Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. Khi ấy, nhằm một ngày Sabbat Chúa Giêsu vào nhà một thủ lãnh các người biệt phái để dùng bữa, và họ dò xét Người. Người nhận thấy cách những kẻ được mời, chọn chỗ nhất, nên nói với họ dụ ngôn này rằng: "Khi có ai mời ngươi dự tiệc cưới, ngươi đừng ngồi vào chỗ nhất, kẻo có người trọng hơn ngươi cũng được mời dự tiệc với ngươi, và chủ tiệc đã mời ngươi và người ấy, đến nói với ngươi rằng: 'Xin ông nhường chỗ cho người này'. Bấy giờ ngươi sẽ phải xấu hổ đi ngồi vào chỗ rốt hết. Nhưng khi ngươi được mời, hãy đi ngồi vào chỗ rốt hết, để khi người mời ngươi đến, nói với ngươi rằng: 'Hỡi bạn, xin mời bạn lên trên'. Bấy giờ ngươi sẽ được danh dự trước mặt những người dự tiệc. Vì hễ ai nhắc mình lên, sẽ phải hạ xuống, và ai hạ mình xuống, sẽ được nhắc lên". Rồi Người lại nói với kẻ đã mời Người rằng: "Khi ông dọn bữa ăn trưa hay tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, bà con hay láng giềng giàu có, kẻo đến lượt họ cũng mời ông, và như thế ông đã được trả lễ rồi. Nhưng khi làm tiệc, hãy mời những người nghèo khó tàn tật, què quặt, và đui mù; ông sẽ có phúc, bởi họ không có gì trả lễ. Vì ông sẽ được trả lễ khi những người công chính sống lại". - Ðó là lời Chúa. -------------------------------
Tin mừng thánh Luca cho thấy vào “một ngày sa-bát kia, Đức Giê-su đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pha-ri-sêu để dùng bữa: họ cố dò xét Người”. (Lc 14,1)
Đức Giêsu ngồi quan sát, Ngài thấy rõ những vị khách được mời, ai cũng chọn cỗ nhất, như người Việt Nam nói đó là mâm trên, là chỗ trang trọng lịch sự, dành cho những vị khách quý. Nhưng khách dự tiệc trong bài Tin Mừng hôm nay thánh Luca kể lại, ai cũng muốn chọn cho mình chỗ nhất, lịch sự nhất, trang trọng nhất, cỗ ngon nhất, vì họ nghĩ chỉ có họ là người quan trọng nhất … Người Pharisêu thường hay kiêu hãnh. Họ luôn tìm vinh dự trước mặt người đời. Họ thích được chào hỏi nơi công cộng, thích được ca tụng chỗ đông người.
Thấy chướng tai gai mắt, Chúa Giêsu lên tiếng dạy họ một bài học về đời sống nhân bản, đó là phải luôn biết tôn trọng và coi người khác trọng hơn mình. Hơn nữa muốn được người khác tôn trọng mình, thì trước hết mình phải tôn trọng người khác, phải biết khiêm tốn trong mọi lãnh vực của cuộc sống, từ cung cách đi đứng, ăn mặc, cách đối xử với mọi người nhất là ở những nơi công cộng, chốn đông người: “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: ‘Xin ông nhường chỗ cho vị này.’ Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối. (Lc 14, 8-9). Chúa Giêsu không dùng từ bị đuổi, Chúa dùng cách nói tế nhị hơn ‘Xin ông nhường chỗ cho vị này.’. Đúng hơn là bị đuổi khỏi chỗ danh dự, khi đã bị đuổi xuống thì thật là xấu hổ, mất mặt với bàn dân thiên hạ, bị mọi người chê cười, lúc đó chỉ có cách tìm đến kẽ nẻ mà chui xuống lòng đất để che giấu mặt đi thôi.
Trong đời sống hàng ngày vẫn còn có biết bao kẻ kiêu ngạo tự cho mình là hơn người, tự cho mình là nhất thiên hạ. Kẻ kiêu ngạo coi trời bằng vung, coi thiên hạ bằng nửa con mắt, ăn nói khiếm nhã, ngang ngược, cư xử thiếu lễ độ. Tướng cầm quân ra trận mà kiêu ngạo tất sẽ bại bại. Những kẻ chức trọng quyền cao, những người có vàng đầy két, bạc đầy rương, ngân phiếu có hàng tỉ mà kiêu ngạo cũng sẽ bị mọi người coi thường, sẽ phải gặp cái kết đáng xấu hổ như những người được mời đi dự tiệc trong bài Tin Mừng hôm nay kể lại, cứ chọn cỗ nhất mà ngồi để rồi bị đuổi khỏi chỗ danh dự để dành chỗ cho người quan trọng hơn mình. Thật không có cái nhục nào hơn khi bị đuổi, bị thiên hạ chê cười.
Chúa không chỉ dạy cách để khỏi bị đuổi, khỏi bị xấu hổ trước mặt thiên hạ, Chúa còn dạy cách xử thế để được mọi người tôn trọng, được vinh dự ở nơi công cộng, chốn đông người: “khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: ‘Xin mời ông bạn lên trên cho.’ Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.” (Lc 14,10-11).
Trên đời chẳng ai ưa, chẳng ai tôn trọng những kẻ sống thiếu nhân bản, kiêu ngạo, tự cao, tự đại, tự cho mình là giỏi, cho mình là hay, việc gì mình làm phải là tốt nhất, lời nói của mình lúc nào cũng hay nhất, cái gì của mình cũng đẹp nhất, chỉ có mình là nhất, mình đáng được ngồi chỗ danh dự nhất, đáng được mọi người chào hỏi nơi công cộng, thích oai, luôn hãnh diện về bản thân mình, luôn muốn thể hiện cái tôi của mình trước mặt mọi người, chạy theo cái danh hão, coi người khác chỉ là cỏ rác, là thứ bỏ đi, thấy người khác hơn mình thì khó chịu, hậm hực, nói xấu, dèm pha, dè bỉu, chê bai khích bác, tìm cách hạ uy tín của họ. Đúng như người đời đã nói: “hơn người thì kiêu, mà kém người thì ghen”.
Kẻ thù lớn nhất của con người chính là tự kiêu, tự phụ, khi con người hoàn toàn đặt niền tin tưởng vào sức mạnh của khối óc, của đôi tay mình, thì đó cũng chính là lúc nó đi vào chỗ tự hạ thấp uy tín của mình, tự huỷ diệt chính mình, tự đào hố chôn mình.
Không chỉ người đời chê ghét và xa tránh kẻ kiêu ngạo, Chúa còn ghét cay ghét đắng, vì kẻ kiêu ngạo là chống lại Thiên Chúa, Chúa diệt trừ hết phường kiêu ngạo: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng” (Lc 1, 51). Đó là lời Đức Maria đã cảnh báo con người về tính tự phụ, lòng kiêu căng, chỉ biết cậy dựa vào danh vọng, của cải và sức lực của mình, thì con người tự chuốc lấy tủi nhục, đau khổ và tuyệt vọng, như kẻ chọn cỗ nhất để ngồi, rồi bị ông chủ đuổi xuống để nhường chỗ cho người quan trọng hơn, lúc đó sẽ bị xấu hổ, bẽ mặt trước mặt bàn dân thiên hạ.
Kinh Thánh khuyên người ta có thái độ khiêm nhu trong quan hệ xã giao (x. Cn 25, 6-7), thái độ này hợp với tinh thần của Tin Mừng. Những người khiêm tốn nhận biết thân phận yếu đuối và những giới hạn của mình, biết mình chỉ là không trước mặt Chúa, nhìn nhận người khác quan trọng hơn mình, đáng được hưởng sự ưu đãi hơn mình, nên đã chọn chỗ cuối mà ngồi, khi ông chủ nhận thấy đó là người quan trọng, sẽ đến mời lên chỗ nhất, lúc ấy được vinh dự trước mặt mọi người. Vì “Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1, 52). Tin Mừng theo Thánh Luca hôm nay thuật lại câu chuyện Chúa được mời đi dự tiệc, Ngài thấy những kẻ cũng được mời cứ chọn cỗ nhất mà ngồi, nên Chúa đã kể một dụ ngôn về việc “khi được mời đi ăn cưới đừng ngồi vào cỗ nhất…” (Lc 14, 7-11). Qua đó Chúa Giêsu dạy cho ta bài học về cách sống nhân bản, cùng cho biết tác hại của lối sống thiếu nhân bản, tính tự phụ, lòng kiêu căng. Ngài cũng chỉ cho biết giá trị đích thực đời sống nhân bản, đức “khiêm nhường”: “Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuông sẽ được tôn lên” (Lc 14, 11).
Lạy Chúa, chúng con là những kẻ tự phụ kiêu căng, luôn chạy theo tiền tài, danh vọng, địa vị, chỉ tìm tư lợi, tự coi mình là quan trọng, là giỏi, là hay, là tốt, là đẹp, khinh thường anh em đồng loại, những người nông thôn quê mùa, nhất là những người nghèo hèn, những người cô đơn tàn tật. Chúng con đã và đang tranh dành địa vị, tranh dành nhau chỗ ngồi, cãi lộn với nhau vì miếng ăn hơn thiệt. Xin Chúa ban ơn giúp sức để chúng con loại bỏ những tính mê nết xấu, lòng tự cao tự đại, nhìn nhận mình chỉ là không không trước mặt Chúa và biết tôn trọng hết thảy mọi người.
Theo nhu cầu của các giáo phận Toà Thánh có chương trình bổ nhiệm hoặc thuyên chuyển các giám mục đến các giáo phận; các giáo phận thuyên chuyển các linh mục đến các giáo xứ hoặc nhiệm sở mới. Đây là quy định theo giáo luật và vì lợi ích mục vụ cho các cộng đoàn, vì thế đa số các linh mục đều sẵn sàng vâng theo quyết định của bề trên, dù trong lòng có rất nhiều tình cảm lưu luyến. Tuy nhiên, nhiều người đã không hiểu được sự khôn ngoan của Giáo hội khi quy định việc này, họ cho rằng cha này cha kia “bị” thuyên chuyển là do có lỗi nào đó hoặc do có vấn đề gì đó. Nhiều người đã tự xếp đặt cho rằng cha này giỏi phải ở xứ lớn, cha kia không giỏi thì được trao xứ nhỏ hoặc vào vùng sâu. Về phía các linh mục dù đang ở xứ lớn hay xứ nhỏ, dù đang thành công hay không thành công, dù được yêu mến hay không được yêu mến, khi nhận được lệnh của Giám Mục đều lên đường trong sự khiêm nhường và vâng phục. Sự vâng phục bề trên là dấu chỉ cho thấy sự khiêm nhường trong lòng và Sự khiêm nhường thực sự là dấu chỉ cho thấy đó là một tông đồ thành tâm, nhiệt tâm vì Giáo hội.
Ngày nay, nói đến việc sống khiêm nhường, nhiều người cho rằng đó là lối sống cổ điển, lạc hậu, vì con người ai cũng muốn thể hiện mình, muốn mình là người vượt trội hơn người khác, mình phải là vua, là ngôi sao nổi tiếng. Cũng vì thế mà nhiều người thể hiện sự ngông nghênh, ngạo mạn, coi thường người khác. Lối sống và suy nghĩ như thế hoàn toàn ngược với lời mời gọi sống khiêm nhường của Tin Mừng. Tuy nhiên, khiêm nhường không có nghĩa là cù lần, sống khiêm nhường không có nghĩa là sống cách nhu nhược hèn nhát, sợ sệt. Nhưng khiêm nhường là chân thành, biết nhìn nhận thật về khả năng, bổn phận của mình và làm việc với hết khả năng và trách nhiệm đã được trao phó, thành công không kiêu, thất bại không nản. Người khiêm nhường sẽ không lấy kết quả của công việc để cao ngạo tự hào tự mãn về bản thân, nhưng luôn nhìn kết quả công việc như một thành quả Chúa ban cùng với sự cộng tác giúp đỡ của nhiều người. Các bài đọc Lời Chúa hôm nay dạy cho chúng ta biết sống khiêm nhường trước mặt Chúa và trước mặt mọi người.
Trong cuộc sống chung, người ta luôn yêu quý những con người khiêm nhường từ lời nói đến việc làm. Trong Kinh Thánh luôn cho thấy “Thiên Chúa diệt trừ kẻ kiêu căng và nâng cao ai biết sống khiêm nhường.”Bài đọc sách Huấn Ca cũng nhấn mạnh: “Con hãy làm việc trong sự nhã nhặn thì sẽ được mọi người yêu mến; Càng làm lớn con càng phải khiêm nhường thì sẽ đẹp lòng Chúa. Khi càng sống tự khiêm tự hạ, con sẽ càng được đẹp lòng Thiên Chúa.” Các lời sách Huấn Ca vừa được nhắc lại chính là lời đúc kết kinh nghiệm sống của những bậc khôn ngoan để lại cho hậu sinh. Kinh nghiệm này vẫn còn rất đúng với thời đại của chúng ta hôm nay. Chúng ta sẽ cảm thấy kính phục những người dù quyền cao chức trọng nhưng luôn sống nhã nhặn, gần gũi với hết mọi người. Ví dụ khi, chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái khi thấy giám đốc bước đến truyện trò, quan tâm thăm hỏi các nhân viên cấp dưới; đến nhà thờ chúng ta cảm thấy vui tươi, ấm áp khi gặp được hình ảnh gần gũi thân thiện của giám mục, linh mục, tu sĩ. Chúng ta sẽ thích gặp gỡ, nói chuyện và cộng tác làm việc với những người khiêm tốn như thế. Trái lại, khi gặp những người kiêu căng, ta thường muốn tránh xa.
Thiên Chúa là Đấng Thánh, Đấng quyền năng, ngài đã cúi xuống để nâng con người lên, đặt con người trong bàn tay của Ngài. Thiên Chúa đón nhận chúng ta như những đứa con, như người bạn, Ngài khiêm nhường yêu thương phục vụ con người. Con người chúng ta hoàn toàn lệ thuộc nơi Thiên Chúa, tất cả những gì chúng ta có đều do Thiên Chúa ban. Thiên Chúa yêu quý những kẻ khiêm nhường nhận ra thân phận thụ tạo của mình và tin tưởng trao phó cuộc đời cho sự quan phòng của Thiên Chúa. Chắc chắn kẻ kiêu ngạo là người vô ơn với Thiên Chúa, là kẻ không muốn Thiên Chúa làm chủ cuộc đời của mình. Adam Eva đã mắc vào sai lầm này khi muốn tự mình quyết định cho tương lai mà không cần Thiên Chúa. Ông bà không muốn chấp nhận thân phận thụ tạo, mà muốn trở nên như thần linh ngang hàng với Thiên Chúa. Cuối cùng, kẻ kiêu ngạo thì không đẹp lòng Thiên Chúa và sẽ bị Thiên Chúa loại trừ.
Tin Mừng hôm nay kể lại câu chuyện một người Pharisêu tổ chức bữa tiệc, ông mời nhiều khách, lúc nhập tiệc nhiều vị khách tranh giành nhau ngồi chỗ nhất chỗ nhì. Nhân dịp này Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ và cho chúng ta về lối sống khiêm nhường trước mặt Chúa và trước mặt mọi người qua dụ ngôn: “Khi đi dự tiệc cưới anh em đừng tìm ngồi vào chỗ nhất, kẻo cũng có nhân vật quan trọng hơn anh cũng được mời. Họ sẽ đến mời anh đi chỗ khác để nhường chỗ cho nhân vật quan trọng kia. Trái lại khi được mời, anh hãy ngồi chỗ cuối để chủ tiệc sẽ đến nói với anh, mời ông lên bàn trên. Lúc đó anh sẽ được vinh dự với mọi người.” Khi kể dụ ngôn này, Chúa Giêsu không chỉ cho ta những mẹo vặt hoặc thói khôn lỏi để được lợi, được người khác ca tụng, nhưng Chúa muốn nói đến thái độ bên trong tâm hồn: Giống như người Việt Nam, Người Do Thái rất quan tâm đến hình thức bên ngoài: “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp.” Họ cũng muốn được chào hỏi được tôn vinh ca tụng trước đám đông. Vì thế dẫn đến việc tranh giành chỗ nhất chỗ hơn, chỗ trọng chỗ thường theo đẳng cấp tại nơi công cộng.
Chúa Giêsu đưa ra một cái nhìn khác: Việc được tôn vinh hoặc được trọng vọng trước mặt mọi người, không hệ tại ở quần áo hoặc đẳng cấp xã hội, mà nó phát xuất từ lối sống, thái độ, từ tấm lòng của mỗi người đối với người khác. Nhưng quan trọng hơn nữa là mỗi người phải có thái độ sống như thế nào để thực sự trở nên khiêm nhường trước mặt Chúa, thì sẽ được Thiên Chúa tôn vinh: “Vì ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.” Như vậy từ câu chuyện dụ ngôn về việc tranh giành chỗ trong đám tiệc, Chúa Giêsu muốn chúng ta đi xa hơn trong cách nhìn và cách sống: Điều quan trong là mỗi người luôn biết nhìn nhận cách chân thật về con người mình, nhận mình là con cái, là thụ tạo của Thiên Chúa, chúng ta cần đến Chúa. Chúng ta được mời gọi khiêm nhường để dám trải lòng ra trước mặt Chúa, trao phó cả cuộc đời cho Chúa mà không hề cưỡng lại, để cho Chúa gìn giữ và dẫn dắt. Khi dám khiêm nhường đặt mình vào vòng tay của Thiên Chúa như thế, chính Chúa sẽ nâng chúng ta lên và ban cho chúng ta vinh dự của những người thuộc về Chúa.
Thưa quý OBACE, sống trong thời buổi cạnh tranh khốc liệt, thì việc sống hiền lành và khiêm nhường luôn là một thách thức. Ước mơ trở thành nổi tiếng, được nhiều người biết đến, là một lực hấp dẫn nơi con người, vì không ai muốn mình bị chìm vào quên lãng. Nhưng vấn đề là có nhiều người khi mắc bệnh tự tôn, tự mãn hoặc khi nổi tiếng, họ dễ dàng đánh mất vẻ hiền lành khiêm tốn dễ thương của mình và khoác lên mình vẻ kiêu căng, chảnh choẹ, coi khinh người khác. Từ sự kiêu căng, tự tôn dẫn đến sự tự mãn coi mình là nhất và coi tất cả những gì mình có được được là do mình mà quên ơn Chúa và sự trợ giúp của bao người.
Trong gia đình “cha mẹ hiền lành để đức cho con.” Hiền lành khiêm nhường, giúp cho vợ chồng cha mẹ, con cái dễ dàng có thể trò tuyện đối thoại với nhau. Hiền lành và khiêm nhường là một trong những nền tảng cho nếp sống đạo đức trong gia đình, là yếu tố hình thành nên nhân cách của con cái. Người Nhật có câu ngạn ngữ: “bông lúa nặng hạt là bông lúa biết cúi mình.” Người biết khiêm tốn hạ mình xuống là người có sức mạnh nội tâm và sẽ làm trổ sinh hoa trái tốt lành cho mình và gia đình. Vợ chồng, cha mẹ biết hạ mình để nói lời xin lỗi nhau, kể cả việc xin lỗi con cái, điều đó không làm hạ thấp vai trò thế giá của cha mẹ, vợ chồng, nhưng càng làm tăng thêm uy tín và vị thế của cha mẹ. Các ông chồng biết hạ mình để chia sẻ công việc của vợ thay vì yêu sách; các bà vợ biết hạ mình để phục vụ chồng, con với trái tim của người vợ người mẹ, gia đình sẽ hạnh phúc; con cái dù thành công thành đạt, biết hạ mình để phục vụ ông bà cha mẹ lúc bệnh tật già yếu, gia đình đó có phúc.
Người làm lớn biết hạ mình để quan tâm, chăm sóc cho người bề dưới; bạn bè biết hạ mình, khiêm tốn trong công việc trong sinh hoạt thường ngày sẽ đem lại niềm vui cho nhau và còn góp phần đem lại hoà bình cho thế giới. Đức Maria dù là mẹ Con Thiên Chúa nhưng Mẹ đã hạ mình chỉ nhận mình là nữ tỳ của Thiên Chúa; Đức Giáo hoàng Phanxicô khiêm tốn quỳ xuống hôn chân các vị lãnh đạo Nam Sudan để cầu xin họ chung tay xây dựng hoà bình. Đó là những tấm gương cho chúng ta và lối sống khiêm nhường đó có sức lay động nhiều hơn lời nói.
Xin Chúa giúp chúng ta biết học nơi Chúa Giêsu, noi gương Đức Mẹ sống tự khiêm tự hạ trước mặt Chúa và mọi người để được Chúa và mọi người yêu thương, chúc lành. Amen.
Đối với người Á đông như người Do thái thời xưa thì việc ngồi chỗ cao trong bàn tiệc là điều quan trọng. Ðược một chỗ danh dự nơi bàn tiệc là một dấu chỉ mình có địa vị và có tầm ảnh hưởng.
Trong một buổi yến tiệc, người ta xếp chỗ ngồi theo cấp bậc, chức tước hay địa vị của mỗi nhân vật. Phúc âm hôm nay kể lại việc người Pharisêu mời Chúa Giêsu đến dùng bữa tại nhà. Có lẽ đa số khách được mời đến dự tiệc là người Pharisêu vì bữa tiệc do người thủ lãnh nhóm Pharisêu khoản đãi. Phúc âm ghi lại, họ cố dò xét Ðức Giêsu (Lk 14:1). Tại sao họ lại dò xét Người? Ta có thể suy ra là họ làm như vậy để xem Chúa chọn ngồi ở đâu. Quan sát thấy thiên hạ cứ chọn chỗ nhất mà ngồi, Người mới bảo họ khi được mời đi dự tiệc, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ ra có ai quan trọng hơn cũng được mời, mà phải nhường chỗ chăng? (Lc 14:7-9).
Ngày nay chỗ ngồi ở bàn tiệc đối với nhiểu người không còn là điều quan trọng, nhất là ở những xã hội dân chủ. Tuy nhiên người ta có thể dùng những mánh lới khác để tâng bốc mình, như khoe khoang, tự phụ về mình để đưa mình lên, phê bình chỉ trích người khác để hạ họ xuống. Trong Phúc âm hôm nay Chúa dạy ta bài học khiêm tốn. Khiêm tốn là một nhân đức nói lên sự thật về mình, chấp nhận những gì mình có: những khả thể, những giới hạn của mình, không tự tâng bốc, cũng không phủ nhận và chối từ. Có người định nghĩa: Khiêm tốn là khả năng chấp nhận sự thật về mình ngay cả khi sự thật làm đau lòng. Người khác lại nói: Khiêm tốn và biết mình đi đôi với nhau. Ðoán là người ấy muốn nói biết mình, nghĩa là biết về những ưu điểm và cả những khuyết điểm và giới hạn của mình, thì mới khiêm tốn được.
Người khiêm tốn là người thừa nhận mình tùy thuộc vào ân sủng và quyền năng của Thiên Chúa. Họ qui hướng lời nói và hành động về việc làm vinh danh Thiên Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Người khiêm tốn thì tìm làm đẹp lòng Chúa (Hc 3:18) và còn làm tôn vinh Chúa (c. 19). Người khiêm tốn khi làm việc đạo, thì nhắm tìm kiếm vinh danh Chúa, chứ không phải để trình diễn cho người khác chú ý và khen ngượi. Người khiêm tốn khi làm việc thiện và việc phục vụ không mong được đáp trả.
Người khiêm tốn là người cảm thấy mình yên ổn và an toàn trong lòng. Thiếu đức tính khiêm tốn, người ta có thể khoe khoang tự phụ về tài năng, của cải mình có. Người khiêm tốn biết mình có thể làm được những gì, và những gì mình không làm được. Không có lòng khiêm tốn, người ta có thể ghen tuông, khó chịu khi thấy người khác có tài hơn, được giàu sang phú quí hơn, hay được ca tụng hơn. Thiếu đức khiêm tốn, người ta sẽ buồn lòng, bực bội khi có người nói về khuyết điểm của họ. Sớm hay muộn, tính ghen tuông và bực tức có thể bộc phát ra bằng tội ác, làm điều có hại cho người khác như Cain đã sát hại em mình là Aben (St 4:8).
Người khiêm tốn là người sống trung thực với lòng mình. Họ nhận ra điểm xấu củng như điểm tốt nơi mình. Khiêm tốn không phải là tự tâng bốc, hay thổi phồng những của cải tài năng của mình, cũng không phủ nhận những tài năng mình có. Người khiêm tốn là người biết đánh giá tài năng và ưu điểm Chúa ban, những việc lạ lùng Chúa đã làm trong đời mình. Khi người ta giả vờ cho rằng mình là vô dụng và không đáng là gì, có thể chỉ là khiêm tốn giả. Khiêm tốn thật là nhận ra những ân huệ và tài năng của Chúa đã ban cho mình để rồi sống trong tâm tình cảm tạ..
Ðó là điều mà trinh nữ Maria đã làm khi nhận ra những việc vĩ đại Chúa đã làm nơi mình mà không làm mất đức khiêm tốn. Vào trước thời Chúa cứu thề giáng sinh, nhiều phụ nữ Do thái mơ ước được làm mẹ đấng cứu thế. Còn trinh nữ Maria thì lại khấn hứa giữ mình đồng trinh ngay cả khi thiên thần truyền tin là bà sẽ thụ thai và sinh con. Thiên Chúa thấy lòng khiêm tốn của trinh nữ và đã chọn trinh nữ làm mẹ Ðấng cứu thế. Trong lời kinh Ngợi khen: Magnificat, trinh nữ nhận ra những việc vĩ đại Thiên Chúa đã làm nơi mình khi đoái nhìn đến phận hèn tôi tớ của mình. Lời kinh Ngợi khen đã là đề tài cho bao người suy gẫm và chiêm niệm và là nguồn cảm hứng và ủi an cho muôn người từ cổ chí kim, nhất là người có lòng khiêm tốn, mặc dầu họ học cao hiểu rộng, và người có tinh thần nghèo khó mặc dầu họ được giầu sang phú quí.
Chúa Giêsu đến làm đảo ngược những giá trị của loài người. Trong Phúc âm hôm nay Chúa dạy: Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên (Lc 14:11). Các thần dữ vì bất phục tùng Thiên Chúa nên đã bị tống ra khỏi trời (Kh 12:7-9). Ađam và Evà bị đuổi ra khỏi vườn Ðịa đàng vì tội sa chước cám dỗ của quỉ mà không vâng lời Thiên Chúa (St 3). Kiêu ngạo và tự phụ là con đường cụt, không đưa người ta tới đâu, mà còn dẫn đến huỷ hoại. Có bao giờ ta khoe khoang mạo nhận, rồi đêm nằm khi chưa ngủ được, vắt tay lên trán suy nghĩ, mà cảm thấy lòng mình trống rỗng và hổ thẹn với mình không? Hổ thẹn là bước đầu để chống trả tính kiêu ngạo.
Chính Chúa đã dạy loài người bài học khiêm tốn. Người là Thiên Chúa mà đã hạ mình, mặc lấy thân phận làm người để cứu chuộc loài người và mời gọi ta đến và học cùng Người vì Người hiền lành và khiêm nhượng trong lòng (Mt 11:24). Rồi Chúa còn dạy ta phục vụ cách vị tha, thay vì muốn được đáp trả, nên mới bảo các môn đệ khi đãi tiệc, thì: Mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt và mù loà (Lc 14:14) vì họ không có khả năng mời lại.
Lời cầu nguyện xin cho được học bài học khiêm tốn:
Lạy Ðức Giêsu, Chúa trời đất! Vì yêu thương nhân loại tội lỗi, Chúa đã khiêm hạ mặc lấy thân xác loài người để cứu chuộc và phục vụ nhân loại. Xin tha thứ những lần con tỏ ra ích kỉ bằng cách chọn chỗ tốt và phần tốt cho mình. Xin dạy con biết quên mình trong việc phục vụ để cho danh Chúa được tỏ hiện. Amen.
