Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 MC A Bài 51-100 Người phụ nữ Samari

Thứ tư - 11/03/2020 06:16
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 MC A Bài 51-100 Người phụ nữ Samari
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 MC A Bài 51-100 Người phụ nữ Samari
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 MC A Bài 51-100 Người phụ nữ Samari
MC3-A51. GẶP GỠ, BIẾN ĐỔI VÀ RA ĐI... 2
MC3-A52. CHO TÔI XIN NƯỚC UỐNG.. 4
MC3-A53. THỜ PHƯỢNG ĐÍCH THỰC - Huyền Đồng. 6
MC3-A54. Chúa Kitô biết rõ đời tôi - Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh. 8
MC3-A55. Người phải băng qua Samari 11
MC3-A56. Trống vắng. 14
MC3-A57. Nguồn nước. 16
MC3-A58. Thờ lạy trong tinh thần và chân lý. 17
MC3-A59. Chúa hiện diện đó, khi ta khát 18
MC3-A60. CÁM DỖ - THỬ THÁCH - SỰ SỐNG TRƯỜNG SINH.. 20
MC3-A61. TIẾN TRÌNH MẠC KHẢI VÀO MẦU NHIỆM ĐỨC TIN.. 22
MC3-A62. Xin ban cho con nước hằng sống. 25
MC3-A63. TRỞ NÊN MẠCH NƯỚC HẰNG SỐNG CHO THA NHÂN.. 28
MC3-A64. MẠCH NƯỚC VỌT LÊN.. 39
MC3-A65. NƯỚC HẰNG SỐNG - Trần Mỹ Duyệt 41
MC3-A66. Hạnh phúc thật 44
MC3-A67. Ta Khát 45
MC3-A68. TA KHÁT.. 48
MC3-A69. TÌNH THƠM THO NHƯ NGẤN LỆ CÒN NGUYÊN.. 50
MC3-A70. LẠI CÂU CHUYẸN BÊN BỜ GIẾNG.. 53
MC3-A71. Bên bờ giếng Giacob. 56
MC3-A72. Khát vọng vô biên của con người 57
MC3-A73. Chú giải của Fiches Dominicales. 60
MC3-A74. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 64
MC3-A75.  CHÚA NHẬT III - MÙA CHAY 2002. 68
MC3-A76. CHÚA NHẬT III MÙA CHAY (A) 69
MC3-A77. Nước Hằng Sống. 72
MC3-A78. Đổi Mới 74
MC3-A79. Chúa Giêsu - Nguồn Nước Hằng Sống. 76
MC3-A80. Sự Tôn Thờ Đích Thực. 77
MC3-A81. Chúa Nhật III Mùa Chay A.. 79
MC3-A82. Chỉ Có Chúa Mới Lấp Đầy Khao Khát Của Con  Người 81
MC3-A83. Ai là Người Đàn Bà Samaria, Ai là Chúa Giêsu Đối Với Tôi?. 82
MC3-A84. CUỘC GẶP GỠ KỲ DIỆU.. 85
MC3-A85. KHÁT.. 87
MC3-A86. CON… KHÁT.. 91
MC3-A87. NƯỚC CHẢY MÂY TAN, TÌNH BẤT DIỆT... 93
MC3-A88. AI ĐẾN VỚI TA SẼ KHÔNG HỀ KHÁT.. 96
MC3-A89. Chúa nhật III mùa chay, năm A.. 98
MC3-A90. NƯỚC HẰNG SỐNG.. 100
MC3-A91. Đức Giêsu là mạch nước hằng sống. 103
MC3-A92. NƯỚC TRƯỜNG SINH.. 107
MC3-A93. LÊN CƠN THÈM KHÁT.. 109
MC3-A94. LỚN LÊN TRONG DÒNG NƯỚC HẰNG SỐNG.. 112
MC3-A95: "NƯỚC HẰNG SỐNG" CHÍNH LÀ ĐỨC GIÊSU.. 116
MC3-A96: ĐÓN NHẬN ĐỨC GIÊSU LÀ NƯỚC HẰNG SỐNG.. 119
MC3-A97: NƯỚC HẰNG SỐNG.. 124
MC3-A98: NƯỚC HẰNG SỐNG.. 127
MC3-A99: NƯỚC HẰNG SỐNG.. 129
MC3-A100: CUỘC GẶP GỠ BẤT NGỜ.. 131

 

MC3-A51. GẶP GỠ, BIẾN ĐỔI VÀ RA ĐI...

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
Ga 4, 5-42
 

Trước khi bị thất thủ vào năm 721 BC, Samari là miền đất thuộc về dân Giavê Thiên Chúa- nơi ở dưới: MC3-A51

Trước khi bị thất thủ vào năm 721 BC, Samari là miền đất thuộc về dân Giavê Thiên Chúa- nơi ở dưới chân núi Gơridim, còn lưu lại dấu tích một cái giếng rất cổ xưa được xem là giếng của tổ phụ Giacóp. Sau khi bị năm dân ngoại xâm lăng, áp đặt niềm tin tôn giáo cũng như việc đối xử khắc khe của những người Dothái hồi hương, dẫn đến việc ly giáo Samari. Từ đó giữa Dothái và Samari trở nên thù địch không đội trời chung. Trình thuật Tin mừng hôm nay là một áng văn tuyệt tác ghi lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ tại chính miền đất đặc biệt này.

Mệt mỏi vì đường xa, Chúa Giêsu đến nghỉ bên bờ giếng tổ phụ Giacóp đúng vào lúc một phụ nữ đến đây múc nước. Cứ theo sự thù nghịch, trong trường hợp này, một trong hai người sẽ tự động rút lui hoặc chọn giải pháp im lặng. Nếu chọn giải pháp đầu thì người rút lui trước chính là Chúa Giêsu bởi Người là dân Dothái không được phép tiếp xúc với phụ nữ nơi công cộng và giếng nước thuộc quyền sở hữu của người Samari. Chúng ta thấy Chúa Giêsu và cả chị Samari đã không rút lui cũng chẳng im lặng. Chính Chúa Giêsu lên tiếng trước khai mở cho một quá trình huyền nhiệm của ơn gọi.

Chúng ta gặp trong trình thuật này cách sử dụng từ ngữ của thánh sử Gioan mà theo các nhà ngôn ngữ chính là kỹ thuật gây hiểu nhầm (Technique of misunderstanding) khi đối thoại với chị Samari cũng như với các môn đệ (x. 4, 7-9.31-33). Khi Chúa Giêsu đến giếng Giacóp và xin nước uống, chị Samari hiểu nước theo nghĩa đen, còn Chúa Giêsu hiểu theo nghĩa bóng, đó là nước hằng sống.

Thông qua nguồn nước này, Chúa Giêsu muốn giới thiệu với chị về đức khôn ngoan- điều mà trước đây ngôn sứ Isaia đã loan báo và nay chính Người đang rao giảng (x. Is 55,1). Vâng, chính Chúa Giêsu là Lời Khôn ngoan của Thiên Chúa và hết những ai khao khát Lời chân lý ấy sẽ ở mãi trong tình yêu của Người. Ngày hôm nay, chính Chúa Giêsu vượt qua mọi cấm cách, mọi thù nghịch để đến nói chuyện với chị- vốn thuộc chủng tộc ngoại lai lạc đạo, hầu mang đến cho chị nguồn hạnh phúc đích thực.

Được gặp gỡ Chúa, người phụ nữ Samari bắt đầu một hành trình đến với niềm tin. Chị dần dần nhận ra, dù chưa trọn vẹn, Chúa Giêsu chính là Đấng Kytô. Sở dĩ chị nhận ra điều này bởi người đang nói với chị “đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm”. Đề cập đến đời sống hôn nhân của chị, Chúa Giêsu không chỉ nói đến tình trạng sống phi pháp của chị mà còn gián tiếp nói đến tình trạng sống của dân Samari. Thật thế, năm ông chồng tượng trưng cho năm vị thần (thần Xúccốt Bơnốt, thần Nécgan, thần Asima, thần Nípkhát và Táctắc, thần Atrammeléc và Anammeléc) (2V 17, 30.31) của năm sắc dân ngoại xâm du nhập vào Samari khi miền đất này thất thủ. Ở đây chúng ta thấy, nếu Giavê Thiên Chúa được xem là chồng chính thức của dân Israel thì năm vị thần mà người Samari tôn thờ là những ông chồng không chính thức. Vị thần thứ sáu người Samari đang tôn thờ tuy là Giavê Thiên Chúa đấy nhưng không phải là Giavê theo niềm tin truyền thống và thuần tuý.

Được gặp gỡ và được Chúa biến đổi, chị Samari giờ đây trở thành nhân chứng và là người giới thiệu Chúa cho những người thân quen trong thôn xóm của mình. Chị vội vã ra đi, thuật lại cho mọi người tất cả những gì Chúa Giêsu nói với chị đồng thời mời gọi mọi người đến gặp gỡ Chúa. Gặp gỡ và biến đổi. Giờ đây chị hiểu rằng tin vào Đấng Kytô, chị sẽ không còn phải khát cho đời sống tâm linh; việc thờ phượng Giavê Thiên Chúa không phải tại Gơridim hay tại Giêrusalem mà là thờ phượng theo Thần khí và sự thật, nghĩa là tuân theo Thần khí hướng dẫn để hiểu thế nào là chân lý đích thực trong việc phụng thờ Thiên Chúa. Những người thân quen của chị sau khi đến gặp Chúa chắc chắn cũng sẽ hiểu như thế. Chính họ đã nói lên điều đó. “Không phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu đ trần gian”. Chính họ là những cánh tay nối dài đem ánh sáng Tin mừng đến cho miền đất vốn được xem là dân ngoại này.

Hành trình tìm đến đức tin của người Samari nói chung và chị Samari nói riêng giúp mỗi người chúng ta nhìn lại tiến trình sống niềm tin của mình. Chị Samari và những người thân quen của chị đến gặp Chúa, để Chúa hướng dẫn và chính họ ra đi, giới thiệu cho người khác những gì họ cảm nhận khi sống những phút giây thân mật với Người. Còn chúng ta thì sao…?


 

MC3-A52. CHO TÔI XIN NƯỚC UỐNG

Phó tế Nguyễn Định
CHÚA NHẬT 3 MÙA CHAY A: / 3rd Sunday of Lent

Lời Chúa cho hôm nay : CHO TÔI XIN NƯỚC UỐNG * Give Me a Drink *

* Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, đ tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước. (Gioan 4, 15)

 
  • BÀI ĐỌC 1: Xuất hành 17, 3-7= Dân trách Môsê: Có phải là để cho chúng tôi, con cái và súc vật chúng tôi bị chết khát hay không?/ People grumbled against Moses: Was it just to have us die here of thirst with our children,..?
  • BÀI ĐỌC 2 : Rô-ma: 5, 1-2; 5-8= Vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà người ban cho chúng ta./ Because the love of God has been poured out in our hearts through the Holy Spirit…
  • TIN MỪNG (Gospel): Gioan 4, 5-42= Lúc này đây -giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và sự thật./ The hour is coming, is now here, when true worshipers will worship the Father in Spirit…
A- Bạn và tôi cùng tôi cùng Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: (Some points of Reflection, live out…)                                                                                           
 

Ban Nước hằng Sống: Cậu chuyện Tin mừng thật hay hôm nay, khi Đức Giêsu ngôì bên bờ giếng Gia: MC3-A52

1- Ban Nước hằng Sống: Cậu chuyện Tin mừng thật hay hôm nay, khi Đức Giêsu ngôì bên bờ giếng Gia-cóp xin người phụ nữ Sa-ma-ri chút nước uống; nhưng chị không cho nên Ngài nói: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: ‘Cho tôi chút nước uống’ thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị Nước hằng Sống.”(Ga 4, 10) Chính tôi đã tạo ngăn cách giữa người với người, giành giật nhau nước vật chất chóng qua mà quên nước sự Sống là ân huệ tâm linh Chúa ban, và cách thờ phượng Ngài. Chia sẻ những hoa quả Thánh Thần trong tôi.

2- Cách thờ phượng Thiên Chúa: Sau khi nghe Chúa nói, người phụ nữ đã hăm hở xin cho được thứ nước kể trên và hết lòng khâm phục Đức Giêsu là một Ngôn sứ, nên Ngài phán: “Nhưng giờ đã đến - và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và Sự Thật...” (Ga 4, 23) Đây là sự thờ phượng mới mà bạn đã lãnh nhận Thần Khí từ khi chịu phép Rửa tội, Thêm sức. Bạn được làm chủ xác thịt, được làm con Thiên Chúa, gọi Chúa là Cha. Nước Hằng Sống đây là bạn thực hiện Giáo huấn Ngài là thờ Ngài trong Thần Khí và Lẽ Thật, (vì Thiên Chúa là Thần Khí thì không có phương hướng, cố định ở một điểm nào, mà ở khắp mọi nơi=Thần vô phương). Sự thờ phượng này đúng với ý của Đức Giêsu. Cách thờ phượng Chúa của bạn hôm nay.

3: Chúa đang hiện diện: Đi trong sa-mạc bốn mươi đêm ngày, dân chúng đã kêu trách Chúa vì không cho họ uống nước để con cháu họ và súc vật của họ phải chết khát hay sao? Ông Mô-sê đã cầu nguyện và Chúa đã nhậm lời: cho nước từ tảng đá để dân uống. Ông Mô-sê đã đặt tên cho nơi này là: Thử thách và Gây sự: Vì con cái Ít-ra-en đã gây sự và thử thách Đức Chúa mà rằng: “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không? (Xh 17,7) Tôi thường vẫn lẩm bẩm kêu trách Chúa chẳng khác gì dân chúng xưa, chỉ đòi hỏi thỏa mãn những tham vọng chóng qua của mình trong các lơị lộc xã hội một cách bất công, mà không nghĩ tới Nước sự Sống. Sự kiên nhẫn và tin tưởng khi tôi gặp thử thách.

4- Tất cả nhờ Thánh Thần: Thánh Phaolô đã nói với bạn trong bài đọc 2 là cái bạn đang có hiện nay là nhờ ân sủng của Ngài trong niềm tin nơi Đức Kitô, và còn tự hào trong Chúa nữa, nên bạn không thất vọng: “vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà người ban cho chúng ta.”(Rom 5,5) Như vậy, bạn cần sống hòa hợp, vui mừng, bình an. Khi bạn mở lòng khiêm tốn cầu nguyện thì Thánh Thần sẽ ban sức mạnh cho bạn trong mọi lúc nói năng, xử trí, hành động (vì: no pray no power) Cho biết cách nói chuyện và gặp gở Chúa mọi lúc.

B- Câu Kinh Thánh đánh động tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: (The Best of God’s Word) NHỮNG NGƯỜI THỜ PHƯỢNG ĐÍCH THỰC SẼ THỜ PHƯỢNG CHÚA CHA TRONG THẦN KHÍ VÀ SỰ THẬT (Ga 4, 23)

The true worshipers will worship the Father in Spirit and truth

C- Ngay bây giờ tôi phải làm gì: (So what am I doing/For Action)

1/ Bạn có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và Chia sẻ ở phần A, để áp dụng thực hành vào đời sống hàng ngày.

2/ Tôi nhớ: THIÊN CHÚA LÀ THẦN KHÍ VÀ NHỮNG KẺ THỜ NGƯỜI PHẢI THỜ TRONG THẦN KHÍ VÀ SỰ THẬT(c.24) Để nhận thấy Chúa hiện diện và đồng hành với tôi trong mọi lúc vui buồn của cuộc sống; không cố định ở nơi nào.

D- Bạn và tôi cùng Cầu nguyện với Lời Chúa: Lạy Cha, Đức Kitô đã nói với người phụ nữ: lúc này đây - Giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và sự thật. Xin cho con biết khao khát Nước Sự Sống là chính Thần Khí Cha trong đời sống phụng thờ của con, để đem những điều ấy thi hành ý Cha trong đời sống. Nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

Hoa thơm cỏ lạ: HỎA HOẠN CỦA ĐỜI SẼ KHÔNG THIÊU HỦY BẠN, NẾU BẠN ĐƯỢC TƯỚI BẰNG NƯỚC SỰ SỐNG
The fires of life will not destroy you, if you’re watered by the Living Water (The River of life)

 

MC3-A53. THỜ PHƯỢNG ĐÍCH THỰC - Huyền Đồng

CHÚA NHẬT 3 MÙA CHAY / 3rd Sunday of Lent

Lời Chúa cho Hôm nay: THỜ PHƯỢNG ĐÍCH THỰC· WORSHIP THE FATHER IN SPIRIT AND TRUTH *

Bài đọc 1: Xuất hành 17,3-7=Nước biểu hiệu cho sự sống / Water symbol for life.

Bài đọc 2: Roma 5,1-2; 5-8=Thiên Chúa yêu thương chúng ta/ God"s Love for us.

Tin Mừng: Gio-an 4,5-42=Người Phụ nữ Sa-ma-ri / Samaritan Woman.

A- Tôi cảm nghiệm Sống và chia sẻ 3 baì đọc trên: ( Reflections, live out and share)

 

Đức Giêsu đi đường mỏi mệt, nên ngồi bên bờ giếng, lúc đó có người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước, nên Chúa: MC3-A53

1/ Đức Giêsu đi đường mỏi mệt, nên ngồi bên bờ giếng, lúc đó có người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước, nên Chúa hỏi: "Chị cho tôi xin chút nước uống!". Tôi nhận thấy nước dùng hàng ngày có cần thiết không? Tại sao? Trong đời sống tâm linh và trường cửu, tôi cần Chúa ban cho loại nứơc nào?

When a Samaritans woman came to draw water, Jesus said to her: "Give Me a drink" ( Ga. 4, 6-7 )

2/ Người phụ nữ nói với Đức Giêsu: theo cha tôi ông truyền lại là phải thờ phượng Thiên Chúa trên núi này, các ông lại bảo tại Giêrusalem …Đức Giêsu đáp: "Những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và Sự Thật." Trong mọi lúc, bạn thấy Thiên Chúa hiện diện ở đâu? Ngòai giờ dâng lễ,cầu nguyện chung với cộng đòan, bạn tôn thờ trong cuộc sống như thế naò ?

…Authentic worshopers will worship the Father in Spirit and Truth. ( Ga. 4,20-23 )

3/ Sau khi được nghe Đức Giêsu nói, người phụ nữ đã chạy vội vào thành thông báo cho mọi người biết để họ đến gặp Ngài. Tôi đã làm chứng về Chúa bằng những phương cách nào? Các tiện nghi từ trong gia đình đến xã hội tôi đang hưởng, tôi có làm thành nhiều nén bạc và sinh nhiều hoa trái chưa?

The women then left her water jar and went off into the town. She said : "Come and see…" ( Ga. 4, 28-29)

4/ Trong sách xuất hành, dân Ít-ra-en khát nước gần chết đã đòi ném đá ông Mô-sê. Trong thư gởi cộng đòan Rôma, thánh Phaolô đã nói đến Chúa Thánh Thần là mạch nứớc sự sống. Bạn có thấy được nước sự sống cho tâm hồn cần thiết không? Ai là sức mạnh cho bạn để có nước không phải khát nữa? Was it just to die here of thirst…they will stone me…The Holy Spirit…given to us. ( Xh.17, 3-4; Rom.5, 5 )

B- Câu Kinh Thánh đánh động tôi nhiều nhất hôm nay: ( The Best God"s Words )

1- AI UỐNG NƯỚC TÔI CHO SẼ KHÔNG BAO GIỜ KHÁT NỮA . (Ga. 4, 14 )

2- Những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong Thần Khí và Sự Thật. ( Ga.4, 24 )

C- Ngay bây giờ tôi phải làm gì để Sống theo Lời Chúa dạy: ( So what am I doing? For action)

*Tôi chọn 1 trong 4 Cảm nghiệm Sống và và chia sẻ ở phần A để thi hành. Việc làm cụ thể trong gia đình, trường học, sở làm, thăm bệnh nhân, giúp người nghèo.v..v…

D- Tôi cầu nguyện và Sống lời tôi cầu nguyện: ( I pray and practice/ Prayer in action )

1- Lạy Chúa, Chúa đã nói với người phụ nữ Samari : Chị cho tôi xin chút nước uống. Xin cho con biết nhận ra những ân huệ Chúa ban qua mọi người, để con xin nước cho sự sống đời đời.

2- Đức Giêsu đã nói với người phụ nữ: Những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật. Xin dạy con biết thờ kính Chúa trong mọi nơi mọi lúc trong cuộc sống.

Lời hay ý đẹp: ĐỨC TÍNH KHIÊM TỐN GÍUP BẠN LUÔN ĐƯỢC MỌI NGƯỜI KÍNH NỂ, YÊU MẾN VÀ BẠN THÀNH CÔNG TRONG MỌI HÒAN CẢNH.


 

MC3-A54. Chúa Kitô biết rõ đời tôi - Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh

Người đã nói cho tôi hay mọi sự tôi đã làm
Phụng Vụ Ma Chay Năm A: Tiến Trình Mạc Khải Tam Đoạn
 

Theo tinh thần của phụng vụ Mùa Chay, qua việc Giáo Hội sắp xếp biến cố Chúa Giêsu chịu: MC3-A54

Theo tinh thần của phụng vụ Mùa Chay, qua việc Giáo Hội sắp xếp biến cố Chúa Giêsu chịu cám dỗ ở Chúa Nhật tuần thứ nhất Mùa Chay ngay trước biến cố Chúa Giêsu biến hình ở Chúa Nhật tuần thứ hai Mùa Chay, chúng ta thấy ý định của Thiên Chúa trong việc Ngài muốn tỏ mình ra nơi Chúa Giêsu Kitô cho nhân loại là để họ có thể tin vào Ngài mà được sự sống đời đời. Mà tuyệt đỉnh mạc khải của Thiên Chúa là ở Biến Cố Vượt Qua của Chúa Giêsu Kitô, một biến cố vô cùng mầu nhiệm được Giáo Hội long trọng cử hành trong Tuần Thánh và Đại Lễ Phục Sinh, Biến Cố Khổ Nạn, Tử Giá và Phục Sinh của Người. Đúng thế, chỉ qua Biến Cố Vượt Qua của Chúa Giêsu Kitô, tuyệt đỉnh của "tất cả sự thật" (Jn 16:13) Thiên Chúa muốn tỏ ra cho loài người, con người mới có thể được "sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Chúa Giêsu Kitô" (Jn 17:3).

Thế nhưng, theo Lịch Sử Cứu Độ và Đường Lối Cứu Độ, Thiên Chúa không mạc khải cho con người "tất cả sự thật" ngay từ ban đầu hay cùng một lúc, mà là từ từ cho tới khi "thời gian viên trọn" (Gal 4:4), lúc "Thiên Chúa nói với chúng ta qua Con của Ngài" (Heb 1:2), Đấng "là đường lối, là sự thật và là sự sống" (Jn 14:6). Nếu "không ai đến được với Cha mà không qua Thày" (Jn 14:6), thì quả thực Thiên Chúa đã từ từ tỏ mình ra cho con người nơi Đấng Thiên Sai Con Ngài theo tiến trình tam đoạn: "đường lối", "sự thật" và "sự sống". Nhóm 12 Vị là một trường hợp điển hình: đầu tiên các vị được kêu gọi "hãy theo Thày" (Mt 4:19; 9:9), như đi vào một "đường lối" chật hẹp khó bước lại ít người đi (x Mt 7:14); sau đó các vị mới được từ từ tỏ cho biết "sự thật" về "Thày là ai?" (Mt 16:15); và sau cùng các vị đã được hoàn toàn "thông phần với Thày" (Jn 13:8), khi Người sống lại từ trong cõi chết để làm cho các vị được "sự sống" khi "Người thở hơi trên các vị mà nói: "Các con hãy nhận lấy Thánh Linh"" (Jn 20:22).

Ba tuần (III, IV và V) giữa của Mùa Chay Năm A, Phúc Âm theo Thánh Gioan được Giáo Hội cố ý chọn đọc, cũng cho chúng ta thấy tiến trình tam đoạn mạc khải này: Trước hết, ở tuần thứ ba, Chúa Giêsu "là đường lối" tỏ mình ra qua việc làm cho người đàn bà ngoại lai Samaritanô thấy rằng Người quả thực "là Đấng Thiên Sai" (Jn 4:26,29); thứ đến, ở tuần thứ bốn, Chúa Giêsu "là sự thật" tỏ mình ra qua việc làm sáng mắt người mù từ lúc mới sinh, để anh ta có thể thấy Người "là ánh sáng thế gian" (Jn 8:12); sau hết, ở tuần thứ năm, Chúa Giêsu "là sự sống" tỏ mình ra qua việc làm cho Lazarô hồi sinh để anh ta có thể tự động bước ra khỏi mồ, đúng như lời quyền năng của Đấng tự xưng mình trước khi ra tay "Thày là sự sống lại và là sự sống" (Jn 11:25).

Nơi tiến trình tam đoạn mạc khải này, ngoại trừ ý nghĩa của việc mạc khải liên quan đến tiến trình "đường lối", "sự thật" và "sự sống" như thế, chúng ta còn thấy một điều đáng chú ý nữa, đó là đối tượng được mạc khải, những đối tượng từ xa tới gần và bao giờ cũng là đối tượng kép: đối tượng mạc khải thứ nhất là một con người ngoại lai tội lỗi ở Samaria vùng đất hoang đàng, và qua con người này mạc khải chiếu tới cả dân làng của chị; đối tượng mạc khải thứ hai là một con người Do Thái thuần túy ở Giuđêa vùng đất chính giáo, và qua con người này mạc khải chiếu tới cả dân chúng, nhất là nhóm Pharisiêu; đối tượng mạc khải thứ ba là một con người thân thiết chí tình ở Bêthania gần Giêrusalem thành thánh, và qua con người này mạc khải chiếu tới cả dân chúng lẫn Hội Đồng Do Thái (x Jn 12:9-11).

