăn no nê. 75
Suy Niệm 2: Bữa tiệc hạnh phúc. 77
Suy Niệm 3: Hóa Bánh Ra Nhiều. 78
Suy Niệm 4: Hoá bánh ra nhiều lần 2. 79
Suy Niệm 5: Giấc mơ vô tận. 80
Suy Niệm 6: Cần có một tấm lòng. 81
Suy Niệm 7: Sống chia sẻ: vật chất, tình thương. 82
Suy Niệm 8: Phải biết chia sẻ. 83
Suy Niệm 9: Phép lạ bánh hóa nhiều. 85
Suy Niệm 10: Biết chia sẻ hạnh phúc. 87
Suy Niệm 11: Chúa chữa bệnh và làm phép lạ hóa bánh. 90
Suy Niệm 12: Sẵn sàng nghênh đón Chúa. 91

Thứ 5: 92
LỜI CHÚA: Mt 7, 21. 24-27. 92
Suy Niệm 1: Xây trên nền đá. 93
Suy Niệm 2: Vương quốc của Chúa. 94
Suy Niệm 3: Người Khôn Ngoan Thi Hành Ý Chúa. 95
Suy Niệm 4: Thực thi chân lý. 97
Suy Niệm 5: Giấc mơ tồn tại vững chắc. 98
Suy Niệm 6: Sống và thi hành. 99
Suy Niệm 7: Thi hành Ý Cha. 100
Suy Niệm 8: Dựa trên chính Đức Kitô là đá tảng. 101
Suy Niệm 9: Phải thực hành Lời Chúa. 102
Suy Niệm 10: Thi hành ý muốn của Cha Thầy. 104
Suy Niệm 11: Thi hành ý muốn của Cha. 105
Suy Niệm 12: Thực hiện ý Chúa Cha sẽ được vào Nước Chúa. 108
Suy Niệm 13: Giữ vững lòng trung tín. 109

Thứ 6: 111
LỜI CHÚA: Mt 9, 27-31. 111
Suy Niệm 1: Mắt họ liền mở ra. 111
Suy Niệm 2: Chúa Cứu Thế là ánh sáng. 113
Suy Niệm 3: Lòng Tin Khiến Họ Ðược Chữa Lành. 114
Suy Niệm 4: Người mù được sáng. 115
Suy Niệm 5: Chiến thắng thuộc về chúng ta. 116
Suy Niệm 6: Mù thì sáng – sáng lại mù. 117
Suy Niệm 7: Người mù được thấy vì tin Chúa. 118
Suy Niệm 8: Xin được sáng mắt sáng lòng. 119
Suy Niệm 9: Tin thế nào thì được như vậy. 121
Suy Niệm 10: Đức tin mạnh mẽ của người mù. 123
Suy Niệm 11: Chúa chữa hai người mù. 126
Suy Niệm 12: Tỏa ánh quang rạng ngời đôi mắt 127

Thứ 7: 07/12 Thánh Amrôxiô. 129
LỜI CHÚA: Mt 9,35 - 10,1. 6-8. 129
Suy Niệm 1: Chạnh lòng thương. 130
Suy Niệm 2: Thiên Chúa chạnh lòng thương. 131
Suy Niệm 3: Sứ Mệnh Tông Ðồ. 132
Suy Niệm 4: Nhà truyền giáo đích thực. 134
Suy Niệm 5: Chứng nhân của niềm vui 135
Suy Niệm 6: Mục tử đích thực. 136
Suy Niệm 7: Chạnh lòng thương xót 137
Suy Niệm 8: Sứ mệnh truyền giáo. 138
Suy Niệm 9: Sai tông đồ đi truyền giáo. 140
Suy Niệm 10: Chúa động lòng trắc ẩn. 142
Suy Niệm 11: Chúa thương dân Chúa. 144
Suy Niệm 12: Chính Người cứu độ chúng ta. 146

---------------------------------

 

Thứ 2:

Niềm tin đích thực.
02/12 – Thứ Hai tuần 1 mùa vọng.
"Nhiều người từ phương đông và phương tây sẽ đến trong nước trời".

 

Lời Chúa: Mt 8, 5-11


Khi ấy, Chúa Giêsu vào thành Capharnaum, thì có một viên đại đội trưởng đến thưa Chúa rằng: "Lạy Thầy, thằng nhỏ nhà tôi đau nằm ở nhà, nó bị tê liệt và đau đớn lắm!" Chúa Giêsu phán bảo ông rằng: "Tôi sẽ đến chữa nó". Nhưng viên đại đội trưởng thưa Người rằng: "Lạy Thầy, tôi không đáng được Thầy vào dưới mái nhà tôi, nhưng xin Thầy chỉ phán một lời, thì thằng nhỏ của tôi sẽ lành mạnh. Vì chưng, cũng như tôi chỉ là người ở dưới quyền, nhưng tôi cũng có những người lính thuộc hạ, tôi bảo người này đi thì anh đi; tôi bảo người kia đến thì anh đến; tôi bảo gia nhân làm cái này thì nó làm!"
Nghe vậy, Chúa Giêsu ngạc nhiên và nói với những kẻ theo Người: "Quả thật, Ta bảo các ngươi, Ta không thấy một lòng tin mạnh mẽ như vậy trong Israel. Ta cũng nói cho các ngươi biết rằng: nhiều người từ phương đông và phương tây sẽ đến dự tiệc cùng Abraham, Isaac và Giacóp trong nước trời. Còn con cái trong nước sẽ bị vứt vào nơi tối tăm bên ngoài, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng".

---------------------------------

 

Suy Niệm 1: Từ phương Đông phương Tây


(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ. )

Tín đồ Do thái giáo có tiếng về sống đức hy vọng.
Họ đã hy vọng và vẫn còn hy vọng Đấng Mêsia sẽ đến để đem ơn cứu độ.
Họ đã chờ và vẫn chờ từ bao ngàn năm nay.
Còn Kitô hữu chúng ta có tiếng về sống đức ái.
Tuy nhiên, tự bản chất Kitô giáo vẫn là tôn giáo của đức hy vọng.
Chúng ta tin Đấng Mêsia là Đức Giêsu đã đến rồi.
Ngài đến đem ơn cứu độ không phải cho riêng dân Israel,
nhưng cho mọi dân mọi nước trên toàn thế giới.
Nhưng Kitô hữu vẫn còn sống trong chờ đợi và hy vọng.
Chúng ta mong ngày trở lại trong vinh quang của Chúa Giêsu,
cũng là ngày thế giới này đi đến chỗ tận cùng, để sang một trang mới.
MARANA THA, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến (1 Cr 6, 22; Kh 22, 20).
đó là lời nguyện của các Kitô hữu trong Giáo Hội buổi sơ khai.
Đó cũng là lời nguyện khẩn thiết của chúng ta, đặc biệt trong Mùa Vọng.
Ngày quang lâm là ngày tận thế đáng sợ,
khi Chúa Giêsu trở lại xét xử kẻ sống và kẻ chết.
Nhưng đó cũng là ngày hội vui lớn nhất của nhân loại,
ngày mà niềm hy vọng của chúng ta được thành tựu viên mãn.
Ngày ấy “từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc
cùng các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp trong Nước Trời” (c. 11).
Đức Giêsu ngỡ ngàng khi thấy niềm tin lớn lao của viên đại đội trưởng.
Ông thuộc dân ngoại mà lại có lòng tin lớn hơn các người Israel khác (c. 10).
Ông tin Đức Giêsu có thể chữa lành cho người đầy tớ yêu quý của ông.
Không cần Ngài đến nhà, chỉ cần một lời nói của Ngài thôi cũng đủ (c. 8).
Lòng tin mạnh mẽ và khiêm tốn của ông đã chinh phục Đức Giêsu.
Lời của viên sĩ quan dân ngoại đã trở nên lời ta đọc trước khi rước lễ.
“Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con,
nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ lành mạnh. ”
Đầy tớ của viên đại đội trưởng đã được chữa lành,
nhưng điều quan trọng hơn là chuyện ông có hy vọng được dự tiệc.
Đây là bữa tiệc cánh chung, bữa tiệc trong Nước Trời (x. Is 25, 6-8).
Một người dân ngoại được ngồi dự tiệc bên các tổ phụ Do thái.
Đây là điều hẳn làm cho nhiều người Do thái phải ngạc nhiên.
Mà không phải chỉ có viên đại đội trưởng,
có nhiều người từ tứ phương thiên hạ cũng được mời (c. 11).
Nước Trời như một bữa tiệc vui và thịnh soạn do Thiên Chúa thết đãi,
trong đó mọi dân tộc khác nhau cùng đến để chia sẻ và hiệp thông.
Mọi đau buồn, mọi cách ngăn đều bị xóa bỏ.
Màu tím là màu của phụng vụ Mùa Vọng,
nhưng đây không phải là màu buồn.
Mùa Vọng nhắc chúng ta về niềm hy vọng rất xanh tươi
mà Chúa Giêsu đã mang lại cách đây hai ngàn năm
và chúng ta có bổn phận vun đắp cho thành tựu.
Làm sao để ơn cứu độ của Ngài được mọi người trên thế giới nhận biết?
Làm sao để dân ngoại được ơn đức tin và ơn chữa lành như viên sĩ quan?
Làm sao để chẳng ai vắng mặt trong bữa đại tiệc của Nước Trời?
Mùa Vọng đưa ta về thế giới bao la của châu Á, với 3% người công giáo.
Nếu ngày mai tận thế, Chúa sẽ hỏi ta 97% kia đâu.
 
Cầu nguyện:

Lạy Cha,
Cha muốn cho mọi người được cứu độ
và nhận biết chân lý,
chân lý mà Cha đã bày tỏ nơi Đức Giêsu, Con Cha.
Xin Cha nhìn đến hàng tỉ người
chưa nhận biết Đức Giêsu,
họ cũng là những người đã được cứu chuộc.
Xin Cha thôi thúc nơi chúng con
khát vọng truyền giáo,
khát vọng muốn chia sẻ niềm tin và hạnh phúc,
niềm vui và bình an của mình cho tha nhân,
và khát vọng muốn giới thiệu Đức Giêsu cho thế giới.
Chúng con thấy mình nhỏ bé và bất lực
trước sứ mạng đi đến tận cùng trái đất
để loan báo Tin Mừng.
Chúng con chỉ xin đến
với những người bạn gần bên,
giúp họ quen biết Đức Giêsu và tin vào Ngài,
qua đời sống yêu thương cụ thể của chúng con.
Chúng con cũng cầu nguyện
cho tất cả những ai đang xả thân lo việc truyền giáo.
Xin Cha cho những cố gắng của chúng con
sinh nhiều hoa trái. Amen.
 
---------------------------------

 

Suy Niệm 2: Từ phương Đông phương Tây


(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Mùa Vọng mở ra một viễn tượng hùng tráng và tươi đẹp. Đấng Cứu Thế sẽ hiển minh. Mọi dân mọi nước sẽ tuôn đến với Người để được Người hướng dẫn. Người sẽ cầm cân nảy mực trần gian để thực thi công lý. Dưới sự lãnh đạo của Người, các dân tộc thôi chiến tranh. Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cầy. Rèn giáo mác nên liềm nên hái. Đó chính là niềm mơ ước của con người từ bao thế hệ.

Giấc mơ đó được thực hiện nơi Chúa Giê-su Ki-tô. Hôm nay, viên đại đội trưởng ngoại đạo, đại diện cho các dân các nước bày tỏ niềm tin vững chắc vào Đấng Cứu Thế. Những lời tiên báo của I-sa-i-a đang trở thành hiện thực nhưng với những chiều kích tình thương trổi vượt.

Chúa Giêsu trở nên giải pháp duy nhất cho mọi vấn đề của con người. Con người như con bệnh trầm trọng vô phương cứu chữa. Chỉ mình Chúa Giêsu mới chữa lành được căn bệnh của nhân loại. Viên sĩ quan, đại diện cho đế quốc Rôma hùng mạnh, hẳn không thiếu gì phương tiện, tiền bạc, thế lực. Nhưng tất cả mọi phương tiện trần gian đành bó tay. Quyền lực của loài người đành bế tắc. Chỉ có một giải pháp duy nhất cho thế giới: Chúa Giê-su Ki-tô.

Nhưng Chúa Giêsu không xuống trần uy nghi như người ta tưởng. Viên sĩ quan xác định: Người toàn năng. Người chỉ cần phán một lời, mọi sự đều phải tuân phục Người. Nhưng Người muốn biểu lộ tình thương. Người muốn trực tiếp hành động. Người muốn gặp gỡ nhân loại. Tận mắt chứng kiến nỗi đau khổ của nhân loại. Tận tay săn sóc vỗ về.

Như thế Người không chỉ chữa lành bệnh tật thân xác nhưng còn chữa lành bệnh tật tâm hồn. Phẩm giá con người được nâng cao. Địa vị con người được trân trọng khi Đấng Cứu Thế trực tiếp đến với con người, yêu thương con người, chăm sóc con người.

Lạy Chúa, con là con bệnh trầm kha. Xin hãy đến cứu con. Con biết Chúa yêu thương con và muốn gặp gỡ riêng với con. Xin cho lòng con tỉnh thức để nghe được tiếng Chúa gõ cửa, mở cửa cho Chúa, để Chúa vào tâm hồn con, chữa lành vết thương trong tâm hồn con.

---------------------------------

 

Suy Niệm 3: Xin Ngài Chỉ Phán Một Lời


Trong quân đội Roma, danh từ "bách quan" hay "đại đội trưởng" dùng để chỉ những người có một trăm tên lính trong tay. Nếu ở chốn đế đô, họ chẳng là gì thì tại các vùng thuộc địa họ là những viên chức đầy uy quyền góp phần cai trị hà khắc của đế quốc. Có thể gọi họ là chất xúc tác và là thước đo lòng căm thù đế quốc của người Do Thái. Ðối với đế quốc cai trị, họ là những người trực tiếp áp đặt chính sách lên dân chúng.

Luật Do Thái đã khắt khe trong việc giao tế với dân ngoại thì lại càng khắt khe hơn đối với những người đang giày xéo lên mảnh đất Thánh của Giavê Thiên Chúa. Người Do Thái sẽ không bước vào nhà dân ngoại vì đó là những nơi không thanh sạch. Sách Midna đã viết: "Mọi nơi cư ngụ của dân ngoại đều là chỗ không thanh sạch", thế mà Chúa Giêsu lại không ngần ngại đi đến nhà viên bách quan để chữa bệnh cho gia nhân của ông. Chúa Giêsu có ý gì khi hành động như vậy? Nếu luật lệ Do Thái khắt khe với dân ngoại mà Chúa Giêsu và các tông đồ lại nghiêng về phía họ thì hẳn việc làm của Chúa Giêsu và các tông đồ phải mang một ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống.

Riêng về các viên bách quan, Kinh Thánh Tân Ước đã không ít lần lên tiếng khen ngợi hành vi của các viên bách quan như lúc Chúa Giêsu bị chết treo nhục nhã trên Thập Giá, một viên bách quan đã tuyên xưng Ngài là Con Thiên Chúa. Một viên bách quan khác đã cứu tông đồ Phaolô thoát khỏi hình phạt đánh đòn, và một viên bách quan khác nữa đã giúp Phaolô thoát khỏi âm mưu giết hại của người Do Thái. Tuy nhiên nổi bật hơn hết là viên bách quan được nói đến trong bài đọc Tin Mừng hôm nay. Nơi ông đã hội tụ hai yếu tố căn bản mà mỗi người trong chúng ta cần phải có để khiêm nhượng trước mặt Chúa và bác ái với anh em. Một gia nhân hay đúng hơn một tên nô lệ chẳng là gì trước mặt viên bách quan, ông có thể sử dụng như một món đồ vật, không dùng thì quăng đi cần gì phải bận tâm. Thế mà ở đây ông lại quan tâm đến tên gia nhân cách đặc biệt. Ngoài ra theo đoạn Tin Mừng song song của Luca, ông còn là người giúp đỡ cho Hội Ðường Do Thái.

Lòng vị tha đã khiến viên bách quan vừa có uy quyền, vừa được mộ mến. Tuy nhiên dù là gì đi nữa, trước mặt Thiên Chúa và trước mặt Chúa Giêsu, ông vẫn phải giữ một thái độ hoàn toàn khiêm nhu: "Lạy Thầy, tôi không xứng đáng để được Thầy đến nhà". Ông không chỉ khiêm nhu nhưng lại đầy tin tưởng: "Xin Thầy hãy phán một lời thì gia nhân của tôi được lành mạnh".

Lời cầu khiêm nhu này đã trở thành lời kinh hằng ngày được tín hữu chuyên đọc, và niềm tin của viên bách quan khai mở một kỷ nguyên mới cho lịch sử ơn cứu độ: "Nhiều người từ Ðông chí Tây sẽ đến dự tiệc với Abraham, Isaac và Jacob, còn con cái trong nhà sẽ bị loại ra ngoài". Chúa Giêsu, Ngài đến để cứu chữa hết mọi người, chưa cần viên bách quan tuyên xưng lòng tin, Ngài đã nói lên ý định của Ngài: "Tôi sẽ đến chữa nó".

Luật Do Thái ngăn cấm bước vào nhà dân ngoại thì Chúa Giêsu vượt ra ngoài các cấm đoán của lề luật, vì Vương Quốc của Ngài không xây dựng trên nền tảng các luật cứng nhắc ấy nhưng trên thực hành niềm tin. Ngài cũng không đến để hủy bỏ lề luật nhưng để kiện toàn. Lề luật bây giờ phải được thể hiện trọn vẹn trong cuộc sống.

Viên bách quan không có các nghi thức để tuân giữ lề luật như: không rửa tay trước khi dùng bữa, không đến Hội Ðường vào ngày Sabat. Nhưng trước sự hiện diện của Chúa, ông tỏ một niềm kính sợ, trước tha nhân ông hết lòng yêu mến. Ông trở thành tiêu biểu cho các công dân Nước Trời. Chúa Giêsu đã khen ngợi và đã đón nhận ông vào nước của Ngài.

Chúa Giêsu nói với những kẻ theo Ngài lúc đó cũng như đối với chúng ta hôm nay: "Còn con cái trong nhà sẽ bị loại ra ngoài". Không phải được mang tước hiệu con cái là bảo đảm được dự phần vào Nước Thiên Chúa, nhưng phải là kẻ biết thực hành niềm tin. Tước hiệu Kitô hữu nếu không được nuôi dưỡng bằng sức sống của niềm tin thì chỉ là những bản án được công bố trước thời điểm mà thôi.

Bước vào Mùa Vọng, cùng với Giáo Hội với ý hướng chờ ngày Chúa đến, ước mong rằng mỗi người trong chúng ta sẽ nhìn vào niềm tin của viên bách quan làm tiêu chuẩn sống cho mình. Mỗi người chúng ta hãy biết khiêm nhu trước Thiên Chúa và biết yêu mến anh em thì hy vong chúng ta sẽ được Thiên Chúa hài lòng đón nhận trong bàn tiệc Nước Ngài.

---------------------------------

 

Suy Niệm 4: Mùa của đức cậy và đức tin


Khi Đức Giêsu vào thành Ca-phác-na-um, có một viên đại đội trưởng đến gặp Người và nài xin: “Thưa Ngài, tên đầy tớ của tôi bị tê bại nằm liệt ở nhà, đau đớn lắm”. Người nói: “Chính tôi sẽ đến chữa nó”. Viên đại đội trưởng đáp: “Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh (Mt. 8, 5-8).

Điều gì đã thúc đẩy vị sĩ quan Rô-ma ra khỏi nhà từ sáng sớm? Thưa, ông hy vọng rằng ông ra đi ông sẽ gặp được điều tốt hơn là cứ luẩn quẩn trong nhà. Dù ông là một người đầy quyền thế, biết chỉ đạo mọi việc, nhưng cứ ở nhà, ông sẽ chẳng có thể làm gì để cứu chữa đầy tớ đang đau liệt. Ông phải đến với Đức Giêsu.

Ngày hôm nay, bạn cần phải ra khỏi con người bạn để khởi hành vào mùa vọng; mùa sẽ đưa bạn đầy tràn hy vọng đến với Chúa chúng ta. Bạn đã sẵn sàng chưa?

Niềm hy vọng tăng cao nhờ khát vọng mạnh, nhờ nhu cầu khẩn thiết. Niềm hy vọng của bạn hôm nay là gì? Khát mong của viên sĩ quan là: “Đầy tớ của tôi bị tê bại nằm liệt ở nhà tôi, đau đớn lắm”. Còn bạn, bạn có thể đồng cảm với nỗi đau đớn đó không?

Bạn đồng cảm rất dễ với chồng bạn, với vợ bạn, với con bạn, với ông bà cha mẹ, họ hàng và bạn bè của bạn. Bạn cần đồng cảm xa hơn nữa. Viên sĩ quan đã đồng cảm với những tên đầy tớ: một sự đồng cảm với những kẻ hèn mọn. Còn bạn, bạn có thể đồng cảm với bao nhiêu nỗi xót xa của những kẻ đi làm thuê, làm mướn, những kẻ quét đường, đổ rác đi qua nhà bạn mỗi sáng thứ hai không? … Đó là những tôi tớ của bạn, của cộng đồng, của xã hội.

Hôm nay bắt đầu mùa vọng, bạn cầu nguyện cho ai? Bạn hy vọng vị nào đến làm gì cho họ? Thật quan trọng khi bạn biết liệt kê ra những nhu cầu đó để khêu gợi cho mình có những niềm hy vọng, niềm cậy trông giúp bạn có đức cậy.

Hôm nay, bắt đầu mùa vọng, còn một việc nữa cần phân tích, đó là đức tin của chúng ta. Đức Giêsu nói với chúng ta: “Chính tôi sẽ đến cứu chữa nó”. Vị sĩ quan thưa lại: “Lạy ngài, tôi không đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh …”. Chúng ta có thể tin được như thế không? Bao giờ chúng ta mới có được đức tin như thế?

Chúng ta có tin Đức Giêsu có thể đổi mới tâm hồn chúng ta được không? Biết bao nhiêu tôi tớ trên trái đất này đang đau khổ cực độ. Chúng ta có tin Ngài đến cứu chữa họ không?

Bắt đầu mùa vọng, chính là để giúp chúng ta cậy trông và tin tưởng. Và cử hành Thánh lễ chính là để giúp chúng ta tuyên xưng Đức Giêsu đến thực hiện công trình cứu độ.

C. G

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 5: Chúa ơi, xin về với con đi


Trong lớp Giáo lý Dự tòng, có một bà năm nay đã gần 80 tuổi xin theo học. Bà góa chồng đã 7 năm. Từ ngày chồng bà chết, nhiều lần bà muốn theo đạo, nhưng vì nhiều lý do khách quan, bà không thực hiện được tâm nguyện của mình.

Đến nay, thuận lợi, bà xin học đạo để được gia nhập Giáo Hội. Trước khi ban Bí tích Rửa Tội cho bà, cha xứ có hỏi: ”Bà có ý định theo đạo lâu chưa?”; Bà trả lời: ”Khoảng 7 năm”; Cha xứ hỏi tiếp: ”Thế bà muốn theo Chúa, nhưng bà có cầu nguyện với Chúa bao giờ không?” Bà nói: ”Thưa có”; “Bà cầu nguyện thế nào”; “Thưa Cha, con cầu nguyện rằng: ‘Chúa ơi, xin Chúa về với con đi!’”. Cha xứ tỏ vẻ thán phục niềm tin chân thành và đơn sơ của bà, và ngài đã sẵn lòng Rửa Tội cho bà để bà được gia nhập Giáo Hội.

Câu chuyện của bà cụ rất trùng hợp với một nhân vật cũng khá đặc biệt trong bài Tin Mừng hôm nay, đó là viên sĩ quan, người dân ngoại. Ông là một người ngoại đạo, tức không thuộc về Dothái giáo, nhưng tâm hồn lại có đạo hơn ai hết bởi sự chân thành, đơn sơ nhưng mãnh liệt nơi ông. Vì thế, ông đã được thúc đẩy từ bên trong, nên ông nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, trong khi những người Dothái lại không nhận ra!

Khi nhận ra Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai, ông đã đặt niềm tin tuyệt đối nơi Ngài, vì thế, Đức Giêsu đã lên tiếng khen ngợi ông: "Quả thật, Ta bảo các ngươi, Ta không thấy một lòng tin mạnh mẽ như vậy trong Israel”. Ơn thánh của Chúa đã thực sự bén rễ sâu trong tâm hồn người dân ngoại này, vì ông khiêm tốn và sẵn sàng mở lòng để cho ơn thánh của Chúa được tác sinh nơi ông.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mặc khải về ơn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa được dành cho hết mọi người. Vì thế, chúng ta không cất giấu hay để ơn Chúa vào nơi an toàn, mà phải vươn ra đến với hết mọi người, mọi nơi, nhất là những anh chị em chưa nhận biết Chúa.

Cần tránh lối suy nghĩ từ lâu: chỉ những người Công Giáo mới được ơn cứu độ! Những người ngoài Giáo Hội không xứng đáng để đón nhận hồng ân cứu chuộc của Thiên Chúa. Tránh sự kỳ thị, phe phái, tôn giáo, văn hóa xã hội, địa vị, nghề nghiệp ... , để nhìn nhận cái hay, cái phải, cái tốt của tha nhân mà noi theo, học hỏi, nếu điều đó phù hợp với đạo lý Tin Mừng. Tránh thái độ hẹp hòi, cục bộ, mặc cảm, yên trí đến bất công, khiến chúng ta đi sai đường lối cứu độ của Thiên Chúa và xa cách tha nhân.

Bước vào Mùa Vọng, mỗi người chúng ta cùng nhau nhìn lại cuộc sống, cách cư xử của mình với anh chị em xung quanh: đã có lần nào vì hẹp hòi mà ta ngăn cản ơn Chúa đến với người khác không? Hay nhiều khi chúng ta không dám rời bỏ chốn an thân, an cư để đến với những người đang cần sự giúp đỡ của chúng ta?

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con được yêu mến Chúa, tin tưởng vào Chúa, sống khiêm tốn, quảng đại với tha nhân. Amen.

Ngọc Biển, SSP

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 6: Được cứu độ hay không là tùy ta


(TGM Giuse Nguyễn Năng)

Sứ điệp: Chúa Giêsu đến trong trần gian và Người cứu độ tất cả mọi người, không trừ một ai. Nhưng được cứu độ hay không là tùy ta có lòng tin hay không.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa vì Chúa đã thương xót tất cả nhân loại chúng con. Chúa thương mở cửa Nước Trời và mời gọi chúng con bước vào. Trần gian chúng con chẳng đáng được đón Chúa đến chung sống giữa chúng con, cũng như chúng con chẳng đáng dự tiệc trong Nước Chúa. Tuy nhiên, Chúa đã xóa bỏ mọi ngăn cách, bất kể chúng con là ai, dù thấp hèn, dù tội lỗi, dù chẳng thuộc dòng máu Do Thái là dân riêng của Chúa. Chúa đang đến, Chúa đang đi vào trong mái nhà chung của nhân loại, khi xưa và hôm nay.

Có những người thành tâm thiện chí đã đón nhận Chúa. Nhiều khi kẻ đón tiếp Chúa và tin nơi Chúa lại là người gốc dân ngoại, như viên đại đội trưởng Rôma, như bao nhiêu người ngoại giáo ngày nay. Họ tin mạnh mẽ, họ cầu nguyện, họ được nhận lời, họ được cứu độ, họ đang tiến vào dự tiệc Nước Trời.

Còn con, có thể Chúa không thấy nơi con một lòng tin mạnh mẽ như vậy, dù con và gia đình con tin Chúa đã lâu và đang mang danh là dân riêng của Chúa. Bao nhiêu lần Chúa đến và đi qua trong đời con, nhưng con hụt mất Chúa vì thiếu lòng tin. Con sợ con bị loại ra ngoài Nước Trời, xin Chúa cứu con. Xin Chúa thêm đức tin cho con.

Xin Chúa vào nhà linh hồn con và ngự lại trong con luôn mãi. Xin Chúa đến trong mái nhà gia đình chúng con và chúc lành cho chúng con. Dù chúng con chẳng xứng đáng đón Chúa vào nhà, nhưng xin Chúa phán một lời, chúng con sẽ được cứu độ. Amen.

Ghi nhớ: ”Nhiều người từ phương đông và phương tây sẽ đến trong nước trời”.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 7: Lời tuyên tín khiêm tốn nhưng mạnh mẽ


(Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)

Câu chuyện

Một người vô thần rơi từ một vách đá dốc. Giữa chừng, anh bị vướng vào một bụi cây mọc ngay sườn núi. Anh gần như tuyệt vọng khi nhìn lên là đỉnh núi, nhìn xuống là vực thẳm. Trong lúc tuyệt vọng, anh ngửa mặt lên trời và la lớn: “Nếu có Chúa, hãy cứu tôi”.

Một giọng ầm ầm trả lời: “Nếu ngươi thật sự tin vào Chúa, hãy buông tay ra đi”. Anh nhìn lên rồi nhìn xuống và hoảng sợ. Anh thét lên: “Có ai ở trên đó không?”.

Suy niệm

Viên đại đội trưởng La Mã là người nhân hậu, biết yêu thương săn sóc đến tôi tớ trong nhà. Dù là người ngoại, nhưng ông tin tưởng vào quyền năng của Ðức Giêsu, ông tỏ ra khiêm tốn khi nhìn nhận thân phận và ngôi nhà mình bất xứng không đáng Chúa ngự đến, ông xin và tin xác quyết Ðức Giêsu chữa lành người đầy tớ của ông chỉ bằng một lời phán: “Lạy Thầy, tôi không đáng được Thầy vào dưới mái nhà tôi, nhưng xin Thầy chỉ phán một lời, thì thằng nhỏ của tôi sẽ lành mạnh” (Mt 8,8).

Niềm tin của người ngoại thật mạnh mẽ, được Chúa Giêsu xác nhận khi tuyên bố: “Ta không thấy một lòng tin mạnh mẽ như vậy trong Israel”. Lòng tin khiêm tốn thẳm sâu, nhưng xác tín tuyệt đối của viên đại đội trưởng đã được Chúa Giêsu cứu chữa tên đầy tớ của ông ta được lành bệnh.

Thiên Chúa nhận lời người ngoại đạo tin. Cho thấy tình thương, ơn cứu độ của Chúa là phổ quát dành cho hết mọi người, không phân biệt màu da, chủng tộc hay tôn giáo, miễn là tín thác vào Ngài. Lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng trở nên mô phạm cho niềm tin chúng ta hằng ngày trước khi rước lễ, tuyên tín mang tư thế khiêm tốn nhưng mạnh mẽ: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ lành mạnh”.

Ước gì chúng ta luôn kiên vững và thể hiện mạnh mẽ niềm tin vào Chúa như viên đại đội trưởng ngoại đạo, nhờ thế chúng ta được Chúa yêu thương nhận lời và cứu chữa xác hồn.

Ý lực sống

 “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa và có Đức Chúa làm chỗ nương thân” (Gr 17,7).

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 8: Niềm tin đích thực


(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

1. Xong bài giảng trên núi, Đức Giêsu vào thị trấn Capharnaum thì một viên đại đội trưởng xin Ngài chữa lành người đầy tớ của ông đang đau nặng. Ông tuy là dân ngoại lại có quyền thế và địa vị cao, mà tỏ ra khiêm tốn tin tưởng vào lời quyền năng của Đức Giêsu. Ông cũng là người nhân hậu, biết yêu thương săn sóc đến người đầy tớ hèn mọn của mình.

2. Viên đại đội trưởng là người ngoại quốc, người La mã đang đặt ách đô hộ trên người Do thái, nhưng ông lại rất thực tình với người Do thái, dân bị trị. Ông có quan hệ đặc biệt với họ và ông đã giúp tiền cho họ xây hội đường Capharnaum. Cảm phục vì tấm lòng tốt của ông, người Do thái đã giới thiệu và xin Đức Giêsu giúp đỡ ông.

Đức Giêsu ngạc nhiên, vì người ngoại kiều này chẳng hề biết Ngài, thế mà lại tin tưởng cách mạnh mẽ như vậy đã biết xin Chúa chữa bệnh từ xa cho đức đầy tớ của minh, và Người đã không tìm thấy được lòng tin nào như thế nơi những người Do thái , là những  người đã từng lắng nghe và chứng kiến những phép lạ Người làm cho họ. Vì thế Người nói: “Ta không thấy một lòng tin mạnh mẽ như vậy trong Israel”.

3. Chúng ta nhấn mạnh  đến niềm tin của viên đại đội trưởng này. Niềm tin của ông có hai đặc điểm như sau:

- Niềm tin được thể hiện bằng việc làm: Ông đã đến xin Đức Giêsu chữa lành cho đầy tớ của ông.  Vì xin ai điều gì thì tin người đó có, và sẵn sàng giúp đỡ mình.

- Một niềm tin mạnh mẽ: Ông đã xin Đức Giêsu chữa bệnh từ xa, không cần phải đến nhà ông. Điều đó chứng tỏ ông đã tin vào chính bản thân của Chúa hơn là việc Người làm; và đó là đức tin đích thực.

4. Viên đại đội trường tỏ ra khiêm nhường trước mặt Chúa. Xét về thế giá và địa vị, viên sĩ quan này có quyền lực đại diện cho đế quốc Rôma để cai trị một vùng của người Do thái, ông có lính tráng và kẻ hầu người hạ, thậm chí xét về mặt chính trị, ông còn có quyền bắt, trục xuất hoặc ngăn cấm Đức Giêsu truyền giáo.

Thế nhưng, ông nhận ra con người Đức Giêsu không đơn thuần là một thầy dạy như các luật sĩ, mà là một vị tiên tri của Thiên Chúa, nên ông đã cảm thấy bất xứng trước mặt Ngài. Ông nhìn nhận mọi chức vụ và địa vị đều dưới quyền của Thiên Chúa, và ông đã khiêm tốn nói lên: “Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh” (Mt 8,8).

5. Trong trường hợp này, chúng ta thấy đức tin của ông còn đi kèm theo đức ái vì ông không lo cho mình mà lại lo săn sóc cho đứa đầy tớ. Niềm tin được trao tặng cho mọi người, nhưng chỉ được trao tặng như hạt giống, và hạt giống ấy chỉ nảy mầm và lớn lên trong những điều kiện cần thiết. Mảnh đất lòng người càng tốt, hạt giống đức tin càng có cơ may nảy mầm và lớn lên. Tình yêu là mảnh đất phì nhiêu nhất để làm nảy sinh niềm tin trong lòng người: một tâm hồn khép kín với tình người cũng là một tâm hồn khép kín với lòng tin.

Khi không sống, không tin tưởng ở tình người, thì làm sao người ta có thể tin tưởng ở tình Chúa? Khi không thể hiện tình người, thì niềm tin tuyên xưng nơi Chúa cũng chỉ là trò lừa bịp chính mình và người khác. Thánh Gioan cảnh cáo: “Ai nói mình yêu mến Chúa mà ghét anh em mình là kẻ nói dối” (Mỗi ngày một tin vui).

6. Việc Thiên Chúa nhận lời người ngoại đạo tin tưởng cho thấy tình thương ơn cứu độ của Chúa là phổ quát dành cho hết mọi người, không phân biệt mầu da, chủng tộc hay tôn giáo, miễn là tín thác vào Ngài. Lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng trở nên mô phạm cho niềm tin của chúng ta hằng ngày  nhất là trước khi rước lễ, tuyên tín mang tư thế khiêm tốn nhưng mạnh mẽ: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ lành mạnh”.

7. Truyện: Tin hay không?

Một thương gia giầu có ở một tỉnh nọ cho in nhiều bản thông cáo và dán khắp tỉnh.

Bản thông cáo ghi rằng bất cứ ai trong tỉnh bị mắc nợ, hãy đến văn phòng của ông vào ngày đó ... vào buổi sáng từ 9 đến 12 giờ, ông sẽ trả cho khoản nợ đó.

Tất nhiên, lời hứa đó được đồn  xa khắp tỉnh. Một số người tin, song một số cho là người kia gài cái bẫy nào đó.

Ngày đã đến. Người thương gia ngồi ở văn phòng của ông từ lúc 9 giờ sáng. Gần 10 giờ rồi mà không một ai đến. Mười một giờ, thương gia thấy một người đàn ông đi qua đi lại trước nhà và chốc chốc lại ngước nhìn vào cửa văn phòng. Cuối cùng, ông đẩy cửa, thò đầu vào và hỏi:

- Có thật là ngài sẽ trả bất kỳ món nợ của ai không?

- Đúng vậy. Anh mắc nợ à?

- Vâng, thưa ngài.

- Vậy, anh có mang theo hóa đơn hay giấy nợ gì để minh chứng điều đó không?

Người kia đưa ra nhiều giấy tờ và thương gia ký ngay một tấm ngân phiếu trả hết mọi khoản nợ đó. Trước 12 giờ, có hai người nữa đến và cũng được nhận tấm ngân phiếu trả nợ nữa.

Nhiều người bên ngoài có thể không tin chuyện đó ... nhưng lúc ấy không còn thời gian để họ có thể đến nhận ngân phiếu trả nợ nữa.

Lòng tốt hoán cải được nhiều người hơn giáo huấn, kiến thức và tranh luận (F. W Faber)

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 9: Đức tin của viên đại đội trưởng


(Lm Carôlô Hồ Bạc Xái)

A. Hạt giống ...

Chúa Giêsu đã đánh giá viên đại đội trưởng như thế này: “Tôi bảo thật các ông: tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế”. Mỗi khi Chúa Giêsu mở đầu câu nói bằng công thức “Tôi bảo thật” thì câu nói đó có tầm quan trọng đặc biệt. Vậy đức tin của ông này như thế nào?

- Ông là người “ngoại”

- Ông là người Rôma, kẻ cai trị, thế mà hạ mình van xin Chúa Giêsu là kẻ bị trị. Ông còn nói “Tôi chẳng đáng được Ngài vào nhà tôi”.

- Ông van xin Chúa Giêsu không phải cho ông mà cho đầy tớ của ông

- Đại ý lý luận của ông (câu 9): tuy tôi chỉ có ít quyền nhưng cũng có thể sai khiến thuộc hạ, huống chi Ngài là kẻ có nhiều quyền.

- Ông tin Chúa Giêsu không cần đến nhà ông, chỉ cần nói một lời là đầy tớ ông được khỏi bệnh.

Đáp lại lòng tin của ông, Chúa Giêsu đã làm một phép lạ đặc biệt theo kiểu “từ xa” (“remote control”).

B.  ... nẩy mầm.

1. Chủ đề của bài đọc Cựu Ước và đáp ca:

- Câu tóm tắt ở đầu bài đọc Cựu Ước: “Thiên Chúa quy tụ các dân tộc trong nước Người…” - Bài Phúc Âm minh hoạ cảnh muôn dân vào nước Chúa.

- Câu đáp của bài đáp ca: “Ôi, tôi vui sướng biết bao khi nghe nói: Chúng ta sẽ về nhà Chúa”.

2. “Từ phương Đông phương Tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Abraham, Isaac và Giacóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời sẽ bị quẳng ra chỗ tối tăm bên ngoài” (cc 11-12). Chúa Giêsu xuống trần để ban ơn cứu độ cho mọi người. Nhưng để được cứu độ thì phải có Đức Tin. Chúng ta là “con cái Nước Trời”, tuy thế nếu không có đức tin thì cũng không được cứu độ. Nhưng thế nào là có đức tin? ...

3. “Lạy Chúa con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con…”. Đoạn TM này chúng ta đọc hằng ngày trước khi lên rước lễ, chúng ta có ý thức đầy đủ không?

4. Người ngoại trong đoạn TM này đến với CG trong tâm tình: tin tưởng, khiêm tốn, tế nhị và đầy lòng bác ái thương người. Tôi thử rà lại xem “tính chất người ngoại dễ thương đầy tính nhân bản này” có nhiều ở nơi tôi không?

5. “Một doanh nhân giàu có ở một Tiểu bang nam Hoa Kỳ có sáng kiến ngộ nghĩnh để thử lòng người: ông cho in rất nhiều bích chương và dán khắp nơi trong thành phố nơi ông đang ở. Đại khái nội dung những tấm bích chương loan báo: bất cứ ai mắc nợ, nếu đến văn phòng của ông ngày đó, tháng đó từ 9g-12g đều được ông giúp đỡ để trả nợ. Dĩ nhiên mọi người đều bàn tán về lời mời gọi này, nhưng đa số đã xem đây là một trò đùa. Đúng ngày hẹn, doanh nhân đến ngồi trong văn phòng của mình. Hai giờ đồng hồ trôi qua mà không thấy người nào đến. Mãi tới 11g mới có một người đàn ông rụt rè đến ... Doanh nhân ký cho ông một ngân phiếu để trả hết nợ. Gần 12g một vài người nữa cũng đến ... và dĩ nhiên họ cũng được giúp đỡ tận tình. Còn tất cả những người khác khi hiểu được lời mời gọi của doanh nhân thì đã quá muộn. Khi người ta không tin ở lòng tốt của con người, thì làm sao có thể tin tưởng ở lòng tốt của Thiên Chúa?” (trích "Mỗi ngày một tin vui")

6. “Thấy viên đại đội trưởng có lòng tin mạnh mẽ, Chúa Giêsu thán phục và nói với những kẻ theo Người rằng “Tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin mạnh như thế” (Mt 8,10)

Nói về lòng tin của tôi hôm nay, có lẽ Chúa Giêsu cũng ngạc nhiên mà bảo rằng “Không có một lòng tin nào như thế!”. Vì khi đời nở hoa, tôi cảm thấy tự tin và yêu thương cuộc sống. Những lúc ấy tôi thấy Chúa nhân hậu, tốt lành… Nhưng cuộc đời lại có những bước trầm, hoàn cảnh thì mờ mịt mà sức người có hạn, tôi buông xuôi tất cả, tôi cũng chẳng tin gì nữa, kể cả Thiên Chúa. Sóng gió rồi cũng qua… Khi quân bình trở lại, tôi thấy cần tìm hiểu sâu hơn về Chân lý. Chúa dạy tôi: phải tin rồi mới thấy. Nhưng tôi cứ bướng bình, nằng nặc “Con phải hiểu, phải hiểu rồi mới tin…” Không biết Chúa có ngạc nhiên vì lòng tin bé hơn một phần tư hạt cải của tôi không?

Lạy Chúa Giêsu, Chúa thấu suốt mọi tâm can, xin giữ con khỏi tự cao tự mãn, xin tăng cường lòng tin yếu kém của con (Epphata).

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 10: Lòng tốt và đức tin của sĩ quan ngoại giáo


(Lm Giuse Đinh Tất Quý)

1. Chúng ta vừa bước vào Mùa Vọng. Mùa Vọng là mùa mong chờ, mong chờ Chúa đến trong thế gian và đến trong mỗi tâm hồn chúng ta. Chúa đã đến thế gian cách đây hơn 2000 năm, nhưng nhiều vùng nhiều nơi trên hành tinh chúng ta có nhiều người chưa biết Chúa.

Chúa đã đến với ta, nhưng cũng có nhiều vùng nhiều nơi trong thế giới nhỏ bé của ta chưa được Lời Chúa chiếu soi và thánh hóa. Để giúp ta đi vào tinh thần Mùa Vọng, phụng vụ hôm nay nói cho chúng ta về lòng tốt và đức tin của một viên sĩ quan ngoại giáo.

Chúa Giêsu khen người sĩ quan ngoại giáo có lòng tốt (yêu thương đầy tớ mình), có lòng tin (tôi không thấy ai trong Israel có lòng tin mạnh như thế). Chúa còn nói đến sự kính trọng và lòng khiêm tốn của ông đối với Chúa (tôi chẳng đáng Thầy đến nhà tôi). Và sau đó Chúa Giêsu so sánh cuộc sống của người Do Thái với người ngoại tốt lành này và kết luận: "Tôi nói thật với các ông: Từ phương Đông, phương Tây, nhiều người sẽ tới dự tiệc cùng các Tổ phụ Abraham, Isaac và Giacob trong Nước Trời, nhưng con cái trong nhà thì bị quăng ra chỗ tối tăm và khóc lóc (Mt 8,11).

Như vậy, Lời Chúa hôm nay cho ta thấy:

- Nước Chúa được mở rộng cho hết mọi người, Do Thái hay dân ngoại, có đạo hay ngoại đạo; nước Chúa không bị đóng khung, chỉ dành cho một số người nào đó thôi.

- Nhiều người dân ngoại lại sống tốt hơn Do Thái, tốt hơn nhiều người Công giáo. Lời Chúa hôm nay vì thế là một lời cảnh cáo: Không phải là Công giáo thì đương nhiên được lên Thiên đường. Thiên đường chỉ dành cho những ai có một cuộc sống tốt lành biết yêu thương mọi người và có một đức tin vững mạnh.

2. Sống thương yêu kẻ khác và có lòng tin mạnh vào Chúa, đó là hai điều kiện giúp con người gặp được Chúa.

Một hôm hoàng đế Napoléon của Pháp cải trang đi vi hành. Vì không muốn cho ai nhận ra mình nên hoàng đế và viên sĩ quan tùy viên ăn mặc như thường dân. Ông vào một nhà hàng nọ.

Sau khi hai người ăn uống xong, chủ quán đến tính tiền. Tổng cộng là 14 quan. Sĩ quan tùy viên lấy tiền trả. Nhưng bỗng mặt ông tái mét đi vì ông quên không đem tiền theo.

Thấy thế hoàng đế Napoléon hiểu ngay, ông nói nhỏ:

- Không sao, đừng lo để tôi trả cho.

Hoàng đế lục xét hết túi trên rồi túi dưới nhưng cũng không có đồng nào.

- Làm sao bây giờ đây?

Viên sĩ quan tùy viên nói với bà chủ nhà hàng:

- Thật là xui cho chúng tôi. Hôm nay, chúng tôi quên đem theo tiền. Xin bà vui lòng cho chúng tôi khất một giờ đồng hồ thôi tôi sẽ trở lại để thanh toán số tiền này cho bà.

Bà chủ nhà hàng nhất định không chịu và còn dọa là nếu hai người không trả tiền tức khắc thì bà sẽ cho gọi cảnh sát.

Rất may cho hai người là trong tiệm đó có một người bồi bàn rất tốt. Được chứng kiến và theo dõi câu chuyện từ đầu, anh cảm thương hai người khách nên nói với bà chủ:

- Quên đem theo tiền trong túi là một điều có thể xảy ra cho bất cứ ai. Điều đó quá thường mà bà. Xin bà đừng gọi cảnh sát làm gì. Tôi xin trả 14 quan thay cho hai ông khách này đây. Xem ra hai ông đây là người thật thà chứ không phải muốn lường gạt gì đâu.

Thế là nhờ anh giúp bàn trong nhà hàng có lòng tốt mà hoàng đế Napoléon và viên sĩ quan tùy tùng mới có thể rời quán bình an.

Và... chỉ một lát sau, viên sĩ quan tùy viên trở lại nhà hàng. Ông hỏi bà chủ nhà hàng:

- Bà đã tốn bao nhiêu tiền để mở nhà hàng này?

Bà chủ trả lời:

- 30.000 quan.

Viên sĩ quan lấy từ trong túi ra số tiền 30.000 quan và đặt trên bàn rồi nói:

- Vâng lệnh của chủ tôi là hoàng đế Napoléon, tôi xin bà sang lại quán này cho người giúp việc của bà, người đã giúp chúng tôi trong lúc chúng tôi kẹt không đem tiền theo.

Người bồi bàn trong quán nhà hàng hôm nay quả là một người vừa tốt vừa có lòng thương người. Việc nhà vua Napoléon và viên sỹ quan tuỳ tùng rất may mà gặp được người tốt như thế này. Nếu không thì không biết sự việc sẽ ra sao.

Viên bách quan đội trưởng trong bài Tin Mừng hôm nay đã được Chúa thương bởi vì ông vừa có lòng tốt lại vừa có đức tin mạnh. Chúng ta cũng hãy cầu xin cho chúng ta có được đức tin mạnh và biết sống có lòng tốt với mọi người để Mùa Vọng này đem lại nhiều niềm vui cho chúng ta.

Xin được kết thúc bằng lời khuyên của thánh Phêrô tông đồ: "Anh chị em hãy đồng tâm nhất trí, thông cảm với nhau, hãy yêu thương nhau như anh em, hãy ăn ở nhân hậu và khiêm tốn. Đừng lấy ác báo ác, đừng lấy lời nguyền rủa đáp lại lời nguyền rủa, nhưng trái lại, hãy chúc phúc, vì anh chị em được Thiên Chúa kêu gọi chính là để thừa hưởng lời chúc phúc" (Pr 3,89). Amen.

---------------------------------

 

Suy Niệm 11: Nhiều người đến trong Nước Chúa


(Lm. Micae Võ Thành Nhân)

Caphanaum là một thành phố tương đối giàu có, nằm gần biển hồ Galilêa. Có lẽ người dân ở đây khá giả là do buôn bán và hành nghề đánh bắt buôn bán hải sản. Người không có đạo sống chung với người có đạo ở đây rất nhiều.

Chúa được sai đến trần gian ưu tiên trước hết là cho dân tộc của Chúa, một dân tộc đạo hạnh, và là dòng máu của Chúa. Điều ấy cũng đúng thôi, vì dù gì đi chăng nữa, dân Do Thái là riêng của Chúa mà. Vậy mà một viên đại đội trưởng là người không có đạo đến thưa với Chúa rằng: “Lạy Thầy, người đầy tớ của con đau nằm ở nhà, nó bị tê liệt và đau đớn lắm” (Mt 8, 6) thì Chúa lại bảo ông rằng; “ Tôi sẽ đến chữa nó” (Mt 8, 7). Dường như ông chưa dám xin ơn Chúa, ông mới chỉ thưa cho biết tình trạng đau bệnh người đầy tớ của ông thôi. Không biết bệnh của người đầy tớ này có nguy kịch hay không? Nhưng Chúa biết ông rất cần ơn Chúa ban cho ông ngay lúc này, cho nên Chúa đã nhận lời là Chúa sẽ đến chữa người đầy tớ ấy.

Chúa sẽ đến chữa nó đã làm cho ông viên đại đội trưởng thật bất ngờ, ngỡ ngàng, vì ông nghĩ rằng ông chỉ là một người dân ngoại, cho nên không dễ gì được đặc ân này đâu. Nhưng Chúa lại nhận lời cầu xin của ông. Và vì Chúa nhận lời xin của ông, cho nên ông lại càng tỏ ra biết ơn, khiêm nhường, hạ mình thẳm sâu trước Chúa. Ông thưa với Chúa: “Lạy Thầy, tôi không đáng được Thầy vào dưới mái nhà tôi, nhưng xin Thầy chỉ phán một lời, thì người đầy tớ của tôi sẽ lành mạnh. Vì chưng, cũng như tôi chỉ là người ở dưới quyền, nhưng tôi cũng có những người lính thuộc hạ, tôi bảo người này đi thì anh đi; tôi bảo người kia đến thì anh đến; tôi bảo gia nhân làm cái này thì nó làm” (Mt 8, 7 – 9).

 Vì một người ngoại đạo mà biết ơn và có lòng khiêm nhường như vậy, Chúa đề cao về đức tin của ông đối với Chúa. Do đức tin mạnh mẽ cho nên ông mới có thể thưa chuyện cùng Chúa với tấm lòng khiên nhường như vậy: “Nghe vậy, Chúa Giê-su ngạc nhiên và nói với những kẻ theo Người: Quả thật, Ta bảo các ngươi, Ta không thấy một lòng tin mạnh mẽ như vậy trong Ít-ra-en” (Mt 8, 10). Đây là mẫu gương cho tất cả chúng ta noi theo trong đời sống đạo. Chúa muốn cho tất cả chúng ta là con cái của Chúa phải có đức tin mạnh mẽ và lòng khiêm nhường thẳm sâu mỗi khi chúng ta làm việc thờ phượng Chúa cũng như kêu cầu xin ơn Chúa. Đồng thời phải biết mình là thân phận thụ tạo tội lỗi, yếu đuối luôn cần đến Chúa giúp đỡ, ban ơn và cũng phải biết sống khiêm nhường với nhau trong cuộc sống hằng ngày để làm sáng danh cũng như mở mang nước Chúa đến mọi tâm hồn. Bằng không: “Ta cũng nói cho các ngươi biết rằng: nhiều người từ phương đông và phương tây sẽ đến dự tiệc cùng Ap-ra-ham, I-sa-ác và Gia-cóp trong nước trời. Còn con cái trong nước sẽ bị vứt vào nơi tối tăm bên ngoài, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng ” (Mt 8, 10 – 11). Nghĩa là Nước Chúa mở rộng cho cho muôn dân tộc chứ không phải chỉ dành riêng cho những người Do Thái, dân riêng của Chúa. Nếu dân Do Thái không chịu nghe Chúa, không chịu tin Chúa, không chịu sống những điều Chúa dạy bảo, một cách cụ thể là không biết khiêm nhường, không biết sống đạo, không biết cầu xin vào Chúa…..thì sẽ bị Chúa loại ra bên ngoài, lúc đó không thể trách móc Chúa được. Chúa nói với dân Do Thái ngày xưa và Chúa cũng nói với chúng ta như thế của ngày hôm nay, để chúng ta không được ỷ y, tự phụ mình là con cái của Chúa mà không sống đạo tốt thì số phận của chúng ta cũng giống như vậy.