Lời Chúa hôm nay không nói với chúng ta về những mầu nhiệm hoặc những điều cao cả, mà trình bày cho chúng ta hiểu về một nhân đức làm nền tảng cho việc tập luyện các nhân đức khác, đó là đức khiêm nhường. Sách Huấn ca trong loạt sách khôn ngoan nhắn nhủ ta xác tín sự cần thiết của đức khiêm nhường, nhất là khiêm nhường để làm đẹp lòng Chúa. Còn tác giả thư gửi tín hữu Do-thái thì mong mỏi chúng ta hãy xác tín thân phận nhỏ mọn của mình khi “tới cùng Thiên Chúa” và “tới cùng vị Trung Gian giao ước mới là Đức Giê-su”. Sau cùng, nhân dịp đến dự tiệc tại nhà một ông thủ lãnh nhóm Pha-ri-sêu và quan sát thấy khách dự tiệc tranh dành nhau chỗ ngồi cao, Chúa Giê-su dùng một dụ ngôn để dạy họ một chân lý: Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.
Đầu tiên là lời tác giả sách Huấn ca nhắn nhủ chúng ta tại sao phải sống đức khiêm nhường. Mọi việc chúng ta làm đều nhắm mục đích tôn vinh Thiên Chúa và làm đẹp lòng Người. Nếu thực sự nhắm mục đích này, thì ta phải “hoàn thành việc của ta một cách nhũn nhặn”. Ta càng nhũn nhặn, tức là càng khiêm nhường, thì mục đích mọi việc làm của ta càng rõ ràng hơn, tức là càng biểu lộ được tâm ý duy nhất của chúng ta là phụng sự Chúa thay vì tìm vinh dự cho bản thân mình. Sách Huấn ca còn giải thích rõ ràng đức khiêm nhường giúp ta tôn vinh Chúa như thế nào. Như chúng ta biết, quyền năng Thiên Chúa bao giờ cũng lớn lao và cách thức Thiên Chúa biểu lộ quyền năng ấy thì muôn hình vạn trạng, thí dụ qua công cuộc tạo dựng. Mỗi loài thụ tạo là một cách biểu lộ quyền năng của Người. Thụ tạo và Thiên Chúa là hai thái cực: thụ tạo càng tỏ ra nhỏ mọn yếu kém thì quyền năng Thiên Chúa càng cao cả. Chính vì thế, thánh Phao-lô đã học được chân lý này khi ngài quả quyết rằng chính lúc ngài nhận mình yếu đuối là lúc sức mạnh Thiên Chúa được tỏ hiện (2 Cr 12:10).
Nếu sách Huấn ca nói đến đức khiêm nhường như một đạo lý, thì giờ đây chính Chúa Giê-su là Đấng đã hạ mình xuống làm người phàm sẽ dạy chúng ta biết thế nào là khiêm nhường đích thực. Cơ hội để Chúa giảng dạy về đức khiêm nhường là khung cảnh một bữa tiệc. Chúa Giê-su cũng là một trong số khách mời của chủ nhà là một thủ lãnh nhóm Pha-ri-sêu. Trước cảnh “khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi” tạo ra sự ồn ào hỗn độn, Chúa Giê-su không ngại dùng một câu chuyện để dạy họ bài học về đức khiêm nhường: “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất… Trái lại, hãy ngồi vào chỗ cuối”. Tại sao thế? Để tránh trường hợp khi có người quan trọng hơn mình đến thì mình sẽ “bị mời” xuống dưới; còn khi mình thực sự là quan trọng thì chủ nhà sẽ mời mình lên trên. Chắc chắn ở đây Chúa Giê-su không có ý dạy chúng ta một “mánh khóe”, nhưng Người chỉ muốn mỗi người hãy thành thực nhận biết giá trị đích thực của mình. Khiêm nhường là nhìn nhận mình thực sự là ai, không tô son vẽ phấn cho mình và cũng không “giả vờ” chối nhận những gì mình có hay mình là. Trong câu chuyện đi ăn cưới mà Chúa Giê-su đã kể, Người bảo chúng ta đừng ngồi vào cỗ nhất, nói khác đi, đừng cho mình là cao nhất hoặc cao hơn mọi người. Đúng vậy, chúng ta thông minh tài giỏi, nhưng chắc chắn có người còn thông minh tài giỏi hơn chúng ta. Khi Đức Phanxicô trả lời câu hỏi “Gorge Mario Bergoglio là ai?”, ngài không ngần ngại nói: “Tôi là một kẻ tội lỗi”. Đức Giáo Hoàng không giả vờ, nhưng ngài nhìn nhận con người đích thực của ngài trước mặt Chúa, chứ không đặt địa vị giáo hoàng của ngài lên trên mọi người. Ngài đã lấy Chúa làm tiêu chuẩn để nhận định về giá trị đích thực của ngài. Đó cũng là tiêu chuẩn mà Chúa Giê-su đã nêu lên khi Người khẳng định: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”. Hoặc chúng ta sẽ hiểu ý của Chúa Giê-su như thế này: Ai tôn mình lên trên cả Thiên Chúa, người ấy sẽ bị hạ xuống; còn ai thú nhận trước mặt Chúa rằng mình là kẻ tội lỗi đáng thương và mong được tha thứ thì sẽ được Chúa đoái thương tha thứ.
Sống sứ điệp Lời Chúa
Nhờ những lời chỉ dạy của sách Huấn ca cũng như những lời giảng của Chúa Giê-su về đức khiêm nhường, chúng ta biết rõ “tôi là ai?”. Nhưng làm thế nào để sống điều mình biết thì quan trọng hơn. Đoạn trích thư Do-thái cho Ki-tô hữu chúng ta một lối sống khiêm nhường tuyệt vời. Tất cả chúng ta đều được diễm phúc “tới núi Xi-on, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống”, để gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người, và gặp gỡ vị Trung Gian giao ước mới là Đức Giê-su. Nói khác đi, chúng ta được ân huệ làm con cái Thiên Chúa và làm một thành phần trong số “đàn em đông đúc” của vị Trưởng Tử nhân loại mới là Chúa Ki-tô. Nếu đã là một ân huệ thì đâu phải do giá trị của cá nhân chúng ta, nhưng hoàn toàn do lòng quảng đại và tình thương của Chúa. Đến đây, tác giả thư Do-thái bảo chúng ta hãy nhìn lên trời, nơi có các thiên thần, các thánh nam nữ, các người công chính đã được nên hoàn thiện, để nhận biết mình là thụ tạo, là kẻ tội lỗi, là kẻ hèn mọn… mà sống sao xứng với tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Nhất là ta hãy sống theo linh đạo của Mẹ Ma-ri-a: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa…, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường”.
Qua các bài Kinh thánh tuần này, chúng ta có thể nhận ra rõ ràng Chúa dạy chúng ta một nhân đức quan trọng và cần thiết cho cuộc sống Ki-tô hữu, đó là nhân đức khiêm nhường. Ngược lại với nhân đức khiêm nhường là tội kiêu căng hay kiêu ngạo, là tội nặng nhất trong 7 mối tội đầu, tiếng Mỹ gọi là Deadly sin. Tội kiêu ngạo là căn nguyên của những tội khác, và cũng là một thứ tội mà con người dễ mắc nhất. Chúng ta biết tội kiêu ngạo làm hại chúng ta nhiều cách, và gây ra cho chúng ta nhiều cái đau và ngượng ngùng. Tội kiêu ngạo cản ngăn chúng ta sống đức tin, và làm mất sự liên hệ giữa chúng ta với Chúa và với tha nhân.
Nhưng trước khi chúng ta tìm hiểu sâu sa về đức tính khiêm nhường, chúng ta nên phân biệt ý nghĩa của sự kiêu ngạo và hãnh diện. Có những sự hãnh diện rất tốt đặt trên nền tảng sự thật, như chúng ta những người Việt Công giáo hãnh diện về ngôi thánh đường mới sắp xây, hay những tài năng mà chúng ta có hay những thành quả mà chúng ta đạt được trong cuộc sống. Hãnh diện lành mạnh là khi chúng ta nhận ra rằng những thành công và những gì chúng ta đạt được là do sự hỗ trợ hay giúp đỡ của người khác. Còn khi Chúa ban cho người nào đó những tài năng thí dụ như hát hay, hay có năng khiếu hay có tài về một phương diện gì đó, mà chúng ta từ chối không nhận những năng khiếu đó và nói: “Tôi không biết hay tôi không làm được” thì người đó không có sự khiêm nhường đúng hay giả vờ hạ mình xuống cố ý để người khác nâng mình lên.
Còn kiêu ngạo là sự tôn sùng bản thân hay tự ái quá đáng, là một sự tự phụ, tự nâng mình cao hơn, cho mình là hay hơn, tốt hơn hay quan trọng hơn chính bản năng của mình. Chúng ta có thể cho rằng sự kiêu ngạo bắt đầu từ cha mẹ tổ tông đã nghe lời Satan cám dỗ làm điều Thiên Chúa cấm để trở nên bằng Chúa.
Có một nhà triết học đã nói: “Mỗi con người đều muốn mình là Chúa. Chỉ có một ít người thú nhận là không thể trở thành được.” Cho nên, đối với người tự cao, kiêu ngạo Thiên Chúa là người mà họ cạnh tranh, không phải là người mà họ phải tôn thờ, vâng lời và yêu mến.
Trong Tin mừng, Chúa dạy chúng ta nhân đức khiêm nhường: “Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.” Vậy thế nào là khiêm nhường đích thực để chúng ta sống như ý Chúa muốn? Phải chăng khi dạy nhân đức này, Chúa có ý dạy một mưu kế, một sự lừa dối hay một mánh lới, hay giả vờ hạ mình xuống để được tôn lên? Hay ngồi ở cuối hay xa xa, để được chú ý hay mời lên trên? Câu trả lời chắc chắn là không. Chúa biết rõ con người chúng ta, và Chúa không dạy chúng ta lừa dối hay dạy chúng ta một mánh khoé, vì như vậy đi ngược lại với giáo huấn và sứ mệnh của Người. Và Chúa cũng không dạy chúng ta tự hạ mình xuống với chủ ý là để được chú ý, để được mời lên hay để kiếm tiếng tăm, danh vọng cho chính mình.
Đức khiêm nhường mà Chúa dạy chúng ta hôm nay cũng không có nghĩa là một hình thức an phận, hay hạ thấp bản thân để trốn trách nhiệm, bổn phận là một Ki-tô hữu, là một giáo dân, là một chi thể trong Thân Thể Chúa Ki-tô. Tôi tin chắc chắc đó không phải là đức khiêm nhường mà Chúa muốn dạy chúng ta. Đức khiêm nhường mà Chúa dạy chúng ta là, thứ nhất, thành tâm nhìn nhận giá trị đích thực của mình, là những người được Chúa tạo dựng nên, được Chúa yêu thương và cứu chuộc. Thứ hai, là nhận biết qua Bí tích Thánh tẩy, được Chúa chọn vào làm “Dân Riêng”, trở thành một chi thể trong Thân Thể Chúa Ki-tô. Và thứ ba thực sự biết mình, biết những ưu điểm cũng như khuyết điểm, và nhất là nhận ra những ơn lành hồn xác Chúa ban. Vì thế “sự hạ mình xuống” có nghĩa là khiêm nhường chân thành , sốt sắng tôn thờ Chúa, có lòng bác ái, quảng đại và hy sinh sử dụng những ơn lành để phục vụ Chúa, xây dựng Giáo hội, giáo xứ, Thân Thể Chúa Ki-tô, và nhất là khiêm nhường sửa đổi những khuyết điểm như người thợ máy chui xuống gầm xe để sửa những bộ phận hư nơi khó thấy khó tìm, để cho cái xe chạy tốt lại, cho cuộc sống tốt đẹp lại.
Trong cuốn “Rèn luyện nhân cách” tác giả Hoàng Xuân Việt đã viết như sau: “Người khiêm nhường không phải là người tự ti mặc cảm, thu hẹp, thiếu tự tin, khinh rẻ mình một cách vô lý đến nỗi không sử dụng tài năng của mình. Người khiêm tốn là người sáng suốt nhìn nhận mình có khuyết điểm, có ưu điểm và khôn ngoan xử dụng ưu điểm để làm đẹp xã hội.”
Đối với người Kitô hữu chúng ta, đức khiêm nhường không những là một nhân đức quan trọng mà còn là một điều kiện cần thiết, cần phải có, để được vào tham dự bàn tiệc Nước Trời. Chúng ta biết sống trong xã hội này đức khiêm nhường là một đức tính khó học, khó thực hành bởi vì thứ nhất là trong con người chúng ta đầy tự ái, và thứ hai là sự tự cao, chúng ta luôn bị cám dỗ, như con rắn ma quỉ ngày xưa cám dỗ tổ tiên là ông Adong và bà Eva, muốn đưa mình lên chứ không muốn hạ mình xuống. Cho nên, chúng ta phải sống như thế nào? Chúng ta phải năng chạy đến với Chúa Giêsu và học cùng Người. Khiêm nhường có nghĩa là trở nên giống như Chúa Giêsu như Người đã nói: “Hãy học cùng ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.” Khiêm nhường có nghĩa là trở nên giống như Chúa Giêsu như khi Người nói: “Ta đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.” Khiêm nhường có nghĩa là sống như Chúa Kitô đã sống, đó là không phải chỉ sống cho chính mình nhưng còn cho người khác, như Chúa Giêsu đã sống, sử dụng, để làm sáng danh Chúa và hữu ích cho tha nhân.
Đức khiêm nhường quả thực không chỉ là đức tính cần thiết cho đời sống hiện tại của Kitô hữu mà còn là chìa khóa mở cánh cửa Nước Trời.
Thánh Luca nhấn mạnh đến bối cảnh của trình thuật: đó là khung cảnh một bữa tiệc. Chúa Giêsu là một khách mời. Từ chỗ ngồi của mình, Chúa quan sát và cất lời giáo huấn. Như thế, lời giảng dạy của Chúa Giêsu dựa trên một sự việc cụ thể để rút ra những kết luận cho đời sống của những ai tin và đi theo Người. Một trong những nội dung chính của các Bài đọc trong Phụng vụ hôm nay là lời mời gọi hãy khiêm nhường. Lời phê phán của Chúa “trúng phoóc” lối suy nghĩ thông thường của chúng ta. Trong truyền thống xã hội Việt Nam, thời phong kiến cũng như thời nay, “một miếng giữa làng còn hơn một sàng góc chợ”. Vị trí chỗ ngồi khi dự tiệc rất quan trọng vì nó khẳng định đẳng cấp và vai vế của thực khách. Trong xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu cũng vậy, những bậc vị vọng hay những người Pharisiêu và kinh sư luôn được đánh giá theo chỗ ngồi.
Từ việc sắp xếp chỗ ngồi trong một bữa tiệc, Chúa dạy chúng ta hãy khiêm tốn để nhận mình là ai trong cuộc sống mênh mông này. Có thể chúng ta giỏi giang về một lãnh vực nào đó, nhưng trong xã hội lại có người giỏi hơn chúng ta. Chúng ta chủ quan nghĩ mình là người xứng đáng ngồi chỗ nhất, nhưng trong thực tế, có người khác xứng đáng với chỗ đó hơn. Để người ta mời xuống thì quả là xấu hổ. Chi bằng cứ chọn chỗ khiêm tốn để người khác lượng giá tài nghệ thật của mình. Jean Jacques Rousseau, một triết gia người Pháp đã viết: “Người biết ít thường nói nhiều, trong khi người biết nhiều thường nói ít”. Tiếc thay, trong xã hội, vẫn có những người thao thao bất tuyệt bằng những ngôn từ hoa mỹ mà thực tế khả năng lại chẳng đáng một xu.
Cũng cùng một nội dung chính là mời gọi sống khiêm nhường, Sách Huấn Ca (Bài đọc I) đã đưa ra những lời khuyên rất thiết thực cho mọi bậc sống, nhất là đối với những người lãnh đạo: “Càng làm lớn con càng phải tự hạ”. Theo tác giả, khiêm nhường đem lại cho ta niềm vui, kiêu ngạo mang đến bất hạnh. Khiêm nhường đi liền với khôn ngoan, kiêu ngạo đi đôi với ngu dốt. Khiêm nhường giúp ta suy nghĩ chín chắn để có những nhận định và ngôn từ thích hợp, kiêu ngạo dễ làm chúng ta vấp ngã vì những phát ngôn nóng nảy vội vàng.
“Khiêm nhường là mẹ của các nhân đức”, câu nói này cho thấy tính cần thiết của một cuộc sống khiêm tốn trong cách đối xử với nhau. Thánh Tôma Aquino viết : « Là một nhân đức đặc biệt, đức khiêm nhường liên hệ ở sự tuân phục của con người đối với Thiên Chúa, và vì Thiên Chúa, hạ mình vâng phục những người khác”. Theo Thánh Tôma, trong cách đối xử với tha nhân, chỉ có sự khiêm nhường đích thực khi cách đối xử ấy được thực hiện “vì Thiên Chúa”. Như thế, khi dựa trên Đức Tin, chúng ta sẽ làm cho sự khiêm tốn ấy tăng giá trị. Bởi lẽ vì Chúa mà chúng ta chấp nhận thiệt thòi về danh dự, của cải và những giá trị tinh thần vật chất khác. Điều này được chứng tỏ trong phần cuối của bài Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu nói với chính chủ nhà đã mời Người về những đối tượng cần mời khi đãi tiệc. Đó là những người nghèo khó, tàn tật, què quặt đui mù. Xem ra điều này khó chấp nhận trong cuộc sống đời thường. Chúng ta có thể hiểu đó là những bữa ăn từ thiện hay là những cuộc viếng thăm người nghèo và tặng quà vì bác ái. Điều Chúa muốn nhấn mạnh là thái độ cho đi mà không chờ đền đáp. Trong mối tương quan đời thường, người ta hay tặng, cho nhau với mục đích “thả con săn sắt, bắt con cá rô”, tức là người ta mong mình sẽ được bù lại nhiều hơn điều mà mình đã cho đi. Chính dựa trên Đức Tin mà chúng ta có thể ban tặng cho anh chị em mình một cách vô vị lợi, vì chúng ta xác định mọi sự là của Chúa ban cho chúng ta. “Anh em hãy lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không”. “Khó mà tôn trọng người khác nếu bản thân không tự khiêm nhường” (Henry Frédéric Amiel). Nói đến khiêm nhường, ta thường nghĩ đến sự hạ mình trước người khác. Khiêm nhường còn được hiểu là sự khiêm tốn với chính bản thân, tức là không tự đánh giá mình quá cao. Tự khiêm nhường, đó còn là những cố gắng để vươn lên, ham học hỏi và tích lũy cho mình những kiến thức và kinh nghiệm để có thể trưởng thành trên đường đời. Lão Tử lấy hình ảnh nước để nói về sự khiêm tốn: “Bậc trọn lành giống như nước. Nước khéo làm ích cho muôn loài mà không tranh giành, ở chỗ mọi người đều ghét, cho nền gần Đạo” (Đạo Đức Kinh, chương 8). Bậc thánh nhân cũng phải như vậy, phải sống cuộc đời khiêm cung từ tốn, quên mình vì người, không tự cao tự đại, có như thế mới gần Đạo gần Trời. Kiêu ngạo bao nhiêu cũng không đủ, khiêm tốn bao nhiêu cũng chẳng thừa. Con người mang trong mình sự kiêu ngạo vốn có từ thời tổ tông. Chính vì thế mà lời Chúa kêu gọi trong Tin Mừng vẫn mang tính thời sự với mỗi chúng ta. Nên thánh, suy cho cùng, cũng là đạt tới sự khiêm nhường đích thực trước mặt Chúa và đối với tha nhân.
«Nhằm một ngày sabbat » (Lc 14, 1), chi tiết quan trọng này hé mở ra chân trời của Vương Quốc, nơi ấy Đức Giêsu chuẩn bị bữa tiệc dành cho chúng ta là những người được mời. Đây không phải là bữa tiệc bình thường, vì được diễn ra « trên núi Sion, thành trì của Thiên Chúa hằng sống là Giêrusalem trên trời », có sự hiện diện của « muôn ngàn thiên thần, và cộng đoàn các trưởng tử đã được ghi sổ trên trời » (Dt 12, 22). Là nơi chúng ta có quyền lợi ở đấy. Đó là điều Đức Giêsu muốn dẫn chúng ta trong Tin Mừng hôm nay.
Chỗ nhất trong bữa tiệc là một vấn đề thương gây tranh luận trong các trường học Do thái thời Chúa Giêsu. Thực ra, chủ nhà không có qui định chỗ ngồi cho thực khách, nên mỗi người phải chọn lấy cho mình một chỗ sao phù hợp với địa vị của mình so với thực khách khác. Có thể có nhiều khách sang trọng hơn ta đến vào giây phút cuối, lúc ấy, cần phải thận trọng nhường chỗ cho thượng khách đó. Họ có thể được mời vào chỗ vinh dự hơn, khi mà Chủ nhà ra dấu hiệu trong bữa ăn, vẫn còn nhiều chỗ trống, cũng có thế sớm muộn người ấy phải nhường chỗ cho người có chức quyền đến vào giờ áp chót.
Lời khuyên của Đức Giêsu không có gì là cách mạng, vì sách Châm ngôn đã từng dạy : « Trước long nhan, đừng lên mặt kiêu kỳ, chớ đứng vào chỗ của hàng vị vọng. Thà được người ta bảo: “Xin mời ông lên trên!” còn hơn bị hạ xuống » (Cn 25, 6-7). Thoáng nhìn, người ta có thể nghĩ, đơn giản chỉ là cách ứng xử thận trọng trong cuộc sống, nhưng quả thật, không dễ chịu chút nào khi thấy mình bị hạ xuống trước mặt mọi người. Hoặc là lịch sự so với các thực khách khách, vì họ xứng đáng vào chỗ nhất trong đám tiệc. Hoặc là chịu đựng có tính toán, hơi chút kiêu căng : tôi chọn chỗ rốt hết, với nụ cười trên môi thể hiện sự khiêm nhường, nhưng ẩn tàng hy vọng được mời bước qua trước mặt mọi người để lên ngồi chỗ nhất…
Đây không phải điều mà Đức Giêsu mong đợi chúng ta. Khi nói về Nước Trời; có lúc Người cũng thêm vào « Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống ; ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên », người hạ bệ không ai khác ngoài Thiên Chúa, Ngài hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao những kẻ khiêm nhường. Kẻ kiêu ngạo là « người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác » (Lc 18, 9), khi « sự thiện không có ở trong người ấy » (x. Rm 7, 18). Họ « tự cao tự đại, nên chẳng thấy tội mình mà chê ghét » (Tv 36, 3). Như người pharisiêu trong dụ ngôn, ông tự phụ khoe khoang trước mặt Thiên Chúa và người đời : « Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa, vì con không như những người khác» (Lc 18, 11). Ông ngửa mặt lên trời và xét đoán nghiêm khắc về tha nhân.
Trái lại, người khiêm nhường, trước Mạc khải tình thương của Thiên Chúa, họ ý thức về thân phận bụi đất của mình, nên « khiêm nhường ». Như người thu thuế (Lc 18, 13), hay như vịnh gia, than vãn : « Xin rủ lòng thương con, lạy Chúa: con kêu con gọi Chúa suốt ngày. Lạy Chúa, xin làm cho con được vui thoả, vì con nâng tâm hồn lên tới Chúa. Lạy Chúa, Ngài nhân hậu khoan hồng, giàu tình thương với mọi kẻ kêu xin » (Tv 85, 3.5). Ý thức về thân phận tội lỗi của mình trước nhan Chúa, tin tưởng nài van và xưng thú tội lỗi cùng Ngài, là những điều căn bản của sự khiêm nhường.
«Những kẻ khiêm nhường» thực sự mới có thể nói lời « tạ ơn » đối với Thiên Chúa (Bài đọc 1) vì vinh quang từ đâu đến để chúng ta có thể « tạ ơn » Đấng Tối Cao, nếu không phải đến từ Thiên Chúa? Chúng ta đón nhận vinh quang ấy thế nào nếu không phải là nhận lãnh Tin Mừng với lòng thống hối ăn năn ? Vì thế, ý tưởng của người khôn ngoan là lắng tai nghe, họ nghe tiếng Chúa gọi, và « hướng về Đức Giêsu, trung gian của Giao ước mới » (Dt 12), để đón nhận ơn cứu độ tự nơi Người.
Triết gia Nietzsche trách Kitô giáo là tôn giáo của những người yếu thế ; thấp cổ bé họng; khi tán dương kẻ khiêm nhường ở dưới đất trong khi mong đợi tiến về trời cao. Một quan niệm về khiêm nhường như vậy thực sự mà nói quá thụ động với đòi hỏi của Tin Mừng. Tuy Đức Giêsu chịu đựng những điều lăng nhục trong cuộc Thương khó, nhưng Ngườii đã chọn lựa con đường này có suy nghĩ : «Ðức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.» (Ph 2, 6-8). Sự khiêm nhường tự hạ của Chúa Con biểu lộ đức ái cao cả, Người ấp ủ trong lòng ơn cứu rỗi các linh hồn và tôn vinh Thiên Chúa Cha trong họ. Khiêm nhường thật để duy trì hạnh phúc phục vụ anh em, « lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình» (x. Ph 2, 3). Đối với người yêu mến, thì phục vụ vô vị lợi là phần thưởng của họ : « Khi anh dọn tiệc mời khách, thì hãy mời những người nghèo ; và anh sẽ hạnh phúc, vì họ không có gì để trả lại anh. » Anh có thể có bác ái trong sự khiêm nhường, vì người khiêm nhường không qui chiếu về mình nhưng làm phúc vô vị lợi đối với tha nhân trong tình yêu. Thế nên, Tình Yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa là khiêm nhường hoàn hảo nhất.
Lạy Chúa, xin đẩy xa tính kiêu ngạo xa con, dẫn con đi trên đường chân lý là khiêm nhường, để con coi người khác trọng hơn mình, và tìm thấy niềm vui khi phục vụ người khác. Xin đừng để sự tự cao, tự đại làm con thỏa mãn ; nhưng ban cho con ơn nhận ra Chúa luôn khiêm nhường, ẩn mình trong Bí tích Thánh Thể, là Thiên Chúa toàng năng, trao ban chúng con tình yêu và sự sống. Amen.
Trong kinh đọc hằng ngày, ta gặp thấy nhân đức khiêm nhường xuất hiện đầu tiên trong bảy nhân đức. Cải tội bảy mối có bảy đức: “ Thứ nhất khiêm nhượng chớ kêu ngạo”. Một đức tính tự nhiên của con người, mà Thiên Chúa đã phú ban. Sách Huấn ca và trang Tin mừng hôm nay, chúa nhật 22 thường niên đều nói đến nhân đức này.
Càng tự hạ con sẽ càng đẹp lòng Chúa (Hc 3,17-18)
Tự bản chất, Thiên Chúa là Đấng khiêm hạ thẳm sâu. Trời xanh, biển cả và muôn loài đều là công trình của Chúa. Vạn khắp nơi nơi bày tỏ vinh quang của Ngài. Trời là ngai và đất là bệ dưới chân Chúa. Vậy mà, Thiên Chúa vẫn luôn là Đấng vô cùng khiêm cung. Ngài đã tự hạ mình xuống làm người qua con mình là Đức Giê-su Ki-tô. Hình ảnh Đức Giê-su cúi xuống rửa chân cho các môn đệ, cho thấy sự hạ mình đến tự hủy và xóa mình đi của Thiên Chúa. Các nhà thần học gọi là “quyền năng xóa mình đi, chỉ cần ít quyền năng để phô trương, nhưng cần nhiều tình yêu để khiêm nhượng”. Sự khiêm nhường đi liền với tình yêu, và vì Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương yêu, nên cũng có nghĩa là Ngài rất mực hạ mình. Cúi đầu trước người có quyền thế chưa hẳn là sự khiêm nhường, nhưng người cao trọng quyền chức mà cúi đầu trước kẻ kém hơn mình mới là sự khiêm nhường đầy tự phát, như Đức Giê-su đã làm trong bữa tiệc ly.
Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên (Lc 14, 1.7-14).