Chưa hết, về tính cách của tam đoạn mạc khải theo Phúc Âm Thánh Gioan này, chúng ta thấy việc mạc khải hình như đi ngược với đường lối nơi lời loan báo tiên khởi của Chúa Giêsu theo Phúc Âm Thánh Mathêu, lời loan báo cho thấy yếu tố nhân sinh ("hãy cải thiện đời sống") đi trước yếu tố thần linh ("Nước Thiên Chúa đã đến"). Bởi vì, qua tiến trình mạc khải tam đoạn này, Chúa Giêsu, là tất cả "Mạc Khải Thần Linh" hay "Nước Thiên Chúa", lại tự động tỏ mình ra trước, tự ý đến với con người trước, nhất là ở trường hợp thứ nhất và thứ hai, để nhờ đó, nhờ việc Người tỏ mình ra đó, con người có thể tin Người. Tuy nhiên, nếu để ý kỹ, chúng ta thấy đường lối nơi lời loan báo tiên khởi của Chúa Giêsu theo Phúc Âm Thánh Mathêu vẫn còn hiện tỏ qua cả ba trường hợp. Bởi vì, ở vào chính giây phút quyết liệt nhất và tột đỉnh nhất của mạc khải, nghĩa là giây phút con người sửa soạn để thấy được Nước Thiên Chúa, để đi sâu vào Thực Tại Giêsu, họ cần phải "cải thiện đời sống", như Moisen cần phải bỏ dép ra trước khi tiến gần đến bụi gai cháy mà không bị thiêu rụi vậy (xem Ex 3:5). Giờ đây chúng ta cùng nhau khảo sát từng mạc khải một.

Mạc Khải "Thày Là Đường Lối" cho người đàn bà ngoại lai Samaritanô.

Ở đoạn mạc khải thứ nhất trong tiến trình mạc khải tam đoạn này:

Chúa Giêsu quả thực đã tự động đến gặp người đàn bà ngoại lai ấy với chủ đích tỏ mình ra cho chị. Người biết được hằng ngày vào giờ nào chị vốn ra kín nước, và giờ kín nước của chí ấy lại là giờ vắng vẻ không có ai, (chắc có thể vì chị mặc cảm bởi đời sống bê tha tội lỗi của mình nên muốn tránh mặt mọi người chăng?). Và chị phụ nữ ngoại lai tội lỗi diễm phúc ấy, dù có ý trốn lánh mọi người ấy, vẫn không thoát được ánh mắt của "Thiên Chúa là thần linh" (Jn 4:24), do đó, chị đã không biết được Vị Thần Linh này vẫn đang theo dõi chị từng giây từng phút, cho đến lúc Ngài thực sự tỏ mình ra cho chị, vào chính ngày giờ (buổi trưa), địa điểm (bờ giếng), hoàn cảnh (kín nước) và cách thức (xin nước), chị không thể nào ngờ được.

Giây phút quan trọng nhất, quyết liệt nhất, trong đoạn mạc khải thứ nhất trong tiến trình mạc khải tam đoạn này là lúc Chúa Giêsu, sau khi đã khơi động được lòng khao khát chân thiện mỹ vốn nằm ở tận đáy cuộc đời tội lỗi của chị, như chị lên tiếng xin Người ban nước của Người cho chị, Người bảo chị "hãy về gọi chồng chị". Phải, ở đây, ngay tại chỗ này, vẫn chưa phải là tuyệt đỉnh của mạc khải thần linh, một tuyệt đỉnh chỉ xuất hiện khi nào yếu tố nhân sinh "cải thiện đời sống" nơi con người được tỏ ra, như trường hợp chị phụ nữ Samaritanô này đã tỏ ra, ở chỗ, chị đã thú thật là "tôi không có chồng".

Chính nhờ yếu tố nhân sinh vừa khao khát chân thiện mỹ, dù chưa biết rõ thực tại này ra sao, vừa thành thật không giấu diếm như thế, chị phụ nữ này đã thấy được sự thật về mình, khi nghe Người nói trúng tim đen cuộc đời quá khứ của chị. Nhờ đó, sau cùng chị đã lờ mờ được thấy sự thật về Người "Tôi biết có Đấng Thiên Sai sẽ đến. Khi Người đến Người sẽ nói cho chúng tôi biết hết mọi sự".

Nhất là sau khi Người tỏ mình ra cho chị: "Chính Tôi là Đấng đang nói với chị đây", nghĩa là sau khi mạc khải đã lên đến tuyệt đỉnh, chị đã chẳng những hoàn toàn nhận biết Người mà còn loan báo về Người nữa: "Hãy ra mà xem có người đã nói cho tôi biết mọi sự tôi đã làm! Người này không phải là Đấng Thiên Sai hay sao?".

Nội dung của đoạn nhất trong tiến trình mạc khải tam đoạn này là vai trò Chúa Kitô "là đường lối" mà con người phải theo để có thể đến cùng Thiên Chúa chân thật duy nhất, bằng không sẽ dễ bị rơi vào tình trạng ngẫu tượng (tin tưởng giả tạo), để rồi hậu quả là sẽ đi đến chỗ ngoại tình (tôn thờ ngẫu tượng, hiến thân phụng sự ngẫu tượng). Như trường hợp của dân Samaria bấy giờ, điển hình là trường hợp của chị phụ nữ tội lỗi ngoại tình này. Do đó, ngay sau giây phút quyết liệt của mạc khải, và trước khi mạc khải tiến đến chỗ tuyệt đỉnh, Chúa Giêsu liền kêu gọi chị "Chị hãy tin Tôi đi", nghĩa là Người kêu gọi chị ta hãy đi theo Người, vì, như Người khẳng định với chị rằng: "Các người tôn thờ những gì các người chẳng hiểu gì cả, còn chúng tôi biết những gì chúng tôi tôn thờ".

Vấn đề thực hành sống đạo: Bài Phúc Âm Chúa Giêsu tỏ mình cho người ohụ nữ Samaritanô hôm nay cho thấy, tự mình, con người vốn "chuộng tối tăm hơn ánh sáng" (Jn 3:19) không thể nào biết "Thiên Chúa là thần linh" (Jn 4:24), nếu Ngài không tự tỏ mình ra cho họ nơi Đấng Thiên Sai Con Ngài. Vì "Thiên Chúa muốn mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý"(1Tim 2:4), nên Ngài luôn tỏ mình ra cho mọi người và từng người tùy theo hoàn cảnh của họ. Thậm chí cuộc đời tội lỗi của họ càng là cớ mạnh để Ngài đặc biệt đi tìm họ như mục tử đi tìm con chiên lạc duy nhất vậy. Thế nhưng, con người chỉ nghe thấy tiếng chủ chiên của mình, chỉ nhận ra Người "là Đấng đang nói với" mỗi người chúng ta (Jn 4:26; 9:37), khi nào chúng ta, ít là còn khao khát chân thiện mỹ, còn thành tâm nhìn nhận con người mê lầm tội lỗi của mình mà thôi. Ý nghĩa căn bản nhất của thống hối trong Mùa Chay chính là ở chổ này và bắt đầu từ chỗ này, nhờ đó chúng ta mới có thể tham dự vào Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô.


 

MC3-A55. Người phải băng qua Samari

Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đàlạt
 

Lộ trình ngắn nhất và dễ nhận từ Giuđê đến Galilê chạy ngang qua miền Samari. Edei, "Người:MC3-A55

"Người phải băng qua Samari". Lộ trình ngắn nhất và dễ nhận từ Giuđê đến Galilê chạy ngang qua miền Samari. Edei, "Người phải", diễn tả một sự bắt buộc hay một sự tiện lợi về địa dư? 'Động từ dei, trong Tin Mừng Gioan (3, 7.14.30; 4, 20. 24; 9, 4; 10, 16; 12, 34 ...) cũng như trong các Tin Mừng Nhất Lãm (Mc 8, 31; 9,11) thường có nghĩa một sự bắt buộc phát xuất từ ý định cứu rỗi của Thiên Chúa. Có thể bảo ‘edei’ vừa xác định thêm chi tiết địa dư, vừa đặc biệt ám chỉ rằng Thiên Chúa muốn có câu chuyện này xảy ra ở Samari để mặc khải tính cách phổ quát của ơn cứu độ do Con Ngài mang đến.
"Lúc ấy chừng giờ thứ sáu". Những lối xác định thời gian loại đó ta còn gặp thấy trong 1, 39; 4, 52 và 19, 14. Trong 19, 14, cũng một thành ngữ như ở đây tái hiện trong bối cảnh vụ xử án Chúa Giêsu: có thể Gioan đã muốn dùng cùng một cách nói như vậy để ngụ ý là tính cách phổ quát của ơn cứu rỗi, được tỏ lộ trong câu chuyện hôm nay, tùy thuộc vào cái chết cứu chuộc của Chúa Kitô.
"Cho tôi uống với": Như trong mọi trình thuật của Gioan, chính Chúa Giêsu là người khởi xướng. Lời xin của Người có vẻ tự nhiên, vì lúc đó là buổi trưa, sau khi đi đường xa mệt mỏi. Nhưng đối với độc giả của Gioan, thì một lời xin như thế có vẻ lạ thường, vì người xin uống nước là chính người phải ban cho nước sống dư tràn.
"Trong Thần khí và sự thật". Một lối chú giải rất được phổ biến cho đây là lời ám chỉ việc phụng tự thiêng liêng, nội tâm, loại bỏ mọi hy tế và mọi nơi thờ phượng. Việc phụng tự hoàn toàn nội tâm này được khơi nguồn do sự hiểu biết đích thực về Thiên Chúa và do lòng sùng kính thành thật đối với chân lý. Song một lối giải thích như vậy vẫn còn thiếu sót, vì không lưu ý tới tính cách mới mẻ của việc phụng tự do Chúa Kitô thiết lập. Thật vậy, các ngôn sứ đã đòi hỏi việc phụng tự nội tâm nhiều lần rồi (Am 5, 20-26; Is 1, 11-20; 29, 13; Tv 50, 7-23; 51, 18tt). Vào thời Chúa Giêsu, người Do thái cũng như dân ngoại đều biết rằng phụng tự nội tâm trồi vượt phụng tự bên ngoài. Việc phụng tự mới được Chúa Kitô trình bày ở đây không thể chỉ là lặp lại lý tưởng các ngôn sứ rao giảng; nó phải được đặt vào trong bối cảnh chung của khởi điểm mới trong Chúa Kitô. Việc phụng tự Chúa Cha đích thực phải đáp ứng với địa vị mới của người tín hữu là được trở thành con Thiên Chúa: "Những kẻ thờ phượng đích thật" là những kẻ "sinh bởi Thiên Chúa" (1,13) bằng nước và Thần khí (3,5) và được hiến thánh nhờ sự thật (17, 17.19). Thành ra việc phụng tự mới là việc phụng tự khơi nguồn bởi nguyên lý sự sống của các Kitô hữu. Đây là phụng tự trong sự thật", vì được thành hình do mặc khải vẹn toàn của Chúa Giêsu.
"Thiên Chúa là Thần khí". Xác quyết này là một trong ba xác quyết quan trọng của Gioan về Thiên Chúa ("Thiên Chúa là ánh sáng" 1Ga 1,5; "Thiên Chúa là Tình yêu" 1Ga 4, 8-16). Nó có vẻ như là một định nghĩa về Ngài. Nó gần giống như phản ứng của các người Do thái hy hóa và các triết gia ngoại giáo chống lại những lối trình bày nhân hình về Thiên Chúa. Với lại ta không thấy một giáo huấn nào tương tự trong Cựu ước cả. Vì vậy có kẻ nghĩ rằng lời xác quyết của Gioan ở đây mang nguồn gốc Hy lạp. Tuy nhiên, không nên giả thiết một sự vay mượn như thề vì giáo thuyết của Gioan về Thần khí nối dài giáo thuyết của Cựu ước, theo đó thì Thần khí không phải là cách hiện hữu đối nghịch với vật chất, nhưng là hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa nhằm phát sinh sự sống. Đó cũng là ý nghĩa cơ bản mà ta thường gặp nơi Gioan (3, 5-8; 6, 63; 7,38; 14, 17-19). Thành ra phải kết luận rằng ớ đây Gioan không có ý chống lại những cái nhìn vật chất, như nhìn về Thiên Chúa, song chỉ muốn xác nhận quyền năng đáng tạo sự sống của Ngài.
KẾT LUẬN
Qua việc dùng các tước hiệu khác nhau, những tước hiệu mời gọi niềm tin dần dần, trang sách này của thánh Gioan đã mặc khải một khía cạnh cơ bản trong mầu nhiệm Chúa Giêsu. Lúc đầu, Người chỉ là một lữ khách vô danh. Sau đó, thiếu phụ Samari khám phá ra Người là một người Do thái (c. 9). Khi nghe lời hứa kỳ lạ về một thứ nước sống, bà hỏi Người: "Dễ chừng Ngài lại lớn hơn Giacóp cha chúng tôi sao?" (c. 12). Lúc nhìn thấy là Người đã thấu rõ bí mật đời tư của mình, bà mới nhận ra Người là một ngôn sứ (c. 19). Sau cùng, khi Chúa Giêsu đã mặc khải cách hoàn toàn rồi, bà phỏng đoán Người có lẽ là Đấng Kitô (c.29). Nhưng chính dân thành Samari, hoa quả đầu mùa của các dân tộc, mới tuyên xưng đức tin của họ vào Chúa Giêsu "Đấng Cứu Thế" (c.42). Từ đầu đến cuối, việc mặc khải vẫn nằm trong viễn ảnh lịch sử cứu độ. Các chương Tin Mừng khác mặc khải Chúa Giêsu là Đấng Thiên Chúa sai đến và là Con Chúa Cha. "Kitô" và "Con Thiên Chúa" là hai tước hiệu căn bản của bản tuyên tín theo thánh Gioan (20,31). Còn “Đấng Cứu Thế" là tước hiệu tổng hợp: Kẻ đã đến như ánh sáng trần gian (8,12; 12,46), như Người mặc khải, như Đấng Kitô, là chính Con Một được Thiên Chúa sai đến để cứu rỗi thế gian và cho mọi người có sự sống vĩnh cửu trong mình (3, 16-18) .
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Chúa Giêsu khai mào câu chuyện với thiếu phụ Samari bằng cách khêu gợi tính tò mò của bà. Người tự đặt mình vào thực tế tầm thường của đời sống thường nhật, vào hoàn cảnh của kẻ phải mệt mỏi kín nước đều đều, để rồi làm cho bà cảm thấy không phải chỉ cần có thứ nước ấy mới sống được, không phải chỉ có những thực tại vật chất là đáng kể trong đời sống. Hôm nay đây, Chúa còn hiện diện trong cuộc sống thường ngày của ta. Ta có biết nhận ra Người chăng? Có chấp nhận đối thoại với Người? Có đồng ý là không phải chỉ những thực tại vật chất mới đáng kể trong đời sống của ta Có cố gắng để đừng bị vật chất chi phối chăng? Vì không chỉ có thứ nước tự nhiên mà thôi, song còn thứ nước siêu nhiên vọt đến sự sống vĩnh cửu. Cuộc đời của ta còn phải được nuôi dưỡng bằng việc cầu nguyện và tôn thờ Thiên Chúa.
2) “Ai uống nước giiếng này, sẽ còn khát lại" (c.13). Nước này không giải khát thật sự, nó vừa tạm thời xoa dịu cơn khát, vừa duy trì và kích thích cơn khát. Ai lại không biết cái chu kỳ quỷ quái của dục vọng, luôn luôn tái phát, chẳng bao giờ nó thỏa; ai mà không cảm thấy các nhu cầu được thỏa mãn cứ trào lên vô tận, thúc đẩy mình hưởng thụ cách nào đó: càng khát, lại càng uống, càng uống lại càng khát! Và luôn luôn theo lối lý luận ích kỷ ấy mà người thiếu phụ Samari đón nghe những lại của Chúa Giêsu về nước sống và tìm cách lợi dụng cơ hội: xin Ngài ban cho tôi thứ nước ấy để tôi hết khát và khỏi đến cây múc nước" (c.15). Một ngộ nhận như thế cũng gặp thấy nơi người Do thái trong diễn từ Bánh sự sống: thưa Ngài, hãy luôn luôn cho chúng tôi bánh ấy" (6,34). Theo bản năng tự nhiên, ta có khuynh hướng muốn chụp lấy ơn Thiên Chúa như một thứ bảo hiểm sinh mạng khả dĩ miễn cho mình lăn lộn với đời, như một số vốn mang lại nhiều lợi giúp mình mãi mãi an cư, muốn thứ bánh, thứ nước Ngài ban cho ấy trở thành kho vô tận, dùng mãi không bao giờ cạn. Nhưng ơn Thiên Chúa đâu có muốn giản lược ta vào trong sự thỏa mãn cái tính cách dinh dưỡng đó: “Ai uống nước Ta sẽ ban, thì đời đời sẽ không khát nữa" Chúa Giêsu bảo vậy (c.14). người không giữ nước ấy trong một bình đóng kín, bưng bít một cách ích kỷ. Trái lại, nước Ta sẽ ban cho nó sẽ trở nên trong nó một suối nước vọt đến sự sống đời đời" (c.14). Nước sống ấy có sức giải khát vì, vượt ra ngoài-bản năng bảo tồn, nó làm phát sinh trong ta chính nguồn sống, và dạy chúng ta rằng sống chính là trao ban, là chia sẻ không tính toán, là phun trào ra mà không giữ lại.
3) Cuộc đối thoại chuyển qua hướng mới với mệnh lệnh của Chúa Giêsu: “Hãy đi gọi chồng bà ...". Để cho thiếu phụ Samari hiểu và đón nhận ơn Thiên Chúa, Chúa Giêsu đột ngột đề cập đến bí mật đời tư của bà. Trong lãnh vực này, cơn khát của người đàn bà, cơn khát tình yêu, cũng chẳng được thỏa mãn; thiếu phụ đã có năm đời chồng và người đang sống với bà hiện giờ không phải là chồng đích thực (c.18). Giống như nước mà bà phải đến múc uống luôn song chẳng đã khát, những nỗ lực tình yêu liên tiếp của bà đã làm bà thất vọng và đẩy bà vào nỗi cô đơn. Mục đích của Chúa Giêsu không phải là đem người thiếu phụ trở về thái độ sám hối song là cho bà thấy, như đã cho Nathanael thấy (1, 47-50). Người thông suốt lạ lùng, là khiến bà cúi đầu trước uy nhan của vị Ngôn sứ và từ đó chuẩn bị cho bà lãnh hội mặc khải của Thần khí. Thực vậy, không một tiếng quở trách, không một lời khuyến khích nào trên môi miệng Chúa Giêsu; không một tâm trạng tội lỗi, không một giọng thống hối nơi người đàn bà; nhưng chỉ có một lời khen ngợi đầy vẻ ngạc nhiên: thưa Ngài, tôi thấy Ngài là một ngôn sứ (c.19), và sau đó, trong câu nói với dân làng: một người đã bảo cho tôi biết mọi sự tôi đã làm (c.9). Nếu có chuyện tội chăng nữa, thì vấn đề không phải chỗ đó, hoặc hình như bị gác ngay qua một bên. Với ánh mắt nhân từ và sáng suốt, Chúa Giêsu cũng mời gọi ta hãy nhìn thăng mình không chút tự mãn song cũng chẳng chút xấu hổ, cay đắng và thất vọng. Đặc biệt Người muốn dẫn đưa ta đến chỗ nhìn nhận Người là vị "Ngôn sứ Thiên Chúa sai đến, là Đấng mặc khải về bản tính nhân loại đích thực của ta, là Đấng giúp ta khám phá ý nghĩa và không chiều kích của cơn đói khát trong ta, là Đấng tố cáo những mưu kế mà ta dùng để đánh lừa hoặc thỏa mãn cơn khát ấy một cách rẻ tiền. là Đấng dạy cho ta biết sống và trào dâng nước sống của ơn Chúa.

 

MC3-A56. Trống vắng

Một du khách từ thánh địa trở về kể lại rằng : Ngày nọ lúc ông đang ngồi trên một bờ giếng:MC3-A56

Một du khách từ thánh địa trở về kể lại rằng :
Ngày nọ lúc ông đang ngồi trên một bờ giếng, thì một phụ nữ Ả Rập, vai mang một cái thùng, tay cầm một cuộn dây quấn lại tròn như một quả cầu, với một chiếc gàu nhỏ bằng da. Đến nơi, chị cột dây vào gàu và thả xuống giếng, rồi kéo lên và đổ nước vào thùng. Khi đã đầy thùng, chị liền rời khỏi giếng và trở về nhà.
Lúc sau, một người đàn ông xuất hiện. Anh chẳng có gì để múc. Và thế là vì quá khát, anh bèn bò xuống đất, liếm những giọt nước, mà người phụ nữ đã đổ trào ra.
Câu chuyện đơn giản trên sẽ giúp chúng ta hiểu điều mà người phụ nữ Samaria đề cập đến qua đoạn Tin Mừng hôm nay.
Chị ta nói với Chúa Giêsu :
- Thưa ông, ông không có gàu để múc, mà giếng thì lại sâu, thế thì ông kiếm đâu ra nước hằng sống.
Và Chúa Giêsu đã cắt nghĩa cho chị ta hiểu rằng Ngài không định nói đến thứ nước vật chất, làm dịu đi cơn khát thông thường, mà là thứ nước thiêng liêng, làm dịu đi cơn khát tâm linh. Ngài nói :
- Ai uống nước này vẫn còn khát, nhưng ai uống nước Ta ban sẽ chẳng khát bao giờ nữa.
Như thế Chúa muốn nói : Về mặt thể xác, tất cả chúng ta đều bị khát thế nào, thì về mặt tâm linh, tất cả chúng ta cũng bị khát như vậy.
Tuy nhiên, sự khát tâm linh này là gì? Đâu là sự trống rỗng bên trong mà chúng ta đã từng cảm nghiệm…
Các tác giả Cựu Ước đã nói về điều này như là một cơn “khát Chúa”. Chẳng hạn thánh vịnh 42 thì nói :
- Như nai khát mong tìm suối mát, hồn con cũng mong đợi Ngài như thế.
Tiên tri Isaia thuật lại lời Chúa :
- Tất cả mọi kẻ khát hãy đến cùng ta.
Còn tiên tri Giêrêmia thì sánh ví Chúa như giòng suối trong. Cơn khát mà tất cả chúng ta đều cảm thấy là cơn khát Chúa. Đây là một cơn khát nội tâm mà mọi người đều có thể cảm nghiệm được như lời thánh Augustinô :
- Tâm hồn chúng con được tạo nên cho Chúa và nó sẽ còn khắc khoải cho đến khi nào được nghỉ yên trong Chúa.
Thế nhưng, nhiều người thời nay đang cố gắng tìm cách thỏa mãn cơn khát tâm linh này bằng những thứ khác không phải là Chúa. Chẳng hạn như tiền bạc, danh vọng, lạc thú. Họ hành động như cho đứa bé đang khóc một cục kẹo để nó nín. Tuy nhiên kinh nghiệm cho hay dùng vật chất để làm thỏa mãn cơn khát thiêng liêng chẳng khác nào dùng muối để giải tỏa cơn khát thể xác. Càng uống lại càng khát thêm. Nơi trái tim mỗi người đều ẩn dấu một con khát mà không giòng nước nào có thể thỏa mãn nổi, một nỗi khắc khoải mà không sự thành công nào có thể giập tắt được, một sự trống rỗng mà không của cải vật chất nào có thể lấp đầy được. Điều đó dẫn chúng ta tới kết luận của đoạn Tin Mừng hôm nay :
Chỉ có Chúa mới thỏa mãn được cơn khát trong tâm hồn chúng ta. Và chỉ một mình Ngài mới lấp đầy khoảng trống trong cuộc đời chúng ta, bởi vì như lời Ngài đã xác quyết : Ai uống nước Ta ban thì sẽ chẳng khát bao giờ.

 

MC3-A57. Nguồn nước

Có một người Á Rập nghèo nọ phải băng qua giữa sa mạc trong cơn đói khát và mệt lả. Tình:MC3-A57

Có một người Á Rập nghèo nọ phải băng qua giữa sa mạc trong cơn đói khát và mệt lả. Tình cờ, người đó bắt gặp một dòng suối. Với tất cả tấm lòng biết ơn ông ta uống từng ngụm nước và cảm thấy ngọt ngào khôn tả. Ong múc nước đổ vào bầu da cho đầy và tiếp tục cuộc hành trình.
Sau nhiều ngày vất vả, ông đã đến thủ đô Baghdad. Tìm đủ cách để được tiếp kiến quan đầu tỉnh, ông dâng kính cho quan tặng vật là chính bầu nước. Quan đầu tỉnh đón nhận món quà một cách vui vẻ. Cho nước vào trong ly, ông uống cạn và cám ơn người Á Rập, đồng thời tưởng thưởng ông một cách quảng đại.
Những người hầu cận cứ nghĩ thầm rằng đây là một thứ nước kỳ diệu nên ai cũng mong được nếm thử. Nhưng quan đầu tỉnh nhất mực từ chối… Chờ cho người Á Rập đi khuất, quan mới giải thích về cử chỉ của mình. Nước để lâu trong bầu da đã trở nên bẩn và hôi thối. Quan nghĩ rằng nếu tất cả mọi người đều uống nước đó và đều tỏ thái độ khó chịu trước mặt người Á Rập, ông ta hẳn sẽ bị tổn thương.
Người Á Rập cứ tưởng mình trao tặng cho quan đầu tỉnh món quà diệu kỳ. Hóa ra là chính quan đầu tỉnh mới là người tặng cho anh món quà vô giá, với một phong cách trao ban hết sức tế nhị và thấm đậm tình người.
Người phụ nữ Samari cứ tưởng mình làm ơn cho Đức Giêsu khi cho người uống nước từ giếng Giacóp. Hóa ra Người mới chính là vị ân nhân sẽ ban cho bà một thứ nước diệu kỳ, uống vào “sẽ không bao giờ khát nữa”.
Nước ấy chính là Nước hằng sống, nước đó chính là Lời Đức Giêsu, lời bày tỏ con người kín nhiệm của Người, là Đấng Mêsia sẽ đến. Để cuối cùng, Người đã tự tỏ mình ra không phải cho người Do Thái đồng hương, cũng không phải cho các môn đệ thân yêu, mà là cho chính chị, người phụ nữ ngoại giáo Samari : “Đấng ấy chính là tôi, Người đang nói với chị đây” (Jn 4,26). Niềm vui vỡ òa trong tim, chị vội vã đi loan báo cho dân làng, để họ cũng được uống thứ nước tuyệt diệu của Đức Giêsu, Nước hằng sống, nước uống vào sẽ không còn khát nữa.
“Đấng ấy” chính là Mêsia, vị cứu tinh của nhân loại. Chỉ những ai tin vào Người, mới đáng lãnh nhận ơn cứu độ.
“Đấng ấy” chính là Nước hằng sống. Chỉ những ai thật lòng khao khát mới được ban cho thỏa thuê dư đầy.
“Đấng ấy” chính là Lời hằng sống. Chỉ những ai đón nhận Lời và thực thi trong cuộc sống, mới được sống đời đời.
Cuối cùng, Đức Giêsu đã không ăn cũng chẳng uống. Vì Người dùng một thứ lương thực mà chính các Tông đồ cũng không hề biết. Thánh Gioan đã không để chúng ta phải chờ đợi lâu. Vâng, lương thực của Người chính là “đồng lúa đã chín vàng đang chờ gặt hái” (c.35), là “nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Người” (c.39). Cơn đói của Người là mong cho mọi người nhận biết và yêu mến Cha, cơn khát của Người là ước cho muôn người được no thỏa “nước uống vào sẽ không còn khát nữa”.
Chúng ta sẽ làm thỏa cơn đói của Đức Giêsu, khi chúng ta làm theo người phụ nữ Samari mau mắn đi loan báo cho dân làng biết Người chính là Đấng Mêsia.
Chúng ta sẽ làm thỏa cơn khát của Đức Giêsu, khi chúng ta cùng với dân làng Samari tin Người là “Đấng cứu độ trần gian” (c. 42).

