Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 451-500

Thứ sáu - 15/02/2019 10:20
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 451-500
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 451-500
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 451-500

Bùi-Tuần 0451: CHÂN LÝ CỨU ĐỘ 28-08-1994. 2
Bùi-Tuần 0452: Vẻ ĐẸP VĂN HOÁ 15-09-1994. 4
Bùi-Tuần 0453: ĐÀO TẠO NHÂN SỰ 23-09-1994. 7
Bùi-Tuần 0454: NGỌN LỬA THAO THỨC TRUYỀN GIÁO 28-09-1994. 10
Bùi-Tuần 0455: HOẠT ĐỘNG CủA CÁC THIÊN THẦN NƠI LOÀI NGƯỜI 12
Bùi-Tuần 0456: ĐÓN NHẬN CHÚA 31-12-1994. 14
Bùi-Tuần 0457: NƯỚC THIÊN CHÚA 25-10-1994. 17
Bùi-Tuần 0458: ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN 26-10-1994. 20
Bùi-Tuần 0459: TRUYỀN GIÁO VÀ ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN 29-10-1994. 22
Bùi-Tuần 0460: KHIÊM NHƯỜNG CủA PHÚC ÂM 29-10-1994. 25
Bùi-Tuần 0461: LỬA MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI 30-10-1994. 28
Bùi-Tuần 0462: KÍNH SỢ THIÊN CHÚA 13-11-1994. 31
Bùi-Tuần 0463: CHÚC THƯ KHÔNG LỜI 16-11-1994. 34
Bùi-Tuần 0464: NÉT DỄ THƯƠNG NƠI ĐỨC KITÔ 22-11-1994. 36
Bùi-Tuần 0465: NÉT ĐẶC THÙ CủA CỘNG ĐOÀN NHỎ 24-11-1994. 39
Bùi-Tuần 0466: THÁNH ĐƯỜNG VÀ VIỆC XÂY DỰNG CỘNG ĐOÀN.. 41
Bùi-Tuần 0467: CẦU NGUYỆN VÀ TỈNH THỨC 27-11-1994. 44
Bùi-Tuần 0468: SỐNG ƠN GỌI 28-11-1994. 46
Bùi-Tuần 0469: ĐỨC TIN CủA ĐỨC MẸ 02-12-1994. 48
Bùi-Tuần 0470: TÌNH YÊU THIÊN CHÚA 03-12-1994. 50
Bùi-Tuần 0471: LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA 03-12-1994. 52
Bùi-Tuần 0472: ĐỨC CẬY TRÔNG 05-12-1994. 55
Bùi-Tuần 0473: ĂN NĂN TRở VỀ 06-12-1994. 58
Bùi-Tuần 0474: LẮNG NGHE CHÚA THÁNH THẦN 07-12-1994. 60
Bùi-Tuần 0475: HÃY ĂN NĂN SÁM HỐI 15-12-1994. 63
Bùi-Tuần 0476: NHỮNG TÂM TÌNH DẤU CHỈ 24-12-1994. 66
Bùi-Tuần 0477: THA THƯ 26-12-1994. 68
Bùi-Tuần 0478: ƠN ĐẶC BIỆT 27-12-1994. 71
Bùi-Tuần 0479: CÁI NHÌN 27-12-1994. 74
Bùi-Tuần 0480: TRỞ VỀ 28-12-1994. 76
Bùi-Tuần 0481: TỪ NỀN TU ĐỨC NHẬP THỂ ĐẾN NỀN TU ĐỨC TẠI GIA.. 79
Bùi-Tuần 0482: CẢM TẠ ƠN CHÚA 22-05-1994. 80
Bùi-Tuần 0483: ĐỌC BÁO 21-06-1994. 83
Bùi-Tuần 0484: CẦU NGUYỆN VÀ TỈNH THỨC 27-11-1994. 86
Bùi-Tuần 0485: NĂM MỚI VỚI THỜI CƠ VÀ NGUY CƠ 31-01-1995. 88
Bùi-Tuần 0486: CHIA SẺ VỀ GIỚI TRẺ 15-01-1995. 89
Bùi-Tuần 0487: KITÔ-HOÁ CHÍNH MÌNH 29-01-1995. 94
Bùi-Tuần 0488: LÀM CHỨNG CHO TÌNH YÊU THIÊN CHÚA 09-02-1995. 97
Bùi-Tuần 0489: HÃY BIẾT KINH NGẠC 05-02-1995. 99
Bùi-Tuần 0490: ĐIỂM TỐT NƠI MỘT CÔNG TRÌNH 28-02-1995. 102
Bùi-Tuần 0491: SỐNG KHIÊM TỐN 20-03-1995. 104
Bùi-Tuần 0492: TẤM LÒNG BÁC ÁI 21-03-1995. 106
Bùi-Tuần 0493: NHỮNG NGƯỜI DO THÁI BẢO THỦ.. 109
Bùi-Tuần 0494: ĐÓN NHẬN ƠN CỨU ĐỘ QUA LÒNG NHÂN ÁI 111
Bùi-Tuần 0495: TẠ ƠN CHÚA 29-03-1995. 113
Bùi-Tuần 0496: NHÌN LÊN ĐỨC KITÔ PHỤC SINH 16-04-1995. 116
Bùi-Tuần 0497: CHUẨN BỊ ĐÓN NHẬN ƠN CỨU ĐỘ 13-04-1995. 118
Bùi-Tuần 0498: TRUYỀN GIÁO BẰNG TRÁI TIM 20-4-1995. 119
Bùi-Tuần 0499: CON ĐƯỜNG 20 NĂM QUA 30-04-1995. 122
Bùi-Tuần 0500: HUẤN LUYỆN ĐỨC TIN 06-05-1995. 124

Phân cách bài ĐC Bùi Tuần

Bùi-Tuần 0451: CHÂN LÝ CỨU ĐỘ 28-08-1994

 Mc7,1-23
Thới Thuận (Bò Ót),

Bài Phúc Âm hôm nay, gợi ý cho tôi suy nghĩ tới những chi tiết lớn: 28-08-1994 Bùi-Tuần 451


Bài Phúc Âm hôm nay, gợi ý cho tôi suy nghĩ tới những chi tiết lớn thường có, trong các buổi lễ trọng như lễ Thêm Sức.

Bài Phúc Âm phần đầu, nói đến thói quen dân Do Thái hay rửa tay trước khi dùng bữa. Họ coi thói quen đó, là một yếu tố quan trọng trong vấn đề tương giao xã hội và trong vấn đề phượng tự tôn giáo. Nhưng Đức Kitô chỉ trích sự quá quan-trọng-hoá những nghi lễ ấy.

Chi tiết trên đây gợi ý cho tôi nghĩ đến nhiều thói quen người công giáo Việt Nam hôm nay, khi chuẩn bị lễ, khi mừng lễ cũng hay để ý đến việc sửa sang nhà thờ, may sắm quần áo, tập tành lễ nghi đi đứng. Chúng ta coi vấn đề chuẩn bị những lễ nghi bề ngoài như vậy là rất quan trọng. Nhưng nhiều nơi, sự quan trọng đó đã choáng hết thời giờ và tâm trí, không còn dành cho thời gian chuẩn bị tâm hồn.
Bài Phúc Âm hôm nay ở phần giữa, nói đến thói quen của người Do Thái xưa, cũng hay thờ phượng Chúa bằng những bài thuộc lòng. Có thể là những bài thánh ca, thánh vịnh, những bài giáo lý cũng cần phải thuộc lòng, nhưng họ coi vấn đề thuộc lòng những bài đó, hầu như là căn bản của phượng tự. Họ câu nệ vào tiêu chuẩn ấy như là một cái gì cần thiết, để làm chứng cho lòng mình đối với Thiên Chúa. Đức Kitô không hài lòng với thói quen ấy.

Chi tiết trên đây của người Do Thái xưa, gợi ý cho tôi nghĩ tới thói quen người công giáo Việt Nam hôm nay. Tại nhiều nơi, chúng ta cũng hay thường chuẩn bị lễ trọng, nhất là lễ Thêm Sức, bằng việc học thuộc lòng các bài giáo lý, nhiều thánh ca, nhiều kinh kệ. Nhiều nơi coi việc học thuộc lòng đó, như là một tiêu chuẩn cần thiết không thể thiếu được, để làm chứng cho đức tin, để làm bằng chứng cho sự lòng ta thờ phượng Thiên Chúa. Đức Kitô cũng không hài lòng với tiêu chuẩn thuộc lòng đó. Trong Phúc Âm Chúa nói: “Chúng thờ phượng ta bằng môi bằng miệng”, nghĩa là bằng những cái gì thuộc lòng mà không có lòng trí bên trong.
Bài Phúc Âm ở phần cuối, nói đến sự dân Do Thái xưa không quan tâm đủ đến việc chuẩn bị tâm hồn bên trong. Họ không để ý đến việc ăn năn thống hối, tẩy rửa trái tim mình cho khỏi những tư tưởng xấu, những ước muốn xấu, những tâm tình xấu. Chúa Giêsu kể ra rất nhiều những cái xấu trong tâm hồn, như là ganh tị, như là hận thù, như là ước muốn sự chẳng nên. Những cái đó, dân Do Thái xưa không quan tâm đủ mà loại trừ, mà tẩy rửa, để đốt lên trong lòng mình lửa mến, lửa tin, lửa cậy.

Chi tiết trên đây, cũng gợi ý cho tôi nghĩ tới thói quen của nhiều người công giáo Việt Nam hôm nay. Tuy rằng có chuẩn bị tâm hồn bằng sự đi xưng tội, nhưng xem ra vẫn chưa quan-trọng-hoá đủ việc cải thiện chính mình. Ngay cả trong những giờ phút gần nhất để dâng thánh lễ, để chịu ơn Chúa Thánh Thần cũng không chuẩn bị kỹ tâm hồn, bằng sự ăn năn thống hối, bằng sự lắng nghe lời Chúa, bằng sự khiêm tốn cầu xin.

Qua ba chi tiết trên đây, Chúa Giêsu dạy chúng ta cần để ý nhiều nhất đến việc chuẩn bị tâm hồn mình, bằng những việc bên trong. Tuy những việc bên ngoài, như học thuộc lòng, như là vấn đề sạch sẽ, đẹp đẽ, văn minh, thanh nhã cũng là cần. Nhưng mỗi một việc phải đứng ở một góc độ riêng của mình, đừng để những cái phụ, hay là những cái không cần thiết lắm, choáng hết tâm hồn mình, choắng hết thời gian của mình, rồi những việc quan trọng căn bản nhất thì lại bị lãng quên.
Tôi coi lời Chúa khuyên dạy hôm nay là một chân lý cứu độ. Chân lý cứu độ có nghĩa là, nếu chúng ta thực thi lời Chúa dạy hôm nay, thì lời Chúa dạy sẽ cứu chúng ta. Bằng nếu chúng ta không giữ lời Chúa dạy hôm nay, chúng ta không được rỗi. Nó quan trọng như vậy!

Khi nhận thức điều này, tôi kiểm điểm lại chính mình tôi, cũng như kiểm điểm lại các cộng đoàn, các họ đạo các nơi trong địa phận. Tôi vui mừng vì nhiều nơi đã thực thi lời Chúa. Nhưng tôi phải nhận, có nhiều nơi vẫn chưa thực thi đúng và đủ lời Chúa. ở chỗ là, chúng ta cũng giống như Do Thái xưa: Đọc kinh mà không cầu nguyện, nghe lời người ta mà không nghe lời Chúa, nghe lời Chúa mà không đón nhận chính Chúa. Rước lễ, chịu phép Thêm Sức nhưng không gặp gỡ được Chúa. Kết quả là sự cải thiện tâm hồn, cải thiện đời sống hầu như kém cõi.

Các cuộc lễ trọng qua đi, nhưng lòng mình vẫn trống vắng, vẫn lạnh nhạt. Cách nhìn của mình, cách đánh giá của mình, cách suy nghĩ của mình vẫn như xưa, vẫn xa Chúa như trước, vẫn xa những nguyên tắc Phúc Âm như trước. Những kết quả như vậy đáng làm cho chúng ta lo ngại. Cũng như ông đại diện giáo đoàn mới nói về những cạm bẫy, những khó khăn đang đợi chờ chúng ta, nhất là con em chúng ta trong thời buổi này, tôi rất đồng ý sự nhận định đó. Và khi tôi nhìn như vậy tôi rất lo. Nếu chúng ta không chuẩn bị tâm hồn chúng ta theo lời dạy của Đức Kitô hôm nay, mà chỉ quan tâm đến những sự bề ngoài, thì tôi rất sợ một ngày nào đó, những trào lưu xấu sẽ tràn vào đây cào bằng tất cả. Cào bằng tất cả những cái mà hôm nay, chúng ta coi là vững bền trong đức tin. Bởi vì, thực sự đức tin của ta không sâu, chỉ bám vào những việc bề ngoài.

Đức tin là một sự gặp gỡ Đức Kitô. Đức Tin là một sự đón nhận ơn Chúa Thánh Thần. Đức tin là một sự gắn bó với Đức Kitô như cành với cây. Đức tin là một sự dấn thân để xây dựng Nước Chúa là Hội Thánh.

Tất cả những cái đó, nếu chúng ta không tập ngay từ bây giờ cho bản thân mình, cho con em ta mà chỉ chú trọng đến những sự bề ngoài, thì khi thử thách đến, tôi nói lại, nó sẽ cào bằng hết. Nó như là một cơn lũ lụt, làm trôi đi hết những cái gì là mỏng manh, những cái không căn bản Phúc Âm.

Tại họ đạo này, qua những cuộc lễ như hôm nay, tôi vui mừng là anh chị em có để ý đến bề ngoài, nhưng cũng rất để ý đến bên trong tâm hồn:

Tôi nhìn thấy bầu khí cầu nguyện ở đây sốt sắng, nghiêm trang, tập trung vào Đức Kitô. Tôi nhìn thấy bầu khí ở đây trật tự, trong nhiều mối tương quan, giữa các thành phần dân Chúa. Tôi tạ ơn Chúa vì những kết quả này, đang có trong xứ đạo chúng ta. Tôi cầu mong anh chị em phát triển những kết quả tốt đang có. Để sau này, dù thời thế có khó khăn đi nữa, một khi chúng ta thực thi lời Chúa đến nơi đến chốn, với tất cả thiện chí của mình, và với tất cả tinh thần nghiên cứu cá nhân và tập thể, đức tin của chúng ta sẽ sâu, sẽ vững và sẽ toả sáng ra, giúp cho việc mở rộng Nước Chúa, và làm cho Hội Thánh được trong sạch, được đẹp đẽ.

Xin Chúa Thánh Linh giúp cho chúng ta hiểu được lời Chúa dạy hôm nay. Và ban cho chúng ta ơn khôn ngoan, để biết chọn lựa cách nào thuận lợi nhất cho việc thực thi lời Chúa dạy hôm nay. Amen.

Thới Thuận (Bò Ót), ngày 28-08-1994


 

Bùi-Tuần 0452: Vẻ ĐẸP VĂN HOÁ 15-09-1994


Lễ Thêm Sức và tạ ơn tại -Kim Hoà kinh G1,

 

Hôm kia thứ ba, tôi từ Hà Nội về Sài Gòn. Hôm qua thứ tư, tôi từ: 15-09-1994 Bùi-Tuần 452


Hôm kia thứ ba, tôi từ Hà Nội về Sài Gòn. Hôm qua thứ tư, tôi từ Sài Gòn về Long Xuyên. Và hôm nay thừ năm, tôi có mặt ở Kim Hoà, kinh G, Cái Sắn.

Sự có mặt của tôi hôm nay ở đây là một cố gắng, bởi vì tôi khá mệt mỏi. Đêm rồi trong tình trạng mệt mỏi, tôi đã nói với Chúa rằng: Con cảm thấy mình mệt quá. Con khó suy nghĩ quá. Xin Chúa giúp con biết nói với dân Chúa một vài chân lý đơn sơ, có khả năng đem lại lợi ích thiêng liêng thiết thực phần nào trong việc giữ đạo và truyền đạo của thời buổi hôm nay.

Chúa đã trả lời tôi trong lòng: Con đừng nói gì cao sâu, nhưng hãy chia sẻ những gì đã nâng đỡ tâm hồn con trong những ngày qua.

Anh chị em thân mến,

Vâng lời Chúa, giờ đây, tôi nghĩ lại thời gian Hội Nghị của các Giám Mục Việt Nam tại Hà Nội. Và tôi để ý nhiều nhất đến những gì đã bồi dưỡng tâm hồn tôi.

Sự kiện thứ nhất đã bồi dưỡng tâm hồn tôi đó là vẻ đẹp văn hoá tôi nhận thấy trong phụng vụ thánh lễ. Vẻ đẹp văn hoá nói đây là những cái đẹp, cái hay, cái đúng, cái êm đềm, cái sâu sắc. Trong những gì là nhân bản, trong những gì là dân tộc, trong những gì là khoa học, trong những gì là Phúc Âm. Tôi thấy vẻ đẹp văn hoá trong thánh lễ ở cách trang trí, ở sự xếp đặt, ở những thánh ca, ở những bài giảng, nhất là ở bầu khí trang nghiêm đầy nội tâm, ở cách chúng ta tham dự mầu nhiệm thánh lễ, như chúng ta gặp được Đức Kitô, như chúng ta chan hoà hiệp thông với tất cả Hội Thánh, tất cả những vẻ đẹp đó làm nên một sức sống, chảy ra dòng chân lý, dòng tình thương vào tâm hồn tôi. Rôi cảm tưởng gặp được Đức Kitô trong dòng sức sống ấy: Tâm hồn được nâng lên. Tâm hồn được đổi mới. Và tôi nhớ lại lời tiên tri Đavit xưa đã nói: “Con ca tụng Chúa trong đền thánh”. Trong đền thánh, tôi ca tụng Chúa, vì tôi nhìn thấy sắc đẹp, vừa của văn hoá, vừa của khoa học, vừa của dân tộc, vừa của Phúc Âm.

Một sự kiện khác đã giúp tôi đổi mới, đó là vẻ đẹp văn hoá trong những tiếp xúc. Trong những tiếp xúc, người ta có cách chào hỏi, người ta có cách góp ý, người ta có cách nghe, cách nhìn, cách nói, cách phản ứng. Trong những cách ấy, có thể phản chiếu ra sự tế nhị, sự khôn ngoan, sự khiêm nhường, sự tôn trọng chân lý, vv... Tất cả vẻ đẹp văn hoá trong những tiếp xúc như vậy trở nên một luồng gió mát đẩy tâm hồn tôi vào một chân trời, vừa xa, vừa rộng, vừa đẹp, vừa cao. Và trong lúc ấy, tôi nhớ lại lời Chúa đã tạ ơn: “Con tạ ơn Cha, vì Cha đã giấu bao điều tốt đẹp đối với những người hiền triết, mà chỉ tỏ bày cho những tâm hồn bé mọn. Tôi coi những tâm hồn bé mọn đó là những tâm hồn có vẻ đẹp của nền văn hoá, một nền văn hoá hồn nhiên, con người trong trắng, và nền văn hoá trong sạch, khiêm tốn, vị tha của Phúc Âm.
Sự kiện thứ ba cũng đã giúp tôi đổi mới tâm hồn, đó là vẻ đẹp văn hoá tôi nhận thấy trong bữa ăn. Một bữa ăn bao giờ cũng có bốn yếu tố làm nên văn hoá: Một là các món ăn. Hai là cách phục vụ. Ba là cách ăn uống. Bốn là những câu chuyện trên bàn ăn.

Bốn yếu tố này có những vẻ đẹp riêng, nhưng nhất là yếu tố thứ bốn: “Những câu chuyện trao đổi trong bàn ăn”. Nó phản ánh tinh thần tiếp thu những chân lý, tinh thần cởi mở đối với những bản thông tin, tinh thần chia sẻ đối với những ý kiến khác nhau của những người cùng bàn.

Vẻ đẹp văn hoá trong bữa ăn là một chốn giao lưu của văn hoá, nhưng đồng thời, cũng là cái trắc nghiệm đánh giá con người. Tôi thấy vẻ đẹp văn hoá trong những bữa cơm tôi tham dự. Qua những người cùng bàn, những người phục vụ, qua những bản tin trao đổi với nhau, tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu đã phán xưa khi ăn cơm xong tại nhà ông Giakêu: “Hôm nay, sự cứu rỗi đã đến với nhà này”.

Qua những kinh nghiệm trên đây, kinh nghiệm về đời thường, tôi nhận thấy điều này: Vẻ đẹp văn hoá, qua tiếp xúc trên bàn ăn, trong thánh lễ, trong gia đình, đều là những phương tiện để con người có thể tuyên xưng đức tin, đều là một lãnh vực mà chúng ta có thể dùng để rao truyền chân lý Phúc Âm.

Từ nhận định ấy, tôi kết luận, phải xây dựng bản thân mình như con người có văn hoá. Văn hoá về nhiều mặt như tôi đã nói: Văn hoá khoa học, văn hoá dân tộc, văn hoá nhân bản, và nhất là văn hoá đức tin, văn hoá của Phúc Âm. Một nét văn hoá được thể hiện trong Đức Mẹ, là khiêm tốn biết mình, luôn tạ ơn Chúa, tuyệt đối cậy tin, và cởi mở, hy vọng đi về phía trước.

Anh chị em thân mến,

Với những chia sẻ trên đây, tôi muốn nói với anh chị em rằng: Tôi đang ở đây với anh chị em, và đã nhận thấy vẻ đẹp văn hoá ở chốn này. Tôi nhìn thấy vẻ đẹp văn hoá trong thánh lễ hôm nay, tại nhà thờ này. Biết bao nhiêu vẻ đẹp!

Tôi đã nhận thấy vẻ đẹp văn hoá trong cách tiếp xúc của anh chị em. Tôi đã nhận thấy vẻ đẹp văn hoá trong cách anh chị em phục vụ tôi, chúng tôi, và giữa chúng ta với nhau. Tôi xác tín rằng, trong thời buổi hôm nay, Hội Thánh chỉ được giới thiệu một cách xứng đáng, bởi những người có nền văn hoá như vậy. Hội Thánh hôm nay không phải là một Hội Thánh chôn chân đứng một chỗ, dù đẹp biết mấy, nhưng là một Hội Thánh di động, ở khắp nơi, ở khắp mọi nẻo đường. Và chúng ta chỉ giới thiệu khuôn mặt Hội Thánh qua chính bản thân chúng ta, qua chính con người chúng ta, với những nét văn hoá đẹp như tôi vừa nói, để bất cứ ở đâu, Hội Thánh vẫn được chúng ta giới thiệu với những người chung quanh, bằng những giá trị mà tất cả mọi người đều trìu mến.

Hôm nay, với những vẻ đẹp này, chúng ta chỉ là bước đầu đi trên con đường truyền giáo. Bước đầu thôi. Nghĩa là chúng ta còn cần phải xây dựng nữa, không phải xây dựng thánh đường này bị chôn chân tại chỗ, mà là xây dựng chính bản thân mình, xây dựng gia đình mình, xây dựng cộng đoàn mình, để có một vẻ đẹp văn hoá nhiều mặt như tôi vừa nói: “Cảm tạ Chúa về những gì chúng ta đã đạt được”. Cảm ơn Mẹ Maria, vẻ đẹp văn hoá của Phúc Âm, xin Mẹ giúp cho họ đạo chúng ta, biết theo gương Mẹ trau dồi vẻ đẹp văn hoá, để dù chỉ là một con người bình thường, trong đời thường, nhưng với vẻ đẹp văn hoá như Đức Mẹ, chúng ta sẽ là một Hội Thánh trẻ trung, một Hội Thánh tươi đẹp, một Hội Thánh chia sẻ Tin Mừng, cho đồng bào, cho quê hương đất nước chúng ta. Amen.

Lễ Thêm Sức và tạ ơn tại giáo xứ Kim Hoà kinh G1, ngày 15-09-1994


 

Bùi-Tuần 0453: ĐÀO TẠO NHÂN SỰ 23-09-1994


Long Xuyên

 

Đọc Phúc Âm, tôi thấy Chúa Giêsu rất quan tâm đến việc đào tạo: 23-09-1994 Bùi-Tuần 453


Đọc Phúc Âm, tôi thấy Chúa Giêsu rất quan tâm đến việc đào tạo. Có lúc Người đào tạo đám đông từng mấy ngàn người. Có lúc Người đào tạo nhóm nhỏ gồm vài gia đình. Thường xuyên và một cách đặc biệt, Người đào tạo nhóm 12. Chính Người trực tiếp đào tạo họ. Thêm vào đó, Chúa Thánh Thần cũng đã được sai đến đào tạo họ. Hơn chục người là một nhóm quá nhỏ. Nhưng nhóm nhỏ này được coi là nòng cốt. Họ sẽ là những người đào tạo.

Hội Thánh sơ khai được xây dựng và phát triển một cách lạ lùng giữa muôn vàn khó khăn đủ loại, chính nhờ những người đào tạo này.

Bởi vì, họ đã được đào tạo rất kỹ về mầu nhiệm cứu độ. Sự đào tạo rất kỹ mà họ đã lãnh nhận dựa trên sự họ đã gặp gỡ Đức Kitô và đã được Chúa Thánh Thần cải hoá. Họ chỉ làm chứng những gì họ đã thấy nơi Đức Kitô và những gì họ đang nếm được về hạnh phúc Nước Trời.

Sức mạnh truyền giáo của họ phát xuất từ bên trong tâm hồn họ mang đầy sự sống mới do Thiên Chúa chia sẻ cho. Vì thế, những cuộc bách hại không những đã không tiêu diệt được sức mạnh thần thiêng đó, mà còn là những dịp để các tông đồ làm chứng về Tin Mừng.

Hội Thánh sơ khai là như thế. Còn nay?

Tôi đang nhìn thấy Hội Thánh bị bách hại khắp nơi. Có nơi do áp bức thô bạo của quyền lực. Có nơi do khống chế của tiền bạc, của tinh thần tục hoá, của phong trào hưởng thụ. Có nơi do đầu độc của những phương tiện truyền thông không tôn trọng sự thật, gieo rắc chia rẽ, hận thù, cổ võ cho một lối sống thực dụng. Và cũng có nơi do sự hẹp hòi và tự mãn an phận của tinh thần chủ nghĩa cá nhân cục bộ còn khá mạnh trong một số nhân sự Hội Thánh.

Trước một tình hình phức tạp như trên, Hội Thánh các nơi đã đối phó bằng nhiều cách, nhất là bằng cách tăng cường việc đào tạo nhân sự, đặc biệt là nhân sự có nhiệm vụ đào tạo.

Để có những gợi ý thích hợp về vấn đề này, cho mục vụ tại địa phương ta, tôi xin chia sẻ một số thông tin.

Một Đức giám mục người Zaire đã cho tôi biết: Nước của ngài, từ mấy năm nay, đã là mảnh đất béo bở cho nhiều giáo phái. Với những hình thức lôi cuốn ngọt ngào, họ đã tạo ra được một sức mạnh tôn giáo xã hội rất đáng kể. Nhiều người đã trôi theo, nhưng giáo phận của ngài vốn đứng vững, nhờ các cộng đoàn nhỏ.

Cộng đoàn nhỏ nói đây là các khu xóm của họ đạo. Hằng tuần, mỗi cộng đoàn nhỏ họp nhau một lần. Họ cầu nguyện chung, suy gẫm bài Phúc Âm Chúa nhật tới theo bản in phát sẵn. Tiếp đó, họ được nhắc nhở cách sống thánh lễ đời thường, bởi vì họ ít có dịp tham dự thánh lễ bàn thờ. Sống thánh lễ đời thường là hiệp thông với Đức Kitô trong mọi chi tiết đời thường. Một trong những chi tiết đó là thực thi tình thương đối với người khác. Vì thế, trong buổi họp, họ xem xét những vấn đề thực tế của cộng đoàn, để thấy những ai cần được nâng đỡ, những trường hợp nào cần được giải quyết. Sau đó họ cùng nhau thực hiện.

Sở dĩ các cộng đoàn nhỏ đã đem lại được sức sống trẻ trung cho giáo phận, chính vì các cộng đoàn đó có những người phụ trách được đào tạo rất kỹ.

Cũng trong cái nhìn về Hội Thánh hôm nay, một vị giáo sư khoa trưởng của một đại học Công Giáo Thuÿ Sĩ đã trao đổi với tôi về việc cần thiết đào tạo một giới trí thức Công Giáo thích hợp cho thời đại này. Ngài cho biết, tại nhiều nước phương Tây, chủ nghĩa duy lý trí, chủ nghĩa duy khoa học, chủ nghĩa tục hoá đang hộ tống nền văn minh dân chủ. Dân chủ tất nhiên có nhiều điều rất tốt, nhưng cũng có nhiều điều không tốt. Những điều không tốt lại được biện minh bằng vô số chứng từ thực dụng. Thành thử đám đông ùa theo. Kết quả là một số đáng kể đã và đang lặng lẽ xa rời Hội Thánh. Tôn giáo bị đẩy dần vào phạm vi tư. Xã hội xem ra chỉ còn biết đến tôn giáo qua các nhà văn, các nhà báo, các nhà trí thức công giáo tích cực làm chứng cho Tin Mừng qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Do đó, việc đào tạo một đội ngũ trí thức công giáo là việc rất cần thiết.

