Giảng Lễ Cưới Bài 41-80 Suy niệm về Hôn nhân Gia đình

Chủ nhật - 16/12/2018 06:07
Giảng Lễ Cưới Bài 41-80 Suy niệm về Hôn nhân Gia đình
Giảng Lễ Cưới Bài 41-80 Suy niệm về Hôn nhân Gia đình
Giảng Lễ Cưới Bài 41-80 Suy niệm về Hôn nhân Gia đình
HP41: RA KHƠI 2
HP42: THỀ NGUYỀN.. 6
HP43: NHÀ TÔI 9
HP44: NỬA MÌNH.. 13
HP45: LY CÀ PHÊ.. 16
HP46: GIA ĐÌNH, Quyền lợi và bổn phận. 20
HP47: CHIA  SẺ.. 24
HP48: DIỄN KỊCH.. 27
HP49: CÂY  THÔNG.. 31
HP50: THÂN MÌNH.. 34
HP51: THỦY  CHUNG.. 39
HP52: TÌNH YÊU HIẾN TẾ.. 43
HP53: BÁT  PHỞ.. 47
HP54: LO  ÂU.. 51
HP55: XÂY  NhÀ.. 54
HP56: CÓ  NHAU.. 58
HP57: LỰA  CHỌN.. 61
HP58: THỬ THÁCH.. 66
HP59: NHÀM  CHÁN.. 70
HP60: KHO  BÁU.. 74
HP61: BỆNH   STRESS. 79
HP62: CÓ  DUYÊN.. 84
HP63: KÝ KẾT HÔN ƯỚC.. 88
HP64: XÍCH MÍCH.. 92
HP65: XÂY DỰNG GIA ĐÌNH KITÔ GIÁO.. 95
HP66: HOA TRÁI 97
HP67: THÀNH   KIẾN.. 101
HP68: HAI  BIỂN  HỒ.. 104
HP69: CÁNH   CỬA.. 109
HP70: TẤM THIỆP. 112
HP71: VUÔNG TRÒN.. 115
HP72: BA BẢY HĂM MẤY ?. 117
HP73: NGÔI NHÀ.. 123
HP74: ANH CŨNG LÀ CỦA TÔI 128
HP75: DÂNG HIẾN.. 132
HP76: THỀ NGUYỀN.. 135
HP77: Hòa Giải 138
HP78: NHÂN VÔ THẬP TOÀN.. 142
HP79: VƯỜN HOA MUÔN SẮC HƯƠNG.. 146
HP80: BẰNG LÒNG VỚI  SỐ PHẬN.. 150

 

HP41: RA KHƠI

I. LỜI CHÚA .
          Chúng ta đọc: Mt 8,23-27.
 

Chúa Giêsu cùng các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia, tình cờ sóng gió nổi lên dữ dội HP41

Chúa Giêsu cùng các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia, tình cờ sóng gió nổi lên dữ dội, các môn đệ lo sợ quýnh cả lên, trong khi đó Chúa Giêsu bình tĩnh ngủ trong khoang  thuyền coi như không có chuyện gì xẩy ra.  Các ông phải đánh thức Ngài dậy và xin cứu giúp.  Ngài trách các ông sao nhát thế, kém lòng tin như vậy ! Sau cùng Ngài cũng lấy uy quyền truyền cho sóng gió phải yên lặng.  Sau sự kiện này, các môn đệ ngạc nhiên và đặt câu hỏi Ngài là ai  mà sóng gió phải vâng lời Ngài ?
          Ta nhận thấy, các môn đệ tuy còn ít lòng tin vì chưa nhận ra con người thật của Chúa, nhưng cũng đã biết chạy đến Chúa cầu cứu khi gặp gian nan nguy hiểm.
          Đây là bài học cho chúng ta mỗi khi gặp gian nan thử thách, hãy chạy đến với Chúa để xin Ngài giúp đỡ. Trong cuộc đời chúng ta, không thiếu gì những gian nan thử thách, không thiếu gì những đau khổ. Chúa vẫn thương chúng ta, nhưng vẫn để chúng ta gặp gian nan thử thách để giúp chúng ta trưởng thành hơn và giúp chúng ta biết tin cậy vào Chúa.  Trong cuộc sống hôn nhân cũng không thiếu gì những sóng gió, nhưng chúng ta phải biết rằng xem ra Chúa đang ở xa chúng ta,  đang ngủ đấy, nhưng Ngài vẫn theo dõi cuộc chiến đấu của chúng ta, và khi nào chúng ta không còn dựa vào sức mạnh của mình mà chỉ biết trông cậy vào Chúa, lúc đó Chúa mới ra tay.

II. BÃO TỐ CUỘC ĐỜI.
          Trong cuộc sống con nguời ở trần gian này, người độc thân cũng như người có gia đình, trong cuộc sống cá nhân cũng như trong gia đình và ngoài xã hội, chúng ta như những những con thuyền đang lênh đên trên biển cả trần gian, những cuộc bão tố có thể nổi lên trong mọi lãnh vực kinh tế, xã hội, đời sống vật chất cũng như tình thần, không ai có thể trốn tránh được.

          1. Bão tố trong đời sống thường ngày.
          Trong cuộc sống thường ngày của mọi người, không ai có thể tránh được những gian nan khốn khó, những cuộc thử thách cam go. Chúa bảo ông Phêrô:” Ma qủi nó sàng con như sàng gạo”. Chúa cũng bảo chúng ta phải cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ. Khỏi sa chước cám dỗ không có nghĩa là không bị cám dỗ, không bị thử thách nhưng có nghĩa là# chúng ta hãy xin Chúa đừng để ta thua chước cám dỗ.  Gian nan thử thách là điều cần vì nhờ đó mới biết ai trung thành với Chúa , vì người ta thường nói :
                   Có cứng mới đứng đầu gió

          2. Bão tố trong cuộc sống hôn nhân.
          Già đình nào mà không gặp khó khăn ? Những khó khặn, những cơn thử thách có thể xây ra bởi nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan như:
          - Tội nguyện tổ.
          - Vấn đề kinh tế.
          - Vấn đề xã hội.
          - Vấn đề tâm lý...
          Ngay sự khác biệt tâm lý cũng có thể gây ra mối bất hòa bùng nổ hoặc ngấm ngầm. Những sự bất hoà trong đời sống hôn nhân không thể bị triệt tiêu nhất là khi hai người luôn phải sống với nhau và hay có những bất đồng ý kiến trong cuộc sống gia đình. Nếu không biết dung hòa những khác biệt ấy, vợ chồng sẽ đi đến chỗ đổ vỡ.
          Ta có thể ví gia đình là một con thuyền lênh đênh trên biển đời, không thiếu gì những phong ba bão tố làm chìm con thuyền. Muốn cho con thuyền khỏi bị chìm, cần có sự cộng tác của vợ chồng trong việc chèo chống cùng với sự giúp đỡ của Chúa.

III. BA CUỘC KHỦNG HOẢNG.
          Trong đời sống gia đình, mỗi người gặp khó khăn về một phương diện, không ai giống ai, nhưng có 3 cuộc thử thách mà ta gọi là 3 cuộc khủng hoảng mà mọi người phải trải qua. Dĩ nhiên, đây chỉ là 3 cuộc khủng hoảng nói chung chứ nhiều người không phải  gặp khó khăn trong 3 cuộc khủng hoảng này.

          1. Khủng hoảng vỡ mộng.
          Năm bảy tháng hay một năm sau khi cưới, người ta có cảm tưởng mình đã chọn lầm. Vì sao ? Vì những mơ mộng ban đầu đã bay dần, còn đâu những hình ảnh đẹp như “hoàng tử của lòng em”, hoặc như “nàng công chúa của anh”, vì hai con người thật đã bị lộ diện. Cái hay cái dở, cái tốt cái xấu đã bị phơi bầy ra. Vì ý thức mình phải ăn đời ở kiếp với một con người có nhiều khuyết điểm và giới hạn như thế ! Có lẽ còn nhiều lý do khác nữa thấy người ta thấy hối tiếc mà trước đây mình không ngờ hoặc chưa nghĩ tới.

          2. Khủng hoảng nhàm chán.
          Năm bảy năm sau ngày thành hôn, hai vợ chồng thường rơi vào tình trạng nhàm chán. Có thể như đã khám phá ra hết rồi, hoặc không còn thấy sự khoái cảm trong việc chăn gối hoặc vì muốn tìm cảm giác mới lạ:
                             Cam ngon quít ngọt đã từng,
                                Thèm quả khế rụng trên rừng chưa ăn.
          hoặc vì gánh nặng gia đình:
                                      Gái có chồng như gông đeo cổ
                                      Trai có vợ như rợ buộc chân
          và nhiều lý do khác đưa đến cám dỗ ngoại tình.
          Nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine đã có kinh nghiệm khi ông nói:
                   “Nơi bạn, tất cả đều tha thứ, bỏ qua,
                     Nơi tình nhân, tất cả đều hài lòng, hoàn toàn.
                     Nơi vợ chồng, tất cả đều nhàm chán mệt mỏi.

          3. Khủng hoảng hồi xuân.
          Cơn khủng hoảng nhàm chán qua đi không được bao lâu, cơn khủng hoảng hồi xuân đã tới. Trong thời kỳ này, người chồng cũng như người vợ, nhất là người vợ thấy mình đã bước vào tuổi già rồi mà chưa hưởng thụ được bao nhiêu, nên muốn sống vội sống cuồng:
                                      Chơi xuân kẻo hết xuân đi                                        
                                     Cái già xồng xộc nó thì theo sau.
          Khủng hoảng hồi xuân này xẩy ra vào khoảng 40-45 tuổi,  lúc hai người, cách riêng là ông, có mặc cảm là đời mình thất bại. Hai người trở nên lãng mạn, thích phiêu lưu tình cảm, cho rằng chỉ có mối tình mơ mộng mới có giá trị, mới đáng sống. Người ta có thể đi đến chỗ vất bỏ tất cả những gì đã dầy công xây dựng: ông đi yêu một người đẹp bằng tuổi con gái mình, và bà kết thân với một chàng trai tơ.

          Nói như vậy không có nghĩa là mỗi gia đình đều phải trải qua 3 cuộc khủng hoảng. vì có những gia dình không phải không phải trải qua một cuộc khủng hoảng nào, hoặc chỉ qua một cuộc khủng hoảng thôi. Có những gia đình luôn bền vững và sống trong hạnh phúc.

                                      Truyện: tài tử Galicopter
          Một trong những ngôi sao điện ảnh nổi tiếng nhất trong thập niên 50 là nam tài tử Galicopter. Ông nổi tiếng không những vì tài nghệ diễn xuất mà còn vì cuộc sống hôn nhân mẫu mực của ông. Vào khoảng cuối đời, quằn quại trong thể xác, ông đã nói về Rocki người vợ đã chung sống với ông  trong gần 30 năm như sau:
          “Rocki là người đàn bàn kỳ diệu. Nàng là một người vợ đã biết thích nghi với tính khí và công việc của tôi. Nàng cũng biết cảm thông với những lỗi lầm của tôi. Nhất là nàng đã biết ở bên cạnh tôi mỗi khi nàng có thể, mỗi khi tôi cần đến nàng. Nàng là một người vợ đích thực”.
          Những lời khen tặng trên đây của tài tử Galicopter là một khẳng định rằng: hạnh phúc gia dình chỉ có thể có được nếu hai vợ chồng cùng chung nhau xây dựng, chứ không riêng ai.  Nhưng dầu sao người vợ cũng đóng vai trò quan trọng, người đóng vai chủ động. Sở dĩ tài tử Galicopter khen vợ mình như vậy là vì ông là con người hiểu biết, lại được một ngừời vợ biết yêu thương va biết# chiềú chồng. Nếu gia đình nào cũng như thế thì không sợ phải nhận lấy những tai hại gây ra do ba cuộc khủng hoảng đó.
          Để có một gia đình hạnh phúc, chúng ta hãy lắng nghe Đức Giáo hoàng Piô XII mô tả một gia đình Kitô hữu kiểu mẫu như sau:
“Các bạn sẽ thấy mọi người trong gia đình ấy quan tâm chu toàn bổn phận của mình một cách hữu hiệu và ý thức. Mỗi người tìm cách làm vừa lòng mọi người. Mọi người đều tìm cách thực thi công bình, lòng thành thực, sự hiền lành, sự quên mình, với nụ cười trên môi và trong tâm hồn.  Họ kiên nhẫn chịu đựng nhau, tha thứ cho nhau, và thể hiện sức mạnh trong giờ phút thử thách. Các bạn sẽ thấy các bậc cha mẹ giáo dục con cái trong yêu thương và rèn luyện các nhân đức.
          Trong một gia đình như thế, Thiên Chúa được tôn vinh và phục vụ một cách trung thành, tha nhân được đối xử một cách tử tế, Các bạn có thể tìm thấy một nơi nào đẹp đẽ và xây dựng hơn không”?
Lm Giuse Đinh lập Liễm,
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP42: THỀ NGUYỀN

I. LỜI CHÚA: Mt 5,13-37.
 

Hãy nghe và suy niệm Lời Chúa:”Về lời ăn tiếng nói, có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt HP42

Hãy nghe và suy niệm Lời Chúa:”Về lời ăn tiếng nói, có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt đặt truyện là do lòng tà mà ra”(Mt 5,37)..
          Chúa dạy ta hãy tôn trọng sự thật, có thì nói có, không thì nói không, chẳng phải thề thốt gì cả. Nhưng con người yếu đuối hay thay lòng đổi dạ nên phải đặt ra thề nguyền để làm bảo chứng cho lòng trung thành như giao ước, khế ước , giao kèo, hôn ước.
          Chính dân Israel đã ký giao ước với Thiên Chúa ở núi Sinai, thế mà đã thay lòng đổi dạ, đã bao nhiêu lần bội ước: phản bội Chúa, nhưng Chúa vẫn thương ban ơn tha thứ. Do đó, chúng ta mới có Thánh kinh Cựu ước và Tân ước.
 
II. THỀ NGUYỀN TRONG ĐỜI  SỐNG.
          1. Trong thực tế cuộc sống.
          Trong khi giao tiếp với nhau, người ta luôn thề nguyền bằng lời nói, bằng chữ viết hay bằng cử chỉ như véo tay... để nói lên lòng trung tín của người ta. Nếu không có lời thề nguyền như vậy, người ta thấy không yên tâm mặc dầu biết trước lời thề nguyền ấy có thể bị hủy bỏ do tự nguyện hay bị phản bội. Có xã hội nào mà không có thề nguyền ? Ngay trẻ con cũng có.
 
          2. Lý do đưa đến thề nguyền.
          a)  Bản tính con người.
                   Con người đâu có phải là thần thánh, con người yếu đuối như cây sậy trước gió, hay sa ngã. Chính vì vậy mà nhà đại tư tưởng Blaise Pascal đã nói:”Con người không phải là thiên thần, cũng không phải là con vật, và ai muốn là thiên thần lại là con vật”.
          b) Trong công việc làm ăn.
                   Trong công việc làm ăn buôn bán, người ta hay thiếu chữ “tín” nên không thiếu gì những công ty vỡ nợ, những hợp đồng bị bể tung, những con nợ ăn quịt, tình trạng “xù đẹp” là rất  phổ biến.
          c) Trong đường tình.
                   Người ta yêu nhau, chọn nhau làm vợ làm chồng, người ta thề nguyền với nhau trọn nghĩa sắt cầm nhưng không thiếu gì những cuộc tình giữa đường đứt gánh do phản bội. Họ coi lời thề nguyện như trò chơi, chẳng có giá trị gì.
          Thi sĩ Nhất Tuấn đã nói thẳng thừng không ái ngại:
                                      Thôi đừng kể chuyện ngày xưa,
                                  Bởi vì đoạn kết bài thơ có rồi.
                                      Giận hờn thì cũng đành thôi,
                                  Dại gì giữ mãi một lời thề suông.
          Trước  khi kết hôn, ai không cảm thấy lo lắng cho tương lai ? Không biết người bạn đời của mình có chung thủy không ? Khi đã tìm được người yêu, muốn trao thân gửi phận cho họ, cô gái dặn dò người tình của mình một cách chân tình:
                                      Anh về em nắm cổ tay
                                  Em dặn câu này anh chớ có quên:
                                      Đôi ta đã trót lời nguyền
                                  Chớ xa xôi mặt mà quên mảng lòng.
                                                   (Ca dao)
 
III.  CÓ NÊN THỀ NGUYỀN KHÔNG ?
          Có một cô bé gửi cho anh Bồ câu một câu hỏi thế này:”Em có đọc một câu danh ngôn: “Những lời thề của ái tình không đến tại Thượng Đế”. Vậy chẳng lẽ tất cả mọi lời thề thốt trong tình yêu đều “gỉa dối” hết sao anh” ?
          Anh Bồ câu đã trả lời:”Không chỉ ở phương Tây, người Phương  Đông cũng hay chế diễu sự thề thốt. Dân gian bảo: “Lời thề cá trê chui ống” cùng với ý nghĩa na ná như vậy.
          Ở đây ta không nên xét đến những lời thề giả dối, nghĩa là những lời thề mà người nói ra biết chắc là mình sẽ không bao giờ thực hiện. Đó là lời thề của những hạng người ưa “nuốt lời” hay còn gọi là “xù đẹp” ! Nhưng ngay cả những lời thề nghiêm túc và chân thành nhất cũng chỉ có ý nghĩa nêu bật quyết tâm của người thề  trong lúc đó mà thôi.
          Thề thốt thì dễ, nhưng gìn giữ và thực hiện đúng đắn lời thề thì không phải ai cũng làm được trong đời sống, nhất là đời sống tình cảm, không ai có thể nói trước được điều gì. Vì vậy, chúng ta sống và chủ yếu là dựa vào niềm tin chứ không nên dựa vào sự bảo hiểm của bất cứ một lời thề thốt hay hứa hẹn ngọt ngào nào.
                             (Anh Bồ Câu, Nói chuyện... Phượng Hồng, tr 22-23)
 Trong nghi thức Hôn phối, anh chị phải nói lên quyết tâm của mình, chọn nhau làm vợ làm chồng và còn phải thề hứa, thề một cách công khai và trịnh trọng trước mặt vị đại diện Giáo hội, trước mặt hai người làm chứng và cộng đồng dân Chúa lời cam kết của mình. Ví dụ:
“Tôi Giuse Nguyễn văn Tèo nhận em Maria Nguyễn thị Tẽo làm vợ và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em...”
          Đây không phải là lời thề suông như thi sĩ Nhất Tuấn đã nói mà đây là một lời thề trọng thể có ý thức và có chất lượng. Lời thề này có tính cách vĩnh viễn mà không ai có thể tháo gỡ được như lời Chúa Giêsu đã nói:”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp loài người không được phân ly”(Mt 19.6).
          KẾT LUẬN
          Xin Chúa cho chúng ta được giữ lòng chung thủy trong đời sống hôn nhân. Người ta đã khuyên răn và cảnh cáo mọi người về điểm nay:
                                      Nói lời phải giữ lấy lời,
                                      Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.
                                                       (Ca dao)
          Thiên Chúa là Đấng trung tín, Người không bao giờ thất hứa, Người thực hiện tất cả những gì Người đã hứa. Theo gương Mẹ Maria mà bước đi trong hành trình đức tin như lời bà Elizabeth đã nói với Mẹ Maria trong lần viếng thăm người chị họ:”Phúc cho em là người đã tin rằng lời Chúa hứa sẽ được thực hiện”.
          Thánh Phaolô cũng nói với các tín hữu Côrintô về sự trung tín của Thiên Chúa:”Thiên Chúa là Đấng trung tín, nhờ Người anh em được kết hợp cùng Con Chúa là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (1 Cr 1,3).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát,
Đà lạt

         
 

HP43: NHÀ TÔI

I. CÂU CHUYỆN CÁI NHÀ.
 

Năm nay trúng mua cà phê, ai cũng vui mừng vì có của ăn của để. Nhờ được một số tiền tích trữ HP43

Năm nay trúng mua cà phê, ai cũng vui mừng vì có của ăn của để. Nhờ được một số tiền tích trữ, mọi người đang thi nhau xây nhà, nhà lầu, nhà trệt, nhà nào cũng phải khang trang đẹp mắt. Mỗi khi xây xong một ngôi nhà, trước khi đưa vào xử dụng, anh chị em thường mời tôi đến làm phép nhà mới và tổ chức ăn mừng tân gia.
          Bất cứ ai cũng phải có nhà để mà ở, nếu không chỉ là kẻ lang thang đầu đường xó chợ.
Chắc ai trong chúng ta cũng đã có một lần nhờ bạn bè chở về nhà. Khi gần đến nhà, chúng ta sẽ lấy ngón tay chỉ căn nhà với mái nhà, với vách tường, với một vài chi tiết đặc biệt nào đó, và bảo: Đây là NHÀ TÔI.
          Đã nhiều lần chúng ta sung sướng cho bạn bè xem tranh ảnh gia đình mình, và bảo: Đây là NHÀ TÔI.
          Một vài anh chị em trong chúng ta khi gặp bạn bè, sung sướng giới thiệu vợ hay chồng mình cho bạn bè vào bảo: Đây là NHÀ TÔI.
          Không cần mái, cũng chẳng cần vách, chỉ cần có người yêu bên cạnh, mình đã có thể bảo: Đây là NHÀ TÔI.
          Với tất cả cái thâm thúy ấy, người Việt chúng ta dịch  chữ CHURCH thành NHÀ THỜ. Đây là NHÀ nơi tôi, nơi chúng tôi THỜ phượng Thiên Chúa, tôn kính tổ tiên...
          Có lẽ không có cha mẹ Việt nam nào sáng sớm Chúa nhật thúc con cái dậy với câu: Dậy đi các con, dậy đi hiệp dâng Thánh lễ ??? Nhưng chỉ gỏn gọn một câu: Con ơi, dây đi NHÀ THỜ.
 
II. HAI TIẾNG “NHÀ TÔI” PHONG PHÚ.
 
          Nghe tiếng NHÀ TÔI nó thân thương thế nào ấy. Nó có nghĩa đen và nghĩa bóng.
          Khi chủ nhà được hỏi:
          - Sao lại thích làm cửa kính mầu Toyota ?
          Người chủ trả lời:
          - Nhà tôi xây theo model Pháp, nên NHÀ TÔI thích làm như vậy.
          Cùng tiếng NHÀ TÔI mà có hai nghĩa:
                             * Nhà xây bằng gạch hay làm băng gỗ, bằng tranh.
                             * Bà vợ hay người chồng.
 
III. CÁCH DÙNG CỦA NGƯỜI VIỆT.
          Người Việt thích dùng tiếng NHÀ TÔI để vợ chồng gọi nhau, rất gọn:
          - Ông có nhà không ?
          - Nhà tôi hôm nay đi họp.
          - Bà có nhà không ?
          - Nhà tôi vừa đi chợ.
          Người Việt ta không thích dùng chữ “chồng tôi hay vợ tôi” mà thích dùng chung một chữ NHÀ TÔI  cho nó thân thương, cho nó gần gũi.
 
                                      Truyện: Nhà tôi
          Có một người tỏ ra hiểu biết đã cắt nghĩa chữ NHÀ cho một anh bạn:
          - Khi gọi NHÀ tức là đã am hiểu sâu sắc về một vấn đề gì đó, ví dụ  “nhà sử học” tất nhiên phải am hiểu sử hơn một “nhà văn”. Một “nhà văn” phải am hiểu văn hơn “nhà toán học”, một nhà toán học phải am hiểu về toán hơn một “nhà nghệ thuật”...
          Anh bạn hỏi chọc sự thông thái của anh bạn kia bèn hỏi:
          - Vậy còn người nào cao ráo , đẹp đẽ và rất sạch sẽ thì gọi là “nhà gì” ?
          Anh bạn còn lúng túng chưa biết trả lời sao, thì anh bạn kia hỏi ngay:
          - Gọi là NHÀ VỆ SINH phải không ?
          Anh bạn kia !!!
 
IV. HÔM NAY XÂY DỰ#NG NGÔI NHÀ.
          Hai anh chị hôm nay đến đây chính thức xây dựng ngôi nhà gia đình qua lời hứa hôn với nhau để từ nay có thể gọi nhau là NHÀ TÔI.
          Ngôi nhà này giờ đây được xây dựng và tức khắc được làm phép ngay. Xin Chúa chúc phúc cho ngôi nhà này, bảo vệ nó khỏi sự dữ, đổ tràn ơn phúc trên ngôi nhà này hầu nó được trở nên nhà của Thiên Chúa.
          Ngôi nhà này hôm nay đã hoàn thành, mọi người ăn mừng tân gia. Mọi người đều hoan hỉ chúc mừng. Do đó, anh chị hãy qúi trọng ngôi nhà này, hãy bảo dưỡng nó. Người ta xây nhà để ở, cho nên anh chị hãy ở mãi trong ngôi nhà này, đừng ra đường mà ở hay đi ở nhờ nhà người khác, kỳ lắm !!!

V. CƠN CÁM DỖ BÁN NHÀ.
          Có người chóng chán, không thích ở nhà cũ, muốn tìm ngôi nhà mới tiện nghi hơn, tốt hơn vì người ta thường đứng núi này trông núi nọ.
                                      Truyện: quảng cáo bán nhà.
          Có người kia làm chủ một ngôi nhà to lớn nằm ở ngoại ô thành phố. Ông ta nhất định bán cả nhà và đất để tìm nơi khác tốt đẹp hơn.  Ông tìm một người chuyên môn buôn nhà đất đến để lượng giá và quảng cáo hộ.
          Sau khi đã quan sát kỹ lưỡng mọi chi tiết, chuyên viên thương mại đánh giá, viết ngay lời quảng cáo và đọc lại cho chủ nghe. Nghe qua một lần, chủ nhà xin chuyên viên đọc lại lần nữa:
“Cần bán ngôi nhà rộng rãi , nhiều phòng, có vườn chung quanh, đẹp, nơi yên tĩnh, không bị ô nhiễm, nằm ngoại ô thành phố, thuận tiện đường giao thông, gần nhà trường, bệnh viện, nhà thờ...” Nghĩa là tất cả những điểm tốt, thuận lợi của ngôi nhà và vị trí đã được anh chuyên viên khéo léo đặt vào trong lời quảng cáo.
          Nghe xong lần thứ hai lời quảng cáo, nét mặt chủ nhà vui hẳn lên và quyết định:”Thôi, tôi không bán ngôi nhà này nữa, vì theo lời anh mô tả, đây là một ngôi nhà lý tưởng mà tôi hằng mong ước. Lời quảng cáo của anh đã thức tỉnh tôi”.
          Cái nhà là nhà của ta. Ta yêu qúi nó. Ta chăm sóc nó, ta bảo vệ nó. Nhưng nhiều khi ta cũng chán nó. Nếu Chúa và Hội thánh cho phép, có lẽ nhiều người dám bán cái “NHÀ TÔI để tậu nhà khác lắm, chỉ vì đứng núi này trong núi kia cao. Cơn cám dỗ này còn được chạy tội kiểu “cả vú lấp miệng em” để đổ lỗi cho người khác.  Nhưng, nếu thành thật, chúng ta phải nhận rằng: những rạn nứt và đổ vỡ trong gia đình, phần lớn là do “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”.
          Đừng tưởng rằng cứ bỏ người bạn trăm năm mà đi xây dựng một tổ ấm khác sẽ tốt đẹp hơn. Kinh nghiệm cho hay: những người đã lỡ đi xây dựng tổ ấm khác, nhiều người nuối tiếc cái tổ ấm đầu tiên của mình vì rất thường xẩy ra trường hợp:”Chồng trước đánh đau, chồng sau mau đánh”.
                   Hãy nghe lời trẻ em hát trong sinh hoạt thiếu nhi:
                             Cái nhà là nhà của ta,
                             Ông cố ông cha làm ra
                             Cháu con hãy gìn giữ lấy
                             Muôn năm với nước non nhà.
          KẾT LUẬN
          Muốn cho ngôi nhà này trở nên mát mẻ dễ chịu trong buổi trưa hè nóng bức, ta nên có cái máy điều hoà không khí. Mà cái máy đều hòa không khí ấy là cái gì ? Đó là người vợ. Người vợ được coi như bóng mát, của dịu dàng, của yêu thương. Nếu không thì nguy hại:
          “Ba đều đuổi đàn ông ra khỏi nhà: khói, nhà dột và một người đàn bà gây gỗ”
                             (ĐGH Innocent III)
          Ngoài ra, ta không thể quên Mẹ Maria, Ngài được coi như Mẹ của mùa xuân tươi mát. Trong gia đình , có Mẹ, chắc chắn mọi người sẽ thấy vui tươi hạnh phúc.
Lm Giuse Đinh lập Liễm|
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP44: NỬA MÌNH

Theo truyền thuyết Hy lạp,  đời sống của vợ chồng  được mô tả như sau: trước kia người nam và HP44

Theo truyền thuyết Hy lạp,  đời sống của vợ chồng  được mô tả như sau: trước kia người nam và người nữ chỉ là một con người duy nhất, và trong con người ấy có sẵn hai yếu tố, hai bản chất nam và nữ.
          Như thế con người nguyên thủy chỉ có một thân thể, nhưng lại có hai cái “mặt” trên một cái đầu, và mỗi mặt nhìn về một hướng. Bởi đó, mặt này nhìn thấy những sự việc khác với mặt kia, nảy sinh ra những dự tính  khác với cái nhìn của mặt kia.
          Nên có lúc trong con nguời đó nảy sinh ra những xung đột bên trong: chẳng hạn như nửa thân người này muốn thực hiện môt việc, muốn đi về một phía, trong khi đó nửa kia lại muốn làm việc khác, đi về hướng khác, rồi cuối cùng chẳng biết làm sao.
          Con người ấy bèn xin Thượng Đế cho tách mình làm hai, mỗi mặt đi với một nửa cơ thể, và từ đó có cuộc sống riêng. Sau thời gian hai “nửa thân thể” sống riêng, lại cảm thấy thiếu thốn, nhớ nhung, bèn đi tìm nhau để kết lại một, đó là sự lấy vợ lấy chồng.  Hai nửa thân mình tìm thấy nhau rồi kết lại làm một (vì  vốn chỉ là một).
 