 

MC3-A58. Thờ lạy trong tinh thần và chân lý

Với vẻ tò mò, người phụ nữ Samaria tiến tới phía người đàn ông đang ngồi trên thành giếng:

Với vẻ tò mò, người phụ nữ Samaria tiến tới phía người đàn ông đang ngồi trên thành giếng. Bởi vì Chúa Giêsu đang sống, bởi vì mỗi bài suy niệm này là một cuộc gặp gỡ tình yêu với Chúa Giêsu hằng sống, tại sao không nghĩ rằng Ngài đang chờ tôi? Chính Ngài nói với tôi: “Hãy cho Ta uống nước”
Nhưng Ngài khẳng định ngay: “Nếu ngươi biết rõ ơn Thiên Chúa ban: chính ngươi biết rõ ơn Thiên Chúa ban; chính ngươi sẽ xin và ngươi sẽ được uống nước hằng sống”.
Hai nỗi khát khao làm hoang mang. Chúa Giêsu nói: “Hãy cho Ta”, rồi: “Hãy xin Ta”. Và xa hơn một chút: “Chúa Cha đang cần những người tôn thờ Ngài thực sự”. Chúng ta đang ở trên đỉnh cao của sự mạc khải. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa có thể làm cho chúng ta hết khát, nhưng không có bài Phúc Âm này thì ai dám nghĩ rằng Thiên Chúa khao khát chúng ta?
Cách duy nhất để có thể xứng đáng với sự khao khát này chính là khao khát Ngài. Sự ước muốn và tình yêu có qua có lại: tình yêu vì tình yêu. Chính là phải xin nước của Ngài là nước sẽ làm cho chúng ta ước ao Chúa: “Hãy xin Ta nước hằng sống và nơi ngươi sẽ phát sinh nguồn mạch tình yêu. Ngươi có thể là một trong những người tôn thờ mà Cha tìm kiếm”.
Người tôn thờ sao? Những hình ảnh phiền nhiễu nổi lên, những người sấp mình trước một ngẫu tượng. Cho nên Thiên Chúa của chúng ta là gì nếu Ngài muốn người ta sấp mình trước mặt Ngài?
Ngài là Thiên Chúa. Không có gì có thể thay đổi được cứ liệu này trong quan hệ của chúng ta: Ngài là Thiên Chúa. Ngài không tìm kiếm những kẻ thờ lạy, Ngài tìm kiếm những kẻ thờ lạy thực sự. Sự chính xác có một tầm quan trọng lớn lao. Chỉ những kẻ tôn thờ thực sự mới đáp lại tình yêu của Ngài, không ngừng xem Ngài là Thiên Chúa. Nếu không, mối quan hệ bị sai lệch, tình yêu của chúng ta không đạt tới Thiên Chuá, chúng ta hoàn toàn ở trong sự ảo tưởng.
Tôi vừa đặt tình yêu vào chỗ tôn thờ, bởi vì chúng ta biết rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta và chờ đợi chúng ta yêu thương Ngài. Nhưng để không lầm lẫn về mối tình kỳ lạ có thể nối kết con người với Thiên Chúa này, phải đào sâu ý tưởng thờ lạy. Đây hoàn toàn không phải thờ lay một ngẫu tượng nhưng là biết yêu mến Chúa mà vẫn luôn luôn cảm nhận sự uy nghiêm của Ngài. Tôi ngần ngại trước khi viết “sự uy nghiêm”, và sự ngần ngại này chứng tỏ cho tôi thấy rằng không dễ gì tìm được ngôn từ đúng đắn cho tình yêu tôn thờ này. Do đó ngày nay có một cách nói của Phúc Âm trở nên nổi tiếng bởi vì nó xác định đầy đủ sự tôn thờ thực sự: “Phải thờ lạy Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý”.
Khi thánh Gioan nối kết hai từ tinh thần với chân lý bằng từ và, từ quan trọng nhất thường là từ thứ hai (chẳng hạn “Ông ta thấy và ông ta tin”). Do đó, ở đây phải chú trọng đến chân lý. Vẫn đối với Gioan, chân lý làm ta nghĩ ngay đến Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã khẳng định: “Ta là chân lý”. Trong khi mạc khải chân lý về Chúa Cha, về chính mình và về quan hệ giữa Ngài với Cha, Chúa Giêsu dạy chúng ta thờ lạy “trong chân lý”. Điều đó có nghĩa là: yêu Cha như Chúa Giêsu yêu thương Ngài.
Nhưng chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể ban cho chúng ta những tâm tình như Chúa Giêsu. Thờ lạy “trong tinh thần” có nghĩa là được Thánh Thần linh ứng khi chúng ta muốn yêu thương Cha theo cách của Chúa Giêsu.
Bạn chắc chắn cảm thấy tôn thờ thực sự tức là tôn thờ Ba Ngôi. Cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu ở giếng Giacob mang lại cho chúng ta ba màu sắc của sự tôn thờ: Sự tôn thờ này hướng đến Chúa Cha, trong khi, dưới ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần, sự tôn thờ này được nuôi dưỡng bằng mọi chân lý đến từ Chúa Giêsu.

 

MC3-A59. Chúa hiện diện đó, khi ta khát

Chúng ta đang chứng kiến Chúa Giêsu khởi đầu đời sống công khai. Người rời xứ Giuđêa, vì:MC3-A59

Chúng ta đang chứng kiến Chúa Giêsu khởi đầu đời sống công khai. Người rời xứ Giuđêa, vì ở đó sự thành công của Người làm cho nhóm Biệt phái tức giận. Trong giai đoạn này, Chúa không muốn đi vào cuộc tranh chấp mà bọn họ sửa soạn cho Người, nên Người đi qua Samaria để lên Galilêa. Tại Samaria xảy ra một cuộc gặp gỡ mở màn cho việc rao giảng cho dân ngoại toàn thế giới. Chúa Giêsu dừng chân ở núi Garidim. Từ 400 năm, đó là Núi Thánh của dân bản xứ. Vì kình địch với người Do Thái, họ đã biến ngọn núi này thành một nơi cạnh tranh với Giêrusalem. Đi đường xa mệt mỏi, Chúa Giêsu ngồi xuống bên bờ giếng Giacóp, trong lúc môn đệ đi vào làng mua thức ăn. Trong cuộc đối thoại với người đàn bà ra giếng múc nước, ta thấy ngay ý Người muốn dùng nước làm biểu tượng để mặc khải sứ mệnh và danh tính Người. Câu chuyện người đàn bà xứ Samaria thường được dẫn ra làm tỉ dụ về khoa sư phạm tuyệt vời của Chúa đối với con người. Chúa thâm nhập vào trong tâm trí con người, để làm nổ tung các giới hạn của nó, mở nó ra đón nhận chân lý cao cả hơn bắt nguồn từ Thiên Chúa, chớ không phải từ con người.
Đầu hết, Chúa Giêsu gợi óc tò mò tìm hiểu của người phụ nữ. Muốn thế, người đặt mình vào mức tầm thường của đời sống hằng ngày, vào mức của công việc múc nước vất vả. Người làm cho linh cảm rằng không phải chỉ cần có thứ nước đó để sống mà thôi, không phải chỉ có những thực tại vật chất mới là quan trọng trong đời sống. Do đó phản ứng đầu tiên của người đàn bà Samaria là: xin ông cho tôi thứ nước ban sự sống. Phản ứng lẫn lộn vừa ước muốn thoát khỏi sự vất vả thường ngày vừa lòng khao khát biết Chúa Giêsu muốn nói gì.
Chúa làm cho bà thắc mắc hoàn toàn khi thấy rằng Người nhìn tận đáy lòng bà. Bà hãy về gọi chồng lại đây. Hoàn cảnh bây giờ trở nên nan giải cho người phụ nữ, và bà lái câu chuyện sang hướng khác. Phản ứng rất tự nhiên.
Về việc thờ phượng tại Giêrusalem thì sao? Chúa Giêsu theo bà ‘đi vòng quanh’, lợi dụng cơ hội để nói thế nào là tôn thờ thật sự. Càng lúc càng thắc mắc thêm, bà nghĩ còn có cách nói tới việc Đấng Cứu Thế sẽ đến để thoát khỏi cuộc đàm luận này. Đó là lúc Chúa Giêsu chọn để tự mặc khải mình ra. Chính Ta đang nói với ngươi đây, Ta là Đấng ấy. Bấy giờ bà tin vào Chúa Giêsu và thuật lại điều đã xảy tới, đó là Tin Mừng rồi.
Chúa hiện diện gần gũi với đời sống cụ thể thường nhật của ta. Ta có biết nhận ra Người không? Có chấp nhận đối thoại với Người không? Có chấp nhận rằng không phải chỉ có những của cải vật chất mới là quan trọng chăng? Ta có cố gắng không để cho mình bị vật chất hóa chăng? Không phải chỉ có nước uống nuôi xác, còn có nước chảy vọt ra thành sự sống đời đời. Đời sống ta có được nuôi dưỡng bằng kinh nguyện và thờ lạy không?

 

MC3-A60. CÁM DỖ - THỬ THÁCH - SỰ SỐNG TRƯỜNG SINH

VietCatholic News (23/02/2005)

CHÚA NHẬT III MÙA CHAY NĂM A.

 

Ý nghĩa của nội dung phụng vụ Lời Chúa ba Chúa nhật đầu mùa Chay có một mối liên hệ mật:MC3-A60

Ý nghĩa của nội dung phụng vụ Lời Chúa ba Chúa nhật đầu mùa Chay có một mối liên hệ mật thiết. Chúa nhật I nói tới cám dỗ, gồm bốn cuộc cám dỗ cho ba con người. Nhưng chỉ với một cuộc cám dỗ đầu tiên, Ađam, Evà đã ngã nhào, vì bất tuân lời Thiên Chúa, vì ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình. Ba cuộc cám dỗ còn lại xảy ra với chính Chúa Giêsu. Chúa đã chiến thắng ngoan cường nhờ không ngừng sống Lời Thiên Chúa, và không ngừng hiến thân cho Thiên Chúa, cho trần gian. Như vậy, có đến hai tấm gương phạm tội của Ađam, Evà, và chỉ có một tấm gương chiến thắng của Chúa Giêsu. Dù là tấm gương chiến thắng hay chiến bại trong cám dỗ, tất cả trở thành bài học kinh nghiệm dạy ta biết ra khỏi chính mình, sống cho Thiên Chúa, cho anh em và luôn trung thành tuân giữ Lời Thiên Chúa.

Chúa nhật II: đức tin bị thử thách. Ông Abraham vâng lệnh Thiên Chúa, bỏ nhà, bỏ quê hương ra đi, từ đó bắt đầu cho một chuỗi xin vâng trong nhiều biến cố đau đớn diễn ra suốt đời ông. Còn các thánh tông đồ, dù được kiến cuộc hiển dung vinh quang của Chúa Giêsu, nhưng đó chỉ là một giấc mơ thoáng qua. Các ông phải xuống núi, phải trở về đời thực, và sẽ nếm trải nhiều thử thách lớn, đau đớn khi cùng Chúa Giêsu chấp nhận Thánh giá, không phải một thoáng qua, không là một ngày một buổi, nhưng phải liên tục xin vâng trong suốt quảng đời còn lại của mình. Qua mẫu gương sống đức tin của tổ phụ Abraham, của các thánh tông đồ, Giáo Hội muốn ta vững vàng trong thử thách bằng sự cậy trông vào Chúa, dám để Chúa dẫn dắt đời mình.

Hôm nay, Chúa nhật III, qua câu chuyện gặp gỡ, đối thoại với người phụ nữ xứ Samari ở giếng Giacob, Chúa Giêsu mạc khải, Chúa là sự sống và là sự sống trường sinh. Sự sống trường sinh Chúa ban cho chị phụ nữ khi thức tỉnh tâm hồn chị, giúp chị nhận ra tình trạng tội lỗi của mình, thì Chúa cũng ban cho chúng ta chính sự sống ấy. Như tất cả anh chị em của mình, cũng là con người, người Kitô hữu dù bước theo Chúa Kitô, Đấng là chính sự sống và trao ban sự sống, vẫn không thoát khỏi những cám dỗ làm chao đảo đức tin. Có lúc vì yếu đuối, nông nổi, họ đã sa ngã thật. Sa ngã cách đớn đau như Ađam, Evà chẳng hạn.

Người Kitô hữu cũng không hề được đặt bên ngoài những thử thách của đời sống. Như Abraham, như các tông đồ, dù chân thành theo Chúa, đức tin của người Kitô hữu cần được trui rèn, cần được giáo dục qua những thử thách ấy. Tuy nhiên, họ có một lý tưởng cao cả vượt lên trên mọi thứ có thể cảm nhận, nhìn ngắm hay cầm nắm, dù những thứ ấy quý giá đến đâu. Lý tưởng cao cả ấy là sự sống trường sinh do đức tin mách bảo. Sự sống trường sinh chính là mong ước tương lai, là hy vọng vĩnh cửu, là lẽ sống của những ai tin vào Chúa và sống đức tin của mình.

Chỉ có Chúa Kitô, Nguồng Sống thật mà họ trao gởi hết tình yêu, hết niềm tin, trọn bản thân, trọn cuộc đời, mới là sự thỏa mãn niềm thao thức trường sinh. Vì thế họ nỗ lực từng ngày vượt qua mọi cám dỗ, đạp trên mọi thử thách để đoạt bằng được chính Người, sự sống trường sinh của họ. Chính Chúa Kitô cũng ban mọi ơn cần thiết để họ mạnh mẽ và can đảm sống niềm khát khao vĩnh cửu bằng tất cả lương tâm lương thiện và thánh thiện của mình.

Câu chuyện về sự gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ xứ Samari trên bờ giếng Giacop có một chi tiết nghịch lý thú vị, rất quan trọng đáng chúng ta lưu ý nhằm đánh thức ý thức hướng thiện của mình. Chi tiết quan trọng đó là: Người xin nước uống trở thành người trao ban; còn người cho nước trở thành người lãnh nhận. Chị phụ nữ, người đã được Chúa xin nước, lại là người lãnh nhận cả một kho tàng không thể có bất cứ điều gì có thể so sánh. Kho tàng ấy là chính Chúa Giêsu, mạch suối trao ban nguồn nước trường sinh, đó là được sống chính sự sống của Chúa, sống vĩnh cửu.

Giống như ta, đi đường xa, Chúa Giêsu khát nước và đã xin người phụ nữ đang múc nước cho mình chút nước giải khát. Bằng hành động xin nước, Chúa giúp chị, cũng là giúp chúng ta khám phá cơn khát của mình: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: xin cho tôi uống nước, thì chắc bà sẽ xin Người và Người sẽ cho bà nước hằng sống”. Chúa tiếp tục dẫn dắt chúng ta đi vào chiếm hữu sự sống trường sinh ấy: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát: nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.

Vẫn chưa đến lúc chấm hết. Càng đi xa hơn với Chúa, con người càng được phát triển đức tin của mình. Chị phụ nữ đã thật thà bật thốt với tất cả lòng thành: “Tôi biết Đấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chỉ chờ một lời tuyên xưng quả cảm như thế, Chúa Giêsu đã tỏ lộ trọn vẹn bản thân Người: “Đấng ấy chính là Ta, người đang nói với bà đây”. Phúc lớn lao cho chị phụ nữ vì đã vui lòng chấp nhận để Chúa dẫn lối. Và cũng sẽ phúc cho chúng ta, nếu biết mở rộng lòng đón nhận Chúa, đón nhận lời mạc khải của Người, nhờ đó Chúa đưa chúng ta vào sự thật muôn đời bất tử là chính Chúa.

Hóa ra cần đến nước nhưng không phải là nước. Trong hoàng cảnh này, nước chỉ là biểu tượng của sự sống trường sinh. Và Chúa Giêsu, người đến xin nước không phải để uống nước, nhưng để trao ban chính mình. Khai mở bằng một cơn khát nước của Đấng Cứu Chuộc, nhưng kết thúc không phải là một cơn, mà là cả một niềm khao khát mãnh liệt vươn tới tình yêu vĩnh cửu, vươn tới sự sống thường hằng và bình an đích thực của người đã có thể ý thức mình tội lỗi. Bằng một cơn khát thể lý của Đấng Cứu Chuộc, đã có thể tạo đà cho nhân loại đi tới một cơn đói khát tâm linh, cần thiết để chuẩn bị nhân loại mở lòng đón nhận ơn cứu chuộc là chính Đấng Cứu Chuộc.

Hóa ra từ sự khát nước, Chúa dẫn ta đến một chân lý không hề sai chạy, đó là: tìm cách bù trừ khát vọng tâm linh bằng bất cứ sự thỏa mãn trần gian, thỏa mãn dục tính, thỏa mãn đam mê nào ngoài Thiên Chúa, người ta sẽ chới với, sẽ hụt hẫng, sẽ trống vắng, sẽ càng lúc càng đói khát hơn. Bởi cơn khát tâm linh, chỉ có Đấng thuộc về tâm linh mới có thể lấp đầy. Cơn khát nước thể lý không làm người ta chết, nhưng để mình bị đói khát, thiếu thốn Thiên Chúa, người ta sẽ chết đời đời. Cuộc trao đổi xoay quanh chủ đề nước, nhưng mục đích cuối cùng không dẫn đến việc uống nước, lại dẫn đến việc nhìn lại cả một quá khứ tội lỗi còn đang kéo dài đến hiện tại của một con người, giúp con người ấy ý thức mình để mà vươn lên, để mà lãnh nhận ơn bình an.

Như vậy, kết thúc cho cả một chủ đề liên tục trong ba Chúa nhật đầu mùa Chay: vượt thắng cám dỗ, vượt thắng thử thách để tiến đến chính Chúa Giêsu là nguồn hy vọng trường sinh của chúng ta, Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy sống mùa Chay một cách thiết thực bằng cách gặp gỡ Chúa trong cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa và để cho Lời ấy thấm vào con tim khối óc của mình. Vì chỉ có như thế, ta mới có thể đạt được điều mà chị phụ nữ xứ Samari đã đạt được, đó là hoán cải đời mình để tiến đến cùng Thiên Chúa, Đấng trao ban sự sống trường sinh cho chúng ta.

Lm Vũ Xuân Hạnh

 

MC3-A61. TIẾN TRÌNH MẠC KHẢI VÀO MẦU NHIỆM ĐỨC TIN

VietCatholic News (23/02/2005)
VietCatholic News (23/02/2005)

Chúa Nhật III Mùa Chay A

( Jn.4,5-42)

 

Bài Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay là một đọan văn đa nghĩa, người ta đọc ra ở đấy nhiều:MC3-A61

Bài Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay là một đọan văn đa nghĩa, người ta đọc ra ở đấy nhiều ý nghĩa khác nhau : Có người tìm thấy ở đấy một ý nghĩa mục vụ và tâm lý giúp cho chúng ta cách phải nói với tội nhân để đưa họ đến chỗ hóan cải. Có người lại thấy đọan Tin Mừng này có ý nghĩa Bí Tích, đó là nước trường sinh ám chỉ nước trong phép Thánh Tẩy, còn bánh hẳn là liên hệ với phép Thánh Thể. Có người lại giải thích theo một ý nghĩa Kitô học, Gioan giới thiệu một đề tài nền tảng : “Đức Giêsu là ai để tin vào Ngài ?”.

Điều này phù hợp với mục đích của tòan tác phẩm Tin Mừng thư tư, vì Jn.20,31 Gioan trả lời rất rõ : Các điều đã viết đây là để anh em tin rằng : Đức Giêsu chính là Đức Kitô con Thiên Chúa, và bởi tin thì anh em có sự sống nhờ Danh Ngài. Như thế tác giả muốn chúng ta hiểu rằng : Đức Giêsu chính là Đức Kitô Con Thiên Chúa và nhờ tin như vậy thì được sống. Hay nói đúng hơn đọan văn nhằm trình bầy hành trình đức tin của người ly khai Do Thái Giáo.

1/ Hành trình đức tin của người phụ nữ Samaria:

Cuộc đối thọai giữa Chúa Giêsu và thiếu phụ đã dân đưa chị qua ba chặng :Trước hết chị đã được dẫn đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác : Chúa Giêsu không như những người Do Thái khác, khinh thị người Samari nhất là phụ nữ Samari, trái lại Ngài còn kính trọng chị, hạ mình xuống xin nước uống (c.9). Nhưng ngay sau đó Chúa Giêsu đã xoay tình thế “ Nếu chị…người ấy ban cho chị nước hằng sống”(c.10) và chị vội vàng xin nước Ngài (x.c.15).

Nước là nguồn mạch và tiềm năng của sự sống, nước để thanh tẩy, nước ban sự sống đời đời. Chúa Thánh Thần là nguồn nước sự sống. Đức Giêsu đã làm cho chị nhận ra mình không phải là người cho nước mà trái lại là người xin nước.Chặng hai : Chúa Giêsu làm cho chị nhận ra mình được Ngài biết rõ và từ đó nhận ra Đức Giêsu là một ngôn sứ. Người thiếu phụ ngạc nhiên “ ông ấy nói với tôi mọi sự tôi đã làm” (c.29-31). Chị ngạc nhiên vì thấy Đức Giêsu đã biết rõ mình (x.c.18). Trong khi mạc khải cho thiếu phụ Samaria biết rõ đời tư của chị, Đức Giêsu đã tự mạc khải chính mình. Cách làm này cũng tương tự cách làm đối với Nathanael (Jn.1,47-49).

Sau cùng Đức Giêsu tăng cường niềm chờ mong Đức Kitô và mạc khải mình chính là Đức Kitô. Thật vậy, người phụ nữ nhận thấy người đối thọai vừa cởi mở vừa sáng suốt, nên người thiếu phụ liền nêu ra vấn đề lâu đời chia rẽ người Do Thái với người Samaria. Phải thờ phượng Thiên Chúa ở núi này hay tại đền thờ Giêrusalem ? Thắc mắc này cho thấy thiếu phụ đang khao khát ngóng đợi Đấng Messia và Ngài tỏ cho chị thấy Ngài chính là điều mà chị đang chờ mong “Ai uống nước Ta ban sẽ không còn khát…”(c.14) và người chị mong đợi“Đấng ấy chính là tôi”(c.26). Sự phân rẽ giữa nơi thờ phượng thì Chúa Giêsu xóa bỏ, điều mà họ mong mỏi là “ lúc này không còn là ở Giêrusalem hay Garazim mà là trong tinh thần và chân lý”(c.23-24).

2/Chúa Giêsu làm cách nào để người phụ nữ có những chuyển biến ?

Trước hết Chúa Giêsu đã làm cho bà thay đổi tương quan với Ngài : Trước đây là một sự kỳ thị, người Do Thái liệt kê người Samaria là người ly khai, còn người DoThái là người trung thành với luật, tự đặt mình lên trên họ. Còn Chúa Giêsu lại tự hạ ngỏ lời xin bà nước, việc tự hạ ấy có thể làm tổn thương danh dự của Chúa Giêsu và cả dân tộc mình, nên chính các môn đệ cũng ngạc nhiên (x.c.27). Nhưng sau khi xin nước, người thiếu phụ cảm thấy mình được tôn trọng và thương mến. Cho nên sự hạ mình của Chúa Giêsu chính là cốt lõi để biến đổi tương quan giữa Chúa Giêsu và phụ nữ. Rồi Ngài gây ngạc nhiên cho chị, Ngài chuyển từ nước tự nhiên sang nước tái sinh và đã giúp chị chuyển biến từ người cho sang người xin và tư người xin sang người cho.

Người thiếu phụ đang khát tình thương, nên chi mới sống với nhiều người đàn ông như thế, khát tình thương mà Chúa ban tình thương thì điều đó quan trọng như thế nào đối với chị ! chị đã nhận ra Chúa Giêsu chẳng những là Ngôn Sứ (x.c.19) mà còn yêu thương chị nữa, dù đời tư chị qúa khứ cũng như hiện tại chả ra gì, nhưng Chúa Giêsu vẫn tôn trọng nên chị nhận ra mình được yêu và biến đổi là lẽ đương nhiên.

