Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1751-1800

Thứ năm - 20/06/2019 06:47
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1751-1800
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1751-1800
Bùi-Tuần 1751: Tự răn mình theo Phúc Âm.. 2
Bùi-Tuần 1752: Chứng từ về giáo dục Công giáo. 4
Bùi-Tuần 1753: Thời nào cũng sẽ có ánh sáng thích hợp cho thời đó. 6
Bùi-Tuần 1754: Gặp gỡ Chúa Giêsu. 10
Bùi-Tuần 1755: BÀI PHỎNG VẤN.. 13
Bùi-Tuần 1756: Tôi mới đọc cuốn “50 năm nhìn lại”. 14
Bùi-Tuần 1757: Khiêm nhường trong ơn gọi Linh Mục và Tu Sĩ 16
Bùi-Tuần 1758: Vui mừng và hy vọng cùng với Giáo Hội Miền Nam.. 19
Bùi-Tuần 1759: Nên biết trước. 20
Bùi-Tuần 1760: Linh Mục theo Thánh Phêrô. 23
Bùi-Tuần 1761: Ðối diện với Chúa Giêsu. 25
Bùi-Tuần 1762: Sống đạo và sống trong sự thực. 27
Bùi-Tuần 1763: Mấy địa chỉ nên biết 30
Bùi-Tuần 1764: Sống cho kẻ khác. 32
Bùi-Tuần 1765: Khả năng yêu thương. 35
Bùi-Tuần 1766: Dâng mình làm của lễ. 37
Bùi-Tuần 1767: Chiến đấu không ngừng. 40
Bùi-Tuần 1768: Hy vọng. 42
Bùi-Tuần 1769: Tâm sự đời hưu. 44
Bùi-Tuần 1770: Ðến với Chúa Giêsu. 45
Bùi-Tuần 1771: ƠN TRỞ VỀ, TÂM TÌNH NGÀY KỶ NIỆM... 47
Bùi-Tuần 1772: ĐẠO ĐỨC BÌNH DÂN.. 50
Bùi-Tuần 1773: TÂM SỰ SAU CÙNG VỀ ĐẠO ĐỨC BÌNH DÂN.. 50
Bùi-Tuần 1774: DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA TẠI ĐÂY LÚC NÀY.. 53
Bùi-Tuần 1775: Tỉnh thức. 55
Bùi-Tuần 1776: Những cầu mong cho Giáo Hội Việt Nam.. 57
Bùi-Tuần 1777: Những đối thoại 59
Bùi-Tuần 1778: Con người tuyên xưng. 61
Bùi-Tuần 1779: Nhìn sang năm mới Kỷ Sửu. 63
Bùi-Tuần 1780: Sống ơn cứu độ. 64
Bùi-Tuần 1781: Ðức Giêsu Kitô là Ðấng cứu độ. 67
Bùi-Tuần 1782: Ðón nhận tình yêu cứu độ. 69
Bùi-Tuần 1783: Hành trình phục sinh còn dài 72
Bùi-Tuần 1784: Tháng hoa và sám hối 74
Bùi-Tuần 1785: Não trạng thay đổi 76
Bùi-Tuần 1786: Này Con xin đến để thực thi ý Chúa (Dt 10,9) 78
Bùi-Tuần 1787: Sống thân phận nghèo một cách đạo đức. 80
Bùi-Tuần 1788: Tham dự nghi thức đi đàng thánh giá tại Rôma. 82
Bùi-Tuần 1789: Tâm tình tham dự. 85
Bùi-Tuần 1790: Từ một căn phòng nhỏ. 87
Bùi-Tuần 1791: Những hiện diện đỡ nâng. 89
Bùi-Tuần 1792: Từ thực tế cuộc đời 92
Bùi-Tuần 1793: Ðến với Thánh Tâm Chúa Giêsu. 94
Bùi-Tuần 1794: Tông truyền. 96
Bùi-Tuần 1795: Ðức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ và thánh lễ. 98
Bùi-Tuần 1796: Tiên tri của Ðấng Tối Cao. 100
Bùi-Tuần 1797: Linh Mục trước vấn đề tội lỗi 101
Bùi-Tuần 1798: Ðăng báo. 104
Bùi-Tuần 1799: Khiêm nhường tỉnh thức. 104
Bùi-Tuần 1800: Tin Mừng hôm nay. 106
------------------

Phân cách bài ĐC Bùi Tuần

Bùi-Tuần 1751: Tự răn mình theo Phúc Âm

(Nhân biến cố sập cầu Cần Thơ)
 

Cầu Cần Thơ bị sập là một thảm hoạ rất trầm trọng. Trước thảm hoạ này, đã xuất hiện ba thái Bùi-Tuần 1751

Cầu Cần Thơ bị sập là một thảm hoạ rất trầm trọng.
Trước thảm hoạ này, đã xuất hiện ba thái độ trong đồng bào:
Một là tự hỏi về trách nhiệm theo pháp luật.
Hai là tự thức về tình liên đới đối với các nạn nhân.
Ba là tự răn mình theo ánh sáng Phúc Âm.
Cả ba thái độ đều đáng trân trọng. Ở đây tôi suy nghĩ nhiều hơn về thái độ tự răn mình theo ánh sáng Phúc Âm. Chọn lựa này là một cách sống Phúc Âm theo các dấu chỉ. Tôi rất đau đớn trước thảm hoạ. Tôi không vội quy tội. Tôi hoan nghênh mọi liên đới. Nhưng tôi đi xa, coi đây là một dấu chỉ khuyên răn.

 1/ Khuyên răn về sự cần thiết sám hối
Phúc Âm thánh Luca kể: “Lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Ðức Giêsu nghe chuyện những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. Ðức Giêsu đáp lại rằng: “Các ông tưởng mấy người Galilê đó tội lỗi hơn những người Galilê khác, bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy. Cũng như 18 người kia bị tháp Silôe đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội hơn các người ở thành Giêrusalem sao? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không chịu sám hối, các ông cũng sẽ chết hết như vậy” (Lc 13,1-5).
Chúa Giêsu rất thương các nạn nhân. Người đã lợi dụng dịp này để nói về sám hối.
Sám hối là điều hết sức quan trọng. Thánh Gioan Tiền Hô đã nhấn mạnh. Chúa Giêsu luôn nhắc nhở. Các thánh tông đồ nhìn đó là bước đầu cần thiết để đón Tin Mừng, Ðức Mẹ ở Fatima coi sám hối là một sứ điệp khẩn thiết để cứu thời đại hiện nay.
Hiện nay, các dấu chỉ thôi thúc việc sám hối càng ngày càng tăng. Tôi coi thảm hoạ sập cầu Cần Thơ là một dấu chỉ không nên coi thường.
Sám hối cần hồi tâm, đòi khiêm tốn. Sám hối không phải chỉ vì các tội đã phạm, mà còn vì những não trạng xấu, thói quen xấu, nếp sống xấu đã được bình thường hoá.

 2/ Khuyên răn về sự cần thiết thực thi Lời Chúa
Phúc Âm thánh Matthêu kể lại lời Chúa Giêsu phán: “Ai nghe những lời Thầy nói, mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên đá. Còn ai nghe những lời Thầy nói mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấp sẽ sụp đổ tan tành” (Mt 7,24-27).
Lời cảnh báo trên đây là nghiêm trọng. Nó vang vọng khắp nơi và mọi thời.
Thiết tưởng việc thực thi Lời Chúa quan trọng nhất hiện nay là gắn bó với Chúa Giêsu “là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6).
Ðáng tiếc là nhiều người vẫn giữ đạo theo kiểu xây nhà trên cát. Nghĩa là không trên nền tảng thực thi Lời Chúa. Hậu quả thực sự rất đau buồn. Chúa thương, nên đã gởi đến nhiều dấu chỉ để cảnh tỉnh. Có người đã đón nhận. Nhưng bao người chưa đón nhận. Thực đáng lo.

 3/ Khuyên răn về tính cách bất ngờ
Phúc Âm thánh Marcô thuật lại rằng: “Ðang khi Ðức Kitô ra khỏi đền thờ, thì một trong các môn đệ nói với Người:
“Thưa Thầy, Thầy xem đá lớn thật. Công trình kiến trúc vĩ đại thật. Ðức Giêsu đáp: Anh nhìn ngắm công trình vĩ đại đó ư? Tại đây sẽ không còn tảng đá nào trên tảng đá nào, tất cả đều sẽ bị tàn phá” (Mc 13,1-2). Rồi Chúa nói trước về tính cách bất ngờ của những biến cố Chúa sẽ để xảy ra.
Phúc Âm thánh Luca nói về tính cách bất ngờ trong quá khứ, như hồng thuỷ thời ông Noe, như mưa lửa thời ông Lót (x. Lc 17,26-30).
Sẽ có những bất ngờ ập tới trong tương lai (x. Mc 13,33-37). Vì thế Chúa Giêsu hay nhắc đến việc phải tỉnh thức và cầu nguyện.
Tiện đây, tôi xin chia sẻ kinh nghiệm đời tôi. Ðời tôi là chuỗi dài kinh nghiệm về những bất ngờ. Bất ngờ về sự sụp đổ những gì tưởng không thể sụp đổ. Bất ngờ về sự mất mát những gì tưởng không thể mất mát. Bất ngờ về sự phục sinh những gì tưởng không thể sống lại. Bất ngờ về sự đổi mới những gì tưởng không thể đổi mới.
Ðời đạo đều có những bất ngờ. Ta cần tỉnh thức.
***
Thời sự hiện nay có rất nhiều biến cố đáng suy nghĩ. Ta nên coi đó là những dấu chỉ. Chúa nói qua các dấu chỉ. Biết đọc được ý Chúa qua các dấu chỉ, thiết tưởng đó là một bổn phận đạo đức.
Chia sẻ này của tôi thực là bé nhỏ. Nó được viết vội trong tâm tình thương đau thao thức. Như với một quốc nạn. Như trong một quốc tang. Như trước một dấu chỉ. Tôi cầu mong đừng sập niềm tin.
Long Xuyên, ngày 27 tháng 9 năm 2007

 

Bùi-Tuần 1752: Chứng từ về giáo dục Công giáo

Một trong những vấn đề đang được bàn tới nhiều hiện nay tại nước ta là vấn đề giáo dục. Cả đời Bùi-Tuần 1752

Một trong những vấn đề đang được bàn tới nhiều hiện nay tại nước ta là vấn đề giáo dục. Cả đời cả đạo cùng rất quan tâm. Vì đây là yếu tố rất quan trọng cho việc phát triển và tồn tại của đất nước và của tôn giáo.
Trong bầu khí đó, tôi nhìn vào mình. Tôi xét mình xem nhân tố nào đã ảnh hưởng sớm nhất và sâu nhất trong hành trình giáo dục, mà tôi đã trải qua.
Xét đi xét lại, tôi vẫn thấy nhân tố đó là bố mẹ tôi. Các ngài đã dạy tôi những điều đơn sơ. Chính những điều giản dị ấy đã cho tôi những định hướng rõ. Hành trình nền giáo dục công giáo trong tôi đã khởi hành từ việc đón nhận những điều giản dị ấy.
Hôm nay, tôi xin chia sẻ như một chứng từ sống động riêng tư.

 1/ Trước hết, xin nói về mẹ tôi
Từ rất nhỏ, mẹ tôi hay nhắc cho tôi điều này: “Con hãy nhớ Chúa trước mặt con”. “Con hãy tin Ðức Mẹ ở bên con”.
Lời khuyên đó đã đi kèm với những việc làm của mẹ tôi. Mẹ dạy tôi làm dấu thánh giá trước khi ăn, trước khi ngủ, trong những hoàn cảnh không biết cậy nhờ vào ai.
Mẹ dạy tôi cầu nguyện bằng việc kêu lên Chúa những lời cầu vắn tắt, thốt ra từ đáy lòng. Nhất là mẹ dạy tôi cầu nguyện kinh Mân Côi.
Mẹ dẫn tôi đi nhà thờ, để dự thánh lễ. Không phải chỉ lễ Chúa nhật, mà cả những lễ ngày thường, mặc dù phải đi xa và trong đêm tối.
Lời khuyên “hãy nhớ Chúa trước mặt con” và “hãy tin Ðức Mẹ ở bên con” đã ảnh hưởng rất nhiều đến ơn gọi của tôi sau này. Ơn gọi của tôi được tóm lược vào mấy điểm sau đây:
Chúa đã yêu thương tôi.
Chúa đã kêu gọi tôi.
Chúa đã thánh hoá tôi.
Chúa đã sai tôi đi.
Từng điểm và tất cả mọi điểm trên đây đều được sáng lên trong tôi, khi tôi nhận thức: “Chúa ở trước mặt tôi” và “Ðức Mẹ ở bên tôi”.
Phong phú nhất là điểm: “Chúa đã sai tôi đi”.
Tôi được Chúa sai đi, như người lữ khách và lữ hành tại một địa phương ở Ðất nước Việt Nam này (x. Dt 11,13).
Tôi được sai tới những người khác nhau không ngừng di chuyển. Họ di chuyển trong dòng thời gian và trong không gian có những đoạn khác nhau.
Tôi được sai đi để giới thiệu đức tin bằng việc rao giảng Lời Chúa và công việc bác ái.
Tôi được sai đi vào những giai đoạn phức tạp. Trong đó Chúa và Mẹ dạy tôi hãy nhấn mạnh nhiều nhất đến sự hiện diện có Chúa trong mình.
Tôi được sai đi như một người phải biết khiêm tốn nhờ vào người khác, cả trong Hội Thánh lẫn trong xã hội.
Tôi được sai đi, như một người tạ ơn vì những khám phá thấy bao sự lạ lùng, Chúa làm trong các tâm hồn.
Cho đến hôm nay, lúc tuổi đã già, tôi vẫn sống ơn gọi nói chung và ơn được sai đi nói riêng như một kho báu. Không bao giờ mình được phép cho mình là đã khám phá hết. Có lúc đi trong ánh sáng, có lúc chìm trong bóng tối. Có lúc thành công, có lúc thất bại với bao yếu đuối vụng về. Nhưng tôi luôn nhớ Chúa trước mặt và Ðức Mẹ ở bên tôi. Chúa vẫn cầm tay tôi. Ðức Mẹ vẫn an ủi nâng đỡ tôi.