Tôi vừa đọc xong cuốn “Kỷ nguyên hậu-Thiên-Chúa-Giáo” của Emile Poulat. Sách dày 317 trang, do nhà xuất bản Flammarion phát hành tháng 4 năm nay 1994. Nội dung đã được tóm lược trong bài phỏng vấn tác giả, đăng trên tuần báo Paris Match ngày 21 tháng 7, 1994. Emile Poulat là một người công giáo, viết văn viết báo, chuyên nghiên cứu các vấn đề tôn giáo xã hội. Theo ông, Hội Thánh Công Giáo tại Âu Châu đang trở thành một di tích lịch sử. Xã hội ngày nay, ngay tại các nước Âu Châu vốn có đạo lâu năm, cũng đang phát triển theo ý riêng của họ, với những luật riêng của họ, không còn qui chiếu chút nào vào giáo lý do Hội Thánh giảng dạy. Tinh thần tục hoá thống trị khắp nơi. Đám đông hết còn gắn bó với Hội Thánh, tuy họ không từ bỏ Thiên Chúa. Nhưng đang khi đó lại xuất hiện sự sống thiêng liêng mới, bốc lên và toả ra từ các phong trào đạo đức mới, từ các cộng đoàn tu hội mới. Các khối nhỏ này, được huấn luyện rất sâu về Phúc Âm, rất sát với thực tế cuộc sống. Nên họ đang là hy vọng lớn cho Hội Thánh trên đường tiến tới năm 2000. Như vậy, Hội Thánh đang gặp nhiều thách đố lớn, và đã tìm ra cách giải đáp. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng đã tiên báo điều đó.

Trong Tông huấn “Cha sẽ cho chúng con những mục tử” (Pastores dabo vobis), Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã liệt kê một chuỗi những chủ thuyết nguy hiểm đang hoạt động trên thế giới, nhất là tại Âu Châu. Để có thể rao giảng Tin Mừng một cách hữu hiệu trong một xã hội phức tạp như hiện nay, các mục tử cần được đào tạo kỹ hơn, về các mặt nhân bản, trí thức, đạo đức và hội nhập văn hoá. Phải đào tạo kỹ, phải tái-đào-tạo, phải đào tạo trường kỳ những con người có bổn phận đào tạo, đó là ý muốn của Đức Thánh Cha.

Những thông tin trên đây cho thấy hai sự kiện sau đây: Một là trong xã hội cũng như trong cá nhân luôn có cạnh tranh giữa các khuynh hướng, cái mạnh sẽ thắng cái yếu. Hai là Hội Thánh, nếu muốn thắng những khuynh hướng mình cho là xấu trong xã hội, thì phải đào tạo những người của mình, sao cho họ có khả năng mạnh, biết dùng đời sống làm chứng được đạo giáo của mình là tốt, là hấp dẫn đối với xã hội.

Hai sự kiện trên đây gợi ý cho tôi nhìn vào thực tế Việt Nam hôm nay. Đúng là đang có cạnh tranh giữa các giá trị, giữa các khuynh hướng. Tại một số nơi, tinh thần thực dụng, tinh thần chạy theo tiền bạc, tinh thần hưởng thu, tinh thần tục hoá đang dâng cao, tràn cả vào các nơi thánh, biến hoá cả những người đạo đức trước đây khắt khe và bất khuất. Những chuyển biến này xảy ra quá sớm, quá lẹ.

Còn việc đào tạo và tái đào tạo nhân sự để có đủ khả năng làm chứng cho Chúa trong tình hình thực dụng hưởng thụ, tục hoá và tiền bạc hiện nay thì sao? Tôi không đủ khả năng đưa ra một trả lời đúng. Tôi chỉ nhìn vào bản thân tôi, một đối tượng cần được tái-đào-tạo thường xuyên và trường kỳ. Và tôi nhận thấy một khoảng cách lớn thê thảm giữa lý tưởng và thực tế. Từ sự thật đó, tôi hiểu thấm thía hơn sự được tái đào tạo là một ơn huệ của Chúa, mình chỉ có thể đón nhận bằng tất cả tấm lòng khiêm tốn, khó nghèo và tha thiết cầu nguyện. Thiết tưởng phải khởi đi từ đó, và phải thường xuyên bắt đầu lại từ đó.

Long Xuyên, ngày 23-09-1994 + Gioan B. BÙI-TUẦN giám mục phó giáo phận Long Xuyên


 

Bùi-Tuần 0454: NGỌN LỬA THAO THỨC TRUYỀN GIÁO 28-09-1994


 Lc 9,57-62

Kinh Ông Quít

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã giới thiệu hình ảnh kẻ: 28-09-1994 Bùi-Tuần 454


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã giới thiệu hình ảnh kẻ rao giảng Tin Mừng. Theo lời Chúa dạy, thì kẻ rao giảng Tin Mừng có một đặc điểm này: Đó là thao thức truyền giáo.

Thao thức truyền giáo nơi kẻ rao giảng Tin Mừng là một thao thức rất mạnh, đến nỗi lấn át tất cả mọi lo lắng khác, cho dù lo lắng ấy là chính đáng, là khẩn thiết, như đi chôn cha mình mới chết, như từ giã gia đình anh chị em ruột thịt, như mua sắm những tiện nghi tối thiểu chẳng hạn chiếc gối đầu.

Kẻ rao giảng Tin Mừng thao thức truyền giáo phải đặt nhiệm vụ truyền giáo lên hàng đầu. Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ như vậy trong bài Phúc Âm hôm nay, và chính Người đã sống đúng như lời Người đã dạy.

Với gương sáng, với lời dạy, Chúa Giêsu đã in, đã vạch trong tâm hồn các tông đồ một định hướng rõ rệt, để các Ngài biết sống đạo. Sống đạo là phải truyền giáo.

Khi Chúa Giêsu đã về trời, Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống đã làm cho các định hướng trở thành quyết liệt. Thao thức truyền giáo của các tông đồ trở thành một dòng lửa chảy rất mau, rất mạnh, khắp nơi, đốt lên lửa mến Chúa yêu người.

Trên đây là hình ảnh những người đi theo Chúa. Khi tôi thấy Chúa dạy các tông đồ như vậy, tôi đã hỏi Chúa rằng: Tại Việt Nam hôm nay, với những hoàn cảnh chính trị, kinh tế, văn hoá phức tạp, Chúa có muốn cho chúng con phải thao thức truyền giáo như vậy không?

Và tôi nghe Chúa trả lời: Không những Cha muốn chúng con phải có thao thức ấy, mà thao thức ấy chính là điều Cha đã truyền dạy, là điều Cha bắt buộc, là hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi. Chúng con phải thực hành mệnh lệnh ấy, chứ không phải đó chỉ là lời khuyên.

Khi nghe lời Chúa dạy trong lương tâm tôi như vậy, tôi nhìn Hội Thánh Việt Nam đó đây, xem các nơi đang thực hiện thế nào mệnh lệnh truyền giáo của Đức Kitô. Và tôi thấy khắp nơi hiện nay đang cố gắng thực hiện mệnh lệnh truyền giáo. Nơi thì cách này. Nơi thì cách kia. Phổ biến nhất là những cách sau đây: Cầu nguyện, hy sinh, học giáo lý, làm việc từ thiện, tham gia các sinh hoạt văn hoá xã hội, xây dựng những liên hệ tốt với chính quyền địa phương, với những người ngoài Công Giáo, xây dựng lại, chỉnh trang lại thánh đường của mình, đem văn hoá dân tộc vào kiến trúc, vào thánh ca, vào phụng vụ, vv...

Tôi thấy tất cả những cách trên đây, đều nhắm vào truyền giáo và những cách trên đây thật sự đã mang lại nhiều hiệu quả truyền giáo tốt đẹp, nơi nhiều nơi ít, lúc ít lúc nhiều. Nhưng nếu phải xét vì nguyên nhân đã làm nên hiệu quả truyền giáo, thì tôi thấy thế này:

Động lực truyền giáo phải khởi đi từ thao thức truyền giáo. Nhưng cách thực hiện việc truyền giáo thì phải qua sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Mình phải có sáng kiến, mình phải linh động, mình phải đa dạng, nhưng lựa chọn một cách khôn ngoan, tuỳ nơi, tuỳ thời, theo sự hướng dẫn khôn ngoan của Chúa Thánh Linh. Bởi vì có những cách thích hợp cho lúc này, nơi này, nhưng lại không thích hợp cho nơi khác, lúc khác.

Nói tới đây, tôi nghĩ tới một cách truyền giáo luôn luôn rất khôn ngoan, đó là chúng ta thường xuyên cố gắng trở về với Đức Kitô và Phúc Âm của Người. Cách đó bao giờ cũng là cách tốt nhất để truyền giáo. Cố gắng trở về với Đức Kitô và Phúc Âm của Người, đó là cách tôi vừa nói tốt nhất, luôn luôn có hiệu quả.

Nói tới đây, tôi nghĩ tới thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu. Một cô gái nhỏ, dễ thương, hôm nay là thánh nữ quan thầy các nơi truyền giáo. Têrêxa chẳng làm gì khác ngoài sự trở về với Đức Kitô và lời khuyên của Đức Kitô. Têrêxa trở về với tinh thần thơ ấu thiêng liêng. Têrêxa trở về với giới luật yêu thương. Đó là hai giới luật nổi nhất trong Phúc Âm. Têrêxa truyền giáo như vậy đó.

Rồi ở đây, tôi cũng nhớ tới một Têrêxa khác, hiện nay còn sống, đó là mẹ Têrêxa Cancutta. Mẹ Têrêxa Cancutta cũng truyền giáo một cách rất đơn sơ, luôn luôn trở về với tinh thần khó nghèo của Phúc âm, luôn luôn trở về với giới luật yêu thương của Đức Kitô, yêu thương nhất là đối với những kẻ khốn khổ và luôn luôn nghèo khó, tức là khiêm tốn, từ bỏ chính mình, không cậy nhờ vào một nương tựa nào ngoài sức mạnh của Chúa Thánh Linh.

Nhìn hai vị Têrêxa, tôi thấy cái động lực truyền giáo của hai người đó chính là Đức Kitô tình yêu của Thiên Chúa. Và cái cách thực hiện của 2 Têrêxa chính là làm sao làm chứng cho người hôm nay thấy Thiên Chúa là tình yêu, Thiên Chúa là Đấng cứu độ, làm cho người hôm nay cảm thấy bớt khổ hơn, có hy vọng hơn, được bình an hơn. Đó là Tin Mừng cứu độ. Và những cách đó là những việc có thể thực hiện trong đời thường của chúng ta, bất cứ ai giàu hay nghèo, sang hay là cùng cực, trí thức hay là dốt nát. Đơn sơ chỉ thế thôi.

Trong thánh lễ hôm nay, tôi xin Chúa Thánh Thần ban ơn cho chúng ta được ngọn lửa thao thức truyền giáo thật mạnh và có sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, biết làm chứng về Thiên Chúa tình yêu, biết làm chứng bằng những cách giúp cho con người hôm nay cảm thấy họ được thương yêu, họ được cứu độ, họ được quan tâm, bằng tình yêu của chúng ta thể hiện tình yêu của Thiên Chúa cứu độ.

Nếu lễ Thêm Sức hôm nay chỉ mang lại được ơn đó, và làm cho chúng ta biết thao thức truyền giáo theo định hướng tôi vừa giới thiệu, thì tôi tưởng, đây là phần quà rất quý Chúa gởi tặng cho họ đạo anh chị em, một họ đạo đã từng có kinh nghiệm về tình yêu Thiên Chúa bao la, một họ đạo đang cố gắng làm chứng về tình yêu Thiên Chúa.

Lạy Chúa Thánh Thần xin ban cho chúng con biết làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa cứu độ. Amen

Kinh Ông Quít 28-09-1994


 

Bùi-Tuần 0455: HOẠT ĐỘNG CủA CÁC THIÊN THẦN NƠI LOÀI NGƯỜI


 29-09-1994

Lễ Tổng lãnh thiên thần Micae bổn mạng Đức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ giám mục chánh giáo phận Long Xuyên

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu phán: “Các ngươi sẽ: 29-09-1994 Bùi-Tuần 455


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu phán: “Các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và các thiên thần lên xuống nơi Con Người”.

Khi nghe những lời trên, tôi đã thưa với Chúa Giêsu rằng: Con chưa hề thấy trời mở ra, và con cũng không hề thấy các thiên thần lên xuống bao giờ. Lập tức, Chúa trả lời tôi: Con không thấy bằng mắt xác thịt, nhưng con đã thấy bằng mắt đức tin, bằng chứng từ các thánh và bằng chính kinh nghiệm của con.

Với ơn Chúa soi sáng, chỉ trong giây lát, tôi nhìn thấy vô số thiên thần từ trời bay xuống thế giới này, và vô số thiên thần từ thế giới này bay lên trời. Đến nỗi, có thể nói: Thế giới này không phải chỉ là nơi hoạt động của loài người, mà cũng là nơi hoạt động của các thiên thần.

Thật vậy, Kinh Thánh cho thấy các thiên thần hoạt động trên thế giới này bằng nhiều cách, với nhiều hình thức.

Trước hết như những Vị đưa tin. Thí dụ các trường hợp sau đây: Báo tin cho ông Abraham về người con sắp được sinh ra là Isaac. Báo tin cho Giakaria về người con sắp được sinh ra là Gioan Batixita. Báo tin cho Đức Mẹ về người con sắp được sinh ra là Đức Kitô, Đấng cứu độ loài người.

Rồi, các thiên thần hoạt động như những Đấng che chở. Thí dụ các trường hợp sau đây: Che chở cho Tôbia-con trên suốt hành trình dài đầy biến cố bất ngờ. Che chở cho ông Loth và gia đình khỏi cơn mưa lửa thiêu đốt. Che chở cho Đaniel khỏi sư tử cắn xé.

Rồi, các thiên thần hoạt động như những Vị dẫn đường. Thí dụ các trường hợp sau đây: Dẫn đường cho dân Do Thái đi trên sa mạc. Dẫn đường cho Đức Mẹ và thánh Giuse đi sang Ai Cập. Dẫn đường cho thánh Phêrô trốn ra khỏi tù. Dẫn đường cho thánh Phaolô đi sang Macedonia.

Rồi, các thiên thần hoạt động như những Vị chiến đấu. Thí dụ các trường hợp sau đây: Đức Tổng lãnh thiên thần Micae chiến đấu với Lucifer và các quỷ dữ. Các thiên thần chiến đấu bên cạnh dòng tộc Macabê chống lại quân Syri. Các thiên thần chiến đấu bên cạnh Giêđêon chống lại quân Mađian.

Rồi, các thiên thần hoạt động như những Đấng an ủi. Thí dụ các trường hợp sau đây: An ủi tiên tri Êlia đang mệt mỏi đói khát. An ủi bà Agar bị ruồng bỏ đang lang thang trong rừng. An ủi Đức Kitô đang sầu khổ trong vườn Cây Dầu.

Những chuyện các thiên thần hoạt động giữa loài người và cho loài người đã được kể lại khắp nơi trong mọi thời và trong mọi nền văn hoá.

Tôi nghĩ rằng, mọi người chúng ta cũng đã có phần nào kinh nghiệm về các thiên thần. Biết bao lần chúng ta đã được báo tin một cách lạ lùng, đã được che chở một cách lạ lùng, đã được dẫn dắt một cách lạ lùng, đã được vượt qua thử thách một cách lạ lùng, đã được an ủi một cách lạ lùng. Đó là vì có các thiên thần được Chúa sai đến đồng hành với chúng ta.

Các Ngài đồng hành với ta, ở bên chúng ta, giúp đỡ chúng ta. Thế mà nhiều người chúng ta đã không để ý hỏi han, cảm ơn, và tích cực hợp tác với các Ngài. Chúng ta cần sửa lại những thiếu sót đó.

Thời buổi này hơn bao giờ hết, chúng ta rất cần tích cực hợp tác với các thiên thần. Bởi vì, thời đại ta đang sống là một thời đại có nhiều khủng hoảng, như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô II đã loan báo. Khủng hoảng về nhiều mặt, nhất là về mặt chân lý, luân lý và đức tin. Khủng hoảng trong xã hội, khủng hoảng trong chính nội bộ Hội Thánh, khủng hoảng cả trong lòng người.

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta nhớ cách đặt biệt đến Đức Cha Micae của chúng ta. Ngài đã và đang tích cực cộng tác với các thiên thần. Chính Ngài cũng là hình ảnh một thiên thần đang đồng hành với chúng ta, để giúp đỡ chúng ta trên đường sống đạo và truyền giáo.

Nguyện xin Đức thánh Micae luôn che chở Đức Cha già của chúng ta, giáo phận Long Xuyên này, và Hội Thánh Việt Nam


 

Bùi-Tuần 0456: ĐÓN NHẬN CHÚA 31-12-1994


Gioan 1,1-18

Lễ Thêm Sức  - Rạch Sâu

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, thánh Gioan viết: “Đức Kitô là Ngôi, Hai Thiên Chúa: 31-12-1994 Bùi-Tuần 456


Trong bài Phúc Âm hôm nay, thánh Gioan viết: “Đức Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa làm người, Người đã đến nhà các gia nhân của Người, nhưng các gia nhân của Người đã không nhận biết Người, đã không đón tiếp Người”.

Ngày hôm nay, ngày cuối năm 1994, tôi có cảm tưởng là Đức Kitô cũng đang hỏi tôi, và đang hỏi từng người anh chị em một câu tương tựa như bài Phúc Âm hôm nay. Câu đó là: Trong năm vừa qua, Cha đến nhà của con, Cha đã đến gõ cửa lòng con, nhưng con có nhận ra Cha không, con có tiếp nhận Cha không?

Tôi có cảm tưởng là phản ứng chung chung của chúng ta là trả lời với Chúa: Thưa Chúa có. Con có đón nhận Chúa.

Thế nhưng, một câu trả lời thuộc lòng như vậy chưa chắc đã được Chúa chấp nhận. Bởi vì, đọc Phúc Âm tôi thấy: Rất nhiều người tưởng mình đã đón nhận Chúa, đã làm sáng danh Chúa. Nhưng, sự thực trước mặt Chúa thì khác:

Chẳng hạn Phúc Âm cho chúng ta thấy một loại người đạo đức nổi tiếng xưa đã nói với Chúa rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, con đã đón tiếp Chúa, con đã làm sáng danh Chúa. Bằng chứng là con ăn chay mỗi tuần hai lần, con đã lấy một phần mười của cải của con để dâng cho nhà thờ. Con không ăn trộm, không ăn cướp, không gian dâm. Nhưng, Phúc Âm cho chúng ta thấy: Chúa không nhìn nhận họ. Chúa không chấp nhận họ.

Rồi, Phúc Âm cũng cho chúng ta thấy một loại người hoạt động tôn giáo rất nổi tiếng xưa cũng đã nói với Chúa rằng: Lạy Chúa, con đã làm sáng danh Chúa biết bao, con đã nhân danh Chúa mà trừ quỷ, con đã nhân danh Chúa mà nói tiên tri, con đã nhân danh Chúa mà làm phép lạ. Nhưng, Phúc Âm cho thấy Chúa không nhìn nhận họ, bởi vì họ làm theo ý riêng mà không tuân phục thánh ý Chúa.

Rồi, trong Phúc Âm cũng cho chúng ta thấy một loại người đồng trinh cũng đã nói với Chúa rằng: Lạy Chúa, con đã đón tiếp Chúa, con đã làm sáng danh Chúa. Suốt đời con giữ mình đồng trinh. Con sống tập thể, xa thế gian, xa gia đình. Nhưng, Phúc Âm nói: Chúa không nhìn nhận họ, bởi vì họ không tỉnh thức, không đến với Chúa đúng lúc mà Chúa gọi họ.

 Rồi, Phúc Âm cũng cho chúng ta thấy một loại người quản lý rất là cẩn thận đối với những gì chủ trao cho họ. Ông ta cũng nói với Chúa: Lạy Chúa, con biết tính Chúa rồi. Chúa cẩn thận lắm, nên nén bạc Chúa trao cho con, con đâu có dám tiêu pha gì, con cất kỷ lắm. Bây giờ, con trả lại Chúa y nguyên. Nhưng Phúc Âm đã cho chúng ta thấy, Chúa không nhìn nhận họ, bởi vì họ đã không biết phát triển những ơn Chúa đã ban cho họ.

Rồi, Phúc Âm cũng cho chúng ta thấy một loại người coi như hết mình với Chúa: Ăn chay, cầu nguyện, đọc kinh, xem lễ, sám hối,... không thiếu một cái gì. Nhưng, đến ngày phán xét Chúa không nhìn nhận họ, bởi vì, Chúa nói: Những gì các ngươi không làm cho những người hèn mọn nhất vì Ta, thì Ta kể như là không làm cho chính Ta: Người ta đói, các ngươi đã không cho ăn. Người ta khổ, các ngươi đã không an ủi. Các ngươi đã đối xử với Ta như vậy, cho nên Ta không biết các ngươi là ai!

Những trường hợp trên đây cảnh cáo chúng ta, giúp chúng ta đừng có chủ quan vào ngày cuối năm, mà cả dám nói với Chúa: Con đã đón nhận Chúa suốt năm nay.

Hãy cảnh giác mình, bởi vì chúng ta rất yếu đuối, bởi vì chúng ta có nhiều thiếu sót. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng: Tôi chẳng bao giờ dám phản bội Chúa, chẳng bao giờ muốn bất trung với Chúa, chẳng bao giờ dám xúc phạm đến Chúa. Nhưng, tôi cũng rất xác tín rằng: Mình không đủ sức để làm những điều tốt mình quyết tâm làm. Mình vẫn còn có nhiều thiếu sót cách này cách khác. Cũng như những điều đạo đức tôi vừa nói trên kia, họ cũng đã từng làm, nhưng chỉ khác là thiếu vắng sự khiêm nhường, không biết mình sai lỗi. Do đó, công phúc đã không có gì mà lại thêm tội.

Cách đây hơn một tháng, Đức Thánh Cha có gởi cho các giám mục toàn cầu một lá thư, báo tin là năm 2000, Ngài sẽ tổ chức năm toàn xá một cách đặc biệt. Đặc biệt là vì kỷ niệm 2000 năm, ngày Chúa giáng sinh. Do đó, từ năm 1995 này trở đi, các nơi cần phải chuẩn bị cho năm toàn xá đó. Một trong những cách chuẩn bị mà Đức Thánh Cha đề ra, đó là “Hãy ăn năn sám hối”.

Đọc thư của Đức Giáo Hoàng kỳ này, tôi thấy Đức Thánh Cha rất khiêm tốn: Ngài nhận rằng, con cái Hội Thánh nhiều nơi đã đi xa Phúc Âm, nhiều nơi đã không còn trung tín với sứ điệp Phúc Âm. Ngài xin mọi người hãy khiêm tốn xét mình xem: Giờ đây mình xa Phúc Âm ở điểm nào, để cố gắng trở về, để cố gắng ăn năn sám hối.

Lúc nãy, đầu thánh lễ, một em nhỏ đại diện đã nói đến vấn đề sám hối và trở về với Đức Kitô, đào sâu Phúc Âm. Tôi coi đây cũng là một dấu chỉ tốt trong ngày cuối năm, bước sang năm mới. Chúng ta cảm tạ Chúa, nhưng đồng thời chúng ta xin Chúa tha tội cho chúng ta. Chúng ta có nhiều lầm lỗi lắm. Chúng ta phải làm gì bây giờ? Trước mặt tôi đây là những em nhỏ ca hát rất hay, tâm hồn rất đơn sơ chân thành. Tôi nhìn các em nhỏ và tôi đã nói với Chúa rằng: Con không xin Chúa điều gì lớn lao đâu. Con chỉ xin Chúa giúp con thực hành được điều Chúa dạy trong Phúc Âm: “Hãy trở nên giống trẻ nhỏ, để được vào nước trời”. Con biết con không đủ sức trở nên người thánh, trở nên bậc vĩ nhân, trở nên kẻ siêu phàm. Con chỉ xin Chúa giúp con trở nên trẻ nhỏ, để ca hát Chúa, để ca hát tình yêu Chúa bằng những lời ca chân thành, để đi theo Chúa bằng những bước đi nhỏ, và nếu có vấp váp lỗi lầm, thì cậy trông vào tình yêu mến Chúa, để xin Chúa thứ tha.

Tôi nghĩ rằng, điều tôi xin với Chúa hôm nay ngày cuối năm, cũng sẽ là điều tôi xin Chúa ngày mai, ngày đầu năm, cho tới suốt đời, để dù thêm tuổi, tôi vẫn trở nên trẻ nhỏ trước mặt Chúa, sống trọn vẹn thân phận người con bé nhỏ của Chúa. Và tôi nghĩ rằng: Chúa hứa thương yêu trẻ nhỏ, tha thứ cho trẻ nhỏ, thì chắc chắn, khi chúng ta dốc tâm sống như trẻ nhỏ trước mặt Chúa, Chúa sẽ thương chúng ta, Chúa sẽ nâng đỡ chúng ta, và sẽ giúp cho gia đình chúng ta luôn luôn hạnh phúc, luôn luôn bình an. Bởi vì, trong đó có tuổi xuân, tuổi thơ của Đức Kitô, của Chúa Thánh Linh. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Rạch Sâu ngày 31-12-1994


 

Bùi-Tuần 0457: NƯỚC THIÊN CHÚA 25-10-1994


Luca 13, 18-21

Trảng Tranh

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói đến Nước Thiên Chúa: 25-10-1994 Bùi-Tuần 457


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói đến Nước Thiên Chúa. Theo thói thường, khi nghe nói đến một nước nào, người ta thường nghĩ tới những yếu tố căn bản làm nên nước đó, những yếu tố phân biệt nước đó với những nước khác, những yếu tố đó như là: Nước đó ở lục địa nào, có biên giới thế nào, có màu cờ ra sao, có những dân tộc nào, nói thứ ngôn ngữ nào vv... Có nghĩa là, một nước phải ở trên bản đồ thế giới.

Nhưng, Nước Thiên Chúa mà Đức Kitô nói tới hôm nay, không thuộc loại những nước như vậy. Nước Thiên Chúa không có ở trên bản đồ thế giới. Một lẽ đơn giản, là vì Nước Thiên Chúa ở trong lòng con người. Có nghĩa là, những ai mang trong lòng mình những tinh thần tốt, đặc biệt là tinh thần công bình, tinh thần bác ái, tinh thần sự thật... Những người ấy thuộc về Nước Thiên Chúa.

Để biết rõ hơn về Nước Thiên Chúa, Đức Kitô trong nhiều dịp khác nhau, đã cho biết thêm, là trong mỗi người vẫn thường có những mầm mống tinh thần tốt, được gieo vào như là những hạt giống tốt. Nhưng bên cạnh những mầm mống tốt ấy cũng có những mầm mống tinh thần xấu xen vào như những hạt giống xấu. Cả hai loại hạt giống: Tốt và xấu, đều thi nhau mọc lên, đều thi nhau nảy nở. Vì thế, Thiên Chúa thường căn dặn mỗi người cần phải tỉnh thức, cần phải canh chừng, cần phải làm thế nào để những hạt giống tốt được nảy sinh cây tươi tốt, lấn át những hạt giống xấu khi nó muốn mọc lên, để khi thời gian tới, Đức Kitô đến thu hoạch mùa màng, Người sẽ hỏi mỗi người về mùa màng được thu hoạch, và mỗi người sẽ phải trả lẽ về những mùa màng mình đã đem đến với Chúa.

Đến đây, chúng ta sẽ thấy kết quả của sự Chúa phán đoán.

Tâm hồn của những ai đã trở thành thửa đất, có cây mọc lên tươi xanh, hoa trái sum suê và chim trời đến líu lo, vui hát, thì đó là tâm hồn thuộc về Nước Thiên Chúa. Họ sẽ được lên Thiên Đàng.

Còn trái lại, tâm hồn của những ai giống như thửa đất đầy cỏ rác, đầy bụi gai, nơi sinh sống của những rắn rết, thì tâm hồn đó không thuộc về Nước Thiên Chúa. Họ sẽ bị loại trừ xuống hoả ngục.

Tới đây, một câu hỏi tất nhiên sẽ đặt ra cho mỗi người chúng ta, là giờ đây, lúc này, nếu Chúa đến tra vấn lòng ta, thì liệu lòng ta có đủ điều kiện, để Chúa kết luận là ta thuộc về Nước Thiên Chúa không?

Tôi nghĩ rằng, xem xét tâm hồn mình theo tiêu chuẩn tinh thần tốt, không phải là chuyện dễ đâu. Nhưng để giúp cho chúng ta có một cái nhìn tương đối đúng sự thật, Đức Kitô đã giới thiệu hai dấu chỉ, để giúp chúng ta thực hiện bước đầu đi vào Nước Thiên Chúa:

Dấu chỉ thứ nhất là tinh thần bác ái.

Trong Phúc Âm Chúa Giêsu nói rất nhiều lần, và nói rất rõ: Hễ chúng ta có lòng thương yêu người ta thật sự, dễ tha thứ, dễ chấp nhận những yếu đuối, tội lỗi của những người chung quanh với tấm lòng bao dung, dễ đoán sự lành cho người khác, dễ vui khi thấy họ thành công, dễ phục vụ khi họ cần đến mình, thì đó là dấu ta có tinh thần bác ái. Ta đang thuộc về Thiên Chúa.