Lạy Chúa chúng con tôn thờ, chúng con thật sung sướng, hạnh phúc, vinh dự vì được làm con của Chúa, xin Chúa ban muôn ơn cho chúng con, giúp chúng con sống theo thánh ý Chúa cho đàng hoàng tử tế, nhất là sống khiêm nhường để Chúa thương xót chúng con hơn trong Mùa Vọng này. Amen.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 12: Xin ngự đến giải thoát


(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)

Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Hai Tuần 1 Mùa Vọng này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa là Đấng chúng ta tôn thờ, xin Chúa cho chúng ta hằng tha thiết đợi chờ Đức Kitô ngự đến, để khi đến gõ cửa, Người thấy chúng ta đang tỉnh thức cầu nguyện, và hân hoan ca tụng Người.

Tha thiết đợi chờ Đức Kitô ngự đến, với lòng tin vững vàng vào lời Chúa hứa, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, ngôn sứ Isaia cho thấy: Những lời hứa đầy nhiệt tình cho một tương lai xa xăm. Ngôn sứ cho thấy cảnh tượng tương phản giữa một bên là Thành Thánh sa đoạ và một bên là sự trung thành của Chúa, Chúa trung thành sẽ có tiếng nói quyết định và Giêrusalem sẽ trở nên điểm thu hút đối với những người đi tìm kiếm Thiên Chúa thật. Tất nhiên, những người này phải lo thanh luyện tâm hồn và thay đổi đời sống. Trong tương lai, núi Nhà ĐỨC CHÚA đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi… Đến đây, ta cùng lên núi ĐỨC CHÚA, lên Nhà Thiên Chúa của Giacóp. Người dạy ta biết lối của Người và bước theo đường Người chỉ vẽ. Đấng gọi là Đức Kitô sẽ đến! Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng ta mọi sự.

Tha thiết đợi chờ Đức Kitô ngự đến, với lòng khao khát ơn cứu độ cho tất cả mọi người, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Carôlô Borômêô nói: Mỗi năm khi cử hành mầu nhiệm này, Giáo Hội có ý khuyên mời chúng ta luôn nhớ đến tình yêu vô ngần Thiên Chúa đã biểu lộ cho chúng ta. Giáo Hội dạy chúng ta rằng cuộc giáng lâm của Đức Kitô không chỉ sinh ích cho những ai sống trong thời Đấng Cứu Thế; Giáo Hội cũng dạy rằng hiệu lực của cuộc giáng lâm này còn phải chuyển đến tất cả chúng ta… Hãy rúc tù và tại Xion, mời gọi các dân ngoại, và loan báo cho dân chúng rằng: Kìa Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta đang tới.

Tha thiết đợi chờ Đức Kitô ngự đến, với niềm vui sướng trẩy lên đền thánh Chúa, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, ngôn sứ Isaia cho thấy: Đức Chúa quy tụ muôn dân cho hưởng hòa bình vĩnh cửu trong Nước Thiên Chúa. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 121, vịnh gia đã cho thấy: Ta vui mừng trẩy lên đền thánh Chúa. Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa! Và giờ đây, Giêrusalem hỡi, cửa nội thành, ta đã dừng chân. Giêrusalem khác nào đô thị được xây nên một khối vẹn toàn. Từng chi tộc, chi tộc của Chúa, trẩy hội lên đền ở nơi đây.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, xin ngự đến mà giải thoát chúng con; xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời, để chúng con được ơn cứu độ. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc trong Nước Trời. Tất cả mọi người đều được mời đến dự tiệc Nước Trời, Chúa sẽ ngự đến giải thoát tất cả chúng ta, Chúa sẽ chiếu tỏa ánh tôn nhan rạng ngời để cho tất cả chúng ta được hưởng ơn cứu độ, phần của chúng ta là: tha thiết đợi chờ Chúa đến với thái độ tỉnh thức và cầu nguyện. Đây là thời thuận tiện, đây là ngày cứu độ, ngày bình an và hoà giải; đây là thời mà xưa kia, các tổ phụ và các ngôn sứ đã hết lòng mong ước và liên lỉ nài xin. Đức Kitô đã giáng thế một lần duy nhất khi Người nhập thể, thì ngày nay, bất cứ giờ phút nào, Người cũng sẵn sàng lại đến với chúng ta, để ở trong tâm hồn chúng ta và ban ơn thánh dồi dào, nếu về phía mình, chúng ta dẹp bỏ mọi trở ngại. Để nghênh đón Đức Kitô ngự đến, lòng trí chúng ta phải được chuẩn bị thật chu đáo, ước gì chúng ta hằng tha thiết đợi chờ Đức Kitô ngự đến, để khi đến gõ cửa, Người thấy chúng ta đang tỉnh thức cầu nguyện, và hân hoan ca tụng Người. Ước gì được như thế!

----------------------------------

 

Thứ 3: 3/12 Thánh Phanxicô Xaviê

Rao giảng cho mọi dân tộc.

03/12 – Thứ Ba tuần 1 mùa vọng – THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ linh mục. Bổn mạng các xứ truyền giáo. Lễ kính.
"Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng".

* Thánh Phanxicô chào đời tại Tây Ban Nha năm 1506. Khi đang học văn chương ở Pa-ri, người nhập đoàn với thánh I-nha-xi-ô. Người chịu chức linh mục ở Rôma năm 1537 và chăm lo thực hành việc bác ái. Năm 1541, người lên đường sang phương Đông. Trong mười năm, người can đảm loan báo Tin Mừng cho người Ấn Độ và Nhật Bản, giúp cho nhiều người hoán cải mà đón nhận đức tin. Người qua đời năm 1552 ở đảo Xanxian, cửa ngõ vào Trung Quốc.

 ---------------------------------

 

LỜI CHÚA: Mc 16, 15-20


Khi ấy, Chúa Giêsu hiện ra với mười một môn đệ và phán: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật. Ai tin và chịu phép Rửa, thì sẽ được cứu độ; ai không Tin, sẽ bị luận phạt.

Và đây là những phép lạ đi theo những người đã tin: nhân danh Thày, họ sẽ trừ quỷ, nói các thứ tiếng mới lạ, cầm rắn trong tay, và nếu uống phải chất độc, thì không bị hại; họ đặt tay trên những người bệnh, và bệnh nhân sẽ được lành mạnh”.
Vậy sau khi nói với các môn đệ, Chúa Giêsu lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.

Phần các ông, các ông đi rao giảng khắp mọi nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông và củng cố lời giảng dạy bằng những phép lạ kèm theo.

---------------------------------

 

Suy Niệm 1.Rao giảng cho mọi dân tộc


--Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Chúa Giêsu phục sinh hiện ra để củng cố đức tin của các môn đệ,
để ban bình an cho họ sau những biến cố buồn đau,
nhưng cũng là để sai các môn đệ lên đường đi sứ vụ.
“Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20, 21).
“Hãy đi và làm cho mọi dân tộc trở thành môn đệ…” (Mt 28, 19-20).
“Phải nhân danh Đức Kitô mà rao giảng cho mọi dân tộc” (Lc 24, 47).
“Hãy đi khắp thế giới, loan báo Tin Mừng cho mọi thọ tạo” (Mc 16, 15).
Thế hệ các Kitô hữu đầu tiên rất trân trọng mệnh lệnh này.
Bao vị tông đồ đã chịu tử đạo chỉ vì tuân giữ mệnh lệnh ấy.
Ước mơ của Chúa Giêsu phục sinh thật lớn lao.
Ước mơ ấy muốn ôm cả trái đất với muôn dân tộc.
Ngài đã sống, đã chết và đã sống lại, chính là để cứu độ cả loài người.
Ngài đã đem lửa đến trên mặt đất,
và Ngài muốn chúng ta tiếp tục làm cho ngọn lửa ấy bùng lên (Lc 12, 49).
Phanxicô Xaviê đã muốn sống mệnh lệnh này cách đặc biệt.
“Các tông đồ ra đi rao giảng khắp nơi” (c. 20).
Phanxicô cũng muốn đi khắp nơi để nói về Chúa Giêsu cho ai chưa tin.
Một năm trời lênh đênh trên biển để đi từ Bồ Đào Nha đến Ấn Độ.
Ba mươi sáu tuổi bắt đầu công việc của một nhà truyền giáo ở Goa,
Phanxicô chịu mọi lao nhọc để giảng dạy và rửa tội cho người bản xứ.
Rồi Phanxicô lại lên đường đi Malaixia, Inđônêsia.
và là một trong những nhà truyền giáo đầu tiên tại Nhật Bản.
Nhưng trái tim Phanxicô vẫn chưa dừng ở đó.
Ngài còn muốn đặt chân đến Bắc Kinh để gặp Hoàng đế Trung Quốc.
Phanxicô chết vì kiệt sức khi đang chờ trên hòn đảo Thượng Xuyên,
mắt vẫn hướng về Quảng Đông chỉ cách đó 14 cây số.
Hôm ấy là ngày 3-12-1552, khi Phanxicô mới bốn mươi sáu tuổi.
Mừng lễ thánh Phanxicô, Bổn mạng các xứ truyền giáo,
chúng ta nhớ Việt Nam vẫn là nơi cần được loan báo Tin Mừng,
và Trung Quốc vẫn là nơi gần như Kitô giáo chưa được biết đến.
Hơn 90% người dân Việt chưa nhận biết Đức Kitô.
Hơn một tỷ người Trung Quốc cần được nghe lời rao giảng.
Có ai còn nhớ đến những mệnh lệnh của Chúa phục sinh không?
Có người nghĩ rằng chẳng cần phải loan báo Tin Mừng nữa,
vì đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành, dạy sống theo lương tâm,
vì các tôn giáo đều có nét hay riêng, đều là những con đường cứu độ,
vì Đức Kitô Giêsu chẳng phải là Đấng Trung Gian duy nhất!
Anh em hãy đi khắp thế giới, hãy làm cho muôn dân thành môn đệ!
Lời ấy của Đức Giêsu phải là lời nhắc nhở Hội Thánh.
Loan báo Tin Mừng hôm nay thuận lợi hơn xưa rất nhiều.
Chúng ta không phải đi thuyền buồm để mà sợ đứng gió.
Chỉ gửi một email, làm một trang web, là nhiều người nghe được Tin Mừng.
Điều chúng ta thiếu lại là chút nhiệt thành nóng bỏng của Phanxicô.
Xin cho tôi hiểu và yêu Ngài hơn, để dám giới thiệu Ngài cho thế giới.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,
xin cho chúng con ngọn lửa trong Trái tim Chúa,
ngọn lửa của tình yêu Cha và nhân loại.
Xin làm tim con ấm lại mỗi ngày,
nhờ được nghe Chúa nói như hai môn đệ về Emmau,
và được Chúa nuôi bằng bánh ban sự sống.
Xin soi sáng chúng con bằng ngọn lửa rực rỡ
mỗi khi chúng con cầu nguyện hay quyết định.
Xin thanh luyện chúng con bằng ngọn lửa hồng
của những thất bại đắng cay trên đường đời.
Ước gì chúng con luôn có lửa nhiệt thành
để hết lòng phụng sự Nước Chúa,
lửa tình yêu để vượt qua những hận thù đố kỵ.

Lạy Chúa Giêsu,
thế giới hôm nay vẫn bị tối tăm, lạnh lẽo đe dọa.
Xin ban cho chúng con những lưỡi lửa
để chúng con đi khắp địa cầu
loan báo về Tình yêu và gieo rắc Tình yêu khắp nơi. Amen.
 
---------------------------------

 

Suy Niệm 2. Loan báo Tin Mừng cho mọi thọ tạo


--TGM Giuse Nguyễn Năng

Sứ điệp: Được sống hạnh phúc trong tình yêu Thiên Chúa là ý nghĩa và cùng đích của cuộc sống con người. Không thể có hạnh phúc đích thực, khi con người chỉ biết nghĩ đến cuộc sống đời tạm này, mà không thiết tha với đời sống vĩnh cửu mai sau trên Nước Trời.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, thánh Phanxicô Xaviê đã cảm nếm được hạnh phúc đích thực trong Chúa, nên thánh nhân đã hy sinh vất vả, đi nhiều nơi, vượt biển khơi, gặp gỡ mọi hạng người, làm sao để cho họ biết được giá trị thật của cuộc sống. Bởi vì: “Nếu người ta được cả thế giới, mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có ích lợi gì.”

Lạy Chúa, tâm hồn con luôn bị giằng co giữa sứ điệp của Tin Mừng và cuộc sống cụ thể từng ngày. Con vẫn biết rằng: được cả thế giới mà mất mạng sống, thì chẳng có ích lợi gì. Thế nhưng “mất mạng sống” thì còn xa quá, ở mãi tận cuối kiếp người, còn thế gian thì lại luôn hiện diện thật gần, ngay trong con người của con.

Lạy Chúa, có được những giây phút bình an khi thinh lặng, cầu nguyện, kết hiệp mật thiết với Chúa, thật là hạnh phúc khôn tả, đến nỗi, lúc đó chẳng tha thiết sự gì trên trần gian này nữa. Nhưng thật là hiếm và nhất thời. Khi con trở về với cuộc sống hằng ngày, đầy dẫy những bon chen, gian dối, con lại bị xoáy vào cơn lốc của chủ nghĩa hưởng thụ, chỉ biết có vật chất, rồi sống cho qua ngày, mà không thấy được một ý nghĩa nào cho cuộc sống của mình. Xin Chúa ban sức mạnh để con nhìn vào cuộc đời thánh Phanxicô Xaviê mà bước đi trong chân lý của Chúa. Amen.

Ghi nhớ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”

---------------------------------

 

Suy Niệm 3. Cuộc sống theo tinh thần Phúc Âm


--Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái

A- Phân tích (Hạt giống...)

Đây là đoạn cuối của Phúc Âm theo Thánh Máccô, ghi lại chỉ thị cuối cùng của Chúa Giêsu trước khi về trời:

- Chúa chỉ thị: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Phúc Âm cho mọi loài thụ tạo”.

- Ngài hứa tích cực hỗ trợ những sứ giả loan truyền Phúc Âm bằng những dấu lạ kèm theo.

- Các tông đồ đã làm theo chỉ thị đó: rao giảng Phúc Âm khắp nơi, và “dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”.

Ý nghĩa “Những dấu lạ kèm theo”: Những dấu lạ như trừ quỷ (x. Cv 5, 12-16; 8, 7; 16, 16-18), nói tiếng lạ (x. Cv 2, 4-13; 10, 44-46; 1Cr 14, 2-40), đặt tay chữa bệnh (x. Cv 4, 30; 9, 10-17), cầm rắn mà không sao cả (x. Cv 28, 3-6) v.v… là bảo đảm có Chúa Giêsu trợ giúp các ông để chiến thắng mọi thế lực gian tà.

B- Suy gẫm (... nẩy mầm)

1. Thánh Phanxicô Xaviê được Giáo Hội đặt làm bổn mạng của các xứ truyền giáo. Ngài là người thực hiện đúng đoạn Phúc Âm hôm nay.

2. Người truyền giáo vừa rao giảng vừa “dùng những dấu lạ kèm theo” để củng cố lời rao giảng của mình. Trong bối cảnh thời nay, “những dấu lạ kèm theo” là một cuộc sống “lạ lùng” trước con mắt người đời nhưng đúng với tinh thần Phúc Âm.

3. Thiên Chúa, Đấng Cứu Rỗi muốn muôn dân đến với Người. Phần chúng ta, hãy cộng tác với Người: hãy đi đến muôn dân để rao giảng Phúc Âm cho họ. Đến với muôn dân (Ad Gentes) là chủ đề lớn, là đầu đề của một sắc lệnh của Vatican II.

4. Một mục sư nói chuyện với một tín đồ lười biếng:

- Anh có thường đến nhà thờ không?

- Không. Người trộm lành hấp hối trên thập giá đâu cần đến nhà thờ thế mà vẫn lên thiên đàng.

- Có khi nào anh nói về Chúa cho bạn bè nghe không?

- Không. Người trộm hấp hối ấy đâu có nói về Chúa cho ai nghe.

- Anh có đi truyền giáo không?

- Không. Người trộm hấp hối ấy đâu có truyền giáo cho ai.

- Anh tưởng mình giống người trộm ấy ư? Không đâu. Có một khác biệt cơ bản: anh ta là một tên trộm đang hấp hối, còn anh là một tên trộm còn sống nhăn. (Ottobein Teacher)

5. Khuôn vàng thước ngọc: “Hãy nói về Chúa cho những người quanh bạn nghe; và hãy nói về những người quanh bạn cho Chúa nghe”.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa, con tin rằng trong cuộc sống của con, bất cứ sự việc gì, ở đâu, lúc nào, Chúa vẫn tiếp tục công trình của Chúa. Con tin rằng con được mời gọi để nhận biết và hợp tác với Chúa, đồng thời đem công trình của Chúa, cũng như giới thiệu Chúa cho bạn bè thân thích, cho những người chung quanh con.

Lạy Chúa, xin ban cho con hiểu rõ trách nhiệm này, cho con lòng tin và can đảm, để thực hiện. Amen.

---------------------------------

 

Suy Niệm 4. Thánh Phanxicô Xaviê


--Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

Loan báo trực tiếp hay gián tiếp

Có những người trực tiếp đi rao giảng Tin mừng cho người ta, ví dụ các nhà truyền giáo chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, các Linh mục, họ có thể loan báo một cách trực tiếp. Còn hầu hết mọi người chúng ta không có khả năng loan báo trực tiếp, mà chỉ bằng cách gián tiếp nhưng rất hữu hiệu như cầu nguyện, tham gia các hội đoàn, nâng đỡ các nhà truyền giáo, đóng góp vào qũy truyền giáo, nhất là bằng gương sáng.

Loan báo bằng cách sống đời thường

Chỉ có một cách loan báo Tin mừng thích hợp với mọi người, mọi nơi, mọi lúc, đó là loan báo bằng cách sống đời thường với châm ngôn: “Các con là ánh sáng thế gian. Các con là muối đất. Các con là men trong bột”. Các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên đã loan báo bằng cách này và đã được một tác giả cổ xưa mô tả và gửi cho ông Thêôphilê như sau:

“Các Kitô hữu không khác người ta về xứ sở, ngôn ngữ và tập quán trong đời sống. Họ không ở trong những thành phố riêng, không dùng ngôn ngữ lạ thường, cũng không sống một đời sống khác biệt. Giáo lý của họ không phải do một sự suy tư nào đó, hay do mối bận tâm của những con người ham tìm hiểu nghĩ ra. Họ không bảo trợ một hệ thống triết lý nào do loài người chủ xướng như một số người kia.

“Họ ở trong các thành phố văn minh cũng như bán khai, tuỳ theo số phận mỗi người đưa đẩy. Họ theo tập quán của dân địa phương trong cách ăn mặc và trong lối sống, mà vẫn cho thấy một nếp sống lạ lùng và ai cũng phải nhận là khó tin. Họ sống ở quê hương mình mà như người khách kiều cư. Họ có chung mọi thứ như công dân, nhưng phải gánh chịu đủ thứ như khách lữ hành. Miền đất lạ nào cũng là quê hương của họ, nhưng quê hương nào cũng là đất khách đối với họ. Họ lập gia đình và sinh con cái như mọi người, nhưng không phá thai. Họ ăn chung với nhau một bàn, nhưng không chồng chung vợ chạ”(Trích Các Bài đọc Kinh sách, tập 2, tr 354).

Truyện: Đọc Thánh kinh hằng ngày

Có một người Kitô hữu tầm thường, thấy bên cạnh mình có một người tự xưng mình là vô thần. Lòng nhiệt thành đã thúc đẩy họ tìm cách giới thiệu Chúa cho họ. Người này đi mua một cuốn Thánh kinh biếu cho người láng giềng ấy, hy vọng họ đọc và sẽ nhận ra Thiên Chúa. Người láng giềng vui vẻ đón nhận và hứa sẽ đọc…

Sau một thời gian, người Kitô hữu sang chơi nhà láng giềng, tình cờ thấy cuốn Thánh kinh nằm trong sọt rác. Người Kitô hữu ngạc nhiên hỏi người láng giềng:

- Sao ông không đọc Kinh thánh? Nếu đọc, ông sẽ nhận ra Thiên Chúa.

Người láng giềng lạnh nhạt trả lời:

- À suốt trong 10 năm qua, mỗi ngày tôi đều đọc cuộc sống của anh!!!

Câu chuyện kết thúc ở đây. Chúng ta hãy suy nghĩ về câu trả lời của người láng giềng vô thần ấy. Chúng ta hãy suy nghĩ xem, người vô thần ấy muốn nói gì?

Có một bài viết ngắn về điều này:

“Tôi là cuốn sách Kinh thánh đối với người hàng xóm của tôi; người đó đọc tôi mỗi khi gặp tôi.

Hôm nay, anh ta đọc tôi trong ngôi nhà của tôi, ngày mai, anh ta đọc tôi trên đường phố.

Anh ta có thể là một người họ hàng, một người bạn, hoặc chỉ là một người quen biết sơ giao mà thôi.

Thậm chí anh ta có thể không biết tên tôi, tuy nhiên, anh ta vẫn đang đọc Kinh thánh qua cuộc đời của tôi” (Flor McCarthy).

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 5. Thánh Phanxicô Xaviê


--Lm. Giuse Đinh Tất Quý

I. Lịch sử:

*  Thánh Phanxicô Xaviê sinh năm 1506 tại lâu đài Xaviê trong một gia đình quyền quý của Vương quốc Navarre nhỏ bé miền Bắc nước Tây ban Nha ngày nay. Khi Ngài 5 tuổi, nước Tây ban Nha thôn tính và sát nhập Navarre khiến gia đình Ngài lâm cảnh nước mất nhà tan. Muốn tiến thân bằng con đường trí thức, năm 17 tuổi Ngài đến Paris học (1525-1536).

Tại Paris Ngài sống trong cùng một căn phòng với chân phước Favre, và sau đó với Thánh Ingatio. Lần lượt Phêrô Favre rồi Phanxicô Xaviê được thánh Ingatio thu phục. Năm 28 tuổi, ngài cùng với nhóm bạn của Thánh Ingatio khấn sống khó nghèo, khiết tịnh và làm việc tông đồ. Năm 31 tuổi ngài chịu chức Linh mục tại Venezia miền Bắc nước Ý. Năm 35 tuổi ngài xuống tàu đi truyền giáo ở vùng Đông Á theo lệnh Đức Thánh Cha Phaolô III.

* Tháng 4 năm 1541 ngài xuống tàu tại Lisbon và mãi 14 tháng sau mới đến được Goa bên Ấn Độ. Trong suốt 10 năm truyền giáo (1542-1552) ngài đã đi cả trăm ngàn cây số. Trong 7 năm đầu, ngài truyền giáo ở vùng Mũi Cormorin, sau đó ở Ceylan, Malaisia và từ đó đến Inđônêsia. Là vị Giám mục đầu tiên của Tỉnh Dòng đầu tiên ngoài Châu Âu, ngài yêu mến và gắn bó keo sơn với Chúa Giêsu, tha thiết với Dòng và anh em trong Dòng, kính trọng và tuân phục Thánh Ingatio, nhiệt thành lạ lùng với việc tông đồ. Ngài đã rửa tội cho hàng trăm ngàn tân tòng và gầy dựng nhiều cộng đoàn tín hữu khắp nơi. Thành quả tông đồ của ngài đã tạo nên một đỉnh cao trong lịch sử truyền giáo của Hội Thánh.

Trong vòng 2 năm (1549-1551) ngài đã thành lập một cộng đoàn tín hữu ở Nhật Bản; trước khi ra đi, ngài trao lại cho một Linh mục Bồ đào Nha; 20 năm sau, cộng đoàn này đã lên đến 30 ngàn người. Cuối cùng vì muốn vào Trung Hoa truyền đạo, ngài đã đến đảo Thượng Xuyên ngay cửa khẩu Quảng Châu, để chờ thuyền lén lút đưa ngài vào Trung quốc. Tiếc rằng tại đây ngài ngã bệnh và qua đời trong một chòi tranh chỉ có anh thanh niên trẻ thông dịch viên bên cạnh. Vài tuần lễ sau, người ta từ Goa đến tìm xác ngài, đem về Goa để chôn cất.

* Thánh Phanxicô qua đời ngày 3.12.1552, được Đức Thánh Cha Grêgôriô XV phong thánh cùng với thánh Ingatio vào năm 1622 và được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo.

Thánh Phanxicô Xaviê là vị truyền giáo vĩ đại, người tiên phong cho cuộc truyền giáo thời mới. Ngài hòa nhập vào dân mà ngài muốn mang Tin Mừng đến; ngài sống nghèo với những người lao động. Ngài hoạt động thật năng nổ cho cuộc truyền đạo và kích thích được tinh thần này ở Âu Châu. Hàng nghìn người đã theo gương ngài để mang Tin Mừng đi muôn phương.

B. TRÊN ĐUỜNG TRUYỀN GIÁO.

* Động lực thúc đẩy Ngài đi truyền giáo

Con đường truyền giáo của Ngài bắt nguồn từ lòng yêu mến Chúa và các linh hồn. Đây chúng ta hãy nghe chính tâm tư của Ngài. Tâm tư được bộc lộ trong lá thư Ngài gửi cho thánh Ignatio

 “Có rất nhiều người tại những nơi này hiện giờ chưa trở thành người có đạo, chỉ vì thiếu người làm cho họ nên người có đạo.

Nhiều lần tôi đã nghĩ đến việc đi tới các Đại học bên Châu Âu, nhất là ở Paris, để điên cuồng kêu lên khắp đó đây và thúc bách những kẻ chỉ biết lý thuyết hơn là thực hành rằng: “Khốn thay, có vô số linh hồn, vì lỗi của các ông mà phải trục xuất khỏi trời và bị đẩy xuống hỏa ngục”.

Chớ gì những người đó chuyên chú vào việc tông đồ này như họ đã chuyên chú vào văn chương để có thể trả lẽ cho Chúa về đạo lý và những nén bạc đã uỷ thác cho họ” (CGKPV trang 535)

* Phương pháp của Ngài là luôn kết hiệp mật thiết với Chúa.

Ở thành phố Yamaguchi miền Nam nước Nhật, Ngài dựng được một túp lều nhỏ để làm nhà nguyện. Ngài vẫn dâng lễ và cầu nguyện ở đó hàng ngày. Nhiều buổi sáng sớm người ta phát hiện Ngài ngủ say mê ngay cạnh bàn thờ.

Người ta nói rằng có nhiều ngày Ngài làm việc say mê đến mức độ không có đến cả giờ để đọc sách nguyện. Tuy nhiên, dù đêm khuya, Ngài vẫn muốn đến chia sẻ gian khổ và hy vọng của mình với người bạn chí thân là Chúa Giêsu. Lịch sử kể lại rằng một lần kia ngài quì gối trước Chúa Giêsu Thánh Thể, nhưng vì quá mệt mỏi nên ngài ngủ gục ngay trên bục bàn thờ. Biết rằng làm như thế là không phải nên ngài đã cầu nguyện với Chúa: “Lạy Chúa, nếu linh hồn con không tỉnh thức được với Chúa thì ít nữa xác con đây muốn ở gần Chúa"

Rồi ngài đã lăn ra ngủ thiếp đi cho đến sáng.

* Và không quên cuộc sống của một chứng nhân.

Một ngày kia Thánh Phanxicô Xaviê đang giảng trong một thành phố Nhật bản, một người đến gặp ngài và muốn nói chuyện riêng với ngài. Ngài cúi đầu xuống để nghe cho rõ, thì bỗng nhiên kẻ kiêu ngạo đã nhổ nước miếng vào mặt ngài. Không có một lời hay có cử chỉ phản đối, ngài lấy khăn tay lau mặt và tiếp tục cuộc nói chuyện. Chàng kia kinh ngạc, tỏ vẻ kính phục thánh nhân. Một trong những người trí thức nhất thành phố có mặt một hôm ấy nhận định rằng đức tính khiêm hạ như thế nâng cao đạo đức, lòng can đảm và tự chủ, chỉ xuất phát từ Thiên Chúa cho các tôi trung của Chúa. Củ chỉ khiêm hạ của Thánh Phanxicô đã đánh động lòng ông, ông trở lại đạo công giáo và lôi cuốn rất nhiều người khác theo đạo. Đức khiêm hạ của nhà truyền giáo đã mang lại biết bao thành công cho việc mở mang nước Chúa.

Đây là lời dạy của Chúa Giêsu: “Hãy học cùng ta, vì ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng” (Mt 11,29). Và lời Đức Mẹ: “Chúa hạ kẻ quyền thế khỏi địa vị của họ và nâng các kẻ khiêm nhường lên” (Lc 1,52)

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 6. Giác ngộ


--‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’

“Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì?”... Lời thách thức này của Tin Mừng đã khiến cho một vị giáo sư trẻ tuổi bỏ tương lai đầy hứa hẹn, bỏ tất cả để chỉ còn đeo đuổi một mục đích duy nhất trong cuộc đời: sự sống đời đời của chính mình và của người đồng loại.

Vị giáo sư trẻ tuổi đó chính là Thánh Phanxicô Xaviê, bổn mạng của các xứ truyền giáo, mà hôm nay Giáo Hội kính nhớ... Chưa tròn 25 tuổi, Phanxicô đã nổi tiếng như một giáo sư triết học tài ba tại đại học Paris. Giữa lúc danh vọng đang đến, Phanxicô Xaviê đã nhận được những lời thách thức trên đây từ người bạn thân Inhaxiô Loyola.

Không còn chống cưỡng lại với lời Chúa, Phanxicô Xaviê đã đến Montmartre để cùng với Inhaxiô sống đời khó nghèo, khuyết tịnh và phục vụ tông đồ, theo những chỉ dẫn của Ðức Thánh Cha.

Năm 1537, nghĩa là 3 năm sau khi đã tuyên khấn, Phanxicô lãnh chức linh mục. Từ Italia, ngài sang Lisboa của Bồ Ðào Nha để lên đường đi truyền giáo tại Ấn Ðộ. Trong 10 năm ngắn ngủi, Phanxicô Xaviê đả rảo bước đi khắp nơi để đem Tin Mừng đến cho dân tộc Nhật Bản, Mã Lai và Ấn Ðộ. Cuộc sống của ngài là một chia sẻ cảm thông sâu xa với những người nghèo khổ nhất... Chưa đạt được giấc mơ đặt chân đến Trung Hoa và Việt Nam, thánh nhân đã qua đời trong kiệt sức, tại một hải đảo cách Hồng Kông 100 cây số. Bị những người lái buôn Bồ Ðào Nha bỏ rơi trên bãi cát, thánh nhân đã qua đời trong sự trơ trụi nghèo nàn.

Danh vọng, tiền tài, ngay cả sức khỏe... tất cả đều được đốt cháy để tìm được niềm vui đích thực cho tâm hồn và mang niềm vui đó đến với mọi người: đó là sứ điệp mà thánh Phanxicô Xaviê đã để lại cho tất cả chúng ta...

“Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột”... Có lẽ người ta thường dùng câu nói trên đây không những để nói lên tính cách tương đới của đau khổ, mà còn để nói lên ngay cả sự tương đới của hạnh phúc.

Sau những tháng năm ăn độn, ăn rau, những người nghèo có thể hớn hở reo vui khi được bữa cơm trắng với chút thịt cá. Sau những tháng năm tù đày, một người vừa mới được phóng thích sẽ reo hò sung sướng khi được đi lại tự do, khi được thở không khí trong lành...

Những người giàu có, ngày nào cũng yến tiệc linh đình sẽ thèm khát đôi chút cá kho, mắm cà của người nghèo khổ... Những đứa trẻ giàu có ở đô thị có lẽ sẽ thèm khát những giây phút được cưỡi trâu hay tắm ao của những chú bé nghèo ở nhà quê...

Tựu trung, vấn đề cơ bản nhất của con người vẫn là đi tìm hạnh phúc. Và cuối cùng, sau những miệt mài tìm kiếm, ai cũng nhận thấy rằng mình sẽ không bao giờ đạt được hạnh phúc đích thực và trường cửu trên trần gian này. Kẻ đứng ở núi này sẽ luôn nhìn sang núi nọ...

Chúa Giêsu đã đề ra cho chúng ta một bí quyết của hạnh Phúc: Ai muốn cứu mạng sống mình, sẽ mất và ai mất mạng sống mình vì Ta sẽ gặp lại... Chỉ có một niềm vui đích thực đó là sống trọn vẹn cho Chúa. Chỉ có một điều quan trọng nhất trong cuộc sống: đó là lắng nghe lời Chúa.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 7. Cuộc đời và tiếng gọi


--Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Khi được hỏi về việc chọn một lời Thánh Kinh làm châm ngôn cho đời giám mục của mình, Đức tân Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm đã trả lời: “Tôi chọn lời Thánh Kinh làm châm ngôn nhắc nhớ chính mình là: “Hãy theo Thầy!”.

“Hãy theo Thầy!” là lời nhắc nhớ rằng dù làm linh mục hay làm giám mục, vẫn chỉ là một tiếng gọi mà thôi, có chăng là tiếng gọi ấy thôi thúc hơn và mạnh mẽ hơn.

“Hãy theo Thầy!” là lời nhắc nhớ rằng điều quan trọng trong đời dâng hiến không phải là đi đâu và làm gì, mà là đi với ai. Đi theo Thầy Giêsu thì dù làm gì và ở đâu cũng là đi trên đường sự thật và là đường dẫn đến sự sống.

“Hãy theo Thầy!” là lời nhắc nhớ rằng muốn làm người lãnh đạo thì trước hết phải làm môn đệ, và càng sống tư cách môn đệ tốt bao nhiêu thì càng có hi vọng lãnh đạo tốt bấy nhiêu… Theo Thầy không chỉ là theo bằng trí, mà là theo bằng tâm; cho nên theo Thầy là để tâm mình gắn bó với tâm của Thầy, để mang trong lòng mình những tâm tư của Thầy (x. Pl 2,5). (tinvui.org).

Đọc Phúc Âm, ta nghe âm vang lời mời gọi: “Hãy theo Thầy!”. Tiếng gọi của Chúa Giêsu luôn để lại những âm vang làm chuyển biến cuộc đời. Những ngư phủ đã trở thành Tông đồ, những kẻ chuyên nghề đánh bắt cá đã trở nên người chuyên nghiệp bủa lưới các tâm hồn.

Ngày 3.12, Giáo Hội mừng lễ Thánh Phanxicô Xaviê, một nhà truyền giáo vĩ đại, người tiên phong cho cuộc truyền giáo thời đại mới. Đọc lại tiểu sử để thấy cuộc đời ngài được dệt bằng những tiếng gọi “Hãy Theo Thầy!”.

1. Cuộc đời

Thánh nhân sinh năm 1506 tại lâu đài Xaviê, trong một gia đình quyền quý của vương quốc Navarre nhỏ bé miền bắc nước Tây Ban Nha ngày nay. Khi ngài 5 tuổi, nước Tây Ban Nha thôn tính và sát nhập Navarre, khiến gia đình ngài lâm cảnh nước mất nhà tan. Muốn tiến thân bằng con đường trí thức, năm 17 tuổi, ngài đến Paris học (1525-1536).

Tại Paris, ngài sống trong cùng một căn phòng với chân phước Phêrô Favre và sau đó, với thánh Ignaxiô. Lần lượt Phêrô Favre rồi Phanxicô Xaviê được thánh Ignatiô thu phục. Năm 28 tuổi, ngài cùng với nhóm bạn của thánh Ignatiô, khấn sống khó nghèo, khiết tịnh và làm việc tông đồ. Năm 31 tuổi, ngài chịu chức linh mục tại Venezia, miền đông bắc nước Ý năm 1537. Năm 35 tuổi, ngài xuống tàu đi truyền giáo ở vùng Đông Á theo lệnh Đức Thánh Cha Phaolô III.

Tháng 04.1541, ngài xuống tàu tại Lisbon và mãi 14 tháng sau, mới đến được Goa bên Ấn độ.

Trong suốt 10 năm truyền giáo (1542-1552) ngài đã đi cả trăm ngàn cây số.

Trong 7 năm đầu, ngài truyền giáo ở mũi Cormorin, sau đó ở Ceylan, Malaisia và từ đó, đến Indonésia.

Là vị giám tỉnh đầu tiên của tỉnh dòng đầu tiên ngoài Châu Âu, ngài yêu mến và gắn bó keo sơn với Chúa Giêsu, tha thiết với Dòng và anh em trong Dòng, kính trọng và tuân phục thánh Ignatiô, nhiệt thành lạ lùng với việc tông đồ. Ngài đã rửa tội cho hàng trăm ngàn tân tòng và gầy dựng nhiều cộng đoàn tín hữu khắp nơi. Thành quả tông đồ của ngài đã tạo nên một đỉnh cao trong lịch sử truyền giáo của Hội thánh.

Trong vòng 2 năm (1549-1551), ngài đã thành lập một cộng đoàn tín hữu ở Nhật Bản. Trước khi ra đi, ngài trao lại cho cho một linh mục Bồ Đào Nha; 20 năm sau, cộng đoàn này đã lên đến 30 ngàn người.

Cuối cùng, vì muốn vào Trung Quốc truyền đạo, ngài đã đến đảo Thượng Xuyên, ngay cửa khẩu Quảng Châu, để chờ thuyền lén lút đưa ngài vào Trung Quốc. Tiếc rằng tại đây, ngài ngã bệnh và qua đời trong một chòi tranh, chỉ có anh thanh niên trẻ thông dịch viên bên cạnh. Vài tuần lễ sau, người ta từ Goa đến tìm xác ngài, đem về Goa để chôn cất.

Thánh Phanxicô Xaviê qua đời ngày 3/12/1552, được Đức Thánh Cha Grêgôriô XV phong thánh cùng với thánh Ignatiô vào năm 1622 và được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo. (x.Phụng vụ chư thánh tập 2, Lm Augustin Nguyễn Văn Trinh).

2. Tiếng gọi.

Đức Giám Mục Giuse Vũ Duy Thống đã chiêm nghiệm cuộc đời thánh nhân qua 3 tiếng gọi: Lời Chúa, bạn bè và nhu cầu truyền giáo. (x. Làm nụ hoa trắng, tr 135).

a. Tiếng gọi từ Lời Chúa.

Đức Giêsu hỏi: “Có lợi ích gì nếu được cả thế gian mà mất sự sống?” (Mt 16,26a). Câu hỏi trên đã trở thành lời tâm niệm của một giáo sư triết trẻ tuổi, với một tương lai đầy hứa hẹn trong giới kinh viện mà sự thành công, uy tín và vinh dự đang chờ đón.

Sinh ra trong gia đình quyền quý, nhưng Phanxicô Xaviê luôn nuôi trong mình những ước vọng bay cao, ngài tìm thăng tiến qua nẻo đường học hành.

Phanxicô Xaviê lên Paris theo đuổi khoa bảng, dùi mài kinh sử để cuối cùng trở thành giáo sư môn Triết học. Nhưng trên đỉnh cao danh vọng ấy, một lần tiếp cận Tin Mừng, gặp được câu: “Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn liệu ích gì?” và dù không quen cân đo đong đếm kinh tế, ngài cũng đặt tất cả lên cán cân giá trị: lời lãi trần thế mà đời sống linh hồn trống rỗng, không có gì, thì là lỗ vốn, đạt được ước vọng trong cuộc sống này mà đời sau lại mất hết, thì là bể bụi cuộc đời trắng tay sự nghiệp. Vì thế mà thánh Phanxicô Xaviê đã suy nghĩ lựa chọn định hướng đời mình sao cho có lợi cho đời sống Thiên Chúa. Phanxicô Xaviê không muốn dừng lại hưởng thụ cuộc sống đầy đủ muốn gì được nấy, nhưng luôn được kích thích bởi ước vọng vươn lên; không muốn một cuộc đời chật hẹp gò bó dù luôn có kẻ hầu người hạ, mà lại thích vất vả khai phá lên đường; không muốn ngày ngày làm quen với vũ khí chiến đấu phòng thủ hoặc tấn công chỉ vì lãnh địa đồi núi hoang sơ, nhưng lại ham thích vũ khí tinh thần là sách vở kiến thức không gây bực bội tinh thần và cũng chẳng hôi tanh mùi máu.

Lời Chúa ở đây quả là lựa chọn, đã trở thành sức mạnh giúp thánh nhân định hướng đời sống.

b. Tiếng gọi đến từ môi trường bè bạn.

Lời Chúa gọi khi Phanxicô Xaviê mới 24 tuổi, đang sinh sống và giảng dạy ở kinh thành Paris tráng lệ. Ngài không thay đổi ngay lập tức khi nghe những lời ấy, nhưng tất cả là nhờ ở người bạn tốt: Cha Ignatiô ở Loyola đã liên lỉ thuyết phục và sau cùng, đã chiếm được người thanh niên ấy cho Ðức Kitô. Sau đó, Phanxicô tập luyện đời sống tâm linh dưới sự hướng dẫn của Cha Ignatiô, và năm 1534, ngài gia nhập cộng đoàn nhỏ bé của Cha Ignatiô (là Dòng Tên thời tiên khởi). Tại Montmartre, các ngài khấn sống khó nghèo, khiết tịnh và hoạt động tông đồ dưới sự hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng.

Bạn bè có một ảnh hưởng không nhỏ đến chọn lựa của Phanxicô Xaviê. Đó là tiếng gọi thứ hai.

Ở Paris, sống đời sinh viên trau dồi trí thức, Phanxicô Xaviê đã gặp gỡ Ignaxiô trong tình thân bạn bè. Sự thân thiết này đã giúp ngài cởi mở cõi lòng, tâm sự chia sẻ cuộc sống tinh thần. Nhận biết Phanxicô là con người đầy cao vọng, nhất là những ước vọng lành thánh, Inhaxiô một hôm nói với Phanxicô rằng: “Con người nhiều cao vọng như anh mà chịu dừng lại trong vinh quang trần thế thì quá uổng. Thiết nghĩ chỉ có vinh quang Thiên Chúa mới xứng với tầm cao ước vọng của anh”.

Câu nói của Ignatiô tác dụng như một liều thuốc mạnh, có sức công phá, không gì có thể cầm lại được. “Chỉ có vinh quang Thiên Chúa mới xứng với khát vọng khôn cùng”, Phanxicô Xaviê đã coi đây như châm ngôn để ngài dấn thân phục vụ Giáo Hội trong Giáo Hội và theo đường lối của Giáo Hội. Ngài từ bỏ tất cả công danh sự ngthiệp, nhận chức Linh mục, rồi sau đó, cùng với Ignaxiô, thành lập Dòng Tên với khẩu hiệu “cho vinh danh Chúa hơn”.

Nhắc lại vài đoạn trong bút tích Thánh Phanxicô Xaviê cũng đủ thấy tình anh em bạn bè luôn nâng đỡ ngài trên hành trình truyền giáo.

- “Tất cả anh em trong Dòng hiện diện liên lỉ trong tâm trí tôi” (Bt 48,1: bút tích Thánh Phanxicô Xaviê, tài liệu 48 số 1);

- “Ở Ấn Độ, để giải trí, tôi rất thường nhớ đến anh em trong Dòng, và nhớ đến thời gian, vì Chúa quá thương, tôi đựoc biết anh em và sống với anh em. Nhờ lời anh em cầu nguyện, và vì anh em luôn nhớ đến tôi, Chúa ban cho tôi ơn rất lớn là dù xa cách anh em về thể xác, nhưng nhờ anh em nâng đỡ và giúp đỡ, Chúa cho tôi cảm thấy muôn vàn tội lỗi của mình, và cho tôi sức mạnh để đến giữa dân ngoại” (Bt 20,14);

- “Để đừng bao giờ quên anh em trong Dòng, và lúc nào cũng nhớ đặc biệt đến anh em, tôi đã cất tên của anh em trong các thư từ chính tay anh em viết cho tôi, tôi có thể luôn luôn mang trên mình, cùng với lời khấn của tôi. Điều này đem lại cho tôi nhiều an ủi…Tôi cảm thấy sung sướng khi mang tên của anh em trên mình” (Bt 55,10).

- “Gặp anh em thì tâm hồn tôi đựơc an ủi hơn nhiều. Vậy mà tôi cứ phải viết thư cho anh em, lại không chắc thư đến, vì từ Ấn Độ đến Roma xa quá…Tôi nghĩ mình không lầm khi nói xa cách phần xác không làm cho chúng ta, vốn yêu mến nhau trong Chúa bớt yêu mến và nghĩ đến nhau” (Bt 48,1).

- “Đặc biệt đối với Cha Ignatiô, Phanxicô đã xúc động thổ lộ tâm tư. Chúa đã ban ân huệ lớn lao khi cho tôi được biết Cha Ignatiô. Bao lâu còn sống, không bao giờ tôi trả được món nợ đối với ngài” (Bt,16).

- “Trong số nhiều lời thánh thiện và an ủi của ngài, tôi đọc được những lời thế này: “hoàn toàn thuộc về nhau. Không bao giờ quên được nhau”. Tôi đã rơi lệ khi đọc những chữ ấy, và cũng rơi lệ khi kể lại, vì nhớ lại thời gian đã qua, nhớ đến ngài đã và vẫn luôn luôn rất thương tôi, và nhờ những lời khẩn nguyện thánh thiện của ngài, Thiên Chúa đã cho tôi thoát đựoc bao gian nan, bao nguy hiểm” (Bt 97,1).

- “Đó là một con người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, đời sống không có gì chê trách được” (Bt 1,7).

c. Tiếng gọi đến từ nhu cầu truyền giáo.

Ban đầu, nhận công tác đi tìm Vinh Danh Chúa qua việc phục vụ các bệnh nhân, nhưng chừng như chưa đủ, Phanxicô Xaviê vẫn khát vọng xa hơn, là hiến thân loan báo Tin Mừng tận miền sâu miền xa của địa cầu. Tiếng gọi thứ ba đến từ nhu cầu truyền giáo.

Từ Venice, là nơi ngài thụ phong linh mục năm 1537, Cha Phanxicô Xaviê đến Lisbon và từ đó, ngài dong buồm đến Ấn Ðộ, cập bến làng Goa ở bờ biển phía tây nước Ấn. Trong vòng 10 năm tiếp đó, ngài đã tích cực hoạt động để đem đức tin đến cho rất nhiều dân tộc, trong đó có người Ấn Ðộ, Mã Lai và Nhật Bản.

Cha Phanxicô đến các quần đảo ở Mã Lai, và Nhật Bản. Ngài học tiếng Nhật và rao giảng cho các người dân chất phác, dạy giáo lý và rửa tội cho họ, cũng như thành lập các trụ sở truyền giáo cho những người muốn giúp đỡ công cuộc của ngài. Từ Nhật Bản, ngài mơ ước đến Trung Hoa, nhưng dự tính này không bao giờ thực hiện được. Ngài đã từ trần trước khi đặt chân đến phần đất này.

Tới Goa ngày 6/5/1542, Phanxicô rong ruổi khắp nơi, nhiệt tình rao giảng cho người ta biết con người Nagiaret nghèo nàn kia chính là Thiên Chúa ở giữa loài người. Trong 7 năm (1542-1549), Ngài là nhà truyền giáo rửa tội đựơc nhiều nhất, tới 100.000 người, “có những buổi chiều nhức mỏi cả cánh tay” như thánh nhân viết.

Từ Malaca, Ngài đến Nhật, xứ sở mặt trời. Ngài muốn gặp gỡ tìm hiểu trao đổi để Lời Chúa sáng ngời qua đối thoại. Ngài dự định đến tận kinh đô Nhật, vào các Đại học, gặp gỡ các nhà Sư để trao đổi. Phanxicô hoạt động nhiều nhất tại Kagoshima, Hirado, Bungo trên đảo Kyushu, lên Yamaguchi, từ đó đi hai tháng lên kinh đô Myako (tức Kyoto). Sau hai năm ở Nhật, Phanxicô trở về Goa, trao công việc truyền giáo lại cho cha Torres và tu huynh Fernandez.

Ngày 14.4.1552 nhà truyền giáo lên tàu. Tháng 8 năm đó ngài tới đảo Thượng Xuyên, cửa ngõ Trung Hoa. Ba tháng sau Phanxicô bị sốt nặng, lòng vẫn ngong ngóng đựơc nhà cầm quyền Quảng Đông cho phép vào đất liền. Thật bất ngờ, ngài qua đời vào 2-3 giờ sáng ngày 3/12/1552, mới 46 tuổi đời. Nói theo “thói thế gian”, đó là vỡ mộng, mọi việc còn dang dở… Nhưng đối với Thiên Chúa thì Phanxicô đã làm trọn ý Người và mọi sự đã hoàn thành, dù chưa đựơc phép bước vào nước Đại Minh thời đó với dân số dưới 200 triệu người.

Bất cứ chỗ nào ngài đến, ngài đều sống với người nghèo, chia sẻ thức ăn và các phương tiện thô sơ với họ. Ngài dành rất nhiều thời giờ để chăm sóc người đau yếu, nghèo khổ, nhất là người cùi. Rất nhiều khi ngài không có thời giờ để ngủ hoặc ngay cả để đọc kinh nhật tụng, nhưng qua các thư từ ngài để lại, chúng ta được biết, ngài luôn luôn tràn ngập niềm vui.

Hành trình không mệt mỏi, Phanxicô Xaviê rong ruổi những nẻo đường Á Châu, một miền xa lạ và xôi xa. Nhưng mặc kệ. Sợ gì! Đối với thánh nhân: “Tôi không sợ ai ngoại trừ Thiên Chúa, chỉ sợ Người phạt vì chểnh mảng trong việc phục vụ Người, vì vụng về và vô dụng trong việc truyền bá danh Chúa Giêsu giữa những kẻ chưa biết Người” (Bt 78,2).

Ở đâu có vinh quang Thiên Chúa, Phanxicô Xaviê sẵn sàng lên đường. Mỗi một tâm hồn chinh phục được là một niềm vui cho vinh quang Thiên Chúa, mỗi một hao mòn trong thân xác là “một vốn” bỏ ra để có “bốn lời” cho cuộc sống mai hậu. Mỗi một thời khắc sống cho Tin Mừng, cũng chính là một cách đong đầy cho khát vọng cống hiến tìm Vinh Danh Chúa.

Chính vì thế mà Phanxicô Xaviê đã không mỏi mệt ra đi, dấn bước lên đường: từ Nhật đến Ấn Độ, từ Goa đến biên giới Trung Quốc. Mỗi chặng đường đi qua, lại là một lời “còn nữa” vang lên không ngừng. Tiếng gọi từ nhu cầu truyền giáo đã hớp lấy tâm hồn Phanxicô Xaviê. Thánh nhân đã sống do và cho tiếng gọi này đến hơi thở cuối cùng trên con đường sang Trung Quốc. Đúng là một con người đầy cao vọng, nhưng là một cao vọng đích thực chỉ mình Thiên Chúa mới có thể đong đầy, mới làm no thỏa.

3. Biết tận dụng Ơn Chúa ban

Nhìn cuộc đời thánh Phanxicô Xaviê trong ba tiếng gọi: Lời Chúa, bè bạn và nhu cầu truyền giáo, cũng là một cách học tập đời sống của ngài để họa lại trong đời sống của mình.

Đời mỗi tín hữu cũng đong đầy những tiếng gọi như thế.

Xin cho những tiếng gọi của Lời Chúa được ta lắng nghe chân thành và thực thi trung thành, bởi đó là ánh sáng soi lối ta đi.

Xin cho những tiếng gọi từ những người xung quanh không bị ta quên lãng, bởi tưởng như tầm thường, nhưng đó lại là tiếng gọi nhiều khi rất quý hiếm cho vững bước đi lên.

Và xin cho nhu cầu truyền giáo của Giáo Hội luôn là tiếng gọi ta phải quan tâm để ý, bởi đó là sự sống và là sự sống còn của Giáo Hội.

Tất cả mọi người chúng ta đều được mời gọi “Hãy theo Thầy” để “ra đi và rao giảng cho muôn dân” (Mt 28,19).

Chúng ta không nhất thiết phải đi đến những nơi xa xôi để rao giảng, mà hãy rao giảng ngay trong gia đình, cho con cái, vợ chồng, và những người cùng làm việc với chúng ta.

Rao giảng không chỉ bằng lời nói, nhưng còn qua đời sống hàng ngày. Chính nhờ sự hy sinh, từ bỏ tất cả những gì của riêng mình, mà Thánh Phanxicô mới có tự do để đem Tin Mừng đến cho người khác. Hy sinh là quên đi cái tôi của mình vì lợi ích cao cả hơn, lợi ích của sự cầu nguyện, lợi ích khi giúp đỡ người có nhu cầu, lợi ích khi lắng nghe người khác.

Món quà lớn nhất của cuộc đời chúng ta là Ơn Chúa.Thánh Phanxicô đã đón nhận hồng ân ấy, rồi làm trổ sinh hoa trái trong suốt năm tháng truyền giáo. Lời khuyên và cũng là lẽ sống của ngài cho chúng ta: “Không ai là người yếu đuối, nếu biết tận dụng Ơn Chúa ban cho mình” (Bt 90,8.9).