 2/ Cùng với mẹ tôi, bố tôi đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc đời của tôi
Bố tôi hay kể lại rằng: Ông nội, trước khi tắt thở, đã gọi các con đến bên giường. Nội trối lại ba điều:
- Các con hãy chịu khó làm ăn sinh sống một cách lương thiện.
- Các con hãy thương yêu nhau và thương yêu đặc biệt những người nghèo túng.
- Các con hãy có lòng kính thánh Giuse. Thánh Giuse là quan thầy của những người nghèo khổ.
Với những lời khuyên trên đây, bố tôi dạy chúng tôi về những liên đới xã hội. Sống sao cho công bình yêu thương trong mọi liên hệ.
Có lần mấy đứa chúng tôi đi câu cá về. Thấy con cá nào hơi to, bố tôi liền hỏi: Câu ở đâu? Nếu câu ở ao không phải ao nhà, thì bố bảo phải đem trả.
Nhà chúng tôi nghèo, nhưng không người ăn xin nào tới xin, mà bố để họ ra về tay không.
Tối nào, sau lần chuỗi, gia đình cũng đọc kinh thánh Giuse. Thói quen đó đã theo tôi mãi tới bây giờ. Kinh nghiệm cho tôi thấy: Thánh Giuse luôn cứu giúp kẻ cơ hàn, khi họ biết chạy đến với Người trong cơn gian nan, khốn khó.
Bố tôi biết vui trong cảnh nghèo, thích liên hệ với những người nghèo. Ngài coi cảnh nghèo, người nghèo là nơi đào tạo những người biết khiêm tốn đón nhận và biết khiêm nhường cho đi.

 3/ Khi nhìn lại khởi điểm nền giáo dục công giáo trong đời tôi, tôi nhận ra gia đình công giáo là một quy tụ nhỏ những hơi thở đầu tiên của đức tin
Quy tụ nhỏ đó có ba đòi hỏi này:
a) Cần thấy mình có nguồn gốc là siêu nhiên. Từ Chúa, Ðức Mẹ, thánh Giuse, gia đình cảm thấy an vui.
b) Cần nuôi một hứng thú về những giá trị cao cả nhưng gần gũi.
c) Cần thấy mình phải có ơn Chúa, để giúp mình sớm biết phân biệt cái gì tốt, cái gì xấu, điều gì là đúng thánh ý Chúa, điều gì không hợp thánh ý Chúa.
Gia đình là một quy tụ hơi thở ban đầu của đức tin. Từ quy tụ ban đầu đó, tôi bước sang nhiều quy tụ khác, như nhà tu, giáo xứ, giáo phận, Hội Thánh. Tuy với những hình thức khác nhau, mọi quy tụ trên đây đều được tôi coi như các gia đình. Trong đó, tôi được phát triển và thanh luyện. Tất cả đều được dòng tình nghĩa và tinh thần trách nhiệm chảy qua. Tất cả đều có Thiên Chúa là Cha chăm sóc. Tất cả đều có Ðức Mẹ Maria và thánh Giuse phù trợ. Trong tất cả, tôi luôn là người con bé nhỏ.
Như vậy, giáo dục công giáo là một hành trình. Một hành trình của nội tâm, của đạo đức, của tâm hồn bé nhỏ nghèo khó tìm cộng tác với Chúa Thánh Thần hoạt động trong lịch sử, một hành trình mà gia đình thường giữ vai trò quan trọng.
Long Xuyên, ngày 7 tháng 10 năm 2007

 

Bùi-Tuần 1753: Thời nào cũng sẽ có ánh sáng thích hợp cho thời đó

Bài phỏng vấn Ðức Giám mục GB. Bùi Tuần nhân dịp kỷ niệm 45 năm thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam (8-12-1960/8-12-2007)
CGvDT:
 

Ba năm nữa, Giáo Hội Công giáo Việt Nam sẽ kỷ niệm 50 năm thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Bùi-Tuần 1753

Ba năm nữa, Giáo Hội Công giáo Việt Nam sẽ kỷ niệm 50 năm thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam (8-12-1960/8-12-2010). Hội đồng Giám mục Việt Nam, trong kỳ Ðại hội lần thứ X hồi tháng 10 vừa qua, cũng đã có những chuẩn bị cho dịp kỷ niệm này. Nhưng trước hết, xin Ðức Cha cho biết đâu là ý nghĩa của việc thành lập một hàng giáo phẩm địa phương?
ÐGM. GB. BT: Theo tôi, việc Toà Thánh thiết lập Hàng giáo phẩm công giáo tại một quốc gia mang ý nghĩa của một sự công nhận mức độ trưởng thành nhiều mặt của một Giáo Hội địa phương. Cho nên, thiết lập Hàng giáo phẩm tại một Giáo Hội địa phương là thiết lập một tổ chức mang sự sống vừa hữu hình vừa vô hình; hữu hình về mặt cơ cấu và vô hình về mặt sức sống của Ðức tin. Tổ chức này rất quan trọng cho Giáo Hội địa phương.
CGvDT: Và nhìn lại lịch sử của gần 50 năm qua, Hàng Giáo phẩm Việt Nam đã mang sự sống đó một cách đặc biệt, trong một giai đoạn lịch sử khó khăn?
ÐGM. GB. BT: Có thể nói như vậy, nhưng tôi nghĩ cũng không phải là không có những yếu tố mang ý nghĩa của hồng ân Chúa. Ngày 8-12-1960, Hàng Giáo phẩm Việt Nam được thiết lập do Sắc chỉ Venerabilium Nostrorum của Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII. Lúc đó Việt Nam đang còn trong tình trạng chia cắt Bắc, Nam. Bắc sống đạo theo tình hình miền Bắc; Nam sống đạo theo tinh thần miền Nam. Cả hai miền Nam Bắc đều có cùng chung một sự sống Ðức tin như nhau, nhưng mỗi bên có hoàn cảnh và đặc điểm riêng của mình.
Sau biến cố 30-4-1975, Ðất nước thống nhất, hai miền Bắc Nam của Giáo Hội Việt Nam có thể chia sẻ cho nhau sự sống hữu hình và vô hình của mình.
CGvDT: Và biến cố 30-4-1975 cũng là một cột mốc quan trọng về vị trí của Ðức Cha trong Hàng giáo phẩm Việt Nam.
ÐGM. GB. BT: Vâng. Biến cố đó cũng là thời điểm tôi được Toà Thánh chỉ định làm Giám mục. Qua việc bổ nhiệm này, tôi được chính thức tham gia vào Hàng giáo phẩm Việt Nam.
CGvDT: Là một người trong cuộc, Ðức Cha có nhận định gì về vai trò của Hàng giáo phẩm Việt Nam trong giai đoạn đó?
ÐGM. GB. BT: Lúc đó, hoàn cảnh đất nước đã hoàn toàn thay đổi, đặc biệt đối với miền Nam. Có thể nói, rất nhiều tín hữu công giáo hoang mang trước thời cuộc mới. Nhưng Hàng giáo phẩm đã là nguồn ánh sáng soi dẫn cho họ.
Hàng giáo phẩm không thay đổi được lịch sử. Nhưng Hàng giáo phẩm giúp cho các tín hữu thay đổi cái nhìn của mình. Cái nhìn được thay đổi không do sáng kiến tự ý, nhưng do nền tảng Kinh Thánh. Hàng giáo phẩm không đưa ra một lúc, nhưng dần dần tuỳ dịp, tuỳ vào những chuyển biến của thời cuộc, nhưng luôn đặt nền tảng trên Tin Mừng của Ðức Giêsu và Giáo huấn của Hội Thánh.
CGvDT: Nhìn lại, trong giai đoạn mới mẻ và đầy khó khăn, đó, Hàng giáo phẩm Việt Nam có những khuôn mặt lớn đã góp phần rất quan trọng trong việc đề ra những đường hướng mục vụ cần thiết cho Giáo Hội Việt Nam?
ÐGM. GB. BT: Tôi cũng nghĩ như vậy. Và, theo con mắt Ðức tin, chúng ta có thể coi đó là sự quan phòng của Chúa đối với cộng đoàn bé nhỏ của Người tại Ðất nước này.
CGvDT: Xin Ðức Cha nêu lên một số những thay đổi cái nhìn mà Hàng giáo phẩm Việt Nam đã giúp cho các tín hữu của mình?
ÐGM. GB. BT: Ðã có rất nhiều thay đổi. Nhưng theo tôi, có bốn thay đổi đáng được nêu lên. Ðó là:
1. Sám hối và bám chặt vào Chúa hơn trước.
2. Giới thiệu vinh quang của Chúa một cách khác trước.
3. Thực hiện việc nên thánh một cách khác trước.
4. Tìm nghị lực ở những nguồn khác trước.
CGvDT: Xin phép Ðức Cha để đi sát hơn vào bốn thay đổi mà Ðức Cha vừa nêu lên. Trước hết, “Sám hối và bám chặt vào Chúa hơn trước”. Ðây là một thái độ sống Ðức tin của người công giáo phải luôn sống!
ÐGM. GB. BT: Ðúng vậy, trước kia người theo đạo có quan tâm đến sám hối, đến đời sống nội tâm. Nhưng sau biến cố 30-4-1975, hai miền đạo Bắc Nam thấy mọi sự xảy tới không như mình tưởng, nên đã quay về với Chúa sâu hơn, trọn vẹn hơn. Họ thực hiện triệt để các lời Chúa Giêsu phán: “Hãy sám hối trở về, vì Nước Trời đã gần” (Mt 4,17); “Nước Trời không đến như điều có thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói: Ở đây này, hay: Ở kia kìa, vì này Nước Trời đang ở giữa anh em” (Lc 17,20-21).
Tôi còn nhớ những cuộc tĩnh tâm cho linh mục giáo phận sau 30-4-1975. Hoàn cảnh vật chất lúc đó rất eo hẹp, nhưng tất cả các linh mục đều rất sốt sắng. Các ngài chỉ lo cầu nguyện, sám hối, bám chặt vào Chúa. Không đủ giường chiếu, nhiều linh mục trẻ về tĩnh tâm tình nguyện nằm đất. Lúc đó, tôi cảm thấy bầu khí tĩnh tâm chìm ngập trong lửa Chúa Thánh Thần.
CGvDT: Và với một thái độ như thế, sẽ dẫn đến thay đổi thứ hai mà Ðức Cha nêu lên: “Giới thiệu vinh quang của Chúa một cách khác trước”, “Một cách khác trước” phải chăng là sự từ bỏ cơn cám dỗ triền miên về quyền và vinh quang bên ngoài mà Giáo Hội thường gặp?
ÐGM. GB. BT: Trước đây, nhiều nơi có thói quen giới thiệu vinh quang của Chúa qua những hoành tráng, đắc thắng của Giáo Hội. Nhưng sau khi Giáo Hội Bắc Nam gặp gỡ nhau, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau, Hàng giáo phẩm Việt Nam đã không ngần ngại giới thiệu vinh quang của Chúa được tỏ hiện ở sự khiêm nhường, khó nghèo của Chúa tại hang đá Bêlem và sự hy sinh đau đớn của Chúa trên thánh giá tại núi Canvê.
Mọi tín hữu được Chúa gọi hãy giới thiệu vinh quang Chúa qua đời sống khiêm tốn, khó nghèo và hy sinh. Tất nhiên, họ sẽ phải chịu nhiều đau khổ, hy sinh. Nhưng nhờ nhìn lại gương Chúa Giêsu xưa, họ được an ủi và bình an.
CGvDT: Từ đó, người công giáo Việt Nam sẽ “Thực hiện việc nên thánh một cách khác”?
ÐGM. GB. BT: Trước đây, không thiếu người cứ tưởng nên thánh là phải làm những việc lớn lao. Nhưng hoàn cảnh cụ thể của giai đoạn mới kêu gọi người ta nhớ lại việc nên thánh chỉ đơn sơ là thực thi ý Chúa. “Không phải những ai kêu 'lạy Chúa, lạy Chúa', là được vào Nước Trời, nhưng chỉ những ai thực thi ý Cha Ta là Ðấng ngự trên trời” (Mt 7,21).
Thánh ý Chúa về mỗi người là chu toàn bổn phận bình thường của mình, nhưng một cách khác thường. Lúc đó, “Nước Chúa không phải là chuyện đồ ăn, thức uống, nhưng là công lý, bình an và hoạn lạc trong Chúa Thánh Thần” (Rm 14,17).
Công lý, bình an và hoan lạc trong Chúa Thánh Thần sẽ đến với ta, khi ta sống Tám Mối phúc. Ðây là những liên đới xã hội rất thường, nhưng rất khó. Tuy nhiên, nhờ ơn Chúa, bao người sống Ðức tin trong giai đoạn khó khăn đã thực hiện được.
Tôi đã chứng kiến rất nhiều cảnh sống vâng phục thánh ý Chúa trong đời thường. Ðời thường là cuộc sống làm ăn, cuộc sống gia đình, cuộc sống tham gia vào văn hoá và sinh hoạt xã hội, ngay cả những cảnh chịu bệnh tật, chịu oan ức, sỉ nhục. Họ đã vâng phục thánh ý Chúa một cách khác thường, nghĩa là với động lực thiêng liêng cao cả.
CGvDT: ...và “Tìm nghị lực ở những nguồn khác trước”?
ÐGM. GB. BT: Trước đây, nhiều tín hữu để mình trôi theo trào lưu tìm nguồn nghị lực ở những đối tượng khác nhau như: Thế lực chính trị, thế lực kinh tế, thế lực danh vọng. Nhưng sau những thử thách đau đớn, nhiều người đã tập trung tìm nguồn nghị lực ở cầu nguyện, thánh lễ, suy niệm và phục vụ yêu thương. Nói tắt là lúc khó, họ thực hiện triệt để hơn lời Chúa Giêsu phán xưa: “Hãy tìm Nước Trời và sự công chính của Chúa trước, rồi mọi sự khác sẽ được ban cho chúng con sau” (Mt 6,31).
CGvDT: Vâng, nhưng theo Ðức Cha, những “ánh sáng thích hợp” cho tương lai của cộng đoàn Dân Chúa tại Việt Nam sẽ là gì?
ÐGM. GB. BT: Tôi không ngần ngại đưa ra một hình ảnh trong Phúc Âm, mà Ðức Thánh Cha Bênedictô XVI đã dùng làm tựa đề cho một cuốn sách của Ngài: “Chúng con hãy là muối của đất” (Mt 5,13).
Rõ ràng đất chiếm đại đa số. Muối luôn giữ một địa vị thiểu số rất nhỏ, rất âm thầm. Nhưng nó lại có sức mang lại sự sống cho đất.
Người công giáo Việt Nam phải rất mặn về tình yêu đối với Chúa và đối với tha nhân. Chúa muốn như vậy, để họ có thể góp phần đem tình yêu cứu độ cho thế giới hôm nay.
Theo hướng suy nghĩ đó, tôi thấy ánh sáng thích hợp cho Giáo Hội Việt Nam hiện nay sẽ là đào tạo người công giáo Việt Nam nên muối của đất.
CGvDT: Cuối cùng, là một trong những Giám mục, tuy gia nhập Hàng giáo phẩm Việt Nam chỉ từ tháng 4-1975, nhưng lại là thời điểm khởi đầu của một giai đoạn đổi thay lịch sử quan trọng, và hiện nay đã về hưu và được nhiều người coi là một trong những trụ cột của Hàng giáo phẩm Việt Nam trong giai đoạn sau 1975, Ðức Cha nghĩ gì về vai trò của Hàng giáo phẩm Việt Nam hiện nay?
ÐGM. GB. BT: Tôi luôn bé nhỏ. Bây giờ càng nhỏ bé hơn, do tình trạng về hưu và tuổi cao sức yếu.
Cảm nghĩ của tôi đối với Hàng Giáo phẩm Việt Nam lúc này là: Mọi người trong mọi địa vị khác nhau đều hiệp thông trong sứ vụ “Kẻ được sai đi”.
Là những nhà lãnh đạo, Hàng Giáo phẩm Việt Nam hôm nay luôn cố gắng nhìn sâu trong hiện tại và nhìn xa trong tương lai.
Hiện tại không đơn giản. Tương lai không dễ dàng. Với tinh thần trách nhiệm cao, Hàng Giáo phẩm Việt Nam đi lên phía trước trong ý thức sâu xa về mầu nhiệm thánh giá: “Vinh dự của chúng ta là thập giá Ðức Kitô. Nơi Người ơn cứu độ ta, sức sống của ta và sự phục sinh của ta”.
Năng động và khiêm tốn, Hàng Giáo phẩm Việt Nam hôm nay luôn làm chứng niềm tin nơi Thiên Chúa giàu lòng thương xót.
CGvDT: Xin chân thành cám ơn Ðức Cha về cuộc phỏng vấn này.
Long Xuyên, ngày 18 tháng 11 năm 2007