I. NAM NỮ HẤP DẪN NHAU.
          Không ai có thể chối cãi được nam nữ có tính hấp dẫn nhau, không ai có thể phủ nhận được tính âm dương hòa hợp giữa con người.  Nếu ngày xưa, các cụ của ta chủ trương “nam nữ thọ thọ bất thân” là một điều rất khó. Tuy nhiên, khi sinh ra con người chưa có ngay tình yêu nam nữ mà phải chờ thời gian với sự phát triển tinh thần và thể xác con người.
          1. Tuổi thơ: trẻ con thuờng chơi với nhau rất tự nhiên bất kể trai gái, chỉ biết sống nương tựa vào cha mẹ, bạn bè. Sống hoàn toàn vô tư, thoải mái.
          2. Tuổi dậy thì: Thời kỳ này đứa trẻ thấy trong mình có sự thay đổi, cả thân xác, cả tinh thần.  Chúng thích sống riêng tư, thầm lặng, hay buồn, và muốn có người bạn riêng để tâm sự. Tình yêu mới chớm nở nhẹ nhàng nhưng mông lung:
                             Hôm nay trời lặng lên cao,
                                Tôi buồn, không hiểu vì sao tôi buồn.
          3. Tuổi trưởng thành: Tình yêu của chúng phát triển  đến chỗ trưởng thành. Họ cần  có người yêu để chia sẻ, để nương tựa, họ muốn có con để nối dõi tông đường.  Họ muốn lập gia đình để đáp lại tiếng gọi của “hai nửa mình”.  Vì thế, mới có Thánh lễ Hôn phối hôm nay.
 
II. HAI NỬA MÌNH THÀNH MỘT.
          Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ. Sách Sáng thế còn ghi lại: “Đức Chúa phán:”Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá xứng với nó’ (St 2,18).  Và Sách thánh kể tiếp:”Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người, và lắp thịt vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương đã rút từ con người ra , làm thành một người đàn bà và dẫn đến con người. Con người nói:”Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi, vì đã được rút ra từ đàn ông” (St 2,23).
          Người đàn ông này là Ađam và người đàn bà này là Evà.  Thiên Chúa đã cho họ tác hợp với nhau để trở nên vợ chồng.  Đây là một cuộc hôn nhân đầu tiên vô cùng tốt đẹp do chính Thiên Chúa đã tác hợp. Rồi con cháu ông bà sau này cứ thế mà làm.  Chính vì vậy mà người nam và người nữ có tính hấp dẫn nhau. Cũng chính vì vậy mà “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt”(St 2,24).
          1. Chúa Giêsu nhắc lại.
          Sau này, trong khi đi rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu cũng đề cập đến vấn đề hôn nhân và Ngài cũng trưng lại đoạn sách Sáng thế ở trên để nói về  tính cách duy nhất của hôn nhân mà thánh Matthêu đã ghi lại:”Vì, thế, người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt”(Mt 19,5-6).
          2. Hiệu quả của Bí tích Hôn phối.
          Thiên Chúa không bắt buộc người ta phải lập gia đình, Chúa không buộc người nam và người nữ phải liên kết với nhau thành một xương một thịt, con người được hoàn toàn tự do vì “có những người trở nên hoạn nhân vì Nước Trời”, nhưng khi đã liên kết với nhau qua bí tích hôn phối thì cả hai sẽ thành một xương một thịt.  Và khi đã trở nên một xương một thịt thì không có quyền tháo gỡ như lời Chúa Giêsu đã phán:”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”(Mt 19,6).
          Lúc này không còn phân biệt của vợ hay của chồng mà là của nhau, chúng chúng mình vì trong thân xác chồng đã có vợ, và trong thân xác vợ đã có chồng :
                                      Mình với ta tuy hai mà một
                                       Ta với mình tuy một mà hai.
                                                (Tàn Đà)
 
III.  HÃY CỦNG CỐ SỰ HIỆP NHẤT ẤY.
          Khi kết hôn, hai người đã hiệp nhất với nhau trong thân xác và tinh thần, nhưng hai cái “nửa mình” đó có khuynh hướng đối chọi nhau.  Tuy đối chọi nhau nhưng không thể cắt đôi con người ra được hoặc cắt từ trên xuống hoặc cắt ngang.
          Nếu vợ chồng ly dị nhau, ta coi như họ đã cắt đôi con người họ để mỗi người chỉ còn có một nửa, mà đã là một nửa người thì lại thấy thiếu thốn như truyện ở trên.
          Hiểu được ý nghĩa đó, thi sĩ Winch gọi vợ mình là “HỠI NỬA MÌNH CỦA TÔI ƠI” ! Đúng thế, người vợ là nửa thân thể của chồng, và ngược lại, người chống là nửa thân thể của người vợ.
          Khi người yêu ra đi, khi cuộc hôn nhân “nửa đường đứt gánh”, người ta sẽ đau khổ biết bao. Hiểu được tính cách thê thảm của tình trạng này,  thi sĩ Hàn mặc Tử đã phải thốt lên:
                                                Người đi, một nửa hồn tôi mất,
                                                Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.
                                                          (Hàn mặc Tử)
          Để kết luận, ta hãy  đọc giáo huấn của công đồng Vatican II qua hiến chế về mục vụ:
 “Bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ không còn là hai nhưng là một xương một thịt (Mt 19,6) phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hiệp mật thiết trong con người và trong hành động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày một đầy đủ hơn.
Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau, cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly” (MV số 48).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP45: LY CÀ PHÊ

Chúng ta đọc: 1Cr 12,14-26.
I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
 

Trong thư thứ nhất gửi chi tín hữu Côrintô, thánh Phaolo ânhắc nhở họ về cách sống trong cộng HP45

Trong thư thứ nhất gửi chi tín hữu Côrintô, thánh Phaolo ânhắc nhở họ về cách sống trong cộng đoàn. Ai cũng biết cộng đoàn là một tập thể gồm nhiều người có thể khác quốc tịch, mầu da, ngôn ngữ, phong tục... Tuy nhiều nhưng tất cả chỉ làm nên một thân thể duy nhất là nhiệm thể Chúa Kitô.
          Để củng cố và phát triển cộng đoàn, Thiên Chúa đã ban nhiều đặc sủng cho nhiều người khác nhau. Có người được ơn giảng dạy, có người được lòng tin vững vàng, có người được ơn chữa bệnh, có người làm phép lạ, có người nói tiên tri, kẻ khác nói tiếng lạ... Nhưng chính Thần Khí duy nhất làm tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách  nhằm củng cố cộng đoàn.
          Thánh Phaolô nhấn mạnh đến vấn đề đoàn kết trong Hội thánh. Ngài đưa ra so sánh sự liên kết giữa các bộ phận với thân thể. Ngài nói:”Ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy”(1Cr 12,12).  Để từ đó, Ngài có thể nói:”Tất cả chúng ta  gồm các thành phần khác nhau, nhưng đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể, một thân thể duy nhất”.
          Do đó, mọi bộ phận trong một thân thể đều cần thiết, không có một bộ phận nào dư, không có một bộ phận nào vô ích. Mỗi bộ phận có một nhiệm vụ riêng. Tất cả đều cần thiết để phục vụ cho lợi ích của thân thể.  Hơn nữa, “Những bộ phận nào xem ra yếu đuối nhất thì lại là cần thiết nhất, và những bộ phận ta coi là tầm thường nhất, thì ta lại tôn trọng hơn cả”(1Cr 12,22-23). Vì thế, thánh Phaolô kết luận:”Anh em là thân thể Đức Kitô, và mỗi người là một bộ phận”(1Cr 12,27).
          Cũng vậy, trong Hội thánh Chúa có nhiều thành phần: người  Do thái và Hy lạp, tự do và nô lệ, mỗi người tùy theo ơn Chúa ban mà phục vụ Hội thánh. Trong mọi sự phải tránh lòng ghen tương. Mỗi thành phần đều có ơn gọi riêng. Mỗi thành phần có trách nhiệm phải xây dựng Hội thánh theo ơn gọi của mình.  Trong mọi sinh hoạt, mọi người phải cố gắng tạo ra sự hòa hợp giữa các thành phần để cùng tạo nên sự đoàn kết làm nên một cộng đoàn tình thương như lời Thánh vịnh :
                                      Xinh thay là cảnh anh em
                                      Cùng nhau vui sống dịu êm một nhà.
                                                  (Tv 132,1)
 
II. CHUYỆN VỀ MỘT LY CÀ PHÊ.
          Ngày trước chúng ta chỉ có uống trà. Ngồi nói chuyện gẫu với nhau chung quanh ấm trà là qúi rồi. Bây giờ cà phê phát triển mạnh, nên đâu đâu cũng có cà phê, các quán cà phê mọc lên khắp nơi từ thành thị đến thôn quê.  Ngày nay người ta không còn uống “cà phê kho” hay “cà phê vớ” nữa mà phải uống  “cà phê phin”.  Muốn uống cà phê phin cho ngon, ngoài việc phải có cà phê tốt, người ta còn phải chú trọng đến cách pha cà phê: trước hết phải trướt phin bằng nước nóng, rồi cho cà phê vào phin, ấn cà phê xuống bằng cái nắp cho chắc, rưới lên một chút nước sôi vừa phải, đợi mấy phút cho cà phê nở ra. Sau đó mới đổ nước vào cho phin nhỏ giọt. Phin phải rỏ xuống từng giọt mới ngon, nếu để cà phê chảy xuống như cái cống thì không ra gì.  Người uống cà phê sành điệu , phải làm những thao tác như thế mới ngon.
          Thời nay, kinh tế phát triển mạnh, công việc bề bộn, người ta không còn thì giờ để thưởng thức những ly cà phê phin nữa vì thì giờ là vàng bạc mà. Thay vào đó, người ta chế ra thứ cà phê gói, cà phê hoà tan, cà phê uống liền như cà phê Trung nguyên nổi tiếng, Nestcafé, Vinacafé... Loại cà phê này uống liền, rất thuận tiện, tuy không ngon bằng ca phê phin nhưng chất lượng thì không kém.
          Người ta tặng tôi một hộp cà phê Trung nguyên, mà theo họ là ngon nhất. Tôi uống thử và thấy ngon thật. Ngoài bao bì có in hàng chữ “3 in 1” có nghĩa là 3 chất trong một gói. Vậy 3 là cái gì ? Đó là 3 chất pha trộn với nhau:bột tinh chất cà phê, đường và chất béo.  Như vậy, trong mỗi một gói đều có 3 chất đó hoà tan trong nước theo một tỷ lệ hợp lý.
 
III. CHUYỆN VỀ HOÀ HỢP GIA ĐÌNH.
          Tôi đang ngồi thưởng thức ly cà phê hoà tan thì nghe thấy tiếng ồn ào trong một gia đình ở gần nhà thờ. Đây là một gia đình trẻ mới có vợ chồng và một đứa con. Đúng là “3 in 1”: 3 người trong 1 gia đình. Có truyện gì xẩy ra ? Vợ chồng họ đang cãi nhau về việc làm ăn.  Vợ thì muốn dùng số tiền đi buôn, chồng lại muốn dùng số tiền ấy mua mấy sào đất để canh tác. Hai người có hai cách giải quyết khác nhau, không bên nào chịu nhượng bộ, thế là phải to tiếng.
          Điều này làm cho tôi phải suy nghĩ: nếu gia đình nào cũng có “3 trong 1” như ly cà phê tôi đang uống thì êm đẹp biết mấy ! Tuy vẫn là “3 trong 1” đấy như tỷ lệ thế nào cho hợp lý ? Không lẽ ly cà phê chỉ có bột cà phê hoà tan , đắng như vậy uống làm sao được ? Nếu chỉ có đường thì uống đường thôi chứ đâu có uống cà phê ? Còn nếu chỉ có chất béo thôi thì uống làm sao được, ngán lắm ?
          Muốn có một ly cà phê ngon thì 3 chất đó phải hoà tan trong một tỷ lệ hợp lý: không có cái nào nhiều quá, không có cái nào ít quá, đắng quá hay ngọt quá cũng không tốt.  Muốn cho gia đình được trong ấm ngoài êm, trên thuận dưới hoà thì phải có sự hoà hợp. Chìa khoá của hạnh phúc gia đình là sự nhịn nhục, nhường nhịn nhau. Trong gia đình không có kẻ thắng người thua mà chỉ san sẻ cho nhau theo phương châm:”Nhịn mày tốt tao”.
          Người ta ao ước lập được một gia đình hạnh phúc. Theo họ, nếu kiếm được một người vợ hiền và một người chồng khôn thì đã có hạnh phúc , nhưng như thế đã đủ chưa , hay còn phải có những điều kiện khác ?
                                      Làm trai lấy được vợ hiền,
                             Như cầm đồng tiền mua được của ngon.
                                      Phận gái lấy được chồng khôn,
                             Xem bằng cà vượt vũ môn hóa rồng.
          Nhưng như thế cũng chưa đủ, chưa chắc đã có hạnh phúc. Bí quyết để đi đến hạnh phúc là vợ chồng phải “xử tốt” với nhau.  Người ta thường nói:”Có đi có lại mới toại lòng nhau”, nếu chồng biết xử tốt với vợ, thì ngược lại, vợ cũng phải xử tốt với chồng.  Cả hai biết cư xử tốt với nhau thì gia đình sẽ hạnh phúc.
 
                                      Truyện: Xử   tốt với nhau
          Ông FLAVÌERE, nguời đặc trách mục truyện Đồng quê của nhật báo “Ngôi sao” xuất bản tại thủ đô Manila (Philippines) có kể lại câu chuyện vui sau đây:
          Có anh nông dân kia đã lập gia đình hơn 10 năm nay, nhưng hầu như ngày nào cũng phải gặp cảnh “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”. Vợ chồng anh cứ cãi lộn với nhau hoài. Một hôm, quá buồn lòng, anh nông dân tìm đến một người bạn thân gần đó và xin anh ta góp ý kiến:
          - Làm thế nào để tôi không những ly dị được con mụ vợ ưa gây sự này mà còn làm cho mụ ta  phải khổ tâm suốt đời.
          Người bạn của anh ta vấn kế:
          - Nếu anh quả tình muốn bỏ đi và muốn làm cho chị ta phải khổ tâm, thì bây giờ anh hãy về và cố gắng cư xử với chị ta  như với bà hoàng hậu. Chừng đôi ba tháng sau đó anh sẽ bỏ đi và tôi dám chắc rằng chị ta sẽ phải đau khổ suốt đời, vì lúc đó không còn ai phục dịch chị ta như một bà hoàng nữa.
          Anh nông dân nghe lời, về nhà làm y như lời bạn khuyên. Anh đối xử rất tốt với vợ và bất cứ điều gì chị vợ muốn, anh ta đều mau mắn thực hiện, cứ như cô hầu đối với bà hoàng của mình.
          Thời gian qua đi, 2 tháng rồi 3 tháng. Người bạn của anh nông dân chờ mãi không thấy anh đến cho biết quyết định ra đi, liền đến tận nhà thăm hỏi và được anh ta trả lời:
          - Làm sao tôi có thể rời bỏ nàng được, bởi vì từ ngày tôi đối xử với nàng  như với một bà hoàng, thì ngược lại, nàng cũng đối xử với tôi như với một ông vua ?  Không, tôi không thể nào xa rời người bạn đời đã đối xử với tôi quá tốt như thế ! (Góp nhặt 4, tr 122)
          Để kết thúc, chúng ta hãy suy ngẫm lời thánh Phaolô gửi chi tín hữu Ephêsô về tình yêu đối với vợ chồng:
“Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô thương yêu Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh... Chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình” (Ep 5, 25.28).
          Ngài cũng khuyên người vợ:
“Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ như Đức Kitô là đầu của Hội thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội thánh, thân thể của Người . Và như Hội thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy” (Ep 5, 21-24).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP46: GIA ĐÌNH, Quyền lợi và bổn phận

I. LỜI CHÚA: St 2,4b-25.
 

Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Sau khi đã được dựng nên người nam, Thiên HP46

Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Sau khi đã được dựng nên người nam, Thiên Chúa thấy còn thiếu cái gì đó, nên mới phán:”Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ cho nó một trợ tá tương xứng với nó”(St 2,18). Thiên Chúa đã dựng nên người nữ và cho kết hợp với nhau.  Kinh thánh còn nói:”Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt”(St 2,24).  Từ đó xuất hiện một gia đình đầu tiên do Thiên Chúa tác hợp, đó là gia đình Ađam-Evà.
          Mục đích của hôn nhân gia đình là yêu thương nâng đỡ nhau và sinh sản con cái. Khi đã sinh con cái thì cha mẹ phải có trách nhiệm. Cha mẹ sẽ trở thành những mục tử như Chúa Giêsu đối với Hội thánh, như những vị lãnh đạo trong Giáo hội đối với con chiên. Nếu gia đình là Giáo hội tại gia thì cha mẹ cũng có bổn phận chăn dắt con chiên thuộc quyền mình, tức là phải nuôi nấng và dạy dỗ con cái. Đây là quyền lợi bất khả xâm phạm và một nhiệm vụ không ai có thể thay thế được.
          Chúng ta cùng nhau tìm hiểu vai trò của người cha, người mẹ và con cái trong gia đình, đặc biệt là gia đình Việt nam xưa và nay.
 
II. GIA ĐÌNH VIỆT NAM NGÀY XƯA.
          1. Gia đình Việt nam nói chung.
          Từ xa xưa, khi tổ tiên loài người biết sống thành quần thể, gia đình đã xuất hiện.  Và mỗi ngày, tổ chức đời sống gia đình lại được cải thiện hoàn hảo hơn. Cho đến nay, không một ai dám phủ nhận vai trò của gia đình trong cộng đồng xã hội. Đặc biệt là xã hội Việt nam, gia đình lại càng được xem là một nền tảng vững chắc.
          Và nếu như xã hội bắt đầu từ gia đình thì gia đình lại bắt đầu từ cá nhân. Mỗi cá nhân trong gia đình đóng một vai trò nhất định. Và mối tương quan của mỗi cá nhân trong gia đình thuộc về phạm trù đạo đức nên phần lớn đều bị chi phối của luân lý.  Song nó cũng không hoàn toàn gói gọn trong phạm vi ấy.  Pháp luật cũng được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân. Có thể nói Việt nam một thời  đã có những định chế khắt khe qui định nghĩa vụ và quyền hạn của cha mẹ, con cái trong gia đình.  Do ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử nên người Việt nam xưa rất coi trọng chữ HIẾU. Và nghĩa vụ của con cháu trong gia đình cũng được đặt trên nền tảng ấy. Đối với người Việt nam xưa thì Hiếu là một đức tính làm đầu của con người, nhất làvới người nam nhi:
                                      Làm trai nết đủ trăm đường,
                                      Trước tiên điều hiếu, đạo thường xưa nay.
          2. Người cha và chồng.
          Theo cổ luật Việt nam, người cha là chủ gia đình, là người có uy thế rất mạnh, ông có quyền định đoạt  hết mọi việc liên quan tới mọi người trong nhà. Quyền đó gọi là “phụ quyền”.
Phụ quyền rất rộng rãi còn được gọi là “quyền gia trưởng”.
          Trước hết, người gia trưởng có quyền sở hữu và quản lý tài sản của mình. Vợ con phải làm lụng cho gia đình chung, không ai được giữ lợi riêng (nếu ai giữ của riêng không được phép người gia trưởng, cổ luật ghép cho tội ăn cắp).
          Người gia trưởng còn có quyền hạn tuyệt đối đối với thân nhân trong gia đình. Họ có quyền bắt vợ con đi làm thuê hay đem đi bán. Nói khác đi, người gia trưởng theo cổ luật là người nắm quyền sinh sát trong tay, không khác gì một quân vương.
 
          3. Người mẹ và vợ.
          Người mẹ trong gia đình cũng rất quan trọng. Luật Việt nam xưa cũng đã đặt người vợ ngang hàng với người chồng. Tuy nhiên, quyền hạn của người mẹ bao giờ cũng bị hạn chế hơn người cha. và quyền hạn của người đàn bà trong xã hội xưa còn bị hà khắc bởi tục lệ.  Theo tác giả Phạm côn Sơn trong cuốn “Hôn lễ và nghi thức” thì... “Tục lệ đã biến người đàn bà trong gia đình thành một thứ vô dụng và hẹp hòi kiến thức”. Thực vậy, người phụ nữ theo cổ luật không có quyền giao thiệp rộng với thế giới bên ngoài.  Người xưa còn cho rằng chỗ đứng của người đàn bà quanh năm chỉ là “cái bếp”.
          Cổ luật buộc người đàn bà không có quyền ghen khi người chồng ngoại tình hay có năm thê bảy thiếp. Người đàn bà cho rằng việc ấy là việc tự nhiên, không đặt thành vấn đề:
                                      Chồng giận thì vợ làm lành,
                                      Miệng cười chúm chím rằng anh giận gì ?
                                      Thưa anh, anh giận em chi ?
                                      Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho !
                                                      (Ca dao)
Ngược lại, người đàn bà ngoại tình sẽ phải chịu những hình phạt vô cùng khắt khe như: bị cạo trọc đầu, bôi vôi và thả trôi sông.  Luật lệ còn đặt ra “thất xuất” (bảy tội để đàn ông có thê bỏ vợ): Không con – Dâm dật – Không thờ cha mẹ chồng – Nhiều lời – Trộm cắp – Ghen tương – Có ác tật.
 
          4. Con cái, cháu chắt.
          Bên cạnh cha mẹ, Cổ luật Việt nam cũng qui định nghĩa vụ pháp lý ràng buộc đối với con cháu trong gia đình. Theo đó, con cháu sống trong gia đình phải hoàn toàn tuân theo lệnh của ông bà, cha mẹ. Cho dù ông bà, cha mẹ có phạm lỗi gì,  con cháu cũng không được phép kiện cáo, thậm chí phải che giấu tội phạm của ông bà, cha mẹ. Khi ông bà cha mẹ bị tội lưu đầy, con cháu phải đi theo để phục dịch. Nếu các bậc này bị tội “roi” hay “trượng” thì con cháu phải chịu thay.
          Cổ luật Việt nam nổi bật một điều: Luân lý và pháp luật lẫn lộn, đan chen nhau.  Lẽ ra, đạo hiếu của con người thuộc luân lý nhưng nếu ai vi phạm  thì sẽ bị trừng trị nghiêm khắc như một tội phạm hình sự.  Thân thuộc càng gần thì hình phạt càng nặng.
          Một điều quan trọng nữa trong nghĩa vụ của con cháu đối với ông bà, cha mẹ là phải tôn trọng thời cư tang. Trong thời kỳ này, con cháu không được ăn mặc lòe loẹt, tiệc tùng vui chơi, không được gả chồng cưới vợ. Tuy nhiên về việc cưới hỏi, cổ luật cũng nới cho một giải pháp là “Cưới chạy tang”.
 
III. GIA ĐÌNH VIỆT NAM NGÀY NAY
          Nhìn chung, gia đình ngày nay đã đổi mới nhiều, những luật lệ cổ hủ ngày xưa dần dần bị đẩy lui. Quyền hạn của người cha người chồng đã bị giảm bớt và vai trò cũng như quyền hạn của người đàn bà được nâng cao để họ được ngang hàng với đàn ông.
          Ngày nay, tuy người cha vẫn là cột trụ gia đình, nhưng những quyền hạn như một người gia trưởng xưa không còn nữa. Thay vào đó, người cha phải có trách nhiệm thương yêu và giáo dục con cái nên người. Pháp luật hiện hành cũng không cho phép cha mẹ có những hành vi đối xử ngược đãi con cái.
          Trong tông huấn “Đời sống gia đình”, Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô 2 nói:”Tình yêu thương đối với người vợ đã trở thành mẹ, và tình yêu thương đối với con cái là con đường tự nhiên đưa người nam đến chỗ hiểu biết và thể hiện việc làm cha của mình”(Số 25).
          Còn đối với phụ nữ, những tục lệ ràng buộc người phụ nữ  xưa, đến nay đã bị xem là quá khắc nghiệt.  Cùng với sự phát triển của xã hội, địa vị người phụ nữ đã được đưa lên ngang hàng với nam giới về mọi mặt.
          Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô trong tông huấn “Đời sống gia đình” cũng nói:”Trong viễn tượng ấy, Thượng hội đồng Giám mục đã dành một sự chú ý đặc biệt cho người phụ nữ, cho các quyền lợi và vai trò của họ trong gia đình cũng như ngoài xã hội... Về phụ nữ, trước hết cần phải ghi nhận rằng, phẩm giá và trách nhiệm của họ bình đẳng với phẩm giá và trách nhiệm của người nam”(Số 22).
          KẾT LUẬN.
          Để kết  luận, chúng ta hãy suy niệm một đoạn thư thánh Phaolô gủi cho tín hữi Êphêsô:
“Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau. Người vợ hãy phục tùng chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội thánh... Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh. Mầu nhiêm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội thánh. Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng”(Ep 5,21-23. 25-33).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP47: CHIA  SẺ

I. THIÊN CHÚA CHIA SẺ THÂN PHẬN CON NGƯỜI.
 

Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolô đã ca tụng tình yêu của Thiên Chúa đối với loài  HP47

Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolô đã ca tụng tình yêu của Thiên Chúa đối với loài  người trong việc quên đi chức vị Một Thiên Chúa cao sang tuyệt đối, trở thành phàm nhân hèn hạ.  Thiên Chúa là Đấng cao sang tuyệt đối mà con người thì quá thấp hèn #. Giữa Thiên Chúa và loài người có một khoảng cách vô cùng lớn lao. Nhưng Thiên Chúa muốn rút ngắn khoảng cách ấy lại và rút ngắn khoảng cách ấy lại đến nỗi hạ mình xuống chia sẻ thân phận với con người, trở nên con người như mọi người. Sự chia sẻ thân phận ấy đã được thánh Phaolô mô tả như sau:
“Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa., nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).
          Con người đã phạm tội, mất mọi quyền lợi, mất quyền làm con Chúa, mất phúc thiên đàng, nên Thiên Chúa xuống thế cứu chuộc chúng ta bằng cái chết trên thập giá. Thiên Chúa muốn trở nên con người để cứu vớt con người. Ngài muốn chia sẻ thân phận đau thương của chúng ta. Ngài xuống thế làm người để nâng chúng ta lên làm Thiên Chúa. Vì thế, trong phần tự ngôn của Phúc âm thứ tư, thánh Gioan tông đồ đã nói:”Ngôi lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14).
          Một vị quan lớn mở tiệc mời nhiều người đến dự. Tất cả các người được mời đều ăn mặc sang trọng và dùng xe đi đến.. Trong số ấy có một người khách già. Rủi thay, vì già yếu nên ông cụ này khi xuống xe trượt chân té vào vũng bùn. Khách đến dự tiệc thấy vậy phá lên cười.
          Xấu hổ và cảm thấy  mình không xứng đáng, ông quyết định trở về. Gia nhân nài nỉ cách mấy ông cũng không chịu ở lại dự tiệc. Khi đó vị quan chủ tiệc bước ra sân đi tới chỗ vũng nước đó rồi cũng cố tình té ngã vào vũng nước. Thế là áo quần của ông quan cũng dơ dáy y như cụ già kia.  Mọi người chung quanh chẳng ai dám cười nhạo nữa. Sau đó, vị quan lớn cầm tay ông cụ đưa vào phòng tiệc. Ông cụ chẳng còn lý do nào để từ chối. Chỉ có hành động cố tình té ngã của vị quan lớn kia mới có thể đưa ông cụ vào bàn tiệc.
                             (Trích ở Internet “Con đường nên thánh”)
Con Thiên Chúa trên tầng trời cao thẳm, lại hạ mình xuống làm kiếp phàm nhân. Đấng thánh thiện vô cùng lại khiêm nhu đứng xếp hàng bên những tội nhân. Đấng xóa tội trần gian lại hòa mình trong đoàn người tội lỗi. Đấng thanh sạch vô biên lại chịu dìm mình  trong dòng sông “sám hối”. Đấng sẽ làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần lại xin chịu phép rửa của Gioan. Chính hành vi rất mực khiêm hạ của Đấng Cứu thế đã cho thấy tình yêu sâu nặng của Thiên Chúa dành cho con người. Chính thái độ tự hủy tột cùng của Đấng Cứu thế đã cho thấy tình yêu dấn thân của Thiên Chúa đối với con người cát bụi chúng ta. Chính Thiên Chúa đã có sáng kiến tuyệt vời là tình nguyện hoá thân làm kiếp phàm nhân.
          Thiên Chúa sống kiếp phàm nhân là để thông cảm với con người:Để chia sẻ thân phận đói nghèo, khổ đau, bệnh hoạn của con người. Để nếm cảm nỗi ray rứt khắc khoải của tội nhân. Để thấu hiểu niềm khao khát đổi mới trong lòng người tội lỗi. Vâng, chính Con Thiên Chúa đã thực hiện những phéplạ thật ngoạn mục ngay trước mắt con người.
          Ngày nay, chúng ta đã chịu phép Rửa của Đức Kitô trong Thánh Thần, chúng ta được mời gọi hiệp thông thân mật với Chúa Ba Ngôi, chúng ta cũng được mời gọi lên đường phục vụ anh em, nhất là những anh em đang cần một “Tình Yêu Chia Sẻ”.
 