Ơn Chúa có thể đến bất cứ từ nơi đâu, trong mọi cảnh huống cuộc đời, lúc vui mừng hay đau khổ, lúc thành công hay khi thất bại. Ðiều quan trọng là chúng ta biết nhận ra đó là ân ban của Chúa. Người có niềm tin nhìn tất cả chỗ nào cũng là ân sủng, và mỗi một ân ban là một cuộc “Chúa đến viếng thăm”, là tiếng gọi trong hành trình cuộc đời.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 8. Thánh Phanxicô Xaviê, quan thầy các xứ truyền giáo


--Lm. Đinh Lập Liễm

Thánh Phanxicô Xaviê sinh năm 1506 tại lâu đài Xaviê, thuộc giáo phận Pampelune, nước Tây ban nha. Năm 17 tuổi đến Paris theo học tại trường đại học danh tiếng Sorbonne nước Pháp. Tám năm sau Phanxicô tốt nghiệp và được tuyển làm giáo sư triết học tại đại học này. Nổi tiếng nhờ trí thông minh, Phanxicô ngày đêm miệt mài theo đuổi danh vọng trần gian.

Ngài có một người bạn thân là Inhaxiô Loyola, một hôm đã gieo lời Chúa vào tai Phanxicô: “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn thì nào có ích gì”(Mt 16,26). Được ơn thánh Chúa tác động, Phanxicô đã cùng 7 anh em bạn đến Montmartre thành lập dòng Chúa Giêsu (ngày nay là dòng Tên) do Inhaxiô Loyola đứng đầu, cùng khấn khó nghèo, khiết tịnh và làm việc tông đồ.

Năm 31 tuổi ngài chịu chức Linh mục tại Venetia miền bắc nước Ý năm 1537. Năm 35 tuổi ngài xuống tầu từ Lisbonne (Bồ đào nha) đi truyền giáo ở vùng Đông Á theo lệnh Đức thánh Cha Phaolô III.

Suốt 11 năm ngài đã đi giảng đạo tại Ấn độ, Tích lan, qua Nhật và còn dự định vào Trung quốc. Tại Ấn độ ngài rửa tội cho nhiều bậc quân vương. Tại Nhật ngài cũng được Nhật hoàng Bungolu hết sức cảm phục. Ngài đã vượt hàng ngàn cây số đường bộ nhất là đường biển và đã đem lại cho Chúa hàng trăm ngàn linh hồn. Ngoài thánh Phaolô chắc có ít vị thánh nào có hành trình truyền giáo như thánh Phanxicô.

Lòng nhiệt thành cứu các linh hồn còn thôi thúc ngài tới lục địa Trung quốc bao la để truyền giáo, nhưng đang trên cuộc hành trình tới đó, ngài đã qua đời tại đảo Tân châu (Trung quốc) ngày 03/12/1552. Xác ngài được đưa về mai táng tại Goa (Ấn độ). Năm 1622, tức sau 70 năm, Đức giáo hoàng Grêgôriô XV đã phong thánh cho ngài cùng với thánh Inhaxiô và được đặt làm quan thầy các xứ truyền giáo.

Chúa Giêsu đã từng nhắn nhủ các môn đệ: “Các con hãy đi rao giảng Tin mừng cho muôn dân, rửa tội cho họ nhân danh Cha và con và Thánh Thần”(x. Mt 16,16). Sau khi Chúa Giêsu về trời, các môn đệ chia nhau đi khắp nơi để rao giảng Tin mừng. Việc rao giảng Tin mừng ấy còn phải được kế thừa trong Giáo hội. Như vậy, mọi người đều có trách nhiệm phải rao giảng Tin mừng trong hoàn cảnh thực tế của mình.

Thánh Phanxicô đã ý thức về điều đó. Ngài thấy rằng không có gì quí trọng bằng một linh hồn, bởi vì “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn thì có ích gì” (Mt 16,16). Ngài thấy cánh đồng truyền giáo còn rộng rãi bao la, nhiều người đang sẵn sàng đón nhận Tin mừng, nhưng tiếc thay, không có người đi rao giảng cho họ. Mối thao thức của ngài được diễn tả trong bức thư ngài gửi về cho thánh Inhaxiô:

“Có rất nhiều người tại những nơi này hiện giờ chưa trở thành người có đạo, chỉ vì thiếu người làm cho họ trở nên người có đạo.

Nhiều lần tôi đã nghĩ đến việc đi tới các đại học bên châu Âu, nhất là ở Paris, để điên cuồng kêu lên khắp đó đây và thúc bách những kẻ chỉ biết lý thuyết hơn là thực hành rằng: “Khốn thay, có vô số linh hồn vì lỗi của các ông mà phải trục xuất khỏi trời và bị đẩy xuống hỏa ngục.

Chớ gì những người đó chuyên chú vào việc tông đồ này như họ đã chuyên chú vào văn chương để có thể trả lẽ cho Chúa về đạo lý và những nén bạc đã ủy thác cho họ (Các giờ kinh Phụng vụ, tr 535).

Thượng hội đồng Giám mục Á châu đã cho thấy mối ưu tư của các Giáo hội ở Á châu. Về việc truyền giáo cho các dân tộc Á châu. Nhìn vào bản đồ Á châu, chúng ta thấy đây là một lục địa đông dân cư nhất, nhưng lại là lục địa có con số Công giáo thấp nhất, khoảng 2,6%. Đây là một thách đố lớn cho công việc truyền giáo. Giáo hội Á châu là một Giáo hội bé nhỏ trong một lục địa mênh mông được mời gọi rao giảng về sứ mạng tình yêu và phục vụ của Chúa Giêsu Kitô tại Á châu.

Thánh Phanxicô đã làm gương cho chúng ta về lòng nhiệt thành truyền giáo vì yêu Chúa và các linh hồn, ngài đã hy sinh tất cả bởi vì như ngài nói: “Tất cả đau khổ phiền muộn là nguồn vui sướng cho tôi”. Đúng như lời thánh Augustinô nói: “Ở đâu có tình yêu ở đó không còn khó nhọc nữa. Mà nếu có khó nhọc thì họ lại yêu thích chính sự khó nhọc đó”.

Vì thế, sau khi rửa tội cho một bà già đau nặng, ngài đã kêu lên: “Lạy Chúa, bỏ cha mẹ, quê hương, vượt trùng dương để cứu một linh hồn mà thôi thì con cũng thỏa mãn lắm rồi. Nay có chết con cũng vui lòng”. Điều đó chứng tỏ ngài yêu các linh hồn như thế nào.

Gương truyền giáo của thánh Phanxicô thật tuyệt vời, còn chúng ta thì sao? Tất cả mọi người chúng ta đều được mời gọi để “đi rao giảng cho muôn dân” (x. Mt 28,19). Chúng ta không nhất thiết phải đi đến những nơi xa xôi để rao giảng, mà hãy rao giảng ngay trong gia đình, cho con cái, vợ chồng, và những người làm việc với chúng ta. Và sự rao giảng không chỉ bằng lời nói, nhưng còn qua đời sống hằng ngày.

Một cách cụ thể, chúng ta thực hiện việc truyền giáo trước hết bằng lời cầu nguyện và bằng những việc hy sinh hãm mình. Chỉ có Chúa mới làm cho người khác tin Chúa mà thôi. Chứ người phàm không có khả năng làm được điều đó vì Chúa đã phán: “Hãy xin thì sẽ được” (Mt 7,7-8; Lc 11,9-10; Ga 14,13-14).

Thứ đến phải sống một đời sống tốt lành thánh thiện để làm gương sáng cho người khác vì như người ta nói: “Lời nói như gió lung lay, gương bày như tay lôi kéo”. Gương sáng có tính cách thuyết phục và hấp dẫn hơn lời nói như Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Người thời này không thích những thầy dạy cho bằng nhân chứng”.

Chúng ta chỉ có thể truyền giáo bằng gương sống của chúng ta qua việc sẵn sàng giúp đỡ mọi người, qua việc thực thi bác ái của Tin mừng mà thôi. Ước gì đời sống mỗi người, mỗi gia đình là tấm gương tốt lành, công bằng, yêu thương minh chứng cụ thể cho đức tin và lòng yêu mến Chúa của chúng ta.

---------------------------------

 

Suy Niệm 9. Thánh Phanxicô Xaviê, Linh Mục


--Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Thánh Phanxicô Xaviê được mệnh danh là Phaolô thế kỷ XVI. Thánh nhân có tinh thần truyền giáo cao độ. Ngài luôn hướng tới Chúa và yêu mến các linh hồn. Phanxicô đi đi mãi tới các nước Châu Á. Ngài đến với Á Châu, đến với những con người chưa biết Chúa. Ngài luôn mang trong mình Ngài hai tình yêu đã nên một: tình yêu Ðức Giêsu Cứu Thế và tình yêu các linh hồn.

CON NGƯỜI ÐẶC BIỆT

Thánh Phanxicô sinh năm 1506 tại miền Xaviê thuộc địa phận Pampelune nước Tây Ban Nha trong một gia đình giầu sang, quyền quí, vị vọng. Thánh nhân có trí thông minh đặc biệt, nên vào năm Ngài lên 19 tuổi, cha mẹ Ngài gửi Ngài qua Paris để tiếp tục công việc đèn sách. Tám năm sau đó, Ngài tốt nghiệp đại học và trở thành giáo sư danh tiếng tại nước Pháp. Thánh nhân lúc đó miệt mài chạy theo danh vọng trần tục. Ngài coi trần gian là tất cả. Ý Chúa nhiệm mầu, cao sâu, huyền bí nào ai hiểu nổi. Một lời của Chúa đã khiến Phanxicô thay đổi tất cả: "Ðược lời lãi cả và thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì?". Chúa đã dùng miệng lưỡi của thánh Ignatiô cũng là thầy dạy Ngài để nói lên điều đó. Chính lời Chúa đã biến đổi cuộc đời của Ngài tận căn. Chúa đã chiếm đoạt con tim của Ngài toàn vẹn. Thánh nhân đã trở thành khí cụ bình an đem Tin Mừng cho người Á Châu. Năm 1539, Ðức Thánh Cha Phaolô III đã sai Ngài đi truyền giáo cho dân tộc Ấn Ðộ.

Thánh Phanxicô đã miệt mài với sứ mạng loan báo Tin Mừng. Ðâu đâu Ngài cũng nghe tiếng thúc bách của các linh hồn: Ấn Ðộ, Macao, Nhật Bản, Trung Hoa cũng nằm trong trí óc và hiện ra trước mắt Ngài. Ngài đi mãi, đi hoài không mệt mỏi, không lo âu, sợ sệt và do dự. Mười một năm ròng rã loan báo Tin Mừng, cuộc đời thánh nhân là một cuộc hành trình dài không ngừng. Ngài lúc nào cũng được thúc bách bằng tấm lòng nồng cháy các linh hồn. Ngài đã đem không biết bao người về với Chúa, với Giáo Hội. Ngài có lòng khiêm nhượng tuyệt đối, Ngài luôn yêu mến và kính trọng bề trên của Ngài là thánh Ignatiô. Chúa đã giúp Ngài bằng nhiều phép lạ phi thường vì lòng nhiệt thành hăng say của Ngài đối với các linh hồn.

CHÚA ÐỘI MŨ TRIỀU THIÊN CHO PHANXICÔ XAVIÊ

Lòng hăng say nhiệt thành của Phanxicô, quên bản thân mình để cho nhiều người được hạnh phúc. Thánh nhân nhìn nước Trung Hoa với tình thương lênh láng, Ngài ước mong đem Tin Mừng và Giáo lý của Chúa Giêsu cho một dân tộc đông dân nhất thế giới. Ước mơ của Ngài chưa thể thực hiện thì ngày 02/12/1552, Ngài qua đời khi trên đường gần tới nước Trung Hoa, tại cửa ngõ bước vào Trung Hoa tại đảo Tân Châu. Xác thánh nhân được đem về an táng tại thành Goa nước Ấn Ðộ. Năm 1622, Ðức thánh cha Grêgoriô XV đã phong Ngài lên bậc hiển thánh và đến năm 1904, Ðức Giáo Hoàng Piô X đã đặt Ngài làm quan thầy các xứ truyền giáo.

Lạy Thánh Phanxicô Xaviê, xin ban cho mọi người chúng con ơn nhiệt thành, lòng quảng đại và tinh thần truyền giáo, để chúng con đem nhiều người về với Chúa và với Giáo Hội.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 10. Thánh Phanxicô Xaviê, Tông đồ Ấn Độ và Nhật Bản


--tgpsaigon.net

Phanxicô ra đời tại lâu đài Xaviê thuộc vương quốc Navarre ngày 7 tháng 4 năm 1506. Cha Ngài là cố vấn của nhà vua miền Navarre và là thẩm phán. Anh em Ngài theo binh nghiệp. Riêng Phanxicô ham thích học hành. Năm 19 tuổi, Ngài theo học tại đại học Paris, trường lớn nhất thế giới. Khi còn ở học viện thánh Barbe, Ngài được phúc trọ cùng phòng với Phêrô Favre, người sau này sẽ nhập dòng Tên và được tuyên thánh trong thời gian gần đây theo thể thức “tuyên thánh tương đương”. Bốn năm sau, Ngài lại có được người bạn học giả là Inhaxiô thành Loyola.

Người học trò mẫn cán đã trở thành giáo sư. Ngài dạy triết học. Thành công làm cho Ngài thành con người tham vọng. Inhaxiô nói với Ngài về một hội dòng mà thánh nhân muốn thành lập. Nhưng Phanxicô mơ tới danh vọng, Ngài chế nhạo cũng như khinh bỉ nếu sống nghèo tự nguyện của bạn mình. Inhaxiô vui vẻ đón nhận những lời châm biếm, nhưng lặp lại rằng: - "Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì."

Cuối cùng, Phanxicô đã bị ảnh hưởng. Inhaxiô còn đưa ra những lời cao đẹp hơn: - "Một tâm hồn cao cả như anh, không hề chỉ gò bó với cái vinh dự thế trần được. Vinh quang trên trời mới đúng với cao vọng của anh. Thật vô lý, khi ưa chuộng một thứ mây khói chóng tàn hơn là những của cải tồn tại đời đời".

Phanxicô bắt đầu thấy được cái hư không của những sự cao trọng của thế nhân và hướng vọng tới của cải vĩnh cửu. Chiến thắng rồi, Ngài chống lại tính kiêu căng bằng mọi loại sám hối. Ngài quyết định theo sát Phúc âm, vâng theo cách cư xử của người bạn thánh thiện và xin được khiêm tốn hãm nình. Ngài chỉ còn chú tâm cứu rỗi các linh hồn.

Ngày lễ Mông triệu năm 1533, trong một nhà nguuyện tại Monmartres, trên mộ bia thánh Dénis, Phanxicô, Inhaxiô và 5 bạn khác đã hiến mình cho Chúa. Họ khấn từ bỏ mọi của cải, hành hương thánh địa, làm việc để cải hóa lương dân và hoàn toàn đặt mình dưới sự điều động của Đức Thánh Cha để phục vụ Hội Thánh. Phanxicô còn học thần học hai năm nữa, rồi cùng sáu bạn đi Italia. Đi đường, họ chỉ mang theo cuốn Thánh Kinh và sách nguyện trong bị, cổ đeo tràng hạt. Tuyết lạnh hay khắc khổ cũng không làm họ sợ hãi. Trái lại, Phanxicô lại còn cảm thấy quá êm ái nhẹ nhàng, nên một ngày kia đã cột giây thừng vào chân, khiến giây đó ăn vào thịt và ngay việc được khỏi bệnh đó cũng đã là một phép lạ.

Đoàn quân bé nhỏ đó tới Venitia chống lại quân Thổ. Thế là họ phải bỏ cuộc hành hương đi thánh địa. Đức Thánh Cha đã chúc lành cho nhóm bạn cũng như dự định của họ. Phanxicô và Inhaxiô thụ phong linh mục ngày 16 tháng 6 năm 1537. Phanxicô đã chuẩn bị thánh lễ mở tay bằng cuộc sám hối kéo dài 40 ngày trong một túp lều tranh bỏ hoang và sống bằng của ăn xin.

Trong khi chờ đợi bắt đầu thực hiện công việc vĩ đại của mình, Ngài rao giảng và săn sóc cho người nghèo trong các nhà thương. Ngài còn phải chiến thắng chính mình nữa, chẳng hạn khi băng bó các vết thương lở loét. Ngài luôn đi ăn xin thực phẩm.

Khi Phanxicô được 35 tuổi, vua nước Bồ Bào Nha xin Đức Thánh Cha gửi các thừa sai sang Ấn Độ. Phanxicô rất vui mừng khi được chỉ định.

Ngài bộc lộ cho một người bạn: "Anh có nhớ rằng, khi ở nhà thương tại Roma, một đêm kia, anh đã nghe tôi la: "Còn nữa, lạy Chúa, còn nữa" không? Tôi đã thấy rằng: phải chịu khổ nạn cho vinh danh Chúa Giêsu Kitô. Trước mặt tôi là những hoang đảo, những miền đất báo cho tôi biết trước cơn đói, cơn khát và cả đến cái chết dưới hàng ngàn hình thức. Tôi ao ước được chịu khổ hình hơn nữa".

Chỉ còn 24 giờ để chuẩn bị lên đường. Nhưng thế đã quá đủ để xếp đặt hành trang. Với vài bộ đồ cũ. Một thánh giá, một cuốn sách nguyện và một cuốn sách thiêng liêng. Ngài đáp tàu. Cuộc hành trình cực khổ vì say sóng. Đau bệnh, Ngài vẫn săn sóc các bệnh nhân. những thủy thủ hư hỏng dường như là đoàn chiên đầu tiên Ngài phải đưa về cho Chúa. Ngài rao giảng cho họ bằng chính việc chia sẻ cuộc sống với họ.

Sau bảy tháng hành trình, người ta dừng lại bến Mozambique. Khí trời ngột ngạt. Một cơn bệnh dịch đang hoành hành nơi đây. Phanxicô lại săn sóc các bệnh nhân và muốn sống đời cực khổ nhất. Ngài lặp lại: "Tôi khấn sống nghèo khó, tôi muốn sống và chết giữa người nghèo".

Sau một năm hành trình, Phanxicô cặp bến Goa, thủ đô miền Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha vào tháng 5 năm 1542. Ngài phát khóc vì vui mừng. Nhưng việc cấp thiết, nhất là phải làm cho những người chinh phục Bồ Đào Nha giữ đạo đã. Những tật xấu và tính hung hăng của họ làm ô danh Kitô giáo. Còn dân An thì thờ ngẫu tượng. Vị tông đồ làm thầy thuốc, thẩm phán, giáo viên. Ngài học tiếng một cách khó khăn, thời gian của Ngài dành cho các nhà thương, nhà tù, người nghèo và việc dạy giáo lý. Rảo qua đường phố, Ngài rung chuông tập họp trẻ em và dân nô lệ lại, với sự nhẫn nại vô bờ, Ngài ghi khắc tình yêu Chúa vào lòng họ. Các trẻ em tham dự lại trở thành các nhà truyền giáo cho cha mẹ và thày dạy của chúng. Chúng mang thánh giá của "ông cha" cho các bệnh nhân. Chúng trở nên hung hăng với các ngẫu tượng. Bây giờ, các cánh đồng lúa vang lên được bài thánh ca. Dần dần, đời sống Kitô giáo đã vững vàng trong lòng các gia đình.

Phanxicô nghe nói tới một bộ lạc thờ lạy ngẫu thần ở mũi Comorin, sống bằng nghề mò ngọc trai. Muốn loan báo Tin Mừng cho họ, thánh nhân học ngôn ngữ mới, vượt mọi khó khăn để phổ biến đức ái và chân lý. Rồi Ngài lại qua các làng khác. Cứ như thế Ngài đi khắp Ấn Độ. Trong 15 tháng trời, Ngài đã rửa tội cho một số đông đảo Kitô hữu, khiến "xuôi tay vì mệt mỏi". Người nói: "Mọi ngày tôi đều thấy tái diễn những phép lạ thời Giáo hội sơ khai".

Ngài ngủ ít, đêm thức khuya để cầu nguyện. Sống khắc khổ để đền tội cho các tội nhân. Ngài chăm chú đào tạo các tâm hồn thanh thiếu niên địa phương để sai đi làm tông đồ truyền giáo cho các người đồng hương của họ.

Ở tỉnh Travancore, trong vòng một tháng, thánh nhân đã rửa tội cho 10.000 người. Người Brames muốn hạ sát Ngài, nhưng Ngài đã giữ được mạng sống một cách lạ lùng dưới cơn mưa tên. Ở vương quốc Travance, khi nhóm người man-di muốn tràn ngập, Phanxicô cầm thánh giá trong tay với một số ít tín hữu đã làm cho họ phải tháo lui. Ngài mang Tin Mừng tới Ceylanca, Malacca. Các đảo Molluques vang danh vì sự hung tợn của họ, nhất là đảo của dân More ở phía Bắc...

Ngài nhắm tới đảo này, Ngài muốn bị dân cư giết chết như một vị thừa sai 13 năm trước đây sao?

Người ta ngăn không cho tàu bè chở Ngài đi. Phanxicô đáp lại: - "Thì tôi bơi tới vậy".

- Nhưng Ngài sẽ bị đầu độc thì sao?

Ngài nói: - "Niềm tin tưởng ở Thiên Chúa là thuốc kháng độc.

Rồi Ngài thêm: "Ôi, nếu như hy vọng tìm được gỗ quí hay vàng bạc, các Kitô hữu đổ xô tới ngay. Nhưng lại chỉ có các linh hồn cần được cứu rỗi. Tôi sẽ chịu khổ gấp ngàn lần để cứu lấy một linh hồn thôi".

Phanxicô đã viết thư xin vua Bồ Đào Nha và thánh Inhaxiô gởi các linh mục tới săn sóc cho các cộng đoàn Kitô hữu Ngài để lại. Sự khó khăn và chậm chạp về thư tín làm cho đời Ngài thêm nhiều phiền phức. Ngài phải mất gần 4 năm để gửi thư từ Moluques về Roma. Dầu giữa các khó khăn mệt nhọc, thánh nhân không để mất tính hiền hậu và khiêm tốn.

Năm 1549, một người Nhật được Ngài rửa tội ở Malacca đã thu hút Ngài tới hòn đảo vô danh, chưa có Kitô hữu nào. Lời cầu nguyện và đời sống hãm mình củng cố lòng can đảm của Ngài. Không để mình bị chán nản do ngôn ngữ khó học hay bởi nội chiến. Ngài đã có thể tạo lập được một cộng đoàn Kitô hữu nhỏ như Ngài mơ ước. Các phép lạ củng cố lời giảng dạy của Ngài, nhưng dân chúng bị đánh động nhiều hơn bởi đức tin và lòng can đảm của người ngoại quốc này đã từ xa đến để loan báo cho họ chân lý duy nhất.

Được hai năm, nhà truyền giáo lại ra đi, để lại tại miền đất xa này những cộng đồng Kitô hữu đứng khá vững trong nhiều thế kỷ, dù không có linh mục cai quản.

Phanxicô trở lại Ấn Độ. Ngài đã rảo qua gần 100.000 cây số trong 10 năm. Bấy giờ, việc chinh phục Trung hoa ám ảnh tâm hồn Ngài. Ngài đáp tàu, nhưng không bao giờ tới được quốc gia rộng lớn này. Vào cuối tháng 11 năm 1552, trên đảo Hoàng Châu, Ngài bị lên cơn sốt rét. Giữa cơn đau, Ngài đã lập lại: - Lạy Chúa Giêsu, con vua David, xin thương xót con, xin thương đến các tội con.

Ngài dứt tiếng và không nhận ra được các bạn hữu nữa. Khi hồi tỉnh, Ngài lại kêu cầu Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu và nài xin Đức Mẹ: "Lạy Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa, xin hãy nhớ đến con".

Một người Trung Hoa thấy Ngài hấp hối thì đặt vào tay Ngài một cây nến. Phanxicô qua đời ngày 03 tháng 12 năm 1552. Ít tuần sau, người ta tìm thấy xác Ngài vẫn nguyên vẹn và chở về Goa. Dân chúng tại đây nhiệt tình tôn kính Ngài, vì đã coi Ngài như một vị thánh.

Năm 1619, Đức Thánh Cha Phaolô V đã tuyên chân phước cho Ngài. Năm 1622, Đức Thánh Cha Grêgôriô XV đã ghi tên Ngài vào sổ bộ các vị hiển thánh. Ngài được tuyên thánh cùng với thánh Inhaxiô. Thánh Phanxicô Xaviê được đặt làm bổn mạng các xứ (vùng, miền) truyền giáo.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 11. Thánh Phanxicô Xaviê, bổn mạng các xứ truyền giáo


--Lm Nguyễn Trung Thành

Thánh Lm Phanxicô Xavie (Francis Xavier), vị Đại Thánh bổn mạng các xứ truyền giáo, trong đó có Việt Nam, được Giáo Hội mừng kính ngày 3-12 hàng năm, và cũng là ngày giỗ của ngài, vì ngài mất ngày 3-12-1552.

Ngài sinh ngày 7-4-1506 tại Xavier, thuộc Vương quốc Navarre (nay là Tây Ban Nha). Tên khai sinh của ngài là Francisco de Jasso y Azpilicueta. Ngài là con út của ông Juan de Jaso, cố vấn riêng của Vua John III (Jean d’Albret, cai trị Navarre) và bà Doña Maria de Azpilcueta y Aznárez. Ngài có bà con với thần học gia và triết gia Martín de Azpilcueta danh tiếng.

Ngài là học trò của Thánh Inhaxiô Loyola (lập Dòng Tên, Society of Jesus= SJ), đồng sáng lập viên của Dòng Tên, là nhà truyền giáo và là một trong bảy tu sĩ đầu tiên của Dòng Tên tại Montmartre năm 1534. Ngài làm trưởng nhóm truyền giáo tại Á châu. Ngài có công truyền bá và duy trì Công Giáo ở Ấn Độ, kể cả Nhật, Borneo, quần đảo Maluku, và những vùng chưa có dấu chân các nhà truyền giáo. Tại những vùng này, ngài tiên phong và cố gắng học tiếng bản xứ, ngài thành công nhất ở Ấn Độ. Thật lòng ngài muốn tới Việt Nam, nhưng Chúa có kế hoạch khác, nên Việt Nam không được đón tiếp ngài.

Năm 1525, ngài học ĐH Sainte-Barbe ở Paris (Pháp). Năm 1530, ngài nhận bằng thạc sĩ văn chương và dạy triết học Aristotes tại ĐH Beauvais, tương lai rộng mở, danh vọng hứa hẹn. Ngài gặp Inhaxiô Loyola và Pierre Favre tại ĐH Sainte-Barbe. Thánh Inhaxiô đặt vấn đề với ngài: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” (Mt 16:26). Thế là ngài bỏ tất cả để đi tu và làm linh mục, rồi tình nguyện đi truyền giáo.

Thánh Inhaxiô cùng với Thánh Phanxicô Xavie và năm anh em khác thành lập Dòng Tên ngày 15-8-1534 tại một nhà nguyện ở Montmartre, cùng nhau khấn đức nghèo khó, khiết tịnh và vâng lời, đồng thời khấn hoán cải người Hồi giáo ở Trung Đông. Dòng Tên đã được Đức Giáo Hoàng phê chuẩn, khi đó tu sĩ Phanxicô Xavie tới Venice (Ý) để thụ phong linh mục vào ngày 24-6-1537. Đến cuối tháng 10, bảy anh em tới Bologna và cùng làm việc trong một bệnh viện địa phương. Sau đó, Thánh Phanxicô Xavie phục vụ một thời gian ngắn tại Rôma với tư cách thư ký của Thánh Inhaxiô. Sau đó, Thánh Phanxicô Xavie dành phần nhiều cuộc đời để truyền giáo tại Á châu, chủ yếu qua lại bốn nơi là Malacca, Amboina, Ternate (Nhật) và Trung Hoa.

Ngài rời Lisbon ngày 7-4-1541 lúc ngài 35 tuổi, đi cùng hai tu sĩ Dòng Tên khác. Từ tháng 8-1541 tới tháng 3-1542, ngài tới Goa, lúc đó là thủ phủ của Ấn Độ (thuộc địa của Bồ Đào Nha), ngày 6-5-1542, 35 tháng sau khi rời Lisbon. Mùa Xuân năm 1545, Lm Phanxicô Xavie đi Malaca (cũng là thuộc địa của Bồ Đào Nha). Khoảng tháng 1-1546, ngài rời Malacca đi quần đảo Maluku, nơi ngài truyền giáo 1 năm rưỡi cho dân đảo Ambon. Ngay sau lễ Phục Sinh năm 1546, ngài trở lại Malacca.

Tháng 12-1547, tại Malaca, Lm Phanxicô Xavie gặp một người Nhật tên là Anjirō. Chính Anjirō cũng đã nghe nói về Lm Phanxicô Xavie từ năm 1545. Sau khi bị kết tội sát nhân, Anjirō trốn khỏi Nhật. Ông hết nói với Lm Phanxicô Xavie về quá khứ của mìn, về văn hóa và văn chương Nhật. Anjiro làm thông dịch cho Lm Phanxicô Xavie để giao tiếp với người Nhật. Và rồi Anjirō trở thành Kitô hữu người Nhật đầu tiên và lấy tên là Paulo de Santa Fe.

Sau khi qua đời, thi hài Thánh Phanxicô Xavie được an táng trên đảo Shangchuan. Tháng 1-1553, người ta khai quật mộ ngài và thấy thi hài ngài còn nguyên vẹn. Rồi người ta đưa thi hài ngài tới Nhà thờ Thánh Phaolô tại đảo Malaca vào ngày 22-3-1553. Ngày 11-12-1553, thi hài ngài lại được chuyển tới Goa. Hòm thánh tích của ngài được chuyển tới Nhà thờ Chúa Giêsu Giáng Sinh tại Goa từ ngày 2-12-1637.

Cánh tay phải, đã từng chúc lành và rửa tội cho nhiều người, được Tổng bề trên Claudio Acquaviva tách ra từ năm 1614 để trưng bày cho mọi người kính viếng tại Nhà thờ Il Gesù ở Rôma. Cánh tay trái của ngài được đưa về Macau. Cuối cùng được chuyển tới Nhà thờ Thánh Giuse năm 1978, rồi lại chuyển tới nhà nguyện Thánh Phanxicô Xavie trên đảo Coloane. Mới đây, thánh tích của ngài được chuyển tới Chủng viện Thánh Giuse và Viện bảo tàng Nghệ thuật Thánh (Sacred Art Museum).

Lm Phanxicô Xavie được ĐGH Phaolô V tôn phong chân phước ngày 25-10-1619, và được ĐGH Grêgôriô XV tôn phong hiển thánh ngày 12-3-1622, cùng với Thánh Inhaxiô Loyola. Cuối cùng, ĐGH Piô XI tôn phong Thánh Phanxicô Xavie làm bổn mạng các xứ truyền giáo (Patron of Catholic Missions).

---------------------------------

 

Suy Niệm 12. Nhiệt thành tông đồ


--dongten.net

Đọc các thư của thánh Phanxicô Xavier, ai cũng phải nhìn nhận đó là một con người hoàn toàn vị tha. Ngài luôn luôn nghĩ đến người khác, không màng đến lợi lộc, danh vọng, địa vị, và cả đến mạng sống mình nữa. Có khi ngài quan tâm đến một thanh niên cần chút vốn để về quê; có khi là một cô gái mồ côi vô danh cần lấy chồng. Tuy nhiên, quan tâm lớn nhất của ngài là phần rỗi linh hồn người ta. Chúa Giêsu nói: “Được lời lãi cả thế gian mà đánh mất sự sống mình thì nào được ích gì?” (Mt 16,26). Tính cách triệt để của câu nói ấy hẳn là đã thôi thúc trái tim vị tha của thánh Phanxicô Xavier. Ngài coi việc cứu rỗi các linh hồn là tối quan trọng và khẩn cấp, không gì có thể thay thế được. Chính vì vậy, ngài đi hết nơi này đến nơi khác, làm như không biết mệt mỏi và sợ hãi. Phải nói là ngài đã gào thét ‘như kẻ mất trí’ để kêu gọi giới học thức đừng chỉ vùi đầu vào sách vở để ủm kiếm vinh hoa phú quí, nhưng biết dấn thân cứu vớt các linh hồn. Ngài đòi các quan chức Bồ Đào Nha, và cả vua João III, phải tích cực giúp đỡ công cuộc truyền giáo. Trước mắt nhiều người, hẳn ngài là một kẻ quấy rầy dai dẳng. Tuy nhiên, ngài không chỉ kêu gào: chân trời góc biển nào ngài cũng có thể đến, bất chấp mọi khó khăn và nguy hiểm.

Ngài không chỉ là một tông đồ đơn độc. Mở được một con đường, ngài tìm người đến địa điểm mới để giúp đỡ các linh hồn ở đó. Dĩ nhiên người đặc biệt để ý đến Dòng Tên, dù mới khai sinh, nhưng rất năng động. Ngài xin Dòng ở Châu Âu gửi người sang tăng cường. Ngài tiếp nhận Học viện Thánh Phaolô ở Goa, rồi mở các trường học khác, để chuẩn bị cho tương lai. Gửi anh em đến các nơi, ngài hướng dẫn cách sống và cách làm việc, an ủi khi gặp khó khăn, khích lệ khi có kết quả, sửa bảo khi cần thiết. Ngài thấy điều quan trọng nhất nơi các thừa sai ở Ấn Độ là sức khỏe dẻo dai và đức hạnh vững chắc, để đối diện với hoàn cảnh hết sức khó khăn, để vượt qua những thử thách và cám dỗ, và để nêu gương sáng cho mọi người. Ngay từ đầu, ngài đã nghĩ đến việc gầy dựng hàng giáo sĩ bản xứ. Mặc dầu kinh nghiệm nhiều lần cho thấy là khó khăn, nhưng ngài vẫn quyết tâm theo đuổi. Cũng có lúc ngài hầu như ngã lòng, nhưng được thánh I-nhã khích lệ, ngài lại dứt khoát hơn. Đây là một trong những lý do chính khiến xảy ra bất đồng giữa ngài với cha Antonio Gomes, để rồi cuối cùng ngài phải khai trừ cha này ra khỏi Dòng Tên.

Đứng trước mọi vấn đề, quan điểm của ngài luôn luôn là quan điểm tông đồ. Trên tàu từ Bồ Đào Nha đi Ấn Độ, người ta khuyên ngài nên nhận một người giúp việc, nhưng ngài từ chối. Ngài tự giặt quần áo lấy. Phần ăn, ngài nhận từ bàn vị Tổng Trấn, dùng vừa đủ, những gì còn lại chia cho người nghèo. Phòng dành cho ngài, ngài cho người bệnh ở, còn chính mình ra nằm ngủ ở đống thừng chão, bên cạnh những thanh niên nghèo đi tha phương cầu thực. Khi có người bệnh, ngài chăm sóc phần xác và phần hồn. Con tàu chở ngài vượt biển được ngài biến thành giáo điểm. Ở Goa, trong lúc chờ đợi hai bạn đồng hành đến sau, ngài đi dạy giáo lý cho trẻ em, đi giảng cho người lớn, đi thăm bệnh viện, trại giam và trại phong. Chưa làm tông đồ ở địa điểm của mình được, ngài làm tông đồ ngay tại nơi lẽ ra người khác chỉ ngồi chờ. Khi xảy ra tranh chấp giữa các tiểu vương địa phương, ngài luôn luôn chủ trương chính quyền Bồ Đào Nha phải can thiệp để giúp đỡ công việc truyền giáo. Trong khi ngài chỉ chú tâm vào việc giúp đỡ các linh hồn, các quan chức Bồ Đào Nha thường lại chỉ chú tâm vào lợi lộc vật chất, do đó nảy sinh bao mâu thuẫn. Khi thấy ở Ấn Độ hoạt động tông đồ gặp nhiều trở ngại, không tiến lên được, vì các tín hữu bản xứ ‘bị mẹ Ấn Độ ruồng rẫy, cha Bồ Đào Nha khinh bỉ’, trong khi ở các nơi khác như Maluku, Nhật Bản, Trung Hoa, lại có triển vọng, ngài ra đi.

Vừa để duy trì vừa để phát triển hoạt động tông đồ, những người được sai đi phải giữ bầu khí yêu thương. Chúa Giêsu nói: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em thương yêu nhau” (Ga 13,15). Chúa cũng cầu nguyện với Chúa Cha: “Xin cho chúng nên một để thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,23).

Hàng ngũ giáo sĩ và tu sĩ ở Ấn Độ lúc ấy có Đức Giám Mục, vị Tổng Đại Diện, các đại diện giám mục ở mỗi địa điểm quan trọng, các linh mục triều khác, các thừa sai dòng Thánh Phanxicô và dòng Thánh Đaminh, cuối cùng là Dòng Tên. Phải hợp tác với nhau, thăm viếng giúp đỡ nhau, không nói xấu nhau, tránh làm gương xấu cho giáo dân. Đặc biệt phải tôn trọng Đức Giám Mục và các đại diện của ngài. Riêng trong nội bộ Dòng Tên, một mặt phải giữ kỷ luật chặt chẽ, mặt khác, và hơn nữa, phải giữ cho được bầu khí yêu thương. Thánh Phanxicô Xavier đưa ra một định nghĩa thời danh: “Dòng Tên là dòng yêu thương”. Không có cưỡng ép, nhưng phải chia sẻ. Ngài luôn luôn muốn biết tin tức về từng anh em ở Ấn Độ cũng như ở Châu Âu. Đặc biệt là lòng yêu mến ngài dành cho thánh I-nhã và các bạn đầu tiên của Dòng: lúc ngài qua đời, người ta thấy trên cổ ngài đeo một gói nhỏ, trong đó có bản lời khấn của ngài và chữ ký của các bạn ngài cắt từ các lá thư nhận được.

Thánh Phanxicô Xavier là một tông đồ di động. Ngài không phải là người có máu du lịch. Trước khi gặp thánh I-nhã, ngài ước mơ làm giáo sư, làm bác sĩ hay làm giám mục… để được hưởng vinh hoa phú quí. Ngài không hề ước mơ theo vết chân Christophe Colombo sang Châu Mỹ hay Vasco da Gama sang Châu Á, như cha Cosma de Torres chẳng hạn. Hơn nữa, là dân miền đồi núi, ngài xa lạ với biển. Một trong những điều gây ấn tượng mạnh nhất đối với ngài là những nguy hiểm trên biển. Dầu vậy, ngài đã vượt gần 100.000 cây số đường biển. Theo tính toán của cha X. Léon-Dufour, S.J., trong mười hai năm hoạt động truyền giáo, thánh Phanxicô Xavier ở trên biển ba năm bảy tháng, tức là cứ ba ngày thì có một ngày trên biển, và mỗi ngày di chuyển trung bình 60 km. Ngài tự coi mình là người mở đường cho anh em, Dòng Tên cũng như các thừa sai khác. Và khi mở ra được một con đường, ngài vui mừng, rồi lại đi mở con đường khác. Một cha Dòng Tên cùng ở Ấn Độ với ngài nói: ngài không ở đâu yên được quá hai tuần lễ! Một cha khác nói: ngài không ngồi yên được bao giờ!

Chúng ta chỉ có thể lấy lời của Thánh Phaolô để hiểu được sự thôi thúc thâm sâu và mãnh liệt trong trái tim thánh Phanxicô Xavier: “Chúng tôi có điên thì cũng vì Thiên Chúa; chúng tôi có khôn thì cũng vì anh em: Tình Yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi” (2 Cr 5, 13-14)

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 13. Thánh Phanxicô Xaviê: nghiệt ngã phận người, vinh quang cho tôi tớ Chúa


Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, có đoạn (1 Cr 9, 16-19.22-23) thánh Phao-lô muốn chia sẻ ý thức trách nhiệm và thái độ cần phải có của một người ra đi rao giảng Lời Chúa. Ngài rao giảng không phải để tự hào, nhưng đó là sự cần thiết mà lương tâm bắt buộc ngài phải làm. Ngài rao giảng với thái độ của một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tự nguyện chấp nhận trở thành nô lệ của mọi người vì phần rỗi của họ, và theo lời Thầy Giêsu mời gọi: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo." (Mc 16, 15).

Như vậy Lời Chúa đã chỉ rõ, việc rao giảng Tin Mừng không hề có biên giới, cũng không phân biệt màu da hay chủng tộc, tầng lớp giai cấp hay chính kiến xã hội...Tất cả mọi người đều có quyền được thông chia phần phúc của Tin Mừng.

Và trao ban, theo Tin Mừng không phải là một việc tùy tiện. Muốn trao ban hay không tùy ý. Nhưng đó là ơn gọi bẩm sinh của con người. Không thể trao ban những thứ thừa thãi, hay những thứ không còn sử dụng được nữa. Mà là trao ban chính mình. Việc trao ban chỉ ý nghĩa và có giá trị khi được trao ban với ý thức và liên đới với tha nhân. Một hành động trao ban nhưng không, như Thầy Giêsu đã trao ban chính mạng sống mình, không vì tư lợi cá nhân hay vì mục đích nào khác, ngoài tình yêu thương. Mà sau này Người cũng truyền lại cho chúng ta: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em." (Ga 15, 12)

Nhận ra ý nghĩa cuộc đời mình, từ lời thách thức của Tin Mừng: “Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì?", đã khiến một vị giáo sư trẻ tuổi nhiều tham vọng, từ bỏ tương lai đầy hứa hẹn, chỉ để đeo đuổi một mục đích duy nhất trong cuộc đời: sự sống đời đời của chính mình và của tha nhân.

Vị giáo sư trẻ tuổi đó chính là thánh Phanxicô Xaviê, bổn mạng của các xứ truyền giáo. Chưa tròn 25 tuổi, Phanxicô đã nổi tiếng như một giáo sư triết học tài ba tại đại học Paris. Giữa lúc danh vọng đang đến gần, Phanxicô Xaviê đã nhận được lời thách thức trên đây từ một người bạn thân Ignaxiô.

Không thể cưỡng lại với Lời Chúa, Phanxicô đã đến Montmartre để cùng với Ignaxiô sống đời khó nghèo, khiết tịnh và phục vụ tông đồ theo sự hướng dẫn của Đức Thánh Cha.

Đến năm 1537, nghĩa là 3 năm sau khi đã tuyên khấn, Phanxicô Xaviê lãnh chức Linh mục. Từ Italia, ngài sang Lisbon của Bồ Đào Nha để lên dường đi truyền giáo tại Ấn Độ.

Trong 10 năm ngắn ngủi (1542-1552), Phanxicô Xaviê đã rảo bước đi khắp nơi để đem Tin Mừng đến cho dân tộc Nhật Bản, Mã Lai, Indonésia và Ấn Độ. Chưa đạt được giấc mơ đến Trung Hoa và Việt Nam, thánh nhân đã qua đời trong kiệt sức vì bệnh tật tại một hải đảo xa xôi, cách Hồng Kông 100 cây số.

Thánh Phanxicô Xaviê là hiện thân của Tin Mừng phổ quát, không biên giới. Ngài nhận ra giá trị đích thực của Tin Mừng, và bổn phận của người tôi tớ Chúa. Từ giã vinh hoa phú quí, thánh nhân rong ruổi trên những nẻo dường Châu Á xa lạ. Cuộc đời của ngài là một chia sẻ cảm thông sâu xa với những người nghèo khổ, bất hạnh thuộc mọi chủng tộc, mọi quốc gia. Ngài phục vụ họ suốt hành trình không biết mệt mỏi, nhưng luôn tràn ngập niềm vui, mà chỉ những người phục vụ trong yêu thương mới có được.

Như sự nghiệt ngã của rừng thiêng nước độc ở vùng đất xa xôi hẻo lánh, đã lấy đi mạng sống của ngài trong trơ trụi nghèo nàn.Thì sự nghiệt ngã mà ngày nay vẫn còn kéo dài và đang hằn sâu trên gương mặt khắc khổ của những con người, vì sự thật: bị cầm tù, bị nhục mạ, và chịu nhiều bất công, đói nghèo trên mảnh đất Châu Á nhỏ bé này Nghiệt ngã phận người, nhưng vinh quang cho tôi tớ Chúa.

Mừng kính thánh Phanxicô Xaviê, với tâm tình cảm tạ Chúa và tri ân, vì nhờ ngài chúng ta được biết Chúa để tôn thờ và mến yêu, được biết chân lý Sự Thật. Chúng ta xin Chúa, qua lời chuyển cầu của thánh nhân, cho mỗi người Việt Nam hôm nay luôn ý thức trách nhiệm người thợ gặt của Chúa, trên cánh đồng truyền giáo mênh mông tại quê hương mình. Đặc biệt, xin Chúa ban ơn can đảm và bền đỗ đến cùng, cho những người đang bị bách hại vì sự công chính, xin cho họ biết đón nhận mọi thử thách, như dấu chỉ của lòng tín thác và niềm hy vọng cậy trông vào ngày Chúa quang lâm.

---------------------------------

 

Suy Niệm 14. Thánh Phanxicô Xaviê với sứ vụ truyền giáo


--Lm. Nguyễn ngọc Long

Ngày xưa con tầu là phương tiện vận chuyển người cùng vật dụng, hay trong dịch vụ buôn bán, từ nước này sang nước khác vượt sông biển xa xôi ngàn dặm, rất phổ thông trong đời sống.

Ngày nay, tuy có những phương tiện vận chuyển mới khác nhanh lẹ hơn, nhưng phương tiện bằng tầu thủy vẫn còn thích hợp.

Một con tầu không chỉ là phương tiện vận chuyển đồ trên thủy lộ, nhưng tầu còn là phương tiện đưa con người đi du lịch tham quan thắng cảnh trên sông ngòi, biển cả từ vùng này tới vùng khác, từ nước này sang nước khác. Phương tiện du lịch bằng tầu thủy ngày nay phát triển mạnh, đưa con người đến miền có nhiều cảnh thiên nhiên mới lạ thi vị mơ mộng.

Hình ảnh một con tầu có liên quan gì tới đời sống đức tin của chúng ta không?

Theo Kinh Thánh thuật lại ( St 7,1-24) khi nạn lụt đại hồng thủy dâng lên bao phủ khắp mặt đất 40 ngày đêm, gia đình Ông Noe đã vào sống trong một con tầu. Và nhờ sống trong tầu gia đình Ông mới sống sót không bị nước cuốn tiêu diệt như bao người khác.

Hình ảnh con tầu lịch sử Noe thầm nói lên ý nghĩa: Một ngôi nhà dùng để vượt qua những nguy hiểm trong đời sống. Ngôi nhà đó là Giáo Hội Chúa ở trần gian.

Trong ngôi nhà đó, các Bí tích là nguồn nước sự sống, là nguồn lương thực đời sống đức tin cho con người.

Vì thế, xưa nay nhiều thánh đường được xây cất theo mô hình nhà thờ dài như một con tầu.

Khi sang loan truyền Tin mừng tình yêu nước Thiên Chúa, mang con tầu Giáo Hội Chúa đến cho vùng đất xa lạ, các nhà Truyền Giáo cũng đã dùng phương tiện di chuyển bằng tầu vượt qua biển cả từ Âu châu sang tới Á châu, sang Việtnam. Trong số những vị đi truyền giáo đó có Thánh Phanxico Xaviê.

Thánh Phanxicô Xavie không chỉ dùng tầu vượt biển sóng nước đến Á Châu, nhưng Ông còn xây dựng con tầu Giáo Hội ở nơi đó nữa.

Sử sách không thấy nói đến Ông xây những ngôi thánh đường nguy nga lộng lẫy theo mô hình con tầu. Nhưng chỉ nói đến sứ vụ truyền giáo rao giảng Tin mừng với lòng nhiệt thành hăng say của ông thôi. Sứ vụ truyền giáo của Thánh nhân qui vào việc xây dựng ngôi nhà Giáo Hội nơi tâm hồn con người. Những ngôi nhà thờ tâm hồn con người, mà Thánh nhân đã xây dựng, để lại “ dấu vết ngàn xưa lưu ký”.

Cũng theo sử sách thuật lại, Thánh nhân đã mang làn nước Bí tích Rửa tội đến cho hàng chục ngàn người bên Trung Hoa bên Ấn Độ.

Làn nước Bí tích rửa tội Thánh nhân mang đến cho những con người đó, là chỉ lối cho họ đi vào ngôi nhà Giáo Hội của Chúa, nơi có nguồn nước sự sống, nguồn lương thực tâm linh cho tâm hồn con người.

Làn nước Bí tích rửa tội, Thánh Phanxico Xaviê đã mang đến cho họ, không chỉ có ánh sáng đức tin soi đường tới ngôi nhà con tầu Giáo Hội của Chúa, nhưng họ còn tiếp nhận một con đường, đúng hơn một truyền thống, giáo dục đào tạo Kitô giáo nữa.

Nền giáo dục đào tạo đó thể hiện theo chiều thẳng đứng: Trời và đất, Thiên Chúa và con người liên kết với nhau; theo chiều ngang nền chân trời: con người với nhau, con người với thiên nhiên, với quê hương đất nước, nơi sinh ra nơi sinh sống, cùng trong tương quan liên đới với nhau.

Nền giáo dục đào tạo đó đặt nền tảng trên Tám mối phúc thật:

"Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.”(Mt 5,2-12)

Nền giáo dục đào tạo đó lấy bác ái, khiêm nhường làm mẫu mực cho đời sống: “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.” (Kinh hòa bình của Thánh Phanxico)

Thánh Phanxicô Xaviê đã về trời từ hằng trăm năm nay, nhưng ngôi nhà đền thờ tâm hồn con người, qua làn nước Bí tích rửa tội, ngài đã xây dựng vẫn còn đó và tiếp tục phát triển nơi con người.

Thánh nhân không còn sống trên trần gian từ hàng thế kỷ nay. Nhưng nền giáo dục đào tạo Kiô giáo, mà ngài đã gieo trồng nơi những con người xưa kia, vẫn ăn rễ sâu nơi đời sống tin thần con người, vẫn luôn vang vọng ảnh hưởng đến suy nghĩ cùng cách sống của những thế hệ con người.

Nền Giáo dục đào tạo Kitô giáo đã giúp nhiều người xây dựng đời sống, tìm được niềm vui cùng bình an trong đời sống.

---------------------------------

 

Suy Niệm 15. Thánh Phanxicô Xaviê, Linh Mục


--Nhóm Châu Kiên Long

Phanxicô sinh năm 1506 tại Xaviê thuộc giáo phận Pampelune nước Tây Ban Nha trong một gia đình quyền quý. Năm 19 tuổi, ngài sang Ba Lê để tiếp tục việc học. Tám năm sau, ngài tốt nghiệp và trở thành giáo sư đại học đó. Ðược nổi tiếng nhờ trí thông minh, Phanxicô ngày đêm miệt mài theo đuổi danh vọng thế tục.

Nhưng một ngày kia, Chúa đã dùng miệng lưỡi thánh Ignatiô, cũng là thầy dạy, để nói cùng ngài: “Ðược lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích chi?”. Và Chúa đã hoàn toàn chiếm đoạt trái tim thánh nhân, biến ngài trở thành một khí cụ tuyệt vời cho cánh đồng truyền giáo. Năm 1539, Phanxicô hăng hái lãnh sứ mệnh nơi Ðức Giáo Hoàng Phaolô III là đem ánh sáng Phúc Âm đến cho dân tộc Ấn Ðộ.

Mười một năm trường nhiệt thành với nhiệm vụ loan báo Tin Mừng, đời sống thánh nhân là một cuộc hành trình không ngừng. Bước chân ngài len lỏi qua khắp các thành thị cũng như thôn quê để rao giảng Phúc Âm Chúa Giêsu. Tiếng ngài vang vọng từ Ấn Ðộ, Tích Lan đến Nhật Bản. Riêng tại Ấn Ðộ, ngài đã đem về cho Chúa hàng trăm ngàn linh hồn và Rửa Tội cho nhiều bậc quân vương. Dù vậy, ngài luôn ấp ủ một tâm hồn khiêm nhượng hiếm có: Ngài thường quỳ gối để viết thư cho thánh Ignatiô là Bề Trên của mình. Chúa đã hỗ trợ lòng nhiệt thành của thánh nhân bằng nhiều phép lạ phi thường.

Ngày 02/12/1552, khi đang trên đường tới gần Trung Hoa thì ngài ngã bệnh và từ trần tại đảo Tân Châu (Sancian). Xác ngài được đem về mai táng tại thành Goa bên Ấn Ðộ.

Ðúng 70 năm sau, Ðức Grêgôriô XV đã phong ngài lên bậc Hiển Thánh (1622).

Và đến năm 1904, Ðức Thánh Cha Piô X đặt ngài làm quan thầy các xứ truyền giáo.

---------------------------------

 

Suy Niệm 16. Hãy theo Thầy


--Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Khi được hỏi về việc chọn một lời Thánh Kinh làm châm ngôn cho đời Giám mục của mình, Đức tân Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm đã trả lời: Tôi chọn lời Thánh Kinh làm châm ngôn nhắc nhớ chính mình là: “Hãy theo Thầy”.

“Hãy theo Thầy” là lời nhắc nhớ rằng dù làm linh mục hay làm giám mục, vẫn chỉ là một tiếng gọi mà thôi, có chăng là tiếng gọi ấy thôi thúc hơn và mạnh mẽ hơn.