3/ Loan báo :

Khi nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Messia(x.c.26) thì chị đã vội vàng loan báo cho dân chúng “Mau mau hãy đến mà xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng ông đó là Đấng Kitô”(c.29). Và những người Samaria đã qua trung gian người thiếu phụ mà có được niềm tin (x.c.39), nhưng sau đó họ trực tiếp gặp gỡ Ngài. Các môn đệ đầu tiên cũng vậy, khi được Gioan Tẩy Gỉa giới thiệu và nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai thì đã đi loan báo, giới thiệu cho những người thân quen. Chẳng hạn Andrê nói với Phêrô : chúng tôi đã gặp đấng Messia và giới thiệu em mình cho Chúa Giêsu, rồi Philipphê gặp Nathanael cũng nói : Đấng mà sách luât Moisen và các ngôn sứ nói tới chúng ta đã gặp(x.Jn.1,35-46). Và tiến trình niềm tin của các môn đệ tiên khởi cũng tương tự như thế khi Phêrô được anh loan báo thì ông được dẫn đến để trực tiếp gặp Chúa Giêsu và Nathael được bạn loan báo thì cũng diện kiến Chúa Giêsu và đối thọai với Ngài rồi chính ông thốt lên “ chính thầy là Con Thiên Chúa, là vua Israel”(Jn.1,49).

4/ Sứ điệp Tin Mừng :

Có thể sống điều mình tin mà không loan báo không ?Chúng ta có thể thực sự tin vào Chúa Giêsu mà chỉ qua trung gian không ? Phải có sự gặp gỡ Chúa Giêsu thực sự qua việc cầu nguyện.Muốn loan báo, muốn giúp người khác tin vào Đức Giêsu chúng ta phải làm thế nào ?Thiếu phụ Samaria đi kín nước, đâu ngờ mình gặp được Đấng Thiên Sai, còn bạn, khi lao động, đi buôn bán, đi làm, đi học…bạn có thể tìm gặp Chúa được không ? Chúa Kitô đã vượt ra ngòai hàng rào nghi kỵ, thành kiến để gặp gỡ và chinh phục người thiếu phục Samaria bằng tình yêu, để chị trở thành con cái Chúa và làm chứng tá Tin Mừng. Xin cho chúng con biết lắng nghe tiếng Chúa mời gọi, xích lại gần nhau để đối thọai và lắng nghe nhau trong tinh thần cởi mở chân thành. Nhờ đó, Mùa Chay thánh này sẽ sinh hoa trái cho chúng con.


 

MC3-A62. Xin ban cho con nước hằng sống

VietCatholic News (Thứ Tư 20/02/2008 23:45)
CHÚA NHẬT 3 MÙA CHAY A

Xuất hành 17: 3-7; Tv 95; Rôma 5: 1-2,5-8; Gioan 4: 5-42

Thưa quí vị

 

Từ “di dân” (immigrant) ngày nay quen thuộc với hết mọi người, mọi quốc gia. Nhưng cách:MC3-A62

Từ “di dân” (immigrant) ngày nay quen thuộc với hết mọi người, mọi quốc gia. Nhưng cách đây không lâu thị còn là ngôn ngữ lạ tại vì những người mới đến thường được ta gọi bằng từ khác: dân ngoại cư (alien). Phong trào di dân bây giờ cũng là chuyện thường tình. Lý do thì vô số: kinh tế, chính trị, tôn giáo, sắc tộc…

Ông tổ tôi là người miền nam nước Ý đại lợi. Tên họ chúng tôi chứng minh điều ấy. Cư dân nước Mỹ bây giờ đều như thế cả: Anh, Pháp, Đức, Ái nhĩ lan, Phi châu, Á châu. Ngay cả dân da đỏ, tự nhận mình là dân bản địa (native). Nhưng thực ra thì cũng từ nơi khác đến. Có thể là 20, 30 ngàn năm về trước. Chẳng cần khảo cổ, cứ tra cứu tên gốc của họ, tự khắc biết. Thời còn trẻ, dưới con mắt của tôi, ông bà cha mẹ tôi là những old folks (dân kỳ cựu) họ bỏ quê hương tìm đến “đất hứa”. Họ đã chịu đựng nhiều thiệt thòi, gian khổ, rét mướt, khinh dễ, thành kiến, ghét ghen, kỳ thị… và họ cam chịu để con cháu được hưởng phúc lộc hôm nay. Ông bà tôi kể, lúc mới đến người ta ghê tởm họ vì lầm tưởng họ là những kẻ ăn giun (trùng). Thực ra họ ăn spaghetti một đặc sản của nước Ý, nổi tiếng bây giờ, nhưng lúc ấy còn rất nghèo, nên spaghetti có màu xám. Ngoài ra họ thường bị hiểu lầm về nhiều chuyện khác do ngôn ngữ bất đồng. Về phần ông bà tôi thì cũng nhớ quê hương da diết bởi phải gánh chịu những nặng nhọc, khó khăn mới.

Vậy thì chúng ta hiểu tâm lý của dân tộc Israel trong bài đọc 1 hôm nay trích từ sách Xuất hành:”Trong sa mạc, dân chúng khát nước đã kêu trách ông Môsê rằng: ông đưa chúng tôi khỏi Ai cập để làm gì? Có phải để chúng tôi, con cái chúng tôi và súc vật của chúng tôi bị chết khát hay sao?” Tuyển dân cũng đang trên đường di cư. Họ rời bỏ kiếp nô lệ ở Ai Cập, nơi mà tổ tiên họ đã cư ngụ 400 năm, để về đất hứa. 400 năm là thời gian dài, họ đã cắm rễ sâu vào mảnh đất ấy, quen thuộc với phong tục, tập quán, nếp sống củ hành củ tỏi Ai Cập. Lúc này phải bỏ lại tất cả để ra đi, thì thật là khó, rồi phải đương đầu với những gian nan nhọc nhằn mới ở đất lạ quê người, chiến đấu với thiên nhiên, thú dữ, thổ dân. Cho nên tâm lý bất an, chao đảo là điều không thể tránh được. Như xuất hành thuật lại: Tác giả dùng hai từ cụ thể làm bằng cớ: Massah: thử thách và Meriba: chịu đựng. Cuộc hành trình thật dài, thật gian khổ, thất bại và thất vọng triền miên. Sách kể tiếp: Họ nghi ngờ kêu lên: Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không?

Chúng ta có thể đồng hóa với tuyển dân trong mùa chay này, khi mà hằng ngày cũng gặp những giây phút tương tự, hoàn cảnh tương tự, trên con đường thiêng liêng, với bao cám dỗ của đồng đạo, đồng bào và thế giới chung quanh. Chúng ta than: Ích chi những khổ chế trong khi thiên hạ ngày ngày yến tiệc linh đình, ích chi khó nghèo, khiêm nhường, vâng phục; trong khi nhung lụa ê hề, kiêu căng tự khẳng định khắp hang cùng ngõ hẻm: Ti vi, báo chí, xã hội, kinh tế, chính trị, giáo hội, nhà tu? Liệu tôi chịu đựng được bao lâu? Liệu Chúa còn ở với tôi không? Kết thúc rồi thế nào? Điều chi ở phía trước? Từ chối mình để làm chi? Tốt nhất là người ta sao mình vậy? Thử xem ai đã hơn ai? Trăm nghìn cám dỗ ở chân núi Horeb như tuyển dân vậy.

Hiểu thế để chúng ta thấy rằng muốn trung thành với ơn gọi chúng ta phải khao khát Chúa. Chúng ta cần đến Ngài từng giây từng phút. Chúng ta phải thay đổi não trạng thế tục để có thể tiếp tục đi tiếp con đường đã “trót chọn” theo tiếng Chúa gọi. Chúng ta luôn cảm nghiệm sa mạc trong cõi lòng mình, cho nên luôn cần nước trong lành của Ngài để giải khát, chứ đừng thắc mắc: Tôi vào nhà dòng để làm gì? Để rồi cố gắng thu tích sung sướng cho riêng mình.

Bởi lẽ, cứ như câu truyện hôm nay Chúa sai Môsê đập đá tảng cho chúng ta có nước uống. Chính từ những gian khổ hàng ngày, những vật lộn với các cám dỗ mà ơn thánh sẽ vọt ra làm đỡ cơn khát cho các môn đệ trung thành. Điều này không phải là khuyên nhủ ăn bánh vẽ. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Samaritana ở giếng Giacóp là bằng chứng chân lý. Câu truyện dài và quá quen thuộc. Nhưng hoàn cảnh hơi khác thường. Cứ theo thói tục. Thì phân biệt giới tính thời Chúa Giêsu rất nặng nể trong các xã hội Palestine. Đàn bà, con gái, trẻ em lúc ấy chẳng có chút địa vị và nhân phẩm nào. Họ thuộc “sở hữu” của đàn ông. Luật lệ do đàn ông ban hành. Phụ nữ chỉ có bổn phận vâng theo mù quáng và tuyệt đối. Chỗ của họ là ở nhà, bếp núc, con cái. Chỗ của đàn ông là đồng ruộng, nơi công cộng, chợ búa và cổng làng. Giếng nước là chung nhưng khác thời gian: Buổi sáng và chiều, đàn bà con gái. Đàn ông, các lúc còn lại. Nhưng người phụ nữ hôm nay ở giữa trưa vắng vẻ. Các chú giải bảo rằng vì chị ta nổi tiếng xấu, nên tránh đàm tiếu của dân làng. Không hiểu thực hư thế nào. Nhưng rõ ràng câu chuyện chỉ xẩy ra giữa hai người: Một, đàn ông Do thái, kẻ thù của dân tộc Samaritanô. Hai, phụ nữ trắc nết, thuộc cư dân rối đạo.

Chắc quí vị đoán ra ngụ ý của Gioan: Ông muốn đưa vào Tin mừng một cuộc cách mạng: xã hội, tôn giáo và chủng tộc. Một con đường tinh thần hoàn toàn mới: Xóa bỏ mọi ranh giới ngăn cách. Khơi dây trong lòng người ta nội lực vô tận. Xin đọc kỹ Phúc âm. Tác giả John P. Pilch đếm được 7 lần Đức Giêsu cất tiếng nói và 7 lần người phụ nữ ngỏ lời. Đó là điều mới lạ trong cộng đồng Gioan, nơi chỉ có đàn ông được phép nói. Người ta miệt thị phụ nữ, coi họ như nô lệ. Ngày nay cũng vẫn vậy, mặc dù lý thuyết có đổi khác.

Chính các tông đồ đi chợ về chứng kiến quang cảnh cũng lấy làm gương mù. Rồi thì chị ta lại dám đi vào thành loan tin cuộc trò truyện của mình với một đàn ông lạ mặt. Đúng là Đức Kitô đang thực hiện một cuộc “tạo dựng” mới. Tạo dựng bình đẳng giữa người và người tại một nơi rất tầm thường “giếng nước”. Nhưng ý nghĩa thật là sâu sắc. Giống như Thiên Chúa ngày thứ nhất dựng nên ánh sáng. Đức Giêsu cũng kéo người phụ nữ ra khỏi tối tăm của tâm hồn, khỏi nếp sống sa đọa của chị, ban cho chị dần dần ý thức được tình trạng nô lệ của mình và căn cước của người nói chuyện với chị. Thoạt đầu, chị gọi Ngài là dân Do thái, sau đó tiến lên Đấng tiên tri, rồi Đấng thiên sai, cuối cùng Cứu Chúa của thế gian. Thì ra chị đã hiểu Đức Giêsu hơn ai hết trong giai đoạn này.

Phần Đức Kitô lại còn sâu sắc hơn. Ngài tế nhị xin nước của chị, rồi dần dần dẫn chị đến lòng khao khát “nước” Ngài ban cho chị, nước ấy vọt ra từ tâm hồn chị vươn đến sự sống muôn đời. Đó là nội lực của mỗi linh hồn. Ngôn ngữ võ nghệ gọi là thế công. Chúng ta nên suy nghĩ sâu xa hơn về biến cố này và áp dụng cho linh hồn mình. Kẻo cứ vô tâm chạy theo thế gian mãi.

Riêng đối với những ai làm việc truyền giáo, cũng nên học nơi bài đọc 3 hôm nay nghệ thuật thu hút linh hồn người ta. Không bằng tiền tài, danh vọng hoặc cưỡng chế thuyết phục, học thức hào nhoáng. Nhưng bằng kỹ thuật của Đức Kitô. Kỹ thuật đó cũng là “nội lực” của linh hồn Ngài, rồi tiếp đến xin người ta cho nước ưống, tức tài năng trí tuệ hiện trạng mà họ đang có, rồi dẫn đến sự thiếu thốn trong con người họ. Từ đấy nảy sinh lòng khao khát sự thật. Đức Kitô không dùng áp lực để tiến vào tâm hồn chị phụ nữ. Nếu như Ngài làm như vậy chị sẽ lập tức đóng cửa linh hồn chị lại, chứ không mở toang ra cho Ngài. Đây là sự khác biệt to lớn giữa những người tự nhận là thông thái, là độc quyền chân lý và Đức Giêsu, nhà truyền giáo thật sự và vĩ đại. Ngài khơi đầu câu chuyện bằng cách bày tỏ “nhu cầu” của mình: Ngài đang khát khao linh hồn người đối diện. Chị liền mở lòng ra ban tặng “nước” cho Ngài. Câu truyện tiến hành hết sức tự nhiên. Người đàn bà từ từ nhận ra “nhu cầu” của mình và tình nguyện xin “nước hằng sống”. Xin tình yêu của Thiên Chúa. Nhưng lạ lùng thay Chúa bảo chị “nước” đó đang nằm sẵn trong trái tim chị. Chị chỉ cần khơi dậy và được uống thỏa thuê.

Than ôi, xưa nay chúng ta kiêu căng và ngu tối biết bao! Cho nên chẳng lạ gì thế giới vẫn đi trong đêm tối âm u. Bao nhiêu lần chúng ta rao giảng về Chúa, khoe mình là thông thạo về Ngài. Nhưng kỳ thực chưa bao giờ được gặp Ngài. Vì nếu gặp thì đã nên giống chị đàn bà Samaritana hôm nay. Vội vàng chạy vào thành báo tin và cả thành ùa ra đón Chúa và mời Chúa ở lại với chúng ta. Phúc âm kể rằng Ngài đã ở lại đó hai ngày. Sau cùng họ nói với chị: không phải vì lời chị mà chúng tôi tin. Chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người là Đấng cứu độ trần gian.

Chúng ta dâng cho Chúa phần nhỏ nhất mình có, phần còn lại dành cho vinh quang mình. Ăn chay, đánh tội, khổ chế cũng vậy thôi, chứ chưa nói đến việc dung dưỡng xác thịt. Chúng ta quên rằng hy sinh cho Chúa, sẽ nhận lại gấp trăm. Ở Cana, Chúa xin mấy người phục vụ đổ nước lã đầy các chum và kết quả là 6,7 trăm lít rượu ngon. Trên núi, em bé cho Ngài năm cái bánh lúa mạch và hai con cá nhỏ, vậy mà hàng vạn người ăn no nê. Hôm nay chị đàn bà cho Ngài uống chút nước và chị được nguồn suối tình yêu vọt lên đến sự sống muôn đời. Chúng ta nghĩ sao về mùa chay này, hy sinh cho Chúa hay tiếp tục gấm vóc lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình. Cái đó tùy lòng đạo đức mỗi người. Amen.

Chuyển ý Lm Thomas Túy OP

Lm Jude Siciliano OP

 

MC3-A63. TRỞ NÊN MẠCH NƯỚC HẰNG SỐNG CHO THA NHÂN

CHÚA NHẬT 3 MÙA CHAY A
Xh 17,3-7 ; Rm 5,1-2.5-8 ; Ga 4,5-42
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Ga 4,5-42
(5) Vậy Người đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. (6) Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa. (7) Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy: “Chị cho tôi xin chút nước uống !”. (8) Quả thế, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. (9) Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói: “Ông là người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Quả thế, người Do thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. (10) Đức Giê-su trả lời: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: Cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị Nước Hằng Sống”. (11) Chị ấy nói: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra Nước Hằng Sống ? (12) Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ Gia-cóp chúng tôi, là người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy”. (13) Đức Giê-su trả lời: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. (14) Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”. (15) Người phụ nữ nói với Đức Giê-su: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước”. (16) Người bảo chị ấy: “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây”. (17) Người phụ nữ đáp: “Tôi không có chồng”. Đức Giê-su bảo: “Chị nói: Tôi không có chồng là phải, (18) vì chị đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng”. (19) Người phụ nữ nói với Người: “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một Ngôn sứ… (20) Cha ông chúng tôi đã phờ phượng Thiên Chúa trên núi này. Còn các ông lại bảo: Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa”. (21) Đức Giê-su phán: “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. (22) Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do thái. (23) Nhưng giờ đã đến và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và Sự Thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. (24) Thiên Chúa là Thần Khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong Thần Khí và Sự Thật”. (25) Người phụ nữ thưa: “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô sẽ đến. Khi Người đến, người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. (26) Đức Giê-su nói: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây”. (27) Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi: “Thầy cần gì vậy ?” Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?”.(28) Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: (29) “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi về tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” (30) Họ ra khỏi thành và đến gặp Người. (31) Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng: “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa”. (32) Người nói với các ông: “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết”. (33) Các môn đệ hỏi nhau: “Đã có ai mang thức ăn cho Thầy rồi chăng ?”. (34) Đức Giê-su nói với các ông: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người”. (35) Nào anh em chẳng nói: Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em: Ngước mắt lên mà xem: đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái !”.(36) Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời. Và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. (37) Thật vậy, câu tục ngữ “Kẻ này gieo, người kia gặt” quả là đúng ! (38) Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả. Còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ”. (39) Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng: "Ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm". (40) Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. (41) Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. (42) Họ bảo người phụ nữ: “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng: Người thật là Đấng Cứu Độ trần gian”.
2. Ý CHÍNH:
 

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cuộc đối thoại của Đức Giê-su với một phụ nữ Sa-ma-ri. Người MC3-A63

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cuộc đối thoại của Đức Giê-su với một phụ nữ Sa-ma-ri. Người đã từng bước đưa chị ta đón nhận mặc khải quan trọng: Người chính là Đấng Thiên Sai, ban Nước Hằng Sống cho những ai tin vào Người và họ sẽ biến thành mạch nước giúp người khác đón nhận sự sống đời đời.
3. CHÚ THÍCH:
- C 5-9: + Đến một thành xứ Sa-ma-ri: Từ Giê-ru-sa-lem về Ga-li-lê ngang qua xứ Sa-ma-ri, Đức Giê-su đã tới giếng Gia-cóp gần thành Sy-kha (hay Si-khem) tại đất Ca-na-an (x. St 33,18; 48,22). Đây là đất mà tổ phụ Gia-cóp đã cho Giu-se và con cháu làm gia nghiệp (x. Gs 24,32). + Khoảng giờ thứ sáu: Tức khoảng mười hai giờ trưa. Người Do thái tính thời gian như sau: ban ngày có 12 giờ và ban đêm có 4 canh giờ. Ngày bắt đầu từ giờ Thứ Nhất (6g sáng) lúc mặt trời mọc, và kết thúc vào giờ Thứ Mười Hai (18g00) lúc mặt trời lặn. + “Chị cho tôi xin chút nước uống !”: Đức Giê-su chủ động xin nước uống để có cơ hội bắt chuyện, giúp người phụ nữ dần dần nhận ra Người là Đấng ban Nước Hằng Sống, đem lại ơn cứu độ cho loài người. + “Ông là người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?”: Từ sau khi đi lưu đày trở về, dân Do thái xây dựng lại Đền Thờ mà không cho người Sa-ma-ri cộng tác, nên họ đã xúi vua Ba-tư cản trở công cuộc tái thiết này (x. Er 4,1-16). Từ đó hai dòng giống Do thái và Sa-ma-ri tuy cùng một tổ tiên, sống sát bên nhau, nhưng lại có ác cảm và không giao tiếp với nhau. Ở đây, người phụ nữ này nhận ra Đức Giê-su là người Do thái qua giọng nói và cách ăn mặc nên đã tỏ ra ngạc nhiên và từ chối như vậy.
- C 10-15: + “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: Cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị Nước Hằng Sống”…: Nhân dịp này, Đức Giê-su cho người phụ nữ kia biết Người là Đấng ban Nước Hằng Sống. + “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra Nước Hằng Sống ?...: Người phụ nữ này chỉ hiểu lời nói của Đức Giê-su theo nghĩa thông thường là nước giếng tự nhiên, đang khi Đức Giê-su lại có ý nói đến Nước Hằng Sống là Ơn Cứu Độ. + “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”: Đức Giê-su so sánh nước giếng tự nhiên chỉ làm đã khát nhất thời, với Nước Hằng Sống mang lại sự sống đời đời mà Người sẽ ban, để khơi dậy sự khao khát nơi người này. + “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước”: Đức Giê-su dẫn dắt người phụ nữ từ thái độ thù nghịch đến chỗ thân thiện. Từ vai một người xin nước đến chỗ là Đấng ban Nước Hằng Sống và chị ta đã xin Người ban thứ Nước ấy.
- C 16-22: + “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây”: Đức Giê-su tỏ ra là người lịch sự khi muốn nói chuyện với người phụ nữ trước mặt chồng chị ta, đồng thời Người cũng muốn chị ta ý thức về thân phận tội nhân của mình. + “Chị nói: Tôi không có chồng là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng”: Đức Giê-su cho người phụ nữ ý thức tình trạng hôn nhân bất hợp pháp của mình. Một số nhà chú giải còn nhìn thấy 5 đời chồng là hình ảnh tượng trưng dân Sa-ma-ri vừa kính sợ Đức Chúa, lại vừa phụng thờ 5 vị thần khác (x. 2V 17,29-34.41). + Thưa ông, tôi thấy ông thật là một Ngôn Sứ: Người phụ nữ sửng sốt khi thấy Đức Giê-su thấu suốt đời tư của mình, và tôn xưng Người là một Ngôn sứ. Đồng thời, chị ta xin Đức Giê-su chỉ dẫn phải tôn thờ Thiên Chúa trên núi Ga-ra-dim như người Sa-ma-ri, hay thờ Chúa tại Đền Thánh Giê-ru-sa-lem như người Do Thái ? + Đã đến giờ: Đức Giê-su dạy chị phụ nữ với tư cách vị Ngôn sứ: Đã đền giờ Người xuất hiện để thực hiện chương trình cứu độ. Người cho biết: việc thờ phượng tại núi này hay tại Giê-ru-sa-lem chỉ là hình bóng và đã qua rồi. Bây giờ là thời Thiên Sai, phải chầm dứt việc thờ phượng cũ để bắt đầu cách thờ phượng mới nơi bản thân Người. + Thờ Đấng mà các người không biết: Người Sa-ma-ri chỉ công nhận bộ sách Ngũ Kinh và không biết đến các sách khác, nhất là các Ngôn Sứ mặc khải về Thiên Chúa. + Còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết: Người Do thái tuân giữ toàn bộ các sách Thánh Kinh. Sau này, Tông đồ Phao-lô cũng nhấn mạnh về đặc ân đó của người Do thái (x. Rm 9,4).
- C 23-29: + Thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí: là tôn thờ Thiên Chúa dưới sự soi sáng và sức mạnh của Chúa Thánh Thần. + Trong Sự Thật: Thờ Thiên Chúa trong Đức Giê-su, Đấng là “đường, sự thật và sự sống” (Ga 14,6). Tóm lại, từ nay Đức Giê-su trở nên Đền Thờ mới sẽ thay Đền Thờ cũ trên núi Ga-ra-dim hay tại Giê-ru-sa-lem. + Thiên Chúa là Thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong Thần Khí và Sự Thật”: Đức Giê-su đã nêu ra một điều được cả người Do thái và người Sa-ma-ri chấp nhận là lời quả quyết: “Thiên Chúa là Thần Khí, và người ta phải thờ Người ở khắp mọi nơi, thờ chính Thiên Chúa chứ không phải thờ hình bóng của Người. Thiên Chúa là Đấng vô hình, nên Người đòi người ta phải thờ phượng Người trong tâm hồn. Một số người dựa vào câu này để từ chối thờ Chúa bằng những hình thức lễ nghi bên ngoài. Thực ra Đức Giê-su vẫn thường xuyên lên Đền thờ (x. Ga 2,13; 7,14; 11,55) và đến hội đường Do thái (x. Mt 1,21; Mt 13,54) để tham dự các nghi lễ thờ phượng Thiên Chúa. Người chỉ chống lại những nghi lễ vụ hình thức mà thôi (x. Mt 15,7-9; 21,12-13). + Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô sẽ đến: Dù chưa hiểu được ý nghĩa về lời giải thích trên đây, người đàn bà này cũng quan tâm đến tôn giáo. Bà hy vọng Đấng Ki-tô sẽ đến loan báo mọi sự. + Đấng ấy chính là tôi: Bình thường, Đức Giê-su không muốn tỏ ra là Đấng Thiên Sai vì sợ dân Do thái hiểu vai trò Thiên Sai theo nghĩa chính trị. Còn ở đây nói với người phụ nữ Sa-ma-ri, Người không sợ bị hiểu lầm nên đã tỏ mình chính là Đấng Thiên Sai. + Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ: Phong tục Do thái không cho phép đàn ông nói chuyện với phụ nữ nơi công cộng. Làm như vậy, Đức Giê-su đã bãi bỏ tục lệ này vì sứ mệnh rao giảng Tin Mừng quan trọng hơn thói tục của người đời. Người đến với tha nhân, bất kể họ là ai hay thuộc phái tính, dân tộc nào, để đem Tin Mừng cứu rỗi cho họ. + Đến mà xem: có một người đã nói với tôi về tất cả những gì tôi đã làm: Thực ra Đức Giê-su mới chỉ nói về những người chồng của người phụ nữ này chứ chưa nói về tất cả những gì chị đã làm. Nhưng khi nói với dân chúng, chị ta đã phóng đại lên để cho người ta dễ tin theo mà thôi.
- C 30-38: + “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết”: Đức Giê-su muốn dựa vào của ăn phần xác mà các môn đệ mời Người để nói về của ăn thiêng liêng mà các ông chưa biết. + Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy: Đức Giê-su coi việc làm theo thánh ý Chúa Cha chính là lương thực của Người. + Đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái !: Đức Giê-su dựa vào câu tục ngữ người nông dân hay nói: “Bốn tháng có qua, mùa gặt có tới”. Qua đó Người nói đến mùa gặt thiêng thiêng là cánh đồng truyền giáo đã chín vàng, vì dân Sa-ma-ri sắp kéo tới để gặp Người. Đây là hoa trái đầu mùa của mùa gặt Thiên Sai. + Đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái! : Trong Cựu Ước, mùa gặt tượng trưng sự phán xét của Thiên Chúa, hoặc niềm vui ơn cứu độ (x. Is 9,2; Am 9,13, Tv 126,5). Trong Tân Ước, mùa gặt tượng trưng cho hoa quả của việc truyền giáo (x. Mt 9,37). Đức Giê-su gợi lên niềm vui và phần thưởng của thợ gặt là các tông đồ, khi các ông giúp nhiều người tin để được hưởng hạnh phúc Nước Trời. + Câu tục ngữ “Kẻ này gieo, người kia gặt” quả là đúng !: Câu tục ngữ này được hiểu như sau: Người gieo chính là Đức Giê-su và hạt giống là Tin Mừng (x. Lc 8,11); Thợ gặt là các môn đệ. Mặc dù các ông chưa được sai đi, nhưng Đức Giê-su đã thấy trước viễn ảnh tốt đẹp là hoa quả do việc truyền giáo mang lại. Việc Người sắp chịu chết trên thập giá giống như hạt giống, phải chết đi mới sinh ra nhiều hoa trái (x. Ga 12,24). Công việc truyền giáo là một việc tập thể mỗi người một nhiệm vụ: “Người gieo kẻ gặt”. Do đó khi việc tông đồ mang lại nhiều kết quả thì đừng nghĩ rằng đó là thành quả do công sức của riêng mình.
- C 39-42: + Ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm: Lời chứng của người phụ nữ được coi là dấu chỉ, là giai đoạn đầu dẫn dân thành đến niềm tin vào Đức Giê-su. + Dân Sa-ma-ri xin người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa: Đức tin sẽ được tiếp tục triển nở nhờ lời giảng dạy của Đức Giê-su. + “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng: Người thật là Đấng Cứu Độ trần gian”:  Qua lời của dân thành Sa-ma-ri, chúng ta thấy đức tin trưởng thành không những dựa vào người khác như cha mẹ, vợ chồng, người thân hay theo số đông, mà do sự lắng nghe và thực hành lời Chúa.
3. CÂU HỎI:
1) Cách tính giờ của người Do thái thế nào ? 2) Đức Giê-su chủ động xin nước uống với người phụ nữ Sa-ma-ri nhằm mục đích gì ? 3) Nước Hằng Sống mà Đức Giê-su hứa ban là thứ nước gì ? 4) Lời Đức Giê-su dạy thờ Thiên Chúa vô hình trong Thần Khí và Sự Thật phải chăng là Người bãi bỏ tất cả các lễ nghi thờ phương bề ngoài ? 5) Câu chuyện người phụ nữ Sa-ma-ri hôm nay dạy ta bài học gì về sứ mệnh loan báo Tin Mừng ? 6) Câu nói của dân làng cho thấy hiệu quả của Lời Chúa tác động thế nào nơi những người tin?
 