Rồi, dấu chỉ thứ hai cũng dễ thấy, cũng dễ kiểm chứng được, đó là tinh thần nhìn nhận sự thật tối thiểu, sự thật gần gũi nhất, đó là sự thật về chính mình.

Khi nhìn nhận mình là yếu đuối. Khi nhìn nhận mình là tội lỗi. Khi nhìn nhận mình là hèn mọn. Rồi từ đó ăn năn thống hối, kêu cầu Chúa cứu độ, thì đó là dấu ta tôn trọng sự thật, và đó là dấu ta có tinh thần tốt. Ta đang thuộc về Nước Thiên Chúa.

Tới đây anh chị em đã nhận thấy khá rõ, những cái gì là căn bản nhất, giúp chúng ta thuộc về Nước Thiên Chúa. Những giá trị nào là cần thiết nhất, để chúng ta có thể làm việc tông đồ trong thời đại này. Tôi xin nhắc lại, đó là những tinh thần tốt, và đặc biệt là tinh thần công bình, tinh thần bác ái, tinh thần sự thật. Mà khi chúng ta đã nhìn nhận như vậy, thì chúng ta sẽ thấy việc đào tạo mình, việc huấn luyện những người thuộc về mình để có những giá trị ấy, thời nay đang trở nên rất cần thiết và rất quan trọng.Kinh nghiệm cho tôi thấy là trong vấn đề đào tạo lương tâm, huấn luyện con người để biết bám vào những giá trị căn bản Phúc Âm của Nước Trời, chúng ta thường học giáo lý nhiều. Học giáo lý nhiều, đó là điều tốt. Nhưng chỉ học mà thôi thì không đủ. Phải làm cho những chân lý đó trở thành sự sống. Phải làm cho những chân lý đó nhập tâm. Phải làm cho những chân lý đó hướng dẫn và thống trị đời sống chúng ta, từ bên trong đến bên ngoài.

Giờ đây, tôi đang nhìn thấy tình hình Hội Thánh Việt Nam. Tôi đang nhìn thấy tình hình đất nước Việt Nam. Tôi nhìn thấy có rất nhiều tinh thần tốt đang được mọc lên. Tôi cũng đang nhìn thấy vô số tinh thần tốt, đang nảy nở khắp nơi trong tâm hồn mỗi con người, trong gia đình mỗi anh chị em, trong giáo xứ, trong cộng đoàn Hội Thánh Việt Nam chúng ta.

Nếu chúng ta không canh chừng, nếu chúng ta không phân biệt những gì là giá trị căn bản, và nhất là, nếu chúng ta không gặp gỡ được Đức Kitô là Đấng Cứu Độ, là Đấng hướng dẫn cuộc đấu tranh giữa những giá trị tốt và những giá trị xấu, không gặp gỡ được Ngài để bám vào Ngài trong cuộc chiến đấu quyết liệt hôm nay, thì tôi sợ là mai này, những tinh thần xấu sẽ làm nên một cơn lũ lụt, làm trôi đi hết những tinh thần tốt, mà ta đã lãnh nhận trong đời sống, qua các Bí Tích, qua những lớp giáo lý, qua những cơn thử thách này nọ.

Vì thế, trong lễ Thêm Sức hôm nay, tôi xin anh chị em, hãy nhìn lên Chúa Thánh Thần, hãy xin Người giúp cho chúng ta được gặp Đức Kitô. Xin Ngài mở mắt linh hồn chúng ta ra, để chúng ta nhìn thấy Đức Kitô đang hiện diện ở đây, để Đức Kitô sẽ là Đấng Cứu Độ ta, trong cuộc chiến giữa tinh thần tốt và tinh thần xấu đang diễn biến phức tạp, tại Hội Thánh hôm nay.

 Khi đã gặp gỡ được Đức Kitô, khi đã bám vào Đức Kitô, khi đã nhìn thấy dung nhan Đức Kitô thế nào rồi, chúng ta có hy vọng chắc chắn sẽ thắng được những tinh thần xấu đang dấy lên sức mạnh, để phá Nước Trời, để phá Nước Thiên Chúa.

Con em chúng ta còn dại lắm. Tôi hy vọng vào các phụ huynh, những người đã được ơn Chúa soi sáng, những người đã được Thiên Chúa thắng vượt những cơn thử thách về đức tin. Hôm nay, hãy cầu xin Chúa Thánh Thần giúp cho anh chị em đủ sức hướng dẫn con em của mình, trong cuộc chiến giữa tinh thần tốt và tinh thần xấu, đang diễn biến rất phức tạp như tôi đã nói. Để sau này, như anh chị em vừa hát: Anh chị em sẽ được sai đi, như là những người làm chứng cho những giá trị căn bản của Đức Kitô, để làm chứng về Nước Trời: Nước Trời là công bình. Nước Trời là bác ái. Nước Trời là sự thật. Nước Trời chính là Đức Kitô Cứu Độ. Amen.

Trảng Tranh Ngày 25-10-1994


 

Bùi-Tuần 0458: ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN 26-10-1994


Luca 13,22-30

Hoà An (Hoà Hưng)

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã nói hai điều tiên tri: 26-10-1994 Bùi-Tuần 458


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã nói hai điều tiên tri:

Điều tiên tri thứ nhất, là nhiều người có đạo sẽ bị Chúa không nhìn nhận. Họ tưởng mình biết Chúa. Họ tưởng mình thuộc về nước Thiên Chúa, vì lẽ họ đã từng tham dự những buổi giảng huấn của Chúa. Nhưng, Chúa đã không nhìn nhận họ. Lý do đơn giản nhất Chúa nói trong Phúc Âm là: Họ có đạo, nhưng sống gian ác.

Điều tiên tri thứ hai, là sẽ có nhiều người không có đạo từ đông chí tây, từ nam chí bắc, sẽ được Thiên Chúa nhìn nhận, thuộc về nước Thiên Chúa, được Chúa đón nhận. Lý do Chúa không nói rõ ở đây, nhưng theo nội dung trước sau trong bài Phúc Âm, tôi thấy lý do chính được Chúa chấp nhận họ, là tuy họ không có đạo, nhưng họ sống lương thiện, không gian ác. Họ tôn trọng sự thật. Họ có lòng công bình, bác ái đối với những người chung quanh.

Hai điều tiên tri Chúa nói hôm nay, kêu mời chúng ta xét lại cái nhìn của mình về cách giữ đạo.

Nhiều người trong chúng ta nhìn vào các sinh hoạt tôn giáo, rồi căn cứ vào đó để đánh giá việc giữ đạo của mình, như trong bài Phúc Âm có nói: “Tôi đã tham dự những buổi Chúa giảng dạy. Tôi đã ăn uống trước mặt Chúa”. Nghĩa là, họ căn cứ vào những sinh hoạt tôn giáo, để cho rằng mình có giá trị trước mặt Chúa. Nhưng Chúa bác bỏ cách nhìn như vậy, cách đánh giá như vậy. Thiên Chúa không nhìn vào các sinh hoạt tôn giáo, mà nhìn vào lòng con người, nhìn vào các sinh hoạt cuộc sống, xem ở đó có lương thiện không, có sự thật không, có công bình không, có bác ái không. Chúa sẽ căn cứ vào những giá trị ấy để đánh giá việc giữ đạo của mỗi người, và để rồi phân loại: Ai sẽ được lên Nước Chúa, ai bị xua đuổi xuống hoả ngục.

Rõ ràng, bài Phúc Âm hôm nay nhấn mạnh đến những đức tính nhân bản, đặc biệt là sự lương thiện, sự công bình, sự bác ái. Chúa nhấn mạnh đến đức tính nhân bản. Và các Đức Giáo Hoàng gần đây cũng đã nhắc nhở những người đào tạo nhân sự, những giáo lý viên, những người đứng đầu cộng đoàn phải đặc biệt chú ý đến đức tính nhân bản này. Bởi vì, đây là những giá trị thích hợp nhất trong thời buổi hôm nay để loan báo Tin Mừng.

Trong thời buổi hôm nay, chúng ta đang thấy các đức tính nhân bản, như sự lương thiện, công bình, bác ái, tôn trọng sự thật, là những cái dễ thấy, dễ kiểm chứng, là những cái dễ giới thiệu thực chất của một người, dễ giới thiệu thực chất của một tôn giáo, dễ gây được cảm tình đối với những người chung quanh.

Trong mấy tuần nay và cả hôm nay, từng triệu người trên đất nước chúng ta đang theo dõi những gì xảy ra cho các nạn nhân lũ lụt. Những ai có những việc làm từ thiện, bác ái, tỏ tình liên đới với những nạn nhân lũ lụt, đều được khắp nơi ca ngợi. Những tín đồ tôn giáo nào đã tự động làm những việc có tính cách từ thiện cứu giúp những nạn nhân lũ lụt, đang gây được cảm tình tốt, không những đối với cá nhân họ, mà còn đối với cả tôn giáo của họ. Những tôn giáo nào trong mấy tuần nay, đã động viên được tín đồ của mình làm công việc bác ái, chia sẻ tình cảm, của cải, thời giờ với những nạn nhân lũ lụt, đều đã được kính trọng, đều đã dành được niềm tin tưởng nơi từng triệu người Việt Nam hôm nay.

Cũng trong mấy tuần nay, từng triệu người Việt nam, đang theo dõi mấy cuốn phim chiếu về những nhân vật đề cao đức tính nhân bản: Sự lương thiện, sự công bình, sự dũng cảm, sự suy nghĩ tốt cho những người chung quanh... Những đức tính nhân bản ấy đã có sức thuyết phục những người khó tính nhất, đã là một sức mạnh thiêng liêng làm chứng giá trị nhân bản của con người, đã là một cái giá trị có sức thuyết phục, có sức làm chứng, có sức gây tình cảm, có sức xây dựng nền móng, xã hội và gia đình.

Cũng trong mấy tuần nay, qua thư từ và phản ánh, tôi đã nhận được khá nhiều dư luận, bất mãn về cá nhân này, về cộng đoàn kia. Bởi vì, họ quá sai sót lỗi lầm trong vấn đề lương thiện, công bình, bác ái. Và cũng qua thư từ phản ánh, tôi cũng đã nhận thấy nhiều tin tức ca ngợi những cá nhân, những họ đạo, những nhà dòng đã sống lương thiện, công bình, bác ái, tôn trọng sự thật.

Qua những kinh nghiệm mới đây, tôi càng hiểu thấm thía lời Chúa phán hôm nay, một lời làm cho tôi phải suy nghĩ trằn trọc: “Bởi vì chúng bay gian ác, cho nên Ta đuổi chúng bay đi”. Chỉ vì gian ác chứ không phải là vì không có tham dự sinh hoạt tôn giáo. Gian ác, tức là thiếu những đức tính nhân bản cần thiết nhất.

Mà theo lời Chúa nói hôm nay, thì khi lỗi về đức tính nhân bản Chúa có thể ra án phạt đời đời, chứ không phải chỉ là mất mát tình cảm, mà phải xuống hoả ngục. Mất mát đời đời chỉ vì lỗi về đức tính nhân bản, vì gian, vì ác, vì sống không trung thật, không tôn trọng sự thật, không có lòng yêu thương, không có lòng liên đới.

Những điều Chúa dạy hôm nay trong Phúc Âm, cũng như những kinh nghiệm tôi nhận được trong mấy tuần qua, càng làm cho tôi xác tín rằng: Chúng ta phải nghĩ lại đường lối giáo dục của chúng ta, đường lối tự đào tạo mình và đào tạo những người thuộc về mình. Có nghĩa là chúng ta, đang khi nhấn mạnh đến những điều phải tin, đang khi khuyến khích tham dự những sinh hoạt tôn giáo đều đặn, thì chúng ta cần phải huấn luyện nhiều hơn đến những đức tính căn bản, nhất là sự sống lương thiện, sự tôn trọng sự thật, công bình, bác ái, sống liên đới, sống kính trọng người khác vv...

Khi tới đây, tôi nhận thấy các trẻ em có vẻ lễ phép, hiền hoà, nhường nhịn, vâng lời. Tôi cho đây là những đức tính nhân bản tốt, kết quả của những đường lối giáo dục tốt của gia đình, của trường học, của xã hội, của các cha, các sơ (soeur), các thầy, hội đồng giáo xứ và giáo lý viên. Những kết quả ấy cần phải được tiếp tục và phát triển thêm. Phát triển thêm, có nghĩa là chúng ta đem những đức tính nhân bản có sẵn vào các động lực của đức tin và đức ái Phúc Âm.

Khi chúng ta đem những đức tính nhân bản đó vào động lực đức tin và đức ái Phúc Âm, thì những đức tính nhân bản đó sẽ đẹp hơn, sẽ mạnh hơn, sẽ có sức thuyết phục và truyền giáo nhiều hơn.

Trong thánh lễ hôm nay, tôi xin Chúa Thánh Thần mở lòng chúng ta ra, mở mắt chúng ta ra, để chúng ta hiểu được lời Chúa dạy trong bài Phúc Âm. Hãy để ý đến những giá trị căn bản, cũng gọi là đức tính nhân bản, vì đó là những cái làm chứng cho Chúa, làm chứng cho đạo ta, dọn đường cho Chúa đến.

Trong giờ phút này, xin anh chị em sống sự thật của mình lúc này. Đó là cầu nguyện với tất cả tâm hồn. Cầu nguyện là gặp gỡ Chúa. Cầu nguyện là đón nhận Chúa. Cầu nguyện là sẵn sàng vâng theo ý Chúa. Amen.
Hoà An (Hoà Hưng), ngày 26-10-1994

 

Bùi-Tuần 0459: TRUYỀN GIÁO VÀ ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN 29-10-1994


 Lc 14, 1.7-11

Họ Antôn, Lấp Vò

 

Qua bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu dạy tôi nhiều điều về: 29-10-1994 Bùi-Tuần 459


Qua bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu dạy tôi nhiều điều về truyền giáo.

Điều thứ nhất Chúa dạy tôi là Chúa có thể dùng bất cứ ai, để dọn đường cho Chúa đến rao giảng Tin Mừng.

Thực vậy, hồi đó, giới Biệt Phái bị coi là những người đạo đức giả. Chính Chúa Giêsu cũng đã nêu lên sự thật đó nhiều lần. Người ta có cảm tưởng là giữa Đức Kitô và giới Biệt Phái có một khoảng cách rất lớn, không thể nào rút gần lại được. Ấy thế mà, bài Phúc Âm hôm nay nói: Có một người Biệt Phái, đã mời Đức Kitô đến nhà mình để dùng cơm. Mà không phải người Biệt Phái tầm thường, ông ta là thủ lãnh các người Biệt Phái. Ông ta mời Chúa đến nhà mình, mời dùng bữa với mình. Đức Kitô đã nhận lời, đã đến, đã ở lại nhà người Biệt Phái, và đã trao đổi chuyện vãn với họ.

Sự kiện trên đây cho chúng ta thấy Đức Kitô, nhà truyền giáo được sai đi có một trái tim cởi mở. Ngài biết mọi người: Mỗi người đều có cái xấu, có cái tốt tương đối. Nhưng không vì thế mà Ngài có thành kiến cố định. Khi thấy người thủ lãnh Biệt Phái có một cử chỉ tốt đối với Ngài, Ngài nắm bắt ngay cử chỉ tốt đó, để đến với ông, để xây dựng một dây liên hệ thật tốt với ông.

Việc Chúa làm hôm nay, khiến chính tôi cũng như anh chị em phải có một thái độ cởi mở trong vấn đề giao tế để truyền giáo. Nhiều khi tôi xét mình, tôi thấy tôi rất yếu đuối, rất nhiều thiếu sót, rất nhiều tội lỗi, thế mà Chúa không có thành kiến, không có loại trừ, Chúa vẫn thương tôi. Thế thì tại sao tôi lại thành kiến, hẹp hòi với những chung quanh, kể cả những người mà xã hội dư luận cho là tội lỗi. Truyền giáo phải như Đức Kitô, nắm bắt mọi cử chỉ tốt của người ta, phải lợi dụng mọi cơ hội tốt để đến với con người. Đó là điều thứ nhất Chúa dạy tôi hôm nay.
Điều thứ hai Chúa dạy tôi hôm nay là Đức Kitô có thể dùng bất cứ nơi nào, để rao giảng Tin Mừng.

Hồi đó, dân Israel có thói quen chỉ nghe lời Chúa trong hội đường, chỉ suy gẫm lời Chúa trong đền thờ, chỉ bàn về nước Chúa trong sinh hoạt tôn giáo. Thế nhưng, bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, Đức Kitô không tự hạn chế việc rao giảng Tin Mừng trong bốn bức tường hội đường. Ngài không tự hạn chế việc rao giảng Tin Mừng trong sinh hoạt tôn giáo. Bởi vì, Ngài rao giảng Tin Mừng ngay trong nhà ông thủ lãnh Biệt Phái. Nhà đó đâu có phải là hội đường. Ngài rao giảng Tin Mừng ngay trong bữa ăn. Bữa ăn đâu có phải sinh hoạt tôn giáo.

Việc Chúa làm hôm nay cho tôi thấy: Chúa Giêsu, Người truyền giáo được sai đi, rất bén nhạy, coi việc làm truyền giáo của mình là không biên giới. Chỗ nào cũng là chỗ tôi rao giảng Tin Mừng.

Chúng ta thấy, ngày hôm nay có biết bao giáo phái, có biết bao tôn giáo, đang lăn xả vào các gia đình và các hội trường, để rao giảng Tin Mừng theo ý nghĩa của họ. Và kết quả không phải là tiêu cực đâu. Họ rao giảng Tin Mừng trong các gia đình. Họ gặp gỡ ai là nói đến truyền giáo. Và kết quả như tôi nói là rất tích cực. Nhiều người đã chạy theo giáo phái. Ấy thế mà tại sao chúng ta, anh chị em cũng như tôi, lại tự hạn chế mình trong một nơi nhỏ hẹp, trong sinh hoạt tôn giáo, trong bốn bức tường nhà thờ.

Mấy tuần nay, trong cơn lũ lụt, tôi thấy biết bao nhiêu người đã nêu gương đạo đức trong những sinh hoạt cuộc sống, bằng cách bỏ tiền ra cứu giúp, bằng cách hy sinh thời giờ công sức để làm gương bác ái. Đó cũng là rao giảng, nêu cao những giá trị Phúc Âm.

Điều thứ ba Chúa dạy tôi hôm nay là Chúa Giêsu dùng bất cứ đề tài nào để rao giảng Tin Mừng.

Hồi đó, dân Israel nhất là người Biệt Phái, để ý học hỏi luật Môisen, kinh Môisen, học thuộc lòng, rồi còn viết ra, cuốn lại, đeo vào tay áo, làm chứng rằng mình gắn bó với luật Môisen. Thế nhưng, Đức Kitô, như bài Phúc Âm hôm nay nói: Ngài không nói đến luật Môisen, Ngài không nói đến giáo lý của tôn giáo. Ngài nói đến đức tính nhân bản: Đừng có kiêu ngạo, đừng có thích chỗ cao, chỗ nhất. Ngài nói về nhân bản thôi. Bởi vì, nhân bản cũng chính là đạo làm người, trước khi là đạo của Thiên Chúa. Một nền tảng nếu thiếu đi, sẽ không còn là đạo của Thiên Chúa.

Sự việc Chúa Giêsu làm hôm nay, chứng tỏ Đức Kitô, Người truyền giáo, có một cái nhìn rất rộng về tôn giáo. Điều Ngài muốn cho chúng ta học, không phải chỉ trong Kinh Tin Kính, trong kinh mục, trong cuốn giáo lý, mà là tất cả những gì giúp cho chúng ta nên một người tốt. Điều này khuyến khích tôi phải để ý nhiều hơn đến những đức tính nhân bản, mà Đức Kitô hôm nay đã nêu lên trong nhà ông thủ lãnh Biệt Phái.

Anh chị em thân mến,

Họ đạo Lấp Vò, theo như chúng ta ước lượng đã hơn 100 năm. Thế mà số giáo dân hôm nay, cũng chỉ hơn 100 người. Họ đạo chúng ta có nhà thờ đẹp, có linh mục trẻ, nghĩa là chúng ta có rất nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển.

Tôi hỏi Chúa: Không biết Chúa có bằng lòng với họ đạo chúng con không? Riêng tôi, khi ăn năn tội ở đầu thánh lễ, tôi đã xin Chúa tha thứ tội lỗi cho tôi, có thể là do tôi đã thiếu sót trong vấn đề truyền giáo. Và tôi cũng nghĩ rằng, anh chị em cũng có thể thiếu sót trong vấn đề truyền giáo. Và cái thiếu sót nhất, theo tôi nghĩ: Đó là chúng ta thiếu lửa mến Chúa, yêu người.

ở đầu thánh lễ, khi anh chị em hát: “Hãy đốt lên lửa hồng, hãy chiếu soi lửa hồng”, tôi đã nói với Chúa rằng: “Xin Chúa đốt lên trong lòng con, trong họ đạo con lửa mến Chúa, lửa Nước Trời, để với lửa đó con sẽ ra đi”. Bởi vì, nếu thiếu lửa trong lòng mình, thì chúng ta không có sáng kiến, chúng ta không biết phải làm gì để mở mang Nước Chúa.

Trong thánh lễ hôm nay, tôi đã xin với Chúa Thánh Linh một điều này: Xin Chúa giúp cho tôi, cho anh chị em có được một trái tim nồng cháy như Đức Kitô. Người truyền giáo hôm nay, biết dùng bất cứ người nào mà Chúa cho mình thấy có thể chiếm, biết lợi dụng bất cứ nơi nào mình thấy có thể rao giảng Tin Mừng, và biết lợi dụng bất cứ đề tài nào để gieo rắc Tin Mừng chung quanh chúng ta. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta cầu nguyện vì danh Chúa, Chúa sẽ ban ơn cho chúng ta.

Đây là một lời khuyến khích nhắn nhủ anh chị em. Bởi vì, vấn đề truyền giáo là bổn phận chính yếu của người đã được rửa tội, đã được chịu phép Thêm Sức. Nếu chúng ta chỉ giữ đạo mà không truyền đạo, không mở đạo ra, thì chúng ta có lỗi. Mà lỗi đó không thể được Chúa tha thứ, nếu chúng ta không thật sự ăn năn, và ăn năn là sửa lại.

Xin Chúa Thánh Linh đến với chúng ta, biến đổi tâm hồn chúng ta, ban cho chúng ta có nhiều sáng kiến, nhất là ban cho chúng ta có lửa mến Chúa yêu người thật sự, và lửa truyền giáo: Biết ra đi, biết rao giảng Tin Mừng cách dũng cảm và nhiều sáng kiến. Amen

Họ Antôn, Lấp Vò, ngày 29-10-1994


 

Bùi-Tuần 0460: KHIÊM NHƯỜNG CủA PHÚC ÂM 29-10-1994


Lc 14,1.7-11

Cái Đôi

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói về sự khiêm nhường: 29-10-1994 Bùi-Tuần 460


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói về sự khiêm nhường.

Sở dĩ, Chúa đề cập đến sự khiêm nhường hôm nay là để uốn nắn lại một thói quen sai trái của giới biệt phái bấy giờ: Sai với giáo lý, trái với nhân bản.

Thật vậy, hồi đó giới Pharisêu chủ trương rằng: Tôn giáo của họ và duy trì tôn giáo của họ, mới có đầy đủ mọi chân lý. Còn các tôn giáo khác thì đầy dẫy sự sai lạc. Và trong tôn giáo của họ, giới biệt phái, và chỉ giới biệt phái mới là những người đạo đức thật, đạo đức cao, còn những người khác, tuy có đạo đức, cũng chỉ ở mức độ thua kém.

Họ chủ trương trên lý thuyết như vậy, và từ lý thuyết cực đoan ấy, họ rút ra những thực hành rất là cực đoan:

Khi đi qua một làng vô đạo, họ tránh không đi vào. Mà nếu muốn đi qua, họ phải vòng quanh, chứ không đi vào làng ngoại đạo. Khi có việc gì với một gia đình ngoại giáo, họ đứng ngoài cổng chứ không thèm bước vào. Khi có một câu chuyện phải nói với người ngoại đạo, với người tội lỗi, họ quay mặt đi mà nói.

Thói quen tự đề cao mình trên lý thuyết và trên thực hành, đã dẫn họ đến những hành động lố bịch. Chẳng hạn như bài Phúc Âm hôm nay kể: Họ tranh nhau ngồi chỗ nhất, ăn cơm mà còn tranh nhau ngồi chỗ nhất. Thấy cảnh sai trái như vậy, Chúa Giêsu đã có ý kiến để giúp họ nghĩ lại. Và để cho ý kiến của Đức Kitô được rõ, thì nhiều lần Đức Kitô đã đề cao những người ngoại giáo.

Chẳng hạn về đức bác ái, thì Đức Kitô nêu gương người Samaria, một người ngoại đạo, đã dừng lại cứu giúp nạn nhân nằm bên vệ đường; đang khi thầy tư tế, thầy Lêvi nhìn thấy nạn nhân thì ngoảnh mặt đi.

Rồi, khi nói về sự biết ơn, Đức Kitô cũng đã nêu gương sáng nơi người ngoại giáo: Mười người phong cùi được Chúa chữa khỏi, chỉ có một người trở lại cám ơn Chúa. Người đó lại là người ngoại giáo.

Rồi, khi nói về sự cầu nguyện, sám hối, Chúa lại nêu gương sáng người thu thuế, là loại người không được dư luận cho là đạo đức. Ông ta đứng cuối nhà thờ, cúi mặt xuống, đấm ngực xin Chúa thứ tha; đang khi người biệt phái đứng trước bàn thờ, phô trương công đức của mình, khinh thường người thu thuế đứng cuối nhà thờ.

Rồi, khi nói về đức tin, Chúa Giêsu lại nêu gương một người sĩ quan ngoại đạo. Chúa nói: “Tôi chưa thấy một đức tin nào mạnh bằng đức tin của ông này"; đang khi Chúa lại chê những người có đạo hồi đó, thấy phép lạ, nghe lời giảng, mà vẫn cứng lòng.

Những điều Chúa dạy về đức khiêm tốn hôm nay, khuyến khích tôi nhìn lại chính mình và nhìn lại những cộng đoàn đức tin của tôi.Nhìn chung, nhìn qua, tôi thấy chúng ta tiếp thu khá đúng lời Chúa dạy. Và trên thực tế, chúng ta cũng thực hành khá đúng, theo tinh thần Chúa dạy. Nhất là sau công đồng Vatican II, các sách báo công giáo chúng ta đã công khai nhìn nhận những giá trị của các tôn giáo khác. Và trên thực tế, từ Đức Giáo Hoàng cho đến giáo dân, đã có những thái độ cởi mở hơn, trong việc tiếp xúc, cộng tác với những người ngoài công giáo.

Thế nhưng, khi nhìn kỹ lại chính mình, khi nhìn kỹ lại cộng đoàn của tôi, tôi thấy không hoàn toàn là vô tội trước mặt Chúa, trong tinh thần vâng phục bài Phúc Âm hôm nay.

Có một hiện tượng đang chớm nở trong Hội Thánh chúng ta, đó là hiện tượng quá đề cao uy tín Hội Thánh, quá đề cao cộng đoàn của mình, quá đề cao cá nhân của mình, đến nỗi không những đẩy lùi những tôn giáo khác, mà cũng đẩy lùi cả Đức Kitô, đẩy lùi cả Phúc Âm của Đức Kitô, xuống hàng thứ yếu.

Rồi có một tinh thần tục hoá, cũng đang đề cao những việc bề ngoài quá đáng, mà quên đi sự gặp gỡ Đức Kitô, và những giá trị căn bản nhất của Phúc Âm là khiêm tốn, là sám hối, là bác ái công bình.

Anh chị em thân mến,

Nếu hiện tượng không đúng ấy cứ một mực tăng lên, thì tôi lo rằng sẽ đến một lúc nào đó, Chúa sẽ thực hiện lời Chúa cảnh cáo hôm nay: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống”, dù đó là một Hội Thánh địa phương, là một vị lãnh đạo cộng đoàn tôn giáo, là một tổ chức đạo đức.

Những điều Chúa dạy về đức khiêm nhường, mà tôi vừa chia sẻ với anh chị em, rất cần được thực hiện trong việc truyền giáo. Đi tới đâu, gặp bất cứ ai, nhất là những người ngoài công giáo, chúng ta cần phải có một thái độ khiêm tốn, đừng phô trương mình là nắm sự thực, đừng phô trương đạo mình là luôn luôn thánh thiện, để rồi kết án và khinh rẻ những đạo khác, những người ngoài công giáo. Chỉ có Chúa mới biết rõ được. Còn chúng ta, khi giao tiếp với người khác, nhất là đứng trước mặt Chúa, chúng ta cần phải rất khiêm tốn. Rất khiêm tốn, vì Chúa đã dạy hôm nay: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống”. Đến một lúc nào đó, nếu chúng ta có nâng mình lên, khen Hội Thánh mình, khen cộng đoàn của mình, thì Chúa sẽ cho chúng ta bẽ mặt, vì Chúa chỉ luôn nêu gương đạo đức nơi những người ngoại giáo. Lúc bấy giờ chúng ta mới thấy chúng ta sai lầm thì sợ quá trễ, quá muộn.

Xin Chúa Thánh Thần là Đấng sai chúng ta đi truyền giáo trong thời đại này, giúp cho chúng ta có một sự khôn ngoan, một sự hiểu biết, để chúng ta biết có một thái độ khiêm tốn, nhã nhặn, cởi mở, tế nhị trong vấn đề đối xử, tiếp cận, nhất là với những người ngoài công giáo.

Tôi tin rằng, trong thánh lễ hôm nay, nếu chúng ta xin Chúa ở giữa chúng ta, nếu chúng ta tập trung lòng trí lại để gặp gỡ Đức Kitô, gặp gỡ như gặp bài Phúc Âm hôm nay: Ngồi bên Ngài, nghe lời Ngài, và tiếp thu tinh thần của Ngài, thì lời Chúa sẽ đem Đức Kitô khiêm nhường và hiền lành vào trong ta, để rồi không phải ta sống, mà là Đức Kitô hiền lành, khiêm nhường sống trong ta, để chúng ta đem vinh quang lại cho Chúa, không phải bằng những chiến thắng bên ngoài, mà bằng sự khiêm nhường, bằng sự hiền lành của Phúc Âm. Amen.

Gx Cái Đôi, ngày 29-10-1994


 

Bùi-Tuần 0461: LỬA MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI 30-10-1994


 Mc 12, 28-34

Cái Dầu

 

Đêm vừa qua, khoảng sau 12 giờ, một cơn mưa nhẹ đã đánh thức: 30-10-1994 Bùi-Tuần 461


Đêm vừa qua, khoảng sau 12 giờ, một cơn mưa nhẹ đã đánh thức tôi dậy. Tôi liền nghĩ ngay tới họ đạo của anh chị em, nơi mà sáng nay tổ chức lễ Thêm Sức.

Tôi biết là cha sở ở đây đã chuẩn bị rất chu đáo, nên riêng phần tôi, tôi cũng muốn chuẩn bị tương đối cho chu đáo. Tôi sắp xếp một vài đồ cần để trong cặp, rồi tôi tự hỏi mình chuẩn bị thế này không biết đã đủ chưa, có còn thiếu gì không? Và tôi nghe trong lòng một tiếng Chúa trả lời: Chuẩn bị như thế này chưa đủ. Còn thiếu một điều khác, đó là phải chuẩn bị tâm hồn của mình. Tôi liền mở sách Phúc Âm ra, và tôi đọc thấy Chúa dạy trong bài Phúc Âm hôm nay luật “mến Chúa yêu người”.

Qua bài Phúc Âm hôm nay, tôi hiểu Chúa muốn nhắc nhở tôi: Hãy dọn tâm hồn của mình bằng cách giục lòng mến Chúa nhiều hơn, giục lòng yêu thương người ta trong sáng hơn, mạnh mẽ hơn. Để cho tất cả mọi việc, mọi lời của tôi hôm nay ở đây, đều do động lực “mến Chúa yêu người”, đều hướng về mục đích duy nhất “mến Chúa yêu người”, và giúp cho tôi nhìn anh chị em, mọi việc anh chị em làm đều là những việc “mến Chúa yêu người”.

Nhất là lời Chúa trong bài Phúc Âm hôm nay, khuyến khích tôi hãy cầu xin cho mình, cầu xin cho họ đạo Cái Dầu thêm lửa mến Chúa, thêm lửa yêu người. Thêm sức là thêm lửa mến Chúa, thêm lửa yêu người. Tôi cảm tạ Chúa đã nhắc nhở cho tôi một điều quan trọng. Tôi cũng rất cảm tạ Chúa, vì luật “mến Chúa yêu người” đã đem lại cho tôi rất nhiều an ủi. Và tiện đây, tôi cũng muốn chia sẻ vắn tắt những tâm tình của tôi.

An ủi thứ nhất là luật “mến Chúa yêu người” đã trở nên tiêu chuẩn chắc chắn nhất, giúp tôi biết lựa chọn việc nào phải làm, việc nào không nên làm.

Thật vậy, trong đời sống thường, nhất là trong lãnh vực mục vụ, có nhiều vấn đề đặt ra cho tôi, mà vấn đề nào cũng có nhiều phương án có thể giải quyết. Mình phải chọn phương án nào? Khi còn phân vân lưỡng lự như vậy, tôi luôn lấy tiêu chuẩn “mến Chúa yêu người” để cân nhắc, để lựa chọn. Tôi sẽ chọn phương án nào nào đúng hơn với luật “mến Chúa yêu người”. Tôi sẽ chọn cách giải đáp nào, có khả năng làm chứng rõ hơn về luật “mến Chúa yêu người”. Tôi sẽ tìm cách nào, có hy vọng xây dựng được tình “mến Chúa yêu người” giữa những người chung quanh, nhất là giữa những người lương dân.

Tôi cũng đã thấy các linh mục, tu sĩ và giáo dân làm gương sáng cho tôi về sự lựa chọn như vậy.

Chẳng hạn hôm nay nhiều anh em linh mục của tôi, đáng lẽ phải ở nhà, lo việc khác cũng chính đáng, nhưng đã chọn đến đây. Tiêu chuẩn lựa chọn cũng là để mến Chúa, để làm chứng tình yêu thương đối với họ đạo Cái Dầu, đối với cha sở ở đây. Tôi cũng đã thấy giáo dân ngày hôm nay ở Long Xuyên, họ có thể ở nhà để cầu nguyện, để làm việc riêng. Nhưng có một nhóm sáng nay sau thánh lễ, lại đi cứu trợ những nạn nhân lũ lụt. Họ chọn phương án như vậy cũng vì muốn tuân luật Chúa, làm chứng cho tình “mến Chúa yêu người”.

An ủi thứ hai là luật “mến Chúa yêu người” đã là một bí quyết hữu hiệu nhất, giúp tôi vượt qua được những khó khăn, ngăn cách trong con đường truyền giáo.

Thật vậy, khi làm việc truyền giáo, tôi gặp rất nhiều khó khăn khách quan và chủ quan, nhất là khi lòng mình cảm thấy không có thiện cảm, hay là có thành kiến nào đó với những đối tượng tôi cần rao giảng Tin Mừng. Lúc ấy tôi phải làm gì? Tôi chỉ xin Chúa đốt lên trong trái tim tôi ngọn lửa “mến Chúa yêu người”. Tôi xin Chúa hãy làm cho tôi biết yêu thương người ta như yêu thương chính mình, như lời Chúa dạy trong bài Phúc Âm hôm nay. Và tôi thấy rằng: Khi Chúa ban cho tôi lửa yêu thương con người như yêu thương chính mình, thì tôi không sợ trở nên anh em với những người đó. Tôi không sợ họ sẽ là anh em của tôi, mặc dầu họ là người ngoài công giáo, mặc dầu họ là người ác cảm với công giáo. Một khi tôi đã coi họ là người anh em, yêu thương họ như chính mình tôi, thì tôi không ngại chia sẻ Tin Mừng của tôi cho họ, theo một cách nào đó thích hợp với tâm lý, hoàn cảnh.

Tôi cũng đã nhận thấy nhiều người làm gương sáng cho tôi về phương diện này: Thánh Phêrô, ngài thấy một người bại liệt, ngài nói: “Tôi không có tiền bạc gì cả, nhưng nhân danh Đức Kitô, anh hãy đứng dậy”. Rồi thánh Phêrô cầm tay người bại liệt ấy, giúp anh đứng dậy, nhập vào đoàn lũ đứng chung quanh.

Hiện nay cũng vậy, nhiều người không có tiền bạc chia sẻ, nhưng có tình mến Chúa, tình thương người. Họ đã cầm tay nhiều người khốn khó, để nâng đỡ họ đứng lên. Và tôi thấy tình thương, nhiều khi còn quan trọng hơn là vàng bạc của cải đem chia sẻ. Khi người ta cảm thấy mình được yêu thương, được kính trọng, được nâng đỡ, người ta nhận ra đó là Tin Mừng, Tin Mừng cứu độ. Tôi được Chúa yêu thương, tôi được anh em chung quanh yêu thương, đó là Tin Mừng.

An ủi thứ ba là luật “mến Chúa yêu người” đã trở nên giá trị căn bản nhất, giúp tôi tập trung lòng trí vào đó, trong đời sống bình thường.

Tôi cũng như anh chị em thấy giáo lý chúng ta rất là phong phú. Có người coi việc tra cứu, học hỏi phải tin cái gì, là giá trị căn bản. Có người lấy việc sinh hoạt tôn giáo, đi lễ đọc kinh, là giá trị căn bản. Rồi có người coi việc một chọn hướng chính trị, là giá trị căn bản.

Nhưng theo bài Phúc Âm hôm nay, giá trị căn bản chúng ta phải tập trung vào, đó là mến Chúa, đó là yêu người. Nếu tôi tin tất cả mọi sự, mà tôi không có lòng “mến Chúa yêu người”, thì không phải là điều Chúa muốn. Nếu tôi đi lễ đọc kinh, sinh hoạt tôn giáo đều đặn, mà thiếu “mến Chúa yêu người”, thì đó cũng không phải là điều Chúa muốn. Nếu tôi chọn một hướng chính trị nào đó mà tôi cho là hợp công bình bác ái, còn chính tôi thì thiếu lòng “mến Chúa yêu người”, thì đó cũng không phải là điều Chúa muốn.

Một việc rất nhỏ như bây giờ đây, đang nghe giảng mà chúng ta làm với nhiều tình mến Chúa trong lòng, với nhiều tình yêu thương nhân loại, thì một việc nhỏ đó cũng rất có giá trị cứu độ trước mặt Chúa.

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã làm chứng điều đó. Ngài nói: “Ơn kêu gọi của tôi là tình yêu. Làm cái gì, chịu cái gì, tôi đều cho vào đó tối đa tình yêu mến Chúa yêu người”. Và vì thế, Têrêxa đã trở nên người thánh.

Anh chị em thân mến,

Lúc nãy, ông đại diện có nói tình trạng của họ đạo Cái Dầu. Anh chị em sống rải rác khắp nơi. Đúng là như vậy. Nhưng nếu mỗi người anh chị em là một ngọn đèn sáng, bừng cháy lên lửa “mến Chúa yêu người”, thì đó là tốt lắm rồi, đó là truyền giáo, đó là thờ phượng Chúa, đó là thực hành luật căn bản của Phúc Âm.

Chúng ta hợp nhau đây sinh hoạt tôn giáo, để biểu dương ý nghĩa của Hội Thánh, một cộng đoàn tụ họp lại làm việc thờ phượng, có tính cách xã hội. Nhưng dù ở đâu, chúng ta hãy luôn luôn đốt trong lòng mình lửa mến Chúa thật nhiều, yêu thương người ta thật nhiều. Như vậy, anh chị em có thể an tâm được. Vì mặc dầu sống xa nhà thờ, anh em vẫn là người thờ phượng Chúa cách xứng đáng, anh chị em vẫn là người rao giảng Tin Mừng cách hữu hiệu. Và với tình mến Chúa yêu người, anh chị em sẽ là men, là bột ở trong một xã hội đầy những khó khăn, đầy những cản trở cho Phúc Âm.

Một lần nữa, tôi xin nói lại: Thêm Sức hôm nay, chủ yếu là thêm lửa “mến Chúa yêu người”. Xin anh chị em sốt sắng cầu xin Chúa Thánh Linh, để chúng ta được Chúa nhậm lời như vậy. Amen.

Họ Cái Dầu, ngày 30-10-1994


 

Bùi-Tuần 0462: KÍNH SỢ THIÊN CHÚA 13-11-1994


Mt 13,24-32

Thị Đam

 

Nghe xong bài Phúc Âm hôm nay, tôi đã tạ ơn Chúa, vì Chúa đã dạy: 13-11-1994 Bùi-Tuần 462


Nghe xong bài Phúc Âm hôm nay, tôi đã tạ ơn Chúa, vì Chúa đã dạy tôi qua bài Phúc Âm hôm nay một số điều quan trọng giúp cho tôi có sự bình an trong tâm hồn, cũng như giúp cho tôi biết xử sự trong khi thi hành chức vụ.

Điều thứ nhất Chúa dạy tôi trong bài Phúc Âm hôm nay, là tôi phải chấp nhận sự không thể hiểu hết được những sự tốt, sự xấu xảy ra trong Hội Thánh, trong xã hội.

Phúc Âm hôm nay cho biết: Người chủ gieo hạt giống tốt và mọc lên cây tốt, nhưng quỷ dữ cũng đã gieo vào ruộng những cỏ lùng và nó cũng mọc lên tốt.

Cũng vậy, Thiên Chúa đã gieo vào Hội Thánh, gieo vào xã hội những điều tốt, nhưng ma quỷ và những người xấu cũng đã gieo vào đó những cái xấu. Có điều tôi không hiểu được là tại sao Chúa lại để xảy ra như vậy. Trong Phúc Âm Chúa đã trả lời: “Cứ để vậy, chưa đến giờ nhổ cỏ”.

Điều đó khuyên tôi hãy chấp nhận sự không thể hiểu được những điều Chúa đang làm cho Hội Thánh, cho xã hội. Cái lý của mình nhiều khi khác với cái lý của Thiên Chúa; tôi tìm sự thật: Tại sao thế này? Tại sao thế kia? Nhưng sau cùng, qua bài Phúc Âm hôm nay, tôi thấy không nên hỏi mãi mình câu đó, để giày vò mình. Sự thật về xã hội, về Hội Thánh, nó sâu như biển cả, nó rộng như là bầu trời mênh mông, nó phức tạp như là một cánh rừng. Mỗi người chúng ta, kể cả tôi, chỉ nắm bắt được một phần nhỏ, rất nhỏ, những sự thật đó. Chỉ có tạo hoá mới có thể nhìn được tất cả toàn bộ sự thật. Và toàn bộ sự thật đó rất huy hoàng. Tôi không thấy được. Tôi chỉ nhìn thấy mình có giới hạn. Phải chấp nhận không thể hiểu hết được, để rồi phải biết làm những gì có thể làm được, đừng mơ ước những gì chỉ là ảo tưởng.

Điều thứ hai Chúa dạy tôi trong bài Phúc Âm hôm nay là phải chấp nhận không thể hiểu được những cái hay, cái dở, xảy ra trong chính cuộc đời mình, trong chính bản thân mình.

Tôi cũng thấy rằng: Chúa đã gieo vào lòng tôi, vào lòng anh chị em những điều tốt, nhưng ma quỷ và những hoàn cảnh xấu cũng đã gieo vào trong đó những hạt giống của cỏ lùng. Để rồi, chúng ta có những tư tưởng xấu, những ước muốn xấu, những hình ảnh xấu.

Tại sao Chúa để như vậy? Chúa là Đấng có thể cản ngăn được sự xấu. Tôi hiểu, nếu tôi cứ hỏi hoài như vậy, tôi sẽ bế tắc.

Bài Phúc Âm hôm nay dạy tôi: Chúa để sự tốt, sự dữ chen lẫn với nhau, là vì Chúa có chương trình của Chúa. Sự thật về tôi, sự thật của anh chị em, mặc dầu là của mình, nhưng vẫn vượt xa trí hiểu của mình. Của mình, mà mình không hiểu được đâu. Vì thế, Chúa dạy chúng ta trong bài Phúc Âm hôm nay là biết khiêm tốn chấp nhận giới hạn hiểu biết về chính mình để rồi dần dần nhận ra những giá trị của sự phấn đấu nội tâm.

Điều thứ ba Chúa dạy tôi trong bài Phúc Âm hôm nay, là cũng phải chấp nhận không thể hiểu được những cái hay, cái dở, trong khi mình thi hành nhiệm vụ.
Người đầy tớ trong bài Phúc Âm hôm nay, nói với ông chủ: “Cho tôi đi nhổ cỏ”. Tôi thiết nghĩ: Đó là một việc nên làm, thuộc nhiệm vụ của người đầy tớ. Ấy thế, mà ông chủ nói rằng: “Đừng, đừng nhổ cỏ, đừng tiêu diệt cỏ lúc này”. Đó là một nghịch lý, tôi không hiểu được.

Trong khi thi hành chức vụ, tôi cũng cảm thấy là tôi cần phải làm cái gì để đem lại ích lợi cho xã hội, cho Hội Thánh, cho những người xung quanh. Tôi xin sức khoẻ, Chúa lại để cho tôi đau ốm. Tôi xin của cải để bố thí, Chúa lại chỉ cho tôi một trái tim thương xót. Tôi xin một sự thành công, Chúa lại để cho tôi thất bại.

Tóm lại, trong khi thi hành chức vụ của mình, chúng ta sẽ gặp những cái nghịch lý không thể hiểu được, nhưng nhờ bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy mọi sự xảy ra như vậy, mặc dầu ngoài ý muốn của ta, đều nằm trong chương trình của Thiên Chúa, nếu chúng ta biết nhìn nó, như một dịp để phấn đấu cho sự nghiệp.

Tôi nghĩ rằng, anh chị em cũng như tôi, nhiều lần đã cố tìm hiểu: Tại sao mình cứ nghèo? Tại sao gia đình mình không vươn lên được? Tại sao cộng đoàn đức tin của mình cứ chìm mãi trong những bế tắc? Những cái đó, đôi khi làm chúng ta ray rứt. Nhưng hãy học những điều Chúa dạy hôm nay: Hãy chấp nhận, đừng tìm hiểu quá về những lý do, tại sao sự xấu, sự không tốt vẫn tồn tại.

Tôi thấy nhiều khi chúng ta muốn khôn ngoan trong sự tìm hiểu các lý do, nhưng đọc Kinh Thánh, tôi thấy sự khôn ngoan là ở chỗ này, là biết kính sợ Thiên Chúa. Đó là điều chúng ta mới nghe trong bài đọc, khi thánh tử đạo thà chết, chứ không dám làm sai luật Chúa. Ngài nói: “Vì tôi kính sợ Thiên Chúa”. Đó chính là sự khôn ngoan. Và sự thông thái theo luật của Chúa, chính là biết loại trừ, biết xa tránh tội lỗi.

Trong trường hợp mà tôi nhìn thấy sự dữ, sự lành chen lẫn nhau, thì tôi phải làm gì?
Tôi làm 3 việc đơn giản:

Việc thứ nhất: Tôi coi cơn cám dỗ muốn tìm hiểu lý do, là kẻ thù, làm mất thời giờ, làm cho mình dễ trở nên kiêu căng. Cho nên tôi rút vào một pháo đài vững chắc: Đó là sự cầu nguyện. Hãy đối diện với Chúa. Chúa sẽ chia sẻ cho tôi lý do mầu nhiệm của Chúa.

Việc thứ hai tôi làm là cậy nhờ Đức Kitô. Đức Kitô cũng đã trải qua những thử thách coi như nghịch lý. Ngài đã chấp nhận, vì Ngài chỉ muốn tuân phục thánh ý Chúa Cha.

Và điều thứ ba tôi làm là sau khi suy nghĩ cái gì hợp lý nhất, đúng thánh ý Chúa nhất, tôi làm với tất cả sự cậy trông. Có thế thôi.

Chiều hôm qua, tôi gặp một đôi vợ chồng trẻ: Chồng là bác sĩ đông y, gốc Công Giáo. Vợ là giáo viên tiếng Pháp, gốc Hoà Hảo. Hai vợ chồng đến với tôi, để chia sẻ thân phận quá nghèo của mình, quá bế tắc của mình, không xin xỏ gì. Và trong một lúc, người vợ đã nói tôi rằng: “Mặc dầu chúng con rất khổ, rất nghèo, nhưng mỗi tối trước khi nằm ngủ, chúng con chỉ cần là xem lại chính mình, xem có làm điều gì trong ngày làm cho lương tâm mất trong sáng, làm cho con cái mình mất tin tưởng và kính trọng ở cha mẹ mình không? Chúng con chỉ có thế thôi. Và bây giờ chúng con dám nói rằng: Chưa bao giờ chúng con đã làm điều gì cho tâm hồn chúng con mất trong trắng, cho con cái của chúng con mất niềm tin và lòng kính trọng đối với chúng con.

Nghe xong, tôi đã kết luận: Anh chị đã làm rất đúng, giữ được giá trị như vậy trong cảnh nghèo, đó là một nền văn minh lớn nhất, có thể đóng góp được cho địa phương, cho đất nước hôm nay. Đây là những giá trị còn quý hơn là vàng bạc. Bởi vì, nó là cái làm cho con cái sau này trở nên người thật, trở nên những người đáng kính, đáng tin.

Và một câu chuyện nhỏ như vậy, giúp cho tôi thấy: Trong một cuộc sống coi như bế tắc, thế mà đã loé sáng lên những giá trị tuyệt vời. Ai nói rằng: Đó là một cuộc sống vô nghĩa.

Anh chị em thân mến,

Tôi chỉ nhờ dịp này, để nhắn nhủ anh chị em biết làm những cái gì có thể làm được một cách hợp lý, theo thánh ý Chúa, trong cảnh thực tại của mình. Và anh chị em thấy, Chúa sẽ giúp cho anh chị em tìm được những hy vọng lớn, nền tảng cho tương lai sau này của bản thân mình, của con cái mình. Giàu sang rồi cũng sẽ qua đi. Thông thái rồi cũng sẽ có ngày sụp đổ. Nhưng đạo đức, niềm tin, sự trung tín, mới là những giá trị vững bền, giúp cho chúng ta làm người, và sẽ là người có hạnh phúc bây giờ và mãi mãi đời sau. Amen.

Thị Đam, ngày 13-11-1994


 

Bùi-Tuần 0463: CHÚC THƯ KHÔNG LỜI 16-11-1994


Thánh lễ tiễn biệt cha Tôma Trần Lê Vinh -Hàng Xanh (TP.HCM)

 

Cha Tôma đã ra đi một cách cô đơn, một sự cô đơn thanh thản nhẹ: 16-11-1994 Bùi-Tuần 463


Cha Tôma đã ra đi một cách cô đơn, một sự cô đơn thanh thản nhẹ nhàng.

Đối với tôi, cái chết cô đơn của cha Tôma là một chúc-thư-không-lời cha gởi lại cho tôi, cho các bạn bè gần xa.

Chúc-thư-không-lời này do Chúa viết ra thay cho cha.

Đọc chúc-thư-không-lời này, tôi hiểu thấm thía những thử thách, mà cha đã chấp nhận, để trung thành với lời giao ước.

Cha đã giao ước trung thành với Chúa, với ơn gọi, với cộng đoàn. Cuộc sống giao ước của cha là một hành trình dài. Trên suốt hành trình dài đó, cha đã bị thử thách.

Cha đã gặp thử thách về phía sức khoẻ: Tình trạng đau bệnh, tật nguyền bất cứ dưới dạng nào, khi kéo dài nhiều năm, vẫn là một mất mát lớn, kéo theo nhiều mất mát. Trong thử thách này, cha đã nếm được phần nào nỗi cô đơn của ông Giob, một nhân vật điển hình, bị bao thử thách.

Cha cũng đã gặp thử thách về phía cộng đoàn: Sự nghi ngờ, tuy chỉ do một số ít người, cũng đã gây nên cho cha những đau buồn cay đắng. Trong thử thách này, cha đã nếm được phần nào nỗi cô đơn của thánh vương Đavit, một người có lúc đã phải thốt lên với Chúa rằng: “Những người gần con, chính là bóng tối” (Cv. 87,19).
Cha cũng đã gặp thử thách về phía chính bản thân: Những yếu đuối tâm hồn, những giới hạn về khả năng, đó là những thánh giá hằng ngày cho chính cha. Trong thử thách này, cha đã nếm được phần nào nỗi cô đơn của thánh Phaolô tông đồ, một đấng có lần đã phải than thở với Chúa rằng: “Sự con muốn thì con lại không làm. Sự con không muốn thì con lại làm!”.

Cha cũng đã gặp thử thách về phía Chúa: Những chén đắng, cha muốn tránh, nhưng Chúa cứ trao cho cha, bảo cha phải uống, đã là những cái nghịch lý đối với trí khôn. Nhưng đó lại là những bằng chứng vâng phục đối với đức tin. Trong thử thách này, cha đã nếm được nỗi cô đơn của Đức Kitô, vị thượng tế, Đấng đã bị thử thách về mọi sự, ngoại trừ tội lỗi (Heb.4,19).

Lạy Chúa, Chúa đã thử thách con, và Chúa đã biết lòng con.

Lòng cha Tôma đã trung thành với lời giao ước. Một sự trung thành không dựa trên tính toán có đi có lại, nhưng dựa trên tình yêu dâng hiến trọn vẹn.

Lòng cha Tôma đã trung thành với lời giao ước, một sự trung thành đã bảo vệ được bằng những phấn đấu triền miên, mà động lực duy nhất là niềm tin vô điều kiện, đặt vào Đấng có thể làm được những sự không thể làm được.

Xưa, thánh Giacôbê đã viết: “Phúc cho ai chịu đựng được thử thách. Một khi giá trị của họ được nhìn nhận, họ sẽ lãnh triều thiên sự sống, mà Chúa đã hứa ban cho những người Chúa thương yêu” (1,12).

Tôi có cảm tưởng là Chúa đang thực hiện lời Chúa hứa đó cho cha Tôma. Cha đã lặng lẽ ra đi, như một người cô đơn. nhưng sự ra đi lặng lẽ bất ngờ này, lại nói lên rất nhiều tới ơn gọi trở về, Chúa dành cho những người thuộc về Chúa, luôn sẵn sàng trở về.

Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa vì chúc-thư-không-lời nơi cái chết của cha Tôma. Chúng con hứa sẽ sống theo chúc-thư-không-lời này. Con tin rằng linh hồn cha Tôma sẽ rất vui mừng với lời hứa đó.

Bài giảng thánh lễ tiễn biệt cha Tôma Trần Lê Vinh, tại nhà thờ Hàng Xanh, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 16-11-1994


 

Bùi-Tuần 0464: NÉT DỄ THƯƠNG NƠI ĐỨC KITÔ 22-11-1994


Lc 19,28-38

Gò Quao

 

Cách đây hai ngày, tôi cũng đã cùng với Hội Thánh mừng lễ Chúa: 22-11-1994 Bùi-Tuần 464


Cách đây hai ngày, tôi cũng đã cùng với Hội Thánh mừng lễ Chúa Giêsu Vua. Tâm tình mừng lễ Chúa Giêsu Vua vẫn còn mạnh mẽ trong tôi. Vì thế hôm nay, khi đến họ đạo An Bình (Gò Quao) đây, và khi đứng trước cảnh tưng bừng sốt sắng này, tôi đang nhìn thấy Đức Kitô Vua đến giữa chúng ta.

Đức Kitô Vua đang đến giữa chúng ta, Ngài thế nào? Tôi có thể tả chân dung Ngài bằng một câu, mà tiên tri Giacaria xưa đã nói: “Vua của con tới, Ngài là Đấng Công Chính, Ngài là Đấng chiến thắng, nhưng Ngài rất khiêm nhường”.

Đúng như vậy, Đức Kitô mà tôi đang gặp gỡ ở chỗ này, Ngài đang mặc một chiếc áo rất khiêm nhường, phủ lên trên sự chiến thắng, sự công chính của Ngài. Vì thế mà Đức Kitô tôi đang gặp gỡ đây là Ngài rất dễ thương.

Tôi thấy Ngài dễ thương ở mấy nét sau đây:

Nét dễ thương thứ nhất là Ngài đã đến không phải chỉ ở giữa chúng ta, không phải chỉ ở bên chúng ta, mà còn đến trong chúng ta. Nhất là trong những tâm hồn tan nát, trong những niềm tin suy sụp. Một cách nào đó Ngài đang thực hiện lời mà tiên tri Isaia xưa đã nói: “Ta là Đấng Tối Cao. Ta là Đấng rất thánh. Nhưng Ta đã đến trong lòng những người tan nát, những người suy sụp, để đem lại cho họ hy vọng và sự sống”.

Tôi biết, trong chúng ta, bao người đã có tâm hồn tan nát, đã có một niềm tin suy sụp, nhưng nhờ Đức Kitô đến trong lòng mình, và Ngài đã ban cho chúng ta những niềm tin, những hy vọng. Đây là cái điều tôi mừng nhất trong ngày hôm nay, vì thấy rõ Đức Kitô đến trong tâm hồn nhiều người, đặc biệt là những người đã mất niềm tin, những người đã có trái tim tan nát, vì những thất bại ê chề của cuộc sống.

Nét dễ thương thứ hai của Đức Kitô mà tôi gặp hôm nay ở đây, là ở chỗ Ngài dùng những kẻ bé mọn, những cộng đoàn bé nhỏ, để cộng tác với Ngài trong kế hoạch cứu độ. Như xưa Thiên Chúa đã chọn Đavít, là một kẻ bé nhỏ nhất, trong gia đình Giessê, để làm chứng cho quyền năng Thiên Chúa. Và như xưa Chúa đã chọn dân Do Thái là một cộng đoàn bé nhỏ nhất, để dọn đường cho Nước Trời ngự đến. Thì hôm nay tại đây, tôi cũng đang thấy Chúa chọn những người bé nhỏ nhất, những người yếu đuối nhất, những cộng đồng âm thầm nhất, để chuẩn bị cho Nước Trời đang đến.

Chúa đang đến với chúng ta qua những tinh thần tốt, qua bác ái, qua sự trở về Nước Trời đang đến, chính là nhờ những tâm hồn bé mọn, những cộng đoàn bé nhỏ.

Chúng ta là những người đâu có lớn lao gì, chỉ là nhóm người nhỏ. Hãy cảm tạ Chúa vì Chúa đang chọn cộng đoàn này.

Nét dễ thương thứ ba mà tôi gặp nơi Đức Kitô ở đây, là ở chỗ Ngài rất khiêm nhường. Tuy rất đầy đủ, nhưng Ngài coi như còn thiếu, nếu không có ta.

Sách Khải Huyền đã nói về Ngài: “Ta đến đứng ngoài cửa, gõ nhẹ, ai nghe thấy, mở cửa ra, Ta sẽ vào, và ở lại đó”. Như thế, ta thấy, hình như Thiên Chúa là Đấng còn thiếu một cái gì: Thiếu ta, thiếu tình yêu của ta thôi! Ngài không ép buộc ai cả. Ngài đứng gõ cửa. Ai nghe, mở cửa, thì Ngài mới gặp.

Đó là một thái độ rất khiêm nhường của một Thiên Chúa đến với chúng ta. Và tôi thấy rằng, trong anh chị em, không thiếu những người đã trả đáp lời mời gọi của Đức Kitô, đã nghe tiếng Ngài, đã mở cửa lòng, đã đón Ngài vào. Đức Kitô, Đấng Công Chính, Đức Kitô Đấng chiến thắng, nhưng đến với chúng ta trong cái áo khiêm nhường. Và chúng ta đã đón Ngài. Đó là điều chúng ta hôm nay phải cảm tạ rất nhiều, trong thánh lễ này.

Còn chúng ta, chúng ta đã đón Đức Kitô thế nào?

Tôi thấy anh chị em đã đón Ngài bằng một tâm hồn hân hoan, ca tụng, nhưng cũng rất khiêm nhường. Đây là nét dễ thương của anh chị em. Nét dễ thương này, là ở sự anh chị em không dựa vào một điểm tựa nào ngoài niềm tin ở Thiên Chúa tình yêu. Chúng ta đã thấy và đã có kinh nghiệm: Tiền bạc, danh vọng, uy tín, rồi sẽ qua đi, có lúc sẽ sụp đổ. Chúa muốn chúng ta phải tin trọn vẹn, vô điều kiện, vào một Thiên Chúa mà thôi, Đấng có thể làm được những sự con chiên không làm được.

Khi tin như vậy, Chúa sẽ rất hài lòng. Đúng là kết quả rất đẹp ta dâng cho Chúa, để cảm tạ Ngài. Tôi chỉ có Ngài thôi. Tôi tin vào Ngài. Tôi dựa vào Ngài. Chỉ có thế thôi. Đó là lời ca tụng đẹp đẽ nhất.

Cái nét dễ thương của anh chị em hôm nay, còn là sự khiêm tốn biết chấp nhận hoàn cảnh ở đây, lúc này, như là một nơi Chúa chọn cho mình, để có thể thực hành thánh ý Chúa, mến Chúa yêu người trong mọi việc và có hiệu lực.

Tôi biết anh chị em, trong những năm qua, mặc dầu gặp thử thách tư bề, vẫn coi chỗ này, vẫn coi thời điểm này, là chỗ Chúa sai mình đến để thực hành thánh ý Chúa. Mà thánh ý Chúa là gì? Là mến Chúa hết lòng, là yêu thương người khác như chính mình. Và thực sự, tôi đã thấy anh chị em, tuy là một số nhỏ, đã làm chứng điều đó: Không cần đi đâu hết, không cần đợi chờ ngày nào hết. Hôm nay đây, giờ phút này, tôi vẫn có thể mến Chúa hết lòng, tôi vẫn có thể phục vụ anh chị em hết lòng. Đó là thánh ý Chúa.

Nét thứ ba tôi thấy anh chị em ở đây rất dễ thương, là vì anh chị em khiêm tốn chấp nhận phấn đấu với chính mình, để luôn trung thành với Chúa, với Phúc Âm.

Tôi thiết nghĩ rằng, Chúa là Thiên Chúa, Ngài có đủ mọi sự, không cần nhà thờ đâu, không cần ở nghi thức đẹp đâu, nhưng điều Ngài muốn, là chúng ta phải phấn đấu với chính mình, để luôn luôn trung thành với Ngài. Mặc dầu thiếu thốn, mặc dầu dư giả, Chúa vẫn là hạnh phúc đời tôi, Chúa là ánh sáng đời tôi, Chúa là quà tặng cho tôi. Nếu không có Ngài tất cả đều là hư vô.

Anh chị em thân mến,

Trong giờ tạ ơn hôm nay, tôi nhìn thấy những công trình mà cha sở và anh chị em đã làm nên, những sinh hoạt tốt mà anh chị em đã thực hiện, tôi thấy những công trình đó rất đáng mừng và đang gây nhiều tiếng vang tốt. Nhưng điều tôi cảm tạ Chúa nhất hôm nay, như tôi đã nói, là sự chúng ta gặp gỡ được Đức Kitô, là sự chúng ta cam kết và gắn bó với Ngài trong mọi hoàn cảnh.

Anh chị em đã có nhiều kinh nghiệm: Đời sống sẽ qua đi, mọi sự rồi sẽ qua đi, nhưng Đức Kitô không bao giờ qua đi. Một khi gặp được Ngài, một khi gắn bó với Ngài, một khi Đức Kitô trở thành Đường, Sự Thật, Sự Sống của chúng ta, chúng ta chắc chắn Nước Trời ở trong chính lòng chúng ta rồi, để sau này chúng ta gặp được Ngài trên thiên đàng vĩnh cửu.

Trong giây phút này, một lần nữa, tôi xin cùng anh chị em tạ ơn Chúa, vì Chúa đến trong lòng chúng ta, Chúa ở lại trong lòng chúng ta, và nếu cần phải cầu xin điều gì hơn hết, thì hãy cầu xin để biết đón nhận Chúa Kitô, để biết đón nhận Ngài, và thấy được những dấu chỉ tình yêu Chúa đặc biệt dành cho chúng ta. Amen.

Gò Quao, ngày 22-11-1994


 

Bùi-Tuần 0465: NÉT ĐẶC THÙ CủA CỘNG ĐOÀN NHỎ 24-11-1994


Chợ Thủ

 

Họ đạo Chợ Thủ là một cộng đoàn nhỏ. Đối với tôi, cộng đoàn nhỏ là: 24-11-1994 Bùi-Tuần 465


Họ đạo Chợ Thủ là một cộng đoàn nhỏ. Đối với tôi, cộng đoàn nhỏ là một nơi tôi đặt rất nhiều hy vọng. Bởi vì cộng đoàn nhỏ thường có những điều kiện thuận lợi, để các người trong cộng đoàn gặp gỡ nhau, quen biết nhau, cùng nhau học hỏi, cùng nhau cầu nguyện, cùng nhau làm việc lành phúc đức, nhờ đó mà cộng đoàn nhỏ trở thành cộng đoàn truyền giáo.

Tôi đi nhiều nơi, đã thấy những cộng đoàn truyền giáo có những hoạt động truyền giáo rất khác nhau: Có nơi hoạt động truyền giáo của họ là đi thăm nhau từng gia đình, nhất là nâng đỡ những người già nua, cô đơn, bệnh tật. Có nơi hoạt động truyền giáo của họ là tham gia các công việc từ thiện xã hội, cùng với những đoàn thể tổ chức có sẵn. Có nơi hoạt động truyền giáo của họ là tổ chức những buổi tĩnh tâm, những giờ cầu nguyện, những giờ chầu Mình Thánh Chúa, những buổi chia sẻ Lời Chúa. Những hoạt động tông đồ của các cộng đoàn nhỏ thường rất đa dạng, nhưng họ có một số điểm chung.

Điểm chung thứ nhất tôi nhận thấy, là họ có một nhiệt tình truyền giáo rất mạnh.

Mỗi người là một ngọn lửa truyền giáo. Mỗi cộng đoàn là một lò lửa truyền giáo. Lửa trong họ là lửa muốn vâng phục thánh ý Chúa. Vâng phục thánh ý Chúa là phải truyền giáo: “Khốn cho tôi nếu tôi không truyền giáo”. Đó là ý Chúa rất rõ ràng, rất cần thiết.

Và lửa trong họ là lửa chia sẻ Tin Mừng. Trong cuộc sống, người ta thấy chung quanh, ai có một tin tức mới, đều loan đi, đều kể ra, đều chia sẻ. Còn người có Tin Mừng trong trái tim, tại sao lại dửng dưng, tại sao lại không loan truyền? Đúng là vì không có lửa Tin Mừng trong lòng, không coi cái Tin Mừng trong lòng là một cái tin thật sự đáng mừng. Vì thế không loan đi. Lửa Tin Mừng trong trái tim từng người, trong trái tim cộng đoàn, là lửa truyền giáo rất mạnh mà tôi nhìn thấy tại nhiều cộng đoàn nhỏ.

Điểm chung thứ hai tôi nhận thấy, là những người trong cộng đoàn nhỏ thường có một kinh nghiệm bản thân về Đức Kitô, mà họ đã gặp gỡ.

Đức Kitô mà họ đã gặp gỡ không phải là một lý thuyết, không phải là một ý thức hệ. Đức Kitô mà họ gặp gỡ là một người. Đấng ấy đã cứu họ. Đấng ấy đã nhìn họ. Đấng ấy đã đụng chạm đến đời họ. Họ có cảm nghiệm về điều đó. Cho nên họ không thể chịu nổi, nếu không kể ra những cảm nghiệm bản thân về Đức Kitô, nếu không cố gắng cùng với người khác trở về với Đức Kitô, Đấng cứu độ duy nhất của mình.

Điểm chung thứ ba tôi nhận thấy trong những cộng đoàn nhỏ, là người ta rất có lòng kính mến, ngoan ngoãn với Chúa Thánh Linh.

Bởi vì, Đấng truyền giáo đích thực là Chúa Thánh Linh. Chúa Thánh Linh làm cho chúng ta hiểu được Lời Đức Kitô, hiểu được việc Đức Kitô. Chính Chúa Thánh Linh đổi lòng, đổi trí con người. Chính Chúa Thánh Linh giúp cho chúng ta phân định được điều hay lẽ phải, cái gì nên làm, cái gì không nên làm.

Điểm chung thứ bốn tôi nhận thấy nơi các cộng đoàn nhỏ, là người ta rất cởi mở với những anh chị em chung quanh.

Họ nhìn người khác trong Đức Kitô. Họ nhìn Đức Kitô trong người khác. Họ nhìn thấy Đức Kitô rất đáng ca tụng trong những người khác. Họ nhìn thấy Đức Kitô đang bị hành hạ, đang bị khinh chê, đang bị tù đày trong nhiều tâm hồn khác. Cho nên, khi gặp người khác, họ luôn luôn nhìn thấy một lời kêu gọi của Đức Kitô. Và vì thế, họ luôn luôn có một sự kính trọng đối với những người họ gặp.

Sau cùng, một điểm chung nữa của họ mà tôi nhận thấy, là họ chấp nhận thánh giá Chúa gởi cho họ.

Thánh giá là việc bổn phận hằng ngày. Thánh giá là sự tha thứ, là sự chấp nhận nhau, là sự vui nhận những thất bại của công việc của mình, nhất là, thánh giá là sự từ bỏ chính mình.

Anh chị em thân mến,

Cộng đoàn Chợ Thủ anh chị em chỉ gồm 76 hộ. Đây là một cộng đoàn rất bé nhỏ. Nhưng với chiều kích bé nhỏ này, anh chị em có thể làm được rất nhiều việc, nếu có những điều tôi vừa mới kể.

Theo tôi nhận xét, sự mở ra về số lượng của họ đạo không được là bao, điều đó không quan trọng. Nhưng anh chị em đã có nhiều bước tiến về phẩm chất. Đây là điều quan trọng, mà anh chị em nên cảm tạ Chúa.

Anh chị em đang tập trung vấn đề truyền giáo cho những người đã rửa tội. Đây là điều rất quan trọng trong Hội Thánh hôm nay. Nhiều người rửa tội rồi, mà kể như chưa được truyền giáo. Hãy truyền giáo cho những người rửa tội trong cộng đoàn mình, để có phẩm chất những người kitô hữu.

Bên cạnh những thành công của anh chị em, còn có những cái chưa tốt, điều đó anh chị em đã nhận ra rồi. Và mong rằng, từ nay, anh chị em cố gắng hơn, để đi theo những điều tôi mới gợi ý: Gắn bó với Đức Kitô, trở về với Đức Kitô, ngoan ngoãn đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, cởi mở trong cái nhìn đối với những người chung quanh, chấp nhận đi vào con đường thánh giá, để rồi, lửa truyền giáo sẽ được cháy lên trong từng cá nhân, trong từng gia đình, trong tất cả cộng đoàn chúng ta.

Đây cũng là điều tôi mong ước cách riêng cho những người chịu phép Thêm Sức hôm nay, cũng như cho các em rước lễ Bao Đồng, để từ nay trở đi, chúng ta thật sự là những người truyền giáo. Nhất là truyền giáo bằng lửa mến Chúa yêu người trong chúng ta, mà hôm nay Chúa chia sẻ cho chúng ta. Amen.

Chợ Thủ, ngày 24-11-1994


 

Bùi-Tuần 0466: THÁNH ĐƯỜNG VÀ VIỆC XÂY DỰNG CỘNG ĐOÀN


26-11-1994

Đài Đức Mẹ (Tân Hiệp)

 

Khi bước vào một ngôi thánh đường, nhất là khi bước vào đó để dâng: 26-11-1994 Bùi-Tuần 466


Khi bước vào một ngôi thánh đường, nhất là khi bước vào đó để dâng thánh lễ, tôi thường suy nghĩ đến vai trò của thánh đường trong việc xây dựng giáo đoàn dân Thiên Chúa. Hôm nay, bước vào thánh đường này để dâng thánh lễ tạ ơn, tôi cũng suy nghĩ đến vai trò của ngôi thánh đường này trong việc xây dựng cộng đoàn dân Thiên Chúa tại địa phương này.

Để nói về vai trò thánh đường trong việc xây dựng cộng đoàn dân Thiên Chúa, tôi sẽ không đưa ra lý lẽ nào, tôi chỉ muốn chia sẻ với anh chị em những gì tôi thường cảm nghiệm được trong lòng tôi khi tôi bước vào một ngôi thánh đường.

Khi bước vào một ngôi thánh đường, tôi thường có những cảm nghĩ, cảm tình rất khác với những cảm nghĩ, cảm tình khi tôi vào một nơi không phải thánh đường.

Chẳng hạn khi vào một nhà nào, tôi biết chắc tôi sẽ gặp, sẽ nhìn người nọ, người kia. Khi vào một cửa hàng, tôi biết chắc tôi sẽ nhìn thấy đồ này, vật kia. Nhưng, khi bước vào ngôi thánh đường, tôi lại biết chắc là tôi sẽ không nhìn thấy Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng vô hình. Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy lòng mình khát khao muốn gặp gỡ Ngài. Bởi vì, tôi tin trong thánh đường, trên bàn thờ, Thiên Chúa hằng sống đang mời gọi tôi, đang chờ đợi tôi. Tôi không biết, Người sẽ nói gì với tôi, nhưng lòng tôi khát vọng được nghe lời Người. Tôi chưa biết, Ngài sẽ muốn sửa đổi gì trong tôi, nhưng tôi khát vọng được Người sửa đổi. Tôi không biết, Ngài sẽ dạy dỗ tôi điều gì, đòi hỏi tôi điều gì, nhưng tôi khát vọng được tuân theo thánh ý Người, và hoàn toàn từ bỏ cái tôi của tôi. Tôi hoàn toàn không biết, vào nhà thờ này, Ngài sẽ dẫn tôi đi đâu, nhưng tôi khát vọng được luôn đi theo Ngài, dù con đường ấy tôi chưa hề biết, dù con đường ấy là con đường tôi muốn tránh xa.

Những khát vọng như vậy khi tôi bước vào nhà thờ, sẽ giúp tôi mở tâm hồn ra, để trở về với Chúa, để đón chờ Chúa, để vâng phục Chúa. Những khát vọng như vậy, chính là những khát vọng lành thánh. Và tôi thấy rằng, những khát vọng này được gợi lên trong tôi, một phần là do những điều kiện tốt trong nhà thờ đó.

Điều kiện tốt trong nhà thờ, có khả năng gợi lên những tư tưởng, những khát vọng lành thánh, chính là, kỹ thuật xây cất, nghệ thuật trang trí, và vẻ đẹp của các lễ nghi, nhất là bầu khí trang trọng, thinh lặng, thiêng liêng, cầu nguyện của thánh đường. Và nhất là, nhân sự trong đó có một tinh thần đức tin, có một tinh thần siêu thoát đi tìm Thiên Chúa.

Như vậy, anh chị em đã thấy, khi bước vào nhà thờ, nảy sinh ra trong tôi những khát vọng lành thánh. Và những khát vọng đó, luôn luôn vượt qua những cái tôi nhìn thấy, luôn luôn vượt qua những gì tôi nghe thấy. Nó làm cho tôi tìm Thiên Chúa trong lòng tôi, trong phép Mình Thánh, trong lễ nghi phụng vụ.

Vì thế tôi nghĩ rằng, một thánh đường có những điều kiện tốt, có khả năng gây được những khát vọng lành thánh như tôi vừa kể, sẽ được coi là một ngôi thánh đường giữ một địa vị quan trọng trong việc xây dựng cộng đoàn dân thánh Chúa.

Bởi vì, cộng đoàn dân thánh Chúa phải là những người hướng về Thiên Chúa, đi theo Thiên Chúa, lắng nghe Thiên Chúa. Mà một nhà thờ, có những điều kiện như tôi vừa nói, sẽ giúp khơi dậy những khát vọng lành thánh, để giúp cho dân Chúa sống với Chúa, tuân phục ý Chúa, đi theo chân Chúa.

Vì thế, khi xây dựng một ngôi thánh đường, khi tu sửa một ngôi nhà thờ, tôi rất mừng khi thấy các cha, hội đồng giáo xứ và những người có trách nhiệm, thường quan tâm đến vấn đề chọn những nghệ thuật nào, những kỹ thuật nào có khả năng nâng tâm hồn người bước vào thánh đường lên, giúp cho thánh đường trở nên một nơi cầu nguyện, một nơi gặp gỡ Chúa, một nơi muốn biến đổi tâm hồn mình trở nên đền thờ Thiên Chúa.

Ngoài ra, tôi còn thấy rằng, khi bước vào một ngôi thánh đường, ngôi thánh đường đó có thể giữ một vai trò trọng đại trong việc xây dựng cộng đoàn dân Thiên Chúa, ở chỗ tại ngôi thánh đường đó đã có những sinh hoạt tôn giáo, để những người trong nhà thờ, cũng như những người của cộng đoàn, biết yêu thương nhau.

Tôi đã từng gặp những người trong một cộng đoàn, trong một nhà thờ, chỉ đón tiếp tôi bằng những cái nhìn đơn sơ, nhưng đầy chân thành, nhưng đầy nhiệt tình, nhưng đầy tinh thần siêu nhiên. Thế là tôi cảm nghiệm được đó là một quà tặng của Thiên Chúa, một bó hoa rất tươi, rất thơm gởi tặng tôi, và tôi đã dâng món quà đó lên Thiên Chúa.

Do đó, tôi nghĩ rằng, một nhà thờ đã từng đi vào lịch sử của một họ đạo, đã là lịch sử của các gia đình, đã là lịch sử của từng gia đình, đã từng chứng kiến bao sự tha thứ cho nhau, sự nâng đỡ nhau, sự giúp đỡ nhau, thì nhà thờ đó đúng là một nơi xây dựng cộng đoàn dân Chúa.

Vì thế, khi tôi thấy việc xây dựng một ngôi thánh đường, hay thực hiện một công trình của giáo xứ, được các cha, hội đồng giáo xứ, và những người có trách nhiệm, tạo dịp, tạo điều kiện, để tất cả mọi người trong giáo xứ đóng góp khả năng của mình: Người góp công, kẻ góp của, để cho ngôi nhà thờ đó trở thành ngôi nhà thờ của chính mình, là hy sinh của mình, là lễ vật của mình, thì tôi rất mừng. Mừng là vì nhà thờ đó chính là nhà thờ của yêu thương, của đoàn kết, của hy sinh.

Anh chị em thân mến,

Những điều tôi vừa chia sẻ ở đây, cũng là những lý do đã thúc giục tôi đến đây chủ sự thánh lễ tạ ơn hôm nay. Tôi mong rằng những gì tôi chia sẻ hôm nay, cũng sẽ là những tư tưởng khích lệ anh chị em xa gần góp công, góp của vào việc tu sửa ngôi thánh đường này, để nó có những điều kiện tốt, giúp cho mình khơi dậy được những khát vọng lành thánh hướng về Thiên Chúa, những khát vọng lành thánh để xây dựng tình yêu thương trong giữa chúng ta.

Khi tạ ơn Thiên Chúa, tôi không nhìn những dấu bề ngoài. Tôi nghĩ rằng, tạ ơn đẹp nhất ta có thể dâng lên Chúa giờ đây, là chính tâm hồn ta, là sự ta mến Chúa hết lòng, là sự ta sẵn sàng vâng phục thánh ý Chúa, là sự ta sẵn sàng trở nên những hạt cát bé nhỏ chôn vùi đi, không ai biết đến, để trở thành những phần tử âm thầm xây dựng nước Chúa.

Tôi nói như vậy anh chị em đã hiểu. Chúa nhìn tâm hồn chúng ta, nhìn mức độ yêu thương, nhìn mức độ hy sinh, nhìn mức độ từ bỏ mình, để coi lễ vật đó là của lễ tạ ơn chính thức trước mặt Thiên Chúa.

Với những chia sẻ trên đây, tôi mong rằng lễ tạ ơn hôm nay, cũng sẽ là một khởi đầu, để chúng ta làm cho họ đạo Tân Hiệp chúng ta, hạt Tân Hiệp chúng ta, nên mới hơn: Mới trong cách nhìn nhà thờ của mình. Mới trong cách nhìn khát vọng của mình. Mới trong cách nhìn tình đoàn kết của mình. Và nhất là mới trong sự chúng ta tạ ơn Thiên Chúa, với tâm tình yêu mến, với tâm tình đoàn kết. Và nhất là với tâm tình hy sinh khiêm tốn. Amen.

Đài Đức Mẹ (Tân Hiệp), ngày 26-11-1994


 

Bùi-Tuần 0467: CẦU NGUYỆN VÀ TỈNH THỨC 27-11-1994


 Lc 21,25-28.34-36

Lễ Bao Đồng CN I Mùa Vọng C-Long Xuyên

 

Bài giảng, của Đức Cha Gioan B. Bùi-Tuần, dịp tại nhà thờ Chánh Toa: 27-11-1994 Bùi-Tuần 467


Bài giảng, của Đức Cha Gioan B. Bùi-Tuần, dịp tại nhà thờ Chánh Toà
Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa nói về một hoàn cảnh có những bất ngờ lớn, gây xao xuyến, đau buồn, lo âu, sợ hãi. Trong hoàn cảnh như thế, người con Chúa phải đối phó thế nào, thì Chúa cũng đã chỉ dạy, tuy vắn tắt, nhưng rõ ràng.

Tôi thấy lời Chúa hôm nay là lời tiên tri rất cần thiết cho tôi và cho anh chị em. Lời tiên tri này đã giúp biết bao người, trong đó có tôi, vượt qua được nhiều thử thách. Đối với riêng tôi, lời tiên tri của Chúa hôm nay đúng là lời có sức cứu độ.

Vì thế, tôi xin chia sẻ đôi chút kinh nghiệm.

Thực vậy, đúng như bài Phúc Âm hôm nay báo trước, trong cuộc đời mỗi người chúng ta, đôi lúc đã xảy ra những bất ngờ làm rung chuyển vũ trụ tâm hồn. Trong lòng mình như có biển gầm, sóng vỗ. Trong lòng mình như có mặt trời, mặt trăng và các vì sao đang nổ tung tan tác. Trong lòng mình như có một bầu trời đầy mây mù phủ kín. Trong một hoàn cảnh như thế, người ta không thể nào không cảm thấy lo sợ, nặng nề, đau đớn, hoang mang.

Chúa thấy trước cảnh đó. Nên Chúa dạy ta cách đối phó. Theo bài Phúc Âm hôm nay, cách đối phó gồm hai việc sau đây:

Việc thứ nhất cần làm để đối phó là hãy cầu nguyện

Chúa khuyên ta, những khi bị thử thách, hãy ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào Chúa, đứng vững trước mặt Chúa và hãy cầu nguyện. Cầu nguyện với niềm tin vững vàng: Chỉ có Chúa là Đấng Cứu Độ. Giờ cứu độ sẽ đến. Chỉ Người mới biết giờ nào Người sẽ cứu ta. Hãy phó thác nơi Người. Hãy tin tưởng ở Người. Người sẽ cứu ta, không phải vì ta xứng đáng, vì ta có công phúc gì, nhưng vì ta là kẻ tội lỗi, nhưng được Chúa yêu thương và biết cậy trông nơi một mình Chúa. Ta cầu nguyện phó thác với chỉ một điều mong ước mà thôi, đó là sẵn sàng vâng phục thánh ý Chúa.

Việc thứ hai cần làm để đối phó là hãy tỉnh thức

Tỉnh thức là thái độ khiêm nhường, sẵn sàng đón nhận ý Chúa, sẵn sàng để Chúa hướng dẫn. Tỉnh thức là thái độ tỉnh táo, biết nhận ra một lời kêu gọi của Chúa cần phải đáp ứng lúc đó, một luật Chúa cần phải hết sức trung thành lúc đó, một phấn đấu và hy sinh cần phải chấp nhận lúc đó. Tỉnh thức là thái độ tạ ơn, biết nhìn thấy Chúa trong biến cố, trong cơ may, trong bàn tay giơ ra để cứu ta. Tỉnh thức là thái độ nắm bắt mau lẹ những ơn cứu độ Chúa gửi đến cho mình. Phải nắm bắt mau lẹ, bởi vì, như bài Phúc Âm hôm nay nói, ơn cứu độ có thể đến một cách bất ngờ. Những ai mải mê chuyện phù du đời này, không tỉnh thức, sẽ bỏ lỡ dịp may đón nhận ơn cứu độ. Họ sẽ phải ân hận, nhưng sẽ quá muộn.

Kinh nghiệm cho tôi thấy, những ai có thiện chí thực hành hai việc Chúa dạy hôm nay, đều đã được Chúa cứu. Chúa cứu là cứu linh hồn họ khỏi những lầm lạc, là băng bó những vết thương tâm hồn họ, là mở mắt linh hồn họ, để họ nhận ra ý Chúa và tình thương Chúa. Chúa cứu là cứu lương tâm họ khỏi những ray rứt và thay vào đó là sự bình an, tâm tình tạ ơn và niềm tin vững vàng. Chúa cứu là đưa họ ra khỏi cơn thử thách với một con người mới, trưởng thành hơn trước, tốt lành hơn trước.

Các em rước lễ Bao Đồng chiều nay nên coi nội dung chia sẻ trên đây như một món quà Chúa ban tặng. Hãy nhớ lấy nội dung này. Có lúc sẽ rất cần đến nó. Xin tạ ơn Chúa vô vàn. Amen


 

Bùi-Tuần 0468: SỐNG ƠN GỌI 28-11-1994


 Gioan 12,23-28

Lễ giỗ đầu của Cha Augustinô Phan Xuân Trọng -An Châu

 

Từ mấy ngày nay, tôi đã nhớ tới cha Augustinô. Tôi nhớ tới con người: 28-11-1994 Bùi-Tuần 468


Từ mấy ngày nay, tôi đã nhớ tới cha Augustinô. Tôi nhớ tới con người của cha. Tôi nhớ tới cuộc đời của cha.

Điều tôi nhớ về cha hơn cả là sự cha bị thử thách, nhất là do bệnh tật những năm cuối đời. Thử thách của cha là rất lớn, lớn vì mức độ đớn đau rất nặng, lớn vì thời gian đớn đau rất dài, với những thử thách triền miên cha chịu. Cha nhắc cho tôi lời Đức Kitô đã phán khi Đức Kitô nói về thành Giêrusalem bị phá: “Chính nhờ sự nhẫn nại của chúng con, mà chúng con sẽ được cứu rỗi”.

Thân xác, con người của cha Augustinô đã bị tàn phá, không phải chỉ một lúc, một ngày, nhưng là từng ngày, từng tháng, từng năm. Trong suốt cuộc đời bị thử thách như vậy, cha luôn nhẫn nhục. Sự nhẫn nhục của cha được thực hiện qua thái độ khiêm tốn, chấp nhận thân phận của mình, chấp nhận hoàn cảnh của mình, chấp nhận những gì Chúa gởi đến cho mình, chấp nhận chính Thiên Chúa khó hiểu của mình. Bởi vì cha nhớ lại lời Đức Kitô đã phán, mà chúng ta vừa nghe trong bài Phúc Âm: “Hạt lúa có thối đi thì mới trổ sinh được hoa trái”, mới làm ích cho Hội Thánh được, mới làm ích cho địa phận được, mới làm ích cho những người thân, cho cộng đoàn giáo xứ của mình được.

Sự nhẫn nhục của cha cũng đã được thể hiện trong thái độ đợi chờ Chúa đến, vì cha tin tưởng theo lời thánh vương Đavít đã nói xưa: “Con luôn nhẫn nhục trông đợi Chúa, và Chúa đã thương đến con”.

Sự nhẫn nhục của cha cũng đã được thể hiện, trong sự cha coi trọng phần rỗi của mình hơn hết. Cha cam chịu đau khổ đến tận cùng, tận cùng thời gian Chúa ấn định, tận cùng đau khổ Chúa ấn định. Bởi vì cha tin tưởng lời Chúa đã hứa xưa: “Ai nhẫn nhục đến cùng kẻ đó sẽ được cứu rỗi”.

Qua con người bị thử thách của cha, tôi nhìn thấy bóng ông Gióp, một nhân vật của Cựu Ước. Tôi cũng nhìn thấy bóng ông Lagiarô, một nhân vật của dụ ngôn Phúc Âm. Cả hai nhân vật ấy đã bị mất mát rất nhiều, nhất là đã bị thử thách về những cơn bệnh tật nguyền đau đớn. Nhưng, hai nhân vật ấy đã làm chứng về một niềm tin thật vững vàng: Tin vào sự khôn ngoan an bài của Thiên Chúa.

Cha Augustinô cũng vậy. Cha luôn tin tưởng vào sự an bài của Thiên Chúa, giữa những cơn thử thách nặng nề. Điều tôi lấy làm lạ nhất nơi những người bị thử thách được Chúa thương, là đang khi bị thử thách, họ vẫn không ngừng cảm tạ Thiên Chúa.

Cha Augustinô hằng ngày trong thánh lễ đã đọc lời kinh Tiền Tụng: “Việc cảm tạ Chúa mọi nơi, mọi lúc, là việc chính đáng, phải đạo, và sinh ơn cứu độ cho chúng con”.

Cha cảm tạ Chúa mọi nơi, kể cả trên giường bệnh đau đớn. Cha cảm tạ Chúa mọi lúc, kể cả lúc đớn đau thật nhiều, cực kỳ đau đớn. Để cha cảm tạ Chúa được như vậy, phải có một đức tin rất mạnh. Cha đã cảm tạ Chúa, những khi đau đớn trên giường bệnh, bị thử thách triền miên. Đó là một thánh lễ, mà tôi đã thấy trước mắt.

Tôi nhớ lại những thánh lễ sau cùng của cha Augustinô: Vì đau đớn, cha phải ngồi, mà không nói được lời nào thành tiếng. Cha làm lễ với tất cả sự từ bỏ mình, với tất cả sự hy sinh của mình.

Nhìn cha dâng lễ trong những ngày cuối đời, tôi có cảm tưởng là nhìn thấy thánh lễ của Đức Kitô: Thánh lễ là chính bản thân mình. Của lễ là chính bản thân mình với những đau đớn, hy sinh, tan nát. Bàn thờ là chính bản thân mình luôn vâng phục thánh ý Chúa.

Mỗi lần nghĩ tới cảnh cha dâng lễ trong đớn đau, tôi lại muốn mình, mỗi khi dâng lễ, cũng phải có một chiều sâu, một bề dầy, một chiều cao về đức tin. Và phải biết hoà sự đau đớn hy sinh của mình vào sự đau đớn và hy sinh của Đức Kitô. Đó mới là dâng lễ thực sự.

Những chia sẻ trên đây của tôi sẽ giúp cho anh chị em và tôi hôm nay đi tới mấy quyết định nhỏ.

Trước hết là trong thánh lễ này, chúng ta cùng nhau cảm tạ Chúa, vì Chúa đã cho cha Augustinô của chúng ta có một tinh thần nhẫn nhục, trong khiêm tốn, trong niềm cậy trông, trong sự chấp nhận phải thối đi như một hạt giống.

Chúng ta cảm tạ Chúa, vì họ đạo chúng ta có một người bạn đã sống ơn gọi, một ơn gọi sống đau khổ thử thách như vậy cho đến cùng.

Cùng với lời cảm tạ Thiên Chúa, chúng ta xin Thiên Chúa, vì công nghiệp của cha Augustinô hôm nay, giúp cho chúng ta biết noi gương cha Augustinô, sống trong thử thách, mà vẫn nhẫn nhục tuyên xưng đức tin với lòng khiêm tốn, với sự vâng phục thánh ý Chúa, nhất là hoàn toàn phó thác nơi Đấng đã gọi chúng ta.

Nếu chúng ta làm được mấy điều đó, thánh lễ hôm nay sẽ là một khởi đầu mới, giúp cho chúng ta sống ơn gọi của mình, một ơn gọi rất cần thiết cho việc truyền giáo hôm nay. Amen.
Lễ giỗ đầu của Cha Augustinô Phan Xuân Trọng, tại giáo xứ An Châu, ngày 28-11-1994


 

Bùi-Tuần 0469: ĐỨC TIN CủA ĐỨC MẸ 02-12-1994


Mt 9,27-31

Giu Đức (K.8b)

 

Khi đọc xong bài Phúc Âm hôm nay, tôi đã nói với Chúa Giêsu rằng: “Lạy Chúa của con, chỉ: 02-12-1994 Bùi-Tuần 469


Khi đọc xong bài Phúc Âm hôm nay, tôi đã nói với Chúa Giêsu rằng: “Lạy Chúa của con, chỉ còn mấy ngày nữa, chúng con sẽ mừng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Con muốn trong ngày trọng đại ấy, con được mừng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội bằng những tâm tình hân hoan ca tụng Thiên Chúa. Con muốn được như hai người mù nói trong bài Phúc Âm hôm nay, là “sẽ kể ra cho mọi người biết những phép lạ Chúa làm cho con”, những việc Chúa đã chữa lành tâm hồn con, và chữa lành tâm hồn những người thuộc về con.

Bài Phúc Âm hôm nay kể: “Chúa hỏi hai người mù. Chúa sờ vào mắt hai người mù. Họ được chữa lành. Họ hân hoan ca tụng Thiên Chúa”. Xin Chúa hãy làm việc đó cho con, để con sẽ là chứng nhân tình thương vô biên của Chúa.

Những lời tôi nói trên đây với Chúa rất chân thành tha thiết, và với một đức tin đơn sơ tuyệt đối. Và Chúa đã trả lời tôi: “Những điều con vừa nói là do chính Đức Mẹ soi sáng cho con. Vì thế, Cha sẽ làm cho con những điều con vừa cầu nguyện: Cha sẽ chữa lành linh hồn con, linh hồn của những kẻ thuộc về con. Giờ nào, cách nào, một mình Cha biết. Cha chỉ đòi con và những người thuộc về con một điều kiện này, là phải có lòng tin, tin vững vàng. Cha có thể làm được những sự mà người ta cho rằng không thể nào làm được.

Tới đây, tôi hiểu điều kiện Chúa đặt ra cho tôi quan trọng thế nào! Và đây cũng là việc tôi muốn chia sẻ với anh chị em vắn tắt hôm nay.

Vững tin vào Chúa, đó là điều kiện Chúa đòi. Nhưng vững tin là thế nào đây? Tôi nghĩ rằng: Vững tin vào Chúa như một điều kiện để Chúa chữa lành tâm hồn ta, là tin như hai người mù hôm nay: Họ tin vào Đức Kitô, không phải vì họ thấy mình xứng đáng, có công ích gì. Họ tin vào Đức Kitô, vì thấy mình hèn hạ, yếu đuối, bất lực, bế tắc, chỉ còn Đức Kitô là Đấng cứu độ.

Tin vững vàng vào Đức Kitô cũng là tin như Đức Mẹ xưa: Trong lời ca tán tụng Thiên Chúa, Đức Mẹ đã nói: “Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn nữ tỳ của Chúa”. Đức Mẹ không nói rằng: “Con cảm ơn Chúa, vì đã chọn con làm Mẹ Thiên Chúa". Đức Mẹ cũng không nói rằng: “Con cảm tạ Chúa, vì đã cho con khỏi mắc tội Tổ Tông Truyền”. Không. Đức Mẹ nói rằng: “Con cảm tạ Chúa, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn kẻ tôi tớ này”.
Đức Mẹ đề cao sự mình hèn hạ, yếu đuối. Đức Mẹ đề cao tình xót thương Thiên Chúa, đoái nhìn đến những kẻ mang thân phận yếu hèn.
Tôi có cảm tưởng rằng Thiên Chúa của chúng ta, không nhìn tôi và anh chị em như những bông hoa quý mọc trên đỉnh núi cao, mà Chúa lại thích nhìn chúng ta như những cỏ dại bên đường, như những tôm tép ở sình lầy. Chúng ta càng thấy mình tội lỗi yếu hèn, biết nhìn về Chúa, thì Chúa càng thương chúng ta.

Phải tin như vậy. Tin là tin như ông Gióp, như ông Abraham xưa. Không dựa trên lý lẽ nào cả. Chúa bắt mình phải tế lễ con yêu dấu của mình. Abraham không có lý gì để chấp nhận, nhưng Abraham vẫn tin vào Thiên Chúa. Niềm tin của ta vào Thiên Chúa, không bao giờ dựa trên lý lẽ: Nó phải thế này, nó phải thế kia. Không. Đức tin chỉ dựa trên thánh ý Chúa mà thôi.

Rồi đức tin mà Chúa đòi tôi hôm nay phải là một đức tin của các tông đồ xưa. Tin Chúa là chọn Chúa, là chọn luật Chúa. Chúa dạy như vậy nên tôi vâng theo, chứ không phải cứ ngồi đó lý luận, hoặc làm bất cứ cái gì tôi thích, rồi nghĩ rằng Chúa sẽ giúp tôi! Không phải thế đâu!

Tin là phó thác mình cho Chúa và phấn đấu chấp nhận hy sinh để chọn một mình Chúa, để trung thành tuyệt đối với luật của Chúa và những gì Chúa soi sáng cho mình.

Tin, đơn sơ là gặp gỡ Chúa. Tin, đơn sơ là trao trọn vẹn tấm thân mình và cuộc đời mình cho Chúa. Nếu làm như vậy, Chúa sẽ chữa lành tâm hồn chúng ta.

Lúc nãy, ông đại diện giáo dân có nói: “Một trăm hai mươi tám em đã chuẩn bị đầy đủ, đầy đủ để lãnh phép bí tích Thêm Sức”. Khi tôi nghe câu đó, tôi hỏi lòng mình rằng: Anh chị em có hiểu rõ thế nào là chuẩn bị đầy đủ để đón nhận Chúa Thánh Thần không?

Riêng tôi, tôi rất lo sợ cho tôi, ngay khi dâng lễ, giảng dạy, tôi cứ nói với Chúa: “Con không chuẩn bị đầy đủ đâu. Xin Chúa đến giúp con, nhất là xin Chúa giúp con biết tin vào Chúa, tin vì con hèn mọn”. Có thế thôi! Cho nên bây giờ đây, điều tôi nhắn nhủ các em và anh chị em trước khi ban phép bí tích, là hãy xin Đức Kitô như các tông đồ xưa: “Lạy Thầy, xin thêm đức tin cho con”. Chính nhờ đức tin mà chúng ta đón nhận được Chúa Thánh Thần. Đức tin này khơi dậy những khát mong, vượt qua những điều ta đang xem thấy, vượt qua những điều ta đang nghe thấy, đưa ta vào gặp gỡ Đức Kitô, trong một chân trời rất mới trong cõi lòng ta.

Khi chúng ta làm như vậy, chúng ta sẽ thấy Chúa đến với chúng ta, và Ngài đến để đổi mới lòng ta, để đem tâm hồn ta trở về với Ngài. Và khi đã gặp được Ngài, và khi đã được Ngài chiếm đoạt, chúng ta sẽ nên người mới, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa là hạnh phúc duy nhất của ta. Ta hy sinh một, Thiên Chúa sẽ trả lại một ngàn, một vạn. Còn nếu chúng ta từ chối, muốn sống theo ý riêng mình, được một, nhưng chúng ta sẽ mất tất cả.

Anh chị em thân mến,

Gần đến ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, tôi chỉ nhắn nhủ anh chị em, là hãy dọn mình, bằng cách tin vào Đức Kitô, tin vào Chúa Thánh Thần một cách trong sáng, trọn vẹn, tuyệt đối như Đức Mẹ đã tin xưa. Và để được như vậy, hãy siêng năng cầu nguyện, hãy chấp nhận hy sinh, hãy lo lắng đến phần rỗi, hãy nhìn Chúa là tất cả đời ta.

Xin Chúa Thánh Linh, Đấng nhìn thấy tất cả sự yếu hèn của chúng ta. Xin Người hãy đến. Xin Người ở lại trong ta. Amen.

Giu Đức (Kênh 8b), ngày 02-12-94


 

Bùi-Tuần 0470: TÌNH YÊU THIÊN CHÚA 03-12-1994


Mt 9,35-10

Lộ Đức (K.8b),

 

Đêm vừa qua, tôi thức giấc lúc 11g30. Vừa thức, tôi liền nhớ ngay một: 03-12-1994 Bùi-Tuần 470


Đêm vừa qua, tôi thức giấc lúc 11g30. Vừa thức, tôi liền nhớ ngay một câu mà bài Phúc Âm hôm nay đã nói về Đức Kitô: “Người động lòng xót thương họ”. Do đó tôi có cảm tưởng, Đấng đã xót thương dân người thuở ấy, nay đến đánh thức tôi dậy. Và cảm tưởng ấy đưa tôi tới niềm tin: Tôi tin Đức Kitô đến với tôi. Tôi tin Đức Kitô gọi tên tôi. Tôi tin Đức Kitô muốn chia sẻ tâm tình với tôi. Người cũng nói, Cha xót thương dân này. Cha xót thương chính con, hôm nay, giờ này, tại đây.
Khi hiểu như vậy, tôi đã thưa lại với Chúa Giêsu rằng: Con cảm tạ Chúa đã thương xót chúng con. Xin Chúa giúp cho con biết đón nhận tình xót thương của Chúa một cách tích cực hơn. Xin Chúa giúp cho chúng con cảm nghiệm được tình Chúa xót thương chúng con một cách rõ ràng hơn. Xin Chúa giúp cho chúng con, hiểu được tình Chúa xót thương chúng con một cách đúng đắn hơn.
Liền sau đó, tôi cảm thấy trong lòng tôi tràn dâng lên một niềm tin lạ lùng, đầy phó thác nơi tình xót thương Chúa, sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh, miễn là thánh ý Chúa được thực hiện trọn vẹn nơi tôi.

Qua cảm nghiệm này, tôi nhận ra ngay, những cảm nghiệm này không do tự nhiên mà tới, nhưng chính là Đức Kitô đang hiện diện trong tôi. Người ban cho tôi cảm nghiệm ấy để tôi biết rằng: Chúa đang thương xót tôi. Chúa đang đổi mới tôi. Chúa đang cứu độ tôi.

Qua những cảm nghiệm trên đây, tôi hiểu thấm thía lời Phúc Âm hôm nay nói: “Nước Thiên Chúa đang đến gần”. Nước Thiên Chúa là gì?

Theo tôi, Nước Thiên Chúa là “Tình yêu Thiên Chúa”. Tình yêu Thiên Chúa đầy xót thương, muốn thanh luyện ta, muốn biến đổi ta nên mới, muốn cởi gỡ ta khỏi tội lỗi tính mê. Nhưng, vẫn tôn trọng tự do của ta. Khi mà ta sẵn sàng từ bỏ chính mình, quyết tâm đi theo Chúa, thì tình yêu Chúa tràn vào trong ta, cai trị ta, và được tự do thực hiện tất cả những chương trình cứu độ mà tình xót thương Chúa muốn thực hiện. Nước Thiên Chúa là như vậy.

Khi hiểu như vậy, khi cảm thấy như vậy, tôi thấy ngay rằng: Đón nhận nước Thiên Chúa vào lòng, đón nhận tình yêu thương xót của Chúa vào lòng, bao giờ cũng kèm theo ơn “trở về”.

Khi nói về ơn “trở về”, tôi nhớ tới Lộ Đức bên Pháp.

Mỗi lần qua Pháp, tôi đến Lộ Đức để cầu nguyện, để dâng lễ. Bài lễ riêng tại Lộ Đức, mang nội dung ơn “trở về”, nói về sự “trở về”, xin ơn “trở về”. Làm lễ nhiều lần tại Lộ Đức, tôi đã hiểu thấm thía ơn “trở về” cần thiết và quan trọng thế nào trong đời sống tôi, trong đời sống cộng đoàn dân Chúa. Ơn “trở về” là ơn “nghị lực” giúp cho chúng ta quyết tâm đi theo Đức Kitô, quyết tâm theo luật Đức Kitô. Ơn “trở về” là một ơn “can đảm” Chúa ban cho chúng ta, để biết tích cực cộng tác vào chương trình cứu độ Đức Kitô muốn thực hiện nơi chúng ta. Ơn “trở về” là một niềm hân hoan Chúa ban cho chúng ta, để chúng ta lấy làm hân hạnh vui mừng, vì được làm tất cả những gì mà Đức Kitô cho là đẹp lòng tình yêu Thiên Chúa. Ơn “trở về” là một điều tôi tha thiết cầu xin hằng ngày cho tôi, cho anh chị em.

Tới đây, anh chị em biết rồi, những gì cần cho chúng ta, những gì cần để cảm tạ Chúa, những gì cần để làm chứng cho Chúa. Theo tôi, qua kinh nghiệm, thì lòng xót thương Chúa, niềm tin vào Chúa, ơn “trở về”, là những gì cần thiết nhất cho chúng ta. Lòng xót thương Chúa, tin vào Đức Kitô, ơn “trở về”, là những gì ta cần phải tạ ơn Chúa hơn hết. Ơn “trở về”, sự tin vào Chúa, lòng xót thương Chúa, đó là những cái chúng ta cần phải làm chứng, cần phải huấn luyện con em chúng ta. Chúng ta cần phải rao giảng Tin Mừng này cho những người chung quanh ta.

Lúc nãy, đầu thánh lễ, sau khi làm phép chuông, lúc bước vào nhà thờ, tôi ngước mắt lên thấy tượng Chúa Kitô, hai tay vác con chiên. Tôi nghe từ tượng đó nói với tôi rằng: “Nếu con muốn nên người truyền giáo, con phải có một trái tim biết xót thương như Cha, và con phải biết hy sinh vác con chiên mình như Cha”. Đấy là những lời nhắn nhủ Chúa gửi cho tôi để tôi chia sẻ với anh chị em trong ngày ban phép Thêm Sức, đúng ngày thánh Phanxicô Xaviê, vị tông đồ truyền giáo. Truyền giáo là chia sẻ lửa trong lòng mình, lửa xót thương của Đức Kitô trong lòng mình. Truyền Giáo là làm chứng Đức Kitô, Đấng cứu độ đầy xót thương, hy sinh vác tội con chiên của mình, vác nỗi khổ của người khác trên vai mình.

Đó là điều tôi cầu xin hôm nay cho tất cả cộng đoàn chúng ta. Amen.

Họ Lộ Đức (Kênh 8b), ngày 03-12-94


 

Bùi-Tuần 0471: LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA 03-12-1994


Mt 9,35-40

Tân Bùi (K.4a),

 

Bài Phúc Âm hôm nay, có một câu nói về Đức Kitô thế này: “Đức: 03-12-1994 Bùi-Tuần 471


Bài Phúc Âm hôm nay, có một câu nói về Đức Kitô thế này: “Đức Kitô nhìn thấy đám đông bơ vơ, Người động lòng thương xót họ”. Đám đông ấy là đám đông của Israel.

Còn đối với đám đông hôm nay, tại đây, thì thế nào? Hồi nãy, khi cầu nguyện, tôi nhìn vào đám đông các trẻ em chịu phép Thêm Sức hôm nay, gần ba trăm em. Và tôi hỏi Chúa Giêsu rằng: “Chúa nhìn đám đông này, Chúa có động lòng thương xót chúng không?”. Và tôi nghe Chúa trả lời trong lòng tôi rằng: “Cha xót thương, rất xót thương chúng”. Tôi lại hỏi, vì lý do nào Chúa xót thương chúng, thì Chúa soi sáng cho tôi biết. Cha xót thương chúng, bởi vì chúng có thể sẽ rất bơ vơ như đám đông xưa tại Israel.

Bơ vơ, tự ý bơ vơ, không phải vì sau này chúng sẽ thiếu chủ chăn, nhưng vì sẽ có nhiều phong trào xấu, những thần dữ lôi cuốn chúng đi xa dần Đức Kitô là Đấng chăn chiên lành, lôi cuốn chúng đi xa dần Hội Thánh. Vì thế, chúng sẽ bơ vơ, để cho mình bị hướng dẫn bởi tà thần hưởng thụ, tà thần tự do, tà thần giả dối, tà thần dâm ô.

Tôi coi lời Đức Kitô trả lời tôi hôm nay, là một lời tiên tri Chúa muốn nói cho tôi biết, và cũng đồng thời nhắn gửi anh chị em, nhất là những bậc phụ huynh có trách nhiệm với con em của mình.

Con em chúng ta sẽ có thể rất bơ vơ, bị những tà thần lôi cuốn đi xa Đấng chăn chiên lành. Trong một tương lai như vậy, chúng ta thấy con em chúng ta rơi vào một nguy cơ rất lớn, hại cho phần rỗi mình, làm khổ cho gia đình mình, trở nên vô ích cho xã hội và cho Hội Thánh. Nguy cơ ấy, anh chị em đã thấy phần nào, đó đây, tại Việt Nam hôm nay.

Trước nguy cơ này, chúng ta phải đối phó thế nào? Tôi nghĩ, đây là điều anh chị em cũng đã suy nghĩ. Tôi xin gợi ý vài điều cần thiết.

Việc thứ nhất chúng ta nên làm để đối phó với nguy cơ làm cho con em chúng ta trở nên bơ vơ đó là: Chính chúng ta, các bậc phụ huynh cần phải được tái-Phúc-Âm-hoá.

Tái-Phúc-Âm-hoá, đó là chúng ta cần được thanh luyện tâm hồn mình, trở về với Đức Kitô và Phúc Âm của Người. Tái-Phúc-Ân-hoá nhất là về đức tin.

Đức tin không phải là chấp nhận một mớ lý thuyết. Đức tin là gặp gỡ Đức Kitô. Đức tin là trao phó trọn vẹn thân mình, cuộc đời mình trong tình yêu thương xót, cứu độ, của Đức Kitô. Đức tin là chấp nhận hy sinh, để chọn Chúa làm hạnh phúc đời mình, chọn luật Phúc Âm làm con đường đi, chọn phần rỗi là cứu cánh sau cùng.

Đức tin như vậy, không hệ tại ở những cử chỉ lễ nghi bề ngoài, mà là một sự đón nhận ơn Chúa. Tôi xin nhắc lại, đức tin là một ân huệ Chúa ban cho, chứ không phải là do chúng ta học giáo lý, đọc kinh mà có. Đức tin là một quà tặng, nhưng chúng ta phải biết đón nhận. Đón nhận với lòng khao khát, với lòng khiêm tốn, với sự sẵn sàng chấp nhận những gì Chúa soi sáng cho. Một đức tin như vậy, cần phải chăm sóc rất nhiều.

Mới rồi tôi có gặp một người trí thức, anh ta có rửa tội, nhưng đã mất đức tin. Anh ta tâm sự với tôi rằng: “Con khổ đau, vì bây giờ con không còn tin điều gì cả. Mà con biết rằng con học rất nhiều giáo lý, nghe rất nhiều bài giảng. Nhưng con không tin một cái gì cả. Xin cha giúp con để có đức tin”.

Tôi đã cầu nguyện. Xin nhiều người cầu nguyện. Và nhất là chúng tôi đã cùng nhau hãm mình hy sinh, và cũng xin anh ta cầu nguyện, hãm mình hy sinh, và biết mình tội lỗi cần đến Chúa.

Ít lâu sau anh báo tin cho tôi, anh đã tìm lại được đức tin. Đó là bằng chứng cho thấy rằng, đức tin là một ân huệ của Chúa khi biết tái-Phúc-Âm-hoá chính mình. Chúng ta cần phải để ý đến việc đó, để khi chúng ta sống đức tin, chúng ta biết chúng ta chọn lựa cái gì, và phải hy sinh cái gì một cách tuyệt đối, một cách vô điều kiện? Tin là dấn thân cho một người mình yêu, không có điều kiện gì cả. Đó mới là tin đối với Đức Kitô, Đấng cứu độ đòi hỏi chúng ta.

Mới rồi, tôi gặp một trường hợp bốn đứa nhỏ bỏ nhà ra đi. Hỏi tại sao? Thì chúng thưa rằng: Chúng mất niềm tin ở cha mẹ chúng. Cha mẹ chúng cũng là những nhân sự có địa vị, có tiếng tăm trong họ đạo. Nhưng chúng nói rằng, chúng con biết, cha mẹ chúng con sống giả hình, không đạo đức thực, cho nên chúng con không còn niềm tin, chúng con ra đời bơ vơ. Đó, kết quả của một nhóm người trẻ bỏ nhà, đi sống bơ vơ, để phản đối nếp sống thiếu đức tin trung thực của cha mẹ mình.
Vì thế,

Điều thứ nhất tôi khuyên anh chị em, là chính chúng ta cần phải được tái-Phúc-Âm-hoá, nhất là về đức tin, một đức tin chọn Chúa, chấp nhận hy sinh.

Điều thứ hai tôi gợi ý cần phải làm để đối phó trước nguy cơ con cái chúng ta trở thành bơ vơ xa lìa Chúa, đó là hãy vun trồng phát triển lòng tôn sùng Đức Mẹ.

Kinh nghiệm cho tôi thấy, những gia đình nào có lòng kính mến Đức Mẹ, thường được Đức mẹ giữ gìn đức tin từ đời cha, đến đời con, đến đời cháu.

Tôn sùng Đức mẹ, không phải chỉ là đọc kinh dâng hoa, mà là suy gẫm đời sống Đức Mẹ, nhất là suy gẫm đức tin của Đức Mẹ, một đức tin hoàn toàn phó thác, không dựa trên những cái gì mình hiểu được, mà chỉ dựa trên lời Chúa mà thôi. Mặc dù không hiểu, nhưng đức tin của Đức mẹ vẫn là một đức tin chấp nhận hy sinh. Một lần nữa tôi lại nói, một đức tin chấp nhận hy sinh: Sinh con ra, tưởng rằng con sẽ thành công, ai ngờ Giêsu con mình, suốt đời chịu khổ, sau cùng chịu chết, khổ cho Mẹ biết bao. Nhưng Đức Mẹ vẫn tin vào lời Chúa, vẫn chấp nhận hy sinh.

Tôi thấy hai điều tôi nói trên đây đều có hy sinh. Thời bây giờ, người ta ngại hy sinh lắm. Người ta nói về tình yêu, người ta nói về cầu nguyện, người ta nói về từ thiện xã hội. Nhưng, ít người nói tới hy sinh. Mà thực chất hy sinh luôn luôn đi kèm với tình yêu, sẽ là giá cứu chuộc chính ta, và sẽ là giá cứu chuộc con em chúng ta.
Anh chị em thân mến,

Trong giờ phút chúng ta gặp nhau đây, điều tôi chia sẻ với anh chị em, là điều tôi cảm thấy Chúa soi sáng cho tôi, chứ không phải tự nhiên tôi tìm ra mà nói. Chúa muốn cho anh chị em hãy để ý về đức tin của con cái chúng ta. Đừng vì chúng ta, mà con cái chúng ta sẽ trở thành bơ vơ, mất đức tin, suy giảm đức tin, xa lìa Đức Kitô, dửng dưng với Hội Thánh.

Trong lễ thêm sức này, tôi xin Chúa Thánh Thần đến trong chúng ta, đến trong con em chúng ta, làm cho con em chúng ta mở mắt ra, nhìn thấy Chúa là hoan lạc đời mình, nhìm thấy luật Chúa là đường đi của mình, nhìn thấy thánh giá của Chúa là giá chuộc mình phải cộng tác vào để được cứu độ.

Lạy Chúa Thánh Linh, xin hãy đến và ở lại trong chúng con. Amen.

Tân Bùi (Kênh 4a), ngày 03-12-94


 

Bùi-Tuần 0472: ĐỨC CẬY TRÔNG 05-12-1994


Lc 5,17-26

Cồn Trên

 

Một người tân tòng mới nói với tôi rằng: Trong địa phương này, con: 05-12-1994 Bùi-Tuần 472


Một người tân tòng mới nói với tôi rằng: Trong địa phương này, con thấy nhiều gương sáng về đức tin, nhiều gương sáng về đức ái, nhưng không nhiều gương sáng về niềm cậy trông.

Tâm sự trên đây của người tân tòng giúp cho tôi suy nghĩ về sự cần thiết phải nêu cao niềm cậy trông.

Riêng đối với tôi, niềm cậy trông đang là một điều rất cần thiết trong lúc này. Chúa biết điều ấy. Và vì thương tôi, hôm nay Chúa hướng dẫn tâm hồn tôi đến bài Phúc Âm, để nhìn thấy chân dung niềm cậy trông nơi người bất toại.

Thật vậy, người bất toại rất mong muốn được chữa lành bệnh, nhưng anh ta ở trong một hoàn cảnh coi như hoàn toàn bế tắc. Chung quanh, trong ngoài, đều là cản trở. Cản trở bên trong là chứng tật bất toại không lê đi được, rồi cản trở bên trong còn là thế giá của anh có gì đâu, công phúc của anh có gì đâu, làm sao đáng được Đức Kitô nhìn đến và chữa lành.

Còn cản trở bên ngoài thì đầy dẫy: Đám đông chen chúc, không thể nào lách qua được. Thêm vào đó, những người biệt phái có những tư tưởng, có những thái độ dị nghị khắt khe đối với Đức Kitô và đối với bất cứ ai đến xin phép lạ nơi Đức Kitô.

Anh nhìn rõ những cản trở, nhưng anh không ngã lòng. Anh tin vào lòng thương xót Chúa. Và niềm tin ấy, niềm cậy trông ấy đưa tới hành động: Anh xin thân nhân đưa anh lên mái nhà, dỡ ngói ra thả anh xuống trước mặt Đức Kitô.

Đây là một hành động đầy mạo hiểm. Nhưng mạo hiểm ấy dựa trên một niềm cậy trông thực khiêm tốn, nhưng đầy can đảm. Anh không cậy gì vào chính mình. Anh cũng coi thường tất cả những cản trở chung quanh. Anh chỉ nhìn vào trái tim đầy thương xót của Đức Kitô cứu độ. Niềm cậy trông của anh đã làm cho Đức Kitô thương anh, trọng anh. Và Đức Kitô đã chữa lành anh, không những phần xác mà còn cả phần hồn. Chúa nói: “Tội con đã được khỏi. Con đứng dậy đi”. Nghĩa là Chúa chữa lành cả phần hồn, cả phần xác, vì niềm cậy trông rất mạnh.

Nếu như muốn tìm một chân dung khác đẹp hơn về những cậy trông, tôi có thể nhìn thấy nơi Đức Mẹ.

Đức Mẹ được ơn khỏi mắc tội Tổ Tông Truyền. Đức mẹ được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Nhưng Đức Mẹ luôn luôn bị thử thách suốt đời: Con mình là Thiên Chúa, nhưng bị biết bao chống đối, biết bao sỉ nhục, và biết bao thất bại bề ngoài. Đức Mẹ không ngã lòng. Niềm cậy trông của Đức Mẹ luôn vững, luôn cậy vào lời Chúa đã hứa. Niềm cậy trông ấy đầy can đảm và là một sự phấn đấu đầy nghị lực. Chính vì thế, Đức mẹ trở thành Đấng Đồng Công cứu chuộc loài người.

Anh chị em thân mến,

Khi đến họ đạo Cồn Trên này, tôi cũng nhìn thấy những niềm hy vọng: Những niềm hy vọng cũ đang trổ bông, và những niềm hy vọng mới đang xuất hiện. Có những niềm hy vọng cá nhân và có những niềm hy vọng tập thể.

Khi nghe tiếng chuông mới rung lên, tôi đã nghĩ rằng: Đây là một báo hiệu tốt. Nhưng niềm hy vọng trong anh chị em còn vang xa hơn tiếng chuông của họ đạo anh chị em. Nó vang tới trời. Nó vang tới trái tim Thiên Chúa. Và nó vang tới lòng con người xung quanh.

Tôi mong rằng: Họ đạo anh chị em, tuy bé nhỏ, hãy biết bảo vệ và phát huy niềm hy vọng, lòng cậy trông.

Ngày 10-11 vừa qua, Đức Thánh Cha có gửi cho các Giám Mục toàn cầu một lá thư, kêu gọi các ngài chuẩn bị cho giáo đoàn mình, để mừng năm thánh năm 2.000. Và trong các việc Đức Giáo Hoàng kêu gọi để chuẩn bị năm thánh năm 2.000 sẽ được tổ chức đặc biệt, Đức Thánh Cha nhắc tới niềm cậy trông. Ngài nói rằng: “Từ nay trở đi, (tức là ngày mồng 10-11-1994 trở đi, cho đến năm 2.000) các giáo đoàn hãy năng nhắc nhở nhau về niềm hy vọng, về niềm cậy trông”. Đó là một điều, theo Ngài nói, rất cần để chuẩn bị đón nhận ơn thánh năm 2.000.

Tôi mong rằng: Họ đạo anh chị em hãy biết đón nhận lời kêu gọi của Đức Thánh Cha. Từ nay trở đi, hãy đặc biệt chú ý những bài thánh ca, những bài giáo lý có nội dung gợi lên niềm cậy trông, với những hình ảnh gợi lên niềm cậy trông. Niềm cậy trông này, không phải chỉ hướng về những lợi ích trần thế, mà là một niềm cậy trông dựa trên lời Chúa.

Trong bài đọc thứ hai anh chị em vừa nghe, thánh Phaolô nói: Niềm cậy trông không bị hổ thẹn, bởi vì niềm cậy trông của ta dựa trên tình thương: Tình thương của Chúa đã thương chúng ta, đang khi chúng ta còn trong tội lỗi, chứ không phải vì ta có công, cũng không phải vì ta xứng đáng, mà vì Chúa thương ta vô vàn, thương ta khi ta chưa biết Ngài, thương ta khi ta còn trong tội lỗi. Và niềm cậy trông như Đức Mẹ là luôn luôn cậy trông, luôn luôn tuân phục thánh ý Chúa, chứ không phải cậy trông được khỏi bệnh, được địa vị, được danh vọng, được thành công. Không, cậy trông trên hết là thánh ý Chúa được trọn vẹn nơi chúng ta.
Tôi mong rằng Thánh Thần Chúa sẽ đến với chúng ta. Và như lời hứa của thánh Phaolô nói trong bài đọc thứ hai: “Thánh Thần Chúa sẽ ban cho chúng ta niềm cậy trông”, mà Đức Kitô đã khuyên cần phải có, như một điều kiện để đón nhận ơn cứu độ. Amen.

Cồn Trên, ngày 05-12-94


 

Bùi-Tuần 0473: ĂN NĂN TRở VỀ 06-12-1994


Mt 18,12-14

Trung Thành

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa cho biết: Chúa rất xót thương con: 06-12-1994 Bùi-Tuần 473


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa cho biết: Chúa rất xót thương con chiên lạc. Chúa dành cho con chiên lạc một tình xót thương đặc biệt, đến nỗi trong một đàn chiên 100 con, nếu chẳng may có một con đi lạc, Chúa sẽ bỏ 99 con trên núi, để đi tìm con chiên lạc, để đưa nó trở về.

Khi nghe bài Phúc Âm hôm nay, tôi đã thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã xót thương con chiên lạc. Chúa nói là trong một đàn chiên 100 con, nếu chẳng may có một con đi lạc, Chúa sẽ xót thương đi tìm kiếm nó. Nhưng con xin hỏi Chúa: Nếu trong một đàn chiên, không phải chỉ có một con đi lạc, mà là mấy chục con đi lạc. Hơn nữa, có thể quá một nửa là lạc, thì Chúa có còn xót thương tất cả những con chiên lạc đó không?”.

Và tôi nghe Chúa trả lời tôi rằng: “Đúng là có những đàn chiên, không phải chỉ có một, hai con đi lạc, mà là mấy chục con đi lạc, và cũng có những đàn chiên hầu hết là đi lạc. Nhưng Cha nhân lành vẫn không ngừng xót thương tất cả những con chiên lạc. Cha đi tìm tất cả. Cha muốn mọi con chiên lạc trở về. Nhưng chỉ có một số biết đón nhận ơn Cha ban để trở về”. Tôi hỏi Chúa: Như vậy, những con chiên nào sẽ được ơn trở về? Thì Chúa trả lời tôi: Những con chiên có lòng khiêm tốn.

Lời Chúa phán trên đây với tôi, gợi ý cho tôi nhớ lại những con người trở lại trong Phúc Âm: Như người thu thuế đứng cuối nhà thờ, cúi mặt xuống với thái độ sám hối ăn năn. Như Mađalêna quỳ xuống rửa chân Chúa với tâm hồn tan nát khiêm cung. Hay như thánh Phêrô đi ra khỏi dịp tội với một lòng cậy trông và với một tâm hồn sám hối. Đúng là phải có lòng khiêm tốn như là một điều kiện để có thể đón nhận ơn trở về.

Nhưng, sự khiêm nhường như điều kiện được đón nhận ơn trở về phải như thế nào?

Thưa trước hết, phải nhìn nhận mình có tội: Tội mình phạm là do chính mình, mình phải ăn năn, chứ không phải nhìn sang kẻ khác để rồi bắt lỗi, để rồi kết án người khác. Người con phung phá đã nói với cha mình: Lạy Cha, con đã phạm tội với cha và với trời.

Ăn năn tội như thế không phải là vì tội đã gây rắc rối cho mình, mà chính là vì đã làm cho cha buồn, vì đã làm sai ý cha, vì đã lỗi luật cha. Đấy là những lý do ăn năn sám hối: Biết nhận lầm lỗi về phía mình, và biết đã làm cho cha buồn. Ăn năn sám hối của kẻ khiêm nhường còn đi xa hơn nữa, tức là dựa vào lòng thương xót Chúa, lòng thương xót sẽ xoá tội, sẽ tha tội. Chúa đã chết cho con, máu Chúa đủ để xoá tội con. Chúa đã sống lại, để sự sống lại của Chúa sẽ làm cho con sống lại. Tội con nặng biết mấy, nếu con biết cậy trông, con sẽ sống lại.

Nhưng không phải chỉ dừng lại ở đó, mà kẻ khiêm nhường thống hối còn đi một bước nữa, là phó thác mọi sự trong tay Cha. Những gì Cha muốn làm nơi con, xin hãy làm cho đẹp ý Cha: “Lạy Cha, con xin phó mình nơi Cha. Xin hãy làm nơi con mọi sự đẹp ý Cha. Con sẵn sàng luôn luôn. Con chấp nhận tất cả, miễn là ý Cha được thực hiện trọn vẹn nơi con”. Đó là sự khiêm nhường thống hối của kẻ ăn năn, không chỉ xin Chúa xoá tội, tha tội. Mà còn xin vâng phục thánh ý Chúa, chỉ ý Chúa mà thôi.

Khiêm nhường ăn năn, còn là xin Chúa giúp cho mình trở về mỗi ngày, mỗi giờ. Khi tôi đọc sách đạo đức của thánh Têrêxa Mẹ, tôi thấy thánh Têrêxa Mẹ tả ra những con đường trở về: Từ lúc bỏ tội lỗi, cho đến khi bỏ tính mê nết xấu, rồi đến bỏ cái tôi của mình, rồi trở về sống mật thiết với Đức Kitô. Con đường trở về rất dài.

Vì thế, khi nghĩ tới sự tôi và anh chị em đi xưng tội, gọi là trở về, thì cái trở về đó mới chỉ là những bước đầu của con đường trở về, chứ còn trở về là phải bước vào, đi vào, đi mãi mãi không bao giờ cùng. Mà phải bắt đầu ngay từ giây phút này, không do dự, không tính toán, bởi vì Chúa gọi.

Anh chị em thân mến,

Ngày 10-11 vừa qua, Đức Thánh Cha có gởi cho các Giám Mục hoàn cầu, một lá thư loan báo sẽ có năm toàn xá vào năm 2000. Đây là năm toàn xá đặc biệt, rất đặc biệt. Vì thế, Đức Thánh Cha kêu gọi mọi người, ngay từ hôm nay, hãy chuẩn bị bước vào năm thánh 2000, bằng một số việc. Một trong những việc Ngài cho là quan trọng nhất đó là ăn năn sám hối.

Chính Đức Giáo Hoàng trong lá thư ấy đã rất khiêm tốn và can đảm nhận rằng: Hội Thánh công giáo đã có nhiều sai lầm, đã có nhiều bất trung, đã có nhiều trì trệ trong quá khứ. Cần phải nhận lỗi của mình. Cần phải trở về với Chúa.

Tôi nghĩ rằng: Anh chị em cũng rất đồng ý với Đức Thánh Cha. Bởi vì, ăn năn sám hối, như con chiên lạc trở về đàn, là một sứ điệp mà Đức Kitô khi rao giảng luôn nhấn mạnh. Đó là sứ điệp mà thánh Gioan Baotixita luôn rao giảng. Đó là sứ điệp mà Đức Mẹ, mỗi khi hiện ra ở Lộ Đức, ở Fatima, ở Lasalette đều khẩn khoản nhắc tới: “Hãy ăn năn trở lại”.

Lúc nãy, ông đại diện giáo đoàn Trung Thành có nói là: ở đây, anh chị em rất sốt sắng theo học những lớp giáo lý. Tôi rất mừng về điểm này. Nhưng tôi thấy cần phải bổ khuyết. Giáo lý mà thôi không làm cho người ta trở về, mà còn phải tu đức. Suốt đời huấn luyện các tông đồ, Đức Kitô giảng về giáo lý chỉ một phần nhỏ, nhưng Ngài để ý đến tu đức nhiều hơn. Tu đức là tập cầu nguyện, là tập sám hối, là tập hồi tâm, là tập hãm mình, là tập thinh lặng hy sinh. Tu đức sẽ giúp cho người ta ăn năn trở về, hơn là chỉ đến mà học giáo lý.

Trong thánh lễ này, tôi cũng như anh chị em, xin Chúa Thánh Linh ban cho chúng ta hiểu được ý nghĩa sứ điệp ăn năn trở về của con chiên lạc, biết đón nhận ơn trở về như Chúa đã nói trong bài Phúc Âm hôm nay, là chỉ dành cho những kẻ khiêm tốn. Amen.

Trung Thành, ngày 06-12-94

 

Bùi-Tuần 0474: LẮNG NGHE CHÚA THÁNH THẦN 07-12-1994

 Mt 11,28-30

An Dũng (K.G1),

 

Đêm vừa rồi, tôi ngủ tại nhà xứ Trung Thành, kinh 8 (chợ), phòng của: 07-12-1994 Bùi-Tuần 474


Đêm vừa rồi, tôi ngủ tại nhà xứ Trung Thành, kinh 8 (chợ), phòng của tôi ngủ rất là thanh vắng. Nhưng có một điều rất là thanh vắng, nhưng lại gây xúc động, đã đánh thức tôi dậy lúc 10 giờ 30, để rồi từ đó đến sáng, tôi không sao ngủ lại được.

Cái gì đã có sức đánh thức tôi dậy sớm như thế? Thưa là một hình ảnh đẹp về Đức Mẹ, mà Đức Thánh Cha mới nêu lên. Đức Thánh Cha nói: “Đức Mẹ là một người lắng nghe Chúa Thánh Thần”.

Đối với tôi, đây là một hình ảnh rất đẹp. Bởi vì, biết lắng nghe vốn đã là một đặc tính làm cho con người nên đẹp. Biết lắng nghe Chúa Thánh Thần lại càng là một đức tính, làm cho vẻ đẹp con người trở nên trong sáng, cao quý, tuyệt vời.

Đọc kinh thánh, đọc truyện Đức Mẹ, tôi thấy suốt cuộc đời Đức Mẹ, Đức Mẹ đã được Chúa Thánh Thần nói, và Đức Mẹ đã lắng nghe. Chúa Thánh Thần đã nói với Đức Mẹ qua Cựu Ước. Qua Cựu Ước, Chúa Thánh Thần đã nói cho Đức Mẹ con đường cứu độ Chúa sắp thực hiện. Khi nghe Chúa Thánh Thần nói, Đức mẹ đã phân định được những gì Chúa sẽ làm cho nhân loại. Những gì Chúa sẽ làm cho nhân loại thì rất khác với các quan điểm của các thượng tế, các Pharisêu, các luật sĩ thời đó.

Rồi Chúa Thánh Thần cũng đã nói với Đức Mẹ qua biến cố Truyền Tin, và những gì xảy ra sau đó. Nhờ Chúa Thánh Thần, Đức Kitô đã thụ thai trong lòng Trinh Nữ Maria, đã làm người, đã sinh ra. Nhờ lắng nghe Chúa Thánh Thần qua biến cố Truyền Tin, Đức Mẹ đã cảm nghiệm được Thiên Chúa toàn năng thực hiện những sự lạ lùng lớn lao, trong một dụng cụ hèn yếu không tên tuổi.

Chúa Thánh Thần cũng đã nói với Đức Mẹ qua cuộc đời của Đức Kitô, từ Bêlem đến Ai Cập, từ Ai Cập về Nagiarét, từ Nagiarét đến Giêrusalem. Đức mẹ lắng nghe Chúa Thánh Thần, và nhờ đó, Đức mẹ hiểu tất cả cuộc đời thiêng liêng của mình đều phải tập trung vào Đức Kitô. Chính nhờ Đức Kitô, và trong Đức Kitô, cùng với Đức Kitô, mọi sự phải quy hướng vào Đức Kitô. Chỉ có Đức Kitô là Đấng cứu độ, chỉ có Đức Kitô là Đấng mình phải tới để được ủi an, vì Người đã phán: Ách Ta thì êm ái, gánh Ta thì nhẹ nhàng.

Chúa Thánh Thần cũng đã nói với Đức Mẹ, nhất là qua biến cố Ngũ Tuần. Chúa Thánh Thần đã hiện xuống thay đổi tất cả những người trong hội đường. Đức Mẹ lắng nghe Chúa Thánh Thần. Và Ngài xác tín Đấng làm cho con người nên mới, nên thánh, chính là Chúa Thánh Thần. Và sự con người nên mới, nên thánh, biến đổi tâm hồn, là một công trình đẹp đẽ nhất, vượt hơn tất cả mọi thánh đường, mọi công trình trên thế gian này. Đó là một công trình của Thiên Chúa đáng ca tụng nhất.

Sự Đức Mẹ lắng nghe Chúa Thánh Thần đã được Phúc Âm diễn tả bằng một câu vắn tắt: Đức Mẹ ghi nhớ tất cả sự việc xảy ra trong lòng mình, và âm thầm suy gẫm, suy gẫm trong một tâm hồn thinh lặng, trong một tâm hồn cầu nguyện, trong một tâm hồn tỉnh thức.

Đức Mẹ không những lắng nghe Chúa Thánh Thần, mà còn biết cách đáp ứng lại lời Chúa Thánh Thần soi sáng một cách tế nhị và sáng tạo.

Chúng ta thấy, khi Chúa Thánh Thần gợi ý cho Đức Mẹ biết bà Êlisabét có thai, thì lập tức Đức Mẹ phản ứng, bằng cách lên đường vội vã đi thăm bà Êlisabét.

Rồi thí dụ trong bữa tiệc Cana, khi Chúa Thánh Thần soi sáng cho Đức Mẹ tình trạng bối rối của chủ nhà, Đức Mẹ lập tức có những lời kêu cầu khẩn thiết hướng về Đức Kitô, xin con mình làm phép lạ đầu tiên.

Rồi thí dụ, khi Đức Mẹ nghe Chúa Thánh Thần nói về thân phận Đức Kitô con mình, đang trở thành người đầy tớ Đức Giavê khổ nạn, nhục nhã, bị ruồng bỏ, Đức Mẹ phản ứng bằng cách lên đường, đi gặp con mình vác thánh giá, để có mặt bên con, để đồng hành với con, để nâng đỡ con trong giờ khổ nạn.

Biết lắng nghe Chúa Thánh Thần, Đức Mẹ đã có những suy nghĩ rất đúng và đã có những việc làm đẹp ý Chúa. Hình ảnh Đức Mẹ lắng nghe Chúa Thánh Thần, đang là hình ảnh khơi dậy trong Hội Thánh hôm nay một nguồn sống mới.
Tôi thấy khắp nơi bây giờ đang có một khuynh hướng trở về với tu đức, hơn là trở về với giáo lý. Và nền tu đức mà người ta đang trở về là một nền tu đức của Đức Mẹ lắng nghe Chúa Thánh Thần, và lấy Đức Kitô làm trung tâm đời sống đạo của mình.
Anh chị em thân mến,Đầu tháng này, tôi nghe Chúa Thánh Thần dạy bảo tôi: Con hãy chuẩn bị mừng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, bằng cách tăng cường cầu nguyện phó thác, bằng cách tăng cường hy sinh, phấn đấu với chính mình, để làm tốt bổn phận Chúa trao cho. Mỗi ngày, tôi vâng ý Chúa Thánh Thần, cố gắng làm những điều Người dạy.

Tới đây, tôi cũng gặp được các cha, anh chị em đang lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần soi dạy như thế. Và cũng đã cố gắng thực hiện những điều Chúa Thánh Thần dạy, để chuẩn bị mừng lễ Đức Mẹ ngày mai.

Tôi cho đây là một điều đáng mừng. Bó hoa chúng ta dâng tuy đẹp, nhưng chính tâm hồn chúng ta, những người lắng nghe Chúa Thánh Thần, còn đẹp hơn những bó hoa dâng kính trên bàn thờ Đức Mẹ. Chúng ta hát những bài ca hay, nhưng khi lòng chúng ta biết lắng nghe Chúa Thánh Thần theo gương Đức Mẹ, bản thân chúng ta, trái tim chúng ta sẽ là những bài ca tụng hay nhất dâng lên Chúa hôm nay.

Tôi nghĩ rằng, ngày mai, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm. Đức Mẹ chỉ chờ đợi chúng ta, những đứa con, hãy bắt chước Mẹ, biết lắng nghe Chúa Thánh Thần. Và biết thực hành những gì Chúa Thánh Thần soi dạy. Từ đó, chúng ta có thể chắc chắn tương lai chúng ta, phần hồn phần xác, đời này đời sau, sẽ rất vững vàng. Nhưng điều cần thiết, là chúng ta cần phải quảng đại, chấp nhận phấn đấu, hy sinh đến cùng, như gương Đức Mẹ khi lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần. Amen.

An Dũng (K. G1), ngày 07-12-1994


 

Bùi-Tuần 0475: HÃY ĂN NĂN SÁM HỐI 15-12-1994


Lc 7,24-30

Thanh Hải (K.D2)

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã nói đến công việc của thánh Gioan tiền hô. Công: : 15-12-1994 Bùi-Tuần 475


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã nói đến công việc của thánh Gioan tiền hô. Công việc ấy đã được loan báo trong Cựu Ước từ lâu trước, trong câu sau đây: “Này Con, Cha sai sứ thần đi trước mặt Con, và sẽ dọn đường cho Con” (Mal. 3,1).

Thánh Gioan tiền hô đã dọn đường cho Đức Kitô, bằng việc rao giảng ăn năn sám hối, lôi kéo người ta trở về.

Kết quả ra sao? Đức Kitô hôm nay làm chứng: Tất cả dân chúng đã theo lời Người, kể cả những người thu thuế cũng đã xin chịu phép rửa của Gioan, tượng trưng cho sự thanh tẩy. Chỉ trừ những người biệt phái và luật sĩ, khinh chê ý định của Thiên Chúa, nên khước từ phép rửa của Gioan.

Tôi coi bài Phúc Âm hôm nay như một sứ điệp Chúa gửi cho tôi. Trong sứ điệp này, Chúa nhắc bảo tôi: Hãy theo gương thánh Gioan tiền hô, rao giảng sự ăn năn thống hối, rao giảng sự trở về đàng lành.

Đây là một điều mà chính tôi phải thực hiện trước, đồng hành với những kẻ trở về.

Sứ điệp hôm nay, cũng trùng hợp với thông điệp của Đức Giáo Hoàng mới gửi cho Hội Thánh toàn cầu, loan báo năm toàn xá sẽ được mở năm 2000 một cách đặc biệt. Trong thông điệp này, Đức Thánh Cha hô hào: Hãy biết đón nhận Đức Kitô đến một cách đặc biệt trong năm toàn xá, năm 2000, bằng sự ăn năn thống hối trở về đàng lành.

Qua sứ điệp Phúc Âm và qua thông điệp Đức Thánh Cha, tôi thấy thánh ý Chúa thật là rõ ràng: Chúa muốn chúng ta ăn năn sám hối. Chúa kêu gọi chúng ta trở về đàng nhân đức.

Chúng ta cần phải ăn năn sám hối về những tội gì? Trong Phúc Âm, chúng ta đã thấy nói khá nhiều. Trong thông điệp mới rồi của Đức Thánh Cha cũng đã kể ra một số tội chúng ta cần phải ăn năn sám hối.

Hôm nay tôi chỉ xin trích bốn tội, mà Đức Thánh Cha đã nêu lên khuyên chúng ta ăn năn sám hối để đón chờ năm toàn xá.

- Tội thứ nhất là tội dửng dưng với lời Chúa.
- Tội thứ hai là tội chia rẽ trong nội bộ Hội Thánh.
- Tội thứ ba là tội bất công dưới nhiều hình thức.
- Tội thứ bốn là tội thiếu trao đổi, đối thoại với xã hội, hoặc là đối thoại với xã hội mà thiếu cởi mở, thiếu kính trọng, thiếu tình nghĩa.

Tôi đem bốn lời khuyên trên đây của Đức Thánh Cha, để xem xét chính bản thân mình, và xem xét Hội Thánh của mình, thì tôi thấy chúng ta còn nhiều điều chưa đúng, chưa tốt, phải ăn năn sám hối.

Lời Chúa là lời ban sự sống. Thế nhưng, hãy xét mình lại, ta thấy ta không trọng lời Chúa cho đủ. Ta không suy gẫm lời Chúa cho đúng. Ta không sống đúng theo lời Chúa, đúng theo thánh ý Chúa.

Rồi sự hợp nhất trong Hội Thánh, là dấu chỉ của sự thánh thiện Đức Kitô. Nhưng trong thực tế, Hội Thánh của ta, Kênh của ta, địa phương của ta vẫn còn nhiều chia rẽ, cách này, cách khác. Chúng ta vẫn chưa quảng đại đủ, để tha thứ, để hoà giải, để bỏ đi cái tôi quá lớn của mình.

Rồi công bình, là một đức tính căn bản, buộc ta phải làm trọn, làm đầy đủ bổn phận với mọi người chúng ta có liên đới, như gia đình, giáo xứ, giáo phận, Hội Thánh, quê hương. Nhưng xét lại chính mình, nhiều khi chúng ta thấy, chúng ta không làm đầy đủ bổn phận của ta đối với những người chúng ta có liên hệ.

Rồi trong vấn đề đối thoại với xã hội, Đức Thánh bảo: Cần phải cởi mở, cần phải kính trọng, cần phải tình nghĩa. Thế nhưng, xét lại chúng ta thấy, hoặc là chúng ta không chịu đối thoại với xã hội, hoặc là trong khi đối thoại lại không có cởi mở đủ, không có kính trọng đủ, không có tình nghĩa đủ, mà chỉ có dửng dưng, lạnh nhạt, hay hận thù.

Khi xét lại chỉ trên một số tội, chúng ta đã thấy, chúng ta còn cần phải sửa lại rất nhiều.

Khi chúng ta thực thi lời ăn năn sám hối, chúng ta thấy thế nào?

Ăn năn sám hối trở về đàng lành, đó là việc của sự rèn luyện tu đức hơn là việc học hỏi giáo lý.

Rèn luyện tu đức tức là tập sống nội tâm, đi vào tâm hồn mình, lắng nghe tiếng Chúa, gặp gỡ Chúa, ở lại với Chúa và tuân thủ thánh ý Chúa.

Rèn luyện tu đức tức là tập cho mình, biết cảm nghiệm tám mối phúc thật, những thứ hạnh phúc rất khác với sự hưởng thụ tiền bạc, xác thịt, giải trí, tình yêu thế gian.

Rèn luyện tu đức là tập tành, gọt giũa mình nên giống người môn đệ Đức Kitô, Đấng đòi hỏi: “Ai muốn trở nên môn đệ Ta, hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà đi theo Ta”.

Rèn luyện tu đức là phải tập luyện dấn thân trong các hình thức phục vụ.

Lúc nãy, anh chị em có hát bài “Chúa sai con đi loan báo Tin Mừng”. Tôi thấy đấy là một từ, mà nhiều khi làm cho chúng ta hiểu sai. Chúa sai ta đi, không phải chỉ là loan báo Tin Mừng theo nghĩa trần gian, mà là phải loan báo Tin Mừng của mầu nhiệm thánh giá. Khi chúng ta dấn thân, khi chúng ta phục vụ, chúng ta không thể không cảm thấy phải từ bỏ, phải phấn đấu, phải hy sinh rất nhiều.

Anh chị em thân mến,

Trong bài Phúc Âm hôm nay, có một điều làm cho tôi sợ hãi. Đó là điều Đức Kitô nói về những người không ăn năn sám hối. Họ là ai? Thưa, họ là những người biệt phái, là những người luật sĩ. Hai loại người này rất giỏi giáo lý, rất là thông luật. Nhưng, họ kiêu căng, họ tự mãn, nên Đức Kitô nói họ khinh chê ý định của Thiên Chúa, và đã không chịu phép rửa của Gioan.

Tôi sợ bây giờ đây, trong Hội Thánh ta cũng có những người biệt phái, cũng có những người luật sĩ tự mãn, tự phụ với những mớ kiến thức giáo lý, luật đạo của mình.

Ơn trở lại là một ơn Chúa ban, chứ không phải là một kết quả tất nhiên của sự hiểu biết giáo lý. Ơn trở lại, Chúa chỉ ban cho những tâm hồn bé nhỏ khiêm cung.

Lúc nãy, khi bước vào nhà thờ, tôi gặp một em bé nhỏ khoanh tay cười và chào tôi: Lạy cha. Tôi bước lên bàn thờ, quỳ và xin Chúa hãy giúp con, cộng đoàn của con giống như đứa trẻ con vừa gặp. Con xin Chúa giúp chúng con trở về, mà nếu chúng con không biết trở về, thì xin Chúa cầm tay con, ẵm con trở về, như đứa nhỏ con vừa gặp.

Đúng như vậy, nhiều khi chúng ta không tự mình trở về với Chúa được, bởi vì trong ta quá nặng tính mê nết xấu. Nhưng nếu chúng ta sống bé nhỏ, sống khiêm tốn, Chúa sẽ dắt ta về, Chúa sẽ bồng bế ta lên với Chúa, chỉ cần chúng ta khát vọng, chỉ cần chúng ta tha thiết cầu xin, và làm hết sức của mình. Chúa là cha. Chúa là mẹ. Cha mẹ nào cũng thương con cái, chỉ những đứa nào tự ý mình lìa bỏ cha mẹ, thì cha mẹ phải chịu thôi. Chứ nó bé nhỏ, có vấp ngã, cha mẹ vẫn thương, vẫn đưa nó về.

Anh chị em thân mến,
Trong lễ Thêm sức hôm nay, ngoài những ơn chúng ta thường cầu xin Chúa Thánh Linh, chúng ta hãy xin cho nhau ơn biết trở về, ơn biết ăn năn thống hối. Nhất là, để chúng ta biết đón nhận Đức Kitô sẽ sinh vào linh hồn chúng ta trong ngày lễ Noel sắp tới. Amen.
Thanh Hải (K.D2), ngày 15-12-1994


 

Bùi-Tuần 0476: NHỮNG TÂM TÌNH DẤU CHỈ 24-12-1994


Bài giảng lễ Noel  - Long Xuyên

 

Trong đêm Chúa giáng sinh, thiên thần đã báo cho các mục đồng biết: 24-12-1994 Bùi-Tuần 476


Trong đêm Chúa giáng sinh, thiên thần đã báo cho các mục đồng biết, họ sẽ nhìn thấy một em bé, bọc trong tấm khăn, nằm trong máng cỏ. Khi nhìn thấy một em bé như thế, họ hãy tin em bé đó chính là Đức Kitô, Đấng Cứu Thế giáng trần.

Các mục đồng đã tìm đến hang đá Bêlem. Họ đã nhìn thấy một em bé, đúng như thiên thần đã tiên báo, và họ đã tin.

Câu chuyện trên đây có một chi tiết rất đáng để ý, đó là việc nhìn các dấu chỉ, để nhận ra Đấng Cứu Thế giáng sinh. Thiên thần đã bảo các mục đồng hãy đi tìm Đức Kitô giáng sinh. Để có thể nhận ra Người, họ hãy nhìn các dấu chỉ, đó là một em bé bọc trong tấm khăn, nằm trong máng cỏ. Như vậy, theo tôi, việc đi tìm các dấu chỉ, việc nhìn vào các dấu chỉ, đó là một việc quan trọng đã được đề cao trong đêm Chúa giáng sinh.

Nhận thức trên đây thúc giục tôi cầu nguyện với Chúa. Tôi nói với Chúa rằng: Hôm nay Chúa đang giáng sinh nơi đâu? Con muốn đến đó. Xin cho con nhìn thấy các dấu chỉ giúp con nhận ra Chúa.

Chúa đã trả lời tôi. Người cho tôi biết: Nơi Chúa muốn giáng sinh hôm nay chính là tâm hồn tôi, và tâm hồn mọi người. Hãy trở về đó. Hãy nhìn trong đó, xem có những dấu chỉ không?

Thưa anh chị em, những dấu chỉ đó là gì? Tôi xin chia sẻ vắn tắt.

Dấu chỉ thứ nhất báo hiệu Chúa đang giáng sinh trong tâm hồn ta là sự xuất hiện trong ta tâm tình ngưỡng mộ nếp sống bác ái, khiêm nhường, hiền từ, bé nhỏ, một tâm tình khao khát từ nay đi vào nếp sống đó.

Thực vậy, xưa, tại Bêlem, Đức Kitô đã đến trong thân phận hài nhi dễ thương, đầy tình yêu, hiền dịu, khiêm tốn, bé nhỏ, để làm chứng “Thiên-Chúa là tình-yêu” (I Gioan 4,16), “Đấng dịu hiền và khiêm nhường” (Mt 11,21), Đấng kêu gọi mọi người hãy biết sống đơn sơ bé nhỏ (Mt 18,4). Nay Chúa vẫn đến trong một thân phận như thế. Vì vậy, nếu hôm nay, ta thấy trong ta có tâm tình ưa thích thân phận, mà Chúa đã mặc lấy và nêu gương, thì ta hãy tin tâm tình ấy là do Chúa ban. Nó là dấu chỉ đúng và chắc chắn báo hiệu Chúa đang giáng sinh trong ta.

Ta hãy nhìn vào lòng ta, xem có tâm tình dấu chỉ như thế không?

Dấu chỉ thứ hai báo hiệu Chúa đang giáng sinh trong tâm hồn ta là sự ta nhận biết mình tội lỗi, nhưng được Chúa thương yêu, đã được Chúa cứu độ và sẽ luôn luôn rất cần được Chúa cứu vớt.

Thánh Phaolô viết: “Một điều chắc chắn nhất, đáng tin, không chút hồ nghi là Chúa Giêsu Kitô đã đến trong thế gian, để cứu vớt các kẻ tội lỗi, mà người tội lỗi nhất chính là tôi” (I Timôtê, 1,15). Với lời trên đây, thánh Phaolô đã nhìn nhận mình là kẻ tội lỗi nhất, nhưng đã được Đức Kitô thương cứu vớt, nhờ sự Người đã đến trong thế gian. Nếu hôm nay ta thấy xuất hiện trong lòng ta một tâm tình nhìn nhận như thế, giống thánh Phaolô, khiến ta cảm tạ Chúa, gắn bó với Chúa, thì ta hãy tin tâm tình đó là do Chúa ban. Nó là dấu chỉ đúng và chắc chắn báo hiệu Chúa đang giáng sinh trong ta.

Ta hãy nhìn vào lòng ta, xem có một tâm tình dấu chỉ như thế không?

Dấu chỉ thứ ba báo hiệu Chúa đang giáng sinh trong tâm hồn ta là sự ta sẵn sàng tuân phục thánh ý Chúa, có nghĩa là ta sẵn sàng từ bỏ ý riêng mình, để thánh ý Chúa được trọn vẹn nơi ta.

Thánh Phaolô viết: “Khi đến trong thế gian, Chúa Giêsu phán: Chúa đã không muốn của hy tế và lễ hiến dâng, nhưng đã tạo nên cho tôi một thân xác. Chúa không nhận của lễ toàn thiêu và của lễ đền tội. Nên tôi nói: Lạy Cha, này con xin đến, để thi hành thánh ý Cha” (Hebr. 10,5-7). Với lời trên đây, thánh Phaolô cho thấy: Chúa Giêsu đã đến trong thế gian, để làm chứng sự Ngài tuân phục thánh ý Chúa Cha, sự Ngài coi thánh ý Chúa Cha là quan trọng hơn hết mọi sự, sự thực thi thánh ý Chúa Cha là điều đẹp lòng Thiên Chúa, sinh ích lợi làm sáng danh Thiên Chúa hơn mọi lễ vật, hơn mọi hành động dấn thân, hy sinh. Nếu hôm nay ta thấy trong lòng mình có những tâm tình như thế, thì ta hãy tin những tâm tình như thế là ơn Chúa ban. Nó là dấu chỉ đúng và chắc chắn báo hiệu Chúa đang đến trong tâm hồn ta.
Ta hãy nhìn vào lòng ta, xem có những tâm tình dấu chỉ như thế không?
Anh chị em thân mến,
Trong dịp lễ giáng sinh, người ta có thói quen tặng nhau lời chúc và đồ vật, thói quen này có mặt tốt của nó. Nhưng ta đừng quên điều này: Quà quí nhất ta có thể tặng nhau trong lễ Noel, chính là Đức Kitô. Chính Người mới là món quà Tình Yêu, món quà Cứu Độ, mà ta và mọi người luôn luôn cần đến. Đức Kitô muốn giáng sinh trong lòng ta. Ta hãy đón Người, bằng tâm hồn cầu nguyện, chiêm ngắm và nhạy bén với những tâm tình dấu chỉ tôi vừa trình bày. Cũng trong những tâm tình dấu chỉ đó, tôi xin thân ái chúc anh chị em một lễ Noel bình an, hạnh phúc.


 

Bùi-Tuần 0477: THA THƯ 26-12-1994


Mt 10,17-22

Thái Hoà

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói đến cảnh chia rẽ trong: 26-12-1994 Bùi-Tuần 477


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói đến cảnh chia rẽ trong nội bộ gia đình. Ngài nói về một vài chi tiết rất là ác nghiệt, bi đát. Thí dụ cảnh cha nộp con, anh nộp em, con cái nộp cha mẹ.

Trên đây là những lời tiên tri báo trước. Hôm nay tôi thấy những lời tiên tri ấy đang thực hiện. Chỉ trong ngày hôm qua, lễ Noel, tôi đã gặp một vài câu chuyện nhỏ làm tôi đau lòng, làm tôi nghĩ tới cảnh Đức Kitô tiên báo trong bài Phúc Âm hôm nay.

Buổi sáng, tôi gặp hai em bé đi lễ. Hai em đó mới mất mẹ. Bố nó đang ở với một người đàn bà, họ hàng gần với mẹ nó đã chết. Chúng cho tôi biết: Chúng đang ở trong một hoàn cảnh thiếu thốn vật chất, tinh thần. Bố thì nhu nhược, mẹ kế thì khắt khe, trọng đồng tiền hơn tình nghĩa. Chúng bị đưa đẩy vào một cuộc sống trôi dạt, thiếu thốn tình thương.

Buổi trưa, tôi gặp một cô vợ trẻ đi Honda đến nhà thờ. Tôi hỏi: Chồng con đâu, sao không đi lễ với con? Cô thưa: Chồng con đã ly dị con rồi.

Buổi tối, tôi gặp một bà mẹ. Bà tâm sự về con cái. Bà nói rằng, bà muốn đi nơi khác để khỏi phải nhìn thấy đám con bất hiếu quấy phá bà.

Chỉ mấy chi tiết trên đây trong nội một ngày lễ Noel, cũng đủ cho tôi thấy lời Đức Kitô tiên báo trong bài Phúc Âm hôm nay, về cảnh chia rẻ trong nội bộ là rất bi thảm.

Thấy cảnh tan tác như vậy, tôi đau lòng. Và tôi đã nói với Chúa rằng: “Lạy Chúa, Chúa sinh xuống thế gian này để cứu chuộc chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con. Xin Chúa thương tha tội chia rẽ của chúng con”. Và Chúa đáp trả lời tôi:"Cha sẵn sàng tha tội chia rẽ của chúng con, với điều kiện là chúng con cũng phải tha thứ cho nhau. Nhất là tha thứ cho những người làm mất lòng chúng con”.

Điều kiện trên đây không mới mẻ gì! Bởi vì cũng là điều kiện chúng ta vẫn nói với Chúa trong kinh Lạy Cha: “Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Nhưng, từ câu thuộc lòng trên lý thuyết, đến chỗ thực lòng trên thực tế, nó có một khoảng cách lớn lao.

Tôi có hỏi những người đã có kinh nghiệm thứ tha, thì tất cả đều có hai câu trả lời chung thế này: Một là để biết tha thứ, cần phải cầu nguyện xin Chúa ban ơn tha thứ. Hai là cần phải năng suy gẫm Lời Chúa. “Nếu chúng con có tha cho kẻ khác chúng con mới được Cha thứ tha”.

Rồi thêm vào đó, người thì làm việc lành này, người thì làm việc lành khác. Thí dụ: Người cố gắng đừng bao giờ nhắc tới vết thương cũ, những lời kết án, những lời nguyền rủa, những sự suy đoán. Rồi, người thì làm những việc nho nhỏ tế nhị đối với những kẻ đã làm mất lòng mình. Rồi, người thì làm những việc hãm mình, đi đàng thánh giá, cầu nguyện bố thí, cầu cho mình, cầu cho kẻ làm mất lòng mình.

Tôi thấy tất cả những kinh nghiệm đó, là bản tóm tắt Lời Chúa trong bài Phúc Âm hôm nay.

Thứ nhất, phải tập tha thứ một cách kiên trì. Cuối bài Phúc Âm hôm nay Chúa nói: “Ai kiên nhẫn đến cùng sẽ được cứu rỗi”. Sự tha thứ cho nhau là một chuyện không phải chỉ trong một ngày một tháng, mà là một chuyện phải tập tành từng ngày, từng giờ, một cách kiên trì.

Thứ hai, tôi nhận thấy rằng, để tha thứ đối với nhiều người, cần phải có một tinh thần tử đạo. Nhiều khi tha thứ cho một người là một việc can đảm không kém việc tử đạo. Phải có đức tin rất mạnh. Phải có sự can đảm can trường. Phải có lòng đức chan hoà. Đổ máu ra, có lẽ dễ hơn là mở lòng ra tha thứ cho người khác.

Và một điểm nữa tôi nhận thấy: Hạnh phúc của chúng ta, những người biết tha thứ, là không những được người ta tha thứ, được Chúa tha thứ, mà còn biết thứ tha cho những người chung quanh, nhất là những người đã làm mất lòng chúng ta.

Hôm nay, kính lễ thánh Têphanô, một vị đã cầu xin Chúa thứ tha cho những người ném đá mình.

Hôm nay, đứng trước hang đá, chúng ta cũng đang nhìn thấy Đức Mẹ và thánh Giuse thứ tha cho dân thành Bêlem đối xử không tốt với Con Thiên Chúa, với Đức Mẹ và thánh Giuse.

Hôm nay, đứng trước tượng chuộc tội, chúng ta cũng đang đứng trước một Đức Kitô cầu xin Chúa Cha thứ tha cho kẻ giết hại mình.

Thưa anh chị em,

Lúc nãy, ông đại diện giáo xứ có cho tôi biết: Các em đã chuẩn bị chịu phép Thêm Sức bằng những lớp giáo lý. Và anh chị em coi đó là những thành công. Tôi chia sẻ thành công ấy. Nhưng tôi nhắc lại điều này: Để được chịu phép bí tích, cũng như để rước Mình Thánh Chúa, Đức Kitô chỉ đưa ra có một điều kiện này: Khi chúng con đến bàn thờ dâng lễ, mà chợt nhớ mình còn bất hoà với ai, thì hãy đi làm hoà với kẻ đó trước, rồi hãy trở lại dâng lễ sau. Chúa Giêsu ra một điều kiện ấy, như là một điều kiện cần thiết nhất, để dâng lễ, để rước lễ, để chịu phép Thêm Sức.

Giờ đây chúng ta hãy tự hỏi mình xem. Chúng ta còn bất hoà gì với những người chung quanh? Chúng ta cần phải vâng lời Chúa mà tha thứ, mà làm hoà đi!
Xứ đạo anh chị em mang tên Thái Hoà. Hãy cố gắng làm sao sống tinh thần hoà bình, cái tinh thần thái bình, cái tinh thần hoà hoãn, cái tinh thần hoà hợp, tinh thần tha thứ.

Riêng tôi, tôi vẫn thường xin Chúa tha tội cho tôi, bởi vì tôi biết tôi nhiều tội lỗi. Nhưng đồng thời, tôi luôn sẵn sàng tha thứ hết. Tôi đã qua những cơn hấp hối, và tôi nói một kinh nghiệm này, để anh chị em biết dọn mình chết.

Trước hết, trong phút hấp hối, tôi chỉ nhớ rằng: Chúa là Đấng hay thương xót, sẽ thương xót tôi.

Điều thứ hai, tôi chỉ nhớ rằng: Tha thứ cho người khác thì Chúa sẽ tha thứ cho tôi, nên tôi tha thứ hết. Tất cả những giáo lý thần học tôi học suốt đời, trong giờ hấp hối, tôi quên hết. Tôi chỉ nhớ có một điều: Phải tha thứ tất cả, để đáng Chúa tha thứ cho mình. Tôi đến trước mặt Chúa chỉ có việc đó thôi.

Và hôm nay, nhân lễ thánh Têphanô, gương mẫu của sự tha thứ, và trong hang đá Bêlem Thánh Gia cũng đã tha thứ, tôi xin nhắc lại cho anh chị em điều tôi đã cảm nghiệm.

Xin Chúa Thánh Linh ban rất nhiều ơn cho anh chị em, nhất là ơn biết tha thứ, luôn luôn tha thứ, tha thứ như Đức Kitô đã từng tha thứ cho chúng ta. Amen.

Thái Hoà, ngày 26-12-1994


 

Bùi-Tuần 0478: ƠN ĐẶC BIỆT 27-12-1994


Gioan 20,2-8

Đồng Tâm (K.3b),

 

Đêm vừa qua, tôi thức dậy lúc một giờ rưỡi. Việc đầu tiên tôi làm là: 27-12-1994 Bùi-Tuần 478


Đêm vừa qua, tôi thức dậy lúc một giờ rưỡi. Việc đầu tiên tôi làm là quỳ xuống, nhìn về phía nhà thờ này để cầu nguyện. Tôi tạ ơn Chúa, vì Chúa đã giúp tôi đến giữa anh chị em. Tôi cảm ơn Chúa, vì những ơn lành Chúa đã ban cho anh chị em trong suốt thời gian qua.

Khi đang cảm tạ Chúa như vậy, thì Chúa cho tôi nhìn thấy ba ơn đặc biệt mà Chúa đã ban cho giáo xứ anh chị em. Ba ơn đặc biệt này đều dựa trên bài Phúc Âm hôm nay.

Ơn đặc biệt thứ nhất Chúa đã ban cho giáo xứ anh chị em, là trên con đường đi tìm Chúa, trên con đường làm sáng danh Chúa, anh chị em cũng như hai môn đệ Phêrô và Gioan, đã chạy chứ không đi từng bước chậm chạp.

Đúng như vậy, bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: Hai môn đệ trên đường đến mộ Đức Kitô, đã không vừa đi vừa giỡn, đã không đi những bước chậm chạp, mà cả hai cùng chạy, chạy với một tốc độ thật nhanh, chạy hết sức của mình.

Tôi cũng nhìn thấy hình ảnh hai môn đệ chạy trong họ đạo anh chị em. Trên con đường đi tìm Chúa và làm sáng danh Chúa, tôi biết là anh chị em đã chạy với một tốc độ rất nhanh: Người nọ lôi kéo người kia, giới này lôi kéo giới nọ, gia đình này lôi kéo gia đình khác, họ đạo này luôn kéo họ đạo khác.

Sức chạy là do sức sống đức tin của mỗi thành phần dân Chúa, cộng với sức sống đức tin của cả một tập thể, có Đức Kitô hiện diện. Chính vì vậy mà anh chị em đã đạt được nhiều kết quả tốt về tinh thần, về vật chất, về trí thức, về truyền giáo. Đó là một ơn đặc biệt mà anh chị em cần phải nhìn vào để tạ ơn Chúa.

Ơn đặc biệt thứ hai Chúa đã cho anh chị em trong giáo xứ này trong năm vừa qua, là cũng như hai môn đệ xưa, mặc dầu không nhìn thấy xác Chúa trong mồ, nhưng đã tin Đức Kitô sống lại.

Bài Phúc Âm hôm nay nói rất rõ: Hai môn đệ đến cửa mồ, nhìn vào, không thấy xác Chúa, họ liền tin Đức Kitô đã sống lại.

Anh chị em cũng thế. Anh chị em đã không muốn nhìn thấy họ đạo anh chị em như một xác chết bất động, mà anh chị em muốn nhìn thấy họ đạo của anh chị em có Đức Kitô sống lại, đang hoạt động nơi anh chị em.

Tôi biết họ đạo anh chị em đang có những hoạt động mang sức sống của Đức Kitô, đó là hoạt động các bí tích, hoạt động Lời Chúa, hoạt động giáo lý, hoạt động bác ái, hoạt động liên đới truyền giáo, giúp đỡ những nơi túng quẫn ngặt nghèo.

Tất cả những hoạt động ấy chứng tỏ quyền năng Đức Kitô sống lại đang hiện diện trong họ đạo anh chị em. Người có thể làm những sự mà người ta cho là không thể nào làm được theo sức thế gian. Người đang làm cho họ đạo anh chị em sống lại. Người đang giáng sinh trong lòng anh chị em. Đây là một ơn đặc biệt Chúa ban cho họ đạo anh chị em. Anh chị em hãy nhớ cảm tạ Chúa.

Ơn đặc biệt thứ ba Chúa cho tôi thấy Người đã ban cho giáo xứ anh chị em, là cũng như hai môn đệ xưa, khi đến mồ Đức Kitô, đã biết nhường nhịn nhau, đã biết kính trọng nhau.

Bài Phúc Âm hôm nay nói rõ Gioan đến trước, nhưng không vào, mà nhường cho Phêrô vào mồ trước. Bởi vì Phêrô được Đức Kitô đặt làm Giáo Hoàng, đứng đầu Hội Thánh, có quyền trên Gioan. Đó là một tinh thần kỷ luật, biết kính trọng nhau, biết nhường nhịn nhau.

Tôi cũng nhận thấy anh chị em trong họ đạo này có tinh thần ấy. Mặc dầu có bốn nhà thờ, mặc dầu có nhiều giới, mặc dầu có cũ có mới, nhưng Chúa ban cho anh chị em một tinh thần trọng kỷ luật: Mới biết trọng cũ. Cũ biết nhường nhịn mới. Giới này lo cho giới kia. Họ đạo này giúp họ đạo khác. Đây là một tinh thần chứng tỏ các thành phần trong thân thể mầu nhiệm Đức Kitô biết giữ địa vị của mình, biết cái gì là quyền lợi riêng mình, Biết cái gì là bổn phận phải làm. Và mỗi người, khi thi hành bổn phận riêng mình, thì cũng nhìn tới quyền lợi của những người chung quanh.

Anh chị em thân mến,

Tôi vừa trình bày với anh chị em ba ơn đặc biệt Chúa đã cho tôi nhìn thấy sáng nay, trong họ đạo anh chị em. Tôi nói như vậy để anh chị em càng xác tín: Anh chị em được Chúa thương yêu một cách đặc biệt. Nếu anh chị em biết phát triển những ơn đặc biệt này, anh chị em sẽ dọn mình xứng đáng để đón mừng năm Toàn Xá sẽ được tổ chức năm 2000.

Tôi nhận được bức thư của Đức Thánh Cha báo tin: Năm 2000, chỉ còn 5 năm nữa, Ngài sẽ tuyên bố năm Toàn Xá, năm Thánh đặc biệt. Nhưng Ngài hô hào: Từ đây cho tới năm 2000, các Giáo đoàn phải tích cực dọn mình. Và một trong những sự Đức Thánh Cha chỉ dẫn để dọn mình mừng năm Toàn Xá đặc biệt, là phải biết ăn năn hối cải, phải biết trở về, phải biết cảm tạ Chúa, phải biết nhận ra những ơn Chúa đã ban cho mình.

Lúc nãy khi các em nhỏ hát “Chúa đã cứu tôi”, thì Chúa đã soi sáng cho tôi biết những gì anh chị em và tôi và cả Hội Thánh sẽ phải làm trong năm 2000, là loan báo Tin Mừng Đức Kitô là Đấng Cứu Độ. Đấy là đề tài chính. Và tôi sẽ loan truyền như một Tin Mừng: Đức Kitô đã cứu tôi. Tôi đã cảm nhận thấy: Đức Kitô đã cứu gia đình tôi. Chúng tôi đã cảm nghiệm thấy: Đức Kitô đã cứu giáo xứ của tôi. Chúng tôi đã cảm nghiệm thấy. Chúng tôi kể lại thôi, chứ chúng tôi không nói gì hơn. Bởi vì Đức Kitô đã cứu tôi.

Rao giảng Tin Mừng như vậy đó là đề tài năm Toàn Xá, năm 2000. Nói như vậy để chúng ta thấy: Chúng ta đang có một cơ sở để đi tới năm Toàn Xá năm 2000. Tuy nhiên, chúng ta không vì thế mà tự mãn. Bởi vì từ hôm nay cho tới năm 2000, lịch sử sẽ có nhiều chuyển biến, có nhiều vấn đề đặt ra về xã hội, về tâm lý, về kinh tế, về tôn giáo. Chúng ta sẽ gặp nhiều thách đố để đáp ứng. Chúng ta cần phải có sự sáng suốt của Chúa Thánh Linh.

Vì thế, trong thánh lễ hôm nay, tôi khẩn cầu Chúa Thánh Linh cho tôi, cho các cha, cho các vị gia trưởng, và cho các em nhỏ của chúng ta, biết nhạy bén với ơn Chúa Thánh Linh soi sáng cho chúng ta trong 5 năm tới, trước năm Toàn Xá, để năm 2000 chúng ta sẽ đón nhận Đức Kitô sống lại, đón nhận Đức Kitô cứu độ. Và chúng ta ca tụng Ngài bằng cách kể ra cho mọi người thấy: Tôi đã được Đức Kitô cứu. Gia đình tôi, họ đạo tôi, Hội Thánh Việt Nam của tôi, đã được Đức Kitô cứu. Mình chỉ kể ra, chỉ kể ra những cái mình đã gặp, đã cảm nhận được, chứ không phải chỉ là những lý thuyết suông.

Trong thánh lễ hôm nay, tôi đã chia sẻ với anh chị em những cái tốt đẹp nhất mà tôi đã cảm nghiệm lúc này, nhất là từ đêm cho tới bây giờ. Tôi nghĩ rằng: Qua miệng của tôi, Chúa cũng đã gởi đến một sứ điệp cho họ đạo anh chị em, để anh chị em xác tín: Anh chị em đang được Chúa yêu thương. Anh chị em cần phải cảm tạ Chúa. Từ nay, anh chị em cần phải nhạy bén với những ơn Chúa Thánh Linh soi sáng.

Lạy Chúa Thánh Linh, chúng con trao phó tương lai của chúng con cho Chúa. Amen.

Đồng Tâm (Kinh 3b), ngày 27-12-1994


 

Bùi-Tuần 0479: CÁI NHÌN 27-12-1994


Gioan 20,2-8

Tràm Chẹt

 

Tôi gọi bài Phúc Âm hôm nay là một bài Phúc Âm đề cao những: 27-12-1994 Bùi-Tuần 479


Tôi gọi bài Phúc Âm hôm nay là một bài Phúc Âm đề cao những cái nhìn.

Thật vậy bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: Hai môn đệ Phêrô và Gioan chạy đến mộ Chúa, thấy cái mộ trước đây chôn xác Chúa bây giờ trống trơn. Họ đã nhìn thấy. Và họ đã tin. Cái nhìn của hai môn đệ đã khám phá thấy một biến cố, biến cố đó gây sợ hãi, gây ngỡ ngàng, làm cho các ông khiêm tốn, rồi chợt nhớ lại lời Thầy đã nói trước, nên các ông đã tin Thầy đã sống lại.

Cái nhìn của hai môn đệ quả là đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa các ngài tới niềm tin.

Hôm nay, tôi thấy cái nhìn cũng đang đóng một vai trò quan trọng trong việc đem lại niềm tin cho họ đạo chúng ta nói chung, và cho hơn 50 anh chị em tân tòng nói riêng.

Sở dĩ anh chị em đã quyết định hôm nay xin vào Hội Thánh Chúa, xin chịu phép Rửa tội để đón nhận đức tin, một phần vì đã lắng nghe Lời Chúa, đã đón nhận ơn soi sáng trong lòng, nhưng một phần cũng vì đã nhìn thấy những điều tốt trong Hội Thánh địa phương.

Anh chị em đã nhìn thấy những việc tốt, như là những việc có tính cách cứu độ con người, nâng cao phẩm giá con người, thăng tiến con người. Thêm vào đó, anh chị em còn nhìn thấy những người tốt, tuy không làm những việc lớn lao, nhưng chính bản thân và cuộc sống của họ đã giới thiệu sự khiêm tốn, sự hiền dịu, tinh thần liên đới, sự lương thiện vv...

Hơn nữa, cùng với con người tốt, cùng với các việc tốt, anh chị em còn nhìn thấy bầu khí tốt trong những người có đạo, trong các gia đình có đạo, trong các cộng đoàn có đạo. Một bầu khí yêu thương chan hoà, một bầu khí đoàn kết chia sẻ, một bầu khí nhường nhịn tha thứ lẫn nhau. Nhìn thấy tất cả những sự đó, anh chị em cũng như tôi, tự nhiên có một cảm tình nào đó với những giá trị cao cả. Những cảm tình ấy sẽ gợi cho chúng ta ý muốn làm sự lành lánh sự dữ. Và nhất là giúp cho chúng ta tìm thấy ý nghĩa cho cuộc đời mình, hôm nay, mai này, và nhất là đời sau.

Khi chúng ta có một tâm tình như vậy thì Chúa sẽ đến gọi chúng ta. Qua những tâm tình ấy và trong tâm tình ấy, chúng ta sẽ trả lời với Chúa: Này con xin vâng. Và chúng ta quyết định theo Chúa.

Đúng là cái nhìn của chúng ta giúp một phần lớn sự quyết định của chúng ta đón nhận ơn đức tin, để rồi hôm nay, khi nhìn thấy anh chị em tân tòng chịu phép Rửa tội, và nhìn thấy những người chịu phép Thêm Sức, chúng ta sẽ thêm đức tin.