“Hãy theo Thầy” là lời nhắc nhớ rằng điều quan trọng trong đời dâng hiến không phải là đi đâu và làm gì, mà là đi với ai. Đi theo Thầy Giêsu thì dù làm gì và ở đâu cũng là đi trên đường sự thật và là đường dẫn đến sự sống.

“Hãy theo Thầy” là lời nhắc nhớ rằng muốn làm người lãnh đạo thì trước hết phải làm môn đệ, và càng sống tư cách môn đệ tốt bao nhiêu thì càng có hi vọng lãnh đạo tốt bấy nhiêu…Theo Thầy không chỉ là theo bằng trí mà là theo bằng tâm; cho nên theo Thầy là để tâm mình gắn bó với tâm của Thầy, để mang trong lòng mình những tâm tư của Thầy (x. Pl 2,5). (tinvui.org).

Đọc Phúc Âm ta nghe âm vang lời mời gọi. “Hãy theo Thầy”. Tiếng gọi của Chúa Giêsu luôn để lại những âm vang làm chuyển biến cuộc đời. Những ngư phủ đã trở thành Tông đồ, những kẻ chuyên nghề đánh bắt cá đã trở nên người chuyên nghiệp bủa lưới các tâm hồn.

Ngày 3.12, Giáo Hội mừng lễ Thánh Phanxicô Xaviê, một nhà truyền giáo vĩ đại, người tiên phong cho cuộc truyền giáo thời đại mới. Đọc lại tiểu sử để thấy cuộc đời ngài được dệt bằng những tiếng gọi “Hãy Theo Thầy”.

1. Cuộc đời

Thánh nhân sinh năm 1506 tại lâu đài Xaviê trong một gia đình quyền quý của vương quốc Navarre nhỏ bé miền bắc nước Tây Ban Nha ngày nay. Khi ngài 5 tuổi, nước Tây Ban Nha thôn tính và sát nhập Navarre khiến gia đình ngài lâm cảnh nước mất nhà tan. Muốn tiến thân bằng con đường trí thức, năm 17 tuổi ngài đến Paris học (1525-1536).

Tại Paris ngài sống trong cùng một căn phòng với chân phước Phêrô Favre và sau đó với thánh Ignaxiô. Lần lượt Phêrô Favre rồi Phanxicô Xaviê được thánh Ignatiô thu phục. Năm 28 tuổi ngài cùng với nhóm bạn của thánh Ignatiô khấn sống khó nghèo, khiết tịnh và làm việc tông đồ. Năm 31 tuổi, ngài chịu chức linh mục tại Venezia miền đông bắc nước Ý năm 1537. Năm 35 tuổi ngài xuống tàu đi truyền giáo ở vùng Đông Á theo lệnh Đức Thánh Cha Phaolô III.

Tháng 4.1541 ngài xuống tàu tại Lisbon và mãi 14 tháng sau mới đến được Goa bên Ấn độ. Trong suốt 10 năm truyền giáo (1542-1552) ngài đã đi cả trăm ngàn cây số. Trong 7 năm đầu, ngài truyền giáo ở mũi Cormorin, sau đó ở Ceylan, Malaisia và từ đó đến Indonésia. Là vị giám tỉnh đầu tiên của tỉnh dòng đầu tiên ngoài Châu Âu, ngài yêu mến và gắn bó keo sơn với Chúa Giêsu, tha thiết với Dòng và anh em trong Dòng, kính trọng và tuân phục thánh Ignatiô, nhiệt thành lạ lùng với việc tông đồ. Ngài đã rửa tội cho hàng trăm ngàn tân tòng và gầy dựng nhiều cộng đoàn tín hữu khắp nơi. Thành quả tông đồ của ngài đã tạo nên một đỉnh cao trong lịch sử truyền giáo của Hội thánh.

Trong vòng 2 năm (1549-1551), ngài đã thành lập một cộng đoàn tín hữu ở Nhật Bản; trước khi ra đi ngài trao lại cho cho một linh mục Bồ Đào Nha; 20 năm sau cộng đoàn này đã lên đến 30 ngàn người. Cuối cùng vì muốn vào Trung Quốc truyền đạo, ngài đã đến đảo Thượng Xuyên ngay cửa khẩu Quãng Châu, để chờ thuyền lén lút đưa ngài vào Trung Quốc. Tiếc rằng tại đây ngài ngã bệnh và qua đời trong một chòi tranh chỉ có anh thanh niên trẻ thông dịch viên bên cạnh. Vài tuần lễ sau, người ta từ Goa đến tìm xác ngài, đem về Goa để chôn cất.

Thánh Phanxicô Xaviê qua đời ngày 3.12.1552, được ĐTC Grêgôriô XV phong thánh cùng với thánh Ignatiô vào năm 1622 và được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo. (x.Phụng vụ chư thánh tập 2, Lm Augustin Nguyễn Văn Trinh).

2. Tiếng gọi.

ĐGM Giuse Vũ Duy Thống đã chiêm nghiệm cuộc đời thánh nhân qua 3 tiếng gọi: Lời Chúa, bạn bè và nhu cầu truyền giáo. (x. Làm nụ hoa trắng, tr 135).

a. Tiếng gọi từ Lời Chúa.

Đức Giêsu hỏi: “Có lợi ích gì nếu được cả thế gian mà mất sự sống?” (Mt 16,26a). Câu hỏi trên đã trở thành lời tâm niệm của một giáo sư triết trẻ tuổi, với một tương lai đầy hứa hẹn trong giới kinh viện mà sự thành công, uy tín và vinh dự đang chờ đón.

Sinh ra trong gia đình quyền quý nhưng Phanxicô Xaviê luôn nuôi trong mình những ước vọng bay cao, ngài tìm thăng tiến qua nẻo đường học hành.

Phanxicô Xaviê lên Paris theo đuổi khoa bảng dùi mài kinh sử để cuối cùng trở thành giáo sư môn Triết học. Nhưng trên đỉnh cao danh vọng ấy, một lần tiếp cận Tin Mừng, gặp được câu: “lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn liệu ích gì?” và dù không quen cân đo đong đếm kinh tế, ngài cũng đặt tất cả lên cán cân giá trị; lời lãi trần thế mà đời sống linh hồn trống rỗng không có gì thì là lỗ vốn, đạt được ước vọng trong cuộc sống này mà đời sau lại mất hết thì là bể bụi cuộc đời trắng tay sự nghiệp. Vì thế mà thánh Phanxicô Xaviê đã suy nghĩ lựa chọn định hướng đời mình sao cho có lợi cho đời sống Thiên Chúa. Phanxicô Xaviê không muốn dừng lại hưởng thụ cuộc sống đầy đủ muốn gì được nấy, nhưng luôn được kích thích bởi ước vọng vươn lên; không muốn một cuộc đời chật hẹp gò bó dù luôn có kẻ hầu người hạ mà lại thích vất vả khai phá lên đường; không muốn ngày ngày làm quen với vũ khí chiến đấu phòng thủ hoặc tấn công chỉ vì lãnh địa đồi núi hoang sơ, nhưng lại ham thích vũ khí tinh thần là sách vở kiến thức không gây bực bội tinh thần và cũng chẳng hôi tanh mùi máu.

Lời Chúa ở đây quả là lựa chọn đã trở thành sức mạnh giúp thánh nhân định hướng đời sống.

b. Tiếng gọi đến từ môi trường bè bạn.

Sách Huấn ca viết:”Người bạn trung thành là một nơi nương tựa vững chắc,ai gặp được người bạn như thế, là gặp được kho tàng” (Hc 6,14).

Lời Chúa gọi khi Phanxicô Xaviê mới 24 tuổi, đang sinh sống và giảng dạy ở kinh thành Paris tráng lệ. Ngài không thay đổi ngay lập tức khi nghe những lời ấy, nhưng tất cả là nhờ ở người bạn tốt, Cha Ignatiô ở Loyola đã liên lỉ thuyết phục và sau cùng đã chiếm được người thanh niên ấy cho Ðức Kitô. Sau đó, Phanxicô tập luyện đời sống tâm linh dưới sự hướng dẫn của Cha Ignatiô, và năm 1534 ngài gia nhập cộng đoàn nhỏ bé của Cha Ignatiô (là Dòng Tên thời tiên khởi). Tại Montmartre, các ngài khấn sống khó nghèo, khiết tịnh và hoạt động tông đồ dưới sự hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng.

Bạn bè có một ảnh hưởng không nhỏ đến chọn lựa của Phanxicô Xaviê. Tình bạn là một ân huệ Chúa ban, là một “cơ duyên” Trời cho. Hiểu như vậy nên triết gia Platon đã nói: “Thượng Đế dựng nên các người bạn, và dẫn người bạn này đến với người bạn kia”. Ông vẫn nghĩ tình bạn là tia chớp huyền bí của thần thánh. Cicéron cũng phát biểu như sau: “Tình bạn như mặt trời trong cuộc sống chúng ta, là ơn lớn nhất sau sự khôn ngoan mà các thần linh ban cho con người”. Người ta không thể chế tạo được tình bạn. Sự nẩy sinh tình bạn vẫn còn là một bí ẩn. Bỗng dưng một ngày, tình bạn đã có đó. Thiên Chúa đã mở cánh cửa của lòng Phanxicô Xaviê.

Ở Paris sống đời sinh viên trau dồi trí thức, Phanxicô Xaviê đã gặp gỡ Ignaxiô trong tình thân bạn bè. Sự thân thiết này đã giúp ngài cởi mở cõi lòng, tâm sự chia sẻ cuộc sống tinh thần. Theo Thánh Augustinô: “Không có bạn, cuộc đời không thể nào hạnh phúc”. Chính tình nghĩa bạn bè đã nâng nhau lên. Nhận biết Phanxicô là con người đầy cao vọng, nhất là những ước vọng lành thánh, Inhaxiô một hôm nói với Phanxicô rằng: “Con người nhiều cao vọng như anh mà chịu dừng lại trong vinh quang trần thế thì qúa uổng. Thiết nghĩ chỉ có vinh quang Thiên Chúa mới xứng với tầm cao ước vọng của anh”.

Câu nói của Ignatiô tác dụng như một liều thuốc mạnh có sức công phá không gì có thể cầm lại được. ” Chỉ có vinh quang Thiên Chúa mới xứng với khát vọng khôn cùng”, Phanxicô Xaviê đã coi đây như châm ngôn để ngài dấn thân phục vụ Giáo Hội trong Giáo Hội và theo đường lối của Giáo Hội. Ngài từ bỏ tất cả công danh sự ngthiệp, nhận chức Linh mục, rồi sau đó cùng với Ignaxiô thành lập Dòng Tên với khẩu hiệu ” cho vinh danh Chúa hơn”.

Nhắc lại vài đoạn trong bút tích Thánh Phanxicô Xaviê cũng đủ thấy tình anh em bạn bè luôn nâng đỡ ngài trên hành trình truyền giáo. Tất cả anh em trong Dòng hiện diện liên lỉ trong tâm trí tôi (Bt 48,1);( bút tích Thánh Phanxicô Xaviê, tài liệu 48 số 1); Ở Ấn Độ, để giải trí, tôi rất thường nhớ đến anh em trong Dòng, và nhớ đến thời gian, vì Chúa quá thương, tôi đựoc biết anh em và sống với anh em. Nhờ lời anh em cầu nguyện, và vì anh em luôn nhớ đến tôi, Chúa ban cho tôi ơn rất lớn là dù xa cách anh em về thể xác, nhưng nhờ anh em nâng đỡ và giúp đỡ, Chúa cho tôi cảm thấy muôn vàn tội lỗi của mình, và cho tôi sức mạnh để đến giữa dân ngoại (Bt 20,14)…Để đừng bao giờ quên anh em trong Dòng, và lúc nào cũng nhớ đặc biệt đến anh em, tôi đã cất tên của anh em trong các thư từ chính tay anh em viết cho tôi, tôi có thể luôn luôn mang trên mình, cùng với lời khấn của tôi. Điều này đem lại cho tôi nhiều an ủi…Tôi cảm thấy sung sướng khi mang tên của anh em trên mình (Bt 55,10). Gặp anh em thì tâm hồn tôi đựơc an ủi hơn nhiều. Vậy mà tôi cứ phải viết thư cho anh em, lại không chắc thư đến, vì từ Ấn Độ đến Roma xa quá…Tôi nghĩ mình không lầm khi nói xa cách phần xác không làm cho chúng ta, vốn yêu mến nhau trong Chúa bớt yêu mến và nghĩ đến nhau (Bt 48,1). Đặc biệt đối với Cha Ignatiô, Phanxicô đã xúc động thổ lộ tâm tư. Chúa đã ban ân huệ lớn lao khi cho tôi được biết Cha Ignatiô. Bao lâu còn sống, không bao giờ tôi trả được món nợ đối với ngài (Bt,16)…Trong số nhiều lời thánh thiện và an ủi của ngài, tôi đọc được những lời thế này: “hoàn toàn thuộc về nhau. Không bao giờ quên được nhau”. Tôi đã rơi lệ khi đọc những chữ ấy, và cũng rơi lệ khi kể lại, vì nhớ lại thời gian đã qua, nhớ đến ngài đã và vẫn luôn luôn rất thương tôi, và nhờ những lời khẩn nguyện thánh thiện của ngài, Thiên Chúa đã cho tôi thoát đựoc bao gian nan, bao nguy hiểm (Bt 97,1)…Đó là một con người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, đời sống không có gì chê trách đựoc (Bt 1,7).

Trên đường truyền giáo đến Nhật bản và Trung Quốc, Phanxicô Xaviê đã tuôn trào ngấn lệ khi đọc lá thơ của Inhaxiô. Cuộc trao đổi thơ từ đã làm cho tình bạn của họ trở nên sinh động, gây phấn chấn cho nhau dù không còn gặp lại nhau nữa. Họ cảm nhận được tình yêu thương nồng hậu của nhau, và điều đó đã giúp Phanxicô can đảm thực hiện cuộc hành trình đầy nguy hiểm và hoàn tất sứ vụ. Chính tình bạn thâm sâu tự cõi lòng đã hình thành những dòng chữ có giá trị vô song, khơi dậy sự sống tinh thần và niềm tin yêu quả cảm.

Trên hành trình truyền giáo, thánh nhân kết thân rất nhiều bạn bè. Đặc biệt, tại Maluco, Phanxicô quen thân vua Hồi giáo Hairun. Nhà vua mong mỏi Hồi giáo và Thiên Chúa giáo sau cùng có thể gặp nhau. ”Nhà vua tỏ ra ưu ái tôi khiến những kỳ lão buông lời trách móc. Nhà vua muốn tôi kết thân và nhà vua sẽ chịu phép rửa tội. Hairun muốn rằng tôi là bạn thân, vì người Công giáo và Hồi giáo đều là con một cha và một ngày kia cả hai sẽ hiệp nhất.”.

Một tình bạn trong sáng, thủy chung, nâng con người lên những tầm cao của sứ vụ loan báo Tin Mừng.

c. Tiếng gọi đến từ nhu cầu truyền giáo.

Ban đầu nhận công tác đi tìm Vinh Danh Chúa qua việc phục vụ các bệnh nhân, nhưng chừng như chưa đủ, Phanxicô Xaviê vẫn khát vọng xa hơn là hiến thân loan báo Tin Mừng tận miền sâu miền xa của địa cầu. Tiếng gọi thứ ba đến từ nhu cầu truyền giáo.

Từ Venice, là nơi ngài thụ phong linh mục năm 1537, Cha Phanxicô Xaviê đến Lisbon và từ đó ngài dong buồm đến Ấn Ðộ, cập bến làng Goa ở bờ biển phía tây nước Ấn. Trong vòng 10 năm tiếp đó, ngài đã tích cực hoạt động để đem đức tin đến cho rất nhiều dân tộc, trong đó có người Ấn Ðộ, Mã Lai và Nhật Bản. Cha Phanxicô đến các quần đảo ở Mã Lai, và Nhật Bản. Ngài học tiếng Nhật và rao giảng cho các người dân chất phác, dạy giáo lý và rửa tội cho họ, cũng như thành lập các trụ sở truyền giáo cho những người muốn giúp đỡ công cuộc của ngài. Từ Nhật Bản, ngài mơ ước đến Trung Hoa, nhưng dự tính này không bao giờ thực hiện được. Ngài đã từ trần trước khi đặt chân đến phần đất này.

Tới Goa ngày 6.5.1542, Phanxicô rong ruổi khắp nơi, nhiệt tình rao giảng cho người ta biết con người Nagiaret nghèo nàn kia chính là Thiên Chúa ở giữa loài người. Trong 7 năm (1542-1549), Ngài là nhà truyền giáo rửa tội đựơc nhiều nhất, tới 100.000 người, “có những buổi chiều nhức mỏi cả cánh tay” như thánh nhân viết. Từ Malaca, Ngài đến Nhật, xứ sở mặt trời. Ngài muốn gặp gỡ tìm hiểu trao đổi để Lời Chúa sáng ngời qua đối thoại. Ngài dự định đến tận kinh đô Nhật, vào các Đại học, gặp gỡ các nhà Sư để trao đổi. Phanxicô hoạt động nhiều nhất tại Kagoshima, Hirado, Bungo trên đảo Kyushu, lên Yamaguchi, từ đó đi hai tháng lên khinh đô Myako (tức Kyoto). Sau hai năm ở Nhật, Phanxicô trở về Goa, trao công việc truyền giáo lại cho cha Torres và tu huynh Fernandez.

Ngày 14.4.1552 nhà truyền giáo lên tàu, tháng 8 năm đó ngài tới đảo Thượng Xuyên, cửa ngõ Trung Hoa. Ba tháng sau Phanxicô bị sốt nặng, lòng vẫn ngong ngóng đựơc nhà cầm quyền Quãng Đông cho phép vào đất liền. Thật bất ngờ, ngài qua đời vào 2-3 giờ sáng ngày 3.12.1552, mới 46 tuổi đời. Nói theo “thói thế gian”, đó là vỡ mộng, mọi việc còn dang dỡ…Nhưng đối với Thiên Chúa thì Phanxicô đã làm trọn ý Người và mọi sự đã hoàn thành, dù chưa đựơc phép bước vào nước Đại Minh thời đó với dân số dưới 200 triệu người.

Bất cứ chỗ nào ngài đến, ngài đều sống với người nghèo, chia sẻ thức ăn và các phương tiện thô sơ với họ. Ngài dành rất nhiều thời giờ để chăm sóc người đau yếu, nghèo khổ, nhất là người cùi. Rất nhiều khi ngài không có thời giờ để ngủ hoặc ngay cả để đọc kinh nhật tụng, nhưng qua các thư từ ngài để lại chúng ta được biết, ngài luôn luôn tràn ngập niềm vui.

Hành trình không mệt mỏi, Phanxicô Xaviê rong ruổi những nẻo đường Á Châu, một miền xa lạ và xôi xa. Nhưng mặc kệ. Sợ gì! Đối với thánh nhân:Tôi không sợ ai ngoại trừ Thiên Chúa, chỉ sợ Người phạt vì chểnh mảng trong việc phục vụ Người, vì vụng về và vô dụng trong việc truyền bá danh Chúa Giêsu giữa những kẻ chưa biết Người (Bt 78,2). Ở đâu có vinh quang Thiên Chúa, Phanxicô Xaviê sẳn sàng lên đường. Mỗi một tâm hồn chinh phục được là một niềm vui cho vinh quang Thiên Chúa, mỗi một hao mòn trong thân xác là “một vốn” bỏ ra để có “bốn lời” cho cuộc sống mai hậu. Mỗi một thời khắc sống cho Tin Mừng, cũng chính là một cách đong đầy cho khát vọng cống hiến tìm Vinh Danh Chúa.

Chính vì thế mà Phanxicô Xaviê đã không mỏi mệt ra đi, dấn bước lên đường: từ Nhật đến Ấn Độ, từ Goa đến biên giới Trung Quốc. Mỗi chặng đường đi qua, lại là một lời “còn nữa” vang lên không ngừng. Tiếng gọi từ nhu cầu truyền giáo đã hớp lấy tâm hồn Phanxicô Xaviê. Thánh nhân đã sống do và cho tiếng gọi này đến hơi thở cuối cùng trên con đường sang Trung Quốc. Đúng là một con người đầy cao vọng nhưng là một cao vọng đích thực chỉ mình Thiên Chúa mới có thể đong đầy, mới làm no thỏa.

3. Triều thiên Hiển Thánh.

Cuộc đời truyền giáo của Phanxicô Xaviê tuy ngắn ngủi, nhưng công lao sự nghiệp của ngài thật lớn lao. Trong 12 năm truyền giáo, ngài đã đi bộ tới 100 ngàn cây số, và đã rửa tội với con số kỷ lục phỏng độ ba vạn người. Dẫu được thành công, và làm được những việc lớn lao, như lần kia có một người chết chôn từ hôm trước mà cha đã gọi ra khỏi mồ, thánh nhân vẫn một mực khiêm tốn, vâng lời bề trên. Mỗi khi viết thơ cho bề trên, bấy giờ là thánh Inhaxiô, Phanxicô Xaviê qùy gối mà viết. Với sự nghiệp và nhân đức như vậy, Phanxicô Xaviê xứng đáng được Giáo Hội liệt kê vào sổ những bậc đại thánh và làm gương mẫu muôn đời cho các nhà truyền giáo. Cha Phanxicô được phong Chân phước năm 1619 và được cất lên bậc hiển thánh năm 1622. Đức Giáo hoàng Biển Đức XIV lại đặt Thánh Phanxicô làm quan thầy nước Ấn Độ. Về sau Đức Giáo hoàng Piô XI lại tuyên phong thánh nhân làm quan thầy các xứ truyền giáo bên Á đông. Giáo dân Việt Nam từ lâu hằng tỏ lòng kính mến thánh Phanxicô Xaviê cách riêng. Nhiều xứ đạo, nhiều nam nhân đã nhận Ngài làm bổn mạng.

4. “Hãy theo Thầy”

Nhìn cuộc đời thánh Phanxicô Xaviê trong ba tiếng gọi: Lời Chúa, bè bạn và nhu cầu truyền giáo cũng là một cách học tập đời sống của ngài để họa lại trong đời sống của mình.

Đời mỗi tín hữu cũng đong đầy những tiếng gọi như thế.

Xin cho những tiếng gọi của Lời Chúa được ta lắng nghe chân thành và thực thi trung thành, bởi đó là ánh sáng soi lối ta đi. Xin cho những tiếng gọi từ những người xung quanh không bị ta quên lãng, bởi tưởng như tầm thường, nhưng đó lại là tiếng gọi nhiều khi rất quý hiếm cho vững bước đi lên. Và xin cho nhu cầu truyền giáo của Giáo Hội luôn là tiếng gọi ta phải quan tâm để ý, bởi đó là sự sống và là sự sống còn của Giáo Hội.

Mọi tiếng gọi đều hướng về lời mời gọi cao cả nhất: ” Hãy theo Thầy”.

“Hãy theo Thầy”, lời mời năm xưa cũng là lời mời được lặp lại trong từng ngày sống.

“Hãy theo Thầy”, sau những vấp ngã, yếu đuối và chối Thầy như Thánh Phêrô đã từng trải nghiệm.

“Hãy theo Thầy”, sau khi những giấc mơ trần tục bị tan vỡ bởi biến cố Núi Sọ mà các Tông đồ đã kinh nghiệm.

“Hãy theo Thầy” để dang tay ra và đến nơi mình không muốn đến như cuộc đời Thánh Phêrô.

“Hãy theo Thầy” để củng cố anh em và chăn dắt chiên của Thầy (Lc 22, 31-32).

” Hãy theo Thầy” để “ra đi và rao giảng cho muôn dân” (Mt 28,19).

Theo là phải biết, phải tin, phải yêu mến và phải làm như lời Thầy dạy.

Theo Chúa Giêsu là từ bỏ và vác thập giá: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác Thập Giá mình mà theo.” (Mc 8, 34).Chiêm ngắm Chúa Kitô chịu đóng đinh là nguồn linh hứng cho mọi ơn gọi. Hồng ân Thánh Thần của Thập giá là nguồn gốc mọi hồng ân. Khi từ bỏ mình, Thánh Phanxicô Xaviê không đi tìm danh lợi và sự hãnh diện cho chính bản thân. Từ bỏ mình cũng có nghĩa là từ chối nhiều điều kiện “thuận lợi ” trong cuộc sống giúp thăng tiến bản thân. Khi lựa chọn bước theo Chúa Giêsu, như các Tông đồ, thuyền lưới buông bỏ, gia đình cũng xin chia tay, ghế thâu thuế cũng trả lại. Từ bỏ mình chưa đủ, Chúa Giêsu còn đòi hỏi phải vác thập giá của mình mà bước theo. Vác Thập giá của mình đó chính là thái độ sẵn sàng đón nhận những vất vả, đau khổ, thử thách mà các môn đệ sẽ gặp suốt hành trình. Con đường theo Chúa Giêsu không trải đầy nhung lụa mà là những gai nhọn và gian nan. Con đường đó dẫn lối về hạnh phúc cho những ai dám từ bỏ để sống cho Chúa, dám sống đời hèn mọn, dám sống đời tận hiến với quyết tâm thuộc trọn về Chúa suốt đời. Đó là Ơn Gọi cho những người bước đi theo Thầy Giêsu.

Nhờ lời Thánh Phanxicô Xaviê chuyển cầu, xin Chúa cho chúng con được trung thành đi theo Chúa. Nhờ đó, chúng con thật sự trở nên chứng nhân, làm tất cả để Thiên Chúa được tôn vinh, và phẩm giá con người được tôn trọng. Amen.

---------------------------------

 

Suy Niệm 17. Thánh Phanxicô Xaviê


--Step. Phạm Ngọc Duy

Sau khi Phục Sinh khải hoàn, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ và sai các ông: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16,15) Theo lệnh truyền đó, các tông đồ đã ra đi đem Tin Mừng cứu độ đến khắp mọi nơi. Thánh Phanxicô Xaviê mà Giáo Hội mừng kính hôm nay, ngài cũng từ bỏ tất cả và tiếp nối sứ vụ của các tông đồ khi xưa, mang Tin Mừng tình yêu của Chúa Giêsu đến khắp vùng Á châu rộng lớn.

Thánh Phanxicô Xaviê chào đời vào năm 1506 tại Tây Ban Nha trong một dòng tộc quý phái. Khi cảm nhận sâu sắc bởi câu Lời Chúa: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì” (Lc 9,25), ngài đã gác lại những khát vọng hoài bảo của mình và trở thành cánh tay cộng tác đắc lực với thánh Inhaxiô trong việc truyền giáo. Trong sứ vụ của mình, thánh nhân đã mang về rất nhiều linh hồn cho Chúa Kitô. Chính thái độ hiền lành, cung cách lịch sự và đời sống cầu nguyện kết hợp thâm sâu với Thiên Chúa đã trở thành khí cụ hữu hiệu giúp cho thánh Phanxicô gặt hái được nhiều hoa trái trong sứ vụ của mình. Thánh nhân qua đời ngày 03/12/1552, được Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XV tuyên thánh cùng với thánh Inhaxiô vào năm 1622 và được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo (x. Phụng Vụ Chư Thánh tập 2, Lm Augustin Nguyễn Văn Trinh).

Thật vậy, thánh nhân là một người con hiếu thảo muốn đem về nhà Cha những anh em đã lưu lạc xa gia đình. Nhìn vào tấm gương của nhà truyền giáo tài ba lỗi lạc này có nhiều nét giống với vị thánh tông đồ dân ngoại Phaolô: Phanxicô có tấm lòng nhiệt huyết dồi dào. Một ngọn lửa truyền giáo lúc nào cũng bừng cháy trong lòng, thoi thúc thánh nhân đem ánh sáng đức tin loan truyền cho mọi người. Dù gặp vô vàn khó khăn thử thách từ điều kiện sống, điều kiện ăn ở, khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa ở những nơi ngài đặt chân đến… Nhưng trên tất cả, ngài vẫn vui lòng đón nhận mọi sự “Miễn là Đức Kitô được rao giảng.” (Pl 1,18) Về phần chúng ta là những Kitô hữu, những nhà truyền giáo trong thời đại mới, chúng ta học được gì từ thánh nhân và sẽ làm được gì để tiếp nối sứ mạng Chúa Giêsu đã trao phó?

Trong Tông huấn Niềm vui của Tin mừng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô có nói: “Vì vậy chúng ta hãy đi ra, đi ra để cống hiến cho mọi người sự sống của Chúa Giêsu Kitô. Tôi thà có một Hội Thánh bị bầm dập, mang thương tích và nhơ nhuốc vì đi ra ngoài đường, hơn là một Hội Thánh ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình. Tôi không muốn một Hội Thánh chỉ lo đặt mình vào trung tâm để rốt cuộc bị mắc kẹt trong một mạng lưới các nỗi ám ảnh và các thủ tục.” (Số 49) Quả vậy, lệnh truyền của Chúa Giêsu không dành riêng cho một cá nhân hay một nhóm người nào. Từ khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, mỗi người Kitô hữu đều mang trên mình sứ mạng ngôn sứ, mọi người đều được mời gọi hãy ra đi để Chúa Kitô được đến với tất cả mọi người mọi nơi. Hãy nhớ rằng, khi loan báo Tin Mừng cho người khác cũng chính là phương thế hữu hiệu để chúng ta tự loan báo Tin Mừng ấy cho chính mình vậy.

Lạy Chúa, Chúa đã sai thánh Phanxicô Xaviê đi đến các dân tộc Á châu để rao giảng Tin Mừng cứu độ. Xin Chúa cũng đốt lên trong lòng chúng con ngọn lửa tông đồ truyền giáo như thánh nhân, để chúng con biết noi gương thánh nhân để lại, biết can đảm ra đi, ra khỏi ranh giới an toàn của bản thân, để mang hạt giống Lời Chúa đến cho mọi người chung quanh bằng gương sáng việc lành, bằng những hành động yêu thương cụ thể, hay chí ít là bằng lời cầu nguyện chân thành cho anh chị em xung quanh mình. Amen.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 18. Thánh Phanxicô Xaviê


—Lm Hiền Lâm

II. SUY NIỆM

Hôm nay mừng lễ kính thánh Phanxicô Xaviê, Giáo hội cho đọc đoạn Tin Mừng về mệnh lệnh Chúa trao cho các Tông Đồ đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian. Thánh Phanxicô Xaviê – vị thánh linh mục dòng Tên này – đã thực hiện triệt để lệnh truyền ấy, đã đem Tin Mừng đến cho Á Châu và đem rất nhiều người trở về với Chúa, và nay được phong làm Bổn Mạng các Xứ Truyền Giáo, trong đó có Việt Nam chúng ta.

Bài Tin Mừng hôm nay tập chú đến hai điểm chính:

1. Lệnh truyền rao giảng Tin Mừng.

Trước khi về trời, lời trối cuối cùng của Chúa Giêsu là: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ mà rao giảng Tin Mừng cho mọi lời thọ tạo”.

Hãy đi: Đây là một mệnh lệnh mang tính trách nhiệm, chứ không phải một lời khuyên. Vì thế, đã là môn đệ Chúa, thì mọi người đều mang trong mình trách nhiệm truyền giáo. Đi: Nghĩa là lên đường, đến với nơi mình làm việc, nơi mình sinh sống, nơi mình tham gia các sinh hoạt… Truyền giáo là một hành động cụ thể qua lời nói và đời sống chứng nhân, chứ không phải “đạo tại tâm”.

Khắp tứ phương thiên hạ: Nghĩa là, việc rao giảng và làm chứng cho Chúa không hệ tại ở một không gian nhất định, nhưng bất kỳ nơi nào mình đến và trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Rao giảng Tin Mừng: Rao giảng Tin Mừng là rao giảng “Lời Chúa”, việc Chúa, và làm chứng cho Chúa, chứ không phải rao giảng “lời hay ý đẹp của mình bịa ra”, hoặc làm công việc của mình hay ngầm ý vinh danh mình.

Cho mọi loài thọ tạo: Lệnh truyền không giới hạn mình phải làm chứng cho Chúa trước một tôn giáo nào hay một tầng lớp xã hội nào, mà là cho bất cứ ai mình gặp gỡ.

2. Điều kiện để được cứu độ.

Tiếp theo lệnh truyền là lời khằng định của Chúa Giêsu: “Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ; còn ai không tin thì sẽ bị kết án”.

Điều kiện bắt buộc để được cứu độ là tin và chịu phép rửa. Nên dù mặc nhiên hay minh nhiên, không qua Đức Giêsu Kitô thì không thể vào Nước Thiên Chúa. Sẽ khó trả lời khi nói điều này với người ngoài Kitô Giáo, nhưng hết những ai qua tôn giáo của họ hoặc qua tiếng lương tâm mà ăn ở tốt lành thánh thiện thì mặc nhiên ở trong Đức Kitô (được rửa tội “bằng lửa”). Cũng thế, những ai dám hy sinh tính mạng vì niềm tin hoặc vì Đức Ái, thì dù chưa được lãnh nhận Bí tích rửa tội, thì cũng mặc nhiên ở trong Đức Kitô toàn thể (rửa tội “bằng máu”).

Cần phân biệt giữa việc được rao giảng mà không tin và chịu phép rửa, khác hẳn với việc không được nghe rao giảng. Ơn cứu độ trước việc người ta cứng lòng không tin khác với việc người ta lầm lạc không được nghe biết Tin Mừng. Vì thế, việc truyền giáo luôn là một trách nhiệm khẩn thiết của mỗi chúng ta.

– Phép lạ kèm theo.

Cần lưu ý, những phép lạ chỉ là “kèm theo”, chỉ đóng vai trò phụ trong việc minh hoạ cho Lời Rao Giảng, nâng đỡ niềm tin người đón nhận và xoa dịu bớt phần nào nỗi đau khổ của kiếp nhân sinh; Lời Rao Giảng mới đóng vai trò chính trong niềm tin và ơn cứu độ.

Chính vì thế, mà chính Chúa Giêsu cũng nhiều lần từ chối làm phép lạ, vì người ta đòi hỏi Người. Niềm tin mà chỉ dựa trên phép lạ thì không còn là niềm tin nữa.

Lạy Chúa Giê-su, từ ngày chịu phép rửa tội, chúng con mang trên mình vai trò ngôn sứ, là luôn phải biết đem Tin Mừng đến cho người khác trong bất cứ hoàn cảnh nào, xin Chúa cho chúng con biết noi gương thánh Phanxicô Xaviê, luôn hăng say rao giảng Lời Chúa với cả sự khao khát, lời nói và hành động, hầu quê hương đất nước chúng con ngày một thêm nhiều người nhận biết và tôn thờ Chúa. Amen.

---------------------------------

 

Suy Niệm 19. Suy Niệm Lễ Kính Thánh Phanxicô Xaviê


-- Lm. Anthony Trung Thành

Thánh Phanxicô Xaviê sinh năm 1506 tại Tây Ban Nha. Năm 1525 Ngài du học Paris, nước Pháp. Nhờ sự hướng dẫn của chân phước Phêrô Favre và thánh Ignatiô, Ngài đã gia nhập Dòng Tên với ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và làm việc tông đồ. Năm 1537, được thụ phong linh mục ở Rôma. Năm 1541, Ngài đi truyền giáo vùng Á Đông theo lệnh của Đức Giáo Hoàng Phaolô III. Trong 10 năm truyền giáo tại Ấn Độ và Nhật Bản Ngài đã đi hàng trăm ngàn cây số và rửa tội được khoảng 100 ngàn người. Ngài qua đời năm 1552, tại đảo Xanxian, cửa ngỏ vào Trung Quốc. Năm 1622, Đức Thánh Cha Grêgôriô XV đã phong Ngài lên bậc hiển thánh. Năm 1904, được Đức Giáo Hoàng Piô X đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo.

Qua một vài điểm liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Thánh Phanxicô và qua Lời Chúa hôm nay, xin được gợi ý suy niệm vài ý tưởng sau đây:

1. Loan báo Tin mừng là nhiệm vụ bắt buộc mỗi Kitô hữu

Có một thời người ta quan niệm rằng “Việc loan báo Tin mừng là của các Giám mục, linh mục, tu sĩ”. Còn giáo dân chỉ cần giữ đạo là đủ. Đây là một quan niệm hết sức sai lầm. Nhiệm vụ truyền giáo là của tất cả mọi kitô hữu. Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu kêu gọi: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”(Mc 16,15). Khi dùng động từ “Hãy đi”, Chúa Giêsu muốn nhắc nhở việc loan báo Tin mừng là nhiệm vụ của mọi người kitô hữu. Trong bài đọc I, Thánh Phaolô đã ý thức việc loan báo Tin mừng là nhiệm vụ “Bắt buộc”, Ngài nói: “Thật vậy, đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm”. Ngài còn nói thêm: “Vô phúc cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng”(1Cr 9,16).

Như vậy, ai cũng có nhiệm vụ loan báo Tin mừng. Nhưng việc loan báo Tin mừng như thế nào thì tuỳ thuộc vào khả năng và hoàn cảnh của từng người. Có người lên đường đem Chúa đến với dân ngoại như thánh Phaolô, thánh Phanxicô Xaviê. Có người suốt đời cầu nguyện cho việc truyền giáo và cho phần rỗi các linh hồn như Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Có người loan báo Tin mừng bằng việc bác ái như Mẹ Têrêxa Caculta. Có người loan báo Tin mừng bằng chứng tá đời sống, nhất là làm chứng bằng máu như các thánh Tử đạo…Mỗi chúng ta đã và đang loan báo Tin mừng bằng cách nào?

2. Loan báo Tin mừng vì ý thức được sự cao trọng của linh hồn

Khi còn học tại Paris, Thánh Phanxicô Xaviê đã thấm nhuần Lời Chúa mà thánh Ignatiô nhắc đi nhắc lại rằng: “Được lời lãi cả thế gian, thiệt mất linh hồn nào được ích gì”(Mc 8,36). Thật vậy, linh hồn là kho tàng vô giá, không có gì đánh đổi được. Mất linh hồn là mất tất cả. Giữ được linh hồn là được tất cả. Ý thức được điều đó, Ngài đã quyết định lên đường tới các miền xa xôi như Ấn Độ, Nhật Bản để giúp họ biết Chúa, biết cách sống để được rỗi linh hồn. Ngài đã làm việc tông đồ một cách nhiệt tâm, đến nỗi không còn giờ để nghỉ ngơi. Trong thư gửi cho Thánh Ignatiô, Ngài viết: “Từ khi đến đây, tôi chẳng ngưng chút nào: Tôi rảo khắp làng mạc, làm phép rửa cho nhiều trẻ em chưa được lãnh bí tích này. Tôi đã làm phép rửa cho một số rất đông các em chưa biết phân biệt bên phải với bên trái. Khi tôi đến các làng, trẻ em không để cho tôi đọc kinh nhật tụng, ăn uống, ngủ nghỉ, nếu tôi chưa dạy cho chúng một kinh”(x. Bài đọc II, kinh sách ngày 03 tháng 12).

Ngài khao khát phần rỗi linh hồn người khác và mong muốn có nhiều người làm việc tông đồ. Cũng trong lá thư gửi cho Thánh Ignatiô, Ngài kể: “Tại các miền ấy, có nhiều người không được làm Kitô hữu chỉ vì không có ai làm cho họ trở thành Kitô hữu. Nhiều lần tôi đã có ý định tới các đại học ở Châu Âu, trước hết là đại học Paris, mà kêu gào khắp nơi như một kẻ mất trí và thúc đẩy những người chỉ nghiên cứu học thuyết hơn là thực hành bác ái rằng: Tiếc thay vì lỗi của các ông mà biết bao linh hồn thay vì lên thiên đàng lại phải xuống hoả ngục. Ước chi họ miệt mài với văn chương chữ nghĩa thế nào thì họ cũng miệt mài với công việc tông đồ như vậy, để có thể trả lẽ với Thiên Chúa về học thuyết của họ cũng như các nén bạc đã được trao phó cho họ”( x. Bài đọc II, kinh sách ngày 03 tháng 12).

Đó là những lời tâm huyết thốt ra từ một tâm hồn nhiệt tâm làm việc tông đồ: Khát khao vì phần rỗi linh hồn người khác. Sau này, chính Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu cũng đã thốt lên những lời tương tự: “Con cảm thấy lòng con khao khát phần rỗi linh hồn người ta lắm; Con muốn dùng hết tài, xuất hết lực, hy sinh mọi lẽ để cứu kẻ tội lỗi cho khỏi lửa hoả ngục”.

Mong rằng, mọi người chúng ta cũng ý thức được sự cao trọng của linh hồn và có được lòng nhiệt tâm tông đồ như Thánh Phanxicô và Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu: Ước ao phần rỗi linh hồn người khác để dấn thân không mệt mỏi cho công cuộc loan báo Tin mừng.

Lạy Chúa, chúng con biết rằng: Loan báo Tin mừng là sứ mạng Chúa trao phó cho mọi người kitô hữu chúng con. Nhưng trong thực tế, không mấy ai nhớ để chu toàn sứ mạng này. Nhờ lời chuyển cầu của Thánh Phanxicô Xaviê, xin cho mỗi chúng con từ nay biết quyết tâm chu toàn bổn phận ấy hầu Giáo Hội ngày càng có nhiều con. Amen.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 20. Thánh Phanxicô Xaviê


--Gia Thi, SDB

Công đồng Vaticanô II xác định rất rõ: Truyền giáo không chỉ là mệnh lệnh của Đức Giêsu, nhưng còn chính là bản chất của người Kitô hữu. Lời khẳng định như thế được khởi đi từ đâu, nếu không phải là từ những lời chúng ta vừa nghe trong đoạn Tin mừng hôm nay. Khung cảnh của nó gợi lên trong ta về một lý tưởng rất cao đẹp, đẹp từ suy nghĩ, đẹp đến ngôn từ, và đẹp cả những bước chân của người được sai đi, đó là hành trình của những con người được mời gọi ra đi trên nẻo đường truyền giáo.

Thế nhưng, khi đọc lại và suy gẫm đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta sẽ nhận ra Đức Giêsu nói đến không chỉ với người được sai đi: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”, nhưng Ngài còn nhắc đến những người được lãnh nhận Tin mừng nữa: “Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án”. Chính vì điều đó mà chúng ta sẽ thấy rõ hơn hình ảnh và dáng dấp của mình qua những lời giáo huấn của Đức Giêsu: Tôi vừa là người được lãnh nhận Tin mừng, đồng thời, tôi cũng là người được sai đi. Vậy thì điều gì chúng ta cần khám phá, suy gẫm và sống qua đoạn Tin mừng hôm nay?

Trước hết, chúng ta phải nói rằng, giáo huấn của Đức Giêsu, tuy có vẻ rất đơn giản và bình dân, ai cũng có thể tiếp cận và thực hành. Tuy nhiên, đơn giản không có nghĩa là hời hợt – bình dân không có nghĩa là thiếu đi sự dứt khoát. Hàm chứa trong lời giảng dạy của Đức Giêsu đó chính là sự quyết liệt và tính triệt để của Tin mừng: Tin thì được cứu, không tin sẽ bị kết án. Như thế, trong lời giáo huấn này, chúng ta sẽ không nhận ra một chỗ nào cho sự nửa vời: 50-50. Khi nhận ra điều đó, chúng ta cũng bắt đầu khám phá ra được con người thật của chính mình: Một đàng, chúng ta là những người đã tin và cũng đã được rửa tội; đàng khác, chúng ta lại nhận ra, trong tôi, vẫn còn tồn tại cái gọi là “không tin” trong cách suy nghĩ, trong lối hành động, và đôi khi ngay cả trong đời sống chứng tá.

Thứ đến, chúng ta cũng cần nhắc đến “qui luật nhân quả” mà Đức Giêsu đã áp dụng và được các Thánh Sử ghi lại rất rõ: lòng tin và lời tuyên xưng niềm tin, luôn đi kèm với hiệu quả. Hễ ai tin sẽ được chữa lành và được cứu độ. Và ngày hôm nay, Đức Giêsu cũng lập lại những hiệu quả đó cho những người tin: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.” Hiệu quả và ân sủng sẽ nói lên chính niềm tin và mức độ tin của mỗi người chúng ta.

Nếu quả là thế, thì một lần nữa, lại có dịp để chúng ta phải đấm ngực ăn năn về chính thái độ và vai trò của mình trong tư cách là những người môn đệ của Đức Giêsu, và được Ngài trao cho một sứ vụ. Bởi lẽ, cả một đời theo bước Đức Giêsu, chúng ta vẫn chưa nhận được nhiều sự biến đổi của anh chị em mà mình đang phục vụ và đang sống với họ. Tuy nhiên, điều đó không làm cho chúng ta nhục chí và bỏ cuộc, bởi lẽ, khi bước đi trong hành trình phục vụ anh chị em của mình, chúng ta vẫn có Chúa đang cùng hoạt động với chúng ta, và Ngài không ngừng dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận những lời rao giảng và việc làm của chúng ta.

Với khoé nhìn như thế, chúng ta mới thực sự nhìn ra điểm nổi bật trong cuộc đời của Thánh Phanxicô Xaviê, một giáo sư triết học trẻ tuổi, với một tương lai đầy hứa hẹn trong giới kinh viện mà sự thành công, uy tín và vinh dự đang chờ đón. Phanxicô Xaviê đã nhận ra tiếng gọi từ những lời của Đức Giêsu: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì có lợi gì?” (Mt 16,26a). Lời chất vấn đó tuy nhẹ nhàng và vắn gọn, nhưng sức mạnh và giá trị của nó thì không nhỏ chút nào. Lời đó đã trở nên một lời tâm niệm của Thánh Phanxicô Xaviê. Quả thật, lời của Đức Giêsu đã trở nên sự lựa chọn, trở thành sức mạnh giúp thánh nhân định hướng đời sống của mình.

Để kết luận, chúng ta cũng nên nhắc lại lời của Thánh Inhaxiô đã nói với Phanxicô Xaviê, một con người đầy cao vọng, nhất là những ước vọng lành thánh rằng: “Con người nhiều cao vọng như anh mà chịu dừng lại trong vinh quang trần thế thì quá uổng. Thiết nghĩ chỉ có vinh quang Thiên Chúa mới xứng với tầm cao ước vọng của anh”. Mong thay đó cũng chính là hướng đi và lối hành động của chúng ta trong cuộc đời phục vụ anh chị em của mình.

---------------------------------

 

Suy Niệm 21. Chứng nhân Tin Mừng


--LHTH

Ở Châu Âu thế kỷ 18, các thầy ngay khi được thụ phong linh mục đã nhận sứ mạng rao giảng Tin Mừng ở các nước Viễn Đông. Năm 1927, vị mục tử trẻ người Pháp thuộc Hội Thừa sai Paris đã đến miền đất Di Linh – Lâm Đồng nơi dân tộc K’Ho sinh sống. Buổi đầu về nhận xứ, linh mục bận rộn với nhiều công việc khác nhau: truyền và dạy đạo lý Công giáo và nâng cao đời sống cho người dân. Ngài cũng thấu hiểu nổi khổ của các bệnh nhân phong, nên còn xây dựng các ngôi nhà tranh để chăm sóc và ngài ở trong trại phong Di Linh do mình thành lập cho đến khi qua đời năm 1973. Đó là Giám Mục Jean Cassaigne là một trong số 25 người Công giáo được Hội Giáo hoàng Truyền giáo, chọn làm mẫu gương cho đời sống đức tin và loan truyền đức tin Công giáo.

Hồng Y Bergogilo (Giáo Hoàng Phanxicô) chia sẻ: “Giáo Hội được kêu gọi ra khỏi chính mình, để đi đến các vùng ngoại vi, không chỉ về mặt địa lý, còn đến các vùng ngoại vi về mặt hiện sinh: vùng ngoại vi của huyền nhiệm tội lỗi, của nỗi đau, của bất công, của dốt nát và lãnh đạm với tôn giáo, của những trào lưu tư tưởng và của mọi hình thức nghèo khổ” .

 Sứ điệp Tin Mừng hôm nay là lời truyền cho các môn đệ: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật. Ai tin và chịu phép Rửa, thì sẽ được cứu độ: ai không Tin, sẽ bị luận phạt”. Hiện nay, Giáo Hội Việt Nam đã triển khai rất nhiều giáo điểm, các linh mục và nữ tu sĩ đã lên đường với lòng nhiệt thành đem Lời Chúa đến tận các vùng heo hút, chấp nhận cuộc sống thiếu thốn để hòa đồng và gắn bó với người dân tộc, người nghèo khổ… Là Huynh đoàn giáo dân Đa Minh chúng ta có cảm nhận được điều mà Thánh Phanxicô Assisi đã nói: “Nếu chúng ta không rao giảng bằng chính cuộc đời của mình, thì dù có đi bất cứ nơi đâu rao giảng cũng vô ích”.

Theo thống kê tôn giáo năm 2019, đạo Công giáo có hơn 9 triệu Kitô hữu, con số còn khiêm nhường so với 96 triệu người Việt, cánh đồng truyền giáo còn rất mênh mông, đang cần chúng ta chung sức với Giáo Hội.

Chúa vẫn luôn đồng hành và chúc lành cho những người thực hiện sứ mạng rao giảng: “Và đây là phép lạ đi theo những người đã tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, nói các thứ tiếng lạ, cầm rắn trong tay, và nếu uống phải chất độc, thì không bị hại.”

Lạy Chúa, chúng con biết rằng việc loan báo Tin Mừng là trách nhiệm của tất cả Kitô hữu, nhắc nhở nhau vun đắp cho đời sống đức tin thêm bền chặt. Bài hát “Chứng nhân tình yêu” của linh mục Nguyễn Duy mời gọi chia sẻ yêu thương: “Trong tâm tư biết bao người ngày đêm cô đơn buồn không nói, nhưng đâu ai đến với họ để hát tiếng hát trong niềm vui. Vì nhiều người vẫn nghèo đói, thế giới thiếu vắng bao nụ cười. Xin cho nhau những tình thương, sớm mai cơn mê đã tan rồi….”.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 22. Chứng nhân tin mừng


--Lm. Micae Võ Thành Nhân

Thánh Phanxicô Xavie, vị tông đồ truyền giáo của Châu Á. Ngài là một nhà tri thức nhưng đã từ bỏ tất cả để bước theo Chúa trong ơn gọi tu trì Dòng Tên.

Thánh Phanxicô Xavie vâng lời Chúa, vâng lời Giáo Hội, vâng lời bề trên nhà dòng lên đường sang Á Châu để rao giảng Tin Mừng. Tại Á Châu này, ngài thấy cách đồng truyền giáo của Chúa thật mênh mông, bao la, bát ngát. Vô số người chưa nhận biết Chúa vì thiếu những chứng nhân rao giảng Tin Mừng. Ngài đã hy sinh tất cả thời giờ, sức khỏe, tiền bạc để phục vụ cho công việc rao giảng Tin Mừng. Ngoài việc ngài cầu nguyện với Chúa và dấn thân đi rao giảng Tin Mừngrồi, ngài còn khẩn thiết nài xin những người tri thức đang dành thời gian cho việc nghiên cứu các học thuyết ở thủ đô Paris (Thủ đô Paris của nước Pháp được coi là thủ đô ánh sáng) và cả Châu Âu nữa là hãy nghĩ đến các linh hồn, hãy bước ra khỏi phòng, bước ra khỏi chiếc ghế đang ngồi, bước ra khỏi chiếc giường nệm nằm ám êm, đưa mắt nhìn ra thế giới bên ngoài và hướng về Á Châu để cùng với ngài đem Chúa đến cho những người này (Bđ II KS St Phanxico X).

Thánh Phanxicô Xavie đã chấp nhận dấn thân như vậy, bất chấp những hiểm nguy, rủi ro (Bệnh tật, bắt bớ, tù đầy, cơ hàn, khắc nghiệt….) đang rình rập ngài là vì ngài yêu thương con người chúng ta và vì phần rỗi linh hồn của con người chúng ta. Chúng ta hãy cảm ơn ngài, và bây giờ chúng ta hãy tiếp nối sứ mạng truyền giáo mở mang nước Chúa cao cả này. Sứ mạng mà vì tình yêu Chúa đã trao cho Giáo Hội, cho ngài và cho chúng ta ngày hôm nay để chúng ta đem Chúa đến cho mọi người, mở rộng biên cương của Nước Chúa đến mọi tâm hồn con người trên thế giới chúng ta đang sống đây.

Chúng ta rao giảng Tin Mừng, mở mang nước Chúa bằng đời sống chứng tá yêu thương phục vụ của chúng ta. Đời sống ấy được thể hiện chúng ta chia sẻ, san sớt những gì chúng ta có cho người nghèo, thăm viếng ủi an những người đau khổ, băng bó, chữa trị thương tích cho những anh chị em bị thương tật trong cuộc sống, tha thứ cho những người có lỗi với chúng ta…cổ động sống hòa thuận nhau, giúp nhau cùng nên thánh để cuộc sống này đáng sống hơn.