II. CHIA SẺ TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN.
          Thiên Chúa đã đến chia sẻ với kiếp sống con người chúng ta “Ta đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ”. Mọi người phải theo gương Chúa mà phục vụ nhau, chia sẻ với nhau trong cuộc sống, nhất là trong cuộc sống hôn nhân vì “Họ không còn là hai, nhưng là một xương một thịt” (Mt 19,6).
          Vợ chồng cần chiasẻ với nhau về hai phương diện: tình cảm và vật chất.
          1. Về phương diện tình cảm.
          Thomas Merton nói: “No man is an  island”: không ai là một hòn đảo. Đúng vậy, không ai trong chúng ta muốn trở thành một hòn đảo trơ trơ trong một quần đảo Indonesia gồm 13.000 hòn đảo.  Nếu  các nhà triết học kinh viện định nghĩa “ Homo est animal rationale”: người là một con vật có lý tính, thì ngày nay các nhà xã hội học lại định nghĩa:”Homo est animal sociale”: người là một con vật có xã hội tính.  Con người không những có lý trí mà còn có tình cảm, có nhu cầu phải thông cảm với nhau, có tương quan với nhau về nhiều phương diện.
          Dân gian Việt nam chúng ta có câu tục ngữ  mà ai cũng quen biết:
                             “Một con ngựa đau cả tầu chê cỏ”
          Ngày nay, có những em học sinh cắt nghĩa câu tục ngữ này rất hay, rất khoa học và hợp với hoàn cảnh hiện tại. Các em cắt nghĩa là: Khi thấy một con  ngựa bị đau thì tất cả các con khác không dám ăn cỏ vì sợ trúng độc, vì ngày nay người ta phun thuộc sâu nhiếu lắm !!!
          Câu tục ngữ này có ý nói: Một con ngựa bị đau ốm không ăn được cỏ thì cả tầu ngựa (cái máng để chứa thóc, cỏ cho cả chuồng ngựa ăn) đều chê cỏ không ăn. Ý nói loài vật có tình đồng loại, thấy một con đau thì cả đàn đều thương.  Nếu con vật còn biết thông cảm với nhau như vậy mà con người lại không biết thông cảm với nhau sao ?
          Chúng ta cùng sống trong xã hội, chúng ta thích sống trong cộng đoàn vì chúng ta có nhu cầu chia sẻ, nhu cầu trao đổi tình cảm. Khi nói sống thì không thể nói “sống” trống không mà luôn phải nói “Sống với” hay “sống cùng”. Sống với, sống cùng là là nói lên đời sống cộng đoàn trong đó có nhiều người, và như vậy không ai là người lẻ loi.
          Khi chúng được niềm vui thì chúng ta muốn có người để chia sẻ niềm vui ấy,  khi buồn thì chúng ta cũng muốn có người để chia sẻ nỗi buồn đó. Người ta thường nói: Niềm vui mà được chia sẻ thì niềm vui tăng lên gấp bội, còn nỗi buồn mà được chia sẻ thì sẽ giảm đi một nửa”.
          Chúng ta tưởng chỉ có con người mới biết thông cảm sao ? Theo các nhà khoa học và theo kinh nghiệm thì con vật cũng biết thông cảm với người và qua thí nghịem mới đây người ta cho biết cây cỏ củng biết thông cảm với người.
          Trong đời sống gia đình, nhu cầu chia sẻ rất cần thiết. Nếu không người ta sẽ dễ bị thấy mình cô đơn, lẻ loi, lạc lõng.  Người đàn bà sợ cô đơn lắm ! Có lẽ vì sợ cô đơn mà họ nói nhiều.  Nhiều người chồng vô tâm, chỉ nghĩ đến việc khác, không hỏi thăm vợ được một câu trong suốt một ngày. Kinh nghiệm cho hay:
          “Đối với người đàn bà, những sự săn sóc nhỏ nhặt rất quan trọng”
                             (Barbey d’Aurevilly)
          “Những lời dịu ngọt có hiệu lực đối với người đàn bà hơn là những món nữ trang lặng lẽ”
                             (Berbère)
          2. Về phương diện vật chất.
          Thông thường người đàn ông làm ra tiền của, người đàn bà lại có khuynh huớng làm nội tướng, thiên về quản lý.  Có nhiều người đàn ông không chịu làm việc, chỉ biết nhậu nhẹt tối ngày, để cho vợ con nheo nhóc.  Có những ông chồng trở nên “Ông Trùm Sò”, keo kiệt với vợ con, nắm hết tiền của, vợ con muốn gì thì phải ngửa tay ra xin từng đồng, giống như xin của bố thí. Lúc đó, người vợ chỉ như đứa con ở trong nhà, không có một quyền hành gì.
          Nhưng cũng có những ông chồng sống đúng vai trò của mình , ông ý thức mình là “Gia trưởng”, đóng đúng vai trò của thánh Giuse trong gia đình Thánh gia,  luôn săn sóc vợ con.  Ông giống như một giám đốc một công ty, điều hành mọi việc một cách tổng quát, còn người vợ thì được coi như một quản lý phụ tá cho ông, lo mọi việc trong nội bộ. Lúc đó, người vợ được đóng vai “Nội tướng” dễ thương.
                                      Truyện: thương vợ thương con.
          Một vị quận công nước Anh tổ chức tiệc tùng khoản đãi các sĩ quan cấp dưới. Trong bữa tiệc ông khoe với khách mời chiếc bật lửa tuyệt đẹp mà nữ hoàng mới tặng ông.
          Chiếc bật lửa được chuyển đi cho mọi người xem. Cuối tiệc, quận công mời khách hút thuốc, nhưng mới khám phá ra chiếc bật lửa đã biến đâu mất, tìm khắp nơi mà cũng không thấy.  Người ta đề nghị từng sĩ quan phải móc hết mọi vật ở trong túi ra. Ai cũng làm theo, chỉ có một ông sĩ quan già, nghèo nàn, quần áo rách nát không chịu thi hành. Mọi người cho là vị sĩ quan này đã ăn cắp.
          Vài tuần sau, quận công lại mở tiệc và trong bữa tiệc này ông mới khám phá ra là cái bật lửa đang ở trong túi áo của mình.  Ông vội đến xin lỗi người sĩ quan  bị nghi là ăn cắp. Vị sĩ quan nghèo này trả lời:”Hẳn ngài đã thấy được  căn nhà của tôi đang ở tồi tàn như thế nào. Từ lâu, tôi đã bị thất nghiệp mà vẫn phải nuôi nhiều miệng ăn trong nhà. Ngài đâu có biết rằng hôm đó tôi đã nhét vào túi tôi tất cả những đồ ăn thừa trên bàn để mang về cho vợ con tôi...”
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

         
 

HP48: DIỄN KỊCH

Thế giới này là một đại trường kịch mà mỗi người phải đóng một vai. Không vai nào đáng kính HP48

Thế giới này là một đại trường kịch mà mỗi người phải đóng một vai. Không vai nào đáng kính trọng, không vai nào đáng khinh chê. Vai nào cũng tốt, vai nào cũng cần  bởi vì vở kịch phải có nhiều vai, có thể là ông vua, có thể là thằng bồi, vai nào cũng quan trọng. miễn là ai đóng vai nào thì phải đóng cho đúng vai đó: vai vua phải đóng cho thật nghiêm chỉnh, đừng đóng như thằng hề, ngược lại,  thằng hề không được vai nghiêm nghị như ông vua... nếu thế vở kịch sẽ trở nên rất dở.
          Gia đình cũng là một vở kịch nhỏ, mỗi thành phần phải đóng cho đúng vai của mình, nếu không, vở kịch chỉ là trò hề đáng cho người ta chê cười. Để nói lên vai trò của các thành phần trong gia đình, chúng ta hãy nghe một đoạn thư của thánh Phaolô tông đồ gửi cho tín hữu Êphêsô:
 
I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA.
          Thưa anh em,
          Anh em hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ.
          Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau. Người làm vợ hãy phục tùng chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội thánh, thân thể của Người. Và như Hội thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh.
          Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người” (Ep 5, 2a-21.28-30).
          Thánh Phaolô nói:”Hỡi những người vợ, hãy tùng phục chồng mình như tùng phục Chúa vậy”. Tại sao ngài lại nói như thế ? Bởi vì khi vợ chồng hoà hợp với nhau, thì con cái họ sẽ được giáo dục tử tế, mọi việc trong nhà đâu ra đó ; hàng xóm, bạn bè và thân quyến đều được hưởng lây danh thơm tiếng tốt của họ. Nhưng nếu họ không hòa hợp với nhau, thì mọi sự đều bị đảo ngược lại và rất dễ đi đến chỗ hỗn loạn.  Cũng tương tự như các tướng lãnh trong quân đội, khi họ hoà thuận với nhau, thì các cấp dưới họ đều qui thuận họ, và quân đội sẽ hùng mạnh ; còn trái lại, nếu họ chia rẽ nhau thì mọi sự đều xẩy ra ngược lại. Vì thế, thánh Phaolô mới nói:”Hỡi những người vợ, hãy tùng phục chồng như ỳung phục Chúa”.
          Đáp lại, nếu người vợ phải tùng phục chồng thế nào thì người chồng cũng phải yêu thương vợ như vậy.  Các bạn có mong vợ mình tùng phục mình như Giáo hội tùng phục Đức Kitô không ? Nếu thế, bạn hãy lo lắng chăm sóc cho nàng cũng như Đức Kitô đã chăm sóc lo lắng cho Giáo hội vậy.  Thật thế, các bạn ai cũng muốn vợ mình phục tùng mình: nếu mà được vợ phục tùng, thì dẫu cho phải hiến dâng cả đời mình cho nàng, cho dẫu thân xác bạn có bị xé ra thành ngàn mảnh, hay cho dẫu bạn phải chịu bất kỳ hình khổ nào, bạn cũng sẵn sàng chấp nhận hết.
          Chúng ta hãy coi đây là trật tự nền tảng của gia đình: chồng là đầu, còn vợ là thân mình. Người vợ hãy kính nể chồâng mình. Người vợ có quyền ở hàng thứ hai. Vì thế, nàng không nên đòi hỏi được bình đẳng về quyền hành với chồng, vì nàng là thân, nên ở bên dưới đầu.  Chàng cũng không nên coi nàng như một người bề dưới, bởi vì nàng là thân thể. Nếu cái đầu coi thường thân mình, thì chính nó cũng sẽ bị diệt vong.  Người chồng pải yêu thương vợ mình có thể phục tùng mình, vì tình yêu là đối trọng phải có nơi người chồng để có sự tùng phục nơi người vợ. Bù lại, cái đầu hoàn toàn lo lắng cho toàn thân, và coi tất cả, mọi chi thể là chính mình. Cái đầu không bao giờ coi cái thân như một cái gì khác với nó. Không có một sự hiệp nhất nào tốt hơn sự hiệp nhất đó.
(R. Martin, Husbands. Wives, Parents, Children, Foundation for the Christian Family)
          Theo đó, Thiên Chúa đã thiết lập gia đình, có tổ chức hẳn hoi để mưu cầu hạnh phúc cho nhau, nếu mỗi thành viên trong gia đình sống theo lời khuyên của thánh Phaolô mà chúng tôi vừa quảng diễn ở trên thì gia đình đó sẽ có hạnh phúc. Hay nói cách khác, mỗi người với tư cách là một thành phần trong cộng đồng đó phải đóng đúng vai trò của mình .
 
II. GIA ĐÌNH LÀ SÂN KHẤU.
          1. Nhu cầu xem kịch.
          Ngày nay nhu cầu giải trí là một đòi hỏi không thể thiếu trong một xã hội đầy cạnh tranh và lo âu. Ai cũng muốn xem kịch để giải trí. Có các loại kịch: hài kịch, bi kịch và bi hài kịch.  Thông thường ai cũng muốn xem hài kịch để mua vui giải trí, chỉ trừ những người bi quan khó tính. Nhiều người còn muốn xem hài kịch để chữa bệnh nữa.
          Cải lương Việt nam hay diễn bi kịch, có những cảnh thương tâm làm cho các bà các cô khóc xụt xùi. Tuy vậy, trong cảnh buồn rơi lệ, người ta vẫn cho xuất hiện một thằng hề để chọc cười thiên hạ.  Đối với người Tây phương họ cho là một sự mâu thuẫn: tại sao trong cảnh buồn lại có pha mầu sắc vui tươi như vậy ?
          Tôi cũng không hiểu tại sao vậy !  Có lẽ người ta cho xen vào để giảm bớt tính cách bi đát buồn thảm của câu chuyện chăng ?
 
          2. Các diễn viên.
          a) Thế giới là một đại trường kịch.
          Mỗi người trong thế giới này có một vai trò. Mỗi người là một diễn viên. Có vai quan trọng, có vai tầm thường ít được người ta chú ý đến. Dù đóng vai nào, quan trọng hay tầm thường, mỗi người phải đóng cho đúng vai của mình: vua phải có tác phong ông vua, thằng hề phải có tác phong đặc biệt của thằng hề. Không phải cứ đóng vai vua chúa mà được người ta hoan hô tán thưởng, nhiều khi thằng hề lại được người ta khen ngợi hơn. Vì thế đóng vai nào không quan trọng mà đóng cho đúng mới là điều cần phải quan tâm.
 
                                      Truyện: Đóng vai Giuđa
          Khi  xưa, lúc Đức Cha Nguyễn bá Tòng có cho diễn tuồng thương khó ở chủng viện Sài gòn. Hay hay dở, cứ nhìn vào trong rạp không còn một chỗ trống thì biết. Trong số các vai tuồng, ông Jacques Đức ở Mỹ tho làm Chúa Giêsu, ông biện Chức ở Tân định làm thánh Phệrô, còn tay Giuđa về tay... ông Cúc ở Tha la.
          Vai Giuđa hay quá xá, đến nỗi có một bà lão ở tỉnh xa miền Hậu giang lên Sài gòn xem tuồng, thấy bộ tịch Giuđa nào là tham lam, phản bội, xảo quyệt... bà ghét quá, không nói, bà đứng dậy lủi thủi lên phía sân khấu (vì bà ngồi hạng bét) sẵn trong tay cầm cái “ngoáy trầu” bà quăng ngay cho Giuđa một cái bảng mặt. Rồi bà rủa thầm:”Tao cho mày phun máu đầu ra cho biết tay ! Đồ... thằng nộp Chúa, đứa bán  Thầy”.
          May ông Cúc nhanh mắt  né khỏi... và Đức Cha Tòng phải xuống “can thiệp” và “an ủi” bà lão. Nhắc cho bà nhớ lại đây chẳng qua chỉ là diễn tuồng chớ không phải Giuđa...thật đâu !
                             (Kể theo báo Thẳng tiến  1968)
          b)  Đời sống gia đình là một màn kịch.
          Kịch bản lúc ban đầu chỉ có hai nhân vật, có hai diễn viên, sau này mỗi ngày một thêm vai. Mỗi thành viên trong gia đình đều là diễn viên. Các vai diễn đều phải qua những màn hài kịch, bi kịch bởi vì cuộc sống gia đình lúc nào cũng có vui có buồn, cũng như trời có lúc mưa lúc nắng, đôi lúc cũng có sóng gió bão táp nhưng rồi như người ta nói:”Bĩ cực thái lai”, sau cơn mưa thì trời lại sáng.
          Muốn cho gia đình sống yên vui hạnh phúc, mỗi người phải đóng đúng và khéo léo vai trò của mình, theo như đường hướng giáo dục của Đức Khổng Tử: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” nghĩa là sống vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha và con sống đúng với địa vị làm con.  Sống không đúng vai trò của mình thì sẽ làm cho gia đình trở nên bất hạnh và xã hội trở nên hỗn loạn
                                      
Truyện: kịch...kịch.
          Một chú bé tối hôm trước hỏi bố là một nhà soạn kịch:
          - Bố ơi, kịch là gì, hả bố ?
          À,  - Ông bố giải thích:
          - Kịch là người ta diễn cho người khác xem... có nhân vật... có mâu thuẫn, mà mâu thuẫn càng gay gắt, có khi phải xô xát, cãi cọ, đập phá... thì kịch càng hấp dẫn.
          Sáng hôm sau, vợ chồng nhà viết kịch to tiếng... Ông chồng liệng cả bát đĩa ra sân. Thằng con ở đâu chạy về, reo ầm lên:
          - Ơ, các bạn ơi, bố mẹ tớ đang diễn kịch, lại đây mà xem, hay lắm cơ !
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HP49: CÂY  THÔNG

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
 

Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ vạn vật và trao cho con người làm chủ. Trong việc tạo dựng vũ HP49

Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ vạn vật và trao cho con người làm chủ. Trong việc tạo dựng vũ trụ, Thiên Chúa chỉ phán một lời là mọi sự liền có. Nhưng khi dựng nên con người, Thiên Chúa còn suy nghĩ đắn đo rồi mới quyết định dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài (x. St 1,26-27).
          Tuy thế, Thiên Chúa không dựng nên ngay một con người hoàn hảo như các thiên thần ; Ngài ban cho con người có hồn có xác, có tự do để tự hoàn  thiện bản thân mình. Như  vậy, con người chưa được hoàn hảo, còn đang trên đường hoàn thành, còn phải được cải thiện từng bước cho nên giống hình ảnh của Chúa.
          Trong thư gửi cho tín hữu Colossê, thánh Phaolô tông đồ khuyên phải ăn ở hiền lành nhịn nhục và tha thứ cho nhau vì con người còn có nhiều lỗi lầm không thể tránh được. Ngài khuyên:”Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này  có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,13).
 
II. CON NGƯỜI BẤT TOÀN.
          Tại sao phải tha thứ cho nhau ? Vì có sự va chạm làm mất lòng nhau. Điều đó chứng tỏ rằng con người có nhiều lỗi lầm, khuyết điểm, mà đã có nhiều khuyết điểm như thế thì làm sao hoàn hảo được ?
          Qua kinh nghiệm đó, cổ nhân đã nói:”Nhân vô thập toàn”.
          Nhà đại tư tưởng Blaise Pascal cũng nói  theo chiều hướng đó:”Con người vốn không là thiên thần, cũng không là thú vật ; và tai hại thay khi có kẻ chỉ muốn là thiên thần, lại có kẻ chỉ muốn làm thú vật”.
          Đức Khổng Tử nói:”Vi nhân nan”: làm người khó lắm. Làm người mà sống như con vật thì dễ, nhưng sống cho xứng với con người “linh ư vạn vật” thì không dễ.
          Trong cuộc sống chung, Đức Khổng Tử chủ trương: “Hoà nhi bất đồng” nghĩa là chỉ có sự hoà hợp bổ túc cho nhau chứ không bao giờ có sự đồng nhất giữa vợ chồng.
 
                                      Truyện: chọn cây thông.
          Lễ Giáng sinh sắp tới, đôi tình nhân Lan và Điệp đến một vườn ươm thông để mua một cây về trang hoàng cho hang đá. Lan đi hết chỗ này đến chỗ nọ, dìu Điệp đi theo, để chọn một cây thông nào đẹp đẽ và cân đối như trong thiệp Giáng sinh. Trời đã tối, gió rít từng cơn giá buốt mà Lan vẫn chưa tìm được một cây thông nào vừa ý. Điệp níu tay lan, khẽ nói:
          - Lan ạ, hay mình về mua một cây thông giả ! Cây thông giả rất cân đối, hình thể, mầu sắc, độ cao... kiểu nào cũng có, và lại rất giống những cây thông trong thiệp Giáng sinh em rất thích.

III. HÃY CHỌN CON NGƯỜI THẬT.
          Nếu bạn muốn tìm cây thông thật hoàn hảo, đúng tiêu chuẩn thiệp Giáng sinh, xin bạn đừng đến giữa rừng thông sống, nhưng hãy tìm mua cây thông giả. Nhưng nếu bạn muốn một cây thông sống, một cây thông thật, thì xin bạn vui lòng chấp nhận cái đẹp không thể hoàn hảo của nó.
          Nếu bạn muốn người yêu mình phải hoàn toàn, thật hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn của mình, phải yêu mình như cách mình thích, phải đối xử với mình như cách mình muốn, phải mừng sinh nhật mình theo cách mình ưa, thì có lẽ bạn nên theo lời khuyên của Điệp mà mua một con người giả, để “yêu bạn”, nói đúng hơn, để bạn yêu chính mình qua con người giả ấy.
          Nhưng nếu bạn muốn yêu một con người SỐNG, một người THẬT, thì xin bạn hãy chấp nhận người yêu như chính họ, với tất cả nét đẹp, lẫn những bất toàn. Hãy sung sướng tiếp nhận cách tỏ tình của người yêu,  cho dẫu cách ấy đối với bạn trông như lạnh lùng ! Hãy vui nhận món quà người yêu trao tặng mà không chê bai ! Hãy quên mình để cho người yêu mình SỐNG THẬT con người của họ !  Để rồi bạn có thể sung sướng ngâm nga:
                             “I love you just the way you are” !
                                      Truyện: Người cầu toàn.
          Theo một truyện cổ của người Hồi giáo thì Natrusdin là hiện thân của những người độc thân khó tính. Trong một buổi trà dư tửu hậu, khi được hỏi vì lý do tại sao ông không bao giờ lập gia đình. Natrusdin đã giải thích như sau:
          “Suốt cả tuổi thanh niên tôi đã dành trọn thời giờ để tìm kiếm một người đàn bà hoàn hảo. Tại Cairo, thủ đô của Ai cập tôi đã gặp một người đàn bà vừa đẹp vừa thông minh với đôi mắt đen như hạt oliu. Đẹp và thông minh nhưng người đàn bà này không có vẻ dịu hiền chút nào.
 Tôi đành bỏ Cairô để đi Batđa, thủ đô của Irắc để may ra tìm đưdợc một người đàn bà lý tưởng tôi hằng mơ ước. Tại đây tôi đã tìm thấy một người đàn bà hoàn toàn như tôi mong muốn, nghĩa là nàng vừa đẹp, vừa thông minh và cũng có tấm lòng quảnh đại nữa, nhưng chỉ có một điều là hai chúng tôi không bao giờ đồng quan điểm với nhau về bất cứ điều gì. Hết người đàn bà này đến người đàn bà khác, người được điều này, người thiếu điều kia. Tôi tưởng mình sẽ không bao giờ tìm được người đàn bà lý tưởng cho cuộc đời.
Thế rồi một hôm tôi gặp được nàng, người đàn bà cuối cùng trong cuộc tìm kiếm của tôi. Nàng kết hợp tất cả những đức tính tôi hằng mong muốn, nghĩa là nàng vừa đẹp, vừa thông minh, vừa quảng đại tử tế, nàng đúng là người đàn bà toàn hảo.  Thế nhưng cuối cùng tôi đành phải quyết tâm ở độc thân suốt đời.  Các bạn có biết tại sao không ? Nàng cũng đang đi tìm một người đàn ông hoàn hảo và tôi đã được nàng chấm như một người đàn ông còn quá nhiều thiếu sót”.
          Người đàn ông suốt đời độc thân trong câu chuyện trên đây đã quên một  trong những qui luật cơ bản nhất của cuộc sống, đó là luật thích nghi . Thay vì bắt người khác và cuộc sống phải thích nghi với chúng ta thì chính chúng ta phải là người thích nghi với người khác và cuộc sống. Người đàn ông trong câu chuyện đã tìm được người đàn bà lý tưởng, nhưng chỉ tiếc rằng ông chưa biết trở thành người đàn ông lý tưởng để có thể ăn đời ở kiếp với người đàn bà ấy.
          Tâm lý thông thường của con người là thích đòi hỏi người khác hơn là đòi hỏi chính mình. Chúng ta đòi hỏi người khác phải thế này thế nọ với chúng ta, nhưng chúng ta quên rằng chúng ta chưa làm những gì người khác cũng trông chờ nơi chúng ta.
  Đức Giêsu đã đề ra cho chúng ta khuôn vàng thước ngọc để xử sự trong cuộc sống:”Những gì ngươi không muốn người khác làm cho ngươi, thì ngươi cũng đừng làm điều đó cho người khác”.  Nếu chúng ta không muốn ai đối xử bất công với chúng ta thì chúng ta cũng hãy sống công bình. Nếu chúng ta không muốn ai cư xủ hẹp hòi ích kỷ với chúng ta, thì chúng ta hãy sống quảng đại độ luợng.  Nếu chúng ta không muốn người khác cau có với chúng ta, thì chúng ta hãy luôn mang bộ mặt của vui tươi phấn khởi đến với người khác.
          KẾT LUẬN
          Đức Kitô luôn yêu thương và chấp nhận chúng ta. Ngay cả khi chúng ta chưa biết xin lỗi, Ngài đã chết cho chúng ta rồi {Rm 5,10).
          Cho dầu con người đã tự ý phạm tội, Thiên Chúa vẫn yêu thương con người “just the way we are”. Ngài vẫn đi tìm chúng ta trong cơn gió nhẹ chiều hôm, tha thiết tìm gọi “Con ơi, con đâu rồi” (St 3,8-9).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP50: THÂN MÌNH

I. TÌNH YÊU TẠO DỰNG.
 

Thánh Gioan tông đồ khẳng định:”Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8). Thiên Chúa là nguồn tình HP50

Thánh Gioan tông đồ khẳng định:”Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8). Thiên Chúa là nguồn tình yêu, là tình yêu tuyệt đối và trọn vẹn.  Vì yêu thương mà Ngài đã san sẻ tình yêu cho chúng ta dể chúng ta yêu Ngài và yêu nhau. Vì thế, mọi tình yêu phải qui hướng về Ngài là cùng đích, là hạnh phúc tuyệt đối.
          Bản tính của tình yêu là muốn thông ban sự tốt lành của mình cho người khác.  Vì yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng muôn loài: mọi thụ tạo đều là dấu chỉ tình thương của Chúa.  Trong mọi tạo vật được dựng nên, Thiên Chúa chỉ cần phán một lời là mọi sự liền có, nhưng khi tạo dựng con người, Ngài muốn chọn cho con người một mô hình đặc biệt, đó là dựng nên con người giống hình ảnh Ngài {x. St 1,27). Như thế, con người được dựng nên với một cấp độ cao để con người có thể nói được là “nhân linh ư vạn vật”.
          Ngài đã dựng nên con người có nam có nữ và cho họ kết hợp với nhau để từ đó họ chỉ còn  là một thân mình tức là chỉ còn một xương một thịt (Mc 10,66-8). Việc họ phối hợp với nhau cũng năm trong thánh ý của Thiên Chúa , là một việc thánh thiêng.  Dựa vào đó, Hội thánh dạy rằng Thiên Chúa muốn cho họ thương yêu nhau thắm thiết để nâng đỡ nhau trong cuộc sống và sinh sản con cái để làm cho Hội thánh được thêm phong phú.
 