 

Bùi-Tuần 1754: Gặp gỡ Chúa Giêsu

Nhân lễ Giáng Sinh
 

Lễ Noel có muôn màu sắc. Người thì lo mừng lễ. Người thì lo sắm quà lễ. Người thì lo ăn lễ Bùi-Tuần 1754

Lễ Noel có muôn màu sắc. Người thì lo mừng lễ. Người thì lo sắm quà lễ. Người thì lo ăn lễ. Người thì lo thăm bạn bè dịp lễ. Người thì lo đi nghỉ lễ. Người thì lo tổ chức lễ.
Ðáng chú ý nhất là dịp lễ này nhiều người lo đến hang đá để có những gặp gỡ.
Thực sự, nhiều gặp gỡ đã diễn ra. Nhưng không phải gặp gỡ nào cũng vì mến Chúa.
Xưa, khi nghe Ðấng Cứu thế giáng trần, vua Herôde đã nôn nóng muốn gặp Người, nhưng với ý đồ xấu, đó là để sát hại Người.
Xưa, dân cư ở Bêlem cũng đã gặp hai ông bà Giuse Maria đi tìm chỗ trọ. Nhưng vì thấy hai ông bà quá nghèo, nên họ đã từ chối đón nhận.
Vì thế, kỷ niệm biến cố Ðấng Cứu thế giáng sinh cũng gián tiếp nhớ lại sự kiện Người bị chối từ và bị lùng bắt.
Nay, lễ Noel, nhiều người coi như đến tìm gặp Chúa. Nhưng, có người chỉ tìm ngắm tượng ảnh, xem cảnh hang đá đèn sao nhấp nháy. Có người tìm đến hang đá, chỉ để quay phim chụp ảnh. Có người đi tham quan hang đá, chỉ để giải trí, để gặp bạn, để tham gia bầu khí lễ hội, để mua bán, để khoe áo quần. Thậm chí, cũng có người đến hang đá, để chỉ tìm ăn trộm ăn cắp.
Thành ra, động lực đến hang đá ngày Noel rất tản mát.
Tuy nhiên, số người đến hang đá, do động lực muốn gặp gỡ chính Chúa Giêsu vì tình mến, không phải là ít. Mỗi người có những kinh nghiệm riêng tư về sự gặp gỡ này. Ở đây tôi chỉ đề cập tới ba kinh nghiệm.

 1/ Gặp gỡ Chúa trong chính tâm hồn mình, để sống nội tâm
Với lòng khao khát, họ nhìn Chúa Giêsu là Ðấng Cứu thế của họ. Họ muốn được gặp Người. Họ cầu nguyện, hồi tâm, dự lễ. Và Chúa đã đến. Chúa đến trong lòng họ. Lòng họ là máng cỏ, mà Chúa ưa thích. Chúa biến đổi họ nên mới.
Trong gặp gỡ nội tâm, họ như nghe được hơi thở của Hài nhi Giêsu, họ như thấy được một Ðấng vô hình, họ như nếm được sự ngọt ngào của tình yêu cứu độ, họ như chạm đến được dòng chảy sự sống thiêng liêng. Ngũ quan thiêng liêng của họ bỗng được đánh thức dậy. Họ cảm thấy lời Chúa phán sau đây đang thực hiện nơi họ: “Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến với họ và ở lại trong người ấy” (Ga 14,23).
Việc Chúa đến trong nội tâm mở ra cho nội tâm con người một chiều kích thiêng liêng sâu thẳm. Con người cảm thấy sự hiện diện của một Ðấng yêu thương mầu nhiệm gọi mình. Và họ sẽ trả lời: “Lạy Chúa, Chúa đến gọi con. Này con đây”.

 2/ Gặp gỡ Chúa Giêsu để đón nhận ơn bình an
Rất nhiều người, lễ Noel, đã gặp gỡ Chúa trong cầu nguyện, và Chúa đã ban cho họ một quà tặng quý giá, đó là ơn bình an.
Ơn bình an là ơn được nhắc đặc biệt trong lễ Noel. Những ai được ơn bình an đêm Noel sẽ cảm nghiệm được lời Chúa Giêsu phán hứa sau này: “Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban cho các con bình an của Thầy. Thầy ban cho các con không như thế gian ban” (Ga 14,27).
Có thể nói: Ơn bình an Chúa ban trong lễ Noel sẽ được hiểu cùng với hình ảnh những người chăn chiên khó nghèo bé mọn, nhất là cùng với hình ảnh Hài nhi Giêsu khiêm hạ nghèo khó.
Bé mọn, khiêm tốn, khó nghèo, chỉ cậy tin phó thác nơi Chúa. Ðó là nguồn gốc sự bình an Phúc Âm. Chúa Giêsu đã nói về ơn đó nhiều lần sau này. Như: “Thầy bảo thật các con, nếu các con không quay trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,3).
“Lạy Cha là Chúa trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11,25-26).
Ðức Mẹ Maria cũng đã đề cao kẻ khiêm nhường, bé mọn. “Chúa nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư” (Lc 1,52-53).
Ai nhận thức mình không có gì để tự mãn, không khao khát được giàu có hơn, được hưởng thụ hơn, được uy tín hơn, nhưng ý thức mình nghèo hèn về mọi mặt, chỉ vâng phục ý Chúa, chỉ đợi chờ mọi sự nơi Chúa, người đó sẽ được ơn bình an sâu xa của Chúa ban cho.
Ai vui lòng chấp nhận sự mong manh của mình, sự nghèo hèn của mình, sự phục vụ âm thầm và sự chia sẻ bé nhỏ của mình, người ấy sẽ được ơn bình an. Ơn bình an này đòi nhiều phấn đấu.

 3/ Gặp gỡ Chúa Giêsu, để biết tham dự vào vẻ đẹp cứu độ
Khi gặp gỡ chính Chúa Giêsu trong hồi tâm thinh lặng, người ta sẽ thấy vẻ đẹp cứu độ của Thiên Chúa. Vẻ đẹp đó không phải là những vinh quang lẫy lừng trước quần chúng đông đảo, những cuộc đắc thắng uy phong lẫm liệt đè bẹp quân thù, nhưng là tình yêu với hy sinh.
Con đường cứu độ Chúa đã chọn là tình yêu khiêm nhường, là tình yêu hy sinh, là tình yêu gánh đau khổ thay cho nhân loại.
Tình yêu cứu độ của Chúa giáng sinh ở Belem là thế. Tình yêu cứu độ của Chúa tử nạn ở Calvê cũng vậy.
***
Chia sẻ vắn tắt trên đây cho thấy: Lễ Chúa Giáng sinh là một kho tàng vô tận. Vẻ đẹp cứu độ là từ trên. Ơn bình an là từ trên. Sống nội tâm là từ trên. Ba ơn từ trên đó soi sáng cho thời sự sống đạo hôm nay.
Ðạo Công giáo đang và sẽ còn là thiểu số ở Á đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Ðiều đó không quan trọng. Ðiều quan trọng đáng ta phải quan tâm, là mỗi người công giáo chúng ta phải thực sự đạo đức, theo gương Chúa Giêsu trong háng đá Belem.
Ðược như vậy, chúng ta mới có thể đi về tương lai lịch sử, với hy vọng góp phần đáng kể vào việc phục hưng và phát triển đạo đức cho Quê Hương Việt Nam chúng ta.
Xin Mẹ Maria giúp chúng ta biết luôn tỉnh thức, để gặp được Chúa đi vào lịch sử của riêng ta, lịch sử của khắp Hội Thánh, và lịch sử chung của Ðất Nước chúng ta.
Long Xuyên, ngày 29 tháng 11 năm 2007

 

Bùi-Tuần 1755: BÀI PHỎNG VẤN

1/ Sách đầu tiên Ðức Cha viết và xuất bản là cuốn nào?
 ÐGM. BT:
 

Hồi còn là Ðại chủng sinh, tôi đã viết và được phép xuất bản cuốn: Tôn sùng Ðức Thánh Cha, khoảng Bùi-Tuần 1755

Hồi còn là Ðại chủng sinh, tôi đã viết và được phép xuất bản cuốn: Tôn sùng Ðức Thánh Cha, khoảng năm 1950, tại Nam Ðịnh. Hồi di tản sang Hongkong và vào Nam, tôi không mang theo được cuốn nào.
Thời làm Linh mục, cuốn đầu tiên được in ra là cuốn: Nói với chính mình.
Thời làm Giám mục, sách đầu tiên được phát hành là: Nói với giáo dân.