Lạy Chúa, hôm nay chúng con mừng lễ thánh Phanxicô Xavie, vị tông đồ truyền giáo của Á Châu. Nhân dịp này, xin Chúa cho chúng con xét mình suy nghĩ lại ơn gọi của người tín hữu chúng con là ơn gọi truyền giáo để chúng con biết hết lòng công tác với Giáo Hội đem Tin Mừng đến cho mọi người qua đời sống mến Chúa yêu người của chúng con “Chúa cất tiếng gọi con, đi làm chứng nhân Tin Mừng, phút thánh hiến từ đây, suốt đời không bao giờ đổi thay”. Amen.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 23. Nhiệt thành truyền giáo


-- Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Thánh Phanxicô Xaviê hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã sai thánh Phanxicô đi rao giảng để kêu mời các dân tộc Á Châu đón nhận Tin Mừng, xin cho các tín hữu được nhiệt thành truyền giáo như thánh nhân, và cho Giáo Hội được hân hoan đón nhận nhiều con cái. Thánh Phanxicô chào đời tại Tây Ban Nha năm 1506. Khi đang học văn chương ở Pari, người nhập đoàn với thánh Inhaxiô. Người chịu chức linh mục ở Rôma năm 1537 và chăm lo thực hành việc bác ái. Năm 1541, người lên đường sang phương Đông. Trong mười năm, người can đảm loan báo Tin Mừng cho người Ấn Độ và Nhật Bản, giúp cho nhiều người hoán cải mà đón nhận đức tin. Người qua đời năm 1552 ở đảo Xanxian, cửa ngõ vào Trung Quốc.

Nhiệt thành truyền giáo, bằng cách trung tín trong ơn gọi của mình, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, thánh Phaolô cho thấy: Cuộc chiến cao đẹp của linh mục, người của Thiên Chúa: Anh hãy đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp vì đức tin, dành cho được sự sống đời đời; chính vì sự sống ấy, anh đã được Thiên Chúa kêu gọi, và anh đã nói lên lời tuyên xưng cao đẹp trước mặt nhiều nhân chứng... Ước chi người đời coi chúng tôi như những đầy tớ của Đức Kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Người ta chỉ đòi hỏi ở người quản lý có một điều là phải chứng tỏ lòng trung tín. Chẳng thiếu chi những kẻ được nhìn nhận là có đức, nhưng dễ chi tìm được một người tín trung?

Nhiệt thành truyền giáo, bằng cách làm cho tất cả mọi người nhận biết Đức Kitô, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh thánh Phanxicô Xaviê nói: Có nhiều người không được làm Kitô hữu chỉ vì không có ai làm cho họ trở thành Kitô hữu. Nhiều lần tôi đã có ý định đi tới các đại học ở châu Âu, trước hết là đại học Pari, mà kêu gào: Chỉ vì lỗi các ông mà biết bao linh hồn thay vì lên thiên đàng lại phải xuống hỏa ngục… Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Anh em hãy xin Chủ ruộng sai thợ ra gặt lúa về. Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em, và anh em sẽ làm chứng cho Thầy đến tận cùng trái đất.

Nhiệt thành truyền giáo, bằng cách hăng say loan báo Tin Mừng, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, thánh Phaolô nói: Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng! Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 116, vịnh gia đã kêu xin: Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng. Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa, ngàn dân ơi, hãy chúc tụng Người! Vì tình Chúa thương ta thật là mãnh liệt, lòng thành tín của Người bền vững muôn năm.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Chúa nói: Anh em hãy đi giảng dạy cho muôn dân. Này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng. Thánh Phanxicô đã hăng say loan báo Tin Mừng: thánh nhân miệt mài với văn chương chữ nghĩa thế nào, thì người cũng miệt mài với Công Việc Tông Đồ này như vậy, để có thể trả lẽ với Thiên Chúa về học thuyết của mình, cũng như các nén bạc đã được trao phó cho mình. Nhờ suy gẫm những sự việc về Chúa, thánh nhân nghe được tiếng Chúa trong tâm hồn, và từ bỏ các tham vọng, cũng như, những công việc trần thế, mà hoàn toàn vâng theo ý Chúa và lệnh truyền của Người. Thánh nhân đã thốt lên tự đáy lòng: Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn con làm gì? Xin sai con đi bất cứ nơi nào tùy ý Chúa, đi đâu cũng được. Chúa đã sai thánh Phanxicô đi rao giảng để kêu mời các dân tộc Á Châu đón nhận Tin Mừng, ước gì chúng ta biết nhiệt thành truyền giáo như thánh nhân, để Hội Thánh được hân hoan đón nhận nhiều con cái. Ước gì được như thế!

----------------------------------

 

Thứ 4:

Hóa bánh ra nhiều lần 2.
04/12– Thứ Tư tuần 1 mùa vọng.
"Chúa Giêsu chữa nhiều người và hoá bánh ra nhiều".

 

LỜI CHÚA: Mt 15, 29-37


Khi ấy, Chúa Giêsu đến gần biển Galilêa, và Người lên ngồi trên núi; dân chúng lũ lượt đến cùng Người, đem theo kẻ câm, mù, què, liệt và nhiều người khác, và đặt họ dưới chân Người. Người đã chữa lành họ. Dân chúng kinh ngạc nhìn thấy kẻ câm nói được, người què bước đi, người đui lại thấy, và họ tôn vinh Thiên Chúa Israel.
Còn Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ mà phán: "Ta thương xót đoàn lũ này, vì đã ba ngày, họ ở lại với Ta, nhưng không có gì ăn. Ta không muốn cho họ về bụng đói, sợ họ té xỉu dọc đàng". Các môn đệ thưa Người: "Chúng con lấy đâu đủ bánh trong hoang địa này mà cho ngần ấy dân chúng ăn no?" Chúa Giêsu nói với họ: "Các con có bao nhiêu chiếc bánh?" Họ thưa: "Có bảy chiếc, và ít con cá nhỏ".
Người truyền dân chúng ngồi xuống đất. Người cầm lấy bảy chiếc bánh và mấy con cá, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ, các môn đệ đem cho dân chúng. Tất cả đều ăn no, và mảnh vụn còn lại người ta thu lượm được bảy thúng đầy.
Số người đã ăn lên tới bốn ngàn, không kẻ đàn bà con nít.
Sau khi giải tán dân chúng, Người bước lên thuyền và đến địa phận Magađan.

---------------------------------

 

Suy Niệm 1: Ăn no nê


(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ. )

Khi mô tả về thời cánh chung, thời thiên sai, thời của Đấng Mêsia,
ngôn sứ Isaia nghĩ đến một bữa tiệc lớn cho muôn dân tộc
do Đức Chúa của Ítraen khoản đãi trên núi thánh.
Không phải chỉ đãi thịt béo, rượu ngon,
Đức Chúa còn lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người,
Khổ đau không còn nữa, chỉ còn tiếng reo vui (Is 25, 6-10).
Nơi Đức Giêsu, lời của ngôn sứ Isaia đã được ứng nghiệm.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu lên một ngọn núi
thuộc miền Thập Tỉnh của dân ngoại (x. Mc 7, 31).
Dân chúng kéo đến cùng với những người bệnh hoạn tật nguyền.
Trên ngọn núi ấy, Ngài đã đem đến niềm vui cho bao người.
Kẻ câm nói được, người què đi được, người mù sáng mắt.
Đức Giêsu không giảng về một Nước Trời xa xôi.
Ngài cho thấy một Nước Trời gần gũi khi thân xác được lành mạnh.
Kitô giáo không duy tâm, duy linh hay duy vật.
Đức Giêsu quan tâm đến trọn cả con người với xác và hồn.
Chính vì thế Ngài vừa rao giảng, vừa chữa bệnh.
Ngài biết chạnh lòng thương đám đông,
vì họ đã ở lại với Ngài từ ba ngày qua mà không có gì ăn.
Ngài hiểu thế nào là cái đói và hậu quả của nó
nên Ngài không muốn để họ đi về mà bụng lại rỗng không.
“Sợ rằng họ bị xỉu dọc đường” (c. 32).
Đức Giêsu đã nghĩ đến việc cho họ ăn như một nhu cầu cấp thiết.
“Chúng con lấy đâu ra đủ bánh cho đám đông như vậy ăn no” (c. 33).
Trước vấn đề lương thực cho một đám đông ở nơi hoang vắng,
các môn đệ thấy mình bất lực và bế tắc.
“Bảy cái bánh và ít cá nhỏ”, đó là tất cả những gì họ có.
Để nuôi đám đông, các môn đệ phải cộng tác với Đức Giêsu,
trao cho Ngài tất cả những gì mình có,
để rồi nhận lại tất cả từ Ngài, và đem chia sẻ cho đám đông.
Bữa ăn ở nơi vắng này không phải là một đại tiệc với rượu thịt,
nhưng rõ ràng là rất cần thiết, đem lại no đủ và thậm chí dư thừa.
Thế giới hôm nay có hơn một tỉ người đói, đa số ở Á châu.
Những bữa ăn đầy đủ vẫn là nỗi khát khao ám ảnh nhiều người.
Đói chẳng những làm ngất xỉu hay dẫn đến cái chết,
nhưng còn làm người ta mất nhân cách, sống không ra người.
Bận tâm của Đức Giêsu về cái đói cũng là mối bận tâm của Giáo Hội.
Phép lạ bánh hóa nhiều của Đức Giêsu phải được nhân lên khắp nơi,
để không còn ai phải đói trên thế giới.
Bữa tiệc cánh chung, nơi muôn người từ đông sang tây đến dự,
phải được chuẩn bị từ những bữa ăn cho kẻ nghèo hôm nay.
Sống Mùa Vọng là lưu tâm đến bao người thiếu ăn ở quanh ta.
Và dù chỉ có mấy cái bánh, ta vẫn tin có thể bẻ ra để nuôi được họ.
 
Cầu nguyện:

Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng
tấm bánh để dành của con thuộc về người đói,
chiếc áo nằm trong tủ thuộc về người trần trụi,
tiền bạc con cất giấu thuộc về người thiếu thốn.

Lạy Cha, có bao điều con giữ mà chẳng dùng,
có bao điều con lãng phí
bên cạnh những Ladarô túng quẫn,
có bao điều con hưởng lợi
dựa trên nỗi đau của người khác,
có bao điều con định mua sắm dù chẳng có nhu cầu.
Con hiểu rằng nguồn gốc sự bất công
chẳng ở đâu xa.
Nó nằm ngay nơi sự khép kín của lòng con.
Con phải chịu trách nhiệm
về cảnh nghèo trong xã hội.

Lạy Cha chí nhân,
vũ trụ, trái đất và tất cả tài nguyên của nó
là quà tặng Cha cho mọi người có quyền hưởng.
Cha để cho có sự chênh lệch, thiếu hụt,
vì Cha muốn chúng con san sẻ cho nhau.
Thế giới còn nhiều người đói nghèo
là vì chúng con giữ quá điều cần giữ.
Xin dạy chúng con biết cách đầu tư làm giàu,
nhờ sống chia sẻ yêu thương. Amen.
 
---------------------------------

 

Suy Niệm 2: Bữa tiệc hạnh phúc


(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Thời Isaia dân Israel sống trong cảnh lưu đầy. Người lưu đầy phải chịu đói khát. Một tấm màn phủ kín khiến họ như bị giam kín trong tù ngục, chẳng còn thấy bầu trời tự do. Tương lai không lối thoát. Cơm bánh hằng ngày là châu lệ khi nhục nhã vì phẩm giá bị chà đạp. Cuộc đời họ còn sống nhưng như đã chết.

Được mặc khải, Isaia tuyên sấm về chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ đưa dân lên ngọn núi cao. Ở đó không còn đói khát vì Thiên Chúa thiết đãi một bữa tiệc thịnh soạn. Không còn từ ngục vì tấm màn bao phủ bị xé toang. Thoát cảnh buồn thương vì Thiên Chúa sẽ lau khô mọi giọt lệ. Thoát cảnh chết chóc vì họ được vui sống với Thiên Chúa.

Lời sấm hoàn toàn ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu. Hôm nay Người đưa dân lên ngọn núi. Ở đó Chúa thiết đãi một bữa tiệc. Người chữa mọi người khỏi bệnh hoạn tật nguyền. Dân không muốn về vì ở trên núi này họ được hạnh phúc. Không chỉ được no đủ, được chữa lành mọi bệnh tật, nhưng nhất là vì được sống với Chúa, được đồng bàn với Chúa. Hình ảnh người mục tử nhân lành trong Thánh vịnh 22 được thể hiện.

Thế giới hôm nay cũng tràn đầy vấn đề như thời Isaia. Người ta không vươn lên núi cao vì đuổi theo những tầm thường dưới mặt đất. Thế giới đói nghèo vì còn lắm bất công. Què quặt vì đưa ra những giải pháp nửa vời. Mù lòa vì không nhận biết chân lý. Câm điếc vì đóng kín trong ích kỷ. Đó là một thế giới thiếu Chúa.

Chúa chính là giải pháp duy nhất cho thế giới. Có Chúa người ta sẽ vươn lên những ngọn núi của lý tưởng cao thượng. Có Chúa người ta sẽ sống công bình. Có Chúa người ta mới biết đường phải đi. Có Chúa người ta mới nói được với nhau, lắng nghe và hiểu nhau. Và nhất là có Chúa, khối lương thực tưởng chừng ít ỏi lại đủ nuôi số đông người vì người ta biết mở lòng chia sẻ. Hãy nhìn tấm gương của Chân phước Mẹ Têrêxa. Bà không có nhiều của cải. Nhưng bà có thể nuôi hàng ngàn cô nhi, chữa lành hàng vạn bệnh nhân, đem niềm vui tươi hi vọng đến cho hàng triệu người. Vì bà có Chúa.

Lạy Chúa, xin hãy đến cứu chúng con.

---------------------------------

 

Suy Niệm 3: Hóa Bánh Ra Nhiều


Khi bàn về đoạn Tin Mừng hôm nay, một học giả Kinh Thánh đã viết: "Mỗi một giai đoạn trong cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu được đánh dấu bằng một bữa ăn khoản đãi dân Ngài". Trước hết là phép lạ bánh hóa ra nhiều cho 5,000 người ăn, được coi như biến cố chấm dứt sứ vụ của Ngài tại Galilêa. Vì từ đây Ngài không còn giảng dạy tại các Hội Ðường cũng như làm những phép lạ, chữa bệnh tật tại đó nữa. Thứ đến là phép lạ hóa bánh ra nhiều nuôi sống 4,000 người, đánh dấu trong một giai đoạn ngắn giảng dạy tại các vùng dân ngoại biên giới Palestina, miền Tirô và Sidon và miền thập tỉnh. Sau cùng là bữa tiệc ly tại Jérusalem, nơi đây đã kết thúc cuộc đời rao giảng của Ngài ở trần gian.

Với cái nhìn phân tích, chúng ta sẽ thấy rằng mỗi bữa ăn đều nằm trong một bối cảnh khác nhau, thành phần tham dự cũng khác nhau. Tuy nhiên, tất cả cùng phát xuất từ một động lực chính, đó là Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

Hai lần hóa bánh ra nhiều đều do sự lo lắng của Chúa Giêsu: "Nếu để họ ra về e rằng có những người sẽ bị đói lả dọc đường". Và riêng bữa tiệc cuối cùng, đó là bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã phải thực hiện một phép lạ vĩ đại để cho mọi người được đủ sức mạnh mà tiến bước trên con đường lữ hành trần gian. Nếu là một trong 5,000 người của đám dân chúng được Tin Mừng nói đến hôm nay, chắc chắn tâm trạng của chúng ta cũng chẳng khác gì tâm trạng của đám dân chúng lúc bấy giờ, là bụng đói lả sau ba ngày theo ngài nhưng lại không dám lên tiếng cứ giữ thái độ yên lặng.

Có thể họ im lặng vì chưa đủ lòng tin vào quyền năng của Chúa Giêsu. Thắc mắc của họ phần nào tương tự như thắc mắc của các tông đồ: "Lấy đâu ra bánh trong hoang địa này cho ngần ấy người ăn". Mặc dù các môn đệ đã thấy Ngài chữa lành các bệnh tật như làm cho kẻ điếc được nghe, què được đi, cùi được sạch ... Tuy nhiên, có thể họ nghĩ rằng mình không thuộc về những hạng người cần đến Chúa Giêsu, vì thân thể đang khỏe mạnh đâu cần gì đến thầy thuốc. Sự đói mệt chỉ là một nhu cầu thể lý chứ không phải là một căn bệnh làm gì phải bắt Ngài bận tâm. Thế nhưng họ đâu có thể ngờ rằng, tuy không phải là căn bệnh thì chúng có thể làm hại con người hoặc có thể vì chút tự ái cá nhân mà họ đành im lặng mặc cho cơn đói hành hạ. Tại sao không chịu lo xa chuẩn bị chút ít lương thực phòng thân để giờ này lại mở miệng lên tiếng kêu ca.

Nhìn chung thái độ im lặng này xuất phát từ hai nguyên nhân: Thiếu tin tưởng vào Thiên Chúa và quá quy trách vào bản thân.

Thiếu tin tưởng vào Thiên Chúa khiến con người không thấy Ngài đầy quyền năng và đầy lòng thương xót. Ngài thấu hiểu hết mọi người và hằng quan tâm đến tất cả mọi nhu cầu của con người, ngay cả những nhu cầu nhỏ nhặt nhất cũng đều được Ngài đáp ứng. Mặt khác, quá thiên về bản thân cũng khiến cho con người xa cách Thiên Chúa. Con người luôn phải cần đến sự trợ giúp của Thiên Chúa.

Về phần Chúa Giêsu, dù cho đám dân chúng im lặng, Ngài không chấp lẽ thái độ của họ, Ngài luôn quan tâm đến họ, Ngài sợ họ đói lả té xỉu dọc đàng, và Ngài đã cho họ ăn một cách dư giả đến nổi ăn xong còn dư được bảy thúng đầy. Con số này tượng trưng cho cái vô biên không đo lường nổi.

Cuộc lữ hành nào mà chẳng mệt nhoc, không lương thực thì chắc chắn sẽ có kẻ rơi rụng dọc đường. Chúa Giêsu đã thấy trước điều này ngay trong cuộc lữ hành trần gian, vì thế Ngài đã ban Mình Ngài để làm lương thực nuôi dân Ngài. Tuy nhiên, căn bệnh im lặng của đám dân chúng ngày xưa còn là căn bệnh của thế giới hôm nay. Căn bệnh đó xem ra còn trầm trọng hơn, vì bàn tiệc đã bày sẵn nhưng chẳng mấy ai đến hưởng dùng.

Mùa vọng là mùa đợi trông, dân Do Thái ngày xưa trông đợi ngày Chúa đến, ngày mà Chủ các cơ binh sẽ thiết đãi một bữa tiệc đầy thịt rượu, thịt thì béo, rượu thì ngon. Sống trong tâm tình của Mùa Vọng, ước mong rằng mỗi người trong chúng ta sẽ hiểu được giá trị trổi vượt của bàn tiệc Thánh Thể mà Thiên Chúa đã thiết đãi dân Ngài để rồi trong cuộc đời lữ hành trần gian chúng ta sẽ được no đủ và vững bước tiến về quê trời, không lo sợ phải mệt lả dọc đường.

---------------------------------

 

Suy Niệm 4: Hoá bánh ra nhiều lần 2


Nạn đói tại Somali và một vài nơi trên thế giới là một ô nhục cho nhân loại ngày nay. Nhưng không riêng gì tại các nước nghèo, ngay trong các nước giàu, người ta cũng nói đến những hình thức nghèo đói và thiếu ăn mới, đó là nghèo đói tình người: con người có thể có một bộ óc phát triển hơn, một thân thể cường tráng hơn, nhưng trái tim thì lại mỗi ngày một nhỏ lại.

Chúa Giêsu đã đến để làm cho con người được giàu có dư dật hơn, nhưng thiết yếu là giàu có dư dật tình người. Ngài đã không mang lại cho con người cây đũa thần kinh tế chính trị để chỉ làm một cử động nhỏ bé là có đủ cơm bánh. Mồ hôi, nước mắt vẫn là định luật của cuộc sống. Chúa Giêsu không muốn xoá bỏ định luật ấy. Phép lạ, hay đúng hơn giải pháp Ngài đem đến chính là tình người: có tình người, con người có thể xoá bỏ được mọi thứ nghèo đói. Đó là sứ điệp mà chúng ta có thể tìm thấy trong bài Tin mừng hôm nay.

Chúa Giêsu xót thương đám đông đi theo Ngài. Ngài xót thương họ không những vì họ đang đói khát cơm bánh thể xác, mà còn vì nỗi đói khát tinh thần của họ. Phép lạ bánh hoá nhiều không phải là một giải pháp tạm thời xoa dịu cơn đói khát, mà là một lời mời gọi, một khơi dậy về một chiều kích vượt trên những nhu cầu thể lý. Bên kia cơm bánh nuôi thể xác, Chúa Giêsu mời gọi con người hướng về một của ăn không hư nát là sự sống thần linh, sự sống làm cho con người biết yêu thương, quảng đại hơn.

Chúa Giêsu đã có thể nói một lời và phép lạ liền diễn ra. Nhưng Ngài đã không làm thế. Ngài tra vấn các môn đệ để khơi dậy nơi các ông mối quan tâm, lo lắng đến người khác. Và chính từ những chiếc bánh và nhưng con cá có sẵn, tượng trưng cho sự đóng góp và lòng quảng đại của con người, Chúa Giêsu đã làm phép lạ bánh hoá nhiều nuôi sống đám đông dân chúng.

Giàu tình người, giàu lòng quảng đại, giàu tình liên đới, đó là sự giàu có đích thực, và với sự giàu có ấy, phép lạ của Chúa Giêsu sẽ không ngừng được tiếp diễn và lúc đó cái đói khát thể xác mới được xoá bỏ và kiếp nghèo mới được hạ giảm.

---------------------------------

 

Suy Niệm 5: Giấc mơ vô tận


Đức Giêsu xuống khỏi miền ấy, đến Biển Hồ Galilê. Người lên núi và ngồi ở đó. Có những đám người đông đảo kéo đến cùng Người, đem theo những kẻ què quặt, đui mù, tàn tật, câm điếc và nhiều bệnh nhân khác nữa. Họ đặt những kẻ ấy dưới chân Người và Người chữa lành. (Mt. 15, 29-30)

Một Lời

Niềm hy vọng không ngừng vọt ra từ những bản văn của ngôn sứ I-sai-a. Hôm nay, niềm hy vọng này làm sống lại ước muốn của chúng ta được vượt qua những giới hạn của sự chết, được sống toàn vẹn, thoát khỏi tang tóc đau thương. Chúng ta thấy trong niềm hy vọng đó lời Chúa ban sự sống xứng đáng dồi dào, xóa sạch mọi khổ nhục. Đó là sự sống vô hạn.

Tin mừng lập lại đề tài này, không phải bằng lời loan báo viển vông, mà bằng dấu chỉ thực hiện niềm hy vọng vô tận này rõ ràng, cụ thể qua việc: “Chúa cầm lấy bảy tấm bánh và mấy con cá, Người tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ phân phát cho dân chúng”.

Một Xã Hội

Chúng ta đang bị một cú sốc. Sau vài thập niên, ai cũng tưởng rằng trái đất là nguồn phong phú vô tận. Nhưng nếu chỉ trong vòng không đầy một tháng thôi, mỏ dầu cạn kiệt, biển khơi chồng chất cặn bã và làm cá chết, những loài vật biến mất, môi trường bị phá hủy, không khí bị ô nhiễm: trái đất sẽ cạn kiệt, thì không còn sản phẩm mới nữa, nguyên liệu hết, đời sống sẽ chẳng còn gì.

Và chúng ta sẽ ra sao?

Thiên Chúa đã hứa ban cho một đời sống phong phú vô tận, nhưng Ngài nhấn mạnh đến phẩm chất của đời sống này, chứ không nói đến đời sống vật chất. Để niềm hy vọng của chúng ta có một giá trị cao quý đích thực về đời sống, chúng ta hãy nghĩ xem và thử đặt vấn đề: “Tôi hy vọng gì? hay đúng hơn: tôi hy vọng vào ai?”. Chúng ta sẽ tìm thấy vô tận ở đâu? Nơi sản phẩm mình có, hay nơi nhân phẩm của mình, nơi cái mình có, hay nơi mình là. Cái mình là, cái phẩm giá mới làm cho đời sống trở thành vô tận. Vậy hãy ném cái thùng của mình vào cái giếng vô tận tuyệt đối, ném cái hữu thể của mình vào hữu thể của Thiên Chúa, ném đời sống mình vào nguồn sống hằng có đời đời của Thiên Chúa.

Sau cùng, để được sống vô biên, cần phải chia sẻ nó. Bánh được hóa ra nhiều để chia sẻ cho đám dân đông đảo, thế mà vẫn còn thu được nhiều thúng đầy. Của cải của chúng ta cần được san sẻ, đời sống của chúng ta cần được bẻ ra phân phát cho nhiều người, nhờ thế, nó được trở nên vô tận.

C. G

---------------------------------

 

Suy Niệm 6: Cần có một tấm lòng


Ngày nay, nhiều người giáo dục con cái về tình thương, nhân ái, liên đới với mọi người bằng cách: khi ra đường, thấy những người ăn xin ... , họ thường đưa tiền cho con cái của họ và dặn các cháu lễ phép, kính trọng biếu những người đó. Hay khi bỏ tiền vào rỏ ở nhà thờ hay đền thánh ... , họ cũng thường đưa cho các bé bỏ vào. Qua đó, họ muốn con họ sau này sống có tình thương, chia sẻ, liên đới.

Hôm nay, Đức Giêsu đã thực hiện một phép lạ cả thể là chữa lành bệnh tật và làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng. Ngài không muốn làm một mình, nhưng Ngài muốn các môn đệ chung chia nỗi thao thức với Ngài, vì thế, Ngài đã gọi các ông lại và nói: "Ta thương xót đoàn lũ này, vì đã ba ngày, họ ở lại với Ta, nhưng không có gì ăn. Ta không muốn cho họ về bụng đói, sợ họ té xỉu dọc đàng". Đức Giêsu đã khéo khơi gợi lòng bác ái nơi các môn đệ, và như thế, Ngài đã dạy cho các ông bài học quý báu là phải biết lo lắng cho những người đang cần sự giúp đỡ của họ.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy có lòng thương xót như Đức Giêsu. Cần có một tình thương bao la, không giới hạn giữa bạn và thù. Nếu những người ốm đau, bệnh tật thời Đức Giêsu, họ đã tìm lại được sự bình an, hạnh phúc khi gặp được Ngài, thì đến lượt chúng ta, mỗi người cũng phải làm cho khuôn mặt, hành động và tình thương của Đức Giêsu được lan truyền và sống động nơi các hành vi, từ cử chỉ, ánh mắt đến nụ cười của mình được thấm đượm vị mặn Giêsu, để những ai gặp được chúng ta, họ như gặp được nguồn bình an, sự cảm thông, lòng thương xót và được hạnh phúc.

Bài Tin Mừng hôm nay cũng thật ý nghĩa khi nó được đặt vào ngay trong Mùa Vọng, vì Mùa Vọng gợi nhớ và nhắc nhở mỗi chúng ta nhớ lại tình thương của Thiên Chúa trên cuộc đời của mình, đồng thời biết loan truyền tình thương ấy cho người khác.

Lạy Chúa Giêsu, tình yêu và lòng thương xót của Chúa đã làm cho dân chúng an vui, hạnh phúc. Xin Chúa cũng ban cho chúng con được trở nên sứ giả của niềm vui, bình an và hạnh phúc cho tha nhân. Amen.

Ngọc Biển, SSP

---------------------------------

 

Suy Niệm 7: Sống chia sẻ: vật chất, tình thương


(TGM Giuse Nguyễn Năng)

Sứ điệp: Thiên Chúa yêu thương con người toàn diện. Ngài đã cảm nhận được nỗi bất hạnh, sự thiếu thốn nơi những người bệnh tật, đói khát. Chúng ta hãy cảm tạ lòng Chúa xót thương, bằng cách biết chia sẻ tình mến cho anh em.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, con mang thân phận con người là mang lấy sự đói khát và thiếu thốn. Là con người, chẳng ai hài lòng với cái mình đang có. Chính vì thế, tình thương của Chúa là một khát vọng lớn mà con người hằng mong mỏi.

Tình thương Chúa đã được biểu lộ cụ thể nơi cuộc đời của con và của gia đình con. Con được sinh ra được nuôi dưỡng trong niềm tin Kitô giáo, được nuôi dưỡng và lớn lên với biết bao hồng ân của Chúa. Thật là một lỗi lầm khi con chỉ biết sống đua đòi, quay cuồng chạy theo những trào lưu của xã hội để hưởng thụ vật chất, mà không biết dâng lời tạ ơn Chúa đã cho con sống an lành đến ngày hôm nay.

Và cũng thật sai trái, khi con cứ đưa mắt nhìn lên những người giàu có, hạnh phúc hơn con, để rồi con buồn phiền và thầm oán trách Chúa. Nhưng đúng hơn, con phải biết rằng: xã hội, thế giới đang có biết bao nhiêu người đang cần đến sự chia sẻ của con.

Lạy Chúa, xin cho con biết nhìn đến nhiều người đang bất hạnh vì bệnh tật triền miên, biết đồng cảm với bao người đang đau khổ vì đói khát, thất nghiệp, hoạn nạn, thiên tai.

Lạy Chúa, mùa Vọng là mùa trông đợi Chúa tỏ lòng thương xót con người một cách đặc biệt, nhưng đồng thời cũng là mùa nhắc nhở con phải biết sống chia sẻ: chia sẻ vật chất, tình thương, cảm thông, an ủi và tha thứ cho anh em. Xin cho con đừng bao giờ quên Lời Chúa căn dặn: Phúc cho ai có lòng thương xót vì sẽ được Chúa xót thương. Amen.

Ghi nhớ: ”Chúa Giêsu chữa nhiều người và hóa bánh ra nhiều”.

---------------------------------

 

Suy Niệm 8: Phải biết chia sẻ


(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

1. Sau khi chữa lành con gái người đàn bà Canaan, Đức Giêsu cùng các môn đệ lên một ngọn núi ở ven biển hồ Galilê. Ở đó, Ngài tiếp đón và qui tụ nhiều người ở khắp nơi. Họ mang đến cho Người nhiều bệnh nhân và Ngài đã chữa lành họ. Trước cảnh đoàn lũ dân chúng bơ vơ không có người chăn, Ngài chạnh lòng thương và ban lương thực nuôi sống họ.

2. Đức Giêsu lên núi, dân cúng lũ lượt kéo lên nghe Người giảng, và mang theo nhiều bệnh nhân để xin cứu chữa. Chúa chữa họ khỏi hết: câm được nói, què đi được, mù được thấy ... nên mọi người hết sức cảm phục và ngợi khen Chúa.

Trước cảnh đoàn lũ dân chúng bơ vơ như bầy chiên không người chăn dắt, họ lại đói khát vì theo Chúa nghe giảng dạy ba ngày rồi mà không có gì ăn. Ngài chạnh lòng thương và ban lương thực nuôi sống họ bằng phép lạ hóa bánh ra nhiều từ bảy chiếc bánh và mấy con cá, nuôi bốn ngàn người không kể đàn bà và con trẻ.  Khi ăn xong các môn đệ  lại thu được bảy thúng bánh vụn.

3. Đức Giêsu bảo các môn đệ hãy lo cho họ ăn, nhưng trong hoang địa thế này làm sao các ông có thể lo cho họ ăn được! Các ông cảm thấy hoàn toàn bất lực. Đúng thế, Chúa có ý cho thấy sự bất lực của các ông trước khi Người làm phép lạ. Để rồi từ đó, qua phép lạ tỏ tường, các ông nhìn ra con người thật của Ngài và sẽ trung thành tin theo Ngài.

4. Trước phép lạ này, chúng ta thấy có hai phản ứng khác nhau giữa Chúa và môn đệ:

a) Phản ứng của các môn đệ là “Xin Thầy cho đám đông về, để họ ... kiếm thức ăn”: phản ứng theo lý (các môn đệ không có trách nhiệm lo cho dân chúng ăn), và mặc kệ (họ đã tự ý đi theo Chúa thì họ cũng phải tự lo thức ăn).

b) Phản ứng của Đức Giêsu là “Chính anh em hãy lo cho họ ăn”, sau đó, Đức Giêsu làm cho bánh  ra nhiều: phản ứng phát xuất từ tình thương, từ sự quan tâm tới người khác, từ tấm lòng quảng đại gánh lấy việc chẳng phải  là trách nhiệm của mình.

5. Chúa hỏi: “Anh em có mấy chiếc bánh”? Hỏi như thế là Chúa muốn các môn đệ dâng cho Người những gì mình có để Chúa biến thành sức sống chăm sóc dân chúng. Chúa muốn người tông đồ dâng cho Người  những gì mình có dù nhỏ bé hèn mọn, để Chúa biến thành  của ăn tinh thần nuôi dưỡng dân chúng.

6. Các môn đệ thưa: “Có 7 chiếc bánh và một ít cá nhỏ” (Mt 15,34).

Hằng ngày chúng ta vẫn thấy nào là trẻ em bụi đời, những kẻ bán máu, nào là những kẻ bệnh hoạn, tật nguyền. Tất cả những điều ấy làm chúng ta nhức nhối, và càng nhức nhối hơn khi nghĩ đến khả năng nhỏ bé của mình. Chúng ta như hoàn toàn bất lực trước những nhu cầu lớn lao ấy.

Thế mà với 7 chiếc bánh và một ít cá nhỏ của ai đó dâng tặng, Đức Giêsu đã làm cho hàng ngàn người được no nê. Chúa chỉ cần một đóng góp nhỏ của chúng ta để làm nên những việc lớn lao. Chẳng lẽ chúng ta nghèo đến nỗi không có gì để chia sẻ? Chẳng lẽ chúng ta không có được một lời chào, một nụ cười, một lời hỏi thăm, một lời khuyên ... Nếu chúng ta sẵn sàng trao tặng thì tất cả những khả năng nhỏ bé này, nhờ ơn Chúa, chắc chắn sẽ đem lại niềm vui, tình thương, và thậm chí cả niềm tin cho những người bất hạnh nghèo khổ (Mỗi ngày một tin vui).

7. Bài học của phép lạ hóa bánh ra nhiều là ở chỗ: Chúa dạy chúng ta  là hãy vâng lời Ngài mà thực hiện điều răn yêu thương. Yêu thương là chia sẻ, là trao ban. Khi chúng ta chia sẻ, trao ban chính là  làm cho tình yêu được nâng lên.

Tấm bánh đáng lẽ chỉ nuôi được một vài người, đã có thể nuôi cả ngàn người. Tình yêu có thể làm được chuyện mà đồng tiền, đống của không làm được. Người ta thường nghĩ  có nhiều, có dư thì mới cho. Tình yêu không đợi phải có đủ, có dư thì mới cho, nhưng còn sẵn sàng  cho cả cái chính mình đang thiếu, và thậm chí, cả khi không có gì, vẫn có thể cho, đó là chính mình: công sức, tài năng, thì giờ ...

8. Truyện: Chỉ cần biết chia sẻ

Một hôm có một người đàn ông vào nhà một bà dân làng để xin ăn. Bà này từ chối với lời nói chân thật: “Xin lỗi, hiện giờ trong nhà tôi không còn gì có thể ăn được”.

Người khách lạ nói: “Không sao, chỉ nhờ bà cho tôi mượn một nồi nấu súp thật lớn. Tôi có một viên sỏi có thể nấu thành một nồi súp đặc biệt ngon, từ trước tới giờ chưa từng có món ăn nào  ngon bằng món tôi nấu”.

Bà chủ nhà bằng lòng. Người khách lạ đổ nước vào nồi, bỏ viên sỏi vào nồi rồi bắt đầu nấu. Trong khi đó, bà chủ nhà sang nhà bà hàng xóm tiết lộ bí mật của nồi súp tuyệt vời ấy. Người hàng xóm này lại tiết lộ cho người hàng xóm khác. Chẳng bao lâu sau căn nhà đầy ắp người.

Khi nước bắt đầu sôi, người khách lạ múc lên một muỗng nếm thử: “Chà, rất ngon. Nhưng phải chi có thêm chút khoai tây nữa thì sẽ ngon tuyệt”. Một người vội vàng chạy về nhà  lấy khoai tây bỏ vào. Lát sau người khách lại nếm và lại nói: “Ngon hơn trước rồi. Phải chi có thêm một chút thịt nữa thì hết chỗ chê”. Một người khác vội chạy về lấy thịt. Cứ như thế, cứ như thế ...

Cuối cùng nồi súp chín. Người khách mời mọi người ngồi vào bàn. Mỗi người một tô. Ai nấy đều khen món súp ngon tuyệt vời. Còn người khách lạ thì vớt từ đáy nồi lên viên sỏi của mình, bỏ vào túi, rồi vui vẻ chào mọi người và ra đi.

---------------------------------

 

Suy Niệm 9: Phép lạ bánh hóa nhiều


(Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)

A. Phân tích (Hạt giống ... )

Đoạn Tin mừng hôm nay cho ta biết thêm hai loại hoạt động cứu thế của Chúa Giêsu:

a/ cc 29-31: cứu những người bệnh;

b/ cc 32-39: lo cho dân đang đói có của ăn.

Hai hoạt động trên vừa là dầu chỉ cho biết Ngài là Đấng Messia mà Isaia tiên báo Is 61,1-2), vừa là dấu chỉ tiên báo Bí tích Thánh Thể sau này.

B. Suy niệm ( ... nẩy mầm)

1. Chủ đề của bài đọc Cựu Ước, và sẽ được ứng nghiệm trong bài Tin mừng: “Chúa mời đến dự tiệc của người, và lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt”.

2. Chúa Giêsu như một khối nam châm, một chiếc phao giữa biển đời đau khổ. Ngài “ngồi đó” (câu 29), đông đảo các bệnh nhân kéo đến cùng Ngài (câu 30).

3. Tấm lòng của Chúa Giêsu: “Thầy chạnh lòng thương đám đông ... sợ họ bị xỉu dọc đường” (câu 32). Động từ “chạnh lòng” trong nguyên bản có nghĩa rất mạnh và cụ thể: cảm giác như ruột mình đứt ra từng khúc.

4. Chuyện song song ở Lc 9,10-17 còn cho chúng ta biết thêm hai cách phản ứng trước cùng một hoàn cảnh:

a/ Phản ứng của các môn đệ là “Xin Thầy cho đám đông về, để họ ... kiếm thức ăn”: phản ứng theo lý (các môn đệ không có trách nhiệm lo cho dân chúng ăn), và mặc kệ (họ đã tự ý đi theo Chúa Giêsu thì họ cũng phải tự lo thức ăn).

Thông thường thì chúng ta cũng như thế. Đây là thái độ của Cain sau khi Chúa hỏi anh về cái chết của Abel, em của anh ta.

Thái độ khép tín lòng từ tâm chảng làm cho con người được hạnh phúc chuyện dù cuộc sống của họ chẳng thiếu thốn một thứ gì.

Khi Đức Thích Ca vào thủ đô của vua Kaniska, nhà vua đã thân hành ra đón chào Ngài. Nhà vua là bạn thân của thân phụ Đức Thích Ca. Đức Thích Ca nhìn sâu vào đôi mắt của nah vua rồi chậm rãi hỏi: "xin Ngài hãy thành thực nói với tôi: Trong tất cả những thú vui mà Ngài đang có, Ngài có thực sự được một ngày hạnh phúc không?"

Vua Kaniska cúi nhìn xuống đất và giữ thinh lặng.

b/ phản ứng của Chúa Giêsu là “Chính anh em hãy lo cho họ ăn”, sau đó Chúa Giêsu làm cho bánh ra nhiều: phản ứng phát xuất từ tình thương, từ sự quan tâm tới người khác, từ tấm lòng quảng đại gánh lấy việc chẳng phải là trách nhiệm của mình.

5. Tại văn phòng của một Cố vấn Tâm lý, một thiếu phụ vừa trẻ vừa giàu giải bày tâm sự: “Bất cứ thứ gì tôi muốn thì chồng tôi đều cho cả. Tôi có đủ mọi “sự” nhưng trong lòng trống vắng vô cùng. Xin bà hãy cho tôi một lời khuyên”. Nhà Cố vấn tâm lý không trả lời, nhưng bảo cô thư ký của bà kể chuyện đời cô. Cô này kể: chồng tôi đã chết, cách nay 3 tháng con tôi cũng chết vì xe đụng. Tôi cảm thấy mất tất cả, tôi không ngủ được, tôi không muốn ăn uống, tôi không bao giờ cười. Một hôm tôi đi làm về hơi khuya. Có một chú mèo con cứ đi theo sau tôi. Trời lạnh. Tôi cũng tội nghiệp nó, nên tôi mở cửa cho nó vào nhà. Tôi pha cho nó một ly sữa. Nó kêu meo meo và cọ mình vào chân tôi. Lần đầu tiên tôi cười. Rồi tôi nghĩ: nếu việc giúp cho một chú mèo con có thể làm tôi cười, thì việc giúp cho người nào đó chắc có thể làm tôi hạnh phúc. Thế là hôm sau tôi nướng vài ổ bánh đem cho bà cụ hàng xóm đang bệnh. Mỗi ngày tôi cố làm vài việc gì đó cho những người tôi gặp được vui vẻ. Và quả thực tôi đã thấy hạnh phúc. Tôi nghiệm ra được điều này là ta sẽ không hạnh phúc khi ta chỉ chờ người khác đem lại hạnh phúc cho mình; ngược lại ta sẽ hạnh phúc thật khi ta làm cho người khác hạnh phúc”. Nghe đến đó, người thiếu phụ trẻ bật khóc. Cô đã có bất cứ thứ gì đồng tiền có thể mua được nhưng cô đã đánh mất những thứ mà đồng tiền không mua nổi. Và cô quyết định noi gương cô thư ký nọ. (Charlene Johnson).

6. “Đức Giêsu hỏi: “Anh em có mấy chiếc bánh?” Các ông nói: “Thưa có 7 chiếc bánh và một ít cá nhỏ” (Mt 15,34)

Hằng ngày tôi vẫn thấy nào là trẻ em bụi đời, những kẻ bán máu, nào là những kẻ bệnh hoạn, tật nguyền. Tất cả những điều ấy làm tôi nhức nhối, và càng nhức nhối hơn khi nghĩ đến khả năng nhỏ bé của mình. Tôi như thế hoàn toàn bất lực trước những nhu cầu lớn lao ấy. Với 7 chiếc bánh và một ít cá nhỏ của ai đó dâng tặng, Chúa Giêsu đã làm cho hàng ngàn người được no nê. Chúa chỉ cần một đóng góp nhỏ của tôi để làm nên những việc lớn lao. Chẳng lẽ tôi nghèo đến nỗi không có gì để chia xẻ. Chẳng lẽ tôi không có được một lời chào, một nụ cười, một lời hỏi thăm, một lời khuyên. Nếu tôi sẵn sàng trao tặng thì tất cả những khả năng bé nhỏ này, nhờ ơn Chúa, chắc chắn sẽ đem lại niềm vui, tình thương, và thậm chí cả niềm tin cho những người bất hạnh nghèo khổ.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho con nhận ra những tiềm năng Chúa ban, và biết sử dụng để đem lại niềm vui, tình thương và niềm tin cho mọi người (Epphata).

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 10: Biết chia sẻ hạnh phúc


(Lm Giuse Đinh Tất Quý)

1. Nếu chúng ta đặt câu chuyện này song song với Tin Mừng Lc 9, 10-17 thì chúng ta sẽ được biết thêm những chi tiết đặc biệt khác. Luca cho chúng ta biết, đứng trước cùng một hoàn cảnh nhưng phản ứng của những người trong cuộc rất khác nhau:

a/ Trước hết là phản ứng của những môn đệ. Các môn đệ phản ứng rất tiêu cực: ”Xin Thầy cho đám đông về, để họ ... kiếm thức ăn”. Đây là phản ứng theo lý (các môn đệ thấy mình chẳng có trách nhiệm gì đối với đám đông này), và họ chọn thái độ thoái thác, mặc kệ (họ đã tự ý đi theo Chúa Giêsu thì họ cũng phải tự lo thức ăn).

Thông thường thì chúng ta cũng như thế. Đây là thái độ của Cain sau khi Chúa hỏi anh về cái chết của Abel, em của anh ta.

Thái độ khép kín lòng từ tâm này rõ ràng chẳng làm cho con người được hạnh phúc mặc dù cuộc sống của họ chẳng thiếu thốn một thứ gì.

b/ Phản ứng thứ hai là phản ứng của Chúa Giêsu. Đây là phản ứng rất tích cực: “Chính anh em hãy lo cho họ ăn”, sau đó Chúa Giêsu làm cho bánh ra nhiều.

Rõ ràng đây là phản ứng phát xuất từ tình thương, từ sự quan tâm tới người khác, từ tấm lòng quảng đại gánh lấy việc chẳng phải là trách nhiệm của mình.

Tại văn phòng của một cố vấn tâm lý, một thiếu phụ vừa trẻ đẹp vừa giàu sang bước vào giải bày tâm sự:

- Bất cứ thứ gì tôi muốn thì chồng tôi đều cho tất cả. Tôi có đủ mọi “sự” nhưng lòng của tôi lúc nào cũng trống vắng vô cùng. Xin bà hãy cho tôi một lời khuyên.

Nhà cố vấn tâm lý không trả lời, nhưng bảo cô thư ký của bà kể lại chuyện đời cô cho người phư nữ này nghe. Cô thư ký kể:

- Chồng tôi đã chết cách nay 3 tháng; con tôi cũng chết vì xe đụng. Tôi cảm thấy mất tất cả. Tôi không ngủ được. Tôi không muốn ăn uống. Tôi không bao giờ cười. Rồi một hôm, tôi đi làm về hơi khuya. Một chú mèo con cứ lẽo đẽo đi theo tôi. Trời lạnh. Tôi thấy tội nghiệp nó quá, nên tôi mở cửa cho nó vào nhà. Tôi pha cho nó một ly sữa. Nó kêu meo meo và cọ mình vào chân tôi. Lần đầu tiên từ sau những thảm kịch bi đát của gia đình ... tôi cười. Rồi tôi nghĩ: nếu việc giúp cho một chú mèo con có thể làm tôi cười, thì việc giúp cho người nào đó chắc có thể làm tôi hạnh phúc. Thế là ngay ngày hôm sau, tôi nướng vài ổ bánh đem sang cho bà cụ hàng xóm đang nằm bệnh. Mỗi ngày tôi cố làm vài việc gì đó cho những người tôi gặp, được vui vẻ. Và quả thực, tôi đã tìm thấy hạnh phúc. Tôi nghiệm ra được điều này là ta sẽ không có hạnh phúc khi ta chỉ chờ người khác đem lại hạnh phúc cho mình. Ngược lại, ta sẽ hạnh phúc thật, khi ta làm cho người khác hạnh phúc”.

Nghe đến đó, người thiếu phụ trẻ bật khóc. Cô đã có bất cứ thứ gì mà đồng tiền có thể mua được nhưng cô đã đánh mất những thứ mà đồng tiền không mua nổi. Và cô quyết định noi gương cô thư ký nọ. (Charlene Johnson).

2. Đức Giêsu hỏi: “Anh em có mấy chiếc bánh?” Các ông nói: “Thưa có 7 chiếc bánh và một ít cá nhỏ” (Mt 15, 34).

Trong bài giảng số 178, thánh Augustinô có kể lại câu chuyện xảy ra lúc ngài sống tại Milanô Bắc Italia như sau:

Ngày kia có một người nghèo nhặt được một cái ví, trong đó có hai trăm đồng vừa vàng vừa bạc. Nhớ lại Lời Chúa, người đó muốn trả lại cái ví cho người chủ. Nhưng không biết tìm đâu ra người chủ. Người nghèo liền viết một tấm bảng kêu gọi người mất ví tìm đến nhà mình, để nhận lại.

Đọc được tấm bảng, người mất ví tìm đến nhà người nghèo để xin nhận lại cái ví. Sau khi tra hỏi kỹ càng, người nghèo liền trao cái ví cho người chủ. Người này cảm ơn rối rít và tặng cho người nghèo hai mươi đồng, tức là mười phần trăm số tiền có trong ví, theo như qui định thời bấy giờ. Nhưng người nghèo nhất quyết không nhận món quà. Người chủ liền trao cho ông mười đồng, nhưng ông cũng từ chối. Cuối cùng, người chủ nài nỉ ông nhận cho năm đồng, người nghèo cũng một mực không nhận.

Khổ tâm vì không thể nói lên được lòng biết ơn của mình, người chủ đành ném cái ví xuống đất rồi nói như sau: “Bởi vì ông không chịu nhận một đồng nào, nên tôi tuyên bố là tôi cũng không hề mất một đồng nào”.

Nghe thế, người nghèo đành phải nhận món quà của người giàu. Nhưng tức khắc ông đem chia sẻ tất cả cho những người nghèo khổ hơn ông và ông cảm thấy lòng mình thảnh thơi.

Byron nói: “Phương thế tốt nhất để bảo toàn hạnh phúc là biết chia sẻ hạnh phúc”.

Vua Baudouin thì cầu nguyện: ”Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đau cái đau của người khác, biết khắc khoải nỗi khắc khoải của người khác. Lạy Chúa, xin cho chúng con biết chia sẻ với người khác mọi hạnh phúc chúng con đang có”.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 11: Chúa chữa bệnh và làm phép lạ hóa bánh


(Lm. Micae Võ Thành Nhân)

Theo bài tường thuật Tin Mừng của Chúa theo thánh sử tông đồ Mátthêô hôm nay, phép lạ Chúa hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng theo Chúa nghe Chúa rao giảng lời Chúa là chuẩn bị xa cho chúng ta về việc Chúa sẽ lập bí tich Thánh Thể và hướng đến bàn tiệc nước trời mà tất cả chúng ta được vào dự sau này.

Chúa là Đấng qui tụ tất cả mọi con người chúng ta bên Chúa. Đoàn người đông đảo chúng ta ở xung quanh Chúa, bên cạnh những người may mắn thì còn có nhiều người kém may mắn như là họ bị bệnh, bị đau khổ, bị đói ăn, bị khát uống, bị bần cùng, nợ nần…bơ vơ như chiên không có người chăn. Chúa rao giảng Tin Mừng cho con người chúng ta để chúng ta có lối đi đến với Chúa, không còn bơ vơ lạc lòai giữa cảnh chợ đời nữa. Chúa chữa bệnh để con người chúng ta mạnh khỏe, sống vui, sống hạnh phúc nơi thung lũng nước mắt và rồi chúng ta dùng bữa mới ngon miệng được: “Khi ấy, Chúa Giê-su đến gần biển Ga-li-lê-a, và Người lên ngồi trên núi; dân chúng lũ lượt đến cùng Người, đem theo kẻ câm, mù, què, liệt và nhiều người khác, và đặt họ dưới chân Người. Người đã chữa lành họ. Dân chúng kinh ngạc nhìn thấy kẻ câm nói được, người què bước đi, người đui lại thấy, và họ tôn vinh Thiên Chúa Ít-ra-en” (Mt 15, 29 – 31). Chúa chính là vị lương y đầy lòng thương xót con người chúng ta.

Nhất nữa, nhờ khả năng, tài khéo léo Chúa Cha ban cho Chúa mà Chúa đã làm cho đoàn người chúng ta theo Chúa hôm nay sống trong tâm tình biết ơn, mở rộng lòng, khát khao, đợi chờ Chúa ban muôn ơn. Chúa nắm trọn tình hình này và biết rõ giờ phút này con người chúng ta cần gì, khao khát gì cho nên Chúa đã cần kíp để đáp ứng: “Còn Chúa Giê-su kêu gọi các môn đệ mà phán: Ta thương xót đoàn lũ này, vì đã ba ngày, họ ở lại với Ta, nhưng không có gì ăn. Ta không muốn cho họ về bụng đói, sợ họ té xỉu dọc đàng. Các môn đệ thưa Người: Chúng con lấy đâu đủ bánh trong hoang địa này mà cho ngần ấy dân chúng ăn no? Chúa Giê-su nói với họ: Các con có bao nhiêu chiếc bánh? Họ thưa: Có bảy chiếc, và ít con cá nhỏ. Người truyền dân chúng ngồi xuống đất. Người cầm lấy bảy chiếc bánh và mấy con cá, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ, các môn đệ đem cho dân chúng. Tất cả đều ăn no, và mảnh vụn còn lại người ta thu lượm được bảy thúng đầy. Số người đã ăn lên tới bốn ngàn, không kẻ đàn bà con nít” (Mt 15, 32 – 37).

Như vậy đoàn người chúng ta qui tụ bên Chúa hôm nay được xem như là một gia đình, có Chúa là chủ, Chúa lo lắng cho chúng ta cả hồn lẫn xác, cả tinh thần lẫn vật chất, cả đời sống đạo và cả sự sống đời. Tất cả chúng ta đang tham dự bữa tiệc do Chúa thiết đãi. Chúng ta tham dự với tình huynh đệ để rồi điều này sẽ dẫn chúng ta đến bàn tiệc thánh lễ, Chúa nuôi chúng ta bằng lời Chúa và Thánh Thể rồi mai kia chúng ta sẽ được dự tiệc vui muôn đời trên thiên quốc.