II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa” (Ga 4,13-14a).
2. CÂU CHUYỆN:
1) ĐỨC GIÊ-SU - “NƯỚC HẰNG SỐNG” MANG LẠI HẠNH PHÚC ĐỜI ĐỜI:
Cách đây ít lâu, một số chị em người Bỉ khi suy niệm đoạn Tin mừng này, đã cùng nhau lập một tu hội tên là “Ô Vi” (Eau Vive) dịch là “Nước Hằng Sống”. Ngoài việc cầu nguyện trước Chúa Thánh Thần mỗi ngày, chị em còn mở quán ăn phục vụ khách. Trong quán, các chiêu đãi viên chính là các nữ tu. Châm ngôn của tu hội là “Phục vụ Chúa trong các thực khách”. Mỗi buổi tối vào giờ đóng cửa, chị em biến quán ăn trở thành nhà nguyện. Các thực khách được mời ở lại tham dự giờ chia sẻ Lời Chúa. Mọi người sẽ được nghe Lời Mặc Khải là Nước Hằng Sống như Đức Giê-su đã ban cho người phụ nữ Sa-ma-ri xưa.
2) SỨC MẠNH LÔI CUỐN CỦA LÒNG BÁC ÁI ĐÍCH THỰC:
Có một người đàn ông nọ mới xin theo đạo. Một hôm có người muốn thử đức tin của ông ta liền lên tiếng hỏi: “Ông theo đạo Công giáo, nhưng ông có biết Đức Giê-su là ai không?” Người tân tòng trả lời: “Dĩ nhiên là tôi biết chứ”. Người kia hỏi tiếp: “Thế Đức Giê-su sinh ra tại đâu ?” Người tân tòng im lặng không trả lời được. Người kia hỏi tiếp: “Đức Giê-su chết năm bao nhiêu tuổi ?” Một lần nữa, người tân tòng lại không thể trả lời. Người kia liền kết luận: “Ông chẳng hiểu biết gì về đạo. Vậy tại sao ông lại theo đạo ?” Bấy giờ người tân tòng mới nói: “Thú thật với ông: tôi biết rất ít về giáo lý. Nhưng điều tôi biết rất rõ là: Cách đây hai năm, do nợ ngân hàng không thanh toán được đúng hạn, nên gia đình tôi bị đuổi ra khỏi nhà phải lang thang nay đây mai đó. Trong thời gian ấy, tôi trở nên nghiện rượu và hay la mắng vợ con. Vợ tôi lúc nào cũng buồn sầu khóc lóc. Các con tôi thì luôn sợ phải gặp thấy bộ mặt ba của chúng. Nhưng sau đó một năm, tôi may mắn đã gặp được một linh mục tốt bụng. Ông đã tận tình giúp đỡ gia đình tôi vượt qua khó khăn: Ông giúp tôi có được việc làm ổn định, và giúp gia đình tôi trở nên con cái Chúa, còn giúp tôi sống tiết độ hơn. Hiện nay tôi đã lấy lại được căn nhà cũ. Vợ chồng tôi sống rất hòa hợp hạnh phúc. Các con tôi đều khỏe mạnh, học hành tiến bộ và ngoan ngoãn hiếu thảo. Tôi xác tín rằng: Chính Đức Giê-su đã biến đổi gia đình tôi từ khi tôi gặp được Người qua con người của một vị linh mục !”
Quả thật, đúng như lời Đức Giê-su đã phán trong Tin Mừng hôm nay: “Ai uống nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,14).
3) LÒNG MẾN CHÚA PHẢI THỂ HIỆN QUA SỰ YÊU NGƯỜI:
Vào một đêm trăng sáng, khi nhìn qua cửa sổ, vị tu sĩ già nhìn thấy một thiên thần đang ngồi trên một tảng đá trong khu vườn phía sau tu viện. Thiên thần cầm bút viết vào quyển sổ vàng để trước mặt. Lòng tràn ngập niềm vui, vị tu sĩ tiến lại gần thiên thần và lên tiếng hỏi: “Ngài đang viết gì vào sổ vàng thế ?” Thiên thần trả lời: “Ta đang ghi tên những tín hữu đủ điều kiện để được lên thiên đàng”. Vừa hồi hộp và lo lắng, vị tu sĩ liền hỏi thiên thần xem trong sổ vàng có ghi tên của mình chưa? Thiên thần liền lần giở từng trang sách ra dò, nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy tên của vị tu sĩ. Thiên thần cho biết sở dĩ ông chưa được ghi tên vào sổ vàng, vì ông còn thiếu lòng mến Chúa. Bấy giờ vị tu sĩ lên tiếng hỏi thiên thần: “Tuy tôi chưa mến Chúa đủ, nhưng nếu tôi có tình thương tha nhân thì tôi có được ghi tên trong sổ vàng không?”. Nghe vậy, thiên thần đã đồng ý. Thế là từ hôm đó, vị tu sĩ đã nhiệt tình thực hành bác ái bằng việc hăng say phục vụ những người bệnh tật, đui mù và nghèo khổ bất hạnh.
Sau khi vị tu sĩ qua đời, anh em trong dòng đã tìm thấy cuốn nhật ký của vị tu sĩ. Tronh đó, ông đã viết ở trang đầu tiên như sau: ”Nếu ai nói mình yêu mến Chúa mà lại ghét anh em mình thì đó là kẻ nói dối, vì kẻ không yêu mến người anh em nó thấy đó, tất không thể yêu mến Thiên Chúa mà nó không thấy” (1 Ga 4,20). Tiếp theo là lời tâm tình của vị tu sĩ: ”Lúc đầu tôi đi tìm Thiên Chúa, nhưng tôi chẳng thể gặp được vì Ngài là Đấng thiêng liêng; tiếp đến, tôi đi tìm linh hồn tôi, nhưng tôi không tìm được, vì linh hồn có đặc tính vô hình; Rồi sau cùng, khi tôi quyết tâm tìm kiếm tha nhân và yêu thương họ, bằng việc chia sẻ và âm thầm phục vụ họ như phục vụ Chúa, thì tôi đã gặp cả Thiên Chúa và linh hồn mình” (Trích “Mỗi ngày một tin vui”).
4) LÒNG THAM SẼ DẪN NGƯỜI TA LẠC XA CHÚA LÀ HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC:
Có một anh thợ đào vàng mới chết và đến cổng Thiên Đàng xin thánh Phê-rô mở cửa cho vào. Thánh nhân hỏi: “Ở trần gian anh làm nghề gì?” Anh thưa: “Con làm thợ đào vàng”.
Thánh Phê-rô liền nói: “Trên thiên đàng hiện đã có quá nhiều thợ đào vàng rồi”. Nhưng anh ta vẫn nài nỉ: “Xin ngài cứ cho con vô, để con sẽ cầm đầu bọn nó, không để chúng do lòng tham mà tranh giành nhau làm mất an toàn trật tự trên thiên đàng”.
Sau đó anh chàng đã được thánh Phê-rô cho vào thiên đàng. Trước tiên anh ta đi tham quan một vòng quanh thiên đàng và đã gặp nhiều bạn bè đào vàng trước kia. Bấy giờ anh liền rỉ tai một người bạn và nói như sau: “Tớ nghe đồn là dưới hoả ngục có một mỏ vàng cực lớn. Chú mày hãy mau đi rủ bạn bè xuống dưới đó mà đào”. Thế là chỉ sau một thời gian ngắn, các tay thợ đào vàng liền bỏ thiên đàng, mang theo cuốc xẻng nhảy xuống hoả ngục đi tìm vàng.
Còn lại một mình, anh thợ đào vàng đứng ngồi không yên. Anh liền xin thánh Phêrô cho xuống hoả ngục để xem tình hình ra sao. Biết đâu ở đó đã thực sự có mỏ vàng thì sao? Vì anh thấy bọn bạn cũ của anh đã đi lâu rồi mà vẫn không thấy quay lại” Thánh Phê-rô liền khuyên anh: “Con đừng ảo tưởng! Dưới hỏa ngục làm sao có mỏ vàng được, trái lại, chỉ có đau khổ nước mắt và thói ganh ghét xấu xa mà thôi. Nhưng anh chàng kia không nghe lời khuyên, cứ quyết định leo rào ra ngoài để tìm đường đi xuống hỏa ngục.
Than ôi! Thế là chính vì lòng tham không đáy mà cả bọn thợ đào vàng đều bị mất hạnh phúc thiên đàng. Ngày nay trên trần gian, do lòng tham không đáy, mà nhiều người cũng hứa sẽ sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng mình để chạy theo lòng tham vàng bạc vật chất, nhắm mắt phạm các tội ác nghiêm trọng như: cướp của, giết người… để rồi phải vào tù chịu hình phạt đau khổ ở đời này và còn chịu bất hạnh trong hỏa ngục đời sau.
3. SUY NIỆM:
1) NHU CẦU NƯỚC SẠCH CỦA NHÂN LOẠI:
Ngày 22 tháng 3 hàng năm đã được Liên Hiệp Quốc chọn làm Ngày Nước Thế Giới – ngày để con người nhìn lại tầm quan trọng của tài nguyên quý giá bậc nhất trên Trái đất. Nước là tài nguyên chiếm 3/4 diện tích Địa cầu nhưng chỉ có khoảng 2,5% trong tổng số đó là nước có thể sử dụng được. Tổ chức Y tế Thế giới luôn cảnh báo về tình trạng thiếu nước sạch trên toàn thế giới. Hiện nay mỗi năm có khoảng 1,2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết vì thiếu nước sạch.
Riêng tại Việt Nam, nhiều người vẫn chưa được sử dụng nước sạch, kể cả tại những thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Hội. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu nước là do việc khai thác bừa bãi sông ngòi, sử dụng nước sạch cách phí phạm. Nguyên nhân trầm trọng hơn, đó là tình trạng ô nhiễm môi trường do con người gây ra. Các khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất và các gia đình đã xả thẳng ra môi trường chất thải, hóa chất chưa được xử lý, khiến cho nguồn nước ngầm bị nhiễm độc do hóa chất và các kim loại nguy hiểm. Theo Bộ Y tế, tại Việt Nam, hàng năm có tới 10 ngàn người chết vì các chứng bệnh liên quan đến sử dụng nước ô nhiễm. Một trong các bệnh dễ thấy đó là ung thư và các bệnh liên quan đến hệ tiêu hóa như đường ruột.
Ngoài cơn khát về nguồn nước cho thân xác, con người còn có sự khao khát về tâm linh cần được thỏa mãn. Đó là khát vọng hướng tới vô biên, mong tìm hạnh phúc… như lời Sách Thánh: “Như nai rừng mong mỏi, tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong, tìm đến Ngài, lạy Chúa” (Tv 42). Thánh Au-gút-ti-nô cũng mang tâm trạng khát mong đi tìm thỏa mãn các đam mê lạc thú nơi loài thụ tạo nhưng đã không được như ý. Cuối cùng Au-gút-ti-nô đã  tìm thấy hạnh phúc nơi một mình Thiên Chúa như ngài đã cầu nguyện: ”Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con hướng về Chúa, linh hồn con vẫn còn khắc khỏai mãi cho đến khi nào con được nghỉ yên trong Chúa”. Và tác giả Sách Thánh Vịnh cũng đống quan điểm khi viết: “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, Hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn” (Tv 61,2).
2) ĐỨC GIÊ-SU LÀ “NƯỚC HẰNG SỐNG” THỎA MÃN CƠN KHÁT CỦA NHÂN LOẠI:
Tin Mừng CN hôm nay tường thuật cuộc đối thoại tại bờ giếng Gia-cóp, giữa Đức Giê-su với người phụ nữ Sa-ma-ri tượng trưng cho dân ngoại. Qua đó, Người đã từng bước mặc khải cho chị ta về ơn cứu độ. Đức Giê-su đã chủ động xin chị ta nước uống vật chất, để sau đó hứa ban cho chị “Nước Hằng Sống”. Tiến trình đức tin nơi chị phụ nữ Sa-ma-ri trong Tin Mừng như sau:
- Đầu tiên Đức Giê-su đi bước trước mở lời: “Cho tôi chút nước uống” (c. 7). Xin nước không phải thực sự cần nước uống, nhưng nhằm bắc một nhịp cầu vượt qua hố ngăn cách giữa hai dân tộc Do thái và Sa-ma-ri. Tuy cùng là con cháu của tổ phụ Gia-cóp, nhưng do hoàn cảnh lịch sử đã phân thành hai dân tộc nghi kỵ nhau và không giao tiếp với nhau, như lời chị phụ nữ Sa-ma-ri nói với Đức Giê-su: “Ông là người Do thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri cho ông nước uống hay sao ?” (c. 9). Sau đó, từ nước giếng vật chất, Đức Giê-su đã từng bước mặc khải cho chị ta về “Nước Hằng Sống” (c. 10).
- Chính do hiểu lầm hiềm khích mà hai dân tộc Do thái và Sa-ma-ri đã chia rẽ nhau về đức tin: Người Do thái chỉ thờ Đức Chúa tại Đền Thánh Giê-ru-sa-lem, đang khi người Sa-ma-ri lại muốn phải thờ Đức Chúa tại núi Ga-ri-dim! Còn theo Đức Giê-su: Người ta không được giới hạn Thiên Chúa tại đền thờ vật chất tại Giê-ru-sa-lem hay trên núi Ga-ri-dim. Thiên Chúa là Đấng vô hình như “Gió” và “Thần Khí”, sự thờ phượng đúng đắn nhất là phải thờ Thiên Chúa trong “Thần Khí” và “Sự Thật” (c. 20-24).
3) PHẢI THỜ CHÚA TRONG THẦN KHÍ VÀ SỰ THẬT:
Đức Giê-su nói về sự thờ phượng đẹp lòng Thiên Chúa: “Nhưng giờ đã đến,  và chính lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” (Ga 4, 23).
- Phải thờ Thiên Chúa trong Thần Khí:
Ðức Giê-su nói: “Thiên Chúa là Thần Khí, và những kẻ thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong Thần Khí và Sự Thật”. Ngày nay nhiều người cũng đồng quan điểm khi chủ trương: “Đạo tại tâm”. Thánh Phao-lô cũng nói: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Ðền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao” (1 Cr 3,17). Mỗi người tín hữu chúng ta hôm nay cũng cần xin ơn Chúa Thánh Thần giúp ta thực thi đức tin bằng đức cậy tức là cầu nguyện dâng lễ; và bằng đức mến là phục vụ tha nhân. 
- Phải thờ Thiên Chúa trong Sự Thật:
Sự thật là chính Đức Giê-su như Người đã tuyên bố: “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Ma quỷ là cha của sự dối trá và các môn đệ của Đức Giê-su phải tránh dối trá như các đầu mục dân Do thái đã bị Đức Giê-su quở trách: “Cha các ông là ma quỷ, và các ông muốn làm những gì cha các ông ham thích. Ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân. Nó đã không đứng về phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối” (Ga 8,44). Còn Thiên Chúa của chúng ta thờ là Thiên Chúa của sự thật, vì thế, những kẻ gian dối, sẽ không thể gặp được Ngài là Sự Thật. Do đó mỗi người chúng ta cần có một lương tâm ngay thẳng: “có thì nói có, không thì nói không” (Mt 5,36), không quanh co, lươn lẹo, gian dối, nói một đàng làm một nẻo… thì mới có thể gặp gỡ Ngài.
4) TRỞ THÀNH MẠCH “NƯỚC HẰNG SỐNG” VỌT ĐẾN HẠNH PHÚC ĐỜI ĐỜI:
Trong Tin Mừng hôm nay Đức Giê-su nói về sứ vụ của người tín hữu như sau: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”? (Ga 4,13-14).
Thực vậy, tông đồ Phi-lip-phê sau khi đã gặp và tin Đức Giê-su, liền đi tìm bạn mình là Na-tha-na-en để chia sẻ niềm tin (x. Ga 1,45); Ma-ri-a Mađalêna sau khi gặp Chúa Phục Sinh cũng vội vã đi tìm các môn đệ và loan báo Tin vui đã gặp Chúa Phục Sinh (x. Ga 20,18); Người phụ nữ Samaria trong Tin Mừng hôm nay sau khi gặp gỡ và tin Đức Giê-su, cũng chạy vội về làng loan báo cho mọi người: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao?” (Ga 4,29). Mọi người nghe lời chị kéo nhau đến gặp Đức Giê-su và mời Người vào ở trọ trong làng của họ. Sau khi nghe Người giảng và đã tin Người là Đấng Thiên Sai, họ đã khẳng định niềm tin trưởng thành với chị phụ nữ như sau: “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết Người thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4,42).
Trong những ngày Mùa Chay này, mỗi người chúng ta đã gặp gỡ Đức Giê-su bằng việc nghe lời Chúa trong thánh lễ và các buổi tĩnh tâm… Chúng ta một khi gặp được Đức Giê-su là nguồn suối Nước Hằng Sống,và được thỏa mãn cơn khát của tâm hồn, chúng ta cần làm gì để giúp bạn bè và người thân gặp gỡ tin yêu Chúa để cùng chia sẻ niềm vui cứu độ?
4. THẢO LUẬN:
1) Chúng ta thường mong ước những điều gì và cảm thấy thế nào khi chiếm hữu được chúng ? 2) Bạn có cảm nghĩ gì về Lời Chúa hứa sẽ ban Nước Hằng Sống cho những ai tin và uống nước ân sủng của Người ?
5. NGUYỆN CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin hãy biến đổi chúng con trong Mùa Chay này. Xin cho chúng con được gặp Chúa trong thánh lễ, những buổi tĩnh tâm, qua những người nghèo khó cần được sự chăm sóc giúp đỡ… Nhờ đó, chúng con biết rõ con người thật của mình hơn. Xin cho chúng con được uống Nước Hằng Sống là những Lời Chúa phán. Nhờ đó, cuộc đời của chúng con sẽ nên vui tươi hạnh phúc hơn. Xin cho chúng con sẵn sàng bỏ đi cái nhìn hẹp hòi thành kiến về tha nhân, để nên giống Chúa: Quảng đại tha thứ, quên mình phục vụ và luôn đi bước trước đến với tha nhân, như Chúa đã mở lời nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri trong Tin Mừng hôm nay.
- LẠY CHÚA. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng: chúng con được Thiên Chúa tạo dựng để qui hướng về Người, nên chúng con vẫn còn khắc khoải mãi, cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa. Xin Chúa giúp chúng con năng chạy đến với Chúa và vâng nghe Lời Chúa dạy như Mẹ Ma-ri-a đã nói với các người giúp việc tại tiệc cưới Cana: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5b). Nhờ đó chúng con sẽ trở thành mạch nước đem Chúa đến với mọi người.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH -  HHTM

 

MC3-A64. MẠCH NƯỚC VỌT LÊN

 (CN 3MCGa 4, 5-42)
 

Trong gần một tháng nay, bà con trong xóm của tôi rất đỗi vui mừng vì dòng chảy đời sống:MC3-A64

          Trong gần một tháng nay, bà con trong xóm của tôi rất đỗi vui mừng vì dòng chảy đời sống nội tâm cũng như môi trường đời sống xã hội của họ trở nên thanh khiết và trong sáng hơn.
Số là trước đây, trong gia đình vừa mới bán nhà để di chuyển đi nơi khác, có một  phụ nữ sống rất buông thả. Chị đã sống với 4 người đàn ông khác nhau theo từng giai đoạn. Hai người đàn ông đã đến với chị trước tiên đều để lại cho chị mỗi người một đứa con trai. Rồi sau đó họ chia tay trong hậm hực với nhiều những lần cãi vả kịch liệt và căng thẳng giằng co. Và rồi, 2 người con đành phải để lại cho chị nuôi nấng. Thế nhưng chị nào có thiết tha gì đến việc nuôi dưỡng con cái khi chị lại tiếp tục bước đi như hai lần trước để tìm thỏa mãn cơn khát dục vọng.
Người đàn ông thứ ba từ miền quê lên thành phố làm nghề xây dựng đã gặp chị trong một quán bia ôm và đã trở thành người chồng hờ thứ ba của chị. Người này được chị dẫn về sống dưới mái nhà của người mẹ đẻ ra mình. Cứ thế, cho đến khi sanh đứa con gái lần thứ ba này, cuộc sống của 2 người lại cứ thế đổ vỡ vì rất nhiều mâu thuẫn nảy sinh do tiền bạc vừa thiếu, vừa thốn lại vừa phải đùm bọc 2 đứa con riêng của chị. Anh chồng hờ không còn cách nào khác, khi đã tận mắt chứng kiến cảnh thê thảm của 2 người con trước đều thất học, đều sống vất vưởng và nương tựa nơi bà ngoại, cùng những thói hư tật xấu khác, nên anh đã quyết định tìm cách bắt cô con gái 3 tuổi của mình về quê chăm bẵm để thoát ra khỏi lối sống tha hóa và vô trách nhiệm nơi mẹ của cháu. Sau khi bất đắc dĩ phải chia tay người chồng thứ ba và đứa con gái bé bỏng, chị lại vẫn chắp nối với người thứ 4 chỉ sau đó vài tháng.
Với lối sống đầy khát vọng được buông thả của người phụ nữ trên, không mấy khi bà con trong xóm không phải chứng kiến những đụng độ bằng tay chân mà cả bằng lời nói tinh ranh cùng những lời nói tục tĩu. Hơn nữa, đứa con trai đầu của chị thì, ôi thôi, đã dính đến những tệ nạn xã hội như ăn cắp vặt, như kết băng kết đảng để gây rối trật tự trong khu phố. Chính vì thoát được những cảnh hỗn độn, những gương mù gương xấu như trên mà toàn thể bà con trong xóm đã tỏ ra vui mừng khi dòng chảy cuộc sống nhiều mặt của họ nay được im ắng, được thanh khiết và trong lành trở lại là thế!
Nhìn vào hình ảnh của người phụ nữ đã sống buông thả theo khát vọng trần tục như trên, mà tôi dễ dàng cảm nghiệm được ý nghĩa lời Đức Giêsu nói với người phụ nữ Samari một mình lặng lẽ đi kín nước vào giữa trưa nóng bức:
“Ai uống nước này, sẽ lại khát.
Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa.
Và nước tôi cho, sẽ trở thành nơi người ấy
một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” (Ga 4, 13-14)
Quả thật, trong thực tại trần gian này, con người vẫn luôn khao khát thứ nước không thể thỏa mãn cơn khát của mình, mà càng uống càng khát, vì dục vọng của con người thì không bao giờ cạn kiệt. Và một khi dấn sâu vào cơn khát trần gian đó, con người tạo ra cho mình một sự thỏa mãn giả tạo về tinh thần, những tưởng hạnh phúc và bình an sẽ có được thông qua vật chất, đam mê, danh vọng. Nhưng quả thực, tận sâu trong sâu thẳm của tâm hồn, con người vẫn cảm thấy một sự trống rỗng không thể lấp đầy, bởi khát vọng này sẽ còn nảy sinh ra biết bao những hậu quả từ khát vọng ấy.
Từ đây, khi nhìn vào cuộc sống hiện thực, tôi mới cảm nếm những gì mà thánh Augustinô đã suy tư, chiêm niệm sau khi đã trải qua một đời sống phóng túng lăn lội, bám đuổi theo những danh và dục vọng. Chính kinh nghiệm sống với “nước này sẽ khát” mà ngài đã thốt vang lên:
“ Thiên Chúa đã tạo dựng nên các cái đẹp của trần gian. Thế mà con đã say mê chạy theo các vẻ đẹp của thọ tạo mà quên bỏ Đấng đã tạo dựng nên chúng”.
Và rồi, Ngài để lại một câu vô cùng sâu sắc đã thành châm ngôn sống động cho ngàn đời sau. Ngài đã thấu hiểu tận sâu lời Đức Giêsu nói với người phụ nữ Samari về “nước đem lại sự sống đời đời” là:
 “Thiên Chúa đã tạo dựng chúng con cho Người, cho nên lòng chúng con không thể tìm được an nghỉ nơi nào, cho đến khi được an nghỉ nơi Chúa”.
Chiêm ngắm đời sống chiêm niệm cũng như đới sống chứng tá của thánh Augustinô, sau khi Ngài đã gặp gỡ Thiên Chúa qua Đức Giêsu, tôi càng tin rằng, từ nơi mỗi Kitô hữu đích thực, những người khác sẽ thấy được niềm an ủi, niềm tin cậy và bình an trong tâm hồn. Thánh nhân đã hăng say phục vụ Tin Mừng Cứu Độ, một khi đã đón nhận nguồn nước trường sinh là Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế, bằng chính đời sống hiến thân của mình. Nhờ đó, Ngài đã làm vọt lên biết bao hoa quả, qua đời sống tận hiến của mình.
Thánh Phaolô đã để lại cho tôi một niềm khích lệ ủi an, khi tôi đang ra sức biến đổi lời khuyên dậy của Ngài thành hiện thực. Lời giáo huấn đó rất thâm sâu mà tôi cố kiên trì sống trong Mùa Chay Thánh này là:
“Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người. Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hòan hảo.” (Rm 12, 1-2)
Trong Thông Điệp Mùa Chay 2008, ĐTC Bênêđictô XVI đã đưa ra chủ đề suy niệm và sống “hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” là:
“Đức Kitô làm cho Mình trở nên nghèo khó vì anh em.” (2Cr 8, 9)
Lời nguyện cầu chân thành đơn sơ của chúng con là xin được thấm nhuần lới Thánh Vịnh 94:
Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa!” Amen.
Chúa Nhật 3MC, 24/02/2008
Phêrô Vũ văn Quí CVK64 Email: peterquivu@gmail.com

 

MC3-A65. NƯỚC HẰNG SỐNG - Trần Mỹ Duyệt

Người thiếu phụ Samaritanô vừa nghe Chúa Giêsu nói về một thứ nước mà uống vào sẽ không:MC3-A65

 “Ai uống nước này sẽ còn khát. Nhưng ai uống nước Ta ban cho sẽ không bao giờ bị khát nữa. Và nước Ta ban sẽ làm vọt lên mạch nước trong người ấy, dẫn đến sự sống đời đời”(Gioan 4:13-14).
Người thiếu phụ Samaritanô vừa nghe Chúa Giêsu nói về một thứ nước mà uống vào sẽ không khát nữa, nàng liền chớp lấy cơ hội xin với Ngài: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây kín nước nữa” (Gioan 4:15).
Một chi tiết rất nhỏ mọn, nhưng đã trở thành yếu tố hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh, có liên quan đến sự cứu độ của Kitô hữu chúng ta, đó là: Chúa Giêsu đề nghị, và người thiếu phụ đã chấp nhận lời đề nghị ấy ngay.
- Xin Ngài cho tôi thứ nước ấy:
Trong Thánh Kinh không ghi lại thái độ chần chừ, hoặc do dự, nghi ngờ của nàng. Thái độ mà chúng ta đã đọc thấy lúc hai người mới gặp nhau trên bờ giếng Giacóp. Lúc đó Chúa Giêsu là người xin nước uống, còn người thiếu phụ là kẻ cho: “Cho ta uống với” (Gioan 4:7), Chúa nói với chị. Và chị đã đỏng đảnh trả lời: “Ông là người Do Thái, còn tôi là người đàn bà Samaritanô, sao lại xin tôi nước uống” (Gioan 4:9).
Thế mới biết, khi Chúa xin ta thì ta do dự, so đo, tính toán, và tìm mọi cách để từ chối. Ngược lại, khi ta xin với Chúa thì Ngài cho ngay lập tức. Đặc biệt, khi ta xin những gì cho phần rỗi và hạnh phúc đời đời của mình. Trong trường hợp người thiếu phụ trên, nàng đã xin cho được nước hằng sống, thứ nước vọt lên trong lòng con người và dẫn con người đến sự sống đời đời.
Chi tiết trên đem lại cho chúng ta một ý nghĩa rất thực tế đi vào đời sống tâm linh của mỗi người, đó là nếu chúng ta thật sự muốn chiếm hữu được sự sống đời đời. Muốn có mạch nước ban sự sống tuôn chảy trong linh hồn mình, thì điều ắt có và đủ, là chúng ta phải lên tiếng xin với Chúa như thiếu phụ Samaritanô đã làm: “Lậy Ngài, xin cho tôi thứ nước đó”. Tức là chúng ta phải thường ngày xin với Chúa ban cho chúng ta sự sống đời đời, đặc biệt, khi chúng ta đến với Ngài qua Phép Thánh Thể.
Cũng như thiếu phụ Samaritanô, trong đời sống thường ngày, chúng ta cần  phải biết nhận ra Chúa, biết khám phá ra Ngài nơi những anh chị em chung quanh chúng ta, kể cả những người thiếu thốn, những kẻ bần cùng, những kẻ bị xã hội duồng bỏ, coi là vô tích sự. Những kẻ mà thường ngày ngửa tay xin chúng ta một xu để sống, một ly nước để dãn khát, hay một lời an ủi, một nụ cười để can đảm vượt qua những nỗi khổ của kiếp người. Qua những người ấy, chúng ta phải khám phá ra khuôn mặt của Chúa, khuôn mặt của một lữ khách, ngồi xin một phụ nữ gáo nước trong một buổi trưa hè trên bờ giếng Giacóp.
- Hãy về gọi chồng chị ra đây:
Nhưng cũng lại một yếu tố rất nhỏ nữa, mà nếu không để ý, chúng ta sẽ lạc mất mối liên hệ mật thiết giữa Chúa Giêsu và người thiếu phụ ấy, và có lẽ, cũng là điều mà Ngài muốn thấy có nơi mỗi người chúng ta mỗi khi chúng ta đến với Ngài. Đó là Ngài đã bảo chị ta: “Hãy về gọi chồng chị ra đây” (Gioan 4:16).
Chúa Giêsu không biết chị không có chồng hay sao? Hoặc là Ngài muốn làm mất mặt chị khi bắt bí chị khai ra sự thật về đời của chị, đó là chị không có chồng mà chỉ dan díu với các đàn ông mà thôi. Thật vậy, chị đã không chối bỏ sự thật: “Tôi không có chồng” (Gioan 4:17).
Đọc kỹ trích đoạn Tin Mừng hôm nay, thánh ký đã không ghi lại bằng cách nào hay lúc nào người thiếu phụ kia đã cho Chúa uống nước, nhưng có lẽ cái mà Chúa Giêsu muốn thấy nơi người ấy là việc chị đối diện với sự thật về đời mình. Cũng như việc Ngài xin chị gáo nước, việc Ngài đòi chị mang chồng ra gặp Ngài cũng chỉ là cái cớ, mà qua đó, Ngài muốn nhìn thấy phản ứng tích cực nơi chị. Ngài đã đòi hỏi chị phải ra khỏi con người cũ của mình, phải đối diện và phải thành thật với Ngài và với chính mình.
- Nước Hằng Sống:
Đối với người thiếu phụ Samaritanô để được nước hằng sống thì phải gọi chồng chị ra. Nhưng đối với chúng ta, có thể Chúa đòi phải đem người cha, người mẹ, người anh, người chị, người em, người con, người cháu của chúng ta ra gặp Ngài. Những người mà lúc này đây chúng ta đang giận hờn, đang thù oán, đang tìm cách tránh mặt.
Hoặc cũng có thể Chúa bảo chúng ta phải về nhà đem ra cho Ngài số tiền mà chúng ta gian lận, cướp giật, chiếm đọat của người khác một cách bất chính. Những đồng tiền mồ hôi, nước mắt của người khác mà chúng ta biển thủ, dành lấy làm của riêng mình.
Hay chính người bồ, người bạn trai, bạn gái mà chúng ta đang dan díu một cách bất chính như thiếu phụ Samaritanô.
Tóm lại, nếu chúng ta không can đảm nói được và làm được như thiếu phụ Samaritanô, thì dù chúng ta có xin Chúa nước hằng sống, và dù Ngài có sẵn lòng ban nước ấy cho chúng ta, thì chúng ta cũng không thể nào tiếp nhận và uống nước ấy được. Và nước ấy cũng không thể nào trở thành một suối nước trường sinh vọt lên trong tâm hồn mình, dẫn chúng ta đến sự sống đời đời được. 
“Cho Ta uống với”, và “hãy về gọi chồng chị ra đây”. Chúa Giêsu không bảo thiếu phụ ấy phải từ bỏ chồng hay bạn trai của chị. Ngài cũng không đòi hỏi gì nhiều nơi chị. Điều mà Ngài muốn nơi chị là thái đ sống thật với lòng mình. Sống thật với lương tâm mình. Đây là điều kiện cần thiết để mạch nước hằng sống vọt lên trong linh hồn chị. Và từ đó dẫn chị đến sự sống đời đời. Thánh ký ghi nhận, chính chị đã nói với dân làng sau khi gặp Chúa: “Ra mà xem người đã nói cho tôi biết mọi việc tôi đã làm” (Gioan 4:29). Chị đã đón nhận sự thật, và sự thật đã giải thoát chị. Mạch nước hằng sống đã vọt lên trong tâm hồn chị. 
Một khi tâm hồn và ý nghĩ còn phải lo lắng, bận rộn với trăm công ngàn thứ. Bị trói buộc bởi những đam mê vật chất. Và nhất là bị trói buộc bởi cơn khát trần gian thì không thể nào chúng ta có thể nhìn nhận và khám phá ra Chúa trong cuộc đời mình, qua anh chị em mình, và nơi những biến cố hằng ngày xẩy đến cho mình.
Chúa Giêsu tự hạ làm một kẻ xin nước uống. Nhưng việc Ngài tự hạ ấy chính là cái lý do để chúng ta có thể dễ dàng nhận ra Ngài, và đến được gần Ngài. Cũng như để chúng ta có thể tạo được một công phúc nhỏ để nhờ đó, mạch nước hằng sống được vọt lên trong linh hồn mình.
“Lậy Ngài, xin cho tôi nước ấy”. Chúng ta hãy cầu xin điều này với Ngài mọi ngày trong đời sống. Và nếu như Chúa có xin chúng ta qua những người anh chị em thiếu thốn, hoặc nghèo nàn, bệnh tật: “Hãy cho Ta uống với”, thì chúng ta phải mau mắn mở rộng bàn tay và trái tim mình. Hoặc như Ngài bảo chúng ta “Hãy về gọi chồng chị ra đây”, thì cũng như người thiếu phụ ấy, chúng ta phải nhanh nhẩu đáp lại: “Tôi không có chồng”. Tức là ta không bị lệ thuộc vào trần gian, vào những đam mê vật dục. Tức là tâm hồn ta luôn luôn sẵn sàng đ cho Chúa làm vọt lên trong ta niềm khao khát sự sống đời đời.

 

MC3-A66. Hạnh phúc thật

Chúa nhật III Mùa chay
 

Như chúng ta biết mục đích đầu tiên của 40 ngày chay thánh được đặt ra là vì lý do mục vu:MC3-A66

Như chúng ta biết mục đích đầu tiên của 40 ngày chay thánh được đặt ra là vì lý do mục vụ. Đó là thời gian cần thiết để chuẩn bị tâm hồn cho những người sẽ lãnh bí tích rửa tội vào lễ Vọng Phục sinh. Điều này thể hiện rất rõ trong phụng vụ Lời Chúa các Chúa nhật cuối Mùa chay, cụ thể là các Chúa nhật III, IV và V. Trong các Chúa nhật này, Giáo hội chọn những bài Phúc Am rất tiêu biểu và phù hợp với đề tài bí tích rửa tội. Chúa nhật III được gọi là Chúa nhật Nước vì cho ta suy ngắm đoạn Phúc Am kể lại sự kiện Chúa Giêsu gặp phụ nữ Samaria tại giếng Giacob. Chúa nhật IV được gọi là Chúa nhật Anh Sáng vì cho ta suy ngắm đoạn Phúc Am kể lại sự kiện Chúa chữa người mù từ khi mới sinh. Chúa nhật V được gọi là Chúa nhật Sự Sống vì cho ta suy ngắm đoạn Phúc Am ghi lại sự kiện Chúa cho ông Ladarô sống lại (các bài Phúc Am của Chúa nhật năm A luôn được ưu tiên và có thể sử dụng cho tất cả các năm khác).

Trong Chúa nhật III mùa chay này, Nước là chủ đề chính. Bởi thế ta thấy Chúa Giêsu xuất hiện trong Phúc Am bên cạnh một giếng nước có tên là Giacob. Một nhân vật nữa cũng xuất hiện bên cạnh giếng, đó là một thiếu phụ. Nhưng dường như thiếu phụ bên cạnh giếng nước chỉ để chúng ta hiểu rằng: cuộc đời của thiếu phụ gắn liền với giếng nước này, chị kéo dài cuộc sống là nhờ ở giếng vì ngày nào chị cũng phải đến giếng này để lấy nước. Chị với giếng như trở thành một, lòng giếng và tâm hồn của chị giống nhau. Nước giếng xoa dịu cơn khát nhưng chỉ xoa dịu trong chốc lát. Chị vẫn phải ngày ngày đến với giếng để cơn khát được xoa dịu và cuộc sống được kéo dài dù biết rằng nó chỉ có thể kéo dài trong chốc lát. Con người đói khát những nhu cầu vật chất mà dường như chẳng bao giờ thấy đủ. Hơn thế nữa, con người còn cảm thấy trong chính mình một cái đói khát khác, đó là đói khát hạnh phúc tinh thần. Người thiếu phụ kia, dù đã năm sáu đời chồng mà vẫn chưa hiểu hạnh phúc gia đình, hạnh phúc của hôn nhân là gì. Đói khát những nhu cầu vật chất, đói khát hạnh phúc tinh thần dường như chỉ có thể xoa dịu trong chốc lát mà thôi, vì con người mang trong mình cái đói khát khác thẳm sâu hơn, đó là đói khát tâm linh. Bên cạnh giếng nước của đời mình, người có thời gian để tâm suy nghĩ nhận ra rằng: chẳng gì có thể lấp đầy giếng nước của lòng mình. Chính vì thế, khuôn mặt hiền từ của Chúa Giêsu xuất hiện ngay bên giếng nước như một lời giải đáp hết sức diệu kỳ. Chỉ có niềm tin vào Ngài và yêu mến Ngài mới có thể lấp đầy những khát vọng đang cháy bỏng tận đáy giếng của lòng người. Ngài mới là Nước thật, Nước Hằng Sống, Nước Vĩnh Cửu.

Chúa Giêsu ngồi bên cạnh giếng nước tức là bên cạnh tâm hồn mỗi người chúng ta. Chúng ta sẽ dễ nhận ra sự thật này: chúng ta sẽ chẳng bao giờ no thỏa nếu chỉ cậy vào nguồn tài nguyên có trong giếng nước của đời mình, trong thân phận kiếp người của mình. Nhưng chỉ bao giờ chúng ta đặt niềm tin vào Ngài, mến Yêu Ngài thì lúc ấy chúng ta sẽ thấy ngay tại lòng chúng ta, Nước Trường Sinh bỗng vọt lên và đem lại cho ta hạnh phúc muôn đời. Đó mới là hạnh phúc thật.

Lm Giuse Dương Hữu Tình

 

MC3-A67. Ta Khát

VietCatholic News (Thứ Bảy 23/02/2008 06:21)
 

Cuộc đời luôn có những khao khát, ước mong. Khát khao điều công chính rất cần cho sự sống, giúp: MC3-A67

Cuộc đời luôn có những khao khát, ước mong. Khát khao điều công chính rất cần cho sự sống, giúp con người phát triển, vươn lên và sinh ích cho cuộc sống tâm linh. Bên cạnh đó có những khao khát bất chính không cần thiết, đã không sinh ích cho sự sống trái lại còn làm khổ tâm linh, hao mòn thân xác, gây đau khổ cho mình, người thân và làm hại xã hội.

KHAO KHÁT

Bản chất của khao khát là tốt lành, chính đáng. Cơ thể mạnh khỏe cần thực phẩm nuôi thân, phát triển lớn mạnh. Tâm hồn mạnh khỏe cần nuôi dưỡng bằng nguồn sinh lực Sách Thánh, thi hành đức ái, tăng ơn thánh, tiến vững trên đàng nhân đức hầu phát triển tài năng Chúa ban, sinh ích cho nhân loại. Một cơ thể khoẻ mạnh biết đòi hỏi thực phẩm khi đói, nước khi khát, nghỉ khi mệt, xả hơi khi lo lắng, thơ, phú, âm nhạc khi thanh thản.

Khi đau bệnh cơ thể không màng chi đến nhu cầu ăn uống. Tâm linh cũng thế, một tâm hồn bệnh hoạn từ chối điều công chính nhưng khao khát điều bất chính. Hậu quả của bất chính dày vò tâm hồn, mất bình an nội tâm, dẫn đến cuộc sống trụy lạc. Đánh mất ý nghĩa trong sáng, tốt đẹp cuộc đời Thiên Chúa ban và tạo nên đau khổ không cần thiết gây nên bởi khao khát bất chính.

MƯU SINH

Cần cố gắng lao nhọc kiếm cơm ăn, áo mặc. Mong có công ăn việc làm vững chắc là điều tốt. Tuy nhiên tình nguyện làm nô lệ cho vật chất là một khao khát bất chính vì của cải dùng để phục vụ con người, nâng cao phẩm giá. Cần tránh xa khi vật chất, nhục dục là nguyên cớ gây vấp phạm về công bình, lẽ phải, làm giảm giá trị nhân bản. Của cải kiếm được bằng cách bất chính. Gian tham của công, gian lận trốn thuế, lừa gạt người thân quen, dù với mục đích tốt, giúp kẻ đui mù, nghèo khó, bần cùng cũng đều là bất chính vì tự căn bản của sự việc đã là bất chính. Bản chất việc bất chính không mang lại kết quả công chính. Ý ngay lành bị hai điều xấu bẻ cong. Gian tham là thiếu ngay thẳng. Lắt léo tiền của người để bố thí.

LAO TÁC

Chức tước, địa vị dù lớn nhỏ đều có chung mục đích giúp tha nhân, phục vụ công ích xã hội, tạo công ăn việc làm mang cơm no áo ấm cho đại chúng, gầy dựng một xã hội bác ái, yêu thương, hạnh phúc, công bình, trật tự, tình người được đề cao, phẩm giá con người được tôn trọng và cổ võ một đời sống hướng về tâm linh hơn là thiên về vật chất.

Đạo cũng như đời lạm dụng quyền hành, làm điều sai trái từ thanh quan dẫn đến tham quan. Tham quan lúc đầu cắt chỗ này, xén chỗ kia, đút cấp trên lót cấp dưới. Khi chỗ đứng an toàn tham quan biến thành cẩu quan lừa trên, gạt dưới, hãnh diện làm điều bất chính. Cẩu quan một đời khao khát chức tước, bổng lộc. Sống đời tầm gửi, tin kẻ nịnh bợ. Gần người giảo hoạt đầu môi, chóp lưỡi.

Chủ thuyết giải thích khác nhau về tình người, sự sống, công bình và bác ái. Vì thế xảy ra tình trạng nhóm này nhân danh tự do, nhân quyền bôi lọ, bỏ tù nhóm kia. Vì có giải thích khác nhau về tự do, nhân quyền nên phải khôn ngoan chọn định nghĩa đúng nhất. Tự do của phe mạnh đúng; phe yếu sai. Phe khéo tuyên truyền nhiều ủng hộ. Dở tuyên truyền thất thế. Chủ thuyết nào cũng tự nhận tự cho phe mình đúng; nhân quyền phe mình hay. Tự do và nhân quyền là nguyên cớ đấu lí. Vững lí thắng, đuối lí thua.

Phe thắng tự kiêu, tự đắc nên lí của phe mạnh bao giờ cũng sai vì thiếu khiêm nhường. Dùng tự do để đánh mất tự do. Vin vào nhân quyền để chà đạp nhân quyền. Vì thế phe thắng thường áp đặt, đàn áp, chèn ép phe thua.

Linh hồn của tự do là tâm đạo. Thiếu tâm đạo tất cả là bánh vẽ.

TÂM ĐẠO

Đạo nào cũng là đạo. Có đúng chăng? Về tu đức các tôn giáo có điểm tương đồng như dậy tín hữu ăn ngay ở lành, làm lành, lánh dữ, cứu nhân độ thế. Tu đức là thế. Niềm tin khác biệt. Niềm tin hướng dẫn cuộc sống, đưa đến cách hành xử khác biệt trong việc sống đạo. Chọn tôn giáo để tin theo là chọn sống cho niềm tin, không chọn sống cho tu đức. Chính niềm tin dẫn đến khác biệt về tôn giáo. Hiểu lầm giữa tu đức và niềm tin đưa đến lập luận đạo nào cũng là đạo. Nhận xét như thế là nhận xét về vỏ mà bỏ lòng. Tương tự như câu nước nào cũng là nước. Nước sông nước suối cũng là nước nhưng phẩm chất của mỗi loại nước khác nhau. Tại bờ giếng Đức Kitô giúp người phụ nữ thành Samarita phân biệt sự khác biệt giữa nước giếng và nước hằng sống.

NƯỚC HẰNG SỐNG

Nước hằng sống không chảy ra từ lòng đất mà đến từ lòng người. Nước đó không phải lấy gầu để múc mà trở thành suối mát tắm gội lòng người. Lòng thanh thản đời vui tươi. Đời vui là đời hạnh phúc. Ai nhận nước đó sẽ không còn khát. Ai uống nước đó sẽ được sống trường sinh. Ai thành tâm van xin Đức Kitô sẽ ban cho. Nước Hằng Sống có thể hiểu là nước uống bổ sức tâm hồn, cũng có thể hiểu là nơi chốn, nơi đó có sự sống muôn đời. Tự do nhân quyền trong Nước Hằng Sống là tự do đích thực vì đặt căn bản trên tâm linh, đến từ lòng người, tình yêu và lòng nhân ái.

Đấng sáng tạo và làm chủ Nước Hằng Sống là Đấng ban con tim của Ngài cho những ai chấp nhận nước đó. Ai sống bằng tình yêu thì gia nhập nước này vì Đấng Sáng Lập đã hy sinh mạng sống Ngài cho đạo hữu. Ngài làm thế vì yêu. Không có tình yêu nào cao quí hơn là chết cho người mình yêu. Có đấng sáng lập tôn giáo nào làm được điều đó. Thưa chỉ có một. Đức Kitô Đấng muôn đời khát khao cứu vớt các linh hồn.

Ta Khát là thế đó.


 

MC3-A68. TA KHÁT

Trong những ngày đầu năm 2008, giá dầu thô tăng vọt xấp xỉ ở ngưỡng cao ngất 100 USD mỗi:MC3-A68

Trong những ngày đầu năm 2008, giá dầu thô tăng vọt xấp xỉ ở ngưỡng cao ngất 100 USD mỗi thùng, so với chỉ hơn 10 USD cách nay mấy năm. Người ta lo ngại giá dầu sẽ kéo theo sự tăng giá của mọi hoạt động sản xuất liên quan tới dầu hoả, như giao thông chuyên chở, nhiệt điện, sản xuất hàng hoá, vì thế mà có nguy cơ kinh tế toàn cầu bị suy thoái. Nhưng không ai chết khát vì dầu hoả, đó là điều có thể khẳng định, cho dù chiến tranh “nóng” lẫn “lạnh” đang diễn ra khắp nơi để tranh giành những giếng dầu và mỏ khí. Con người có thể thay thế dần dầu khí bằng các chế phẩm khác tương đương, để không chịu áp lực về chất đốt.
Thế nhưng con người ngày càng thiếu nước uống, nước sạch cho sinh hoạt. Thật khó tin khi bao quanh các châu lục là những đại dương bao la sâu thẳm, khi lũ lụt triền miên xảy đến với những dòng nước hung dữ cướp đi mạng sống của hàng bao con người, mà con người lại thiếu nước. Những con số về nước trên thế giới cho thấy: đại dương bao phủ 71% bề mặt trái đất và tích chứa 97,2% khối lượng nước ( 1,3 tỷ km3 ) của địa cầu. Song, ấy là nước…mặn ! Chỉ có 2,8% nước ngọt ( 4 triệu km3 ) và điều xảy ra là đã và đang có những căng thẳng liên quan đến nước và người ta cho rằng “các chiến tranh ở thế kỷ XXI sẽ là vì nước”.
Thế giới khát ! Con người chết khát vì thiếu nước thì ít, mà vì sự ích kỷ, dã tâm và độc quyền mới là chủ yếu. Từng đoàn người rồng rắn mất rất nhiều công sức thời giờ, để đi kiếm nước hoặc hứng nước. Thêm vào đó, việc chặt phá rừng bừa bãi để làm giàu cá nhân, mặc cho môi trường bị hủy hoại, đã khiến cho ngày càng khô hạn, sa mạc hoá.
Ơn Chúa vẫn tuôn chảy tràn lan, nhưng nhân loại số đông đang chết khát vì sự ươn ái, ỷ lại, ích kỷ và vô tâm của các Ki-tô hữu đối với sứ mệnh được Chúa Giê-su trao phó: đem Nước Hằng Sống đến cho mọi dân tộc ! Vì thế, Chúa Giê-su vẫn khát, không phải chỉ khát hôm nay, mà khát đến cháy cổ cả trong cơn hấp hối, khát các linh hồn mà Ơn Cứu Chuộc của Người sẽ ra hoài công vô ích, không chỉ do bản thân những người đó, mà còn vì các Ki-tô hữu chưa hành động đủ để đem Chúa đến cho họ. Trước khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, giữa đau đớn, ê chề, điều Người tha thiết nhất, vẫn muốn thực hiện nhất, Chúa Giê-su tóm lại trong hai chữ: “Ta khát” ( Ga 19, 28 b )
Tất nhiên có vô số lý do khách quan để Ki-tô hữu vin vào đó, mà biện minh cho cuộc sống tông đồ mờ nhạt của mình: nào là những tổ chức, phong trào, giáo phái, nhóm hội có tầm cỡ quốc gia và quốc tế đi ngược với giáo huấn của Giáo Hội về mọi vấn đề xã hội và đạo đức, như hợp pháp hoá nạo phá thai, an tử, hôn phối đồng tính...
Bên cạnh đó, nhiều con cái Giáo Hội cũng “té nước theo mưa” với những suy nghĩ lệch lạc, sai lầm về các Bí Tích, không vâng phục Hội Thánh và Vị Cha Chung và chung sức thi nhau xé nát Giáo Hội, với những nụ cười ngạo nghễ, ngốc nghếch vì thấy Mẹ Hội Thánh của mình oằn người vì những đòn roi vọt chí tử của những đứa con bất nhân bất nghĩa và vô đạo. Sự chia rẽ này càng làm cho những thế lực thù nghịch ngoi lên và công phá mạnh mẽ, gieo rắc biết bao sai lạc trong Đức Tin và đạo đức cho nhân loại và không ít những Ki-tô hữu đã tin theo chúng ( vì các lý lẽ tinh vi, hợp tình của những “bậc thầy” đã kích Giáo Hội ). Thế giới đang bị hoang hoá về mặt đạo đức. Cơn khát của nhân loại được giải bằng những thứ nước chứa đầy độc tố, nhưng là những độc tố hấp dẫn, khiến con người ngày càng mê muội.
Thi hào Nguyễn Du đã viết trong truyện Kiều: ”Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”. Phải biết khát, phải kinh nghiệm một lần thiếu nước, thì mới biết thương đến những người, những vùng sống trong cảnh thiếu nước. Trong số ra Chúa Nhật 17.2.2008, báo Tuổi Trẻ ghi lại lời ông Masakazu Ichimura, giám đốc Uỷ Ban Kinh Tế Xã Hội Châu Á – Thái Bình Dương của Liên Hiệp Quốc: “Đừng để vòi nước chảy lãng phí khi bạn đang đánh răng” !
Không có ý thức những chuyện nhỏ bé, thì mong gì vận động được những chuyện lớn lao ! Là Ki-tô hữu, những người mang trong mình “cơn khát” của Chúa Ki-tô, mang trong mình sứ mạng “giải khát” cho mọi người, chúng ta sẽ trả lời thế nào với Chúa Giê-su, khi mà mãi cho đến ngày tận thế, Chúa vẫn đeo bám chúng ta, vẫn gào lên thống thiết: “Ta khát” ? Bao giờ thì chúng ta mới cho Chúa một giọt nước để bớt cơn khát linh hồn, dù chỉ là chút mật đắng dấm chua thấm ở đầu cây sậy ? Bao giờ thì Ki-tô hữu cũng nóng lòng kêu lên: ”Ta khát” ?
Ki-tô hữu sẽ khát hoặc cảm nhận được cơn khát của Chúa Ki-tô và của cả chính mình, nếu biết dành thời giờ để nghe tiếng Chúa, đặc biệt trong mỗi Mùa Chay Thánh, thời gian để chúng ta nhìn lại mình sâu xa hơn, kỹ càng hơn, để cảm nhận va chia sẻ cơn khát của Chúa, với Chúa và cũng từ đó, bằng cách đó, làm hạ cơn khát của chúng ta.Sự xuất hiện của Chúa Giê-su và người phụ nữ Sa-ma-ri trong Tin Mừng hôm nay, tiếp theo đó là cuộc trao đổi khi gay gắt, lúc khoan hoà và cuối cùng là sự lắng nghe và bị thuyết phục của người phụ nữ, cho ta hình ảnh và nội dung một cuộc tĩnh tâm: cuộc linh thao mà chúng ta cũng cần đến, như chính người phụ nữ Sa-ma-ri hôm nay.
Chúa Giê-su là người gợi ý đề tài trao đổi và hướng dẫn suy tư, cầu nguyện, trong khi người phụ nữ lắng nghe, đưa ra những thắc mắc để xin được soi sáng. Khi cuộc tĩnh tâm kết thúc, Chị thực hiện sứ mạnh mà Chị cảm thấy bị thúc đẩy hành động: đó là chạy đi, thuật lại và rủ nhiều người đến với Chúa Giê-su. Một cuộc tĩnh tâm chỉ đựợc coi là hoàn tất và có kết quả, khi những vấn đề thiết thực trong đời sống – cả về tâm linh lẫn tinh thần và vật chất – đã được trình bày cặn kẽ và nhận được lời dạy dỗ hướng dẫn của Chúa. Và quan trọng hơn, ấy là hân hoan, nhiệt thành và mau mắn truyền ngọn lửa tin – cậy – mến vừa lãnh nhận ấy cho mọi người.
Sau mỗi Mùa Chay, mà tâm hồn con vẫn trơ như đá, vẫn không cảm nhận cơn khát “chí tử” của Chúa, vẫn không cảm nhận cơn khát của một Ki-tô thuộc: hoán cải đời mình và đem lời Chúa mời gọi yêu thương, nhân hậu cho mọi ngưới đến nhận Nước Hằng Sống nơi Người, thì không biết phải dùng phương pháp nào nữa để làm mềm lại những chỗ bị xơ hoá trong tâm hồn chúng con ?
CVK NGUYỄN THẾ BÀI, TCCNĐY 90

 

MC3-A69. TÌNH THƠM THO NHƯ NGẤN LỆ CÒN NGUYÊN

Ta ước ao đầu đội mũ triều thiên,
V
à tắm gội trong nguồn ánh sáng.
Ca
những điệu ngọc vàng cao sao sáng,
Lời
văng xa truyền nhiễm đến vô song.
         
( dẫn nhập lời thơ Hàn Mặc Tử )

 

Tình thơm tho của nhà thơ, như đã ngấn lệ, khi giáp mặt Đấng Thiên Sai. Đấng Thiên Sai Đức Chúa:MC3-A69

Tình thơm tho của nhà thơ, như đã ngấn lệ, khi giáp mặt Đấng Thiên Sai. Đấng Thiên Sai Đức Chúa, Ngài thấy rõ nguyên hình nguyên trạng, như trình thuật truyện kể hôm nay.
Trình thuật Lời Chúa hôm nay, gồm chuyện xoay quanh chủ đề, những nước và nước. Nước, là nguồn mạch của sự sống, nhưng cũng là sức mạnh chuyên tàn sát, phá hoại và bức bách. Nơi truyện Hồng Thuỷ, nước mang ơn cứu rỗi đến với gia đình ông No-ê và con cháu. Đồng thời, lại đem sự chết chóc đến với những người có lỗi. Cũng thế, ở truyện Biển Đỏ, nước đã chôn vùi đoàn quân tinh nhuệ của Pha-ra-ô, nhưng lại cứu sống toàn thể dân tộc Ít-ra-en khỏi chốn bụi đời, nơi sa mạc.
Trình thuật Phúc Âm hôm nay, nói đến Đức Giê-su đứng cạnh người đàn bà tội lỗi, bên giếng nước Gia-cóp. Người phụ nữ trong trình thuật, đại diện cho 3 nhóm người bị bức bách mà Đức Giê-su và Phúc Âm nhắm đến: đàn bà – gái làng chơi – những người bất trung, bất tinh tuyền, người ở ngoài.
Trình thuật bắt đầu bằng cảnh tình của Đức Chúa với thân phận người mệt mỏi, rất đói và rất khát. Ngài mon men đến với người đàn bà đầy lỗi phạm mà ai cũng né. Chính vì thế, chị lâu nay bị né tránh, mới tỏ bày sự ngạc nhiên khi Đức Giê-su đến gần mình. Càng ngạc nhiên hơn, khi Đức Giê-su đảo ngược lề luật, hứa đem cho chị “nước hằng sống”. Khiến chị càng ngạc nhiên, hơn bao giờ.
Nước hằng sống Đức Giê-su nói, là Thần Khí Chúa ta lĩnh nhận vào dịp thanh tẩy. Bởi, thanh tẩy không chỉ là nghi thức đơn thuần mang lại hiệu năng thần thánh cho muôn dân, nhưng là dấu hiệu bên ngoài của thực tại sâu sắc. Tức, Đức Chúa quang lâm bằng sức mạnh xuyên suốt mọi khía cạnh của cuộc đời con người. Và, việc này luôn xảy đến nếu ta đặt mình vào tình huống sẵn sàng đón tiếp Đức Giê-su. Đón tiếp thị kiến Tin Mừng về sự sống. Và, việc mở lòng đón tiếp sẽ giúp ta chuyển đổi toàn bộ cuộc sống.
          Ở bài đọc thứ hai, thánh Phao-lô đã quả quyết với giáo đoàn Rô-ma, khi thánh nhân nói: Thiên Chúa đã đổ tràn tình yêu Người nơi chúng ta ngang qua Thần Khí của Người.” ( Rm 5: 5 ). Đổ như thế, không chỉ là nghi thức tắm gội kèm theo dăm ba câu thần chú, nhưng đích thực là uống “nước hằng sống” từ Chúa Thánh Thần. Vì, chính Thần Khí Chúa sẽ giúp ta tiếp tục ao ước được Chúa đến gần.
          Khi bảo người phụ nữ hãy gọi chồng mình tới, Đức Giê-su hàm ngụ sứ vụ của con dân Đạo Chúa là ra đi đến với gia đình. Bởi, gia đình là mái ấm thu hút ơn lành của Đức Chúa. Gia đình, là chốn Chúa ban Nước Hằng Sống. Là, nơi khuyên dắt con cháu hồi hướng trở về. Về với đường ngay nẻo chính. Ở nơi đó, có thứ tha mọi sơ xuất, lỡ lầm mà người trong gia đình của Chúa, vẫn lỗi phạm.
          Nhắc đến lỗi phạm, người phụ nữ bất chợt xử sự như nhiều người thời nay. Xử sự, theo cách thế chuyển đổi đề tài rất nhanh chóng. Chuyển đổi, khi Đức Chúa nhắc đến chồng của chị, điều mà chị lỗi phạm, như chúng ta thường làm khi bị nhắc nhở đến lỗi phạm của mình. Chị chẳng muốn nói đến sự an lành – đạo đức ngòai những nơi như đền thờ Giê-ru-sa-lem. Hay, như núi Gue-ri-dim mà người Sa-ma-ri luôn coi là chốn thánh. Chính nhờ tình huống này, người phụ nữ đã tạo cho Đức Chúa cơ hội thuận tiện để nhắc nhớ mọi người, rằng: “Nay là lúc, kẻ tôn thờ đích thực sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý. Chính đó là sự tôn thờ mà Chúa Cha muốn.” ( Ga 4: 23 ).
          Trình thuật tiếp tục với đề tài về Đấng Thiên Sai. Đây là lúc Đức Giê-su mặc khải Thiên Tính của Ngài. Mặc khải rằng, chính Ngài là Đấng Thiên Sai, đang tiếp chuyện người phụ nữ lạ. Lạ lùng hơn, là chuyện người ngoài Đạo – một phụ nữ lầm lỡ – lại là người đầu tiên trong Tin Mừng được nghe biết về mặc khải. Mặc khải ân huệ Chúa ban cho dân ngoại. Những người đang biết và cần ơn cứu độ, hơn cả.
          Chính lúc Ngài mặc khải về Thiên Tính Đấng Mê-si-a Thiên Sai với người phụ nữ xa lạ, thì các Tông Đồ kịp về tới. Họ cũng ngạc nhiên khi thấy Thầy Chí Thánh tiếp chuyện với đàn bà, lại là người ngoài Đạo. Ngạc nhiên, khi các ông chính tai nghe Thầy nói: “Thầy vốn có thức ăn mà các con không biết” ( Ga 4, 32 ). Và khi ấy, Đức Giê-su thêm một lần nữa lại bày tỏ: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người.” ( Ga 4, 34)
          Cuối cùng, thì Đức Giê-su liên kết với ý tưởng về bánh và của ăn nuôi dưỡng mọi người. Ngài nói về “đồng lúa chín vàng, chờ gặt hái” ( Ga 4, 35 ). Lúa chín vàng hôm nay, bao gồm cả những người ngoài Đạo, như người Sa-ma-ri, những người đàn bà phạm lỗi, những người chưa tin hoặc không tin tưởng, tất cả những ai không cùng một ràn chiên Hội Thánh…
Mùa lúa chín vàng, nay chờ gặt hái. Hái và gặt, để thưởng công lao khó nhọc của mọi người. Mọi dân nước. Đó cũng là lúc số đông người Sa-ma-ri đã chứng kiến tình huống xảy ra. Và, họ đã tin.
          Trình thuật thời xưa, người người thảy đều đã nghe: “Cũng chẳng phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian. ( Ga 4, 42 ) Ngày nay nghe lại truyện kể về người phụ nữ bên bờ giếng, hẳn là các kẻ tin vào Đức Chúa sẽ phải nói như Thánh Phao-lô khi trước: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi, mà là chính Chúa sống trong tôi.”
Điều đáng nhớ là mọi kẻ tin hôm ấy, đã ngỏ lời mời Ngài nán lại ở với họ. Nếu không, Ngài lại đã tiếp tục hành trình rong ruổi, chốn cao xa.
          Đọc trình thuật người xưa, hẳn chúng ta, các kẻ tin thời nay, cũng nên mở lòng mời Đức Giê-su nán lại. Mời Ngài nán lại, để ở với con dân, cả trong lẫn ngoài. Nếu không mời, Ngài có lẽ sẽ cứ đứng ở bên ngoài, mà gõ cửa. Ngài vẫn đứng đó từ xưa, trừ phi người ở trong ra mở cửa mời mọc, rất trân quý.
          Tham dự tiệc Lời Chúa hôm nay, ta cứ cầu mong sao người người sẽ ngỏ lời mời Ngài nán lại. Mời Ngài thực sự, chứ không phải bằng môi miếng. Bởi, có mời thực sự như hai đấng Thánh Tông Đồ trên đường Em-mau thuở trước, Ngài mới nán lại mà bảo ban.
          Trong nghênh đón mời mọc Ngài bảo ban, ta hiên ngang mừng đón tình huống rất vui, mà hát:
                             Vì đường xa ướt mưa, đừng bắt anh đưa em về
Anh xin em đừng về… đường quá xa xôi
Xin mưa triền miên mãi không lắng đọng
Cho đôi tình nhân đuối trong giấc mộng
Trong cơn ngủ quên trốn câu giã từ, vì đường xa ướt mưa.
( Đức Huy – Đường xa ướt mưa )
          Con đường tin – yêu hôm nay, đôi lúc cũng ướt mưa. Có ướt và có mưa, vẫn không làm anh và em, những người tin yêu Đức Chúa, chùn lòng. Không chùn lòng, để sẽ ở lại mãi mãi bên nhau, trong yêu thương. Yêu bằng tình yêu của người con, người em hằng tin Lời của Chúa. Tin vào “tình thơm tho như ngấn lệ còn nguyên”.
 Lm. PHAN ĐỖ THỤC LINH, bản dịch của Mai Tá từ Úc

 

MC3-A70. LẠI CÂU CHUYẸN BÊN BỜ GIẾNG

Gioan 4, 1- 42
 

Cũng vào một buổi trưa hè, trời đã đứng bóng, tôi đến  thành  Sa-ma-ri, nơi có địa danh là Sykhar:MC3-A70

Cũng vào một buổi trưa hè, trời đã đứng bóng, tôi đến  thành  Sa-ma-ri, nơi có địa danh là Sykhar, bên bờ giếng Giacóp, tôi cũng đang khát và tôi mong đợi một người đến kín nước. Hương lúa thơm từ cánh đồng toả lan trong không gian làm tôi thích thú, thi thoảng cũng có ngọn gió lướt qua, làm cho người bộ hành dễ chịu tí chút, tiếng sột soạt của những bông lúa va chạm nhau nghe vui tai và cũng rất gần gũi thân thương, như những cánh đồng lúa vàng Việt nam, quê hương tôi.
Tôi cũng đến ngồi nghỉ chân ở bờ giếng có tiếng là nước tốt, trong lành nầy và tâm trí nhớ lại câu chuyện đã xãy ra ở đây... Và cái duyên ấy đã ưu đãi tôi, tôi đang vui chờ bước chân của một thiếu phụ cũng vừa đến, trên vai đang đội cái vò nhẹ vì chưa có nước. 
 Tôi lên tiếng trước:     
 -Ồ người chị em Sa-ma-ri. xin chào chị, chị có phải là người đã gặp Giêsu khi Ngài đi ngang qua quê hương của chị ?  À, xin lỗi quí danh chị là gì?
- Tên tôi là Thamar
- Hân hạnh được gặp chị! Chị có thể vui lòng kể  lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và chị cho em nghe với không? Kể tóm tắt cũng được! Cuộc gặp gỡ ấy chắc là một kỷ niệm tuyệt vời đối với chị ? và không thể nào phai mờ trong tâm trí chị ?
- Vâng, em rất hân hạnh để kể lại (nhìn xa xôi). Trưa hôm ấy, một trưa hè nóng bức, trong lòng em như có một sự thôi thúc đi kín nước ở giếng Giacóp, Nhà em cách đây chừng 15 phút đi bộ.
-Và chị cùng thường ra đây vào ban trưa  để kín nước phải không ?
-Vâng
 - Tại sao vậy? Người thiếu phụ nhìn xuống một chút  khuôn mặt ửng hồng do trời nóng và với vẻ e thẹn .
-Vì em đi ra giữa đám đông người ta hay xầm xì, lời ra tiếng vào... người ta nhìn em bằng nửa con mắt, cho em là người đàn bà cướp chồng kẻ khác ...
- Chị thật là cởi mở và chân thành,  vâng xin chị kể tiếp
- Khi em ra đó, em đã thấy ngồi nơi bờ giếng một anh chàng đẹp trai, tuổi trạc độ 30-35, chiếc áo khoác ngoài thấm mồ hôi, đôi dép dính đầy bụi đường... nhìn ông ta có vẻ đã thấm mệt, có lẽ là đã đi rất nhiều dưới trời nắng chang chang nầy, nhưng nơi ông âý toát lên nét nhân hậu và cũng có vẻ lãng tử lắm!
- Rồi chị có định chinh phục ông ta không?  chị vẫn còn đẹp mà!
- Ông ta chào em trước và nói với em : " Chị làm ơn cho tôi uống nước với ".
Mặc dầu lời xin ông ta rất lịch sự, nhưng em đã cự nự, chanh chua, khó chịu nữa    là khác !  Em trả lời cứng cỏi:
- Ông mà xin tôi nước à. Ông là người Do Thái, tôi là đàn bà Sa-ma-ri hai quốc gia thù địch... Làm sao lại có thể xảy ra chuyện động trời, chuyện  "không có thể" này được chứ !
Ông ấy nói: - Nếu chị biết ơn Thiên Chúa, và biết người đang nói với chị là ai... thì chắc chị sẽ không giận dỗi như thế! Và trái lại, chị sẽ xin người ấy Nước Hằng sống. Thứ Nước uống vào sẽ không bao giờ khát nữa !
- Làm sao tôi tin được chứ ? Gàu ông đâu ? mà giếng thì sâu thế nầy ? Thế ông đã không xin tôi nước đấy ư ?
   Câu chuyện giữa em với ông ấy như không chấm dứt... Em chẳng hiểu gì,  nhưng em cũng háo hức xin thứ Nước ấy để khỏi nhọc công đến đây kín nước... Rồi bất ngờ, ông ấy bảo  em đi gọi chồng đến .
-Tôi không có chồng. Em cộc lốc. Chắc lúc đó mặt em biến sắc vì xấu hổ ...
- Ông ấy nói: Chị đã nói đúng. Chị không có chồng; và người chị đang ở với    cũng không phải chồng chị...
 -  Chị ơi ! Làm sao mà ông đã biết rõ về em như thế !  Ông ấy biết tất cả quá khứ tội lỗi của em nữa... trước mặt ông ấy đời em trải ra như một cuốn phim... Em đã tránh né, và đánh trống lãng mấy lần; nhưng ông ta đã khôn khéo dẫn  em đi vào Chân lý. Em nói và đưa tay chỉ về ngọn núi phía trước:
- Cha ông tổ tiên chúng tôi thờ phượng Thiên Chúa trên núi nầy...
-Ông ấy nói: đã đến lúc, những kẻ thờ phượng đích thực, sẽ thờ phượng Thiên Chúa trong Thần khí và Sự Thật .
- Tâm trí em còn mê muội, em có hiểu gì đâu !. Nhưng cách của  Ông Giêsu nói chuyện, lắng nghe và giải thích cho em, em cảm nhận được là Ông ấy yêu mến và trân trọng em... Ông ấy đã đối xử với em không như những người đàn ông mà em đã gặp. Em nhận biết ông ấy là một Vị Tiên Tri.
- Chị như thoát được nổi ưu tư khắc khoải đè nặng tâm linh chị trong nhiều năm, phải không chị Thamar ?
- Vâng em quá đỗi hạnh phúc, hạnh phúc không thể diễn tả được. Em đã bỏ vò nước lại ở bờ giếng mà chạy trở về làng.
- Chị về làng để làm gì ? Chị  định đi theo ông Giêsu ư ?
- Đấy! chị còn vẫn cho em là người thiếu đứng đắn, lẵng lơ, hư thân chứ gì! Phần em, em đã nhận biết  Giêsu,  Ngài là Đấng Messia và em hăm hở chạy đi loan báo cho dân Sa-ma-ri là em đã gặp một người, em đã gặp Ngài, đã được tiếp xúc trò chuyện với Ngài, " Ngài đã nói với tôi về tất cả mọi sự tôi đã làm...  Hãy đến xem. Phải chăng Ngài là Đức Kitô ?"
- Câu chuyện chị kể rất hay, lý thú và hấp dẫn quá! Cám ơn chị Thamar. Vậy chị có mời Ông Giêsu uống nước không ?
- Ồ chị ơi, hình như Ngài chẳng còn khát nữa... Em cũng quá sung sướng khi được Ngài bảo ban dạy dỗ cho. Phải chăng Ngài đã đem em về lại cho Thiên Chúa, Cha của Ngài, nguồn mạch của Chân Thiện Mỹ.
-Tại sao bây giờ chị vẫn còn đi kín nước giữa ban trưa nắng nôi như lần đó Chị ạ, bây giờ em đến đây, mỗi ngày, cũng vào giờ nầy với tất cả niềm hạnh phúc và biết ơn... kỷ niệm cuộc gặp gỡ ấy biến đổi cả đời em, gia đình em và cả dân làng Sa-ma-ri. Ngài còn ở lại đây hai ngày, thật sung sướng và vinh dự. Họ đã nghe biết và đã tin: Ngài thật là Đấng Cứu Thế. Họ tin không còn phải là câu chuyẹn của em nữa, mà họ đã tận mắt nhìn thấy, tạn tai nghe Ngài!Tôi nói với người phụ nữ  xinh đẹp và quyến rũ kia:- Bây giờ thì chị cho tôi uống nước với, đừng bỏ chạy nữa, tôi sẽ về nhà với chị để nghe chị kể tiếp về lời mời gọi để chị dấn thân vào cuộc sống đầy Niềm tin mà chị đã lãnh  nhận... Chắc chị đã được giãn khát trong thứ Nước Hàng sống Ngài ban cho chị
- Vâng, phải thứ Nước Hằng Sống, như Ngài đã nói: Những kẻ nào một lần đã uống nước Ta ban, thì đời đời sẽ không khát nữa; nhưng nước Ta sẽ ban trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.
Hôm nay, tôi đang được người thiếu phụ Sa-ma-ri kể cho nghe về những gì đã diễn ra ở bờ giếng Giacóp nầy, cách đây 2000 năm; và tôi thật cảm phục về một con người biết phục thiện và biết sản sàng để cho Đức Kitô biến đổi đời mình... Liệu  tôi  có  thật  sự biết ơn Thiên Chúa và để cho Nước Hằng sống của Ngài tẩy sạch tội lỗi và tuôn đổ chan chứa trên cuộc đời tôi không  ?     
Người thiếu phụ lấy nước đầy bình, đặt vò lên vai, lanh chân trở về nhà. Con đường ngập nắng. Xa xa nơi cánh đồng, có một vài giọng lanh lãnh vọng tới cách vui vẻ và thân tình: - Chị Thamar, chị Thamar,  chị đưa nước tới đây cho chúng em uống với ! Chị ấy cười với tôi. Rạng rỡ. Cánh đồng rực vàng và lòng chúng tôi đang hân hoan reo vui cho mùa lúa bội thu.
Nữ tu Mai Bảo Linh

 

MC3-A71. Bên bờ giếng Giacob

Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, chúng ta cùng nhau chia sẻ hai ý tưởng: Ý tưởng thứ nhất đó là nước: MC3-A71

Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, chúng ta cùng nhau chia sẻ hai ý tưởng:
Ý tưởng thứ nhất đó là nước
Mỗi khi đi làm thuỷ lợi giữa đồng không mông quạnh với cái nắng như thiêu như đốt, chúng ta mới thấy quý những giọt nước hiếm hoi.
Dân Do Thái trong Cựu Ước cũng đã trải qua kinh nghiệm ấy. Khi băng qua sa mạc cát nóng để trở về miền đất Hứa, họ đã hiểu được nước gắn liền với sự sống của họ như thế nào. Đồng thời qua dòng nước vọt lên từ tảng đá Horeb dưới cây gậy của Maisen, Chúa đã chứng tỏ Ngài là Đấng đem lại sự sống cho họ.
Với Chúa Giêsu thì khác, từ thứ nước bình thường dưới lòng giếng, Ngài đã giới thiệu với người phụ nữ Samaria một thứ nước đem lại sự sống vĩnh cửu. Thực vậy, đã từ lâu người Do Thái và người Samaria coi nhau như những kẻ thù truyền kiếp. Dưới mắt dân Do Thái thì người Samaria bị coi như một thứ ngoại đạo và uế tạp cần phải xa tránh, thế mà qua đoạn Tin Mừng vừa nghe Chúa Giêsu đã vượt qua ranh giới thù hận như một dòng nước tràn bờ đem lại sự xanh tươi cho những mảnh đất khô cằn. Ngài đã xin người phụ nữ Samaria chút nước uống. Hành động của Ngài đã gây nên sửng sốt và từ sự sửng sốt ấy, Ngài đã làm trổi dậy một sự sống mới.
Chúa Giêsu đã chứng tỏ sứ mạng của mình là được sai đến với những con chiên lạc. Cuộc đối thoại của Chúa Giêsu đã giúp người phụ nữ nhận ra tình trạng bất chính của mình, để rồi cuối cùng nàng đã xác tín Ngài chính là Đấng cứu thế. Chúa Giêsu đã khởi đầu bằng cách xin nàng cho Người uống nước, nhưng rồi cuối cùng chính nàng lại là người được lãnh nhận nước ban sự sống.
Ý tưởng thứ hai đó là nơi thờ phượng Chúa.
Người Samaria có đền thờ của mình tại núi Sichem. Trong khi đó người Do Thái lại khẳng định đền thờ của họ tại Giêrusalem mới là nơi thờ phượng Thiên Chúa đích thật, bởi vì đó mới chính là nơi Thiên Chúa ngự trị giữa dân Ngài. Vậy ai đúng. Người Samaria hay người Do Thái? Cuộc tranh luận có lẽ đã kéo dài nhiều tháng và nhiều năm, nhưng vẫn không có kết luận. Họ không phải chỉ tranh luận suông, mà hơn thế nữa, người Do Thái còn khích bác dân Samaria là đã theo đuổi một thứ tôn giáo lai căng. Còn người Samaria thì có lần đã chơi khăm bằng cách rắc xương người chết vào nơi thờ kính của dân Do Thái, để làm cho nơi đó ra uế tạp, không còn thích hợp cho công việc tế tự.
Người phụ nữ Samari hẳn muốn nhờ Chúa Giêsu đứng ra làm trọng tài giải quyết vì nàng nhìn nhận Ngài là người của Thiên Chúa, đã biết được những chuyện thầm kín của đời nàng. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã nhân dịp này, mạc khải cho nàng biết phải thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và trong chân lý, bằng cách nhận biết Thiên Chúa là Cha. Chính sự thờ phượng Thiên Chúa là Cha và việc đặt mình vào trong mối quan hệ cha con với Thiên Chúa mới là việc thờ phượng mà Thiên Chúa hằng mong mỏi.
Còn chúng ta thì sao? Liệu chúng ta đã thực sự yêu mến Chúa bằng tất cả trái tim và tâm hồn của mình, hay chúng ta đang còn mải mê chạy theo những nghi thức và những biểu dương bên ngoài?

 

MC3-A72. Khát vọng vô biên của con người

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’ – R. Veritas)
 

Andre Frossard, một ký giả người Pháp đã cho xuất bản cuộc phỏng vấn Đức Thánh Cha Gioan: MC3-A72

Andre Frossard, một ký giả người Pháp đã cho xuất bản cuộc phỏng vấn Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II cách đây vài năm, là con của một người theo chủ nghĩa Marxit. Chính ông đã từng là một người cộng sản đầy xác tín…
Ngày nọ, ông phải đưa một người bạn đến một tu viện. Trong lúc chờ đợi người bạn, ông tò mò bước vào một nhà nguyện có đặt Mình Thánh Chúa. Ông không bao giờ nghĩ rằng Chúa đang chờ đợi ông. Trong phút chốc, ông bỗng nhận ra một ánh sáng thiêng liêng trong tâm hồn. Bừng dậy sau một cơn mê tăm tối, ông bước ra khỏi nhà nguyện chạy tức tốc đến người bạn và hô lớn: “Thiên Chúa hiện hữu. Đó là một chân lý”.
Ông đã ghi lại kinh nghiệm thiêng liêng ấy trong một quyển sách với tựa đề: “Thiên Chúa hiện hữu, tôi đã gặp Ngài”. Quyển sách đã được liệt kê vào danh sách những tác phẩm bán chạy nhất (best-seller)…
Anh chị em thân mến,
Dù cho chúng ta có chối bỏ Thiên Chúa, Ngài vẫn luôn luôn chờ đợi chúng ta. Tại một góc đường nào đó, trước một ánh nến lung linh nào đó, trong một biến cố đau thương nào đó, Ngài đang chờ đợi chúng ta. Phải, Thiên Chúa như một người tình chung thủy lúc nào cũng chờ đợi chúng ta… Chỉ có sự thất vọng, chán nản mới có thể hủy bỏ mọi hẹn hò của Thiên Chúa. Bao lâu chúng ta còn tìm kiếm, bao lâu chúng ta còn phấn đấu, bao lâu chúng ta còn hy vọng, thì bấy lâu Thiên Chúa vẫn chờ đợi chúng ta…
Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giêsu cũng đang chờ đợi người thiếu phụ Samari bên bờ giếng của Tổ phục Giacob giữa ngã ba đường, tại làng Sikar. Từ một lời xin được nước uống, Chúa Giêsu đã khéo léo bắt chuyện và dần dần đưa người thiếu phụ từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác: từ chỗ chỉ thấy người đối thoại với mình là một người lữ hành, một người Do Thái kỳ lạ, dám tiếp xúc với một người phụ nữ Samari vốn thù nghịch với mình, đến chỗ coi người lữ hành nầy như một tổ phụ – như Tổ phụ Giacod – còn hơn nữa, như một tiên tri và cuối cùng nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế đã được trông đợi từ lâu. Chị liền vội vàng chạy đi thông báo cho dân thành đến với Đấng Cứu Thế. Chính ngài sẽ ban cho chúng ta “Nước hằng sống”. Bao lâu chưa tìm ra nguồn nước đó, con người sẽ chết đói, chết khát.
Cuộc hẹn bất ngờ đã làm đảo ngược tình huống: Bây giờ người đói, người khát không phải là Chúa Giêsu nữa mà chính là người thiếu phụ Samari. Chính chị là người phải mở miệng xin Chúa cho nước uống, không phải thứ nước từ trong giếng kia, uống vào chỉ đỡ khát trong chốc lát; còn Ngài, Ngài sẽ ban cho thứ nước ban sự sống đời đời, như Ngài nói: “Ai uống nước Tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước Tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước chảy vọt mang lại sự sống đời đời”.
Thưa anh chị em,
Con người sinh ra trong giới hạn, nhưng lại mang một khát vọng vô hạn. Và để thỏa mãn cơn khát đó, kẻ thì đánh lừa mình bằng cách tạo ra những thần tượng để tôn thờ và họ sẽ thất vọng… Kẻ thì lấp đầy khao khát đó bằng cách lăn xả vào những khoái lạc vật chất. Họ cũng sẽ thấy chán chường, không bao giờ thấy thỏa mãn. Chúa Giêsu đã nói với người thiếu phụ Samari: “Ai uống nước giếng nầy, sẽ vẫn còn khát…”, thứ nước này không giải khát hoàn toàn, nó vừa xoa dịu cơn khát, vừa duy trì và kích thích cơn khát. Ai mà chẳng biết cái chu kỳ quỷ quái của dục vọng, luôn luôn tái phát, chẳng bao giờ no thỏa. Ai lại không cảm thấy nhu cầu được thỏa mãn cứ trào lên vô tận, thúc đẩy mình hưởng thụ cách nào đó: càng khát lại càng uống, càng uống lại càng khát…
Chỉ có Chúa Kitô, phát xuất từ Thiên Chúa vô biên có thể dạy chúng ta ý nghĩa khao khát đó. Ngài dạy chúng ta sống với vô biên, khát cái phải khát, và chỉ có Ngài mới có thể lấp đầy khát vọng vô biên của con người. Chính Đấng Vô Biên đã tạo ra trong lòng chúng ta cái khát vọng vô biên, không sao thỏa mãn, không sao lấp đầy đó. Chỉ khi nào gặp được Đấng Vô Biên trong Đức Kitô, lòng chúng ta mới được thỏa mãn mà thôi.
Thánh Augustinô, sau một khoảng đời đi tìm kiếm danh vọng, địa vị, tiền tài, tình yêu, hạnh phúc, cuối cùng đã chán ngán, ăn năn sám hối trở lại với Chúa và ngài đã thốt lên: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, thế mà bấy lâu nay con chỉ mải mê tìm kiếm cái gì khác ở ngoài Chúa. Vì vậy lòng con luôn băn khoăn thao thức mãi cho đến khi được an nghỉ trong Chúa. Lạy Chúa, con đã biết Chúa quá muộn! Con đã yêu Chúa muộn quá rồi!”.
Người thiếu phụ Samari hôm nay khi gặp được Đức Giêsu – nguồn mạch nước hằng sống – đã phải thốt lên với mọi người: “Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi mọi việc tối đã làm. Phải chăng ông ấy là Đấng Kitô”. Sau khi dân thành Samari kéo đến gặp Chúa Giêsu và xin Ngài ở lại, họ đã hân hoan tuyên xưng rằng: “Không phải vì lời chị kể lại mà chúng tôi tin. Chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Ngài thật là Đấng Cứu Thế”.
Và cũng như Andre Frossard, một đảng viên cộng sản đầy xác tín đã phải thốt lên: “Thiên Chúa hiện hữu, tôi đã gặp Ngài”. Không phải chỉ thốt lên bằng một lời nói mà bằng cả một tác phẩm ghi lại kinh nghiệm gặp gỡ thiêng liêng ấy, một tác phẩm thuộc loại sách bán chạy nhất.
Anh chị em thân mến,
Chúa Giêsu là niềm khát vọng thầm kín, sâu xa của mọi người và mỗi người chúng ta trong cái khát vọng cơm nước tầm thường hằng ngày của chúng ta, để rồi chúng ta cảm thấy không phải chỉ cần có thứ cơm nước đó mới sống được, không phải chỉ có những thực tại vật chất ấy là đáng kể trong đời sống mà còn có những khát vọng tình yêu và hạnh phúc, độc lập và tự do, công lý và hòa bình…, và lắng sâu trong tâm hồn còn có khát vọng sự sống vĩnh cửu; Nước Hằng Sống.
Chúng ta phải làm sao để cảm thấy Chúa cần thiết cho đời sống của chúng ta, gắn liền với cuộc sống chúng ta như ánh nắng, như khí thở, như cơm ăn, như nước uống hằng ngày: “Ai uống nước Tôi ban cho sẽ không bao giờ khát nữa… và sẽ được sống muôn đời”.

 

MC3-A73. Chú giải của Fiches Dominicales

TIẾN TRÌNH NHẬN RA ĐỨC KITÔ
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Cuộc gặp gỡ bên bờ giếng Samaria:
 

Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari, một trong những trang đẹp đẽ: MC3-A73

Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari, một trong những trang đẹp đẽ nhất của Phúc âm thánh Gioan, thuộc trong số những bài đọc quan trọng của vị thánh sử thường được Hội Thánh, ngay từ những thế kỷ đầu, dùng trong nghi thức khai tâm các dự tòng.
+ Sự việc xảy ra tại Samari. Miền đất này ngày xưa đã từng là đất thánh của các tổ phụ nhưng kể từ cuộc phân ly của người Samari, đã biếrl nên vùng đất bị thù ghét, tránh lai vãng.
Đức Giêsu bỏ miền Giuđê mà trở lại miền Galilê. Người có hai lối dể đi: một "nên đi", khó khăn vất vả hơn vì nắng nóng; một "không nên đi", không tốt cho những người Do Thái phải thường xuyên giữ mình sạch sẽ theo luật tế tự, thì lại qua ngã Samari.
Đức Giêsu cố tình chọn lối đi thứ hai này: "Người phải băng qua Samaria. Theo X. Dufour, có lẽ để chứng tỏ Người đến "để hoà giải các dân tộc, nối kết những anh em đã phân ly" (xem "Bài đọc Phúc âm theo thánh Gioan”, tập I, trang 342).
+ Sự việc diễn ra bên bờ giếng Giacob. Trong tất cả các nền văn minh Sêmít, giữa một thiên nhiên khắc nghiệt do hạn hán và sa mạc nóng cháy, giếng là chỗ duy nhất cung cấp nước, đã trở thành nơi có tính chất biểu tượng: nơi của sự sống, nơi để gặp gỡ, đối với những ai thông thạo Kinh Thánh, thì giếng nước còn là khung cảnh cho nhiều cuộc Giao ước, và là cái gợi nhớ lại ơn Thiên Chúa đã ban cho Dân Người trong thời xuất hành qua sa mạc.
2. Tiến trình nhận ra Đức Kitô.
Qua bài tường thuật Phúc âm, thánh sử Gioan muốn đưa chúng ta vào hành trình nhặn biết Đức Kitô.
+ Những xê dịch đi lại trong không gian là hình ảnh biểu trưng cho những chuyến trở về nội tâm.
+ Những thay đổi trong danh xưng Đức Giêsu đánh dấu từng bước của sự nhận biết: lúc đầu chỉ là "người Do Thái", rồi được tuyên bố là "lớn hơn tổ phụ Giacob là người đã cho chúng tôi giếng này, sau đó được gọi là "vị Tiên tri" trước khi xưng mình là "Đấng Messia" và được những người Samaria nhận là "Đấng cứu độ trần gian".
+ Những ngộ nhận giữa đôi bên đối thoại chỉ cho chúng ta thấy những chặng đường phải vượt qua: Từ nước giếng đến nước Hằng Sống.
Từ nơi chân thờ phụng đến việc tôn thờ Thiên Chúa trong tình thần và chân lý.
Từ của ăn nuôi thân xác đến lương thực là thi hành ý Cha.
Từ chuyện mùa màng đến sứ mạng trên cánh đồng truyền giáo. Từ nước giếng đến Nước Hằng sống:
"Có một người phụ nữ Samaria đến lấy nước”. Chị cho tôi xin chút nước uống, Đức Giêsu xin với người phụ nữ ấy, như ngày xưa dân Israel cũng đã xin cho có nước uống trong sa mạc (Bài đọc I). Người phụ nữ bỡ ngỡ trước lời đề nghi khó hiểu của người đàn ông Do Thái qua đường này, bởi trải qua nhiều thế ky đã có quá nhiều hiểu lầm và thù ghét giữa người Do Thái và người Samari. Chị không ngại chấp nhận cuộc trao đổi: "Ông là người Do Thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?”. Vô tình chị đang từng bước đi vào một cuộc mặc khải nhiệm mầu chưa từng có.
Đức Giêsu "xin người phụ nữ nước uống". Vẫn theo X. Dufour, "Người ta có cảm tưởng là điều mà Người thực sự đang khát chính là cái khát, là nỗi ước ao của người phụ nữ làm sao có được thứ Nước Hằng Sống mà chỉ một mình Người có thể ban cho" (Sđd trang 354). Và quả thực, sau đó Đức Giêsu đã trả lời: "Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người nói với chị: cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị Nước Hằng Sống? Là kẻ "không có thùng để múc nước", giờ đây Người lại xưng mình sẽ ban Nước Hằng Sống, thứ nước sẽ làm thoả mọi cơn khát, thứ nước "sẽ trở thành nơi người uống ‘một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời’.
Câu chuyện chuyển dần theo nhận định của Alain Marchadour - từ cái giếng nước vật chất sang người đàn ông, một người Do Thái đã mệt lả và đói khát. Con người ấy, ngay trong tình thế thiếu thốn của mình, lại tự giới thiệu như một Đấng có quyền ban phát. Mà ân ban ở đây lại không có liên can gì tới thứ nước trong giếng cả, vòi từ nơi con người ấy, nó trở thành một nguồn suối mới ngàn trùng vượt xa cái giếng nước ban đầu Đức Giêsu đã đưa vào trong cuộc đối thoại một chiều kích mầu nhiệm từ chuyện một cái giếng nước vật chất mà Người ghé vào để xin nước uống, người đã huớng đến chính bản thân Người, là ân ban của Thiên Chúa, Đấng có quyền năng ban cho loài người Nước Hằng Sống" ("Phúc âm thánh Gioan”, Centurion, 1992, trang 76-77).
Từ nơi chốn thờ phượng đến việc tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý:
Đức Giêsu lúc này đặt người phụ nữ trở về đối diện trước chuyện đời tư của mình: một cuộc sống thiếu chung thuỷ chẳng khác gì biểu tượng về sự bất trung tôn giáo nơi những người dân Samari. Chúa nói với người phụ nừ: "Chị hãy gọi chồng chị rồi trở lại đây”. "Tôi không có chồng, chị ta đáp. Chúa không nhượng bộ: "Chị nói tôi không có chồng là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi (con số có thể khiến liên tưởng tới năm vị thần mà người Samari thờ), và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng. "Thưa ông tôi thấy ông thật là một ngôn sứ, người phụ nữ nói tiếp, thêm một bước khám phá về chân tính của người khách lạ. Sau đó chị lái câu chuyện sang một vấn đề đã từng là nguyên cớ gây chia rẽ giữa người Do Thái và người Samari: nơi phải thờ phượng Thiên Chúa. "Trên núi này (núi Garizim)?” hay "ở Giêrusalem?”. Đức Giêsu báo cho chị ta hay rằng từ nay, với Người, một thời cũ đã qua, một thời mới bắt đầu: không còn chỗ cho thứ thờ phượng gắn liền với một ngọn núi; đã hết thời cho những cái đã là đền thờ này hay đền thờ kia (D. Mollat). Kể từ bây giờ sự hiện diện của Thiên Chúa không còn lệ thuộc vào một nơi chốn hay một đền đài nào nữa, nhưng vào một con người: Đức Giêsu Kitô. Người loan báo: "Những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật". Họ sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Người, Đức Giêsu, Đấng là đền thờ mới (Ga 2,19-22), và nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng được ban cho họ để trở nên con cái Thiên Chúa trong Người Con.
Và khi người phụ nữ đề cập tới việc “Đấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, Đức Giêsu trả lời: "Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây”.
Để vò nước lại, bởi nó chẳng còn dùng vào việc gì nữa, người phụ nữ chạy đi chia sẻ với bà con của mình niềm vui của cuộc gặp gỡ: người phụ nữ từng thèm khát được uống, được tồn tại, nay đã tìm ra được con người đã làm vọt lên trong chị một nguồn sống mới: "Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?”
3. Dẫn tới việc tuyên xưng đức tin:
Đang lúc đó thì các môn đệ trở về, mang theo đồ ăn thức uống. Người phụ nữ đã đi khỏi, các ông mời Chúa: “Rabbi, xin mời Thầy dùng bữa". Lại một ngộ nhận nữa liền xảy ra về chuyện "lương thực". Điều Đức Glêsu hằng tìm kiếm, cái là lương thực là sự sống của người chính là “thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và họàn tất công trình của Người”.
Rồi từ đề tài lương thực và sứ mạng dẫn tới đề tài “mùa gặt”. Thêm một ngộ nhận mới: các môn đệ chỉ nhìn thấy cánh đồng còn phải chờ bốn tháng nữa mới tới mùa gặt, còn Đức Giêsu lại mời gọi các ông "hãy ngước mắt lên mà xem" thấy những người Samari đang lại gần kia, họ chính là những hoa trái đầu tiên của mùa gặt truyền giáo. Bài tường thuật đạt tới đỉnh cao với lời tuyên xưng đức tin của những người Samari: chính chúng tôi đã nghe và biết rằng người thật là Đấng cứu độ trần gian. Lời tuyên xưng không trực tiếp nói với Đức Giêsu, nhưng với người phụ nữ. X. Dufour nhận xét: Ngay những kẻ đã được nghe Tin Mừng người phụ nữ loan báo, nay lại loan báo cho chị ta biết Đức Giêsu kia thực sự là ai: đúng là một trao đổi lạ lùng!, và kết luận: Qua phong cách và lời nói của người đàn ông Do Thái tên Giêsu đã đến ở giữa họ này, những người Samari đã được mở ra tới một chân trời mới vượt xa ranh giới mảnh đất của họ. Họ đã nhận ra con người này không chỉ là Đấng Messia cho một dân tộc mà họ mong đợi, nhưng là Đấng Cứu độ trần gian. (Sđđ, trang 39S và 395).
Đức Giêsu đã sẵn lòng ở lại với họ hai ngày, điều này làm sáng tỏ rằng đối với Người, không còn đâu là "miền đất được ưu tiên", không còn đâu là "miến đất bị ghét bỏ" nữa, nhưng tất cả mọi người không phân biệt đều được mời gọi đến với ơn cứu độ.
BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Theo kiểu của họ, các anh chị tân tòng nói với chúng ta về tính chất muôn đời mới mẻ của Đức tin”.
"Người phụ nữ Samari". Đối với nhiều người đó là tên một cửa tiệm lớn ở Paris mà người ta đôi lúc còn nhắc đến thời còn bán đồ cũ. Nếu từ này còn có thể khiến ai đó chú ý đến chương IV của Phúc âm thánh Gioan này, thì chúng ta tin chắc rằng phải có một cái gì đó đặc biệt có sức thu hút, “nói là thu hút", nhưng trong câu chuyện Phúc âm không hề có vấn đề thu hút gì cả. Đúng hơn đây là một sự tiếp cận. Một sự khám phá và là một lời mời gọi không thể chối từ. Người phụ nữ Samari ở đây đúng là mẫu mực, là điển hình của người tân tòng đang dấn thân tìm gặp Đức Giêsu.
Chị ta lại chịu hai mặt bất lợi: là phụ nữ và là thành phần của một sắc dân bị người Do Thái miệt thị (bằng chứng về sự xuất hiện và có mặt của những cộng đoàn Kitô hữu tại Samari ngay vào thời Tin Mừng IV đang được biên soạn). Nhưng đó không thành vấn đề, Đức Giêsu vẫn tìm cách lôi kéo người phụ nữ này, nhưng một sức hấp dẫn vô hình. Cách tiếp cận thật lạ lùng: người khách lạ đã mỏi mệt dừng chân bên bờ giếng xin người phụ nữ chút nước uống. Đấng có quyền năng ban phát mọi sự, nay lại làm kẻ ngửa tay xin. Thiên Chúa luôn rộng ban ơn của Người cho tất cả những ai biết sẵn sàng cho đi chút của cải mình có. Người tân tòng sẽ tìm thấy không phải là một vị Thiên Chúa thích huỷ diệt để rồi lại ban phước, nhưng một Thiên Chúa nghèo, dường như phải cần đến loài người. Thế rồi câu chuyện bỗng đổi chiều, giờ đây cái nhìn của Đức Giêsu soi thấu vào ngõ ngách đời tư của người phụ nữ. Cái nhìn của loài người chỉ dừng lại ở bề ngoài, nhưng Thiên Chúa nhìn sâu vào cõi lòng. Người tân tòng phải chăng là kẻ mà Đức Giêsu đã trở nên thiết thân hơn chính bản thân họ?
Đến đây, người phụ nữ ngỡ ngàng nhận ra vị ngôn sứ Chị biết rằng giòng Nước Hằng Sống kia có thể rửa sạch mọi bất trung tội tình của chị. Kẻ sắp lãnh nhận phép Thánh Tẩy cũng thế, họ khát khao giòng nước rồi đây sẽ cho phép họ thầm thì kêu tên Thiên Chúa là Cha. Chưa hết, người phụ nữ còn bỏ lại tất cả, cả cái vò nước, cả những người tình, cả cuộc đời chị, để loan báo cho mọi người về cuộc gặp gỡ có tính chất quyết định cho chị. Chúng ta có khả năng để lắng nghe tiếng của những anh chị em tân tòng nói với chúng ta, theo cách của họ, sau khi đã giã từ cuộc đời dĩ vãng, về cái mới mẻ muôn thuở của Đức Tin?".
2. “Người phụ nữ bỏ quên vò nước bên bờ giếng”
"Bên bờ giếng, có một khánh bộ hành mỏi mệt dừng chân, chân lý đã vọt lên từ những lời ông ta nói. Cũng bên bờ giếng đó, người phụ nữ nọ đã để lại cái vò nước của mình, bởi từ nay nó những giúp gì cho chị đón nhận hồng ân Thiên chúa ban. Cái vò nước bỏ quên đó sẽ mãi mãi nói với chúng ta về một người phụ nữ mà số phận từng bị giam hãm trong đủ thứ công việc hằng ngày, trong những quan hệ không tới đâu với một loạt đời chồng, nay bỗng tìm thấy ý nghĩa cho đời mình qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu, qua những trao đổi với Người. Cũng thế đối với những người Samari kia, những kẻ đã biết đón nhận người khách đường xa không hẹn mà đến này. Như thế, chính qua những chuyện của đời thường như ăn, uống, cuộc sống chung, cố gắng quay về với Thiên Chúa... mà con người nghe tiếng nói của Thánh Thần. Nhưng ở đây và lúc này, lại đến như một ân ban qua những bất trắc khôn lường của lời nói, qua thái độ chân thành của các bên đối thoại qua những khoảnh khắc thinh lặng để cho chân lý nói.

 

MC3-A74. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

Người phải băng qua Samari". Lộ trình ngắn nhất và dễ nhận từ Giuđê đến Galilê chạy ngang: MC3-A74

"Người phải băng qua Samari". Lộ trình ngắn nhất và dễ nhận từ Giuđê đến Galilê chạy ngang qua miền Samari. Edei, "Người phải", diễn tả một sự bắt buộc hay một sự tiện lợi về địa dư? 'Động từ dei, trong Tin Mừng Gioan (3, 7.14.30; 4, 20. 24; 9, 4; 10, 16; 12, 34...) cũng như trong các Tin Mừng Nhất Lãm (Mc 8, 31; 9,11) thường có nghĩa một sự