2/ Tổng số sách Ðức Cha đã cho in khoảng bao nhiêu?
 ÐGM. BT: Khoảng trên 10 cuốn.
3/ Ðức Cha có nhận được phản hồi của độc giả không?
 ÐGM. BT: Có vài phản hồi khuyên tôi không nên viết nữa. Ý kiến đó làm tôi suy nghĩ nhiều. Nhưng vì số ý kiến tán thành, đợi chờ tôi vẫn rất đông. Nên tôi tiếp tục viết. Hơn nữa tôi nghĩ: Hoan nghênh hay chê trách là quyền tự do mỗi người. Còn tôi, tôi sẽ viết theo ơn gọi của tôi.

4/ Ðức Cha coi việc viết sách báo, là ơn gọi của Ðức Cha?
 ÐGM. BT: Ðối với tôi, tôi coi việc đó là một cách loan báo Tin Mừng, là một cách làm mục vụ.

5/ Ðức Cha có muốn nhiều Linh mục viết sách báo như Ðức Cha không?
 ÐGM. BT: Nói chung, viết sách báo là việc không phải hễ muốn là làm được. Phương chi viết về tôn giáo.
Tất nhiên tôi rất muốn có nhiều linh mục viết về đạo. Nhưng cần có khả năng và say mê phục vụ.

6/ Ðể viết một bài báo, thường Ðức Cha bỏ ra bao nhiêu thời giờ?
 ÐGM. BT: Tuỳ đó. Viết ra thì tương đối mau, còn trước đó thời gian suy nghĩ và cầu nguyện thì lâu.

7/ Ðức Cha soạn bài bằng đánh máy hay viết tay?
 ÐGM. BT: Luôn luôn bằng viết tay. Nên nhiều khi tay đau và lưng nhức. Vì phải ngồi bàn viết lâu.

8/ Ðức Cha có hay đọc các sách báo do các linh mục viết không?
 ÐGM. BT: Có. Nói chung, tôi thích đọc những tác phẩm có hồn, và sát với cuộc sống.
Ngoài sách báo đạo, tôi vẫn thích đọc những tác phẩm văn và thơ có những hình ảnh về nông thôn, nông dân, nông nghiệp. Cách riêng là về đồng bằng sông Cửu Long, nơi đã đang nâng đỡ tôi, và tôi rất gắn bó.

9/ Hiện tại, với tuổi tác và sức khoẻ yếu, Ðức Cha thích viết về đề tài nào?
 ÐGM. BT: Ðã lâu rồi, tôi luôn ý thức tôi đang đi về nhà Cha. Nên dù thức dù ngủ, tôi chỉ mơ ước dùng thời giờ còn lại, để chia sẻ những kinh nghiệm và những hoài niệm.
Mơ ước quá bé nhỏ. Nó sẽ thành đạt tới mức nào, chắc chắn không chỉ tuỳ thuộc vào thiện chí của tôi, mà còn tuỳ thuộc vào nhiều điều kiện, nhất là lòng thương xót của Chúa.
Dù sao, mơ ước này có lúc sẽ phải mờ đi và chấm dứt với sự suy tàn và ra đi của tôi. Ngay bây giờ, tôi xin hết lòng cảm ơn quý độc giả thân yêu xa gần.
Long Xuyên, ngày 13 tháng 12 năm 2007

 

Bùi-Tuần 1756: Tôi mới đọc cuốn “50 năm nhìn lại”

Long Xuyên, ngày 28 tháng 7 năm 2008
Kính gởi    Anh Nguyễn Thanh Long
          Báo Công giáo và Dân tộc.
 

Tôi mới đọc cuốn “50 năm nhìn lại” của Linh mục Trương Bá Cần, do Công giáo và Dân tộc Bùi-Tuần 1756

Tôi mới đọc cuốn “50 năm nhìn lại” của Linh mục Trương Bá Cần, do Công giáo và Dân tộc tặng. Sách nói về dĩ vãng gần của Việt Nam, trong đó một thiểu số mang tên phong trào tiến bộ đã muốn góp phần nhỏ vào những chuyển biến của Công giáo tại Việt Nam.
Sách viết công phu.
Ở đây tôi không phê bình. Tiện dịp, chỉ xin trình bày vài tư tưởng, tôi đã dùng làm thước đo, để nhận ra điều gì là tiến bộ của một nếp sống đạo.
Tất cả đều được rút ra từ Công Đồng Vatican II, trong Hiến chế mục vụ “Giáo Hội trong thế giới ngày nay”.
1/ Phục vụ trong yêu thương
“Nhớ lại lời Chúa 'Nếu các con thương yêu nhau, thiên hạ sẽ cứ dấu ấy mà nhận biết các con là môn đệ Thầy' (Ga 13,35).
“Người Kitô hữu không thể tha thiết mong ước gì hơn là luôn luôn phục vụ con người trong thế giới ngày nay một cách quảng đại và hữu hiệu hơn.
Không phải những ai nói “Lạy Chúa, lạy Chúa, sẽ được vào Nước Trời. Nhưng chỉ có những ai thực hiện ý Chúa Cha” (Mt 7,21) và can đảm làm việc. Thực thế, Chúa Cha muốn chúng ta nhận Chúa Kitô là anh cả trong tất cả mọi người và yêu mến Người cách cụ thể bằng lời nói cũng như bằng việc làm. Như vậy, chúng ta làm nhân chứng cho chân lý và truyền thống cho những kẻ khác mầu nhiệm của Chúa Cha trên trời” (Hc. Giáo Hội trong thế giới ngày nay, số 93).
Nhìn nhận Đức Kitô trong tất cả mọi người và yêu mến Người một cách cụ thể. Đó là điều không phải mọi người công giáo Việt Nam đã thực hiện. Nhưng số người thực hiện  không phải là quá ít. Họ đang phục vụ quê hương một cách can đảm trong sáng, làm chứng không phải cho một Giáo Hội quyền lực và đắc thắng, mà là cho một Giáo Hội phục vụ và hoà giải. Họ đáng gọi là người công giáo tiến bộ, với ý nghĩa cao đẹp của từ tiến bộ.
2/ Đưa phục vụ yêu thương vào nền văn hoá dân tộc
“Trung thành với truyền thống riêng và đồng thời ý thức sứ mệnh phổ quát của mình, Giáo Hội có thể hoà mình vào nhiều hình thức văn hoá khác nhau, nhờ đó, chính Giáo Hội và các nền văn hoá ấy đều được phong phú hơn” (Hc. Giáo Hội trong thế giới ngày nay, số 58).
Đưa tình yêu Phúc Âm vào nền văn hoá dân tộc trong bất cứ hoàn cảnh nào, đó là một việc làm tiến bộ. Chúng ta đang thấy sự kiện đó nơi không ít người công giáo tại Việt Nam, dù họ ở mức độ trí thức nào.
Nền văn hoá dân tộc vốn đậm đà yêu thương phục vụ. Bác ái Phúc Âm chỉ có thể được đón nhận vào đó, khi có thực chất yêu thương, khiêm nhường, quảng đại và vị tha.
3/ Phát triển toàn diện con người từ tiềm năng nội tại
“Các dân tộc đang phát triển cần phải chú tâm nhiều đến việc theo đuổi sự phát triển toàn vẹn cho người công dân. Một cách rõ ràng và cương quyết, họ phải theo đuổi việc phát triển này như mục tiêu của sự tiến bộ. Họ phải nhớ rằng sự tiến bộ phát sinh và gia tăng trước hết là ở sự làm việc và tài nghệ của chính dân tộc mình, nghĩa là sự tiến bộ không chỉ căn cứ vào viện trợ của ngoại bang, nhưng tiên vàn căn cứ vào việc khai thác đầy đủ những tài nguyên của xứ sở cũng như vào việc phát triển văn hoá và truyền thống riêng của mình (Hc. Giáo Hội trong thế giới ngày nay, số 86).
Phát triển toàn diện con người, cả mặt đời mặt đạo với những tiềm năng nội tại một cách tự trọng và khôn ngoan, đó là một việc tiến bộ, vừa hợp Công Đồng vừa hợp tinh thần dân tộc. Nhiều người công giáo Việt Nam đang thực hiện  điều đó trong nhiều lãnh vực. Khó khăn không ít. Nhất là khi phong trào thực dụng ngoại bang đang tràn vào cả đạo cả đời tại Việt Nam ta.
Tôi thấy những gì Công Đồng Vatican II dạy trên đây vừa là xã hội vừa là tôn giáo. Có một cái gì rất tâm linh, với nhiều phấn đấu và đớn đau. Tới được đó là tiến bộ.
Tiến bộ này đòi một tinh thần cầu nguyện ngoan ngoãn với ơn Chúa Thánh Thần. Tương lai Giáo Hội Việt Nam sẽ tốt đẹp nhiều hay ít là tuỳ ở những bước tiến bộ về:
- phục vụ yêu thương,
- đưa bác ái Phúc Âm vào nền văn hoá dân tộc,
- phát triển toàn diện con người với tinh thần tự hào dân tộc chính đáng.
Giống như một của lễ hiến dâng sống động.

 

Bùi-Tuần 1757: Khiêm nhường trong ơn gọi Linh Mục và Tu Sĩ

Chúa nhật thứ IV sau Phục sinh được chọn là ngày cầu cho ơn gọi linh mục và tu sĩ.Khi nói về Bùi-Tuần 1757

Chúa nhật thứ IV sau Phục sinh được chọn là ngày cầu cho ơn gọi linh mục và tu sĩ.
Khi nói về việc cầu cho ơn gọi linh mục và tu sĩ, chúng ta thường hiểu thế này: Xin Chúa thương ban cho Hội Thánh nhiều linh mục và tu sĩ thánh thiện. Nghĩa là chúng ta nghĩ đến lượng và phẩm.
Lời cầu trên đây là chính đáng. Rất nhiều nơi thiếu linh mục và tu sĩ. Rất nhiều nơi có số linh mục và tu sĩ tương đối đông, nhưng không phải tất cả số đông đó đều thánh thiện.
Ở đây, tôi xin phép giới hạn chia sẻ vào mặt thánh thiện. Trong thánh thiện, tôi để ý đến một nhân đức mà thôi, đó là đức khiêm nhường.
Khiêm nhường cũng là lãnh vực rộng lớn. Nên, tôi chỉ xin nói thoáng qua về vài điểm, mà thực tế hiện nay thúc bách.

 1/ Khiêm nhường nhận mình bất xứng với chức quyền được trao
Thánh vương Ðavít đã rất khiêm nhường, khi nói mình chỉ là kẻ ngu si, như con vật.
“Con quả ngu si chẳng hiểu,
trước mặt Ngài, con như thú vật mà thôi” (Tv 72,22).
Còn Ðức Mẹ Maria, khi được Chúa chọn, đã cúi đầu nhận mình chỉ là “người nữ tỳ của Chúa” (Lc 1,38).
Trong Kinh Thánh và truyện các thánh có vô vàn gương khiêm nhường trước mọi chức mọi quyền được trao ban.
Trên thực tế tại Việt Nam, rất nhiều linh mục và tu sĩ đã theo gương khiêm nhường các thánh để lại và Kinh Thánh đã dạy.
Thế nhưng, cũng không thiếu trường hợp khiến những ai có trách nhiệm đào tạo nhân sự của Hội Thánh phải cảnh giác.
Bởi vì:
Ðã có những đấu tranh trong lãnh vục chức quyền. Ðã có những vận động để được địa vị. Ðã có những giới thiệu chính mình như ứng viên xứng đáng của những trọng trách. Ðã có những lễ tạ ơn và giới thiệu quá đáng sau khi được chức tước.
Trong đạo những trường hợp đó bị coi là xa lạ với tinh thần khiêm tốn của Phúc Âm. Tuy hiện nay những trường hợp như thế không nhiều, nhưng nếu không cảnh giác, cứ để chúng tự do phát triển, thì chúng ta có lý do để sợ: Chức vụ linh mục và tu sĩ có thể bị tục hoá. Lúc đó, sẽ thực hiện lời Chúa phán: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1 Pr 5,5). Tình hình như thế sẽ đưa Hội Thánh về đâu?

 2/ Khiêm nhường khi gặp thử thách
Không linh mục, tu sĩ nào mà không bị thử thách. Các ngài bị thử thách là để được thanh luyện. Thử thách là một cách Chúa yêu thương.
Có những thử thách đoán trước được. Có những thử thách xảy ra đột ngột.
Có những thử thách thuộc thể xác. Có những thử thách thuộc tâm hồn.
Có những thử thách hợp lý hợp tình. Có những thử thách bất công, vô lý, ngược tình.
Thánh vương Ðavít đã tả cảnh thử thách bằng những lời bi đát như sau:
“Mạng sống con bị chôn vùi như cát bụi
Tấm thân này nằm bẹp dưới bùn đen” (Tv 44,26).
“Thân sâu bọ, chứ đâu còn là người,
Con bị đời mắng chửi, khinh khi,
Thấy con, ai cũng chê cười
Lắc đầu bĩu mỏ, nói lời mỉa mai” (Tv 22,7-8).
Thử thách nhiều khi rất nặng nề. Cho dù đạo đức chấp nhận, con người vẫn cảm thấy đau đớn, nhọc nhằn.
Lúc đó, phải rất khiêm nhường luôn kiên nhẫn. Như lời Chúa Giêsu phán: “Những kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát” (Mt 24,13).
Ai khiêm nhường cầu nguyện sẽ được Chúa ban ơn kiên nhẫn vượt qua được thử thách. Thường thì những thử thách đó thuộc loại lớn.
Thế nhưng, những ai đã có kinh nghiệm trong đời sống linh mục, tu sĩ, sẽ thấy thử thách mà các ngài trải qua thường ngày là rất thường. Như những cám dỗ về tiền bạc, những thiên kiến, những ganh tỵ, những đòi hỏi của xã hội, những áp lực trong nội bộ, nhất là phải vâng lời chu toàn bổn phận hằng ngày.
Chính vì những thử thách trên đây thuộc loại bình thường, xảy ra hằng ngày, nên nhiều linh mục tu sĩ không để ý lắm. Do đó mà dễ vấp ngã.
Chúa Giêsu dạy: “Phải cầu nguyện và tỉnh thức” (Mt 26,44). Nhưng thực tế cho thấy: Về lâu về dài, người ta cũng dễ chểnh mảng với cầu nguyện và tỉnh thức. Thành ra, số người vấp ngã khi gặp thử thách lớn thì không nhiều. Nhưng số người đầu hàng trước những thử thách nhỏ lại khá đông.

 3/ Khiêm nhường trước những biến chuyển của tình hình
Ðời linh mục tu sĩ chúng ta là những biến chuyển lịch sử tiếp nối. Lịch sử đời biến chuyển. Lịch sử đạo chuyển biến .
Trước những biến chuyển lịch sử đạo đời, tôi vừa phải trung thành với cội nguồn Phúc Âm, vừa phải hiện diện có trách nhiệm với từng chặng đường lịch sử, mà tôi không tránh được.
Muốn được thế, tôi phải cố gắng tìm sống Phúc Âm trong từng chặng đường lịch sử một cách hữu hiệu nhất theo ý Chúa.
Ðem chân lý đời đời áp dụng vào tình hình cụ thể nơi chốn và thời gian tôi được sai đến, đó là điều không dễ.
Sẽ là ngây thơ, nếu tôi chỉ biết có cội nguồn Phúc Âm, mà quên hiện tại lịch sử. Sẽ là phản chứng, nếu tôi chỉ lo một phần hiện tại, mà quên giá trị đời đời của Phúc Âm.
Ý thức tầm quan trọng của những biến chuyển trong tình hình, nhiều linh mục tu sĩ đã có những suy nghĩ và hành động sáng suốt, để việc phục vụ cộng đoàn, Hội Thánh và Ðất Nước được hữu hiệu theo ý Chúa. Và đó là khiêm nhường trước những biến chuyển của tình hình.
Long Xuyên, ngày 31 tháng 3 năm 2008

 

Bùi-Tuần 1758: Vui mừng và hy vọng cùng với Giáo Hội Miền Nam

Càng gần tới kỷ niệm ngày 30/4/1975, tôi càng sống hiệp thông sâu sắc hơn với Giáo Hội Miền Bùi-Tuần 1758

Càng gần tới kỷ niệm ngày 30/4/1975, tôi càng sống hiệp thông sâu sắc hơn với Giáo Hội Miền Nam. Bởi vì biến cố 30/4/1975 đã đụng tới Giáo Hội Miền Nam.
Từ ngày đó Giáo Hội Miền Nam đã dần dần đi vào một đường hướng mới. Ðó là sống đức tin giữa lòng dân tộc.
Giữa lòng dân tộc, Giáo Hội Miền Nam đã tích cực làm chứng cho Chúa bằng phong cách đồng hành và dấn thân.
Nhìn vào Giáo Hội Miền Nam hôm nay, tôi xúc động trước một bộ mặt đẹp tươi.
Ðẹp tươi ở chỗ nào?
Thưa đẹp tươi cả về mặt hiện tượng, cả về mặt thực chất.
Xét về mặt hiện tượng, Giáo Hội Miền Nam đã phát triển mạnh về những mảng sau đây:
- a) Phượng tự. Số người tham dự thánh lễ luôn đông đảo sốt sắng. Số nhà thờ mới mọc lên đều khắp, hiên ngang.
- b) Ðào tạo. Các ơn gọi linh mục, tu sĩ, tông đồ giáo dân tăng lên mỗi năm. Các lớp đào tạo được tổ chức dưới nhiều hình thức trong mọi hoàn cảnh.
- c) Văn hoá. Ðã có những cuộc gặp mặt các nhà văn công giáo, các thi sĩ công giáo, các nhạc sĩ công giáo. Ðã có nhiều tác phẩm văn hoá của người công giáo được ấn hành. Ðã có nhiều con em công giáo đi vào các trường Ðại học và Cao đẳng, và xuất thân thành những người hoạt động tốt trong mọi ngành nghề.
- d) Kinh tế. Nhiều nơi nhất là tại thành phố Hồ Chí Minh, nhiều người công giáo đã có mặt trong hội các doanh nhân nổi tiếng. Nhiều vùng công giáo đã vươn lên mạnh mẽ về mặt kinh tế, khiến dư luận phải kính nể.
- e) Bác ái xã hội. Những hoạt động dấn thân vào tầng lớp người nghèo, bệnh tật, cô đơn, càng ngày càng phong phú, nhiệt tình.
- f) Truyền giáo. Tôi đã được chứng kiến sức sống truyền giáo rất mạnh. Truyền giáo với đủ mọi hình thức, từ nhỏ đến lớn, từ âm thầm đến công khai. Số người theo đạo Công giáo ngày càng tăng.
Trên đây là hiện tượng tươi đẹp.
Ðàng sau hiện tượng tươi đẹp là thực chất. Thực chất nói đây là cái hồn của mọi đồng hành và dấn thân. Ðó chính là lòng mến Chúa yêu người.
Ðược tiếp xúc với các nhóm hoạt động phượng tự, đào tạo, văn hoá, kinh tế, bác ái xã hội và truyền giáo, tôi thấy họ được nâng đỡ bởi cầu nguyện và sống Lời Chúa. Họ gặp nhiều đau đớn và phải trải qua nhiều thử thách. Nhưng chính Chúa đã là ánh sáng và sức sống của họ. Họ sống và hoạt động giữa đời như mọi người, nhưng họ vẫn có một cái gì khác. Cái khác đó là đức tin, là lòng mến Chúa, là tình yêu thiêng liêng đối với đồng bào, là tình gắn bó nồng nàn đối với quê hương.
Một điều khiến tôi để ý nhất nơi họ, là họ hoạt động như những người được Chúa sai đi. Xác tín mình được Chúa sai vào đời, họ khiêm tốn và can đảm, phó thác và cầu nguyện tỉnh thức.
Hôm nay, nhìn vào bộ mặt Giáo Hội Miền Nam, tôi vui mừng và hy vọng. Bởi vì tôi thấy: Chúng tôi đồng hành với dân tộc và đã được chính Chúa đồng hành với chúng tôi. Ðồng hành và dấn thân như thế vừa là làm chứng, vừa nêu gương sáng, cũng vừa là đối thoại có bản lãnh, đôi khi cũng là một cách đấu tranh có hiệu quả.
Với tâm tình cảm tạ Thiên Chúa giàu lòng thương xót, tôi nhớ tới những vị giám mục đã qua đời và đang sống. Các ngài đã nêu gương sáng đạo đức cho đoàn chiên. Tôi cũng nhớ tới nhiều linh mục và nhiều thành phần dân Chúa. Họ đã là những ngọn đèn lung linh giữa cuộc đời biến chuyển.
Tôi đặc biệt nhớ tới các anh chị em ngoài công giáo đã chấp nhận chúng tôi trong tinh thần bao dung, tương thân tương ái. Họ đang nhìn nhận Giáo Hội Miền Nam đã có một địa vị đáng trân trọng giữa lòng dân tộc.
Chính niềm an ủi đó đang giúp cho Giáo Hội Miền Nam nhận thức rằng: mầm phá hoại vẫn còn nhiều, ngay trong nội bộ Giáo Hội. Mầm phá hoại nguy hiểm nhất chính là tự mãn xa rời Ðức Kitô. Hãy khiêm tốn và trung thành với Ðức Kitô, để được Chúa ở cùng.
Ngay lúc này, với lòng khiêm tốn, Giáo Hội Miền Nam cũng đang nhận thức sâu sắc về một thử thách mới, đó là tình hình cuộc sống chung của mình và của đồng bào. Một cuộc sống đang được báo trước sẽ gặp nhiều khó khăn, về lạm phát, về giá cả leo thang, về nguy cơ thiếu lương thực, về khả năng bùng phát bệnh tật, tội ác và thiên tai.
Trước tình hình này, cách làm chứng cho Chúa sẽ cần phải sáng suốt, sát với thực tế cụ thể.
Riêng tôi, tôi vẫn ca tụng Chúa vì bao công trình của Người. Tôi tin Chúa luôn ở với chúng ta. Niềm tin đó sẽ được khai triển rộng rãi hơn trong bài chia sẻ: “Ba hình ảnh sống động của Chúa Giêsu”.
Long Xuyên, ngày 14 tháng 4 năm 2008

 

Bùi-Tuần 1759: Nên biết trước

Cuối tháng 5 có lễ kính Thánh Tâm Chúa. Lễ đó sẽ là ngày cầu xin ơn thánh hoá linh mục. Nhân Bùi-Tuần 1759

Cuối tháng 5 có lễ kính Thánh Tâm Chúa. Lễ đó sẽ là ngày cầu xin ơn thánh hoá linh mục. Nhân dịp này, nhiều nơi tại Việt Nam sẽ tổ chức phong chức linh mục cho nhiều phó tế.
Ngày 30 tháng 5 năm nay vì thế sẽ trở thành quan trọng. Quan trọng cho mọi thành phần Hội Thánh, nhưng sẽ quan trọng đặc biệt đối với các linh mục.
Ðể tính cách quan trọng này gây được nhiều kết quả tốt, chúng ta nên gẫm suy nhiều hơn về thánh chức linh mục. Có nhiều đề tài để gẫm suy. Ở đây, tôi chỉ xin gợi ý về một đề tài đã giúp tôi rất nhiều trong đời linh mục. Ðề tài đó là: Nên biết trước.

 1/ Linh mục nên biết trước những đau khổ chờ đợi mình
Ðọc Phúc Âm, chúng ta thấy: Chúa Giêsu đã biết trước và đã loan báo trước về những đau khổ đợi chờ Người.
Chúa Giêsu loan báo trước điều đó nhiều lần nhiều cách. Ở đây chỉ xin nhắc lại lần Chúa nói trước về thân phận của Người. Thân phận của Người là thân phận hạt lúa chôn vào lòng đất.
Chúa nói:
“Thật, Thầy bảo thật anh em
Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất,
Mà không chết đi,
Thì nó sẽ trơ trọi một mình.
Còn nếu nó chết đi
Nói mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24).
Với hình ảnh hạt lúa được gieo vào lòng đất và chết đi, Chúa Giêsu loan báo trước về thân phận của Người và của các môn đệ.
Hình ảnh hạt lúa được gieo vào lòng đất và chết đi không nói gì về vinh quang, trái lại nó nói nhiều về sự khiêm tốn, sự âm thầm của những từ bỏ và những hy sinh.
Ðời sống linh mục phải luôn là như thế. Dù trong chức vụ nào, ở địa vị nào, với tuổi tác nào, người linh mục vẫn phải là hạt lúa gieo vào lòng đất và chịu chết đi.
Thường xuyên phải là thế. Hằng ngày phải như vậy. Không phải thời bị bắt bớ mới gặp số phận đó. Nhưng thời bình cũng phải nêu gương hình ảnh đó. Nghĩa là ơn gọi linh mục coi đời sống từ bỏ là cái gì thuộc căn bản.
Khi Mẹ Maria được Chúa chọn làm Mẹ Ðấng Cứu thế, Ðức Mẹ cũng đã được báo trước về những khổ đau sẽ gặp. “Còn chính Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Bà” (Lc 2,35). Lời tiên tri Simon đã chúc phúc cho Ðức Mẹ bằng những lời tiên báo rất gợi hình về đau khổ lớn lao.
Từ lâu nay, những lời báo trước trong các lễ thụ phong, lễ tạ ơn, đã có phần xa hình ảnh hạt lúa gieo vào lòng đất, và cũng xa hình ảnh một trái tim bị lưỡi gươm đâm suốt. Thay vào những hình ảnh đó, người ta đưa ra hình ảnh ám chỉ chức cao quyền trọng. Chuyển hướng như thế muốn nâng linh mục lên, nhưng thực ra vô tình nó kéo linh mục xuống. Càng nâng lên kiểu đó, thì càng giới thiệu một con người linh mục bước xuống bậc thang tục hoá.
Tinh thần tục hoá đang có khuynh hướng đề cao hình ảnh linh mục tốc độ. Nghĩa là một loại linh mục mau thành công về địa vị, về tiền bạc, về quyền bính, về đấu tranh. Ðó là cơn cám dỗ rất nguy hiểm cần phải cảnh giác.

 2/ Linh mục nên biết trước về những yếu đuối của mình
Phúc Âm thánh Matthêu đã ghi lại sự Chúa Giêsu báo trước về những yếu đuối của môn đệ như sau: “Bấy giờ Ðức Giêsu nói với các tông đồ rằng: Hôm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy. Vì có lời đã chép: Ta sẽ đánh người chăn chiên, và đàn chiên sẽ tan tác... Phêrô liền thưa: Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây sẽ chẳng bao giờ vấp ngã. Ðức Giêsu bảo ông: Thầy bảo thật anh: Nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh sẽ chối Thầy 3 lần. Ông Phêrô thưa lại: Dù phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26,31-35). Tất cả những gì Chúa Giêsu báo trước đều đã xảy ra đúng như vậy.
Các tông đồ đã được Chúa báo trước về sự yếu đuối của mình, mà vẫn không tránh được cảnh tự mình rơi vào hố sâu tội lỗi. Phương chi những người không đón nhận ơn báo trước. Vì thế, người linh mục thực sự đạo đức sẽ rất biết ơn đối với những báo trước về sự yếu đuối của mình. Chính bản thân mình cũng hãy tự biết trước và tự báo trước về khả năng phạm tội nơi mình là rất lớn.
Sự luôn biết trước về tình trạng yếu đuối của mình sẽ giúp cho linh mục biết sống khiêm nhường. Người khác sa ngã, thì chính ta cũng có thể sa ngã. Hôm nay ý chí ta khẳng định ta sẽ không xấu như người nọ người kia, nhưng biết đâu thực tế tương lai sẽ cho thấy ý chí đó sẽ không cứu được ta rơi vào đàng tội.

 3/ Linh mục nên biết trước những biến chuyển kinh hoàng có thể xảy ra nhiều ít cho mình
Phúc Âm thánh Matthêu, đoạn 24, cho thấy Chúa Giêsu báo trước sẽ có những biến chuyển xấu, như:
- Ðền thờ sẽ không còn tảng đá nào trên tảng đá nào (Mt 24,2).
- Sẽ có những giặc giã và tin đồn giặc giã (Mt 24,6).
- Sẽ có những ngôn sứ giả xuất hiện và lường gạt nhiều người (Mt 24,11).
- Sự tội sẽ gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi (Mt 24,12).
- Sẽ có những cơn đói kém, và những trận động đất ở nhiều nơi (Mt 24,7).
Những biến chuyển trên đây đã được báo trước. Nhiều người hiểu các biến chuyển đó theo nghĩa đen. Nhiều người cũng hiểu thêm theo nghĩa bóng. Và như thế, các biến chuyển đó luôn xuất hiện trong đời mọi người, không cách này thì cách khác.
Riêng tôi, khi suy gẫm về những biến chuyển xấu, mà Chúa Giêsu báo trước, tôi đã có nghĩ tới những thiên tai, nhưng tôi nghĩ nhiều hơn đến những tai hoạ do con người gây ra.
Những kẻ gây ra có thể là ở ngoài Hội Thánh, mà cũng có thể ở trong Hội Thánh.
Dù xuất phát từ đâu, mọi tai hoạ Chúa báo trước đều làm tôi lo sợ. Lo sợ đó sẽ được coi là lành mạnh, khi nó giúp tôi biết khiêm nhường chạy đến với Chúa và bám vào Chúa.
Kinh nghiệm cho thấy: Sống những biến chuyển đó với đức tin nhiều linh mục đã kết luận: Không phải tôi đã chọn Chúa, nhưng chính Chúa đã chọn tôi và sai tôi đi.
***
Mấy nhắc nhở trên đây về sự nên biết trước sẽ giúp chúng ta cầu nguyện sốt sắng hơn cho các linh mục được nên thánh.
Thời nay, các linh mục đang bị nhiều thử thách. Biết trước điều đó chính là một ơn Chúa ban. Xin hãy đón nhận ơn Chúa với lòng khiêm tốn cảm tạ.
Long Xuyên, ngày 16 tháng 4 năm 2008

 

Bùi-Tuần 1760: Linh Mục theo Thánh Phêrô

Bài chia sẻ trong thánh lễ Kim Khánh Linh mục của Cha Phêrô Nguyễn Trọng Quí
 

Hôm nay (06.6.2008), chúng ta mừng lễ Kim Khánh Linh mục của Cha Phêrô Nguyễn Trọng Quí Bùi-Tuần 1760

Hôm nay (06.6.2008), chúng ta mừng lễ Kim Khánh Linh mục của Cha Phêrô Nguyễn Trọng Quí. Cha Phêrô xin tôi giảng. Ðức Cha Giuse cũng hợp ý với Ngài. Tôi xin vâng. Ðây sẽ là một chút chia sẻ tâm tình hơn là một bài giảng.
Tôi quen biết Cha Phêrô, từ khi chúng tôi còn học chung tại Ðại Chủng Viện thánh Albertô Nam Ðịnh. Liên hệ vẫn được duy trì trong những thời gian kế tiếp. Ðó là thời gian ngài đi du học, thời gian ngài dạy ở Ðại Chủng Viện thánh Tôma Long Xuyên, thời gian ngài phục vụ ở Pháp và bên Ðức.
Sự hiểu biết về Cha Phêrô, tuy rất giới hạn, nhưng cũng giúp tôi tạ ơn Chúa về một số điểm cụ thể, trong lễ Kim Khánh này.

1/ Trước hết, xin tạ ơn Chúa, vì Chúa đã ban cho Cha Phêrô đức tính đón nhận mọi sai đi mục vụ một cách vui lòng.
Thánh tông đồ Phêrô xưa đã khuyên các bậc kỳ mục rằng: “Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Chúa đã trao phó. Hãy lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng một cách vui lòng, như Thiên Chúa muốn” (1 Pr 5,2).
Khi thánh tông đồ nói về sự trao phó đoàn chiên, Ngài hiểu sự trao phó là do Chúa và Hội Thánh. Trao phó là một sự sai đi. Linh mục nhận sự sai đi một cách vui lòng. Thái độ vui lòng không cấm có những trao đổi, bàn bạc, nhưng vẫn coi quyết định sau cùng là thuộc bề trên.
Cha Phêrô đã luôn đón nhận mọi sai đi như thế. Do đó, người ta gọi Cha là người tốt lành. Chúng ta tạ ơn Chúa vì tinh thần khiêm tốn đó.

2/ Thêm vào ơn ấy, xin tạ ơn Chúa vì đã ban cho Cha Phêrô một đức tính khác, đó là thực hiện bổn phận một cách nhiệt tình tận tuỵ.
Thánh tông đồ khuyên các kỳ mục rằng: “Hãy chăn dắt đoàn chiên Chúa trao phó, không phải vì ham hố tư lợi thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tuỵ” (1 Pr 5,2).
Nhiệt tình tận tuỵ cũng là đức tính mục vụ khá nổi của Cha Phêrô. Ở đây, tôi chi xin nhắc đến việc Cha nhiệt tình tận tuỵ đối với những bệnh nhân, những người già yếu, những người nghèo túng, những người trong thử thách. Cha coi họ là đoàn chiên được Chúa trao cho Cha cách riêng.
Vì thế, không thiếu người gọi Cha là mục tử nhân lành. Chúng ta tạ ơn Chúa vì tinh thần bác ái đó.

3/ Sau hết, xin tạ ơn Chúa vì đã ban cho Cha Phêrô đức tính biết hướng dẫn đoàn chiên bằng nêu gương sáng.
Thánh tông đồ khuyên các vị kỳ mục rằng: “Ðừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã trao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên” (1 Pr 5,3).
Cha Phêrô đã thực hiện lời khuyên đó một cách có lựa chọn. Tôi thấy Cha đã hướng đoàn chiên của Cha đi theo con đường hoà hợp, hoà giải, yêu thương và hy vọng. Gương sáng của Cha về con đường đó đã coi như một đường lối ngôn sứ, góp phần không nhỏ vào sự phát triển truyền giáo cho đồng bào Việt Nam trong nước và ngoài nước.
Sự lựa chọn đó khiến nhiều người gọi Cha là mục tử hiền lành. Chúng ta tạ ơn Chúa vì tinh thần truyền giáo đó.
Hiền lành, nhân lành, tốt lành là những đức tính được Phúc Âm đề cao.
Ðể tạ ơn Chúa vì bấy nhiêu ân huệ, chúng ta cầu xin Chúa cho Cha Phêrô luôn biết nói với Chúa Giêsu lời mà thánh tông đồ Phêrô xưa đã nói: “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa” (Ga 21,27). Lời trên đây vừa là một tuyên xưng lòng mến, vừa là một sám hối chân thành, vừa là cách đối phó với mọi thử thách.

4/ Ðời linh mục, dù vắn, vẫn thường mang nặng yếu đuối, vẫn gặp nhiều thử thách, phương chi đời linh mục dài 50 năm.
Thánh tông đồ Phêrô viết: “Anh em đang bị lửa thử thách. Ðừng ngạc nhiên mà coi đó như một cái gì khác thường xảy đến cho anh em. Ðược chia sẻ những đau khổ của Ðức Kitô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu” (1 Pr 4,12-13).
- Xin tạ ơn Chúa, vì thánh chức linh mục cao quý.
- Xin tạ ơn Chúa, vì cuộc đời linh mục làm chứng cho Chúa.
- Xin tạ ơn Chúa, vì con người linh mục theo tinh thần thánh Phêrô.
- Xin tạ ơn Chúa, vì Chúa là phần gia nghiệp của Cha Phêrô và cũng là phần gia nghiệp của tất cả chúng ta. Amen.
Long Xuyên, ngày 06 tháng 6 năm 2008

 

Bùi-Tuần 1761: Ðối diện với Chúa Giêsu

Bài chia sẻ trong thánh lễ Kim Khánh Linh mục của Cha Phêrô Nguyễn Trọng Quí
 

Hôm nay, được mừng lễ Kim Khánh Linh mục của Cha Phêrô Nguyễn Trọng Quí, tôi thấy vui Bùi-Tuần 1761

Hôm nay, được mừng lễ Kim Khánh Linh mục của Cha Phêrô Nguyễn Trọng Quí, tôi thấy vui đặc biệt. Bởi vì đã khá lâu rồi, Cha ít liên lạc với giáo phận Long Xuyên nói chung và với tôi nói riêng.
Cha Phêrô mời tôi giảng. Ðức Cha Giuse cũng hiệp ý với Cha. Tôi xin vâng. Ðây sẽ chỉ là một chút chia sẻ tâm tình. Tâm tình này phát sinh, khi tôi chiêm ngưỡng với Chúa Giêsu trong cao điểm Người truyền chức linh mục cho các tông đồ.
Anh chị em thân mến,

 I.
Khi truyền chức Linh mục cho các tông đồ, Chúa Giêsu đã làm những việc lạ lùng và nói những lời trối lạ lùng, để tỏ bày tình yêu của Người là một tình yêu hết sức đặc biệt.
 1/ Nét đặc biệt thứ nhất của tình yêu Chúa Giêsu lúc đó là hết sức khiêm nhường
Sự khiêm nhường của Chúa Giêsu được minh chứng bằng việc Người rửa chân cho các môn đệ sắp được lãnh chức linh mục. Khi quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ, Chúa muốn cho các môn đệ hiểu: Làm linh mục là hãy làm chứng cho Ðức Kitô khiêm nhường.
Ðức Giêsu của các linh mục là Ðấng, mà thánh Phaolô diễn tả như người nô lệ: “Ðức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (Pl 2,6-7). Các môn đệ sẽ làm chứng điều đó bằng đời sống khiêm nhường, hết sức khiêm nhường. Khi mặc lấy tinh thần khiêm nhường của Chúa Giêsu, các linh mục sẽ coi sự khiêm nhường như một áo lễ đẹp, nhắc nhở mọi người nhớ lại cội nguồn của chức linh mục là Ðức Giêsu khiêm nhường.

 2/ Nét đặc biệt thứ hai của tình yêu Chúa Giêsu lúc truyền chức linh mục là đặt bác ái lên hàng đầu sự thánh thiện linh mục
Trong giây phút trọng đại thiết lập chức linh mục, Chúa Giêsu đã trối lại điều răn yêu thương “Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34).
Thánh Phaolô quả quyết: “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr, 13,13).
Yêu thương như Thầy đã yêu thương, nghĩa là sẽ bỏ mọi sự, kể cả mạng sống, hy sinh mình trên thánh giá để cứu chuộc nhân loại.
Tôi thấy: Tình yêu hy sinh, từ bỏ mọi sự, vác thánh giá và chết trên thánh giá suốt cuộc đời, đó là thánh lễ kéo nhiều ơn cứu độ nhất của đời linh mục.

 3/ Nét đặc biệt thứ ba của tình yêu Chúa Giêsu lúc truyền chức linh mục là hứa chia sẻ sự sống thân mật của Người cho các môn đệ
Chúa Giêsu nói về sự sống thân mật đó bằng hình ảnh cây nho và cành nho: “Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy các con chẳng làm gì được” (Ga 15,52).
Sự gắn bó này đã được thánh Phaolô diễn tả bằng câu nói sau đây: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
Với câu nói đó, nhiều người coi một linh mục kết hợp mật thiết với Chúa là một thánh đường đẹp nhất có sức làm chứng cho Chúa giữa đời.

 II.
Linh mục tốt phải có ba nét đẹp đó. Nhưng thực tế cho thấy, chính các tông đồ đã là những người tách rời khỏi lý tưởng đó. Các ngài vốn yếu đuối.
- Ông Giuđa đã tách rời bằng việc bán Chúa.
- Thánh Phêrô đã tách rời bằng việc chối Chúa.
- Các tông đồ khác đã tách rời bằng việc lùi xa Chúa, khi Người bị bắt.
Thế nhưng, 11 người đã trở lại. Và các ngài đã làm chứng cho Chúa bằng sự sám hối, trở về với Chúa.
Thưa anh chị em thân mến,
Mấy gợi ý trên đây của tôi thực rất nghèo nàn. Nhân dịp này, tôi xin mỗi người sẽ một mình đối diện với Chúa Giêsu, để hỏi Người và lắng nghe Người về chức linh mục nói chung và về các linh mục nói riêng.
Tôi nghĩ: Những sự ta sẽ biết cũng vẫn giới hạn. Mỗi ơn gọi linh mục là một mầu nhiệm. Mỗi sứ mạng linh mục là một huyền nhiệm. Chỉ mình Chúa mới biết rõ mà thôi.
Phần chúng ta, hãy cầu nguyện cho Cha Phêrô, hãy tạ ơn với Cha Phêrô. Và thân ái cầu chúc Cha Phêrô luôn cố gắng làm chứng cho Chúa bằng:
- Tình yêu khiêm nhường,
- Tình yêu hy sinh từ bỏ,
- Tình yêu kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu. Amen.
Long Xuyên, ngày 6 tháng 6 năm 2008

 

Bùi-Tuần 1762: Sống đạo và sống trong sự thực

Tôi rất vui, khi được nghe nói: “Người công giáo Việt Nam rất đáng tin, vì họ sống trong sự thực Bùi-Tuần 1762

Tôi rất vui, khi được nghe nói: “Người công giáo Việt Nam rất đáng tin, vì họ sống trong sự thực, lương thiện thật thà”.
Tôi rất buồn, khi phải nghe nói ngược lại.
Dư luận không luôn đúng. Nhưng ta nên biết, để mà cảnh giác.
Cách cảnh giác tốt nhất là chúng ta hãy cố gắng luôn sống trong sự thực:
Về Thiên Chúa của ta,
Về bản thân của ta,
Về Hội Thánh của ta,
Về nơi chốn và thời điểm chúng ta được Chúa sai vào.
Theo tu đức và kinh nghiệm, tôi xin nhấn mạnh đến 2 cách giúp ta sống trong sự thực. Ðó là:
- Ði sâu vào việc cầu nguyện.
- Ði sâu vào một nền văn hoá trí tuệ.

 1/ Ði sâu vào việc cầu nguyện
Việc cầu nguyện có nhiều bước. Nhiều người tưởng đọc nhiều kinh sẽ là đi sâu vào cầu nguyện.
Tôi không nghĩ như vậy. Chính tôi vẫn hay cầu nguyện bằng cách lặp đi lặp lại vài kinh quen thuộc, với tâm trí tập trung vào việc xin Chúa đến cứu tôi. Nhất là khi tôi gặp khó khăn. Xác đau đớn, hồn đau khổ. Cả con người tôi như bị đày đoạ. Lúc đó, miệng tôi đọc kinh không ngừng, lòng trí nài xin Chúa ban ơn cho tôi biết chịu đau khổ theo thánh ý Chúa.
Với kinh nghiệm đó, tôi thấy đọc nhiều kinh không phải là không tốt. Thà đọc nhiều kinh hơn là lao mình vào những việc làm xa Chúa. Nhưng tôi nghĩ: Ðọc kinh nhiều chưa phải là đi sâu vào sự cầu nguyện.
Nhiều người tưởng đọc một số kinh nhất định là sẽ đi sâu vào việc cầu nguyện.
Tôi không nghĩ như vậy. Nhưng chính tôi vẫn thích đọc một số kinh nhất định, như lần chuỗi Mân côi, đọc kinh Lòng thương xót Chúa, kinh kính thánh Giuse. Khi đọc những kinh đó với tâm hồn đơn sơ, nài van được gặp Chúa, tôi thấy mình luôn được đổi mới. Tuy nhiên, tôi nghĩ: Ðọc những kinh nhất định đó vẫn chưa phải là đi sâu vào sự cầu nguyện.
Nhiều người tưởng suy gẫm là đi sâu vào việc cầu nguyện.
Tôi không nghĩ như vậy. Chính tôi cũng hằng ngày suy gẫm. Tôi thích chọn những bài suy gẫm được hướng dẫn bởi các thánh và các nhà đạo đức đã đổi mới con người. Suy gẫm thì có trình bày lý lẽ, đào sâu một khía cạnh, rồi kết luận theo hướng nội dung. Nhờ suy gẫm, tôi được dẫn vào một thế giới tư tưởng đạo đức. Tôi cho rằng: Suy gẫm là một bước đi sâu. Nhưng bước đó vẫn chưa hẳn là đi sâu nhiều vào việc cầu nguyện.
Bước đi rất sâu vào việc cầu nguyện chính là chiêm niệm.
Xin đưa ra một cách cụ thể. Chúa Thánh Thần mở mắt tôi nhìn ngắm Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá, hoặc Chúa Giêsu ẩn mình trong phép Thánh Thể. Lúc ấy, tôi và Chúa Giêsu rất gần gũi, rất thân mật. Liên hệ giữa Người và tôi là rất thực, rất riêng tư. Người cho tôi thấy: Người thương tôi bằng tình yêu lạ lùng. Yêu thương là tặng tình yêu vô bờ và hy sinh không giới hạn. Liên lạc của tôi với Người, nếu muốn thành thực, cũng sẽ phải là dâng hiến tình yêu vô điều kiện và hy sinh không biên giới. Người đã cứu tôi bằng tình yêu với hy sinh như thế, thì tôi cũng cộng tác vào chương trình cứu độ của Người bằng tình yêu mang hy sinh như vậy.
Với nhận thức như thế trong chiêm niệm, tôi thấy mọi hình thức cầu nguyện nên hướng về chiều sâu đó. Chiều sâu đó sẽ cho chúng ta thấy sự thực về Chúa, về Hội Thánh Chúa, về bản thân ta, về những linh hồn mà Chúa muốn cứu chuộc nhờ vào sự cộng tác của ta.
Tất cả các liên hệ đúng sự thực giữa ta và Chúa, giữa ta và Hội Thánh Chúa, giữa ta và các linh hồn sẽ chỉ là tình yêu và hy sinh.
Sự thực phải là thế. Chiêm ngắm Chúa Giêsu sẽ loại trừ những gì không phải là tình yêu và hy sinh trong chương trình cứu độ.

 2/ Ði sâu vào một nền văn hoá trí tuệ
Có những sự thực chúng ta chỉ nắm được bằng sự đi sâu vào việc cầu nguyện. Nhưng sự cầu nguyện không thay thế được các việc tự nhiên phải làm trong việc tìm sự thực.
Thực vậy, khi Chúa dùng chúng ta để phục vụ cho chân lý cứu độ, Chúa muốn chúng ta hãy là người đầy tớ khôn ngoan biết phát triển trí tuệ cho mục đích đó.
Trí tuệ là tài năng kiếm tìm sự thực. Sự thực không bao giờ đơn giản. Ðể biết sự thực về một người, về một địa phương, về một thời điểm, về một tình hình, về một biến cố, tôi phải vận dụng trí tuệ một cách trí thức. Không phải những gì nghe được đã là tất cả sự thực. Không phải những gì xem thấy đã là sự thực đầy đủ. Không phải những gì biết được do các nguồn thông tin và dư luận đã cung cấp đúng và đủ sự thực.
Tổng hợp những mảnh sự thực. Phân định cái đúng cái sai theo những tiêu chuẩn khoa học, triết học. Kết luận một cách khách quan tối đa, để phỏng đoán định hướng nội tâm vô hình. Bằng ấy công việc sẽ làm nên một nền văn hoá trí tuệ.
Rất nhiều kinh nghiệm dạy tôi là sự thực đòi phải có một lý trí lương thiện. Tôi phải lương thiện nhìn nhận: Tình thế thay đổi, con người thay đổi, thì sự thực về tình hình và về con người cũng thay đổi. Sự thực của năm đó không thể còn đúng cho năm nay. Vì thế, các sách đạo đức khuyên chúng ta phải hết sức thận trọng khi phải xét đoán. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nói rõ: “Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán, vì anh em xét đoán thế nào, thì anh em cũng sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy” (Mt 7,1). Với lời Chúa phán trên đây, những ai có bổn phận xét đoán, sẽ phải hết sức thận trọng.
***
Từ ít lâu nay, tại Việt Nam, trong đạo ngoài đời đã xảy ra nhiều sự kiện buồn về đời sống không thực. Trước diễn biến phức tạp đó, mỗi người chúng ta hãy lo cho phần rỗi mình bằng một đời sống toả sáng
- Sự thực về tình yêu hy sinh,
- Sự thực về bậc thang giá trị,
- Sự thực về tính thực thà lương thiện.
Chúng ta hãy cố gắng sống tình yêu và sự thực. Còn người ta có đón nhận chứng từ của ta hay không, thì việc đó không thuộc về ta. Xin hãy phó thác đời ta cho Chúa một cách khiêm nhường và yêu mến.
Long Xuyên, ngày 10 tháng 6 năm 2008

 

Bùi-Tuần 1763: Mấy địa chỉ nên biết

Trong đạo có mấy địa chỉ nên biết. Vì ở mấy địa chỉ đó, mỗi người công giáo sẽ gặp được chính Bùi-Tuần 1763

Trong đạo có mấy địa chỉ nên biết. Vì ở mấy địa chỉ đó, mỗi người công giáo sẽ gặp được chính mình dưới nhiều diện mạo khác nhau.
Mấy địa chỉ đó là của cảnh khổ. Tôi xin nêu lên một danh sách tạm.

 I. Mấy địa chỉ nên biết
1/ Nạn nhân của những tai hoạ
Tại hoạ trên đời này thì đa dạng. Như hoả hoạn, bão lụt, mất mùa, động đất, bệnh tật lâu dài, những cái chết thảm thương... Tất cả những tai hoạ đều gây nên tang tóc, mất mát, suy sụp. Nạn nhân của những tai hoạ đều đau khổ. Họ là những địa chỉ chờ đợi tình xót thương.
Phúc Âm kể lại một số địa chỉ như thế đã được Chúa Giêsu đến cứu độ. Như trường hợp bà goá thành Nain. Con trai duy nhất bà chết. Bà theo xác con ra huyệt với nước mắt chan hoà và lòng tan nát. Chúa Giêsu động lòng thương, đã an ủi bà. Người đã làm phép lạ cho đứa con trai đó sống lại (x. Lc 7,11-17).
Hai chị em Matta và Maria có một người em trai là Ladarô. Anh này chết. Hai chị em khóc thương thảm thiết. Nghe tin, Chúa Giêsu đã từ xa đến địa chỉ đám tang. Người đã khóc, và đã làm phép lạ cho Ladarô sống lại (x. Ga 11,1-44).
Chúa Giêsu đã xót thương những người đau khổ, cho dù đau khổ đó là rất riêng tư, chỉ đụng tới một vài cá nhân. Còn chúng ta thì sao? Ðịa chỉ có thể rất gần ta. Nhiều người đã bén nhạy, coi địa chỉ đó là nơi làm chứng “Thương người như thể thương thân”, và là nơi tuyên xưng mình là người của Thiên Chúa tình yêu.

2/ Nạn nhân của những bất bình đẳng
Trên đời này, tình trạng bất bình đẳng là bình thường. Ðối xử bất bình đẳng, thậm chí bất công, vẫn còn khá phổ biến. Nạn nhân của những bất bình đẳng thường mang theo mình một thứ khổ đau không dễ nói ra. Họ là những người già cô đơn, những người bệnh tật nan y, những người nghèo túng, những người bị vu khống, những người tội lỗi bị khinh khi. Họ làm nên một địa chỉ rộng. Người ta không muốn biết tới, nhưng Chúa lại tìm đến với lòng thương xót.
Phúc Âm kể lại chuyện Chúa Giêsu trong đền thờ. “Người thấy những người giàu sang đang bỏ tiền dâng cúng của họ vào thùng tiền. Người cũng thấy một bà goá nghèo túng kia bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm. Người liền nói: Thầy bảo thật anh em: Bà goá này đã bỏ nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà bỏ vào dâng cúng. Còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Lc 21,1-4). Bà goá nghèo đó là một nạn nhân của phân biệt đối xử. Nhưng Chúa Giêsu đã tôn vinh địa chỉ đó.
Dụ ngôn người chủ chiên bỏ 99 con chiên của mình, để đi tìm một con chiên lạc. Khi đã tìm được rồi, ông vác nó trên vai, về khoe với bạn bè. Chúa kết luận: “Tôi nói cho các ông hay, trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì 99 người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7).
Con chiên lạc là một địa chỉ người ta không muốn nói tới. Nhưng Chúa Giêsu đã tìm đến địa chỉ đó. Người quan tâm đến một con chiên lạc trở về hơn 99 con luôn trung thành.
Chớ chi những việc làm trên đây của Chúa Giêsu đổi mới cách đối xử của ta, để chúng ta biết tìm đến các địa chỉ bị loại trừ. Họ không xa chúng ta đâu.

3/ Nạn nhân của những tệ nạn xã hội
Những tệ nạn xã hội đáng ngại nhất là những gương xấu. Những gương xấu về thói quen sử dựng thời giờ một cách thoải mái, cốt để thoả mãn những gì mình thích trong giây phút hiện tại. Tới đâu thì tới.
Những gương xấu về sự chia rẽ, mất tình phản nghĩa, chỉ vì tiền.
Thực rất đáng buồn khi đang xuất hiện những gương xấu đưa người ta đến các thứ bệnh nguy hiểm như Sida, nghiện ngập. Một tệ hại đang lây lan là nếp sống không lương thiện, muốn có tiền bằng bất cứ cách nào, như bài bạc, hụi hè, lường gạt, vay mượn liều lĩnh. Cũng không thiếu gương xấu về cách làm tiền, cả dưới những hình thức coi như đạo đức. Nạn nhân thường dễ rơi vào cảnh nghèo dưới nhiều hình thức kinh khủng.
Chúa Giêsu phán: “Khốn cho thế gian, vì làm cớ cho người ta sa ngã. Tất nhiên phải có những cớ gây nên sa ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta sa ngã” (Mt 18,7).

 II. Sự phức tạp nên biết
Khi đến với các địa chỉ của cảnh khổ, người ta có thể có những thái độ khác nhau, như: Thái độ giao tế xã hội, thái độ kết án, thái độ dửng dưng, thái độ cứu độ.
Thái độ đáng có và phải có là thái độ yêu thương. Yêu thương một cách khiêm nhường. Yêu thương một cách hy sinh quên mình với mục đích cứu độ.
Kinh nghiệm cho thấy: Ðể cứu người khổ, thì chính người khổ phải biết cộng tác vào ơn cứu độ.
Sẽ là quá đơn giản, khi người ta tưởng: Tình xót thương sẽ là một nơi cho ta ỷ lại.
Sẽ là quá đơn giản, khi người ta tưởng: Tình xót thương cứu độ sẽ miễn trừ cho người khổ khỏi phải phấn đấu. Nếu chính người khổ không tự cứu mình với tất cả khả năng mình có, thì lòng xót thương nhiều khi cũng phải bó tay.
Cũng sẽ là quá đơn giản, khi người ta tưởng: Cảnh khổ sẽ chấm dứt với tình xót thương cứu độ. Bởi vì môi trường xã hội, môi trường văn hoá, môi trường gia đình, luôn có sức chi phối mạnh đến việc hình thành cảnh khổ dưới những hình thức mới.
Cảnh khổ vẫn sẽ luôn là vấn đề cần phải đặt ra cho chúng ta. Bởi vì lịch sử rất phức tạp. Chính vì tính cách phức tạp của vấn đề, nên xin phép được giới thiệu một địa chỉ khổ để kết. Ðịa chỉ đó là Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thánh giá.
Hãy chiêm ngắm Người. Người rất nghèo của cải, nhưng rất giàu tình yêu. Tình yêu của Người là tình yêu dâng hiến cam chịu khổ đau. Chính tình yêu dâng hiến này đã cứu chuộc nhân loại. Chúng ta được cứu độ nhờ Chúa Giêsu dâng hiến chính mình với biết bao hy sinh.
Xin hãy giải quyết vấn đề khổ đau trước nhan Chúa Giêsu đau khổ, với Chúa Giêsu đau khổ, trong Chúa Giêsu đau khổ. Bất ngờ, ta sẽ khám phá thấy chính bản thân ta rất nghèo rất khổ, cần được Chúa xót thương cứu độ.
Long Xuyên, ngày 12 tháng 6 năm 2008

 

Bùi-Tuần 1764: Sống cho kẻ khác

Loại người được trân trọng bậc nhất bây giờ là loại người “sống cho kẻ khác”. Tất nhiên, để “sống Bùi-Tuần 1764

Loại người được trân trọng bậc nhất bây giờ là loại người “sống cho kẻ khác”.
Tất nhiên, để “sống cho kẻ khác” đáng được mến yêu thực sự, chúng ta quy chiếu vào mẫu gương Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã sống cho kẻ khác thế nào, thì những ai tin theo Người cũng sẽ sống như vậy.
Suy gẫm của tôi sẽ vắn tắt. Chỉ nêu lên vài gợi ý quan trọng.

 1/ Những hình ảnh về sống cho kẻ khác
Sống cho kẻ khác là một lý tưởng. Lý tưởng này được thể hiện qua nếp sống. Nếp sống ấy là những liên đới với người khác. Những liên đới ấy là cho đi, là phục vụ yêu thương.
Nơi Ðức Kitô, phục vụ yêu thương được diễn tả qua mấy hình ảnh dễ hiểu này:
a) Con chiên hiền lành trên bàn sát tế.
Tiên tri Isaia, ngay từ xa xưa, đã nói về Chúa Giêsu như một con chiên chịu khổ đau, để đền tội cho nhân loại (x. Is 53,7).
Lời tiên tri đó đã được ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu đúng là con chiên bị sát tế, và còn hơn là con chiên được hiến tế. Vì Người tự hiến tế với tất cả ý thức và tự do của mình. Người biết Người chịu khổ hình để cứu chính những kẻ làm hại Người. Hy sinh đến cùng do yêu thương vô cùng.
Sống cho kẻ khác là như thế đó.

b) Hạt lúa mì gieo vào lòng đất và để mình thối đi.
Chính Chúa Giêsu đã tự ví mình như hạt lúa mì rơi vào lòng đất và bị thối đi, để sinh ra nhiều hạt khác (x. Ga 12,24). Chúa cắt nghĩa ngay liền đó. Bị thối đi là hy sinh mạng sống mình. Hy sinh mạng sống chính mình, để kẻ khác được sự sống đời đời. Hy sinh hết mình vì yêu thương đến cùng (x. Ga 12,25).
Sống cho kẻ khác là như thế đó.

c) Tấm bánh nuôi người khác.
Chúa Giêsu ví mình như tấm bánh, tấm bánh trường sinh (x. Ga 6,35). Tấm bánh này là của ăn ban tặng. Tấm bánh ban tặng này là chính bản thân Ðức Kitô suốt đời sống theo thánh ý Chúa Cha. Sống theo ý Chúa Cha là một phấn đấu đòi nhiều hy sinh. Hy sinh vì mến Chúa Cha trọn vẹn và yêu nhân loại tuyệt đối.
Sống cho kẻ khác là như thế đó.

 2/ Kinh nghiệm vì cuộc sống cho kẻ khác
Sống cho kẻ khác theo ba hình ảnh nêu trên là một hướng đi cho đời sống của người môn đệ Ðức Kitô.
Khi đã sống theo hướng đó, họ sẽ có một số kinh nghiệm nội tâm. Dưới đây chỉ là vài kinh nghiệm quen thuộc.

a) Có một cái gì phải từ bỏ trong họ.
Ðiều họ phải từ bỏ hơn cả là cái tôi. Lời Chúa rất rõ ràng dứt khoát: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Từ bỏ mình nhất là bằng sám hối và chu toàn bổn phận.
Từ bỏ mình là điều phải rất tỉnh thức và khiêm nhường. Nếu không, thì “sống cho kẻ khác” sẽ dễ trở thành một môi trường đạo đức giả, để cái tôi ngấm ngầm hoạt động và phát triển trong đó.
Thánh nữ Têrêsa thành Lisieux đưa ra một hình ảnh dễ hiểu. Ngài biết, trước mặt Chúa, có những bàn ăn dành riêng cho những kẻ tội lỗi. Thánh nữ xin được ngồi chung với họ, để đồng cảm những khổ đau, tắm tối, cô đơn dành cho họ. Ngài từ bỏ niềm vui được ngồi chung bàn với những người đạo đức. Từ bỏ đó là vì hy sinh để cầu cho người tội lỗi.

b) Có một cái gì mới được sinh vào lòng họ.
Họ khám phá ra những bước đi mới của Chúa. Chúa đến với họ từ những cái như nghịch với Chúa.
Từ nơi tội lỗi, họ gặp Chúa xót thương đến.
Từ cõi thất vọng, họ gặp Chúa hy vọng đến.
Từ chốn khổ đau, họ gặp Chúa vinh quang đến.
Từ cảnh thất bại, họ gặp Chúa thành công đến.
Từ vùng nô lệ, họ gặp Chúa tự do đến.
Từ đời bất ổn, họ gặp Chúa bình an đến.
Thực sự, khi người môn đệ Ðức Kitô sống cho kẻ khác theo gương Ðức Kitô, thì Ðức Kitô sẽ dẫn họ vào một thế giới chỗ nào cũng có bóng tối. Họ sẽ cứu người khác bằng cách đi cùng với Ðức Kitô vào những bóng tối đó đễ dẫn họ về với Chúa Cha. Hành trình đó là hành trình phục sinh. Nghĩa là sống lại từ cõi chết, từ đau khổ. Hành trình phục sinh đó là từ những thực tại xung quanh họ.

c) Có một cái gì phải đi xa hơn các liên đới người với người.
Cái gì phải đi xa hơn, đó là ơn Chúa. Chúa Giêsu quả quyết: “Không có Thầy, chúng con chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Lời đó được ứng nghiệm nơi những ai theo gương Ðức Kitô sống cho kẻ khác.
Họ sẽ khám phá ra dần dần sự thực này: Mỗi khi họ yêu thương phục vụ đến hy sinh cho người khác, thì chính trong việc đó, họ cảm thấy có Chúa bên họ, có Chúa hành động với họ. Họ sẽ cảm thấy có một sự hiện diện nhiệm mầu trong họ. Họ sống cho kẻ khác. Kẻ khác là người khác, kẻ khác cũng là chính Chúa. Sự cảm nghiệm đó giúp họ có một cuộc sống như mọi người, nhưng cũng khác mọi người.
***
Ðến đây tôi nghĩ đã kể lại đôi chút về những gì Chúa đã làm nơi những người sống cho kẻ khác theo gương Ðức Kitô.
Họ đúng là những chứng nhân của Tin Mừng.
Họ đang được Chúa dùng để mở Nước Chúa tại quê hương Việt Nam hôm nay.
Xin hết lòng cảm tạ Chúa giàu lòng thương xót.
Long Xuyên, ngày 01 tháng 11 năm 2008

 

Bùi-Tuần 1765: Khả năng yêu thương

Thiên Chúa giáng trần là một biến cố lịch sử. Ðể kỷ niệm biến cố trọng đại đó, chúng ta hằng Bùi-Tuần 1765

Thiên Chúa giáng trần là một biến cố lịch sử. Ðể kỷ niệm biến cố trọng đại đó, chúng ta hằng năm lo tổ chức lễ Giáng sinh.
Tổ chức bằng những thay đổi bên ngoài, như dọn hang đá, trang trí nhà thờ, chuẩn bị lễ nghi, thay đổi hoàn cảnh.
Tổ chức bằng những thay đổi bên trong, như sám hối, cầu nguyện, tĩnh tâm, thay đổi tâm hồn.
Dưới đây là một chút gợi ý về thay đổi tâm hồn.

 1/ Làm mới lại cái nhìn về Chúa giáng sinh
Dựa trên Phúc Âm, chúng ta nhìn Chúa giáng sinh là Ðấng Cứu độ. Ngưới cứu độ bằng tình yêu.
a) Tình yêu tự nguyện sống khiêm tốn khó nghèo.
Tình yêu khiêm tốn và khó nghèo của Ngôi Lời xuống thế đã được thánh Phaolô mô tả như sau:
“Ðức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).
Theo suy nghĩ trên đây của thánh Phaolô, thì vinh quang của Ðức Giêsu Kitô chính là hang đá khó nghèo, là hình thức trẻ thơ, là cảnh bần cùng của cánh đồng nuôi súc vật, là những khuôn mặt đơn sơ của các mục đồng dốt nát.