Lạy Chúa mà chúng con đang sống trong tâm tình chờ đợi trong Mùa Vọng này, xin Chúa cho chúng con luôn sống theo thánh ý của Chúa và sống yêu thương mọi người như Chúa đã dạy để khi Chúa đến, chúng con theo Chúa vào dự tiệc thiên đàng muôn đời. Amen.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 12: Sẵn sàng nghênh đón Chúa


(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)

Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Tư Tuần 1 Mùa Vọng hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa tuôn đổ ơn thần lực, để chuẩn bị tâm hồn chúng ta, hầu tới ngày Con Chúa đến xét xử trần gian, chúng ta đáng được Người cho vào dự Tiệc Thiên Quốc, và được thưởng thức Bánh Bởi Trời do chính Người thết đãi.

Dự Tiệc Thiên Quốc, và thưởng thức Bánh Bởi Trời, nếu chúng ta biết làm cho vườn nho của Chúa sinh hoa lợi, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, ngôn sứ Isaia cho thấy: Vườn nho bị phá hủy là nhà Ítraen. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu hay dùng dụ ngôn để giảng dạy dân chúng. Qua dụ ngôn đám thợ làm vườn nho xấu bụng, người ta thấy được lịch sử các mối dây liên lạc giữa chúng ta với Chúa Cha, từ tình thương săn đón đến nỗi thất vọng của Người đối với tội lỗi chúng ta, và cuối cùng là án xử chúng ta phải gánh chịu. Gốc nho này, heo rừng vào phá phách, dã thú gặm tan hoang. Lạy Chúa là Chúa Tể, xin ngó xuống mà xem, xin khơi dậy uy dũng của Ngài. Xin Chúa thương bảo vệ cây nho tay hữu Chúa đã trồng. Lạy Chúa là Chúa Tể, tự cõi trời, xin ngó xuống mà xem, xin Ngài thăm nom vườn nho cũ.

Dự Tiệc Thiên Quốc, và thưởng thức Bánh Bởi Trời, nếu ta tuân giữ những điều Chúa truyền dạy trong khi Người ẩn mặt, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Bênađô nói: Chúng ta biết có ba lần Chúa đến. Lần thứ ba ở giữa hai lần kia… Lần đầu, Người đến mang xác phàm và phận mỏng manh; lần giữa, Người đến với thần khí và sức mạnh; còn lần cuối, Người đến trong vinh quang và oai hùng… Kìa Đức Chúa quang lâm hùng dũng, tay nắm trọn chủ quyền. Người thăm viếng dân Người và ban tặng bình an, ban sự sống muôn đời.

Dự Tiệc Thiên Quốc, và thưởng thức Bánh Bởi Trời, nếu chúng ta giữ vững lòng tin tưởng cậy trông vào lời hứa của Chúa, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, ngôn sứ Isaia cho thấy: Đức Chúa sẽ đãi tiệc và sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 22, vịnh gia đã cho thấy: Này tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên. Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Kìa Chúa đến cứu độ dân Người; phúc thay ai sẵn sàng nghênh đón Chúa. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu chữa khỏi nhiều người và hóa bánh ra nhiều. Chúa đến cứu độ chúng ta, nếu chúng ta sẵn sàng nghênh đón Chúa, chúng ta sẽ được Chúa chữa lành và nuôi dưỡng. Nếu chúng ta yêu mến Chúa, thì sẽ giữ lời Chúa, và Chúa sẽ ở với chúng ta. Hạnh phúc thay kẻ tuân giữ lời Chúa, ước gì lời ấy thâm nhập tâm can chúng ta, thấm nhuần tình cảm và tác phong của chúng ta. Chúng ta hãy lấy điều thiện làm thức ăn, và tâm hồn chúng ta sẽ được sướng vui no thoả. Chúng ta đừng quên ăn lương thực của chúng ta, kẻo lòng chúng ta ra èo uột, nhưng, hãy nuôi hồn chúng ta bằng thức ăn mỡ màng béo bổ. Nếu chúng ta giữ lời Chúa như thế, thì chắc chắn, chúng ta sẽ được lời Chúa giữ gìn. Chúa Con sẽ cùng Chúa Cha đến với chúng ta. Đấng đổi mới Giêrusalem sẽ đến và Người sẽ làm cho mọi sự nên mới: Cũng như chúng ta đã mang hình ảnh kẻ bởi đất mà ra, thì, chúng ta cũng sẽ được mang hình ảnh Đấng từ trời mà đến. Cũng như, Ađam cũ đã tràn ngập toàn diện con người chúng ta và chiếm hữu tất cả, thì, Đức Kitô, Đấng đã dựng nên tất cả chúng ta, đã cứu chuộc chúng ta, cũng phải chiếm hữu toàn diện con người chúng ta như thế. Ước gì Chúa tuôn đổ ơn thần lực, để chuẩn bị tâm hồn chúng ta, hầu tới ngày Con Chúa đến xét xử trần gian, chúng ta đáng được Người cho vào dự Tiệc Thiên Quốc, và được thưởng thức Bánh Bởi Trời do chính Người thết đãi. Ước gì được như thế!

---------------------------------- 

 

Thứ 5:

Người khôn ngoan thực sự.
05/12 – Thứ Năm đầu tháng, tuần 1 mùa vọng.
"Ai thực hiện ý Chúa Cha, sẽ được vào nước trời".

 

LỜI CHÚA: Mt 7, 21. 24-27


Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Không phải tất cả những ai nói với Ta, 'Lạy Chúa, lạy Chúa!', là được vào nước trời, nhưng chỉ có người thực hiện ý Cha Ta ở trên trời, kẻ ấy mới được vào nước trời.
"Vậy ai nghe những lời Ta nói đây và đem ra thực hành, thì giống như người khôn ngoan, đã xây nhà mình trên đá; mưa có đổ xuống, nước có tràn vào, gió bão có thổi đến và lùa vào nhà đó, nhà vẫn không sập, vì nhà ấy được xây trên nền đá.
Và hễ ai nghe những lời Ta nói đây mà không đem ra thực hành, thì giống như người ngu đần, xây nhà mình trên cát, khi mưa sa nước lũ, gió thổi và lùa vào nhà đó, nhà sẽ sập và sẽ trở nên đống hoang tàn".

---------------------------------

 

Suy Niệm 1: Xây trên nền đá


(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ. )

Sau khi một cơn bão đi qua thành phố,
người ta ngạc nhiên khi thấy những căn nhà sụp đổ
lại là những công trình mới xây chưa được bao lâu.
Còn những công trình xưa lại hiên ngang đứng vững.
Cũng có khi sau một cơn dông,
một cây còn xanh bỗng nhiên ngã đổ.
Người ta lại gần và thấy ruột của cây đã bị mục từ lâu.
Dông bão làm lộ ra sự thật, vén mở chân tướng,
vì khi biển lặng, ai cũng có thể là hoa tiêu.
Đời con người tránh sao khỏi những dông tố.
Ai cũng mong xây căn nhà đời mình cho kiên cố vững vàng,
đứng được trước bão táp phong ba.
Nhà càng cao, nền càng phải chắc chắn.
Xây trên cát hay trên đá cho thấy ai dại, ai khôn.
Thầy Giêsu dạy các môn đệ biết thế nào là xây đời mình trên đá.
Đó là đem ra thực hành những lời Thầy dạy
mà họ đang nghe trong Bài Giảng trên núi (Mt 5-7).
Sống lời Thầy dạy là chọn đi vào con đường hẹp, ít người đi,
với những thách đố và thiệt thòi, những hiểm nguy và nhục nhã.
Chỉ ai dám sống như thế mới đứng vững khi dông bão bất ngờ ập tới.
Lúc ấy người bị coi là ngu vì sống lời Thầy, mới lộ ra là người khôn.
Vì lời của Thầy Giêsu diễn tả ý muốn của Cha trên trời,
nên thi hành lời Thầy cũng là thi hành ý muốn của Cha.
Đây là điều kiện cần thiết để được vào Nước Trời,
vì tuyên xưng trên môi Thầy Giêsu là Chúa, vẫn chưa đủ (c. 21).
Chúng ta đang sống trong Mùa Vọng, mùa ngóng đợi Nước Chúa đến.
Đây là thời gian thuận tiện để suy nghĩ về cái nền của căn nhà mình,
cái nền của những công trình ta đang đầu tư xây dựng.
Có khi chúng ta thấy nó sao quá mong manh.
Chúng ta không đợi đến lúc dông bão mới gia cố nền móng.
Căn nhà của giáo xứ, giáo phận hay Giáo Hội cũng vậy.
Xây nhà cao tầng mà nền không chắc thì nhà dễ nghiêng.
Đối với ngôn sứ Isaia,
“Chính Đức Chúa là Đá Tảng bền vững ngàn năm” (Is 26, 4).
Tin vào Ngài, ta sẽ được bảo vệ chở che và thêm mạnh sức.
Ngoài Đức Chúa, chẳng có gì vĩnh hằng.
Cuộc sống hôm nay có vẻ ổn định hơn xưa.
Thật ra số phận con người hôm nay bấp bênh hơn nhiều.
Chỉ một sai sót nhỏ cũng kéo theo một cuộc khủng hoảng toàn cầu.
Chỉ một tranh chấp nhỏ cũng có thể làm bùng lên một cuộc chiến.
Hãy xây tương lai của xã hội và Giáo Hội trên Đá Tảng.
Hãy xây những dự tính của đời mình trên nền đá.
Nhờ đó những công trình của chúng ta trở thành vĩnh cửu.
 
Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,
con đường dài nhất là con đường từ tai đến tay.
Chúng con thường xây nhà trên cát,
vì chỉ biết thích thú nghe Lời Chúa dạy,
nhưng lại không dám đem ra thực hành.
Chính vì thế
Lời Chúa chẳng kết trái nơi chúng con.
Xin cho chúng con
đừng hời hợt khi nghe Lời Chúa,
đừng để nỗi đam mê làm Lời Chúa trở nên xa lạ.
Xin giúp chúng con dọn dẹp mảnh đất đời mình,
để hạt giống Lời Chúa được tự do tăng truởng.
Ước gì ngôi nhà đời chúng con
được xây trên nền tảng vững chắc,
đó là Lời Chúa,
Lời chi phối toàn bộ cuộc sống chúng con.
 
---------------------------------

 

Suy Niệm 2: Vương quốc của Chúa


(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Chúa sẽ đến thiết lập vương quốc của Người. Chúa sẽ mở cửa đón nhận thần dân vào trong nước của Người. Nhưng để được tuyển chọn phải trải qua thử thách. Thử thách khốc liệt giống như những trận mưa sa bão táp, cuốn đi hết những gì giả trá, phù phiếm, hời hợt bên ngoài. Chỉ những gì có nền tảng vững chắc mới tồn tại.

Hôm nay Chúa cho biết nền tảng vững chắc chính là thực hành Lời Chúa. Bình thường mọi người đều kính mến Chúa như nhau. Ai cũng thưa với Chúa: Lạy Chúa, lạy Chúa, con yêu mến Chúa. Nhưng trải qua khó khăn thử thách, qua bão táp mưa sa, mọi sự mới phân rõ trắng đen, mới tách bạch thực hư, mới hiện rõ đá vàng. Người nghe Lời Chúa mà không thực hành giống như người xây nhà trên cát. Chỉ có bề mặt mà không có bề sâu. Chỉ có vẻ đẹp bên ngoài mà không có vẻ đẹp bên trong. Chỉ có phần trên mà không có nền tảng. Khi gặp mưa sa bão táp, sẽ đổ nát tan tành và sóng nước cuốn đi mất tăm mất tích.

Người nghe Lời Chúa và đem ra thực hành giống như người xây nhà trên đá, có nền móng vững chắc, như cây cổ thụ đâm rễ sâu trong lòng đất, dù mưa sa bão tố đến, dù những khó khăn thử thách dập vùi, vẫn đứng vững kiên cường.

Tiên tri Isaia cho biết những người xây nhà trên đá là những người đặt niềm tin tưởng nơi Chúa. Còn những người xây nhà trên cát là những người tin vào thế lực phàm trần. Thế lực trần gian tưởng vững chắc nhưng sẽ bị Thiên Chúa lật nhào, thành trì trần gian tưởng kiên cố nhưng sẽ bị Thiên Chúa triệt hạ. Còn những ai tin vào Thiên Chúa, sống “công chính và trọn niềm trung nghĩa” với Chúa, sẽ được Chúa xây dựng cho “thành trong lũy ngoài che chở” cho họ. Họ sẽ kiên vững vì “Đức Chúa là Núi Đá bền vững” che chở họ đến muốn đời. Đó cũng là giáo huấn của Thánh vịnh đáp ca: “Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời, thì hơn tin cậy ở người trần gian”.

Mùa Vọng chính là mùa cho tôi thực hành Lời Chúa dậy. Âm thầm nhưng kiên cường. Như người thợ xây hì hục đào móng, âm thầm xây gạch. Như người nông phu thức khuya dậy sớm, âm thầm gieo hạt, âm thầm cày xới. Để tôi thực sự được gặp Chúa. Được biết đến niềm vui hoàn thành ngôi nhà đẹp đẽ vững chắc. Được như người nông phu tưng bừng rộn rã trong mùa gặt trĩu nặng kết quả.

---------------------------------

 

Suy Niệm 3: Người Khôn Ngoan Thi Hành Ý Chúa


Ở bất cứ một xã hội nào, một quốc gia nào, một thời đại nào, người ta vẫn trọng chữ "Tín", nghĩa là tin tưởng nhau, đặt trọn niềm tin ở nhau. Ai cũng muốn sống chân thật, không lừa dối, phỉnh phờ ... Khi tìm bạn để kết nghĩa, ai cũng muốn sống với nhau bằng trái tim chân thành. Không lạ gì khi người ta có quan niệm: "Một túp lều tranh, hai quả tim vàng". Người ta sợ nhất những người ăn nói dẻo miệng, ăn nói ngọt ngào, vì ai cũng cho là "mật ngọt chết ruồi". Những người có khoa ăn nói dễ thành công khi ngoại giao tiếp xúc với bên ngoài nhưng không mấy ai kết thân trong tình nghĩa.

Và hôm nay Chúa Giêsu cho chúng ta một nhận xét: "Không phải những ai nói Lạy Chúa! Lạy Chúa là được vào Nước Trời nhưng chỉ có những người thực hiện ý Cha Ta ở trên trời". Chúa Giêsu cũng thường lên án những người Do Thái bấy giờ: "Dân này thờ Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì xa Ta".

Chúng ta đi tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật để thờ phượng Thiên Chúa, thế nhưng chúng ta đã không hẳn hoàn toàn nhớ đến Chúa. Chúng ta vẫn để ý những câu chuyện đâu đâu, từ nhà đến phố chợ, từ công sở cho đến những việc giải trí. Chúng ta không tìm hiểu Thánh Lễ là gì đối với những phần chính yếu trong Thánh Lễ mang một ý nghĩa nào. Qua các phần đó, Chúa Giêsu muốn nói gì với chúng ta qua Giáo Hội. Chúng ta giữ đạo chứ chúng ta chưa sống đạo: giữ đạo tức là chúng ta giữ các giới răn của Chúa như người thanh niên trong Tin Mừng thuật lại rằng: "Khi anh đến xin cùng Chúa Giêsu nhân lành: Lạy Thầy, con phải làm gì để được sống đời đời. Chúa Giêsu đã bảo anh ta: Hãy thờ phượng Thiên Chúa, hãy thảo kính cha mẹ, chớ ngoại tình, chớ gian tham, chớ làm chứng dối ... Người thanh niên đó thưa: Lạy Thầy, những điều ấy tôi đã giữ từ thuở nhỏ. Chúa Giêsu liền nói với anh: Vậy anh hãy về bán tất cả của cải rồi đến đây theo Ta. Vì nhiều của cải nên anh không thể bỏ mà đi theo Ngài được". Như vậy anh thanh niên đó đã giữ trọn lề luật cho chính bản thân mình mà thôi, còn đối với những người khác, anh vẫn chưa thực hiện được việc yêu người.

Chúng ta cũng thế, chúng ta có thể giữ trọn Mười Ðiều Răn của Chúa, vẫn không trộm cắp, không ngoại tình, vẫn đi nhà thờ theo luật Chúa dạy. Thế nhưng người bên cạnh tôi không có gì ăn tối, tôi đang dư phần cơm nguội nhưng vẫn điềm nhiên như chẳng liên can gì đến tôi. Trên đường đi đến nhà thờ dự thánh lễ là nguồn mạch yêu thương, thế nhưng có người đang bị trúng gió ngã bên đường, liếc mắt qua, nhìn lại không thấy ai tôi cũng nhanh chân bước vội vì sợ trễ thánh lễ. Vào nhà thờ, người vào trước ngồi trên, chúng ta vẫn cứ ngồi cuối nhà thờ mặc cho ai kêu gọi lên trên. Có lẽ chúng ta sợ Chúa phạt nên ngồi xa xa chăng.

Tình yêu Thiên Chúa cơ mà. Chúng ta sống đạo, sống luật Chúa trong tình yêu thương. Thiên Chúa thực sự và gần anh chị em trong tâm tình con một Cha chung trên trời, khi chúng ta cùng nhau đọc lời kinh Lạy Cha, có như thế chúng ta mới thực sự sống đạo, có như thế chúng ta mới xây nhà trên đá được. Dù sóng gió, bão táp của cuộc đời, ngôi nhà sống đạo của chúng ta vẫn vững bền, dù sóng gió có lùa vào thì cũng không thể làm sập nổi, dù có mưa sa nước lũ, căn nhà đức tin của chúng ta cũng không hề hấn gì, vì được bao bọc bằng tình thương quan phòng của Thiên Chúa che chở. Ðó là người khôn ngoan mà Chúa Giêsu đã nói hôm nay: "Ai nghe và giữ lời Ta nói đây mà đem ra thực hành thì giống như người khôn ngoan xây nhà trên đá". Nghe Lời Chúa và đem ra thực hành, đó là một cần thiết cho mọi Kitô hữu. Và Chúa Giêsu còn quả quyết thêm: "Ai nghe và giữ lời Ta thì là Mẹ Ta, là anh em Ta".

Bàn Tiệc Lời Chúa và Bàn Tiệc Mình Máu Thánh Chúa quan trọng như nhau. Trong Thánh Lễ nhắc nhở cho chúng ta hai phần quan trọng nhất là Bàn Tiệc Lời Chúa, Bàn Tiệc Mình Máu Chúa. Lời Chúa là của ăn bổ dưỡng tinh thần cho chúng ta, Mình Chúa là của ăn thần linh nuôi dưỡng linh hồn chúng ta. Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta ý thức được điều đó.

Lạy Chúa, xin cho chúng con chuẩn bị mừng Chúa đến trong tâm tình yêu mến và ý thức cảm nghiệm được thức ăn bổ dưỡng tâm linh cho chúng con, đó là thức ăn Lời Chúa và Mình Máu Chúa. Amen.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 4: Thực thi chân lý


R. Khrisna, nhà thần bí Ấn độ, có kể câu chuyện như sau:

Một ông vua nọ có thói quen mỗi ngày nghe một đoạn trong kinh Bagayad Gita. Người phụ trách việc đọc kinh này là một nhà sự đạo đức, thông thái. Cứ mỗi lần đọc xong một đoạn kinh, ông lại dùng kiến thức uyên bác của mình để giải thích cho nhà vua nghe, và ngày nào ông cũng đặt câu hỏi: “Bệ hạ có hiểu những gì thần vừa dẫn giải không?” Nhưng lần nào nhà vua cũng chỉ trả lời: “Khanh nên hỏi điều đó với khanh trước đã”.

Dĩ nhiên, thái độ của vua làm cho nhà sư buồn không ít. Ngày nào ông cũng miệt mài tra cứu cốt để giúp nhà vua hiểu được lời kinh trong sách thánh của Ấn giáo. Nhưng mỗi ngày ông có cảm tưởng như mình đang làm một công việc dã tràng.

Ngày nọ, giữa lúc đang định tâm, ông bỗng được giác ngộ và nhận ra tất cả mọi sự đều là hão huyền. Thế là nhà sự quyết từ bỏ mọi sự và lên đường bắt đầu cuộc sống của một người hành khất. Trước khi ra đi, ông nói với nhà vua: “Tâu bệ hạ, thế là cuối cùng hạ thần đã hiểu được”.

Sự giác ngộ của nhà sư trên đây có thể gợi lên cho chúng ta lời nhắn nhủ của thánh Gioan Tông đồ. Trong thư thứ nhất, ngài lặp đi lặp lại nhiều lần: “Chúng ta phải thực thi chân lý, chúng ta phải sống chân lý. Ai thực thi chân lý sẽ đến với ánh sáng”. Giác ngộ đích thực, hiểu biết chân lý chính là thực thi chân lý.

Giáo huấn của thánh Gioan chính là âm vang của lời Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay: “Không phải những ai nói: Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời, nhưng chỉ những ai thực thi ý Cha Ta trên trời, những người ấy mới được vào Nước Trời”.

Chúa Giêsu không bao giờ dạy điều gì mà chính Ngài không sống và thực thi trước. Cả cuộc sống Ngài là một tiếng xin vâng với thánh ý Thiên Chúa, cả cuộc sống Ngài là một thể hiện lời Ngài giảng dạy.

Ước gì lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta về sứ mệnh của người Kitô hữu, đó là làm chứng cho Đức Kitô, không những bằng những tuyên xưng hay biểu dương bên ngoài, mà bằng cả cuộc sống của chúng ta.

---------------------------------

 

Suy Niệm 5: Giấc mơ tồn tại vững chắc


 “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa! là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi”. (Mt. 7, 21)

Một Lời

Thiên Chúa khác với các thần tượng ở sự tồn tại vững chắc muôn đời của Thiên Chúa, còn các thần tượng khác thì chóng qua, chóng hết. Lời Thiên Chúa thì kiên cố vì Ngài đã thực hiện những việc kỳ diệu. Hành động của Ngài mạnh mẽ vô song đã đánh bại quân thù. Sự trung tín của Ngài được thể hiện mãi mãi. Tình yêu của Ngài tồn tại đến muôn đời.

Tin mừng hôm nay nói cho chúng ta biết sự tồn tại vững chắc của Thiên Chúa như tảng đá cho chúng ta xây nhà. Ngài quả quyết ai xây nhà trên tảng đá này sẽ được hoàn toàn bình an vững chắc. Tảng đá đó chính là Đức Kitô.

Trong Xã Hội Chúng Ta

Xã hội tân tiến của chúng ta luôn luôn phô trương quảng cáo mọi cái đều vững chắc lâu bền. Những công ty quảng cáo đều nhấn mạnh việc thành lập đã nhiều năm. Người ta tuyên bố một công ty bảo hiểm vững chắc như “Hòn đảo Gibraltar” trên Đại tây dương ngoài biển khơi Châu Phi. Trái lại, chính những công ty đó lại sụp đổ khi nền kinh tế bị khủng hoảng. Thế mà chúng ta vẫn bị quảng cáo lừa dối, dù chúng ta biết rõ những loại đó chỉ tồn tại được vài năm như máy giặt, máy sấy, ô tô.

Còn chúng ta, chúng ta tưởng mình đang an toàn khi có việc làm vững chắc bảo đảm, khi mọi liên hệ của chúng ta với bà con thường gần gũi nhau. Chúng ta còn đề phòng cho tương lai mình được vững chắc bằng số tiền dự trữ gửi vào ngân hàng hay cho vào quỹ hưu bổng.

Thế Nào Mới Là Tồn Tại Vững Chắc Thật

Hôm nay Tin Mừng dạy ta biết thế nào là tồn tại vững chắc thật. Nếu người ta chỉ nói, chỉ hô hào, chỉ đọc kinh, chỉ la ó phản đối bất công, chỉ tố cáo giả hình thì người ta đã xây nhà trên cát. Chỉ nói suông không đủ làm nền móng vững chắc cho đời sống. Phải hành động, phải sống thực với lời cầu nguyện, phải sống công bằng và thực thi bác ái. Phải thực hiện như thế mới thực sự xây nhà trên đá.

Vậy hôm nay tôi sẽ làm gì?

C. G

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 6: Sống và thi hành


Cuộc đời môn đệ là một cuộc đời đi theo Đức Giêsu. Tuy nhiên không chỉ có cái ”mác”, mà còn phải có cái ”cốt”; cái ”chất” của người môn đệ nữa. Người môn sinh hoàn hảo là người để cho Lời Chúa soi dọi, thấm đượm vào từng hành vi, cử chỉ ... , đồng thời phải là người trung thành và thi hành theo giáo huấn của Đức Giêsu cách cụ thể chứ không phải trên giấy tờ, sách vở ... .

Hôm nay, Đức Giêsu nhấn mạnh đến căn tính của người môn đệ và mời gọi phải sống triệt để thì mới được chung hưởng phần phúc Nước Trời với Ngài, đó là: "Không phải tất cả những ai nói với Ta, ‘lạy Chúa, lạy Chúa!’, là được vào Nước Trời, nhưng chỉ có người thực hiện ý Cha Ta ở trên trời, kẻ ấy mới được vào Nước Trời”. Như vậy, người được tuyển chọn chính là những người dám sống những đòi hỏi của Tin Mừng cách thực tế chứ không phải chỉ trên đầu môi chót lưỡi. Không chỉ hiểu mà còn phải sống và thi hành những gì đã cảm nghiệm.

Điều đó đã được Đức Giêsu vạch ra trong bài giảng trên núi. Thi hành như thế là người khôn ngoan, biết lo cho cuộc sống mai hậu, biết xây đời mình trên đá chứ không phải trên cát.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta cần tránh lối sống giả hình, đạo đức hão huyền. Không thể sống mãi kiểu đạo đức hình thức bên ngoài. Những chuyện bên lề đó chỉ là khởi điểm để dẫn ta đi đến cốt lõi của đạo. Nếu không sống cốt lõi của nó, thì mãi mãi chúng ta chỉ là kẻ dựa dẫm, lăng xăng mà thôi.

Hãy tránh cho xa những thói giả hình như: phô trương, hình thức; quá lo lắng đến tiếng tăm bề ngoài; hay xét đoán người khác trong sự nông nổi, nhẹ nhạ ... .

Cần phải thi hành cho được những đức tính tốt như: phục vụ anh chị em cách vô vị lợi; chia sẻ cơm bánh cho người nghèo cách quảng đại; khiêm tốn khi thành công; vững tin khi thất bại và phó thác trong mọi hoàn cảnh; đồng thời, làm mọi việc là vì vinh danh Chúa chứ không phải vinh thân chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa tha thứ cho chúng con vì những lần chúng con hời hợt mà bỏ qua tinh thần của Chúa là thi hành và yêu mến luật Chúa. Xin cho chúng con biết sống thật tình với Chúa và anh chị em trong cuộc đời và nhất là trong Mùa Vọng này. Amen.

Ngọc Biển, SSP

---------------------------------

 

Suy Niệm 7: Thi hành Ý Cha


(TGM Giuse Nguyễn Năng)

Sứ điệp: Muốn được vào Nước Trời, tuyên xưng ngoài môi miệng không đủ, nghe và tin Lời Chúa không đủ, còn phải đem Lời Chúa ra thực hành.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, con là người tin Chúa, con mang danh hiệu là Kitô hữu, là môn đệ Chúa. Đã bao nhiêu lần con được nghe Lời Chúa. Đã bao nhiêu lần con đọc kinh Tin kính. Đã bao nhiêu lần con kêu cầu Danh Chúa. Điều đó thật là dễ, Chúa ơi. Tuyên bố mình là kẻ có đạo, tuyên xưng Danh Chúa, đọc hoài câu kinh, nghe hoài câu Phúc âm, đôi lúc cũng thật là khó, như hoàn cảnh các thánh tử đạo. Còn ngoài ra điều đó quá dễ, vì con nghĩ rằng nó không đòi hỏi nhiều cố gắng, và chẳng ảnh hưởng gì tới cuộc sống con. Những mẫu kinh có sẵn, con cứ đọc chẳng cần suy nghĩ, chẳng cần thay đổi cuộc sống. Lạy Chúa, quá dễ. Và điều đó ru ngủ lương tâm con và làm con ảo tưởng tự mãn.

Còn việc thực hành Lời Chúa, thì quả thực là khó. Lạy Chúa, bởi vì nó đòi hỏi con phải thay đổi cuộc sống, buộc con phải bỏ mình, hy sinh, phải từ bỏ ý riêng, tập quán xấu, những đam mê lầm lạc. Điều đó thật là khó.

Chính vì con thích dễ dãi và ngại khó khăn nên con đã trở thành kẻ khờ dại xây nhà trên cát. Lạy Chúa, con không muốn xây dựng đời mình trên sự ảo tưởng, trên sự tự mãn, để rồi cuối cùng phải chứng kiến đời mình sụp đổ tiêu tan.

Nhưng con muốn đời mình vững vàng trung kiên nhờ đem Lời Chúa thực hành. Con muốn sống Lời Chúa. Xin Chúa ban cho con lòng can đảm để sống Lời Chúa, dù phải hy sinh, dù phải từ bỏ, dù phải sống khác người, dù phải lội ngược dòng. Như vậy, dẫu muôn ngàn cám dỗ khổ đau, thánh giá, hoạn nạn tấn công đời con, như phong ba bão táp trút lên căn nhà, con vẫn đứng vững trên Đá Tảng. Lạy Chúa, xin cho con sự trung tín và khôn ngoan. Amen.

Ghi nhớ: ”Ai thực hiện ý Chúa Cha, sẽ được vào nước trời”.

---------------------------------

 

Suy Niệm 8: Dựa trên chính Đức Kitô là đá tảng


(Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)

Câu chuyện

Đầu tháng 5/2009, cơn bão Nargis đổ bộ vào châu thổ Irrawaddy của Miến Điện (Myanma) với những cơn lốc xoáy làm nước dâng lên sau bão với mức 3,5 m. Nước tràn vào khu vực đồng bằng làm cho hàng triệu ngôi nhà sụp đổ và gây ra cái chết cho 78.000 người.

Theo Đài BBC, ngày 19 tháng 5/2009, ý kiến của các chuyên gia cho rằng: Châu thổ Irrawaddy của Miến Điện có nhiều nét tương đồng với đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá dễ bị thiệt hại nặng nề trong trường hợp các cơn bão mạnh cấp 14 đổ bộ vào, châu thổ rộng lớn này đa số là nhà cửa sơ sài, tạm bợ với những mái tranh, vách đất, không có nhiều các công trình kiên cố như đổ móng, cột bê tông…

Chúng ta muốn xây nhà thì phải có nền móng, cột bê tông để nhà thêm vững chắc, trước phong ba bão tố, lụt lội có thể trụ vững... Cho nên ông bà ta có dạy: “Nhà có nền ắt phải vững” (Tục ngữ).

 Lời khuyên của cha ông về nhà xây trên nền vững đưa chúng ta về với bối cảnh Tin Mừng Mt 7,21-27: “Nhà xây trên nền đá và nhà xây trên cát”. Nhà ở đây là tượng trưng cho cuộc đời, tượng trưng cho ý nghĩa nơi nương thân cả cuộc sống trong Chúa. Nếu như ngôi nhà vật chất cần được xây dựng trên nền móng bê tông bền vững như đá tảng để có thể đứng vững trước phong ba bão tố lũ lụt…, thì cuộc sống nhân sinh cũng phải được xây dựng trên nền móng đá vững chắc, nền móng đó là niềm tin, tin vào chính Thiên Chúa. Niềm tin vào Ngài là lắng nghe lời Ngài và đem ra thực hành như Chúa Giêsu đã dạy: “Ai nghe những lời Ta nói đây và đem ra thực hành, thì giống như người khôn ngoan, đã xây nhà mình trên đá; mưa có đổ xuống, nước có tràn vào, gió bão có thổi đến và lùa vào nhà đó, nhà vẫn không sập, vì nhà ấy được xây trên nền đá” (Mt 7,24-25). Nghe lời Thầy đem ra thực hành là tạo nền móng vững chắc cho cuộc sống, vì thế Chúa Giêsu đã nói: “Phúc cho ai nghe lời Chúa và đem ra thực hành” (Lc 11,28).

Tin Mừng nhắc nhớ chúng ta hãy tìm lại Đức Kitô là nơi nương náu, là nền móng để chúng ta xây cuộc đời như Thánh Vịnh đã cất tiếng ca nguyện: “Xin Chúa trở thành núi đá cho con trú ẩn” (Tv 30,3b). Xây nhà của kiếp nhân sinh trên đá là khi nghe và sống Lời Chúa, chúng ta hãnh diện xác tín vào Đức Kitô - Đá tảng. Với niềm tin mà chúng ta sống khởi sắc vui tươi. Dựa trên chính Đức Kitô không thể hoài nghi là tiến bước hy vọng trong cuộc đời, không hề thất vọng trước những chờ đợi nơi Thiên Chúa

Xây cuộc sống của kiếp nhân sinh trên đá tảng đó là đứng vững trong đức tin. Tất cả những hoài nghi, ngập ngừng của niềm tin đặt vững vàng trên Đá tảng - Đức Kitô - “Người là  đá tảng vững vàng, ở bên Thiên Chúa tôi hằng ẩn thân” (Tv 62,8).

Chính vì thế, chúng ta đặt nền móng đời của kiếp nhân sinh nơi Đức Kitô như Thánh Phaolô đã dạy: “Vì không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Ðức Giêsu Kitô” (1Cr 3,11).

Ý lực sống

“Duy Người là Đá tảng, là ơn cứu độ của tôi,

là thành luỹ chở che: tôi chẳng hề nao núng” (Tv 62,3.7).

---------------------------------

 

Suy Niệm 9: Phải thực hành Lời Chúa


(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

1. Đức Giêsu đưa ra nguyên tắc để đo lường sự hoàn thiện của người môn đệ để xứng đáng vào Nước Trời, đó là “Thi hành ý muốn của Thiên Chúa”. Điều này chứng tỏ Đức Giêsu đòi hỏi phải sống, phải làm, phải thực hiện trong đời sống, chứ không chỉ biết, chỉ hiểu và nói suông ngoài môi miệng: lời nói phải đi đôi với việc làm.

2. Muốn thực thi Lời Chúa, trước hết phải yêu mến Lời Chúa, lắng nghe, học hỏi và suy niệm: nghe Lời Chúa với tấm lòng ngưỡng mộ và đơn sơ như đám dân lành đơn sơ, chất phác theo Chúa khắp nẻo đường Palestina. Học hỏi Lời Chúa như Maria ở Bêtania, ngồi bên chân Chúa, lắng nghe để múc lấy nguồn an vui và ơn soi sáng. Suy niệm Lời Chúa như Đức Mẹ đã kính cẩn ghi nhớ và suy nghĩ trong lòng để biết thánh ý của Thiên Chúa.

3. Thứ đến phải hiểu Lời Chúa, càng ăn sâu vào lòng, Lời Chúa càng phát triển và càng thêm sức mạnh cho tâm hồn. Rồi phải tin Lời Chúa, vì Lời Chúa là kho tàng sự thật, trong đó có nhiều mầu nhiệm vượt trên và ngoài lý trí cũng như  sự hiểu biết của con người. Cho nên, cần phải có lòng tin mới chấp nhận được những mầu nhiệm ấy.

4. Sau hết, không những phải lắng nghe, phải hiểu, phải tin mà còn phải thực hành Lời Chúa. Bởi vì Lời Chúa, dù có tốt đẹp và quí giá đến đâu mà không thực hành thì cũng vô dụng. Đức Giêsu cho chúng ta thấy điều đó qua hình ảnh  của hai người xây nhà mà Chúa gọi là người khôn và người dại.

5. Nhằm diễn tả giá trị của việc thực thi Lời Chúa để được vào Nước Trời, và để được gọi là hoàn thiện, Đức Giêsu đã ví  với việc xây nhà. Xây dựng nhà cửa là một công việc hết sức quan trọng và được tượng trưng cho việc xây dựng cuộc đời. Điều này đã được thánh Gioan diễn tả: “Và thế gian đang qua đi cùng với đam mê của nó, còn kẻ làm theo ý Thiên Chúa thì lưu tồn vạn đại” (1Ga 2,17).

Như vậy, Đức Giêsu có ý nói với thính giả vừa nghe bài giảng trên núi của Chúa để xác định rằng người môn đệ nghe Lời Chúa giảng mà đem ra thực hành, thì xứng đáng là người khôn ngoan, biết lo cho đời sống hạnh phúc và phải coi những người như vậy là người khôn khéo, biết đặt nền móng vững chắc mà xây dựng nhà, dù mưa to gió lớn  không làm đổ được tòa nhà thiêng liêng ấy, vì xây trên sự thực hành giáo huấn của Chúa. Nếu chỉ nghe mà không tuân giữ thì người đó là kẻ dại dột, như kẻ xây dựng nhà cửa trên bãi cát, khi có mưa to gió lớn, tức là khi gặp thử thách, thì tòa nhà thiêng liêng của họ bị sụp đổ (Mỗi ngày một tin vui)

6. Trong cuộc sống phải làm sao cho tri và hành phải đi đôi với nhau như người ta thường nói: tri hành đồng nhất. Ta biết là thuốc tốt cho sức khỏe, nhưng không chịu uống thì cũng chẳng ích lợi gì, dự án có tuyệt vời mà không thực hiện trong thực tế thì cũng kể bằng không. Lúc nào cũng hứa mai tôi sẽ nên thánh, mốt tôi sẽ giữ đạo ... Nhưng chẳng bao giờ thực hành thì cũng vô ích.

7. Bài Tin mừng hôm nay dạy cho ta biết thế nào là tồn tại vững chắc thật. Nếu người ta chỉ nói, chỉ hô hào, chỉ đọc kinh, chỉ la ó phản đối bất công, chỉ tố cáo giả hình thì người ta đã xây nhà trên cát. Chỉ nói xuông không đủ làm nền móng vững chắc cho đời sống. Phải hành động, phải sống thực với lời cầu nguyện, phải sống công bằng và thực thi bác ái. Phải thực hiện như thế mới thực sự xây nhà trên đá.

8. Truyện: Giác ngộ đích thực.

R. Khrisna, nhà thần bí Ấn độ có kể câu chuyện như sau: một ông vua nọ có thói quen mỗi ngày nghe một đoạn trong kinh Bagavad Gita. Người phụ trách việc đọc kinh này là một nhà sư đạo đức, thông thái. Cứ mỗi lần đọc xong một đoạn kinh, ông lại dùng đến kiến thức uyên bác của mình để giải thích cho vua nghe. Và ngày nào ông cũng đặt câu hỏi:

- Bệ hạ có hiểu những gì  thần vừa dẫn giải không?

Nhưng lần nào nhà vua cũng chỉ trả lời:

- Khanh nên hỏi điều đó với khanh trước đã.

Ngày nọ, giữa lúc đọc kinh, ông bỗng được giác ngộ và nhận ra tất cả  mọi sự đều là hão huyền. Thế là nhà sư quyết từ bỏ mọi sự và lên đường bắt đầu cuộc sống của một người hành khất. Trước khi ra đi, ông nói với nhà vua:

- Tâu bệ hạ, thế là cuối cùng, hạ thần đã hiểu được ... .

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 10: Thi hành ý muốn của Cha Thầy


(Lm Carôlô Hồ Bạc Xái)

A. Hạt giống ...

Câu chủ yếu của đoạn này là câu 21: “Không phải bất cứ ai thưa “Lạy Chúa, lạy Chúa” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi”.

Các câu 24-27 là những hình ảnh minh hoạ cho câu trên: người nghe Lời Chúa rồi thi hành giống như người “khôn” xây nhà trên đá; kẻ nghe Lời Chúa nhưng không thi hành giống như người “ngu” xây nhà trước cát.

B ... nẩy mầm.

1. Chủ đề của bài đọc Cựu Ước, và sẽ được bài TM nhắc lại: “Dân công chính biết giữ sự trung tín, hãy tiến vào”

2. Tri phải đi đôi với hành. - Ta biết là thuốc tốt những không chịu uống thì cũng chẳng ích lợi gì. - “Hoả ngục được lát toàn bằng những thiện chí”: mai tôi sẽ nên thánh, mốt tôi sẽ giữ đạo…. Những chẳng bao giờ thực hành.

3. Chúng ta thường xây nhà trên cát, vì chúng ta xây dựng cuộc sống đạo của mình trên những luật lệ, những nghi lễ, trên những câu kinh “Lạy Chúa, lạy Chúa”. Chúng ta ít quan tâm xây dựng cuộc sống trên việc tìm và thi hành ý Chúa, trên việc lắng nghe và thực thi Lời Chúa.

4. Muốn biết ngôi nhà đức tin của ta được xây trên cát hay trên đá, hãy coi những lúc “mưa sa, nước cuốn, bão táp” dập vùi xem đức tin ta có còn đứng vững hay không.

5. “Một ông vua nọ có thói quen mỗi ngày nghe một đoạn trong kinh Bagavad Gita. Người phụ trách việc đọc kinh này là một nhà sư đạo đức, thông thái. Cứ mỗi lần đọc xong một đoạn kinh, ông lại dùng đến kiến thức uyên bác của mình để giải thích cho vua nghe. Và ngày nào ông cũng đặt câu hỏi “Bệ hạ có hiểu những gì thần vừa dẫn giải không?”. Nhưng lần nào nhà vua cũng chỉ trả lời “Khanh nên hỏi điều đó với khanh trước đã” ... Ngày nọ, giữa lúc đọc kinh, ông bỗng được giác ngộ và nhận ra tất cả mọi sự đều là hão huyền. Thế là nhà sư quyết từ bỏ mọi sự và lên đường bắt đầu cuộc sống của một người hành khất. Trước khi ra đi, ông nói với nhà vua “Tâu bệ hạ, thế là cuối cùng hạ thần đã hiểu được” ... Giác ngô đích thực, hiểu biết chân lý chính là thực thi chân lý”. (Trích "Mỗi ngày một tin vui")

6. “Chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời thì mới được vào Nước Trời mà thôi” (Mt 7,21)

Có lần tôi xem được một chương trình trên tivi về những người cùng khổ trong xã hội. Họ không có lấy một chỗ dựa, một ai nâng đỡ để hòa nhập cuộc sống của mọi người. Họ đang cần sự giúp đỡ của bạn, và của chính tôi. Đã bao nhiêu lần, tôi khước từ lời kêu cứu của họ. Tôi dửng dưng trước lời họ mời gọi. Và như thế, tôi cũng khước từ ý muốn của Cha. Ý muốn của Cha là “anh em hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu anh em”, nghĩa là sẵn sàng hiến mạng sống vì anh em. Vậy, tôi phải cứu lấy những anh em tôi, phải thi hành ý muốn của Cha.

Lạy Chúa, xin cho con biết yêu thương anh em như Chúa đã yêu con, để người ta nhận biết chúng con là môn đệ của Ngài (Epphata).

---------------------------------

 

Suy Niệm 11: Thi hành ý muốn của Cha


(Lm Giuse Đinh Tất Quý)

1. Câu chủ yếu của đoạn này là câu 21: "Không phải bất cứ ai thưa: "Lạy Chúa, lạy Chúa" là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi".

Vâng! Biết phải đi đôi với làm. Ta biết là thuốc tốt nhưng không chịu uống thì cũng chẳng ích lợi gì. Người Tây Phương có câu châm ngôn: "Hoả ngục được lát toàn bằng những thiện chí"

Cha Jean Weslay là một nhà giảng thuyết nổi tiếng. Một hôm có một bác nông phu người Anh đến nghe cha giảng. Hôm đó, cha giảng về đề tài dùng của cải. Ông nhà quê này chăm chú nghe.

Bài giảng chia làm 4 phần:

Phần 1: Hãy tìm cho được của cải. Đầu đề này làm ông kia hài lòng quá, thúc tay vào người ngồi cạnh ông nói nhỏ: hay quá, thật tuyệt.

Phần 2: Hãy tiết kiệm: người kia sung sướng ngồi thẳng lên, chăm chú nhìn cha và nuốt lấy từng lời cha nói. Ông nghĩ cha nói đúng quá. Chính mình cũng vẫn chủ trương như vậy.

Phần 3: Đừng xài phí: Người nhà quê gật gù hài lòng. Ông nghĩ mình phải thầm cám ơn Chúa vì mình vẫn nghĩ và hành động đúng như vậy.

Phần 4: Hãy rộng rãi làm phúc.

Nghe đến đây, ông nhăn mặt khó chịu, thở dài đứng lên bỏ về.

Ở đời rất đông người hành động theo bác nhà quê này: lý thuyết nhiều nhưng thực hành ít, lý thuyết thì rất hay nhưng thực hành thì chẳng có gì.

2. Chúng ta thường xây nhà trên cát, vì chúng ta hay xây dựng cuộc sống đạo của mình trên những luật lệ, những nghi lễ, trên những câu kinh "Lạy Chúa, lạy Chúa". Chúng ta ít quan tâm đến việc xây dựng cuộc sống đạo đức của mình trên việc tìm và thi hành ý Chúa, hay trên việc lắng nghe và thực hành Lời Chúa.

Muốn biết ngôi nhà đức tin của chúng ta được xây trên cát hay trên đá, hãy coi những lúc "mưa sa, nước cuốn, bão táp" dập vùi xem đức tin ta có còn đứng vững hay không.

Một ông vua nọ có thói quen mỗi ngày nghe một đoạn trong kinh Bagavad Gita. Người phụ trách việc đọc kinh này là một nhà sư đạo đức, thông thái. Cứ mỗi lần đọc xong một đoạn kinh, ông lại dùng đến kiến thức uyên bác của mình để giải thích cho vua nghe. Và ngày nào ông cũng đặt câu hỏi:

- Bệ hạ có hiểu những gì thần vừa dẫn giải không?

Nhưng lần nào nhà vua cũng chỉ trả lời

- Khanh nên hỏi điều đó với khanh trước đã.

Ngày nọ, giữa lúc đọc kinh, ông bỗng được giác ngộ và nhận ra tất cả mọi sự đều là hão huyền. Thế là nhà sư quyết từ bỏ mọi sự và lên đường bắt đầu cuộc sống của một người hành khất. Trước khi ra đi, ông nói với nhà vua:

-  Tâu bệ hạ, thế là cuối cùng, hạ thần đã hiểu được... Giác ngộ đích thực, hiểu biết chân lý chính là thực thi chân lý. (Trích "Mỗi ngày một tin vui").

Có thực thi chân lý thì chân lý mình hiểu biết mới đem lại kết quả tốt cho cuộc sống bằng không thì chân lý sẽ chẳng khác gì những dòng chữ chết.

3. "Chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời thì mới được vào Nước Trời mà thôi" (Mt 7,21)

Ý muốn của Thiên Chúa thì đã quá rõ, chỉ có điều là chúng ta có chịu đem áp dụng vào cuộc sống của mình hay không. Thí dụ Chúa dạy chúng ta phải hiền lành. "Chúng con hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng". Nhưng trong cuộc sống chúng ta đã sống theo Lời Chúa dạy chưa.

Có một đứa bé lẻn vào nhà ăn trộm tiền của Cha Jean Marie Vianney, cha sở họ Ars. Hai  thầy giúp việc cho Cha sở coi đây là việc hệ trọng nên báo cáo cho xã trưởng biết. Ông này bèn cho gọi em nhỏ ấy đến làm bộ tra vấn răn đe cốt để em nhỏ sợ sau không dám tái phạm nữa. Bà mẹ em nhỏ nghi ngờ chính là cha sở đã tố cáo con bà, bà hùng hổ chạy thẳng ra nhà thờ, đến chỗ cha đang ngồi giải tội. Nhìn thấy điệu bộ bà hằm hằm cơn lôi đình, hai thầy bảo nhau:

- Nguy đến nơi rồi.

Rồi cả hai cùng chạy ra nhà thờ xem sự thể ra sao.

Đang lúc quá giận, bà tiến thẳng đến tòa giải tội, gọi cha ra ngay. Vừa giải tội xong một người, cha bước ra. Bà này liền nói một thôi một hồi:

- Con tôi còn nhỏ tuổi, có tinh nghịch chăng nữa thì đã đến nỗi nào mà cha nộp nó cho xã trưởng?

Bà nhiếc móc một hồi cho hả giận. Cha Vianney đứng khoanh tay nghe phán xét, rồi bình tĩnh trả lời vắn tắt:

- Bà nói phải đấy, xin bà cầu cho cha sửa mình lại!

Nói thế rồi, Ngài lại vào tòa tiếp tục giải tội như trước.

Vâng! Thật là tấm gương cho ta.

Biết Lời Chúa dạy nhưng phải sống thì Lời Chúa mới đem lại niềm vui cho mình.

Lạy Chúa, xin cho con biết yêu thương anh em như Chúa đã yêu con, để người ta nhận biết chúng con là môn đệ của Ngài (Epphata).

---------------------------------

 

Suy Niệm 12: Thực hiện ý Chúa Cha sẽ được vào Nước Chúa


(Lm. Micae Võ Thành Nhân)

Người Việt Nam chúng ta thường nói: “Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư” (CD TN VN). Nghĩa là phận làm con, muốn nên người có ích cho gia đình, cho xã hội thì phải vâng lời cha mẹ, bề trên, những người hướng dẫn dạy dỗ mình, còn nếu bất tuân thì mình sẽ là một con người hư đốn, làm khổ người khác. Như vậy, chúng ta là con cái Chúa, muốn vào nước trời sau này, chúng ta phải nghe và thực hiện lời Chúa dạy thì mới được. Kinh nghiệm lịch sử là ông Adong và bà Evà không nghe lời Chúa dạy để rồi ăn trái cấm và loài người chúng ta phải chịu hậu quả như thế này đây.

Đạo của Chúa là đạo nhập thế, đạo thực hành chứ không phải là đạo trên văn bản giấy tờ chữ viết. Điều ấy Chúa muốn chúng ta không phải là một Kitô hữu trên danh nghĩa mà là một Kitô hữu trên thực tế, đích thực. Là người có đạo thì chúng ta phải sống đạo, ví dụ Chúa dạy chúng ta “Mến Chúa, yêu người”, ở đây chúng ta chỉ nói một khía cạnh của lời Chúa là “Yêu người“ mà thôi. Yêu người là chúng ta biết tha thứ cho họ, cầu nguyện cho họ, chia cơm sẻ áo cho họ, lấy lời lành mà khuyên bảo nhau ….(xMt 5, 42 – 48), vì như thánh Giacôbê đã nói: “Đức tin không có việc làm là đức tin chêt” (Gia 2, 17). Do đó, tât cả các nhân đức mà chúng ta thực hiện được theo lời Chúa dạy trong cuộc sống thì nó như chất liệu dầu thắp sáng ngọn đèn đức tin để khi Chúa đến dẫn chúng ta vào nước trời thì chúng ta sẽ được gặp Chúa: “Khi ấy, Chúa Giê-su phán cùng các môn đệ rằng: Không phải tất cả những ai nói với Ta, Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào nước trời, nhưng chỉ có người thực hiện ý Cha Ta ở trên trời, kẻ ấy mới được vào nước trời” (Mt 7, 21).

Khi chúng ta nghe và thực hiện lời Chúa dạy, chúng ta sẽ trưởng thành hơn trong đời sống đức tin, chúng ta sẽ dễ dàng vượt qua những gian nan thử thách hơn. Những thử thách này được Chúa ví như những cơn mưa sa, nước lũ, gió bão dữ dội lùa vào nhà. Nhưng rồi không hề hấn gì,vì có Chúa phù hộ chúng ta. Và đó mới là người khôn ngoan thực sự, vì người khôn là người biết làm theo thánh ý Chúa: “Con được thông suốt hơn các thầy dạy, vì con thường gẫm suy thánh chỉ; am hiểu hơn các bậc lão thành, bởi huấn lệnh Ngài, con đã tuân theo” (Tv 118, 99 – 100). Như thế, thánh ý Chúa là đá tảng vững chắc cho chúng ta tựa nương, cậy nhờ, cho chúng ta trú ẩn. Cho nên thực hành thánh ý Chúa dạy như việc hệ trọng nhất trong đời, nhưlà việc chúng ta xây dựng tòa nhà đức tin trên tảng đá vững chắc, kiên cố: “Để loan truyền rằng: Chúa thật là ngay thẳng, là núi đá cho con trú ẩn, nơi Người chẳng có chút bất công” (Tv 92, 16). Như thế, Chúa nói: “Vậy ai nghe những lời Ta nói đây và đem ra thực hành, thì giống như người khôn ngoan, đã xây nhà mình trên đá; mưa có đổ xuống, nước có tràn vào, gió bão có thổi đến và lùa vào nhà đó, nhà vẫn không sập, vì nhà ấy được xây trên nền đá. Và hễ ai nghe những lời Ta nói đây mà không đem ra thực hành, thì giống như người ngu đần, xây nhà mình trên cát, khi mưa sa nước lũ, gió thổi và lùa vào nhà đó, nhà sẽ sập và sẽ trở nên đống hoang tàn” (Mt 7, 24 – 27). Như vậy, ai trong chúng ta cũng muốn mình là người khôn chứ không phải là người ngu đần. Do đó phải sống đạo, phải thực thi lời Chúa dạy.

Lạy Chúa, trong lúc chúng con sống tỉnh thức và cầu nguyện chờ Chúa đến, xin Chúa dùng sức mạnh của Chúa nâng đỡ chúng con, mặc dù chúng con quá tội lỗi, nhưng xin Chúa đừng bỏ rơi chúng con, xin Chúa mở rộng lòng từ ái thương xót chúng con, giúp chúng con sống tốt hơn. Amen.