Quan sát một bữa tiệc với nhiều thực khách, họ thuộc mọi thành phần trong xã hội, thượng vàng hạ cám. Tâm lý chung của con người bao giờ cũng muốn được người khác kính trọng. Cha ông xưa thường hay nói: “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”. Không lạ gì bữa tiệc trong nhà một người biệt phái có Chúa Giê-su đến dự hôm ấy. Người ta mời Chúa không vì tình nhưng vì mình. Họ muốn dò xét và bắt lỗi Chúa. Nào là không rửa tay, nào là làm việc ngày Sabbat…Nói chung không có thiện ý tốt lành. Đức Giê-su thấu hiểu lòng dạ của con người. Nhân dự một bữa tiệc mà Ngài dạy cho con người bài học về sự khiêm nhường. Có một thầy Rabbi già đau bệnh nằm liệt giường. Các môn đệ thì thầm nói chuyện bên cạnh ông. Họ hết lời ca tụng các nhân đức vô song của thầy.
Một người trong bọn họ nói:
– Từ thời Salomon đến nay, chưa có ai khôn ngoan như thầy.
Người khác nói:
– Đức tin của thầy ngang ngửa với đức tin của tổ phụ Abraham.
Người thứ ba nói:
– Chắc chắn sự kiên nhẫn của thầy không thua sự kiên nhẫn của ông Gióp.
Người thứ tư châm vào:
– Về sự cầu nguyện thân mật với Chúa, chỉ có Môsê và thầy mà thôi.
Vị Rabbi tỏ ra không vui. Khi các môn đệ đã ra về hết, vợ ông mới hỏi:
– Ông có nghe họ ca tụng ông không?
– Có.
– Thế tại sao ông lại tỏ ra bực dọc như thế?
Vị Rabbi than phiền:
– Vì không có ai nhắc đến sự khiêm tốn của tôi!
Lạy Chúa, xin cho mỗi người biết khiêm nhượng để nhận ra mình cần đến lòng xót thương và thứ tha của Chúa, như lời Thánh vịnh : “Lòng con chẳng dám tự cao, mắt con chẳng dám tự hào Chúa ơi”(Tv 130, 1). Ai sống khiêm tốn thì sẽ được Thiên Chúa yêu thương và được mọi người quý mến. “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1Pr 5,5). Điều Chúa cần nơi chúng ta chính là tấm lòng khiêm tốn thực thi thánh ý Người.
Đọc Tin Mừng, thánh Luca kể chuyện Chúa Giêsu dự tiệc tại nhà một thủ lãnh các biệt phái, và có lời trách cứ từ khách dự tiệc đến chủ nhà, cảm nhận đầu tiên của tôi là, hình như Chúa Giêsu quá đáng. Sao Chúa lại “chơi quê” người khác đến vậy?
Đã là tiệc, luôn có hai đối tượng: chủ nhà và khách được mời dự tiệc. Thấy nhiều người được mời tìm chỗ nhất để ngồi, Chúa Giêsu lên tiếng: “Khi có ai mời ngươi dự tiệc cưới, ngươi đừng ngồi vào chỗ nhất, kẻo có người trọng hơn ngươi cũng được mời dự tiệc với ngươi, và chủ tiệc đã mời ngươi và người ấy, đến nói với ngươi rằng: ‘Xin ông nhường chỗ cho người này’. Bấy giờ ngươi phải xấu hổ đi ngồi vào chỗ rốt hết…”. Nói như thế, khác gì đuổi khách dự tiệc: “Xuống đi, xuống chỗ chót mà ngồi…”.
Chưa dừng ở đó. Thấy toàn khách sang trọng tới dự, Chúa quay qua chủ nhà, ban cho ông mấy lời như tạt gáo nước lạnh: “Khi ông dọn tiệc, đừng mời bạn bè, anh em, bà con láng giềng giàu có… Hãy mời những người nghèo, mời những người què quặt, đuôi mù vì họ không có gì trả lễ…”.
Chúa Giêsu đúng là người thích gây sự? Với những lời chỉ trích công khai, chắc chắn Chúa sẽ bị không ít người thù ghét. Trong số những người thù ghét đó, chắc chắn có nhiều người nuôi lòng thù hận mãi về sau.
Nếu bạn và tôi đứng trong trường hợp của Chúa Giêsu, không đời nào làm như thế. Chúng ta không dám lên tiếng, không dám day dưa và chuyện người khác, càng không dám làm thầy đời của anh chị em mình. Bởi ta chẳng có tư cách nào để chỉnh đốn ai. Nhưng với Chúa Giêsu, luôn ý thức mình là Thiên Chúa, là Đấng mọi người phải tôn thờ, Người tự biết mình có quyền làm như vậy.
Đó là ý thức của Chúa Giêsu. Về phía chúng ta, nếu nhìn xa hơn và suy nghĩ sâu hơn bản chất của lời Chúa nói, ta sẽ phải đặt lại vấn đề: Có thật Chúa đang “chơi quê” người khác? Người gây sự với họ? Hoàn toàn không đúng như thế.
Nếu tôi gây sự với ai, muốn hạ nhục ai, thì hàm ý trong lời của tôi, chứa đựng sự thù ghét. Chúa Giêsu không nuôi lòng thù ghét để tìm cách vỗ vào mặt người ta, để trả thù và làm cho người ta sượng sùng. Chúa không bao giờ làm điều đó. Trong lời nói của Chúa Giêsu không hề chứa đựng ác ý.
Đúng hơn, Người rút ra từ những câu chuyện đời thường để dạy chúng ta, dạy mỗi người qua từng thời đại một bài học quý giá nào đó.
Bởi rút ra từ thực tế và từ kinh nghiệm cuộc sống, những bài học Chúa Giêsu trao ban đều dễ hiểu, dễ nhớ, cụ thể, phù hợp mọi nơi, mọi lúc. Bài Tin Mừng hôm nay có hai bài học quý giá, rút ra từ những lời phê phán đối với chủ và khách.
Bài học thứ nhất: sự khiêm nhường. Đối với khách dự tiệc, nếu Chúa bảo đừng ăn trên, ngồi trước, thì sau đó có một kết luận: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”.
Bài học này làm ta nhớ lại lời ca tụng Chúa của Đức Maria: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1, 51-52).
Chúa luôn luôn yêu thương những ai khiêm nhường, những ai mang thân phận nhỏ bé. Từ ngàn xưa, lịch sử đã chứng minh lòng yêu thương đó.
Chẳng hạn, Để lãnh đạo dân Người, Chúa không chọn ai khác, nhưng lại chọn một Môisen ngọng ngệu. Để tiếp tục công cuộc giải phóng dân, Chúa nâng lên địa vị quốc vương một Đavít chỉ là đứa em bé bỏng, sức yếu, lực kém trong số các anh em. Chuẩn bị cho Con Một của mình làm người, Chúa chọn một vị tiền hô là Gioan Tẩy giả, sinh ra từ một người mẹ son sẻ, lớn lên giữa cảnh nghèo hèn chỉ có núi đồi làm bạn, hoang địa làm nhà cư trú…
Đến lược Chúa Giêsu, để chuẩn bị cho một dòng tộc cưu mang ơn cứu độ đời đời, Người tuyển chọn cho mình mười hai tông đồ dốt nát, đầy bất toàn, yếu đuối.
Chính Đức Maria là một bằng chứng về lòng Chúa yêu thương những người phận nhỏ. Muốn có một người mẹ để sinh ra làm người, Chúa không chọn bất cứ một phụ nữ trang đài nào, lại chọn Đức Mẹ, vốn là một thiếu nữ nghèo hèn, không tiếng tăm, chìm khuất giữa làng quê Nagiaret bình dị.
Đúng là “Chúa đã nâng cao những người phận nhỏ”, bởi một lẽ rất đơn giản: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên”.
Còn bài học thứ hai, bài học của lòng bác ái. Nếu Chúa bảo ông chủ nhà hãy mời người nghèo, người thấp bé, ngưới tật nguyền dự tiệc, thì sau đó có một kết luận: “Ông sẽ được trả lễ khi những người công chính sống lại”.
Chúa yêu thương chúng ta. Người đòi chúng ta, một khi đã đón nhận lòng yêu thương, hãy chia sẻ tình yêu ấy cho anh chị em quanh mình, nhất là những người nghèo, người bất hạnh.
Chúng ta đừng quyên rằng, thực hành bác ái, sự trao ban và cho đi chính mình, lòng yêu thương quan tâm đến anh chị em xung quanh là tấm vé để chúng ta vào Nước Trời.
Hai bài học được rút ra từ Tin Mừng hôm nay có một tương quan rất lớn. Bởi lòng yêu thương bao giờ cũng cần khiêm nhường. Không có khiêm nhường thật, không bao giờ có bác ái, yêu thương đúng nghĩa, mà chỉ là khoe khoan, chỉ là sự bố thí nếu có cho ai cái gì.
Mặt khác, một người kênh kiệu, thích ra oai tác oái, làm sao có thể yêu thương người khác. Yêu thương và khiêm nhường là hai bài học của một thái độ sống. Nếu ta xưng mình là con Thiên Chúa, yêu mến Thiên Chúa, chắc chắn thái độ sống của ta sẽ là sự khiêm nhường và bác ái thẳm sâu.
Bạn thân mến, chính vì nêu gương sống yêu thương và khiêm nhường, Chúa Kitô, Thiên Chúa quyền năng nhưng đã hạ mình sống kiếp phàm nhân.
Là Thầy Cả của mọi người, Chúa cúi mình rửa chân cho môn đệ.
Là Đấng bất tử và là chủ của sự sống, Người chấp nhận chết thương đau để cứu độ loài người.
Xứng đáng được tôn vinh trên trời cao thẳm, Người lại chọn cho mình chỗ rốt hết trong nhân loại.
Chúa Kitô chính là bài học sống động về tình yêu và lòng khiêm nhường cho tất cả những ai muốn nên giống Người.
Là Kitô hữu, chúng ta hãy nhìn ngắm bài học sống động là chính cuộc đời Chúa Kitô và nghe theo lời Người dạy mà sống khiêm nhường và bác ái trong cuộc sống của mình. Biết chấp nhận sống như thế, chúng ta mới mong vững niềm hy vọng “sẽ được trả lễ khi những người công chính sống lại” (Lc 14, 14).
Cổ nhân sáng tạo ra bàn ghế chỉ có mục đích phục vụ cho cuộc sống con người. Chiếc ghế chỉ là một dụng cụ dùng để ngồi ăn uống hay làm việc trong sinh hoạt hàng ngày nơi gia đình hay những nơi công cộng tại làng xóm, rộng ra là xã hội. Cũng vì loài người coi trọng chức quyền, danh vọng, từ đó phân biệt ngôi thứ và chỗ ngồi trong xã hội, nên chiếc ghế trở thành một thứ hấp lực gây nên những cuộc tranh chấp. Ai cũng thích ghế cao và bảo vệ ghế của mình bằng mọi giá. Con người luôn bị ám ảnh bởi những chiếc ghế. Chiếu trên, chiếu dưới, ghế cao, ghế thấp chẳng phải là chuyện cổ xưa ở đình làng. Ngày nay vẫn có những bạn trẻ cố kiếm cho được mảnh bằng, ngõ hầu có được chỗ làm lương cao để ung dung hưởng thụ một chỗ ngồi trên chiếc ghế danh vọng trong xã hội. Mảnh bằng đó, nếu là do sự cố gắng “dùi mài kinh sử” (học tập) thì không có vấn đề gì; nhưng nếu là chạy chọt, mua bán những tấm bằng giả, ấy mới là chuyện đáng bàn.
Nhìn vào hương thôn Việt Nam thủa xưa sẽ thấy ngay cái hủ tục “mua quan bán tước” để giành chỗ ngồi (chiếc ghế) trong làng xã. Nhỏ thì mua nhiêu mua xã, lớn lên thì mua chức mua tước (từ trương tuần đến phó lý, rồi lý trưởng, phó tổng, chánh tổng v.v…). Tất cả đều phải mua bằng tiền (hoặc gán đất, gán ruộng). Rồi khi mua được những thứ đó, còn phải tổ chức khao vọng đãi tổ, đãi làng. Ngoài ra, nếu học hành đỗ đạt (từ Khoá sinh đến thi Hương, thi Hội, thi Đình) cũng đều phải tổ chức khao vọng (vinh quy bái tổ). Và nếu cứ đà ấy mà phất lên, đến tuổi lão niên sẽ được xếp vào “cỗ nhất” trong hương đẳng, đó là “tứ trụ” – 4 vị cao trọng nhất của làng: Ngồi thì ngồi chỗ cao trọng nhất, ăn thì được ăn những thứ được cho là ngon bổ nhất, như thủ lợn (đầu heo) chẳng hạn; bất cứ thứ gì dành cho “tứ trụ” cũng “nhất” hết trơn!.
Đã có không ít những cảnh cười ra nước mắt vì cái hủ tục này: Chồng lo chạy chọt mua được chức lý trưởng, bao nhiêu ruộng nương cầm cố cho bằng hết, cuối cùng phải cho vợ đi ở đợ (làm người giúp việc cho một gia đình giàu có), cho con đi làm tôi mọi cho người khác (ở những nơi thật xa làng để tránh thiên hạ chê cười, đàm tiếu), ngõ hầu có tiền trang trải nợ nần chồng chất vì cái chỗ ngồi của mình (câu tục ngữ “cầm vợ đợ con vì miếng đỉnh chung” đã nói lên cảnh này). Đi đâu cũng khăn đóng áo dài và gặp ai cũng được chào là “cụ lý”, “cụ chánh”, hách lắm; nhưng về đến nhà, chẳng có ai phục dịch miếng cơm chén nước, đêm nằm vắt tay lên trán mới thấm thía sự đời dâu bể!
Ngày nay, hủ tục khao vọng đình đám tuy không còn, nhưng lại nảy sinh những mưu ma chước quỷ để tranh bá đồ vương, tiếm quyền tiếm chức, tranh danh đoạt lợi, để được nổi danh nổi tiếng, tiền hô hậu ủng, xe hơi nhà lầu, võng lọng xênh xang. Và câu “một miếng giữa làng hơn một sàng xó bếp” vẫn luôn luôn và mãi mãi đúng. Tâm lý chung con người ai chẳng muốn chọn cho mình phần tốt nhất, ai chẳng muốn đi ăn tiệc được ngồi vào cỗ nhất. Ngay đến các Tông đồ ở cận kề với Người Thầy luôn dạy dỗ môn đệ phải khiêm nhường, vậy mà cũng có hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an muốn ngồi cỗ nhất (bên tả và bên hữu Chúa: Tả hữu Thừa tướng của vua Giê-su!). Không phải chỉ có 2 môn đệ này đâu, mà các môn đệ khác cũng tỏ ra tức tối (“Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. ” – Mc 10, 41). Tức tối tức là ghen tị, là mong muốn mình phải được coi trọng hơn. Các kinh sư và Pha-ri-sêu thích ngồi ghế danh dự trong hội đường. Đến ngay cả Phi-la-tô vẫn cho rằng Ðức Giê-su vô tội, nhưng vì sợ mất ghế cao (Tổng trấn), nên vẫn cho đóng đinh Người. Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXII/TN-C – Lc 14, 1-7.14) cho thấy các khách dự tiệc cứ thích chọn ghế cao, cỗ nhất mà ngồi.
Thấu hiểu được tâm địa con người như vậy, nên Đức Ki-tô luôn răn dạy các môn đệ: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người.” (Mc 9, 35). Rõ ràng “Người nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi”, nên Người mới dạy: “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: “Xin ông nhường chỗ cho vị này. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối.” (Lc 14, 8-9). Người còn chỉ rõ những người ham ngồi “cỗ nhất”, đó là : “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được chào hỏi ở những nơi công cộng, ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc.” (Lc 20, 46). Ngay đến cả việc đãi khách, mời khách dự tiệc, Người cũng dạy trái ngược với thông lệ của người đời: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có… Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù…” (Lc 14, 12-13).
Lời dạy của Đức Ki-tô mới thoạt nghe sẽ thấy là mâu thuẫn, khó chấp nhận được, chẳng hạn như Người muốn ai đi theo Người thì phải từ bỏ tất cả, từ của cải vật chất đến cha mẹ anh em họ hàng, kể cả từ bỏ chính mình. Trong khi đó, Người lại dạy phải yêu thương mọi người như yêu thương chính bản thân mình, thậm chí còn yêu thương cả kẻ thù của mình nữa. Tuy nhiên, suy nghĩ cho thấu đáo, thì thấy Đức Ki-tô chuyên dùng dụ ngôn với những cách nói tương phản, phản đề, cốt ý nhấn mạnh để nêu bật ý chính (chủ đề). Như Lời dạy trên, nếu trích đầy đủ, sẽ là: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại.” (Lc 14, 12-14). Và như vậy, mục đích nhắm tới của Lời dạy là “ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại.” Rõ ràng Đức Giê-su chỉ luôn mong muốn Lời dạy của Người có tác động mạnh mẽ, làm cho người nghe hiểu được ý nghĩa sâu xa và cái mục đích tối hậu cần đạt tới.
Trở lại với bài Tin Mừng hôm nay, Đức Ki-tô chỉ muốn dạy môn đệ đức tính khiêm nhu tự hạ. Và nếu anh biết khiêm nhường chịu luỵ, anh sẽ được mời lên ngồi “cỗ nhất”. Anh đừng nghĩ khi được ngồi cỗ nhất là anh sẽ được kẻ hầu người hạ, anh sẽ vênh vang nhìn đời bằng nửa con mắt. Trái lại, “Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa.” (Hc 3, 18), “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.” (Mt 20, 43-44). Khiêm nhường cũng có nhiều cách thể hiện, có thể thực lòng và cũng có thể màu mè bên ngoài, thậm chí còn có trường hợp giả bộ khiêm nhường để nói móc, nói xỏ nói xiên. Và cũng vì thế nên cách đây 2.000 năm, Đức Giê-su Thiên Chúa đã vâng lời Chúa Cha xuống thế làm người khó nghèo và dùng chính cuộc sống cùng những Lời truyền giảng của Người để dạy dỗ loài người về đức khiêm nhường. Người đã khiêm nhường vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu để cái tính kiêu ngạo của loài người hành hạ, đánh đòn, sỉ nhục, đóng đinh Người trên thập tự. Người đã thức tỉnh nhân loại bằng cách hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.
Tuy nhiên, cho đến ngày nay, thử hỏi đã được bao nhiêu người ý thức được tội kiêu ngạo đứng hàng đầu trong 7 mối tội đầu, hiểu được chính tội kiêu ngạo đã đóng đinh Chúa Giê-su vào thập giá? Và chẳng hiểu có được bao nhiêu con người dám hy sinh chỗ ngồi “cỗ nhất” (chưa dám nói hy sinh mạng sống mình) cho anh em, cho đồng loại, để sẵn sàng xuống ngồi “chỗ cuối” mà phục vụ mọi người? Quả thực “Kẻ kiêu ngạo lâm cảnh khốn cùng thì vô phương cứu chữa, vì sự xấu xa đã ăn sâu mọc rễ trong nó.” (Hc 3, 28). Ôi! “Lạy Chúa, mọi sự tốt lành đều bởi Chúa mà ra, xin cho chúng con thêm lòng tin yêu Chúa, để những gì tốt đẹp nơi chúng con ngày càng phát triển, và được Chúa chăm sóc giữ gìn. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen. (Lời nguyện nhập lễ CN. XXII/TN-C).
Sống trên đời, lạ kỳ ở chỗ người ta không tranh giành nhau làm việc bác ái, tại sao ta không thể ca ngợi tán dương một người đang bất hòa với mình ? Ấy vậy, người ta thường thích được đề cao, muốn được người khác xem mình là nhân vật quan trọng. Dù hiệu quả trong “đối nhân xử thế” ta cho rằng, biết khen đúng chỗ, chê đúng nơi, mọi người mới thán phục, kính nể. Vị trí của tôi là gì trong hiện tại, thì vẫn phải sống đúng, sống đẹp, chu toàn bổn phận mình trong tương quan gia đình và xã hội, trước ơn gọi làm con Chúa.
Là học sinh sinh viên các em có quyền mơ tưởng tới danh hiệu xuất sắc, giỏi, đoạt giải nhất, giải nhì… Ở gia đình anh chị em có thể ganh tỵ nhau vì được yêu nhiều, yêu ít ; nhưng do các em trẻ con, hoặc chưa trưởng thành, nên cha mẹ, xã hội, tạm chấp nhận được. Cách cư xử nơi người lớn, nếu chỉ quy chiếu về hơn thiệt : hòn đất ném đi, hòn chì ném lại ; hoặc có qua có lại mới toại lòng nhau. Gia đình, xã hội, sẽ đi về đâu, vì tính toán thái quá, người ta chỉ thấy xã hội có lý mà không có tình, có yêu mình, nhưng không biết yêu tha nhân nữa !
Quan niệm đẹp, xấu, đặt giá trị cao thấp sang hèn, sống lý tưởng đơn giản hay phức tạp, cũng đều phát xuất từ hoàn cảnh gia đình, từ môi trường xã hội. Để minh chứng vị trí của mình nơi cuộc sống, cha ông chúng ta dạy con cháu : khôn cho người ta vái, dại cho người ta thương. Chúa Giêsu hôm nay Ngài nói tới bài học khôn ngoan, khiêm tốn, khi giới thiệu dụ ngôn đi ăn tiệc, nhằm ý thức mỗi người cần xác định vị trí của mình, hiểu mình là ai, và áp dụng luật yêu thương vào cuộc sống cho thật ý nghĩa.
Sở dĩ có tranh chấp hơn thiệt, có đòi hỏi vị trí cao thấp, chỗ nhất chỗ nhì nơi cộng đồng xã hội là vì thiếu hiểu biết, chưa xác định được đâu là hạnh phúc thật trong Nước Chúa. Thực tế cho thấy, không phải cứ ai khỏe mạnh, dành được ghế số một trong bàn tiệc, đó là chủ tiệc. Đâu phải cứ khoác lên mình chiếc áo “blouse trắng”, người khác sẽ gọi ta là bác sĩ ? Đâu phải là nhìn mặt đặt tên theo kiểu : cứ người ăn mặc sang trọng, tướng tá cao to, khuôn mặt xinh đẹp…, đó là người tài giỏi nhất, người bề thế nhất, đáng kính trọng hơn ?
Khi được mời đi ăn tiệc, Chúa Giêsu nói rằng đừng ngồi vào chỗ nhất, kẻo có người quan trọng hơn… Thực ra, Ngài không có ý khuyên người ta tìm kiếm chỗ khuất, chỗ kém vinh dự trong buổi tiệc, hoặc là cần có chiến thuật, chiến lược trong các tương quan xã hội. Sự sai lầm mà Chúa Giêsu muốn chúng ta hãy cảnh giác, đó là đừng lầm tưởng cứ tranh giành cho mình cái chỗ “hư danh” trong bàn tiệc trần gian, là được cả bàn tiệc thiên quốc.
Đừng giả nai, giả hưu, để ảo tưởng vị trí thật của mình trong xã hội, nhưng hãy thực hành bài học yêu thương trong cuộc sống hiện tại của mình. Đúng là cái ghế, hay chỗ đứng ở công ty xí nghiệp, bao giờ cũng quan trọng, vì xã hội vẫn căn cứ vào vị trí, bằng cấp, để định mức lương, liên hệ công việc, phù hợp với những cố gắng nỗ lực họ đầu tư. Hơn nữa, chỗ nhất nơi bàn tiệc không phải là chỗ ăn ngon hơn, có chăng, vì cái ghế số 1 đó làm cho họ vinh dự hơn, mọi người kính nể hơn khi sống ở đời này.
Kinh nghiệm cũng cho thấy, khước từ một tiếng khen, dễ lắm, nhưng đón nhận một lời chỉ trích, lại rất khó. Rõ ràng chúng ta đã nằm lòng câu nói của tiền nhân : ai khen ta mà khen phải, kẻ ấy là bạn ta ; ai chê ta mà chê phải, đó là thầy ta. Tiếc thay, bàn tiệc gia đình, bàn tiệc xã hội, chỉ có một ghế nhất, vì vậy mà ngay trong gia đình, xã hội vẫn có những người ganh tỵ, đòi hỏi chỗ nhất, tranh giành quyền lực, muốn được vinh dự trần thế.
Chỗ quan trọng, vị trí cần thiết nơi bàn tiệc thiên quốc, đó là có Chúa, có tình yêu thương giữa người được chọn gọi, giữa những ai biết thực thi tình bác ái trước ơn ban của mình. Nhiều người chúng ta đây cũng từng đọc câu ca dao : bực mình đem lửa đốt trời, ai hay lửa cháy lửa rơi xuống đầu. Đại ý cha ông ta có ý nhắc nhớ là hãy ăn ở khiêm nhường, đừng hành xử bằng thái độ tự cao tự đại, đừng lầm tưởng khả năng hiểu biết của mình sẽ phá đổ được kẻ nghịch với ta.
Thiết tưởng ai cũng hiểu sống khỏe là hạnh phúc hơn bệnh tật, được mời dự tiệc là vinh dự hơn phải “chầu rìa” ; được mời dự tiệc Nước Trời là hạnh phúc hơn chỉ ngồi bàn tiệc trần gian. Đúng là mâm cao cỗ đầy, nhà cao cửa rộng hay chức trọng quyền uy…, luôn hấp dẫn, và là niềm mơ ước của nhiều người. Do đó không lạ gì khi mà anh chị em, cộng đồng xã hội thời nào người ta cũng phấn đấu, tìm kiếm, có khi dùng cả thủ đoạn để đạt mục đích ấy. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, có phải là khẩu hiệu không, vì cái bên ngoài người ta có thể sơn phết, làm mới lại, nhưng bản chất là gỗ mục, thì dù sơn phết tu sửa cũng hoài công thôi.
Không tìm hư danh ở đời này là biết ý thức sống vị trí của mình tại cuộc sống này rồi ; biết sống thế nào để được Chúa mời dự tiệc đó là khôn ngoan, là hạnh phúc. Người xưa có câu, tự khiêm thì người ta càng phục, tự cao thì người ta càng khinh. Có khoe thì hãy khoe mình là con cái Chúa, là môn đệ Chúa, có tỏ ra mình là khôn ngoan thì đừng phân biệt, chọn lựa đối tượng khi thực thi bác ái. Giả nai, giả hình, đều không thật, biết được vị trí của mình là ai, hẳn cũng biết phải sống, biết thể hiện niềm tin của mình trong chiếc áo cưới mà ta sẽ mặc dự tiệc ngày sau hết. Amen.
Sống khiêm tốn là một lời khuyên thường thấy trong kho tàng văn hoá Đông cũng như Tây, kim cũng như cổ. Sống giữa trời đất mênh mông, con người thật nhỏ bé, cần phải thành thật nhận ra sự nhỏ bé ấy. “Khiêm tốn bao nhiêu cũng chưa đủ, tự kiêu một chút cũng là thừa” – người xưa nói thế. Cuộc đời chính là sự tôi luyện để biết học khiêm tốn và tránh xa tự kiêu. Chỉ một chút tự kiêu cũng có thể làm người ta danh bại thân liệt đổ vỡ sự nghiệp không thể cứu vãn. Lão Tử lấy hình ảnh nước để nói về sự khiêm tốn: “Bậc trọn lành giống như nước. Nước khéo làm ích cho muôn loài mà không tranh giành, ở chỗ mọi người đều ghét, cho nền gần Đạo” (Đạo Đức Kinh, chương 8). Bậc thánh nhân cũng phải như vậy, phải sống cuộc đời khiêm cung từ tốn, quên mình vì người, không tự cao tự đại, có như thế mới gần Đạo gần Trời.