II.TÌNH YÊU KẾT HỢP.
          Tình yêu luôn đòi kết hợp thân xác và tinh thần. Con vật thương nhau thì chỉ biết kết hợp thân xác, còn con người có lý trí không những đòi hỏi kết hợp thể xác như con vật, nhưng còn hơn nữa là muốn kết hợp tinh thần nữa.  Vì thế, người ta cảm thấy nhớ nhung khi phải xa nhau và mừ#ng vui khi được gần nhau như các em thiếu nhi thường hát:”Cả nhà ta cùng yêu thương nhau, xa là nhớ gần nhau là mừng”.
          Vợ chồng đã thương yêu nhau là muốn kết hợp với nhau cả thể xac lẫn tinh thần, nghĩa là muốn kết hợp với nhau thành một “THÂN MÌNH”.  Tuy là một thân mình nhưng vẫn còn là một thân và một mình, mỗi thân mỗi mình lại có những sắc thái riêng, những đặc tính riêng biệt mà người kia không có, đôi lúc còn trái ngược nhau là khác,  nhưng vẫn có thể hòa hợp với nhau được như chanh với đường.  Tuy chanh và đường có những đặc tính khác biệt và trái ngược nhau như “chua” với “ngọt”, nhưng chính chất chua và ngọt ấy lại có thể hòa hợp với nhau làm nên một ly nước chanh ngon miệng.
          Tuy vợ chồng là một thân mình nhưng chồng vẫn là chồng, vợ vẫn là vợ, mỗi người vẫn giữ được những sắc thái riêng, không ai có quyền và cũng không có thể triệt tiêu được những khác biệt của người kia, chỉ có một cách là hòa hợp với nhau như một ly nước chanh hay một ly cà phê ban sáng.  Đúng như lời Đức Khổng Tử nói “HOÀ nhi bất ĐỒNG”: chỉ có hoà hợp với nhau chứ không có đồng nhất
          Hiểu như thế nên khi cầm lấy tấm hình chụp của mình lên xem, thisĩ Tàn Đà Nguyễn khắc Hiếu mỉm cười ngâm câu thơ rất quen thuộc mà ai cũng biết:
                                      Mình với ta tuy hai mà một,
                                      Ta với mình tuy một mà hai.
                                                (Tản Đà)
          Theo tư tưởng đó, thi sĩ Huy Cận, trong bài “Yêu nhau nhớ mấy cho vừa” có viết:
                                      Lòng ta một khối, ơi tình
                                      Chạm đâu cũng vọng nỗi mình với ta.
                                      Trong mình đã có ta trong
                                      Trong ta mình lại nấu nung bồn chồn.
                                                      (Huy Cận)
          Qua hai câu thơ của hai thi sĩ, ta thấy vợ chồng coi nhau như của nhau, trong vợ đã có yếu tố của chồng và trong chồng đã có yêu tố của vợ.  Do đó, hai người gọi nhau là “mình ơi”. Cũng vì đã kết hợp với nhau làm thên một thân mình nên hai người luôn mốn kết hợp với nhau cà thể xác cả tinh thần.
  Chuyện kể:
          Anh kia gõ cửa nhà. Có tiếng hỏi:
          - Ai đấy ?
          Anh ta đáp:
          - Anh đây.
          Cửa nhà không mở. Anh ta gõ tiếp. Tiếng vọng ra hỏi:
          - Ai đấy ?
          Anh ta đáp:
          - Mình đây.
          Cửa liền mở ra.
 
III. VỢ CHỒNG KÊT HỢP.
          Thánh lễ Hôn phối chúng ta đang cử hành đây chỉ về sự  “giao ước” tình yêu giữa Thiên Chúa và nhân loại, giữa Chúa Kitô và Hội thánh (x. Ep 5,32), giữa cô dâu và chú rể.  Khi chú rể và cô dâu rước Mình Máu thánh Chúa thì không những các con hiệp nhất với Chúa mà còn phải hiệp nhất với nhau trong giao ước tình yêu này.
          Trong cuộc sống hôn nhân, chúng con hãy cố gắng thực hiện lời thánh Phaolô khuyên như tính hữu Ephêsô mà chúng con vừa đọc trong bài đọc một vùa xong:
“Chồng phải yêu vợ như chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ ; trái lại, người ta nuôi nấng và săn sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và săn sóc Hội thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người”(Ep 5,28-30).
Khi các con đã kết hợp với nhau thành vợ chồng, thành một xương một thịt thì chỉ còn là một thân mình. Không ai có thể tách thân mình ra được. Cũng thế, sự gì Thiên Chúa đã kết hợp rồi thì loài người không thể phân ly (x. Mt 19,6) và như thế, ly dị là một điều không được phép
          Trong đời sống chung, mỗi người có một tính tình riêng do giáo dục, giới tính, dân tộc, ngôn ngữ, phong tục địa phương... mang lại, do đó dễ xẩy ra những va chạm hoặc lớn hoặc nhỏ, không thể tránh được. Muốn cho đời sống chung trở nên tốt đẹp, dễ chịu thì còn một cách là phải chịu đựng lẫn nhau, bổ túc cho nhau để làm nên một hòa điệu chung.
          Trong đời sống gia đình, nhiều khi chỉ có đôi vợ chồng hoặc với một vài đứa con, những sự va chạm xích mích cũng không thể tránh được. Trong sự chung sống hằng ngày, những sự bất hòa ngấm ngầm hay bất hòa bùng nổ, không thể tránh được những sự va chạm, không thể tránh được những lúc “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, bởi vì:
                                      Sống mỗi người một nết,
                                      Chết mỗi người một tật.
          Nếu thi sĩ Xuân Diệu nói:
                                      Nắng mưa là bệnh của trời
thì ta cũng có thể nói:
                             Cá trong lờ đỏ lơ con mắt,
                             Cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô,
                             Đời vợ chồng sớm nắng chiều mưa.
                                           (Ca dao)
“Sớm nắng chiều mưa” có nghĩa là đời vợ chồng có lúc vui lúc buồn, lúc thịnh vượng lúc gian nan, lúc khỏe mạnh lúc ốm đau. Trong mọi hoàn cảnh vợ chồng phải luôn khăng khít với nhau để cả hai trở nên một: của chồng là của vợ và của vợ là của chồng. Vợ chồng phải như hình với bóng không thể tách lìa nhau.

                             Truyện: Bà Lư Thị
Phòng-huyền-Linh, danh nho đời Đường, có vợ là Lư Thị rất đẹp, nhưng phải tính cực kỳ ghen tuông.
Lúc còn hàn vi, Phòng Huyền Linh một hôm bệnh gần chết bảo Lư Thị:
- Tôi chắc không thể nào sống được, mình còn trẻ không nên ở vậy, nếu tái giá nên ở với người chồng sau cho đàng hoành tử tế.
          Nghe nói, Lư Thị nức nở khóc đoạn vào phòng riêng, khoét một mắt bỏ đi cố ý tỏ cho chồng biết “trăm năm thể chẳng ôm cầm thuyền ai”.
          Không bao lâu, Phòng Huyền Linh khỏi bệnh.
          Sau khi ông thi đỗ, làm quan đến Tể tướng. Phong lưu, phú qúi, ông càng yêu mến kính trọng Lư Thị, nên không lấy thêm một tỳ thiếp nào nữa, trong khi các quan văn võ không ai không ba bốn năm phòng.
          Vì thế, người ta cho ông là sợ vợ. Tiếng đồn ấy đến tai vua Thái Tôn. Vua cho mời Lư Thị vào bảo:
          - Theo phép thường, các quan to vẫn có tỳ thiếp, quan tể tướng nay tuổi đã cao, Trẫm muốn ban cho một người đẹp, ý nhà ngươi thế nào ?
          Lư Thị nhất quyết không nghe, Thái Tôn nổi giận mắng:
          - Nhà ngươi không ghen thì sống, còn ghen thì phải chết !
          Mắng rồi, Thái Tôn thét lính đem ra một chén rượu  giả làm chén thuốc độc, phán:
          - Nếu chịu thì thôi, còn không phải uống chén thuốc độc này.
          Lư Thị không ngần ngại, cầm chén thuốc độc uống một hơi hết liền.
          Thái Tôn thấy vậy , lắc đầu nói:
          - Đàn bà như thế này thì trẫm cũng phải sợ, huống nữa quan tể tướng Huyền Linh.
                             (Thái Bạch, Đông tây kim cổ tinh hoa, 1965, tr 248-249).
          Thương chồng  mà thương đến nỗi dám khoét cả một con mắt để tỏ lòng chung thủy thật là thương hết chỗ nói. Lư Thị đã làm một việc can đảm phi thường, trên đời hiếm có những người như vậy.  Còn cái ghen của bà cũng là đáng sợ. Nhưng dù sao chúng ta thấy rằng Phòng Huyền Linh đã có một bà vợ hết sức chung thủy, có một không hai, nên ông chẳng những yêu mà còn phải kính nể Lư Thị nữa là khác.
          Trong cảnh sống gia đình, vợ chồng phải có quyết tâm gắn bó với nhau những khi gặp cảnh “sớm nắng chiều mưa” thực hiện lời Chúa đã dạy:”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp thì loài người không thể phân ly”
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Đà lạt


 

HP51: THỦY  CHUNG

Sách Nho có chữ:”Tào khang chi thê bất khả hạ đường”: Người vợ tấm mắn chẳng nên hất hủi HP51

Sách Nho có chữ:”Tào khang chi thê bất khả hạ đường”: Người vợ tấm mắn chẳng nên hất hủi xuống bậc hèn” (Tống Hoằng).  “Thủy chung” có nghĩa là  đầu và cuối. Việc gì cũng phải có đầu và cuối: hễ đầu xuôi thì đuôi lọt. Khởi đầu, Thiên Chúa tạo dựng nên con người, cho họ kết hợp với nhau thành một xương một thịt và dặn họ:”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,8). Nếu “Thủy” nơi Thiên Chúa là như vậy, còn “Chung” nơi loài người thì làm sao ?
 
I. TRÍCH DẪN LỜI CHÚA.
          1. Bài sách Sáng thế: 2,21-24.
          Bộ Kinh  thánh bắt đầu bằng cuốn Sáng thế ký, và sách Sáng thế lại mở đầu bằng trình thuật tạo dựng vũ trụ vật chất và con người. Hai trường hợp sáng tạo được kể, có những chi tiết khác nhau. Tuy chẳng mấy ai tin theo nghĩa đen những chi tiết này, nhưng sự khác biệt chắc chắn có ý nghĩa.
          Khi tạo dựng vũ trụ vật chất, Thiên Chúa chỉ phán:”Hãy có...” thì liền có ; và muốn nó tiếp tục sinh ra nhiều thì phán:”Hãy sinh sôi nảy nở...” Sinh sôi nảy nở thế nào không được diễn tả rõ ràng, nhưng khi tạo dựng con người, Thiên Chúa tỏ ra thận trọng hơn:”Nào Ta hãy dựng nên con người giống hình ảnh Ta”(St 1,26).  Còn để bảo tồn và phát triển, Thiên Chúa không chỉ phán:”Hãy sinh sôi...” mà còn “đạo diễn” một màn đầy ấn tượng: Ngài đã lấy xương sườn Ađam đang ngủ làm nên người nư õ(Evà), để rồi khi thức dậy, Ađam hớn hở reo lên:”Đây chính là thịt và xương tôi !... Bởi đó, người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khăng khít với vợ mình, và cả hai sẽ nên một xương một thịt”(St 2,21-24).
 
          2. Bài Tin mừng: Mc 10,6-9 ; Mt 5,27-32.
          Ai cũng biết, Đức Giêsu đến không phải để phá bỏ lề luật Cựu ước, mà là để kiện toàn. Bài Tin mừng chúng ta vừa nghe thuật truyện Chúa Giêsu trình bầy quan điểm của Ngài về luật ly dị và đa thê của thời Môsê. Ngài cho rằng Môsê đã cho phép điều đó vì “sự cứng lòng của người Do thái” (Mt 19,8), nên cần phải loại bỏ. Bởi chính lúc khời đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam, có nữ, vì thế người đàn ông đã lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy “sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”(Mc 10,6-9 ; St 2,24).
 
II.VỢ CHỒNG PHẢI TRUNG THÀNH.
          Người đàn bà trong lễ giáo Khổng Mạnh phải tuyệt đối chung thủy, phải tuyệt đối trung thành với chồng mình. Họ phải giữ cái đạo “Tam tòng”:
                                      Tại gia tòng phụ,
                                      Xuất giá tòng phu,
                                      Phu tử tòng tử.
          Nghĩa là: người con gái ở nhà thì theo cha, đi lấy chồng thì theo chồng, chồng chết thì theo con.       
          Chữ “chung thủy” của người xưa thật đáng ca tụng, nhưng tôi thấy nó rất thiên lệch và không công bằng. Lễ giáo của Khổng Mạnh đã áp đặt chặt chẽ trên người đàn bà, trong khi đó thì người đàn ông lại được thả lỏng:
                                      Trai thì năm thê bảy thiếp,
                   trong khi đó thì:
                                      Gái chính chuyên chỉ có một chồng.
                   và nếu có một vợ một chồng thì theo sự diễn tả một cách châm biếm, đó là:
                                      Nhất phu nhất phụ,
                                      Mỗi mụ mỗi nơi.
                   Còn thời nay thì sao ?
          Đối với xã hội Tây phương thì chữ “chung thủy” thời nay đã biến mất. Người ta thay vợ đổi chồng như thay áo.  Có nơi số đôi hôn phối ly dị đến 50%, thậm chí có nơi đến gần 70%. Cái hôn ước không còn giá trị nữa. Chính vì thế mà gia đình bị lung lay tận nền tảng , tận gốc rễ để rồi đi đến chỗ đổ vỡ chỉ vì những lý do không đâu.  Còn ở Việt nam thì sao ?
                                      Truyện: trên chuyến xe đò.
          Có một lần trên chuyến xe đò đi Sàigòn, tôi được nghe mẩu tâm sự vụn giữa mấy bà mấy cô với nhau. Bà thì than rằng ông chồng của mình bê bối. Bà thì bực tức thấy ông nhà đèo bòng mà chẳng làm gì được. Nói ra thì xấu thiếp hổ chàng, còn để vậy thì ấm ức trong lòng. Sau cùng, có một bà kết luận: chỉ có mấy bà Công giáo là sướng. Đạo của họ cấm chỉ việc lang bang. Dù sao chăng nữa, thì họ cũng vẫn một lòng một dạ với nhau.
          Nghe mẩu tâm sự ấy, tôi cũng thấy mừng vì từ ngàn xưa và cho đến ngày hôm nay, sự chung thủy, một vợ một chồng vốn dĩ đã là nét son của hôn nhân Công giáo.
          Ai cũng biết hôn nhân Công giáo là một khế ước song phương được ký kết giữa hai người. Hôn ước của đạo Công giáo có hai đặc tính là đơn nhất và vĩnh viễn. Không ai có thể hủy bỏ hôn ước khi cả hai người còn sống.
 
          Nếu chúng ta đòi buộc người bạn đời phải tuyệt đối trung thành với mình, thì chúng ta cũng phải có bổn phận phải tuyệt đối trung thành với người bạn đời như thế.  Chúng ta không thể nào chấp nhận những chia sẻ vụng trộm của người bạn đời thì chúng ta cũng không được chia sẻ tình yêu một cách thầm lén cho kẻ khác không phải là người bạn đời của mình. Nếu như hành vi thầm lén vụng trộm của chúng ta bị đổ bể, bởi vì “đi đêm có ngày gặp ma”... thì lúc bấy giờ chắc chắn dư luận sẽ không buông tha chúng ta và gia đình ta chắc chắn sẽ gặp nhiều sóng gió.
          Tuy nhiên, xưa cũng như nay không thiếu gì những gương cao đẹp về sự trung thành của vợ chồng trong những gian nan thử thách.
 
                                      Truyện:  gương sáng của Án Tử.
          Án Tử, người nước Tề, nổi tiếng là một người thanh liêm. Xuất thân từ một gia đình nghèo, Án Tử được vợ hy sinh buôn tảo bán tần để mình ăn học. Đỗ đạt làm quan, Án Tử không bao giờ quên được ơn ấy của vợ. Cuộc sống đầy cạm bẫy, ông vẫn một lòng trung thành với vợ.
          Một hôm vua Cảnh Công đến thăm ở lại dùng bữa với Án Tử. Một người đàn bà đã già xuất hiện trong bữa tiệc. Khi Án Tử vừa giới thiệu người đàn bà đó là vợ mình, nhà vua ngạc nhiên đến sửng sốt. Ông đề nghị với Án Tử:
          - Ôi, vợ khanh trông vừa già lại vừa xấu. Quả nhân có một đứa con gái vừa trẻ vừa đẹp, quả nhân muốn cho về hầu, khanh nghĩ sao ?
          Án Tử trả lời một cách dứt khoát, không chút do dự:
          - Nội tử của tôi nay thật già và xấu. Nhưng chúng tôi đã lấy nhau và ăn ở với nhau bao lâu nay, kể từ khi nàng còn trẻ đẹp.  Xưa nay, đàn bà lấy chồng lúc còn trẻ cốt để nhờ cậy lúc tuổi già, lấy chồng lúc đẹp để nhờ cậy khi xấu. Nội tử tôi thường nhờ cậy tôi cũng như tôi đã từng nhận sự giúp đỡ của nội tử tôi. Nay, bệ hạ muốn ban ơn mưa móc là tùy ở bệ hạ, nhưng xin đừng để tôi phải mang tiếng ăn ở bội bạc với nội tử tôi.
          Nói xong, Án Tử lạy hai lạy, xin từ chối không lấy con gái của nhà vua.
                                      (Lẽ sống, tr 302).
          KẾT LUẬN
          Sau  hết, anh chị hãy hiểu và ý thức lời hứa hôn mà anh chị sắp đọc lên cũng như lúc xỏ nhẫn để anh chị phải trung thành với nhau qua mọi cảnh huống của cuộc sống: khi vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như khi thất bại, khi mạnh khỏe cũng như lúc yếu đau, để yêu thương, để nâng đỡ và để cùng dìu nhau bước đi trong cuộc sống: “Hãy nhận lấy chiếc nhẫn này để làm bằng chứng tình yêu và trung thành của nhau”:
                                      Nói lời hãy giữ lấy lời,
                             Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.
                                              (Ca dao)
          Anh hãy suy nghĩ và cố thực hiện được câu nói đầy ý nghĩa của Tốâng Hoằng
                             “Tào  khang chi thê bất khả hạ đường”.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HP52: TÌNH YÊU HIẾN TẾ

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
                   Chúng ta đọc: Lc 22, 14-20 . 1Cr 11, 23-27.
          Khi giờ đã đến, Chúa Giêsu muốn ăn lễ Vượt qua với các môn đệ lần cuối cùng, Ngài nói:”Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với các con trước khi chịu khổ hình” (Lc 22,15). Chúa Giêsu theo mọi lễ nghi phong tục Do thái, nhưng trong bữa ăn này, ngoài nghi lễ bình thường, Người làm một việc lạ lùng chưa từng nghe, chưa từng thấy và không thể tượng được: Ngài lập Bí tích Thánh Thể. Thánh Luca thuật lại: “Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói:”Đây là Minh Thầy, hiến tế vì các con. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói:”Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì các con”(Lc 22,119-20).
 

Chúa Giêsu yêu thương chúng ta, yêu đến tận cùng như Ngài đã nói trước:”Không có tình yêu HP52

Chúa Giêsu yêu thương chúng ta, yêu đến tận cùng như Ngài đã nói trước:”Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu”(Ga 15,13). Thân phận chúng ta là những người tội lỗi phải hư đi đời đời, nhưng vì yêu thương Người đã hy sinh đổ máu mình ra  trên cây thập giá để rửa sạch tội lỗi chúng ta, chuộc lại chúng ta làm con Chúa và được thừa hưởng Nước Trời. Người lại còn muốn ở lại với chúng ta cho đến ngày tận thế nên đã biến mình máu Người làm của ăn nuôi linh hồn chúng ta.
          Đây là một tình yêu cao vời không gì có thể sánh ví được. Tình yêu của Chúa không dừng lại ở mức độ ban ơn cho chúng ta , nhưng tình yêu ấy thúc đẩy Người hiến tế cả con người mình để đem hạnh phúc cho con người, như Người đã nói:”Đây là mình Thầy, hiến tế vì các con”, nên chúng ta phải gọi tình yêu này là Tình yêu hiến tế.
II. NHÌN VÀO ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN.
          1. Hôn nhân và tình yêu.
          Tình yêu là nền tảng của hôn nhân. Hôn nhân không có tình yêu thì không bền vững, giống như một ngôi nhà được xây trên cát. Vì thế người ta mới nói:”Hôn nhân không tình yêu là một ngày thiếu rạng đông”(Alphonse Karr). Chính tình yêu đã nối kết hai người lại nên một để làm thành một gia đình:”Họ không còn là hai nhưng là một xương một thịt”(Mc 10,8). Tình yêu và hôn nhân phải liên kết với nhau, không thể chia lìa như hình với bóng.
          Công đồng Vatican II định nghĩa rằng:”Tình yêu là một hành vi nhân linh của con người, đến với con người bằng một tình cảm tự  ý, do đó bao gồm hạnh phúc toàn diện của con người” (Gaudium et spes, số 49). Nói thế, công đồng xác định rằng tình yêu là hành vi con người. Hành vi ấy có khả năng đem lại hạnh phúc nhờ chính sự tự do của mỗi người trong đời sống tình cảm của mình. Nói khác đi, tình yêu là một hành vi nhân linh vì nó cho con người có khả năng làm người đúng nghĩa.
          2. Tình yêu hiến tế.
          Chúng phải công nhân rằng tình yêu nối kết hai người lại với nhau, kết hợp với nhau để làm thành gia đình. Nhưng tình yêu ấy là tình yêu nào ? Thưa, đó là “Tình yêu hiến tế”.  Nhìn vào Chúa Giêsu, ta thấy Ngài đã có tình yêu ấy đối với chúng ta. Ngài yêu thương chúng ta một cách vô vị lợi, tình yêu ấy phải được gọi là Tình yêu hiến tế.  Chính vì vậy, Ngài đã hiến tế thân mình bằng cách chịu chết trên cây thập tự để cứu chuộc chúng ta và còn biến mình máu Ngài làm của ăn nuôi linh hồn chúng ta.
          Trong cuộc sống hôn nhân cũng vậy, vợ chồng phải yêu thương nhau bằng một tình yêu hiến tế, nghĩa là vợ chồng biết hy sinh cho nhau, quên đi bản thân mình để mưu cầu hạnh phúc cho bạn mình.  Một tình yêu thiếu hy sinh chưa hẳn là tình yêu thật mà chỉ là một tình cảm nhất thời chóng qua. Tình cảm thì không bền vững, nó có thể trồi sụt, dễ dàng biến mất. Và khi tình cảm đó biến mất thì gia đình cũng sẽ tan vỡ. Tình yêu hiến tế làm cho vợ chồng càng khắn khít với nhau, dám hiến thân cho nhau, quên đi những quyền lợi của mình để chỉ nghĩ đến hạnh phúc người yêu:
                             Sông hồ một giải con con                       
                             Gặp cơn sóng gió chớ non tay chèo.
                             Yêu nhau sinh tử cũng liều,
                             Thương nhau lặn suối qua đèo có nhau.
                                           (Ca dao)

          3. Hôn nhân và tử đạo.
          Có một danh nhân nói:”Tôi luôn khâm phục những vị anh hùng, kẻ anh hùng nhất là người dám LẬP GIA ĐÌNH”.  Câu nói này có vẻ cường điệu quá chăng ? Vậy hễ lập gia đình là trở thành anh hùng cả sao ?  Tuy nhiên, câu nói trên đứng về một phương diện nào đó cũng có ý nghĩa của nó, vì những người đi lập gia đình không thể nắm vững được tương lai như thế nào, không thể đo lường được con đường phía trước với đầy gian nan, bất trắc có thể xẩy ra bất cứ lúc nào.  Nhất là từ khởi điểm là con số không mà hai người dám tuyên hứa sẽ gắn bó với nhau suốt đời để tạo lập tương lai sự nghiệp...
          Mặt khác, nhìn vào thực tế, có rất nhiều gia đình rơi vào những hoành cảnh rất éo le, bi đát hoặc do chính mình tạo ra hoặc do hoàn cảnh gây nên. Những ai sống trong hoàn cảnh đó mà vẫn trung thành với đời sống hôn nhân thì họ xứng đáng được gọi là anh hùng, anh hùng không tên tuổi, đáng mọi người khâm phục. Nếu ta gọi họ là những “Anh hùng tử đạo” thì điều đó có quá đáng không ? Có lẽ không quá đáng ! Phụng vụ Chính thống giáo nói lên khía cạnh ấy qua nghi thức “đội vương miện” trong thánh lễ hôn phối.
          Trong nghi lễ đó, mỗi người (chồng và vợ) nhận một Vương miện. Mũ miện trong Giáo hội Chính thống là dấu chỉ của sự vinh quang, vương quyền của Thần Khí và cũng là dấu chỉ của việc tử đạo luôn đi kèm. Khi người nam và người nữ được liên kết với nhau qua bí tích mà Linh mục ban cho họ, nghi thức này đến nhắc nhở cho họ rằng mỗi người phục vụ sự thánh thiện của người kia, và đời họ phải tự dâng hiến, tự trao ban.
          Linh mục dọc trong khi đội mũ miện lên đầu người chồng sắp cưới:”Tôi tớ của Thiên Chúa ông X nhận nữ tỳ của Thiên Chúa Y làm mũ miện, nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”.  Linh mục cũng đọc  trong khi đội mũ miện  lên đầu người vợ sắp cưới:”Nữ tỳ của Thiên Chúa Y nhận tôi tớ X của Thiên Chúa làm mũ miện, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.
          Mỗi người nhận mũ miện nhân danh người kia, với ý nghĩa là mỗi người sẽ là triều thiên tử đạo của người kia và không được tách sự đau khổ với vinh quang.
          Sau đó đôi vợ chồng đầu đội mũ miện theo sau Linh mục, đi vòng quanh sách Tin mừng ba lần để chỉ là từ nay cuộc sống chung của họ sẽ đặt Đức Kitô và Tin mừng của Ngài làm trung tâm. Đôi tân hôn uống cùng một chén của cuộc sống chung và cộng đoàn hát:”Ôi ! Lạy các thánh Tử đạo, những vị đã chiến đấu anh dũng mà nay đã được đội mũ triều thiên trên trời, xin cầu Thiên Chúa đến cứu linh hồn chúng tôi”.
          Đôi vợ chồng bây giờ đã trở thành một “Giáo hội vi mô” theo lời thánh Gioan Kim khẩu, được dành riêng để biểu lộ – cũng như Thánh Thể – “mối tình quá lớn” của Thiên Chúa cứu nhân độ thế.
          Chúng ta khó lòng hiểu được những lời trên đây vì chúng ta sợ khổ và tệ hơn nữa, chúng ta sợ mất mạng khi hiến dâng không dè xẻn. Vậy mà Đức Giêsu đã báo trước:”Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của kẻ hy sinh mạng sống vì bạn mình”(Ga 15,13)
          Và nhiều người trong chúng ta có thể làm chứng rằng điều khiến họ “hy sinh” nhiều nhất vì yêu lại là điều đem lại cho họ niềm vui lớn nhất và sự triển nở hoàn toàn nhất.
                             (G. Blaquìere, Dám sống tình yêu, tr 94-95)
          Hôn nhân là một nhu cầu cần thiết của con người mà đã đi vào đời sống hôn nhân là phải đau khổ giống như hoa hồng thì phải có gai. Mà nếu không lập gia đình thì cũng khổ vì người ta cảm thấy cuộc đời luôn trống vắng, luôn thiếu nhu cầu tình cảm để chia sẻ:
                             Tròng trành như nón không quai
                             Như thuyền không lái, như ai không chồng.
                             Gái có chồng như gông đeo cổ,
                             Trai không vợ như phản gỗ long đinh.
                                            (Ca dao)
          Có một thanh niên hỏi nhà hiền triết Socrate rằng:
          - Thưa thầy, con có nên lấy vợ không ?
          Nhà hiền triết trả lời:
          - Dù muốn hay không, đàng nào anh cũng sẽ hối hận.
          Nhà hiền triết trông thấy trước cái thế giằng co của những người chuẩn bị lập gia đình: lập gia đình thì khổ mà không lập gia đình thì cũng khổ, điều đó làm cho người ta tiến thoái lưỡng nan. Tuy thế, tuyệt đại đa số con người đều lập gia đình giống như trường hợp hai anh chị đây, chỉ có một số người có ơn gọi đặc biệt vì Nước Trời mới sống độc thân. Vậy chỉ còn có một cách là cứ lập gia đình và sẵn sàng chịu mọi rủi ro, chấp nhận hiện trạng của gia đình và phấn đấu tìm mọi cách làm thăng tiến gia đình qua sự cầu nguyện và năng chịu các phép Bí tích. Lúc đó, hạnh phúc nằm sẽ ở trong tầm tay bạn.
          Dầu sao đi nữa, chúng ta phải theo nguyên tắc này:”Per crucem ad lucem”: qua thập giá tiến tới vinh quang vì lửa thử vàng gian nan thử đức, không ai có thể ngồi mát ăn bát vàng...

                                      Truyện vui minh hoạ
          Người kia chết, linh hồn được lên thiên đàng. Khi đến cửa thiên đàng, gặp thánh Phêrô đang gác cửa. Ngài chặn lại hỏi:
          - Anh đã qua lửa luyện ngục chưa ?
          Anh ta đáp lại:
          - Thưa chưa. Nhưng con là người đã có vợ !
          Thánh Phêrô cười bảo:
          - Thôi được, vào đi.
Lm Giuse Đinh lập Liễm,
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP53: BÁT  PHỞ

Vui buồn trong đời vợ chồng
I. HUẤN DỤ CỦA THÁNH PHAOlÔ.
 

Chúng ta biết gia đình là nền tảng của Hội thánh và cũng là nền tảng của xã hội. Nền có vững HP53

Chúng ta biết gia đình là nền tảng của Hội thánh và cũng là nền tảng của xã hội. Nền có vững, ngôi nhà mới có thể đứng vững được. Ý thức được điều đó, thánh Phaolô đã khuyên nhủ những gia đình Kitô giáo đầu tiên phải sống thế nào cho đẹp lòng Chúa và có hạnh phúc. Ngài đã khuyên các tín hữu Colossê bằng những lời này:
“Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫb nại. Hãy chịu đựng và tha thứ chi nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,12-13).
 Những lời khuyên làm nổi bật sắc thái thánh thiện và tốt đẹp của gia đình Kitô giáo.
          Ngài còn ví tình yêu vợ chồng với tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội thánh. Chúa Kitô yêu Hội thánh thế nào thì Hội thánh cũng phải đáp lại bằng tình yêu ấy. Cũng thế, người chồng phải yêu thương vợ như tình yêu của Chúa Giêsu đối với Hội thánh. Đáp lại, người vợ cũng phải yêu chồng như mối tình của Hội thánh đối với Chúa Kitô.
 
II. THỰC TẾ NHƯ THẾ NÀO ?
          Tuy thế, không phải lúc nào gia đình cũng êm ấm, trên thuận dưới hòa, êm lặng như mặt nước hồ thu. Mặt hồ đôi lúc cũng gợn sóng. Trời cũng có khi mưa khi nắng, có khi âm u , có khi quang đãng, đôi lúc nổi giông tố nữa như những cơn bão mùa hè vừa qua.  Đấy là bệnh của trời, con người đôi lúc cũng có bệnh, cho nên người ta nói:
                                      Nắng mưa là bệnh của trời,
                                   Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
                                                  (Ca dao)
          Chồng yêu vợ thật, nhưng cũng không thể tránh được những va chạm nhỏ nhặt thường ngày. Tương tư là bệnh của chàng . Đúng ! Lúc mới yêu, nhất là lúc tương tư thì chàng coi nàng như một “nữ hoàng”, chiều chuộng, săn sóc tỉ mỉ, không dám làm mất lòng nàng.  Đáp lại, nàng gọi chàng là “hoàng tử của lòng em”, nàng coi chàng là một mẫu người lý tưởng đáng ước mơ, cái gì của chàng cũng tốt, cũng đẹp, cũng hay.
          Nhưng sống với nhau một thời gian, “nằm trong chăn mới biết chăn có rận” (tục ngữ), qua những chung đụng hằng ngày, hình ảnh “nữ hoàng, nàng tiên hay hoàng tử của lòng em” không còn nữa mà thay vào đó là hình ảnh đen tối “con đĩ kia” hay “thằng qủi này”.  Qua những va chạm hằng ngày, tình yêu thuở ban đầu không còn nữa, những xích mới nảy ra, tuy nhỏ mọn nhưng quan trọng, nếu không biết kiềm chế sẽ đi đến đổ vỡ.
          Theo nhận xét của tác giả Hồng Ngọc trong báo Kiến thức gia đình, nhiều cặp trai gái thích hào nhoáng bên ngoài, mà khi “ván đã đóng thuyền” rồi, thì ở nhiều cặp vợ chồng các vụ xung đột thường xẩy ra. Nguyên nhân chủ chốt của vấn nạn này không ngoài việc họ có quan niệm không đúng về gia đình. Ở đây có 3 vấn đề cần quan tâm:
          1. Họ chưa ý thức được hôn nhân là một khởi điểm cho một tương lai lâu dài với nhiều bất trắc khó lường. Họ nghĩ nhầm rằng mở ra cánh cửa hôn nhân là đã bước vào cõi thiên đường.
          2. Họ quên mất rằng, sau hôn nhân rất cần đến sự chiếm hữu lấy tình yêu  bằng cách cần phải cố gắng để người bạn đời của mình yêu thích mình hơn, qúi trọng mình hơn nữa.
          3. Khi giáp mặt với sự nhiêu khê trắc trở, với thực tế phũ phành của đời sống, trong gia đạo, họ giải quyết một cách đơn giản và tai hại  bằng cách tìm niềm vui và sự bình an ở bên ngoài cánh cửa gia đình.
                             (Hồng Ngọc, Kiến thức gia đình, số 59, tr 60)
 
III. GIẢI QUYẾT THẾ NÀO ?
          Tôi xin đưa ra một ví dụ: “bát phở”. Ai trong chúng ta cũng đã từng ăn phở, đã có chút ít kinh nghiệm về một bát phở ngon. Một bát phở thơm ngon không chỉ do nước giùng, bánh phở, mấy miếng thịt bò hay gà, mà còn phải có đủ hành tỏi, nước mắm, hồ tiêu, lá húng, lá ngò, chanh và ớt... Nhờ những gia vị lỉnh kỉnh đó mà người ăn mới khoái khẩu, mới thấy mùi vị thơm ngon của bát phở, đặc biệt là vị chua của chanh, vị cay của ớt. Nhiều người khi cắn miếng ớt vào miệng cay chảy nước mắt, toát mồ hôi, nhưng nếu thiếu ớt lại không chịu được. Dường như ăn phở mà thiếu ớt, thiếu lá thơm, thì không còn cái thú của phở nữa. Chưa hết ! Bát phở còn phải nóng, hơi bốc ngùn ngụt, ăn vào là chảy cả mồ hôi mồ kê ra, chảy cả nước mắt nước mũi ra...thế mới là bát phở thơm ngon.
          Nói theo quan điểm triết học, thì trong cay đắng vẫn có ngọt bùi ; hoặc ngược lại, trong ngọt bùi vẫn có cay đắng. Và trong cái cay chua hay đắng đót của cuộc đời, vẫn tiềm tàng những yếu tố của hạnh phúc.
          Cuộc sống hôn nhân cũng như bát phở. Hương vị thơm ngon của nó là do những gia vị của cuộc đời vui, buồn, cay, đắng và mặn nồng.
                             (Trần mỹ Duyệt, Bí quyết của Hạnh phúc hôn nhân, tr 116)
          Cuộc đời là như thế, có tránh cũng không được, chỉ còn cách duy nhất, cho nó một ý nghĩa cao đẹp. Chúng ta hãy bắt chước những đồng bào ở vùng đồng bằng sông Cửu long, năm nào cũng bị lũ lụt tàn phá vì ở vào vùng trũng, không thể tránh được. Cực khổ. Nhưng chịu vậy sao ? Người ta có một giải pháp rất hay là “sống chung với lũ”.
          Francois Mauriac nói:”Thiên Chúa đã đến kết hôn với đau khổ của con người để trao cho nó một ý nghĩa đồng thời với một giá trị”. 
          Chấp nhận những đau khổ của cuộc đời là cần thiết và có ích.
          P. Charles cũng nói:”Từ khi Đức Kitô đến, chúng ta được giải thoát không phải là khỏi chịu đau khổ, nhưng khỏi chịu đau khổ một cách vô ích”.
          KẾT LUẬN
          Chúng ta chưa đạt tới hạnh phúc trong gia đình mà còn đang trên cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc. Được đến đâu hay đến đó, như người ta thường nói:”Được hoa mừng hoa, được nụ mừng nụ”.  Hạnh phúc được đến đâu cũng hãy cảm tạ Chúa, hãy bằng lòng với hoàn cảnh của mình, đừng “đứng núi nọ trông núi kia cao”. Hãy thực hiện câu nói của người xưa:
                   Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc,
                   Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thởi nhàn
          Nghĩa là:
                   Biết đủ, coi là đủ; đợi đủ bao giờ mới đủ,
                   Biết nhàn, coi là nhàn; đợi nhàn bao giờ mới nhàn.
          Chúng ta hãy trông cậy Chúa vì Ngài không bỏ ai biết trông cậy vào Ngài:”Hãy xin thì sẽ được”. Ta hãy cầu xin cho mọi người và cách riêng cho đôi tân hôn biết chấp nhận mọi “lỉnh kỉnh” của cuộc đời và mặc cho nó một ý nghĩa cao qúi.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HP54: LO  ÂU

Các con đừng sợ (Mc 5,36)
I. AI CŨNG CÓ LO ÂU.
 

Trong cuộc sống hằng ngày, ai mà không có lo âu ? Lo âu là tình trạnh bất an trong tâm hồn trước HP54

Trong cuộc sống hằng ngày, ai mà không có lo âu ? Lo âu là tình trạnh bất an trong tâm hồn trước những sự việc xẩy ra không hợp với ý mình.
          Cuộc sống rất phức tạp, có nhiều thứ lo sợ: lo sợ về đời sống vật chất, lo sợ về đời sống tinh thần, lo sợ trong hiện tại, lo sợ cho tương lai. Sợ hãi lo âu nào cũng có chung một đặc tính: đó là dấu chỉ của sự yếu đuối, sự bất lực của con người. Thấy mình không đủ khả năng đương đầu với khó khăn nên mới lo sợ.  Sự sợ hãi làm dang dở cuộc đời: “Lo bạc đầu, sầu bạc tóc”.
          Người ta nói đời buồn nhiều hơn vui. Thời gian của một đời người dường như lo âu  nhiều hơn thong thả. Bao nhiêu lo lắng trong một ngày.  Khi một đứatrẻ được sinh ra thì người ta nói là: cất tiếng khóc chào đời. Không thấy một đứa trẻ nào cười mà chỉ có khóc ? Nếu nó không khóc thì người ta phải đánh cho nó khóc lên một tiếng. Có lẽ vì thế mà thi sĩ Cao bá Quát mới nói:
                                      Vừa sinh ra sao đà khóc chóe,
                                      Đời có vui sao chẳng cười khì ?
          Tư tưởng đó cũng được thi sĩ Nguyễn gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc họa theo:
                                      Thảo nào khi mới chôn nhau,
                                       Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.
 
II. LO ÂU TRONG TIN MỪNG.
          Chúa Giêsu biết con người gặp nhiều lo âu trong cuộc sống nên mỗi khi con người gặp phải lo âu sợ hãi, Ngài lại khuyên:”Đừng sợ”.  Chúng ta thấy Kinh thánh lặp đi lặp lại hai chữ này tới 365 lần, đủ cho mỗi ngày một câu.
          1. Trước hoang mang:
          Tâm trạng nào đã xẩy đến cho Đức Maria trong ngày Truyền tin ?  Một người thiếu nữ không chồng mang thai.  Làm sao cắt nghĩa điều đó cho xã hội ? Cô sẽ bị ném đá chết.  Còn tai tiếng cho dòng họ thì sao ? Trước nỗi hoang mang lo sợ ấy, thiên thần đã nói với Maria rằng:”Đừng sợ” (Lc 1,30).
 
          2. Trước khó khăn:
          Biết Maria mang thai, thánh Giuse không có câu trả lời. Những ngày đó thánh Giuse phải xao xuyến vô cùng đến độ Ngài” định tâm bỏ bà cách kín đáo”. Nếu bỏ Maria, Giuse trốn đi đâu ? Làm sao giữ kín mãi chuyện Maria mang thai ? Nếu lộ ra, những gì sẽ xẩy đến ? Giuse phải làm chứng thế nào trước công hội ? Trước khó khăn như thế, sứ thần bảo:”Giuse, đừng sợ” (Mt 1,20).
          3. Trước tuyệt vọng:
          Tin Mừng thuật về nỗi tuyệt vọng của các môn đệ như sau:”Một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước” (Mc 4,37). Trong kinh hoàng ấy, ai dám mong sống sót ? Thế mà Chúa Giêsu bảo:”Đừng sợ” (Mc 4,40 ; Mt 8,26).
          4. Trước đau đớn:
Người con gái ông trưởng hội đường sắp chết, ông phải thân hành bỏ nhà đi tìm Đức Giêsu, hy vọng Ngài cứu nó. Người ta khóc lóc kêu la. Con ông đã chết . Người ta nói với ông rằng không còn cách nào cứu vãn nữa. Trong cảnh đau đớn ấy, Chúa bảo ông:”Đừng sợ” (Mc 5,36).
          Ngoài ra chúng ta còn thấy rất nhiều trường hợp hai chữ “Đừng sợ” còn được dùng rất nhiều để khuyên bảo con người hãy tin tưởng vào Chúa để bớt sợ hãi đi:
          * Thiên thần nói với mục đồng: Đừng sợ.
          *  Khi các môn đệ thấy bóng Chúa đi trên mặt biển, các ông kinh hoàng, Chúa bảo:”Đừng sợ”.
          * Bà Maria Madalena hoang mang trước mộ bia, Chúa bảo bà:”Đừng sợ”
          Sự sợ hãi ám ảnh mọi người, đâu cũng có sợ hãi.  Sự sợ hãi làm cuộc sống thành sống mà không sống thực. Đức Kitô không muốn tôi sống trong lo âu khổ sở như thế. Ngài bảo:”Đừng sợ”.
 
III. LO ÂU VÀ TƯƠNG LAI.
          Ta thấy sự sợ hãi và lo âu gắn liền với tương lai. Khi Chúa nói về nỗi lo lắng, Chúa cũng đề cập tới tương lai.  Vậy tương lai và lo âu có những liên hệ nhu thế nào ?
          Suy nghĩ về lo sợ, ta thấy sợ hãi và lo âu gắn liền với tương lai.  Lo người không chung thủy, lo tình yêu đau khổ, lo con cái không thành danh, lo công ăn việc làm, lo thất bại, lo người ta hiểu lầm. Tất cả mọi lo lắng đều liên hệ đến tương lai. Khả năng suy nghĩ về ngày mai kéo nỗi lo tới.
          Tương lai là điều chưa có thật nên những gì ta lo lắng cũng  là lo lắng cái chưa có thật.
          * Thí dụ: Tôi lo lắng không biết ngày mai gặp người  ấy, họ nghĩ gì về tôi,  không biết ngày mai tôi phải trả lời ra sao cho một vấn đề. Những đau khổ ấy chưa xẩy tới nên nó chưa phải là điều có thật. Tuy nhiên, cuộc sống tôi lúc này khốn khổ vì lo âu, điều khốn khổ đó lại là sự thật trong hiện tại.
          * Thí dụ  khác: Bạn đau khổ, lo mười năm nữa hôn nhân con cái mình có hạnh phúc hay không . Lúc này bạn đang đau khổ, còn chuyệbn hôn nhân kia có đau khổ hay không thì năm mười năm nữa mới xẩy ra. Như thế, ta lấy cái đau khổ thật để sống trong lo âu về một đau khổ chưa có thật.
                             (Nguyễn tầm Thường, Cô đơn và sự tụ do, tr 131)
 
IV. PHẢN ỨNG TRƯỚC ÂU LO.
          Lo âu cũng như bó dây leo trên đường đi, một là nó cuộn chân ta, giữ chân lại, hai là ta dẫm trên nó mà đi. Không còn cách nào khác. Cho nên ta phải đương đầu với lo âu và sợ hãi, không để cho nó chi phối đời ta:
                                                Chớ thấy sóng cả mà lo,
                                      Sóng cả mặc sóng, chèo cho có chừng.
                                                            (Ca dao)
          Nếu tôi hỏi đôi bạn trẻ: các con có nỗi lo âu gì cho tương lai không ? Chắc chắn các con sẽ trả lời: Có chứ !  Nếu tôi hỏi tiếp: Nỗi lo lắng nhất hôm nay là gì ? Chắc chắn các con sẽ trả lời: đó là hạnh phúc gia đình.
          Đúng, khi lập gia đình thì ai cũng muốn tìm đến hạnh phúc, hạnh phúc gia đình.  Hạnh phúc này ở trong tầm tay, nhưng nó cũng có thể vuột xa cánh tay của chúng ta.
          Hôm nay, Chúa cũng thông cảm với nỗi lo lắng của chúng con.  Chúng con hãy bình tình và tin tưởng vì Chúa đã nói:”Các con đừng sợ, vì sự khốn khó ngày nào đủ cho ngày ấy” (Mt 6,34)
          Chúa Giêsu cho biết:”Không có Thấy các con không thể làm chi được” (Ga 15,5) vì chúng ta yếu đuối.  Nhưng Ngài lại nói thêm:”Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ thì sẽ mở cho” (Mt 11,9) với lòng tin tưởng vào lời Chúa phán ta có thể nói như thánh Phaolô:”Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4,13).
          KẾT LUẬN.
          Nỗi lo âu trước nhất của đôi bạn trẻ trước đây là:   
                                      Một mình lo bảy lo ba
                               Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên.
                                               (Ca dao).
          Nỗi lo ấy hôm nay đã được giải tỏa, không còn lo già hết duyên nữa. Công việc chính lúc này và trong tương lai là lo sao cho có hạnh phúc gia đình.
          Hãy tin tưởng vào lời Chúa: Đừng sợ.
          Hãy cậy nhờ Chúa: Hãy xin thì sẽ được.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HP55: XÂY  NhÀ

__________________________________
Tiêu chuẩn  để lựa chọn
I. LỜI CHÚA.
          Hãy đọc và suy niệm Lời Chúa: Mt 7,21-27.
 

Chúa Giêsu đã nói “Ai yêu mến Thầy thì phải giữ lời Thầy” (x. Ga 15,10). Nghe và hiểu biết lời HP55

Chúa Giêsu đã nói “Ai yêu mến Thầy thì phải giữ lời Thầy” (x. Ga 15,10). Nghe và hiểu biết lời Ngài cũng chưa đủ, còn phải đem ra thực hành trong đời sống hằng ngày.  Chúa Giêsu ví người nghe và thực hành Lời Chúa như người khôn ngoan xây nhà trên nền đá vững chắc, gió táp mưa sa  cũng không làm cho ngôi nhà lay chuyển vì nhà được xây trên nền vững chắc.
          Trái lại, nghe lời Chúa mà không đem ra thực hành thì giống như người ngu chỉ xây nhà trên cát, nếu có mưa sao bão táp, nuớc ùa vào sẽ làm cho ngôi nhà bị đổ.
          Người đời ai cũng có kinh nghiệm về việc xây nhà: ngôi nhà càng cao nền càng phải vững chắc. Báo chí đã đưa tin là biết bao ngôi nhà tự nhiên bị đổ xuống đè chết nhiều người. Nguyên nhân từ đâu ? Người ta đều kết luận là nền không vững chắc vì bất cứ lý do nào.
          Khi kết hôn, người ta cũng dùng cụm từ quen thuộc: Xây dựng gia đình.  Xây dựng gia đình cũng như xây dựng một ngôi nhà cần phải có nền tảng vững chắc. Vậy nền tảng ấy là gì  ?
 
II. CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG.
          1. Xây dựng nhà cửa.
          Ngày nay, kinh tế phát triển, nhà cửa đang được mộc lên như nấm, rất đa dạng.  Có những vùng sình lầy đã trở thành những dẫy nhà cao tầng kiên cố và khang trang.  Khi xây nhà người ta phải để ý đến nền móng, làm sao cho vững chắc. Nền móng yếu sẽ làm cho ngôi nhà bị nghiêng hoặc bị đổ. Báo chí cho biết có những ngôi nhà 5, 7 tầng lầu bị nghiêng ở bên Thái lan, và siêu thị hay cửa hàng tổng hợp 4 tầng bên Nam hàn bị sập, đã chôn vùi hơn 400 người.
          2. Xây dựng gia đình.
          Khi xây dựng gia đình, người ta cũng phải để ý đến nền móng của nó.  Tòa nhà hôn nhân phải được xây dựng trên nền móng vững chắc hay yếu ơt ?  Hay nói khác đi, khi chọn người bạn trăm năm thì phải chọn theo tiêu chuẩn nào ?
          a) Trên nền không vững chắc.
          Người ta được tự do chọn người bạn trăm năm, không ai có quyền ép buộc nhưng họ phải nhận lấy hậu quả của việc lựa chọn ấy.  Nếu họ chỉ chọn bạn trăm năm dựa theo tiền tài, chức quyền, tài năng, sắc dục... thì họ xây tòa nhà hôn nhân trên cát vì những thứ ấy không vững chắc.  Nếu những thứ ấy biến đi, liệu tòa nhà hôn nhân có thể đứng vững được không ?  Hoặc ai có thể cứu vãn  cho ngôi nhàtrong tình thế nguy hiểm ấy ?
          Phải biết trước nhân tình thế thái: những lời thề hứa với nhau trong ngày thành hôn không bảo đảm cho họ một tương lai vững chắc. Khi xẩy ra một sự cố, khi những tính toán ban đầu không được thực hiện thì người ta có thể thẳng thừng mà nói với nhau như thế này:
                                      Bây giờ tiền hết gạo không,
                                      Anh ơi, ở lại mà trông lấy hòm.
                                      Bao giờ tiền có gạo còn,
                                      Thì tôi trở lại trông hòm cho anh
                                                  (Ca dao)
          Ông Meilman cũng nói:
                                       “Ái tình là một chứng bệnh có 3 giai đoạn:
                                        khát khao, chiếm đoạt và chê chán”.
          b) Trên nền vững chắc.
          Khi kết hôn, ta cũng theo gương cậu Tobia và cô Sara để chọn người yêu.  Trước một biến cố quan trọng của một đời người như vậy, hai cô cậu đã làm gì ?  Kinh thánh còn ghi rõ: hai cô cậu đã sốt sắng dâng lời cầu nguyện:            
                             Giờ đây, lạy Chúa, Chúa biết rằng không phải vì mê sắc dục
                             mà con nhận em con đây làm vợ, nhưng chỉ vì muốn có  một
                             dòng dõi để nhờ đó danh Chúa được chúc tụng đến     muôn
                             thuở muôn đời” (Ttb 8,9).
          Cô Sara cũng nói:
                             “Lạy Chúa, xin thương xót chúng con, xin thương xót chúng
                             con, và cho vợ chồng chúng con cùng nhau sống an lành
                             cho đến tuổi già” (Tb 8,10).
          Kết hôn là một chuyện dễ và rất nhanh chóng, nhưng sống trong cuộc đời hôn nhân mới là khó vì nó không kéo dài trong năm ba tháng mà phải kéo dài suốt cả cuộc đời cho đến khi một trong hai người không còn nữa.  Trong thời gian sống chung đó, có biết bao biến cố xẩy ra, vui cũng như buồn, thành công cũng như thất bại. Có những sự việc xẩy ra hoàn toàn không theo ý muốn. Những cơn sóng gió nổi lên làm chao đảo con thuyền hôn nhân đang dật dờ trên biển trần gian.  Như vậy, muốn xây dựng hôn nhân trên nền móng vững chắc thì cần phải có:
          * Đời sống đạo đức:
          Chính đời sống đạo đức là một bảo đảm cho đời sống hôn nhân , vì nhờ đó, vợ chồng biết yêu thương nhau, nhường nhịn nhau, yêu nhau chín bổ làm mười.  Những khi khó khăn họ biết chạy đến Chúa kêu xin Người cứu chữa để họ giải quyết mọi việc một cách êm thắm. Do đó, người đời mới có câu tục ngữ  rất chính xác và đầy kinh nghiệm:
                                      Cái nết đánh chết cái đẹp.
          Ông Feuerzinger cũng nói: “Chẳng có gì ghê tởm bằng người đàn bà nhan săc mà không có đức hạnh”.
          * Tính tình tốt:
          Người đời cũng có nhiều kinh nghiệm về cuộc sống hôn nhân: Hạnh phúc hôn nhân dựa trên cái gì ? Người ta không bảo là phải dựa trên tiền tài, danh vọng hay chức quyền mà phải dựa trên một con người có tình tình tốt lành,  như câu ca dao dưới đây chứng minh:
                                      Chẳng tham ruộng cả ao sâu,
                                      Tham vì anh tú rậm râu mà hiền.
                                                  (Ca dao)
          Hoàng đế Napoléon đệ nhất cũng nói:
                                      “Một người đàn bà đẹp làm thỏa mắt,
                                      Một người đàn bà tốt làm đẹp lòng:
                                      Một đàng là một thứ trang sức,
                                      Một đàng là một kho tàng”.
          Vậy người khôn ngoan xây nhà thì phải xây trên cái gì đây: họ nên chọn đồ trang sức hay kho tàng ?
          KẾT LUẬN.
          Muốn chọn người bạn trăm năm phải theo tiêu chuẩn: đứng về phương diện tôn giáo , chọn được một người có đời sống đạo đức thì tốt nhất, vì với ơn Chúa, đời sống của họ có thể bảo đảm cho hạnh phúc hôn nhân, hay ít ra phải chọn một người có một tính tình tốt lành như người đời hằng mong ước.
          Tốt nhất nên chọn người nào biết thi hành lời Chúa:
                   “Anh em là muối cho đời” (Mt 5,13)
                   “Anh em là anh sáng cho trần gian” (Mt 5,14).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP56: CÓ  NHAU

Câu truyện mở đầu.
 

Gần nửa đêm 15.04.1912, chiếc tầu Titanic của hãng White Star (Anh quốc), một con tầu tối HP56

Gần nửa đêm 15.04.1912, chiếc tầu Titanic của hãng White Star (Anh quốc), một con tầu tối tân, sang trọng và vĩ đại nhất thế giới thời đó, trong chuyến du hành đầu tiên từ Anh sang Mỹ, đã va phải băng sơn và chìm sâu 4000 mét dưới lòng đại dương.
          Tầu Titanic chứa 1524 hành khách và một thủy thủ đoàn gồm 700 người. Khi tai nạn xẩy ra, người ta khẩn cấp hạ các thuyền cấp cứu xuống và chỉ dành ưu tiên cho đàn bà và con trẻ, bất cứ một người đàn ông nào tranh giành sẽ bị bắn bỏ.
          Người ta không quên nhắc tới một bà chủ tiệm buôn lớn ở New York luôn đứng nép bên chồng, bà nhường quyền ưu tiên cho các chị em khác. Khi tới lượt bà, bà không muốn chia lìa chồng trong lúc nguy cấp này, dù ông luôn đẩy bà tới. “Sống chết có nhau”. đó là châm ngôn của bà.
          Vì số thuyền cứu hộ chỉ đủ chỗ cho 700 người, cặp vợ chồng này đã chung phận với số còn lại (1500) cùng chết chìm với con tầu sau 4 giờ hấp hối.
 
I. MỘT XƯƠNG MỘT THỊT.
          Sở dĩ người đàn bà này luôn khăng khít với chồng, sống chết có nhau vì bà đã nhớ tới lời Chúa đã phán trong sách Sáng thế:
 “Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai nhưng chỉ là một xương một thịt” (St 10,6-8).
 
II. BÊN NHAU.
          Qua câu chuyện trên, ta phân biệt: không được cố ý chết theo nhau vì Chúa mới là chủ mạng sống, không ai được tự ý hủy hoại mạng sống mình , nhưng sẵn sàng hy sinh vì nhau, sẵn sàng chấp nhận những hiểm nguy, kể cả cái chết xẩy đến ngoài ý muốn, thì đó là tình yêu lớn lao và cao cả như Chúa dạy: Không có tình yêu nào lớn hơn là tình yêu của kẻ dám thí mạng sống vì người mình yêu: (Ga 15,16).
          Chúng ta cũng đã có gương thánh Maximianô Kolbê. Trong trại tập trung của Đức quốc xã, mười tù nhân phải chết thay cho một tù nhân khác đã vượt ngục. Trong số mười tù nhân này phải đem đi xử bắn, có một trung úy trẻ tuổi khóc lóc thảm thiết vì nhớ đến số phận người vợ trẻ và mấy đức con thân yêu đã khóc lóc nức nở. Trước cảnh tượng thương tâm đó, cha Maximilianô Kolbê đã xin chết thay cho anh trung úy này.  Ngai đã chết thay cho người khác. Ngày này Hội thánh đã đặt ngài trên bàn thờ cho chúng ta chiêm ngắm đức hy sinh của Ngài. Lời Chúa ở trên đã được thực hiện triệt để nơi thánh nhân.
 
III. MỌI NƠI MỌI LÚC.
          Chia sẻ với nhau những lúc thịnh vượng mạnh khỏe thì rất dễ, nhưng chia sẻ khi bĩ cực, khi tàn phế thì rất khó, nhất là lâu ngày lâu tháng hoặc chẳng còn hy vọng thoát khỏi cảnh bi đát, thì phải có một ý chí kiên cường mới có thể trung thành yêu thương phục vụ nhau.  Trong cuộc sống hằng ngày, ta đã được chứng kiến những cảnh gia đình tàn tật, chồng hoặc vợ kiên trì nuôi sống nhau, nâng đỡ nhau, trung thành với nhau cho đến hơi thở cuối cùng.  Nhưng cũng không thiếu những cảnh trớ trêu của nhân tình thế thái, người ta nói mỉa mai:
                                      Khi vui thì vỗ tay vào,
                                 Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai ?
                                                (Ca dao)

IV. PHẢI ĐỀ PHÒNG.
          Đôi bạn trẻ lấy nhau thì chỉ nghĩ đến vẻ đẹp, vẻ hấp dẫn của đời hôn nhân, chỉ nghĩ đến bông hoa hồng đầy hương sắc mà ít khi nghĩ đến những chiếc gai nhọn sẵn sàng đâm vào tay vì hoa hồng nào mà chẳng có gai ?
          Các bạn trẻ nghĩ thế nào về câu nói của nhà hiền triết Hy lạp, ông Socccrates:
          ‘Những thanh niên đi tìm hôn nhân có khác nào những con cá đậu trước đầu lờ... Tất cả đều
          hăm hở mà chui vào, trong khi đó không biết bao nhiêu kẻ đang vẫy vùng một cách tuyệt
          vọng để thoát ra”?
          Ca dao Việt nam cũng có một câu tương tự như thế chứng tỏ tư tưởng của Đông Tây đều gặp nhau trên phương diện này:
                                      Cá trong lờ đỏ lơ con mắt,
                                      Cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô,
                                      Đời vợ chồng sớm nắng chiều mưa.
                                                (Ca dao).
          Có khi nào các bạn nghĩ đến những trắc trở trong gia đình, những cảnh éo le khó giải quyết, khi xẩy ra cảnh “Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” không, để rồi bị cám dỗ giải quyết một cách dại dột, đáng trách:
                                      Xin chia tay ! và nếu là mãi mãi
                                      Thêm một lần, xin mãi mãi chia tay.
                                                   (Huy Thông)

V. HẠ QUYẾT TÂM.
          Phải nhắc đi nhắc lại lời hứa khi cử hành bí tích hôn phối:”Và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoỏe, để yêu thương và tôn trọnh nhau suốt đời mình”. Phải coi vợ chồng như hình với bóng, không bao giờ được chia lìa nhau bất cứ vì lý do gì:
                                      Đi đâu cho thiếp đi cùng,
                             Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.
                                                (Ca dao)
          Trong đời hôn nhân, cần phải có tình yêu vì “Hôn nhân không có tình yêu là một ngày thiếu rạng đông” (Alphhonse Karr), nhưng tình yêu cũng phải trả bằng giá đắt:”Tình yêu đòi hỏi ở chúng ta nhiều chịu đựng gian lao và thử thách” (Thomas Champion).
          KẾT LUẬN.
          Lý tưởng thì rất đẹp, nhưng sống theo lý tưởng không luôn dễ. Do đó, ta cần có sự trợ lực của Chúa qua bí tích Hôn nhân mà đôi bạn trẻ đã sốt sắng chuẩn bị kỹ lưỡng ; đồng thời phải sống bí tích này qua cuộc sống chung và qua lời cầu nguyện chung, riêng trong gia đình hằng ngày.
“Ai tin tưởng vào Chúa sẽ không hề thất vọng” (Tv 24,3).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HP57: LỰA  CHỌN

I. CON NGƯỜI PHẢI LỰA CHỌN.
          Chúng ta đọc: Lc 6,12-19 ; Mt 10,1-4 ; Mc 3,13-19.
 

Trong việc kết hôn, ngày xưa ta thường được nghe câu: cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy. Cha mẹ HP57

Trong việc kết hôn, ngày xưa ta thường được nghe câu: cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy. Cha mẹ có quyền định đoạt số phận cho con cái, mọi người chỉ việc vâng theo.  Ngày nay, trên nguyên tắc không còn sự quyết định độc đoán của cha mẹ nữa, mà con cái có quyền tìm hiểu, lựa chọn và quyết định lấy vận mệnh của mình.
          Trong cuộc sống, mỗi người có ơn gọi và có quyền đáp trả hay từ chối ơn gọi ấy. Đó là điều làm cho nhiều người phải thao thức, băn khoăn, lo lắng trước quyết định ấy.
          . Tổ tông Adong Evà được quyền tự do vâng lời hay phản lại Chúa trong việc ăn trái cấm.
          . Đức Maria có quyền tự do chấp nhận hay từ chối lời mời gọi làm Mẹ Đấng Cứu thế.
          . Các người chài lưới có quyền theo Chúa Giêsu làm tông đồ hay từ chối lời mời gọi ấy.
          . Đức Giêsu có quyền ưng thuận hay từ chối uống chén đắng mà Cha Ngài trao cho.
 
II. LỰA CHỌN TRONG HÔN NHÂN.
          Hôn nhân không phải là kết quả của một sự ngẫu nhiên, của các năng lực vô ý thức mà là kết quả của một sự lựa chọn sáng suốt và đầy ưu tư..
          Lựa chọn có hai yếu tố đi liền nhau: lựa và chọn.  Lựa mới là phân ra từng loại, từng cái một để so sánh. Còn chọn mới là quyết định nhận hay không nhận, nhận cái này hay cái kia, hay chọn một trong nhiều cái. Ví dụ:
                                      Ở chọn nơi, chơi chọn bạn.
                             hoặc:
                                      Chê thằng một chai, lấy thằng hai lọ.
          Sống là lựa chọn mà lựa chọn trong hôn nhân là một điều vô cùng hệ trọng vì nó ảnh hưởng đến cả cuộc đời của mình, hôn nhân luôn bền chặt, không thể thay đổi như thay áo “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”.  Việc lựa chọn này do mình quyết định lấy, không ai có thể thay thế được.
          Vậy trước khi kết hôn phải quyết định xem mình lựa chọn cuộc sống độc thân hay cuộc sống gia đình, lấy người này hay người khác. Sự quyết định này không thể đảo ngược được.
          Người Việt nam ta đưa ra một số câu tục ngữ để khuyên đôi trai gái phải lựa chọn trước khi kết hôn:
                             . Lấy vợ xem tông, lấy chồng  xem giống.
                             . Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi.
                             . Mua heo chọn nái, mua gái lựa dòng.
                             . Mua thịt thì chọn miếng mông,
                               Lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi.
                             . Đừng tham da trắng tóc dài,
                               Đến khi nhỡ bữa chẳng mài mà ăn.
          Hay một câu danh ngôn:
                             “Kén vợ bằng tai hơn bằng mắt” (Cervantes)
                             “Biết bao nhiêu đàn ông chỉ yêu cái má lún đồng tiền mà dại dột cưới
                               nguyên một cô gái” (S. Leacock)
 
III. ĐẶC TÍNH CỦA SỰ LỰA CHỌN.
          1. Tự do.
          Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do của con người. Ngài không bắt buộc ai phải lập gia đình, hay bắt sống độc thân, đi tu hay sống ngoài đời.  Chúa chỉ mời gọi và ta có quyền tự do đáp trả: nhận hay từ chối như trường hợp của Đức Maria nhận lời làm Mẹ Đấng Cứu thế, hay Chúa Giêsu vâng theo ý Chúa Cha để nhận chén đắng.  Đặc biệt trong hôn nhân, sự tự do là điều kiện tất yếu, thiếu nó thì hôn nhân sẽ không thành sự.
          Vì thế, trước khi cử hành bí tích hôn phối, Linh mục đã hỏi đôi bạn trẻ trước mặt cộng đoàn
          - Anh X và chị Y, anh chị sắp kết hôn với nhau, anh chị có thực sự tự do, hay là bị ép buộc?
          Cô dâu chú rể lần luợt trả lời:
          - Thưa, thật sự tự do.
 
2. Lo lắng.
Quyết định đi đến hôn nhân là quyết định dứt khoát cho một sự lựa chọn. Mà lựa chọn thì trước hết có nghĩa là chấp nhận.  Chúng ta phải chấp nhận người bạn đời với tất cả sở trường và sở đoản.  Bởi vì nhân vô thập toàn, ai cũng có những khuyết điểm của mình. Chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy được người yêu lý tưởng, đủ mọi tiêu chuẩn mà chúng ta đưa ra trên cõi đời này. 
Vì thế, ai cũng lo:
                   Thân em như giếng bên đàng,
                   Người khôn rửa mặt, người quàng rửa chân.
          hoặc:
                   Lênh đênh một chiếc thuyền tình,
                   Mười hai bến nước biết gửi mình về đâu.
                   Truyện vui: Sao anh không cưới ?
          Tử Lý Lắc tâm sự với một người bạn:
          - Tôi đã nguyện với lòng chỉ cưới vợ khi gặp người thiếu nữ lý tưởng.
          - Anh chưa tìm ra à ?
          - May quá, tôi đã gặp được người ấy.
          - Ô, sao anh không cưới liền tay đi ?
          - Cưới gì ? Cô ta cũng đang tìm một người đàn ông lý tưởng mà người đó lại không giống tôi, nên cô ta từ chối. (Giai phẩm EM).
 
          3. Liều.
          Ngày nay người ta nói nhiều đến dấn thân. Dấn thân, nhập cuộc là thân phận của con người. Sống là lựa chọn. Mà lựa chọn là liều lĩnh vì không bao giờ ta nắm được một cách rành rọt như 2 với 2 là 4 tất cả những lý do lựa chọn và những điều tương lai có thể dành cho sự lựa chọn của ta. Nhưng không phải vì thế mà ta không dám liều mình. Khi đã dùng trí khôn để suy nghĩ, cân nhắc như ta có thể rồi, ta có quyền bước tới.
          Có những định hướng lựa chọn cho cả cuộc đời. Sự liều lĩnh lại còn lớn hơn.  Chọn một nghề nghiệp nhiều khi cũng rất quan trọng nhưng người ta có thể thay đổi mà không ảnh hưởng sâu xa tới đời sống. Còn chọn một người bạn trăm năm thì gần như là chọn chính đời sống của mình. Đó là những chọn lựa căn bản, sẽ chi phối những chọn lựa riêng rẽ khác về sau.
 
          4. Đau khổ.
          a) Chọn lựa là từ bỏ.
          Chọn lựa còn có nghĩa là từ bỏ. Từ bỏ bao giờ cũng gây đau khổ. Chúng ta phải từ bỏ những cuộc giao du, những cuộc gặp gỡ hay những cuộc tiếp xúc khả dĩ làm sứt mẻ, rạn vỡ tình yêu của chúng ta. Đó là trong hiện tại, còn trong dĩ vãng thì làm sao ?
          Chúng ta cũng phải từ bỏ những hình ảnh, những kỷ niệm của một ngày xưa, cho dù đó là một ngày xưa “hoàng thị”, một ngày xưa đằm thắm, với những rạo rực của môt thuở mới lớn, với những mộng mơ của những cuộc tình đầu.  Nếu chúng ta cứ để cho dĩ vãng ám ảnh, và nhất là nếu chúng ta  cứ luôn so sánh hiện tại với dĩ vãng, thì chắc chắn tình yêu của chúng ta sẽ bị giảm sút nghiêm trọng. Và biết đâu, đó cũng là một cách chúng ta ngoại tình trong tư tưởng rồi vậy.
          b) Chọn lựa có thể sai lầm.
          Ai dám nói mình chọn lựa đúng, chắc chắn 100% ? Chọn lựa nào cũng có thể sai lầm.
          Có cái lầm lớn, có cái lầm nhỏ.
          Có cái lầm có thể sửa đổi được ví dụ nghề nghiệp,
          Có cái lầm không thể sửa đổi được, ví dụ: kết hôn.
          Ta phải gánh chịu mọi hậu quả tốt hay xấu  của sự lựa chọn này. Vì thế ông Frankin nói:
                   “Trước khi kết hôn hãy mở mắt ra,
                   “Sau khi kết hôn, hãy nhắm mắt lại”.
                             (B Franklin)
          KẾT LUẬN.
          Tương lai nằm trong tay Chúa và trong quyết chí của chúng ta.
          Có một câu danh ngôn khá quen thuộc:
                   “Trước khi ra trận thì cầu nguyện một lần,
                   trước khi vượt biển thì cầu nguyện hai lần,
                   còn trước khi lập gia đình thì phải cầu nguyện ba lần”.
          Cầu nguyện để xin ơn Chúa nâng đỡ, để được an tâm và có quyết định sáng suốt, để có sức mạnh vượt thắng những cám dỗ về những “sự cố” có thể xẩy ra ở giai đoạn tiền hôn nhân.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP58: THỬ THÁCH

I. LỜI HỨA HÔN.
 

Trong lễ nghi hôn phối, hai người đã tự nguyện chọn nhau làm vợ làm chồng và hứa sẽ giữ HP58

Trong lễ nghi hôn phối, hai người đã tự nguyện chọn nhau làm vợ làm chồng và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe để yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời mình.   Tuy đã hứa với nhau một cách danh dự trước mặt Thiên Chúa và Hội thánh, nhưng lời hứa ấy còn phải được thử thách trong đời sống hôn nhân, chỉ những ai bền đỗ đến cùng mới được hạnh phúc.
          Sở dĩ như vậy là vì vợ chồng vốn rất khác biệt nhau về nhiều mặt: cơ bản nhất là giới tính, sau là về tính cách, tính tình, sở thích, kỳ vọng, thói quen, lối sống, nền tảng giáo dục, học vấn, nghề nghiệp... Bản thân mỗi con người là một cá thể đặc thù, một tiểu vũ trụ (miccro-cosmos), một thế giới nhân cách riêng hẳn. Nay phải hòa hợp lại trong cùng một môi trường sống, cùng chia sẻ hoàn cảnh, trách nhiệm chung, cùng ăn đời ở kiếp để đồng cam cộng khổ với nhau trong đời sống hôn nhân gia đình. Quá trình sống chung đó rất dễ dàng xẩy ra những bất đồng, xung đột và mâu thuẫn.  Một khi mối bất hoà không được giải quyết rốt ráo, thỏa đáng, tất sẽ ddẫn đến ly biệt !...
 
II. THỬ THÁCH TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN.
          Tại sao trong đời sống hôn nhân chưa được bao lâu mà nửa đường đã rã gánh ? Có nhiều gia đình đã đi đến chỗ tan vỡ ?  Có nhiều lý do, hôm nay chúng ta chỉ đưa ra hai lý do
          1. Kết hôn quá sớm, quá vội.
          Ngày xưa,  các cụ ta có tục tảo hôn, con cái còn nhỏ mà đã cho kết hôn, thậm chí những đứa trẻ mới có năm ba tuổi đã kết hôn rồi. Việc kết hôn này là do cha mẹ hai bên hoàn toàn quyết định, con cái phải vâng theo, không được ý kiến theo phương châm “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”, vì thế mới có cảnh trớ trêu cười ra nước mắt:
                                      Bồng bồng cõng chồng đi chơi,
                                   Đến ngay chỗ lội đánh rơi mất chồng.
                                                (Ca dao)
          Ngày nay, xã hội tiến bộ hơn, những hủ tục ấy không còn nữa, đã bị đẩy lùi vào quá khứ rồi, nhưng việc kết hôn vội vàng vẫn còn phổ biến.             
         Nhiều lúc hai anh chị gặp nhau thấy có một điểm gì hấp dẫn là yêu nhau ngay, yêu nhau say đắm, đôi khi nổ ra một tiếng sét ái tình làm cho họ choáng váng, không cần tìm hiểu nhau, muốn kết hôn với nhau ngay, một vài trường hợp xẩy ra là họ mới quen biết nhau có một tuần là đã tổ chức đám cưới ngay. Đôi khi đôi bạn trẻ còn quá trẻ, chưa đến tuổi trưởng thành, chưa hiểu biết gì về đời sống đôi bạn, khi gặp khó khăn trong gia đình, họ đành đi đến chỗ “tan đàn xẻ nghé”
          Khi mới quen nhau, người ta chưa tìm ra dược cái sở trường sở đoản, cái tốt cái xấu của nhau, chỉ suy nghĩ một chiều: mọi cái là tốt hết, nhưng khi nhìn vào thực tế thì thất vọng. Đúng như  người ta nói:”Người ta lấy nhau vì những đức tính mà người ta không có, rồi người ta cũng bỏ nhau vì những nết xấu mà người ta không có”.  Nằm trong chăn mới biết là chăn có rận, khi nhận ra nết xấu của nhau, người ta bắt đầu khinh nhau, coi nhau không ra cái gì cả:
                                      Ngày xưa, em coi anh như giàn thiên lý
                                      Bây giờ, em coi anh như khỉ leo cây .
          2. Chưa thấy trước những khó khăn.
          Có những chuyện xem ra là nhỏ nhặt trong gia đình, nhưng thực sự lại không nhỏ, nó cũng giống như những lỗ nhỏ có thể làm đắm thuyền hay hạt cát có thể làm đau bàn chân.  Các bạn trẻ chưa có kinh nghiệm thì chưa nhìn ra những cái đó.
          Luật sư Edward Kaufman, trong cuốn “Làm sao giữ tình yêu của chồng” đã viết:”Nghiên cứu các hồ sơ ly dị, tôi thấy rõ rằng có những bất hoà bề ngoài tưởng như không đáng kể, những sự xung đột rất nhỏ, cơ hồ không thấy được, nếu xẩy ra thường, thành một thứ bệnh kinh niên, như những giọt nước rỉ ở vòi nước xuống, thì có thể làm nền tảng của hôn nhân sụp đổ... có những chuyện hiểu lầm nhau nho nhỏ có thể làm cho thần kinh của hai vợ chồng suy mòn đi, như bị trúng lạnh sơ sài, không chịu chữa ngay, có thể thành ra sưng phổi”.
          Trong gia đình, những chuyện bất đồng nhỏ, vụn vặt giữa hai vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, hoặc giữa cánh nam giới (bố-con trai) và cánh nữ giới (mẹ-con gái) có thể xẩy ra thường ngày như cơm bữa.  Xét một cách tổng quát, đó là chuyện thường tình, bới vì “Chén bát còn có lúc xô xát, huống chi vợ chồng” (Tục ngữ). Nhưng trong nhiều gia đình và trong nhiều tình huống đặc biệt, chuyện nhỏ lại không “nhỏ” chút nào. Biết vậy, nên có người đã khuyên:”Bí quyết lớn nhất làm cho các cuộc hôn nhân thành công là coi tất cả các tai hoạ là chuyện nhỏ và không bao giờ biến chuyện nhỏ thành tai hoạ” (Harold Nichlson).
          * Khi yêu, lúc ghét:
          Đôi bạn trẻ phải hiểu rằng tình yêu không thể lúc nào cũng ở vào cao điểm, có lúc xuống đáy.  Những lúc tình yêu xuống đến đáy thì người ta sẽ ra sao ?  Đây là kinh nghiệm cay đắng của các chị:
                                      Còn duyên anh cưới ba heo,
                                   Hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi.
                                                (Ca dao)
          * Đời sống lên xuống:
          Có những anh chị, ở những tình yêu dâng cao tột đỉnh, nghĩ rằng đời sống lứa đôi ắt phải luôn ngập tràn hạnh phúc. Nhưng khi bước vào đời hôn nhân, thấy cuộc sống thực tế đã không điểm tô toàn mầu hồng như ước mơ thuở ban đầu, thì sinh chán nản và nhen nhúm tư tưởng “nửa đường đứt gánh”:
                                      Anh đi đường anh,
                                      Tôi đi đường tôi,
                                      Tình nghĩa đôi ta có thế thôi
                                                (Thế Lữ)
          * Mộ hình ảnh đẹp.
          Cuộc sống của con người, đặc biệt của lứa đôi, phải nói là giống hệt như biển cả.  Biển bình minh,  ôi nên thơ biết mấy ! Một mầu xanh biếc và phẳng lặng như tờ, ánh dương như tận đáy vươn lên, rực rỡ biết bao ! Đó là thơi kỳ trăng mật và những ngày sau lễ cưới.
          Nhưng rồi trưa đến hay lúc chiều về, mặt biển ọp ẹp nổi sóng  đưa theo những “rác rến từ đâu” vào bờ.  Đó là những bất đồng hay bực bội nho nhỏ vào những tháng, những năm sau tuần trăng mật !
          Chưa hết, một ngày nào đó bỗng giông tố nổi lên, sóng bạc đầu dâng cao, nhận chìm thuyền bè, gây tan hoang chết chóc...! Đó là lúc vợ chồng giận hờn, chửi bới, đánh đập nhau sứt trán bể đầu... Nhưng qua bão tố trời lại thanh quang. Biển lại bình minh, rồi lại trưa đến, chiều về: chỉ cầu mong sao đừng bão tố nữa.
          Đấy là một cuộc sống đời thường ! Một cuộc sống đời thường thì phải có bình minh tươi đẹp,  phải có trưa, có chiều sóng vỗ và có khi có thể có cả sóng bạc đầu.
          Vì thế, anh chị phải nhìn nhận ra thực tế của đời sống hôn nhân, không ai có thể tránh được, chỉ có một con đường duy nhất là sẵn sàng chấp nhận thực tế và đón nhận hậu quả dù tốt hay xấu.
                             Truyện: Socrate và đệ tử.
          Một đệ tử của ông Socrate hỏi:
          - Thưa thầy, con có nên lấy vợ không ?
          Ông đã trả lời:
          - Dù làm thế nào con cũng hối hận.
          Ý ông muốn nói rằng: dù lấy vợ hay không lấy vợ, cách nào cũng có cái bất tiện của nó. Lấy vợ cũng khổ mà không lấy vợ cũng kẹt. Cũng trong tư tưởng này mà ông Socrate nói:”Những thanh niên đi tìm hôn nhân có khác nào những con cá đậu trước đầu lờ... Tất cả đều hăm hở mà chui vào, trong khi đó không biết bao nhiêu kẻ  đang vùng vẫy một cách tuyệt vọng để thoát ra”.
          Vì thế, người ta mới ví von một cách hài hước:
                                      Hôn nhân là chiếc lồng son,
                             Người ngoài muốn nhập, người trong muốn chuồn..
          KẾT LUẬN
          Phải có những cái nhìn thực tế trước những khó khăn của đời sống hôn nhân để khỏi bị chao đảo, hụt hẫng trước thực tế phũ phàng.
          Hãy làm mới lại tình yêu thuở ban đầu như người ta nói:
                             Hãy rửa tội cho tình yêu mỗi buổi sáng
                             Và hãy kết hôn lại mỗi ngày.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP59: NHÀM  CHÁN

I. DÂY HÔN PHỐI.
          Xin đọc: St 2,18-24   và Mc 10,6-9)
          Thiên Chúa phán:”Con người ở một mình thì không tốt, Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2,18).
 

Thiên Chúa cũng tạo nên một người nữ và trao cho con người. Và con người nói: ”Phen này, đây HP59

Thiên Chúa cũng tạo nên một người nữ và trao cho con người. Và con người nói: ”Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi.  Nàng sẽ được gọi là đàn bà vì đã được rút từ đàn ông ra”.  Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,23-24).
          Đây là cuộc hôn phối đầu tiên giữa Ađam và Evà, một cuộc hôn phối tốt đẹp, hoàn hảo và hợp với ý Chúa. Chúa muốn cho họ yêu thương và khăng khít với nhau để cả hai thành một tinh thần, một thể xác.
          Đức Giêsu cũng nói về vấn đề này:”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,9).
          Cuộc hôn nhân đầu tiên và kiểu mẫu đẹp như thế, nhưng những cuộc hôn nhân sau này của con cháu ông bà có được như thế không hay đã bị lệch lạc, rồi đi đến sự tan vỡ ?
 
II. KẺ THÙ CỦA HÔN PHỐI: NHÀM CHÁN.
          1. Ba cuộc khủng hoảng.
          Trong cuộc sống hôn nhân, người ta thường gặp một trong ba cuộc khủng hoảng sau đây, nếu tránh được thì đó là ơn Chúa ban cách riêng.  Người ta tạm chia thành ba thời kỳ:
                   a) Khủng hoảng vỡ mộng.
                   b) Khủng hoảng nhàm chán.
                   c) Khủng hoảng hồi xuân.
          Có người đặt ra câu hỏi: “Cuộc sống gia đình có buồn tẻ nhàm chán không”? Câu trả lời sẽ khác nhau:
          - Người chưa có gia đình: không.
          - Người đã có gia đình: có.
          Có lẽ người đã có gia đình có lý hơn vì họ đã có kinh nghiệm như Thi sĩ Nguễn Du đã nói:
                             Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.
          2. Thủ phạm của hạnh phúc hôn nhân.
          Trong đời sống hôn nhân, bất cứ cuộc chia ly nào cũng phải có ba thủ phạm nhúng tay vào
                   a) Người đàn ông.
                   b) Người đàn bà.
                   c) Sự nhàm chán.
          Có những lý do đưa đến việc gia đình ta vỡ như lý do kinh thế, xã hội hoặc tâm lý, đạo đức.  Có một nguyên nhân khác xem ra có vẻ  “chìm” nhưng lại rất  “nổi”, đã từng gây sóng gió trong nhiều cặp vợ chồng. Đó là sự NHÀM CHÁN, nhạt nhẽo và cũ kỹ trong mối tình vốn trước đó đã một thời tươi thắm nồng nàn và đầy quyến rũ !
          Ta thử nghe lời bộc bạch của một thành viên trong một buổi sinh hoạt các gia đình trẻ thuộc Câu lạc bộ Gia đình hạnh phúc quận Tân bình, TPHCM. Bà kể rằng gia đình bà suýt nữa phải “tan đàn xẻ nghé” chỉ vì sau khi có con, bà đã dồn hết tình thương và sự quan tâm tới con, mà bỏ bê chăm sóc tới bản thân mình và ít quan tâm tới chồng. Khi thấy hình như chồng bà hướng sự chú ý sang một người phụ nữ khác, bà mới giật mình tỉnh ngộ. Theo bà này, muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình thì cả hai vợ chồng đều phải biết “làm mới” mối quan hệ của họ trong cuộc sống chung bằng việc quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.
                   (Theo An Khánh, báo NLĐ ngày 28.12.2002)
          Khi một trong hai người không còn “quyến rũ” nhau nữa thì việc gì đến sẽ phải đến. Từ thái dộ xa cách, lạnh nhạt đến nhàm chán, bực bội (nhiều khi chỉ là những lý do rất tầm thường) , rồi tiếp sau, đó là sự ngờ vực, nghi kỵ “chuyện bồ bịch ngoại tình” này nọ. Lúc bấy giờ vấn đề ly hôn chỉ là vấn đề của thời gian mà thôi.
          Chúng ta lại có một chứng từ khác.  Khi đặt câu hỏi:”Cuộc sống hôn nhân có buồn tẻ không” ? Các cô cậu sinh viên, học sinh... trong Câu lạc bộ tiền hôn nhân quận 5, tròn mắt:”Ơ, sao lại buồn tẻ, còn gì sung sướng bằng luôn được sống bên cạnh người mình yêu”.
          Thế nhưng các ông chồng, bà vợ hay lui tới các trung tâm tư vấn, lại than: ”Ngày nào cũng đi làm về, trò chuyện vài câu, lặp lại các thói quen sinh hoạt hằng ngày, 1001 ngày yêu đương, sẽ đem lại 1000 ngày bớt mới mẻ hơn so với ngày đầu . Một ngày như mọi ngày” – cũ mèm.
          Tôi đặt câu hỏi khác:”Bạn hiểu thế nào về gia đình” ?  Những người độc thân đang yêu rất phấn khởi trả lời:”Đó là nơi thăng hoa tình yêu, là chốn thư giãn, nghỉ ngơi”.
          Còn những “con chim trong lồng” lại hót:”Gia đình là nơi sinh con cái, lo toan và giải quyết xung đột”.
          Những người có kinh nghiệm sống đều cho rằng  câu trả lời sau thực tế hơn nhiều.
                             (Trường Sơn, Kiến thức gia đình, số 105, tr 18-19)
          Người ta nói:”Tình yêu bị chết đi do sự nhàm chán vì người yêu bị chôn vùi bởi sự lãng quên” . Không nhàm chán sao được khi mà lúc nào cũng phải tiếp xúc với con người ấy, với tính tình ấy, với cách xử sự ấy và cuộc sống dần dần trở nên như cái máy.
          Có lẽ vì vậy mà ông Chamfort có lý khi ông nói:”Hôn nhân là mồ chôn tình yêu”.
          3. Đổi mới cuộc sống hôn nhân.
          Ta có thể ví hôn nhân như chiếc đàn guitare.  Tôi thấy lúc đầu lễ, các chú ca đoàn lên dây đàn trước khi chơi. Nếu có ai hỏi tại sao lần nào cũng phải làm như vậy ? Các chú sẽ trả lời: Cây đàn để lâu đã xuống dây, phải lên dây cho căng thì chơi mới đúng cung. Nếu không lên dây cho đúng, người ta sẽ gọi là cây đàn ngang cung, ai nghe được ?
          Gia đình cũng thế. Vợ chồng ở với nhau riết rồi cũng có lúc cảm thấy nhàm chán, không ai có thể thoát được.
          Đây là kinh nghiệm của nhà thơ ngụ ngôn Pháp, ông Lafontaine khi ông nói:
                   Nơi bạn, tất cả đều tha thứ, bỏ qua.
                   Nơi tình nhân, tất cả đều hài lòng, hoàn hảo.
                   Nơi vợ chồng, tất cả đều nhàm chán, mệt mỏi.
          Vì thế, yêu cũng là một nghệ thuật mà đã là một nghệ thuật thì cần phải trau dồi mãi để cho nó luôn vui tươi hấp dẫn.
 
III. BIỆN PHÁP GIẢI TỎA NHÀM CHÁN.
          1. Giải pháp tự nhiên.
          Người ta đưa ra một số biện pháp để giải toả sự nhàm chán, đại khái như:
                   a) Cãi nhau  ! Đây không phải là giải pháp vì nó không giảm bớt nhàm chán mà chỉ tạo thêm căng thẳng, đấy chỉ là hậu quả của sự nhàm chán.
                   b) Làm lại cuộc trăng mật, vợ chồng tạm gác mọi công việc, dành một thời gian để hai vợ chồng ở bên nhau, làm mới lại mối tình xưa.
                   c) Đi du lịch cũng là dịp thư giãn, vợ chồng cũng có dịp ở gần nhau, chuyện trò thân mật hơn lúc ở nhà nhờ bầu khí thay đổi.
 
          2. Giải pháp siêu nhiên.
          Chúa Giêsu phán:”Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ thì sẽ mở cho” (Mt 7,7 ; Lc 11,9).  Nếu chúng ta chỉ xin Chúa ban cho gia đình chúng ta được vui tươi, đầm ấm, lẽ nào Chúa lại không nhận lời ?
          KẾT LUẬN.
          Hãy cố gắng làm cho gia đình trở nên vui tươi phấn khởi bằng những giải pháp tự nhiên và siêu nhiên, hãy cố gắng đổi mới tình yêu vợ chồng. Chúa đòichúng ta phải cố gắng không ngừng, chúng ta cứ làm rồi Chúa ban ơn trợ lực, chứ Chúa không hành động một mình. Chúng ta hãy suy niệm lời phát biểu của thánh Augustinô:”Chúa dựng nên con không cần có con, nhưng muốn cứu con thì cần có con cộng tác”. Cứ nỗ lực rồi cậy trông. Tương lai sẽ tươi sáng.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP60: KHO  BÁU

I. LỜI CHÚA:
          Dụ ngôn kho báu (Mt 13,44-46).
 

Đức Giêsu dùng hai dụ ngôn để nói về sự cao qúi của Nước Trời.  Nếu ai may mắn mà tìm được HP60

Đức Giêsu dùng hai dụ ngôn để nói về sự cao qúi của Nước Trời.  Nếu ai may mắn mà tìm được một kho báu trong thửa ruộng thì chắc chắn người ấy sẽ về nhà bán hết những gì mình có để mua cho bằng được thửa ruộng ấy vì kho báu còn được chôn giấu trong đó. Hoặc một thương gia nào đó tình cờ kiếm được một viên ngọc qúi thì ông ta cũng sẵn sàng về nhà bán hết những gì mình có để mua cho bằng được viên ngọc qúi ấy. Cũng thế, Nước Trời là một kho báu cực kỳ qúi giá, nếu ai tìm được cũng sẵn sàng hy sinh tất cả, kể cả mạng sống mình, để chiếm hữu được kho báu ấy.
          Đứng vế phương diện hôn nhân, ta cũng có thể coi hạnh phúc gia đình là một kho báu mà ai cũng mong ước. Có ai lập gia đình mà lại không mong đạt tới hạnh phúc sao ?  Muốn hạnh phúc thì ai cũng muốn, nhưng có dám hy sinh tất cả để chiếm hữu được hạnh phúc ấy chăng, thì cái đó lại còn tùy ở mỗi người.  Thành công hay thất bại còn tùy ở mỗi người vì như văn hào Honoré de Balzac thì “Hôn nhân là đường đưa ta tới thiên đàng hay địa ngục”.
 
II. HAI LOẠI KHO BÁU.
          1. Kho báu vật chất (nghĩa đen): người ta coi kho báu vật chất là những thứ mà giác quan có thể thấy được như sắc đẹp, của cải , hoặc không thấy được như tài năng, chức quyền, danh vọng.
          2. Kho báu tinh thần (nghĩa bóng): Kho báu tinh thần là những cái vô hình chỉ có thể cảm nghiệm được như hạnh phúc gia đình. 
          * Kinh nghiệm cho hay: ai cũng muốn đạt tới hạnh phúc ấy nhưng rất khó khăn.
          “Hôn nhân là một cuộc sổ số” (Ben Jonson)
          “Hôn nhân là một cái bao trong đó có 99 con rắn và một con lươn. Ai có thể thọc tay vào”?
            (Ngạn ngữ Ả rập)
          * Kho báu là vợ hay chồng ?
          Gia đình là một kho báu, nếu là kho báu thì ai nỡ  đánh mất ? Nhưng vấn đề đặt ra là kho báu ấy chủ yếu là do chồng hay vợ làm nên và phải bảo trì nó ? Chúng ta phải công nhận rằng kho báu ấy do cả vợ lẫn chồng chứ không riêng ai:
          “Trong gia đình cả chồng lẫn vợ, đều phải biết phục thiện và thông cảm lẫn nhau. Khi người đàn ông có điều lỗi, chớ tránh né trước lời trách móc của vợ, mà phải công khai nhận lỗi; người đàn bà khi có chuyện làm trái, phải thành thực xin lỗi cùng chồng.  Con người không ai toàn mỹ, chuyện vợ chồng cũng thế mà thôi. Biết phục thiện và tha thứ cho nhau, thì gia đình càng ngày càng trở nên đầm ấm; ngược lại, càng ngoan cố bao nhiêu, gia đình càng dễ dàng tan vỡ bấy nhiêu (Bà Gina Lombroso).
          Như bà Gina Lombroso nói, kho báu ấy là cả hai vợ chồng cùng phải tạo lập, khi hai người sống hoà hợp với nhau, khi trong gia đình không còn mâu thuẫn nào đáng kể nũa. Như vậy, theo ý kiến chung thì người ta cho kho báu chủ yếu là do người vợ.

III. NGƯỜI VỢ LÀ  KHO BÁU CỦA  CHỒNG.
          1. Kho báu vật chất:
Kho báu này gồm sắc đẹp, tiền của.... Nhưng kinh nghiệm cho hay: kho báu này dễ bị mai một, dễ mất. Người ta còn nói chơi rằng:”Vợ đẹp càng tổ đau lưng”.
          Tuy nói thế, nhưng trong thực tế, không có kho báu vật chất ấy thì nhiều cô gái ở một số nơi chỉ “chổng mông mà gào”! 
                             Truyện: Thiếu của hồi môn.
          Tổng giáo phận Kirantrum ở bang Kêrêla (Ấn độ) đang giúp đỡ 500 thiếu nữ nghèo không có phương tiện kết hôn. Linh mục Cat-cu-ta-lin, người phát ngôn của tổng giáo phận cho biết nhiều thiếu nữ nghèo không thể kết hôn được vì cha mẹ họ quá nghèo không có của hồi môn cho con. Của hồi môn này gồm tiền bạc, nữ trang, và các đồ vật khác mà nhà trai đòi hỏi như một điều kiện để cưới hỏi.
          Cha mẹ của thiếu nữ làm đơn xin với một ủy ban của giáo phận đặc trách về vấn đề này và mỗi thiếu nữ sẽ được nhận áo cưới, nhẫn cưới và một số tiền để trong ngân hàng là 5000 rupi (190 USD) làm của hồi môn.
                             (Công giáo và dân tộc, số 910, th 6/1993, tr 16)
          2. Kho báu tinh thần.
          Chúng ta có thể xem quan niệm của người đời nghĩ thế nào cũng như lời dạy trong Thánh kinh ra làm sao:
          * Theo quan niệm người đời:
          Ông Démophile nói:”Hãy tin chắc rằng kho tàng qúi báu nhất là những kho tàng chất chứa trong tâm hồn bạn”
          Ông André Chenirer cũng nói:”Khi còn là tình nhân người đàn ông thích người đàn bà lả lơi và đẹp, vì lơi lả đàn ông mới dễ chiếm được và có đẹp người đàn ông mới thích. Nhưng khi lấy vợ, người đàn ông muốn người vợ phải đoan trang và không nên đẹp lắm – vì đoan trang mới hạnh phúc và không đẹp lắm mới bền vững gia đình mà không ngại bị phản bội vì kẻ khác”.
                             Truyện: Cái nết đánh chế cái đẹp.
          Tiến sĩ đời Tống là Hứa Doãn, văn chương rất hay, chính sự rất giỏi, nhưng vợ là Nguyễn Thị về phần nhan sắc rất tầm thường.
          Tục truyền, khi vợ chồng mới thành hôn, Hứa Doãn thấy vợ không đẹp, muốn lập tức bỏ đi thẳng, bèn hỏi Nguyễn Thị rằng:
          - Đàn bà có bốn đức công, dung, ngôn, hạnh, nàng được mấy đức ?
          Nguyễn Thị biết ý chồng, đáp ngay:
          - Thiếp đây chỉ kém về dung thôi.
          Rồi hỏi chồng:
          - Kẻ sĩ có trăm nết, dám hỏi chàng đây được mấy nết ?
           Hứa Doãn đáp:
          - Ta có đủ cả trăm nết.
          Nguyễn Thị cười đáp:
          - Trăm nết. đức là đầu,  chàng là người hiếu sắc mà thiếu đức, như vậy mà đủ cả trăm nết ư
          Hứa Doãn nghe nói, có vẻ thẹn và không dám bỏ đi. Từ đó vợ chồng thương yêu nhau, kính trọng nhau suốt đời.
          Hứa Doãn sau khi đỗ làm quan, đến nhận nơi nào cũng được dân mến phục là do một phần ở vợ.  
                   (Thái Bạch, Đông tây kim cổ tinh hoa, Sống mới, 1971, tr 252)
          Và ông Thái Bạch cũng có lời bàn: Thói thường đàn ông ai cũng thích vợ đẹp, đàn bà ai cũng thích chồng giỏi.
          Nhưng cái đẹp, cái giỏi, mỗi cái cũng đều có hai phần, đẹp về mặt không bằng đẹp về nết, phần giỏi làm lợi cho cá nhân không bằng làm lợi cho số đông.
          Trong hai cái đẹp và cái giỏi, như vợ chồng Hứa Doãn trên đây đều chiếm được những phần quan trọng và căn bản, mà điều đáng khen trước nhất là Nguyễn Thị.
          Nếu Nguyễn Thị không nhanh trí khôn thì cái cuộc “trăm năm vuông tròn” của hai người đã đổ vỡ ngay từ đêm mới giao duyên hợp cẩn.
          Tuy nhiên, nếu người chồng chẳng phải kẻ biết phục thiện như Hức Doãn thì chưa chắc lời nói của Nguyễn Thị đã lọt vào tai được..
          Do đó, vợ chồng này mới có sự yêu thương nhau, kính mến nhau suốt đời, và sau mới được lòng người dân mến phục.
 
          * Theo quan niệm Thánh kinh:
          Chúng ta thấy Thánh kinh cũng ca tụng những người vợ đức hạnh:
          “Người vợ đức hạnh là phúc lộc Thiên Chúa ban cho người chồng” (Cn 18,22)
          “Người vợ đức hạnh là mũ triều thiên cho chồng” (Cn 12,4)
          “Người vợ không trau dồi mình bằng những vật trang sức bên ngoài (1Tit 2,9; 1Ph 3,3) mà trau dồi bằng đức hạnh” (x. 1Pr 3,1-4)
 
                             Truyện: Của hồi môn.
          Người ta kể: trong ngày đưa dâu, ông bố vợ trao cho con rể một phong bì hơi cộm. Về nhà mở ra, chỉ thấy một tờ giấy và một số tiền gói gọn bên trong. Tờ giấy viết:
                   * Vợ hiền lành, đáng giá                  5 triệu
                   * Vợ chịu khó làm ăn                       2 triệu
                   * Vợ biết hy sinh, tha thứ , nhẫn nại2 triệu
                   * Vợ sống đạo đức                            3 triệu
                   * Tiền mặt                                         1 triệu
          Tổng cộng: 10 triệu cho con làm của hồi môn.
          Anh con rể không mấy hào hứng. Nhưng năm năm sau, anh tâm sự với bố vợ: ”Con cảm ơn bố đã cho con một kho tàng lớn. Nếu cho tiền nhiều thì nay chắc đã xài hết, nhưng vợ con là một kho báu còn mãi”.
          Trong cuốn Minh đạo gia huấn của Trình Hạo có một câu danh ngôn rất hay:
                             Hiền thê gia bảo
                             Hiền thần quốc trân
          Nghĩa là: Vợ hiền là của báu trong nhà, Tôi hiền là vật báu của quốc gia.
          3. Người chồng phải bảo vệ kho báu ấy.
          Muốn cho kho báu ấy được bền vững, người chồng phải
          - Thương yêu vợ (St 24,67 ; Ep 5,25,28,33 ; Cl 3,19)
          - Trung thành với vợ (Cn 5,18-20)
          - Đối đãi với vợ như chính mình (St 2,33 ; Mal 2,15 ; Mt 19,5-6 ; Ep 5,28)
          - Tình yêu bền chặt như giữa Chúa Kitô và Hội thánh (Ep 5,32)
          KẾT LUẬN
                            
          Để kết thúc bài chia sẻ, mời bạn đọc câu chuyện này để biết gia đình có phải là một kho báu đáng mong ước không ?
                             Truyện: Gia đình là một kho báu
          Ông Georges đã 70 tuổi, không lập gia đình. Ông vốn là một thủy thủ, cả cuộc đời lênh đênh trên biểc cả. Ông không có nhà riêng. Cháu trai ông tên là BILL rất thương bác Georges nên đã mời bác về sống với Bill, với vợ và 5 con của Bill. Đó là sự giúp đỡ lẫn nhau: bác Georges có nhà ở, còn gia đình của Bill có dịp làm những chuyến viễn du tưởng tượng vòng quanh thế giới mỗi khi lắng nghe bác Geoges kể lại kinh nghiệm của mình.
          Đôi khi Bill cảm thấy nhàm chán và bất mãn với cuộc sống gia đình. Được rảo quanh thế giới không lo lắng, thảnh thơi vui sướng biết bao. Và Bill đã bầy tỏ nỗi lòng cho bác.
          Một chiều kia, bác Georges nhắc đến một nơi xa xăm. Bác có đánh dấu trên bản đồ một kho tàng chôn giấu. Bill ghi nhớ điều đó, nên sau khi bác Georges chết vài năm, Bill coi lại đồ đạc của bác và tìm thấy một bao thơ đề tên Bill, trong đó có tấm bản đồ. Tim đập mạnh, tay run run, Bill cố gắng tìm ra nơi cất giấu kho tàng. Sau cùng chàng cũng xác định được địa điểm: đó là căn nhà của chàng, nơi mà chàng đang đứng !
          Bác Georges đã trối lại cho chàng một kho báu là ý thức rằng nhà của chàng, gia đình riêng của chàng là kho báu. (Góp nhặt 4, tr 109-110).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP61: BỆNH   STRESS

Hãy hợp tác với mọi người
I. TRIỂN KHAI LỜI CHÚA.
          1. Tin Mừng (Ga 15,9-12)
 

Đức Giêsu yêu thương các môn đệ, Ngài đã dạy dỗ các ông nhiều điều, nhưng còn một điều quan HP61

Đức Giêsu yêu thương các môn đệ, Ngài đã dạy dỗ các ông nhiều điều, nhưng còn một điều quan trọng nhất phải để đến giây phút cuối cùng của đời mình: trong bữa ăn tối từ giã các môn  đệ, trong tình thân mật của Thầy trò, Đức Giêsu mới khuyên các môn đệ thân yêu của Ngài:”Đây là điều răn của Thầy: các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15-12).
          Nếu Đức Giêsu khuyên anh em phải thương yêu nhau thì trong đời sống gia đình, vợ chồng càng phải thương yêu nhau vì họ đã trở nên một xương một thịt” (Mt 10,8).
          2. Thư của thánh Phaolô (Cl 3,12-17).
          Thánh Phaolô rất chú trọng tới mục vụ đời sống gia đình, đặc biệt trong các thư gửi cho tín hữu Êphêsô và Côlôssê.  Trong bài đọc hôm nay, thánh Phalô khuyên các tín hữu bằng những lời này:”Anh chị em là những người được Thiên Chúa  tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em phải có lòng thương cảm, nhân hậu,  khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo “(Cl 3,12-14).
 
          Nếu thực hiện được lời thánh Phaolô ở trên, ta thấy đã có đức bác ái giữa mọi người, làm cho cuộc sống thêm dễ dàng vì đã có sự giao lưu, sự hợp tác, sự chia sẻ với nhau. Nếu ngược lại, họ sẽ mắc phải chứng bệnh của thời đại, đó là bệnh STRESS (trầm cảm, ưu uất)
 
II. NÓI VỀ BỆNH STRESS.
          1. Nguyên nhân của bệnh Stess.
          a) Bệnh Stress là gì ?  Là một bệnh hoàn toàn tâm lý. Theo bác sĩ Alfred Adler, nhà trị bệnh thần kinh trứ danh, cho biết: bệnh stress tựa như một thói oán hờn dai giẳng, muốn được người chung quanh thương hại, săn sóc tới mình. Người ưu uất (stress) nhiều khi chán đời, muốn tự tử.  Họ thường không hài lòng và trách móc mọi người.  Họ là con người ích kỷ, chỉ muốn mọi người chú ý săn sóc mình: nếu không được thì bất mãn và dễ bị bệnh stress.
          b) Tình hình hiện nay.  Cuộc đời là cõi vô thường, nhưng con người vốn tham, thân, si, suốt đời lao tâm khổ tứ vì tranh danh đoạt lợi, tác hại đến sức khỏe tâm thần.
          Theo thống kê, 15 triệu người Đức, tức 1/6 dân số 80 triệu thuờng xuyên bị căng thẳng thần kinh (stress).
          Ở Việt nam một cuộc nghiên cứu của công ty Diana cho thấy 72,2% nữ công nhân các khu chế xuất Linh trung và khu công nghệp Tân bình thường xuyên bị stress, vì áp lực công việc và khó khăn tiền bạc (báo Tuổi trẻ, 1.4.2004, trích trong Công giáo và dân tộc số 1452/2004, tr 13).
          c) Một nguyên nhân khác: người ta cũng cho biết có bệnh Trầm cảm mùa đông. Theo đó, rối loạn thời vụ, tên tắt SAD, là một hình thức trầm cảm ảnh hưởng đến một số người trong mùa đông,  nguyên nhân đích thực không rõ là gì, nhưng các nhà nghiên cứu nghĩ rằng sự thay đổi về ánh sáng mặt trời là một thành tố quan trọng.
          Bà Luann Hughes là một trường hợp điển hình – vào mùa đông, bà thay quần áo cho các con lúc mặt trời chưa lên. Tắm rửa, ăn sáng và uống cà phê trời vẫn chưa sáng.  Tình trạng thiếu ánh sáng mặt trời ấy làm cho bà Hughes cảm thấy buồn phiền và bực bội với con cái. Dùng thuốc không thấy công hiệu và bà Hughes thử dùng ánh sáng giả khoảng nửa giờ buổi sáng.  Bà được bác sĩ bảo rằng ánh sáng mặt trời ở bên ngoài có ảnh hưởng với nhiều thứ trong cơ thể người, như là cường độ của hormone có khả năng làm thay đổi trạng thái tinh thần.  Bác sĩ Michael Terman, giám đốc chương trình trầm cảm mùa đông, và viện tâm lý tiểu bang New York cho biết 80% trường hợp xử dụng liệu pháp ánh sáng có kết quả.  Ánh sáng nhân tạo gần giống ánh sáng mặt trời tỏ ra có công dụng với bà Hughes (lấy từ Internet).
          2. Phương pháp chữa trị.
a) Cách giảm stress độc đáo.
           Một dịch vụ mới tên Stopstress, tận dụng một bãi phế liệu ở Madrid, Tây  ban nha, đã thu hút nhiều người bị stress.
          Khách hàng đến đó, được phát một cây búa, áo khóac, mũ, kính bảo hộ và được cho nghe nhạc rock nặng. Họ được quyền đập phá đồ đạc từ xe hơi, máy vi tính đến điện thoại di động.
          Mỗi xuất 2 giờ nhưng không có người nào ở lại quá 30 phút, vì cách thức giảm stress độc đáo này khiến họ giải tỏa những u uất của mình.
          Nhiều người mang cả ảnh của ông chủ của họ đến để đập phá.
                             (Theo BBC, Làng cười số 9 /2004, tr 13)
          b) Phương pháp hữu hiệu.
 Muốn cho hết bệnh, cũng theo bác sĩ Alfred Adler, thì khuyên họ cố gắng mỗi ngày làm# vui lòng một người khác, vì suốt ngày họ chỉ biết nghĩ đến họ, bắt người khác phải làm hài lòng mình.
          Bác sĩ Adler còn nói tiếp:”Tôi biết rằng bệnh của họ chỉ do không chịu hợp tác với người khác, nên tôi muốn họ nhận lấy điều ấy là cần.  Khi nào họ bằng lòng hợp tác với mọi người thì họ sẽ hết bệnh.  Bổn phận quan trọng nhất  của bất cứ một người theo tôn giáo nào cũng là THƯƠNG NGƯỜI NHƯ THỂ THƯƠNG THÂN... Người nào ích kỷ không chịu nghĩ đến người khác, sẽ gặp những nỗi khó khăn nhất trong đời, và làm hại xã hội nhiều nhất”.
                             (x. Đỗ đình Tiệm, Lương thực hôm nay, t.1 , tr 116).
          c) Một chứng tá.
          Anh Giuse Dương trường Sơn , một người tân tòng,  đã tâm sự về vấn đề này: Ban đầu, mỗi lần đến lớp, tôi cảm thấy sự khó chịu lại đến với mình, nhưng cảm giác đó từ từ qua đi cho đến một hôm tôi không còn cảm thấy khó chịu nữa ; song tôi lại bối rối ray rứt trước những việc xung quanh mà lâu nay mình không lưu tâm hay để ý đến: những con người đau khổ, những mất mát hạnh phúc, những đau đớn, sự đói nghèo, những con người kém may mắn hơn tôi nhiều...
          Tại sao tôi lại vô tâm ích kỷ, hay quá độc ác...? Không, chỉ vì tôi không bao giờ suy nghĩ, quan tâm đến những điều đó. Những lời Cha nói, cha kể chỉ là những câu chuyện, những con người chung quanh tôi. Tôi đã thấy, đã gặp rất nhiều, nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ đến và lưu tâm đến họ. Tại sao bây giờ những câu chuyện đó, những con người đó đang được tôi lưu tâm và làm tôi suy nghĩ rất nhiều đến bản thân mình ? Và tại sao trước kia tôi quá thờ ơ đến mọi người xung quanh như vậy ?
          Hôm nay đã là ngày thứ tư của tuần tĩnh tâm. Tôi đã nhận ra rằng người ta chưa bao giờ dành thời gian để suy nghĩ, để cảm nhận lại những việc đã và đang xẩy ra chung quanh tôi.
                             (Lấy từ Internet)
          3. Tôn giáo là cần thiết.
          Tôn giáo nào cũng dạy các tín đồ phải có lòng bác ái, thương người. Đặc biệt Đức Giêsu còn nâng giới răn thương người lên gần ngang hàng với giới răn thứ nhất là hãy yêu mến Thiên Chúa. Cốt tủy của đạo công giáo cũng chỉ là mến Chúa yêu người.  Nếu đã biết yêu thương người khác như chính mình thì làm sao có thể bất mãn với mọi người, không chịu hợp tác với ai ?
          Nếu Chúa đã dạy ta phải thương yêu hết mọi người, kể cả kẻ thù, thì trong đời sống gia đình thì vợ chồng càng phải yêu thương nhau mật thiết hơn, khăng khít hơn vì Chúa đã nói:”Họ không còn phải là hai, nhưng là một xương một thịt” (Mc 10,8)
                             Mình với ta tuy hai mà một (Tản Đà)
          Do đó, vợ chồng có thể gọi nhau là MÌNH ƠI hay như giáo sư Winch gọi là “hỡi nửa mình của ta ơi” !
          Khi cả hai đã nên một, thì phải cố gắng sống hoà thuận với nhau, cố gắng làm hài lòng nhau, đừng bao giờ bất mãn với nhau kẻo rồi lại rơi vào trong tình trạng bị stress.
 
                             Truyện khôi hài
          Cha sở dâng lễ cầu nguyện cho các gia đình, đặc biệt cho giới gia trưởng.  Cuối lễ cha bảo các ông chồng ở lại cho ngài gặp. Cha sở nói:
          -  Nếu ai chưa hài lòng với vợ mình thì đứng lên coi !
          Mọi người đều nhất tề đứng dậy ; duy chỉ có một anh chàng ngồi yên.
          Cha sở đến gần nói:
          - Khá lắm, cha ngợi khen con là người biết sống hài lòng với vợ. Con là người duy nhất mà cha gặp, hiếm có người như con. Nhưng cha hỏi con: làm thế nào mà con sống được như vậy ?
          Anh ta thưa:
          - Chả nói giấu gì cha, tuần qua vợ con nó đánh con què chân !
          KẾT LUẬN
          Trong gia đình không thể tránh được những cảnh va chạm. Trời còn có khi mưa khi nắng, huống lọ là con người bá nhân bá tính !   Hãy yêu thương nhau, bỏ qua đi tất cả những sự dị biệt để tạo thành một cuộc sống hài hoà.   Hãy suy niệm và cầu nguyện theo kinh Hoà bình của thánh Phanxicô Assisi để tìm lại sự thanh thản trong tâm hồn.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HP62: CÓ  DUYÊN

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Trích sách Tobia 7, 9c-1o. 11c-17.
 

Chúng ta vừa được nghe đoạn sách trích trong sách Tôbia nói về việc kết hôn giữa Tôbia và Sara HP62

Chúng ta vừa được nghe đoạn sách trích trong sách Tôbia nói về việc kết hôn giữa Tôbia và Sara.  Tôbia từ xa đã đến xin người chú là ông Ra-gu-ên cho được cưới Sara làm vợ. Ra-gu-ên còn luỡng lự chưa biết quyết định ra sao thì thiên sứ hiện đến nói với ông:
“Ông đừng ngại gả con gái cho cậu này, vì cô ấy phải làm vợ cậu này, là người kính sợ Thiên Chúa; chính vì thế mà người khác không lấy được cô ấy” (Tb 7,10).
          Hiểu được ý của Thiên Chúa, ông cầm lấy tay phải của con gái, đặt vào tay phải cậu Tôbia và nói:”Xin Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Gia-cóp ở với các con. Xin Người phối hợp các con, và đổ tràn đầy phúc lành của Người xuống trên các con” (Tb 7,15).
          Sara có duyên vì được cùng với Tôbia nên duyên vợ chồng trong khi không bao giờ Sara dám nghĩ tới điều đó. Theo người ta nói: đó là duyên phận đã được Trời xếp đặt.
          Duyên phận đã trở nên duyên thắm chỉ hồng do việc hai người cùng sốt sắng cầu nguyện trước giờ hợp cẩn .
“Tối hôm cưới, cậu Tobia nói với cô Sara:”Chúng ta là con cháu các thánh và chúng ta không thể kết hôn với nhau như những người dân ngoại không biết Thiên Chúa”. Vậy cả hai người đứng dậy, cùng nhau khẩn khoản cầu xin cho được an lành” (Tb 8,5).
 
II. CẦN CÓ DUYÊN.
          1. Duyên cần thiết.
                   Ai cũng muốn mình có duyên. Ai cũng muốn được khen ngợi là có duyên và biết bao người, nhất là các cô gái, đau khổ vì thấy mình không có duyên:
                                 Một thương tóc bỏ đuôi gà,
                          Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
                                      (Ca dao)
          Đối với người nữ, duyên là cái gì rất quan trọng, nó liên can đến cả cuộc sống, nó có thể chi phối cả cuộc đời mình, bởi vì:
                              Còn duyên kẻ đón người đưa,
                          Hết duyên đi sớm về trưa một mình.
                                      (Ca dao).
          2. Duyên là gì ?
                   Theo Hoàng Phê trong cuốn tự điển Tiếng Việt thì chữ duyên có nhiều nghĩa:
          - Phần cho là Trời định dành cho mỗi người về khả năng quan hệ tình cảm hòa hợp, gắn bó nào đó trong cuộc đời.
          - “Duyên” còn có nghĩa là sự hài hòa của một số nét tế nhị đáng yêu ở con người, tạo nên vẻ đẹp hấp dẫn tự nhiên.
 
III. TẬP LÀM DUYÊN.
          1. Có thể luyện tập được.
          Nếu duyên có nghĩa là duyên phận, duyên số do Trời định thì khỏi cần bàn vì Trời đã định cả, khó thay dđổi:
                                      Rõ ràng giấy trắng mực đen,
                                  Duyên ai phận nấy chớ ghen mà gầy.
                                                (Ca dao)
          Còn Duyên theo nghĩa thứ hai thì rõ ràng chúng ta có thể đạt được, nếu muốn.  Chúng ta có thể tạo ra sự hài hòa, những nét tế nhị, đáng yêu cho... chính mình, bằng cách rèn luyện để có thể hấp dẫn một cách tự nhiên.
          Tại sao các cô bán hàng phải tập cười cho thật tươi ? Các cô xướng ngôn trên Tivi cũng cười thật tươi, thật duyên ? Tại sao các cô gái nhà giầu phải tập đi lại cho uyển chuyển dịu dàng ? Tại sao người ta phải tập sống cho thanh lịch ?  Đó là vì người ta muốn có cái duyên để hấp dẫn người khác.
          Nếu Trời không cho mình được cái sắc diện chim sa cá lặn hoặc không được dễ coi mấy thì đừng lo, cái duyên có thể có nơi mọi nguời, kể cả trong những người có vẻ xấu xí, duyên đó là duyên thầm:
                                      Người xấu duyên lặn vào trong,
                               Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài.
                                                   (Ca dao)
          Sau các cuộc điều tra, nghiên cứu và thử nghiệm, các nhà tâm lý học đã nêu ra những phương cách để rèn luyện trở thành người “ăn nói mặn mà có duyên”:
          a) Bạn hãy ít nói:
                             Chim khôn hót tiếng rảnh rang,
                       Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
          b) Hãy đôn đốc người khác nói.
          c) Tránh cãi cọ.
          d) Tốt hơn hết hãy nói về những điều  mà người đối diện thích.
          e) Hãy làm cho cuộc gặp gỡ trở nên vui vẻ bằng cách khôi hài hóa câu chuyện.
          g) Hãy... rút lui.
                             (Đỗ Quyên, Kiến thức gia đình, số 173, tr 62)
          Theo nhận xét của các nhà nghiên cứu, ngoài cái duyên trời phú cho, chúng ta có thể tạo ra cái duyên do chính sự luyện tập công phu, mỗi ngày một ít, làm thế nào để có thể trở nên con người khả ái, dễ thương.
          Cái duyên này không phải chỉ dành cho phụ nữ mà cần cho cả phái nam, bởi vì ai là người không muốn cho mình trở nên con người hấp dẫn ?
          Không phải chỉ tập luyện và giữ cái Duyên cho đến khi cưới mà sau khi thành hôn vẫn còn cần thiết. Phải luôn tập cho mình có cái duyên để làm đẹp lòng mọi người, nhất là cho người chồng.  Nếu người vợ trở nên vô duyên thì rất nguy hiểm cho đời sống lức đôi:
                                      Còn duyên anh cưới ba heo,
                                 Hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi.
                                                (Ca dao)
          2. Nét duyên thầm kín.
 
                   Khi đến gần một người thánh thiện, ta thấy từ nơi họ toát ra một cái gì hấp dẫn, đạo đức, cao quí làm ta phải mến phục.  Cái gì đó là sự thánh thiện toát ra từ con người họ, làm cho mọi người phải mến phục. Và nếu nói theo kiểu bình dân thì gọi đó là cái “Duyên ngầm” hay Duyên thánh.
 
                             Truyện: trước vậy,  sau khác
          Thời trước giải phóng có một sư huynh La san rất giỏi môn địa dư, dạy học rất hấp dẫn.  Có một nữ sinh viên thầm yêu và cám dỗ thầy xuất tu để xin cưới.  Thầy đồng ý xuất tu.  Nhưng khi đến hỏi cưới, cô ấy từ chối.  Sư huynh hỏi cho biết lý do.Cô cho biết:
          - Khi thầy còn mặc áo dòng, em thấy thầy hấp dẫn lắm, em yêu. Bầy giờ thầy cởi áo dòng ra, mặc áo đời, em thấy không hấp dẫn nữa.
          Cô sinh viên nói như thế là có ý nói: lúc này thầy đã đánh mất cái duyên thầm, hay cái duyên thánh thiêng rồi, do đó không còn hấp dẫn nữa.
          Vợ chồng cũng thế, khi cố gắng sống cuộc đời lành thánh thì tự nhiên trong người  toát ra một cái gì đó cao qúi làm cho người kia phải mến phục và muốn sống khăng khít với nhau.  Muốn được như thế, anh chị hãy thực hiện lời thánh Phaolô tông đồ:
 “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu dđựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia” (Cl 3,12-13).
          Và thánh Phêrô tông đồ cũng khuyên:
 “Ước chi vẻ duyên dáng của chị em không hệ tại cái mã bên ngoài như kết tóc, đeo vòng vàng, hay ăn mặc xa hoa ; nhưng là con người nội tâm thầm kín, với đồ trang sức không bao giờ hư hỏng là tính thùy mị, hiền hòa: đó chính là điều qúi giá trước mặt Thiên Chúa “ (1Pr 3,3-4).
KẾT LUẬN
          Thiên Chúa không bao giờ từ chối những cố gắng của con người. Tục ngữ Pháp nói:”Aide-toi, le ciel t’aidera”: Anh hãy tự giúp mình đi rồi Trời sẽ giúp cho.  Trong mọi công việc Chúa đòi sự cộng tác của ta. Hãy cố gắng tập cho có cái Duyên thánh thiêng.  Chính mình phải cố gắng và Chúa sẽ bổ túc cho qua lời cầu nguyện của ta:”Hày xin thì sẽ được”:..  Xin mọi người cùng sốt sắng hiệp dâng Thánh lễ để cầu cho đôi bạn trẻ hôm nay thực hiện được giấc mơ hằng mong đợi:
                                      Ước ao duyên thắm chỉ hồng,
                                  Để cho thục nữ sánh cùng trượng phu.
                                                (Ca dao)
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP63: KÝ KẾT HÔN ƯỚC

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
 

Đọc Thánh kinh Cựu ước, chúng ta thường hay gặp chữ GIAO ƯỚC. Thiên Chúa đãõ ký kết HP63

Đọc Thánh kinh Cựu ước, chúng ta thường hay gặp chữ GIAO ƯỚC. Thiên Chúa đãõ ký kết với dân riêng của Ngài là dân tộc Do thái một giao ước trọng đại tại núi Sinai qua trung gian ông Môse , và sau cùng đã ký kết với loài người một Giao ước mới và vĩnh viễn qua cái chết của Con yêu dấu của Ngài.
          Sách Xuất hành còn  ghi lại Giao ước được ký kết giữa Thiên Chúa và dân riêng của Ngài: Khi dân Do thái được Thiên Chúa đưa ra khỏi Ai cập qua Biển Đỏ ráo chân, tại núi Sinai, Thiên Chúa đã ký kết với dân Chúa một Giao ước trọng thể qua trung gian ông Môse.  Tại chân núi, ông Môse đã đọc cho dân chúng những điều luật mà Thiên Chúa muốn cho dân Ngài phải thi hành. Ông dâng các hy tế, đổ một ít máu trên bàn thờ và rẩy máu trên dân để đánh dấu sự hiệp nhất nối kết Giavê và Israel.  Bấy giờ dân long trọng cam kết tuân giữ các điều khoản ccủa Giao ước (Xac 24, 3-8).  Trong nghi lễ này, máu giao ước giữ một vai trò chính yếu.
          Nhưng qua thời gian, dân Chúa đã phá vỡ Giao ước ấy để đi theo các thần của dân ngoại. Nhưng Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn kêu gọi dân Chúa hãy trở lại với Ngài qua lời giảng dạy của các ngôn sứ. Sau cùng, Thiên Chúa muốn ký với dân một Giao ước mới có tính cách trường cửu bằng cách cho Con yêu dấu của Ngài phải đổ máu ra và qua cái chết trên Thập giá để chuộc tội cho nhân loại và đem con người trở lại làm con Chúa.
          Qua việc ký kết hai Giao ước ấy, ta thấy Giao ước đều được ký bằng máu: máu của chiên bò trong Giao ước Sinai và máu của Đức Kitô trên thập giá.  Chính Đức Giêsu trong bữa Tiệc ly cũng nói đến máu Giao ước này:”Các con hãy cầm lấy mà uống, vì này là chén  máu Ta, máu giao ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội” (Mt 19,28).  Giao ước được ký bằng máu.  Máu tượng trưng cho sự hy sinh, đau khổ.  Vì thế, ai chấp nhận ký giao ước là phải chấp nhận hy sinh, có lúc phải hy sinh cả mạng sống mình.
 
II. KÝ KẾT HÔN ƯỚC.
          Trong đời sống xã hội, con người liên kết với nhau qua các hiệp ước, các khế ước, các giao kèo hàm chứa những quyền lợi và bổn phận thường có tính cách hỗ tương.  Những thỏa thuận giữa phe nhóm hay cá nhân bình đẳng muốn tương trợ nhau.
          Muốn cho giao ước có giá trị tinh thần cao, nhiều khi người ta chích máu mình ra để ký kết với nhau.  Có khi người ta pha máu vào rượu để cả hai bên cùng uống và để gọi là “uống máu ăn thề” khiến cho giao ước ấy có giá trị bền vững không gì có thể làm tan vỡ được, kể cả cái chết.
          Trong đời sống hôn nhân hai người nam và nữ ký kết với nhau một giao ước song phương bình đẳng để trở thành vợ chồng theo pháp lý thì được gọi là HÔN ƯỚC.  Đối với xã hội, hôn ước này có tính cách lâu dài nhưng không vĩnh viễn, người ta có thể tiêu hủy được khi có sự đồng ý của đôi bên.  Nhưng trái lại, hôn ước Công giáo có tính cách vĩnh viễn, không ai có thể pha hủy được vì “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6).  Hôn nhân Công giáo không chỉ là hôn nhân tự nhiên mà còn là một bí tích: bí tích hôn nhân do chính Đức Giêsu đã thiết lập.
          Trong đời sống hằng ngày, trong việc sinh hoạt, trong việc làm ăn người ta thường ký với nhau nhiều khế ước, nhiều giao kèo.  Trên bình diện quốc gia người ta ký với nhau nhiều hiệp ước nhằm giúp đỡ nhau hoặc bênh vực nhau hoặc bảo vệ quyền lợi của nhau..
          Trên nguyên tắc, đôi bên phải thi hành những điều đã cam kết, bên nào vi phạm sẽ bị phạt.  Nhưng trong thực tế người ta đã phá vỡ hiệp ước rất nhiều.  Trong cuốn Le retour de Jésus Christ, tiến sĩ René Pache cho biết: từ năm 1500 trước Chúa Giáng sinh cho đến năm 1860 đời ta, tính có tới 8000 hiệp ước hoà bình .  Tuy mọi hiệp ưpớc đều có giá trị vĩnh viễn, nhưng trên thực tế, hiệu quả của mỗi hiệp ước trung bình không quá 2 năm.  Chỉ trong 19 năm, giữa hai thế chiến (1920-1939) tính đã có đến 4568 hiệp ước hoà bình.  Nguyên 11 tháng trước đệ nhị thế chiến, đã có tới 211 hiệp ước rồi.
 
III. HÔN ƯỚC TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY.
Hai anh chị hôm nay và mấy phút nữa sẽ ký kết hôn ước trước mặt đại diệnHội thánh và cộng đoàn giáo xứ.  Anh chị sẽ đọc lời tuyện thệ: nhận nhau làm vợ , làm chồng và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe,  để yêu thương và tôn  trọng nhau mọi ngày sướt đời mình.   Anh chị có ý muốn thề hứa trung thành với nhau mãi mãi hay một thời gian thôi ?  Anh chị có coi hôn ước chỉ là tờ giao kèo tạm thời để rồi tùy hoàn cảnh “hay thì ở, dở thì đi” không ?
          Theo tình hình chung trên thế giới, việc ly dị xẩy ra như cơm bữa, có tới 50% số gia đình phải chia tay nhau ; riêng tại Việt nam chúng ta,  con số lên tới 30%.  Người ta coi nhẹ hôn uớc, khi muốn người ta có thể tự phá hủy và dám nói với nhau một cách trâng tráo:
                                      Thôi đừng nhắc chuyện ngày xưa,
                                      Bởi vì đoạn kết bài thơ có rồi.
                                      Giận hờn thì cũng đành thôi,
                                      Dại gì giữ mãi một lời thề xuông.
                                                (Nhất Tuấn)
          Hôm nay anh chị thề nguyền với nhau không phải là một lời thề xuông như thi sĩ Nhất Tuấn nói, mà là một lời thề nguyền long trọng, có chất lượng được nói lên trước sự chứng kiến của hai họ và cộng đoàn giáo xứ. Anh chị phải nói lên với tất cả ý thức trách nhiệm.
          Tổ chức lễ cưới thì dễ, đọc lên lời thề nguyền càng dễ hơn, còn việc thi hành hôn uớc mới khó.. Sống thế nào cho gia đình được hạnh phúc thì càng khó. Biết bao khó khăn đang đón chờ.  Có khi chính việc tổ chức đám cưới vượt quá sức của mình lại là nguyên nhân của gia đình tan vỡ.
                                      Truyện: đám cưới của Maradona
          Tốn phí cả triệu Mỹ kim:
          - Thuê chiếc Boing 107 từ Ý về Brasil hết 500.000 mỹ kim.
          - Tranh ảnh từ Ý về để trang trí hết 100.000 mỹ kim.
          - Riêng cô dâu phải có 8 người trang điểm, làm việc suốt một tuần, với
 11 giờ mỗi ngày.
                                      (Góp nhặt 4, tr 250).
          Đáng lẽ hôm nay anh chị phải chích máu ra để ký hôn ước, máu này sẽ nói lên sự hy sinh và ràng buộc nhau như trong truyện Kết nghĩa vườn đào.  Hai anh chị hãy nhìn nhau và nhắc nhở nhau bằng câu khyên nhủ của người đời
                                      Nói lời phải giữ lấy lời,
                                      Đừng như con bướm đậu rồi lại bay
                                                (Ca dao)
          Hãy thực hiện lời thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Êphêsô:”Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thư cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Ep 3, 12-13).
          Nguyên tắc bất hủ trong đời sống vợ chồng là theo nguyên tắc của Đức Khổng Tử đã vạch ra:”Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác). Hoặc nói một cách tích cực hơn: “Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”, mình muốn thế nào thì hãy làm cho người ta như vậy.  
          Vợ chồng hãy cố gắng xử tốt với nhau , nếu chồng xử tốt với vợ thì làm sao vợ lại xử xấu với chồng được.  Ngược lại, nếu vợ tha thiết yêu chồng, săn sóc chồng, trung thành với chồng thì làm sao chồng có thể bỏ được.
 
                                      Truyện: xử tốt với vợ
          Một anh chàng muốn ly dị vợ vì vợ khó tính, mà còn muốn làm cho vợ khổ nữa.
          Một người bạn bầy kế: hãy xử tốt với nàng như một bà hoàng hậu, sau hai, ba tháng sẽ bỏ, chắc nàng sẽ đau khổ.
          Nhưng sau thời hạn mà không thấy đến báo tin kết quả. Anh bạn đến thăm hỏi cho biết sự việc thì anh kia trả lời:
          - Làm sao tôi có thể bỏ nàng được, bởi vì từ ngày tôi đối xử với nàng như một bà hoàng, thì ngược lại, nàng đối xử với tôi như một ông vua.
                             (Góp  nhaạ¨t 4, tr 122)
          KẾT LUẬN
          Hãy yêu thì sẽ được yêu lại.  Hãy cho thì sẽ được cho lại. Hãy xử tốt với người thì người sẽ xử tốt lại bởi vì có cho đi thì mới mong được nhận lại chứ.  Hãy thực hiện lời thánh Phaolô khuyên tín hữu Philipphê:”Anh em hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình.  Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (Pl 2,2b-4).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt.


 

HP64: XÍCH MÍCH

I. LỜI  CHÚA.
 

Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em HP64

1. ”Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3, 12-13).
          2. “Phải giữ mồm giữ miệng, đừng nói lời gian ác điêu ngoa, hãy làm lành lánh dữ, tìm kiếm bình an, ăn ở thuận hoà” (Tv 33, 114-15).
 
II. XÍCH MÍCH TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH.
          1. Sự kiện.
          Người ta nói: bá nhân bá tính, không ai giống ai vì tính tình khác nhau về nhiềáu phương diện nên mới có sự va chạm. xích mích, xung đột và chiến tranh. Sở dĩ có chiến tranh là vì có sự xích mích giữa hai nuớc đi đến cao điểm mà không giàn hòa được. Sở dĩ có cãi cọ hoặc xung đột giữa hàng xóm láng giềng cũng vì có sự xích mích mà không thu xếp cho êm thắm được.  Trong gia đình tuy ít người, chỉ có vợ chồng và con cái mà cũng không thể tránh được những xích mích xẩy ra hằng ngày đưa đếùn cãi cọ hoặc ẩu đả.
          2. Lý do.
Theo giáo lý nhà Phật, có ba nết xấu làm hư hỏng con người, đó là tham, sân, si.
                             Tham vì ích kỷ
                             Sân vì tự ái
                             Si vì ngu muội.
                   Trong ba nết xấu nói trên thì SÂN là khó diệt hơn cả. Bởi vì tự ái là một thói xấu sống dẻo dai bậc nhất, đến nỗi thánh Phanxicô Salêsiô phải nói:”Nó chỉ ngưng hoạt động 15 phút sau khi chết”.
          Các nhà tâm lý học, các nhà đạo đức học xưa và nay đều đồng ý rằng tính tự ái là cội rễ các cảnh đoạn trường trong thiên hạ.
          Trong giáo ly đạo Công giáo, nó đứng hàng đầu trong các nết xấu vì kiêu ngạo và tự ái là chị em sinh đôi chống lại khiêm nhường.
          Trong gia đình, nếu vợ chồng không nhất trí với nhau về bất cứ vấn đề gì là có sự xích mích ngấm ngầm hay bùng nổ.
          Ta thử đưa ra một thí dụ về con cóc.  Con cóc chỉ là một con vật và con con cóc chỉ là con cóc không hơn không kém, nhưng người ta lại có ý kiến khác nhau về con cóc, có hai chủ trương về con cóc. Một đàng thì quá quí trọng con cóc, cho rằng:
                                      Con cóc là cậu ông trời,
                                      Ai mà đánh nó thì trời đánh cho.
          Đàng khác thì chống lại ký kiên trên và cho rằng:
                                      Con cóc là cậu thầy nho,
                                      Ai mà đánh nó Trời cho quan tiền.
                                                (Ca dao)
          3. Hậu quả.
          Vậy hai ý kiến trên, hai chủ trương trái ngược nhau ấy, bên nào đúng, bên nào sai ?  Thực ra, chẳng bên nào đúng, cũng chẳng bên nào sai vì con cóc làm gì dám làm cậu ông Trời hay là cậu thầy nho, mà con cóc chỉ là con cóc. Nếu bên nào cũng cho mình là đúng, người khác sai và không biết giữ gìn miệng lưỡi và thái độ cho đúng đắn thì sẽ sinh ra xích mích , cãi cọ.  Nếu không biết nhịn nhau thì có thể có những hành động không thể chấp nhận được.   Người ta kể rằng trong một buổi họp Liên hiệp quốc, vì tức giận quá, thủ tướng Krouchef của Liên xô đã tụt giầy ra đập xuống bàn vì không nén được cơn giận...
 
III. PHƯƠNG THẾ CHỮA TRỊ.
. Trong đời sống xã hội và cách riêng trong đời sống gia đình, không ai có thể nắm trọn vẹn được chân lý. Mỗi người chỉ nắm được một phần của chân lý nên không thể bắt được người khác phải hoàn toàn theo ý mình.  Tốt nhất là hãy tỏ ra khiêm nhường, nhường nhịn nhau, thuận hòa thì sẽ không còn tranh chấp, mà đã hoà rồi thì không còn kẻ thắng người thua . Lúc đó người ta có thể nói một cách thoải mái rằng:
                                      Ai nhất thì tôi thứ nhì,
                                      Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba.
                                                (Ca dao)
                             Truyện vui: đóng cửa bảo nhau.
          Bố mẹ hay tin đôi vợ chồng trẻ cãi nhau, nên đến khuyên giải:
          - Bố mẹ đã dặn các con là phải ăn ở thuận hoà. Nếu có truyện gì trái ý thì đóng cửa bảo nhau, chứ sao lại để cho hàng xóm biết ?
          - Dạ... xin lỗi bố mẹ.  Tại vì lúc đó không ai chịu ra... đóng cửa ạ.
          KẾT LUẬN
          Muốn cho gia đình được trên thuận dưới hòa, trong ấm ngoài êm, hãy suy niệm Lời Chúa và quyết tâm đưa vào cuộc sống hằng ngày:
                   Thư thánh Phaolô: Cl 3, 12-13 và Rm 12, 16-18.
                   Tin Mừng: Lc 22,26.
          Hãy đọc và suy niệm kinh Hoà bình của thánh Phanxicô Assisi:
                   Để trở nên dụng cụ bình an.
                   Khi thứ tha thì được tha thứ,
                   Khi cho đi là lúc được nhận lãnh,
                   Lúc quên mình đi là lúc tìm lại bản thân...
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP65: XÂY DỰNG GIA ĐÌNH KITÔ GIÁO

(Giảng lễ Hôn phối)
Lm Trần Đình
I. Một vài hình ảnh về hôn nhân
 

Hôn nhân như chuyến tàu lửa: người xuống ga này, kẻ xuống ga kia, có người hăm hở bước lên HP65:

a/ Hôn nhân như chuyến tàu lửa: người xuống ga này, kẻ xuống ga kia, có người hăm hở bước lên và cũng vội vã bước xuống.
b/ Hôn nhân cũng giống như cuộc chinh phục đỉnh núi: Có những người leo được tới đỉnh. Cũng không thiếu những kẻ bỏ cuộc, cho dầu ban đầu hăm hở lắm.
c/ Hôn nhân cũng như trận golf: Có những cầu thủ chiến thắng oanh liệt. Cũng có những kẻ mới thua một hiệp đã nản chí đầu hàng.
d/ Hôn nhân như con ngọc trai, động vật có hai mảnh vỏ gắn liền nhau. Có những cuộc tình thành đạt như ngọc trai hai mảnh. Và cũng có những cuộc tình dang dở, như vỏ ngọc phơi trên bãi biển.
Nghĩa là hôn nhân dễ mang dáng dấp của sự mong manh. Vì thế, ta cần phải biết xây dựng nó.
 
II. Xây dựng một gia đình kitô giáo phải tựa trên những gì ?
1. Hạnh phúc
Trong hôn nhân, người ta thường cầu chúc cho nhau “trăm năm hạnh phúc”. Lời cầu nguyện cho đôi tân hôn trong nghi thức hôn phối là: “Ước chi họ được hưởng trọn vẹn hạnh phúc lứa đôi”.
Mà hạnh phúc là cái phải xây dựng mỗi ngày: “Hạnh phúc như ngọc trong đá, không đến với ai đi qua hững hờ. Hạnh phúc như mật trong hoa, không có cho ai không nhọc nhằn tìm kiếm”. (Phim “ngọc trong đá”).
2. Chung thuỷ
Chung là cuối, thuỷ là đầu. Chung thuỷ là biết ăn ở có trước có sau, tiền hậu bất nhất. Nếu khác đi, ta gọi là tráo trở.
Sự chung thuỷ được thể hiện cách cụ thể là: “khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khoẻ”. Không vì hoàn cảnh đổi thay mà lòng ta thay đổi.
3. Yêu thương và kính trọng
“Sông Thương, sông Cả, sông Đào,
Ba con sông ấy đổ vào sông Thương”.
Nước ba con sông được hợp lại nơi “sông Thương”. Tình yêu thì chụm lại, đồng qui ở một điểm. Không có tình yêu như hai đường thẳng song song. Tình yêu là “giây liên kết mọi sự toàn thiện”. Thánh Phaolô dạy như thế.
“Yêu thương và kính trọng” phải luôn đi liền với nhau. Thiếu sự kính trọng, không thể nói đến yêu thương được. Người xưa dạy vợ chồng phải biết “tương kính như tân”, kính trọng nhau như khách. Không nên, vì đã quá quen thuộc, gần gũi nhau mà vợ chồng thôi đối xử với nhau thiếu kính trọng.
4. Nhẫn nhục
Đi vào đời hôn nhân, người ta phải mang ba chiếc nhẫn: nhẫn đính hôn, nhẫn kết hôn và nhẫn nhục. Là bởi vì “nhân vô thập toàn”. Con người là sai lầm.
5. Sống đạo hạnh
          Thông thường, người ta xây dựng hôn nhân dựa trên 7 chữ “đ”: đẹp, đô (đô la), dream, đôm (tiếng Nga có nghĩa là nhà ở mặt tiền), động (điện thoại di động), đỏ (cán bộ), đại (đại học). Nếu chỉ có thế thì sẽ dẫn đến chữ “đ” thứ 8 là “đổ”.
Phải xây dựng gia đình kitô giáo tựa trên hai chữ “đ” khác là “đạo đức”. Hai chữ “đ” này là điều mà người ta ta có khuynh hướng khinh thường hoặc thiếu quan tâm. Nhất là đối với đời sống đạo.
Kẻ xây dựng gia đình tựa trên đạo đức, được Chúa gọi là “xây nhà trên đá”, khác đi sẽ là “xây nhà trên cát”, nghĩa là xây trên những gì mong manh, tuy chúng cũng có giá trị nào đó.
Mấy lời vắn tắt tôi xin thưa với Quý Ông Bà anh chị em, đặc biệt muốn gởi lại cho hai anh chị trong ngày trọng đại này.
                                     
 

HP66: HOA TRÁI

Gia đình hạnh phúc
I. LỜI CHÚA: Ga 15,12-16).
 

Chúa Giêsu cũng giống như các hiền triết hoặc các vị sáng lập tôn giáo đều có một số môn đệ HP66

Chúa Giêsu cũng giống như các hiền triết hoặc các vị sáng lập tôn giáo đều có một số môn đệ để truyền bá triết thuyết hoặc giáo lý của mình.. Theo truyền thống đó, Chúa Giêsu chọn cho mình mười hai tông đồ và  bảy mươi hai môn đệ. Ngài sai họ đi đến các thành thị và làng mạc để rao giảng Tin Mừng, dọn chỗ cho Chúa đến sau.
          Ngài khuyên bảo các ông:”Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng Thầy đã chọn anh em, và cắt củ anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái” (Ga 15, 15-16).
          Hoa trái mà các môn đệ thu hoạch được trong công cuộc rao giảng Tin Mừng là đem về cho Chúa nhiều linh hồn. Ý định của Thiên Chúa là muốn cho mọi người được cứu rỗi.  Thánh Irênê đã nói:”Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống” , sống đây được hiểu là sự sống đời đời.
          Chúa Giêsu cũng nói:”Ta đến để họ được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
 
II. HOA TRÁI TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN.
          Ai cũng mong trồng cây để có ngày thu lượm được hoa trái:
                             Có cấy có trông, có trồng có ăn.