---------------------------------

 

Suy Niệm 13: Giữ vững lòng trung tín


(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)

Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Năm Tuần 1 Mùa Vọng hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa biểu dương uy quyền, và lấy thần lực mà nâng đỡ chúng ta, để mặc dầu tội lỗi chúng ta cản trở, Chúa vẫn mở lượng khoan hồng sớm thực hiện chương trình cứu độ chúng ta.

Chúa mở lượng khoan hồng sớm thực hiện chương trình cứu độ, cho hết thảy mọi người, kể cả dân ngoại, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, ngôn sứ Isaia cho thấy: Xion, chốn ẩn thân của quân Môáp, Épraim quay đầu trở lại. Thiên Chúa là Chủ toàn cõi đất. Người không chỉ lo cho dân Người, mà lo cho cả các dân khác nữa. Người thường lên án những cuộc tấn công của các dân khác hãm hại dân Người, đồng thời cũng dùng những cuộc tấn công đó để trừng phạt dân riêng, nhưng, Người cũng rộng lòng thương, cho kẻ thù của dân Người tìm được nơi trú ẩn trong cơn hoạn nạn. Ta sẽ cho mọc lên một Đấng Công Chính để nối nghiệp Đavít; Người sẽ trị nước theo lẽ công bình chính trực. Đây là tên sẽ đặt cho Người: “Đức-Chúa-là-sự- công-chính-của-chúng-ta.” Ngai báu sẽ được vững bền nhờ lòng nhân nghĩa. Một vị thẩm phán sẽ ngự trên ngai nhờ đức tín thành. Vị ấy lo tìm kiếm điều chính trực.

Chúa mở lượng khoan hồng sớm thực hiện chương trình cứu độ, phần của chúng ta là tỉnh thức chờ đợi Chúa thực hiện giao ước của Người, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Éprem phó tế nói: Chúa truyền cho chúng ta phải tỉnh thức cả thể xác lẫn tinh thần; về thể xác để tránh sự ươn ái trễ nải; về tinh thần để tránh sự bạc nhược và nhút nhát… Ta sẽ lập với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, để giữ trọn tình thương dành cho Đavít. Này, Ta đã đặt Đavít làm nhân chứng cho các dân, làm thủ lãnh chỉ huy các nước. Ơn cứu độ này của Thiên Chúa đã được gửi đến cho các dân ngoại, và họ sẽ nghe.

Chúa mở lượng khoan hồng sớm thực hiện chương trình cứu độ, phần của chúng ta là giữ vững lòng trung tín với Chúa, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, Đức Chúa phán qua miệng ngôn sứ Isaia: Mở cửa ra cho dân tộc công chính bước vào, một dân tộc trọn niềm trung nghĩa. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 117, vịnh gia đã kêu xin: Nguyện xin Chúa tuôn đổ phúc lành cho người tiến vào đây nhân danh Chúa. Xin mở cửa công chính cho tôi để tôi vào tạ ơn Đức Chúa. Đây là cửa dẫn vào nơi Chúa ngự, chỉ những người công chính mới được qua. Lạy Chúa, con xin tạ ơn Ngài vì đã đáp lời con và thương cứu độ.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Hãy tìm gặp Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là sẽ được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Tìm kiếm Chúa, kêu cầu Chúa, và thực hiện thánh ý Chúa, tất cả những điều này cho thấy lòng trung thành của chúng ta đối với Chúa. Chúa đến bất ngờ, vì thế, chúng ta phải tỉnh thức và cầu nguyện: Phải tỉnh thức vì khi thân xác ngủ, thì tính tự nhiên khống chế chúng ta và hoạt động của chúng ta không phải do ý chúng ta muốn, nhưng, do tính tự nhiên thúc đẩy. Khi sự ươn ái trễ nải khống chế linh hồn: tính hèn nhát và sự buồn phiền, là kẻ thù khống chế, khiến linh hồn chúng ta làm điều nó không muốn. Khi sức mạnh của bản tính tự nhiên khống chế, thì đó là kẻ thù của linh hồn chúng ta khống chế. Vậy, chúng ta phải tỉnh thức cả thể xác lẫn tinh thần, để tránh sự ươn ái trễ nải về thể xác, và tránh sự bạc nhược nhút nhát trong linh hồn. Ước gì Chúa biểu dương uy quyền, và lấy thần lực mà nâng đỡ chúng ta, để mặc dầu tội lỗi chúng ta cản trở, Chúa vẫn mở lượng khoan hồng sớm thực hiện chương trình cứu độ chúng ta. Ước gì được như thế!

----------------------------------

 

Thứ 6:

Chữa lành 2 người mù.
06/12 – Thứ Sáu đầu tháng, tuần 1 mùa vọng.
"Tin vào Chúa Giêsu, hai người mù được chữa lành".

 

LỜI CHÚA: Mt 9, 27-31


Khi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua, có hai người mù chạy theo Chúa và kêu lớn tiếng rằng: "Hỡi Con vua Đavít, xin thương chúng tôi".
Khi Chúa tới nhà, những người mù tiến lại gần Chúa. Chúa Giêsu phán bảo họ: "Các ngươi có tin rằng Ta có thể làm việc ấy không?" Họ thưa: "Lạy Thầy, có". Bấy giờ Chúa sờ vào mắt họ và phán: "Các ngươi tin thế nào, thì hãy được như vậy". Mắt họ liền mở ra, nhưng Chúa Giêsu truyền cho họ rằng: "Coi chừng, đừng cho ai biết". Nhưng vừa ra đi, họ liền đồn tiếng Người trong khắp miền ấy.

---------------------------------

 

Suy Niệm 1: Mắt họ liền mở ra


(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ. )

Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 500 ngàn người bị mù hai mắt,
và 900 ngàn người mù một mắt.
Tỉ lệ người mù như thế là cao so với nhiều nước khác.
Bao cố gắng được đưa ra để giảm số người bị mù,
trong đó có việc mổ cho 350 ngàn người mắc bệnh đục thủy tinh thể.
Người ta hy vọng nhờ đóng góp của các ân nhân,
sẽ có 100 ngàn người nghèo được mổ trong năm 2010.
Hạnh phúc biết bao cho ai lần đầu tiên thấy khuôn mặt người thân,
thấy được màu xanh của lá và phân biệt được sáng với chiều.
Hạnh phúc cho ai lần đầu tiên đi đứng mạnh dạn một mình
mà không cần bàn tay dắt hay cây gậy khua phía trước.
Ở nước Palestin thời xưa cũng có nhiều người mù.
Mù thường bị coi như một hình phạt của Thiên Chúa (Đnl 28, 28-29).
Người mù hẳn là người bị đứng ngoài lề xã hội.
Vào thời y khoa còn kém, người mù phải chịu cảnh tăm tối suốt đời.
Nỗi đau của người mù cũng ảnh hưởng trên cả đất nước.
Chính vì thế khi nói đến thời đại hạnh phúc của Đấng Mêsia,
Isaia nhiều lần nhắc đến chuyện người mù được sáng mắt (Is 35, 5; 42, 7).
Trong bài đọc 1 ta vừa nghe (Is 29, 18), ngôn sứ Isaia viết:
“Mắt người mù sẽ thoát cảnh mù mịt tối tăm, và sẽ được nhìn thấy. ”
Được nhìn thấy bằng đôi mắt nghĩa là được mở ra với thế giới bên ngoài.
Tiếp xúc bằng mắt vẫn có cái gì vượt trội hơn tiếp xúc bằng tay hay tai.
Khi chữa lành những người mù và những tật bệnh khác,
Đức Giêsu khai mở thời đại thiên sai (x. Mt 11, 2-6).
Ngài cho thấy Nước Thiên Chúa nay đã đến.
Khi hai anh mù gọi Đức Giêsu là Con vua Đavít (c. 27),
họ nhìn nhận Ngài là Đấng Mêsia, Đấng Thiên Sai.
Bởi thế họ hy vọng Ngài sẽ cho họ quà tặng của thời thiên sai.
“Xin thương xót chúng tôi” là xin đưa chúng tôi ra khỏi cảnh mù lòa.
Đức Giêsu đã muốn chữa hai anh một cách kín đáo, tại nhà của Phêrô.
Ngài không chữa cho họ ngay lập tức, nhưng lại hỏi họ một câu rất lạ:
“Các anh có tin là tôi có thể làm được điều ấy không?” (c. 28).
Chỉ khi họ tuyên xưng niềm tin vào quyền năng của Ngài,
Đức Giêsu mới mở mắt cho họ bằng một lời và một chạm nhẹ (c. 29).
Niềm vui quá lớn khiến họ không giữ được lặng thinh (c. 31).
Giáng Sinh là lễ của Ánh sáng, Ánh sáng ngay giữa đêm đen.
Ơn của Mùa Vọng là ơn thoát ra khỏi cảnh tăm tối mù lòa.
Mù lòa đâu phải chỉ là chuyện của 37 triệu người mù trên thế giới.
Mù lòa về chính mình, mù lòa vì không thấy những Ladarô trước cửa,
mù lòa về chính những người trong gia đình, trong giáo xứ,
mù lòa vì không thấy Chúa vẫn đang hiện diện gần bên,
những mù lòa ấy cũng nguy hiểm không kém và cần được chữa lành.
Xin Giêsu đụng vào mắt tôi để tôi được sáng,
và để tôi giúp người khác cũng được thấy ánh sáng Giêsu.
 
Cầu nguyện:

Như người mù ngồi bên vệ đường
xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy.
Xin cho con được thấy bản thân
với những yếu đuối và khuyết điểm,
những giả hình và che đậy.
Cho con được thấy Chúa hiện diện bên con
cả những khi con không cảm nghiệm được.
Xin cho con thực sự muốn thấy,
thực sự muốn để cho ánh sáng Chúa
chiếu dãi vào bóng tối của con.
Như người mù ngồi bên vệ đường
xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy. Amen.
 
---------------------------------

 

Suy Niệm 2: Chúa Cứu Thế là ánh sáng


(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Từ hàng ngàn năm trước, Isaia đã loan báo về Đấng Cứu Thế sẽ mở mắt người mù, mở tai người điếc, mở miệng người câm, đem niềm vui cho người nghèo khổ, nâng cao những người hèn mọn trong xã hội. Người tháo cởi mọi thứ xiềng xích trói buộc con người, ràng buộc miệng lưỡi, chèn ép tâm hồn, bưng bít đôi mắt, che kín đôi tai.

Lời tiên báo ấy ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu. Hôm nay Người chữa lành một lượt hai người mù. Hai người là rất nhiều người, là tất cả những người mù. Chúa Giêsu đang đi trên đường. Chúa Giêsu là con đường, là ánh sáng soi đường. Hai người mù không biết đường, không thấy đường cuống cuồng chạy theo để xin Chúa Giêsu cho thấy đường. Chúa Giêsu hỏi họ: “Các anh có tin không”. Tin là điều kiện. Tin cũng là thắp lên ánh sáng. Đức tin chính là ánh sáng soi đường. Có đức tin sẽ nhìn thấy đường đi. Vì đường đi có nhiều bóng tối thử thách, có nhiều cạm bẫy nguy hiểm, phải có ánh sáng đức tin mới nhìn thấy đường đi. Phải có ánh sáng đức tin mới nhìn thấy cạm bẫy và vượt qua được nguy hiểm. Đường đi về Thiên đàng, đến gặp gỡ Thiên Chúa là con đường dài, cần có sự kiên trì trung tín của niềm tin vững mạnh mới có thể đi đến nơi.

Khi mở mắt hai người mù, Chúa Giêsu cho họ nhìn thấy quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Mở cho họ con đường mới tràn đầy tin yêu và hi vọng. Con đường thoát khỏi bóng tối. Con đường đi tới Thiên Chúa. Con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực. Nhìn thấy công trình của Chúa, ta sẽ không còn xấu hổ thẹn thùng nhưng sẽ vui mừng phấn khởi tôn vinh danh Chúa như lời Isaia tiên báo: “Từ nay Giacop sẽ không còn phải xấu hổ, từ nay nó sẽ không còn bẽ mặt thẹn thùng, vì khi Giacop nhìn thấy nơi nó những công trình tay Ta đã làm nó sẽ tuyên xưng danh Ta là thánh, sẽ tuyên xưng Đấng Thánh của Giacop là thánh và sẽ kính úy Thiên Chúa của Itraen”.

Lạy Chúa, mắt con mù tối và tâm hồn con bị trói buộc trong nỗi nghi nan, trong sự lầm lạc. Con không biết đường biết lối. Xin Chúa hãy đến mở mắt tâm hồn con. Cho con nhìn thấy quyền năng Chúa. Cho con nhìn thấy ánh sáng sự thật. Cho con thoát cảnh lầm lạc. Để con sẽ vững tin. Để con ca tụng quyền năng Chúa. Và để con tiến bước trên con đường ánh sáng.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 3: Lòng Tin Khiến Họ Ðược Chữa Lành


Roberto Newman là một người mù từ lúc mới sinh, và mãi đến năm 50 tuổi, một cuộc giải phẫu mới cho phép ông được thấy ánh sáng đầu tiên trong cuộc đời. Với ánh sáng, toàn thể thế giới như thay đổi hẳn viễn tượng trong tâm trí ông với những điều bấy lâu ông hằng tưởng tượng.

Khi được phỏng vấn, ông đã trả lời tờ báo Chicago như  sau: "Ðược nhìn thấy mọi vật quả là một diễm phúc trên đời. Tôi không ngờ rằng một giáo thuyết đã dạy tôi sẽ nhìn thấy mọi vật quanh tôi và đêm về tôi có thể nhìn ngắm các vì sao, những vật thể li ti của dãy ngân hà trên thiên không diệu vời. Bạn sẽ chẳng bao giờ thấy chúng tuyệt vời đến thế nào đối với tôi".

Nhận xét của Roberto thật xác đáng. Những ai đã một lần mất đi ánh sáng trong cuộc đời để rồi đánh giá trị của khả năng nhìn ngắm. Hôm nay thánh sử Matthêu cũng thuật lại cho chúng ta câu chuyện hai người đang cần ánh sáng và cuộc tìm kiếm của họ.

Thật vậy, ánh nắng chói chang của vùng sa mạc cùng với những cơn lốc thổi cát bụi mịt mù và cách sống không mấy vệ sinh về đôi mắt đã khiến cho bệnh mù dễ dàng phát sinh tại vùng Palestina. Chúng ta cũng phần nào thấy được điều này qua con số bị mắc bệnh thường tìm đến với Chúa Giêsu. Tuy nhiên, dù có phải đông người mắc chứng bệnh mù lòa thì không phải vì thế mà người mù lại an phận với kiếp mù lòa của họ, nhưng cuộc sống của họ luôn luôn là một thao thức tìm kiếm ánh sáng, gặp được cơ may có thể tìm thấy ánh sáng thì họ chẳng bao giờ bỏ lỡ cơ hội.

Người mù Thành Giêricô đang ngồi ăn xin bên vệ đường, nhưng vừa nghe biết Chúa Giêsu đi ngang qua, anh liền vội vàng lớn tiếng kêu xin: "Lạy Ngài xin cứu chữa tôi". Những người chung quanh cản ngăn thì anh lại càng la to hơn để rồi một khi đã nghe tiếng Chúa gọi, anh ta vứt bỏ tất cả để kịp đến với Ngài.

Hai người mù trong trình thuật Tin Mừng hôm nay tuy không có những cử chỉ như người mù Thành Giêricô, nhưng thái độ bền bỉ của họ cũng nói lên được tâm trạng khát vọng sự sáng. Chúa Giêsu đã gặp họ dọc đường, họ lớn tiếng kêu xin Người nhưng Ngài không chữa họ tại nơi đó, Ngài tiếp tục hành trình. Dù chưa được Chúa đáp lời chữa ngay nhưng họ không thất vọng bỏ cuộc và vẫn tiếp tục theo Ngài. Về đến nhà, họ tiến lại gặp Ngài để một lần nữa xin Ngài chữa lành. Câu hỏi Chúa Giêsu đã đặt ra cho hai người mù là để gián tiếp diễn tả một câu hỏi khác: "Các ngươi có tin Ta là Ðấng Cứu Thế không?" Vì theo các tiên tri khi thời Ðấng Cứu Thế đến thì mọi bệnh tật sẽ được chữa lành như: người câm nói được, người điếc được nghe, kẻ què được lành và người mù được thấy ... Họ đáp: "Có" và lòng tin đã khiến cho họ được chữa lành. Trước và sau khi được chữa lành, người mù đều lớn tiếng. Lúc trước họ lớn tiếng vì lòng khát khao tìm thấy ánh sáng, và lần sau họ cũng lớn tiếng với nỗi vui mừng đã được thấy ánh sáng. Khi tìm được nỗi vui mừng thì dù Chúa Giêsu có ngăn cấm, họ vẫn cao rao danh Ngài.

Thế giới hôm nay cũng đang có những luồng ánh sáng và cơn lốc tối mù lý trí và lương tâm con người, bệnh mù này còn nguy hiểm hơn bệnh mù thể xác. Vì lắm lúc con người đang mù mà vẫn cứ tưởng là mình sáng, hoặc có quá nhiều người mù nên con người lại lấy số đông để khỏa lấp cơn bệnh. Phần nào như tâm trạng của Tú Xương: "Thiên hạ có khi đang ngủ cả, viêc gì mà thức một mình ta".

Ðể chữa trị bệnh mù này cũng không dễ dàng gì, nó đòi hỏi con người phải có một thái độ bền bỉ và vững tin vào Chúa Giêsu như hai người mù ở trên. Bước theo Ngài nhưng nhiều lúc như bị Ngài bỏ quên không nhìn tới. Tha thiết tìm đến Ngài thế mà chẳng được đoái hoài. Thất vọng để rồi buông xuôi bỏ cuộc thì con người sẽ mãi mãi ở trong bóng tối, nhưng vững bước theo Ngài để rồi tuyên xưng Ngài là Ðức Kitô thì con người sẽ tìm thấy ánh sáng, sẽ được nhìn ngắm những điều tuyệt vời mà trước đấy họ chưa từng thấy và cũng chẳng ai có ngoài một mình Thiên Chúa.

Ước mong rằng trong Mùa Vọng này, mỗi người trong chúng ta sẽ hiểu được giá trị sự sáng Chúa đã đem đến cho trần gian, cũng như biết rõ tình trạng mù lòa của mình để rồi chúng ta sẽ tìm đến với Ngài, bất chấp mọi khó khăn trở ngại và nhờ vào lòng tin, chúng ta sẽ được chữa lành.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 4: Người mù được sáng


Không riêng gì thế giới siêu hình, ngay cả thế giới hữu hình của chúng ta cũng đầy dẫy những huyền nhiệm, hay đúng hơn nhưng thực tại mà con người vẫn chưa hiểu được bản chất. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến ánh sáng.

Có lẽ ánh sáng vẫn tiếp tục là một huyền nhiệm mà khoa học chưa đưa ra một giải thích thoả đáng hoàn toàn: người thì cho rằng ánh sáng được cấu tạo bằng những tinh thể cực nhỏ, kẻ lại cho rằng ánh sáng được cấu tạo bằng những âm ba…

Tính cách huyền nhiệm của ánh sáng và của biết bao thực tại khác trong thế giới là một mời gọi để con người không ngừng vươn lên chiều kích siêu việt của cuộc sống.

Con người không thể tự mình tìm ra được giải đáp cho mọi vấn đề của cuộc sống. Chỉ Thiên Chúa là Đấng duy nhất có thể đem lại cho con người chân lý về cuộc sống, về con người, về chính Ngài. Chỉ Thiên Chúa mới có thể vén mở cho con người biết được chân lý và sự vén mở ấy được thực hiện trong Chúa Giêsu Kitô.

Nói như thánh Gioan: Chúa Giêsu chính là Ánh sáng thế gian, ai đi theo Ngài sẽ được ánh sáng ban sự sống. Tin mừng hôm nay khi thuật lại việc Chúa chữa hai người mù cũng muốn nêu bật chân lý ấy. Chúa Giêsu chính là ánh sáng. Chỉ trong Ngài, chúng ta mới thực sự là người được sáng mắt; chỉ trong Ngài, chúng ta mới biết được chúng ta là ai? Sẽ đi về đâu? Và đâu là ý nghĩa của cuộc sống? Nhưng dĩ nhiên, để có thể tiếp nhận ánh sáng của Chúa Kitô, điều kiện tiên quyết là chúng ta phải ý thức được sự mù loà của mình và quyết tâm ra khỏi sự mù loà ấy.

Mù quáng vẫn là cơm cám dỗ khủng khiếp nhất của con người. Mù quáng chính là không còn nhận thức và chấp nhận sự mù loà của mình. Trong Tin mừng, Chúa Giêsu đã lên án thái độ mù quáng của Biệt phái, họ cuộn mình trong nấm mồ tăm tối của những thành kiến và mớ kiến thức hạn hẹp của con người để khước từ ánh sáng của Thiên Chúa.

Với tâm tình của hai người mù hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa chữa trị tật mù loà của thiển cận, tham lam, ích kỷ, tự phụ để chúng ta được bước đi trong ánh sáng của Chúa.

Trong ánh sáng của Ngài, chúng ta tin rằng mọi biến cố cuộc sống đều có ý nghĩa. Trong ánh sáng của Ngài, thất bại, khổ đau sẽ là khởi đầu của nguồn ơn dồi dào hơn. Trong ánh sáng của Ngài, tha nhân dù có thấp hèn đến đâu cũng đều phản chiếu vẻ đẹp của Thiên Chúa.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 5: Chiến thắng thuộc về chúng ta


Khi Đức Giêsu về tới nhà, thì hai người mù ấy tiến lại gần. Người nói với họ: “Các anh có tin là tôi làm được điều ấy không?” Họ đáp: “Thưa Ngài, chúng tôi tin. ” Bấy giờ Người sờ vào mắt họ và nói: “ Các anh tin thế nào thì được như vậy. ” (Mt. 9, 28-29)


Nhiều khi chúng ta chán nản trước một vài thất bại, một vài khó khăn cản trở đời sống riêng tư cũng như chung của xã hội. Chúng ta phiền muộn phải chứng kiến những thế lực tăm tối vẫn hoành hành tàn phá; kẻ mạnh bóc lột kẻ yếu, bạo lực công khai hay che đậy, những kẻ ích kỷ lợi dụng, những kẻ cường quyền kiêu ngạo. Một vài lúc chúng ta có khuynh hướng tiêu cực, thụt lùi trước những sức nặng ngăn chặn bước tiến của chúng ta.

Hôm nay một lời đầy hy vọng vang tới tai chúng ta, thúc giục ta can đảm lên, đừng để nỗi chán nản đè bẹp chúng ta: “Nước Thiên Chúa là đây. Ngài ở với chúng ta, Ngài là hoàng tử ánh sáng đến đánh tan bóng tối”. Vâng, những kẻ mù tin Ngài và đang reo vui nhảy múa vì Ngài đã mở mắt cho họ được sáng. Chúng ta chắc chắn chiến thắng sau cùng vì Thánh Thần của Đấng Phục sinh đang sống giữa lòng thế giới: “Kẻ bạo chúa sẽ không còn nữa, và kẻ hỗn xược sẽ mất dạng”.

Nhưng niềm cậy trông này xây nhà trong thế giới hư ảo cho ta trú ẩn. Những xung đột vẫn còn đó, những cuộc chiến vẫn tiếp nối. Môn đệ không hơn Thầy. Thầy đã hy sinh mạng sống, trò cũng phải vác thập giá mình để tham gia xây dựng nước trời lớn lên. Nếu sống biết cậy trông, thì phải lo cố gắng, tin rằng mỗi bước đi trong tình yêu chân thật là đạt tới nước trời đời đời. Môn đệ không được miễn trừ khỏi chiến đấu, nhưng với đức tin, họ sẽ có một cái nhìn sâu sắc rằng những cuộc chiến của họ không vô ích vì chúng đưa họ tới giờ chiến thắng cuối cùng.

Nếu đôi khi chúng ta có cảm tưởng kéo lê đời mình trong tầm thường, nếu chúng ta thất vọng về những mù quáng của thế giới, thì tại sao chúng ta không nghiền ngẫm, nuôi dưỡng thái độ cậy trông của những anh mù trong Tin mừng hôm nay và kêu lên rằng: “Lạy con vua Đa-vít, xin thương xót chúng con”.

Là môn đệ của Đức Kitô, chúng ta không được phép thất vọng vì Người đến với chúng ta trong quyền năng mạnh mẽ của lòng thương xót và trong tình yêu chiến thắng tất cả mọi tử thần.

C. G

---------------------------------

 

Suy Niệm 6: Mù thì sáng – sáng lại mù


Người ta thường nói: ”Tình yêu là thứ ngôn ngữ mà người mù có thể thấy, người điếc có thể nghe!”.

Điều đó đã thật đúng với hai người mù hôm nay trong bài Tin Mừng. Quả thật, hai người mù này, họ đã nhận ra Đức Giêsu và họ đã đặt niềm tin tuyệt đối vào Ngài. Còn những kẻ sáng mắt như Pharisiêu và Luật Sĩ, thì lại không nhận ra con người và sứ vụ của Đức Giêsu. Họ có mắt mà như mù, còn kẻ mù thì lại sáng! Tại sao vậy? Thưa, vì Đức Giêsu đã phát ra tín hiệu tình yêu, và chỉ những ai khao khát cũng như muốn đón nhận tình thương đó của Ngài thì mới nhận ra mà thôi. Còn những kẻ bảo thủ, cố chấp và tự phụ thì muôn đời vẫn trơ như đá, và lẽ đương nhiên không thể nhận ra Đức Giêsu vì không nằm trong quỹ đạo cũng như không bắt được tần sóng yêu thương của Ngài.

Lời kêu xin của những người mù: ”Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót chúng tôi”, nói lên niềm tin tuyệt đối vào Ngài. Bởi vì Đức Giêsu thuộc dòng dõi Vua Đavít, Đấng đến để giải thoát và cứu chữa con người, đã được các ngôn sứ tiên báo trước đó, và hôm nay họ nhận ra chính Ngài chứ không phải một Giêsu nào đó cùng tên.

Vì thế, khi được hỏi: ”Các ngươi có tin rằng Ta có thể làm việc ấy không?”. Họ đã nhanh chóng đáp lại: ”Thưa Ngài, chúng tôi tin”. Cuối cùng, niềm tin đã làm cho họ sáng mắt do tình thương của Đức Giêsu.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mặc khải cho chúng ta biết về sứ vụ cứu thế của Đức Giêsu, Ngài đến để đem lại niềm vui và hạnh phúc cho những người đau khổ.

Ngang qua đó, Đức Giêsu muốn mời gọi mỗi chúng ta cần có tấm lòng yêu thương như Ngài. Có khi chúng ta không có cái gì về vật chất để chia sẻ cho người nghèo, nhưng chúng ta có tình yêu ngang qua cử chỉ, ánh mắt, nụ cười….

Hình ảnh của những người mù vui mừng hân hoan vì được Đức Giêsu chữa cho sáng mắt cũng là điểm gợi ý cho chúng ta rằng:

Cần năng đến với Chúa để được Ngài mở con mắt đức tin cho mình. Khi con mắt đức tin được sáng, hẳn chúng ta sẽ được hạnh phúc vì nhận ra Chúa hiện diện trong cuộc đời và sống với nhau như anh chị em trong đại gia đình.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con không bị mù về mặt thể xác, nhưng có khi tâm hồn chúng con lại mù vì không nhận ra tình thương của Chúa và nhận thấy sự khó khăn của anh chị em. Xin Chúa cho mỗi chúng con được sáng con mắt đức tin, để chúng con nhận ra Chúa và sống liên đới với anh chị em của mình. Amen.

Ngọc Biển, SSP

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 7: Người mù được thấy vì tin Chúa


(TGM Giuse Nguyễn Năng)

Sứ điệp: Sứ mạng của Chúa Giêsu là cho người mù được thấy. Hai người mù được thấy vì đã tin vào Chúa. Người mù tối trong tâm hồn nếu tin vào Chúa cũng sẽ được nhìn thấy bằng ánh sáng của Chúa.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, con cám ơn Chúa vì đôi mắt thân xác con còn sáng. Nhưng không phải là đôi mắt ấy có thể nhìn thấy tất cả. Con muốn khám phá thế giới và nhân loại, nhưng đôi mắt con quá nhỏ bé, chỉ nhìn thấy cái vỏ bên ngoài của sự vật, của con người, của các biến cố. Con muốn nhìn thấy Chúa đang hiện diện và hoạt động trong cuộc sống của con, của anh chị em con và khắp nơi trên thế giới, nhưng con chỉ là kẻ mù lòa chẳng nhìn thấy Chúa đâu.

Lạy Chúa là Ánh Sáng trần gian, xin Chúa mở mắt tâm hồn con để con nhận ra Chúa, xin ban cho con đôi mắt đức tin là đôi mắt của Chúa, để con nhìn mọi sự như Chúa nhìn. Xin mở mắt con, để qua cảnh rực rỡ của thiên nhiên, con thấy được vài tia sáng phản chiếu ánh sáng rực rỡ vô biên của Chúa. Xin mở mắt con, để qua những mối tình cảm thương yêu của con người, con nhận thấy được tình thương yêu nhân từ của Chúa. Xin mở mắt con để con nhận thấy anh chị em con là những người con của Cha trên Trời, họ đang được Cha yêu thương, đang lớn lên trong tình yêu của Cha. Xin mở mắt con, để con nhìn thấy Chúa đang đau khổ quằn quại trong thân xác của những người khổ đau. Xin mở mắt con, để con nhìn thấy Chúa đã sống lại và đang đồng hành với con trên mọi nẻo đường, đặc biệt đang hiện diện nơi Bàn Tiệc Thánh mỗi ngày.

Xin Chúa soi chiếu đời con bằng ánh sáng của Chúa và giúp con đi trọn hành trình còn xa thăm thẳm. Amen.

Ghi nhớ: ”Tin vào Chúa Giêsu, hai người mù được chữa lành”.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 8: Xin được sáng mắt sáng lòng


(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

1. Số phận người mù thật bi đát, họ nghe mà không biết sự vật chung quang thế nào. Họ phải sống trong cô đơn. Cảm nghiệm được nỗi bất hạnh của mình, hai người mù vừa lẽo đẽo  theo Đức Giêsu vừa van xin Ngài: “Lạy con vua Đavít, xin thương xót chúng tôi”. Ý thức được nỗi khốn cùng của mình là bước khởi đầu nền tảng để đáng được Thiên Chúa xót thương. Càng thấy mình bất lực, chúng ta càng phải cậy dựa vào Thiên Chúa. Điều quan trọng là chúng ta có biết bám chặt vào Chúa và xin Chúa chữa lành tâm hồn chúng ta không?

2. Hiện nay trên thế giới có nhiều người mù. Người mù ở Việt nam thường sống bằng cách đi ăn xin. Trong Kinh Thánh, người mù là hình tượng của những con người sống trong sự đói nghèo, bị xã hội và ngay cả gia đình bỏ rơi.

Có nhiều loại mù:  mù lòa, mù chữ, mù văn chương, mù vi tính … nhưng mù không nhận ra Chúa là ánh sáng có lẽ là tai hại hơn cả. Người mù đã dùng đức tin mà đi tới Ánh Sáng thật. Hay nói cách khác, có một cách lần tới ánh sáng một cách thần diệu, đó là đức tin.

3. Mù là không thấy và vì không thấy nên không biết hay biết một cách phiến diện, biết không đầy đủ. Cái mù thể xác đã khốn khổ như thế, nhưng còn một loại mù  còn khốn khổ hơn nữa. Người ta gọi đó là mù tâm linh, mù không dám nhìn, không dám nhận sự thật. Đây là thứ mù thường xẩy ra nhất trong đời sống con người.

Đúng thế, không dám nhận ra sự thật cũng là một bệnh mù. Bệnh này rất nguy hiểm, nó thường bộc phát và lây lan nhanh. Nguyên nhân của căn bệnh này là tính kiêu ngạo, một loại vi trùng rất khó trị và thường gây ra những hậu quả rất tai hại cho những người mắc thứ bệnh này.

4. Tính tự phụ và kiêu căng thường dẫn đến sự mù quáng, không nhìn ra sự thật. Do đó, Lon Jacob đã sáng tác ra câu truyện ngụ ngôn: Con sư tử đến hỏi con tê giác: “Ai là chúa tể khu rừng này”? Con tê giác đáp: “Là sư tử chứ ai”. Sung sướng quá, sư tử đến hỏi con hà mã: “Ai là chúa tể khu rừng này”? Và hà mã cũng trả lời: “Là sư tử chứ ai”. Sư tử lại đến hỏi con voi: “Ai là chúa tể khu rừng này”? Voi chẳng nói chẳng rằng, dùng vòi túm lấy sư tử, quăng nó lên trời. Khi rơi xuống đất, con sư tử choáng váng mặt mày, mình mẩy ê ẩm, nhưng cũng ráng nói vớt vát: “Vì ngu quá chẳng biết trả lời nổi câu hỏi của ta nên ta không thèm ăn thua với mi”.

5. Hai người mù trong bài Tin mừng hôm nay, mặc dù họ mù hai con mắt thể xác, nhưng trái lại, họ được sáng hai con mắt đức tin, hai con mắt tâm hồn, cho nên họ đã nhận ra Chúa là Đấng con vua Đavít, Đấng Cứu Thế. Họ đã tin Chúa và đã được chữa lành, cho họ được nhìn thấy.

Chúng ta có thể sáng con mắt thể xác vì chúng ta nhìn thấy rõ ràng những công trình của Chúa qua vũ trụ vạn vật, nhưng chúng ta có khi lại mù con mắt đức tin vì chúng ta đã không tin vào Chúa qua các dấu chỉ của sự vật, các biến cố, những sự kiện chung quanh để nhận ra ý Chúa mà thực thi.

6. Đức Giêsu thấy hai người mù có niềm tin, Ngài muốn họ công khai nói lên niềm tin đó: “Các ngươi có tin rằng Ta có thể làm việc ấy không”? Họ thưa với tất cả niềm  xác tín: “Lạy Thầy, có”. Người sờ vào mắt họ và nói: “Các anh tin thế nào thì được như vậy”. Mắt họ liền mở ra. Lời nói vắn tắt của Đức Giêsu làm cho hai anh mù được sáng.

Đức tin làm sáng mắt, đức tin cũng mở mắt tâm hồn, mở ra tất cả ...

Mang danh hiệu là Kitô hữu, là người tin vào Chúa Kitô, nhưng nhiều lúc chúng ta chưa sống trọn vẹn niềm tin của mình. Hôm nay, một lần nữa Đức Giêsu hỏi chúng ta: “Con có tin là Ta làm được điều đó không”? Xin cho chúng ta xác tín không chỉ trên môi miệng, đáp trả với cả trái tim cho Ngài và để niềm tin tỏa sáng trong cuộc sống.

7. Truyện: Thầy bói sờ voi

Trong kho tàng truyện cổ Ấn Độ có một câu chuyện ngụ ngôn như sau: Ngày xưa có mấy anh mù rủ nhau đi xem voi. Họ được dẫn đến một con voi rất to để họ dùng tay mà sờ vào nó.

Anh thứ nhất sờ được vào cái vòi của con voi. Sờ xong anh ta đắc chí hô to:

- Tôi biết con voi giống cái gì rồi, nó giống như cái vòi lớn.

Anh thứ hai sờ vào chân voi rồi nói:

- Đâu phải, tôi thấy con voi giống như cột nhà.

Anh thứ ba sờ vào sườn voi, phản đối:

- Các anh điên hả? Tôi thấy con voi giống như một bức tường chứ!

Anh thứ tư sờ vào tai voi, bật cười:

- Các anh nói gì vậy? Tôi thấy con voi  giống như một tầu là chuối.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 9: Tin thế nào thì được như vậy


(Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)

A. Hạt giống … 

Chuyện này có hai vai:

a. Chúa Giêsu:

- Ngài không muốn cho đám đông dân chúng biết phép lạ Ngài làm. Bởi đó khi hai người mù xin Ngài cứu giúp ở chỗ đông người thì Ngài không đáp lại gì cả. Khi về tới nhà, Ngài mới cứu chữa họ. Cứu chữa họ xong, Ngài “nghiêm giọng” bảo họ “đừng cho ai biết”. Lý do: Chúa Giêsu không muốn người ta tin theo Ngài chỉ vì phép lạ.

- Ngài nhấn mạnh tới lòng tin: trước khi làm phép lạ, Ngài hỏi “Các anh có tin là tôi làm được điều ấy không?”. Sau khi làm phép lạ, Ngài nói “Các anh tin thế nào thì được như vậy. ”

b. Hai người mù: đức tin họ rất mạnh

- Họ gọi Chúa Giêsu là “Con Vua Đavít”, tức là tước hiệu người ta gọi Đấng Messia.

- Ban đầu Chúa Giêsu không đáp ứng, nhưng họ cứ theo Ngài cho tới nhà.

- Khi Ngài hỏi, họ tuyên xưng đức tin “Thưa Ngài, chúng tôi tin”.

- Chính Chúa Giêsu nói phép lạ họ được là kết quả của lòng họ tin: “Các anh tin thế nào thì được như vậy”.

* Riêng chi tiết câu 31 (Chúa Giêsu bảo họ đừng cho ai biết, “nhưng vừa ra khỏi đó, họ đã nói về Ngài trong khắp cả vùng”): xem ra họ không vâng lời Chúa Giêsu. Nhưng các nhà chú giải nghĩ rằng Matthêu viết câu này cho tín hữu trong Giáo Hội thời kỳ sau khi Chúa Giêsu sống lại. Trước khi Chúa Giêsu sống lại thì Ngài muốn giữ “bí mật Đấng Messia” kẻo người ta theo Ngài chỉ vì phép lạ. Nhưng sau khi Ngài đã sống lại rồi thì không cần giữ bí mật ấy nữa, trái lại càng phải “bật mí” để cho nhiều người biết Ngài.

B. ... nẩy mầm.

1. Chủ đề bài đọc Cựu Ước, và sẽ được ứng nghiệm rõ ràng trong đoạn Phúc Âm: “Ngày đó mắt người mù sẽ được xem thấy”.

2. “Chúa Giêsu chính là ánh sáng. Chỉ trong Ngài chúng ta mới thực sự là người được sáng mắt; chỉ trong Ngài chúng ta mới biết chúng ta là ai? Sẽ đi về đâu? Và đâu là ý nghĩa cuộc sống? Nhưng dĩ nhiên, để có thể tiếp nhận ánh sáng của Đức Kitô, điều kiện kiên quyết là chúng ta phải ý thức được sự mù lòa của mình và quyết tâm ra khỏi sự mù lòa ấy” (Trích "Mỗi ngày một tin vui").

3. Có nhiều loại mù: mù loà, mù chữ, mù vi tính… nhưng mù không nhận ra Chúa là ánh sáng đời mình có lẽ là tai hại hơn cả. - Người mù đã dùng đức tin mà đi tới Ánh Sáng thật. Hay nói cách khác, có một cách lần tới được ánh sáng một cách thần diệu, đó là đức tin.

4. Trong đời sống đạo, khi nhận ra mình đang mù và mong tìm về ánh sáng đó là những bước khởi đầu rất tốt cho sự hoán cải và sẽ được biến đổi.

5. Tự phụ đến mù quáng: Con sư tử đến hỏi con tê giác “Ai là chúa tể khu rừng này?”. Con tê giác đáp “Là sư tử chứ ai”. Sung sướng quá, sư tử đến hỏi con hà mã “Ai là chúa tể khu rừng này?”. Và hà mã cũng trả lời “Là sư tử chứ ai”. Sư tử lại đến hỏi con voi “Ai là chúa tể khu rừng này?”. Voi chẳng nói chẳng rằng, dùng vòi túm lấy sư tử, quăng nó lên trời. Khi rơi xuống đất, con sư tử choáng váng mặt này, mình mẩy ê ẩm, nhưng cũng ráng nói vớt vát: “Vì mi ngu quá chẳng trả lời nổi câu hỏi của ta nên ta không thèm ăn thua với mi” (Lon Jacobe).

---------------------------------

 

Suy Niệm 10: Đức tin mạnh mẽ của người mù


(Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

1. Chuyện này có hai vai:

a. Chúa Giêsu:

- Ngài không muốn cho đám đông dân chúng biết phép lạ Ngài làm. Bởi đó khi hai người mù xin Ngài cứu giúp ở chỗ đông người thì Ngài không đáp lại gì cả. Khi về tới nhà, Ngài mới cứu chữa họ. Cứu chữa họ xong, Ngài “nghiêm giọng” bảo họ “đừng cho ai biết”. Lý do: Chúa Giêsu không muốn người ta tin theo Ngài chỉ vì phép lạ.

- Ngài nhấn mạnh tới lòng tin: Trước khi làm phép lạ, Ngài hỏi: “Các anh có tin là tôi làm được điều ấy không?”. Sau khi làm phép lạ, Ngài nói: “Các anh tin thế nào thì được như vậy”.

b. Hai người mù: đức tin họ rất mạnh

- Họ gọi Chúa Giêsu là “Con vua Đavid” (Mt 9, 27), tức là tước hiệu người ta gọi Đấng Messia.

Ban đầu Chúa Giêsu không đáp ứng, nhưng họ cứ theo Ngài cho tới nhà. Khi Ngài hỏi, họ tuyên xưng đức tin:

- Thưa Ngài, chúng tôi tin.

Chính Chúa Giêsu nói phép lạ họ được là kết quả của lòng tin: “Các anh tin thế nào thì được như vậy”.

2. “Chúa Giêsu chính là ánh sáng. Chỉ trong Ngài chúng ta mới thực sự là người được sáng mắt; chỉ trong Ngài chúng ta mới biết chúng ta là ai, sẽ đi về đâu và đâu là ý nghĩa cuộc sống? Nhưng dĩ nhiên, để có thể tiếp nhận được ánh sáng của Chúa Kitô, điều kiện tiên quyết là chúng ta phải ý thức được sự mù lòa của mình và quyết tâm ra khỏi sự mù lòa ấy” (Trích “Mỗi ngày một tin vui”).

    Người ta thường nói đến nhiều loại mù: mù chữ, mù nhạc, mù hội họa, mù văn chương, mù vi tính v. v. . nhưng mù không nhận ra Chúa là ánh sáng đời mình có lẽ là loại mù nguy hiểm và tai hại hơn cả.

* Trong kho tàng truyện cổ Ấn Độ người ta đọc được câu chuyện này. Ngày xưa có mấy anh mù rủ nhau đi xem voi. Họ được dẫn đến cạnh một con voi rất to để họ dùng tay mà sờ vào nó. Anh thứ nhất sờ được vào cái vòi của con voi. Sờ xong anh đắc chí hô to:.

- Tôi biết voi giống cái gì rồi, nó giống như một con rắn.

Anh thứ hai sờ vào chân voi rồi nói:

- Đâu phải, voi giống như cái cột nhà.

Anh thứ ba sờ vào sườn voi, phản đối:

- Các anh điên hả? Voi giống như một bức tường chứ!

Anh thứ tư sờ vào tai voi, bật cười:

- Các anh nói gì vậy? Voi giống như một tàu lá chuối.

Đúng là mù! Mù là không thấy và vì không thấy nên không biết hay biết một cách phiếm diện, biết không đầy đủ.

* Trong một tập truyện dụ ngôn Léon Jacobe người ta đọc được câu chuyện này: Con sư tử đến hỏi con tê giác:

- Ai là Chúa tể khu rừng này?

Con tê giác sợ quá nên đáp:

- Là sư tử chứ ai.

Sung sướng quá, sư tử đến hỏi con hà mã:

- Ai là Chúa tể khu rừng này?

Và hà mã cũng trả lời:

- Là sư tử chứ ai.

Sư tử lại đến hỏi con voi:

- Ai là Chúa tể khu rừng này?

Voi chẳng nói chẳng rằng, dùng vòi túm lấy sư tử, quăng nó lên trời. Khi rơi xuống đất, con sư tử choáng váng mặt mày, mình mẩy ê ẩm, nhưng cũng ráng nói vớt vát:

- Vì mi ngu quá chẳng trả lời nổi câu hỏi của ta nên ta không thèm ăn thua với mi.

Đây là một thứ mù nữa. Người ta gọi là mù tâm linh, mù không dám nhận sự thật. Đây là thứ mù thường xảy ra nhất trong đời sống của chúng ta.

Vâng, không dám nhận sự thật cũng là một bệnh mù. Bệnh này rất nguy hiểm, nó thường bộc phát và lây lan nhanh. Nguyên nhân của căn bệnh là tính kiêu ngạo, một loại vi trùng rất khó trị và thường gây ra những hậu quả rất tai hại cho những người mắc thứ bệnh này.

Chúng ta lấy một vài thí dụ. Philatô đứng trước mặt Chúa Giêsu nhưng chỉ thấy Chúa như một tên tử tội cần phải loại trừ chứ không thể nhận ra Chúa là cứu Chúa cho đời mình như là Giakêu người thu thuế. Hêrôđê cũng vậy mặc dù được trực diện với Chúa nhưng chỉ thấy Chúa như một người điên.

Ngược lại, hai người mù trong bài Tin Mừng hôm nay mặc dầu họ mù hai con mắt thể xác nhưng họ lại sáng hai con mắt đức tin, hai con mắt tâm hồn, cho nên họ đã nhận ra Chúa. Họ đã tin Chúa và đã được Chúa chữa lành, cho họ được nhìn thấy.

Phần chúng ta, để có thể tiếp nhận được ánh sáng của Chúa, điều kiện tiên quyết là chúng ta phải ý thức được sự mù lòa của mình và quyết tâm ra khỏi sự mù lòa ấy” (Trích “Mỗi ngày một tin vui”).

Lạy Chúa Giêsu là ánh sáng.

Chỉ trong Chúa chúng con mới thực sự là người được sáng mắt.

Chỉ trong Chúa chúng con mới biết chúng con là ai, sẽ đi về đâu

và đâu là ý nghĩa cuộc sống cho cuộc đời chúng con.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 11: Chúa chữa hai người mù


(Lm. Micae Võ Thành Nhân)

Người bị mù thì không thể thấy được cảnh vật màu sắc bên ngoài. Thế giới xung quanh bên họ hầu như là một màu đen tối. Họ chỉ cảm nhận, giao tiếp với mọi người qua âm thanh nghe được của đôi tai, và các cảm xúc của các giác quan trên cơ thể, cũng như lời nói của họ mà thôi.

Hai người mù trong bài Tin Mừng hôm nay khi nghe Chúa đi ngang qua, họ chạy theo Chúa. Họ không thấy đường đi mà chạy theo Chúa, nghĩa là họ chạy theo Chúa bằng trái tim, bằng cảm nhận Chúa là Đấng có lòng từ bi, thương xót hay cứu giúp nhựng người hoạn nạn, cơ hàn, khổ cực mà trước đó họ đã nghe dân chúng kể về Chúa với họ. Đó là một sự quyết tâm quá lớn, vượt qua những giới hạn bệnh lý của họ. Và vì biết giới hạn, bất toàn về bệnh tật khốn đốn của mình, nên hai người này la thật to để Chúa nghe và Chúa cứu họ. Họ kêu lớn tiếng vì họ không để cơ hội này đi qua, nếu mà Chúa có đi nhanh hơn họ, khoảng cách của Chúa xa hơn họ, thì Chúa nghe mà đi chậm lại, hoặc dừng lại, chờ họ đến cùng Chúa với : “Khi ấy, Chúa Giê-su đi ngang qua, có hai người mù chạy theo Chúa và kêu lớn tiếng rằng: Hỡi Con vua Ða-vít, xin thương chúng tôi” (Mt 9, 27). Ở đây, tiếng kêu xin thất thanh to lớn của họ: “Lạy Chúa, xin nghe lời con cầu khẩn, tiếng con kêu mong được thấu tới ngài…Phận như chim lạc đàn đậu mái hiên (Tv 102, 2. 8), để xin Chúa thương xót họ, thương cho hoàn cảnh bi đát của họ. Vì thế, họ đã theo Chúa cho đến khi Chúa tới nhà, họ kiên trì không nản lòng, không bỏ cuộc, không buông xuôi, họ theo xin ơn Chúa cho đến cùng, Chúa thương họ, và trước khi làm phép lạ chữa bệnh, Chúa hỏi lại lập trường của họ, để rồi nhân cơ hội này, họ thưa lại với Chúa như là một lời tuyên xưng vào Chúa để minh chứng cho mọi người biết lòng tin của họ, sự ước ao Chúa thương ban ơn cứu giúp họ: “Khi Chúa tới nhà, những người mù tiến lại gần Chúa. Chúa Giê-su phán bảo họ: Các ngươi có tin rằng Ta có thể làm việc ấy không? Họ thưa: Lạy Thầy, có. Bấy giờ Chúa sờ vào mắt họ và phán: Các ngươi tin thế nào, thì hãy được như vậy. Mắt họ liền mở ra, nhưng Chúa Giê-su truyền cho họ rằng: Coi chừng, đừng cho ai biết” (Mt 9, 28 – 30).

Trước ơn ban quá lớn của Chúa đối với họ mà họ tưởng như là trong mơ, có mơ cũng không được, họ chẳng bao giờ dám nghĩ tới. Đàng khác, Chúa chữa lành bệnh mù của họ một cách nhưngkhông. Họ muôn vàn tạ ơn Chúa. Chúa căn dặn họ đừng nói cho ai biết, nhưng rồi họ vừa ra đi và cao rao Chúa cho mọi người để mọi người cũng chạy đến với Chúa. Họ đã không giữ Chúa cho riêng mình mà mong cho mọi người được Chúa thương ban ơn giống như họ: “Nhưng vừa ra đi, họ liền đồn tiếng Người trong khắp miền ấy” (Mt 9, 31).

Phần riêng chúng ta, khi chúng ta phạm tội là chúng ta bị mù, khi chúng ta thấy sự khốn cùng của anh chị em chúng ta mà chúng ta không giúp là chúng ta bị mù…vì thế: ‘Ôi lạy Chúa, mở cho con đôi mắt, thấy tình yêu Chúa kỳ diệu khắp nơi. Com mù lòa bên vệ đường hành khất, xin chữa con để nhìn thấy mặt Ngài” (TT KS t5 tuần II), chúng ta hãy kêu xin Chúa thương xót cứu chữa chúng ta nơi tòa Giải tội.

Lạy Chúa, trong Mùa Vọng này, xin Chúa cứu chữa bệnh mù về tâm hồn chúng con do tội lỗi chúng con phạm mà gây ra để chúng con được nhìn thấy Chúa khi Chúa đến thăm viếng chúng con. Đồng thời, xin Chúa cũng giúp chúng thấy những nỗi đau, sự cơ bần khốn khổ của anh chị em đó mà chúng con giúp đỡ, an ủi những anh chị này vượt qua thử thách mà trung thành giữ đạo Chúa tốt hơn. Amen.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 12: Tỏa ánh quang rạng ngời đôi mắt


(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)

Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Sáu Tuần 1 Mùa Vọng hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa biểu dương uy quyền và ngự đến, vì chỉ mình Chúa mới có thể giải thoát và cứu độ chúng ta khỏi mọi cơn nguy khốn chính tội lỗi chúng ta đã gây nên.

Chỉ mình Chúa mới có thể giải thoát và cứu độ chúng ta, chỉ mình Đức Kitô mới có thể hòa giải dân Dothái với dân ngoại, hòa giải chúng ta với Chúa Cha, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, ngôn sứ Isaia cho thấy: Aicập và Asua sẽ quay đầu trở lại: Đức Kitô đã phá đổ bức tường ngăn cách dân ngoại và dân Dothái, và làm cho cả hai nên một. Trong bài đọc này, Dothái giao hòa với các kẻ thù truyền kiếp của mình để trở thành dụng cụ chuyển ơn cứu độ đến những dân ấy. Ngày ấy, người Aicập sẽ nhận biết Đức Chúa. Họ sẽ dâng hy lễ và lễ phẩm mà phụng thờ Người. Thiên hạ sẽ từ đông, tây, nam, bắc, đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.

Chỉ mình Chúa mới có thể giải thoát và cứu độ chúng ta, vì thế, chúng ta phải tìm kiếm Chúa và bước đi theo ánh sáng của Người, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Anxenmô cầu xin: Xin dạy con tìm Chúa và xin Chúa tỏ mình ra cho kẻ đang kiếm tìm, vì con không thể tìm Chúa, nếu Chúa không dạy cho, cũng không gặp được Chúa, nếu Chúa không tỏ mình… Lạy Chúa, chúng con nguyền chẳng xa Chúa nữa đâu, cúi xin Ngài ban cho được sống, để chúng con xưng tụng danh Ngài. Xin tỏa ánh Tôn Nhan rạng ngời, để chúng con được ơn cứu độ. Lạy Chúa, xin Ngài nhớ đến con, bởi lòng thương dân Ngài, xin ngự đến viếng thăm mà ban ơn cứu độ.