Sống khiêm tốn cũng là chủ đề chính của các bài đọc Lời Chúa hôm nay, dù mỗi bài đọc khai thác đề tài này ở một góc nhìn khác nhau. Sách Huấn Ca của người Do Thái là một cuốn sách thuộc thể loại “văn chương khôn ngoan”. Nội dung sách này cũng tựa như những ca dao tục ngữ của người Việt chúng ta. Điều khác biệt ở chỗ đây là Sách Thánh, tức là được Thần Linh Chúa soi sáng cho các tác giả viết ra. Tác giả vừa như một bậc thầy khôn ngoan giáo huấn, vừa như một người cha nhẹ nhàng khuyên răn, với mục đích giúp con cái nên người. Những lời khuyên chân tình này sẽ đi cùng với các con trải dài suốt năm tháng, để góp phần hình thành nhân cách và giúp con nên người hoàn thiện. “Càng làm lớn, con càng phải tự hạ”. Lời khuyên này sẽ được nhắc lại trong giáo huấn của Chúa Giêsu: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em” (Mt 20, 27). Nét độc đáo được nêu trong sách Huấn Ca, là “Thiên Chúa được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường”. Hãy chiêm ngưỡng Chúa Giêsu, Người là Thiên Chúa cao sang đã hạ mình sống thân phận con người như chúng ta, và Thiên Chúa đã được tôn vinh qua sự khiêm nhường, nhất là qua cuộc khổ nạn và phục sinh vinh quang của Người. Khi sống khiêm nhường, chúng ta nên giống Chúa Giêsu, để rồi nhờ Người mà đến cùng Chúa Cha. Thiên Chúa được nhận biết, được yêu mến và được tôn vinh qua sự khiêm nhường của chúng ta là những con cái của Ngài.
Khiêm nhường là gì? thánh Tôma Aquinô trả lời: «Đó là một nhân đức đặc biệt, hệ tại ở sự tuân phục của con người đối với Thiên Chúa, và vì Thiên Chúa, hạ mình vâng phục những người khác”. Theo Thánh Tôma, cách đối xử với tha nhân chỉ được gọi là khiêm nhường đích thực, khi nó được thực hiện “vì Thiên Chúa”.
Trong truyền thống Kinh Thánh, người khiêm nhường cũng là người khó nghèo và là người công chính. Họ luôn tín thác cậy trông nơi Thiên Chúa. Tác giả Thánh vịnh 67 đã diễn tả niềm vui và hạnh phúc của người công chính (Đáp Ca). Họ là những người được Chúa chúc phúc và nâng đỡ chở che. Cuộc đời họ sẽ luôn thư thái và an bình. Họ sẽ dễ dàng vượt qua những gian nan thử thách, vì có Chúa luôn ở cùng.
Thánh Luca đã kể lại sự việc Chúa Giêsu đi dự tiệc. Nhân dịp này, Chúa giáo huấn các tông đồ về sự khiêm nhường. Trong xã hội Việt Nam, xưa cũng như nay, chỗ ngồi dự tiệc còn quan trọng hơn cả thực phẩm trên bàn tiệc, vì nó khẳng định vị thế của người được mời. Thực ra, Chúa dùng hình ảnh chỗ ngồi trong bữa tiệc để giáo huấn chúng ta về sự khiêm nhường trong cuộc sống. Trong thực tế, đôi khi chúng ta giả bộ khiêm nhường, mà chưa chắc đã thực tâm sống nhân đức ấy.
Trong phần cuối của bài Tin Mừng, Chúa Giêsu còn dẫn chúng ta đi xa hơn, với lời mời gọi thực thi bác ái và quan tâm đến những người bất hạnh, những người bị lãng quên. Những của cải làm phúc cho người nghèo sẽ không bị rơi vào quên lãng, nhưng được Thiên Chúa ghi nhận và Ngài sẽ thưởng công cho người nào rộng rãi đối với tha nhân.
Khuynh hướng tự nhiên nơi con người bao giờ cũng muốn thể hiện mình. Ngày nay, nhiều người khoe khoang học thức và bằng cấp (nhiều khi lại là bằng cấp mua!). Thực tế, “con người không giá trị ở cái mình có, nhưng giá trị ở điều mình là” (ngạn ngữ Pháp). Giá trị đích thực không ở bằng cấp, nhưng là ở con người có kiến thức và biết sử dụng kiến thức đi liền với bằng cấp ấy. Khiêm tốn bao nhiêu cũng không đủ, tức là còn phải khiêm tốn suốt đời. Cũng vậy, người tín hữu không bao giờ tự cho là đã đạt được sự hoàn hảo nơi bản thân, nhưng còn phải gắng sức phấn đấu để đạt tới mức “hoàn hảo như Cha trên trời” như Chúa Giêsu mời gọi.
Ông John Wooden (1910-2020), huấn luyện viên nổi tiếng môn bóng rổ người Mỹ, đã viết như sau:
Tài năng do Chúa Trời cho, hãy khiêm tốn. Danh tiếng do người khác cho, hãy biết ơn. Tính tự phụ do tự ta cho, hãy cẩn thận
“Chọn chỗ cuối” là một cách nói gợi hình, không chỉ là một vị trí hoặc một không gian, nhưng đúng hơn là một thái độ sống trong cuộc đời. Một cách thiết thực, chọn chỗ cuối là biết thu mình lại để Chúa được tôn vinh, và cũng giúp anh chị em được hạnh phúc. Xin Mẹ Maria giúp chúng ta biết sống khiêm tốn, để có thể thân thưa với Chúa lời “xin vâng” như Mẹ.
Phàm nhân chỉ là bụi tro, chẳng đáng gì, thế nhưng vẫn được Thiên Chúa yêu thương và ban cho quyền tự do. Sự tự do quý giá nên những người ở nơi chiến tranh hoặc bị đàn áp luôn tìm mọi cách để đến được vùng trời tự do. Quả thật, sự tự do như viên ngọc bích. Nhưng quyền tự do cũng thực sự đáng sợ, nếu sử dụng tự do trái ý Chúa.
Ai cũng có quyền tự do, người này không thể áp đặt hoặc ép buộc người khác. Đứa bé không muốn ăn, nó sẽ lè ra hết. Vì mất tự do mà có bạo động, phản loạn.
Qua trình thuật Lc 14:7-14, Thánh Luca cho biết rằng, vào một ngày sabát, Đức Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh của nhóm Pharisêu để dùng bữa. Nhóm này không tốt lành gì, vì họ chỉ cố ý dò xét Ngài mà thôi. Theo nguyên ngữ tiếng Do Thái, chữ Pharisêu có nghĩa là “riêng biệt” hoặc “tách rời,” Việt ngữ gọi là Biệt Phái – tức là “đặc cách.” Vì ỷ mình “biệt phái” nên nhóm này luôn tỏ ra “ngon hơn” người khác – ngày nay gọi là “chảnh.” Họ chi li giữ luật nghiêm ngặt (613 điều – 248 điều tích cực, 365 điều tiêu cực), nhưng họ không thi hành điều Chúa dạy – chỉ giữ hình thức, giả hình. (x. Mt 23:1-7; Mc 12:38-40; Lc 11:43-46 và Lc 20:45-47)
Tại bữa tiệc, nhận thấy khách cứ chọn cỗ nhất mà ngồi nên Chúa Giêsu nói với họ dụ ngôn này: “Khi anh được mời đi ăn cưới thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: ‘Xin ông nhường chỗ cho vị này.’ Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối. Trái lại, khi anh được mời, hãy vào ngồi chỗ cuối để cho người đã mời anh phải đến nói: ‘Xin mời ông bạn lên trên cho.’ Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”
Không hề xa lạ với chúng ta, vì tại các đám tiệc vẫn thấy tình trạng “ưu tiên” kiểu đó, nhưng ngày nay người ta tinh vi hơn, và cũng khó nhận ra hơn. Có những người “nổ” hơn bom, cốt để khoe khoang, tự cho là mình “thông thái,” nhưng thật ra chỉ là “thùng rỗng kêu to” mà thôi. Máu Biệt Phái thời nào cũng có!
Mặc dù nói về “chỗ ngồi” nhưng Chúa Giêsu muốn giáo huấn về sự khiêm nhường – nhân đức nền tảng của các nhân đức, viên đá chính trong “tòa nhà nhân đức” và “lâu đài hoàn thiện.” Đức khiêm nhường vô cùng quan trọng nhưng lại không dễ thực hiện, vì “cái tôi” quá cồng kềnh, mà đâu mấy ai muốn đè bẹp nó! Không có mà còn dám nói có, huống chi là có chút ít, tiện thể bơm cho to ra. Cái miệng nhỏ mà chẳng ai bịt nó được!
Sau đó Chúa Giêsu nói với kẻ đã mời Ngài: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại.” Chúa Giêsu nói thật, không bóng gió hoặc bông đùa, vậy mà mấy ai thực hiện đúng?
Quả thật, không đơn giản chút nào! Có thể nói rằng “người khiêm nhường là người hoàn thiện.” Nhưng văn sĩ Lev Nikolayevich Tolstoy (1828-1910, tác giả cuốn sách “Chiến Tranh và Hòa Bình,” 1869) nhận xét: “Khi bạn ý thức được mình là người khiêm nhường thì bạn không còn khiêm nhường nữa.” Một câu nói đáng lưu ý, đầy triết lý sống. Ý thức ở đây muốn nói tới việc “cố ý” hoặc “ra vẻ” khiêm nhường, biết như vậy thì coi như là giả dối. Tương tự, khi nghĩ rằng mình là vô vi thì không còn vô vi nữa. Cuộc đời có những triết lý sống rất kỳ lạ!
Có câu nói thế này: “Thả con cá tép, bắt con cá rô.” Câu này có ý nói về chuyện “có qua có lại” khi đối xử ở đời với nhau, chứ chẳng mấy ai cho không bao giờ, bởi vì người ta quan niệm rằng cách thể hiện như vậy mới khả dĩ làm “toại” lòng nhau. Luôn có nhiều loại tiệc tùng, liên hoan hoặc ăn mừng – cả đời và đạo, từ nhỏ tới lớn, người ta tổ chức có ý nhắm vào “mối lợi” vật chất – một dạng “tự kinh doanh” rất thực tế. Có những người được mời thì vui và hãnh diện; có những người được mời lại thấy buồn và khó nghĩ, bởi vì họ phải lo tiền bạc, bỗng dưng hóa con nợ bất đắc dĩ.
Trong các loại tiệc mừng, người ta mời những người có chức tước để được hãnh diện. Không chỉ tiệc tùng, mà bất cứ lúc nào, khi thấy ai có “máu mặt” thì người ta thích bám theo, tìm cách tiếp cận để nói vài lời hoặc xin chụp hình, nhưng người ta cho rằng “tiếng chào cao hơn mâm cỗ.” Ít ra cũng có dịp khoe mẽ để chứng tỏ mình.
Thật vậy, để ý các bữa tiệc sẽ thấy rõ. Người ta thích nổi trội, được ăn trên, ngồi chỗ cao, cơ hội cho người khác thấy mình có thế giá, có dịp khoe đủ thứ, đặc biệt là bề ngoài (trang phục, trang sức,…), nhưng người ta không nhận mình ưa hình thức. Thói thế tục thật tởn!
“Phong cách” đó cũng là dạng tự tôn, kiểu kiêu căng tinh vi vậy. Vốn dĩ “cái tôi” của phàm nhân rất to, thế nên tác giả sách Huấn Ca đã chân thành khuyên nhủ: “Con ơi, hãy hoàn thành việc của con một cách nhũn nhặn thì con sẽ được mến yêu hơn người hào phóng. Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa.” (Hc 3:17-18) Có nhiều dạng “tự” rất đáng có: tự lập, tự thú, tự làm, tự học, tự hiểu, tự hạ, tự nguyện,… Nhưng cũng có những dạng “tự” rất nguy hiểm: tự tử, tự sát, tự hại, tự tôn, tự kiêu, tự mãn, tự phụ,…
Thiên Chúa là Đấng tự hạ nên Ngài rất yêu quý những người khiêm nhu: “Vì quyền năng Đức Chúa lớn lao: Người được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường.” (Hc 3:20) Khiêm Nhường đối lập với Kiêu Ngạo (hai động thái đối lập với hai mẫu tự như nhau – KN). Việt ngữ độc đáo thật! Kinh Thánh so sánh và giải thích: “Kẻ kiêu ngạo lâm cảnh khốn cùng thì vô phương cứu chữa, vì sự xấu xa đã ăn sâu mọc rễ trong nó. Người sáng trí để tâm nghiên cứu các ẩn dụ, kẻ khôn ngoan ao ước có tai thính để nghe.” (Hc 3:28-29)
Khiêm nhường liên quan yêu thương. Người khiêm nhường biết chạnh lòng xót thương người khác. Tất nhiên họ cũng là người thanh thảnh, bình an, vui mừng trong lòng. Thật vậy, Thánh Vịnh gia cho biết: “Những người công chính múa nhảy mừng vui trước mặt Chúa Trời, niềm hoan lạc trào dâng. Hãy hát mừng Thiên Chúa, đàn ca kính danh Người, hãy dọn đường cho Đấng ngự giá đằng vân. Danh Người là Đức Chúa; trước Thánh Nhan, hãy vui mừng hớn hở. Cha nuôi dưỡng cô nhi, Đấng đỡ bênh quả phụ, chính là Thiên Chúa ngự trong thánh điện Người. Kẻ cô thân, Thiên Chúa cho nhà cửa, hạng tù đày, Người trả lại tự do hạnh phúc, còn quân phản nghịch phải ở nơi khô cằn.” (Tv 68:4-7)
Thiên Chúa yêu quý những người khiêm nhường và chăm sóc chu đáo: “Lạy Thiên Chúa, Ngài đổ mưa ân hậu, gia nghiệp Ngài tiêu hao mòn mỏi, Ngài đã bổ sức cho. Lạy Thiên Chúa, đàn chiên của Ngài đến ở nơi đâu, Ngài cũng luôn nâng đỡ, bởi vì Ngài nhân hậu đối với kẻ khó nghèo.” (Tv 68:10-11) Người khiêm nhường là người nghèo về tài sản trần thế: kiêu hãnh, khinh miệt, chỉ trích, mê muội, tức giận, ghen ghét, mưu mô, xảo quyệt, ích kỷ, lọc lừa,… nhưng họ giàu tài sản thiêng liêng.
Dẫn chứng cụ thể, Thánh Phaolô nói: “Anh em đã chẳng tới một quả núi sờ thấy được, có lửa đang cháy, mây mù, bóng tối và giông tố, có tiếng kèn vang dậy, và tiếng nói thét gầm, khiến những kẻ nghe phải van xin đừng để lời ấy thốt ra với họ nữa.” (Dt 12:18-19) Đó là cách nói của Thánh Phaolô về giao ước của Thiên Chúa ưu ái dành cho chúng ta, dù chúng ta chỉ là những tội nhân khốn kiếp. Tuy nhiên, Lòng Thương Xót của Thiên Chúa vẫn vượt trên tất cả, vượt quá trí hiểu của phàm nhân.
Như muốn đưa chúng ta tới nơi cao hơn, Thánh Phaolô cho biết: “Nhưng anh em đã tới núi Sion, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui, dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời. Anh em đã tới cùng Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đã được nên hoàn thiện. Anh em đã tới cùng vị trung gian giao ước mới là Đức Giêsu và được máu của Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời còn mạnh thế hơn cả máu Aben.” (Dt 12:22-24)
Chúa Giêsu xác định rằng người ta phải “trả hết đồng xu cuối cùng.” (Mt 5:26) Đó là “nợ máu” – loại nợ khó trả nhất, nhưng vẫn phải thanh toán hết. Tất cả chúng ta đều mắc món “nợ máu” này – nợ máu với Đức Giêsu Kitô, và nợ tình với tha nhân. Chúng ta đều là những “con nợ,” phải liệu thanh toán trước khi Thẩm Phán Giêsu trở lại tính sổ.
Thánh Faustina cho biết lời cảnh báo của Chúa Giêsu: “Hãy nói cho thế giới biết về Lòng Thương Xót của Ta… Đây là dấu hiệu thời kỳ cuối cùng, sau đó sẽ là Ngày Công Lý.” (Nhật Ký, số 848) Chúng ta đang sống trong thời cuối, còn trong “Giờ Thương Xót” mà Chúa Giêsu đề cập, và không ai biết kết thúc lúc nào! Biết vậy để đừng tranh giành chi nữa. Chỗ cao hay thấp không quan trọng, nhưng “hướng đi” rất quan trọng.
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con nhận biết mình là ai, là gì, và ở chỗ nào. Xin giúp chúng con biết chọn đúng những gì Ngài muốn và làm cho tới cùng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
Bài Tin Mừng Chúa Nhật 22 Mùa Thường Niên hôm nay thuật lại việc người ta chen lấn nhau để tìm chỗ ngồi. Nhân cơ hội này, Đức Giê-su đã dùng dụ ngôn để khuyên chúng ta hãy sống khiêm tốn, Người phán: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”
Để minh họa cho ý tưởng nói trên, xin mời anh chị em nghe câu chuyện nhằm cảnh báo những ai thích xum xoe, tự bốc mình lên. Truyện đã xẩy ra tại một xứ đạo thuộc Địa Phận Long Xuyên cách đây hơn 50 năm. Hôm đó là ngày lễ mở tay của tân linh mục. Trong khi ban tiếp tân đang thi hành nhiệm vụ, sắp xếp chỗ ngồi cho quan khách đến tham dự thì bỗng nhiên qua loa phóng thanh mọi người nghe giọng cha xứ đang yêu cầu bà cố Giả lui vào bên trong để nhường chỗ cho thân mẫu của linh mục bước vào đầu ghế.
Hoàn cảnh của tân linh mục cũng thật đáng thương. Ông cố mất sớm. Gia đình còn lại hai mẹ con. Gia đình túng thiếu. Cậu rất ngoan, hiếu học và chăm chỉ nên nhiều người trong xứ thương yêu giúp đỡ. Trong số những người đó, có gia đình bà kia tên là Giả, thuộc hạng giầu có đã giúp đỡ ngài trong hành trình tu học mà cậu đã từng gọi bà là mẹ. Ai trong xứ cũng đều biết việc này.
Trong ngày trọng đại như thế, làng xóm vui mừng, cả xứ hân hoan chúc mừng, gia đình hãnh diện. Trong niềm vinh dự đó, mọi người cảm thấy lâng lâng, bà Giả và gia đinh cũng có tâm trạng như thế. Quả thật với lòng quan tâm thì bà cũng xứng đáng. Hơn nữa, trong cách xưng hô cha mới cũng hay gọi bà là mẹ. Vì thế bà cũng quên mất mình là ai! Trong khi đó, bà cố, thân mẫu của cha mới lại quá âm thầm, thu mình trong góc nhà thờ, với cỗ tràng hạt trên tay, cầu nguyện cho cha con chu toàn sứ vụ linh mục.
Gần đến giờ cử hành Thánh Lễ mà cha xứ không thấy bà cố đâu, Ngài mới sai các chú giúp lễ đi kiếm và mời bà cố lên. Lúc đó thì bà mẹ nuôi tên Giả mới được cha xứ để ý và thấy bà đang ngồi vào vị trí của bà cố thật nên ngài đã dùng loa mời bà cố Giả về vị trí đã được định sẵn, để nhường chỗ cho bà cố, thân mẫu của tân linh mục, đang khúm núm bước vào chỗ ngồi.
Nghe người kể nói lại, sự kiện này có thật. Bà cố Giả, người giả, vật giả đang hiện diện chung quanh mình. Đừng có hợm mình kẻo bị lôi xuống!
Anh chị em thân mến,
Vẫn biết rằng khiêm nhường gắn liền với thân phận con người. Tự nguyên thủy, con người nhận biết rằng mình bởi đất mà ra và sau cùng sẽ trở về đất bụi. Vì thế, khiêm tốn là chấp nhận một sự thật về thân phận thụ tạo của con người. Chúng ta cho dù phát minh ra nhiều sự, khám phá nhiều điều mới lạ, nhưng không bao giờ thay quyền của Đấng sáng tạo được. Sự hiện diện của chúng ta dầu sao cũng chỉ là món quà của Đấng sáng tạo dành cho vũ trụ này. Những gì chúng ta mang đến, các nỗ lực chúng ta đóng góp sau này cũng chỉ nói lên bổn phận phải chu toàn để hoàn tất nhiệm vụ đã được sai phái. Đã như thế, thì con người dựa vào đâu mà kiêu hãnh.
Nói một cách khác, khiêm tốn là thái độ sống mà chúng ta cần có để đối diện và chấp nhận các giới hạn của bản thân mà nhận ra sức mạnh, quyền năng và Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đang hoạt động trong mình; để rồi trong thân phận yếu đuối của một thụ tạo, chúng ta sẵn sàng đón nhận sự giúp đỡ của nhau mà hoàn thành nhiệm vụ. Như thế, chúng ta có gì để kiêu căng. Tất cả là hồng ân được ban tặng và sự trợ giúp của tha nhân.
Sau cùng, khiêm nhường là một trong những nhân đức mà người tín hữu cần trau dồi và thực hành trong cuộc sống. Nói như thế, có nghĩa là người tín hữu sẽ không bao giờ là người tín hữu chân chính nếu không sống khiêm nhường.
Anh chị em thân mến,
Chúng ta bước sang phần thứ II của bài Tin Mừng. Sau khi Đức Giê-su khuyên khách dự tiệc hãy sống khiêm nhường, Người quay sang các vị chủ tiệc và cho cả chúng ta một bài học là khi tổ chức tiệc mừng thì hãy nhớ đến những người nghèo khó, tàn tật, què quặt và đui mù mà mời họ cùng dùng bữa với mình. Qua hành động như thế, chúng ta mới có cơ hội bộc lộ lòng quan tâm, tâm tình chia sẻ và thái độ sống của chúng ta đối với người nghèo nói chung.
Theo thói đời, vào những ngày lễ nghỉ, sau khi tham dự Thánh Lễ, chúng ta thường hay có thói quen tụ họp lại với nhau để mừng lễ. Dĩ nhiên, không ai mừng lễ một mình. Chúng ta thường mời thân nhân hay bạn bè đến chia vui.
Dựa vào cách xử thế, chúng ta có thói quen mời những người cùng chí hướng, những người bạn có thể cùng nhâm nhi và chia sẻ vui buồn cho nhau. Nói chung, họ là những con người mà chúng ta có thể tương tác được. Không ai thiếu khôn ngoan và thiếu sáng suốt đến độ lại đi mời những người sẽ tạo nên các xung đột và có thể làm cho bầu khí của bữa tiệc mừng trở nên nặng nề, đôi khi trở thành căng thẳng và có thể mất hòa khí nữa. Tinh thần của bữa tiệc tùy thuộc vào thái độ và cách cư xử của người dư tiệc.
Ai trong chúng ta đều muốn có những người bạn tốt. Đức Giê-su không khắt khe đến độ chê trách việc làm của chúng ta như thế là sai. Tuy nhiên, lối sống mà Người muốn các môn đệ và các tín hữu phải khác hơn người thường. Chúng ta là dòng giống được tuyển chọn cho nên cũng cần chọn lọc cách sống giống như Chúa. Con Chúa mà không giống Chúa thì giống ai!
Giống Chúa là giống như thế nào? Người đã đến làm bạn với những người tội lỗi, đồng bàn, cùng ăn cùng uống với họ, cứu giúp những ai đui mù, què quặt, những người không xứng đáng, bị xã hội và cơ cấu đạo đời loại bỏ. Đức Giê-su không hất hủi ai, Người ôm trọn mọi người thành tâm đến với Người. Không ai bị loại bỏ; tất cả đều được đón chào.
Với hiện tình của thế giới hiện nay, những người bị ruồng bỏ có thể là các nạn nhân của các vụ lạm dụng, bạo lực trong gia đình, con người tầm trú, những người bị giai cấp chủ nhân bóc lột, các đứa trẻ không nơi nương tựa, những người thất nghiệp, những người bị các chứng bịnh về thể xác và tinh thần hành hạ… Họ đang chờ bàn tay và lời mời của chúng ta. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta cần có sự khôn ngoan trong việc chọn lựa khách mời. Không ai lại đi mời những người có con tim thù hận, sẵn sàng làm ngòi nổ để khủng bố và giết hại người khác, đến tham dự tiệc.
Lời Chúa đòi hỏi nhiều hơn nữa. Dĩ nhiên, chúng ta phải chịu trách nhiệm về lời mời của chúng ta sao cho khách dự tiệc được vui lòng. Nhưng huấn lịnh của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay cũng không bị bỏ sót và quên lãng. Thân phận của ‘hạng người nghèo mà chúng tôi liệt kê nói trên’ được Thiên Chúa của Đức Giê-su quan tâm đặc biệt. Đức Giê-su dậy bảo rằng lòng từ bi và nhân hậu của Thiên Chúa đổ xuống trên chúng ta là một động lực cấp bách thúc đẩy chúng ta ra đi hoàn tất sứ mạng đã được trao phó hầu đem lại hạnh phúc và một lối sống tốt đẹp hơn cho tha nhân.
Gương khiêm tốn của Đức Giê-su, đấng đã hạ mình thẩm sâu cho đến độ bằng lòng đón nhận mọi khổ đau, ngay cả sự chết trên Thập Giá. Với việc hạ mình cho đến chết như thế, Đức Giê-su đã bộc lộ lòng vâng phục của Người, để rồi Thiên Chúa Cha đã siêu tôn Người vượt trên mọi danh hiệu. Qủa thật gương tự hạ trong vâng phục của Đức Giê-su luôn là một thách đố muôn đời cho chúng ta. Chúng ta luôn thiếu sót. Chúng ta không bao giờ có thể hoàn thành tốt yêu sách mà Chúa nói trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúng ta cần để cho sứ điệp của Lời Chúa hôm nay chất vấn và đổi mới trong suốt hành trình của cuộc sống.
Chính trong việc tự hạ theo gương Đức Giê-su, chúng ta có thể mở ra lòng ra đón tiếp mọi người, không loại trừ một ai; đặc biệt những ai tàn tật, đui mù, khổ đau và nghèo đói sẽ được chúng ta quan tâm hơn; vì theo như Lời Đức Giê-su đã hứa thì họ là những người sau này sẽ đón tiếp chúng ta vào trong nhà Cha trên trời. Amen!
Chúng ta đang sống trong một thế giới tự cao tự đại, kiêu ngạo, giả hình, háo danh, đề cao quyền lực và lợi nhuận, say mê thống trị và chiếm đoạt, bè phái và chia rẽ. Sự dịu dàng, hiền lành đang dần vắng bóng, thay vào đó là sự cộc cằn, thô lỗ, hay nóng giận và thù hằn. Lòng khiêm nhường lại càng hiếm hoi, khi người ta sống theo chủ nghĩa khoe khoang, thích thể hiện, tự phụ, cậy vào tài năng của mình và đề cao cái tôi.
Trong thực tế, khiêm nhường là đặc điểm chung của các nhà lãnh đạo tuyệt vời, các vị cao sang đều mến chuộng đức khiêm nhường. Lịch sử nhân loại đã không có ít bậc danh nhân vì chán ghét cảnh tranh chấp quan trường mà cáo quan về ở ẩn. Họ luôn giữ cho lòng mình trong sáng, tinh thần khiêm tốn, thanh cao. Hiền lành và khiêm nhường không phải là thái độ của kẻ hèn nhát, sẵn sàng chịu khuất phục, nhưng là đức tính của bậc anh hùng, của người đã làm chủ được bản thân mình. Chỉ ai khiêm nhường mới có khả năng yêu thương thực sự. Và chỉ ai yêu thương thực sự mới thích sống hiền hậu và khiêm nhường. Người ăn ở khiêm nhường chẳng những được người đời kính trọng mà cả Thiên Chúa cũng yêu thích kẻ khiêm nhường. Lời Chúa trong sách Huấn Ca dạy : Con hãy hạ mình, thì con sẽ được đẹp lòng Chúa. “Hỡi con, con hãy thi hành công việc con cách hiền hoà, thì con sẽ được người đẹp lòng Chúa quý chuộng. Càng làm lớn, con càng phải hạ mình trong mọi sự, thì con sẽ được đẹp lòng Chúa; vì chỉ có một mình Thiên Chúa có quyền năng cao cả, và mọi kẻ khiêm nhường phải tôn vinh Chúa” (Hc 3, 19-21. 30-31).
Lời Chúa trích Sách Khôn Ngoan khuyên chúng ta hãy ở khiêm nhường. Kẻ khiêm nhường: vừa đẹp lòng người vừa đẹp lòng Chúa. Người hiền lành thì thu phục nhân tâm, cứu vãn tình bạn và cảm hóa được lòng người. Ai cũng muốn kết giao và quí trọng người hiền lành. Tiếp xúc với người hiền lành, chúng ta thấy nhẹ nhàng thoải mái, bởi vì họ luôn hòa nhã và chân thành, bản thân họ cũng sẽ đạt được nhiều quả ngọt trong cuộc sống. Người hiền lành sống chân thành, vị tha, biết nhẫn nại và kiềm chế, đối xử mọi người như nhau. Người hiền lành ai cũng muốn tới gần. Sự hiền lành thường đi song song với khiêm tốn. Hiền lành là một trong tám mối phúc : “Phúc cho ai hiền lành, vì họ sẽ được đất làm sản nghiệp” (Mt,5,5). Người hiền lành là người bình tĩnh, đơn giản, nhẹ nhàng, vâng phục và hòa bình, đối xử tốt với người khác và không cãi vã với ai, được người khác quý mến và chiến thắng sự giận dữ.
Bằng dụ ngôn khách được mời tới dự tiệc cưới, Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy khiêm nhường dành chỗ nhất, chỗ trọng cho người khác : “Đừng tìm kiếm chỗ nhất “. Chúa biết chúng ta thường thích chỗ nhất ở nơi công cộng, trong nhà cũng như ngoài phố, nơi hội họp cũng như bàn ăn… Người biết ý định của chúng ta, nên Người khuyên chúng ta : “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào chỗ nhất” (Lc 14,8).
Chỗ nhất là chỗ quan trọng nhất. Ta chọn ngồi chỗ nhất là vì ta thấy mình quan trọng, xứng đáng được hưởng vinh dự đó… Tiếc thay, chỗ nhất chỉ có một chứ không có nhiều, nên người ta phải tranh giành nhau bằng mọi thủ đoạn để chiếm được và giữ được chỗ nhất cho mình. Những cuộc tranh giành như thế vẫn diễn ra nơi gia đình, trong cộng đoàn, trong nhóm, trong giáo xứ, giữa các quốc gia… Ở đâu có hai người trở lên là có đụng chạm, chỉ vì có một chỗ nhất. Vì thế Chúa Giêsu khuyên bảo ta: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14,11). Ai tôn mình lên, dù lộ liễu hay kín đáo, sẽ bị Thiên Chúa hạ xuống. Ai thực tâm hạ mình xuống qua việc phục vụ, sẽ được Thiên Chúa tôn lên. Ai tự nâng mình lên thì không có giá trị gì. Ai được người khác nâng lên, tuy có giá trị đó, nhưng rất mong manh. Ai được Thiên Chúa nâng lên, giá trị đó mới thực cao quý và bền vững. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, còn ai tự hạ thì rồi được tôn.
Vì muốn chọn chỗ nhất, nên ngươi ta thường thích giao du với người có thế giá, có học, có của, để dễ nhờ vả khi cần. Chính vì thế mà xã hội vẫn còn nhiều người bị bỏ rơi, vì nghèo túng, vì kém cỏi về mọi mặt. Chúa Giêsu dẫn chúng ta vượt qua óc tính toán vụ lợi, để đi vào thế giới của những người bất hạnh, giảm bớt sự kiêu căng, nâng cao đức khiêm nhường.
Lạy Đức Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng chúng con nên giống Trái Tim Chúa. Amen. mục lục
“Khi nào [anh] đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, [anh] mới thật có phúc: vì [anh] sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại” (Lc 14:13-14).
Bạn hiểu như thế nào về Lời của Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay? Tôi nghĩ Chúa Giê-su muốn nói với chúng mình rằng: Khi làm việc bác ái, khi bố thí, thì bạn và tôi đừng nghĩ đến, cũng đừng mong đợi sự khen thưởng, sự tán dương và sự đền đáp của người đời, nhưng hãy nghĩ đến phần thưởng mà chính Thiên Chúa sẽ tặng ban cho chúng mình trong ngày sau hết.
Làm việc bác ái và bố thí nhưng trong lòng lại không mong ước, hay không có chủ ý kiếm tìm sự đáp trả của người đời, thì rõ ràng là một việc không dễ dàng! Bạn có biết tại sao không? Là bởi vì cái tôi, cái tính kiêu căng và cái tính hám lợi nó đã và đang ở trong huyết quản của mỗi người. Nó chỉ chờ đợi, khi có cơ hội là sẽ vùng lên ngay lập tức thôi! Vì thế cho nên thánh Francis De Sale đã tuyên bố: “Tính tự phụ kiêu căng nơi mỗi người chúng ta chỉ chết đi mười lăm phút sau khi ta đã chết…Nhiều lúc chúng ta bị cám dỗ muốn làm việc này việc nọ, muốn nói điều này điều khác, cốt chỉ để khoe khoang và mưu tìm danh vọng cho bản thân mà thôi.” Nhưng tôi tin chắc rằng, nếu bạn và tôi siêng năng chạy đến với Chúa qua các thánh lễ, qua những giờ Chầu Thánh Thể, qua lời cầu nguyện…để xin Ngài nâng đỡ, ban ơn giúp sức, thì việc sống khiêm tốn khi làm việc bác ái, chỉ là chuyện nhỏ! Có Thiên Chúa trợ giúp chúng ta thì tất cả mọi sự, dù khó khăn hay cam go mấy đi chăng nữa, cũng sẽ trở nên dễ dàng bởi vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được (Lc 1:37).
Bên cạnh sự trợ giúp thiêng liêng của Thiên Chúa, để có thể chế ngự được tính kiêu căng, bạn và tôi cũng cần phải cố gắng làm thêm ba việc sau đây:
1. Khi có cơ hội làm một việc từ thiện dù lớn hay nhỏ, mà lúc đó bạn thấy trong đầu bắt đầu tính toán thiệt hơn, muốn cho người này biết đến, muốn kẻ khác tuyên dương khen ngợi…thì bạn và tôi hãy đọc câu Kinh Thánh này: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống và ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên!” (Lc 14:11). Cứ đọc độ năm,bảy, hay ngay cả mười lần, đọc cho đến khi máu kiêu căng hạ xuống thật thấp thì mới ngưng.
2. Khi có cơ hội làm việc bác ái, bố thí, giúp đỡ cho người nghèo khổ, cho những người kém may mắn, cho các dòng tu, cho giáo xứ … bạn và tôi hãy làm ngay lập tức, chớ để ngày mai và cũng đừng so đó tính toán. Xin hãy tự nhủ, tôi đang giúp đỡ và đang làm cho chính Chúa Giêsu, vì chính Ngài đã phán: “mỗi lần các ngươi làm [bất cứ một việc bác ái, bố thí nào] cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25:40).
3. Hãy tin chắc chắn rằng, khi làm việc lành phúc đức, bố thí và quan tâm chăm sóc cho tha nhân, và khi làm với tất cả lòng yêu mến và với sự khiêm tốn, thì Thiên Chúa sẽ ân thưởng cho chúng mình, bởi Ngài đã hứa: “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mt 10:42).
Cuối cùng, xin bạn đừng bao giờ quên, tất cả bằng cấp, tài năng, tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, trí khôn, và mạng sống…mà mình đang sở hữu, là của Chúa, chứ chẳng có cái gì là của chúng mình cả. Chúng mình chỉ là những người QUẢN LÝ mà thôi! Mà đã là quản lý thì phải làm đúng như ý của ông chủ mong muốn, tức là phải phân phát phần thóc gạo cho đúng giờ và đúng lúc (Lc 12:42) không cắt xén, không bớt đầu bớt đuôi, không ích kỷ keo kiết chỉ giữ khư khư cho mình.
Bạn muốn lãnh phần thưởng ở đời này hay phần thưởng ở đời sau vậy? Nếu bạn muốn lãnh phần thưởng ở đời này do người đời ban tặng thì dễ lắm, bạn chỉ cần khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá cho ầm ĩ lên là xong. Còn nếu bạn muốn lãnh phần thưởng ở đời sau từ Chúa, thì bạn và tôi phải cố gắng làm mọi việc một cách âm thầm, làm với thái độ khiêm nhường, làm cho Chúa, làm với Chúa và làm vì Chúa. Tôi nói thật! Những lời khen ngợi, những lời tán dương và ca tụng của người đời vừa ngắn ngủi, nhiều khi lại có những sự giả dối nữa, chả có gì đáng để cho ta mong đợi cả! Chỉ có những lời khen ngợi của Chúa mới có giá trị, và những lời khen của Ngài mới mang lại cho ta những lợi ích ở đời này và ở đời sau nữa. Ráng lên bạn nhé! mục lục
Thời Chúa Giêsu, dù trong Dothái giáo hay ngoài xã hội, người Dothái chia thành nhiều nhóm. Người ta có thể kể đến vài nhóm nổi trội như:
- Nhóm Sađucêô: Phần lớn là các tư tế ở Giêrusalem và một số kỳ mục. Đây là nhóm bảo thủ. Họ trọng nền tảng luật lệ và lề thói của cả đời sống và đức tin. Họ luôn muốn giữ nghiêm những gì mà họ cho là truyền thống.
- Nhóm Pharisêu (Biệt phái): Gồm tiến sĩ, luật sĩ chuyên giải thích lề luật, và một ít tư tế vùng quê cũng như các thầy Lêvi. Theo sau họ là nhiều tín hữu đạo đức. Họ chuyên cần suy niệm Kinh Thánh và tuân giữ tỉ mỉ mọi luật lệ.
- Nhóm Essênô: Được tổ chức chặt chẽ, có tôn ti trật tự. Họ sống nghèo khó, độc thân, và vâng phục hàng lãnh đạo.
- Nhóm Samari: Gồm người gốc Dothái ở Samari. Họ bị pha trộn nhiều với dân ngoại, kể cả về mặt tôn giáo.
- Nhóm Hêrôđê: Không phải là nhóm tôn giáo, gồm những người thân đế quốc Lamã. Họ ủng hộ vua Hêrôđê. Dù là đối thủ của nhau, Tin Mừng từng cho biết, Nhóm Pharisêu liên kết với họ chống Chúa Giêsu. (Mt22,16; Mc 3, 6).
Trong các nhóm trên, Pharisêu rất được kính trọng. Không chỉ dân chúng xem họ là thành phần đạo đức, là chuẩn mực về đời sống đức tin, mà còn tự bản thân, họ hãnh diện họ là thầy dạy của dân, là kẻ nắm giữ và giải thích lề luật. Họ tách biệt khỏi đám đông dân chúng.
Hôm nay, Tin Mừng cho biết, Chúa Giêsu được một người, không chỉ thuộc nhóm Phariêu, mà còn là thủ lãnh Pharisêu mời dự tiệc. Vì là thủ lãnh, chắc chắn người mời Chúa phải là người có thế lực rất lớn?
Có phải vì chủ nhà là thủ lãnh, nên số đông khách mời là người Pharisêu? Phải chăng họ vốn là kẻ tự cao, kẻ được trọng vọng trước mặt dân chúng, nên họ dễ dàng tự đặt mình vào ghế danh dự? Đàng khác, phải chăng, vì chủ nhà là thủ lãnh, khách cũng muốn ở gần ông, muốn "dựa hơi" ông, muốn cho mọi người xung quanh "lóe mắt" khi có được một vị trí nào đó trong nhà ông chủ?
Không chỉ là chỗ ngồi trong một bữa tiệc. Thực tế, vì "cái ghế quyền lực" nào đó, người ta không ngại đấu đá nhau, tranh giành ảnh hưởng của nhau, hại nhau bằng mọi thủ đoạn, từ hạ bệ, bỏ tù đến sát hại nhau...
"Ghế" tưởng như chỉ tượng trưng chức vụ, chức năng, trách nhiệm. Thực tế, nó là một thứ tập trung quyền lực, hay tập trung một số quyền lực nào đó.
Càng làm chánh trị, người ta càng tham quyền. Họ mơ được thăng quan là chuyện cơm bữa. Họ tỏ ra mềm mỏng, bợ đỡ cấp trên, chỉ vì "chiếc ghế" hơn là phục vụ đối tượng mà lẽ ra quyền hạn của họ phải phục vụ. Vì "ghế", biết bao nhiêu thứ chiến tranh, thứ tù tội, chết chóc oan nghiệt đã xảy ra...
Không biết có ảnh hưởng kiểu tinh thần biệt phái này không mà thánh Giacôbê và thánh Gioan tông đồ cũng thích ngồi bên hữu, bên tả Chúa; mười tông đồ còn lại cũng không vừa, họ bất bình với hai ông; còn tổng trấn Philatô cho đóng đinh Chúa chỉ vì sợ mất ghế, dù biết rõ Chúa vô tội...
Sách Huấn ca cho ta lời dạy thiết thực: "Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa. Vì quyền năng Đức Chúa thì lớn lao: Ngài được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường. Kẻ kiêu ngạo thì vô phương cứu chữa, vì sự xấu xa đã ăn sâu mọc rễ trong nó" (Hc 3,18.20.28).
Còn những câu "chốt" trong Tin Mừng: "Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên" và "Ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại", cho thấy Chúa Giêsu không chỉ nhắm sửa đổi một lề thói xã hội, nhưng nhắm tới hiện thực Nước Trời.
Nước Trời là của những ai có lòng khiêm hạ. Càng khiêm hạ, con người sẽ càng được được nâng cao. Khiêm tốn là khôn ngoan vì chọn lối đường của Thiên Chúa, trở nên giống Thiên Chúa.
Chính Chúa Giêsu đã không ngần ngại rửa chân cho môn đệ. Ngài chấp nhận bị phản bội, chấp nhận nộp mình cho kẻ sát hại mình, chấp nhận chết giữa những tử tội như chính mình cũng là tử tội. Ngài sẵn sàng ban ơn tha thứ cho kẻ giết chết mình, cho kẻ thù nghịch và tội lỗi...
Qua tấm gương về sự hạ mình của Chúa, ta càng xác tín: Chúa Giêsu dù là Thiên Chúa, đã không đòi ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng chấp nhận huỷ mình, mang phận tôi đòi, hèn hạ để sống trọn kiếp người như chúng ta là người.
Nơi sự hiến mình của Chúa mạc khải về một nghịch lý vô cùng lớn: Loài người là loài hèn hạ, tội lỗi, lại muốn nâng mình lên bằng cách chà đạp người khác, thì Thiên Chúa, Đấng cao cả vô song, Đấng là nguồn cội mọi loài, lại hạ mình xuống trong thân phận thụ tạo để cứu rỗi loài thụ tạo hay phản bội ấy.
Chúng ta thực tập để sống khiêm nhường theo gương Chúa Giêsu. Chẳng hạn: Đừng để ý nhiều tới điều người khác nói về mình dù tốt hay không. Đừng tìm cách gây ấn tượng nơi người khác, nhưng hãy cứ là mình: cố gắng làm việc hết sức, suy nghĩ thấu đáo, luôn để tâm vào hoàn cảnh mà mình đang hiện diện.
Đừng bao giờ so sánh mình với người khác để rồi buồn bực vì thua kém. Hãy nhớ, Chúa ban cho mỗi người khả năng khác nhau. Thay vì cạnh tranh, hãy cố gắng hoàn thiện mình mỗi ngày một hơn. Cố gắng cộng tác với ơn Chúa để sống một đời sống công chính, lành thánh và nêu gương sáng...
Mỗi khi làm được gì nổi nang, lớn lao, chiếm tình cảm người xung quanh, hãy tự nhắc bản thân tạ ơn Chúa, và dâng lên Chúa cả con người mình. Hãy chú ý đến điều mình cần học hơn là những gì mình đã làm được.
Đừng quá lo ngại đến lỗi lầm của mình nhưng hãy nhanh chóng rút ra bài học để ngăn ngừa sự tái phạm và hết lòng ăn năn, xin Chúa tha và lo xưng tội. mục lục
Có lần hoàng đế Napoléon dẫn một ông vua ngoại quốc đi thăm một nhà tù ở thành phố Toulon (miền Nam nước Pháp). Vì muốn tỏ một cử chỉ quý mến đặc biệt, hoàng đế nói với vị thượng khách: “Ngài có thể tùy ý ân xá bất cứ tên tù phạm nào”. Ông vua bèn hỏi chuyện với nhiều tù nhân, nhưng không thấy một ai đáng ân xá. Hết thảy đều kêu rằng mình oan ức và bị bạc đãi. Rốt cuộc, vua tìm thấy một tội nhân, một kẻ khốn nạn chỉ nói được rằng: “Ôi, tâu Bệ hạ! Tôi tội lỗi nhiều và rất cảm kích vì không bị hình phạt nặng hơn”. Vua lập tức ân xá cho hắn mà rằng: “Anh là người duy nhất tôi thấy có cái gì cần được tha thứ. Anh được ra tù theo ân huệ đặc biệt của Hoàng đế anh”.
Câu chuyện trên đây giúp ta hiểu bài học của trang Tin Mừng hôm nay, bài học mà Đức Giê-su đã đưa ra “một ngày sa-bát kia, nhân khi đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pha-ri-sêu để dùng bữa”. Là đồ đệ của Phao-lô, Lu-ca thường cố gắng phá vỡ hình ảnh quá đơn giản hóa về một Đức Giê-su chống lại Biệt phái (Pha-ri-sêu) hoàn toàn. Đức Giê-su không tiên thiên “chống” ai cả. Đó là một con người tự do, giao du với đủ mọi hạng: thu thuế và tội nhân (Lc 7,34) cũng như Biệt phái (Lc 7,36; 11,37). Lu-ca ghi nhận rằng đó là một ngày sa-bát. Ngày ấy, các bữa ăn có một tầm quan trọng đặc biệt. Sau buổi cầu nguyện cộng đồng dài, bữa ăn này sang trọng hơn, vui vẻ hơn bữa ăn những ngày làm việc. Thật thế, vì ngày sa-bát buộc nghỉ, mọi thức ăn đều phải được chuẩn bị chiều thứ sáu, “ngày sửa soạn” (Mc 15,42). Như thế, những ai đón tiếp bạn bè đều có thể hoàn toàn sống cho tình bạn, cho việc chuyện trò. Và các “câu chuyện bàn ăn” là một cơ hội để vui tươi và suy gẫm.
Chỗ Ngồi Nào?
“Nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi, Đức Giê-su mới nói với họ dụ ngôn này: Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất...”. Trong mọi xã hội, người ta đều thấy có việc chạy tìm chỗ danh giá, luồn lách khôn khéo để ngồi cao. Ngày nay, có hàng nghìn dấu hiệu đặc trưng, không chỉ ở bàn ăn, để khiến cho mình nổi. Từ lối ăn mặc, đời iPhone đến kiểu xe sang trọng nào đó, ngang qua thói học làm sang bằng cách bàn đến những đề tài thời thượng! Dĩ nhiên, Đức Giê-su trước hết không kể dụ ngôn để khuyến khích ta tôn trọng các quy tắc giao thiệp theo lề thói xã hội và giai tầng hay để dạy một mánh lới ngõ hầu được nổi trong bàn tiệc. Người chỉ muốn mời gọi ta khiêm tốn. Nhưng nhất là, theo thói quen, Người nói với chúng ta về “Thiên Chúa”: đâu là điều kiện thiết yếu để được nhận vào Vương quốc của Người.
“Trái lại, khi anh được mời, thì hãy ngồi vào chỗ cuối...”. Vâng, để được vào Vương Quốc Thiên Chúa, điều kiện cơ bản là đón nhận Người và hóa nên bé nhỏ... Và nghịch lý thay, ai tự coi mình “rốt hết” thì sẵn sàng hơn kẻ kiêu căng để đón lấy ơn huệ mình nghĩ không đáng nhận. Chính tội lỗi ta đào sâu trong ta cảm thức căn bản về sự thiếu sót của ta. “Tội nhân” trở về nhà “được công chính hóa”, trong khi kẻ đứng thẳng trước Thiên Chúa phô trương các việc lành để chứng tỏ mình “công chính” thì lúc trở về càng thêm tội (x. Lc 18,9-14). Vì cái đối chọi nhất với ơn cứu độ không phải là tội lỗi song là cảm thức “mình công chính”: “Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21,31). Lấy lại mạc khải này của Đức Giê-su, thánh Phao-lô sẽ cho thấy không ai có thể đòi hỏi ơn cứu rỗi như một quyền lợi, do công trạng của mình, bằng cách chu toàn Lề luật (Rm 3,21-31; Gl 2,16-21). “Hãy ngồi vào chỗ cuối!”, trước thánh Phao-lô, Đức Giê-su đã không ngớt lặp lại điều này. Phải biết mình “yếu đuối”, “nhỏ bé” và “rốt cùng” trước mặt Thiên Chúa, để trọn vẹn tin tưởng vào Người, trọn vẹn từ khước ỷ sức riêng ta (Lc 17,10; 18,10-14). Phải “nên bé nhỏ như trẻ thơ” mới có chỗ trong Nước Trời (Lc 9,48)... Hãy ngồi vào chỗ cuối! Ông chủ sẽ mời bạn lên cao hơn.
“Vì phàm ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên”. Bổ ngữ chỉ kẻ hành động (complément d'agent) còn thiếu cho động từ ở thể thụ động (bị, được) nơi đây là chính Thiên Chúa (Thánh Kinh hay có kiểu nói như vậy). Kiêu căng là tội lớn nhất trước mặt Người. Ai tưởng mình đáng hưởng Nước Trời thì không có chỗ trong đó nổi. Cần biết tự hạ ! Thế giới hiện đại không chấp nhận thái độ nầy. Người ta diễn tả nó bằng những từ mang nghĩa xấu: nằm bẹp... đào ngũ... luồn cúi... chịu thua... đầu hàng... Trái lại người ta đề cao sự phát triển, sự nảy nở, sự tăng tiến, sự nổi bật... Tuy nhiên tự hạ hẳn là một điều cao cả đến độ Đức Giê-su, trước khi khuyên nhủ ta điều ấy, đã sống trước rồi... như chính thái độ của Thiên Chúa giữa chúng ta! “Người đã chọn chỗ rốt cùng đến độ sẽ chẳng bao giờ có ai chiếm đoạt của Người chỗ ấy” (x. Lc 22,24-27). Đó chính là ý nghĩa của việc Nhập thể (x. Pl 2,6-8). Nhưng để cất mọi khuynh hướng bệnh hoạn của thái độ ấy, hãy hiểu rằng khi “giành lấy chỗ cuối, chỗ kẻ bị đóng đinh”, Đức Giê-su đã không tự giảm giá trị, đã không kém là “chính mình” : trái lại chính trong thái độ tự hạ nầy, Người đã bày tỏ sự cao cả rất mực của mình cách trọn hảo. Người là Tình Yêu Tuyệt đối, là “kẻ-sống-cho-tha-nhân”, là “kẻ-sống-cho-Chúa-Cha”! Theo nghĩa này, Phục sinh vinh quang không mâu thuẫn với Thập giá ô nhục. Chính sự quên mình trọn vẹn như thế đã khiến Người vinh hiển! Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên!
Bạn thấy đó, chúng ta vượt xa các quy tắc lịch sự bàn ăn đơn giản! Chúng ta được kêu mời đạt tới Vương Quốc Thiên Chúa bằng cách bắt chước Thiên Chúa, Đấng kín đáo, mai ẩn, khiêm nhường, đã tự biến mình thành kẻ rốt hết, tôi tớ của tất cả! Chẳng có chút đào ngũ trong thái độ thần linh ấy. Đó là sự cao cả của Người! Trái lại, chính nhu cầu tự khẳng định mình trước kẻ khác, thống trị họ bằng vũ lực hay cám dỗ, len lỏi chạy chọt để tiến lên hàng đầu, chính bản năng thú vật muốn làm kẻ mạnh số một, những cái đó biểu lộ sự yếu đuối nguyên thủy của chúng ta, tội nguyên tổ của chúng ta: nên như các thần minh... như vị Thiên Chúa dổm được ta gán cho bản năng quyền lực của mình...
Khách Mời Nào?
“Rồi Đức Giê-su nói với ông chủ đã mời Người rằng: ‘Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối...’.” Quanh cùng chủ đề “bàn ăn”, này là một dụ ngôn mới. Dụ ngôn này mời gọi thái độ vô vụ lợi; phải trao ban và phục vụ không đợi đáp đền: “Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Trái lại anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả” (Lc 6,32-35).
“... hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù; họ không có gì trả lễ”. Đây còn là một trong những nghịch lý ngược dòng đời của Tin Mừng. Những lời thật sự cách mạng! Thật thế, phải biết rằng các loại người được Đức Giê-su kể ra đây, lúc đó đều bị coi là đồ ô nhục. Một kiêng kỵ cổ về lễ nghi cấm những kẻ dị dạng tham dự các nghi lễ tại Đền thờ (x. 2Sm 5,8; Lv 21,18). “Luật Qumran”, đương thời với Đức Ki-tô, cũng quy định: “Không một ai bị coi là nhơ bẩn về mặt con người được vào Cộng đoàn hội họp của Thiên Chúa! Bất cứ ai bị trong da thịt một tì vết rõ ràng, bị thọt bại, đui mù, điếc câm... các kẻ đó không được vào chiếm chỗ giữa Đại hội những người tăm tiếng!” Thế mà theo Đức Giê-su, chính những kẻ bị khinh bỉ, bị tật nguyền ấy là đối tượng Thiên Chúa ưu đãi, mời mọc đến bàn tiệc của Người (x. Lc 14,21). Hỡi kẻ bệnh tật, đau khổ, nghèo đói, bị lăng nhục, bạn được yêu mến! Hỡi kẻ tội lỗi, thẹn thùng, thảm hại, thương tổn, rốt cùng, bạn được mến yêu! Trái tim của Thiên Chúa lớn hơn trái tim chúng ta. Sự yếu đuối của Đức Ki-tô còn mạnh hơn sức mạnh của chúng ta! Khôn ngoan của Nước Thiên Chúa là điên rồ đối với loài người. Phúc cho những ai khiêm nhường, họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp...
“Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại”. Qua việc nhắc đến cuộc phục sinh cuối cùng này, ta thấy các câu chuyện bàn ăn của Đức Giê-su không dừng ở những lời khuyên tầm thường về chuyện mời mọc. Nhưng điều đó không muốn nói rằng chẳng có áp dụng ở mức độ cụ thể. Trong thực tế, các lời của Đức Giê-su nhắm tới ba loại bữa ăn: trước hết là bữa ăn nhân loại: phải chăng nó là cái Đức Giê-su nói với ta? rồi bữa ăn Thánh Thể: nó có phân biệt ngôi thứ không, hay mở ra cho mọi người? cuối cùng là bữa ăn Cánh chung: Thiên Chúa đã dự định thỏa mãn những kẻ tội lỗi, với điều kiện duy nhất là họ ra công yêu mến như Người, không đòi đáp trả.
Trong chế độ làng xã ngày xưa, khi cần bàn việc chung, dân làng họp nhau ở đình, ngồi trên những chiếc chiếu. Chiếu được trải theo địa vị cao thấp. Người chức sắc, cao niên, đỗ đạt, thì ngồi chiếu trên, tiếp theo là những người địa vị thấp dần, ngồi chiếu dưới. Hẳn ai cũng muốn ngồi chiếu cao hơn, nên cũng có ganh đua. Đức Giêsu được ông thủ lãnh nhóm Pharisêu mời ăn tiệc. Ở đây không có chiếu, nhưng có chỗ, chỗ cao và chỗ thấp. Ngài nhận thấy khách mời cứ thích chọn chỗ cao, nên Ngài mới kể cho họ một dụ ngôn như một lời khuyên. Đức Giêsu khuyên họ khi đi ăn cưới, đừng ham ngồi chỗ cao, kẻo bị chủ tiệc mời xuống để nhường cho bậc vị vọng hơn. Như thế rốt cuộc lại phải xấu hổ xuống ngồi chỗ thấp nhất. Ngài khuyên họ nên chọn ngồi chỗ thấp nhất, biết đâu chủ tiệc sẽ đến nói: “Mời bạn lên cao hơn!” Như thế bạn sẽ được vinh dự trước mặt mọi người dự tiệc. Lời khuyên trên đây của Đức Giêsu có thể bị hiểu lầm, bị coi là một mánh khóe để tìm thành công, hay chỉ là một bài học khôn ngoan về cách ứng xử. Thật ra Đức Giêsu không dạy người ta giả hình. Ngài dạy ta sống khiêm tốn thực sự. Ngài đụng vào những cái “tự” mà ai cũng có: tự phụ, tự đắc, tự hào, tự kiêu, tự mãn… Ai cũng thấy mình xứng đáng ở chiếu trên và chỗ cao. Các kinh sư và người Pharisêu thường chọn chỗ cao trong hội đường và trong đám tiệc (Lc 11,43; 20,46). Đức Giêsu nhắc nhở ta về sự sắp xếp của Thiên Chúa: “Ai tôn mình lên sẽ bị Thiên Chúa hạ xuống; Ai hạ mình xuống sẽ được Thiên Chúa tôn lên” (Lc 14,11). Ngài khuyên ta đừng đánh giá mình cao, đừng sợ mất mặt. nhưng hãy để Thiên Chúa lo liệu cho chỗ của mình. Sau đó Đức Giêsu còn khuyên ông chủ tiệc về việc mời ai. Đừng mời bạn bè, anh em, bà con, hay láng giềng đại gia, nhưng hãy mời người nghèo,tàn tật, què quặt, đui mù. Lời khuyên này hẳn làm ông chủ tiệc ngỡ ngàng vì nó đi ngược với nguyên tắc bình thường có qua có lại. Ông ta còn có thể bị sốc khi Đức Giêsu đưa ra lý do tại sao: nếu mời những người thân quen, giàu có, họ sẽ mời lại; còn nếu mời những người nghèo khó, tàn tật, mù lòa, họ sẽ không thể mời lại, không thể đền đáp. Nhưng chính việc họ không thể đền đáp lại là mối phúc, vì Chúa sẽ đền đáp vào ngày người công chính phục sinh. Một lần nữa, Đức Giêsu lại mời chúng ta để Thiên Chúa lo, khi làm việc tốt mà không mong đền đáp (Lc 14,14). Đức Giêsu hay mời chúng ta làm những việc khác thường, vì Thiên Chúa có cái nhìn rất khác với chúng ta. Khi đãi tiệc, ai cũng muốn mời khách có tiếng tăm, địa vị, chẳng ai mời những người bị xã hội coi khinh. Mời người có chức quyền là nâng đẳng cấp của mình lên. Giúp đỡ người nghèo là một chuyện, còn mời người nghèo dự tiệc ở nhà mình là chuyện khác. Mời người nghèo khổ dự tiệc là làm một cuộc cách mạng, là chấp nhận mình và gia đình mình bị mất tiếng tăm. Hội Thánh không chỉ hiệp hành vào ngày tận thế, khi những người nghèo, tàn tật, đui mù, què quặt được vào dự tiệc trong Nước Thiên Chúa (Lc 14,15.21). Hội Thánh cần có chỗ cho mọi thành phần từ bây giờ, để ai cũng được nói, được nghe, được tham dự. Không ai thấy mình bị kỳ thị hay bỏ rơi, nhưng vui vì được đóng góp cho cộng đoàn Dân Chúa.
LỜI NGUYỆN
Lạy Chúa, khi cầu nguyện chúng con thường chỉ biết ngửa tay xin mà quên rằng Chúa cần chúng con đưa tay cộng tác. Chúa muốn ban ơn cho trái đất bị tàn phá qua tay chúng con. Chúa muốn chữa lành cho nhân loại khổ đau qua tay chúng con. Chúa không hiện ra để giúp từng người nhưng Chúa muốn đến thăm họ qua sự hiện diện của chúng con. Chúa thích chúng con làm nhịp cầu để Chúa tuôn đổ tình thương trên mọi loài thụ tạo.
Lạy Chúa Giêsu là vị Trung Gian của Chúa Cha, xin dạy chúng con làm trung gian theo cách của Chúa, nối kết những khác biệt, xóa bỏ những loại trừ, hàn gắn những vết thương, và coi kẻ thù như bạn, nhờ đó nhân loại hôm nay được hòa giải với nhau và với Thiên Chúa. Amen.
Chúa Giêsu được mời đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pharisêu dự tiệc. Thánh Luca thêm: “Và họ dò xét Người”.
Đây là một lợi thế cho Chúa Giêsu. Từng lời nói cử chỉ của Ngài đều được chú ý, không phải để nghe theo nhưng là để vạch lá tìm sâu. Nhưng dù sao cũng là một lợi thế vì những lời nói của Ngài sẽ được chú ý.
Chúng ta có chú ý đến Chúa như mấy ông Pharisêu đó không? Nếu chúng ta luôn chú ý đến từng lời nói và cử chỉ của Chúa để vâng theo thì phúc cho chúng ta biết bao! Nhưng nhiều người trong chúng ta không chú ý: Những hạt giống gieo trên đường đi”. Vì thế mà cuộc sống của chúng ta không tốt hơn. Đức Mẹ thì khắc ghi tất cả va suy đi nghĩ lại trong lòng. Maria, em của chị Matta ngồi dưới chân Thầy, vui mừng nghe lời Thầy giảng dạy, quên cả việc nhà. Chúng ta đến nhà thờ nghe lời Chúa với tâm tình nào?
Vào nhà tiệc, Chúa Giêsu nhận thấy những người tìm cách ngồi vào chỗ nhất, Ngài lên tiếng bảo họ đừng làm như thế vì rủi ro có ai thế giá hơn được mời và chủ nhà sẽ mới họ đi vào chỗ khác. Nếu bạn chọn chỗ cuối cùng và chủ nhà mời bạn lên chỗ nhất thì danh giá biết bao!
Đây không phải là thủ đoạn để tìm vinh dự mà là một cách xử sự khôn ngoan thông thường. Nhưng Chúa Giêsu không chỉ nói đến vấn đề xả giao thông thường, Ngài muốn chú ý đến một khía cạnh quan trọng hơn tức là đừng đánh giá mình cao hơn sự thật của mình, đừng tìm cho mình một chỗ đứng cao hơn tầm vóc của mình. Câu kết của Chúa cho chúng ta thấy điều đó: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.
Thường con người luôn tưởng mình trổi vượt hơn kẻ khác. Người ta luôn phô trương khoe những gì mình có: của cải, vàng bạc, dinh thự, quần áo, khoe cả cái thân xác bụi tro, khoe cả cái dốt của mình nữa, mà quên rằng chỉ cần một nháy mắt, chúng ta biến thành mây khói. Thánh Phaolô đã chẳng nói: “Có gì mà bạn không nhận lãnh, có gì mà khoe khoang?” Chúng ta thường mắc mặc cảm tự tôn hay chúng ta vẫn bị những bù trừ nào đó không lý giải được.
Thường tình mà nói, những người dốt mới khoe khoang, những người giỏi thực sự thường rất bình dị, khiêm tốn. Giá trị của họ nằm ở bên trong chứ không ở ngoài.
Chúng ta hãy nhìn Chúa Giêsu để khám phá những nét độc đáo của Ngài. Một nét nổi bật nhất là khiêm tốn. Ai khiêm tốn hơn Chúa? Ngài là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã nhập thể, mang thân phận con người, sống như con người và vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá… Thiên Chúa đã tự hạ như thế, chúng ta tưởng mình là gì? Chúng ta chỉ là tạo vật. Chúng ta lệ thuộc vào Chúa từng hơi thở từng nhịp tim.
Chúa Giêsu dạy chúng ta một bài học duy nhất, chỉ một lần duy nhất: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng”. Ngài khiêm nhường khi nhập thể làm người, khi sinh ra nơi hang đá, lớn lên trong một gia đình nghèo phải lam lũ kiếm ăn bằng bàn tay lao động suốt ba mươi năm. Khiêm nhường khi ra đăng trình rao giảng không có nơi gối đầu, chết thảm não trên thập giá.
Chúng ta không thể quên những hình ảnh đó và bước theo Ngài từng ngày trong cuộc sống. Cha Huvelin đã nói một cách hết sức ý nghĩa: “Chúa Giêsu đã chọn chỗ rốt hết đến nỗi không ai có thể giành chỗ đó của Ngài”.
Mẹ Maria cũng là một hình ảnh trong sáng khiêm nhu hiền hòa như Chúa Giêsu Con Mẹ. Mẹ được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Chúa Giêsu. Mẹ biết rõ điều đó khi thiên thần báo tin cho Mẹ. Mẹ vẫn khiêm tốn một mực không thay đổi. Mẹ biết rõ những hồng ân Chúa ban cho Mẹ: “Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ… Thiên Chúa đã làm cho tôi những điều trọng đại… Muôn đời sẽ khen tôi diễm phúc”. Nhưng Mẹ vẫn khiêm tốn: “Tôi là nữ tỳ của Chúa…” Suốt những năm tháng Chúa Giêsu đi rao giảng, Mẹ vẫn ở trong bóng tối, chỉ xuất hiện nơi tiệc cưới Cana, và sau cùng trên đỉnh đồi thống khổ, đứng dưới chân thập giá Con Mẹ.
Khiêm nhường không phải là không biết những đặc ân Chúa ban, hay giá trị của mình, nhưng là sáng suốt nhìn nhận là mình chỉ lãnh nhận và chỉ mong làm nữ tỳ của Chúa thôi.
Có ai hơn thánh Phaolô? Ngài đã được Chúa hiện ra trên đường Đamát, đã chọn Ngài và sai đi rao giảng Tin Mừng. Phaolô đã ý thức rất rõ những ân huệ của Chúa và sứ mệnh cao cả của Ngài, nhưng ngài đã không vì thế mà tự cao. Ngài tự xưng mình chỉ là một đứa trẻ sinh non… Tôi không xứng đáng làm tông đồ… Tôi chỉ là người phục vụ Tin Mừng. Ngài chỉ khoe một điều là tôi đã bách hại Hội Thánh của Chúa… Tôi chỉ khoe những yếu đuối của tôi… Tôi được gì là do ơn Chúa ban”. Nhưng Phaolô đã không để ơn Chúa ra vô ích. Những người khiêm nhường như thế mới có thể làm được những việc lớn lao.
Mẹ Têrêxa Calcutta, một nữ tu tầm thường khiêm tốn đã làm rúng động thế giới bằng những việc bác ái phi thường đối với những người bần cùng nhất trong xã hội và những trẻ em bị bỏ rơi. Người ta đã trao tặng Mẹ giải Nobel hòa bình, đã từng được các nhà lãnh đạo thế giới trân trọng, Mẹ vẫn chỉ là một nữ tu khiêm tốn, ngày ngày vẫn đi rửa sàn nhà, săn sóc các em bé mồ côi, không mỏi mệt phục vụ những người khốn khổ nhất.
Đức Thánh cha Phanxicô năng thăm viếng những nhà tù và những người bệnh nhân. Ngài nói: “Mỗi khi bước vào nhà tù, tôi nhớ mình là người tội lỗi”.
Nhìn những khuôn mặt khiêm tốn đó, chúng ta nghĩ sao? Chúng ta chỉ có thể làm được việc, khi chúng ta hoàn toàn tín thác vào lòng thương của Chúa, và sử dụng chính xác những hồng ân Chúa ban, phục vụ mọi người. Cụ thể nhất là những người trong gia đình cũng như những người Chúa đặt trên con đường chúng ta. Phục vụ tới cùng theo khả năng và vô vị lợi.
Đức khiêm nhường là chị em ruột của tình yêu. Không thể khiêm nhượng nếu không biết yêu thương. Chúa Giêsu là Tình Yêu, Ngài mới có thể mang lấy thân phận nhỏ hèn như chúng ta để cứu vớt chúng ta. Vì yêu, Ngài dám chết trên thập giá cho chúng ta. Vì yêu, Ngài đã chấp nhận dùng một tấm bánh nhỏ để đến với chúng ta, sống với chúng ta, sống trong chúng ta, trở thành sức mạnh và hạnh phúc cho chúng ta, giúp chúng ta trở nên giống Ngài, sống cho mọi người, chết cho mọi người. Chúng ta dám không?
Muốn được như Ngài, hãy ăn lấy Ngài để Ngài thấm vào xương tủy chúng ta, biến hóa chúng ta để chúng ta mặc lấy những tâm tình của Ngài, và đó mới là hạnh phúc thật.
Khi bước vào một phòng họp, hoặc một hội nghị, chúng ta có thể nhận ra cấp bậc thứ hạng bằng cách quan sát nơi ngồi của mọi người. Thường thường, những người quan trọng sẽ ngồi ở những hàng ghế đầu. Và chỗ ngồi tốt nhất, thường là nơi dành cho những người chủ chốt. Có thể nói, vị trí ngồi của bạn trong một cuộc hội họp, sẽ nói lên địa vị và thân phận của bạn.
Cho nên, một cách dễ hiểu, ai trong chúng ta cũng thích ngồi chỗ tốt nhất. Có cả nghìn lẻ một lý do để biện minh cho sở thích ấy: Chỗ tốt nhất, có tầm nhìn tốt hơn, dễ quan sát hơn; Ghế ngồi tốt nhất, làm cho chúng ta cảm thấy tự tin hơn, thấy mình trở nên quan trọng hơn, và danh giá hơn; Được ngồi ở những chiếc ghế quan trọng, làm tôn thêm sức mạnh và sức nặng trong lời nói của mình trên người khác nữa….
Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay,[1] Đức Giê-su không khuyến khích chúng ta chạy theo các quy tắc thế gian để đi tìm danh vọng tương xứng cho mình về xã hội và cấp bậc. Ngược lại, Ngài khuyến khích chúng ta phải hạ mình, phải khiêm tốn: „Đừng ngồi ở chỗ tốt nhất, nhưng hãy ngồi xuống ở chỗ thấp nhất.” Đây là một trong những điều kiện quan trọng để được vào Nước Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta cẩn thận, kẻo hiểu sai lời khuyên của Đức Giê-su! Ngài không có ý dạy chúng ta „giả vờ” hạ mình xuống thấp, để được tôn lên cao hơn. Không! Ngài muốn chúng ta có được lòng khiêm nhường thực sự.
Vậy sự khiêm tốn là gì? Ai mới được gọi là người khiêm tốn? Có phải khiêm tốn là tự hạ mình xuống và cho rằng mình kém cỏi? Hoặc là phủ nhận những giá trị đích thực của mình, hay cố gắng làm giảm thiểu nó đi?
Điều kiện căn bản để được nhận vào Nước Trời là phải trở nên nhỏ bé, để rồi chính Thiên Chúa là ông chủ sẽ đến và mời bạn „hãy ngồi lên ghế cao hơn.” Một nghịch lý, những ai tự coi mình là người nhỏ bé, sẽ là người sẵn sàng và mở ra, để đón nhận lời mời gọi vào Nước Trời hơn những người kiêu ngạo. Những người khiêm hạ, tự nhận mình là người không xứng đáng để được vào Nước Trời, và họ nài xin ân sủng của Thiên Chúa trợ giúp. Thái độ sống này chúng ta có thể thấy nơi những người khiêm tốn: Họ nhận biết mình là người có tội; họ chân thành, không biện minh gì cả, và xin Chúa tha thứ cho các yếu kém của mình.
Tuy nhiên, chúng ta không nên nhầm lẫn khiêm nhường với việc cố gắng làm cho hình ảnh của mình bị tổn thương. Có những người dè dặt quá mức, họ trở nên rụt rè và sợ hãi, hoặc quá nhạy cảm về các khuyết điểm của bản thân… Vô tình, họ trở thành những kẻ khiêm tốn giả tạo. Họ nghĩ rằng, một người khiêm nhường là một người nhận lỗi về mình, cả khi mình không có lỗi; là người không nhận lời khen, dù mình xứng đáng… Chắc chắn, đây không phải là người khiêm nhường thực sự. Đúng hơn, họ là những người quá rụt rè đến độ không thể thổ lộ bản thân, hay là người quá sợ hãi, hoặc quá tự ti, quá lo lắng và xấu hổ… đến mức không dám mở lòng mình ra, không dám trao tặng món quà mình có cho người khác. Ở nơi người hiền lành và người hy sinh quên mình thường có những đặc tính này, nhưng đôi khi do quá khinh chê bản thân, họ phủ nhận tài năng của mình. Đó không phải là khiêm tốn đích thực.
Ngược lại, người khiêm nhường là người chân thật với Thiên Chúa và với chính mình. Chữ khiêm nhường có nguồn gốc từ tiếng la-tinh là humus, có nghĩa là đất. Theo ý nghĩa này, người khiêm nhường là người gần sát đất và là người có nền tảng nhất. Người khiêm nhường là người có bàn chân đạp đất, là người chân thành với chính mình, và chân thật với Thiên Chúa. Họ gặp gỡ Thiên Chúa bằng tất cả con người „trần trụi” của mình.
Thật khó để khiêm tốn, không phải vì chúng ta không đủ những thiếu sót và bất toàn để trở nên khiêm nhường, nhưng vì bên trong chúng ta luôn có một sự kiêu ngạo „đã ăn vào máu” (nằm trong bảy mối tội đầu), thường không cho chúng ta có được lòng khiêm nhường thực sự. Nói một cách đơn giản, khi chúng ta cố gắng quên mình, khiêm tốn, không đạo đức giả, thì chúng ta lại tự hào về điều đó, và rồi cảm thấy tự mãn, chúng ta lại trở nên những người đi xét đoán người khác. Hoặc đôi khi chúng ta cố gắng tự hạ mình xuống, là để chờ được tôn lên cao hơn. Để rồi, nếu không được nhìn nhận những điều đó, chúng ta thấy hậm hực ở trong lòng.
Những người khiêm tốn là những người thực sự biết mình là ai. Chính khi nhận ra con người thực của mình, họ sẽ có được cái nhìn mới như lời Đức Giê-su khuyên dạy chúng ta: Không nên mời bốn nhóm người (bạn bè, anh em, họ hàng và hàng xóm giàu có) – là những người bạn thích mời nhất, vì họ có thể trả ơn bạn; nhưng hãy mời bốn nhóm người (người nghèo, người tàn tật, người què và người mù) – họ là những người bạn ít quan tâm đến nhất, vì họ không có gì để đáp trả lại bạn. Như thế, Thiên Chúa mời gọi chúng ta thay đổi cách nhìn và lối sống.
Qua bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su mời gọi chúng ta nhận ra và chọn sống theo những giá trị của Nước Thiên Chúa. Hãy tìm cách làm hài lòng Thiên Chúa, hơn là cố gắng làm vui lòng người khác!
Xin cho mỗi người chúng con biết sống khiêm tốn, theo gương Đức Giê-su, Đấng đã từng nói: “Các con hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng…[2] Và Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vu và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.”[3] Bắt chước lối sống khiêm nhu như Chúa: Không sống cho riêng mình, nhưng sống cho người khác; biết dùng tài năng của mình để phục vụ, không phải cho bản thân và cho lợi ích riêng của cá nhân, mà là cho người khác và những nhu cầu của anh chị em mình.
Xin cho chúng con học được sự khiêm tốn của Chúa, để chúng con thay đổi cách nhìn, cách đánh giá và cách sống trong đời sống thường ngày. Chính lối sống khiêm tốn ấy mở cửa dẫn chúng ta vào Nước Thiên Chúa.
--------------------------- [1] Tin Mừng Chúa Nhật 22 Thường Niên Năm C (Lc 14, 1,7-14). [2] Mt 11,29b. [3] Mc 10,45.
Người hiền, người khiêm nhường, theo quan niệm Kinh Thánh, là người thuộc trọn về Chúa, được Chúa yêu thương, nâng đỡ chở che, dạy bảo, để mỗi ngày nên hoàn hảo, đồng hình đồng dạng, đạt tới tầm vóc viên mãn trong Đức Kitô.
Họ chỉ có một mối bận tâm là tìm kiếm và thực thi ý Chúa muốn, cho dù có phải chịu nhiều thiệt thòi hay bị bách hại.
Sống giữa những người khác, người hiền lành, khiêm nhường là người thợ kiến tạo hòa bình và tình liên đới đại đồng.
Chuyện kể: Thường Tung ốm, Lão Tử đến thăm, hỏi: thầy xem ra mệt nặng. Dám hỏi thầy còn có câu gì để dạy để tử chúng con nữa không ? Thường Tung há miệng cho Lão Tử coi và hỏi: lưỡi ta còn không ? Lão Tử thưa: Còn. Ông lại há miệng cho Lão Tử coi nữa và hỏi: răng ta còn không ? Thưa rụng hết cả. Thế ngươi có biết rõ cái lý do ấy không ? Ôi ! Lưỡi còn, có phải tại lưỡi mềm và răng rụng hết, có phải tại răng cứng không ? Phải đấy. Việc đời đại để như thế cả ! Ta không còn gì để nói nữa (cf. Cổ học tinh hoa).
Câu truyện thầy trò dạy nhau về đức hiền lành khiêm nhường giúp chúng ta hiểu thấu đáo hơn phụng vụ Lời Chúa hôm nay.
Bài đọc I, trích sách Đức Huấn Ca, sưu tập những lời dạy của các hiền nhân Israel trong đức tin. Lời dạy các ngài, không dừng lại nơi sự khôn ngoan tự nhiên thế gian, mà bay bổng đạt tới Thiên Chúa, nguồn mạch sự khôn ngoan đích thực, trở thành lời mạc khải dành cho những ai ra công gẫm suy, học biết, đem ra thực hành, để được sống và sống dồi dào.
Lời tuyên xưng: “Quyền năng Đức Chúa thì lớn lao, Người được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường” (Hc 3, 20), nhằm trình bày giáo lý về bản tính Thiên Chúa quyền năng trên trời dưới đất, siêu việt trên mọi loài hữu hình và vô hình, muốn làm gì là Chúa làm nên, chốn trời cao cùng nơi đất thấp...
Đức Chúa, không biểu lộ quyền năng bằng sức mạnh hủy diệt, mà đến với thế gian trong sự tự hủy thẳm sâu, nhằm cứu con người khỏi tay thần chết và nuôi dưỡng họ trong buổi cơ hàn, vì Người là tình yêu dịu dàng, nhân hậu và rất mực khiêm nhu. Điều này chỉ có thể lý giải dựa trên nền tảng “biện chứng” của mầu nhiệm tình yêu cứu độ Đức Chúa dành cho thế gian.
Sách Đức Huấn dạy, noi gương Đức Chúa, sống hiền lành, khiêm nhường như một nhân đức luân lý được tập luyện thành tập quán, thành lối sống của kẻ tin và cũng có khả năng chiếu tỏ vinh quang Chúa ra môi trường xung quanh.
Đối với Đức Huấn Ca, người hiền lành, khiêm nhường, là người không ảo tưởng tìm kiếm những điều vượt quá khả năng, biết lượng sức mình trong mọi sự, bằng lòng với những gì mình đang sở hữu.
Khiêm nhường, hiền lành còn được thể hiện trong một nếp sống luôn biết quan tâm đến người khác, biết đền ơn đáp nghĩa, tích cực bồi đắp nền văn minh tình thương.
Trong bài Tin Mừng, Chúa Giê-su cụ thể hóa phong cách sống hiền hòa, khiêm tốn, bằng những chỉ dẫn cụ thể: tránh ham hố tìm kiếm địa vị thấp hèn, không ăn mày tiếng khen...
Về điều này, Giê-su đã làm gương trước, để môn đệ học đòi, bắt chước: rửa chân cho môn đệ là việc làm chưa có tiền lệ, tha thứ cho kẻ bách hại mình, vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá vì chúng ta.
Thưa anh chị em,
Thập giá là chỗ rốt hết trong bữa tiệc trần gian, Giê-su đã tự nguyện vâng lời ngồi vào chỗ cuối, nên Cha đã siêu tôn Người, tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu, đó là danh hiệu “Đấng Phục Sinh”, từ nay ai kêu cầu danh thánh Giê-su sẽ được cứu độ.
Giê-su, quả thật, là người hiền, người khiêm nhường được Cha ban ơn cứu độ !
Hãy học biết và trở nên giống Giê-su, hiền lành, khiêm nhường, bạn sẽ được Chúa ban ơn cứu độ !
Bài đọc II, trích thư gởi tín hữu Do Thái, diễn tả niềm vui cứu độ bằng việc tới núi Xi-on, thành đô Thiên Chúa hằng sống. Núi thánh ấy là Golgotha, nơi Đức Kitô mở tiệc thiết đãi muôn dân. Thịt Người là của ăn, Máu Người là thức uống. Ai ăn thịt và uống máu Con Người thì được sống đời đời, chính Người sẽ cho kẻ ấy sống lại trong ngày sau hết (cf. Jn 6, 53 – 60).
Phần chúng ta, thưa anh chị em, đã được mời đến dự hội vui trong Đức Kitô, đó là bí tích Thánh Thể được cử hành trên bàn thờ hằng ngày.
Chúng ta đã được Giê-su chạm tới, không phải hời hợt bề ngoài, nhưng sâu thẳm mãi tận con tim, khối óc.
Vậy hãy để Giê-su uốn nắn, biến đổi con tim chai đá, nên con tim bằng thịt biết yêu thương, biến đổi khối óc lì lợn, nên ngoan hiền dễ dạy, để chúng ta có tâm tư của Chúa, săn sàng để Chúa sử dụng chúng ta như dụng cụ thích hợp trong tay Chúa.
Xin Chúa kiến tạo chúng ta nên những người thợ hòa bình, miệt mài làm việc trong tinh thần hiền lành, khiêm tốn, biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Sẵn sàng đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.
Hoài bão lớn lao, nhưng con lại bất xứng, yếu hèn, tội lỗi, xin Chúa thứ tha, nâng đỡ, ủi an, để con biết dấn thân, lên đường làm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Amen.
Có hai người bàn luận với nhau về sự khôn ngoan và khiêm tốn đến cùng với tuổi tác.
Một người nói, “Khi còn trẻ, tôi rất kiêu hãnh. Sự kiêu hãnh làm cho tôi trở nên lo lắng hơn. Tôi thường lo lắng không biết người ta nghĩ gì về tôi. Khi tôi già hơn và khôn ngoan hơn tôi tự nhủ mình chẳng quan tâm xem người ta nghĩ gì về mình. Và giờ đây, khi tuổi đời đè nặng và khôn ngoan hơn nữa, tôi nhận ra rằng chẳng ai bận tâm đến tôi cả.”
Điều gì ngăn cản tôi thấy con người thật của tôi? Ai là người thấy được con người thật của tôi?
“Chúng ta đạt được nhiều hơn khi thể hiện chính mình, hơn là vờ vĩnh về những gì chúng ta không có”. (La Rochefoucauld) (Trích “ Viễn tượng” 2000)
2. Sống giống Chúa Giêsu
Tại Florida, một tờ thời báo đăng câu chuyện về Don Shula, huấn luyện viên đoàn cá voi ở Miami như sau. Ông và gia đình đang nghỉ hè tại một thị trấn nhỏ miền bắc bang Florida. Buổi chiều nọ trời mưa nên vợ chồng và 5 đứa con ông đi xem chiếu phim. Khi đến rạp thì chỉ có 6 người trong đó thôi. Gia đình ông vừa bước vào thì cả 6 người đó đứng dậy vỗ tay.
Shula liền vẫy tay chào và mỉm cười đáp lễ, rồi quay sang nói với vợ, “Chúng ta ở cách xa ngàn dặm đến đây mà họ cũng tiếp đón anh nồng nhiệt.” Ngay lúc đó có người đàn ông đến bắt tay Shula. Ông tươi cười hỏi, “Sao bạn biết tôi?” Người đàn ông thản nhiên đáp, “Thật ra tôi chẳng biết ông là ai, chẳng qua là trước khi gia đình ông bước vào rạp hát, viên quản lý rạp đã thông báo cho chúng tôi biết nếu không có thêm khán giả nữa, ông ta không chiếu xuất phim này.”
*******
Don Shula lầm tưởng người đàn ông đến bắt tay biết ông, nhưng sự thật không phải thế. Vậy mà ông vẫn chế ngự được tự ái của mình, còn dám đăng câu chuyện đó lên báo cho mọi người biết. Chỉ có người thật khiêm tốn mới làm được như ông.
Điều đó làm sáng tỏ huấn dụ sống khiêm hạ của các bài đọc trong thánh lễ hôm nay, và đặt ra cho chúng ta một câu hỏi: Khiêm tốn là gì? Thế nào mới được gọi là người khiêm tốn?
Phải chăng khiêm tốn là sự hạ mình xuống? Cho rằng mình kém cỏi? Phủ nhận giá trị đích thực của mình hoặc giảm thiểu nó?...Không phải thế. Đức khiêm tốn mang ý nghĩa sâu xa và tốt đẹp hơn nhiều. Khiêm hạ không phải ít nghĩ về mình mà là chẳng nghĩ gì về mình, khiêm tốn là sống giống Chúa Giêsu, Đấng đã từng bảo: ”Hãy học cùng Ta vì ta hiền lành và khiêm nhường thật trong lòng” (Mt. 11,29). Và Con Người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống để làm giá chuộc muôn người” (Mc. 10,45).
Khiêm tốn là noi gương Chúa Giêsu không sống cho riêng mình mà sống vì mọi người. Khiêm tốn là dùng tài năng mình như Chúa Giêsu, không phải để phục vụ bản thân mà phục vụ tha nhân.
Chính khiêm tốn và phục vụ yêu thương là giáo huấn quan trọng Chúa Giêsu dạy bảo chúng ta qua Tin Mừng hôm nay:”Khi anh được mời đi ăn cưới thì đừng ngồi vào chỗ nhất”…”Khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật què quặt đui mù” (Lc.14, 8-13)
3. Làm ơn sẽ được đền ơn
Thủ tướng Anh thời đệ nhị thế chiến là Winston Churchill có kể trong tập hồi ký như sau. Lúc còn nhỏ, cha mẹ đưa Winston về nghỉ hè tại Scotland. Ngày nọ cậu đang tắm dưới sông gần nhà bỗng bị vọp bẻ. Cậu la thất thanh lên. Một người trai từ nông trại gần bên vội vàng lội xuống kéo cậu lên. Hôm sau, cha cậu sang nông trại tìm cám ơn người con trai đó. Ông hỏi,
- Cháu định lớn lên làm gì? - Chắc cháu tiệp tục làm nghề nông của ba cháu. - Cháu không muốn làm khác hơn sao? - Thưa ông, cháu muốn được làm bác sĩ. Nhưng nhà cháu nghèo thế này, lấy đâu tiền ăn học.
Nghe nói thế, cha cậu liền hứa:
- Cháu đừng lo. Hoài bảo của cháu sẽ được hiện thực. Bác sẽ giúp cháu ăn học đến nơi đện chốn.
Sau này Winston trở thành thủ tướng nước Anh. Năm 1943, trong một chuyến công tác ông bị sưng phổi, phải nhờ đến một bác sĩ chuyên nghiệp là ông Alexandre Fleming, người đã khám phá ra thuốc Penicilline đến chữa cho ông. Đây là lần thứ hai Winston được người này cứu mạng.
*******
Câu chuyện trên đây nhắc chúng ta nhớ lời Chúa Giêsu dậy trong Tin Mừng hôm nay:”Khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khổ, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế ông mới thật có phúc, vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại” (Lc 14,13-14).
Chúa Giêsu muốn dậy cho chúng ta: không có một nghĩa cử nào của chúng ta dù âm thầm đến đâu mà có thể bị quên lãng. Đồng hóa với con người, nhất là những người nghèo hèn khốn khổ nhứt, Chúa Giêsu nhận lấy tất cả những gì chúng ta làm cho tha nhân:
Mỗi một nghĩa cử bác ái phục vụ các con làm cho tha nhân là làm cho chính ta. Và mỗi một khước từ cho tha nhân cũng là khước từ cho chính Ta.
Chính Chúa Giêsu sống trong những người chúng ta gặp gỡ hằng ngày. Tất cả những gì chúng ta làm cho tha nhân là chúng ta làm cho chính Người. Và tất cả những gì chúng ta làm cho chính Người đều đựợc Người đáp trả ngoài mơ ước của chúng ta. Trong tất cả những ân huệ Người ban cho chúng ta, cao quí hơn cả là được sống với Người trong Nước của Người.
(Theo “Phút cầu nguyện cuối ngày”, tập III)
4. Người ăn xin triệu phú
Tại Los Angeles, Hoa Kỳ, có một người ăn xin tên là Vacas, năm nay ngoài 70 tuổi. Ông là người ăn xin được nhiều người biết, vì ông không phải là người ăn xin nghèo nàn mà là người ăn xin triệu phú.
Trước kia ông là người ăn xin nghèo, ngày ngày đi nhặt những chiếc lon nhôm người ta vứt đây đó hoặc trong các thùng rác. Nhưng nhờ may mắn trúng số ông đã trở thành người ăn xin triệu phú. Và dù có nhiều tiền, ông vẫn tiếp tục ăn xin vì nhớ gốc gác của mình. Và cũng vì nhớ gốc nghèo khổ đó mà ông hết lòng thương giúp người nghèo. Lúc mới trúng số, ông đã dành số tiền lớn làm quỹ tiết kiệm giúp các em nghèo hiếu học. Và nay ông vẫn tiếp tục ăn xin là để giúp những người bất hạnh. Ông đúng là một người ăn xin triệu phú. Ông không phải giàu vì nhiều tiền của, mà giàu tấm lòng bác ái yêu thương.
*******
Hình ảnh người ăn xin triệu phú trên đây nhắc chúng ta nhớ lời Chúa Giêsu dậy trong Tin Mừng hôm nay: “Khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khổ, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế ông mới thật có phúc, vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại” (Lc 14,13-14).
Và hình ảnh người ăn xin triệu phú trên đây còn gợi lại cho chúng ta bài thơ quen thuộc của thi sĩ Ấn độ Tagore, kể lại người ăn xin ngồi trước cổng làng. Một hôm nhà vua đi ngang qua đó, thình lình dừng lại trước mặt ông và đưa tay xin ông bố thí. Ông lấy từ trong cái bị rách ra một hột thóc, đăt vào tay vua. Chiều về mở cái bị rách ra, ông thấy một hạt vàng. Ông hối tiếc: Phải chi mình cho vua hết các hạt thóc!...
Thiên Chúa cũng đối xử như thế với chúng ta. Một hạt thóc bé nhỏ chúng ta chia cho kẻ khác chính là của lễ chúng ta dâng cho Chúa. Khi nhận được hạt thóc bé mọn của chúng ta, Chúa sẽ đền đáp cho chúng ta hạt vàng. Tất cả những gì chúng ta dâng cho Người và chia sẻ với người khác sẽ không mất đi, nhưng sẽ được đáp đền gấp trăm ngàn lần và bằng muôn ngàn cách thế…” (Theo “Phút cầu nguyện cuối ngày” tập III)
5. Tự phụ
Một chiếc tàu vừa mới sơn bóng láng, với cả 40 ngàn tấn sắt thép nổi trên biển cách ngạo nghễ. Hai ngàn du khách hãnh diện được làm những người đầu tiên đi trên con tàu “Khổng lồ Titanic.”
Tàu Titanic khổng lồ là niềm hãnh diện của con người, vĩ đại nhất, chở nhiều khách nhất, an toàn nhất. Tin tưởng những bảo đảm đó, không một du khách nào lên tàu Titanic ngày 10 tháng 4 năm 1912 mà nghĩ rằng đây là chuyến đi cuối cùng trong đời họ, vì ai cũng tin rằng chiếc tàu này sẽ không bao giờ chìm.
Nhưng chỉ sau không đầy một ngày rời cảng tàu khổng lồ Titanic đã chạm vào khối đá ngầm chìm xuống biển sâu, khiến cho khoảng 1500 người thiệt mạng. Phải chăng đó là thảm kịch của lòng kiêu ngạo tự đắc của con người?
*******
Thảm kịch của tầu khổng lồ Titanic luôn còn đó, nhắc nhở con người về tai hại của lòng tự phụ., như Chúa Giêsu cảnh báo trong Tin Mừng hôm nay: "Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: "Xin ông nhường chỗ cho vị này. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối”(Lc. 14,8-9).
Kẻ thù lớn nhất của con người chính là tự kiêu tự phụ. Khi con người chỉ biết tin tưởng nơi sức mạnh của đôi tay và bộ óc của nó, thì đó cũng chính là lúc nó đi vào chỗ tự hủy. Có biết bao đá ngầm trong cuộc đời mà mắt con người không thể thấy được. Có biết bao trở lực hiểm nguy trong cuộc đời mà dù đôi tay của con người có vững mạnh tới đâu cũng không lay chuyển nổi.
Kinh Thánh luôn cảnh cáo con người về tự phụ kiêu căng. Khi con người chỉ biết cậy dựa vào của cải hay sức lực minh, thì lúc đó họ chỉ chuốc lấy đau khổ tuyệt vọng.Tác giả thánh vịnh 118 đã khuyên bảo chúng ta:“Hãy nương tựa vào Chúa hơn là tin cậy người phàm”.
Nương cậy vào Chúa là chấp nhận thân phận mỏng dòn yếu đuối của con người mà chỉ có Thiên Chúa mới cứu giúp được. Nương tựa vào Chúa là nhận biết bên kia cuộc sống tại thế này còn có cuộc sống “thật có phúc” như lời Chúa Giêsu hứa trong tin mừng hôm nay, mọi người sẽ được “đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại” (Theo “Phút cầu nguyện cuối ngày” tâp II )
Một Rừng chữ Nói Lái
- Thầy tu thù Tây vì thằng Tây giết thầy tăng. - Tâm không đầy như Tây không Đầm. - Nghệ sĩ tránh ăn cá kho vì sợ khó ca. - Người gian không thích sấm, người dâm không thích sáng. - Làm dấm thì chua mà làm chúa thì dâm. - Người nhiều mộng vào đời để rồi mời nhiều người vào động.... - Nhà vua khi ngồi trên ngai là khi ngài trên ngôi. - Không nên giỡn quá lố trong ngày giỗ quá lớn. - Có những người chỉ đi mưa mà chưa đi Mỹ.- - Các cô thích anh chàng ngông mà không thích anh chồng ngang. - Da nhăn thì kéo, da nhéo thì căng. - Ở VN tham nhũng sống trên thảm nhung và mọi người giành nhau làm giàu nhanh. - Cây sầu đông mọc ở đồng sâu hay ở đầu sông. - Say để đỡ nhớ ngày xưa và đỡ ngứa nhờ say. - Chơi hụi thì chết, Chơi hết thì trụi. - Người lao động bao giờ cũng thiệt thòi so với người linh động, thí dụ: - Người lao động chân chính còn người linh động trân tráo. - Người lao động cầu kinh còn người linh động cầu cao. - Người lao động làm lính còn người linh động làm láo. - Người lao động hay bịnh còn người linh động hay bạo. - Người lao động cầm đinh còn người linh động cầm đao. - Tình em theo đám mây đen vì mình em theo đám Tây đen. - Không phải ăn cơm chay là thành thiền và ăn cơm chiên là thành thày. - Người già ngồi câu còn người giầu ngồi ca. - Nhiều người năng làm việc thiện mà không thiên làm việc nặng. - Cái gì thẳng thì không cong còn cái gì thỏng thì không căng. - Tình chan chứa là tình chưa chán. - Nhiều cô gái ngây thơ ôm mộng ban đầu để rồi ôm bầu đan mộng. - Từ đâu có chữ đầu tư? - Đàn ông có người trên răng dưới dế và có người trên dê dưới rắn. - Thà ăn cháo với muối còn hơn ăn chuối với máu. - Điếc không sợ súng mà Đúng không sợ xiết. - Người có lông mép thường có mông lép. - Có nhiều người Mỹ lai gốc Á hơn người Mã Lai gốc Ý. - Vợ chồng vô sinh khi vợ đã tắt đường kinh hay chồng đã cắt đường tinh - Thầy tu thù Tây vì thằng Tây giết thầy tăng. - Chuyện đau lòng nghĩ đến lại long đầu. - Tâm không đầy như Tây không Đầm. - Củ không đứng vì cứng không đủ - Người Bắc nói "đang đi trên đường" Người Nam nói "đương đi trên đàng" - Người Bắc nói "hợp nhãn" Người Nam nói "hạp nhỡn" - Người đầy bạo tính thích người tình bạo đấy. - Người bí ẩn thường có ý bẩn - Có thánh tâm thì không có tánh thâm - Lời tạ từ của lính trong lời tự tình của lá - Dù chết không tấm hình nhưng tình không chấm hết
Ước mơ thay đổi thế giới
Khi trẻ tuổi, được tự do nên trí tưởng tượng không có giới hạn, tôi ước mơ thay đổi thế giới.
Khi lớn lên và khôn hơn, tôi thấy rằng thế giới sẽ không đổi thay. Vì thế, tôi hơi rút ngắn tham vọng của mình và quyết định chỉ thay đổi đất nước của tôi, nhưng nó cũng có vẻ bất di bất dịch.
Khi dần dà đi vào những năm cuối đời, trong toan tính liều lĩnh sau cùng, tôi đành bằng lòng chỉ thay đổi gia đình tôi, những người thân thiết nhất với tôi, nhưng than ôi, họ lại không muốn tí nào chuyện đó.
Và, bây giờ, trên giường lâm chung, tôi hiểu ra rằng giá như tôi đã thay đổi bản thân mình trước, rồi làm gương thì tôi đã có thể thay đổi gia đình tôi.
Từ việc cổ xúy và khích lệ của họ, hẳn tôi đã có thể cải thiện đất nước mình và biết đâu chừng thậm chí tôi đã có thể thay đổi được thế giới.''
Tin Mừng của Chúa nhật hôm nay tập trung vào lời tuyên bố của Đức Giêsu trước dân chúng: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14,11). Lời tuyên bố này được xem như lời tóm kết của hai câu chuyện: được chủ mời dự tiệc (Lc 14,7-10) và mời khách dự tiệc (Lc 14,12-14).
Hạ mình xuống khi được chủ mời dự tiệc: theo thói thường, người ta thích đi tìm cỗ nhất. Đức Giêsu dạy ngược lại: “hãy ngồi vào chỗ cuối” (Lc 14,10), để khi chủ nhà đến và nhận ra thì mời anh lên trên, lúc đó anh sẽ được vinh dự. Trái lại chủ nhà sẽ mời anh xuống dưới và anh sẽ phải xấu hổ! – Hạ mình xuống khi đãi khách dự tiệc: cũng theo thói thường, khi mời khách dự tiệc, người ta thích mời bạn bè, anh em, bà con, thân thuộc, giàu có để được họ đáp lại. Đức Giêsu dạy ngược lại: “hãy mời những kẻ nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù”(Lc 14,13), vì họ không có gì đáp lại.
Dưới ánh sáng của bài Tin Mừng Chúa nhật trước, Đức Giêsu không dạy ta về cách ứng xử khôn khéo để được vinh dự hay cách đối đãi khờ khạo để phải gặp thiệt thòi. Ngài dạy chúng ta cách đi “qua cửa hẹp” của phép rửa để được vào Nước Thiên Chúa. Cửa hẹp này chính là đức ái hay tình yêu thần linh với hai đặc tính: tính khiêm tốn và tính nhưng không của tình yêu.
Tính khiêm tốn được diễn tả trong Tin Mừng bằng việc chọn chỗ cuối. Chọn chỗ cuối là hành vi hạ mình vốn đòi hỏi sự hủy mình. Tự bản chất, tình yêu thần linh có tính hủy mình. Sự hủy mình này được minh thị qua việc phục vụ, qua sự hiến tế mà chính Đức Giêsu đã sống và dạy chúng ta sống. Khi mặc khải về cuộc khổ nạn Ngài nói: “Như Con Người đến không để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45); trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Ngài còn quì xuống rửa chân cho các môn đệ để tấn phong các ông thành những kẻ tôi đòi với Ngài (Ga 13,1-15) – và khi dạy các môn đệ sống, Ngài nói: “Anh em hãy yêu thương nhau như chính Thầy yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 15,12-13).
Tính nhưng không được được mô tả trong Tin Mừng bằng việc thiết đãi những kẻ nghèo khó, đui mù, què quặt. Thiết đãi những người này đòi hỏi tính nhưng không, nghĩa là cho đi mà không mong được đáp đền. Tự bản chất, tình yêu thần linh có tính nhưng không này và khi cho đi vì người khác, người ta lại tìm được chính mình. Nhờ kinh nghiệm này trong Thiên Chúa mà Đức Giêsu hiên ngang bước vào cuộc khổ nạn và nói: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời… sau ba ngày Ngài sống lại” (Mc 10,31). Và rồi Ngài dạy các môn đệ: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Mc 8,34-35).
Chính trong viễn cảnh này của đức tin mà tác giả sách Huấn ca ngợi khen kẻ sống khiêm nhường. Bởi lẽ kẻ tự hạ khiêm tốn làm đẹp lòng Thiên Chúa và Người được tôn vinh nơi họ, trong khi phường kiêu ngạo sẽ lâm cảnh khốn cùng vì sự xấu mọc rễ sâu trong họ (HC 3,18.20.28). Cũng chính trong ánh sáng đó mà tác giả thư Do Thái xác quyết rằng tên của những người tin đã được ghi trên trời, và họ đang tiến đến cùng Thiên Chúa và đến cùng Đức Giêsu tại thành thánh Giêrusalem trên trời giữa muôn vàn thiên sứ và giữa những con đầu lòng của Thiên Chúa (Dt 12,18-19.22-24a).
Chúng ta cùng cầu nguyện cho nhau và nâng đỡ nhau sống con đường khiêm tốn mà Đức Giêsu đã sống và đã chỉ dạy để khi dấn thân loại bỏ con người kiêu hãnh và tập luyện sống lối sống mới, chúng ta cảm nghiệm được niềm vui và hạnh phúc thực trong từng biến cố xảy ra. Amen.
Nhóm Pharisiêu thường có thái độ đối lập với Chúa Giêsu. Khi Chúa rao giảng Tin Mừng, họ tìm cách gài bãy, bắt bẻ Chúa nhiều điều. Tuy thế Chúa vẫn đối xử tử tế tốt đẹp với họ. Nhưng không phải mọi người Pharisiêu đều là thù nghịch với Chúa. Chúa Giêsu cũng có những người bạn hay môn đệ thuộc nhóm biệt phái này như ông Nicôđêmô, ông Giuse Arimathia. Tin Mừng hôm nay cho biết một thủ lãnh các người biệt phái mời Chúa dùng bữa tại nhà ông. Họ mời Chúa và có ý dò xét nhưng Chúa vẫn nhận lời mời. Thánh Luca cho biết có 3 lần những người Biệt Phái mời Chúa dự tiệc như vậy và Chúa Giêsu vẫn đáp lại: Chúa không sợ bị dò xét, bắt bẻ, nhưng Chúa coi đây là dịp để đến với họ, để uốn nắn, sửa chữa điều sai lệch nơi họ đồng thời mở rộng tầm nhìn cho họ cũng như Chúa đã đến với những người thu thuế và tội lỗi để hoán cải họ. Trong bữa ăn này Chúa đưa ra hai dụ ngôn:
Chọn chỗ ngồi: Chúa Giêsu đã có nhận xét là những người Pharisiêu thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc (Lc 20,46) nên Chúa nói: “Khi có ai mời ngươi dự tiệc cưới, ngươi đừng ngồi vào chỗ nhất, kẻo có người trọng hơn ngươi cũng được mời dự tiệc…Nhưng khi ngươi được mời, hãy ngồi vào chỗ rốt hết, để khi người mời ngươi đến, nói với ngươi rằng: “Hỡi bạn xin mời bạn lên trên”. Bấy giờ ngươi sẽ được danh dự trước mặt những người dự tiệc. Chúa kết luận: Vì hễ ai nhắc mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống, sẽ được nhắc lên”. Chỗ ngồi được coi như địa vị của mỗi người, chúng ta hãy để cho người có trách nhiệm xếp đặt. Chúa Giêsu cho biết chính Thiên Chúa cũng xếp đặt chỗ ngồi cho ta, đặc biệt là trên Nước Thiên Chúa vì Thiên Chúa hạ người quyền thế và nâng cao mọi kẻ khiêm nhường như Đức Mẹ Maria đã cảm nghiệm điều này (Cf Lc 1,52).
Chúng ta có gương Chúa Giêsu: Người là Thiên Chúa nhưng đã hạ mình xuống làm người phàm. Chúa đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ, và như thánh Phaolô nói: “Đức Kitô Giêsu đã hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên Thập giá. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người, và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu (Pl 3, 6-9)”
Khiêm nhường là sống đúng với sự thật, sự thật về mỗi con người chúng ta. Chúng ta không cần phải tự ti, nhưng cũng không nên nâng mình lên quá đáng và không được ảo tưởng về bản thân mình.
- Sống Bác ái: Người Do thái xưa cũng như tâm lí đa số chúng ta ngày nay thường theo nguyên tắc: “Có qua có lại mới toại lòng nhau” khi đãi tiệc ta thường mời người có khả năng mời lại mình, nhưng trong dụ ngôn này Chúa Giêsu lại khuyến khích ta vượt lên điều bình thường đó bằng cách mời những người nghèo khó, tàng tật, què quặt, đui mù. Đây là 4 hạng người bất hạnh trong xã hội và người Do thái thường khi rẻ loại họ ra ngoài xã hội, không cho họ tham dự phụng tự nơi đền thờ Giêrusalem.
Dĩ nhiên khi mời những người này, ta không trông họ mời lại vì họ không có khả năng đáp lễ trên trần thế này nhưng Chúa Giêsu cho biết chính Thiên Chúa sẽ đứng ra thay họ đáp lễ cho ta vào ngày kẻ chết sống lại. Chúa Giêsu cũng từng có lời khuyên: “Khi bố thì đừng có khua chiêng đánh trống như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá cốt để cho người ta khen. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha anh Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh (Mt 6, 2-4)”. Ước chi chúng ta học gương bác ái vô vị lợi của Thiên Chúa như lời Chúa nói: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một mình để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời (Ga 3, 16)”
Chúa Giêsu dạy chúng ta khiêm nhượng và có lòng bác ái nhưng hai đức tính này phải hướng về việc phục vụ chứ không phải để được tiếng khen và người càng làm lớn càng phải là người phục vụ anh em nhiều hơn như lời Chúa: “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người là phục vụ anh em ( Mt 23, 11)”
Câu chuyện: một người kể lại điều quan sát được như sau: Có hai con dê đi ngược chiều nhau trên một con đường rất hẹp sát núi: một bên là vách núi cao cheo leo, một bên là vực sâu thăm thẳm. Nếu hai con chen lấn thì thế nào sẽ bị rớt xuống vực chết tan xác. Vậy nó xử lí thế nào? Chúng đã chọn cách: một con đã tự nguyện quì mọp xuống để con kia bước qua nhờ vậy cả hai được an toàn và sau đó cả hai tiếp tục con đường của mình. Tương tự như vậy nếu chúng ta biết nhường nhịn nhau sẽ được như câu nói: “Một sự nhịn là chín sự lành”. Còn nếu như ai cũng dành phần hơn cho mình thì sẽ là tai họa!
Sách Khải Huyền nói lên mối phúc: “Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự Tiệc Cưới của Con Chiên (Kh 19,9)”. Trong Thánh lễ, trước khi Hiệp lễ, Linh mục nâng cao Mình Máu thánh Chúa và đọc lời tương tự: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian: Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”. Vậy nếu trong cuộc sống trần gian này, chúng ta biết đón nhận bài học Chúa Giêsu dạy về việc khiêm tốn chọn chỗ ngồi và bác ái đối với những người bất hạnh thì đó là chính sự bảo đảm cho chúng ta sẽ được dự Tiệc Chiên Thiên Chúa trên Thành Thánh Giêrusalem trên trời sau này. Amen.
Theo phong tục của người Do Thái, trong một bữa tiệc lớn, người chủ tiệc không dành riêng một số ghế cho các vị khách quan trọng hay các bậc vị vọng, và cũng không đích thân hay ngang qua ban tiếp tân, mời từng người khách vào chỗ ngồi, như chúng ta vẫn làm khi tổ chức những tiệc mừng lớn.
Chính vì thế, mỗi người khi đến dự tiệc, phải căn cứ vào địa vị của mình mà tự chọn một chỗ ngồi thích hợp, so với những người khác. Do đó, tốt hơn là đừng ngồi vào những chỗ quan trọng nhất ; nếu không, chẳng may có vị khách quan trọng hơn mình đến trễ, lúc ấy thật là xấu hổ vì phải nhường chỗ cho vị này. Một khả thể khác là, đến lúc khai mặc bữa tiệc, những chỗ quan trọng nhất vẫn chưa có ai ngồi ; lúc ấy, thật là vinh dự khi có những người được mời công khai trước mặt toàn thể quan khách ngồi vào những chỗ nhất này.
Trong một bối cảnh như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng, lời dạy của Đức Giê-su chẳng có gì đặc biệt. Thực vậy, Ngài nói trong dụ ngôn tiệc cưới: “Khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: “Xin mời ông bạn lên trên cho“. Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn. (c. 10)
Lời khuyên này, không những không có gì đặc biệt, vì ai cũng có thể tự rút ra bài học này, từ kinh nghiệm sống của mình hay của người khác. Ngoài ra, dường như Đức Giê-su dạy chúng ta tính toán, thậm chí giả bộ khiêm tốn, để được tôn vinh!
2) Bữa tiệc Nước Trời
Chúng ta nhận xét như thế về lời dạy của Đức Giê-su, đó là vì chúng ta hiểu ở mức độ khôn khéo bình thường trong cung cách ứng xử. Nhưng nếu chú ý kĩ khi nghe Tin Mừng, thì chúng ta nhận ra rằng đây là một dụ ngôn: “ Người nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi, nên nói với họ dụ ngôn này “. Vì thế, điều Chúa muốn dạy chúng ta, không phải là cung cách ứng xử trong những bữa tiệc lớn, nhưng là giúp chúng ta hiểu và sống mầu nhiệm Nước Trời.
Thật vậy, trong bữa tiệc Nước Trời, ai trong chúng ta dám tự cho mình là cao trọng, là vị vọng, là xứng đáng, để tự ngồi vào “ cỗ nhất “? Bởi lẽ trong bữa tiệc Nước Trời, trước mặt Chúa, chúng ta đều như nhau hết: đều nghèo nàn, bệnh tật, khuyết tật và tội lỗi. Như Thánh Phao-lô nói: trong Đức Ki-tô không có phân biệt giữa nam và nữ, giữa Do Thái và Dân Ngoại, giữa người tự do và người nô lệ.
Trong Đức Ki-tô, chúng ta trở nên giống nhau trong thân phận, và vì thế, chúng ta cũng được trở nên giống nhau trong ân sủng. Chính Mình và Máu Đức Ki-tô làm cho chúng ta trở nên công chính, trở nên giàu có, và đặt chúng ta ngồi vào “ cỗ nhất “, nghĩa là đặt chúng ta làm con Thiên Chúa, giống như Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa ; và như thế, chúng ta trở thành anh chị em của nhau trong Đức Ki-tô.
3) Thiên Chúa là Nhưng Không
Hơn nữa, trong phần tiếp theo của bài Tin Mừng được đọc trong Thánh Lễ Chúa Nhật hôm nay, Đức Giê-su còn đưa ra lời khuyên thứ hai: Rồi Đức Giê-su nói với kẻ đã mời Người rằng: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại. (c. 12-14)
Lời khuyên thứ nhất của Đức Giê-su về việc chọn chỗ trong các bữa tiệc lớn, thì bình thường và dễ thực hiện, nhưng lời khuyên thứ hai của Ngài lại quá bất thường và trong thực tế không thể thực hiện được. Thật vậy, ai trong chúng ta đã từng mở tiệc và mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù chưa?
Vì thế, thay vì hiểu lời của Đức Giê-su theo nghĩa thực dụng hay thực hành, chúng ta được mời gọi đặt lời của Ngài trong bầu khí của ngày Sa-bát, là ngày của Thiên Chúa ban sự sống (x. Xh 20, 8-11), và cũng là ngày của Thiên Chúa cứu sống (x. Đnl 5, 12-15) và trong viễn tượng bữa tiệc của Nước Thiên Chúa, là điểm tới của sáng tạo và lịch sử. Bởi vì, chỉ có một mình Thiên Chúa mới có thể làm được mà thôi trong bữa tiệc Nước Trời của Ngài.
* * *
Tuy nhiên, lời của Đức Giê-su vẫn chất vấn cách sống, cách làm việc và nhất là cách thi hành sứ vụ của chúng ta. Thật vậy, ngang qua vấn đề đãi tiệc, Đức Giê-su mời gọi chúng ta trong mọi sự, hãy hành động cách nhưng không, bởi vì Nước Trời là Nước của Thiên Chúa, và Thiên Chúa là nhưng không. Ở đâu có sự nhưng không, ở đó Nước Thiên Chúa hiện diện. Và chúng ta được mời gọi sống với mọi người trong tâm tình nhưng không, đó còn là vì, như Đức Giê-su nói khi sai các môn đệ đi loan báo Tin Mừng Nước Trời: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy“. Như thế, Nước Trời gắn liền với cung cách sống và làm việc cách nhưng không, và đặc biệt với sứ mạng phục vụ cho sự sống cách nhưng không.
Thiên Chúa là nhưng không, bởi vì Ngài tạo dựng nên muôn loài muôn vật và tạo dựng nên chính loài người chúng ta, khi chúng ta chưa làm được gì, chưa lập công được gì. Giống như cha mẹ trước khi sinh con, cha mẹ đã cho rất nhiều và còn muốn cho hơn cả cái mình có, hơn nữa, còn tha thứ và bao dung trước, nếu chẳng may đứa con có ra nông nỗi gì. Trong đời dâng hiến, Chúa gọi chúng ta đi theo Ngài trong một Hội Dòng, khi chúng ta chưa làm được gì cho Chúa và cho Hội Dòng. Lãng quên điều này, chúng ta không thể sống hạnh phúc và không có động lực để sống đến cùng ơn gọi của mình ; và nhất là không để cho Nước Trời trị đến trong ngay tâm hồn chúng ta và ở giữa gia đình, Cộng Đoàn của chúng ta.
Và ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm này: sự sống đích thật, chỉ có thể sinh ra và lớn lên được trong sự nhưng không mà thôi. Cuộc sống của chúng ta, trong gia đình hay cộng đoàn, trong Giáo Hội và ngay cả trong một xã hội, nếu không có sự nhưng không, sẽ bị bóp nghẹt. “ Nhưng không “ thì ngược với “ sòng phẳng “. Nếu Thiên Chúa là “ sòng phẳng “, thì không có sự sống, và nếu có, sự sống cũng không thể được duy trì ; giữa chúng ta cũng vậy, nếu chỉ là sòng phẳng, sẽ không có chúng ta trên đời, và nếu có, con người sẽ loại trừ nhau và cuộc sống sẽ trở nên gánh nặng không thể chịu nổi ; và nếu chúng ta sống sòng phẳng với nhau, chúng ta sẽ không có ngày hôm nay ở gia đình này hay ở cộng đoàn này.
* * *
Chúng ta đón nhận sự sống, sự sống trên đời và sự sống trong ơn gọi (thánh hiến, gia đình…) nhưng không chúng ta được mời gọi cũng trao ban nhưng không, bằng cách phục vụ nhưng không cho sự sống. Lý do tận cùng, đó là bởi vì THIÊN CHÚA LÀ NHƯNG KHÔNG.
Các bài đọc Lời Chúa hôm nay, quy hướng con người chúng ta lên cùng Chúa Giêsu Kitô khi TN 22-C177
Các bài đọc Lời Chúa hôm nay, quy hướng con người chúng ta lên cùng Chúa Giêsu Kitô khi rập theo mẫu gương khiêm tốn, yêu thương và phục vụ của Ngài.
Bài đọc một từ sách Huấn Ca khuyên dạy, chỉ bảo chúng ta chính thái độ khiêm tốn. Chúng ta cần phải được nhắc nhở vì bản tính con người thường thích tự đề cao mình, thích được người khác chú ý, thích tìm danh dự, địa vị hay chức quyền…và thật là nguy hại, khi con người tự nâng mình lên như vậy, họ sẽ dễ rơi vào những hình thức vụ lợi hay giả hình. Chính vì lẽ đó, Lời Chúa đã khuyên dạy: Hãy sống khiêm nhường, hãy biết chính bản thân con người mình với những giới hạn và bất toàn, vì mỗi khi sống đúng với những gì mình có, thì chính Thiên Chúa lại làm cho chúng ta được nâng lên với sức mạnh và ơn thánh của Ngài.
Đây cũng là điều mà chính Chúa Giêsu trong Tin mừng hôm nay dạy chúng ta, Ngài không những chỉ dạy mà còn sống để nêu gương cho chúng ta. Thật vậy, với tường thuật của Tin mừng, Chúa Giêsu đã quan sát và nhận thấy, con người đã tự đề cao mình khi họ chọn chỗ nhất, chọn ghế tốt để làm cho mình trở nên người đặc biệt. Trong lúc đó, chính Chúa Giêsu là Thiên Chúa, thì Ngài lại chọn cách sống khiêm hạ trở nên con người bình thường như bao người. Đáng lẽ ra Chúa Giêsu phải là Đấng có chỗ quan trọng nhất để được người khác phục vụ Ngài, thế nhưng, Ngài lại chọn chỗ rốt nhất. Chính thái độ, cung cách khiêm tốn trong phục vụ, tự hạ, hy sinh và tự hiến, Ngài trở nên nguồn ơn cứu cánh và mẫu gương tuyệt hảo cho tất cả con người chúng ta.
Chúng ta sẽ tự hỏi: Tại sao Chúa lại chọn cách sống như vậy? Thưa vì: Khi Ngài sống khiêm tốn, sống nghèo để cho tất cả những người phận nhỏ, những người nghèo, người đau khổ…tất cả đều có thể đến với Chúa. Đồng thời đây cũng là cách thế cho những ai muốn sống như Chúa nhận ra chính ơn ban đích thực từ Thiên Chúa, để rồi Chúa cho họ trở nên máng thông ơn làm chuyển trao ơn Chúa cho ACE mình.
Với bản thân tôi trong sứ vụ mục tử, người phục vụ, hai khuôn mẫu làm cho tôi xúc động và cố gắng noi gương bắt chước đó là ĐTC Phanxicô và Mẹ Terexa Calcuta. ĐTC Phanxicô từ khi Ngài được bầu chọn làm Giáo Hoàng cho đến nay, Ngài vẫn chọn để ở trong nhà trọ Thánh Matta; mỗi lần đi đâu, Ngài tự tay xách đồ của Ngài, Ngài thường chọn đến để đồng bàn cùng với những người nghèo, già cả, đau yếu bệnh tật…ai biếu tặng cho Ngài cái gì, Ngài cũng đều chia sẻ cho người nghèo và những người kém may mắn. Còn với Mẹ Thánh Terexa Thành Calcuta, Mẹ chính là mẫu gương tuyệt vời khi dấn thân hy sinh để phục vụ những người nghèo, người đau khổ, bất hạnh… Chúng ta sẽ tự hỏi: Tại sao những con người này, lại có thể làm được những điều thật tuyệt vời như vậy? Thưa vì các Ngài là những người đã theo cách sống của Chúa Giê su, hơn thế nữa nhờ đời sống gắn bó mật thiết với Chúa, các Ngài đã họa lại cách sống và hình ảnh của Chúa cho ACE đồng loại của mình.
Kính thưa ACE, dưới ánh sáng của Lời Chúa, qua lời dạy và mẫu gương của Chúa Giêsu, qua mẫu gương của ĐTC Phanxicô và Mẹ Thánh Terexa Calcuta, chúng ta có được đánh động và thúc bách để chọn ra cách sống của chúng ta như thế nào? Chúng ta cũng được mời gọi để sống cuộc sống đơn sơ, khiêm tốn cũng như hãy sống trong cung cách yêu thương phục vụ ACE những người mà Chúa sai chúng ta đến với họ. Thực ra, với tài sức của con người, chúng ta sẽ không thể nào mà học cũng như làm theo nếu không biết cậy dựa vào sức mạnh và ơn thánh Chúa.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết luôn chạy đến với Chúa, để nhờ ơn Chúa, chúng con mới có thể sống khiêm tốn, sống tốt, sống nên thánh, sống đẹp lòng Chúa trong cách thế yêu thương, phục vụ. Nhờ đó mà ACE chúng con cũng đón nhận được ơn thánh Chúa qua sứ vụ của chúng con. Amen.
Chủ đề: "Khiêm tốn có nghĩa sống như Chúa Giêsu, không sống cho mình nhưng cho người khác"
Nhiều năm trước đây ở Floria, tờ St. Petersburg Times có đăng một câu chuyện lý thú của ông Don TN 22-C178
Nhiều năm trước đây ở Floria, tờ St. Petersburg Times có đăng một câu chuyện lý thú của ông Don Shula, huấn luyện viên của đội banh Dolphins nổi tiếng của Miami. Ông đi nghỉ hè với gia đình trong một tỉnh lẻ ở phía bắc thành phố Maine.
Một chiều kia, trời mưa tầm tã, ông Shula cùng bà vợ và năm đứa con quyết định đi xem xinê trong rạp hát duy nhất của tỉnh.
Khi họ đến, trong rạp lúc ấy đèn còn sáng và chỉ có sáu người. Khi ông Shula và gia đình bước vào, tất cả sáu người này đứng dậy và vỗ tay. Ông vẫy tay mỉm cười với họ.
Ông ngồi xuống rồi xoay sang nói với vợ, "Mình ở Miami cách đây cả ngàn dặm vậy mà họ đứng dậy hoan hô. Chắc họ đã thấy tài nghệ của đội banh Dolphins trên truyền hình."
Sau đó một người tiến đến bắt tay ông. Ông Shula cười hớn hở và hỏi, "Làm sao mà ông biết tôi?"
Ông này trả lời, "Thưa ông, tôi không biết ông là ai. Tất cả những gì tôi biết là trước khi ông và gia đình bước vào, người quản lý rạp hát nói với chúng tôi rằng, nếu không có thêm bốn người nữa thì ngày hôm nay họ sẽ không chiếu phim." Tôi thích câu chuyện này vì nó làm sáng tỏ điều giáo huấn trong bài đọc hôm nay, có thể nói đó là lời cam kết của một Kitô Hữu, chúng ta phải trở nên người khiêm tốn.
Câu chuyện này mời gọi chúng ta trở nên loại Kitô Hữu mà ông Don Shula đã kể trong câu chuyện.
Ông là một người nổi tiếng khắp nước không chỉ vì tài huấn luyện nhưng còn là một con người tuyệt vời.
Đó chỉ là điều tự nhiên khi ông nghĩ rằng người kia đến bắt tay ông vì biết ông là ai.
Nhưng khi vỡ lẽ, ông Shula lại là người đầu tiên cười nhạo chính mình. Thật vậy, ông thích sự kiện đó đến nỗi ông thường kể lại cho người khác nghe. Chỉ một người khiêm tốn mới có thể làm như vậy.
Điều đó nêu lên một câu hỏi. Khiêm tốn là gì? Trở nên khiêm tốn có nghĩa gì?
Có phải nó có nghĩa chúng ta phải tự hạ? Có phải nó có nghĩa ít nghĩ đến chính mình? Có phải nó có nghĩa khước từ giá trị thực sự của mình, hoặc coi thường giá trị ấy?
Tất cả không phải vậy! Khiêm tốn là một điều sâu xa hơn và mỹ miều hơn những điều ấy. Khiêm tốn không phải ít nghĩ đến chính mình.
Trong ý nghĩa sâu xa và mỹ miều, khiêm tốn có nghĩa trở nên giống như Chúa Giêsu, Người đã nói, "Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường..." Mt 11:29
Nó nghĩa trở nên giống như Chúa Giêsu, Người đã nói, "Con Người không đến để được phục vụ; nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình để cứu chuộc nhiều người." Mc 10:45
Khiêm tốn có nghĩa sống như Chúa Giêsu đã sống--không cho chính mình, nhưng cho người khác.
Nó có nghĩa sử dụng khả năng của chúng ta như Chúa Giêsu đã dùng khả năng của Người--không cho chính mình và vinh dự của mình, nhưng cho người khác và các nhu cầu của họ.
Sau đây là một thí dụ điển hình.
Ông Charles Schulz đã tạo ra nhân vật Charlie Brown rất nổi tiếng trong dân chúng qua các hí họa Peanuts. Tuy nhiên, ít người biết rằng Charlie Brown được dựa trên một con người có thực. Charlie Brown thực tế cùng làm việc với ông Schulz trong Phòng Trạm Trổ ở Minneapolis.
Sau đó cả hai bỏ việc ở đây. Ông Schulz trở nên một nhà hí họa. Ông Charlie Brown trở nên một người cố vấn cho các thiếu niên phạm pháp, và ông thường cho các em trú ngụ ngay tại nhà của ông. Vào tháng Mười Hai 1983 ông Charlie từ trần vì ung thư. Sau cái chết của ông, một người cùng sở viết:
"Charlie là ông xếp của tôi ở Trung Tâm Phạm Pháp trong ba năm... Sau khi các em đi ngủ, chúng tôi trò chuyện với nhau thật lâu.
"Charlie là một người Công Giáo đạo đức... Ông thấy cuộc đời ông là để thi hành các công việc bác ái hằng ngày, noi gương Đức Kitô và các thánh."
Người cùng sở cho biết thêm là trong thời gian làm việc tại Trung Tâm Phạm Pháp, không một thiếu niên nào đã từng sống với ông Charlie mà lại tái phạm trở vào tù. Và đây là một trong các lý do tại sao ông Charlie thường được mời nói chuyện cho các chuyên gia và diễn thuyết về hình phạt học và công việc xã hội tại Đại Học Minnesota.
Ông Charlie Brown và Charles Schulz là đôi bạn thân cho đến suốt đời. Ông Schulz thỉnh thoảng có đề nghị chia sẻ với ông Charlie những lợi nhuận từ việc buôn bán các sản phẩm có hình ảnh của nhân vật Charlie Brown, như áo thung hay đồ chơi. Nhưng ông Charlie không bao giờ nhận một đồng nào cả.
Ngay cả ông cũng không tự ý cho ai biết ông thực sự là Charlie Brown.
Và vì thế, cho đến ngày nay, nhiều thiếu niên đến gõ cửa Trung Tâm Phạm Pháp vào đêm khuya, rồi hỏi "Có Charlie Brown ở nhà không?" mà thực sự chúng không biết ông là ai.
Câu chuyện này là một thí dụ sống động về điều Chúa Giêsu muốn nói khi Người tuyên bố, "Hãy học cùng ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường..."
Đó là một thí dụ sống động về điều Chúa Giêsu muốn nói khi Người cho biết, "Con Người đến không để được phục vụ; nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình để cứu chuộc nhiều người."
Đó là một thí dụ sống động về sức mạnh và sự mỹ miều của nhân đức khiêm tốn khi được thể hiện một cách can đảm trong cuộc đời của một Kitô Hữu đích thực.
Đó là một thí dụ sống động của lời mời mà Chúa Giêsu đưa ra cho bạn và tôi hôm nay.
Chúng ta hãy kết thúc phần chia sẻ bằng việc suy niệm về sự khiêm tốn qua những lời trong bài Huấn Ca hôm nay: "Con ơi, hãy khiêm tốn trong mọi việc con làm, và người ta sẽ quý trọng điều đó hơn cả quà cáp. Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ đẹp lòng Đức Chúa".
(Suy niệm của Jaime L. Waters - Nhóm Sao Biển chuyển ngữ từ America Magazine)
LỜI KÊU GỌI ĐỐI XỬ BÌNH ĐẲNG TRONG KINH THÁNH
Trong bài Tin mừng của Chúa nhật XXII Thường niên hôm nay, Chúa Giêsu đã suy tư về Nước TN 22-C179
Trong bài Tin mừng của Chúa nhật XXII Thường niên hôm nay, Chúa Giêsu đã suy tư về Nước Thiên Chúa. Mặc dù Nước ấy không được nói rõ trong dụ ngôn, nhưng được sánh với một bữa tiệc thịnh soạn. Chúa Giêsu mô tả những người được mời dự tiệc, rồi nói với những người Pharisêu mà Ngài gặp, rằng: khi đãi tiệc, họ không nên mời bạn bè, gia đình và những người hàng xóm giàu có. Thay vào đó, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt và đui mù. Những người được gọi là “nghèo khó, tàn tật, què quặt và đui mù” đại diện cho tất cả những người không có khả năng mời tiệc để đáp lễ. Bạn bè và những người giàu có đại diện cho những người có phương tiện và của cải.
Chúa Giêsu phác hoạ Nước Thiên Chúa là nơi dành cho tất cả mọi người. Hình ảnh bữa tiệc trong bài Tin mừng thể hiện một lời mời rộng mở, dành cho tất cả mọi người. Cái nhìn của Chúa Giêsu về Nước Thiên Chúa mang tính hướng dẫn và truyền cảm hứng cho chúng ta tránh đối xử bất công, thường ưu tiên cho những người lành lặn. Thay vào đó, để xây dựng vương quốc trên trần gian, chúng ta hãy tạo nên một Giáo hội và thế giới rộng mở cũng như dễ tiếp cận cho tất cả mọi người, nhận ra những cách thức công khai hay bí mật đã loại trừ những người có sự khác biệt và khuyết tật ra khỏi việc tham dự trọn vẹn vào cộng đoàn đức tin. Bài Tin mừng mời gọi chúng ta nhìn nhận và đánh giá cao sự đa dạng tồn tại trong Giáo hội và thế giới, đồng thời tạo ra không gian thăng tiến tất cả mọi người. Ngoài ra, bài Tin mừng giúp chúng ta suy ngẫm về bản thân một cách thấu đáo hơn cũng như nhớ rằng ngay cả những người được coi là lành lặn cũng phải nhờ đến sự giúp đỡ và hỗ trợ để phát triển. Bài Tin mừng theo thánh Luca được rút gọn (14,1.7-14) chỉ tập trung vào bữa tiệc. Ngay trước khi kể dụ ngôn, Chúa Giêsu đã gặp một người đàn ông mắc bệnh phù thũng, rồi chữa lành ông vào ngày sa bát. Trong Tin mừng, việc chữa lành trong ngày hưu lễ đôi khi gặp phải chỉ trích mặc dù vào dịp này thì không. Qua việc chữa lành cho người đàn ông mắc chứng phù thũng, Chúa Giêsu nhận ra nỗi đau khổ của ông và giải quyết nó bằng việc trợ giúp và cứu chữa đầy yêu thương. Suy ngẫm về dụ ngôn cùng với việc chữa lành, chúng ta thấy có cùng lúc hai cách tiếp cận để đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi người: tạo không gian tiếp cận và cơ hội cho tất cả mọi người, đồng thời nhận ra những người cần được giúp đỡ để sẵn sàng hỗ trợ.
Cũng trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu nhắc lại một chủ đề mà chúng ta đã gặp trong những Chúa nhật trước: “Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14, 11). Một lần nữa, Chúa Giêsu cho thấy Ngài quan tâm đến việc xây dựng một cộng đoàn các môn đệ có thể sống theo sứ điệp yêu thương của Tin mừng. Chúa Giêsu lưu tâm đến việc không để các môn đệ nghĩ rằng việc tuyển chọn được xem như nâng các ông lên trên những người khác trong cộng đoàn. Lời mời gọi khiêm nhường của Chúa Giêsu rất quan trọng đối với tất cả chúng ta ngày nay, đặc biệt là những người có địa vị và quyền lực.
Tin mừng Lc 14: 1.7-11: Khiêm tốn có nghĩa là bắt chước sống như Chúa, không sống cho riêng mình, nhưng sống cho người khác, dùng tài năng của mình để phục vụ, không phải cho bản thân và lợi ích riêng của cá nhân, mà là cho người khác và những nhu cầu của họ.
Chúa Giêsu không ngần ngại lên tiếng chỉ trích họ, nhân dịp Ngài được mời dự tiệc trong nhà một TN 22-C180
ông biệt phái. Dĩ nhiên đa số khách mời đều là biệt phái cả. Họ không ưa gì Chúa Giêsu và hôm nay họ được dịp dò xét kỹ để bắt lỗi. Chẳng hạn họ để ý xem Người có rửa tay trước khi ăn hay không? Nhưng họ đâu ngờ rằng chính họ lại đang bị Chúa Giêsu dò xét, bởi vì Ngài thấy ông nào ông nấy cũng đều ham địa vị cao, thích ngồi vào chỗ danh dự nhất trong đám khách được mời.
Lời Chúa Giêsu dạy, không chỉ nhắm sửa đổi một lề thói xã hội, nhưng trên hết, Người nhắm tới những sự thực về Nước Trời. Trong bàn tiệc Nước Trời, những ai càng khiêm tốn lại càng được nâng lên cao. Vì khiêm tốn là đi vào con đường của Thiên Chúa, là trở nên giống Thiên Chúa.
Ta cùng nhìn vào gương Chúa Giêsu. Người luôn luôn chọn chỗ cuối cùng. Là Thiên Chúa, nhưng Người không đòi cho mình được ngang hàng với Thiên Chúa, trái lại, Người đã tự huỷ mình, mặc lấy thân phận nô lệ hèn yếu như ta, trừ tội lỗi.
Chả cần phải là một người thông minh, tài trí, cũng có thể thấy ở những bữa ăn ngày Sabbat ấy không có những hạng người nghèo khổ, bọn cùng đinh, bọn tội lỗi, bọn thu thuế hay đĩ điếm.. Một người Do Thái chân chính không thể hòa mình với bọn người ti tiện này. Đó là sự phân chia giai cấp hết sức rõ ràng trong xã hội Do Thái, sự phân chia mang tính "tôn giáo".
Từ sự phân chia ấy, hình thành một lối suy nghĩ, một lối sống mặc nhiên, thầm kín nhưng hết sức mãnh liệt: "phải được xã hội thừa nhận địa vị ưu tuyển,thế giá đạo hạnh trước mọi người", lối sống mà Chúa Giêsu luôn phải đối diện: "sống giả hình", "những kẻ được mời, chọn chỗ nhất". Cách sống và suy nghĩ ấy đã đẩy xô đại đa số những người nghèo khổ vào nỗi tủi nhục "không danh phận", trong đời thường của những bữa ăn, và cả trong kinh nguyện và thờ phượng nữa.
Sự có mặt của Chúa Giêsu trong bữa ăn hôm nay, hay ở nhà Simon biệt phái, cũng như trong mọi hiện diện khác mau chóng bộc lộ tính chất Tin Mừng. Nếu như khi đồng bàn với những người nghèo, với bọn thu thuế và tội lỗi, Chúa Giêsu bộc lộ thái độ trân trọng, yêu thương, tha thứ, để bất kể là ai trong số họ cũng nhận ra được tấm lòng bằng hữu của Người, được giải phóng khỏi tâm trạng bị khinh miệt, bị kết án, bị loại trừ, thì ở đây Người tố giác tính chất "giả hình", "tính ưa chuộng địa vị, tìm kiếm thế giá", để đòi hỏi phải mở rộng bữa ăn cho những người nghèo.
Và ta nhìn vào hình ảnh bữa Tiệc Ly. Trong bàn tiệc ai là người cao trọng nhất? Thưa là Chúa Giêsu. Thế mà Người đã quỳ gối xuống rửa chân cho các môn đệ. Thiên Chúa đã quỳ trước mặt nhân loại. Thực là một sự khiêm tốn thẳm sâu. Trong khi con người kiêu ngạo muôn vươn lên làm Chúa, thì Thiên Chúa lại khiêm tốn hạ mình xuống làm người. Trong khi con người hèn hạ muốn nâng mình lên bằng cách chà đạp người khác, thì Chúa Trời cao cả lại hạ mình xuống để nâng con người lên. Hạ mình, đó là con đường của Thiên Chúa.
Khiêm nhường, đó là khuôn mặt của Thiên Chúa. Vì thế những ai khiêm tốn là trở nên giống Thiên Chúa, xứng đáng ngồi đồng bàn với Thiên Chúa trên Nước Trời. Nói xứng đáng không phải là do công phúc của ta, nhưng là do tình thương của Chúa. Ai tự nâng mình lên thì không có giá trị gì. Ai được người khác nâng lên, giá trị có đó, nhưng rất mong manh. Ai được Thiên Chúa nâng lên, giá trị đó mới thực cao quý, bền vững. Mà Chúa chỉ nâng cao những người khiêm tốn.
Khiêm tốn như Chúa Giêsu không phải là hèn nhát. Trái lại chỉ những ai dũng mạnh, can đảm mới dám hạ mình phục vụ anh em. Khiêm tốn như Chúa Giêsu không phải là nô lệ. Trái lại khiêm tốn phục vụ là một cử chỉ đầy tình yêu, một thái độ hoàn toàn tự do, cao quý. Khiêm tốn hạ mình phục vụ là thoát khỏi cái tôi chật hẹp ích kỷ để đi vào con đường tự do thênh thang của Thiên Chúa, của Nước Trời.
Bài học của Ngài hôm nay là bài học khiêm nhường, có lẽ đã làm cho họ ăn mất ngon và hẳn nhiều ông đã mất mặt. Chúa Giêsu không chỉ nhận xét về khách dự tiệc mà còn thẳng thắn đưa ra một bài học khác cho chủ nhà, bởi vì ông này mở tiệc đãi khách, thực ra không hpải vì khách mà vì mình. Thực vậy, cái thói mời người có chức quyền, mời người giàu sang để khoe rằng mình quen biết lớn, giao thiệp rộng, rằng bè bạn của mình toàn là những ông to bà lớn. Cái thói này ở mọi nơi, mọi thời đều rất thịnh hành. Ông chủ nhà hôm nay cũng là một trong những kẻ thích khoe khoang. Ông ta mời Chúa Giêsu có lẽ chẳng phải vì mến phục, nhưng chỉ để khoe với bè bạn về tài giao thiệp của mình, bởi vì lúc bấy giờ Chúa Giêsu đã là một nhân vật nổi tiếng.
Khiêm tốn có nghĩa là bắt chước sống như Chúa, không sống cho riêng mình, nhưng sống cho người khác, dùng tài năng của mình để phục vụ, không phải cho bản thân và lợi ích riêng của cá nhân, mà là cho người khác và những nhu cầu của họ.
Hôm nay, Chúa vẫn mời gọi chúng ta đi tiếp con đường Chúa đã đi. Con đường khiêm nhu để đến với anh em, để sống hoà hợp và phục vụ anh em. Con đường kiêu ngạo chỉ dẫn đến sự xa rời anh em, và gây nên những đổ vỡ bởi đố kỵ ghen tương. Vượt lên trên sự khiêm nhu là tình yêu đại đồng với tha nhân. Không phân biệt giai cấp hay chủng tộc. Không phân biệt màu da sắc tộc, mỗi người đều được đón nhận trong yêu thương và kính trọng. Có như vậy, thế giới chúng ta đang sống mới an vui thịnh vượng. Có như vậy, thế giới chúng ta đang sống mới đượm thắm tình yêu và rộn ràng niềm vui tiếng cười.
Thế giới hôm nay nếu muốn cứu mình khỏi hố diệt vong cần phải biết xây dựng tình người hơn là xây dựng những cơ sở vật chất lộng lẫy nguy nga. Thế giới hôm nay muốn an vui thịnh vượng cần phải có những con người biết quên mình phục vụ anh em. Ước gì mỗi người chúng ta luôn học lấy bài học khiêm nhu của Chúa để đến với anh em, để tự hủy chính mình, để trở nên kẻ có ích cho tha nhân, ngõ hầu chúng ta cùng góp sức xây dựng cho quê hương được quốc thái dân an, cho nơi nơi thắm được tình Chúa tình người, cho mỗi người tìm được niềm vui trong việc lãnh nhận và trao ban những nghĩa cử yêu thương.
Trong mối liên hệ với Chúa cũng như với người khác, ta hãy sống khiêm tốn, từ trong tư tưởng, lời nói đến việc làm, nhờ đó mà ta sẽ được người khác yêu mến và hơn nữa được chính Chúa chúc phúc. Bởi vì càng khiêm tốn, thì ta cùng trở nên cao cả và càng được Chúa yêu thương.