Chỉ mình Chúa mới có thể giải thoát và cứu độ chúng ta, vì thế, chúng ta phải giữ vững lòng trông cậy nơi Chúa, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, ngôn sứ Isaia cho thấy: Ngày ấy, mắt người mù sẽ được nhìn thấy. Những người tâm trí lầm lạc sẽ có được sự hiểu biết, và những kẻ ương ngạnh sẽ chấp nhận lời răn dạy. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 26, vịnh gia đã cho thấy: Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào? Chúa là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai nữa? Tôi vững vàng tin tưởng sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống. Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào! Hãy cậy trông vào Chúa.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Kìa Chúa chúng ta ngự đến uy quyền, sẽ chiếu tỏa ánh quang cho tôi tớ Người rạng ngời đôi mắt. Trong bài Tin Mừng, Nhờ tin vào Đức Giêsu, hai người mù được chữa khỏi. Chúa chính là ánh sáng và ơn cứu độ của chúng ta, nếu chúng ta tin tưởng và khao khát Chúa, chúng ta sẽ được Chúa tỏa ánh quang rạng ngời đôi mắt. Như hai anh mù, chúng ta thao thức mong được thấy Chúa, nhưng, nhan thánh Chúa lại quá xa khuất với chúng ta. Chúng ta khao khát đến với Chúa mà không sao tới được nơi Người ngự. Chúng ta muốn tìm thấy Chúa, mà không biết Chúa ở đâu. Chúng ta ao ước tìm Chúa, nhưng, không biết thánh nhan Người. Chúa đã dựng nên chúng ta và tái tạo chúng ta, Chúa lại mang đến cho chúng ta mọi ơn lành, thế mà, chúng ta vẫn chưa biết Chúa. Chúng ta đã được dựng nên để chiêm ngưỡng Chúa, ấy thế mà, chúng ta vẫn chưa đạt được mục đích ấy. Ước gì Chúa rọi ánh sáng vào đôi mắt chúng ta và tỏ thánh nhan Người cho chúng ta! Ước gì Chúa mau sớm trở lại với chúng ta! Ước gì chúng ta biết khát khao tìm kiếm Chúa, và khi tìm thấy rồi, chúng ta lại càng khát khao Chúa! Ước gì chúng ta thiết tha gặp được Chúa, và khi gặp được rồi, chúng ta lại càng mến yêu Chúa! Ước gì Chúa biểu dương uy quyền và ngự đến, vì chỉ mình Chúa mới có thể giải thoát và cứu độ chúng ta khỏi mọi cơn nguy khốn chính tội lỗi chúng ta đã gây nên. Ước gì được như thế!

----------------------------------

 

Thứ 7: 07/12 Thánh Amrôxiô


Lúa chín đầy đồng, thợ gặt thì ít.
07/12 – Thứ Bảy đầu tháng, tuần 1 mùa vọng. – Thánh Amrôxiô, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh. Lễ nhớ.
"Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ".

* Thánh Amrôxiô chào đời ở Trêvêrô khoảng năm 340 trong một gia đình người Rôma. Thánh nhân theo học ở Rôma và bắt đầu sự nghiệp hiển hách ở Xiếcmiô.

Năm 374, lúc đang ở Milanô, thánh nhân bất ngờ được bầu làm giám mục và được tấn phong ngày 7 tháng 12. Người trung thành thi hành bổn phận, nổi bật nhất về lòng bác ái đối với mọi người. Đối với các tín hữu, người vừa là mục tử, vừa là tôn sư. Người đã can đảm bênh vực các quyền của Hội Thánh, người vừa viết lách, vừa hoạt động để bênh vực giáo lý đức tin chân thật, chống lại những người theo phái Ariô.
Người qua đời thứ bảy tuần thánh, ngày 07 tháng 04 năm 397.

---------------------------------

 

LỜI CHÚA: Mt 9,35 - 10,1. 6-8


Khi ấy, Chúa Giêsu đi rảo khắp các thành phố làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn, Người liền bảo môn đệ rằng: "Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa".

Và Người triệu tập mười hai môn đệ, ban cho họ quyền năng trên các thần ô uế, để họ xua đuổi chúng, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Người bảo: "Các con hãy đi đến cùng chiên lạc của nhà Israel trước đã, và rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Hãy chữa lành người liệt, phục sinh kẻ chết, chữa lành người phung, và xua trừ ma quỷ. Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không".

---------------------------------

 

Suy Niệm 1: Chạnh lòng thương


(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ. )
Thiên Chúa của Do Thái giáo là Thiên Chúa gần gũi với con người.
Thiên Chúa của Ítraen có thể trừng phạt dân vì sự bất trung của họ,
nhưng Ngài cũng là Thiên Chúa giàu lòng tha thứ.
Khi đọc bài đọc 1 của ngôn sứ Isaia, chúng ta ngạc nhiên
khi thấy một Thiên Chúa tỉ mỉ quan tâm đến hạnh phúc của con người.
Ngài nghe và đáp lại tiếng dân kêu than, khóc lóc (c. 19).
Ngài dạy dỗ và chỉ đường cho người lưỡng lự phân vân (c. 21).
Nhưng hơn nữa, Ngài còn để ý đến đời sống vật chất của dân chúng.
Ngài làm cho mưa thuận gió hòa,
cho khe suối róc rách vì có dòng nước chảy.
Nhờ đó hạt giống được gieo trở thành lương thực,
súc vật chăn nuôi được gặm cỏ thỏa thuê,
bò cầy ruộng sẽ được ăn cỏ khô trộn muối (cc. 23-24).
Con người có đủ bánh ăn và nước uống trong lúc ngặt nghèo.
Qua cuộc sống của mình, Đức Giêsu cũng muốn cho ta thấy
một Thiên Chúa nhân từ bằng xương bằng thịt,
một Thiên Chúa bị thu hút bởi con người, mê say phục vụ con người.
Không rõ trong sứ vụ công khai, trong gần ba năm rong ruổi,
Đức Giêsu đã đi bộ bao nhiêu cây số của xứ Paléttin,
đôi chân dẻo dai của Ngài đã đến với bao nhiêu làng mạc, thành phố.
đôi tay của Ngài đã chạm đến bao nhiêu thương tích của nhân gian.
Chỉ biết trái tim của Ngài là trái tim bằng thịt,
cứ nhói đau và chạnh thương trước bể khổ của phận người.
Bệnh tật thân xác là gánh nặng kéo con người xuống.
Đức Giêsu đã trở nên như vị lương y đối diện với đủ thứ bệnh tật.
Mù lòa, câm điếc, bất toại, phong hủi đều được Ngài chữa lành,
thậm chí Ngài còn hoàn sinh kẻ chết.
Ma quỷ cũng là một mãnh lực làm con người mất tự do.
Khử trừ ma quỷ và thần ô uế, là dấu cho thấy Nước Trời đã đến.
Mọi sự Đức Giêsu đã làm thì Ngài sai các môn đệ tiếp tục (cc. 6-8).
Hôm nay chúng ta cũng được sai để tiếp tục việc của Ngài ngày xưa:
loan báo Tin Mừng Nước Trời, chữa lành thế giới khỏi mọi bệnh tật,
giải phóng con người khỏi những xích xiềng mới do chính họ tạo nên,
và loại trừ thần ô uế ra khỏi mọi nơi con người sinh sống.
Công việc này thật bao la,
vì không giới hạn trong mảnh đất Paléttin nhỏ hẹp.
Công việc này không dễ,
vì ta phải đối diện với sức đề kháng mạnh mẽ của ác thần.
Nhưng với quyền năng Chúa ban, chúng ta tin mình sẽ thắng (c. 1).
Lễ Giáng Sinh là lễ mừng ơn cứu độ cho con người.
Chúng ta được mời nhìn thế giới hôm nay bằng cái nhìn của Giêsu,
yêu thế giới bơ vơ hôm nay bằng trái tim của Giêsu,
đến với thế giới xa xôi hôm nay bằng đôi chân của Giêsu.
Ước gì tay chúng ta chạm đến người nghèo, người yếu đau, sa ngã.
Và ước gì chúng ta cho không những gì đã nhận được nhưng không.
 
Cầu nguyện:

Lạy Cha,
thế giới hôm nay cũng như hôm qua
vẫn có những người bơ vơ lạc hướng
vì không tìm được một người để tin;
vẫn có những người đã chết từ lâu
mà vẫn tưởng mình đang sống;
vẫn có những người bị ám ảnh bởi thần ô uế,
ô uế của bạc tiền, của tình dục, của tiếng tăm;
vẫn có những người mang đủ thứ bệnh hoạn,
bệnh hoạn trong lối nhìn, lối nghĩ, lối sống;
vẫn có những người bị sống bên lề xã hội,
dù không phải là người phong ...
Xin Cha cho chúng con nhìn thấy họ
và biết chạnh lòng thương như Con Cha.
Nhưng trước hết,
xin cho chúng con
nhìn thấy chính bản thân chúng con.
 
-------------------------------

 

Suy Niệm 2: Thiên Chúa chạnh lòng thương


(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Thời lưu đày dân chúng sống trong đau khổ: đói khát, nhục nhã. Chân lý thuộc về kẻ mạnh. Thấp cổ bé miệng chẳng ai lắng nghe. Nhưng Isaia loan báo Đấng Cứu Thế sẽ đến giải phóng dân Người. Sẽ lắng nghe tiếng kêu than. Sẽ ban đủ cơm bánh. Sẽ hướng dẫn sự thật. Thiên Chúa yêu thương đầy tế nhị. Người còn cho mưa để hạt giống mọc lên. Cho súc vật béo tốt. Băng bó vết thương. Chữa lành bệnh tật. Cho cả mặt trời mặt trăng sáng hơn gấp bảy lần. Đúng là yêu nhau yêu cả đường đi.

Tình yêu tế nhị đó được Matthêu gọi đúng tên là Chạnh Lòng Thương. Vâng đến thời Chúa Giêsu thì ta được thấy rõ Thiên Chúa có trái tim nhân loại. Trái tim đó biết thổn thức bồi hồi xúc động. Trái tim đó biết quặn lên đau đớn. Vì trái tim đó đặt mình vào hoàn cảnh của tha nhân. Đau nỗi đau của họ. Buồn nỗi buồn của họ. Khổ nỗi khổ của họ.

Vì để lòng mình gần với lòng mọi người. Nên Chúa đã ra tay cứu giúp. Một cứu giúp có kế hoạch lâu dài. Chúa tuyển chọn và sai các tông đồ ra đi tiếp tục công việc Chạnh Lòng Thương của Chúa.

Nhân loại ngày nay không khác gì thời Isaia. Con người bị lưu đầy, xa cách Thiên Chúa bởi biết bao lý thuyết độc hại. Con người bị áp bức rên xiết chẳng ai nghe. Con người bị nô lệ cho thú tính. Bị giam cầm trong nhu cầu, trong dục vọng, trong hưởng thụ. Con người đang bị thương tích. Xã hội bị thương tích vì những ngăn cách giầu nghèo. Gia đình bị thương tích vì biết bao đổ vỡ. Con người bị thương tích vì những lỗi lầm tự gây ra cho mình. Con người rất cần Lòng Thương Xót của Chúa.

Chúa sai chúng ta vào trong thế giới hôm nay để rao truyền Lòng Thương Xót của Chúa. Lòng Thương Xót sẽ đưa con người trở lại với Thiên Chúa. Lòng Thương Xót sẽ giải phóng con người. Lòng Thương Xót sẽ chữa lành những vết thương. Lòng Thương Xót sẽ phục hồi nhân phẩm. Lòng Thương Xót sẽ đem đến cho các vấn để của thế giới này một giải pháp tối ưu và rốt ráo.

Sống mùa Vọng chính là rèn luyện một trái tim biết thương xót. Lạy Chúa, xin tạo cho con một trái tim biết Thương Xót.

-------------------------------

 

Suy Niệm 3: Sứ Mệnh Tông Ðồ


Chú ý đến những thái độ trên của Chúa Giêsu, chúng ta có thể khám phá ra những sự thật hữu ích cho cuộc đời theo Chúa của mỗi người, nhất là của những ai dấn bước theo Chúa, cách đặc biệt hơn là những kẻ "Tận Hiến" cuộc đời làm chứng cho Chúa. Dung mạo tinh thần xung quanh và trước mặt Chúa Giêsu thời Ngài cũng như của thời đại chúng ta hôm nay được Chúa mô tả như lầm than, vất vả, bơ vơ như đàn chiên không có người chăn dắt, bị lạc mất lý tưởng sống, đang tự tranh đấu để sống còn.

Trong đoạn này những điểm tiêu cực nhiều hơn là tích cực, như bơ vơ, lạc lõng, đã bỏ mất hay không biết gì đến giá trị nhân bản Kitô. Ðó là đoàn người của một xã hội bị trần tục hóa trầm trọng của ngày hôm nay. Diễn phác môi trường như thế, Chúa Giêsu không có chút trách móc, khinh thị, tránh né mà nhìn đó như một lời mời gọi dấn thân yêu thương, đó là mùa lúa chín một cơ hội ngàn vàng để biểu lộ tình yêu thương đối với anh chị em.

Sự nhỏ mọn tầm thường nơi tâm hồn có thể làm cho chúng ta có một thái độ tranh chấp, khinh thị, rút lui, nhưng đó không phải là thái độ của chính Chúa Giêsu khi Ngài nhìn thấy đoàn người khủng hoảng tinh thần như đoàn chiên không người chăn dắt, vả lại Chúa Giêsu đã yêu thương họ. Ðây không phải là một sự chạnh lòng thương, không phải là một tâm tình thương hại, tôi nghiệp chóng qua nhưng là một tình thương sâu thẳm từ đáy tâm hồn của Chúa Giêsu.

Qua đoạn Tin Mừng trên, chúng ta thấy tâm hồn Chúa Giêsu tràn đầy tình thương khi nhìn thấy nhu cầu dân chúng đang bị lạc hướng như đàn chiên không người chăn dắt. Tâm hồn Ngài xúc động tận trong thâm tâm, vì Ngài tràn đầy tình thương đối với họ, Ðó là bí quyết của đời sống Tông đồ của mọi đồ đệ theo Chúa. Ðược Chúa mời gọi làm chứng nhân của tình thương cho tình thương thì những sự dữ, những tiêu cực của môi trường chúng ta sinh sống ngày nay là những cơ hội ngàn vàng để chúng ta sống tình thương mà Chúa đã ban tặng cho các đồ đệ của Ngài.

Tư tưởng thứ hai mà bài Phúc Âm gợi lên cho chúng ta là những hành động của Chúa Giêsu: Chúa gọi các Tông đồ, ban cho họ quyền hành như Chúa, trừ các tà thần, giải phóng con người khỏi làm nô lệ cho sự dữ, cho ma quỉ, chữa lành các bệnh tật, thăng tiến cuộc sống con người. Chúa sai các Tông đồ đi rao giảng bằng các chỉ thị, mặc dù đây mới chỉ là sai các ngài đi thử nghiệm lúc ban đầu. Cuộc sai đi chính thức sau này sẽ được thực hiện khi Chúa đã hoàn tất công cuộc cứu chuộc của Ngài sau biến cố Phục Sinh.

Những hành động của Chúa phát đi từ tình thương của Ngài đối với con người. Nhìn công việc của người khác chúng ta có thể nói trọn vẹn sứ mạng của Giáo Hội, mọi thành phần của Giáo Hội, mọi thành phần đích thực của Chúa đều phát sinh từ tình yêu Thần Linh hiện diện nơi con tim phàm trần. Người đồ đệ của Chúa cần phải được thanh luyện, cần phải được biến đổi, được thay thế quả tim xác thịt bằng một quả tim mới tràn đầy tình yêu thương thần thiêng. Toàn thể cơ cấu Giáo Hội trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng được xây dựng trên nền tảng tình yêu thương thần thiêng này. Chính nơi đây, chúng ta được hiểu thêm hay hiểu lại câu nói của thánh Phaolô Tông đồ viết về bí quyết đời sống Tông đồ của ngài: "Tình yêu Chúa Kitô thúc bách tôi".

Chúa Giêsu thấy đám đông liền chạnh lòng thương. Tâm hồn Ngài tràn ngập tình thương, Ngài xúc động tận thâm tâm trước nhu cầu của dân chúng đang bị lạc hướng như đoàn chiên không người chăn dắt. Ngài lên tiếng mời gọi các Tông đồ, những con người tầm thường hãy theo Ngài, hãy để Ngài biến đổi thành những chứng nhân tình yêu. Thái độ đáp trả duy nhất của mỗi người chúng ta là để cho tình yêu thần thiêng Chúa biến đổi và thôi thúc chúng ta hành động: "Tình yêu Chúa Kitô thúc bách tôi".

Trong khiêm tốn và trong thinh lặng của Ðức Tin, chúng ta hãy đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, hãy bắt chước cuộc đời của Chúa Giêsu trên trần gian này: "Thầy đến để mang lửa yêu thương đến trần gian và Thầy không có mong ước nào khác hơn là cho lửa ấy cháy lên, tỏa sáng khắp nơi, soi sáng mọi người, mang tin vui tỏa sáng khắp nơi, soi sáng mọi người, mang tin vui tỏa sáng cho con người". Hãy khiêm tốn lắng nghe và hãy để cho tình yêu Chúa biến đổi và thôi thúc.

Lạy Chúa, xin đổ tràn tình yêu Chúa trên chúng con và biến đổi chúng con thành những chứng nhân cho tình yêu Chúa, chứng nhân kiên trung trong Ðức Tin sống động qua đức Bác Ái. Amen.

-------------------------------

 

Suy Niệm 4: Nhà truyền giáo đích thực


Vào thời Trung cổ, một số tín hữu giàu có muốn sống theo tinh thần của thánh Benado đã từ bỏ mọi tiện nghi và ngay cả ngôi thánh đường ấm cúng của họ để đến cư ngụ trên một đỉnh núi cao. Mục đích của họ là để cảm thông với những khách bộ hành lạc lối giữa núi rừng, nhất là vào mùa đông tuyết rơi. Những tín hữu này quyết định ngày đêm túc trực ở đó để kịp thời cứu vớt những ai kêu cứu. Để làm việc đó, họ đã huấn luyện một đàn chó đi tìm người lạc lối, đưa về nhà Dòng để được tận tình săn sóc.

Sự cảm thông không chỉ là một cảm xúc trong tâm hồn, mà còn là đến gần để lắng nghe, chia sẻ, trao ban. Thiên Chúa là Đấng cảm thông đích thực: Ngài không thể hiện sự cảm thông duy chỉ bằng cái nhìn từ trời cao, nhưng Ngài đã hoá thân làm người, chia sẻ hoàn toàn kiếp sống khốn cùng của con người. Tin mừng hôm nay nói lên sự cảm thông của Thiên Chúa bằng câu: “Ngài động lòng xót thương họ”. Chúa Giêsu quả thực chính là Trái tim của Thiên Chúa, một Trái tim không những rung động trước nỗi khốn khổ của con người, mà còn đến ở bên con người.

Chúa Giêsu xuất hiện như một tôn sư. Nhưng trong khi các bậc thầy khác qui tự một số môn sinh trong một ngôi trường hoặc chỉ giảng dạy tại cổng thành, thì Chúa Giêsu đã ra đi khắp nơi, chiêu mộ môn sinh để họ cùng đi với Ngài tìm đến những người bị bỏ rơi nhất trong xã hội.

Qua cung cách thể hiện sự cảm thông ấy, Chúa Giêsu phác hoạ ra mẫu người truyền giáo đích thực: ra đi và tìm đến với người khác. Ra đi dĩ nhiên không chỉ có nghĩa là rời bỏ nơi này đến nơi khác, mà thiết yếu là thái độ ra khỏi chính mình, ra khỏi vỏ ốc của mình để đến với tha nhân.

Chúa Giêsu đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ. Ngài đã phục vụ bằng một tình yêu vừa bao la, vừa cụ thể, đến với từng con người trong từng nỗi đau của họ để băng bó, xoa dịu.

Ước gì sự đồng hành cảm thông của Chúa Giêsu cũng hiện thực hoá trong cuộc sống mỗi Kitô hữu, để mọi người chung quanh nhận ra tình yêu của Thiên Chúa đối với họ.

 -------------------------------

 

Suy Niệm 5: Chứng nhân của niềm vui


Rồi Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông được quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa các bệnh hoạn tật nguyền (Mt. 10,1)

Không ai không biết câu châm ngôn này: “Một ông thánh buồn là điều đáng buồn”. Lời Chúa trong tất cả các trang Tin mừng mời gọi chúng ta sống vui mừng sâu thẳm và trở nên nhân chứng Tin mừng của Đức Giêsu.

Đức Giêsu trao phó cho các môn đệ một sứ điệp không hề có một chút bất hạnh nào. Người làm cho họ nên những người ban phát sự sống và mời gọi họ đi loan báo Tin mừng nước trời, kèm theo những dấu chỉ: Những dấu chỉ vui mừng chiến thắng buồn sầu, sự sống chiến thắng sự chết, hạnh phúc của Thiên Chúa chiến thắng tội lỗi: “Các con hãy đi chữa lành các bệnh nhân, phục sinh những kẻ chết, thanh tẩy những kẻ phong cùi”.

Niềm vui người tông đồ của Đức Kitô còn hơn cảm tính vui mừng tâm lý con người. Niềm vui đó bắt nguồn sâu xa trong sự gặp gỡ sống động với tình yêu Thiên Chúa. Ai cảm thấy được yêu mãnh liệt bởi Đức Chúa Cha và được sống đổi mới bởi Chúa Thánh Thần thì không thể bị lôi cuốn lâu trong buồn sầu. Dù có bị chôn vùi trong những hố sâu nguy khó, họ sẽ nhận ra Đấng đầy quyền năng phá tan đen tối (Is. 30, 20 và 26). Môn đệ quyết tâm nhận lãnh sứ mệnh đưa Tin mừng tình yêu vô hạn cho những kẻ đang tìm ngụp lặn trong những thú vui tạm bợ giữa lòng thế giới chồng chất buồn sầu lai láng. Mỗi cá nhân và tập thể chúng ta phải biết gieo những mầm sống và hy vọng của Tin mừng. Cùng nhau và chính mình chúng ta phải tìm mọi cách xua đuổi những thế lực sự dữ còn đang hiện diện trong thế giới chúng ta. Tìm mọi cách trao ban hương vị tự do cho những ai đã quàng vào cổ mình ách nô lệ, tìm mọi cách rao giảng Đức Giêsu Kitô cho kẻ không nhận biết Người là Chúa sự sống của họ, là Chúa các ngày lễ. Nếu chúng ta quyết tâm hợp tác vào công cuộc cứu độ thế giới, thì chúng ta phải là những sứ giả mang Tin mừng có sức biến đổi bộ mặt trái đất này.

Chúng ta có ý thức rõ như thế không?

C. G

 -------------------------------

 

Suy Niệm 6: Mục tử đích thực


Lời mời gọi truyền giáo là đề tài xuyên suốt của Đức Giêsu trong hành trình sứ vụ của Ngài. Từng lời nói, hành động đều làm toát lên đặc tính này.

Hôm nay, một lần nữa Đức Giêsu quan sát và thấy dân chúng lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt và Ngài đã chạnh lòng thương đám đông này.

Thực ra thì dân chúng có người lãnh đạo, nhưng điều thua thiệt cho họ là họ lại bị sống dưới sự thống lãnh của những kẻ độc tài, kiêu ngạo, hình thức, dối trá là những Luật Sĩ và Pharisiêu. Vì thế, họ bị những người này dẫn đi sai đường trật lối, bởi vì người đang dẫn dắt họ chính là những mục tử dởm.

Chính vì thế, khi Đức Giêsu đến, Ngài đã sống hoàn toàn khác với những người lãnh đạo thời bấy giờ, để làm hiện lên dung mạo một vị Mục Tử nhân lành, biết từng con chiên của mình, để con nào ốm đau, Ngài chữa trị; con nào gãy chân, què tay, Ngài băng bó; con nào đi lạc, Ngài đi tìm ... , nói chung, Ngài đã ”ngửi thấy mùi của từng con chiên” để yêu thương chúng xứng với nhân phẩn của từng con.

Hôm nay, Tin Mừng cho thấy Đức Giêsu một lần nữa thi hành sứ vụ Mục Tử của mình khi ”chạnh lòng thương” để chữa lành bệnh tật, xua đuổi ma quỷ và giải thoát họ khỏi những sự kiềm chế của tội lỗi.

Kế đó, Đức Giêsu đã mời gọi các môn đệ ra đi thi hành cùng một sứ vụ như Ngài và đồng thời trao ban cho các ông những quyền năng cần thiết để hỗ trợ việc rao giảng như khả năng chữa bệnh, trừ quỷ, khuất phục thiên nhiên. ... Tuy nhiên, vì Ngài biết rõ sự nguy hại của kẻ kiêu ngạo, nên không quên nhắc các ông: ”Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không”.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta cần có thái độ như Đức Giêsu là phải có tình yêu thương, trách nhiệm và hết lòng phục vụ con người cách vô vị lợi, không tìm lợi lộc, danh vọng thấp hèn cho mình, nhưng tất cả để cho danh Cha được cả sáng và Nước Cha mau ngự trị.

Có thế, Mùa Vọng mới thực sự là Mùa của tình thương, sự tha thứ, bao dung. Được như thế, chúng ta sẽ có những món quà trân quý để dâng lên cho Chúa Hài Đồng trong dịp lễ Giáng Sinh sắp tới.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con được trở nên người môn đệ đích thực nhờ học và noi theo gương Chúa đã làm. Xin cho anh chị em giới trẻ biết mau mắn đáp lại lời mời gọi của Chúa để ra đi và làm môn đệ cho Chúa. Amen.

Ngọc Biển, SSP

 -------------------------------

 

Suy Niệm 7: Chạnh lòng thương xót


(TGM Giuse Nguyễn Năng)

Sứ điệp: Trái tim Chúa Giêsu chạnh lòng thương xót trước những khổ đau bệnh tật của con người. Chúa tỏ lộ tình thương cứu độ bằng cách rao giảng Tin mừng và chữa lành mọi bệnh tật.

Cầu nguyện: Chúa ơi, trên thế giới này, có ai mà chẳng có lúc ốm đau bệnh tật. Có ai mà không bao giờ đau khổ. Bước chân ra khỏi nhà, con gặp ngay một người tàn tật ăn xin, áo quần rách nát. Trên đường đi, bên vỉa hè, ngoài phố chợ, trong bệnh viện, nơi gia đình, lạy Chúa, bao nhiêu kẻ bệnh hoạn tật nguyền: có những kẻ la lối than thân trách phận, lắm người rên rỉ chịu đựng bất đắc dĩ.

Con biết Chúa thương chúng con đau khổ. Trái Tim của Chúa giàu lòng thương xót luôn chia sẻ với bệnh tật của chúng con. Con xin Chúa cho các bệnh nhân và mọi người đau khổ được nhận ra Tin mừng lớn lao này là: chính họ đang được Chúa yêu thương, chính Chúa đang âm thầm cứu vớt nâng đỡ họ qua bàn tay ân cần của những người chung quanh họ, và chính Chúa đang ban sức mạnh để họ can đảm và vui tươi đón nhận gánh nặng bệnh tật. Và hơn nữa, xin cho họ hiểu rằng chính những đau khổ bệnh tật là cơ hội cho họ thông phần vào Thánh giá cứu độ của Chúa. Và như vậy cuộc sống họ dường như là tàn phế, là đồ bỏ đi, nhưng thực ra lại là sự cộng tác lớn lao để chống đỡ, thanh luyện và đền tội cho thế giới tội lỗi này. Hội Thánh luôn tìm thấy nơi họ một nguồn trợ lực và sức mạnh thiêng liêng cho hoạt động tông đồ của mình.

Con xin Chúa biểu lộ quyền năng và tình thương cứu độ họ. Và con cũng xin Chúa cho con biết góp phần mình để xoa dịu những nỗi đau thương của anh chị em con. Amen.

Ghi nhớ: ”Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ”.

 -------------------------------

 

Suy Niệm 8: Sứ mệnh truyền giáo


(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

1. Đức Giêsu đi khắp nơi từ thành thị đến thôn quê, rao giảng dạy dỗ, hướng dẫn và đem bình an cho thân xác và tâm hồn con người. Ngài đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời cho dân chúng để  đem lại ơn cứu độ cho họ. Mối ưu tư hàng đầu của Ngài là làm cho mọi người được nghe biết Tin Mừng. Mối ưu tư ấy đã được diễn tả trong lúc thổ lộ tâm tình với các môn đệ: “Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt lúa về”.

2. Trong năm thứ nhất đời công khai, Đức Giêsu đã đi rao giảng nhiều nơi. Đi đến đâu Người cũng thấy dân chúng ở vào trường hợp đáng thương, vì họ bị những người lãnh đạo bắt giữ những luật khắt khe, và không dẫn họ đến hạnh phúc đích thực. Vì thế Đức Giêsu động lòng thương họ và gọi thêm các cộng sự viên để cùng với Người chăm sóc dân chúng trong công việc truyền giáo.

3. Đức Giêsu  thi hành sứ vụ cứu thế bằng cách đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền. Người thi hành sứ vụ cứu thế như  vậy là để trung thành với thánh ý của Chúa Cha và đồng thời trở nên gương mẫu cho các Tông đồ, và cho những người làm việc tông đồ sau này trong công tác truyền giáo. Đức Giêsu đi rao giảng nhiều nơi: có ý dạy những ai làm tông đồ truyền giáo phải biết di chuyển hết nơi này đến nơi khác chứ không được cắm chốt một nơi nào như một độc quyền.

4. Theo Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã phác họa ra một mẫu người truyền giáo đích thực: Ra đi và tìm đến với người khác. Ra đi dĩ nhiên không chỉ có nghĩa là rời bỏ nơi này đến nơi khác, mà thiết yếu là thái độ ra khỏi chính mình, ra khỏi vỏ ốc của mình để đến với tha nhân (Trích “Mỗi ngày một tin vui”).

Đức Giêsu nhắc cho các môn đệ, trong khi đi đến với những người khác, phải luôn có tinh thần xả kỷ quên mình  vì Chúa  đã nói: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”. Vì thế, Giáo hội luôn ý thức sứ vụ mục tử “chạnh lòng thương” và việc loan báo Tin Mừng (x. Ad Gentes).

5. Ra đi loan báo Tin Mừng còn có nghĩa là ra đi khỏi con người của mình. Ra khỏi con người thiển cận, ích kỷ của mình để mặc lấy cái nhìn nhậy cảm hơn trước sự hiện diện của tha nhân đang cần đến sự giúp đỡ của chúng ta.

Đây là bức thư của một bạn trẻ bị bệnh sida: “Trước đây tôi không phải là một Kitô hữu. Tôi sống trong tuyệt vọng vì số phận đã bị kết án bởi sida. Thế rồi, nhờ một người bạn, tôi đã gặp Chúa. Bắt đầu từ ánh mắt nhìn tôi, và tôi đã tin vào Chúa. Tôi đã tìm ra ý nghĩa của cuộc sống, và nhận thức được giá trị đời mình ngay trong quãng đời vắn vỏi còn lại”.

Hãy xin Chúa cho chúng ta một con tim rộng mở, luôn biết cảm thông và trân trọng anh em đồng loại, để thế giới tràn đầy niềm hy vọng (Epphata).

6. Giáo hội không ngừng nhắc nhở con cài mình tập trung góp phần vào việc truyền giáo, đồng thời phải nỗ lực thích ứng để có thể đem Tin Mừng cho nhân loại trong thời đại mới. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mời gọi mọi thành phần trong Hội thánh hãy “ra khơi truyền giáo” (x. Novo Millennio Ieunte).

Người Kitô hữu ra khơi truyền giáo bằng đời sống bác ái, dấn thân cho người nghèo, người cô thế cô thân, bằng gương sáng việc thiện giữa thế giới hôm nay. Đây là bằng chứng:

Một nhóm bạn trẻ từ nhiều quốc gia đang bàn thảo về cách làm cho Tin Mừng của Chúa được lan rộng. Họ nói về sự truyên truyền, về tài liệu và tất cả những cách phổ biến Tin Mừng trong thế kỷ 20 này.

Một cô gái Phi châu nói: “Khi muốn truyền đạo cho một làng chúng tôi, chúng tôi không cho họ sách. Chúng tôi gửi một gia đình Kitô giáo đến sống trong làng. Và họ sẽ làm cho mọi người thành Kitô hữu”.

7. Truyện: Đức tin sống động.

Felix Frankfurter là một quan tòa nổi tiếng của tòa án tối cao của Hoa Kỳ. Một lần kia ông được đưa vào bệnh viện, ở đó ông quen biết một y tá có tên là Lucy. Họ có những lúc ngồi nói chuyện thân mật và ông biết nhiều điều về Lucy.

Trước đó, chưa bao giờ ông gặp được người nào có lòng quảng đại và nhân hậu như chị. Và ông đã bắt đầu tự hỏi và suy nghĩ, cố gắng khám phá suối nguồn của thái độ của chị. Điều ông khám phá như sau: Suối nguồn ấy không có gì là bí ẩn. Nó đơn giản, chỉ là sự áp dụng thực hành đức tin của chị.

Lucy không bao giờ biết đức tin sống động của chị có ảnh hưởng như thế nào, nhưng chị đã làm cho Đức Giêsu hiện diện cụ thể trong bệnh viện này. Chị đem đến đôi bàn tay mà Đức Giêsu cần đến. Đức Giêsu cần những nhân chứng cho người ta như chị Lucy đến nỗi Người có thể thành Đấng an ủi như Người muốn làm.

Một quan hệ thật sự với Đức Giêsu sẽ có một ảnh hưởng cả khi người có mối quan hệ ấy không đề cập đến Đức Giêsu. Dĩ nhiên, những người tin vào Đức Giêsu và yêu mến Người, cũng sẽ, khi thuận lợi, nói về Đức Giêsu một cách rõ ràng cởi mở (Flor McCarthy).

 -------------------------------

 

Suy Niệm 9: Sai tông đồ đi truyền giáo


(Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)

A. Hạt giống ...

Đoạn Tin mừng hôm Thứ Tư (Mt 15,29-37) đã cho ta biết 2 hoạt động của Chúa Giêsu vì “chạnh lòng thương” dân chúng, đó là cứu chữa những người bệnh và nuôi những người đói. Đoạn Tin mừng hôm nay cho biết thêm một hoạt động nữa của sự “chạnh lòng thương” ấy, đó là sai các tông đồ của mình đi truyền giáo cho dân chúng.

B. ... nẩy mầm.

1. Chủ đề bài đọc Cựu Ước, và sẽ được ứng nghiệm rõ ràng trong đoạn Tin mừng: “Người động lòng thương ngươi, lắng nghe lời ngươi kêu xin”.

2. Khi thấy dân chúng lầm than như bầy chiên không người chăn dắt, Chúa Giêsu “chạnh lòng thương” nên sai các tông đồ đi loan Tin mừng cho họ. Chỉ khi nào chúng ta “chạnh lòng thương” trước những người lương thì chúng ta mới hăng say loan Tin mừng cho họ.

3. “Chúa Giêsu phác họa ra một mẫu người truyền giáo đích thực: ra đi và tìm đến với người khác. Ra đi dĩ nhiên không chỉ có nghĩa là rời bỏ nơi này đến nơi khác, mà thiết yếu là thái độ ra khỏi chính mình, ra khỏi vỏ ốc của mình để đến với tha nhân”. (Trích "Mỗi ngày một tin vui").

4. “Thấy đoàn lũ bơ vơ”: Cái thấy, cái nhìn của Chúa Giêsu đáng chúng ta chiêm ngắm. Một cái nhìn bao la bát ngát, “mình vì mọi người”, khác hẳn cái nhìn thiển cận, bo bo ích kỷ chỉ lo thu quén cho bản thân của chúng ta.

5. “Thấy dân chúng đông đảo, Đức Giêsu chạnh lòng thương vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36)

“Trước đây tôi không phải là một kitô hữu. Tôi sống trong tuyệt vọng vì số phận đã bị kết án bởi sida. Thế rồi, nhờ một người bạn, tôi đã gặp Chúa. Bắt đầu từ một ánh mắt nhìn tôi, và tôi đã tin vào Chúa. Tôi đã tìm ra ý nghĩa của cuộc sống, và nhận thức được giá trị đời mình ngay trong quãng đời vắn vỏi còn lại” (Thư của một bạn trẻ bị bệnh sida).

Chính sự cảm thông đã bừng lên niềm hy vọng và làm sống lại một cộc đời tưởng như đã bế tắc.

6. Mầm khác:

Hồi đó, Hoàng Đế Sabat cai trị vương quốc Ba Tư và rất được toàn dân mến phục. Nhà vua thường cải trang như một thường dân để tiếp xúc với dân chúng. Một hôm, nhà vua cải trang như một nhân công nghèo khổ lần mò các bậc thang để xuống tận dưới hầm tối của lâu đài là nơi cư ngụ của một cụ già chuyên lo việc củi lửa sưởi ấm cho cả lâu đài. Giường ngủ của cụ là đống tro tàn và lương thực hàng ngày là mẩu bánh mì đen với ly nước lã. Nhà vua đến ngồi bên cạnh cụ già và bắt đầu gợi chuyện. Đến bữa ăn, cụ già mời nhà vua chia sẻ mẩu bánh mì khô cứng thấm mềm trong ly nước lã. Cả hai cùng ăn và tiếp tục chuyện trò thân mật.

Nhà vua động lòng thương cụ già và từ ngày đó, nhà vua nhiều lần cải trang để đến thăm cụ. Riêng cụ già, tuy không biết lý lịch của người đến thăm mình là ai, nhưng vẫn tiếp tục đáp trả cử chỉ nhân đạo của nhà vua. Sau cùng, nhà vua tự nhủ: ta sẽ tỏ lộ cho cụ già này biết ta là ai, để xem ông ta sẽ xin ta điều gì. Ít hôm sau, nhà vua xuống hầm tối thăm cụ già trong y phục sang trọng và nói:

- Bấy lâu nay có lẽ ông tưởng ta chỉ là một công nhân ngèo khổ như ông, nhưng nay ta nói thật ta là vua, ta rất qúi mến tình bạn của ông, vậy ông muốn gì, cứ nói, ta sẽ ban.

Nhà vua tưởng cụ già sẽ xin tiền bạc hoặc ân huệ, nhưng ông chỉ ngồi yên lặng. Tưởng cụ già không hiểu mình nói gì, nhà vua cắt nghĩa thêm.

- Có lẽ ông chưa hiểu rằng ta là vua, ta có thể làm cho ông lên giàu sang, danh vọng.

Cụ già cúi đầu đáp:

- Tâu Hoàng Thượng, con đã hiểu tấm lòng của Hoàng Thượng trong những lần đến hầm tối này để thăm con và không ngần ngại chia sẻ với con mẩu bánh mì đen và ly nước lạnh. Đó là món quà cao qúi nhất rồi, con không muốn gì hơn nữa, con chỉ xin một điều là Hoàng Thượng đừng bao giờ lấy lại món quà quí giá ấy bao lâu con còn sống trong cảnh cô đơn nghèo khổ này.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin cho con một con tim rộng mở, luôn biết cảm thông và trân trọng anh em đồng loại, để thế giới tràn đầy niềm hy vọng (Epphata)

------------------------------

 

Suy Niệm 10: Chúa động lòng trắc ẩn


(Lm Giuse Đinh Tất Quý)

1. Tin Mừng hôm nay ghi lại: “Chúa Giêsu đi rảo khắp các thành phố và làng mạc để dạy dỗ và chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền. Khi nhìn đoàn lũ dân chúng, Ngài động lòng thương xót họ” (Mt 9, 36).

Chúa nhìn và sau cái nhìn là ”Ngài động lòng thương”. Tin Mừng đã ghi lại nhiều lần như thế. Rồi từ chỗ động lòng thương Chúa sai các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng cho họ.

Tại sao Chúa lại động lòng trắc ẩn như thế?

Thưa vì Ngài thấy dân chúng là những con người đang ”tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn” (Mt 9, 36).

Chúa nhìn thấy tình trạng đó, nên Chúa động lòng thương dân. Lòng thương của Chúa không dừng lại ở nơi tình cảm chóng qua, mà còn thôi thúc Chúa đi đến chỗ hành động để biểu lộ tình thương. Tin Mừng ghi: Ngài kêu gọi các môn đệ lại và nói với họ: ”Các con hãy xin với chủ ruộng sai thợ gặt đi gặt lúa của Ngài” (Mt 9, 38).

Rồi cụ thể hơn nữa, Ngài tập hợp các môn đệ lại, ban cho các ông quyền năng trên các thần ô uế, và chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền rồi sai các ông đi đến với những con chiên đang bơ vơ lạc lõng ấy.

2. Chúa Giêsu đối xử với con người như thế, còn chúng ta thì sao?

Chắc chắn là không phải lúc nào chúng ta cũng có được cái nhìn giống như Chúa. Ngay cả những người được coi là thông minh và khôn ngoan nhất trên trần gian này cũng thế. Trường hợp của vua Salomon là một thí dụ.

Lịch sử kể lại rằng, vì phải xử quá nhiều vụ oan ức, nên nhà vua càng ngày càng trở nên vô cảm, vô tình. Đôi mắt của ông không còn được sáng như trước nghĩa là không còn có cái nhìn thông cảm như xưa.

Một hôm khi Salomon ngồi lên ngai và sắp sửa xử một vụ án, thì chiếc vương miện trên đầu vua bỗng tuột xuống che cả hai con mắt. Nhà vua lấy tay đẩy nó lên, nhưng chỉ một phút sau là nó lại sụp xuống. Sự việc tái diễn đến 8 lần như thế. Cuối cùng, nhà vua bực quá nói với nó:

- Tại sao mày cứ sụp xuống che mắt tao mãi như thế?

Chiếc vương miện trả lời:

- Tôi phải làm thế để nhắc cho Ngài biết rằng: khi mà quyền hành đã mất đi sự cảm thông thì người cầm quyền sẽ bị che mắt như thế.

Nói cách khác, khi cái nhìn không còn đi cùng với con tim thì cái nhìn đó sẽ trở thành khô cằn, vô cảm và chai đá.

“Thấy dân chúng đông đảo, Đức Giêsu chạnh lòng thương vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9, 36).

Đó là cái nhìn được trộn lẫn bằng những dòng máu của con tim.

Hồi đó, hoàng đế Sabat cai trị vương quốc Ba Tư và được toàn dân mến phục. Nhà vua thường cải trang như một thường dân để tiếp xúc với dân chúng. Một hôm, nhà vua cải trang như một nhân công nghèo lần mò đến các bậc thang, xuống tận hầm tối của một lâu đài là nơi cư ngụ của một cụ già chuyên lo việc củi lửa sưởi ấm cho cả lâu đài. Giường ngủ của cụ chẳng khác gì một ổ rác và lương thực hàng ngày là vài mẩu bánh mì đen với ly nước lã. Nhà vua đến ngồi bên cạnh cụ và bắt đầu gợi chuyện. Đến bữa ăn, cụ già mời nhà vua chia sẻ mẩu bánh mì khô cứng đã được làm mềm trong ly nước lã. Cả hai cùng ăn và tiếp tục chuyện trò thân mật.

Nhà vua động lòng thương cụ già và từ ngày đó, nhà vua đã nhiều lần cải trang đến thăm cụ. Riêng cụ già, tuy không biết lý lịch của người đến thăm mình là ai, nhưng vẫn tiếp tục đáp trả bằng những thái độ rất chân thành đối với người đến thăm mình. Sự việc cứ diễn ra như thế, nhưng rồi một ngày kia nhà vua quyết định phải cho cụ già biết mình là ai, để xem cụ sẽ xin điều gì. Ít hôm sau, nhà vua xuống hầm tối thăm cụ già trong y phục sang trọng và nói:

- Bấy lâu nay, có lẽ ông tưởng ta chỉ là một công nhân nghèo khổ như ông, nhưng nay ta nói thật ta là vua. Ta rất quí mến tình bạn của ông, vậy ông muốn gì, cứ nói, ta sẽ ban.

Nhà vua tưởng cụ già sẽ xin tiền bạc hoặc ân huệ, nhưng cụ chỉ ngồi yên lặng. Tưởng cụ già không hiểu ý mình nói gì, nhà vua cắt nghĩa thêm.

- Có lẽ ông chưa hiểu rằng, ta là vua, ta có thể làm cho ông lên giàu sang, danh vọng.

Cụ già cúi đầu đáp:

- Tâu Hoàng Thượng, con đã hiểu tấm lòng của Hoàng Thượng trong những lần đến hầm tối này để thăm con và không ngần ngại chia sẻ với con mẩu bánh mì đen và ly nước lạnh. Đó là món quà cao quí nhất rồi, con không muốn gì hơn nữa. Con chỉ xin một điều là Hoàng Thượng đừng bao giờ lấy lại món quà quí giá ấy bao lâu con còn sống trong cảnh cô đơn nghèo khổ này.

Lạy Chúa, xin cho con một con tim rộng mở, luôn biết cảm thông và trân trọng anh em đồng loại, để thế giới tràn đầy niềm hy vọng. (Epphata).

------------------------------

 

Suy Niệm 11: Chúa thương dân Chúa


(Lm. Micae Võ Thành Nhân)

Cánh đồng truyền giáo là của Chúa Cha, đàn chiên trong cánh đống truyền giáo này là của Chúa Cha. Đàn chiên đây ngày hôm nay, dù có đạo hay không có đạo cũng là của Chúa Cha (xGa 10, 1 – 20).

Chúa được Chúa Cha sai xuống trần đến với đàn chiên, ở với đàn chiên để lo cho đàn chiên, chăm sóc đàn chiên, cứu đàn chiên. Và khi Chúa đến, Chúa đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng, làm nhiều phép lạ để chữa lành các chứng bệnh khác nhau trong dân chúng. Trong lúc thực hiện sứ mạng cao cả Chúa Cha trao phó cho Chúa, Chúa thấy dàn chiên của Chúa quá đông đảo, cánh đồng truyền giáo thật bao la bát ngát, có quá nhiều người chưa biết Chúa, đang khao khát chân lý, đang tìm hướng đi cho cuộc sống, đang tìm ý nghĩa cho cuộc đời, cho nên họ đã chạy đến với Chúa. Một mình Chúa, Chúa có thể chu toàn được sứ mạng này, Chúa không cần ai giúp Chúa, làm cố vấn cho Chúa: ”Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được! Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa? Ai đã làm cố vấn cho Người? Ai đã cho Người trước, để Người phải trả lại sau? Vì muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người. Xin tôn vinh Thiên Chúa đến muôn đời!” A-men. (Rm 11, 33 – 36), nhưng Chúa không làm điều đó, Chúa mời gọi tất cả mọi người chúng ta, không phân biệt một ai, cộng tác với Chúa tùy theo khả năng Chúa ban cho mỗi người. Đó là:

 -Cầu nguyện cho cánh đồng truyền, ai trong chúng ta cũng làm được điều này, chị thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu là mẫu gương cho chúng ta noi theo, dù rửa một cái chén ăn cơm trong nhà dòng cho những chị khác, chị cũng dâng điều này lên Chúa để cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo của Giáo Hội: “Người liền bảo môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa” (Mt 9, 37, - 38).

- Chúa mời gọi và chọn con người chúng ta cộng tác với Chúa, và một khi chúng ta đồng ý với Chúa, dấn thân với Chúa, Chúa sẽ ban cho chúng ta những ơn cần thiết để ểm trợ chúng ta, giúp chúng ta chu toàn sứ mạng Chúa trao phó: “Và Người triệu tập mười hai môn đệ, ban cho họ quyền năng trên các thần ô uế, để họ xua đuổi chúng, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Người bảo: Các con hãy đi đến cùng chiên lạc của nhà Ít-ra-en trước đã, và rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Hãy chữa lành người liệt, phục sinh kẻ chết, chữa lành người phung, và xua trừ ma quỷ. Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không” (Mt 10, 1. 6 – 8).

Chúa mời gọi chúng cộng tác vào công cuộc truyền giáo là Chúa thương chúng ta để chúng ta có cơ hội lập công chuộc tội cũng như để xin ơn Chúa, và cách đặt biệt là chúng ta thấy Chúa thương dân của Chúa: “Khi ấy, Chúa Giê-su đi rảo khắp các thành phố làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn, Người liền bảo môn đệ rằng: Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa” (Mt 9, 35 – 38), Chúa không muốn dân của Chúa thiếu thốn, đói khát tình yêu, chân lý để rồi họ bị trầm luân, Chúa muốn cứu tất cả mọi người chúng ta. Chúng ta biết tấm lòng, trái tim Chúa như vậy để chúng ta cộng tác với Chúa hơn nữa mà phục vụ đàn chiên của Chúa.

Lạy Chúa, trong Mùa Vọng này, xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa để đến với anh chị em của chúng con, để rồi chúng con lấy lành mà khuyên người, khuyên anh chị em chúng con hãy bỏ con đường cũ, dọn lòng đến với Chúa nơi các bí tích Chúa ban để chúng con có một tâm hồn trong sạch mừng ngày Chúa giáng sinh làm người và đón Chúa đến thăm viếng chúng con. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 12: Chính Người cứu độ chúng ta


(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)

Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Thánh Amrôxiô hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã làm cho thánh Amrôxiô giám mục trở nên một bậc thầy giảng dạy đức tin Công Giáo, và một Tông Đồ trung kiên mẫu mực. Xin Chúa cho Hội Thánh ngày nay được thêm nhiều mục tử vừa ý Chúa, biết khôn ngoan và dũng cảm chăm sóc đoàn chiên. Thánh Amrôxiô chào đời ở Trêvêrô quãng năm 340 trong một gia đình người Rôma. Thánh nhân theo học ở Rôma và bắt đầu sự nghiệp hiển hách ở Xiếcmiô. Năm 374, lúc đang ở Milanô, thánh nhân bất ngờ được bầu làm giám mục và được tấn phong ngày 7 tháng 12. Người trung thành thi hành bổn phận, nổi bật về lòng bác ái đối với mọi người. Đối với các tín hữu, người vừa là mục tử, vừa là tôn sư. Người đã can đảm bênh vực các quyền của Hội Thánh, người vừa viết lách, vừa hoạt động để bênh vực giáo lý đức tin chân thật, chống lại những người theo phái Ariô. Người qua đời thứ Bảy Tuần Thánh, ngày 4 tháng 4 năm 397.

Khôn ngoan và dũng cảm, để dám nói lời cảnh báo, khi Dân Chúa lạc xa đường lối Chúa, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, ngôn sứ Isaia cho thấy: Ngôn sứ đóng vai trò của người lính canh loan báo ngày Baben sụp đổ. Ngôn sứ là người được sai đi để nói lời của Thiên Chúa cho loài người. Lời ấy có thể là lời an ủi và cũng có thể là lời cảnh cáo. Trong bài đọc này, ngôn sứ đóng vai trò của người lính gác. Ông canh chừng để cảnh cáo dân về mối đe doạ trệch xa đường Chúa. Một thiên thần lên tiếng hô mạnh mẽ: Thành Babylon vĩ đại sụp đổ rồi! Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi thành ấy đi, để khỏi thông đồng với tội lỗi của nó! Tội lỗi của nó đã chồng chất lên đến tận trời, và Thiên Chúa đã nhớ đến các việc gian ác của nó.

Khôn ngoan và dũng cảm, để can đảm lên tiếng lúc thuận lợi cũng như không thuận lợi, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Amrôxiô nói: Ước gì lời bạn giảng có nội dung phong phú, tinh tuyền, trong sáng, để khi giảng dạy luân lý, bạn nói năng ngọt ngào như rót vào tai dân chúng, và lời lẽ duyên dáng của bạn sẽ làm cho dân chúng say mê, từ đó người ta sẽ theo bạn đến nơi bạn muốn… Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ. Với tất cả lòng nhẫn nại và chú tâm dạy dỗ.

Khôn ngoan và dũng cảm, để giữ vững lòng tin tưởng cậy trông chờ đợi Chúa thi ân giáng phúc, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, ngôn sứ Isaia nói: Khi ngươi kêu cứu, Người sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 146, vịnh gia đã kêu xin: Hạnh phúc thay mọi kẻ đợi chờ Chúa. Hãy ca ngợi Chúa đi! Đàn hát mừng Thiên Chúa chúng ta, thú vị dường nào! Được tán tụng Người, thoả tình biết mấy! Chúa là Đấng xây dựng lại Giêrusalem, quy tụ dân Ítraen tản lạc về.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Đức Chúa là vị thẩm phán của chúng ta, là nhà lập pháp của chúng ta và là vua của chúng ta, chính Người sẽ cứu độ chúng ta. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. Chúa chạnh lòng thương bầy chiên không người chăn dắt, Chúa chính là thẩm phán và là nhà lập pháp, là vua và là Đấng cứu độ chúng ta. Chúng ta không phải sợ hãi chi, Chúa đã cắt đặt những người dẫn dắt, chăm lo cho chúng ta, phần của chúng ta là, hãy vâng nghe lời rao giảng và cảnh báo của những người được Chúa sai đến, và giữ vững lòng trông cậy vào hứa cứu độ của Chúa. Chúa đã làm cho thánh Amrôxiô giám mục trở nên một bậc thầy giảng dạy đức tin Công Giáo, và một Tông Đồ trung kiên mẫu mực. Ước gì Hội Thánh ngày nay được thêm nhiều mục tử vừa ý Chúa, biết khôn ngoan và dũng cảm chăm sóc đoàn chiên. Ước gì được như thế!

----------------------------------

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây