Suy niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời 15-8 Bài 101-150 Đức Maria lên trời, niềm hy vọng của chúng ta

Chủ nhật - 11/08/2019 05:04
Suy niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời 15-8 Bài 101-150 Đức Maria lên trời, niềm hy vọng của chúng ta
Suy niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời 15-8 Bài 101-150 Đức Maria lên trời, niềm hy vọng của chúng ta
Suy niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời 15-8 Bài 101-150 Đức Maria lên trời, niềm hy vọng của chúng ta
--------------------------------
15/8-101: Lễ Ðức Maria Hồn Xác Lên Trời 2
15/8-102: Đặc ân hồn xác lên trời 5
15/8-103: Ðức Maria, Linh Hồn và Xác Lên Trời 7
15/8-104: Lời thưa xin vâng. 8
15/8-105: Mẹ là Mẹ của tôi 10
15/8-106: Sống Lời Chúa theo gương Mẹ. 13
15/8-107: Xin vâng. 16
15/8-108: Yêu thương phục vụ theo gương Mẹ Maria. 18
15/8-109: Ý nghĩa lễ Đức Mẹ Maria hồn xác lên trời 20
15/8-110: ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI 22
15/8-111: NGUỒN GỐC LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI 27
15/8-112: "Đức Mẹ hồn xác lên trời" trong hội họa. 30
15/8-113: Mừng lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời 33
15/8-114: Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời 38
15/8-115: Linh hồn tôi ngợi khen Chúa. 40
15/8-116: Đức Mẹ Maria hồn xác lên trời 43
15/8-117: Đức Maria hồn xác lên trời (Assumpta) 45
15/8-118: ĐỨC MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI 48
15/8-119: Mẹ được Chúa cho hồn xác lên Trời 50
15/8-120: TRUYỀN THỐNG VÀ THÁNH KINH NÓI GÌ?. 54
15/8-121: ĐỨC MẸ HỒN XÁC VỀ TRỜI HIỂN VINH.. 57
15/8-122: KINH MAGNIFICAT.. 60
15/8-123: NGƯỜI PHỤ NỮ VINH QUANG.. 64
15/8-124: HƯỚNG VỀ TRỜI VỚI MẸ, VẪN KHÔNG QUÊN SỨ VỤ.. 66
15/8-125: HOAN CA ĐỨC MẸ.. 69
15/8-126: ÂN HUỆ “NHƯNG KHÔNG”. 74
15/8-127: SAU LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI, SẼ HẾT DỊCH…... 77
15/8-128: NHỮNG NGƯỜI THUỘC VỀ CHÚA KITÔ.. 81
15/8-129: NIỀM VUI VÀ HY VỌNG CỦA THẾ GIỚI 83
15/8-130: HỌC THEO GƯƠNG NHÂN ĐỨC CỦA MẸ MARIA.. 86
15/8-131: LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI 88
15/8-132: Đức Maria là người được chúc phúc. 92
15/8-133: Đức Maria trong đời thường. 95
15/8-134: Đức Mẹ Maria lên trời cả hồn và xác. 98
15/8-135: Niềm hy vọng cứu độ. 100
15/8-136: Đức Mẹ Maria Hồn Xác lên Trời 101
15/8-137: Ðức Maria, Linh Hồn và Xác Lên Trời 109
15/8-138: Mẹ muốn chúng ta đạt tới cõi phúc trên trời 111
15/8-139: Maria Mẹ Đầy Ơn Phúc. 113
15/8-140: Mẹ Maria Lên Trời - J.M - Lễ Vọng: 115
15/8-141: Vững tin giống Mẹ – Về trời như Mẹ”. 116
15/8-142: Ðến gần bên Chúa Yêsu như Ðức Mẹ. 118
15/8-143: Ðể cho được lên cao như Ðức Mẹ. 123
15/8-144: Bí quyết đón nhận dồi dào ân sủng Thiên Chúa. 128
15/8-145: Mẹ là hoa sen giữa đời 130
15/8-146: Marilyn, Chúng Tôi Thông Cảm Với Cô. 132
15/8-147: Chân dung Mẹ Maria. 133
15/8-148: Mẹ Maria là ưu phẩm của Thiên Chúa. 135
15/8-149: Maria dám tin. 138
15/8-150: Hoa thơm quả ngọt của trái đất được đưa về Trời 140

------------------------

 

15/8-101: Lễ Ðức Maria Hồn Xác Lên Trời


"Phúc thay Người Mẹ đã cưu mang Thầy và cho Thầy bú mớm"

§ +GM Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng

(Bài giảng lễ Vọng Mẹ Lên Trời)

Kính thưa cộng đoàn hành hương,

 

Chiều hôm nay, lễ Vọng kính Mẹ Lên Trời hồn xác, chúng ta qui tụ từ muôn phương về linh 15/8-101


Chiều hôm nay, lễ Vọng kính Mẹ Lên Trời hồn xác, chúng ta qui tụ từ muôn phương về linh địa La Vang, để cùng với Mẹ dâng lời cảm tạ và ca tụng tình thương của Thiên Chúa đã đoái nhìn đến phận Nữ tỳ hèn mọn và thực hiện những điều kỳ diệu cho Mẹ, đặc biệt đã ban cho Mẹ đặc ân được hưởng hạnh phúc trên trời cả hồn lẫn xác, làm Nữ Vương các thiên thần và các thánh.

Không phải đợi đến lúc kết thúc cuộc đời dương thế, Mẹ mới được hưởng hạnh phúc, mà ngay lúc còn tại thế, giữa những thử thách và thăng trầm của cuộc đời, Mẹ đã luôn cảm nếm được hạnh phúc đích thực, hạnh phúc vì được Chúa yêu và vì Mẹ đã yêu Chúa hết lòng. Hạnh phúc vì đã cưu mang và nuôi dưỡng Con Thiên Chúa, như lời một phụ nữ đã lớn tiếng ca tụng Mẹ khi nghe Lời Chúa giảng dạy: "Phúc thay Người Mẹ đã cưu mang Thầy và cho Thầy bú mớm."

Người phụ nữ nầy xem quả thì biết cây: Cây tốt sẽ sinh trái tốt. Hình ảnh người Mẹ được bộc lộ nơi người con. Một người con trọn lành thánh thiện như Chúa Giêsu, thì Mẹ của Ngài chắc chắn cũng muôn phần hoàn hảo và tốt lành. Mát lòng biết bao! hãnh diện và hạnh phúc biết bao cho đứa con khi người ta ca tụng mẹ của mình!

Chắc chắn Chúa Giêsu hài lòng về lời ca tụng của người phụ nữ kia. Chúa không chối bỏ công sinh thành dưỡng dục của Mẹ Maria, nhưng Ngài còn muốn lợi dụng cơ hội nầy để tuyên dương một hạnh phúc khác cao cả hơn, lớn lao hơn, Ngài nói: "Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa".

Chúa muốn đề cao Người Mẹ mà Ngài luôn yêu mến và kính trọng. Ngài tế nhị muốn nói: Mẹ tôi có phúc không chỉ vì đã cưu mang và nuôi dưỡng tôi, nhưng Mẹ tôi còn có phúc hơn vì dã biết lắng nghe và tuân giữ Lời của Thiên Chúa.

Lắng nghe và tuân giữ Lời của Thiên Chúa đó là hai điểm chúng ta cùng chiêm ngưỡng nơi Mẹ Maria trong giây phút nầy.

1- Mẹ có phúc vì đã lắng nghe Lời của Thiên Chúa.

Trong chương trình mạc khải của Thiên Chúa, Ngài thường tỏ bày thánh ý của Ngài cho những tâm hồn khiêm tốn nhỏ bé, như Chúa Giêsu đã nói: "Lạy Cha là Chúa tể trời đất, Con xin ngợi khen Cha vì Cha đã dấu không cho các bậc khôn ngoan, thông thái biết những điều nầy, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn"( Mt 11,25).

Thiên Chúa cũng chỉ nói với những ai có thành tâm thiện chí muốn lắng nghe như trường hợp của Samuel, chỉ khi cậu chắp tay thưa:" Lạy Chúa xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe", Ngài mới phán dạy.

Tâm hồn Mẹ Maria có cả đủ hai điều kiện đó. Mẹ khiêm tốn tột độ, tự hạ đóng vai trò một nữ tỳ để phục vụ và luôn sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên Chúa, như lời Mẹ đã thưa với thiên sứ lúc truyền tin "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1,38).

Thái độ lắng nghe còn đòi hỏi một tình yêu thúc bách đi tìm biết ý của người yêu: Mẹ khao khát ước mong tìm thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh. Mẹ biết tiếng Chúa không ở trong sấm chớp, trong mưa gió nhưng âm thầm nhẹ nhàng trong ngọn gió hiu hiu, qua những biến cố tầm thường trong cuộc sống. Vì thế cần có một tâm hồn nhạy cảm, tế nhị biết lắng nghe.

Ý của Thiên Chúa không luôn trùng hợp với ý riêng của Mẹ mà nhiều lúc còn hoàn toàn trái ngược. Trong những trường hợp đó Mẹ không chống đối, phiền trách nhưng đã biết " khắc ghi và suy niệm mọi điều đó trong lòng" ( Lc 2,19).
Thái độ lắng nghe còn nói lên sự nhạy bén của con tim luôn tin tưởng vào người mình lắng nghe, không do dự đắn đo. Chỉ trong cùng một thứ ngôn ngữ của những con tim yêu nhau, họ mới dễ nhận ra và hiểu đúng ý của người mình yêu. Mẹ Maria luôn kết hiệp với Chúa, con tim Mẹ rất nhạy cảm trước những mặc khải của Thiên Chúa tình yêu. Đối với Mẹ, lắng nghe cũng là một đáp trả tình yêu của Thiên Chúa.

2- Mẹ có phúc vì đã tuân giữ Lời của Thiên Chúa.

Đây là bước thứ hai của tình yêu để đáp trả tình yêu. Một khi đã nhận ra ý của Thiên Chúa, thì cố gắng bằng mọi giá làm theo ý của Cha trên trời như là một dấu chứng tình yêu.

Có nhiều người đi được bước đầu: lắng nghe và nhận ra ý Thiên Chúa, nhưng không đủ can đảm đi tiếp bước thứ hai là làm theo lời Ngài, vì thiếu quảng đại, sợ hy sinh, ngại bỏ ý riêng.

Đức Maria, với một tâm hồn quảng đại, sẵn sàng hy sinh để đáp trả, Mẹ luôn thi hành Thánh ý Chúa. Hai chữ “Xin Vâng" trở thành điệp khúc bài ca tình yêu của Mẹ dâng lên Thiên Chúa. Mẹ xin vâng không chỉ trong những hoàn cảnh xuôi thuận may mắn mà còn trong những biến cố khó khăn và thử thách.

Thiên Chúa muốn Mẹ sinh con trong hang lừa máng cỏ nghèo nàn lạnh buốt. Ngài muốn Mẹ vất vả lao đông để đổi lấy bát cơm manh áo. Ngài muốn Mẹ chia sẻ những chống đối vô ơn của con mình trên bước đường thi hành thánh ý Chúa Cha. Ngài muốn Mẹ từng bước theo Con trên đường núi sọ. Ngài mời gọi Mẹ có mặt dưới chân thánh giá để chứng kiến cái chết đẫm máu và đau thương của Người Con yêu dấu.

Trong mọi trường hợp và cảnh huống, Mẹ luôn thưa xin vâng với tâm tình tuân phục và tin yêu, vì Mẹ luôn muốn thi hành thánh ý của Thiên Chúa.

Kính thưa anh chị em,

Trong hai ngày hành hương về La Vang để mừng lễ Mẹ Lên Trời hồn xác, Chúa muốn chỉ cho chúng ta một con đường về trời với Mẹ Maria: Đó là con đường biết lắng nghe và tuân giữ lời của Thiên Chúa. Hạnh phúc lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa không chỉ dành riêng cho một mình Mẹ, nhưng Chúa đã muốn mời gọi tất cả chúng ta hưởng trọn niềm vui và hạnh phúc đó.

Chúa Giêsu đã xác nhận điều nầy khi quả quyết: "Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi" ( Mt 12,49).

Con đường lên trời là một con đường lên dốc, đòi hỏi nhiều cố gắng và hy sinh liên tục. Nhưng chúng ta an tâm vì đã có một người Mẹ đi trước và đang giang tay chờ đón để lôi kéo chúng ta lên theo.

Hãy bám víu vào Mẹ, hãy cầu xin mẹ giúp chúng ta noi gương Mẹ luôn biết lắng nghe tiếng Chúa qua lương tâm, qua giáo huấn của Giáo Hội, qua Lời Chúa và qua mọi biến cố vui buồn của cuộc sống, để rồi sau đó cố gắng tuân giữ và thi hành thánh ý của Cha trên trời. Đó là con đường ngắn nhất, là hạnh phúc Chúa dành cho những ai yêu mến Ngài ngay trên cõi đời nầy vì phúc thay cho nhưng ai nghe và tuân giữ Lời của Thiên Chúa.

Lạy Mẹ La Vang xin cầu cho chúng con biết lắng nghe và thi hành thánh ý của Thiên Chúa như Mẹ. Amen.

--------------------------------

 

15/8-102: Đặc ân hồn xác lên trời


Lc 1, 39 – 56

Lm.Giuse Maria Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Giáo Hội dành cho Mẹ Maria biết bao tước hiệu. Mọi danh xưng của Mẹ đều gói trọn ý nghĩa 15/8-102


Giáo Hội dành cho Mẹ Maria biết bao tước hiệu. Mọi danh xưng của Mẹ đều gói trọn ý nghĩa cao vời. Mẹ Maria là Mẹ Chúa Giêsu và cũng là Mẹ của mỗi người chúng ta.

Do đó, tên Maria gợi lên cho ta tình thương vô biên của một người Mẹ luôn sẵn sàng yêu ta, cảm thông, tha thứ cho ta mỗi khi ta lỗi lầm yếu đuối. Còn tên nào trìu mến cho bằng tên Maria. Con người trần gian không thể dùng bất cứ ngôn ngữ nào để diễn tả về Mẹ Thiên Chúa. Con người chỉ biết cúi đầu trước bao danh xưng ý nghĩa tuyệt vời. Vì là Mẹ Thiên Chúa, Maria đã được Thiên Chúa ban cho nhiều đặc ân cao trọng mà bất cứ người phụ nữ nào  trên trần gian cũng không có được. Ơn vô nhiễm nguyên tội, ơn hồn xác về trời là những đặc ân vô cùng quí giá. Chỉ mình Mẹ có được và chỉ mình Mẹ mới có thể hiểu thấu. Mừng lễ Đức Maria hồn xác lên trời, chúng ta cảm nghiệm sao về đặc ân vô cùng quí giá ấy.

MẸ MARIA: Có Mẹ có Cha là một hạnh phúc lớn lao đối với con người. Tiếng Mẹ tiếng Cha luôn cho con trẻ và ngay cả người lớn cái cảm giác êm đềm, dễ chịu. Chúa Giêsu khi đến trần gian, Ngài cũng không đi một con đường nào khác, Ngài không sinh ra như một Tiên Nga giáng trần hay như một vị thần thánh nào khác. Ngài đã chọn một gia đình: có Cha, có Mẹ. Ngài đã sinh ra một cách bình thường như bất cứ một trẻ nhỏ nào khác. Đọc lại Kinh Thánh và học Giáo Lý, chúng ta không khỏi ngạc nhiên và vô cùng sung sướng khi thấy sự lạ lùng của việc Chúa làm. Con đường của Chúa hết sức kỳ diệu và con đường của Người vô cùng lạ lùng. Maria đã được chuẩn bị từ trước. Mẹ đã được sinh ra trong cung lòng của bà thánh Anna vào lúc bàđã tuổi già. Thánh Gioakim cũng đã ngã chiều và ở vào cái tuổi hai ông bà không thể nào sinh con vì tuổi tác. Nhưng Thiên Chúa đã làm một việc hết sức kỳ diệu, bà thánh Anna đã sinh con duy nhất là Đức Trinh Nữ Maria. Thế rồi cuộc đời của Maria cứ lớn lên trong ơn nghĩa của Chúa. Thiên Chúa lại để ý và sủng ái Mẹ Maria. Nhân loại phản bội Thiên Chúa. Cái tội phản bội đáng lẽ bị Chúa loại trừ, tiêu diệt. Thiên Chúa vẫn một lòng yêu thương con người. Ngài đã cất nhắc và chọn Đức Trinh Nữ Maria làm Mẹ Đức Giêsu Kitô, Con một Thiên Chúa. Ơn cao quí làm Mẹ Thiên Chúa là một ơn nhưng không Thiên Chúa tặng ban cho Mẹ Maria. Chính vì thế, Thiên Chúa đã dành cho Mẹ ơn vô nhiễm nguyên tội, ơn trinh thai và ơn hồn xác lên trời. Đứng trước những ơn vô cùng quí báu, Maria chỉ biết chấp nhận với tất cả lòng tin thâm sâu và lời xin vâng tuyệt vời. “ Đấng toàn năng đã làm cho tôi những điều cao trọng, danh Người thật chí thánh chí tôn”( Lc 1, 49 ).

ƠN HỒN XÁC LÊN TRỜI LÀ ƠN HUỆ CAO QUÍ CHÚA TẶNG BAN CHO MẸ:

Hơn ai hết Mẹ Maria đã hiểu rõ cái giới hạn của kiếp sống phù du của kiếp người.

Evà đã phạm tội, nghe lời xúi giục của con rắn mà phản nghịch lại lời giao ước của Thiên Chúa. Evà phải chết. Thân xác của bà trở về cát bụi. Maria, Mẹ của Thiên Chúa đã luôn làm theo ý Chúa. Lời xin vâng của Mẹ đã nói lên tấm lòng thẩm sâu của Mẹ. Mẹ tin, phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa. Mẹ đã hoàn toàn đi vào đường lối của Thiên Chúa, đi vào chương trình yêu thương của Thiên Chúa, Mẹ đã bám chặt vào Thiên Chúa, đã tin vào lời của Chúa. Mẹ tin mọi sự, Chúa đều có thể thực hiện. Mẹ đã tin, nên Mẹ sau khi chết đã được Thiên Chúa đưa về trời cả hồn lẫn xác. Đặc ân cao quí này chỉ mình Mẹ có được, chỉ mình Mẹ được thừa hưởng. Mẹ đã về trời cả hồn lẫn xác ở cạnh ngai toà Thiên Chúa. Đặc ân hồn xác lên trời của Mẹ cũng là ân huệ tuyệt vời Thiên Chúa đang mời gọi từng người chúng ta. Mẹ mời gọi nhân loại hãy đi vào chương trình của Thiên Chúa, bám chặt, tin tưởng, phó thác, cậy trông vào Chúa. Hãy xin Mẹ hồn xác về trời cầu thay nguyện giúp cho chúng ta để chúng ta cũng được về trời như Mẹ.

“Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã đưa lên trời cả hồn lẫn xác Đức Maria là trinh nữ vô nhiễm và là thánh mẫu của con Chúa. Xin cho chúng con hằng biết hướng lòng về phúc lộc quê trời để mai sau được cùng thánh mẫu chung hưởng vinh quang( Lời nguyện nhập lễ, Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời ).

--------------------------------

 

15/8-103: Ðức Maria, Linh Hồn và Xác Lên Trời


LM.Hồng Phúc, CSsR

"Bởi quyền năng của Chúa Giêsu Chúa chúng ta, của Hai Thánh Tông Ðồ Phêrô và Phaolô và của chính ta, ta tuyên bố, bày tỏ và xác định như một tín điều được Thiên Chúa mạc khải rằng Ðức Maria, Mẹ vô nhiễm của Thiên Chúa sau khi đã mãn cuộc đời ở trần thế đã được linh hồn và xác lên trời vinh hiển".

 

Bằng những lời long trọng ấy, Ðức Giáo Hoàng Piô XII, xử dụng quyền vô ngộ, đã tuyên bố ngày 15/8-103


Bằng những lời long trọng ấy, Ðức Giáo Hoàng Piô XII, xử dụng quyền vô ngộ, đã tuyên bố ngày mồng 1 tháng 11 năm 1950, tín điều Ðức Mẹ hồn xác lên trời như một giáo điều phải tin.

1. Lịch Sử, Thánh Lễ

Cũng như tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm, Tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác lên trời được quảng nghĩa bởi Thánh Lễ kính mầu nhiệm ấy. Thánh lễ mừng ngày sinh nhật của Mẹ trên trời - Dies natalis - đã được mừng bên Ðông Phương từ thế kỷ thứ V và mang nhiều tên gọi như Mông Triệu (Assomption), Yên Nghỉ (Dormition) hay về trời (Transitus).

Thánh Lễ được gia nhập Tây Phương giữa thế kỷ thứ VII. Tuy nhiên, có nhiều sự do dự vì ảnh hưởng của các sách ngụy thư gây nên. Dầu vậy, với thời gian, giáo huấn được khai triển, thấu triệt hơn và toàn thể dân Chúa đi đến một niềm tin phổ cập.

Và Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã công bố thành Tín điều tháng 11 năm 1950.
Nên biết rằng, dưới thời Ðức Piô XI, đã có phong trào xin công bố giáo thuyết Ðức Mẹ là Ðấng trung gian. Nhưng giáo thuyết đó không phù hợp với lời của Thánh Phaolô dạy rằng chỉ có một Ðấng trung gian (1Tm 2,5), cũng như gặp phải một số vấn nạn khác.

Ðức Piô XII liền chọn giáo thuyết Mông Triệu vì không đặt ra nhiều vấn đề. Và ngài đã công bố bằng những danh từ cố ý không giải quyết một số vấn đề tranh chấp.

Ngài chỉ công bố ngắn ngủi như sau: "Khi đã mãn cuộc sống ở thế trần, Ðức Trinh Nữ, Vô Nhiễm, Mẹ Thiên Chúa được triệu hồi về Thiên Ðàng cả Hồn lẫn Xác".

Ðức Piô XII chỉ minh xác rằng hiện nay Ðức Mẹ hiện diện trong vinh quang của Chúa Kitô Phục Sinh. Chỉ có thế.

Vấn đề: ở đâu, khi nào, cách nào, không được giải quyết. Cả vấn đề Ðức Mẹ có phải trải qua sự chết hay không cũng không được đề cập đến. Thường người ta tin rằng Ðức Mẹ cũng đã chết như Chúa Giêsu Con Ngài đã lãnh nhận sự chết, nhưng cũng có người như Thánh Epiphane và một số người khác cho rằng Ðức Mẹ không phải chết, chỉ được trực tiếp triệu hồi về Thiên Ðàng.

Như vậy, tín điều được công bố bãi bỏ những hình ảnh do các sách ngụy thơ nói vẻ vời như một cuộc thăng thiên trực chỉ có các Thiên Thần theo hầu... Danh từ triệu hồi (assumpta) là một danh từ Thánh Kinh hay dùng để nói lên cuộc gặp gỡ Chúa sau khi chết như trường hợp ông Hénoch (Sáng thế 5,24) tiên tri Elia (II Vua 2,3-10) được Chúa cất về. Và đó cũng là ân huệ Chúa dành cho mọi người công chính.

2. Tình thương sung mãn của Thiên Chúa dành cho Ðức Mẹ

Hai Tín điều: Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và Ðức Mẹ Linh Hồn và Xác lên trời, mới được công bố trong khoảng cách một thế kỷ là những tín điều liên kết bổ sung cho nhau, nói lên tình thương sung mãn của Thiên Chúa dành cho Ðức Mẹ. Ðồng thời Ðức Mẹ là tiền ảnh của Giáo Hội và của mỗi tâm hồn tín hữu lúc khởi thủy và lúc tận cùng cuộc đời.

Công cuộc Chúa làm thật lớn lao cao cả. Ngài đã chọn Ðức Mẹ để Mẹ thông phần vào việc Cứu Chuộc nhân loại và từ khởi thủy đã đưa Mẹ lên một bức trọn lành vượt mức báo hiệu một ngày tận cùng trọn hảo, do tình thương bao la của Chúa. Giáo Hội và mỗi người chúng ta cũng được tham gia vào cuộc vinh thăng ấy, như Ðức Mẹ là Mẹ và là mẫu gương cho chúng ta.

Chúng ta cũng được thông chia sự sống của Thiên Chúa qua ơn sủng của phép Thánh Tẩy, trở nên con của Chúa thì chúng ta hy vọng một ngày kia cũng được thông phần vinh quang bên cạnh Mẹ.

--------------------------------

 

15/8-104: Lời thưa xin vâng


Đ.Ô. Phêrô Nguyễn Văn Tài

Lc 1,39-56

 

Triết gia hiện sinh của Pháp, Albert Camert đã nói rằng: "Con người là tạo vật duy nhất không chấp 15/8-104


Triết gia hiện sinh của Pháp, Albert Camert đã nói rằng: "Con người là tạo vật duy nhất không chấp nhận chính mình. Con người đành phải chịu đựng chính mình và chính vì phải chịu đựng mình mà con người luôn phẫn nộ với những giới hạn của mình và tìm cách vượt qua chính mình".

Một trong những thể hiện của thái độ không chấp nhận chính mình là ước mơ bất tử trường sinh được nuôi dưỡng và bày tỏ bằng nhiều cách khác nhau. Từ các vua chúa của Ai Cập qua Tần Thủy Hoàng của Trung Hoa đến những lãnh tụ độc tài của các thời đại, và cuối cùng, những nhà khoa học của thời đại, con người vẫn tìm đủ mọi cách để trở thành bất tử. Các vua Ai Cập khi qua đời không những được ướp xác, mà người ta còn chôn sống cả những người thân tín của họ. Tần Thủy Hoàng cũng đã suốt một đời đi tìm thuốc trường sinh bất tử. Những cái xác ướp của thời đại hiện đang được trưng bày trong những lăng tẩm nguy nga, mà sự bảo trì đòi hỏi bao nhiêu tốn kém cũng là thể hiện của những giấc mơ được sống mãi, dù chỉ là sống mãi với một thứ hào quang giả tạo.

Giấc mơ được sống lại ấy, ngày nay cũng đang được những nhà khoa học muốn hiện thực hóa qua việc tạo sinh vô tính con người, hay sử dụng tế bào gốc của các phôi thai người để chữa trị những căn bệnh nan y, và như vậy vượt qua biên giới của sự chết. Trước khi chết, người ta chỉ cần để lại một tế bào sống của mình và từ đó các nhà phù thủy khoa học sẽ nối dài cuộc sống của người đó bằng cách tạo sinh vô tính một con người y hệt như người đó. Với tế bào gốc rút ra từ phôi thai người, những nhà phù thủy khoa học cũng sẽ đánh bại thần chết bằng cách chữa trị mọi căn bệnh nan y.

Nhưng viễn tượng mà những nhà khoa học đang vẽ ra vì một vài người trường sinh bất tử trên mặt đất này, không chỉ thỏa mãn ước mơ được sống mãi, nó còn gợi lên bao nhiêu hệ lụy mà một cái nhìn có trách nhiệm không thể làm ngơ. Những con người trường sinh bất tử ấy sẽ là những con người bình thường, hay là những quái thai? Có được phép sử dụng hay sản xuất phôi thai để dùng vào việc chữa trị các căn bệnh nan y và làm cho con người trường sinh bất tử không? Ðó là những câu hỏi mà tinh thần trách nhiệm không thể tránh né được.

Tựu trung, sống và cư xử có trách nhiệm là đòi hỏi tất yếu của con người. Ðã là người đương nhiên phải có trách nhiệm. Nhưng nói đến trách nhiệm cũng là nói đến thân phận giới hạn của con người. Chính vì tính giới hạn ấy của con người mà tự do cũng đương nhiên có tính giới hạn.

Ðây là chân lý mà lễ Ðức Mẹ hồn xác lên trời hôm nay có thể gợi lên cho chúng ta để cùng suy nghĩ. Mẹ Maria là mẫu mực của một con người có trách nhiệm. Trách nhiệm ấy trước tiên là thể hiện qua sự cộng tác của Mẹ trong mầu nhiệm nhập thể. Mẹ đã thưa "Xin Vâng" với tất cả tinh thần trách nhiệm. Thưa "Xin Vâng" là chấp nhận đi vào một chương trình của Thiên Chúa, trong đó sự cộng tác của con người phải là toàn diện. Thưa "Xin Vâng" là ý thức về thân phận bất toàn và giới hạn của con người, nhưng đồng thời cũng triệt để tin tưởng nơi quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa. Chính vì đã thưa xin vâng một cách triệt để mà Mẹ Maria đã là người đầu tiên trong nhân loại vượt qua được ranh giới của sự chết để trở thành trường sinh bất tử thật sự.

Chấp nhận thân phận giới hạn của kiếp người và tin tưởng ở quyền năng của Ðấng có thể làm được mọi sự. Mẹ Maria đã được cất nhắc về trời cả hồn lẫn xác. Mẹ đã trở thành đích điểm của cuộc lữ hành đức tin của chúng ta. Mẹ đã chỉ ra cho chúng ta con đường đích thực để đi, hầu đạt được cứu cánh vĩnh cửu của chúng ta. Nhìn lên Mẹ từ giữa bao nhiêu giới hạn bất toàn và khổ đau của kiếp người, chúng ta được mời gọi củng cố niềm hy vọng của chúng ta. Giữa cuộc đời khổ lụy và tăm tối, chúng ta vẫn nhận ra ánh sáng để tiến tới. Ước gì bài ca Ngợi Khen mà Mẹ và cộng đoàn tiên khởi đã hát vang cũng trở thành tâm tình của chúng ta.

--------------------------------

 

15/8-105: Mẹ là Mẹ của tôi


GM JB Bùi Tuần

 

Cuộc đời là một chuyến đi. Dù đứng, dù ngồi, dù nằm, tôi vẫn trên đường đi. Tôi dđang đi về 15/8-105


Cuộc đời là một chuyến đi. Dù đứng, dù ngồi, dù nằm, tôi vẫn trên đường đi. Tôi dđang đi về cuối đời. Rồi sẽ tới sự chết. Từ sự chết, tôi bước vào cõi sau. Cõi sau là một huyền nhiệm. Hạnh phúc đời đời, khổ cực đời đời sẽ được định đoạt ở đó.
Vì thế, trong chuyến đi cuộc đời, tôi phải lo đi đúng đường. Đường đó tạm gọi là đường lành.

Đâu là đường lành, tôi đâu dễ thấy. Mà dù có thấy, tôi đâu dám nói là tôi đủ can đảm để chọn con đường đó. Và dù đã chọn, tôi đâu dám quả quyết là tôi đủ sức để luôn đi đúng con đường đã chọn.

Rất may là trong chuyến đi cuộc đời, tôi có Đức Mẹ Maria. Tôi gọi Mẹ là mẹ của tôi. Mẹ ở bên tôi. Mẹ cùng đi với tôi. Mẹ trên đường với tôi.

Hôm nay, nhân dịp mừng lễ Đức Mẹ về trời, tôi xin chia sẻ đôi điều về Mẹ.

Đường đời của tôi tới đây được kể là khá dài. Tôi đi trên đường đó với biết bao thăng trầm. Tôi luôn nhìn vào Mẹ. Và tôi đã đón nhận từ Mẹ những điều đơn sơ mà hết sức quan trọng. Dưới đây chỉ là vài kinh nghiệm của kẻ còn trên đường dương thế.

1/ Toàn cảnh trước mắt

Mẹ cho tôi biết toàn cảnh trước mắt gồm có:

Thế giới thiên đàng tràn ngập tình yêu sáng láng của Chúa. Những ai hiệp thông với tình yêu đó, sẽ được hạnh phúc đời đời bên Chúa là Cha.

Thế giới hoả ngục sôi bỏng khổ đau, cô đơn, tăm tối. Những ai bị quăng vào đó sẽ phải chịu cực hình đời đời với quỷ dữ.

Thế giới trần gian pha trộn lành dữ. Đây là nơi thử thách và phấn đấu. Ai đi đúng đường tới phút chót sẽ được về với Cha trên trời.

Để được thế, tôi phải luôn tỉnh thức đón nhận Chúa Giêsu. Người ngự vào tâm hồn tôi. Người ở lại trong tôi. Người dần dần cải đổi tôi nên con người mới. Con người mới này sẽ có những nét hơn kém giống Người. Nét đặc biệt nhất là luôn sống theo thánh ý Chúa Cha.

2/ Sống theo thánh ý Chúa Cha

Sống theo thánh ý Chúa là thao thức thường xuyên của người con Chúa đi về với Cha. Nếu không có Mẹ dạy dỗ nhắc nhở, tôi sẽ không quan tâm đủ đến đòi hỏi đó.

Mới rồi, tôi trao đổi với một người tương đối sùng đạo. Tôi thấy họ nghèo, phải vay mượn để sống. Nhưng khao khát của họ là sắm được xe sang, có đồng hồ vàng, di động loại tốt. Thao thức của họ là khẳng định mình không kém bè bạn, trong hưởng thụ và mua sắm.

Từ trường hợp đáng buồn đó, tôi lo cho những người khác và cho chính tôi. Nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ để mình bị sai khiến bởi đam mê, bởi ý riêng, bởi những phong trào thế tục xấu, bởi bạn bè không tốt, bởi dư luận vô trách nhiệm, bởi số đông chạy theo thói đời.

Nhưng, khi tôi đến bên Mẹ, xin Mẹ giúp tôi biết chọn lựa những gì thực sự là thánh ý Chúa, tôi mới thấy phải tỉnh thức và cầu nguyện rất nhiều.

Cầu nguyện sẽ không là nói nhiều, mà là lắng nghe nhiều. Thánh Thần Chúa nói. Người nói nhỏ nhẹ tận thẳm sâu tâm hồn. Người cũng nói âm thầm qua Lời Chúa, qua những biến cố lặng lẽ của thế giới nội tâm và tình hình lịch sử.

Tiếng gọi đó là từ trên. Sứ điệp đó phát xuất từ thế giới khác. Thế giới khác ấy cho tôi nhìn thế giới này với bề dày của nó. Tôi khám phá ra chính cuộc sống thường ngày của người con Chúa. Nó có một hơi thở khác, toả ra một ánh sáng khác.

Tôi cũng thấy có nhiều cách sống đạo khác nhau. Nhưng tôi nhận ra không phải mọi cách sống đạo đều làm chứng cho Chúa.

Sự chọn lựa nào cũng đòi nhiều tỉnh thức để vâng phục Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Mẹ sẽ giúp điều đó cho kẻ cậy trông Mẹ.

3/ Trái tim được mở rộng

Trên đường đời, tôi không đi một mình. Tôi đi với những người khác, tôi đi giữa đám đông. Tôi cảm thấy sự gần gũi, nhưng cũng cảm thấy sự khác biệt. Sự khác biệt dễ đưa tôi vào thái độ xa cách, nghi kỵ, loại trừ. Lòng tôi vì thế dễ khép lại, ẩn mình trong một ranh giới nhỏ hẹp.

Nhưng, Mẹ của kẻ đi đường dạy tôi về yêu thương. Không có yêu thương trừu tượng. Nhưng yêu thương là cụ thể hoá trên những con người cụ thể. Mẹ nhắc nhở tôi hãy bắt chước Mẹ, nhìn mọi người với tâm hồn bao dung kính trọng. Hãy thờ Chúa không phải chỉ trên núi này hay trong đền thờ nọ. Nhưng hãy thờ Chúa trong tinh thần và trong chân lý. Khi thờ Chúa như vậy, người ta sẽ thấy lòng mình mở ra, nhận ra Chúa trên những khuôn mặt nhiều người, nhất là những người đau khổ. Ánh mắt của những người đó sẽ như những cửa sổ chiếu xa về cõi đời đời. Nước Trời rộng hơn người ta tưởng.

Lúc nhận ra điều đó, tôi sẽ được tập quen biết coi thường những vẻ bề ngoài trên mỗi con người, nhưng sẽ nhìn tâm hồn họ và hoàn cảnh họ như Chúa nhìn.

Đây là một cuộc chiến đấu của tình yêu và cho tình yêu. Trong cuộc chiến đấu đó, tôi được đón nhận hơn là cho đi. Đó là đón nhận tình yêu của Chúa giấu ẩn nơi những kẻ khác, nhất là nơi những kẻ khốn cùng.

4/ Gắn chặt vào thân cây

Còn nhiều điều có thể nói về Mẹ của kẻ đi đường. Nhưng một điều vắn gọn có thể nói thay cho tất cả. Đó là Mẹ đưa những người con Mẹ vào sự sống mật thiết với Chúa Giêsu. Gắn bó mật thiết như cành cây với thân cây.

Để được như vậy, Mẹ luôn nâng đỡ, ủi an, cứu giúp. Người con Mẹ được Mẹ dạy về sự cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa, sự sám hối, sự đền tội, sự đứng lên sau khi vấp ngã, sự sống mầu nhiệm thánh giá và mầu nhiệm Giáo Hội.

Mẹ Maria ơi, Mẹ đã tới đích. Còn con vẫn trên đường. Mọi sự của con đều còn dang dở và rất mong manh, khó tránh được những bất ngờ. Xin Mẹ luôn ở bên con. Mẹ là nguồn đem lại cho con sức sống, chân lý, niềm tin cậy và sự bình an. Con thuộc về Mẹ. Con xin cùng với Mẹ khiêm tốn tập trung vào Đức Kitô, đi về với Chúa Cha giàu lòng thương xót.

--------------------------------

 

15/8-106: Sống Lời Chúa theo gương Mẹ


+TGM Stephanô Nguyễn Như Thể

(Kh. 11,19a; 12,1-6a.10ab / 1 Cr. 15,20-27 / Lc. 1, 39-56)

1. Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

 

Chúng ta vừa nghe công bố Tin mừng thánh Luca 1, 39-56. Nội dung đoạn Tin mừng này đề 15/8-106


Chúng ta vừa nghe công bố Tin mừng thánh Luca 1, 39-56. Nội dung đoạn Tin mừng này đề cập đến một câu chuyện rất đời thường: đó là câu chuyện Đức Maria đang mang thai Chúa Giêsu, từ Nadarét đến thăm viếng và ở lại giúp người chị họ Elizabét, vợ của ông Giacaria, cũng đang cưu mang và sắp sinh đứa con đầu lòng là Gioan Tẩy Giả. Có thể nói những bước chân đon đả và chan chứa yêu thương của người em họ Maria trẻ trung đến giúp người chị họ Elizabét đã lớn tuổi mà đang mang thai và sắp sinh đứa con đầu lòng, đối với người Việt Nam chúng ta vẫn là bổn phận bình thường của tình chị em trong gia tộc…

Tuy nhiên, điều làm nên tính chất cao cả của sự việc đang diễn ra chính là động lực thúc đẩy bên trong. Thánh sử Luca ghi rõ tác động của Chúa Thánh Thần: “Bà Elizabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên và bà được đầy Thánh Thần. Bà Elizabét kêu lớn tiếng và nói: ‘Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này!’ Quả thật, này tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vì sung sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”.

Niềm hân hoan bộc phát thành lời của người chị họ Elizabét đã hé lộ cho chúng ta thấy rằng điều làm nên sự chúc phúc và tính cao cả trong hành vi thăm viếng của Đức Maria chính là niềm tin vào Lời Chúa: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”.

Và sự nối kết xem ra huyền bí giữa vẻ cao sang và niềm đau sinh con trong đoạn sách Khải huyền giúp chúng ta hiểu rằng chính khả năng mang nặng đẻ đau tự nhiên của người phụ nữ đã đem lại cho Đức Maria vinh dự cao cả là làm mẹ Đấng Cứu Thế. Bởi vì, “điềm lạ một người nữ, mình mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” cũng chính là hình ảnh “một thai phụ đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con”.

Vâng! Để Ngôi Lời nhập thể đến được với nhân loại, Thiên Chúa đã chọn sự cộng tác tích cực và đầy trách nhiệm của một người nữ là Đức Maria: Lời “xin vâng” mà Đức Maria thưa với sứ thần lúc truyền tin không mang tính thụ động, nhưng đặt nền tảng trên thái độ tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa và được thể hiện cách thiết thực bằng nỗ lực kiên trì tìm kiếm Thánh ý Thiên Chúa và sẵn sàng cộng tác với Con của Ngài trong việc thực hiện chương trình cứu độ.

2. Kính thưa cộng đoàn Phụng vụ và đặc biệt chị em phụ nữ quí mến,
Mãi cho tới hôm nay, phong trào tranh đấu cho nữ quyền vẫn còn có lý do chính đáng để chống lại những định chế xã hội thiếu tôn trọng các giá trị của phụ nữ, vì tình trạng bất bình đẳng do não trạng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại trong nhiều nền văn hóa trên thế giới, khiến cho nhiều chị em vẫn bị đối xử bất công và không có đủ điều kiện để phát huy bản thân đúng với vai trò người phụ nữ.

Với sự dung túng của nền kinh tế thị trường, chính xu hướng hưởng thụ ích kỷ và quá tôn vinh sự nghiệp đã đẩy nhiều người mẹ đến những hành vi thô bạo dã man chống lại sự sống con người, thiếu trách nhiệm trong đời sống hôn nhân và gia đình, khiến xã hội ngày càng tràn ngập các tệ nạn ly dị, phá thai. Thứ đến, xu hướng đề cao tự do cá nhân quá trớn cũng đang tiếp tay phá đổ các giá trị đạo đức của hôn nhân và gia đình, làm lung lay nền tảng của xã hội, khiến cho luân thường đạo lý bị đảo lộn và biến người phụ nữ thành nạn nhân hoặc của phóng túng và bê tha, hoặc của dịch vụ siêu lợi nhuận công nghệ sinh học.

Điều đau lòng là chúng ta đang chứng kiến thực trạng bi đát này trên chính quê hương chúng ta. Biết bao tệ nạn xã hội đang âm ỉ lan tràn đằng sau những thành tựu của nỗ lực công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Chắc anh chị em cũng theo dõi và biết rõ, suốt một thời gian dài vừa qua, Báo chí và Truyền thanh Truyền hình đã thường xuyên đưa tin về những trường hợp nạo thai, phá thai và những bà mẹ vừa sinh ccn đã đem vứt bỏ con mình nơi thùng rác hoặc trước cổng các bệnh viện. Và cũng thật xót xa biết bao khi nhìn thấy trên báo chí những tấm hình chụp những nghĩa trang mênh mông không bia mộ dành để chôn tập thể các thai nhi bị chính bố mẹ mình tước quyền chào đời và các sơ sinh bị cha mẹ chúng cam tâm bỏ rơi!...

3. Trong bối cảnh xã hội hôm nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải học “Sống Lời Chúa theo gương Đức Maria” để tái khám phá khuôn mặt cao sang của người phụ nữ trong sứ mạng làm mẹ.

Theo Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, công trình tuyệt diệu mà Đấng Tạo Hóa đã thực hiện nơi Đức Maria có thể cung cấp cho chúng ta một cơ may khám phá phẩm giá đích thực và thiên chức làm mẹ cao quý của người phụ nữ nhằm có được một cái nhìn toàn diện và quân bình hơn về nữ giới, về gia đình và về xã hội. Theo ngài, hồng ân đặc biệt dành cho Thân mẫu Chúa Giêsu không những cho thấy điều mà chúng ta nói được là sự kính trọng Thiên Chúa dành cho phụ nữ, mà còn làm sáng tỏ vai trò không thể thay thế được của người phụ nữ trong lịch sử của nhân loại theo ý định của Thiên Chúa. Đó là vai trò làm mẹ, một vai trò cho phép người phụ nữ được cọng tác sáng tạo với Thiên Chúa, Đấng là Nguồn và là Chủ Sự Sống. Những chương đầu của sách Sáng thế cho chúng ta thấy rõ ý định của Thiên Chúa là tác tạo con người nam nữ bình đẳng về phẩm chức và giá trị, nhưng đồng thời Ngài cũng khẳng định cách rõ rệt về sự khác biệt và về đặc trưng của người nam và người nữ.

Trong những năm qua, chúng tôi rất vui mừng và tạ ơn Chúa khi chứng kiến nhiều sinh hoạt phong phú giúp củng cố ơn gọi sống bậc Hôn nhân và Gia đình. Chúng tôi ghi nhận và tin tưởng rằng các lớp chuẩn bị hôn nhân cũng như các sinh hoạt Gia Đình Cùng Theo Chúa, Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình, Tân Dự Tòng, Gia Đình Trẻ v.v… đã và đang đem lại nhiều lợi ích thiêng liêng cho quý anh chị làm chồng làm vợ và làm cha làm mẹ… Đặc biệt đối với văn hóa Việt Nam, vai trò người mẹ, người vợ thật quan trọng, vì thế, khi giúp cho người mẹ, người vợ sống đảm đang, đạo đức, thánh thiện thì cả gia đình sẽ được hưởng nhờ.

Hơn nữa, hình ảnh con rắn, con mãng xà trong bài Khải huyền không cho phép chúng ta có cái nhìn quá ngây ngô về cuộc sống gia đình. Đối mặt với những nguy cơ và những thách đố lớn của xã hội hôm nay, dung mạo thánh thiện tuyệt vời của Đức Maria phải trở nên dấu chỉ khuyến khích hết mọi kitô-hữu biết tin nhận quyền năng thánh hóa của ơn Chúa. Cùng với Mẹ và noi gương Mẹ, chúng ta hãy xác tín rằng: “đối với Chúa, không có chi mà không thể làm được”, ngõ hầu, như Mẹ, chúng ta có thể sống hoàn toàn tín thác nơi Thiên Chúa toàn năng, là Đấng có thể tái tạo nơi chúng ta một lương tâm trong sáng và một con tim biết yêu thương như Thiên Chúa yêu thương.

Lạy Mẹ Maria La Vang, Mẹ Việt Nam,
Mẹ có phúc vì Mẹ đã tin.

Hôm nay, vầy quanh Mẹ trong chuyến hành hương này, chắc chắn Mẹ cũng nhìn thấy biết bao người cha người mẹ đang gặp khó khăn hay bất hạnh trong đời sống gia đình. Xin Mẹ cầu bàu cùng với Chúa giúp chúng con được kiên vững trong đức tin như Mẹ, để cuộc sống gia đình chúng con cũng được chúc phúc và vượt thắng mọi thử thách.

Xin Mẹ cho tất cả quý chị em phụ nữ ngày nay xác tín rằng: “làm mẹ” là một ân huệ Thiên Chúa ban tặng, để chị em luôn biết nỗ lực chu toàn sứ mạng làm mẹ cao cả và can đảm làm chứng cho Tin mừng Sự Sống nhằm góp phần xây đắp nền Văn minh Tình thương. Amen.

--------------------------------

 

15/8-107: Xin vâng


Lc 1, 39-56

Anh chị em thân mến!

 

Ngày 15 tháng 8 năm 1999 tại Rôma, Đức Thánh Cha dâng thánh lễ kính “Mẹ Hồn Xác Lên Trời” 15/8-107


Ngày 15 tháng 8 năm 1999 tại Rôma, Đức Thánh Cha dâng thánh lễ kính “Mẹ Hồn Xác Lên Trời”. Đức Thánh Cha đã giải thích suy niệm câu “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa” như sau:

“Giáo Hội lữ hành trong lịch sử ngày nay hiệp ý với bài ca vui mừng của Mẹ Maria Đồng Trinh. Giáo Hội nói lên niềm vui và chúc tụng Thiên Chúa, vì Mẹ của Chúa khải hoàn bước vào vinh quang trên trời. Trong mầu nhiệm Mẹ Hồn Xác Lên Trời xuất hiện cho chúng ta thấy ý nghĩa trọn vẹn và quyết định của những lời mà Mẹ Maria đã thốt lên khi Mẹ đáp lại lời chào của bà Elizabeth: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả”.

Nhờ vào việc chiến thắng của Chúa Kitô vượt qua sự chết, Đức Nữ Đồng Trinh Nazareth được kết hợp cách đặc biệt vào hiệu quả của ơn cứu rỗi. Với lời “Xin Vâng”, Mẹ đã đáp lại trọn vẹn Thánh ý Thiên Chúa. Mẹ đã tham dự cách sâu xa vào mầu nhiệm Chúa Kitô và đã bước vào vinh quang trước tiên, sau Chúa Kitô, với trọn cả hồn lẫn xác. Lời thưa “Xin Vâng” của Mẹ là niềm vui của biết bao người sống trong bóng tối và sự chết.

Thật vậy, nhờ Mẹ mà Chúa của sự sống bước vào thế gian. Các tín hữu vui mừng và tôn kính Mẹ như là Mẹ của nhiều người con đã được Chúa Kitô cứu chuộc, một cách đặc biệt trong ngày hôm nay, các tín hữu tôn kính Mẹ như là dấu chỉ của sự an ủi, của niềm vui cho mọi người, mọi dân tộc trên đường hành hương tiến về quê trời.

Chúng ta hãy đưa mắt nhìn lên Mẹ Đồng Trinh mà Phụng vụ khẩn cầu Mẹ như là “Đấng bẻ gẫy xiềng xích trói buộc cho những kẻ bị áp bức, trả lại ánh sáng cho kẻ bị mù, xua đuổi mọi sự dữ ra khỏi chúng ta và cầu xin cho chúng ta được mọi sự lành”.

“Linh hồn tôi chúc tụng Chúa”. Cộng đoàn Giáo Hội trong ngày lễ trọng thể kính Mẹ Maria hôm nay, lập lại bài ca tạ ơn của Mẹ và Giáo Hội làm công việc này với tư cách là dân Chúa, và xin mọi tín hữu hãy hiệp chung với nhau hát lại bài ca Magnificat dâng lên Chúa.

Ngay từ thế kỷ đầu, thánh Ambrôsiô đã khuyến khích: “Ước chi tâm hồn Mẹ Maria hiện diện nơi từng người để chúc tụng Thiên Chúa, và ước chi thần trí của Mẹ Maria hiện diện nơi mỗi người để hoan hỷ trong Chúa”.

Những lời của bài ca Magnificat là như chúc thư thiêng liêng của Mẹ Maria Đồng Trinh. Tuy nhiên, những lời này cũng là phần gia tài cho tất cả những ai nhìn nhận mình là con của Mẹ Maria, quyết định tiếp rước Mẹ Maria về nhà mình, như thánh Tông đồ Gioan đã làm khi xưa, và thánh nhân đã tiếp nhận Mẹ của mình trực tiếp từ Chúa Giêsu dưới chân Thập giá.

Đó là những lời khuyến khích của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cho tất cả mọi người trong ngày lễ kính “Mẹ Hồn Xác Lên Trời” hôm nay 15 tháng 8. Qua đó, Đức Thánh Cha đã đề ra cho mọi người mẫu gương của Mẹ Maria như sau:

Khi đặt mình vào trường học của Mẹ một cách đặc biệt, các tín hữu được mời gọi thực hiện cuộc ăn năn trở lại cách sâu xa hơn, củng cố Đức Tin của họ, chăm chú lắng nghe Lời Chúa và sẵn sàng phục vụ anh chị em mình.

Đối với tất cả những đồ đệ của Chúa Kitô, Mẹ là mẫu gương tốt nhất cho đời sống Kitô, Mẹ chuẩn bị tâm hồn chúng ta đón nhận Chúa Kitô và trao cho chúng ta, giống như xưa kia Mẹ đã trao cho những người giúp việc tại tiệc cưới Cana một mệnh lệnh: “Hãy làm tất cả những gì Chúa truyền dạy”. Mẹ mời gọi chúng ta hãy ra đi đến với những ai đang cần sự nâng đỡ và trợ giúp của chúng ta, như chính Mẹ đã làm cho người chị họ Elizabeth. Như thế, chúng ta lãnh nhận từ Mẹ rất thân yêu này sự thích thú của cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa và của sứ mạng sống đức ái phục vụ tha nhân.

Xin Chúa biến đổi tâm hồn mọi người luôn có những tâm tình hòa bình, huynh đệ và liên đới, ngõ hầu tất cả mọi người hiệp nhất với nhau mỗi ngày một hơn, để xây dựng một thế giới mới, trong đó mọi người được sống an vui, và thế giới ấy được xây trên những giá trị tinh thần và luân lý thiết yếu. Mỗi người có thể được nhìn nhận phẩm giá làm con cái Thiên Chúa, và được tự do hướng về Cha trên trời, Đấng giàu lòng thương xót với tình con thảo.

Đó là tâm tình của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mong muốn cho mọi thành phần trong Giáo Hội, cho tất cả những ai đang tôn kính Mẹ. Trong tâm tình này mọi người hãy kết hiệp với nhau, như lời Đức Thánh Cha nói: “Mời Mẹ đến ở nhà chúng ta”. Mời Mẹ đến với chúng ta, để xin Mẹ giúp thực thi lời Chúa truyền dạy: “Hãy làm những gì Chúa truyền”.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu thay nguyện giúp cho chúng con có một tâm hồn luôn tươi trẻ, để biến đổi tình yêu chúng con. Xin Mẹ giúp chúng con ý thức rằng, chỉ có tình yêu thương mới biến đổi tâm hồn con người và giúp chúng con biến đổi thế giới. Xin Mẹ luôn hiện diện bên Chúa, gìn giữ chúng con trên con đường theo Chúa Kitô, và làm cho chúng con được trưởng thành trong Đức Tin.

--------------------------------

 

15/8-108: Yêu thương phục vụ theo gương Mẹ Maria


+GM Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng

 

Đến với linh địa La Vang chiều hôm nay, thấp thoáng đó đây, chúng ta đọc thấy chủ đề của 15/8-108


Đến với linh địa La Vang chiều hôm nay, thấp thoáng đó đây, chúng ta đọc thấy chủ đề của những ngày hành hương thường niên mừng lễ Mẹ lên trời hồn xác, đó là Sống yêu thương và phục vụ theo gương Mẹ Maria.

Yêu thương phục vụ là giới răn trọng nhất của đạo công giáo chúng ta, vì nếu không có tình yêu thì tất cả sẽ biến thành con số không trước mặt ThiênChúa. Yeu thuong và phục vụ cũng là tiêu chuẩn mà Chúa Giêsu đã chọn để phân biệt chiên với dê, người lành bên hữu và kẻ dử bên tả, trong ngày phán xét chung:" Ta đói các ngươi đã cho ăn, Ta khát, các ngươi đã cho uống...”

Chủ đề của những ngày hành hương nầy cũng đưa chúng ta trở lại với thư mục vụ của HĐGM / VN năm 2007: "Sống đạo hôm nay", yêu thương và phục vụ.

Nếu phải tìm một thần tượng để nêu gương cho chúng ta bắt chước trong đời sống yêu thương và phục vụ, thì ngoài Chúa Giêsu, chỉ có một mình Đức Maria là một mẩu gương tuyệt vời nhất.

Thực vậy, ngay lúc còn thơ ấu, khi được cha mẹ dâng vào đền thánh, Đức Maria đã muốn hiến dâng cả cuộc đời để yêu mến và phục vụ một mình Thiên Chúa. Tiếng "Xin Vâng" mà Mẹ thưa lên trong ngày truyền tin chắc chắn đã được thành hình và nuôi dưỡng bằng tâm tình yêu thương và phục vụ nầy.

Mặc dầu biến cố truyền tin, một cách nào đó đã khiến Mẹ ngở ngàng vì ở ngoài ước mong và dự đoán của Mẹ, nhưng Mẹ đã khiêm tốn đón nhận trong tâm tình của một người tôi tớ luôn sẳn sàng để thánh ý Chúa luôn được thực hiện trong cuộc đời của Mẹ: "Nầy tôi là tôi tá Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền".

Biến cố nổi bật nhất nêu cao tinh thần yêu thương và phục vụ đang nung nấu tâm hồn Me, đó là việc Mẹ lên đường đi thăm bà Isave. Mẹ hy sinh vượt qua mọi thử thách: dường sá xa xôi, lên đồi xuống dốc, thân nhi nữ đang bung mang dạ chửa, vội vã lên đường để mang Chúa đến cho gia đình ông Giacaria và để phục vụ bà chị họ trong những ngày sinh nở.

Tại tiệc cưới Cana, con tim nhạy cảm và tế nhị của Mẹ đã đi bước trước để giúp đở đôi tân hôn. Mẹ tự động tìm cách can thiệp với Chúa Giêsu ngay cả khi họ chưa dám cầu xin với Mẹ. Phó thác và tin tưởng vào quyền năng và lòng thương xót của con mìmh, Mẹ tin chắc phép lạ sẽ xảy ra vì Mẹ hiểu rằng Chúa Giêsu không thể phụ lòng yêu thương và phục vụ của Mẹ.

Và trên đồi Can vê, ngay cả khi lòng Mẹ đang tan nát vì chứng kiến cơn hấp hối quằn quại của Chúa Giêsu trên thập giá, lòng Mẹ vẫn rộng mở để yêu thương và đón nhận loài người làm con của Mẹ:" Thưa Bà nầy là con Bà".

Nói tóm lại cuộc đời của Mẹ từ khi còn thơ ấu cho đến lúc về trời, Mẹ chỉ ao ước một điều đó là kính mến, phục vu Thiên Chúa hết lòng và yêu thương nâng đở loài người mà mẹ đã đón nhận làm con.

Anh chị em thân mến,

Hơn ai hết, Đức Maria là người đầu tiên muốn nối gót con đường yêu thương và phục vụ mà Chúa Giêsu đã dày công dạy dỗ và nêu gương sáng cho các tông đồ và hôm nay cho những ai muốn bước theo Ngài: " Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mt. 20,28).

Khi vào đời, mặc lấy thân phận con người, Ngài đã thưa với Chúa Cha: "Này Con xin đến để thi hành thánh ý Cha". Nói cách khác, Ngài vui lòng chấp nhận thân phận một người tôi tớ để phục vụ chương trình của Cha Ngài, như Ngài đã xác nhận sau nầy:" Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy" (Ga. 4,34), hay ngay trong vườn cây dầu:" Xin dừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha"(Mt. 26,39).

Với các tông đồ, Ngài vui lòng đóng vai trò một người bạn để gần gủi, để yêu thương, để chia sẻ:" Thầy gọi anh em là bạn hữu vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết"( Ga, 15,15). Trong bửa tiệc ly, Ngài đã cúi xuống rửa chân cho các tông đồ, một cộng viêc phục vụ thường chỉ dành cho ngươi tôi tớ nô lệ, ( X. Ga. 13,5-17).

Anh chị em thân mến,

Là người kitô hữu, chúng ta được mời gọi nên giống Chúa Giêsu mỗi ngày. Trường học tốt nhất và Thầy dạy tuyệt vời nhất để giúp chúng ta nên giống Chúa trong tinh thần yêu thương và phục vụ chính là Mẹ Maria. Noi gương Mẹ, chúng ta cố gắng tập sống tinh thần yêu thương và phục vụ không phải bằng lời nói suông, nhưng là bằng những việc làm cụ thể, trong cuộc sống hằng ngày.

Cúi xin Mẹ Maria, Mẹ La Vang đang ngự trên Trời cao, thương đoái nhìn đến chúng con đang hướng về Mẹ; Xin Mẹ nâng đở và dạy bảo chúng con biết noi gương Mẹ để sống đẹp lòng Chúa bằng cách thi hành giới răn yêu thương và phục vụ, để ngày sau được cùng Mẹ vui hưỡng hạnh phúc trên trời. Amen.

--------------------------------

 

15/8-109: Ý nghĩa lễ Đức Mẹ Maria hồn xác lên trời


Lm.Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Nói về Mẹ, viết về Mẹ là một hạnh phúc lớn lao. Tiếng Mẹ sao dịu êm, sao mát dịu đến thế. Mẹ 15/8-109


Nói về Mẹ, viết về Mẹ là một hạnh phúc lớn lao. Tiếng Mẹ sao dịu êm, sao mát dịu đến thế. Mẹ trần thế đã là một tặng phẩm quí giá. Mẹ thiêng liêng lại càng cao quí hơn thế nữa. Mẹ có tên là Maria. Tiếng nói ngắn gọn, nhưng bao trùm, gói trọn tất cả. Giáo Hội mừng lễ Ðức Mẹ lên trời. Trong niềm hân hoan của ngày lễ Mẹ, ta thử suy nghĩ về:

-Tại sao Maria hồn xác lên trời ?
-Maria hồn xác lên trời có ý nghĩa gì cho ta ?

I. TẠI SAO MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI ?

Người nữ trong sách Khải Huyền trích đọc hôm nay, tiên trưng cho Mẹ Maria. Ðức trinh nữ Maria ngay từ giây phút ban đầu đã được Thiên Chúa bảo toàn, gìn giữ và tuyển chọn. Nên, tâm hồn và thể xác của Mẹ luôn thuộc về Thiên Chúa, không mang vết tỳ ố, không nhuốm tội lỗi, tâm hồn tinh trong, thánh thiện, tinh tuyền, xứng đáng là đền thờ cho Chúa Thánh Thần ngự trị. Thiên Chúa đã yêu thương Mẹ, đã tuyển chọn Mẹ làm Mẹ Thiên Chúa, làm Mẹ Ðấng cứu thế Giêsu. Hậu quả của tước vị làm Mẹ Thiên Chúa: Maria đã được chọn lựa riêng, được đặc ân vô nhiễm nguyên tội. Thân xác và tâm hồn của Mẹ đã được dành riêng cho Thiên Chúa. Con Mẹ cưu mang trong cung lòng là do bởi phép Chúa Thánh Thần. Mẹ sinh con mà vẫn còn tinh khiết vẹn tuyền. Ðó là đặc ân chỉ có một không ai trong lịch sử cứu rỗi, Thiên Chúa dành riêng cho Mẹ và chỉ có mình Mẹ được ơn cao quí ấy. Hình ảnh người nữ thánh Gioan diễn tả: mình mặc áo mặt trời, chân đạp vầng trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao là hình ảnh của chính Mẹ Maria và Giáo Hội Chúa Kitô. Maria là hình ảnh vẹn toàn nhất của Giáo Hội ngày mai, là bình minh của Giáo Hội khải hoàn. Bài ca Magnificat mà Ðức Mẹ cất cao giọnng trong Tin Mừng Lc 1, 39-56 là lời cảm tạ viên mãn Thiên Chúa dành cho Maria. Chính niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa đã khiến Maria trở nên vững mạnh và đáng được chúc tụng muôn đời. Sự tinh ròng của thể xác và tâm hồn khiến Maria được đặc ân riêng biệt. Maia đã biến phút giây tuyệt vời khi sứ thần Gabrien truyền tin cho Mẹ và lời xin vâng của Mẹ đã biến giây phút hiện tại ấy trở thành niềm vui vĩnh cửu, trở thành hạnh phúc trường tồn vì chính phút giây ấy đã thay đổi cuộc đời của Mẹ cách hoàn hảo nhất. Ðó là giờ của ơn cứu độ. Sự vô tì tích của tâm hồn và thể xác của Mẹ, đã được Thiên Chúa chúc phúc cho hồn xác Maria về trời hưởng vinh quang vĩnh cửu với Thiên Chúa Ba Ngôi và triều thần thánh trên trời.

II.MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI CÓ Ý NGHĨA GÌ CHO TA ?

Ngày ó/11/1950, Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã long trọng tuyên bố tín điều Ðức Maria hồn xác về trời. Ðây là biến cố lịch sử trong lịch sử cứu độ và mặc nhiên xác nhận niềm tin Kitô giáo vào con người tinh trong, Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Maria, niềm tin này đã bàng bạc trong Giáo Hội từ nhiều thế kỷ qua. Tín điều ấy có giá trị vĩnh viễn và tuyên bố cho mọi người rằng Maria có liên hệ mật thiết với nhân loại, với mọi người chúng ta. Nhờ sự tinh ròng, vô tì tích của tâm hồn và thể xác của Maria, mọi người có lòng tin được hưởng nhờ đặc ân cứu độ của Thiên Chúa và tin vào sự giải thoát tội lỗi, Thiên Chúa dành cho Mẹ Maria cũng chính là tin vào Ðức Kitô đã chết và sống lại cho phần rỗi mọi người.

Maria đã lên trời cả hồn lẫn xác.

Maria đã được diện đối diện với Thiên Chúa. Maria lên trời là hình ảnh của Giáo Hội khải hoàn và vinh quang của thập giá là vinh quang của Mẹ. Tin vào thập giá sẽ được ơn cứu độ. Vì thế, tin vào Ðức Kitô đã giải thoát Mẹ khỏi sự chết của tội lỗi, tức là tin vào sự bất diệt của tâm hồn và thể xác Thiên Chúa dành cho Maria, cũng như cho nhân loại và cho Giáo Hội khải hoàn.

Xin Chúa ban cho chúng con lòng tin sâu xa để chúng con tin mai ngày chúng con cũng được sống lại hiển vinh.

Xin Mẹ Maria hồn xác lên trời chuyển thay cầu giúp cho chúng con để chúng con biết xa lánh tội lỗi và sống kết hợp với Chúa luôn mãi .

Xin Mẹ ban cho chúng con biết mau mắn nói lời xin vâng tuân theo thánh ý Chúa trong đời sống của chúng con .

--------------------------------

 

15/8-110: ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI


JM. Lam Thy ĐVD.

 

Niềm tin Đức Mẹ Maria được Thiên Chúa cho hồn xác lên trời đã có ngay từ thời Giáo Hội sơ 15/8-110


Niềm tin Đức Mẹ Maria được Thiên Chúa cho hồn xác lên trời đã có ngay từ thời Giáo Hội sơ khai. Có lẽ đó cũng là lý do sau khi Đức Giê-su Phục Sinh, Kinh Thánh Tân Ước không đề cập đến việc Đức Ki-tô đi gặp Mẹ Người, vì các tín hữu thời ấy đã tin là Mẹ Maria luôn luôn kết hợp với Con Mẹ, không có một giây phút nào Mẹ-Con xa nhau, ngay cả khi Con Người tử nạn trên thập giá (Ga 19, 25-27) thì Mẹ cũng đồng hành. Vậy thì không lý gì khi Mẹ từ giã cõi trần lại không được Người Con Chí Thánh Chí Nhân rước lên trời tiếp tục đồng hành để hướng dẫn Nhiệm Thể Đức Ki-tô (Giáo Hội) còn trên hành trình dương thế. Tuy nhiên, vẫn có không ít những phe phái đối nghịch (như Thệ Phản, Ly Giáo hay các bè rối) phủ nhận vấn đề Đức Maria Hồn Xác Lên Trời. Họ cho rằng đã có chuyện giấu xác Đức Mẹ (kiểu như cách nghĩ của Maria Mac-đa-la khi đi thăm mộ Chúa mà không thấy xác Đức Giê-su – Ga 20, 2), rồi phao lên Mẹ được lên trời cả hồn lẫn xác. Loài người tự cổ chí kim chẳng có ai được như vậy, vì thân xác chỉ là “cái vỏ bằng đất làm linh hồn ra nặng” (Kn 9, 15), và “Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất.” (St 3, 19) mà thôi.

Đáng tiếc một điều là Giáo Hội cũng chưa hoàn toàn thống nhất trong niềm tin Đức Mẹ hồn xác lên trời, vẫn còn không ít người “bán tín bán nghi”. Phải chờ đến thế kỷ XX, Tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời mới được Đức Giáo hoàng Pi-ô XII long trọng công bố trong Tông hiến “Munificentissimus Deus” (ban hành vào ngày Lễ Các Thánh Nam Nữ 01/11/1950): “Để tôn vinh Thiên Chúa toàn năng là Đấng đã ban muôn vàn ơn lành đặc biệt của Ngài trên Trinh Nữ Maria, để tôn kính Con Ngài là Vua muôn đời, Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, để Người Mẹ cao cả của Người được hiển vinh hơn, và để toàn thể Giáo Hội hân hoan phấn khởi; bằng quyền bính của Chúa Giê-su Ki-tô, của các thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô, và bằng thẩm quyền của mình, Tôi công bố, tuyên xưng và xác nhận như là một tín điều được Thiên Chúa mạc khải: Người Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội của Thiên Chúa, Đức Maria Trinh Nguyên, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế của mình, đã được mang lên hưởng vinh quang trên trời cả thân xác lẫn linh hồn”.

Sau đó là Công Đồng Chung Va-ti-ca-nô II, với Hiến chế “Tín Lý về Giáo Hội – Lumen Gentium”, tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời lại được nhắc lại: “Ngày nay, trên trời Mẹ Đức Giê-su đã được vinh hiển cả hồn và xác, là hình ảnh và khởi thủy của Hội Thánh phải hoàn thành đời sau; đồng thời, dưới đất này, cho tới ngày Chúa đến (2Pr 3,10). Ngài chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông vững vàng và niềm an ủi cho dân Chúa đang lữ hành” (Hc “Lumen Gentium”, số 68). Chính những sự kiện nêu trên khiến người tín hữu phải đi tìm những lý lẽ chứng minh. Có năm chứng lý rất xác thực và đầy thuyết phục minh họa mầu nhiệm Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời:

1. Vì Đức Maria là Mẹ Đức Giê-su Thiên Chúa: Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa đã được tiền định ngay từ khi Nguyên tổ phạm tội (St 3, 1-24) và sau đó Cựu Ước đã tiên báo: “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en,nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.” (Is 7, 14). Trải dài theo lịch sử Giáo Hội, tuy có những ngụy thuyết chống đối lại, nhưng Giáo Hội vẫn luôn xưng tụng Ân Sủng cao vời Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ chính Con Một của Người. Và năm 431, Công Đồng Chung Ê-phê-sô đã tuyên tín: “Tuyệt thông cho những ai không tuyên xưng rằng Đấng Emmanuel thực sự là Thiên Chúa, và bởi thế, Đức Trinh Nữ là Mẹ của Thiên Chúa (theotokos) (vì Mẹ đã hạ sinh Ngôi Lời Thiên Chúa hóa thành nhục thể theo xác thịt)”. (“Densiger-Schonmetzer”, số 252). Mẹ Thiên Chúa sau khi từ trần được diễm phúc cả Hồn Xác lên Trời đoàn tụ cùng Con Thiên Chúa là điều tất nhiên.

2. Vì Đức Maria Trọn Đời Đồng Trinh: Năm 649, Công Đồng La-tê-ra-nô đã tuyên tín: “Khốn cho những ai không theo các vị Nghị Phụ thánh đức tuyên xưng một cách chân thực và xác đáng rằng Đức Maria, trinh nguyên và vô nhiễm, là Mẹ Thiên Chúa, vì Mẹ đã thực sự thụ thai chính Thiên Chúa Ngôi Lời, Đấng được Thiên Chúa Ngôi Cha hạ sinh trước các kỳ thời, bởi Chúa Thánh Thần mà không cần đến hạt giống loài người, và đã sinh ra Người hoàn toàn không bị hư hại gì, tình trạng đồng trinh của Mẹ sau khi sinh con cũng không hề bị sứt mẻ”. (“Densiger-Schonmetzer”, số 503). Mầu nhiệm Đức Maria thụ thai, sinh con mà vẫn trinh nguyên, được Thiên Chúa thực hiện thông qua Thánh Thần Ngôi Ba, biểu hiện cụ thể ý nghĩa thân xác Mẹ được Thiên Chúa bảo dưỡng tối đa; thì sau khi Mẹ qua đời, đương nhiên Người phải bảo tồn nguyên vẹn thân xác Đức Mẹ rồi đưa về Trời.

3. Vì Đức Maria luôn hợp tác mật thiết với Đức Giê-su Ki-tô Thiên Chúa: Ngay từ thế kỷ II, các Giáo Phụ đã trình bày Đức Maria như là một E-và Mới hợp tác chặt chẽ với A-đam Mới – A-đam sau cùng – là Chúa Ki-tô để chiến thắng tội lỗi và sự chết. Vì thế, cũng như Chúa Ki-tô chịu khổ hình, chịu chết vì tội lỗi nhân loại, chiến thắng sự chết và sống lại vinh hiển, thì Đức Mẹ Maria đã đồng công với Con chiến đấu cũng phải được cùng Con chiến thắng, nghĩa là Thân Xác Đồng Trinh của Đức Mẹ cũng phải được Lên Trời vinh hiển như Con Người. Thánh Kinh diễn tả rõ ràng Đức Maria hiệp thông mật thiết với Đức Giê-su Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ trong nhiệm cuộc cứu chuộc (bảy sự đau đớn của Mẹ gắn liền với cuộc Thương Khó của Con). Dù xét theo nhân sinh quan hay thiên lý tính, thì việc Mẹ và Con hòa hợp sum vầy với nhau là lẽ đương nhiên, vì cả hai đã thương mến nhau tha thiết, cho nên chắc chắn Chúa Ki-tô vì lòng hiếu thảo, đã ban cho Mẹ mình được hồn xác về Trời sau khi ly trần, là điều hợp tình hợp lý.

4. Vì Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội: Trong sắc lệnh “Ineffabilis Deus” (ban hành ngày 8/12/1854), Đức Thánh Cha Pi-ô IX long trọng công bố: “Để vinh danh Ba Ngôi thánh thiện duy nhất, để tôn kính và hiển danh Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa, để phấn khởi đức tin Công Giáo và phát triển Ki-tô Giáo; bằng quyền bính của Chúa Giê-su Ki-tô, của các thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô, và bằng thẩm quyền của mình, Tôi tuyên xưng, công bố và xác nhận rằng: tín lý cho rằng rất Thánh Nữ Trinh Maria, ngay từ giây phút đầu thai của mình, nhờ ơn sủng cùng với đặc ân chuyên nhất của Thiên Chúa toàn năng, và dựa vào công nghiệp của Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng Cứu Chuộc loài người, đã được gìn giữ vô nhiễm khỏi mọi tì vết của nguyên tội, là điều được Thiên Chúa mạc khải, vì thế, tất cả mọi tín hữu đều phải mạnh mẽ và liên lỉ tin tưởng”. (“Densiger-Schonmetzer”, số 280). Trong Tông hiến “Munificentissimus Deus”, Đức Thánh Cha Pi-ô XII cũng khẳng định: “Thân xác con người bị chết và bị tan rã ra tro đất là do hậu quả tội Nguyên Tổ. Mà Đức Mẹ Maria không hề mắc tội Nguyên Tổ, cũng không hề có tội riêng. Cho nên đương nhiên và rất hợp lý là Đức Mẹ Maria được Hồn Xác Về Trời.”

5. Chung quy thì vì Đức Maria là “Đức Bà Đầy Ơn Phúc”: Các thánh tiến sĩ đã coi việc Đức Mẹ Hồn Xác về Trời như là bổ túc cho việc Đức Mẹ được Đầy Ơn Phúc khi còn tại thế. Lời thiên sứ Gap-ri-en chúc mừng Đức Mẹ còn rành rành: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” (Lc 1, 28). Từ lời thiên sứ, Giáo Hội đã tìm đến danh thánh Đức Mẹ: Ngoài những ý nghĩa Maria là “Người Soi Sáng”, “Sao Biển”, “Biển Cay Đắng”; thì Maria còn có nghĩa là “Lệnh Bà” (là Đức Bà của nhân loại). Vấn đề lên trời cả hồn lẫn xác đã được Thiên Chúa hứa ban cho nhân loại (tất nhiên chỉ những người công chính mới được hưởng) vào ngày cánh chung.Đức Mẹ là “Lệnh Bà của nhân loại”, được Thiên Chúa ở cùng, ở trong thân xác, vậy thì Thân Xác Mẹ được rước lên Trời hiệp cùng Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ (chỉ khác về thời gian so với các tín hữu lành thánh), là chuyện đương nhiên.

Ngoài ra, sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có đề cập đến đặc sủng Hồn Xác Về Trời của Đức Maria như sau: “Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm, được Thiên Chúa gìn giữ khỏi nhiễm lây mọi tỳ vết Nguyên Tội, đã được đưa lên vinh quang Thiên quốc cả hồn lẫn xác, sau khi đã hoàn tất cuộc đời dương thế, và được Thiên Chúa tôn làm Nữ Vương Vũ Trụ, và như vậy Mẹ đã hoàn toàn phù hợp với Con Mình là Chúa của các chúa, đã chiến thắng tội lỗi và sự chết” (Hc “Lumen Gentium”, số 59). Việc Mẹ Maria được đưa lên Trời là dự phần đặc biệt vào sự Phục sinh của Con Mẹ và hưởng trước sự phục sinh của các tín hữu.” (Giáo Lý HTCG, số 966), “Chúng ta tin rằng Mẹ Rất Thánh của Thiên Chúa, E-và Mới, Mẹ của Giáo Hội, ở trên trời vẫn tiếp tục vai trò làm Mẹ đối với các Chi Thể Chúa Ki-tô” (ĐGH Phao-lô VI, CPG 15) (Giáo Lý HTCG, số 975).

Tóm lại, với con người bất toàn thì không chỉ mầu nhiệm Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, mà mầu nhiệm Đức Mẹ Trinh Nguyên, Vô Nhiễm Nguyên Tội, kể cả mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể trong cung lòng Mẹ, đều không thể xảy ra được; nhưng “đối với Thiên Chúa thì không có gì là không thể làm được.” (Lc 1, 37). Vâng, “Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được.” (Mt 19, 26). Vấn đề đặt ra là anh có tin là thật sự có một Đấng Toàn Năng Hằng Hữu đã sáng tạo vũ trụ và con người, hay không. Nếu anh tin rằng con người được Thiên Chúa dựng nên từ bụi đất, thì tất cả mọi sự Thiên Chúa ban cho con người – ở đây là Lệnh Bà Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ nhân loại – đều là chuyện nhỏ, quá nhỏ đối với Người.

Chính vì thế, trong ngày đại lễ mừng kính “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời”, người Ki-tô hữu đã vinh dự được Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ nhận làm bạn hữu (“Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.” – Ga 15, 15); vậy thì còn đợi gì mà không tuyên tín: “Lạy Chúa! Con tin.” và dâng lời khẩn nguyện: “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã đưa lên trời cả hồn lẫn xác Ðức Ma-ri-a là trinh nữ vô nhiễm và là thánh mẫu của Con Chúa. Xin cho chúng con hằng biết hướng lòng về phúc lộc quê trời để mai sau được cùng thánh mẫu chung hưởng vinh quang. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời”). Đồng thời cất cao lời ngợi khen:

*************

MẸ LÊN TRỜI

E-va xưa đã nghe lời rắn độc,
Khiến loài người phải mang tội tông truyền,
Thiên Chúa ban một Người Nữ vẹn tuyền,
Eva Mới sẽ đạp đầu quỷ dữ (St 3, 15).

***

Chính là Mẹ hạ sinh một Trưởng Tử (Rm 8, 29),
Là Con Một Thiên Chúa xuống gian trần,
Đấng Thiên Sai – Đấng Cứu Độ phàm nhân,
Khỏi tội lỗi từ muôn đời muôn thủa.

***

Mẹ hiệp công cùng Ngôi Hai Thiên Chúa,
Đức Giê-su – Đấng cứu chuộc loài người,
Mẹ được ân ban hồn xác lên trời,
Ôi nhiệm tích đầy linh thiêng xán lạn!

***

Mẹ lên trời giữa một ngày rực sáng,
Áo mặt trời chói lọi ánh quang vinh,
Và mặt trăng dưới chân Mẹ uy linh,
Muôn thần thánh đón chào nơi Thiên quốc.

***

Mẹ lên trời hưởng muôn vàn ơn phước,
Hào quang ân sủng toả khắp nơi nơi,
Ôi triều thiên muôn tinh tú rạng ngời,
Và muôn điệu nhạc thần tiên diệu vợi.

***

Mẹ ơi Mẹ, xin cứu con về với,
Chốn Thiên đường nơi Mẹ được tôn vinh,
Nơi muôn đời chan chứa ánh bình minh,
Không hoàng hôn, cũng chẳng còn đêm tối.

***

Mẹ ơi Mẹ, xin cứu con thoát khỏi,
Cõi u minh – nơi vực tối thảm sầu,
Cõi lầm than – nơi tội lỗi ngập đầu,
Nơi xâu xé, tranh giành và chém giết.

***

Mẹ ơi Mẹ! Cõi trần đầy rên siết,
Và nghiến răng, và uất nghẹn tủi hờn,
Và máu đào, và nước mắt trào tuôn,
Như hồng thuỷ muốn nhận chìm trái đất.

***

Ôi, lạy Mẹ ! Nơi cõi trần chất ngất…
… những tang thương – Con quỳ gối nguyện cầu:
Thế giới này xin được Mẹ cầu bầu,
Cùng Thiên Chúa ban bình an mãi mãi.

***

Ôi, lạy Mẹ ! Con nghe lòng tê tái,
Nước mắt trào, con khẩn thiết nài van,
Cho chúng con – đoàn con cái tân toan,
Được mau chóng sum vầy bên gối Mẹ.

--------------------------------

 

15/8-111: NGUỒN GỐC LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI


Sưu tầm

 

Lễ Mẹ hồn xác lên trời là lễ cổ xưa nhất trong các ngày lễ kính Đức Mẹ được cử hành trong 15/8-111


Lễ Mẹ hồn xác lên trời là lễ cổ xưa nhất trong các ngày lễ kính Đức Mẹ được cử hành trong toàn thể Giáo hội. Toàn thể ở đây được hiểu như là bao trùm cả Giáo hội Đông phương, Công giáo lẫn Chính Thống giáo. Theo truyền thống của Giáo hội Đông phương dành 15 ngày đầu tháng 8 để chuẩn bị cuộc lễ và 15 ngày cuối để tạ ơn.

Trong những thế kỷ đầu, lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được gọi là lễ Đức Mẹ an giấc. Ngày lễ đã được mặc cho tất cả sự trang trọng kể từ năm 1950 khi Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII định tín việc Đức Mẹ được cất nhắc về trời cả hồn lẫn xác. Với tín điều này, Giáo hội chỉ công bố long trọng một chân lý vốn đã được các tín hữu Kitô tin từ ngàn xưa tôn kính. Chân lý đó là : “Thân xác của Người phụ nữ đã trao ban thể xác cho Con Thiên Chúa đã không phải chịu định luật của sự thối rữa”.

Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời không những là lễ cổ xưa nhất về Đức Mẹ. Nhưng ngày 15-8 hằng năm còn có một ý nghĩa rất đặc biệt. Đa số ngày tháng của các ngày lễ trong Kitô giáo đều bắt nguồn từ những ngày lễ ngoại giáo. Lễ Giáng sinh chẳng hạn, không gì khác hơn là lễ của thần mặt trời của đế quốc La-mã được rửa tội lại theo Kitô giáo mà thôi.

Đây không phải là trường hợp của Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Đế quốc La-mã  vốn dành ngày đầu tháng tám để tôn vinh hoàng đế. Trong khi đó lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được cử hành vào ngày 15-8. Như vậy lý do chọn ngày 15-8 để cử hành lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời không bắt nguồn từ đế quốc La-mã, mà từ chính Giêrusalem cổ.

Trước thời hoàng đế Constantinope, trong ngày này đã diễn ra một cuộc lễ trong nhà thờ trên núi cây dầu tại Jerusalem. Truyền thống đã gọi lễ này là lễ Đức Mẹ an giấc.

Trong đế quốc La-mã ngoại đạo, không có bất cứ nguồn gốc nào về ngày lễ này đã đành, mà kể từ đó về sau cũng chẳng có đế quốc nào xóa bỏ hay thay thế được lễ này. Những cố gắng vô ích của một hoàng đế Napoléon của Pháp là một bằng chứng.

Ngày 15-6-1769 tại Ajaccio đảo Corse chào đời một đứa bé mà cha mẹ đã đặt tên cho một tên thánh hiếm có là Napoléon. Nếu ngày 15-8-1637 vua Louis XIII đã ban hành một sắc lệnh để đặt toàn nước Pháp dưới sự che chở của Mẹ Maria thì nawm1806 sau khi đã đăng quang làm hoàng đế của nước Pháp và khắp Âu Châu. Napoléon tước đoạt mọi danh dự dành cho Mẹ Thiên Chúa, để biến thành một ngày lễ dành riêng cho ông.

Sinh trùng vào ngày 15-8, Napoléon bắt toàn dân nhớ đến ngày sinh của ông là điều dễ hiểu, là ngày được cha mẹ đặt tên cho là Napoléon. Ông đã cố lục lọi trong danh sách các thánh trong Giáo hội tìm cho bằng được một vị thánh có tên là Napoléon.

Với sự đồng ý của một vị giám mục cung đình, ông đã tìm được mục danh sách các vị tử đạo Rôma, trong đó có một vị tên là Néopoli. Không rõ do những lèo lái như thế nào mà cuối cùng cả triều đình của ông đều đồng thanh nhận á thánh Néopoli với tên gọi Napoléon của ông. Vậy là ngày 15-8 không những là ngày sinh nhật của ông mà còn là ngày lễ bổn mạng của ông nữa.

Danh dự đã dành cho Mẹ Thiên Chúa được ông hoàng đế này đương nhiên chiếm đoạt. Tại Rooma, Đức Giáo Hoàng Piô VII tuyên bố rằng : “Việc quyền bính thế tục thay thế việc tôn kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời bằng việc tôn kính một vị thánh không có tên trong lịch Phụng vụ là điều không thể chấp nhận được”.

Đây là một hành động xen lấn không thể dung thứ và chấp nhận được, không thể lấy thế quyền thay cho thần quyền. Nhưng vì những hành động của bạo chúa Napoléon quá tàn nhẫn, cho nên bức kháng thư đã không được công bố. Tột cùng hành động ngang ngược của Napoléon là ra lệnh đưa Đức Giáo Hoàng về giam giữ tại Fontainebleau bên Pháp.

Dĩ nhiên, rồi cuối cùng Trái Tim Mẹ vẫn thắng, sự cáo chung của đế quốc do Napoléon dựng nên cũng chấm dứt việc chiếm đoạt danh dự dành cho Mẹ Maria. Vị thánh Napoléon được Napoléon tự phong cũng tự ý rút lui để trả ngày 15-8 lại cho Mẹ Thiên Chúa. Điều kỳ diệu mà Mẹ Maria đã thực hiện là việc tôn kính vị thánh Napoleon do những kẻ dua nịnh bịa đặt ra hơn là đòi hỏi của lịch sử đã để lại một hậu quả không lường được. Đó là kể từ ngày đó 15-8 hằng năm đã biến thành một ngày lễ buộc trên toàn nước Pháp.

Trên đây là một trong những vị dụ cho thấy những sự vụng về kỳ lạ của lịch sử, qua đó người ta thấy được sự hiện diện kín đáo nhưng vô cùng hữu hiệu của Mẹ Thiên Chúa. Kẻ quyền thế muốn tước đoạt danh dự của Mẹ Maria đã bị hạ xuống khỏi tòa cao, như Mẹ đã tiên báo trong kinh Magnificat.

Ngày nay sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, nước Pháp vẫn tiếp tục đóng cửa nghỉ ngày 15-8 để tôn vinh Mẹ Maria. Danh vọng hão huyền mà một hoàng đế Napoléon đeo đuổi bằng cách hạ bệ Mẹ Thiên Chúa đã không kéo dài quá tám năm. Kể từ tháng 3-1814 sau khi hoàng đế Napoléon thoái vị và bị đày ra đảo Sante Hélène để sống những ngày còn lại của ông. Trong ăn năn sám hối, tên tuổi của ông vẫn được tiếp tục nhắc đến như một thiên tài cũng có, mà như một kẻ ngông cuồng thì nhiều hơn.

Trong khi đó Mẹ Maria vẫn tiếp tục ngự trị trong lòng người dân Âu châu, mặc dù họ có muốn tục hóa đến đâu đi nữa, thì trong lịch sử hàng năm của họ vẫn còn những dấu ấn không bao giờ tàn phai của Mẹ Thiên Chúa. Mãi mãi như Mẹ đã tiên báo trong kinh Magnificat : “Từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi là người có phúc”.

--------------------------------

 

15/8-112: "Đức Mẹ hồn xác lên trời" trong hội họa


Lễ Ðức Maria Hồn Xác Lên Trời

Nguyên Hưng

 

Hình ảnh Đức Mẹ Maria trong hội họa nhiều vô số kể, tuy nhiên, hầu hết đều đi kèm với hình ảnh 15/8-112


Hình ảnh Đức Mẹ Maria trong hội họa nhiều vô số kể, tuy nhiên, hầu hết đều đi kèm với hình ảnh Chúa Hài Đồng hay với biểu tượng về Công cuộc Cứu chuộc của Chúa Giêsu, và thường xuất hiện như một biểu tượng của “lòng mẹ”, của “tình mẫu tử”. Dường như chỉ trong chủ đề "Truyền tin", chủ đề "Đức Mẹ hồn xác lên trời", và chủ đề "Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội" mới có những ngoại lệ, và mang những ý nghĩa đặc biệt.

Chủ đề "Truyền tin" xuất hiện trong hội họa khá sớm. Theo các sử gia nghệ thuật, Icon Byzantium đầu tiên thể hiện chủ đề này ra đời vào khoảng thế kỷ thứ IV. Còn chủ đề "Đức Mẹ hồn xác lên trời" và chủ đề "Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội" thì mãi đến thế kỷ XV mới xuất hiện. Lý do của sự muộn màng này, có lẽ, mọi người Công giáo đã biết rõ (ở đây tôi không nhắc lại).

Theo nhiều sử gia nghệ thuật, bức tranh đầu tiên có chủ đề "Đức Mẹ hồn xác lên trời" chính là một tác phẩm khổ nhỏ (30.3 x 45.7 cm) vẽ bằng tempera (bột màu pha lòng trắng trứng) trên nền gỗ dát vàng của Sano di Pietro (1406-1481) sáng tác trong khoảng thời gian từ 1447-1452, hiện đang được lưu giữ tại bảo tàng Lindenau, Altenburg. Dưới đây là ảnh tác phẩm:

** "Đức Mẹ hồn xác lên trời", tempera trên gỗ dát vàng, vẽ năm 1447-1452, của  Sano di Pietro

Tuy được xem là tác phẩm tiêu biểu của nghệ thuật Gothic phương Tây, gần với tự nhiên và giàu tính trang trí, nhưng tác phẩm này của Sano di Pietro vẫn còn mang đậm dấu ấn ảnh hưởng ngôn ngữ biểu tượng phương Đông của nghệ thuật Byzantium. Cần phải biết điều này mới có thể "giải mã" thông điệp của tác phẩm. Ngày nay, khi xem tác phẩm này, chúng ta dễ có cảm tưởng họa sĩ đang vẽ cảnh các thiên thần đang xuống đón Đức Mẹ về trời. Và, cái "vật thể" có hình ô-van mà Đức Mẹ đang ngồi trong đó, có vẻ như là một "phương tiện" di chuyển đặc biệt...! Thực ra, đây là một biểu tượng cách điệu từ hình ảnh trái hạnh nhân. Trong nền văn hóa Do Thái (ảnh hưởng sang văn hóa Ý) cây hạnh nhân là biểu tượng của sự sống, và trái hạnh nhân là biểu tượng của tình yêu, của sự kiên trinh. Liên hệ từ biểu tượng này, chúng ta dễ hiểu, không phải tác giả đang thể hiện hình ảnh Đức Mẹ lên trời, mà đang thể hiện tình cảm tôn vinh Đức Mẹ ở ý nghĩa gắn liền với sự sống trường tồn, với tình yêu cao cả và bất diệt...- một tình cảm vượt qua sự sống-chết và các giới hạn trần tục...

Từ thời Phục hưng, hình ảnh Đức Mẹ hồn xác lên trời đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho các nghệ sĩ, và từ đó, rất nhiều kiệt tác đã ra đời. Theo nhiều nhà phê bình nghệ thuật, và một số nhà thần học, sự lên ngôi của chủ đề "Đức Mẹ hồn xác lên trời" không thuần túy chỉ là sự lên ngôi của một niềm tin tôn giáo, mà còn đánh dấu sự chiến thắng của chủ nghĩa nhân văn Phục hưng - hình ảnh Đức Mẹ hồn xác lên trời trở thành nguồn an ủi và hy vọng lớn lao của con người...

** Trong rất nhiều kiệt tác thể hiện chủ đề "Đức Mẹ hồn xác lên trời", trước hết, có lẽ phải kể đến tác phẩm của Titian (1488/1490 – 1576) vẽ trong khoảng thời gian từ 1516-1518.

** "Đức Mẹ hồn xác lên trời", sơn dầu trên gỗ, khổ 690 x 360cm, vẽ năm 1516-1518, của Titian

Ngày 19 tháng 5 năm 1518, Titian lắp đặt tác phẩm "Đức Mẹ hồn xác lên trời" của mình lên tường chính gian Thánh Vương cung Thánh đường Santa Maria Gloriosa dei Frari, ở Venice, và ngày này đã được xem là một sự kiện trọng đại, đi vào sử sách của thành phố này. Bức tranh ngay tức khắc nhận được sự chú ý, tưởng thưởng của các tầng lớp công chúng. Đặc biệt, theo các sử gia nghệ thuật, sự hoành tráng và vẻ quyến rũ của nó, đã gần như ngay tức khắc xác lập niềm tin nơi mọi người về tín điều "Đức Mẹ hồn xác lên trời"- một chủ đề vẫn còn gây tranh cãi trong bản thân Giáo hội Công giáo đương thời...

** Vương cung Thánh đường  Santa Maria Gloriosa dei Frari, ở Venice với tác phẩm "Đức Mẹ hồn xác lên trời" của Titian

Đã có rất nhiều nhà phê bình viết về tác phẩm của Titian, chủ yếu xoay quanh vấn đề Titian đã xử lý bố cục và phối màu tác phẩm xuất sắc như thế nào để hòa nhập tác phẩm vào không gian kiến trúc Gothic của Vương cung Thánh đường Santa Maria Gloriosa dei Frari, và tạo nên cảm giác hoành tráng... Đây là một đề tài khá thú vị, nhưng sẽ rất dài dòng, nên tôi sẽ quay lại vào dịp khác. Ở đây, tôi chỉ dừng lại ở ghi chú: Trong lịch sử nghệ thuật Công giáo, tác phẩm này của Titian được xem là biểu tượng ngợi ca hồn nhiên về Đức Mẹ trong hình ảnh Người huy hoàng về trời dưới sự đón nhận của Thiên Chúa... Và, thành công của tác phẩm, đã được xem là nguồn khích lệ để bao nhiêu họa sĩ khác lao vào chủ đề "Đức Mẹ hồn xác lên trời"...

Sau tác phẩm của Titian, "Đức Mẹ hồn xác lên trời" của Rubens (1577 - 1640) vẽ năm 1620, hiện đang được đặt tại bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, cũng được xem là một tác phẩm bất hủ về chủ đề này…

** "Đức Mẹ hồn xác lên trời", 1620, sơn dầu trên vải, khổ 458 x 297 cm, của Rubens

** Tuy nhiên, nổi tiếng nhất, có lẽ là tác phẩm dưới đây của Murillo (1617-1682)

** "Đức Mẹ hồn xác lên trời", 1680, sơn dầu trên vải, khổ 195 x 145 cm, của Bartolomé Esteban Murillo (1617-1682), The Hermitage, St. Petersburg

Nổi tiếng nhất - hiểu theo nghĩa được công chúng đón nhận rộng rãi nhất – có lẽ do sự dung dị của tác phẩm và sự dịu dàng, thanh thoát nơi bản thân hình ảnh Đức Mẹ Maria...

Nhân thể, xin lưu ý, Murillo cũng là họa sĩ vẽ rất nhiều tranh về chủ đề “Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội”. Dưới đây là ba tác phẩm tiêu biểu của ông về chủ đề này:
** “Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội”, 1645-1655, sơn dầu trên vải, khổ 235 x 196 cm, The Hermitage, St. Petersburg

** “Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội”, 1665-1670, sơn dầu trên vải, khổ 206 x 144 cm, Museo del Prado, Madrid

** “Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội”, c. 1678, sơn dầu trên vải, khổ 274 x 190 cm, Museo del Prado, Madrid

Rất nhiều người, trong đó có tôi trước đây, đã nhầm lẫn những bức tranh này là tranh thể hiện chủ đề “Đức Mẹ hồn xác lên trời”! Chúng có vẻ giống nhau quá!
Để phân biệt, xin lưu ý vài chi tiết:

Thứ nhất, hình ảnh Đức Mẹ trong tranh “Đức Mẹ hồn xác lên trời”, thường có dáng dấp như vươn lên đón nhận hồng ân từ Thiên Chúa, còn trong tranh “Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội”, Người như thu mình lại trong dáng dấp một trinh nữ khiêm cung…

Thứ hai, trong tranh chủ đề “Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội”, dưới chân Đức Mẹ, thường, có hình ảnh một vầng trăng khuyết. Đây là hình ảnh nhằm minh họa lời trong sách “Khải huyền” của Thánh Gioan: “Rồi có một điềm lớn xuất hiện trên trời: một người phụ nữ mình khoác áo mặt trời, chân đạp mặt trăng và đầu đội triều thiên 12 ngôi sao." (Kh 12, 1)(*).

Nguyên Hưng
-----------------------------
(*) Theo các nhà Chú giải học (hermeneutics):
- “Áo mặt trời”: được bao bọc bởi Thiên Chúa (Thiên Chúa là ánh sáng).
- “Chân đạp mặt trăng”: “mặt trăng”, trong văn hóa Tây phương là biểu tượng cho người nữ (Tiếng Latinh phân biệt mặt trăng “Luna” giống cái; mặt trời “Sol” giống đực. Tiếng Pháp cũng có phân biệt tương tự: mặt trăng “la Lune”, giống cái; mặt trời “le Soleil“, giống đực.). Như vậy “Chân đạp mặt trăng” có ý nghĩa của một sự vượt qua, sự đứng bên trên thân phận người nữ bình thường (vốn mắc tội Tổ tông)…
- “Đầu đội triều thiên 12 sao”: Đức Mẹ được tôn vinh bởi Giáo hội (“đội triều thiên”: sự tôn vinh; “số 12” tượng trưng cho Giáo hội).

--------------------------------

 

15/8-113: Mừng lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời


Trần Văn Trí

 

Đối với Giáo Hội Công Giáo, từ 1950, Đức Mẹ hồn xác lên trời là một tín điều thuộc phạm vi 15/8-113


Đối với Giáo Hội Công Giáo, từ 1950, Đức Mẹ hồn xác lên trời là một tín điều thuộc phạm vi Đức Tin. Trong khi, từ những thế kỷ tiên khởi, việc Đức Mẹ hồn xác lên trời đã được các tín hữu vững tin dựa vào truyền thống, dù không có nền tảng trong Thánh Kinh. Giáo Hội nhìn nhận truyền thống như thế phù hợp với kho tàng Đức Tin được khai triển vào giữa thế kỷ 19 trong Tín điều “Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội”, công bố theo thông điệp “Ineffabilis Deus” (Thiên Chúa bất khả ngộ) ngày 8-12-1854.

 Năm 373, Thánh Euphreim đã nêu lên quan niệm rằng, sau khi lìa đời, xác của Đức Maria vẫn nguyên vẹn vì Mẹ không nhuốm lấy dơ bẩn của sự chết. Ở Phương Tây, Grê-gô-riô de Tours đã dựa vào tài liệu “Transitus Mariae” (Đức Maria lìa đời), thế kỷ thứ 5 (495-496), nói về Đức Mẹ khi lìa đời (có các tông đồ hiện diện), được Chúa Giêsu đón rước linh hồn và cả xác, lên Thiên Quốc. Ở Phương Đông, Gioan Đa-mas-xê-nô thuật lại sự tích trong Giáo hội Giêrusalem: Vào Công đồng Cal-cê-đô-ni-a, năm 451, hoàng đế Marcianô và hoàng hậu Pulsêria yêu cầu Đức Giám mục Juvénal, thành Giêrusalem, tìm xác Đức Mẹ và tường trình cho Công Đồng. Sau khi tìm kiếm, Đức Cha Juvénal trình rằng:

 “Khi Đức Mẹ lìa đời thì các Tông đồ đều có mặt, trừ ông Tô-ma đi vắng. Vài ngày sau, khi trở về, Tôma đòi xem xác Đúc Mẹ. Các tông đồ ra phần mộ thì thấy mộ trống trơn, không còn có xác Đức Mẹ. Các tông đồ tin rằng Mẹ Maria đã được Chúa Giêsu đem lên Thiên Quốc hợp cùng linh hồn của Mẹ.”

 Ngoài ra, tuy trong Giáo Hội không có tài liệu Thánh Kinh nào về Đức Mẹ hồn xác lên trời, nhưng các tín hữu hằng vững tin về “Đức Mẹ mông triệu thăng thiên” như mầu nhiệm.thứ bốn của Năm Sự Mừng: Thứ bốn thì ngắm “Đức Chúa Trời cho Đức Bà lên trời, ta hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ.”

 Theo Thánh Truyền, từ lời Chúa Giêsu trối trên thập giá: “Nầy là mẹ của anh” (Ga 19: 27), môn đệ Gioan lãnh phần chăm sóc Đức Mẹ, Năm 370, có tài liệu nói về Thánh Nữ Đồng Trinh đã sống tại Giêrusalem vào cuối cuộc đời của Mẹ và về phần mộ của Đức Mẹ tại Giết-sê-ma-ni, nơi thung lũng Gio-da-phát. Nơi đây, vào khoảng năm 431, có Vương Cung Thánh Đường Thánh Maria trong đó có phần mộ của Đức Mẹ, dù là mộ trống vì Đức Mẹ đã được Thiên Chúa đưa cả hồn và xác lên trời.

 Tất cả các trích thuật nầy, tuy không phải từ Thánh Kinh mà do Thánh Truyền, nhưng giáo hữu sốt sắng vững tin và sùng mộ. Hơn nữa, điều căn bản người tín hữu cần hiểu biết về Thánh Nữ Đồng Trinh Maria hồn xác lên trời là ý nghĩa Đức Mẹ được Thiên Chúa rước về Thiên Quốc cả hồn lẫn xác - Assumptio Beatae Mariae Virginis, khác với mầu nhiệm Chúa Giêsu Thăng Thiên – Ascensio Domini, vì Đức Giêsu Kitô về cùng Thiên Chúa Cha, hay tự lên trời do quyền phép của chính Ngài.

 Hai mầu nhiệm “Lên Trời” và “Mông Triệu Thăng Thiên” có trong Năm Sự Mừng Chuỗi Mân Côi.

 Cũng theo Thánh Truyền, từ thế kỷ thứ 4 trở đi, niềm tin vào “Thánh Nữ Đồng Trinh Maria hồn xác lên trời” được phổ biến trong cả Giáo Hội Đông Phương lẫn Tây Phương. Cụ thể, trong các Giáo Hội Đông và Tây Phương, có nhiều vị đạo đức hoặc các Giáo Phụ, về sau được phong thánh, đã nhiệt thành rao giảng về hồng ân Thánh Nữ Đồng Trinh Maria hồn xác lên trời, như Thánh Grêgôriô thành Tours, Thánh Mô-đét-tô, Th. Xô-phrô-ni-ô, Thượng phụ Giêrusalem, Th. Ger-ma-nô, Constantinople.
 
Tại sao hằng năm, Lễ Đức Mẹ lên trời vào ngày 15 tháng 8

 Vào đầu thế kỷ thứ 6, Thánh Tê-ô-đô-xi-ô (Theodosius) cho biết: Trước năm 500, hằng năm các thầy dòng Palestine mừng trọng thể Lễ Thánh Nữ Đồng Trinh Maria hồn xác lên trời vào ngày 15 tháng 8. Trong khi, theo Giáo Lý, tại Ai cập và A-ra-bi-a thì giáo hữu mừng lễ vào trung tuần Tháng Giêng. Đến thế kỷ 6, ngày lễ 15 tháng 8 lan rộng khắp Giáo Hội Đông Phương. Tại đế quốc Hy lạp, Hoàng đế Mô-rít (Mauritius) công bố ngày lễ 15 tháng 8 với danh xưng “Lễ Thánh Nữ Đồng Trinh Maria Ngủ – Dormitio Sanctae Mariae Virginis” theo tinh thần Phụng vụ By-giăng-tin (Giáo Lý GHCG, 966).

 Cũng vào thế kỷ 6, Giáo Hội Rôma lấy ngày 15-8 làm ngày mừng Lễ Thánh Nữ Đồng Trinh Maria – Festivitas Beatae Mariae Virginis và mừng tại đền thờ Đức Bà Cả (Santa Maria Maggiore).

 Từ năm 700, thời Đức GH. Sergius I (687-701), Lễ Mông Triệu mừng trọng thể, có rước kiệu Đức Mẹ.

 Từ nguyên thủy, trong Sách Lễ Rô-ma, ngày lễ có tên “Assumptio Beatae Mariae Virginis”, với từ La-tinh Assumptio do động từ “Adsumere – assumptus” có nghĩa “kết hợp”, nên ngày lễ gọi đúng tên là “Lễ Kết Hợp của Thánh Nữ Đồng Trinh Maria” (và phải thêm “với Chúa Giêsu Con Mẹ trên trời “).

 Như vậy, ý nghĩa ngày lễ không nằm trong tên gọi mà chính trong Đức Tin, nền tảng của Thánh Truyền, giúp người Kitô-hữu đồng ý về hồng ân “Đức Mẹ, sau khi viên mãn cuộc đời trần thế, được Thiên Chúa đón rước cả hồn xác lên trời kết hợp với Chúa Giêsu Con Mẹ”. Từ đó, ngày lễ có tên phổ thông là “Lễ Đức Mẹ.hồn và xác lên trời”, mà người Công Giáo Việt Nam gọi là Lễ Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên, hay Lễ Mông Triệu, lễ trọng, lễ buộc, có Lễ Vọng ngày 14 tháng 8. Ngày nay, Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời là lễ trọng, lễ buộc, vì được vào quy củ Phụng Vụ nhờ tín điều Đức Mẹ Hồn Xác lên trời và Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội 21-11-1964 (Lumen Gentium 59, tr. 247) nhắc lại:  Sau khi hoàn tất cuộc đời dưới thế, Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ để nên giống Con Ngài trọn vẹn.
 
Tín điều Đức Trinh Nữ Maria Hồn Xác Lên Trời

 Cần nhắc lại Tín Điều vì niềm tin thâm sâu và nhiệt tình vào “Đức Mẹ hồn xác lên trời” đã có từ lâu đời trong Giáo Hội Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành, nhất là từ giữa thế kỷ 19, sau khi Đức GH. Piô IX (1846-78) công bố tín điều “Ineffabilis Deus” về “Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội” (8-12-1854).

 Đến giữa thế kỷ 20, Đức GH. Piô XII (1939-58) được Chúa Thánh Thần soi sáng, đã cho mở các cuộc điều tra rộng rãi và nhận thấy có nhiều thỉnh nguyện từ giáo hội hoàn vũ xác tín mầu nhiệm cao cả đó.

 Vào Lễ Các Thánh Nam Nữ 1-11-1950, Đức GH Pi-ô XII ban hành Tông hiến lấy hai từ đầu bằng tiếng La-tinh Munificentissimus Deus (MD) của văn kiện, có nghĩa “Thiên Chúa rộng rãi hải hà”, công bố Tín điều Thánh Nữ Đồng Trinh Maria Hồn Xác Lên Trời gồm các điểm căn bản như sau.

 Với 48 số mục, Tông hiến tuyên xưng:

 “Thiên Chúa rộng rãi hải hà, dưới các điều kiện và phương thức khác nhau, làm cho mọi sự cùng hoạt động đem lại thiện mỹ cho những ai yêu mến Ngài” (MD, 1). Đức Thánh Cha nói đến giáo triều của người có “biết bao ưu tư, lo âu, rối loạn, với tai ương rất trầm trọng, sự kiện làm xa vời chân lý và nhân đức”, thúc đẩy Giáo Hội gia tăng lòng sốt sắng chạy đến khẩn cầu Mẹ, tôn vinh Mẹ (MD, 2). Người đề cập đến lý do ban hành Tông hiến (MD, 3) dựa vào nền tảng mà Đức GH. Piô IX đã ban hành tông hiến Ineffabilis Deus (Thiên Chúa bất khả ngộ) ngày 8-12-1854, công bố tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội (MD, 4); những thỉnh nguyện và truyền thống đạo đức tôn vinh mầu nhiệm “Đức Mẹ hồn xác lên trời” (MD 7-19); chứng nhân của các Giáo phụ, các nhà thần học, các tiến sĩ Hội Thánh, các diễn giải Thánh Kinh (MD 20-41), dẫn đến việc triều đại Piô XII công bố tông huấn (MD 42-48) với những điều khoản luật định theo đức tin (MD 45-47) và ngày-tháng-năm ban hành (MD 48). Công bố chính yếu (MD, 44) minh định mà người giáo hữu phải nắm vững khi tìm hiểu về nguồn gốc và ý nghĩa lễ nghi Phụng Vụ Thánh:

 “Với bao lời cầu xin dâng lên Thiên Chúa, cầu khẩn ánh sáng của Thần Chân Lý, vì sáng danh Chúa và lòng yêu mến Mẹ Maria, để tôn vinh Con Mẹ, là Vua hằng sống; vì niềm hân hoan của toàn thể Giáo Hội, vì quyền năng của Đức Giêsu Kitô, của hai Thánh Tông Đồ Phêrô-Phaolô, và uy quyền của chính Giáo hoàng, chúng tôi công bố tín điều được Thiên Chúa mạc khải, rằng:

“Mẹ Thiên Chúa, Đức Maria trọn đời Đồng Trinh, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế, được cả hồn và xác mông triệu thăng thiên vào vinh quang Thiên Cung.”

 Qua Tông hiến “Munificentissimus Deus”, ban hành ngày 1-11-1950, Đức GH. Piô XII công bố tín điều “Đức Mẹ hồn xác lên trời”. Từ đó, ngày lễ được mừng trọng thể khắp Giáo Hội hoàn vũ vào 15 th. 8.

 Hằng năm Lễ Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên là lễ lớn tổ chức rất trọng thể trên khắp thế giới, như ở Áo, Ba lan, Bỉ, Bồ-đào-nha, Ca-mê-run, Chi-lê, Côte d’Ivoire, Cro-a-xi-a, Đông Timor, Hy lạp. Ly-ban, Li-tu-a-ni-a, Man-ta, Mau-ri-ta-ni, Slo-va-nia, Tây ban nha và tại các quốc gia Mỹ Châu, như Mễ tây cơ và các nước Công giáo Nam Mỹ.

 Tại Pháp, ngày lễ khởi sự vào thế kỷ 17 theo lời khấn hứa của vua Louis XIII (1601-43). Năm 1637, nhà vua khấn xin Đức Mẹ cho có một đứa con trai nối nghiệp. Vua dâng nước Pháp cho Đức Mẹ và truyền cho dân chúng mừng Lễ Đức Mẹ 15 tháng 8 trọng thể có rước kiệu tại các giáo xứ. Năm sau 1638, hoàng tử Louis ra đời (sau là vua Louis XIV) càng làm tăng thêm sự mến mộ sùng kính Đức Mẹ. Cách riêng, tại thánh địa Lộ Đức, Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời là lễ hội tổ chức chu đáo trước và sau ngày 15 tháng 8. Việc kính viếng thánh địa Đức Mẹ Lộ Đức, từ thập niên 1870, do các Linh mục và tu sĩ Dòng Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên, cùng với các thiện nguyện viên “Assomption” đảm trách.
 
Lễ Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên tại Việt Nam

 Ngày lễ rất được giáo hữu Việt Nam sùng mộ, nhiều nơi có rước kiệu trọng thể, nhất là tại các giáo xứ chọn “Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên” làm bổn mạng. Tại Thánh địa Lavang có ngày hội trọng thể hầu giáo hữu tựu họp kính viếng Đức Mẹ vào tháng 8 với các sinh hoạt đạo đức gọi là Đại hội Lavang. Tại sao Tháng 8 là tháng đáng nhớ đối với người Công giáo Việt Nam, nói riêng, và đối với người Việt, nói chung? Con cái Đức Mẹ luôn luôn ghi nhớ thời vua Cảnh Thịnh (1792-1801) là thời có những mật lệnh bắt và giết tất cả các Linh mục và giáo dân. Ngày 7 tháng 8-1798, nhà vua ra lệnh tấn công các họ đạo từ Phú Xuân đến cả vùng Cổ Vưu, tỉnh Quảng Trị. Người Công giáo, với cả nhiều người ngoài Công giáo, chạy trốn giặc và quân giết người, tìm vào trú ẩn ở vùng rừng rú phường Lá Vằng, về sau gọi là Lavang. Ban đêm, khi họ tụ tập nhau đọc kinh cầu nguyện thì Đức Mẹ hiện ra an ủi họ. Sau các sắc dụ cấm đạo, giữa tháng 8-1798 là thời kỳ bắt đạo dữ dội, nên rất đông người Công giáo thuộc các giáo xứ Cồ vưu, Thạch hãn, Hạnh hoa, chạy vào rừng rú Lavang, phó thác vào Đức Mẹ được tôn vinh là “Nữ Vương các Thánh Tử Đạo” hoặc “Đức Bà phù hộ các giáo hữu”. Để tỏ lòng biết ơn Đức Mẹ Lavang, giáo hữu Địa phận Huế đã làm một nhà thờ tranh kính Mẹ Maria. Năm 1886, Đức Cha Gaspar Lộc, Giám mục Địa phận Huế, quyết định xây một nhà thờ ngói tại chính nơi Đức Mẹ  đã hiện ra năm 1798. Nhà thờ xây dựng trong vòng 15 năm, được khánh thành từ 6 đến 8 - 8 năm 1901.

 Sau 30-4-1975, phần lớn linh địa La-Vang do nhà nước quản lý, với số diện tích đất đai có phần nằm trong tay những kẻ có uy thế. Sau nhiều năm thương lượng, Tòa Tổng Giám mục Huế được nhà cầm quyền cho tái thiết linh địa La-Vang, hy vọng khởi công vào Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời 15-8-2012.

---------------------------
 Tham Khảo: Catholic Encyclopedia – Assomption de la Sainte Vierge Marie

--------------------------------

 

15/8-114: Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời


Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

 

Tín điều Đức Maria hồn xác lên trời được Đức Piô XII long trọng tuyên tín trên ngai toà Phêrô 15/8-114


Tín điều Đức Maria hồn xác lên trời được Đức Piô XII long trọng tuyên tín trên ngai toà Phêrô. Không phải đợi đến nửa thế kỷ XX Mẹ Hội Thánh mới tin nhận điều này nhưng nó đã được sống, và tin nhận từ lâu dù rằng chưa trở thành tín điều buộc phải tin cách chính thức cho toàn thể Hội Thánh. Mẹ Maria được Chúa ân thưởng về trời cả hồn lẫn xác. Cái vấn nạn là ở chữ “xác”. Nếu tuyên bố rằng linh hồn Mẹ lên thiên đàng thì đâu có vấn đề và cũng chẳng ai bàn luận làm gì. Ở đây tín điều lại bao hàm cả cái “thân xác” của Mẹ.

Thân xác nhân loại chúng ta đã từng một thời gian rất dài bị hẩm hiu số phận dưới cái nhìn của nhị nguyên thuyết. Nói đến xác thịt là như nói đến cái gì đó xấu xa phải chê, phải ghét. Nghe đến hai chữ xác thịt là ta dễ liên tưởng đến xu hướng “hạ đẳng” luôn kéo ta đi xuống. Một ai đó khi được nhắc nhớ về lỗi lầm đã vấp phạm thì thường dễ biện minh: “Tính xác thịt mà”. Vậy ta phải nhìn thân xác như thế nào đây?

Con người là hữu thể xác hồn duy nhất. Tôi là hồn xác này. Xác hồn liên kết mật thiết không thể tách biệt mặc dù có thể phân biệt. Bất cứ hành vi nào của ta xét như là hành vi nhân linh đều có sự tham gia của hồn lẫn xác. Lập công thì cũng cả xác lẫn hồn và phạm tội cũng cả hồn lẫn xác.

Thân xác là cánh cửa giúp con người giao tiếp với giới tự nhiên, với tha nhân và với cả Thiên Chúa. Để thực thi công trình cứu độ, Ngôi lời đã mặc lấy xác phàm. Khi đi rao giảng Tin mừng, Người sử dụng thân xác mình để giáng phúc thi ân cho kẻ què đi được, người câm nói được, người mù được thấy, kẻ chết sống lại…. Và đỉnh cao của tình yêu mà Đức Kitô tỏ bày cho nhân loại là trao ban chính Máu Thịt của Người. Một thân xác trần trụi, chẳng còn hình tượng người ta nữa trên thập giá với Trái Tim bị đâm thâu là dấu chỉ tình yêu đến cùng của Đấng cứu độ. Và Hy tế cứu độ được hiện tại hoá trên bàn thờ mỗi ngày chính là Thân Mình Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể.

Tôn vinh Mẹ Maria qua mầu nhiệm Mẹ được Chúa ân thưởng về trời cả hồn lẫn xác, chúng ta không chỉ nói lên niềm tin vào tình yêu của Thiên Chúa, không chỉ nói lên tính quy luật của tình yêu là sự trọn vẹn, mà còn khẳng định phẩm tính cao trọng của thân xác do Thiên Chúa tạo dựng. Mọi sự Chúa dựng nên đều tốt đẹp. Đặc biệt cái thân xác con người, một “sản phẩm” mà Thiên Chúa xem ra phải tốn công mất sức nhiều như hình ảnh sách Sáng Thế mô tả: Thiên Chúa phải dùng tay để nặn và thổi hơi vào trong khi mọi thứ thì người chỉ phán một lời (x. St 1-2).
Tín điều Mẹ lên trời cả hồn lẫn xác mời gọi ta xác tín: Mẹ Maria đã cộng tác vào ơn cứu độ bằng trọn cả con người hồn xác. Mẹ đã đón nhận ơn cứu độ bằng cả xác hồn. Và việc Mẹ được ân thưởng cả xác hồn là hệ quả tất yếu.

Tình yêu đòi hỏi sự trọn vẹn và hài hoà cả xác lẫn hồn: Vị Cha chung của Hội Thánh, Đức Bênêđictô XVI nhận định trong thông điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu: “Tình yêu giữa người nam và người nữ, trong đó hồn xác kết hợp bất khả phân ly mở ra cho con người một lời hứa hạnh phúc dường như không cưỡng lại được có lẽ là kiểu mẫu của tình yêu; bên cạnh tình yêu này thoạt nhìn một hình thức khác của tình yêu (phụ nữ, mẫu tử, bằng hữu,…) như mờ nhạt đi” (số 2). Chính vì thế khi yêu là yêu cả con người trọn vẹn.

Xin đừng quá chú trọng việc cứu rỗi linh hồn mà xao nhãng các nghĩa cử yêu thương cả về phần xác. Thánh Giacôbê tông đồ trách cứ những người chỉ biết chúc lành cho người nghèo mà không giúp họ chút gì về vật chất để lo cho thân xác họ. “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày mà anh em lại nói với họ: Hãy đi bình an… nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ?”(Gc 2,15-16 ). Ngược lại xin cũng chớ đề cao quá mức những chăm sóc về phần xác kiểu luận lý: “Có thực mới vực được đạo”.

Trong việc thờ phượng, yêu mến Chúa cũng tương tự. Hãy cẩn trọng với những lối biện minh cực đoan, một chiều như “đạo tại tâm”, “thờ phượng Chúa trong tinh thần và chân lý”. Để tham dự các cử hành Phụng vụ, lãnh nhận các Bí tích, Mẹ Hội Thánh nhắc nhớ chúng ta một trong các điều kiện bình thường đó là sự hiện diện bằng thân xác. Không thể xưng tội qua điện thoại hay tham dự Thánh lễ Chúa Nhật qua vô tuyến truyền hình cách thành sự. Và ngược lai, chúng ta khong thể không thận trọng trước lời khiển trách của Thiên Chúa với dân Người xưa rằng: dân này thờ kính Ta ngoài môi miệng, còn lòng chúng thì xa Ta.

Cần phải loại bỏ cái nhìn phiến diện và không tích cực về thân xác. Làm sao có thể tồn tại thái độ chê ghét thân xác, các thực hành đạo đức làm tổn hại sức khoẻ… trong khi chúng ta vẫn tuyên xưng: Tôi tin xác loài người ta sẽ sống lại? Phải biết tôn trọng vai trò, vị thế của thân xác. Chúng ta vốn quen với câu ngạn ngữ la tinh: “Một tinh thần tráng kiện trong một thân xác khỏe mạnh”. Hãy biết tận dụng những thế mạnh, những ưu điểm của thân xác chúng ta để yêu thương và phục vụ tha nhân thiết thực và hiệu quả hơn. Hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi chính thân xác chúng ta. Hãy dùng chính thân xác cùng với các khả năng của nó để làm sáng danh Chúa. Biết tận dụng mọi tiến bộ khoa học để có được một thân xác khoẻ, đẹp, duyên dáng ở mức độ có thể, quả là điều nên làm và đáng làm. Dĩ nhiên đó phải là một thân xác được linh động bằng một linh hồn trong sáng, thánh thiện, đầy tràn tình yêu.

--------------------------------

 

15/8-115: Linh hồn tôi ngợi khen Chúa


Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

Trong dịp hành hương Đất Thánh, chúng tôi có đến Nhà thờ Thăm Viếng, nơi có tượng Đức Mẹ 15/8-115


Trong dịp hành hương Đất Thánh, chúng tôi có đến Nhà thờ Thăm Viếng, nơi có tượng Đức Mẹ ngũ. Từ Nhà thờ kính Thánh Gioan Tẩy Giả tại En Kerem, đi bộ một đoạn đường khá xa, lên một dốc cao rồi bước thêm đúng 66 bậc thang mới đến Nhà thờ. Từ trên ngọn đồi nhìn xuống thung lũng xa xa, quê hương Thánh Gioan Tiền Hô đẹp như một bức tranh mờ trong sương sớm.

Nhà thờ dâng kính cuộc thăm viếng của Đức Mẹ. Khi nghe tin bà Isave mang thai, Đức Mẹ đã vượt đường sá xa xôi đến thăm và giúp đỡ. Từ Nazarét về tới En Kerem đường xa lắm, chừng 90 km và rất nhiều trắc trở hiểm nguy. Mẹ đã thể hiện tình yêu thương và sự quan tâm đặc biệt đến người chị họ Isave. Nơi đây bài Magnificat đã được viết trên tường bằng nhiều thứ tiếng, trong đó có cả tiếng Việt Nam.

Nhà thờ thăm viếng trên đỉnh đồi.

Sau kinh cầu nguyện trong Nhà thờ thăm viếng, chúng tôi đi xuống tầng hầm, mỗi người thành kính quỳ gối lần hạt trước tượng Đức Mẹ ngũ. Nhìn Đức Mẹ thánh thiện ngũ giấc bình an, ai cũng cảm động nguyện cầu khấn xin. Nhiều người thổn thức bên Mẹ.

Theo truyền thống xa xưa, Đức Mẹ không chết mà chỉ ngũ một giấc rồi Chúa đưa Mẹ lên trời cả hồn lẫn xác. Phụng vụ đã cử hành ngày qua đời của Mẹ dưới nhiều tên gọi: Dormitio (an giấc), Deposotio (an táng), Transitus (qua đời), Natalis (ngày sinh vào Nước Chúa). Tất cả những danh từ đó được dùng để nói tới cái chết của Đức Mẹ. Tiếng “assumptio” ( bởi động từ assumere; sumere: cất lấy; ad: kết hợp, đoàn tụ), lúc đầu ám chỉ việc linh hồn Mẹ được đưa vào vinh quang của Chúa (giống như các thánh); về sau từ ngữ này được dùng để chỉ việc Mẹ được cất về trời. Giáo hội phân biệt hai từ ngữ ”ascensio” áp dụng cho Chúa Giêsu vì Ngài lên trời do quyền năng riêng, còn “assumptio” áp dụng cho Mẹ để nói rằng Mẹ đựơc Chúa đưa về trời.

Tín điều Đức Maria Hồn Xác Lên Trời được Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố vào ngày 1.11.1950: “Sau khi đã mãn cuộc đời dưới đất, Đức Maria được đem về trời cả xác hồn”. Vào thế kỷ 19, có một luồng thần học chủ trương rằng Đức Maria không phải chết và xin Đức Thánh Cha hãy định tín như vậy. Họ cho rằng Đức Maria không mắc tội nguyên tổ nên không phải chết bởi vì sự chết là hình phạt của tội nguyên tổ. Tuy nhiên đa số các nhà thần học cho rằng Đức Maria đã chết và sau đó được sống lại. Đức Piô XII không bàn tới vấn đề này, không nói rằng Mẹ không phải chết cũng chẳng nói Mẹ đã chết và đã sống lại; nhưng chỉ nói rằng: sau khi chấm dứt cuộc đời dương thế, Mẹ được cất về trời cả xác và hồn.

Nhìn Đức Mẹ ngũ, tôi thấy sáng lên vẻ đẹp thánh thiện cao quý. Mẹ tuyệt đẹp vì Mẹ đầy ơn Chúa. Mẹ đẹp thánh thiện vì ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội. Mẹ đẹp cao quý vì làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Mẹ tuyệt mỹ vì niềm tin đơn sơ và cuộc sống khiêm nhường. Nét đẹp ấy thoang thoảng như như một hương thơm hảo hạng toả ra lôi cuốn. Nét đẹp ấy mặn mà như thứ muối thiêng liêng. Nét đẹp ấy lung linh như ánh sáng dịu mát. Nét đẹp ấy huyền diệu như âm nhạc dịu êm mời gọi con người nâng tâm hồn lên tới Chúa.

Cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ ngũ.

Hôm nay, Giáo hội mừng kính Đức Maria được khải hoàn bước vào quê hương Nước Trời.

Bầu khí phụng vụ đượm sắc thái vui tươi với những lời ngợi khen và chúc tụng Đức Trinh Nữ lên trời hiển vinh. Từ đây Đức Mẹ nắm giữ vai trò quan trọng nhất là Nữ Vương trời đất. Từ nay, Đức Mẹ đảm nhận một địa vị cao cả nhất và cũng thật gần bên Thiên Chúa. Kể từ nay, Đức Mẹ trổi vượt trên mọi tạo vật với địa vị làm Mẹ Thiên Chúa và làm Mẹ nhân loại.

Quyền năng và tình yêu Chúa tràn đầy trên Mẹ làm cho Mẹ được khỏi tội tổ tông và được đầy ơn ơn sủng ngay từ trong lòng mẹ. Quyền năng và tình yêu Chúa bao phủ suốt cả đời Mẹ trên từng ý nghĩ, từng tình cảm, từng mỗi hành động, từng mỗi bước đi... khiến cho tâm hồn Mẹ luôn hướng về Chúa mà tạ ơn và ngợi khen liên lỉ. Quyền năng và tình yêu Chúa đong đầy trọn vẹn nhất trong khoảnh khắc lịch sử, Mẹ lên trời cả hồn cả xác. Đặc ân cao trọng này chính là triều thiên sáng chói bao phủ lên Mẹ, vốn đã được “Thánh Thần ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao rợp bóng trên bà” (Lc 1,35).

Giáo hội cùng hiệp ý chung lời với Mẹ ngợi khen tạ ơn Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”.

Đó là những lời tán tụng ngợi ca Thiên Chúa phát xuất từ sâu thẳm lòng Mẹ trong ngày thăm viếng người chị họ Isave.

Những lời ngợi ca đó nói lên tất cả tâm hồn của Mẹ. Đó là toát lược cả cuộc đời Mẹ, cả chương trình sống của Mẹ, là con đường tu đức của Mẹ: mãi mãi là người nữ tỳ khiêm tốn, luôn phó thác hoàn toàn trong tay Chúa toàn năng và nhân hậu, hằng dâng lời ngợi khen tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh cuộc sống.

Những lời ca ngợi Magnificat nói lên hết ý nghĩa và tâm tình của Mẹ đối với Thiên Chúa toàn năng và yêu thương.

Mẹ cảm thấy thân phận tôi tớ hèn mọn nầy lại được cất nhắc cao trọng trong giây phút lên trời: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”.

Mẹ cảm nghiệm được quyền năng và tình yêu vô biên của Chúa trong giây phút Chúa hiển dương Mẹ về trời: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả...Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người”.

Đức Mẹ được lên trời hồn xác là do đặc ân Chúa ban cho Mẹ và đồng thời cũng là do cuộc sống thánh thiện của Mẹ hằng luôn hợp tác với ơn Chúa. Hồn xác lên trời là một hồng ân cao cả mà Thiên Chúa ban cho Mẹ. Mẹ là người diễm phúc nhất trong mọi người nữ. Mẹ có tên gọi đẹp nhất là ”Đấng đầy ơn phúc” vì “Thiên Chúa ở cùng bà”. Mẹ được hết mọi đời khen là diễm phúc chính vì “Đấng toàn năng đã làm cho Mẹ biết bao điều cao cả”. Điều cao cả nhất là làm Mẹ Chúa Cứu Thế. Mẹ là cây sinh quả phúc và nhờ quả phúc ấy mà Mẹ được biết đến và được ca tụng. Mẹ là cây trường sinh mang quả đầu mùa mà Thiên Chúa đã trồng trong vườn địa đàng mới hầu đem lại sự sống đời đời cho mọi thế hệ loài người. Chính vì thế mà Thiên Chúa muốn cho cây mang quả trường sinh ấy được nhân lên trong vườn địa đàng mà Người muốn mở rộng diện tích tới tận cùng trái đất.

Trong bài giảng tại Thánh địa La Vang ngày 15/8/2007, Đức TGM Huế đã suy niệm: Đức Mẹ lên trời sau khi đã đi qua hết mọi nẻo đường đời của một người bình thường nghèo khó: nẻo đường không nơi trú ngụ; phải sinh con trong hang đá Bêlem; nẻo đường lánh cư sang Ai Cập đầy tiếng khóc than của các bà mẹ mà những đứa con thơ vô tội bị vua Hêrôđê sát hại; đường vào tiệc cưới Cana có tiếng vui cười của thực khách và đôi tân hôn; đường lên núi Calvariô, có tiếng nguyền rủa, tiếng búa đóng đinh của các lý hình; đường loan Tin mừng Chúa Phục Sinh và đường thẳng lên trời hồn xác trong tiếng reo vui của đất trời, của thần thánh, của loài người. Đức Mẹ đã sống thánh giữa đời, đã nên thánh qua những chặng đường vui, đường sáng, đường thương, đường mừng.

Trong cuộc sống hôm nay, chúng ta cũng đang đi lại những chặng đường của Đức Mẹ: có cả vui, sáng, thương, mừng. Chúng ta lần hạt, tràng chuỗi nơi tay, miệng thầm thỉ, lòng kết hiệp với các mầu nhiệm vui mừng và đau thương của Đức Mẹ. Chúng ta cũng lần hạt một cách thiết thực nữa trong cuộc sống hằng ngày, mà tràng chuỗi và những hạt chuỗi giờ đây chính là những hạt mồ hôi, những giọt nước mắt, những khổ đau, những oan ức..., và cũng chính là những tiếng vui cười, những tia hy vọng, những niềm hân hoan... Đó là tràng chuỗi sống, đi đôi với việc đọc kinh lần hạt suy niệm của chúng ta.

Đức Mẹ được vinh hiển hồn xác trên trời là hình ảnh và là khởi đầu bảo đảm cho tương lai của chúng ta sau nầy cũng sẽ được như vậy, miễn là bây giờ chúng ta biết noi gương Mẹ mà sống thánh giữa đời, qua những chặng đường vui, sáng, thương, mừng của cuộc sống (x. LG 68).

--------------------------------

 

15/8-116: Đức Mẹ Maria hồn xác lên trời


Lm. Đaminh Nguyễn ngọc Long

 

Mỗi khi đọc kinh mân côi chúng ta suy niệm mầu nhiệm: Thứ  bốn thì  ngắm:Đức Chúa Trời cho 15/8-116


Mỗi khi đọc kinh mân côi chúng ta suy niệm mầu nhiệm: Thứ  bốn thì  ngắm:Đức Chúa Trời cho Đức Bà lên trời. Ta hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ."

Tin trong tâm hồn, nhưng trí khôn hiểu mầu nhiệm Đức Mẹ Maria lên trời như thế nào?

1. Trọn vẹn bên Chúa

Đức đương kim giáo hoàng Benedictô 16., khi còn là Hồng Y Bộ trưởng Bộ tín lý đức tin, đã tâm sự: „ Tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời đối với con người chúng ta thật khó hiểu. Vì chúng ta không mường tượng được trời như thế nào. Lại càng khó hiểu khó mường tượng được chỗ đứng của thân xác trên đó. Như thế, tín điều này đặt ra cho trí óc con người chúng ta một bài toán to lớn, vì phải hiểu trời và thân xác như thế nào, phải hiểu về chính con người và tương lai thân xác ra làm sao...

Theo suy tư thần học về bí tích rửa tội của Thánh Phaolô, tương lai chúng ta, những người đưọc Rửa tội đã có sẵn: „ Thiên Chúa  đã cho chúng ta cùng được sống lại và cùng ngự trị với Chúa Giêsu Kitô trên cõi trời." ( Epheso 2, 6).

Như thế tín điều Đức Mẹ về trời cả hồn lẫn xác nói cho chúng ta, điều ứng nghiệm xảy ra nơi Đức Mẹ Maria, qua hiệu qủa của bí tích Rửa tội đã lãnh nhận chúng ta được cùng sống ở trên trời với Chúa- Chúa là nước trời –

Điều khác biệt là nơi Đức Mẹ Maria đã trọn vẹn xảy ra. Không có gì thiếu sót nơi sự sống lại của Đức Mẹ Maria. Còn nơi con người chúng ta, dù đã chịu phép rửa tội trở nên Kitô tô hữu, sự sống lại vẫn chưa có khả năng  đầy đủ, vẫn còn mỏng manh dễ bị tan vỡ.

Đức Mẹ đã được thu nhận gia nhập trọn vẹn vào cộng đoàn với Chúa Giêsu Kitô. Nơi cộng đoàn đó bao gồm cả thân xác mới, mà trí óc con người chúng ta không có thể mường tượng ra được như thế nào.

Tóm lại, điều căn bản của tín điều này là Đức Mẹ Maria hoàn toàn ở bên Thiên Chúa, trọn vẹn bên Chúa Giêsu Kitô, trở nên một tín hữu Chúa Kitô với đầy đủ mọi ân sủng, mọi khả năng."  ( Joseph Ratzinger, Papst Benedickt XVI. , Gott und die Welt, Ein Gespräch mit Peter Seewald, München 2005, tr. 328-329).
Đức Mẹ Maria được đưa lên sống ở trên trời tựa như ngôi sao chiếu ánh sáng dẫn đường cho cho tương lai đời sống con người đang trên đường đi tìm Thiên Chúa, Đấng là nước trời cho con người.

2. Ngôi sao trên triều thiên

Trên bầu trời không gian vũ trụ hằng có những ngôi sao, những giải dài toàn những ngôi sao chiếu ánh sáng lấp lánh vào ban đêm.

Trên mặt đất con người cũng làm chế tạo những ngôi sao thông thường có năm cánh hoặc sơn mầu bạc trắng, hoặc mầu vàng , khi ánh sáng mặt trời hay đèn nến, đèn điện chiếu vào cũng tỏa tia sáng lấp lánh lung linh.

Chung quanh vòng tròn triều thiên của bức tượng ảnh Đức Mẹ Maria cũng có 12 ngôi sao mầu vàng.

Mầu vàng ngôi sao triều thiên Đức Mẹ Maria nói về hình ảnh sự bền vững. Theo sách Khải Huyền của Thánh Gioan, thành thánh Giêrusalem trên trời chiếu tỏa mầu vàng trong sáng ( Kh 21, 18).

Con số 12 ngôi sao ở vòng triều thiên Đức Mẹ có nguồn gốc nơi nền văn hóa con người. Con số 12 trong dân gian hiểu là số mang đến hạnh phúc. Một năm có 12 tháng, ban ngày có 12 tiếng đồng hồ, ban đêm cũng có 12 tiếng đồng hồ.

Kinh Thánh nói đến dân tộc Israel do 12 chi tộc tạo thành. Đi rao giảng tin mừng nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu kêu gọi 12 Tông đồ. Đức Mẹ Maria như Thánh Gioan trong một thị kiến đã thuật lại hình ảnh như sau: Rồi có điềm lạ xuất hiện trên trời: một ngưòi Phụ nữ mình khoác áo mặt trời, chân đạp mặt trăng và đầu đội triều thiên 12 ngôi sao." ( KH 12, 1).

Ngôi sao trên triều thiên Đức Mẹ là dấu chỉ phương hướng cho con người. Đến với Đức Mẹ là điều tốt. Nhưng Đức Mẹ  không muốn con người dừng lại nơi ngài. Chúa Giêsu mới là đích điểm đi đến. Đức Mẹ chỉ hướng đến với Chúa Giêsu. Như trong tiệc cưới Cana, Đức Mẹ đã bảo : Hễ Ngài bảo gì, hãy làm theo!

Đức Mẹ Maria không là ngôi sao, nhưng Đức Mẹ trở thành ngôi sao ban mai dẫn đường cho những ai tin vào Chúa Giêsu.

Đức Mẹ Maria là người sinh hạ nuôi dưỡng Chúa Giêsu. Với con cái người mẹ là tất cả, là niềm cậy trông hy vọng.

Trước tòa ảnh tượng Đức Mẹ lên trời, chúng ta chiêm ngưỡng Đức Mẹ là người mẹ chúng ta trên trời. Đức Mẹ trở nên ngôi sao niềm hy vọng cậy trông cho tất cả mọi người, cho những người đang trong hoàn cảnh đau khổ gặp bước đường khó khăn thiếu thốn.

Và trong kinh cầu Đức Bà chúng ta ca ngợi khấn nguyện: "Đức Bà như ngôi sao sáng vậy!"
Cầu cho chúng con!

--------------------------------

 

15/8-117: Đức Maria hồn xác lên trời (Assumpta)


Lm Hà Văn Minh

 

Giống như sự khởi đầu hiện hữu của Đức Maria trên trần thế, đoạn kết của đời sống thế trần của 15/8-117


Giống như sự khởi đầu hiện hữu của Đức Maria trên trần thế, đoạn kết của đời sống thế trần của Mẹ cũng được Thiên Chúa thánh hiến: Theo truyền thống Giáo huấn công giáo thì “Đức Maria sau khi hoàn tất cuộc sống trần thế đã được đưa về trời vinh quang cả hồn lẫn xác” (DH 3903).

Những sinh hoạt tôn kính Đức Maria vào thế kỷ thứ 6. đã nhắc đến việc thân xác Đức Maria được đưa về trời. Dĩ nhiên việc khẳng định nầy đã đưa lại nhiều vấn nạn, vì nó không dựa vào một chứng cứ lịch sử nào. Ở Đông phương vào thế kỷ thứ 6. và ở Tây phương vào thế kỷ thứ 7. và 8. ngươì ta nói đến lễ Đức Maria ngủ (koimesis / dormitio). Bên Tây phương lễ tưởng nhớ cái chết và việc quay trở về quê trời của Mẹ, nối kết với việc tưởng nhớ thân xác của Mẹ không bị mục nát, được coi như đánh dấu việc đưa Mẹ về trời (assumptio Mariae). Điều muốn trình bày là: Cái chết của Đức Maria có một ý nghĩa đức tin quan trọng, phát sinh bởi việc áp dụng về ý nghĩa (application = Nói về những hoa trái của sự cứu chuộc khách quan, do Chúa Kitô thủ đắc một lần là đủ trong lễ Vượt qua, rồi được thông ban cho từng người, tùy theo đức tin, đức mến và các Bí tích mà họ lãnh nhận [Thomas Aquin, Sth III, q. 49, a 3, ad 1] ) được trình bày cách tổng quát nơi thánh kinh về số phận những người chết (1 Thess 4, 14) trên Đức Maria. Sự đồng hình đồng dạng của người chịu Phép rửa với cái chết và sự Phục sinh của Đức Kitô (Phil 3, 12; Eph 2, 5; Col 3,3) và sự chiên ngắm dung nhan Thiên Chúa cách trọn hảo (1 Cor 13, 12; 1 Gia 3, 2) liên kết với tín điều Trọn Đời Đồng Trinh và Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria trong mối tương quan sâu xa với công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô đưa tới nhận thức: Đức Maria như là một con người ở bên Thiên Chúa một cách trọn hảo hoàn toàn, và số phận của từng người được Thiên Chúa phác hoạ lại trong số phận của Mẹ như là mẫu mực và điển hình (typologie).

Ngay từ đầu niềm xác tín về việc Đức Maria được đưa về trời cả hồn lẫn xác nối kết cách chặt chẽ với việc tín thác vào lời bầu cử của Đức Maria, như tất cả các Thánh tử đạo và các thánh, Mẹ ở bên Chúa Giêsu, và trong sự hoà hợp với sự trung gian của Đức Kitô, Mẹ nâng đỡ Giáo hội lữ hành trên con đường tiến tới hợp nhất với Đức Kitô, phu quân của mình. Vào thế kỷ thứ 7. và thứ 8. các nhà Thần học có thế giá ở Đông phương đều giảng dạy việc thân xác của Đức Maria được đưa về trời (Germanô thành Constantinopel, Gioan Damacus, Theodor Studion).

Ở Tây phương các nhà kinh viện thời hưng thịnh cũng xác tín rằng, Thân xác mang Ngôi lời của Đức Maria là đền thờ Chúa Thánh Thần, đã không bị hủy hoại bởi Nguyên tội (Thomas Aquin, Exp. Sal. Ang.). Có hai tác phẩm nghi ngờ về số phận của Đức Maria: trước tiên là “Adest nobis” (gỉa thuyết cho Ambrosiô Autpertô [† 784] biên soạn) cho rằng, ngươì ta không thể biết về số phận của Đức Maria, kế đến là “Cogitis me” (hình như được biên soạn bởi Paschasiô Radbertô [† 865]) nghi ngờ không biết thân xác của Đức Maria có lên trời vinh hiển hay không. Augustinô trong bộ biên khảo “Ad interrogata” đã xác tín niềm tin về việc thân xác Đức Maria được đưa về trời dựa trên nền tảng chứng cứ Kitô học.

Trong khuôn khổ của vấn đề linh hồn – thân xác nơi kinh viện xuất hiện câu hỏi: căn cứ vào phương thế nào mà sự chung hưởng trọn vẹn với phương tiện trần thế (tức thân xác) có thể lĩnh hội được? Câu hỏi hướng tới số phận của thi hài Đức Maria trong khuôn khổ nhân chủng học và cánh chung học. Vấn đề được đặt ra ở đây không nhắm đến sự hợp nhất thân xác trần thế và vinh hiển của Chúa Giêsu, vì nơi Chúa Giêsu nói đến biến cố mạc khải trực tiếp, qua đó Thiên Chúa Cha biểu lộ sự đồng nhất giữa Chúa Giêsu Phục sinh và trần thế qua “ttrạng thái thần khí” của Người biểu tỏ nơi biến cố hiện ra sau khi sống lại.

Trong quá trình tiến tới tín điều hóa đức tin về Assumpta, một vài giáo huấn của các Đức Giáo hoàng về việc xác Đức Maria được đưa về trời đóng vai trò quan trọng. Như bức thư “Ex litteris tuis” được Đức Alexander III biên soạn năm 1169: “Đức Maria thụ thai tinh tuyền, sinh nở không đau đớn, và vì thế sau khi chết Mẹ không bị hủy hoại” (“Maria concepit sine pudore, peperit sine dolore, et hinc migravit sine corruptione”) (DH 748), và bản văn nói về việc Đức Maria được đưa về trời cả hồn lẫn xác trong việc cải tổ giờ kinh phụng vụ ghi theo lịch, danh sách các thánh đã qua đời (Martyrologium) (1568) của Đức Pio V, đã có một ảnh hưởng rất lớn. Dựa vào lời thỉnh cầu của các tín hữu và sự nhất trí của toàn thể các Giám mục trong Giáo hội công giáo, Đức Piô XII. Đã ban hành tông sắc “Munificentissimus Deus” (1950) (DH 3900 – 3904) tuyên bố tín điều:

“Đây là chân lý đức tin được mặc khải bởi Thiên Chúa: Đức Maria vô nhiễm nguyên tội, Mẹ Thiên Chúa trọn đời đồng trinh, sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế, đã được đưa về trời vinh hiển cả hồn lẫn xác” (DH 3903).

Về cái chết và về thân xác không hư nát của Đức Maria cũng đưa ra vấn nạn: có hay không Đức Maria là người duy nhất trong cộng đoàn các thánh nhân được đặc ân là: toàn thể con người của Mẹ (xác và hồn) được dự phần vào vinh quang của Đấng phục sinh, vinh quang được mặc khải trong biến cố quang lâm, bởi có thể các thánh khác cũng tham dự vào biến cố đó (x. Mt 27, 52)?

Theo một chiều kích khác, biến cố lạ thường về sự trọn hảo của Đức Maria có thể không nhìn đến trong một mối tương quan giữa hồn và xác của Mẹ sau khi chết, nhưng đúng hơn là nhìn đến trong mức độ kết hợp của Mẹ với Đức Giêsu Kitô và với ý muốn cứu độ phổ quát của Người đối với Giáo hội và với nhân loại. Qua cái chết mối tương quan cá nhân của con người đối với Thiên Chúa được biểu lộ trong Đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần. Mối tương quan đó được thể hiện trong những mức độ khác nhau, cái mức độ đó liên quan đến sự kết hợp thâm sâu và sự nguyên vẹn của bản tính con người hiện hữu xác hồn. Công bố tín điều về Đức Maria được cả hồn lẫn xác về trời: vì chỉ có Đức Maria là người duy nhất được nối kết với hành vi cứu chuộc của Đức Kitô trong đức tin và trong ân sủng, Mẹ dự phần vào hình thức phục sinh của Đức Kitô như là người được cứu chuộc đầu tiên và được cứu chuộc cách trọn vẹn. Do đó Mẹ là nguyên mẫu (Typus) của tình trạng toàn vẹn của nhân loại đối với Thiên Chúa, Đấng tạo hoá và Đấng toàn hảo. Sự phân biệt giữa Mẹ và các thánh nằm ở chỗ: Đức Maria là nguyên mẫu và là biểu trưng của việc cứu chuộc qua sự kiện Mẹ nối kết một cách thâm sâu với chính công trình cứu chuộc và lời cầu bầu của Mẹ có một ý nghĩa đặc biệt, một chiều kích rộng lớn và một mức độ sâu đậm đối với sự trọn vẹn của toàn thể nhân loại trong ngày quang lâm của Đức Kitô.

Đức Maria là nguyên mẫu của Giáo hội và đồng thời, căn cứ vào chức vụ Mẹ Thiên Chúa, là chi thể mang nhiều ý nghĩa nhất đối với Thân thể Mầu Nhiệm Chúa Kitô. Bởi đó công đồng Vat. II một lần nữa lập lại xác tín của Giáo hội: “sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế, Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm đã được đưa lên trời hưởng phúc vinh quang cả hồn lẫn xác, và được Thiên Ch1ua tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ để nên giống Con Ngài trọn vẹn hơn, là Chúa các Chúa (x. Kh 19, 16), Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết” (LG 59).

Đức Maria không ngớt dấn thân trong nhiệm cục cứu chuộc, ngay cả khi về trời Mẹ vẫn tiếp tục bổn phận của Mẹ trong nơi “nhiệm cục ân sủng”: “Thực vậy, sau khi về trời, vai trò của Mẹ trong việc cứu độ không chấm dứt, nhưng Mẹ vẫn luôn tiếp tục cầu bầu để đem lại co chúng ta những ân huệ để đem lại chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời. Với tình mẹ hiền, Mẹ chăm sóc những anh em của Con Mẹ đang lữ hành trên đường dương thế và đang gặp bao nguy hiểm thử thách, cho đến khi họ đạt tới hạnh phúc quê trời. Vì thế trong Giáo hội, Đức Trinh Nữ được kêu cầu qua các tước hiệu: Trạng sư, Vị Bảo trợ, Đấng Phù hộ và Đấng trung gian” (LG 62).

--------------------------------

 

15/8-118: ĐỨC MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI


Lm John A. Hardon, S.J.

Đan Quang Tâm dịch

 

Đức Maria Hồn Xác Lên Trời nghĩa là sau cuộc đời tại thế, Đức Maria cả hồn lẫn xác được mang 15/8-118


Đức Maria Hồn Xác Lên Trời nghĩa là sau cuộc đời tại thế, Đức Maria cả hồn lẫn xác được mang lên Trời. Khác với những vị thánh khác, Đức Mẹ lên Trời không chỉ với linh hồn mà còn với thân xác vinh hiển. Vào ngày 1 tháng 11 năm 1950 Đức Giáo hoàng Piô XII đã định tín giáo thuyết này là "tín điều được Thiên Chúa mạc khải" .

Mẹ Thiên Chúa ngay từ giây hoài thai không vướng tội tổ tông. Do đó Mẹ không phải đợi chờ, như chúng ta, để được phục sinh vào ngày sau hết. Mẹ ở với Người Con Thần Linh của mình trong cùng thân xác – mặc dù nay ở trong vinh quang chói lọi – mà Mẹ đã ban cho Người tại Nagiarét. Người đã lên Trời trong thân xác bốn mươi ngày sau khi phục sinh. Mẹ được mông triệu với thân xác lên Trời sau khi Mẹ hoàn tất những ngày tại thế của Mẹ, vào khoảng mười lăm năm sau.

Trong khoảng một ngàn bốn trăm năm, Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được cử hành vào ngày 15 tháng 8. Nay ngày này là một trong những ngày lễ buộc đối với Hội Thánh hoàn vũ (Giáo luật Điều 1246), vào ngày này "tín hữu buộc phải tham dự thánh lễ, và hơn nữa, kiêng làm những công việc hay hoạt động làm ngăn trở sự thờ phượng Thiên Chúa, sự hưởng niềm vui riêng của ngày của Chúa, hoặc sự nghỉ ngơi cần thiết cho tâm trí và thân xác" (Giáo luật Điều 1247).

Mông Triệu và Fatima

Ta có thể rút ra một số bài học nào từ mầu nhiệm đức tin này? Đó chính là những bài học mà Đức Mẹ đã đưa ra cho ta khi Mẹ hiện ra tại Fatima. Phải cầu nguyện, hy sinh, và ăn năn đền tội cho các tội nhân đáng thương đang xúc phạm đến Thiên Chúa.

Đức Maria hồn xác lên trời là lời hứa ta sẽ được phục sinh vinh hiển từ mộ phần – với điều kiện chúng ta cầu nguyện. Không cầu nguyện, ta không thể trung thành phục vụ Thiên Chúa.

Đức Maria hồn xác lên trời là bằng chứng các hy sinh của ta mang lại lợi ích ra sao. Không có những hy sinh nhỏ nhất nào trong những hy sinh mà ta thực hiện để khước từ thú vui thân xác lại trái ý Thiên Chúa cả. Phần thưởng đời đời đáng với cái giá mà ta trả bằng sự tự chế ở đời này. Bằng cách giờ đây từ bỏ những gì ta ưa thích nhưng lại là tội lỗi, và chịu đựng những gì đau đớn cho ta nhưng làm hài lòng Thiên Chúa, ta sẽ hưởng phúc Thiên Đàng với Chúa Giêsu và Mẹ Maria – cả xác lẫn hồn – ở đời sau.

Thông điệp Đức Maria hồn xác lên trời là một mời gọi hãy ăn năn sám hối. Đức Giáo hoàng Piô XII bày tỏ niềm hy vọng rằng vinh quang mới này đối với Mẹ Maria sẽ mang lại "một tinh thần sám hối để thay thế cho thói ham mê khoái lạc đang lan tràn khắp nơi, và một sự đổi mới đời sống gia đình sẽ đem lại sự bình ổn tại những nơi tình trạng ly dị đang phổ biến, và sẽ sinh hoa trái tại những nơi đang thực hiện việc kiểm soát sinh sản".

Nếu ta hy vọng được ở đời đời với Chúa Giêsu thì bây giờ đây ta phải noi gương bắt chước các nhân đức của Mẹ Maria. Mẹ là mẫu gương hoàn thiện về nếp sống cho chúng ta: đơn sơ trong đức tin, vững vàng trong đức cậy và xả kỷ vị tha trong đức mến Chúa yêu người.

--------------------------------

 

15/8-119: Mẹ được Chúa cho hồn xác lên Trời

 

Ngày trọng đại vinh hiển nhất của Mẹ Ma-ri-a cũng như của con cái Mẹ là được Chúa cho hồn 15/8-119


Ngày trọng đại vinh hiển nhất của Mẹ Ma-ri-a cũng như của con cái Mẹ là được Chúa cho hồn xác lên Trời. Ta hãy tìm hiểu:

- Lý do Mẹ được lên Trời.
- Địa vị của Mẹ Ma-ri-a.
- Nhân đức của Mẹ Ma-ri-a.
- Sứ mệnh của Mẹ Ma-ri-a.
- Vinh quang của Mẹ Ma-ri-a.
- Mẹ mời gọi con cái Mẹ cùng lên Trời.

1- Lý do Mẹ được Chúa cho hồn xác lên Trời.

Không phải mãi tới năm 1950, Đức Giáo hoàng Pio XII tuyên bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Chúa mới cho hồn xác Mẹ lên Thiên Đàng, mà niềm tin Mẹ Ma-ri-a được Chúa cho hồn xác lên Trời đã khai mào ngay từ thời Giáo Hội sơ khai. Đó cũng là lý do các tác giả Tin Mừng không ai ghi nhận sau khi Chúa Giê-su phục sinh, Ngài đi gặp Đức Mẹ, vì các Tông Đồ muốn xác định : Mẹ Ma-ri-a luôn luôn ở bên cạnh Con Mẹ, không có một giây phút nào Mẹ-Con xa nhau, nghĩa là khi Chúa Giê-su lên Trời ngay trên thập giá (x Lc 23,43) thì Mẹ cũng đồng hành. Chúa Giê-su Phục Sinh chỉ đến với những người chưa được lên Trời với Ngài. Và như vậy, ngày Đức Pio XII tuyên bố tín điều Hồn Xác Mẹ Lên Trời là ngài muốn cổ võ cho toàn thể loài người phải biết cùng với Mẹ Ma-ri-a cám ơn Chúa, vì Ngài đã cho Mẹ chúng ta hồn xác được lên Trời trước là dấu bảo chứng chắc chắn Mẹ đã ở đâu thì Mẹ cũng muốn cho chúng ta là con cái Mẹ được ở chung.

Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, các tín hữu đã tin hồn xác Mẹ lên Trời, như lời thánh Phao-lô viết cho giáo đoàn Cô-rin-tô : “Như mọi người vì liên đới với A-đam phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Ki-tô (A-đam mới) cũng được Thiên Chúa cho sống. Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình, mở đường là Đức Ki-tô, rồi đến những người thuộc về Đức Ki-tô (chắc chắn Mẹ Ma-ri-a là ưu tiên) vào buổi quang lâm của Ngài” (1Cr 15,22-23 : Bài đọc II).

2- Địa vị của Mẹ Ma-ri-a.

Trong tiệc cưới Ca-na, Mẹ nói với loài người : “Hãy đến với Giê-su, Ngài bảo gì cứ làm theo!” (Ga 2,5) Lời này Mẹ lặp lại nguyên văn lời vua Pha-ra-ôn nói với toàn thể loài người khi lâm cảnh đói khổ chạy đến với vua xin mua lương thực, thì vua lại nói : “Hãy đến cùng Giu-se, ông bảo gì cứ làm theo!” (St 41,35) Mà Giu-se là tiền thân của Đức Giê-su. Vào thời điểm ấy, vua Pha-ra-ôn là người giàu có nhất trên thế gian, vì nhờ tài năng và sự khôn ngoan của Giu-se, vua ra lệnh cho ông Giu-se bung tiền mua lại tất cả thóc lúa của dân trong bảy năm được mùa, để rồi sẽ bán lại cho dân vào thời bảy năm mất mùa tiếp theo đó, và như vậy cả thế giới, ai cũng cần chạy đến với vua Pha-ra-ôn, ai cũng phải tôn trọng vua. Địa vị và danh dự của vua Pha-ra-ôn đã báo trước địa vị và danh dự của Đức Mẹ, vì nhờ Giê-su Con Mẹ khôn ngoan hơn Giu-se đã tích trữ tất cả ơn của Chúa trong các Bí tích Ngài lập, rồi trao cho Mẹ cũng như Hội Thánh quản lý, để tùy Mẹ và Hội Thánh phân phát cho những ai cần chạy đến xin lương thực bất tử (x Ga 19,25-27).

3- Nhân đức của Mẹ Ma-ri-a.

Có hai nhân đức đặc biệt của Mẹ, Mẹ muốn chúng ta dõi theo :

a- Đoán ý muốn của người khác để phục vụ. Trong Tin Mừng ghi lại hai lần Đức Mẹ phục vụ tất cả đều ghi đậm nét, chưa ai đến cậy nhờ Mẹ giúp, vì ngay khi Mẹ biết tình hình người ta đang cần gì, thì Mẹ mau mắn giúp đỡ họ ngay. Cụ thể:
- Mẹ nghe tin bà Ê-ly-sa-bét, chị họ đã gần 100 tuổi mà đang mang thai được 6 tháng, Mẹ hiểu ngay thân phận phụ nữ vào hoàn cảnh như thế rất cần người đến giúp đỡ, thế là Mẹ mau mắn lên đường… (x Lc 1,57t).

- Trong tiệc cưới Ca-na, Mẹ thấy người ta đang lo lắng đi tìm rượu đủ cho thực khách, vì chủ tiệc không trù liệu đủ Thế là Mẹ đứng ngay lên đến nói với Giê-su Con Mẹ : “Họ hết rượu rồi”, và Đức Giê-su đã làm cho họ dư rượu mới ngon hơn (x Ga 2,1-11).

b- Việc cầu nguyện của Mẹ đứng hàng đầu, và liên kết các lời trong Sách Thánh thành bài ca tuyệt vời chúc tụng Chúa. Mẫu cầu nguyện này Hội Thánh đã muốn cho con cái Mẹ noi gương bắt chước như lời Hội Thánh dạy : “Việc cầu nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh” (Hiến Chế Mạc Khải số 25) :

Khi Mẹ lên đường tới nhà nhà bà Ê-ly-sa-bét, ai cũng nghĩ là tác giả Tin Mừng phải ghi lại rất nhiều việc Đức Mẹ giúp chị mình, nhưng Lu-ca không cho ai thấy Mẹ làm gì, chỉ thấy Mẹ cầu nguyện và làm mọi người rộn lên niềm vui, kể cả Gio-an còn trong bụng mẹ cũng nhảy mừng!

4- Sứ mệnh của Mẹ Ma-ri-a.

a- Đời phục vụ của Mẹ diễn tả và báo trước chương trình Thiên Chúa cứu độ loài người.

Đọc lại Tin Mừng Lu-ca, ai cũng nghĩ là Mẹ cần phải ở lại nhà chị họ để phục vụ khi người chị sinh con. Thế mà, tác giả Lu-ca cho biết : Ma-ri-a bắt đầu đến nhà bà Ê-ly-sa-bét, bà đã có thai được 6 tháng, phải ngoài 3 tháng nữa, bà mới sinh con. Vậy mà Mẹ Ma-ri-a chỉ đến nhà người chị có 3 tháng rồi trở về quê. Khi Mẹ về tới nhà thì Gio-an mới sinh ra ! (x Lc 1,56) Thánh sử Lu-ca có ý ghi như thế để xác quyết rằng : Mẹ đã báo trước chương trình cứu độ loài người của Con Mẹ : sau khi Con Mẹ phục vụ ba năm, bị giết và an táng trong mồ ba ngày, rồi phục sinh về Trời, lúc ấy các Tông Đồ ra đi rao giảng, và Hội Thánh được sinh ra.

b- Mẹ cộng tác với Chúa để hoàn tất cuộc sáng tạo loài người.

Tác giả Lu-ca và Gio-an ghi lại 6 lần Mẹ Ma-ri-a nói :

- Mẹ thưa với thiên thần trong ngày truyền tin : “Việc đó xảy đến thế nào vì tôi không biết đến người nam” (Lc 1,34).
- Mẹ đáp lại sau khi được sứ thần giải thích nguyên nhân Mẹ sinh Con Thiên Chúa : “Xin Chúa làm cho tôi điều Chúa nói” (Lc 1,38).
- Mẹ cầu nguyện dài nhất tại nhà chị họ Ê-ly-sa-bét (Lc 1,46-55).
- Mẹ trách Đức Giê-su trốn cha mẹ ở lại Đền Thờ dạy giáo lý : “Sao con làm thế, đây cha mẹ đã vất vả tìm con!” (Lc 2,48).
- Trong tiệc cưới Ca-na, Mẹ nói với Đức Giê-su : “Nhà này hết rượu” (Ga 2,3).
- Mẹ nói với loài người : “Chúa bảo gì con cứ làm theo!” (Ga 2,5)

Thuở ban đầu Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, Ngài nói 6 lần trong sáu ngày, vạn vật xuất hiện rất tốt đẹp. Ta lưu ý Thiên Chúa nói lần thứ 6 trong ngày thứ sáu : “Chúng ta hãy dựng nên loài người giống Chúng Ta” (St 1,26-27). Nhưng thực ra lúc ấy loài người chỉ là một sinh vật (x 1Cr 15,45 – bản dịch CGKPV). Loài người chỉ vượt kiếp sinh vật trở nên giống Thiên Chúa khi biết nghe và thực hành lời Mẹ Ma-ri-a dặn : “Giê-su bảo gì cứ làm theo!” (Ga 2,5)

5- Vinh quang của Mẹ.

Sách Khải huyền diễn tả vinh quang của Mẹ : “Một người phụ nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1) :

- “Mình khoác áo mặt trời” : Mặt trời ám chỉ Thiên Chúa (x Lc 1,78).

- “Trăng sao” : Người Do-thái hiểu là các thần minh ở trên trời, vị thần cao cả nhất trong các thần chính là mặt trăng.

Vậy người phụ nữ là Đức Trinh Nữ Ma-ri-a được vinh quang của Thiên Chúa bao bọc (mặc áo mặt trời), vị thần cao cả trên trời Chúa đặt làm bệ kê chân Mẹ, các thần minh khác diễn tả vinh quang của Mẹ (đầu đội triều thiên 12 ngôi sao).

Hình ảnh đó còn có ý diễn tả toàn thể Hội Thánh (12 ngôi sao) đều vây quanh Mẹ, vinh quang các phần tử trong Hội Thánh là nhận vinh quang Chúa đã ban cho Đức Mẹ. Nói cách khác, vinh quang của Đức Ma-ri-a là cộng lại vinh quang của toàn thể Hội Thánh.

6- Mẹ mời gọi con cái Mẹ cùng lên Trời.

Người ta hỏi Chúa Giê-su : “Nước Trời ở đâu?” Chúa trả lời ngay : “Nước Trời ở giữa các người” (Lc 17,21).

Để hiểu Nước Trời ở giữa loài người, tác giả Lu-ca diễn tả 3 lần Chúa Giê-su lên Trời :

- Ngài lên Trời ngay khi còn treo trên thập giá ở đồi Sọ, như Ngài nói với tên trộm lành : “Hôm nay, anh ở trên Thiên Đàng với Ta” (Lc 23,43).

- Chúa lên Trời trong đêm Chúa nhật Phục Sinh, tại Bê-ta-ni-a. Thánh sử Lu-ca ghi : “Chúa Giê-su dẫn môn đệ đến Bê-ta-ni-a, đoạn Ngài giơ tay chúc lành cho họ. Và xảy ra là đang khi Ngài chúc lành cho họ, thì Ngài đã từ biệt họ và được nhắc lên Trời” (Lc 24,50-51).

- Chúa lên Trời vào ngày thứ năm tại núi Cây Dầu. Tác giả Lu-ca ghi : “Sau cuộc thương khó, Chúa Giê-su đã cho môn đệ thấy mình vẫn sống, với nhiều tang chứng đành rành. Suốt 40 ngày (tức là ngày thứ năm sau Chúa nhật Phục Sinh) Ngài đã hiện ra với họ và nói về Nước Thiên Chúa. Rồi Ngài lên Trời xa cách các môn đệ … Bấy giờ các môn đệ trở về Giê-ru-sa-lem từ núi Cây Dầu, gần bên Giê-ru-sa-lem” (Cv 1,3.11-12)

Lên Trời lần thứ I tại đồi Sọ chính là lúc Chúa đang dâng lễ ; lên Trời lần thứ II vào đêm Chúa nhật, thời gian Giáo Hội sơ khai dâng lễ, tại địa điểm Bê-ta-ni-a, nhắc đến chị Ma-ri-a người mẫu mực nghe Lời Chúa (x Lc 10,38-42) ; lên Trời lần thứ III vào ngày thứ năm, nhằm ngày Chúa Giê-su lập Bí tích Thánh Thể, địa điểm ở núi Cây Dầu, nơi Chúa Giê-su cầu nguyện bắt đầu Hy-tế của Ngài (x Lc 22,39-46)
Vậy Thiên Đàng ở giữa loài người, chính là Thánh lễ Hội Thánh cử hành mà thánh sử Lu-ca đã nhấn mạnh ba lần, qua cách viết Chúa Giê-su lên Trời ba lần.

Tại tiệc cưới Ca-na báo trước hình ảnh tiệc Cưới Con Chiên, Hy-tế Chúa Giê-su, Đức Ma-ri-a căn dặn loài người : “Giê-su bảo gì, cứ làm theo!” (Ga 2,5) Cụ thể làm theo lời Chúa Giê-su dạy là “vác Thánh giá hằng ngày theo Ta”, là Mẹ muốn chúng ta đi dự lễ mỗi ngày để cùng với Mẹ bước chân vào Nước Trời.

Cầu nguyện : “Hoàng hậu – Maria - đứng bên hữu Đức Vua, mặc đồ trang điểm vàng ròng lộng lẫy. Lòng hoan hỷ đoàn người tiến bước, vẻ tưng bừng vào tận hoàng cung” (Tv 45/44,10.16 : Đáp ca).

-------------
THUỘC LÒNG.
Mẹ Ma-ri-a dạy loài người chỉ có một câu : “Giê-su bảo gì cứ làm theo!” (Ga 2,5).

--------------------------------

 

15/8-120: TRUYỀN THỐNG VÀ THÁNH KINH NÓI GÌ?


LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

Lm. VŨ XUÂN HẠNH

 

Ta không biết gì về việc Chúa rước Đức Mẹ hay Đức Mẹ rời cuộc sống trần gian bằng cách thức 15/8-120


Ta không biết gì về việc Chúa rước Đức Mẹ hay Đức Mẹ rời cuộc sống trần gian bằng cách thức nào. Chỉ có một văn bản ngụy thư “Đức Mẹ đi vào giấc ngủ” (Mary’s Dormition), thế kỷ thứ V, cho biết, những giây phút cuối đời của Đức Mẹ, khi các tông đồ vây quanh để cầu nguyện thì Chúa Kitô đến đưa Đức Mẹ về Thiên Đàng. Dù sao truyền thống của Hội Thánh và một vài hình ảnh mà nhiều bản văn Kinh Thánh gợi lên, củng cố cho cho đức tin của chúng ta trong việc nhìn nhận Người Mẹ Thật của chúng ta đã tiên phong hưởng hạnh phúc cả hồn lẫn xác.

I. Truyền thống đức tin của Hội Thánh.

Niềm tin Đức Mẹ được triệu hồi cả hồn lẫn xác về trời bắt nguồn từ truyền thống xa xưa của Hội Thánh. Đến thế kỷ VI, Hội Thánh phương đông Đã sớm cử hành lễ Đức Mẹ Đi Vào Giấc Ngủ vào khoảng giữa tháng giêng. Sau này, hoàng đế Maurice (582-602) xác định dứt khoát lễ nay cử hàng ngày 15 tháng 8. Với lòng sùng kính Đức Mẹ cách đặc biệt, Đức Giáo hoàng Theodore (642-649) đã muốn thiết lập lễ này cho nghi lễ Rôma ngay thế kỷ sau đó, thế kỷ thứ VII. Năm 813, Công Đồng Mayence truyền cho toàn Châu Âu cử hành lễ này với tên gọi là Lễ Mông Triệu (Thiên Chúa triệu hồi Đức Mẹ về trời), chính thức nhìn nhận cách mặc nhiên Đức Mẹ được triệu hồi về trời.

Đến năm 1854, sau khi đức Piô IX công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm, thì phong trào sùng kính Đức Mẹ vốn đã mạnh mẽ từ lâu trong Hội Thánh, nay như được dịp khuấy động dữ dội hơn. Chỉ trong vòng chưa đầy một trăm năm sau, tính đến năm 1945, khắp thế giới có khoảng tám triệu thỉnh nguyện thư của các tín hữu và khoảng gần 100. 000 thỉnh nguyện thư khác đến từ các giám mục, linh mục, các tu sĩ, các nhà thần học xin Tòa Thánh chính thức xác định tín điều về Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên hay Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Trước những lời thỉnh cầu tha thiết ấy, để có thể quyết định một cách thận trọng nhất trước vấn đề đức tin quan trọng này, Đức Piô XII công bố Thông Điệp Deiparae Virginis để xin ý kiến Giám mục đoàn trên khắp thế giới. Thật lạ lùng, sau năm năm hỏi ý kiến, chỉ có sáu giám mục nghi ngờ về tính chất ‘mặc khải’ của việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.

Dù niềm tin Đức Mẹ hồn xác về trời đã có từ rất lâu trong truyền thống Hội Thánh, nhưng mãi đến ngày 1.11.1950, tức vào ngày lễ các thánh Nam Nữ, bằng một phán quyết long trọng: “Chúng tôi khẳng định, chúng tôi tuyên bố và chúng tôi minh định như một tín điều được Thiên Chúa mặc khải rằng Đức Maria Vô Nhiễm trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa, sau khi hoàn tất cuộc sống trần gian, đã được cất nhắc về vinh quang trên trời cả xác lẫn hồn” (tông hiến Munificentissimus Deus).

Đức Giáo hoàng đã không chọn ngày nào, lại chọn ngày lễ các thánh Nam Nữ để công bố tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời. Tôi thấy có một ý nghĩa lớn: Giữa hàng ngũ các thánh của Chúa, Đức Maria trổi vượt trên tất cả về sự thánh thiện và lòng yêu mến Chúa. Sự thánh thiện tuyệt vời của Đức Mẹ đã mở đường cho Đức Mẹ đi tiên phong trước mọi thụ tạo, tiến về cùng Chúa, hưởng vinh quang nơi Chúa bằng toàn bộ con người, gồm cả xác lẫn hồn của Đức Mẹ.

II. Vài hình ảnh gợi ý trong các bản văn Thánh Kinh của ngày lễ.

 Ta chú ý lời của Đức Maria trong Tin Mừng: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, lòng tôi hoan hỷ trong TYhiên CHúa, Đấng Cứu Độ tôi” (Lc 1, 46-47). Chính Đức Mẹ̣ – Đức Mẹ chứ không phải bất cứ tập thể hay cá nhân nào, dù là Hội Thánh hay chúng ta – đã ca ngợi Chúa, ca ngợi lòng thương xót của Chúa. Đức Mẹ đã tuyên xưng hành động cứu độ của Chúa, và gọi Chúa là “Đấng Cứu độ tôi”. Những chữ “Đấng Cứu độ tôi”, quả thật là lời quy hướng về Chúa. Đức Mẹ đã nhìn nhận, đã tin tưởng thực sự rằng: Chỉ có Chúa, chỉ trong Chúa, Đức Mẹ mới được vinh quang và hạnh phúc vô cùng như thế.

Lời ca ngợi quy hướng về Thiên Chúa của Đức Mẹ” “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, lòng tôi hoan hỷ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi”, còn được hỗ trợ bởi nhiều lời Kinh Thánh khác. Chẳng hạn, lời thánh Phaolô trong bài đọc II: : “Đức Kitô đã từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của nhữn kẻ yên giấc…Hoa quả đầu mùa là Đức Kitô, đoạn đến những kẻ thuộc về Đức Kitô, những kẻ đã tin Người xuống thế: rồi đến tận cùng, khi Người đã trao vương quốc lại cho Thiên Chúa Cha, và đã tiêu diệt mọi đầu mục, quyền năng và thế lực” (1Cr 15, 20tt). Đã từng có ai thuộc về Chúa Kitô như Đức Mẹ? Bởi thế, nếu Chúa Kitô là hoa quả đầu mùa, đã trở về trời cả hồn và xác, thì Đức Mẹ, người thuộc về hoa quả đầu mùa ấy một cách trọn vẹn, cũng được đưa về trời hồn xác, không có gì là điều khó hiểu. Bởi chính Đấng Cứu Độ đã thực thi ơn cứu độ trên khắp nhân loại, chắc chắn sẽ thực thi cách hoàn hảo nhất hành động cứu độ ấy trên chính người mẹ của mình.

Bài đọc I, trích sách Khải Huyền kết thúc: “Nay sự cứu độ, quyền năng, vương quyền của Thiên Chúa chúng ta và uy quyền của Chúa Kitô của Người đã được thực hiện” (Kh 12, 10). Đây là lời nhấn mạnh sự chiến thắng trong ơn cứu độ của Chúa Kitô. Chắc chắn như chúng ta, Đức Mẹ đã không thể làm gì ngoài sức mình. Nhưng Đức Mẹ biết dùng sức mình để chiến đấu trong ơn thánh Chúa. Đức Mẹ đã không sống hay làm một mình, nhưng phó thác đời mình cho Chúa, để nhờ Chúa mà Đức Mẹ chiến thắng. Bởi Đức Mẹ tin chắc rằng, dù phải sống trong đau thương đến đâu, thậm chí nỗi đau đớn đến cùng cực như người mang thai “kêu la chuyển bụng, và đau đớn sinh con”, hay sự dữ ập đến hãi hùng như “con rồng đỏ khổng lồ” đang đe dọa dữ dội, thì sự cứu độ của Chúa và vương quyền của Chúa Kitô đã được thực hiện. Mà sự cứu độ của Chúa đã được thực hiện, thì sự cứu độ ấy, chắc chắc bao trùm lên chính cuộc đời của Đức Mẹ. Đức Mẹ đã sống và chiến đấu với mọi thử thách trong Chúa. Ơn cứu độ dành cho tất cả những ai kiên trì chiến đầu và chiến thắng. Ơn cứu độ ấy thật xứng đáng trước tiên dành cho Mẹ của Chúa Kitô, người phụ nữ chiến thắng.

Điểm qua ba bài đọc, ta nhận ra: cùng đích của mọi ơn lành là chính Chúa Kitô. Bởi thế, dù là lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời, nhưng Hội Thánh lại mời gọi ta hướng về Thiên Chúa, hướng về Chúa Kitô. Bởi chỉ nhờ ơn cứu độ do Chúa Kitô thực hiện trong cuộc phục sinh vinh hiển của Người, theo ý Thiên Chúa, Đức Meï môùi ñöôïc đưa ra khỏi trần gian, được trọng thưởng đặc biệt hồn xác lên trời. Bởi vậy, mừng lễ hôm nay là mừng sự nối kết gần gũi hết sức giữa niềm tin Mông Triệu của Đức Mẹ và niềm tin phục sinh của Chúa Kitô, người Con một yêu dấu của Đức Mẹ. Đó là sợi dây liên kết tất yếu giữa Mẹ và Con. Bởi như Chúa đã phục sinh thế nào, thì Mẹ của Chúa cũng là người trước hết hưởng vinh quang phục sinh của Con mình thế ấy. Chúa đã không để Đức Mẹ chịu cảnh hư nát, vì Đức Mẹ là Mẹ của Chúa, Đấng Vĩnh Cửu. Vì vậy, chúng ta tôn vinh Đức Maria hồn xác lên trời, cũng đồng thời là lúc chúng ta tôn vinh mầu nhiệm phục sinh cao cả của Chúa Kitô.

Đức Mẹ đã về trời, đó là dấu chỉ hữu hiệu cho đức tin của ta: Tương lai không còn là điều đáng ngại lo lắng, nhưng trở nên điều đáng quan tâm xây dựng, và cuộc sống này trở thành những ngày chuẩn bị cho tương lai ấy. Chúng ta chuẩn bị bằng cách bắt chước Đức Mẹ sống lành thánh trong tin yêu, sống niềm phó thác tuyệt đối trong tay Chúa, biết lắng nghe, thực thi Lời Chúa, sống tư cách làm con Chúa trong đời sống bác ái với anh em… Chúng ta hãy nhìn lên Đức Mẹ để thấy rằng, Đức Mẹ dù là người Nữ của chiến thắng, người Nữ vinh quang với triều thiên sao sáng, nhưng bị vây bủa đầy chông gai, thử thách. Nhìn lên Đức Mẹ như thế, để nhận ra chính mình mà vững niềm cậy trông. Bởi chúng ta cũng phải cam chịu nhiều thử thách. Vinh quang chỉ có thể lớn lên từ trong thử thách mà thôi.

Lạy Chúa Giêsu, nhờ công nghiệp của Đức Mẹ, xin thánh hóa toàn bộ cuộc đời chúng con, để chúng con cùng được như Đức Mẹ, xứng đáng lãnh lấy phần thưởng đời đời trên thiên quốc. Amen.

--------------------------------

 

15/8-121: ĐỨC MẸ HỒN XÁC VỀ TRỜI HIỂN VINH

 

Nhân dịp mừng kính Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời 15/8 Chúng tôi xin trích thuật lại mẫu truyện 15/8-121


Nhân dịp mừng kính Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời 15/8 Chúng tôi xin trích thuật lại mẫu truyện kể về Đức Mẹ từ biệt trần gian như thế nào và Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời hiển vinh ra sao ? Chúng ta cùng suy niệm và hãy luôn đến với Mẹ để tìm nguồn an ủi và bình yên.

Mẹ Từ Biệt Cõi Thế.

Ba ngày trước khi Mẹ từ trần, các Tông Đồ và Môn Đệ đã tụ họp đông đủ tại Jêrusalem trong mái ấm nhà Tiệc Ly. Thánh Phêrô đến trước nhất, đến Phaolô rồi đến các Tông Đồ khác. Mẹ tiếp đón các Ngài bằng một tình thương hiền ái, Mẹ xin các vị ban phép lành trong xúc động. Mẹ từ giã từng Môn Đệ, từng Tông Đồ và chung tất cả những người tham dự, rồi Mẹ đứng lên và nói với các Tông Đồ rằng :

“ Hỡi các con yêu dấu, các con là Thầy của Mẹ, Mẹ thiết tha yêu thương các con trong Con Chí Thánh của Mẹ. Theo ý Người, Mẹ sắp sửa về trời, nhưng ở đó, Mẹ hứa sẽ ấp ủ các con trong Trái Tim Mẹ như một người Mẹ. Xin các con hãy cố gắng làm vinh danh Chúa và truyền bá đức tin. Các con hãy giữ lời Con Chí Thánh Mẹ, hãy tưởng niệm cuộc sống và cái chết của Người, hãy thực hành giáo lý của Người, hãy yêu mến Giáo Hội. Các con hãy yêu thương nhau trong mối dây Đức Ai hòa thuận. Còn con, hỡi Phêrô, Mẹ xin trao phó cho con Gioan và tất cả mọi người.”

Lời đó như mũi tên lửa xuyên cắm vào tâm hồn mỗi người hiện diện. Ai cũng tê tái đau khổ trào lệ xuống tay Mẹ yêu dấu của mình. Một lúc sau Mẹ khuyên mọi người im lặng cầu nguyện với Mẹ. Nhà Tiệc Ly ngập đầy hương thơm thiên quốc. Một ánh sáng chói lọi từ nhà phát ra, ai ai cũng nhìn thấy. Mẹ cúi mình trên chiếc sạp gỗ nhỏ, chắp tay lại, mắt nhìm cắm vào Chúa Giêsu, Trái Tim Mẹ cháy bừng lên trong tình yêu mến Chúa. Các Thiên Thần hát lên những bản tình ca diễm lệ. Mẹ thốt lên lời cuối cùng của Chúa Giêsu trên cây Thánh Giá “Con phó Linh Hồn con trong tay Cha.”

Mẹ nhắm mắt, tắt thở. Mẹ đã tắt thở vì tình yêu Chúa mãnh liệt, không còn phép lạ nào ngăn cản nữa, nên đã phá vỡ những ràng buộc của thân xác, chứ không phải một suy nhược bệnh tật hay tai nạn nào. Mẹ sống nhờ phép lạ. Phép lạ ngừng, Mẹ đi vào cõi chết !

Linh Hồn nguyên tuyền của Mẹ từ giã Thân Xác Trinh Vẹn của Mẹ, và ngay lúc đó, Mẹ được tôn lên ngai trong một vinh quang khôn tả. Tại nhà Tiệc Ly, mọi người nghe được tiếng nhạc thiên quốc xa dần trong không gian. Đoàn Thần Thánh tháp tùng đã đi theo Chúa Giêsu và Mẹ lên trời.

Thân xác Mẹ là Cung Thánh của Thiên Chúa ngự trị, mặc một vẻ lộng lẫy chói ngời, và tỏa hương thơm thánh thoát. Các Tông Đồ buồn nhưng thanh thoát hân hoan trước những việc lạ lùng vô song ấy. Tất cả đều như ngây ngất một lúc dài, rồi mới bắt đầu hát lên được bài thánh ca mừng Mẹ.

Mẹ qua đời vào ngày thứ Sáu, lúc 3 giờ chiều, ngày 13 tháng 8 năm 55 sau Chúa Giáng Sinh. Năm ấy Mẹ được 70 tuổi kém 16 ngày.

Các Tông đồ lấy áo quan đem vào bên giường Mẹ, hai Ngài kính cẩn nương thi thể Mẹ đặt vào áo quan. Ánh ngời chói giảm đi mãi cho tới lúc mọi người nhìn thấy gương mặt Mẹ và đôi tay. Các Tông Đồ khiêng Xác Thánh Mẹ qua phố Jêrusalem đến mồ. Có hàng ngàn hàng vạn các Thiên Thần từ trời xuống đưa xác Mẹ. Thánh Phêrô và Gioan đặt xác Mẹ vào trong mồ, với niềm tin kính và dễ dàng như khi đặt vào áo quan. Các Ngài lăn tảng đá lớn lấp cửa mồ theo phong tục. Lễ an táng xong,

Các Thánh trở về trời, nhưng các Thiên Thần hầu cận vẫn còn ở lại tiếp tục tấu nhạc cho tới khi dân chúng giải tán hết.

Mẹ Vinh Quang Hồn Xác Về Trời

Linh hồn rất Thánh Mẹ đã hưởng phúc trên Thiên Đàng 3 ngày, Thiên Chúa tỏ cho các Thần Thánh biết quyết định hằng hữu của Ngài, là phục sinh cho Xác Thể đáng kính của Mẹ. Tới lúc đó, Chúa Giêsu từ trời đem linh hồn Mẹ xuống mồ thánh của Mẹ, giữa muôn vàn Thiên Thần, Các Thánh, các Tổ Phụ và các Tiên Tri. Đến mồ thánh, Chúa phán :

Mẹ của Cha đã được dựng thai Vô Nhiễm, Cha đã mặc lấy nhân tính từ nơi bản thể Vô Nhiễm ấy. Thể Xác Cha là Thể Xác của Mẹ. Mẹ cũng đã đồng công vào mọi công trình cứu chuộc của Cha, nên Cha phải phục sinh cho Mẹ để Mẹ nên giống Cha mọi sự .”

Toàn thể Các Thánh đều ca tụng, tán dương trước lời công bố của Chúa Giêsu. Tức thì linh hồn vinh hiển của Mẹ vào lại thân xác đồng trinh của Mẹ, trả lại sự sống và tất cả mỹ lệ cho thân xác ấy mà không hề chạm đến tảng đá che cửa mồ. Hôm đó là ngày Chúa Nhật 15 tháng 8, liền sau nửa đêm Xác Thánh Mẹ ở trong mồ 30 giờ, như Xác Thánh của Chúa.

Một cuộc cung nghinh trang trọng đầy hoan lạc không thể tả được, giữa các Thần Thánh rước Mẹ về Thiên Đàng cả hồn lẫn thể xác. Chúa Cha ra tiếp đón Mẹ với một cuộc tiếp đón thỏa lòng nhất. Chúa Cha phán “ Con yêu dấu, Con hãy lên hưởng vinh quang hơn hết các thụ tạo ” Mẹ chìm ngập trong đại dương vô cùng của Thần Tính Thiên Chúa. Chúa Cha lại phán : “Maria nữ tỳ của Chúng Ta, Con đã làm cho Chúng Ta thỏa lòng. Con có toàn quyền trên Vương Quốc Chúng Ta, và được tôn phong làm Chủ Mẫu, làm Nữ Vương độc nhất của Thiên Quốc

Ba Ngôi Thiên Chúa đặt trên đầu Mẹ một Vương Miện Vinh Quang cực kỳ lộng lẫy, rạng chiếu luồng sáng tuyệt kỳ. Cùng lúc ấy từ ngai Chúa phán ra : “Hỡi người Con chí ái, Vương Quốc của Ta là Vương Quốc của Con, Con là Chủ Mẫu, là Nữ Vương các loài thụ tạo. Từ ngai cao cả này Con sẽ thống trị toàn thể thụ tạo, hỏa ngục, trần gian và thiên đàng. Mọi loài đều phải phục tùng Con. Chúng Ta trao ủy cho Con quyền bính Thần Linh của Chúng Ta, để Con nâng đỡ, bảo trợ và làm Mẹ hết mọi người công chính và là Mẹ Giáo Hội chiến đấu trần gian .”

Trong lúc ở Thiên Đàng xẩy ra sự kiện vinh quang đó, thì ở trần gian, nơi phần mộ của Mẹ. Thánh Phêrô và Gioan nhận thấy tiếng nhạc Thần Trời đã ngưng, nhờ ánh sáng Thánh Linh soi dẫn, các Ngài kết luận :

 “ Mẹ đã phục sinh và lên trời cả hồn cả xác .”

Tảng đá che lấp cửa mồ được cất ra, mọi người chỉ còn thấy trong mồ chiếc áo còn nguyên trạng thái khi niệm. Thánh Phêrô nâng chiếc áo lên rồi quỳ xuống, tỏ lòng tôn kính tin phục Mẹ đã phục sinh và lên Trời.
Trích Truyện Cuộc Đời Của Đức Mẹ

do Tác giả : Thánh nữ Maria Agrêđa tường thuật

--------------------------------

 

15/8-122: KINH MAGNIFICAT


 (Lc 1,46-55)

LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI A B C

VĂN MẠCH

 

Trong phúc âm Lc, kinh Magnificat kết thúc hai trình thuật truyền tin và thăm viếng. Nó được15/8-122


Trong phúc âm Lc, kinh Magnificat kết thúc hai trình thuật truyền tin và thăm viếng. Nó được trình bày như một thánh ca tạ ơn, mà đức Maria dâng lên TC để ca tụng đặc ân được tuyển chọn làm Mẹ Đấng Thiên sai.

Thật vậy, đối tượng của sứ điệp truyền tin là: đức Maria thấy mình được gọi làm Mẹ Đấng Thiên sai, Mẹ đồng trinh nhờ sự can thiệp của Thánh Thần. Để bảo chứng cho việc can thiệp thần linh quyền năng ấy, thiên thần đã đưa ra dấu chỉ bà Elizabet được thụ thai kỳ lạ. Và trình thuật thăm viếng tiếp theo là sự xác nhận dấu lạ này. Bây giờ câu chuyện được kết thúc bằng việc đức Maria vui mừng và cảm tạ. Ngài hết lòng ca ngợi TC đã đoái thương kén chọn những kẻ hèn mọn nhất trong các tôi tớ để thực hiện ý định cứu nhân độ thế của Người.

CƠ CẤU BẢN VĂN

Xét về cơ cấu, kinh Magnificat thuộc văn thể thánh vịnh. Đàng khác, nó có nhiều kiểu nói song song với tập thánh vịnh hơn cả.

Bài ca diễn tiến một cách có tiết điệu. Nhưng khó mà chia toàn thể bản văn thành từng đoạn chính xác. Có thể tạm phân biệt ba giai đoạn diễn tiến tư tưởng như sau: sau tiếng kêu đầy vui mừng đầu tiên và rất vắn gọn (46b-47), người cầu kinh trình bày 3 lý do ca tụng của bà:

1. Lý do cá nhân: TC đã thương đoái đến phận hèn tớ nữ Người, và đã làm cho bà những việc kỳ diệu (c.48-49).

2. Phổ quát hóa lý do trên: TC hằng đoái thương những kẻ kính sợ Người, những người khiêm hạ, những kẻ túng đói, ngược lại Người biểu dương quyền lực chống lại những kẻ kiêu ngạo, quyền thế, giàu sang (c.50-53).

3. Tầm mức cánh chung của lòng thương xót TC: bây giờ mở đầu cho sự phục hồi Israel và thể hiện lới hứa (c.54-56).

NGUỒN GỐC BÀI CA VÀ Ý HƯỚNG TÁC GIẢ PHÚC ÂM

Khoa phê bình hiện nay cho rằng kinh Magnificat là một mẫu văn được ráp nối thêm. Đầu tiên nó là một bài thánh ca độc lập rồi được Lc (hay nguồn mà ông xử dụng) đem vào được văn mạch, sau khi sửa lại đôi chút.

Thật vậy, chỉ cần nhìn những câu chuyện chuyển tiếp văn mạch là đủ thấy ngay đây là một bản văn được thêm vào: ở đầu bài, câu 46a ("và Maria nói") là một câu nhập đề gượng gạo muốn đặt đâu cũng được. Cuối bài, câu 56 ("Và đức Maria ở lại với bà ta chừng lối 3 tháng") không ăn khớp chút nào với kinh Magnificat. Đại danh từ “bà ta” ở đây chỉ bà Elizabeth, kẻ mà người ta đã không còn nhắc đến, không còn nghĩ đến từ 14 câu rồi. Câu 56 đáng ra phải theo sau các câu 42-45 (lời bà Elisabet ngợi khen Maria) nếu bài Magnificat không xen vào.

Hơn nữa xét về nội dung, bài tụng ca này không liên hệ chặt chẽ với mạch văn. Nhất là nó không nói gì đến tình trạng của đức Maria (thiên chức làm Mẹ Đấng Thiên sai) hay đến những hoàn cảnh của cuộc đi thăm viếng. Phần lớn, bài ca gồm những mệnh đề rất phổ thông, trích dẫn từ thánh kinh: những kiểu nói đạo đức nhưng thông dụng, không có gì độc đáo. Trong khi đó văn mạch không nhấn mạnh tí gì đến thân phận nghèo nàn của trinh nữ và càng không nói đến sự hạ nhục bọn người tự kiêu. Và việc nhắc đến quyền năng TC trên Maria và trên những người quyền thế của trần gian hoàn toàn khác nhau.

Cuối cùng, kinh Magnificat, trong dạng thức hiện nay, không thể phát sinh do đức Maria. Người ta không nghĩ Ngài đã lặp lại (và đọc lại) cho Lc hay cho những người tâm phúc khác lời kinh đã hát ngày xưa. Người ta lại càng không thể cho rằng Lc, một Kitô hữu thuộc văn minh Hy Lạp, đã tự mình soạn ra bài tụng ca này, một bài ca hầu như được kết cấu với những công thức rút từ thánh kinh, có nhiều tính chất Do thái. Ngoài ra, kinh Magnificat tán tụng việc hoàn tất những lời hứa thiên sai. Vì thế người ta phỏng đoán nó bắt nguồn từ các Kitô hữu gốc Do thái.
Dù sao, bài ca đã được khéo léo đưa vào văn mạch hiện nay, bài ca tạ ơn và vui mừng cứu chuộc này kết thúc một cách đẹp đẽ cảnh truyền tin và Thăm viếng. Nó đáp trả lời mời gọi đầu tiên của Thiên thần: “Hãy vui lên, hỡi người được biệt đãi”. Đây là một phụ nữ đang nói và tự xưng là “nữ tì” của Chúa (c.48, cũng như ở 38), một nữ tì đáng cao rao là “diễm phúc” (c.48, cũng như ở 45), nhờ sự can thiệp của Đấng quyền năng cao cả (c.49, cũng như ở 35. 37, nhưng không phải 51-53).

Dù sao những liên hệ thành ngữ này chỉ tạo nên những chắp nối nhỏ, những chỗ sửa đổi ít oi để khỏi phản lại luận đề của đoạn văn trước. Bài thánh ca bắt nguồn từ những môi trường của giáo hội sơ khai kề cận trinh nữ, những môi trường hằng lưu tâm đến các biến cố thời thơ ấu CGS. Cũng gần như lời bà Elisabet ca ngợi đức Maria (c.42-45), bài tụng ca này truyền lại cho chúng ta dư âm lòng sùng kính của các Kitô đầu tiên đối với Mẹ CGS, và cho thấy cách thức người ta diễn tả tâm trạng Ngài trước việc khai mào ơn cứu rỗi và việc Ngài được tuyển chọn. Dưới cái nhìn của Lc (và của truyền thống ông) thì không ai có thể mang lại ý nghĩa tràn đầy cho những kiểu nói tràn đầy của lòng đạo đức Israel hơn đức Maria, cũng không ai hơn Ngài trong việc ca ngợi buổi hừng đông của ơn cứu độ.

KẾT LUẬN

Được dệt bằng những công thức CƯ rất cổ truyền, kinh Magnificat là kết tinh lòng đạo đức của dân TC xưa. Nó diễn tả một cách khéo léo các tâm tình sâu xa của mẹ đấng Thiên sai trong giây phút được TC chọn gọi: lòng khiêm nhường, sự thán phục, niềm phấn khởi, cảm tình biết ơn sâu xa và tâm hồn thờ kính.

Là tác phẩm của cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên, kinh Magnificat diễn tả thái độ của chính giáo hội trước việc Chúa Kitô nhập thế và việc khai mào ơn cứu độ. Do đó, nó cũng là lời nguyện cầu của chúng ta, liên kết mật thiết chúng ta với mẹ Chúa Kitô để muôn đời tán tụng lòng từ bi lân tuất của TC cứu chuộc.

Bản pháp ngữ của P.E.Jacquemin
Assembleés du Seigner, số 66

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Maria là cả cõi lòng đón nhận mà TC đổ đầy Thánh Thần để làm đảo lộn trật tự các giá trị của thế giới tội lỗi:

a. Cõi lòng đón nhận: “Sự gì yếu đuối trong thế gian thì chính TC lại chọn để làm xấu hổ những gì mạnh mẽ” (1Cor 1,27). Maria là một thiếu nữ nghèo của một làng quê. Cô không hề có ý nghĩ dựa vào những phương thế của mình để biến đổi thế giới. Cô đã đặt hết niềm tín nhiệm vào TC. Cô sẵn sàng vâng lời TC trong mọi sự. Cô tự trở nên như “trống rỗng” trước mặt TC.

b. TC đổ đầy: nếu Elisabet ca tụng Maria vì TC đã hành động nơi cô thì Maria lại không ca tụng mình, mà tạ ơn chúc tụng Chúa. Chính Ngài là đấng toàn năng đã thực hiện những điều vĩ đại nơi cô. Chính Người mới có tên là Thánh, chứ không phải Maria; chính sức mạnh cánh tay TC, chứ không phải công lao cá nhân Maria, đã cứu Israel qua Maria.

c. Để thay đổi trật tự mọi sự: sự sắp sẵn của Maria và ân sủng của TC gây nên một sự đảo lộn toàn diện các giá trị trong thế gian: người quyền thế bị hạ bệ và những kẻ khiêm nhường được nâng cao; người đói khát được no đầy và kẻ giàu có trở về tay trắng. Ta nghe như vọng lại dư âm tám mối phúc thật.

2. Lễ Mẹ Lên Trời nói lên sự đảo lộn các giá trị: người tự xưng là “tớ nữ của Chúa” (Lc 1,38) từ nay sẽ được gọi là “Nữ Vương các thiên thần” (kinh cầu đức Bà). Ta vui mừng khi thấy TC thực hiện nơi Mẹ các lời hứa của tám mối phúc thật; và đây là động lực khích lệ ta sống đời phúc âm.

3. Mẹ Maria đã được Chúa đưa ngay về với Người cả hồn lẫn xác, là vì suốt đời Mẹ đã chọn lựa TC từng mỗi phút giây. Tiếng “xin vâng” khi được truyền tin (c.38) và việc thừa nhận mình là “tớ nữ TC” (c.48) đủ nói lên thái độ căn bản của đời mẹ: luôn tìm thánh ý Chúa, luôn sống cho Người, luôn chấp nhận mọi nghịch cảnh vì Người. Do đó, khi bước vào vĩnh cửu, mẹ đã chọn lựa ngay TC một cách dễ dàng. Để được hạnh phúc như mẹ, chúng ta cũng hãy bắt đầu chọn Chúa ngay từ giờ phút này. Đừng có thái độ buông xuôi, lừng khừng, tự nhủ sẽ ăn năn được giờ sau hết. Việc chọn lựa TC trong giây phút sau cùng (để được hạnh phúc thiên đàng) tùy thuộc việc chọn lựa chính Ngài hôm nạy. Nếu trong đời này, chúng ta không để cho mình bị mù quáng và nô lệ bởi đam mê ích kỷ, thì được giây phút chọn lựa chung quyết chúng ta có đủ sáng suốt và tự do để chọn hạnh phúc đích thực là TC. Người làm no thỏa kẻ đói khát, ước mong, kiếm tìm Người và đuổi về tay trắng những tâm hồn đầy ngập cái tôi, ứ tràn đam mê dục vọng.

Hãy sống đời mến yêu TC như Mẹ Maria, để được thiên đàng là việc đi dần vào tình yêu TC ngay từ cuộc sống trần gian.

--------------------------------

 

15/8-123: NGƯỜI PHỤ NỮ VINH QUANG

 

Mục đích chính của lễ Đức Mẹ linh hồn và xác lên trời không chỉ nhằm tôn vinh Đức Mẹ, nhưng 15/8-123


Mục đích chính của lễ Đức Mẹ linh hồn và xác lên trời không chỉ nhằm tôn vinh Đức Mẹ, nhưng là tôn vinh Thiên Chúa, vì cuộc đời Đức Mẹ là một chuỗi những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện. Chiêm ngưỡng vinh quang của Đức Mẹ, chúng ta tạ ơn Chúa đã ban cho Đức Mẹ những điều kỳ diệu ấy, đồng thời xin cho chúng ta luôn noi gương Đức Mẹ trong cuộc đời dương thế, mặc dù còn nhiều thử thách gian nan.

Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu, khi sinh thời đã nói: “Khi nói về Đức Trinh nữ Maria, phải trình bày Đức Mẹ như một nhân vật mà chúng ta có thể bắt chước và một Đức Maria như các tác giả Phúc Âm muốn trình bày”. Thánh nữ cho rằng, nếu chỉ nói đến những điều cao siêu vĩ đại mà thôi, thì chúng ta chỉ cung kính ca tụng mà không noi gương bắt chước Đức Mẹ.

Trong ngày lễ Đức Mẹ về trời hôm nay, chúng ta chú ý tới cả hai khía cạnh: tôn vinh Đức Trinh nữ Maria và noi gương bắt chước Đức Mẹ.

Thánh Gioan Tông đồ được thấy trong thị kiến một người phụ nữ lạ kỳ: mình khoác áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. Mẹ như trung tâm của vũ trụ. Mọi tinh tú đều quy hướng về Mẹ. Mặt trăng êm đềm như thế, chỉ là bệ đặt chân của Mẹ, mặt trời chói lọi dường bao, chỉ là áo khoác của Người. Những gì mà các dân ngoại coi là thần linh, dưới cái nhìn của Kitô giáo, chỉ là đồ trang điểm để làm nổi bật vinh quang mà Thiên Chúa đã ban cho Mẹ. Là một tạo vật, Chúa đã ban cho Đức Mẹ muôn vàn ân sủng. Mẹ là người cộng tác với ơn Chúa, để cùng Ngài làm nên những điều kỳ diệu trong cuộc đời Mẹ và trong lịch sử Cứu độ. “Từ nay hết mọi đời, sẽ khen tôi diễm phúc”. Quả vậy, rất nhiều tác phẩm âm nhạc, hội hoạ, văn chương, điện ảnh mang chủ đề suy tôn Đức Trinh nữ Maria là người diễm phúc.

Mẹ Maria diễm phúc vì Mẹ đã tin những gì Chúa nói cùng Mẹ sẽ thành hiện thực. Đó là lời chào, cũng là lời khen ngợi của bà Elisabét, khi hai người phụ nữ gặp nhau. Hai người cũng đang mang thai, Elisabét mang thai Gioan Tẩy Giả, người sau này sẽ giới thiệu Đấng Cứu độ; Maria mang thai Đức Giêsu, Đấng Cứu độ muôn dân. Cả hai cùng là những người có phúc, vì họ đã tin vào Thiên Chúa và vào sự trung tín của Ngài. Cuộc gặp gỡ được diễn tả trong niềm vui mừng hân hoan, niềm vui của hai người mẹ và cũng là niềm vui của hai hài nhi đang được cưu mang trong lòng.

Khi đọc bài Tin Mừng kể lại việc Đức Mẹ đi thăm bà Elisabét, Phụng vụ muốn cho chúng ta noi gương bắt chước Đức Mẹ. Thánh Luca ghi rõ: “Maria vội vã lên đường”. Cuộc đời của Mẹ luôn hướng về Chúa và hướng về tha nhân. Mẹ muốn thể hiện lòng yêu mến Chúa một cách cụ thể, qua việc phục vụ tha nhân. Trong cuộc viếng thăm này, mặc dù đường xa dặm thẳm, Đức Maria không ngần ngại. Mẹ phó thác cho Thiên Chúa và cho sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Mẹ tin chắc những gì Chúa đã có sáng kiến khởi sự, thì Ngài cũng lo liệu để những điều ấy diễn tiến trong an bình và trật tự.

Nếu tác giả sách Khải huyền mượn mặt trời, mặt trăng và các tinh tú để diễn tả vẻ đẹp bề ngoài của Đức Mẹ, thì thánh Luca lại diễn tả Đức Mẹ với sự thánh thiện và niềm hân hoan trong tâm hồn: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng”. Đức Trinh nữ được trình bày như trong một cuộc xuất thần. Đây là tâm trạng của các thánh, vào lúc các ngài cảm nghiệm sâu xa sự hiện diện của Thiên Chúa, như thể hồn đã lìa khỏi xác để kết hợp với Đấng Tối cao. Trong niềm vui xuất thần này, Đức Mẹ hát lên bài ca Tạ ơn, vì những ơn trọng đại Chúa đã làm cho dân tộc Israel và cho cuộc đời của Mẹ.

Chính Chúa Thánh Thần đã gợi hứng cho Trinh nữ Maria hát lên bài ca tạ ơn tuyệt diệu. Chúa Thánh Thần cũng đang làm lan toả niềm vui siêu nhiên đến mỗi người chúng ta và đến toàn thể Giáo Hội trong ngày lễ trọng này. Giáo Hội hân hoan, không chỉ vì những ơn lạ Chúa ban cho Đức Trinh nữ thành Nagiarét, mà còn vì Giáo Hội thấy nơi Đức Mẹ hình ảnh của chính mình trong tương lai. Vâng, Đức Maria là hình ảnh của Giáo Hội phải được hoàn thành (Lời Tiền tụng Thánh lễ). Người phụ nữ trong sách Khải Huyền vừa là hình ảnh của Đức Trinh nữ, vừa là hình ảnh của Giáo Hội. Giáo Hội của Chúa phải đương đầu với con Mãng xà mang nhiều hình dạng khác nhau, trong mọi thời đại, nhưng cũng là Giáo Hội thánh thiện, không vết nhơ, xứng đáng với vị Hôn Phu là Đức Giêsu Kitô.

Chúa Giêsu đã về trời. Đức Maria cũng đã về trời. Trời là đích điểm và lý tưởng của người Kitô hữu. Mầu nhiệm Chúa Giêsu về trời và tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời là hy vọng cho chúng ta. Đó cũng là câu trả lời cho những vấn nạn về sự chết, về đời sau. Thánh Phaolô đã quả quyết, những ai tin vào Đức Kitô thì cũng sẽ được sống lại vinh quang với Người (Bài đọc II).

Cũng như Chúa Giêsu tuy đã về trời nhưng vẫn ở cùng chúng ta cho đến ngày tận thế, Đức Maria luôn hiện diện giữa Giáo Hội. Mẹ ở đây với chúng ta để lắng nghe, thấu hiểu và chăm sóc chúng ta với tình mẫu tử thiêng liêng. Là tín hữu, chúng ta hãy tôn vinh Mẹ và xin Mẹ chuyển cầu cho chúng ta được những ơn cần thiết, để luôn vững tin trong hành trình cuộc đời.

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

-----------------------

 

15/8-124: HƯỚNG VỀ TRỜI VỚI MẸ, VẪN KHÔNG QUÊN SỨ VỤ

 

Trong khi mừng lễ Mẹ Lên Trời hôm nay, cùng với tòan thể Hội Thánh, lòng chúng ta mừng rỡ 15/8-124


Trong khi mừng lễ Mẹ Lên Trời hôm nay, cùng với tòan thể Hội Thánh, lòng chúng ta mừng rỡ hân hoan. Vì, như một xác phàm với tất cả yếu đuối của bản thân, Mẹ đã chấp nhận để cho Thiên Chúa làm các việc thật diệu kỳ đến nỗi Mẹ không còn vuơng vấn một chút tục lụy nào của thế gian, để được đưa về Trời cả hồn lẫn xác. Một hồng ân cao quí mà Mẹ chúng ta đã nhận được, và chúng ta là những người con của Ngài cũng hy vọng được về trời với Mẹ.

Vi thế, cho dù tin chắc rằng Mẹ Lên Trời như một bảo đảm cho việc sống lại vinh hiển của chúng ta sau này; nhưng ngay trong thời điểm này và giống như các Thánh Tông đồ trong ngày Lễ Chúa Thăng Thiên, chúng ta cũng đuợc mời gọi trở về với cuộc sống hằng ngày, đối diện với những biến động bởi đại dịch do các biến thể Covid-19 gây ra, bằng một con tim mới, con tim biết rung động trước nhu cầu của người khác, con tim rộng mở để yêu thuong và đón nhận, con tim đã nếm huởng hạnh phúc vĩnh cửu để thực hiện sứ mạng “…làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28: 19-20)

Vì thế, chúng ta hân hoan mừng Lễ Mẹ lên trời, nhưng vẫn không quên nhiệm vụ được trao ban. Đó không chỉ là chủ đề của bài suy niệm hôm nay, nhưng còn là tiêu chuẩn trong cuộc sống dấn thân của chúng ta nữa.

Anh chị em thân mến,

Trước tiên, xin gửi đến anh chị em một kinh nghiệm. Đó là trong thời gian làm việc tại Keysborough, vào mỗi sáng thứ Sáu hàng tuần, tôi và một số anh chị em trong hội Legio đã đến các nhà duờng lão để thăm các cụ đang đuợc chăm sóc tại các nơi đó. Đây là một trong những công tác mà tôi ưa thích nhất. Ngòai những câu chào hỏi, chúng tôi cùng nhau cầu nguyện và kết thúc là việc trao Mình Thánh Chúa cho họ. Đây là giây phút cảm động nhất mà tôi ghi nhận đuợc.

Như anh chị em đều biết, những người được nhận vào các trung tâm hưu dưỡng thuờng là các cụ lớn tuổi, con cái không có đủ điều kiện và phuơng tiện để phụng duỡng tại nhà; một số khác bị bịnh mất ký ức (dementia); số khác bị tai biến mạch máu não làm cho bộ óc, giọng nói hay việc đi lại của họ bị ảnh huởng. Tuy hòan cảnh về thể lý bị suy giảm; nhưng mỗi khi các cụ chiêm ngưỡng Thánh Thể Chúa, mắt họ liền sáng rực, chăm chú theo dõi các lời kinh nguyện và đón nhận Chúa vào trong tâm hồn bằng một cử chỉ thật cung kính và tôn nghiêm.

Dường như các cụ đã cảm nghiệm và tin rằng những điều Đức Giêsu nói trong bài Phúc Âm Chúa Nhật 20 hôm nay đã trở thành hiện thực trong cuộc sống niềm tin của họ. Và đây là Lời Chúa phán: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Tin vào sức mạnh của Lời Chúa, các cụ đã không còn đặt vấn đề làm sao Chúa có thể cho chúng ta ăn thịt của Người nữa, mà đây chính là của ăn, là sự sống đích thật nuôi dưỡng các cụ.

Kính thưa anh chị em,

Những lần viếng thăm và chứng kiến sự tác động của Thiên Chúa thực hiện trong cuộc sống của các cụ mà tôi vừa chia sẻ nói trên giúp tôi nhớ lại cuộc viếng thăm của Mẹ dành cho người chị họ mình: bà Y-sa-ve mà chúng ta vừa nghe trong bài Phúc Âm mừng Lễ Mẹ về trời hôm nay.

Đây không phải là sự trao đổi lịch sự giữa hai người phụ nữ có họ hàng với nhau. Nhưng qua đó, các Ngài đã bộc lộ cho chúng ta biết cuộc viếng thăm của Thiên Chúa dành cho họ truớc. Thiên Chúa đến trong lòng Mẹ như một nhà tạm sống đông, cưu mang hài nhi Giêsu. Mẹ đã không giữ niềm vui cho riêng mình, vội vã lên đường giới thiệu Đức Giê-su và chia sẻ niềm hạnh phúc này với nguời chị họ mình: bà Y-sa-ve.

Và diệu kỳ làm sao! Vừa gặp Mẹ, bà Y-sa-ve đã nhận ra sự vĩ đại của ơn gọi mà Mẹ vừa được trao ban nên đã thốt lên rằng: “Em được chúc phúc hơn mọi người nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc… Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.” Nhưng phần Mẹ lại khác, với tấm lòng khiêm tốn Mẹ đã không chấp nhận lời ca ngợi của Y-sa-ve dành cho mình. Trái lại, Mẹ dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, Đấng đã họat động và thực hiện những việc diệu kỳ trong cung lòng Mẹ. Mẹ biết rằng tất cả những gì Mẹ có được như hôm nay, hòan tòan phát sinh từ Lòng Thuơng Xót của Thiên Chúa.

Đây chính là bài học thứ nhất của Mẹ.

Mỗi khi hiện diện truớc tôn nhan Thiên Chúa, chúng ta hãy nhớ và nhận ra sự nghèo hàn của mình; và tất cả những gì có đuợc hòan tòan là do kỳ công của Thiên Chúa, như Đức Trinh Nữ Maria vậy. Và từ đó, chúng ta sẽ nhìn thấy mình như Thiên Chúa nhìn chúng ta! Và, nếu là như thế thì chúng ta còn có gì để tự hào, để vinh vang và cũng chẳng có gì để hãnh diện trong lúc tiếp cận và gặp gỡ nhau. Tất cả đều là quà tặng của Thiên Chúa, Đấng muốn dùng chúng ta để trao ban cho người khác.

Và bài học thứ hai mà Đức Mẹ dạy chúng ta hôm nay là thái độ của Mẹ trước mặt Thiên Chúa. Tiêu chuẩn và cách thức sống của Mẹ hòan tòan trái ngược với tiêu chuẩn và lối sống của thế gian.

Xã hội, môi trường mà chúng ta đang sống dựa trên một hệ thống, trong đó đề cao giá trị về sự xuất sắc của cá nhân. Hơn nữa, người mạnh được tôn trọng, người giàu được ngưỡng mộ, người nghèo và người yếu đuối bị coi thuờng. Thế giới chúng ta đang sống dựa trên thành quả và khả năng. Trong khí đó, qua lời hứa, Mẹ đã giới thiệu một cách sống mới, cách cư xử hòan toàn trái ngược với các tiêu chuẩn của xã hội đề ra.

Lời của Mẹ là một cuộc cách mạng:

Kho Tàng và báu vật của cuộc sống chúng ta không phụ thuộc vào sự giàu có. Tiền tài, thế lực, uy quyền, địa vị không phải là mục đích tối hậu của cuộc sống. Nhưng nó là một phần thật nhỏ bé trong các quà tặng mà Thiên Chúa ban cho. Các điều đó cũng chỉ là một phần không đáng kể nếu so với các mối quan hệ dựa trên tình yêu trong cuộc sống; và chỉ có trong các mối quan hệ đó, chúng ta mới tìm đuợc một kho báu quí giá và bền vững nhất; hòan tòan không dựa vào thế lực, uy quyền và sức mạnh.

Vì thế, qua thái độ và lối sống, Mẹ đã dậy chúng ta biết rằng: Chỉ có con đuờng khiêm tốn và thừa nhận rằng tất cả những gì chúng ta có, đang có và sẽ có… tất cả đã đến, đang đến và sẽ đến… là những món quà quý báu của Thiên Chúa, không phải cho chính mình; nhưng phát sinh từ lòng quảng đại của Thiên Chúa cho tha nhân.

Vì vậy, chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa vì món quà nơi bản thân của mỗi người; và tiếp tục dâng lời cầu nguyện, qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria để chúng ta mãi mãi đến với nhau, kết nối, giao tiếp, an ủi và chia sẻ cuộc sống cho nhau mà làm cho vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện. Và có như thế, chúng ta mới xứng đáng chia sẻ phần phúc của người tín hữu như một quà tặng của Thiên Chúa khi đến viếng thăm dân của Người như Mẹ thể hiện hôm nay, và sau cùng chúng ta sẽ được chia sẻ vinh quang với Mẹ trên cõi trời vinh phúc đến muôn đời. Amen.

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

---------------------------

 

15/8-125: HOAN CA ĐỨC MẸ


Đức Mẹ Về Trời Vinh Quang Chói Sáng

Nữ Vương Mông Triệu Nguyện Giúp Cầu Thay.

 

Cuộc đời Đức Mẹ đầy đau khổ nhưng lại là khúc hoan ca tuyệt vời, vì Đức Mẹ luôn tín thác và 15/8-125


Cuộc đời Đức Mẹ đầy đau khổ nhưng lại là khúc hoan ca tuyệt vời, vì Đức Mẹ luôn tín thác và tuân phục tuyệt đối. Đức Mẹ được về trời cả hồn xác, nên Đức Mẹ cũng muốn mọi người cũng được về trời với Mẹ. Tại Fátima, Đức Mẹ nhắn nhủ: “Nếu loài người biết vĩnh cửu là gì thì họ sẽ làm mọi thứ để thay đổi cuộc đời.”

Cái gì cũng có cái giá nhất định, thậm chí rất đắt. Đại dịch cúm Tàu nhắc nhở về cái chết bất ngờ, và cũng là lời nhắc nhở về sự sống đời đời. Cầu chúc mọi người luôn biết hướng thượng, luôn “ái mộ những sự trên trời” để “được chết lành trong tay Đức Mẹ” và sẽ “được thưởng cùng Đức Mẹ trên Thiên Đàng.”

Đức Mẹ về trời là dấu chỉ chắc chắn có Thiên Đàng, các thánh đã tái xác nhận điều đó, đúng như Chúa Giêsu đã hứa: “Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em thì Thầy LẠI ĐẾN và ĐEM anh em VỀ VỚI THẦY, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi.” (Ga 14:2-4) Chúa Giêsu nói rõ ràng là VỀ trời chứ không LÊN trời bình thường.

Về trời là niềm hy vọng lớn nhất và là hoài bão cuối cùng của những người tin vào Đức Giêsu Kitô. Về trời không là chuyện viễn vông như chú Cuội lên cung trăng, cũng không như kiểu tham quan mặt trăng, khám phá một hành tinh nào đó, mà về trời để hưởng phúc trường sinh với Thiên Chúa, sau khi chúng ta được sống lại.

Ngày xưa, trong lúc ông Êlia đang nói chuyện với ông Êlisa thì xuất hiện “một cỗ xe đỏ như lửa và những con ngựa đỏ như lửa tách hai người ra, và ông Êlia LÊN TRỜI trong cơn gió lốc.” (2 V 2:11) Thời Tân Ước, tướng cướp Dismas cả đời gian ác, không coi ai ra gì, bị đóng đinh bên Chúa Giêsu, nhưng nhờ sám hối chân thành, Dismas đã được Chúa Giêsu tha thứ và cho về trời ngay: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 22:43) Đặc biệt là Đức Mẹ được về trời qua một “giấc ngủ” – chết mà như ngủ (dormition).

Theo Lm Pohle và Lm Scheeben, mấy thế kỷ đầu không có dấu tích gì về lòng tin Đức Mẹ Maria lên trời. Nhưng một cái quách (sarcophagus) đầu thế kỷ IV ở nền nhà thờ Santa Engracia tại TP Saragossa (Tây Ban Nha) có bức chạm trổ hình Đức Mẹ lên trời. Chứng tích của Thánh Epiphanô cho biết người ta tin Đức Mẹ Maria bất tử và thân xác Mẹ vinh quang, niềm tin này đã được truyền bá sâu rộng trong một ít giáo đoàn như ở Antiokia. Do xác tín và ngợi khen “Chức Phẩm Thiên Mẫu” và “Đức Đồng Trinh” của Mẹ là hai căn nguyên. Thánh Epiphanô mở đường cho lòng tin và sự xác quyết của các Giáo phụ, các Giáo hoàng, các Giám mục, các thần học gia và toàn thể Giáo hội. Trước thời Hoàng đế Constantinope đã diễn ra một cuộc lễ trong nhà thờ trên núi Cây Dầu tại Giêrusalem, truyền thống gọi là lễ “Đức Mẹ An Giấc.”

Đức Alexanđrô III nói: “Mẹ Maria thụ thai không bị xấu hổ, sinh con không bị đau đớn, từ trần không bị hư hoại trong mồ, vì theo lời Thiên thần, Mẹ đã được đầy ơn.” Đức Piô XII nối tiếp các vị tiền nhiệm về niềm tin đó. Trong Thông điệp “Corporis Mystici” (29-6-1943), ngài viết: “Chúng ta hãy nài xin Mẹ rất thánh của mọi phần tử của Chúa Kitô mà Ta đã tín thác hiến dâng loài người cho Trái tim Mẹ. Ngày nay ở trên trời, thân xác và linh hồn Mẹ toả sáng trong vinh quang, hiển trị cùng với Con của Mẹ.”

ĐGH Piô XII gởi Thông điệp “Deiparae Virginis” (1-5-1946) tới các giám mục khắp thế giới, cho biết rằng từ năm 1840 đến năm 1940, số đơn thỉnh nguyện xin Toà Thánh định tín Mẹ Maria hồn xác lên trời đã đóng thành hai cuốn sách. Ngày 30-10-1950, Đức Thánh Cha gửi tông thư cho Cơ Mật Viện, loan báo vào ngày mồng 1-11-1950 là một biến cố quan trọng và là niềm vui lớn lao cho toàn thế giới Công giáo: Công bố tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời. Đó là nhờ ơn soi sáng tác động của Chúa Thánh Thần và ơn trợ lực của Thiên Chúa.

Cuối cùng, ngày 1-11-1950, Thánh Ý Chúa thể hiện qua ĐGH Piô XII với Thông điệp “Munificentissimus Deus” – Thiên Chúa Quảng Đại: “Sau khi chúc tụng lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa đã yêu thương quan phòng làm êm dịu những khổ đau, đem lại niềm an vui cho các dân tộc, Đức Thánh Cha nêu cao sự kiện ơn Chúa thương, dù giữa thời buổi nhiều người sai lạc chân lý và nhân đức, vẫn có nhiều cách biểu lộ đức tin, lòng sùng mến Mẹ Maria và những con cái Mẹ vẫn được khuyến khích chiêm niệm những đặc ân của Mẹ. Thật vậy, từ muôn đời, Thiên Chúa đã đặc biệt yêu thương Mẹ và rồi ban cho Mẹ dạt dào những đặc ân mà Giáo hội đã nhận biết và khám phá ra. Nhưng thời đại của chúng ta đã được dành riêng để chiêm ngưỡng đặc ân Đức Mẹ hồn xác lên trời.”

Hòm Bia là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện, rất quan trọng. Trình thuật 1 Sb 15:3-5 cho biết: “Thời Cựu Ước, vua Đa-vít triệu tập toàn thể Israel về Giêrusalem để rước Hòm Bia của Đức Chúa lên chỗ vua đã dọn sẵn. Vua cũng tập hợp con cháu ông Aharon và các thầy Lêvi: trong hàng con cháu ông Cơhát, có ông Uriên chỉ huy, và các anh em của ông, tất cả là một trăm hai mươi người.” Hòm Bia “được làm bằng gỗ keo, dài một thước hai, rộng bảy tấc rưỡi và cao bảy tấc rưỡi, được bọc bằng vàng ròng cả trong lẫn ngoài, phía trên có một đường viền chung quanh bằng vàng.” (Xh 25:10-11)

Luật xưa nghiêm túc: Khi khiêng Hòm Bia phải dùng đòn, đã xỏ đòn vào thì không được rút ra. (Xh 25:15) Kinh Thánh cho biết thêm: “Con cháu Lêvi mang Hòm Bia Thiên Chúa đúng như ông Môsê đã truyền theo lệnh của Đức Chúa, là dùng đòn mà khiêng trên vai. Vua Đavít truyền cho những người đứng đầu các thầy Lêvi bố trí các ca viên, anh em của họ, để những người này dùng nhạc khí như đàn sắt, đàn cầm, não bạt mà tấu khúc hoan ca.” (1 Sb 15:15-16)

Còn nữa, 1 Sb 16:1-2 cho biết: “Người ta đưa Hòm Bia Thiên Chúa vào đặt giữa Lều vua Đavít đã dựng sẵn. Rồi họ dâng lễ toàn thiêu và lễ kỳ an trước nhan Thiên Chúa. Khi đã hoàn tất việc dâng các lễ toàn thiêu và lễ kỳ an, vua Đavít nhân danh Đức Chúa chúc phúc cho dân.” Người ta đặt Chứng Ước của Thiên Chúa vào Hòm Bia, (Xh 25:16) do đó gọi là Hòm Bia Giao Ước.

Thánh Vịnh cho biết: “Này đây, khi ở Épratha, chúng tôi đã nghe nói đến hòm bia, chúng tôi tìm thấy hòm bia đó tại cánh đồng Giaa. Nào ta tiến vào nơi Chúa ngự, phủ phục trước bệ rồng.” (Tv 132:6-7) Chỉ nơi nào có Thiên Chúa thì mới là nơi vĩnh phúc đích thực, nơi mà ai cũng hướng tới với niềm khao khát cháy bỏng. Thánh Vịnh gia khát vọng: “Ước chi hàng tư tế của Ngài mặc lấy sự công chính, kẻ hiếu trung với Ngài được cất tiếng hò reo. Vì vua Đa-vít, trung thần của Chúa, xin đừng xua đuổi đấng Chúa đã xức dầu phong vương.” (Tv 132:9-10) Muốn vậy thì chính bản thân phải biết hướng thượng và sống tốt càng ngày càng tiến bộ hơn, chứ không thể giậm chân tại chỗ, không thể ù lì hoặc gặp chăng hay chớ.

Thuở xưa, chính Đức Chúa đã chọn Sion, đã thích lấy chốn đó làm nơi Ngài ngự, như Ngài công khai tuyên phán: “Đây là chốn Ta nghỉ ngơi đến muôn đời, Ta sẽ ngự nơi này, vì Ta ưa thích.” (Tv 132:14) Nhà Chúa là Nhà Cầu Nguyện của mọi dân tộc. (Mt 21:13; Mc 11:17; Lc 19:46)

Đức Maria là Nhà Tạm đầu tiên, vì Đức Mẹ là Đấng-Mang-Thiên-Chúa (Theotókos, God-Bearer). Thực sự chúng ta cũng đã và đang được diễm phúc tương tự mỗi khi chúng ta rước lễ, chúng ta được mang chính Đấng Cứu Thế trong lòng và hòa tan để kết hiệp mật thiết với Ngài, dù chúng ta chỉ là những tội nhân hoàn toàn bất xứng.

Thánh Phaolô nói: “Vậy khi cái thân phải hư nát này mặc lấy sự bất diệt, khi cái thân phải chết này mặc lấy sự bất tử, thì bấy giờ sẽ ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng!” (1 Cr 15:54) Chiến thắng cái chết để được phục sinh và trường sinh. Cùng với Đức Kitô và Đức Mẹ, cùng với Thánh Phaolô, chúng ta có thể dõng dạc vặn hỏi tướng quỷ Luxiphe: “Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi? Tử thần có độc là vì tội lỗi, mà tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật.” (1 Cr 15:55-56) Ước gì mỗi chúng ta đều khả dĩ như vậy!

Là Thiên Chúa, nhưng Thầy Giêsu vẫn có hiếu với Đức Mẹ. Điều này “nhắc nhở” chúng ta về chữ hiếu thảo. Ngài xác định một mối phúc đặc biệt: “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.” (Lc 11:28) Kỳ lạ quá, “nghe và giữ Lời Chúa” mà còn có phúc hơn người cưu mang Ngài. Có lẽ chúng ta không dám tin, nhưng đó lại là sự thật. Điều đó chứng tỏ rằng việc sống Lời Chúa vô cùng quan trọng.

Đức Mẹ là thụ tạo đặc biệt của Thiên Chúa. Ngay cả Hồi giáo cũng tôn trọng Đức Mẹ, coi Đức Mẹ là phụ nữ cao cả nhất trong Kinh Koran (Kinh Thánh của Hồi giáo). Có rất nhiều tôn danh dành cho Đức Mẹ: Nữ vương Hòa bình, Đức Nữ Trinh Vương, Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, Đức Mẹ Ban Ơn, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Đức Mẹ Mân Côi, Đức Mẹ Thương Xót, Đức Mẹ Vô Nhiễm, Đức Mẹ Hoa Hồng,... và Đức Mẹ còn gắn liền với các địa danh trên khắp thế giới, riêng Việt Nam cũng có Đức Mẹ La Vang, Đức Mẹ Giang Sơn, Đức Mẹ Mằng Lăng, Đức Mẹ Sao Biển, Đức Mẹ Trà Kiệu, Đức Mẹ Núi Cúi, Đức Mẹ Bãi Dâu,...

Thánh Vịnh gia đã ca tụng: “Hàng cung nữ, có những vì công chúa, bên hữu ngài, hoàng hậu sánh vai, trang điểm vàng Ô-phia lộng lẫy. Tôn nương hỡi, xin hãy nghe nào, đưa mắt nhìn và hãy lắng tai, quên dân tộc, quên đi nhà thân phụ. Sắc nước hương trời, Quân Vương sủng ái, hãy vào phục lạy: Người là Chúa của bà.” (Tv 45:10-12) Chắc hẳn phàm ngôn không thể đủ để diễn tả về Đức Mẹ cho xứng đáng, chúng ta chỉ biết dùng những ngôn từ nào cao trọng nhất để tôn xưng Đức Mẹ mà thôi.

Ai trong chúng ta cũng là tội nhân, thế nên mọi người đều phải bước qua “ngưỡng cửa sự chết” theo luật sinh tử. Nhưng chết không là chấm hết, mà là biến đổi, như Thánh Phanxicô Assisi xác định: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.” Chết đi để được sống lại. Chính Đức Kitô cũng đã chết và phục sinh để bảo đảm về chuyện đời sau. Chết là trực tiếp gặp Thiên Chúa, gặp Đức Kitô, và cũng gặp Đức Mẹ nữa.

Niềm hy vọng của Kitô hữu thật lớn lao và tuyệt vời, nhưng Thánh Phaolô nói: “Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.” (1 Cr 15:19) Niềm hy vọng của chúng ta không như vậy, bởi vì “Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. Quả thế, như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống.” (1 Cr 15:20-22) Niềm hy vọng của Kitô hữu vượt ngoài thế gian này.

Kẻ trước người sau, như lá rụng về cội, dù lá còn xanh hay đã vàng. Thánh Phaolô giải thích: “Mỗi người theo thứ tự của mình: mở đường là Đức Kitô, rồi khi Đức Kitô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Người. Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quản thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao vương quyền lại cho Thiên Chúa là Cha.” (1 Cr 15:23-24)

Tất cả đều xảy ra đúng theo trật tự Thiên Chúa đã ấn định, như chúng ta thường nói là Thiên Chúa an bài. Chúng ta không thể hiểu thấu, nhưng sự thật là vậy: “Đức Kitô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người. Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết.” (1 Cr 15:25-26) Chính Đức Kitô đã dùng thập giá để chiến thắng tất cả, và cũng chính trên thập giá, Ngài đã tiêu diệt sự thù ghét (x. Ep 2:16) để minh chứng tình yêu vô biên và sâu thẳm, là Lòng Thương Xót mầu nhiệm của Thiên Chúa.

Hoan Ca Maria chỉ xuất hiện trong trình thuật Lc 1:42-55. Thánh sử Luca cho biết: Hồi ấy, Cô em Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa. Cô vào nhà Anh Dacaria và chào hỏi Chị Êlisabét. Chị Êlisabét vừa nghe tiếng Dì Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và Chị Êlisabét được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.”

Một cuộc gặp gỡ lịch sử giữa hai phụ nữ đặc biệt, theo sự quan phòng và tiền định của Thiên Chúa. Một người là mẹ Thiên Chúa, còn một người là Mẹ của Vị Tiền Hô Gioan. Thấy Em họ Maria đến, Chị Êlisabét vui mừng thốt lên những lời đầy Thần Khí. Sau đó, Đức Maria cũng rất vui mừng và dâng lời Kinh Ngợi Khen (Magnificat), vừa như thơ vừa như nhạc:

Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,
Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.
Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới;
Từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc.
Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả,
Danh Người thật chí thánh chí tôn!
Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.
Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
Dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
Người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
Chúa độ trì Israel, tôi tớ của Người,
Như đã hứa cùng cha ông chúng ta,
Vì Người nhớ lại lòng thương xót
Dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời.
Đức Mẹ đã chứng tỏ lòng yêu thương với tha nhân khi vội vã đi thăm Chị Êlisabét, và cũng muốn chứng tỏ tình yêu thương đó qua việc ở lại giúp đỡ người chị đang mang thai trong ba tháng đầu của thai kỳ. Đức Maria ở lại với Chị Êlisabét độ ba tháng, rồi mới trở về nhà.

Đường về dù xa hay gần, đường đi có thể gập ghềnh nhiều nỗi, nhưng có Đức Mẹ đồng hành thì chúng ta an tâm. Cứ bám chặt vào áo Mẹ thì không lo lạc đường, chắc chắn sẽ đi đến nơi về đến chốn. Thánh Birgitta Thụy Điển cho biết: “Dù trong tình trạng thù nghịch với Thiên Chúa đến đâu đi nữa, không tội nhân nào trên trần gian này lại không thể quay về với Ngài và được phục hồi ơn thánh, nếu họ chạy đến nương nhờ và cầu xin Đức Mẹ Maria hộ phù.”

Lạy Thiên Chúa, chúng con tạ ơn Ngài vì Ngài đã ban cho mỗi chúng con có hai người mẹ – một người mẹ trần gian tuyệt vời, và đặc biệt là một Người Mẹ Thánh là Đức Maria, để nâng đỡ chúng con về thể lý và tâm linh. Xin giúp chúng con luôn biết sống xứng đáng với những gì chúng con lãnh nhận.

Lạy Mẫu Nghi cao cả, đồng hành và nâng đỡ chúng con luôn, xin dẫn chúng con đến với Chúa Giêsu, Con Yêu Dấu của Mẹ, để chúng con cũng được đoàn tụ trong Đại Gia Đình Thiên Chúa trên Thiên Quốc. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

-----------------------------

 

15/8-126: ÂN HUỆ “NHƯNG KHÔNG”

 

Dự án “Thương quá Sài Gòn ơi” của Văn phòng Hội đồng Giám mục Việt Nam đã và sẽ tiếp 15/8-126


Dự án “Thương quá Sài Gòn ơi” của Văn phòng Hội đồng Giám mục Việt Nam đã và sẽ tiếp tục trao 24.000 “Tấm vé nghĩa tình” với tổng giá trị 8 tỷ đồng cho người lao động khó khăn, người nghèo khổ trong đại dịch Covid-19 tại hơn 10 Quận / Huyện trên địa bàn Sài gòn thông qua chương trình Siêu Thị Mini 0 đồng. Mỗi ngày STMN 0 đồng phục vụ cho 200 người có phiếu. Mỗi người được tự do lựa chọn các sản phẩm mình thích trong số hơn 30 mặt hàng thiết yếu đã được các nhân viên đặt trên kệ hàng…(x.tgpsaigon.net).

Giữa bao khó khăn của những ngày đại dịch, đã xuất hiện nhiều siêu thị 0 đồng, chợ 0 đồng, gian hàng rau củ quả 0 đồng, quán cơm 0 đồng, bánh mỳ 0 đồng, xăng 0 đồng và chuyến xe 0 đồng… âm thầm hoạt động, nhằm trợ giúp đồng bào đang thiếu thốn hay đang về quê được ấm lòng. Trước kia, mọi thứ đều phải mua bằng tiền. Nhưng nay, có nhiều thứ không mang giá trị của đồng tiền mà là giá trị của tình thương, nghĩa đồng bào.

Có thể nói, những cái 0 đồng ấy là ân huệ “nhưng không” của đồng bào trao tặng nhau. Cho đi mà không cần báo đáp. Cho đi chỉ vì yêu thương. Đơn giản thế thôi mà nghĩa tình thật cao cả.

***

“Nhưng không” là từ ngữ nhà Đạo.Theo Từ điển Công Giáo: nhưng không là không có chi cả, vô điều kiện. Tính nhưng không là đặc tính của việc Thiên Chúa ban ân huệ cho con người một cách vô điều kiện mà không đòi một sự báo đáp. Việc tạo dựng từ hư vô, được sinh ra làm người là những ơn hoàn toàn nhưng không (x.GLHTCG 338). Thiên Chúa cứu rỗi con người cũng hoàn toàn do tình yêu nhưng không của Ngài (x.GLHTCG 218;1699). Tính nhưng không đó được biểu lộ cách đặc biệt trong Bí tích Thánh tẩy cho trẻ em (x.GLHTCG 1250).Trong trường hợp này, các trẻ nhỏ vốn chưa có thể tự mình lựa chọn, vẫn có thể nhận được ơn cứu rỗi. Thiên Chúa còn ban cách nhưng không vinh phúc vĩnh cửu, làm cho con người “được ‘thông phần bản tính Thiên Chúa’ (2Pr 1,4) và sự sống muôn đời” (GLHTCG 1721).

Đức Trinh Nữ Maria đã được Thiên Chúa ban những “Ân huệ nhưng không” qua bốn đặc ân hồng phúc: Mẹ Thiên Chúa, Vô Nhiễm Nguyên Tội, Trinh Khiết Trọn Đời, Hồn Xác Lên Trời. Những hồng phúc này không do công lao Mẹ lập được, mà do tình thương của Thiên Chúa: “Phận nữ tì hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới. Từ nay hết mọi đời, sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, Danh Ngài thật chí thánh chí tôn” (Lc 1,48-49). Bốn hồng phúc này liên kết với nhau. Vì sinh Chúa Giêsu là Thiên Chúa nên Mẹ Maria được làm Mẹ Thiên Chúa. Địa vị cao trọng ấy xứng đáng để Mẹ được Thiên Chúa giữ gìn, hồn không vương nguyên tội, xác trinh khiết vẹn toàn. Và khi kết thúc cuộc sống trần gian, Mẹ được Chúa đưa về trời cả hồn lẫn xác.

Hôm nay, Giáo hội mừng kính Đức Maria được khải hoàn bước vào quê hương Thiên Quốc.

Bầu khí phụng vụ đượm sắc thái vui tươi với những lời ngợi khen và chúc tụng Đức Trinh Nữ lên trời hiển vinh. Từ đây Đức Mẹ nắm giữ vai trò quan trọng nhất là Nữ Vương trời đất. Từ nay, Đức Mẹ đảm nhận một địa vị cao cả nhất và cũng thật gần bên Thiên Chúa. Kể từ nay, Đức Mẹ trổi vượt trên mọi tạo vật với địa vị làm Mẹ Thiên Chúa và làm Mẹ nhân loại.

Quyền năng và tình yêu Chúa tràn đầy trên Mẹ làm cho Mẹ được khỏi tội tổ tông và được đầy ơn ơn sủng ngay từ trong lòng mẹ. Quyền năng và tình yêu Chúa bao phủ suốt cả đời Mẹ trên từng ý nghĩ, từng tình cảm, từng mỗi hành động, từng mỗi bước đi... khiến cho tâm hồn Mẹ luôn hướng về Chúa mà tạ ơn và ngợi khen liên lỉ. Quyền năng và tình yêu Chúa đong đầy trọn vẹn nhất trong khoảnh khắc lịch sử, Mẹ lên trời cả hồn cả xác. Đặc ân cao trọng này chính là triều thiên sáng chói bao phủ lên Mẹ, vốn đã được “Thánh Thần ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao rợp bóng trên bà” (Lc 1,35).

Giáo hội cùng hiệp ý chung lời với Mẹ ngợi khen tạ ơn Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”. Đó là những lời tán tụng ngợi ca Thiên Chúa phát xuất từ sâu thẳm lòng Mẹ trong ngày thăm viếng người chị họ Isave. Magnificat là lời kinh thấm đẫm chất thơ. Thánh vịnh là thi ca cầu nguyện của dân tộc Do thái. Hàng ngày Đức Mẹ cầu nguyện với Thánh Vịnh.

Những lời ngợi ca Magnificat nói lên tất cả tâm hồn của Mẹ. Đó là toát lược cả cuộc đời Mẹ, cả chương trình sống của Mẹ, là con đường tu đức của Mẹ: mãi mãi là người nữ tỳ khiêm tốn, luôn phó thác hoàn toàn trong tay Chúa toàn năng và nhân hậu, hằng dâng lời ngợi khen tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh cuộc sống.

Những lời ca ngợi Magnificat nói lên hết ý nghĩa và tâm tình của Mẹ đối với Thiên Chúa toàn năng và yêu thương.

Mẹ cảm thấy thân phận tôi tớ hèn mọn này lại được cất nhắc cao trọng trong giây phút lên trời: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”.

Mẹ cảm nghiệm được quyền năng và tình yêu vô biên của Chúa trong giây phút Chúa hiển dương Mẹ về trời: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả...Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người”.

Đức Mẹ được lên trời hồn xác là do đặc ân Chúa ban cho Mẹ và đồng thời cũng là do cuộc sống thánh thiện của Mẹ hằng luôn hợp tác với ơn Chúa. Hồn xác lên trời là một hồng ân cao cả mà Thiên Chúa ban cho Mẹ. Mẹ là người diễm phúc nhất trong mọi người nữ. Mẹ có tên gọi đẹp nhất là “Đấng đầy ơn phúc” vì “Thiên Chúa ở cùng bà”. Mẹ được hết mọi đời khen là diễm phúc chính vì “Đấng toàn năng đã làm cho Mẹ biết bao điều cao cả”. Điều cao cả nhất là làm Mẹ Chúa Cứu Thế. Mẹ là cây sinh quả phúc và nhờ quả phúc ấy mà Mẹ được biết đến và được ca tụng. Mẹ là cây trường sinh mang quả đầu mùa mà Thiên Chúa đã trồng trong vườn địa đàng mới hầu đem lại sự sống đời đời cho mọi thế hệ loài người. Chính vì thế mà Thiên Chúa muốn cho cây mang quả trường sinh ấy được nhân lên trong vườn địa đàng mà Người muốn mở rộng diện tích tới tận cùng trái đất.

Mẹ lên trời không phải để cách xa cuộc sống nhân loại, nhưng trên đỉnh vinh quang thiên đàng, đó là lúc Mẹ có điều kiện phù hợp để gần gũi che chở đỡ nâng mọi người một cách rộng rãi và thuận lợi hơn.

Trong kỹ thuật hàng không, máy bay cần có 3 thông số quan trọng: bộ phận định hướng tốt, làm nhẹ thân tàu và tăng cường sức đẩy động cơ. Mẹ về Trời, đó là định hướng cho mỗi người theo Mẹ. Càng nhẹ nhàng khi trút bỏ cồng kềnh vật chất, mỗi người sẽ thênh thang cuộc sống nhẹ bay lên cao trong đời sống thiêng liêng. Mỗi tín hữu cần trang bị đời mình qua việc đón nhận hồng ân và cộng tác tích cực sống đạo hạnh, như thế sức đẩy động cơ sẽ mạnh lên. Thực hiện 3 thông số ấy, mọi người sẽ gặp gỡ nhau trên quê hương vĩnh phúc với Mẹ Đầy Ơn Phúc.

Đức Mẹ được vinh hiển hồn xác trên trời là hình ảnh và là khởi đầu bảo đảm cho tương lai của chúng ta sau này cũng sẽ được như vậy, miễn là bây giờ chúng ta biết noi gương Mẹ mà sống thánh giữa đời, qua những chặng đường vui, sáng, thương, mừng của cuộc sống (x. LG 68).

Trong cuộc hành hương nội tâm hay lữ hành nơi dương thế, chúng ta tin rằng, có Mẹ Maria luôn cầu bầu che chở; với niềm hy vọng sẽ được về trời với Mẹ, chúng ta nhìn lên Mẹ như mẫu gương của lòng cậy trông, tin yêu phó thác nơi lòng thương xót Chúa.

Hôm nay mừng Mẹ Lên Trời
Ngày mai đến lượt mỗi người chúng ta.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

-----------------------------------

 

15/8-127: SAU LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI, SẼ HẾT DỊCH…

 

Dịch, dịch, dịch.. và lần bùng dịch này là lần thứ tư rồi. Ba lần trước nhè nhẹ thôi, lần này, nặng 15/8-127


Dịch, dịch, dịch.. và lần bùng dịch này là lần thứ tư rồi. Ba lần trước nhè nhẹ thôi, lần này, nặng quá! Ba lần trước thắng dịch dễ dàng. Lần này, khó quá. Không những khó, mà còn đau thương quá. Không chỉ Việt Nam, Sài Gòn, mà các nước láng giềng, và cả thế giới, đang phải căng mình chống dịch.

Vâng, đại dịch bởi con coronavirus bé xíu xiu, mà cả khối óc nhân loại chưa tìm được cách ngăn chận nó, hủy diệt nó. Vaccine chưa kịp ra đời, thì nó đã biến thể. Không có vaccin nào theo kịp bước biến thể của nó. Nó thách thức văn minh nhân loại. Chưa kịp tiêu diệt nó, nó đã tiêu diệt con người chúng ta.

Trước hết, nó tiêu diệt nền hòa bình nhân loại, làm rạn nứt sự hiệp nhất thế giới, vì các dân nước nghi ngờ nhau, rằng, có kẻ làm ra con virus này với ý đồ thống trị nhân loại này! Thật đáng sợ cho lòng người!

Và Covid do con người làm ra kia, hai năm nay đã gây ra cho nhân loại bao đau thương, tang tóc và đe dọa sự tồn vong của cả nhân loại trên hành tinh này. Cả nhân loại đang đối diện với nghèo đói,  đau khổ, bệnh tật, chết chóc và tương lai nhân loại bỗng u ám, kinh hoàng… Cả những người làm ra nó cũng khóc đứng khóc ngồi cũng tang thương vong mạng, cũng đứng bên bờ của sự hủy diệt, bên bờ của thời tận mạt!

Hóa ra, covid không phải là sự trừng phạt của Thiên Chúa, mà là tự lòng kiêu căng của con người muốn sát hại lẫn nhau.

Các khoa học gia vùi đầu nghiên cứu dịch, nghiên cứu vaccine chống dịch, diệt dịch để cứu vãn cả và nhân loại này. Nước lớn, nước nhỏ, khắp năm châu mong diệt dịch! Người giàu có, kẻ nghèo hèn, ai cũng mong mơ cho hết dịch! Ai cũng ước mơ: “Thế giới sẽ chiến thắng Covid. Việt nam sẽ chiến thắng đại dịch. Sài Gòn sẽ an yên. Con người sẽ trở lại những ngày vàng son, oanh liệt…”

Phải chăng đó chỉ là ước mơ? Và ước mơ ấy khởi đi từ sự nuối tiếc những ngày hạnh phúc ảo, bên nồi thịt thơm tho mùi hư nát của miền đời tạm bợ này? Chưa thấy có tín hiệu nào cho biết đó là một ước mơ đổi đời, đổi khái niệm sống, đổi mục đích sống, nhờ bài học quý giá mà em covid xíu xíu kia để lại?

Bởi qua biến cố đại dịch covid, con người có thể thấy: chưa có khi nào cuộc đời rõ nét phù vân như lúc này! Tình nghĩa vợ chồng có gắn bó keo sơn, tình gia đình có êm đềm thắm thiết, người giàu có lộng lẫy hay bần cùng khốn khổ…và có thế nào đi nữa… thì ai rồi cũng một mình đi về phía nhà hỏa táng, về phía tro bụi, không cái vẫy tay, không lời đưa tiễn..

Bởi qua biến cố đại dịch covid, con người có thể hiểu: Chúa muốn mời gọi con người hãy sống giữa thế gian này, mà không để lòng thuộc về thế gian này nữa, nhưng lại thuộc về Thiên Chúa trong cõi sống đời sau vinh hiển.

Bởi qua biến cố đại dịch covid, con người có thể lắng nghe: lời yêu rất thật của Thiên Chúa, lời mời gọi con người sám hối, Tin vào Tin Mừng và sống Theo Tin Mừng, để khi thế giới này an yên trở lại, nhân loại sẽ sống hòa bình yêu thương nhau, và cùng nhau nhắm đến mối lợi lớn lao là cuộc sống vĩnh cửu trong Nước Thiên Chúa.

Với các Ki-tô hữu Công giáo, thiết tưởng, đã nhận ra rằng ước mơ cuộc sống an yên trở lại để được hưởng thụ cuộc đời trần gian này, là không đẹp ý Chúa!

Và hơn thế nữa, nếu chỉ là ước mơ, rồi ngồi chờ sung rụng, thì rõ là một ước mơ hão huyền…

Phải biến ước mơ thành một niềm hy vọng vững chắc. Nhưng dựa vào đâu để chúng ta có thể có niềm hy vọng vững chắc hơn là một ước mơ.

Hôm nay, Chúa nhật 19 thường niên B (15/8), nhớ lại ngày 8/8 lễ thánh Đa-minh. Tham dự thánh lễ trực tuyến xong, tôi dạo trước sân nhà. Vừa bước đến bên góc vườn tôi, cạnh nhà bà Tư, tôi chẳng cố ý hóng chuyện nhà người ta, nhưng bà Tư nói lớn, đành được nghe

“Tụi con hy sinh đi. Đau với nỗi đau của đồng bào đi.

Ở yên trong nhà không phải để lãng phí thời giờ xem phim bộ, hát karaoke, lên phây, vào mạng, hay nhậu nhoẹt vô bổ. Cũng không phải hết lo ăn sáng rồi lại lo trưa lo tối, ngồi đó mà chờ hết dịch như chờ sung rụng. Hãy dùng thời gian này mà ăn năn đền tội đi, mà siêng năng lần chuỗi Mân Côi cho nhiều đi….Sau lễ Đức Mẹ Lên Trời, sẽ hết dịch”

Tôi đứng lặng người một chút. Chưa có ai dám tuyên bố thời gian hết dịch! Chỉ mới nghe bà Tư quả quyết với con cháu nhà bả!

Bà Tư lại nói tiếp. “Hồi xưa, Đức Mẹ hiện ra với Thánh Đa-minh, và dạy thánh Đa-minh loan báo cho mọi người trong Giáo Hội rằng hãy lần chuỗi Mân Côi, sẽ chiến thắng được bè rối Albigeois đó. Và quả thực, con virus giết hại các linh hồn kia đã bị hủy diệt!”

Tôi ngẫn ngơ về phòng làm việc.

Con bé đi xe đạp điện lên nhà thờ đổi nước, về. Tôi hỏi: “Sao lâu vậy con?”. Bé trả lời: “Dạ con ghé viếng thánh Giuse, xin cho hết dịch”. “Ngài nói gì không con?” “Dạ có, Ngài nói: “Cha nghe rồi, con yên tâm, sẽ hết dịch. Con nói gì với Mẹ Maria đi”. Rồi con quay sang Mẹ Maria, chưa kịp nói gì… nghe Mẹ nói: “Chúa Giê-su bảo gì, thì các con hãy làm theo”.

Hôm ấy là Chúa nhật ngày 8 tháng 8. Tôi định viết bài này ngay với hai mẩu chuyện trong ngày lễ thánh Đa-minh. Nhưng trong lòng ngần ngại…

Sáng nay, 10-8, có cuộc điện thoại của Cô Út: “Anh Bốn ơi, đêm qua em mơ thấy Đức Mẹ ôm quả địa cầu, khóc. Mẹ bảo em lần chuỗi Mân Côi. Mẹ sẽ cứu thế giới. Mẹ sẽ cứu Sài gòn! Giật mình dậy, em vội đi tìm tấm ảnh năm nào… Có rồi, em để trên bàn thờ rồi…Mẹ ôm quả địa cầu! Mẹ ôm Sài gòn! Tấm ảnh còn ghi rõ “Sài gòn 30-10-2005”.

Đã đến lúc mà mọi người phải cúi mình và tôn phục Thiên Chúa quyền năng và giàu lòng thương xót. Con người thật bé nhỏ mong manh. Đừng nghĩ mình vĩ đại nữa. Đừng vì sĩ diện nữa. Mỗi chúng ta, cứ nghĩ đến, cứ nhìn đến các lò hỏa táng kia đi, thì sẽ hiểu ra mình có đáng là gì mà sĩ diện! Cúi mình trước mặt Chúa mà sợ mất sĩ diện, còn cúi mình trước một đàn anh gian ác thì không mất sĩ diện sao? Thật vô lý. Khác gì một đứa con hư đốn không thể cúi mình trước mặt cha nó mà nói một lời xin lỗi, nhưng có thể quỳ mọp dưới chân đại ca gian ác, để xin nửa điếu thuốc thừa, nửa tô canh cặn. Không tự thấy điều vô lý ấy sao?

Đã đến lúc mà mọi Ki-tô hữu phải sám hối, ăn năn, phải cải thiện đời sống theo Tin Mừng, phải tin tưởng yêu mến Mẹ Maria, phải siêng năng lần hạt Mân Côi, như lời mời gọi của Mẹ Maria hiện ra ở Fatima năm nào. Và hơn thế nữa, không chỉ cầu nguyện cho cuộc canh tân của chính mình, mà còn phải hy sinh cầu nguyện cho cả và thiên hạ, cho mọi người trong đất nước Việt Nam thân yêu này “sám hối và Tin vào Tin Mừng Chúa Giê-su”, để được cứu rỗi, để được cùng sum họp một Nước Việt Nam vinh quang trên trời.

Các Ki-tô hữu Công Giáo sẽ cộng tác với Thiên Chúa làm nên phép lạ vĩ đại này, bằng cách thực thi đức bác ái với tất cả mọi người đang cơn cùng khốn, đồng thời liên lỉ sám hối, canh tân, cầu nguyện với chuỗi Mân Côi, tha thiết nhỏ to với Thánh Giuse đầy thần thế, và nhất là nghe và sống Tin Mừng Chúa Giê-su dạy.

Các Ki-tô hữu Công Giáo sẽ không ước mơ vu vơ hay hão huyền, nhưng là đặt một niềm hy vọng vững chắc, một đức Trông Cậy vững vàng vào Thiên Chúa quyền năng và giàu lòng xót thương, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse và các thánh trên trời. Bấy giờ, cơn đại dịch sẽ chấm dứt, virus corona sẽ bị tiêu diệt.

Xin cảm ơn Đức Thánh Cha luôn mời gọi chúng con Lần Chuỗi Mân Côi.

Xin cảm ơn các Cha, các Hiệp Hội, các chương trình đã tổ chức cho chúng con những buổi Lần Chuỗi Mân Côi trực tuyến.

Hôm nay lễ Mẹ Lên Trời rồi.

Ước gì, hết thảy mọi người sẽ Lần Chuỗi Mân Côi, chung, riêng, bất cứ lúc nào có thể.

Xin cảm ơn Bà Tư già, đã nhắc nhớ.

Sau lễ Đức Mẹ Lên Trời…sẽ hết dịch.

Và sẽ hết dịch…..để mọi người thờ phượng Chúa cho nên…

PM. Cao Huy Hoàng

---------------------------------

 

15/8-128: NHỮNG NGƯỜI THUỘC VỀ CHÚA KITÔ

 

Gọi là lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời. Nhưng sau khi nghe ba bài Kinh Thánh, ta chẳng hề thấy có15/8-128


Gọi là lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời. Nhưng sau khi nghe ba bài Kinh Thánh, ta chẳng hề thấy có nội dung nào là Đức Mẹ về trời. Vậy những bài đọc Kinh Thánh muốn nói gì?

Bài đọc I trích sách Khải huyền kết thúc: "Nay sự cứu độ, quyền năng, uy quyền của Đức Kitô đã được thực hiện". Còn bài đọc II, thánh Phaolô gọi Chúa Kitô là hoa quả đầu mùa, sau đó mới đến những người thuộc về Chúa Kitô. Bài Tin Mừng lại càng rõ nét hơn. Chính Đức Mria ca ngợi Chúa rằng: "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, lòng tôi hoan hỷ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi".

Lễ Đức Mẹ được triệu hồi về trời, Hội Thánh lại mời gọi ta hướng về Chúa Kitô. Bởi dù là Mẹ Thiên Chúa, Đức Mẹ vẫn chỉ nhờ đến ơn cứu độ do một mình Chúa Kitô thực hiện. Hôm nay, dù Đức Mẹ có được đưa lên trời hồn xác, thì tác nhân chính của ân huệ cao cả này là Chúa Giêsu.

Chính lời nguyện đầu lễ xác nhận: "Chúa đã đưa lên trời cả hồn xác Đức Maria". Còn kinh Tiền tụng trong lễ này cũng không đi ngoài nội dung ấy: "Mẹ được Thiên Chúa đưa về trời".

Những kiểu nói: "Chúa đã đưa", "được đưa" nghĩa là gì, nếu không phải là chính ơn Thiên Chúa ban, là chính nhờ cuộc khổ nạn, phục sinh, lên trời của Chúa Kitô, Đức Mẹ mới được đưa về trời cả hồn lẫn xác.

Cùng là người như chúng ta, Đức Mẹ không thể tự mình về trời hồn xác. Bởi đó, trong thánh lễ này, Hội Thánh hướng về Thiên Chúa mà tuyên xưng những hành động kỳ diệu Chúa đã thực hiện nơi Đức Mẹ.

Chính Đức Mẹ chứ không phải ai khác, là người đầu tiên tuyên xưng hành động cứu độ của Thiên Chúa: "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, Đấng Cứu độ tôi". Đức Mẹ quy hướng ơn cứu độ về Thiên Chúa và ngợi khen Đấng Cứu độ mình. Chỉ nhờ Đấng Cứu độ, chỉ trong Đấng Cứu độ, Đức Mẹ mới được đưa lên trời hồn xác, vì Đấng ấy đã cứu độ Đức Mẹ.

Lời ca ngợi quy về Thiên Chúa của Đức Mẹ, còn được hỗ trợ bởi nhiều lời Kinh Thánh khác. Chẳng hạn thánh Phaolô trong bài đọc II: “Hoa quả đầu mùa là Đức Kitô, rồi mới đến những người thuộc về Đức Kitô”.

Có ai thuộc về Chúa Kitô bằng Đức Maria. Bởi vậy, nếu Chúa Kitô là hoa quả đầu mùa, đã về trời cả hồn xác, thì Đức Mẹ, người thuộc về hoa quả ấy cách trọn vẹn, cũng được đưa về trời hồn xác, không là điều khó hiểu.

Vì thế, khi khẳng định Đức Mẹ không thể tự mình về trời nếu không có Chúa, không hạ thấp vai trò của Đức Mẹ. Trái lại, ta tuyên xưng đúng vị trí mà Đức Mẹ được Chúa thưởng ban.

Trong chính ngày lễ Đức Mẹ hồn xác về trời, bằng các bài Kinh Thánh, bằng các lời nguyện, bằng kinh tiền tụng, Hội Thánh hướng chúng ta về Thiên Chúa, để cùng Đức Mẹ mà ca ngợi Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi”.

Tuy nhiên, để có được ơn vinh quang về trời, Đức Mẹ đã sống đức tin trọn vẹn. Ngay cả khi đứng bên thập giá, nhìn con chết tức tưởi, nhục nhã, Đức Mẹ vẫn tin, vẫn ngợi khen Thiên Chúa, Đấng Cứu độ của mình.

Còn chúng ta, sống giữa biển đời, biết bao nhiêu lần va chạm thử thách, bao nhiêu bi thương ập đến, có khi như muốn vùi lấp cuộc đời mình, những lúc như vậy, ta có còn tin Chúa? Có đủ trông cậy để cất lời ca ngợi: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi” như Mẹ của mình?

Câu hỏi này xin gởi đến bạn và cũng là nói với chính bản thân tôi, để tất cả chúng ta tự tra vấn đức tin của mình đối với Thiên Chúa.

Nếu Đức Mẹ đã ca ngợi Chúa bằng cả cuộc đời thế nào, thì suốt cuộc đời của bạn và tôi, cũng phải là lời ca ngợi Thiên Chúa liên lỷ như vậy.

Dù trong hoàn cảnh nào, dù cuộc đời có thương đau như một người mang thai “kêu la chuyển bụng, và đau đớn sinh con”, hay nỗi bất hạnh, lao đao, hoặc ngay cả tai họa ập đến dữ dội như con rồng khổng lồ đang đe dọa hãi hùng mà sách Khải huyền diễn tả, chúng ta vẫn một lòng tin tưởng tín thác đời mình cho Chúa như  Đức Mẹ.

Thánh Phaolô nói, Chúa Kitô là hoa quả đầu mùa, rồi mới đến những người thuộc về Chúa Kitô. Đức Mẹ đã thuộc về Chúa Kitô, và chúng ta cũng thuộc về Chúa Kitô.

Nếu biết sống đức tin mạnh mẽ như Đức Mẹ, chúng ta cũng được hồn xác về trời như Đức Mẹ. Những gì Chúa đã thực hiện nơi Đức Mẹ, Chúa cũng sẽ thực hiện nơi từng người.

Mãi mãi xác tín, Chúa Kitô là hoa quả đầu mùa, rồi sẽ đến lược chúng ta, những kẻ thuộc về Chúa Kitô. Một khi niềm xác tín của ta đạt đến mức độ cao như Đức Mẹ, chắc chắn cả cuộc đời ta cũng sẽ là cuộc đời ca khen Thiên Chúa cùng Đức Mẹ, hiệp thông với Đức Mẹ: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi”.

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

----------------------------

 

15/8-129: NIỀM VUI VÀ HY VỌNG CỦA THẾ GIỚI

 

Mừng lễ Ðức Maria Hồn Xác Lên Trời hôm nay, chúng ta cùng với Mẹ lặp lại lời Kinh Ngợi Khen 15/8-129


Mừng lễ Ðức Maria Hồn Xác Lên Trời hôm nay, chúng ta cùng với Mẹ lặp lại lời Kinh Ngợi Khen mà Mẹ đã từng cất lên : “Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa và thần khí tôi hoan hỉ trong Chúa Ðấng cứu độ tôi” (Lc 1, 46-47).

Quả thật, lễ Mẹ lên Trời là lễ của niềm vui hoan hỉ trọn cả xác hồn. Mẹ được ân thưởng về Trời cả hồn lẫn xác mang đến cho chúng ta niềm phấn khởi tươi vui và một bầu trời hy vọng. Mẹ giúp chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa đã cho Mẹ hồn xác về Trời, Ngài cũng sẽ làm như thế cho chúng ta.

Vui vì sự chết bị tiêu diệt

Sách Khải Huyền trình bày cho chúng ta về Người Nữ, “đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1). “Bà sinh một con trai” (Kh 12,5). “Con trai” của Người Nữ ám chỉ Đấng Mêssia, “Đấng sẽ dùng roi sắt mà cai trị muôn dân” (Kh 12,5).

Mặt đối mặt giữa Người Nữ đang chuẩn bị sinh con đại diện cho sự cứu rỗi nhân loại được bảo đảm bởi chiến thắng của Thiên Chúa, và bên kia là con Rồng, được mô tả như là mầm mống của sự chết chóc, biểu tượng của Satan và ác thần đứng “ rình người nữ sắp sinh con để nuối lấy đứa trẻ” (Kh 12, 4) ám chỉ việc vua Hêrôđê đã cố gắng giết Hài Nhi Giêsu (x. Mt 2,16).

Lời loan báo : “Nay sự cứu độ, quyền năng, vương quyền của Thiên Chúa chúng ta, và uy quyền của Đức Kitô của Người đã được thực hiện” (Kh 12,10) mạc khải rõ niềm hy vọng và sức mạnh tương lai, báo trước sự chiến thắng của đức tin trước các thế lực sự dữ. Đứa trẻ “Con Bà được mang về cùng Thiên Chúa, đến tận ngai của Người” (Kh 12, 5) thể hiện sự hiển trị của Thiên Chúa, và khẳng định rằng tương lai nhân loại không bị thống trị bởi cái ác, nhưng là Thiên Chúa. Do bởi đặc ân khôn tả mà “Người Nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12, 1) được hiểu là Đức Maria. Mẹ lên Trời, một chân trời hy vọng và cuộc sống hạnh phúc trong tương lai đã mở ra.

Chiến thắng của Đức Kitô trên sự chết giúp chúng ta đối mặt với thử thách cuối cùng, vì “kẻ thù cuối cùng sẽ bị tiêu diệt là sự chết” (1 Cr 15,6). Chúa Kitô đã tiêu diệt sự chết “bởi Người đã bắt mọi sự quy phục dưới chân Người” (1 Cr 15,6). Chúa Kitô đã chiến thắng sự chết, chúng ta thật hỉ hoan vui mừng.

Mừng vì Mẹ được đưa lên Trời cả hồn xác

Mừng lễ Đức Maria hồn xác về Trời hôn nay, chúng ta hay gia tăng lòng sùng kính và biết ơn Mẹ. Nếu ngày truyền tin con Thiên Chúa nhập thể, Mẹ đã vui lòng đón nhận Chúa Giêsu đến cho trần gian, đem niềm vui cho nhân thế, đây là ơn cao trọng nhất. Thì ngày lễ Đức Mẹ lên Trời cả hồn lẫn xác mang đến cho chúng ta một bầu trời hân hoan hy vọng. Mẹ giúp chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa muốn cứu độ tất cả mọi người trọn vẹn cả hồn lẫn xác.

Chúa Giêsu Con Mẹ, Đấng là trưởng tử mọi loài thọ sinh đã sống lại với thân xác đã nhận lãnh từ mẹ mình là Đức Maria. Thân xác đã được Chúa Giêsu mặc lấy, sống, chết và sống lại, rồi đưa về Trời với Chúa Cha, cùng với nhân tính được biến đổi của Người. Như thế, Đức Maria không thể tự lên trời một mình được. Chính Thiên Chúa đã chọn “đảm nhận” Mẹ, cả thể xác lẫn linh hồn, bằng cách đoàn tụ Mẹ với Chúa Giêsu Con Mẹ mà không cần đợi đến sự sống lại trong ngày sau hết. Mẹ biết rằng, thế nào Thiên Chúa cũng hợp nhất thể xác và linh hồn của Mẹ với con Mẹ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.

Việc Ðức Maria, một thụ tạo ưu tuyển đầu tiên được ân thưởng về Trời cả xác hồn, giúp chúng ta ngay từ cõi đời này sống tin tưởng và hy vọng, vì số phận của Đức Maria thế nào thì số phận chúng ta của chúng ta cũng thế ấy.

Sống niềm tin và hy vọng

Hôm nay, chúng ta cảm tạ Chúa cùng với Mẹ Maria ! Vì nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô Con Mẹ, Đấng là trưởng tử những người đầu tiên sinh ra từ kẻ chết. Mẹ là người đầu tiên trong số những người được cứu, nay được rước lên Trời cả hồn lẫn xác để lãnh nhận triều thiên chiến thắng. Ngôi mộ không thể cầm giữ được Mẹ, nhà tạm đầu tiên của Chúa Giêsu, Đấng hằng sống. Nơi Mẹ, toàn thể con cái Mẹ được hưởng nếm trước niềm vui phục sinh.

Lời tiên tri trong sách Khải Huyền thật rõ: chiến thắng của Người Nữ trước con Rồng liên quan đến Giáo hội mà Đức Maria là hình ảnh, là biểu tượng và là hiện thân của Giáo Hội.

Trong đoạn Sách Khải Huyền 11,19a; 12,1-6, các hình ảnh chen lấn và ăn khớp với nhau. Tất nhiên, đứa trẻ được sinh ra là Chúa Giêsu Kitô, nhưng tất cả chúng đều là con cái của Giáo hội. Người Nữ là Đức Maria, nhưng cũng chính là Giáo hội đang sống trong mình nỗi đau đớn khi sinh nở. Nơi chúng ta, Mẹ vẫn còn phải đau đớn vì tội lỗi, đang phải chiến đấu chống lại cái ác và sự chết. Mẹ giúp chúng ta giành chiến thắng trước cái ác. Mẹ lên Trời, niềm vui tỏa bay trong Giáo hội, báo trước sự khải hoàn chung cuộc Thiên Chúa dành cho chúng ta. 

Trong ngày lễ trọng này, toàn thể Giáo hội cám ơn Mẹ vì tất cả những gì Mẹ đã làm trên trái đất này, từ lúc đón nhận lời Thiên Sứ Truyền Tin cho tới khi hoàn tất cuộc đời dương thế : Mẹ là người môn đệ gương mẫu hoàn hảo trong việc lắng nghe lời Con Mẹ và thực hành thánh ý Chúa Cha. Mẹ chỉ cho chúng ta thấy rằng con đường dẫn đến vinh quang là con đường theo ý Chúa. Những điều ấy nhắc nhở chúng ta rằng, chúng ta hoàn thiện bản thân không phải bằng cách làm những gì đẹp lòng chúng ta, nhưng là làm những gì đẹp thánh ý Chúa. Cùng với Mẹ chúng ta thưa : Xin Chúa hãy thực hiện nơi con những gì Chúa muốn!

Nữ Vương linh hồn và xác lên Trời. Cầu cho chúng con. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

---------------------------

 

15/8-130: HỌC THEO GƯƠNG NHÂN ĐỨC CỦA MẸ MARIA

 

Giáo Hội mừng lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, tôi muốn chia sẻ với bạn vài điều quan trọng sau 15/8-130


Giáo Hội mừng lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, tôi muốn chia sẻ với bạn vài điều quan trọng sau đây:

• Sự khác biệt giữa Tước Hiệu & Tín Điều về Đức Maria.

• Một vài nét lịch sử của ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.

• Học hỏi và thực hành hai nhân đức tuyệt vời của Đức Mẹ.

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TƯỚC HIỆU & TÍN ĐIỀU:

Tước Hiệu (hay Danh Hiệu) thì khác với Tín Điều. Tước Hiệu của Đức Mẹ thì có nhiều lắm. Ví dụ như Nữ Vương Hòa Bình, Đức Mẹ Fatima, Đức Mẹ Lộ Đức, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Đức Mẹ Ban Ơn, Đức Mẹ Lavang, Đức Mẹ Tà Pao ... nhưng Tín Điều về Đức Mẹ thì chỉ có bốn mà thôi. Sau đây là bốn Tín Điều được trình bày theo thứ tự thời gian:

• Tín điều Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Được Công Đồng Ê-phê-sô công bố vào năm 431.

• Tín điều Đức Maria Trọn Đời Đồng Trinh. Được công bố vào năm 649 bởi Công Đồng Latêranô.

• Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Do Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố vào ngày 8 tháng 12 năm 1854.

• Tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời: Do Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố vào ngày 1 tháng 11 năm 1950.

LỊCH SỬ CỦA NGÀY LỄ:

Ngay hồi thế kỷ thứ V, Giáo Hội đã mừng lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, nhưng lúc bấy giờ chỉ gọi là Lễ Ngôi Mộ Trống. Qua đến thế kỷ thứ 7, lễ này được mừng rộng rãi ở bên Anh, Đức và Pháp. Nhưng mãi đến ngày 1 tháng 11 năm 1950, Đức Giáo Hoàng Piô XII mới chính thức công bố, Ðức Maria Hồn Xác Lên Trời là một Tín Điều, nghĩa là các tín hữu bắt buộc phải tin. Ngài tuyên bố như sau: "Do uy quyền của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, của hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, và với thẩm quyền của Ta, Ta phán quyết, tuyên ngôn, và định tín là tín điều đã được mạc khải rằng: Đức Maria, Mẹ Vô Nhiễm của Thiên Chúa trọn đời đồng trinh, sau cuộc sống trần gian này, đã được phúc vinh quang Thiên đàng cả hồn và xác.

THỰC HÀNH HAI NHÂN ĐỨC CỦA ĐỨC MẸ:

Mừng Lễ Mẹ Hồn Xác Về Trời, bạn và tôi hãy học hỏi và noi gương Đức Mẹ hai nhân đức tuyệt vời này của Mẹ.

- Thứ nhất là biết QUAN TÂM tới người chung quanh. Thánh Luca ghi lại rằng, Mẹ Maria khi nghe tin bà chị họ đã già rồi mà vẫn có thai, thì Mẹ đã vội vã lên đường đến thăm và ở lại giúp đỡ cho bà Ê-li-sa-bét.

 - Thứ hai là đem niềm vui đến cho mọi người. Khi vừa gặp bà chị họ của mình, thì lập tức bà Ê-li-sa-bét và cả thai nhi trong lòng bà, cũng đã cảm nghiệm được một niềm vui khôn tả. "Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng."

Xin hãy quan tâm và cố gắng đem niềm vui đến cho mọi người, bắt đầu từ ở trong gia đình mình bằng cách:

• Để ý đến nhiệt độ trong phòng ngủ của ông bà, của cha mẹ, xem thử có ấm áp, có mát mẻ đủ hay không?

• Là chủ nhân, xin hãy khích lệ, khen tặng, động viên thợ thuyền, nhân công, những người làm việc cho mình.

• Quý ông và quý anh, xin hãy nói một lời khen, một lời động viên, khi bà xã nấu một món ăn ngon, và vui vẻ giúp cho vợ dọn bàn ăn, rửa chén, đổ rác, lau nhà, hút bụi...

• Vợ chồng xin hãy thường xuyên nói với nhau những câu cám ơn, xin lỗi, làm ơn… Thánh Teresa thành Calcutta đã nói: "Những lời nói [thank you, sorry, pardon me...] ngắn lắm nhưng hiệu quả của nó thì vô tận."

• Cầu nguyện, đến an ủi, thăm viếng, động viên, chăm sóc, trao Mình Thánh Chúa…các bệnh nhân.

• Cầu nguyện và giúp đỡ cho các dòng tu, cho các chủng viện có phương tiện đào tạo chủng sinh & tu sĩ…

• Sống lạc quan, vui vẻ, hòa nhã với mọi người và cố gắng mỗi ngày nghĩ tốt, nói tốt và làm tốt cho họ.

Tôi chắc tin rằng, khi bạn và tôi biết nhìn vào gương nhân đức của Mẹ Maria, biết quan tâm tới những người chung quanh, luôn tìm cách đem niềm vui đến cho mọi người, thì đời sống của chúng mình sẽ có ý nghĩa hơn, hạnh phúc hơn, vui vẻ hơn, và nhất là Đức Mẹ sẽ vui hơn, vì Mẹ thấy đoàn con của Mẹ đang đạt tới đỉnh cao của Đức Bác Ái như Mẹ.

Tôi cũng xin bạn cầu nguyện cho ngày Lễ Thánh Hiến Ngôi Thánh Đường Giáo Xứ Đức Mẹ Lavang (Hoa Kỳ) của chúng tôi vào ngày lễ Bổn Mạng, Mẹ Hồn Xác Về Trời. Xin cho mọi sự diễn ra trong bình an, thuận lợi, và xin cho mọi người đến đây tìm được niềm vui, và nhận được muôn ơn lành hồn xác của Chúa ban cho qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria. Xin chân thành cám ơn, và cầu chúc bạn cũng như gia đình bạn một tuần lễ mới vui khỏe, hạnh phúc và bình an.

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

------------------------------

 

15/8-131: LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI


LINH HỒN TÔI NGỢI KHEN CHÚA (MAGNIFICAT ANIMA MEA)

“Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa“

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

 

Một lần nữa Phụng Vụ của Hội Thánh Công giáo tôn vinh ca tụng Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ15/8-131


Một lần nữa Phụng Vụ của Hội Thánh Công giáo tôn vinh ca tụng Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ loài người. Có 3 từ la-tinh trong Phúc âm diễn tả khá đầy đủ cuộc đời và công trạng, của Đức Maria: FIAT-MAGNIFICAT-STABAT (XIN VÂNG-NGỢI KHEN-ĐỨNG VỮNG).

- Fiat = Lời “Xin Vâng” là lời Đức Maria đáp lại sứ thần truyền tin.

- Stabat= từ “đứng vững”, “đứng lâu” là động từ ở thể imperfect có nghĩa là đứng vững, đứng lâu diễn tả tư thế của Đức Maria trên đồi Golgotha khi Con Mẹ bị treo trên thập giá. Còn lời

- Magnificat = (linh hồn tôi) “ngợi khen” (Chúa) là lời Đức Maria thốt lên khi nghe lời chúc tụng của bà Elisabeth.

Cả cuộc đời của Đức Maria là xin vâng theo Thánh Ý Thiên Chúa. Cả cuộc đời của Đức Maria là đứng/ở bên cạnh Con Thiên Chúa. Cả cuộc đời của mình Đức Maria không ngừng cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa về Ơn Cứu Độ mà Người đã ban cho nhân loại qua Con Một Yêu Dấu là Chúa Giêsu Kitô, do Đức Maria sinh ra.

II. LẰNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Lc 1,39-56:  Trong những ngày ấy, Maria chỗi dậy, vội vã ra đi lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Elisabeth, và khi bà Elisabeth nghe lời chào của Maria, thì hài nhi nhảy mừng trong lòng bà, và bà Elisabeth được đầy Chúa Thánh Thần, bà kêu lớn tiếng rằng:

"Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và Con lòng Bà được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm? Vì này tai tôi vừa nghe lời Bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi. Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện".

Và Maria nói: "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa. Này từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi có phước, vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại, và Danh Ngài là thánh. Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những người kính sợ Chúa. Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai thần trí kiêu căng. Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những người phận nhỏ. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không. Chúa săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi người đến muôn đời".

Maria ở lại với bà Elisabeth độ ba tháng, đoạn Người trở về nhà mình.

III. SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Mc 6,1-6:      

3.1 Đức Maria chỗi dậy, vội vã ra đi lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa: Sau khi được sứ thần cho biết người chị em họ là Bà Elisabeth có tin vui lúc tuổi già, Đức Maria đã chỗi dây vội vã lên đường đến nhà người chị em họ của mình. Để chung vui với người chị em họ và cũng để chia sẻ nểim vui mà Người đang hưởng là có Con Thiên Chúa trong lòng. Cũng là để giúp đỡ người chị em họ Elisabeth trong những ngày bà ấy sắp sinh con (Maria ở lại với bà Elisabeth độ ba tháng, đoạn Người trở về nhà mình).

3.2 Bà Elisabeth vui mừng đón tiếp và “xuất thần” ca ngợi người chị em họ: Nói cách bình dân là hai bà bầu gặp nhau. Nhưng hai bà bầu này đều mang cái bầu rất đặc biệt có một  không hai trong lịch sử loài người: một là Đấng tiền Hô, một là Chúa Cứu Thế. Vì thế là cuộc gặp mặt giữa hai bà bầu đã diễn ra một cách hết sức hoành tráng: “Bà (Maria) vào nhà ông Dacaria và chào bà Elisabeth, và khi bà Elisabeth nghe lời chào của Maria, thì hài nhi nhảy mừng trong lòng bà, và bà Elisabeth được đầy Chúa Thánh Thần, bà kêu lớn tiếng rằng:  "Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và Con lòng Bà được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm? Vì này tai tôi vừa nghe lời Bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi. Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện"

3.3 Đức Maria cất tiếng chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa: Khi nghe bà Elisabeth ca ngợi minh một cách bất ngờ lòng trí  Đức Maria tràn đầy hân hoan và tâm tình cảm tạ. Bà đã cất lên bài ca MAGNIFICAT bất hủ: Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa. Này từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi có phước, vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại, và Danh Ngài là thánh. Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những người kính sợ Chúa. Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai thần trí kiêu căng. Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những người phận nhỏ. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không. Chúa săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi người đến muôn đời".

Có lẽ bài ca này Đức Maria đã đọc hằng ngày trong những giầy phút cầu nguyện mật thiết với Chúa, chứ không chỉ hôm nay trong căn nhà của ông Giacaria và bà Elisabeth. Đức Maria ngợi khen Thiên Chúa không chỉ về những việc Chúa đã làm cho riêng Bà mà còn về cả những việc Chúa đã làm cho dân Israel và cho những người yêu mến Chúa.

IV. THỰC THI LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Ga 6,24-35:

4.1 Chúng ta hãy vui cùng Đức Maria và Bà Elisabeth: Đó là việc đầu tiên mỗi Kitô hữu chúng ta nên làm vì niềm vui của Đức Maria và của Bà Elisabeth cũng là niềm vui của tất cả mọi người, nhất là của các Kitô hữu chúng ta.

4.2 Chúng ta hãy làm theo Đức Maria và Bà Elisabeth: Công việc tiếp theo mà mỗi Kitô hữu nên làm là noi gương bắt chước Đức Maria và Bà Elisabeth: tâm tình khiêm nhường và tri ân, tinh thần và việc làm giúp đỡ phục vụ, hành động chia sẻ… nhất là trong giai đọan dịch bệnh khủng khiếp này.

V. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Ga 6,24-35

KHAI MỞ:  Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giêsu Kitô và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha vì Cha đã ban cho chúng con Đức Maria là Mẹ của Con Một Cha và là Mẹ của chúng con. Hôm nay chúng con mừng kính mầu nhiệm Hồn Xác Lên Trời của Đức Maria là nữ tỳ của Cha. Xin Cha nghe lời chúng con cầu xin.

Ý VÀ LỜI CẦU NGUYỆN

1.- «Trong những ngày ấy, Maria chỗi dậy, vội vã ra đi lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Elisabeth»  Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Thiên Chúa cho hết mọi người sốt sáng đến với nhau để chia sẻ niềm vui của mình và giúp đỡ người khác.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

2.- «Khi bà Elisabeth nghe lời chào của Maria, thì hài nhi nhảy mừng trong lòng bà, và bà Elisabeth được đầy Chúa Thánh Thần, bà kêu lớn tiếng rằng: "Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và Con lòng Bà được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm? Vì này tai tôi vừa nghe lời Bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi. Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện»  Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Thiên Chúa cách riêng cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế và Tu Sĩ Nam Nữ để các vị tích cực giúp người có được niềm vui khi nghe về  Chúa Giêsu Kitô và được Thánh Thần tác động.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

3.- «Và Maria nói: "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa. Này từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi có phước, vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại, và Danh Ngài là thánh. Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những người kính sợ Chúa»  Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các Kitô hữu trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta và trong các cộng đoàn giáo khác, để mọi Kitô hữu biết cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa về những việc trọng đại mà Thiên Chúa đã làm cho mỗi người.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! háp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

4.- «Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai thần trí kiêu căng. Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những người phận nhỏ. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không. Chúa săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi người đến muôn đời»  Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Thiên Chúa cho càng ngày càng có nhiều người cảm nghiệm được cách hành xử của Thiênn Chúa với mọi người noi chung và với dân Kitô giáo nói riêng.

LỜI KẾT:

Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giêsu và là Cha của chúng con, chúng con xin chúc tụng ngợi khen và cảm tạ Cha, vì Cha đã ban cho Đức Maria, là Mẹ Chúa Giệsu và Mẹ chúng con, ơn vô cùng đặc biệt và ”có một không hai” là được lên trời cả hồn cả xác.

Chúng con xin Cha ban cho chúng con một lòng cảm mến và biết ơn để chúng con luôn biết cất tiềng ngợi khen Cha.

Chúng con cũng xin Cha ban cho chúng con biết noi gương bắt chước Đức Maria để chúng con luôn sốt sáng chia sẻ niềm tin của chúng con và giúp đỡ người khác. Chúng con cầu xin vì Danh Chúa Giêsu Kitô, Con Cha, Chúa chúng con. Amen.

Sàigòn ngày 12 tháng 08 năm 2021

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội 

-------------------------------

 

15/8-132: Đức Maria là người được chúc phúc

 

Đức Maria là người được chúc phúc, không chỉ vì Mẹ là người đã lắng nghe Lời Thiên Chúa, mà 15/8-132


Đức Maria là người được chúc phúc, không chỉ vì Mẹ là người đã lắng nghe Lời Thiên Chúa, mà còn vì Mẹ đã đem Lời Chúa ra thực hành. Khi đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa vào lòng của mình, Mẹ đã không giữ Ngôi Lời lại cho riêng mình mà vội vàng đem Chúa đến cho người khác.

Hôm nay, cùng với toàn thể Hội Thánh, chúng ta hân hoan mừng lễ Đức Maria, hồn xác lên trời. Mẹ lên trời, mang lại cho chúng niềm hy vọng, cậy trông và đầy ủi an, vì Mẹ đi đâu thì chúng ta cũng đi đó.

Nhưng tại sao Đức Mẹ lại được đặc ân cao cả như vậy? Bởi cứ theo lẽ thường, thì sau khi nguyên tổ phạm tội, tất cả loài người đều phải chịu đau khổ và cuối cùng phải chết. Thân xác của chúng ta, khi kết thúc cuộc đời này, phải hư nát đi, đợi chờ ngày phán xét trong cuộc phán xét chung thẩm. Nhưng đối với Đức Mẹ, trong niềm tin của chúng ta, thân xác Mẹ đã không bị hủy diệt, vì Mẹ được Chúa đưa về trời cả hồn lẫn xác.

Phải chăng vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa? Phải chăng vì Mẹ đã được ơn vô nhiễm nguyên tội ngay từ lúc đầu thai? Phải chăng vì Mẹ là Đấng trọn đời đồng trinh? Hay phải chăng Mẹ đã đồng công cứu chuộc cùng với người Con chí thánh của mình là Đức Giêsu Kitô?

Vâng, đúng như vậy. Nhưng hôm nay, Tin Mừng theo thánh Luca còn cho chúng ta biết thêm một lý do quan trọng nữa. Sở dĩ Đức Mẹ được đưa lên trời cả hồn lẫn xác là vì Mẹ là Đấng đã vâng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa.

Mẹ là mẫu gương lắng nghe Lời Thiên Chúa

Bài đọc thứ nhất được trích trong sách Sử Biên Niên, nói về việc vua Đavít cho triệu tập toàn dân lại, và tổ chức một cuộc rước kiệu hòm bia Thiên Chúa thật linh đình. Cùng với nhà vua, còn có những người đứng đầu các thầy Lêvi, các ca viên, nhạc công, với đàn sắt, đàn cầm, thanh la não bạt. Đoàn rước tiến đi trong tiếng đàn ca hoan hỉ cùng tiến về Lều Hội Ngộ – là nơi đặt Hòm Bia. Họ vừa đi vừa hát: “Lạy Chúa, xin lên đường tới nơi an nghỉ. Chúa và Hòm Bia oai quyền Chúa cùng đi”. Hòm Bia giao ước là chiếc hòm được chạm trổ công phu, trong đó có chứa 2 tấm bia giao ước có ghi 10 điều răn mà Thiên Chúa đã truyền cho dân của Ngài qua trung gian là Môsê. Đối với Itraen, sự hiện diện của Hòm Bia giao ước cũng chính là sự hiện diện của Giavê Thiên Chúa. Đó cũng là niềm tự hào của dân Chúa chọn, bởi vì xung quanh Itraen, không có vị thần nào lại trực tiếp ở với dân của mình. Quả thật, còn gì hạnh phúc hơn khi được Thiên Chúa ở cùng.

Đức Trinh Nữ Maria cũng được nhìn nhận là Hòm Bia Thiên Chúa, như chúng ta vẫn đọc trong kinh cầu Đức Bà: “Đức Bà là Hòm Bia Thiên Chúa”. Sở dĩ chúng ta tuyên xưng như vậy, là vì Đức Mẹ là người đã cưu mang Ngôi Lời Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô trong cung lòng của mình. Kể từ lúc Mẹ nói lời xin vâng khi sứ thần Thiên Chúa truyền tin, thì cung lòng của Mẹ trở nên Hòm Bia cho Thiên Chúa ngự vào.

Khi xuống thế làm người, Ngôi Lời Thiên Chúa đã không chọn một người Mẹ cao sang, quyền quý, nhưng đã chọn Đức Maria, một tì nữ thấp hèn, trong ngôi làng nhỏ bé Nazaret. Tại sao vậy? Thưa bởi vì Mẹ đã lắng nghe lời Thiên Chúa. Cũng như biết bao thiếu nữ Do thái khác, Mẹ cũng biết rõ lời ngôn sứ Isaia loan báo 8 thế kỷ trước đó: “Này đây, một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai”. Nhưng Mẹ không bao giờ nghĩ là mình lại chính là “thiếu nữ đầy ơn phúc ấy”. Chẳng thế mà khi thiên thần Gabriel truyền tin, Mẹ hết sức ngỡ ngàng: “Việc đó xảy đến thế nào, vì tôi không biết đến người nam?”. Sau khi nghe thiên thần giải thích, Mẹ đã hiểu rằng, Mẹ đang được mời gọi cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa và Mẹ đã cúi đầu thưa “Xin vâng” với tất cả sự khiêm tốn và lòng tin tưởng thiết tha: “Này tôi là nữ tì của Thiên Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền”.

Nếu không là người thường xuyên suy gẫm Lời Chúa, chắc hẳn khó lòng mà hiểu ngay ra được đâu là chương trình và ý định của Thiên Chúa.

Mẹ là mẫu gương thực hành Lời Thiên Chúa

Đức Maria là người được chúc phúc, không chỉ vì Mẹ là người đã lắng nghe Lời Thiên Chúa, mà còn vì Mẹ đã đem Lời Chúa ra thực hành. Khi đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa vào lòng của mình, Mẹ đã không giữ Ngôi Lời lại cho riêng mình mà vội vàng đem Chúa đến cho người khác như Tin Mừng theo thánh Luca đã thuật lại: Trong những ngày ấy, Đức Maria vội vã lên đường đi đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa, để gặp bà chị họ Êlisabet, khi ấy đang có mang được 6 tháng. Mẹ đã ở đó giúp bà chị họ cho tới khi “Mẹ tròn con vuông”.

***

Mừng lễ Đức Trinh Nữ Maria hồn xác lên trời hôm nay, Lời Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy nhìn lại đời sống của mình xem chúng ta đã biết lắng nghe và thực hành Lời Thiên Chúa hay chưa?

Trên một tấm bia mộ cổ của một người Công Giáo đạo đức có ghi đôi câu đối: “Tin không việc làm, đức tin chết. Sống chẳng yêu thương, cuộc sống tàn”. Quả thật, chủ đề “Lắng nghe và thực hành Lời Chúa”, có thể chúng ta đã nghe đến nhàm tai; nhiều người chép miệng: “Ôi dào, biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.

Vâng, từ xưa tới nay, tôi và anh chị em đã từng tự hào mình là người có đạo, chúng ta đã nghe Lời Chúa rất nhiều, nhưng trong giáo xứ, đây đó vẫn có những tranh giành, vẫn có những gia đình chưa được hòa thuận, vẫn có những gian lận trong làm ăn, vẫn có những bất công trong việc hành xử với anh chị em cùng xóm làng, cùng xứ đạo. Liệu như vậy, có phải chúng ta đang thực hành Lời Chúa dạy ?

Chúng ta tự hào rằng: Mình vẫn đi nhà thờ, vẫn đọc kinh, tham dự Thánh Lễ, nhưng đôi khi lại thiếu bác ái với anh chị em của mình.

Chúa nói: “Ai nghe và thực hành Lời Chúa thì như người khôn biết xây nhà trên đá”. Còn chúng ta, mặc dù tin vào Đức Ki-tô, nhưng trong cuộc sống thực tế, chúng ta lại xây ngôi nhà cuộc đời của mình trên những thứ cát như tiền tài, quyền lực, danh vọng...

Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI đã khẳng định: “Ngày nay, người ta cần những chứng nhân hơn là những nhà giảng thuyết. Sở dĩ người ta nghe lời những nhà giảng thuyết bởi vì người ta đã thấy họ sống chứng nhân”. Thánh tông đồ Giacôbê Tông đồ cũng đã từng nói: “Bạn hãy chứng minh cho tôi thấy đức tin không có việc làm của bạn. Còn tôi, bằng việc làm, tôi sẽ chứng minh cho bạn thấy thế nào là tin” (Gc 2, 18). Chúng ta nghĩ gì về lời mời gọi đó?

“Lạy Chúa, từ trước tới nay, chúng con vẫn thường tự hào mình là người có đạo, chúng con đã nghe Lời Chúa dạy rất nhiều, nhưng lại chưa đem ra thực hành. Nhiều lần chúng con ngại ngần, nhát đảm, không dám làm chứng cho Chúa qua việc làm chứng cho sự thật, cho những điều thiện khiến cho nhiều người vì chúng con mà mất niềm tin vào Chúa.

Nguyện xin Chúa, qua lời cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria, giúp chúng con kể từ đây, thống nhất giữa lời nói và việc làm; để mai ngày, khi đến trước tòa Chúa, chúng con sẽ vui mừng nhận được lời chúc phúc của Chúa: “Phúc cho anh em là những người đã lắng nghe và thực hành Lời Chúa”. Amen!

-----------------------------

 

15/8-133: Đức Maria trong đời thường.

 

Trong ngày mừng lễ Đức Maria được đưa lên trời cả hồn lẫn xác, phụng vụ lại cho chúng ta chiêm15/8-133


Trong ngày mừng lễ Đức Maria được đưa lên trời cả hồn lẫn xác,
phụng vụ lại cho chúng ta chiêm ngắm một Đức Maria trong đời thường.
Lúc ấy Mẹ là một cô thiếu nữ, vượt đoạn đường dài hơn 100 cây số,
đi từ Galilê lên Giuđê, để thăm bà chị họ cao niên đang mang thai.

 Bầu khí gặp gỡ là bầu khí của niềm vui.
Maria là người cất tiếng chào trước.
Tiếng chào ấy đã làm thai nhi Gioan nhảy mừng trong lòng mẹ (c. 44)
và làm bà Êlisabét ngỡ ngàng chúc tụng tán dương (cc. 42-45).
Maria cũng hân hoan cất lời ngợi khen Thiên Chúa (cc. 46-47).

Bầu khí gặp gỡ là bầu khí của Thánh Thần.
Maria đầy Thánh Thần từ khi cưu mang Đức Giêsu (Lc 1, 35).
Êlisabét đầy Thánh Thần từ khi nghe Maria chào (Lc 1, 41).
Nhờ Thánh Thần, bà Êlisabét đã khám phá ra bí mật của cô em.
Cô có phúc hơn mọi phụ nữ, vì cưu mang người Con tuyệt vời (c. 42).|
Cô còn có phúc vì dám tin điều Thiên Chúa nói (c. 45).
Chính Mẹ cũng nhận mình là người diễm phúc vì được muôn hồng ân (c. 48).

Đem Đức Giêsu đến nhà, thăm viếng, chào hỏi, ở lại, phục vụ:
đó là những điều Mẹ Maria đã làm cho bà chị họ ngày xưa,
và vẫn còn làm cho chúng ta hôm nay trên trời.
Mẹ được tôn vinh không phải để xa cách, mà để gần gũi với con người.
Đấng tự xưng là nữ tỳ của Chúa thì đã sống như nữ tỳ của nhân loại.

Lễ Đức Mẹ được đưa lên trời cả hồn lẫn xác, nhắc chúng ta nhiều điều.
Lễ này nhắc chúng ta về thế giới của Thiên Chúa, về quê hương vĩnh cửu.
Chúng ta dễ bị hút xuống thế giới này, với vẻ đẹp và nỗi khốn cùng của nó.

Chúng ta loay hoay giải quyết không xong những vấn đề của trái đất,
vì quên nhìn nó từ trên cao và hướng nó về trời cao.

Lễ này cũng nhắc chúng ta về giá trị cao quý của thân xác.
Thân xác đi với ta suốt cả cuộc đời, chịu gian khổ và được tôn vinh với ta.

Chẳng thân xác nào gần Đức Giêsu bằng thân xác của Mẹ.
“Phúc cho người phụ nữ đã cưu mang Thầy và cho Thầy bú mớm.”
Tay Mẹ đã bồng ẵm Con từ Bêlem, qua Ai Cập, lên Đền thờ.
Tay Mẹ cũng đã ôm xác Con mình, được đưa xuống từ thập tự giá.
Mẹ sống bên Giêsu gấp mười lần thời gian các tông đồ sống bên Ngài.
“Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó” (Ga 12, 26).
Hơn ai hết Mẹ là người đã gắn bó phục vụ Đức Giêsu bằng cả cuộc đời.
Hơn ai hết Mẹ xứng đáng được ở bên Con cả hồn lẫn xác.

Lễ Mẹ Lên Trời là lễ của niềm hy vọng cho cả nhân loại.
Người Kitô hữu thêm xác tín về nơi mình sẽ đến.
Mẹ là người được hưởng trước những gì chúng ta sẽ được hưởng.
Dù cuộc đời người theo Chúa lắm gian truân và hy sinh,
nhưng kết thúc lại rất tươi và có hậu.

Lễ Mẹ Lên Trời, chỉ xin được yêu mến những sự bền vững trên trời,
và bớt bị mê hoặc bởi những điều chóng qua dưới đất.Amen

 

CẦU NGUYỆN

Lạy Mẹ Maria,
Chúng con tạ ơn Chúa Giêsu
đã ban cho chúng con một người mẹ
như quà tặng vô giá lúc Người sắp lìa đời.
Mẹ được chọn làm thân mẫu của Chúa
và được ban đầy ân sủng siêu phàm,
khiến muôn thế hệ phải ngợi khen chúc tụng.
Nhưng Mẹ cũng là tỳ nữ mọn hèn
luôn mau mắn thi hành ý định của Thiên Chúa,
dù Mẹ chẳng hiểu hết được mầu nhiệm cao sâu.

Chúng con tưởng Mẹ sẽ đi trên con đường đầy hoa,
nhưng thật ra Mẹ đã đi con đường của Chúa,
con đường gập ghềnh và trắc trở,
với lưỡi gươm sắc đâm thấu tâm hồn.
Trong đời Mẹ có bao tiếng xin vâng trên môi,
từ tiếng xin vâng đầu tiên đến tiếng xin vâng trên núi Sọ.
Những tiếng xin vâng này
kết hợp với tiếng xin vâng của Con Mẹ
để Người đem ơn cứu độ cho chúng con.

Lạy Mẹ Maria,
là Mẹ Chúa Giêsu và là Mẹ chúng con.
Mẹ đã sống trọn phận người như chúng con,
và đã chiến thắng sau khi kết thúc cuộc đời trần thế.
Mẹ hiểu chúng con cần lời chuyển cầu của Mẹ biết bao
đang khi phải chiến đấu giữa trần gian đầy sóng gió.

Ước gì chúng con cũng có phúc vì đã tin như Mẹ,
có phúc vì đã làm cho Con của Mẹ được sinh ra,
và lớn lên trong thế giới hôm nay. Amen.

------------------------

 

15/8-134: Đức Mẹ Maria lên trời cả hồn và xác

 

Nếu đến Giêrusalem, người ta thường đến thăm hai nơi liên quan đến Đức Mẹ Maria. Theo truyền 15/8-134


Nếu đến Giêrusalem, người ta thường đến thăm hai nơi liên quan đến Đức Mẹ Maria. Theo truyền thống của Chính thống giáo, sau khi chết, Đức Mẹ được an táng trong mồ, gần vườn Giết-sê-ma-ni. Cũng giống như Con của Mẹ là Chúa Giêsu, sau ba ngày Mẹ được đưa lên trời cả hồn và xác. Trong khi đó, truyền thống của người Công giáo cho rằng Đức Mẹ chỉ ngủ và trong giấc ngủ Đức Mẹ được đưa về trời. Bởi đó trên núi Sion, tương truyền chính là nơi Đức Mẹ ở những năm cuối đời. Hiện nay là nhà thờ Đức Mẹ Ngủ (the Dormition of the Virgin Mary). Như vậy cả hai truyền thống này từ thời Giáo hội sơ khai đều nhìn nhận Đức Mẹ Maria được đặc ân lên trời cả hồn và xác.

Phải thừa nhận rằng cả hai truyền thống trên đây đều diễn tả tình yêu của Giáo hội dành cho Đức Mẹ. Đức Maria không chỉ là “mẹ Thiên Chúa”[1], nhưng còn là mẹ của Giáo hội. Trên lữ hành trần thế, vai trò của Đức Mẹ rõ ràng là quá quan trọng đối với những ai mong muốn được gần với Thiên Chúa. Vì tầm quan trọng này mà ngay từ Giáo hội sơ khai và những thế kỷ đầu, nhiều nhà thần học đã suy tư về những đặc ân mà Đức Mẹ đã nhận được từ Thiên Chúa. Thánh Gioan Đamascênô (675–745) viết: “Cần thiết rằng Con Thiên Chúa, khi sinh ra, đã gìn giữ vẹn tuyền đức Trinh của Mẹ, thì phải gìn giữ Mẹ khi chết, khỏi hư hoại. Đấng đã cưu mang Đấng Tạo Hoá cần được ở trong cung điện của Thiên Chúa. Mẹ Thiên Chúa cần phải có tất cả mọi điều thuộc về Con của Mẹ và cần được mọi thụ tạo tôn vinh.”   

Bên cạnh đó, các Giáo hoàng và nhiều nhà thần học cũng nhận thấy đặc ân này mỗi lúc một minh nhiên hơn. Nhất là từ sau công đồng Vaticanô I (1870), nhiều giám mục trên toàn thế giới gửi thỉnh nguyện thư về Rôma, với mong ước Đức Giáo Hoàng xác định tín điều này. Điều gì mong ước đến cũng đã đến. Ngày 1 tháng 11 năm 1950, Đức Giáo Hoàng Piô XII ban hành Thông điệp “Munificentissimus Deus”, long trọng định tín: “Đức Maria, Mẹ Vô Nhiễm của Thiên Chúa trọn đời đồng trinh, sau cuộc sống trần gian này, đã được phúc vinh quang Thiên đàng cả hồn và xác.” Trước đó, Đức Giáo Hoàng Piô XII cũng nhắn với mỗi người rằng: “Chúng ta hãy nài xin Mẹ rất thánh của mọi phần tử của Chúa Kitô mà Ta đã tín thác hiến dâng loài người cho Trái Tim Mẹ. Ngày nay ở trên trời, thân xác và linh hồn Mẹ toả sáng trong vinh quang, hiển trị cùng với Con của Mẹ.” (“Corporis Mystici”, 29-6-1943).

Thực ra nguồn gốc của lễ này đã có từ rất lâu trong lịch phụng vụ của Giáo hội. Số là khi quân Ba tư xâm chiếm Trung đông (năm 650), các đan sĩ chạy sang Rôma, đem theo nghi lễ này sang và đổi là “Lễ Mẹ Lên Trời”, mừng vào ngày 15 tháng 8. Về sau ngày này cũng là ngày để làm phép mùa màng với mong ước mưa thuận gió hòa. Cùng niềm vui với Mẹ, mỗi con cái ước mong được ở gần bên tà áo Mẹ, được giữ gìn an lành trong cuộc sống, nhất là trong những vất vả mưu sinh.

Phụng vụ Chúa Nhật thứ 20 mùa thường niên hôm nay, Tin Mừng không nói đến biến cố Đức Mẹ hồn xác lên trời. Trong Kinh Thánh, chúng ta cũng không tìm thấy chỗ nào nói về biến cố Đức Mẹ lên trời, giống như Đức Giêsu, Con của Mẹ. Tin Mừng hôm nay chỉ kể về câu chuyện cảm động của hai người phụ nữ đang thời kỳ thai nghén. Họ gặp nhau trong niềm vui của những ngày xa cách. Họ thấy nhau trong sự chúc phúc của Thiên Chúa khi cho họ được mang thai. Với Đức Mẹ, Ngôi Lời đang lớn dần trong cung lòng vẹn sạch của Mẹ. Với người chị họ Ê-li-sa-bét, người con trong bụng là Gioan Tẩy Giả sau này, cũng nhảy mừng vui sướng. Người chị họ này mở lời chào Mẹ Maria như lời của sứ thần trong ngày truyền tin: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ”. Phúc vì Mẹ đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Ngài đã nói với Mẹ. Từ đây Mẹ trở nên thụ tạo duy nhất được mang thai Con Đấng Tối Cao.

Để có được tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời, dĩ nhiên Giáo hội đã phải suy xét và cầu nguyện thật nhiều. Tiến trình ấy cũng cần thời gian để các ngài suy tư và nhận được ơn soi sáng. Trong tín trình suy tư này, càng ngày Giáo hội càng thấy Đức Mẹ xứng đáng nhận được những đặc ân, bởi cuộc đời của Mẹ hoàn toàn dành cho Thiên Chúa. Có lẽ một trong những bản văn đẹp nhất về Đức Mẹ mà Giáo hội không ngừng cầu nguyện và suy tư: bài ca Ngợi Khen (Magnificat). 

Sau lời chào của hai người phụ nữ, Mẹ Maria liền cất lời ngợi khen Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa.” Ngợi khen vì Mẹ tuy chỉ là nữ tỳ hèn mọn, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Mẹ những điều cao cả. Mẹ tán dương Thiên Chúa, vì tuy Mẹ chỉ là thụ tạo, nhưng Thiên Chúa đã cho mẹ trở nên Mẹ Thiên Chúa. Mẹ thay cho toàn thể dân Chúa, thay cho những người yếu thế cô thân, để xác tín rằng: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.” “Thiên Chúa cũng nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.”  Trong những lời Mẹ đang cất hát, người nghe có thể cảm nhận được những lời quen thuộc của Cựu Ước đang hòa làm một với Tân Ước[2]. Mẹ như ca sĩ đang nâng niu từng nốt nhạc, từng cung bậc cảm xúc, từng ca từ, để cả tâm hồn và thể xác hướng về Thiên Chúa. Tóm lại, mọi ca từ hay nốt nhạc trong bài ca này đều nói lên những nhân đức của Mẹ. Rồi với tình yêu này, Giáo hội nhận thấy chắc chắn Đức Mẹ của chúng ta xứng đáng được Thiên Chúa đưa về trời cả hồn và xác.

     Lạy Mẹ Maria, trên Thiên quốc, xin Mẹ đoái nhìn đến cuộc sống lữ hành của chúng con. Xin Mẹ nhắc nhớ chúng con đừng quá mê man với cuộc sống chóng qua mà quên mất thực tại Nước Trời. Bên ngai tòa Thiên Chúa, xin Mẹ cầu thay nguyện giúp cho chúng con có sức mạnh thần linh để chúng con một lòng tin yêu Thiên Chúa. Được như thế, chắc chắn chúng con sẽ gặp được Mẹ, để Mẹ dẫn chúng con đến hưởng nhan thánh Chúa. Amen.

Chúc mừng đặc ân Đức Mẹ được Thiên Chúa đưa lên trời cả hồn và xác!

Giuse Phạm Đình Ngọc, SJ

---------------------

[1] Danh hiệu này không có ý nói rằng Đức Maria là mẹ của Thiên Chúa Chúa từ thuở đời đời. Thay vào đó, Đức Maria chỉ là Mẹ sinh ra Chúa Giêsu Kitô, Đấng vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật (GLHTCG 466)

[2] Bài ca này chỉ có thánh sử Luca ghi lại. Đây là bài ca có nhiều chi tiết trong Cựu ước (x. 1 Sm 2,1-10). Hơn nữa, trong bai ca này có những nguồn như: Tv 103,17; Tv 89,11; G 12,19; St 12,3, …Bài ca này chỉ có thánh sử Luca ghi lại. Đây là bài ca có nhiều chi tiết trong Cựu ước (x. 1 Sm 2,1-10). Hơn nữa, trong bai ca này có những nguồn như: Tv 103,17; Tv 89,11; G 12,19; St 12,3, …

Nguồn tin: dongten.net

----------------------------------

 

15/8-135: Niềm hy vọng cứu độ.

 

Mừng lễ Đức Maria hồn xác lên trời, là chúng ta tôn vinh một người nữ, Mẹ của Đức Giêsu và 15/8-135


Mừng lễ Đức Maria hồn xác lên trời, là chúng ta tôn vinh một người nữ, Mẹ của Đức Giêsu và Mẹ của mọi người tín hữu, đồng thời thắp lên cho nhân loại niềm hy vọng cứu độ.

1. Mẹ của Đức Giêsu: Người ta thường gọi Đức Maria là "Mẹ Đức Giêsu" (Mc 3,31; Ga 2,1-5; Cv 1,14). Nhưng trang Tin mừng hôm nay ghi lại một cách gọi đặc biệt dành cho Đức Maria, đó là 'Mẹ Thiên Chúa' (Lc 1,43).  Mẹ đã đồng ý thực hiện trọn vẹn kế hoặch của Thiên Chúa, làm cho Chúa Con sinh hạ trong lòng Mẹ nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Các Giáo phụ đã dạy rằng trước khi cưu mang Đức Giêsu trong thân xác, thì Mẹ đã cưu mang Người trong tâm hồn chan chứa niềm Tin - Cậy - Mến.

2. Đức Maria, người phụ nữ mới và cũng là Mẹ của người tín hữu: Trên núi Sọ, dưới chân thập giá, Chúa Giêsu đã trối Đức Mẹ cho thánh Gioan và chối thánh Gioan cho Đức Mẹ. Từ đó Mẹ luôn ở bên cạnh các môn đệ vào mọi thời đại, để nhắc nhở các môn đệ "Thày bảo gì thì anh em cứ việc làm theo" (Ga 2,5) và trợ giúp các môn đệ trong việc dẫn đưa mọi người đến với Đức Kitô.  Chúng ta có thể tìm gặp lại mình nơi Đức Maria vào những ngày u tối cũng như những ngày vinh quang, để học biết khiêm nhu phục tùng lời Chúa, biết vui vẻ đợi chờ hồng ân của Chúa Thánh Thần và biết nhận ra các hành động quen thuộc của Chúa Cha nơi Chúa Con (x.Lc 2,51-52).

3. Niềm hy vọng cứu độ:  Mẹ đã thuộc về Chúa Kitô, và chúng ta cũng thuộc về Chúa Kitô. Nếu biết sống đức tin mạnh mẽ như Mẹ, mến Chúa yêu người như Mẹ, hiệp nhất hoàn hảo với Chúa Kitô như Mẹ, chúng ta cũng được hồn xác về trời giống như Mẹ. Những gì Chúa đã thực hiện nơi Mẹ,  Người cũng sẽ thực hiện nơi mỗi người, từng người và từng người một trong chúng ta. Chúa Kitô đã về trời, Mẹ Maria cũng đã về trời, chắc chắn chúng ta cũng sẽ về trời, chúng ta phải xác tín như vậy.

Lễ Mẹ Lên Trời là lễ của niềm hy vọng cho cả nhân loại.  Người Kitô hữu thêm xác tín về nơi mình sẽ đến.  Mẹ là người được hưởng trước những gì chúng ta sẽ được hưởng.  Dù cuộc đời người theo Chúa lắm gian truân và hy sinh, nhưng kết thúc lại rất tươi và có hậu.  Lễ Mẹ Lên Trời, chỉ xin được yêu mến những sự bền vững trên trời, và bớt bị mê hoặc bởi những điều chóng qua dưới đất.  Lạy Chúa, hôm nay chúng con mừng lễ Đức Maria hồn xác về trời, xin cho mỗi người chúng con mai sau cũng được về trời như Mẹ trong niềm tin yêu và hy vọng vào Đức Kitô tử nạn và phục sinh.  Amen.

------------------------------

 

15/8-136: Đức Mẹ Maria Hồn Xác lên Trời


Lm Carolô Hồ Bặc Xái

A. Khám phá sứ điệp Lời Chúa hôm nay

 

Các bài đọc của Lễ hôm nay cho thấy những ơn phúc mà Chúa đã ban cho Đức Mẹ: - Bài đọc I trích 15/8-136


Các bài đọc của Lễ hôm nay cho thấy những ơn phúc mà Chúa đã ban cho Đức Mẹ:

- Bài đọc I trích sách Khải Huyền mô tả những nét huy hoàng của Đức Mẹ: “Một người Phụ Nữ mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao”.

- Bài đọc II trích thư 1 Côrintô ám chỉ Đức Mẹ là người đầu tiên được hưởng ơn sự sống trường sinh mà Chúa Giêsu phục sinh đã khơi mào: “Cũng như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô cũng được Thiên Chúa cho sống”.

- Bài Tin Mừng cho chúng ta biết lý do tại sao Đức Mẹ được nhiều đặc ân như thế: đó là, như lời Bà Êlisabét, “Em thật có phúc, vì đã tin…”

B. Tìm hiểu sứ điệp

1. Bài đọc I (Kh 11,9a; 12,1-6a.10ab)

Trong một thị kiến, tác giả sách Khải huyền nhìn thấy “Một người Phụ Nữ mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao”.

Ý nghĩa đầu tiên của Người Phụ Nữ này là chính Giáo Hội.

Nhưng theo nghĩa áp dụng, Người Phụ Nữ này cũng là Đức Maria, người được Thiên Chúa yêu thương điểm trang bằng muôn vàn đặc ân cao quý.

2. Bài đọc II (1 Cr 15,20-27)

Thánh Phaolô nói với tín hữu Côrintô về ơn sống lại:

- Ơn sống lại này do Đức Giêsu Kitô khai mạc. Ngài là kẻ đầu tiên sống lại từ cõi chết.

- Tiếp theo, tất cả những ai liên kết với Đức Kitô thì cũng được chia xẻ ơn sống lại ấy.

Đức Maria là người liên kết mật thiết nhất với Đức Giêsu Kitô cho nên Người cũng là người đầu tiên được chia xẻ ơn sống lại.

Vì tin như thế nên Giáo Hội công bố tín điều Đức Mẹ lên trời.

3. Bài Tin Mừng (Lc 1,39-56)

Đoạn Tin Mừng này gồm 2 lời ca tụng: bà Êlisabét ca tụng Đức Maria; và Đức Maria ca tụng Thiên Chúa. Cả hai lời ca tụng đều nói đến những đặc ân mà Đức Maria được hưởng:

a/ Bà Êlisabét ca tụng Đức Maria:

- Maria người được chúc phúc hơn tất cả mọi người nữ

- Maria là Thân Mẫu của Đức Chúa

- Sở dĩ Maria được như thế là vì Maria đã tin vào Lời Chúa.

b/ Đức Maria ca tụng Thiên Chúa:

- Tuy Maria chỉ là một nữ tì hèn mọn nhưng đã được Thiên Chúa đoái thương nhìn tới

- Đó là cách làm thường xuyên từ xưa đến nay của Thiên Chúa: Đời nọ đến đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Ngài; Chúa hạ bệ những kẻ kiêu căng và nâng cao những người khiêm tốn.

C. Rao giảng sứ điệp

I. Gợi ý giảng

1. Có phúc vì đã tin

Bà Êlisabét đã công nhận một sự thật: Đức Maria là người có phúc hơn tất cả mọi phụ nữ (câu 42). Thực ra Êlisabét nói chưa đủ, phải nói là Đức Maria có phúc hơn tất cả mọi người.

Được Thánh Thần soi sáng (câu 41), bà Êlisabét còn biết do đâu mà Đức Maria có phúc như thế: “Em thật có phúc vì đã tin” (câu 45a).

Tin là lý do để được Thiên Chúa chúc phúc; tin là nguồn hạnh phúc.

Nhưng thế nào là “Tin” ? Câu hỏi này sẽ tìm được câu trả lời nơi cách sống của Đức Mẹ:

- Trước hết là không hồ nghi về những điều Chúa hứa (câu 45b): Qua miệng Thiên sứ, Chúa đã hứa “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà” (Lc 1,35). Những lời hứa này quá cao trọng đến nỗi một thôn nữ tầm thường như Maria khó mà tin được. Dù vậy Maria vẫn tin. Chúa còn hứa rằng “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37). Theo lý thuyết thì đúng là như vậy. Nhưng trên thực tế, ít ai dám tin như Đức Maria, bởi vì có nhiều việc người ta không tin là Thiên Chúa làm được, cho nên người ta tự làm, hay nhờ những kẻ khác làm giúp.

- Tiếp đến, vì không hồ nghi về những điều Thiên Chúa hứa nên phó thác đời mình cho Thiên Chúa dẫn dắt. Đức Maria đã để Thiên Chúa dẫn dắt vào đời sống hôn nhân, để Thiên Chúa cho mình mang thai, để Thiên Chúa xử lý tình huống rắc rối của một thiếu nữ chưa về nhà chồng mà có thai… Tóm lại là để cho ý Chúa luôn thành sự nơi cuộc đời mình (Lc 1,38: “Xin hãy thành sự nơi tôi như lời Thiên sứ nói”)

Những điều Thiên Chúa đã hứa với Đức Maria (Thánh Thần ngự xuống; Đấng Tối cao rợp bóng) thì Ngài cũng hứa với chúng ta. Lời Thiên Chúa khẳng định với Đức Maria (“Không có gì mà Thiên Chúa không làm được”) thì Ngài cũng khẳng định với chúng ta. Nếu chúng ta cũng tin như Đức Mẹ và cũng phó thác đời mình cho Thiên Chúa dẫn dắt như Đức Mẹ thì chúng ta cũng sẽ hạnh phúc như Đức Mẹ.

2. Có phúc vì “nghèo”

Trong bài ca Magnificat, Đức Maria nhìn nhận rằng mặc dù thân phận Người chỉ là một “nữ tì hèn mọn” (câu 48a) nhưng sở dĩ Người được “hết mọi đời khen rằng diễm phúc” (câu 48b) chỉ vì Chúa quen ưu ái kẻ nghèo hèn (câu 53).

Thế nào là nghèo?

Trong Thánh Kinh, người nghèo (anaw) là người không tìm chỗ dựa nơi tiền bạc của cải, nơi tài trí bản thân, nơi uy quyền người thế… mà chỉ dựa hoàn toàn vào một mình Thiên Chúa mà thôi. Mà Thiên Chúa rất hào hiệp, ai dựa vào Ngài thì Ngài hết lòng bảo vệ, chở che và ban muôn hồng phúc.

Do đó “nghèo” cũng là lý do để được chúc phúc và cũng là nguồn hạnh phúc.

Bài ca Magnificat nhắc chúng ta xét lại xem chỗ dựa của chúng ta là đâu.

II. Để tham khảo thêm

1. Vinh quang của Đức Mẹ

Đức Maria là người phàm duy nhất được lên trời cả hồn và xác. Chẳng những thế, Người còn được tôn làm Nữ vương trời đất. Bởi đâu mà Đức Mẹ được hưởng vinh quang cao cả như vậy ? Câu chuyện sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu được lý do.

Ở một vùng đất xa xôi hẻo lánh kia có một bộ lạc sinh sống. Năm đó trời hạn hán không mưa nên mùa màng thất bát, cuộc sống khổ cực. Dân bộ lạc tổ chức một buổi lễ cầu mưa. Họ cầu nguyện rằng: “Lạy thần linh, xin chỉ cho chúng con biết chúng con đã phạm tội gì để đáng bị trừng phạt như vậy. Và xin dạy chúng con biết phải làm gì để có mưa”. Họ cầu nguyện như thế suốt 3 ngày nhưng trời vẫn không mưa xuống.

Khi đó những người lớn tuổi rủ nhau lên đồi, vì họ nghĩ rằng lên đó họ sẽ nghe được tiếng trả lời của thần linh trong các luồng gió thổi tới. Và quả thực họ đã được nghe câu trả lời: Lý do khiến họ bị hạn hán là vì họ quá ích kỷ: bấy lâu nay họ chỉ biết khai thác đất đai mà không ban lại cho đất cái gì để nuôi dưỡng đất gì cả. Vậy, để khỏi bị trừng phạt thì họ phải lấy những thứ quý giá nhất trong nhà đem đốt đi thành tro rồi rải xuống đất. Mọi người cảm tạ thần linh đã chỉ bảo và hứa sẽ làm theo. Nhưng khi trở về nhà, nhìn những đồ vật quý giá thì họ lấy làm tiếc. Vì thế, thay vì những món đồ quý, họ chỉ lấy những thứ xoàng xỉnh mà đốt. Dĩ nhiên trời vẫn không mưa.

Trong bộ lạc có một cô bé tên là Miriam. Cô có một con búp bê xinh xắn mà cô quý nhất trên đời. Cô bé hiểu được lý do khiến trời không mưa là vì người ta đã tiếc không dám dâng hiến cho thần linh những thứ quý giá nhất. Thế là cô mang con búp bê lên đồi, đốt nó đi, vừa đốt vừa khóc. Đốt xong, cô lấy tro rải lên mặt đất, rồi ngủ thiếp đi. Khi cô tỉnh dậy thì cả ngọn đồi đều mọc đầy hoa, những cành hoa mọc lên từ đám tro của con búp bê mà cô bé đã đốt. Việc làm của cô bé đã khiến dân làng hiểu ý thần linh: họ xấu hổ vì đã không dám hy sinh nghe lời thần linh như cô bé Miriam. Thế là ai nấy về nhà lấy tất cả những thứ quý giá nhất đem đốt. Ngay sau đó thì trời đổ mưa. Mọi người tung hô cô bé Miriam như một vị anh hùng đã cứu sống cả bộ lạc.

Câu chuyện trên chỉ là truyền thuyết và có thể là hư cấu. Nhưng nó giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của ngày lễ hôm nay. Cô bé trong câu chuyện tên là Miriam, cũng giống tên Đức Mẹ Maria; Cô bé Miriam được thần linh tôn vinh bằng cách cho bông hoa trổ đầy trên ngọn đồi nơi cô bé ngủ, cô cũng được dân làng tôn vinh như vị cứu tinh của bộ lạc là vì cô đã dám hy sinh món đồ chơi mà cô quý nhất trên đời. Đức Maria cũng thế, Người được tôn vinh làm Nữ vương trời đất và được lên trời cả hồn và xác là vì Mẹ đã hy sinh tất cả cho Chúa: Chúa muốn gì Mẹ cũng vâng theo: (1) Mẹ muốn sống cuộc đời đồng trinh, nhưng khi Thiên Chúa muốn Mẹ thụ thai sinh hạ Chúa Giêsu, Mẹ đã thưa “Xin Vâng”; (2) Chúa Giêsu là người con duy nhất của Mẹ, là nguồn hạnh phúc của Mẹ trong gia đình và là nơi nương tựa của Mẹ trong tuổi già, nhưng vì Thiên Chúa muốn nên Mẹ cũng sẵn sàng hy sinh để Chúa Giêsu ra đi rao giảng Tin Mừng và chịu nạn chịu chết trên Thánh giá để chuộc tội cho nhân loại. Đúng như lời bà Êlisabét nói trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe hồi nãy, Đức Mẹ có phúc hơn tất cả mọi người là vì Đức Mẹ luôn làm theo ý Chúa, luôn “xin vâng” với Chúa.

Gương Đức mẹ dạy chúng ta 2 điều: (1) Chúng ta thường nghĩ rằng hạnh phúc là do “được”, có được những gì mình mong muốn. Đúng vậy. Nhưng hạnh phúc cũng còn do hy sinh, do dám cho đi, cho đi những gì mình tha thiết nhất. Có khi hạnh phúc bởi cho đi còn sâu đậm và cao cả hơn hạnh phúc do nhận được; (2) Đặc biệt trong tương quan giữa chúng ta với Chúa, chúng ta thường chỉ xin Chúa ban cho chúng ta, khi thì xin điều này khi thì xin điều khác, chỉ xin và xin, chỉ nhận và nhận. Ít khi chúng ta cho Chúa, hy sinh vì Chúa. Thực ra Chúa không cần chúng ta cho Ngài điều gì cả. Những thứ mà chúng ta cho Chúa cũng chẳng đáng gì cả. Nhưng những thứ nhỏ bé mà chúng ta cho Chúa như thế chứng tỏ tấm lòng của chúng ta đối với Chúa. Và để đáp lại, Chúa sẽ ban lại cho ta gấp bội.

Noi gương Đức Mẹ Maria, chúng ta hãy tập lắng nghe tiếng Chúa và tập thường xuyên thưa lại với Chúa 2 tiếng “Xin Vâng” (Viết theo Flor Mc Carthy).

2. Đức Mẹ lên trời và Thánh Truyền

Các sách Tân Ước nói rất ít về Đức Mẹ, lần cuối cùng Người được nói đến là khi Người ở giữa các tông đồ trong nhà Tiệc Ly để đón Chúa Thánh Thần hiện xuống. Sau đó Sách Thánh không nói gì về Người nữa. Nhưng Thánh Truyền thì có nói.

Theo Sách Thánh, trước khi tắt thở, Chúa Giêsu đã trối Đức Mẹ lại cho thánh Gioan chăm sóc. Thánh Truyền cho biết thêm là sau đó thánh Gioan đưa Người về ở chung với mình trong một ngôi nhà ở Êphêxô. Rồi cũng như mọi người khác, Đức Mẹ ngày càng già yếu đi. Nhưng không như mọi người khác, Đức Mẹ được hưởng đặc ân vô nhiễm nguyên tội nên đương nhiên cũng không phải chịu những hậu quả của nguyên tội, tức là không phải bệnh hoạn và không phải chết. Vậy thì Người rời khỏi cuộc sống trần gian này như thế nào ? Cũng theo thánh truyền, từ khi Chúa Giêsu lên trời, lòng Đức Mẹ lúc nào cũng thương nhớ con mình và rất ước ao được gặp lại con. Những niềm thương nỗi nhớ đó khiến một ngày kia Người lịm đi. Thánh Gioan tưởng là Người đã chết nên cũng lo an táng như mọi người khác, rồi cho người đi báo tin cho các tông đồ. Khi các tông đồ trở về, họ mở mồ Đức Mẹ ra mong được thấy mặt Người lần chót, nhưng khi mở ra thì ngôi mồ trống không: khi đó các ông tin là Chúa đã rước Người lên trời.

Năm 1950, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tuyên bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời: “Đức Maria, Mẹ vô nhiễm của Thiên Chúa, trọn đời đồng trinh, vào cuối cuốc sống trần gian đã được đưa lên chốn vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác”.

Khi tuyên bố tín điều này, Đức Giáo Hoàng đã chuẩn nhận những dữ kiện Thánh Kinh và Truyền thống sống động của Giáo Hội trải qua nhiều thế kỷ.

Chúng ta nên hiểu cho đúng kiểu nói “được đưa lên chốn vinh quang trên trời”. Đây là kiểu nói của loài người, bị giới hạn trong các phạm trù không gian và thời gian. Khi loài người muốn diễn đạt những điều siêu nhiên (vượt khung không gian và thời gian) thì ngôn ngữ loài người trở thành bất lực. Loài người chỉ biết tạm mượn những cách diễn tả của phạm trù không gian và thời gian ấy, nhưng ta phải hiểu cao hơn và xa hơn. Trong ngôn ngữ loài người chúng ta, “trời” chỉ cái gì tốt đẹp cao cả, còn “đất” chỉ cái gì xấu xa thấp hèn; “lên” chỉ sự tiến tới một tình trạng tốt hơn, còn “xuống” chỉ sự thụt lùi về một tình trạng xấu hơn.

Thành ra nói Đức Mẹ lên trời là nói đến sự thay đổi tình trạng sống của Đức Mẹ, tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn, vinh quang hơn. Cho nên hôm nay Giáo Hội mừng Đức Mẹ lên trời là mừng tất cả những hạnh phúc và vinh dự của Người: Người là Mẹ sinh ra Chúa Cứu Thế, Người được đặc ân vô nhiễm nguyên tội, Người được Thiên Chúa đặt làm Nữ Vương vũ trụ, tắt một lời, Người là Đấng hạnh phúc và vinh quang vô cùng...

Do đâu mà Đức Mẹ được diễm phúc như vậy ? Trong bài Tin Mừng hôm nay chính Đức Mẹ cho chúng ta biết được lý do: Bài ca Magnificat của Đức Mẹ được các nhà Thánh Kinh gọi bằng một tên khác nữa là “Bài ca của người nghèo”. Trong Thánh Kinh, anaw Yahweh, người nghèo của Yavê, là người không có tiền bạc cho nên không cậy dựa vào tiền bạc, có người cũng có tiền nhưng không dựa vào tiền mà chỉ dựa vào Chúa; người nghèo của Yavê còn là người không có quyền thế địa vị cho nên không dựa vào quyền thế và địa vị, có người cũng có quyền thế địa vị nhưng họ không dựa vào đó mà chỉ dựa vào Chúa thôi; người nghèo của Yavê còn là người không cậy dựa vào tài năng, học thức, sức mạnh... Tóm lại người nghèo của Thiên Chúa hoàn toàn không cậy dựa vào bất cứ thứ gì khác, chỉ cậy dựa vào một mình Thiên Chúa mà thôi. Và đây là chỗ dựa vững chắc và an toàn nhất, vì thế chính Thiên Chúa nâng họ lên, chính Thiên Chúa ban cho họ muôn của cải đầy dư, Chúa làm cho họ biết bao điều trọng đại... Thực ra Đức Maria đâu có gì hơn chúng ta, thâm chí còn thua kém chúng ta nữa: một thiếu nữ quê mùa, yếu ớt, ít học, nghèo nàn sinh trưởng tại làng Nazarét nhỏ bé vô danh... Chỉ vì Đức Mẹ khiêm tốn, biết chọn đúng Thiên Chúa làm chỗ dựa duy nhất cho đời mình nên Thiên Chúa đã làm tất cả những điều cao cả tốt đẹp cho Người. Như lời Người đã hát: “Đấng toàn năng đã làm cho tôi bao điều cao cả... Chúa hạ bệ những kẻ kiêu căng và nâng cao những người khiêm nhượng... Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người giàu có đuổi về bàn tay trắng...”.

3. Cảm nghiệm ơn Chúa

Nếu có ai hỏi: Làm thế nào để tiến bộ trên đ­ường đạo đức, thay đổi nếp sống cũ, biết dấn thân mến Chúa yêu ngư­ời hơn ? Tôi xin th­ưa: điều quan trọng nhất khởi đầu cho một nếp sống mới là: cảm nghiệm đ­ược tình yêu Thiên Chúa trong đời mình. Khi đã nhận biết mình được Thiên Chúa yêu th­ương, ta sẽ không thể làm điều gì khác hơn là mong muốn đáp lại tình yêu ấy.

Tình yêu kêu gọi tình yêu. Tình yêu đáp trả tình yêu. Chúa Thánh Thần, nguồn tình yêu của Thiên Chúa, sẽ giúp ta nhận biết tình yêu Thiên Chúa và soi sáng thúc giục ta đáp lại tình yêu ấy.

Sau khi Đức Mẹ ngoan ngoãn nói lên lời "xin vâng", Chúa Thánh Thần xuống tràn đầy tâm hồn Đức Mẹ. Đức Mẹ mở rộng tâm hồn đón nhận và để mặc Ngư­ời h­ướng dẫn cuộc đòi mình. Từ đây, cuộc đời Đức Mẹ hoàn toàn biến đổi. Đức Mẹ trở nên một dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Chúa Thánh Thần, hiến dâng trọn vẹn tâm hồn và thân xác để đáp lại tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy những tác động của Chúa Thánh Thần trên Đức Mẹ

Tác động thứ nhất: sự vội vã. Vội vã đây không phải là sự vội vàng hấp tấp. Cũng không phải là nôn nóng lo âu. Sự vội vã ở đây có nghĩa là sự nhiệt tình hăng hái. Cảm nghiệm đ­ược tình yêu Thiên Chúa trong tâm hồn, Đức Mẹ mau mắn, tha thiết muốn đáp trả. Nếp sống của cô thôn nữ Maria đã thay đổi. Từ một thôn nữ dịu dàng, sống êm đềm trong cuộc đời bình dị, Đức Mẹ giờ đây trở nên linh hoạt, nhanh nhẹn, hăng hái đền đáp lại Tình Chúa Yêu Th­ương. Từ một thôn nữ vui với công việc nội trợ, khép mình trong làng xóm, Đức Mẹ đã mở cửa ra đi. Sự mở cửa ra đi làm ta nhớ tới tác động của Chúa Thánh Thần trên các Tông đồ.

Tác động thứ hai: tâm tình tạ ơn. Cảm nghiệm đ­ược tình Chúa th­ương yêu, lòng Đức Mẹ tràn đầy niềm cảm mến biết ơn. Niềm tri ân cảm tạ đầy ứ trong lòng chỉ chờ dịp tuôn ra thành lời. Cảm nghiệm về ơn lành vô biên của Thiên Chúa cũng là cảm nghiệm về sự thấp hèn bất xứng của mình. Hai cảm nghiệm song song đó càng nâng cao, càng đào sâu niềm tri ân cảm tạ. Cảm nghiệm ấy đã biến đổi Đức Mẹ, từ một cô gái kín đáo, âm thầm trở nên một thi sĩ, một ca sĩ lớn tiếng ca tụng Tình Yêu Thiên Chúa đối với kẻ nghèo hèn. Chúa Thánh Thần đã biến Đức Mẹ thành ngòi bút thi sĩ như­ lời Thánh vịnh: Tim tôi dâng ý thơ tuyệt diệu. Dệt bài ca cung tiến Đức Vua. L­ỡi tôi tựa bút rung vạn điệu. Trong tay những thi nhân anh tài. Khi nghe bà Êlisabét chào, Đức Mẹ đã xuất khẩu tán tụng Chúa bằng bài kinh ca ngợi tuyệt diệu.

Tác động thứ ba: thái độ chia sẻ. Tình yêu Thiên Chúa bao la đã đổ vào tâm hồn Đức Mẹ tràn đầy niềm vui. Niềm vui thánh thiện và lớn lao đã thúc đẩy Đức Mẹ mau mắn lên đường đi thăm bà Êlisabét. Đức Mẹ không đến để khoe khoang, nh­ưng để chia sẻ. Nhờ Đức Mẹ đến mà bà Êlisabét và thánh Gioan Baotixita đư­ợc chúc phúc. Đức Mẹ cũng đến để chúc mừng bà chị họ đã đ­ược Chúa đoái th­ương. Tâm hồn đ­ược Chúa chiếm hữu đã khiến Đức Mẹ trở nên quảng đại và hiệp thông, sẵn sàng chia vui sẻ buồn với những ngư­ời chung quanh.

Tác động thứ bốn: dấn thân phục vụ. Niềm tri ân cảm tạ, niềm vui thánh thiện thực sự sẽ không dừng lại ở những bài ca trên môi miệng. Cảm nghiệm về Tình Yêu Thiên Chúa trong trái tim sẽ mau chóng chuyển sang đôi tay. Niềm tri ân cảm tạ sâu xa sẽ nhanh chóng biến thành hành động. Sự đền đáp tình yêu sẽ thúc đẩy ng­ời đ­ược yêu dấn thân phục vụ trong những việc làm cụ thể. Chính vì thế Đức Mẹ đã không ngần ngại ở lại phục vụ bà chị họ trong ba tháng.

Mừng lễ Đức Mẹ lên Trời một cách có ý nghĩa nhất, đó là ta hãy noi gương Đức Mẹ: xin Chúa Thánh Thần đến tràn ngập tâm hồn ta như­ Ng­ài đã đến trong lòng Đức Mẹ, giúp ta cảm nghiệm đ­ược những ơn lành Chúa ban và giúp ta mau mắn đáp lại tình yêu thư­ơng đó.

Xin Đức Mẹ giúp chúng con biết ngoan ngoãn vâng theo ơn Chúa Thánh Thần soi sáng: để vội vã ra đi, để hân hoan tạ ơn, để quảng đại chia sẻ và để dấn thân phục vụ anh em. Amen.

-----------------------------

 

15/8-137: Ðức Maria, Linh Hồn và Xác Lên Trời


LM.Hồng Phúc, CSsR

 

Bởi quyền năng của Chúa Giêsu Chúa chúng ta, của Hai Thánh Tông Ðồ Phêrô và Phaolô và của15/8-137


 "Bởi quyền năng của Chúa Giêsu Chúa chúng ta, của Hai Thánh Tông Ðồ Phêrô và Phaolô và của chính ta, ta tuyên bố, bày tỏ và xác định như một tín điều được Thiên Chúa mạc khải rằng Ðức Maria, Mẹ vô nhiễm của Thiên Chúa sau khi đã mãn cuộc đời ở trần thế đã được linh hồn và xác lên trời vinh hiển".

Bằng những lời long trọng ấy, Ðức Giáo Hoàng Piô XII, xử dụng quyền vô ngộ, đã tuyên bố ngày mồng 1 tháng 11 năm 1950, tín điều Ðức Mẹ hồn xác lên trời như một giáo điều phải tin.

1. Lịch Sử, Thánh Lễ

Cũng như tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm, Tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác lên trời được quảng nghĩa bởi Thánh Lễ kính mầu nhiệm ấy. Thánh lễ mừng ngày sinh nhật của Mẹ trên trời - Dies natalis - đã được mừng bên Ðông Phương từ thế kỷ thứ V và mang nhiều tên gọi như Mông Triệu (Assomption), Yên Nghỉ (Dormition) hay về trời (Transitus).

Thánh Lễ được gia nhập Tây Phương giữa thế kỷ thứ VII. Tuy nhiên, có nhiều sự do dự vì ảnh hưởng của các sách ngụy thư gây nên. Dầu vậy, với thời gian, giáo huấn được khai triển, thấu triệt hơn và toàn thể dân Chúa đi đến một niềm tin phổ cập.

Và Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã công bố thành Tín điều tháng 11 năm 1950.

Nên biết rằng, dưới thời Ðức Piô XI, đã có phong trào xin công bố giáo thuyết Ðức Mẹ là Ðấng trung gian. Nhưng giáo thuyết đó không phù hợp với lời của Thánh Phaolô dạy rằng chỉ có một Ðấng trung gian (1Tm 2,5), cũng như gặp phải một số vấn nạn khác.

Ðức Piô XII liền chọn giáo thuyết Mông Triệu vì không đặt ra nhiều vấn đề. Và ngài đã công bố bằng những danh từ cố ý không giải quyết một số vấn đề tranh chấp.

Ngài chỉ công bố ngắn ngủi như sau: "Khi đã mãn cuộc sống ở thế trần, Ðức Trinh Nữ, Vô Nhiễm, Mẹ Thiên Chúa được triệu hồi về Thiên Ðàng cả Hồn lẫn Xác".

Ðức Piô XII chỉ minh xác rằng hiện nay Ðức Mẹ hiện diện trong vinh quang của Chúa Kitô Phục Sinh. Chỉ có thế.

Vấn đề: ở đâu, khi nào, cách nào, không được giải quyết. Cả vấn đề Ðức Mẹ có phải trải qua sự chết hay không cũng không được đề cập đến. Thường người ta tin rằng Ðức Mẹ cũng đã chết như Chúa Giêsu Con Ngài đã lãnh nhận sự chết, nhưng cũng có người như Thánh Epiphane và một số người khác cho rằng Ðức Mẹ không phải chết, chỉ được trực tiếp triệu hồi về Thiên Ðàng.

Như vậy, tín điều được công bố bãi bỏ những hình ảnh do các sách ngụy thơ nói vẻ vời như một cuộc thăng thiên trực chỉ có các Thiên Thần theo hầu... Danh từ triệu hồi (assumpta) là một danh từ Thánh Kinh hay dùng để nói lên cuộc gặp gỡ Chúa sau khi chết như trường hợp ông Hénoch (Sáng thế 5,24) tiên tri Elia (II Vua 2,3-10) được Chúa cất về. Và đó cũng là ân huệ Chúa dành cho mọi người công chính.

2. Tình thương sung mãn của Thiên Chúa dành cho Ðức Mẹ

Hai Tín điều: Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và Ðức Mẹ Linh Hồn và Xác lên trời, mới được công bố trong khoảng cách một thế kỷ là những tín điều liên kết bổ sung cho nhau, nói lên tình thương sung mãn của Thiên Chúa dành cho Ðức Mẹ. Ðồng thời Ðức Mẹ là tiền ảnh của Giáo Hội và của mỗi tâm hồn tín hữu lúc khởi thủy và lúc tận cùng cuộc đời.

Công cuộc Chúa làm thật lớn lao cao cả. Ngài đã chọn Ðức Mẹ để Mẹ thông phần vào việc Cứu Chuộc nhân loại và từ khởi thủy đã đưa Mẹ lên một bức trọn lành vượt mức báo hiệu một ngày tận cùng trọn hảo, do tình thương bao la của Chúa. Giáo Hội và mỗi người chúng ta cũng được tham gia vào cuộc vinh thăng ấy, như Ðức Mẹ là Mẹ và là mẫu gương cho chúng ta.

Chúng ta cũng được thông chia sự sống của Thiên Chúa qua ơn sủng của phép Thánh Tẩy, trở nên con của Chúa thì chúng ta hy vọng một ngày kia cũng được thông phần vinh quang bên cạnh Mẹ.

---------------------------

 

15/8-138: Mẹ muốn chúng ta đạt tới cõi phúc trên trời


(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

Suy niệm Lễ Vọng Đức Maria Hồn Xác về Trời (Lc 11, 27-28)

 

Với đoạn Tin Mừng ngắn gọn vọng lễ chiều nay dìu chúng ta về với Đức Maria đầy ơn phúc được15/8-138


Với đoạn Tin Mừng ngắn gọn vọng lễ chiều nay dìu chúng ta về với Đức Maria đầy ơn phúc được ân thưởng hồng phúc hồn xác về trời, đồng thời khuyến khích chúng ta chuyên chăm lắng nghe và thực hành Lời Chúa để cũng Chúa thưởng hồng phúc như Mẹ.

Đức Maria Người Nữ hạnh phúc

Chuyện xảy ra là khi Chúa Giêsu đang giảng dạy dân chúng, thì từ giữa đám dân chúng có một phụ nữ vì thấy quyền năng và sự khôn ngoan thể hiện trong lời nói và việc làm của Chúa Giêsu, bà đã không thể kìm hãm nổi sự ngưỡng mộ của mình liên cất tiếng ngợi khen Chúa Giêsu bằng cách ca tụng người mẹ đã cưu mang Chúa: "Phúc cho lòng dạ đã cưu mang Thầy, và vú đã cho Thầy bú" (Lc 11, 27).

Đức Maria là người nữ hạnh phúc, lời đầu tiên của Sứ Thần Gabriel chào Đức Trinh Nữ là bằng chứng: "Kính mừng Maria đầy ơn phúc" (Lc 1, 28) là bằng chứng. Quả thật, mọi phúc lành con người có được kể cả Đức Maria hệ tại ở phúc lành Thiên Chúa ban chứ không tùy thuộc các sự thế trần. Đức Maria là người hạnh phúc, trước hết vì đã được Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn. "Phúc thay kẻ được Người chọn lấy và cho lại gần, nơi tiền đình của Người, nó sẽ lưu lại! " (Ps 65,5). Phúc của Mẹ vượt trên mọi người nữ trần gian, lời của bà Êlisabeth xác nhận: "Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và Con lòng Bà được chúc phúc" (Lc 1, 42). Mẹ là người diễm phúc vì có: "Thiên Chúa ở cùng" (Lc 1, 28). Trong hạnh phúc của Mẹ có hạnh phúc của mỗi người chúng ta.

Nghe và giữ Lời Chúa thì có phúc hơn

Mẹ hạnh phúc, Mẹ cũng muốn con cái mình hạnh phúc, nên Mẹ dạy: "Người bảo gì các con cứ làm theo" (Ga 2, 5). Lời Chúa Giêsu đáp lại người đàn bà đã khen Đức Maria là người diễm phúc: "Ai nghe và giữ lời Thiên Chúa còn có phúc hơn" (Lc 11, 28) cũng là lời Chúa dạy chúng ta hôm nay. Lời này mạc khải cho chúng ta một mối phúc khác ngoài tám mối phúc đã được Chúa Giêsu công bố trong bài giảng trên núi, chúng ta có thể gọi mối phúc đây là mối phúc "lắng nghe Lời Chúa và sống thực hành Lời Chúa". Chúa Giêsu muốn chúng ta hiểu rằng, mối phúc mà Mẹ Maria đang vui hưởng, là vì Mẹ đã lắng nghe, cẩn thận ghi nhớ và nỗ lực thực hành Lời Chúa từng ngày.

Mẹ trở nên cao trọng không những vì Mẹ đã cưu mang Chúa Giêsu và cho Chúa bú mớm, mà còn vì Mẹ đã lắng nghe và thực thi Lời Chúa hơn ai hết, nhờ vậy Mẹ luôn nhận ra được thánh ý Chúa muốn nơi cuộc đời để rồi cộng tác hết mình với Chúa.

Chúa Giêsu không có ý phủ nhận vai trò của Mẹ Maria trong việc cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Người; nhưng qua những lời trên đây, Chúa mạc khải mối tương quan sâu xa giữa Đức Maria Mẹ Người với Người; tương quan ấy không chỉ dừng lại ở huyết nhục, nhưng hơn ai hết, Mẹ là người đã triệt để lắng nghe và thực hành Lời Thiên Chúa, vì thế Mẹ đã trở nên gương mẫu cho mọi người chúng ta noi theo.

Để được vào số những người diễm phúc

Mừng lễ Đức Maria hồn xác về trời hôm này, chúng ta dễ dàng nhận ra năng động thiêng liêng của Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúng ta có thể trở thành người có phúc do việc thi hành ý muốn của Thiên Chúa: “Ai nghe và giữ lời Thiên Chúa”.

Ai trong chúng ta cũng có thể có được mối phúc ấy, nếu biết khiêm tốn lắng nghe và thực hành lời Chúa truyền dạy. Mối phúc lời Chúa này không phải là độc quyền dành cho Đức Maria. Mẹ đã đi trước làm gương cho chúng ta và muốn cho chúng ta sống như Mẹ đã sống hầu được Thiên Chúa ân thưởng vinh quang hạnh phúc thiên đàng với Mẹ.

Mẹ Maria ơi, trên thiêng đàng con sướng vui, trên thiên đàng con sướng con cùng vui, xin Mẹ giúp chúng con vâng nghe và giữ lời Thiên Chúa, để có được chỗ đứng trên nước trời. Amen.

-------------------------

 

15/8-139: Maria Mẹ Đầy Ơn Phúc


(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

Suy niệm Lễ Vọng Đức Maria Hồn Xác về Trời (Lc 11, 27-28)

 

Kính mừng Maria đầy ơn phúc" (Lc 1, 28). Đó là lời đầu tiên của Sứ Thần Gabriel chào Đức Trinh15/8-139


"Kính mừng Maria đầy ơn phúc" (Lc 1, 28). Đó là lời đầu tiên của Sứ Thần Gabriel chào Đức Trinh Nữ. Hôm nay từ miệng của một người nữ thích giả đang nghe Chúa Giêsu giảng cũng cất cao giọng nói: "Phúc cho lòng dạ đã cưu mang Thầy, và vú đã cho Thầy bú" (Lc 11, 27)

Vâng Đức Maria là đấng đầy ơn phúc, Mẹ là người diễm phúc. Bài Tin Mừng theo thánh Luca Thánh lễ vọng chiều nay được Giáo hội dùng, dìu chúng ta về với tước hiệu Đức Maria đầy ơn phúc. Người việt ta vẫn thường nói: "Phúc đức tại mẫu", nghĩa là theo quan niêm truyền thống, con cái được thừa hưởng điều tốt lành, may mắn từ người mẹ, do cách ăn ở cư xử, sự gương mẫu, cách giáo dục của người mẹ mà ra. Người mẹ chính là thầy dạy đầu tiên của việc hình thành nhân bản nơi đứa con. Chẳng thế, George Herbert đã viết một câu rằng: "Một bà mẹ tốt thì giá trị hơn cả trăm ông thầy!"

Người Do thái cũng vậy, khi Chúa Giêsu đang giảng cho dân chúng, thì từ giữa đám dân chúng, có một phụ nữ vì ngưỡng mộ con người cũng như cách giảng dạy của Chúa Giêsu, bà cho rằng, Thầy tài giỏi như thế này, hẳn là Mẹ Thầy phải là người có phúc lắm, nên bà đã không ngần ngại vượt qua rào cản của chính mình là phục nữ, bà đã cất tiếng nói với Đức Giêsu về Mẹ của Ngài: "Phúc cho lòng dạ đã cưu mang Thầy, và vú đã cho Thầy bú" (Lc 11, 27).

"Phúc cho lòng dạ đã cưu mang Thầy" (Lc 11, 27)

Đức Maria là người diễm phúc, trước hết vì đã được Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn. "Phúc thay kẻ được Người chọn lấy và cho lại gần, nơi tiền đình của Người, nó sẽ lưu lại! " (Ps 65,5). Câu này ám chỉ, dân có phúc là dân được Thiên Chúa trị vì, nhất là được Thiên Chúa thiết lập ngai báu vương quốc của Ngài ngay giữa họ; người có phúc là người được Thiên Chúa đến ở cùng, và dĩ nhiên chúng ta nghĩ ngay đến Đức Maria, người diễm phúc như lời Thiên Thần Grabirel chào và nói: "Thiên Chúa ở cùng bà " (Lc 1, 28), lời bà Êlisabeth xác nhận cái phúc của Mẹ: "Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và Con lòng Bà được chúc phúc" (Lc 1, 42). Phúc của Mẹ trổi vượt trên mọi thần thánh trên trời, Mẹ có phúc vì Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, Đấng là Hồng Phúc đã chọn Mẹ, cư ngụ trong dạ Mẹ chín tháng mười ngày, đến khi chào đời, Mẹ đã ôm ấp bú mớm nâng niu… những điều đó đã làm cho vai trò làm mẹ của Đức Maria trở thành mật thiết, gắn liền với cuộc sống của Chúa Giêsu hơn; không những thế, Chúa Giêsu còn ở với Mẹ trong suốt nhiều năm và đã vâng phục Mẹ. Giờ đây, Mẹ thật diễm phúc và Mẹ luôn hạnh phúc, Chúa Giêsu Con Mẹ đã phủ đầy vinh quang của Ngôi Lời nhập thể trên Mẹ bên trong cũng như bên ngoài, hạnh phúc của Mẹ vượt quá sự hiểu biết của chúng ta.
"Phúc cho vú đã cho Thầy bú" (Lc 11, 27)

Mẹ là người trinh nữ duy nhất đã được vinh dự cưu mang và sinh hạ và dưỡng nuôi Con Một Thiên Chúa Chúa cho trần thế. Người đàn bà khi nghe Chúa Giêsu giảng đã không ngần ngại nói đến những nét đặc trưng và kín đáo của một người mẹ, những gì nơi thân xác mẹ cần cho sự sống của con. Ngoài lòng dạ của thân mẫu Thầy đã cưu mang Thầy, mà còn "vú đã cho Thầy bú mớm" ba năm. Như thế, thân xác và tâm hồn mẹ là cái nôi ru cho con lớn lên. Mẹ vừa cưu mang, vừa lo sinh, lo dưỡng.

Nếu "yêu và được yêu là những điều hạnh phúc nhất trong đời" như kiểu nói của văn hào shakespears, thì Đức Maria là người diễm phúc, vì Mẹ được Chúa yêu thương, chính Mẹ cũng biết dành trọn vẹn tình yêu của mình cho Thiên Chúa. Ngay trong mầu nhiệm lên Trời, Mẹ Maria đã được diễm phúc hưởng nếm ơn phục sinh "hồn xác lên trời" trước bất cứ ai, vì Mẹ chẳng vướng mắc tội truyền. Mẹ hạnh phúc tự nhiên vì cưu mang Con Thiên Chúa trong mầu nhiệm Nhập Thể, nhưng chính Mẹ biết rõ hơn ai: Mẹ hạnh phúc siêu nhiên vì được Tình Yêu Thiên Chúa cưu mang từ thủa đời đời. Mẹ hạnh phúc là như thế đó, và trong hạnh phúc của Mẹ chúng ta tìm thấy hạnh phúc của mỗi người chúng ta.

Mẹ sẵn sàng cưu mang hạnh phúc của mỗi chúng ta

Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa mà Mẹ Maria đã cưu mang và cho bú mớm là Đấng Cứu Độ thế gian, mặc lấy xác phàm nhân loại và thánh hiến với tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Trái đất là bệ dưới chân của Đấng là Hồng Phúc. Nên trong hạnh phúc của Mẹ có hạnh phúc của mỗi người chúng ta. Như Mẹ hiền, khi bồng ẵm Chúa Giêsu Con Mẹ, với vòng tay rộng mở của tình mẫu tử, Mẹ ôm cả nhân loại trong tình yêu của Người Con ấy, "vì nhân loại là chi thể của Thân mình Ngài" (Ep 5,30), và Mẹ không xấu hổ vì được gọi là Mẹ của tất cả những ai được sinh ra trong Chúa Kitô nhờ ơn cứu chuộc của Người. Mẹ được gọi là Evà mới "Mẹ của tất cả chúng sinh" (St 3,20), nhưng trong thực thế, Mẹ là Mẹ của những kẻ chết… Vì Evà cũ đã không thực hành ý định của Chúa cách trung thành, Mẹ là người đã hoàn thành mỹ mãn mầu nhiệm ấy. Cũng như Giáo hội là mẹ của tất cả những ai tái sinh trong đời sống Giáo hội. Giáo hội là mẹ của những người sống làm cho mọi người được sống (Ga 11,25; 5,25s). Khi trao ban sự sống cho trần gian dưới nhiều hình thức, Giáo hội đã trao bao sự sống cho tất cả những ai tìm thấy sự sống của mình trong Đấng Hằng Sống.

Chính vì thế, người mẹ diễm phúc của Chúa Kitô là mẹ chúng ta nhờ mầu nhiệm thân thể này, Mẹ cũng tỏ cho chúng ta biết Mẹ rất ân cần và trìu mến… Và giờ đây chúng ta "ở trong sự che chở " của Mẹ "Đấng Tối Cao", chúng ta "ngụ cung cấm của Ðấng Tối Cao, và trọ dưới bóng của Ðấng Toàn năng; Tôi đã đặt Chúa luôn luôn trước mắt, vì có Người bên hữu, tôi sẽ không lay! " (Ps 90,1; 16,8). Hơn nữa, vì Vua vinh quang đã ngự nơi Mẹ, với tình mẫu tử hải hà, Mẹ sẽ chia sẻ vinh quang ấy cho chúng ta.

Mẹ hạnh phúc, Mẹ cũng muốn con cái mình hạnh phúc, nên Mẹ dạy: "Người bảo gì các con cứ làm theo" (Ga 2, 5). Chúa Giêsu bảo: "Ai nghe và giữ lời Thiên Chúa còn có phúc hơn" (Lc 11, 28). Xin Mẹ giúp chúng con vâng nghe và giữ lời Thiên Chúa, để trở nên những người con diễm phúc của Mẹ. Amen.

---------------------------

 

15/8-140: Mẹ Maria Lên Trời - J.M - Lễ Vọng:


Lc 11, 27-28

 

Không phải Thiên Chúa ban cho Đức Ma-ri-a được hưởng ơn rất phi thường để làm nhẹ bớt gánh 15/8-140


Không phải Thiên Chúa ban cho Đức Ma-ri-a được hưởng ơn rất phi thường để làm nhẹ bớt gánh nặng của Mẹ. Như Con Ngài “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin Đấng có quyền cứu ngươi khỏi chết” (Dt. 5, 7). Thì Mẹ cũng phải sống kiếp phàm nhân như vậy. Chính sống qua kiếp đau khổ này, Mẹ đã cảm nghiệm được lòng trung tín với Thiên Chúa.

Một đời sống đức tin.

Đức Ma-ri-a đã sống trong đức tin, tức là sống trong tăm tối như chúng ta, không nắm bắt được những ý nghĩa rối mù luôn xảy đến với Ngài. Nhưng dần dần, ý nghĩa mầu nhiệm của đời Mẹ được liên kết với đời Con Mẹ, dù luôn luôn bao phủ trong sương mù của đức tin cũng hiện lên trong lương tri của Mẹ như mặt trời ló rạng báo hiệu bình minh sáng tỏ ở vầng đông. “Điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta” (Ga 5, 4). Với đêm Phục Sinh “Bóng tôi đang qua đi, và ánh sáng thật đã tỏ rạng” (1 Ga, 2, 8).

Đức Ma-ri-a sau Phục Sinh của Đức Giê-su và ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống, tiếp tục sống với Giáo Hội đang tiến triển trong đức tin vào Đức Giê-su Ki-tô Phục Sinh. Mẹ Ma-ri-a không được trông thấy sự sống lớn mạnh của Giáo Hội, nhưng mẹ được nếm hạnh phúc vì biết sự sống đó từ nay hiện diện ở những nơi mà Giáo Hội sẽ tới.

Hình bóng của Giáo Hội.

“Con sẽ ở cùng Mẹ mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20) Mẹ Ma-ri-a là hình bóng Giáo Hội đã liên kết chặt chẽ với Đấng mà Mẹ yêu mến, chắc chắn trong bóng tối của đức tin. Mẹ nóng lòng chờ đợi lời hứa này của Con Mẹ thực hiện: “Con đi dọn chỗ cho Mẹ và Con sẽ trở lại để đưa Mẹ về cùng Con, để Con ở bên Chúa Cha, thì Mẹ cũng ở đấy với Con”.

Chính vì thế, người ta có thể hình dung hơi thở cuối cùng của Mẹ Ma-ri-a như cuộc đàm thoại yêu thương hoàn tất bộ Kinh Thánh rằng: Thánh Thần và Tân Nương nói: “Xin Ngài ngự đến”. Đấng rất yêu mến đáp: “Phải chăng bao lâu nữa Ta sẽ ngự đến” “Ô lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến!” (Kh 22, 17 và 20).

-------------------------

 

15/8-141: Vững tin giống Mẹ – Về trời như Mẹ”


(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)

 

Cả cuộc đời dương thế của chúng ta là một cuộc hành hương, một cuộc lữ hành, về nhà Chúa. Giờ 15/8-141


Cả cuộc đời dương thế của chúng ta là một cuộc hành hương, một cuộc lữ hành, về nhà Chúa. Giờ đây, tất cả chúng ta là những lữ khách trần gian, có nghĩa rằng chúng ta còn đang đi, cuộc sống này chưa phải là nơi định cư vĩnh viễn. Ngày hôm nay, toàn thể Hội thánh tin và tuyên xưng rằng Mẹ Maria được Thiên Chúa cho lên trời cả hồn lẫn xác. Trong khi đó Mẹ Maria cũng là kẻ lữ hành như chúng ta khi còn ở trần thế và hành trình đức tin của Mẹ Maria cũng lắm gian truân và thậm chí còn đen tối chứ chẳng sáng sủa gì! Thế tại sao Mẹ Maria được đặc ân này? Tin Mừng hôm nay trả lời ngay rằng vì Mẹ đã tin vững vàng vào Thiên Chúa và công trình Người sẽ thực hiện nơi Mẹ và cuộc đời của Mẹ, “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Ngài đã nói với em” (Lc 1,45).

Chúng ta tạm ngừng chiêm ngắm những đặc ân cao cả của Mẹ Maria để quay về với cuộc sống bình thường giản dị và đơn sơ của cô Maria tại làng Nazarét nghèo nàn. Chắc chắn, cô Maria cũng như bao cô gái khác trong làng đều có những ước mơ thật tốt đẹp và tươi sáng về cuộc đời mình khi đến tuổi vào đời. Đùng một cái, Thiên Chúa mời cô làm mẹ Con Một của Ngài trong khi cô không biết đến chuyện vợ chồng, liệu cô Maria có tin chuyện ấy có thể xảy ra không? Rồi tới giờ mãn nguyệt khai hoa mà chẳng một ai, một nhà nào cho cô Maria và thánh Giuse mướn một chỗ để sinh, lúc ấy cô Maria có tin mình sắp sinh Ngôi Hai Thiên Chúa không? Rồi nữa, khi thấy con mình đi từ làng này sang làng khác để rao giảng Tin Mừng, chữa lành nhiều bệnh nhân mà không biết mệt mỏi, có lúc quên ăn ăn ngủ, thậm chí quên giờ quên giấc đến nỗi người bà con nói với cô đi bắt con trai Giêsu bà về đi nó điên rồi (Mc 3,20-21), cô có còn tin đó là Con Thiên Chúa thật không? Chưa hết, khi lạc con ba ngày, vừa lo vừa sợ, vừa mệt vừa tủi trong lúc tìm con; khi tìm được rồi chưa kịp mừng thì người con nói một câu như gáo nước lạnh tạc vào mặt, thư hỏi cô có tin đó là Thiên Chúa thật không? Chưa nói, khi thấy con mình bị phỉ nhổ, khinh chê, đánh đập bầm thâm loạn bì và chết trên treo thập giá, liệu cô Maria có tin đó là điều đẹp ý Chúa không?

Quả thật, Mẹ Maria không hề biết trước những chuyện như thế? Cũng không hề nghĩ rằng tất cả là chương trình Thiên Chúa xếp đặt cả rồi, thôi mình cứ cam lòng chịu đựng hết đi rồi sẽ được thưởng công xứng đáng như hôm nay. Ấy thế, Mẹ Maria vẫn tin mạnh mẽ, vững vàng và xin Thiên Chúa cứ thực hiện nơi cô những gì Ngài muốn. Đức tin của Mẹ là đức tin của sự chấp nhận dâng hiến xác hồn, phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa. Cho nên, Mẹ thưa “xin vâng” để rồi thụ thai Chúa Giêsu trong lòng dạ mình bất chấp rằng chắc chắn mình sẽ bị chồng đưa ra pháp luập, bị ném đá chết tươi vì mới đính hôn mà đã có thai.

Là lữ khách trần gian, Mẹ Maria bước những đi của đức tin tuy nhẹ nhàng nhưng đầy niềm vui và phục vụ; bước những chân nặng nề, cay đắng, gian truân khốn khó nhưng đầy tín thác và hy vọng vì thế Mẹ đã đi tới nơi và trở thành người dẫn lối đưa đường cho chúng ta. Cho nên, Giáo Hội tin và dạy rằng: “Sau khi về trời, vai trò của Mẹ trong công trình cứu độ không chấm dứt, nhưng Mẹ vẫn luôn tiếp tục cầu bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ được phần rỗi đời đời. Với tình Mẹ hiền, Mẹ chăm sóc những anh em của Con Mẹ đang lữ hành trên dương thế và đang gặp biết bao nguy hiểm, thử thách cho đến khi họ đạt tới hạnh phúc Quê Trời” (LG, Số 62).

Cuộc đời dương thế và hành trình đức tin của Mẹ Maria thật lắm tối tăm, nhiều thử thách cam go đồng thời cũng không thiếu gian nan, đắng cay! Nhưng Mẹ Maria đã đến được bến bờ hạnh phúc bằng những hành động đức tin sống động và cụ thể chứ không phải là đức tin tưởng tượng trong trí óc hay trên môi miệng. Đức tin là điều kiện để được cứu độ (Mc 16,16) và đạt hạnh phúc thiên đàng (Mt 25,34), nhưng chúng ta phải làm cho đức tin ấy thật sống động và linh hoạt bằng những hành động cụ thể trong đời sống thường nhật, nhờ đó đức tin mới nên hoàn hảo. Cho nên, Thánh Giacôbê nói: “Đức tin không có hành dộng là đức tin chết” (Gc 2,26), vì chưng, “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11,1).

Chúng ta phải noi gương Mẹ Maria sống đức tin chân thành và kiên trì bằng cách tuân giữ và thi hành Lời Chúa dạy qua việc sống hết mình cho Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô và buông mình cho Chúa Thánh Thần, sau là yêu thương mọi người qua việc khiêm nhường, tha thứ, cầu nguyện và phục vụ tha nhân ngõ hầu mai ngày, Thiên Chúa sẽ đưa ta về Quê Trời như Mẹ. Hành trình đức tin của chúng ta phải được đan kết bằng những kinh nguyện, hy sinh, bác ái, khó nghèo, hiền lành, công chính, nhân hậu, bao dung và từ tâm, đặc biệt hăng say thông truyền Tình Yêu Thiên Chúa cho mọi người hôm nay. Đó chính là những nẻo đường Mẹ Maria và Chúa Giêsu con Mẹ đã đi. Chúng ta hãy mạnh dạn lên đường dấn thân và bước đi trong sự tự do, vui mừng và hy vọng để vác thập giá với Chúa Giêsu có Mẹ cùng bước dù những bước chân vui buồn khập khểnh, từng bước đường sướng khổ gập ghềnh trên dương thế hôm nay để rồi không phải dừng lại ở đồi Canvê trong Mùa Thương nhưng cùng với Mẹ hưởng trọn Mùa Mừng vui và hạnh phúc trên Nước Trời. Amen.

------------------------------

 

15/8-142: Ðến gần bên Chúa Yêsu như Ðức Mẹ


(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

Suy Niệm:

 

Nghe qua những bài Kinh Thánh hôm nay, chúng ta thấy phụng vụ dường như muốn hướng tâm 15/8-142


Nghe qua những bài Kinh Thánh hôm nay, chúng ta thấy phụng vụ dường như muốn hướng tâm hồn chúng ta về trời để thấy Ðức Mẹ đang ở trên đó qua bài sách Khải huyền; Người đang hân hoan ngợi khen Chúa qua bài Tin Mừng; và đặc biệt Người đang cảm mến ơn phúc hồn xác được ở trong vinh quang Thiên Chúa qua bài thư Phaolô. Nhưng nếu đọc kỹ lại, chúng ta có thể tự hỏi chưa chắc những bài Kinh Thánh kia đơn giản như vậy. Và biết đâu khi đó chúng ta sẽ thấy rằng Lời Chúa hôm nay nhắm vào chúng ta hơn Ðức Mẹ và dường như Chúa muốn gương sáng của cuộc đời Ðức Mẹ để giáo huấn và bổ dưỡng chúng ta trong cuộc đời dương thế. Chúng ta hãy thử tìm hiểu những bài đọc Kinh Thánh kia.

A. Bài Sách Khải Huyền

Thánh Yoan thấy Ðiện thờ Thiên Chúa ở trên trời mở ra. Và Khám Giao ước hiện ra trong Ðiện thờ của Người. Tức là người nhìn thấy thời đại cánh chung, thời đại Nước Trời, thời đại Thiên Chúa đến ở cùng nhân loại. Bởi vì theo tâm tư của người Do Thái thời bấy giờ, nói đúng hơn theo các sách Khải huyền thời thánh Yoan, người ta quan niệm đến thời gian sung mãn, Khám Giao ước sẽ lại hiện ra và lúc đó người ta có mạc khải toàn diện về giao ước, tức là về kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa.

Thời gian sung mãn dĩ nhiên là thời đại cánh chung, nhưng cũng là thời đại Thiên sai, thời Ðức Kitô xuất hiện mạc khải toàn diện chương trình của Thiên Chúa cho loài người. Chúng ta đang sống trong thời đại đó. Thế nên hiện tượng hay dấu hiệu mà thánh Yoan sắp nhìn thấy hẳn cũng phải đang xảy ra ở trước mắt chúng ta.

Người thấy một dấu lạ vĩ đại hiện ra ở trên trời: một Bà có mặt trời bao quanh, chân trên mặt trăng và đầu có triều thiên 12 ngôi sao. Chúng ta muốn đồng hóa Bà với Ðức Mẹ. Nhưng những điều thấy sau dường như không cho phép làm như thế. Vì "Bà đang thai nghén và kêu la đau đớn, quằn quại sinh con... Có một con rồng đứng chực trước mặt Bà, để Bà vừa sinh là nó nuốt con Bà... Nhưng con Bà đã được cất bổng lên nơi Thiên Chúa và Bà đã trốn vào sa mạc..."

Thú thật, chúng ta đã thấy khó hiểu rồi. Ðành rằng có thể giải thích: ở đây Yoan muốn nói đến việc Ðức Mẹ sinh Chúa Cứu thế. Nhưng lối giải thích này gặp nhiều khó khăn. Có nơi nào trong Kinh Thánh nói đến việc Ðức Mẹ sinh Chúa Yêsu mà phải đau đớn quằn quại đâu? Và cũng chẳng có nơi nào, nói rằng Ðức Yêsu đã tránh Satan như vậy. Ngược lại, Người phải đến để xua đuổi tà thần ra khỏi tâm trí và định mệnh loài người.

Ðàng khác, trong thư Phaolô có chỗ nói: người cưu mang phần rỗi các giáo dân của người và phải vất vả sinh họ ra trong đức tin. Ý tưởng ấy khuyến khích chúng ta thử nhìn người đàn bà trong đoạn Khải Huyền trên như là hình ảnh về Giáo hội. Giáo hội đang được Ơn Chúa bao bọc và có 12 chi họ, 12 Tông đồ tượng trưng bằng 12 ngôi sao. Giáo hội ở thời đại sung mãn này đang thai nghén đau đớn, quằn quại sinh ra các tín hữu... Ðàng trước Giáo hội và chung quanh Giáo hội, Satan luôn luôn quyện quanh để tìm mồi cắn xé. Nó rình nuốt con cái Giáo hội sinh ra. Nhưng chúng là con cái Chúa, là con cái trong Người Con Một của Thiên Chúa. Và Người Con này hiện đã được cất bổng lên nơi Thiên Chúa, lên ngai của Người. Và theo lời Thánh Kinh nói, những người con khác cũng đang được ở gần Thiên Chúa trong Ðức Yêsu Kitô. Còn người đàn bà kia, tức là Giáo hội đã trốn vào sa mạc, ở đó Thiên Chúa cung dưỡng bà 1,260 ngày. Con số này đã được nói tới ở đoạn trên cũng là 42 tháng và là ba năm rưỡi trời. Sách Ðaniel (7,25; 12,7) coi đó là thời gian bắt đạo thời Antiôkhô Epiphanê và vì thế nó trở thành biểu tượng thời kỳ cấm cách. Như vậy trong suốt thời kỳ bị bắt bớ và gặp khó khăn do Satan rảo quanh tìm mồi cắn xé, Giáo hội không lo sợ vì luôn được ơn Chúa phù trợ và dưỡng nuôi, cho đến ngày mọi sự nên trọn và quyền bính hoàn toàn thuộc về Ðức Kitô Chúa chúng ta.

Như thế bài sách Khải Huyền hướng chúng ta nhìn về Giáo hội. Giáo hội là Mẹ hằng sinh ra con cái Chúa trong đau thương vất vả. Giáo hội luôn bị rình chờ bắt bớ, nhưng đồng thời cả con lẫn mẹ luôn luôn được Chúa phù trợ.

Nhưng thường thường những gì nói về Giáo hội cũng có thể hiểu về Ðức Mẹ và về các linh hồn. Vì Ðức Mẹ là hình ảnh, là khuôn mẫu về Giáo hội. Hơn nữa Người cũng là Mẹ các tín hữu. Và rõ ràng Người phải đồng lao cộng tác với Chúa Cứu thế để sinh ra Giáo hội và các linh hồn. Ấy là chưa kể Ðức Mẹ cũng là một tín hữu, một "linh hồn". Và mỗi linh hồn cũng là người đàn bà trong đoạn Khải huyền trên. Linh hồn nào cũng phải cưu mang đức tin và đời sống ân sủng. Làm được một hành vi bác ái siêu nhiên, sinh ra được những hành động đức tin đẹp lòng Chúa, không phải là dễ. Người ta phải phấn đấu, chống lại Satan, thế gian và xác thịt. Người ta phải quằn quại trong cơn đau sinh nở như thánh Phaolô nói chung về thân phận toàn thể tạo vật hiện nay.

Suy nghĩ như vậy, bài sách Khải huyền đưa mắt chúng ta nhìn lên Ðức Mẹ trên trời thì ít, mà bảo chúng ta nhớ lại cuộc đời của Người ở trần gian thì nhiều. Mỗi lần sách Tin Mừng cho chúng ta thấy Người đứng bên Ðức Yêsu, chúng ta lại được chứng kiến Người như phải đau đớn đi vào con đường đức tin mỗi ngày một hoàn toàn hơn. Và nhất là Người đã thật sự quằn quại khi trở thành Mẹ của Yoan ở dưới chân Thánh giá, để có thể nói hằng ngày Người phải đồng lao cộng tác với Ðức Kitô và Giáo hội để sinh ra con cái Chúa ở trần gian này. Chúng ta phải cảm phục Mẹ và biết ơn Mẹ. Hằng ngày chúng ta phải mượn lời bà Elisabet mà chào Mẹ đầy ơn phúc. Và lúc ấy chúng ta sẽ được Mẹ dạy dỗ thêm.

B. Bài Kinh Tôn Dương

Thánh Luca viết: "Và Maria nói: hồn tôi tôn dương Chúa và thần trí tôi nhảy mừng Thiên Chúa". Nhưng thật ra Người có nói như vậy không? Mạch văn và hoàn cảnh khó cho phép chúng ta tin rằng đây thật là những lời đã trào ra từ lòng Ðức Mẹ khi Người đứng trước mặt bà Elisabet. Vị trí bài kinh "Tôn dương" là một vị trí giả dối. Nó cắt đứt câu truyện thăm viếng khá lâu. Nó lại nặng chất Do thái và Cựu Ước, khiến chúng ta nghĩ nó ít hợp với tư tưởng và văn chương Hylạp của thánh Luca. Và hoàn cảnh lúc hai người bà con gặp nhau chưa hẳn đã thuận lợi đến nỗi làm thốt lên được những cảm tình tôn giáo điêu luyện đến như thế.

Và nếu phân tích kỹ, bài Kinh Tôn dương khác nào một tổng hợp các suy tư của bao bài Thánh vịnh và khôn ngoan. Nó là tiếng nói của một cộng đoàn hơn là của một cá nhân. Nó có tính cách khách quan hơn là chủ quan.

Chúng ta có thể thấy ba phần rõ rệt. Thoạt đầu linh hồn tôn dương Chúa vì Người đã đoái thương đến phận hèn, tôi tớ của mình (46-49). Và như vậy cũng là hợp với đường lối của Người xưa nay hằng nhân nghĩa với kẻ khiêm nhu kính sợ và đuổi về tay không những kẻ giàu sang (50-53). Thái độ nhân nghĩa quảng đại của Chúa tỏ ra rõ rệt nhất khi đáp cứu Israel tôi tớ Người, như đã hứa cùng Abraham và dòng dõi ông (54-55).

Chúng ta không thấy ám chỉ gì tới những ơn trọng đại Ðức Mẹ vừa được. Càng không nêu lên việc Chúa vừa viếng thăm lòng bà Elisabét. Tất cả khiến chúng ta phải kết luận: bài ca tôn dương mà chúng ta vẫn gọi là của Ðức Mẹ, thực ra không phải là của riêng Người và do một mình Người sáng tác ra. Nhưng đó là tâm tình của cả Giáo hội, trong đó có Ðức Maria. Ðó là bản kinh phụng vụ của cộng đoàn Do thái - Kitô giáo tiên khởi đã cảm hứng khi suy nghĩ về ơn Chúa cứu độ mình. Ðược hạnh phúc của ngày hôm nay, Giáo hội thấy mình là đối tượng của lòng Chúa thương yêu đã tuyển chọn mình hầu thừa tự mọi Lời Hứa xưa.

Ðức Mẹ ở trong Giáo hội, là biểu tượng của Giáo hội. Người sẽ chẳng trách thánh Luca đã đặt bản kinh Tôn dương trên môi miệng Người. Và chắc chắn Giáo hội phải cám ơn thánh nhân đã làm cho bản kinh của Dân Thiên Chúa được thêm giá trị khi được mô tả như đã từ lòng Ðức Mẹ thốt ra.

Còn chúng ta khi đọc kinh này, không những chúng ta nghĩ đến những tâm tình chân thật của Ðức Mẹ và của Giáo hội, mà chúng ta cũng phải sung sướng nhận lấy làm của mình. Vì thật sự ai có lòng đạo đức mà không thấy mình trong bản kinh ấy? Tất cả đời sống đạo đức của chúng ta không hoàn toàn là tác phẩm của Thiên Chúa hay sao? Sở dĩ chúng ta được như ngày nay là vì Người đã nhìn đến phận hèn tôi tớ, vì lòng nhân nghĩa của Người từ đời nọ đến đời kia, vì Người nhớ lại Lời Hứa cùng tổ phụ Abraham cho đến muôn đời. Và chúng ta sẽ càng đọc kinh này sốt sắng khi chúng ta càng ý thức đang mang trong mình ơn cứu độ cao cả như Ðức Maria xưa, khi Người được bà Elisabét nhắc đến quả có phúc trong lòng Người.

Như vậy, chúng ta càng quý kinh này hơn khi biết nó là tác phẩm của cả Giáo hội và đã được Ðức Mẹ mà cho thêm giá trị. Và cũng như Giáo hội ngày nay chỉ còn muốn diễn tả kinh này qua tâm tình của Ðức Mẹ, thì chúng ta cũng phải kết hợp với Ðức Mẹ mỗi khi đọc kinh này. Ðức Mẹ, Giáo hội và chúng ta gắn bó mật thiết với nhau như vậy, thế mà nhiều khi chúng ta không hay biết! Ðiều ấy đã đúng trong quá khứ và hiện tại thì cũng đúng trong tương lai như lời thư Phaolô hôm nay cho thấy.

C. Bài Thư Phaolô

Thánh Tông đồ không hiểu sao có người lại không tin sự phục sinh, tức là việc kẻ chết sau này sẽ sống lại. Như vậy thì sự chết hay tử thần sẽ không bao giờ bị giết sao? Mà nó là kết quả của tội lỗi, thì như vậy cũng không bị xóa bỏ hoàn toàn ư? Ơn cứu độ của Chúa Kitô mạnh mẽ như thế nào? Chỉ cần suy nghĩ một tý là đã thấy rõ vấn đề. Không, sự chết cũng sẽ bị hủy diệt. Thế nên lời cuối cùng trong thư hôm nay nói rằng: "Ðịch thù sau hết sẽ bị hủy ra không là sự chết".

Nhưng để đi đến chân lý này, thánh Phaolô không lý luận suông. Người căn cứ vào sự kiện trong lịch sử cứu độ. Người nhắc lại việc Ðức Kitô đã sống lại từ cõi chết. Và Người đã không sống lại cho mình, nhưng với tư cách là tiên thường giữa các vong linh, hay như hoa quả đầu mùa của toàn thể nhân loại. Bởi vì chúng ta không bao giờ được quên Ðức Kitô là Ðầu của một thân thể, khác nào như Ađam là đầu của nhân loại. Nếu do tự Ađam sự chết đã lọt vào thế gian thì lẽ nào sự sống lại ở nơi Ðức Kitô lại không tràn đến tất cả nhân loại? Thế nên ai theo thứ tự nấy sẽ sống lại sau Ðức Kitô.

Ðàng khác, Thiên Chúa đã thề hứa đặt mọi thù địch dưới chân Ngài. Mà sự chết là kẻ thù cuối cùng của nhân loại. Sự chết cũng sẽ bị hủy diệt dưới chân Ðức Kitô để sự sống của Thiên Chúa sẽ ở trong tất cả.

Chúng ta không cần dài dòng diễn tả mầu nhiệm xác thịt sống lại. Chúng ta đã tin vững vàng rồi. Ở đây và hôm nay phụng vụ muốn chúng ta để ý đến một câu trong thư này: ai nấy cũng sẽ theo thứ tự của mình mà sống lại sau Ðức Kitô. Nhưng thứ tự nào, nếu không phải là như lời thư Phaolô, thứ tự thuộc gần hơn về Ðức Kitô? Thế mà ai gần Ðức Kitô hơn Ðức Mẹ? Do đó, tin hồn xác Ðức Mẹ ngày nay đang ở trên trời là khẳng định niềm tin xác thịt chúng ta sau này sẽ sống lại. Và thấy ngày nay Người đã được như thế, thì chúng ta phấn khởi chắc chắn sẽ đến lượt mình.

Và cho được như vậy phải đến gần Chúa Yêsu như Ðức Mẹ, phải chấp nhận phấn đấu để cưu mang đức tin và sinh ra hoa quả các việc lành như người đàn bà trong sách Khải huyền; phải bắt chước Giáo hội luôn sống tôn dương Thiên Chúa đã thương đến phận hèn của mình và ban cho mình tràn trề ơn cứu độ. Nói tóm phải bắt chước Ðức Mẹ trong đời sống phấn đấu, cầu nguyện và cậy trông để luôn luôn được gần Chúa Kitô. Giờ đây Người đến gần chúng ta trong Thánh Thể để ở với chúng ta trong đời sống hầu đưa chúng ta sau này sống lại. Chúng ta hãy có tâm tình của Ðức Mẹ để gần Người ở trần gian hầu được gần Người ở trên trời.

----------------------------

 

15/8-143: Ðể cho được lên cao như Ðức Mẹ


(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

Suy Niệm:

 

Trong ba bài học Kinh Thánh hôm nay, bài sách Khải Huyền và bài Tin Mừng như trực tiếp muốn 15/8-143


Trong ba bài học Kinh Thánh hôm nay, bài sách Khải Huyền và bài Tin Mừng như trực tiếp muốn nói với chúng ta về Ðức Mẹ. Còn bài thư Phaolô gợi lên niềm hy vọng của chúng ta cũng sẽ được sống lại để lên trời cả hồn và xác như Ðức Mẹ. Xét theo thời gian chúng ta hãy đọc bài Tin Mừng trước và bài Khải Huyền sau.

Bài Tin Mừng đưa chúng ta nhìn lại một chuyện đã xảy ra trong cuộc đời của Ðức Mẹ ở trần gian. Còn bài Khải Huyền mở cho chúng ta thấy một quang cảnh ở trên trời với hình một người phụ nữ rất đặc biệt. Chúng ta sẽ phải hỏi người phụ nữ đó là ai? Và áp dụng vào Ðức Mẹ thì hình ảnh ấy nói lên sự kiện nào trong đời sống của Người? Nhưng trước hết chúng ta hãy chiêm ngưỡng Người trong câu chuyện Người đến thăm Elisabeth.

1. Người Diễm Phúc

Ðức Maria vừa được thiên thần truyền tin... Người thật vui như lời thiên thần đã chào Người. Ðó là niềm vui to lớn mà càng suy Người càng thấy không thể tưởng tượng được. Bên tai Người còn văng vẳng lời thiên thần: "Thánh Thần sẽ đến trên Người, và quyền năng Ðấng Tối Cao trên Người rợp bóng; bởi thế mà trẻ sắp sinh được gọi là thánh, là Con Thiên Chúa". Những lời ấy nói lên những việc phi thường và trọng đại... Lòng Người đang cưu mang những điều ấy. Không niềm vui nào to lớn hơn. Ðó là niềm vui dân Chúa đón chờ từ đời các tổ phụ. Ðức Maria càng nghĩ, đôi chân Người càng đon đả đi lên miền sơn cước, hướng về thành của Elisabeth, là một người trong hàng thân thích đã già nua son sẻ mà thiên thần lại bảo là mới thụ thai. Ðây cũng là việc lạ Chúa làm mà Người đã mạc khải cho Maria. Người thấy ngay tiếng gọi phải đi thăm Elisabeth vì sự việc xảy đến cho bà hẳn có liên hệ đến ơn mầu nhiệm chính Người đã mang đầy trong lòng.

Vậy Người đã chỗi dậy lên đường không trì hoãn. Niềm vui to lớn trong lòng làm Người quên mọi nhọc nhằn nguy hiểm của "thân gái dặm trường". Người đã vào nhà Elisabeth và chào người bà con. Lập tức bà này thấy rộn ràng trong lòng và được đầy Thánh Linh... Bà thấy rõ ơn Chúa đến với mình, nói đúng hơn, với hài nhi trong lòng mình. Và ơn Chúa đến từ lòng người trinh nữ trước đây là bà con với mình nhưng bây giờ đã trở thành khí cụ của Thiên Chúa. Elisabeth liền chào lại Maria với những lời mà ngày nay trên khắp thế gian ngày nào con cái Hội Thánh cũng không ngừng dâng lên Ðức Mẹ trên trời: Chào Bà có phúc hơn mọi người nữ. Và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ.

Niềm vui to lớn Maria mang trong mình bây giờ người ta đã biết và trở thành công khai. Người thấy ngay bổn phận phải công khai nói lên lòng biết ơn vô vàn đối với Chúa. Do đó Người đã bắt đầu kinh "tôn dương" Chúa.

Những ai biết Kinh Thánh và hiểu đường lối cứu độ đều thấy ngay những lời Ðức Maria thốt ra đã làm vọng lại cả một bầu trời Cựu Ước. Ðó là tiếng nói của dân trông đợi ơn cứu thế phải phát biểu khi ý thức ơn đó đã đến cho mình. Ðó là tâm tình của hết thảy mọi người khi thấy mình được cứu độ theo như đường lối của Thiên Chúa. Chính vì vậy có thể nói Ðức Maria đã nói thay cho dân cũ; Người đã phát biểu đại diện cho dân mới. Lời kinh của Người là mẫu mực để chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì công trình cứu độ của Người. Do đó, Hội Thánh thật có lý khi hát ca vãn của Ðức Mẹ vào giờ kinh chiều, giờ nhìn lại ơn cứu độ của Thiên Chúa đã diễn ra trong ngày và trong lịch sử.

Như vậy chúng ta có đáng giá quá cao lời kinh "tôn dương" của Ðức Maria không? Thiết tưởng công lao của tác giả Luca thật là nhiều. Người đã có công ghi lại tâm tình của Ðức Mẹ và mặc cho nó hình thức hiện nay. Người cho ta thấy tâm hồn của Ðức Maria trước hết là đang "nhảy mừng" vì ơn Chúa cứu độ. Từ ngữ "nhảy mừng" gợi lên cả một truyền thống Kinh Thánh mỗi khi muốn diễn tả lòng hân hoan cảm mến trước hành động cứu dân kỳ diệu của Thiên Chúa. Ở đây hành động cứu thế oai phong này lại xảy ra nơi thân phận mọn hèn tớ nữ của Người, ám chỉ quả có phúc nơi cung lòng trinh nữ Maria.

Ðúng như lời Elisabeth đã nói: Maria thật diễm phúc; nhưng không phải chỉ hơn hết mọi người nữ, mà hơn tất cả mọi người khiến mọi đời sẽ khen Maria có phúc. Ý thức ấy khiến Người phải ngợi khen Thiên Chúa.

Người biết nói gì, nếu không trở đi trở lại hai đề tài sau đây: một đàng ca tụng Chúa thật thánh thiện, uy quyền, nhân nghĩa; và đàng khác thấy mình thân phận mọn hèn tớ nữ bất xứng với ơn cao cả Chúa ban? Giao đi giao lại hai đề tài ấy, Ðức Maria không ngờ đã viết lại những nét chính yếu của lịch sử ơn Cứu độ. Bài ca của Người đã nói lên phong cách của Chúa trong tất cả lịch sử này. Nó diễn tả đường lối cứu độ, và có thể nói, chính bản chất của ơn này.

Cứu độ, theo kinh tôn dương, là những điều cao cả mà Ðấng quyền năng làm. Ngài làm chỉ vì Danh Ngài là thánh; và vì lòng nhân nghĩa của Người đặc biệt đối với nhà Israel. Cách thức Người thi hành tựu trung là một cuộc phân xử: Một bên hạ kẻ kiêu căng, quyền thế, giàu sang và bên kia nâng cao người kính sợ khiêm nhượng và đói khổ.

Ðức Maria thực ra đã chỉ muốn đi từ kinh nghiệm riêng của mình. Thế mà cụ thể kinh nghiệm ấy bây giờ chính là quả có phúc Người đang mang trong lòng. Thành ra khi mô tả kinh nghiệm riêng Người đã diễn tả ơn cứu độ và ơn này chỉ có Một từ đời nọ đến đời kia; nên bài ca của Ðức Mẹ trở thành lời phát biểu của mọi thế hệ về lòng nhân nghĩa của Thiên Chúa. Người đã nói thay cho cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Người đã nói thay cho chúng ta; tức là chúng ta luôn phải mượn lời ca của Người mà ngợi khen ơn cứu thế.

Tuy nhiên có thể nói đây mới chỉ là tiếng hát đầu tiên của Ðức Mẹ khi cưu mang Người con đầu lòng. Sẽ có một lúc khác, Người được lãnh nhận thêm thiên chức làm mẹ loài người. Lúc ấy tiếng hát của Người có một âm điệu đặc biệt mà dường như bài sách Khải Huyền hôm nay còn làm vọng lại.

2. Người Ðau Ðớn

Như mọi ánh văn chương Khải Huyền, đoạn văn này không dễ hiểu tức khắc. Và nhất là đừng giải thích theo nghĩa đen. Câu đầu tiên nói: Ðiện thờ Thiên Chúa trên trời đã mở ra và khám giao ước hiện ra trong điện ấy. Ðiều này chỉ có nghĩa là tác giả được xem thấy mầu nhiệm trên trời. Và đây không phải chỉ là một mầu nhiệm nhưng là tất cả kế hoạch thâm sâu của Thiên Chúa. Vì chúng ta biết Môsê đã được lệnh xây điện thờ Chúa ở dưới đất theo khuôn mẫu đã được thấy ở trên trời. Và trong đền thờ dưới đất, khám giao ước được đặt trong nơi cực thánh không ai được vào trừ vị Thượng tế mỗi năm một lần. Nay nói rằng điện thờ trên trời đã mở và khám giao ước hiện ra, thì chúng ta phải hiểu Thiên Chúa sắp cho tôi tớ của Người xem thấy tất cả mầu nhiệm về giao ước. Ðó là một mạc khải toàn diện.

Vậy tác giả sách Khải Huyền đã thấy gì? Những câu sau viết về một Bà có mặt trời bao quanh, chân trên mặt trăng, đầu có triều thiên mười hai sao; bà đang thai nghén, kêu la đau đớn, quằn quại sinh con. Chắc chắn những nét tả về mặt trời, mặt trăng và mười hai sao có thể khiến ta nghĩ về Ðức Mẹ trong vinh quang trên trời... Nhưng ý tưởng về sự đau đớn sinh con khó có thể hiểu ngay về Ðức Mẹ. Thật ra, ở đây Gioan trực tiếp muốn nói đến Hội Thánh mang mười hai sao trên đầu tức là có mười hai chi họ dân cũ, hay là có tất cả dân mới thuộc mười hai vị tông đồ. Hội Thánh có sự thánh thiện như được bao bọc trong ánh mặt trời; và Hội Thánh có vinh dự như đứng trên mặt trăng. Bản chất của Hội Thánh như vậy nhưng hiện tượng về Hội Thánh thì khác.

Bề ngoài Hội Thánh đang bị bắt bớ nên khác nào một bà đang thai nghén, kêu la, quằn quại. Hội Thánh được người con nào, Satan cũng rình bắt. Nhưng Chúa luôn gìn giữ cả Mẹ và Con trong thời gian 1,260 ngày, tức là trong thời gian bắt đạo vì người Do Thái coi cơn bắt đạo thời Antiochus Epiphane dài ba năm rưỡi là tiêu biểu cho mọi cơn bắt đạo, nhất là vào thời cánh chung.

Do đó bài sách Khải Huyền hôm nay trực tiếp nói về Hội Thánh để khuyến khích tín hữu trong lúc khó khăn. Nhưng áp dụng cho Ðức Mẹ, bài sách cũng rất thích hợp vì hầu hết những gì nói về Hội Thánh cũng hợp cho Ðức Mẹ; và ngược lại cũng vậy. Xét theo nhiều khía cạnh, Ðức Mẹ là hình ảnh và gương mẫu của Hội Thánh mặc dù xét theo một vài khía cạnh khác, Ðức Mẹ lại là con và là một phần tử của Hội Thánh. Vậy, áp dụng đoạn sách Khải Huyền hôm nay vào Ðức Mẹ, chúng ta thấy hình ảnh về Hội Thánh trong cơn đau sinh con cũng có lần lóe ra trong cuộc đời của Ðức Mẹ. Hôm ấy Người đứng dưới chân thánh giá trái tim như bị đâm thâu. Và đang cơn đau đớn ấy, Người được Chúa Giêsu trao cho trách nhiệm làm mẹ của Gioan, tức là của loài người. Ðức Maria trở thành Mẹ các tín hữu trong cơn đau đớn của mầu nhiệm thánh giá. Cơn đau sinh nở này, Người đã chịu từ ngày mật thiết kết hợp với Ðức Kitô; và khi Ðức Kitô khai sinh Hội Thánh trong mầu nhiệm tử nạn thì Ðức Maria trở thành Mẹ của chúng ta.

Do đó hôm nay phụng vụ đọc cho chúng ta nghe hai bài Kinh Thánh về Ðức Mẹ, nói về hai lần làm mẹ của Người; một lần cưu mang Chúa Giêsu và một lần sinh ra các tín hữu. Cưu mang Chúa thì vui và là năm mầu nhiệm đầu tiên chúng ta suy niệm khi lần hạt; sinh ra tín hữu thì đau đớn và là năm mầu nhiệm của chuỗi Mân Côi tiếp theo. Chúng ta có thể nghĩ bài đọc thứ ba hẳn sẽ nói về năm sự mừng và đưa chúng ta vào hy vọng sẽ được lên trời với Ðức Mẹ. Chúng ta thử xem có thể cắt nghĩa như vậy không?

3. Người Lên Trời

Quả thật, như năm sự mừng trong chuỗi Mân Côi bắt đầu với Mầu nhiệm Chúa Giêsu sống lại thì bài thánh thư hôm nay cũng khẳng định điều ấy trước hết. Và vì Người là Adong mới trong mầu nhiệm Phục sinh, nên sự sống lại ở nơi Người trở thành mầm mống sự phục sinh sau này của những ai kết hiệp với Người. Ðiều này tuy là mầu nhiệm, nhưng cũng có thể hiểu được. Bởi vì nếu mọi người đã liên đới với Adong, thì hết thảy cũng đồng phận với Adong mới. Adong cũ vì lỗi phạm đã đưa mọi người vào vòng tội và sự chết, thì Adong mới nhờ lễ đền tội, cũng đem hết thảy chúng ta vào sự thánh thiện và sự sống lại. Chỉ có một điều khác, là chúng ta tự nhiên đã liên đới với Adong cũ vì huyết nhục; còn muốn liên đới với Chúa Kitô là Adong mới, người ta phải có tinh thần muốn kết hợp với Chúa Kitô. Nhưng chắc chắn ai đã kết hiệp với Chúa Kitô thì sẽ đồng phận với Người vì Thiên Chúa đã muốn như thế; và ý muốn của Thiên Chúa luôn có hiệu lực. Và riêng trong trường hợp này, nếu không chúng ta sẽ khó hiểu được sự liên đới với Adong cũ. Người ta phải nhìn đích điểm để hiểu khởi nguyên; nhìn vào ơn cứu độ để hiểu mầu nhiệm tội lỗi; nhìn vào Adong mới để hiểu Adong cũ; như khi nhìn vào mặt thật để hiểu mặt trái của sự vật và sự việc.

Vậy Chúa Kitô đã sống lại chỉ là "tiên thường" và là đầu đi trước để cả thân thể đi sau. Tác giả thư Côrintô nói rõ: tiên thường là Ðức Kitô, rồi đến các kẻ thuộc về Người, ai theo thứ tự nấy, sẽ được tái sinh. Và áp dụng lời này, Hội Thánh cho đến nay chỉ công nhận sau Ðức Kitô mới có Ðức Maria được lên trời hồn xác. Không phải chỉ vì Ðức Mẹ hồn xác vẹn tuyền đã mật thiết kết hiệp với Ðức Kitô trong mọi sự, nhưng còn vì Ðức Mẹ là hình ảnh và tiêu biểu cho Hội Thánh. Dù sao xác thánh phục sinh của Chúa Kitô cũng gợi lên hình ảnh thân thể của Người là Hội Thánh gồm tất cả những ai được cứu độ. Thế nên thánh Phaolô ở chỗ khác đã viết: Sự sống của chúng ta hiện nay đã được tiềm ẩn với Ðức Kitô ở trên trời. Mầu nhiệm Ðức Mẹ hồn xác lên trời làm cho những điều trên đây trở nên cụ thể. Và chúng ta được thêm vững vàng trong niềm tin xác thịt chúng ta sẽ sống lại và Hội Thánh của chúng ta sẽ được vinh quang trên trời.

Như vậy ngày lễ hôm nay đem vui mừng phấn khởi đến cho chúng ta. Mọi người thêm tin tưởng. Hình ảnh Ðức Mẹ hồn xác lên trời thu hút chúng ta. Và cho được lên cao như Ðức Mẹ, chúng ta phải đi qua con đường vui buồn Người đã đi.

Người đã vui khi đón nhận ơn cứu độ, nhưng đã đau khi muốn cứu thế với Ðức Kitô Con Người. Chúng ta hãy bắt chước Người tán dương Chúa đã đoái thương số phận hèn chúng ta mà ban cho chúng ta được mang Ðức Giêsu trong mình. Không những chúng ta được mang danh Kitô hữu nhưng nhất là được mang chính sự sống ân sủng của Người. Có kho tàng quí hóa ấy trên đường đời dĩ nhiên đã phải phấn đấu vất vả với Satan muốn cướp giựt, khác nào Ðức Mẹ cũng đã phải đi trên đàng thánh giá. Nhưng lúc đau đớn nhất là khi phải quằn quại sinh Ðức Giêsu nơi người khác, làm ra các Kitô hữu mới, trở thành mẹ thiêng liêng của các linh hồn. Thế mà ơn gọi của hết thảy chúng ta phải như vậy. Chúng ta phải đem ơn cứu độ đến mọi nơi. Những hy sinh khó nhọc của chúng ta trong tương quan với người khác có giá trị cứu thế. Chúng ta phải can đảm, quảng đại, để như Ðức Mẹ làm cho mọi người sau này được phục sinh và lên trời.

Chúng ta hãy có tâm tình như vậy khi tham dự thánh lễ này. Chúng ta có thể hình dung Ðức Mẹ đứng dưới chân thánh giá. Nhưng lập tức hình ảnh ấy có thể biến ngay sang hình ảnh một bà già có mặt trời bao quanh, chân đạp mặt trăng và có triều thiên 12 sao. Ðó là Ðức Mẹ trên trời... Nhưng đó đúng ra là Hội Thánh và chúng ta sau này. Chúng ta hãy cố gắng lên trời như Ðức Mẹ và để ở với Ðức Mẹ.

----------------------

 

15/8-144: Bí quyết đón nhận dồi dào ân sủng Thiên Chúa


(Suy niệm của Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

 

Có hai người phụ nữ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại: Một là Evà, hai là Ðức Maria. Bà Evà 15/8-144


Có hai người phụ nữ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại: Một là Evà, hai là Ðức Maria.

Bà Evà là người phụ nữ vĩ đại vì bà là mẹ của nhân loại. Mọi người trên khắp thế gian đều là con, cháu, miêu duệ của bà.

Ðức Maria là phụ nữ vĩ đại thứ hai, vì Mẹ đã hợp tác với Thiên Chúa để sinh ra một nhân loại mới, gồm những người thuộc về gia đình Hội Thánh, thuộc về Ðức Ki-tô.

Nhưng giữa hai người phụ nữ vĩ đại nhất nầy có một sự khác biệt lớn lao: Bà Evà là người bị chúc dữ và đã lôi kéo con cháu vào vòng sa đoạ; còn Ðức Maria là Ðấng-đầy-ơn-phúc và Mẹ đã dẫn đưa muôn người vào vương quốc ân sủng của Thiên Chúa.

Vì đâu có sự khác biệt nầy?

Thiên Chúa là Cha nhân lành và công bằng vô cùng. Ngài không chê bỏ bất cứ ai. Thế nhưng có những người nhận được nhiều ơn sủng của Thiên Chúa như Mẹ, còn những người khác thì chẳng được ơn nào. Tại sao như thế?

Cũng vì thế mà có người oán trách Thiên Chúa: Tại sao Chúa thương người khác mà không thương tôi? Tại sao Chúa ban ơn cho nhiều người khác mà không đoái đến tôi? Tại sao Chúa không đối xử công bình với tôi?

Ơn sủng Thiên Chúa như mưa tuôn xuống cho mọi người không phân biệt, thế nhưng nơi những ngọn núi cao thì nước mưa chảy tuôn xuống hết chẳng còn đọng lại; còn nơi biển sâu thì vì trũng xuống nên tất cả mọi nguồn nước đều tích tụ về.

Xưa kia, Bà Evà không vâng phục Thiên Chúa và muốn nâng mình lên, như một ngọn núi cao, nên ân sủng Thiên Chúa, dù được ban xuống như mưa, nhưng không thể tồn đọng lại. Nước mưa không thể tụ lại đỉnh non cao.

Còn Ðức Maria thì luôn sống hạ mình, luôn luôn vâng phục Thiên Chúa, vui lòng chấp nhận làm tớ nữ thấp hèn của Ngài với lòng khiêm nhượng thẳm sâu, Mẹ hạ mình như thung lũng thấp, nên ơn Chúa tuôn ban được tích tụ nơi Mẹ thật dồi dào.

Bài tán tụng ca của Ðức Maria trong Tin Mừng hôm nay diễn tả điều đó:

Ðối với những ai muốn làm "núi cao" như kiểu Evà, thì họ sẽ bị triệt hạ: "Chúa giơ cánh tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế..."

Còn đối với người khiêm tốn như "lũng sâu", tiêu biểu là Mẹ Maria, thì được Chúa thông ban phúc lộc dư đầy:

"Phận nữ tì hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay hết mọi thời sẽ khen tôi diễm phúc... Ðấng Toàn Năng đã làm cho tôi, biết bao điều cao cả... Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường... Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư..."

Vậy thì qua Tin Mừng hôm nay, chúng ta học được một bí quyết thần diệu để có thể tiếp nhận thật nhiều phúc lộc của Thiên Chúa, là hãy trở thành "lũng sâu" như Mẹ Maria, nghĩa là biết mình là kẻ thấp hèn yếu đuối, tự sức riêng chẳng làm được gì nếu không có ơn Chúa, là sống khiêm nhường như Mẹ, là đặt mình làm tôi tớ hèn mọn của Thiên Chúa như Mẹ... và khi đó, muôn vàn ân phúc của Thiên Chúa sẽ tuôn đổ dư đầy cho chúng ta.

Trái lại, phương cách hiệu quả nhất để đánh mất ơn Chúa, để ân huệ Ngài vượt thoát hết khỏi tầm tay... là cậy dựa sức mình mà xem thường ơn Chúa, là tự phụ mình giỏi mình hay... làm như thế là trở nên "núi cao" như kiểu bà Evà xưa. Và vì thế, ân sủng của Thiên Chúa không thể tồn đọng trong tâm hồn và trong cuộc đời chúng ta được.

Nguyện xin Mẹ Maria giúp chúng con sống khiêm nhường như Mẹ, để ân sủng Thiên Chúa lưu lại mãi trong cuộc đời chúng con và biến đổi chúng con ngày càng nên giống Mẹ hơn.

------------------------------

 

15/8-145: Mẹ là hoa sen giữa đời


(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

 

Có lẽ không có loài hoa nào vừa bình dị, vừa cao sang, vừa gần gũi lại rất thanh khiết cao quý 15/8-145


Có lẽ không có loài hoa nào vừa bình dị, vừa cao sang, vừa gần gũi lại rất thanh khiết cao quý cho bằng hoa sen Việt Nam. Cây sen tươi đẹp, hoa sen xinh tươi, thơm ngát, thanh tao nhưng lại rất gần gũi với đời sống người dân Việt Nam. Gần gũi đến nỗi người Việt Nam nào cũng biết nó, cũng yêu quý nó. Gần gũi đến nỗi người ta thi vị nó, nhân cách hoá nó như là tâm hồn của một con người. Một tâm hồn trong sáng, thanh khiết giữa bùn nhơ tội đời.

"Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chằng hôi tanh mùi bùn".

Lời ca dao thật nhẹ nhàng dẫn dắt người nghe về vẻ thanh tao của một loài hoa dân dã, bình dị để gợi mở về hình ảnh người nông dân lam lũ quanh năm nơi đầm lầy nước đọng nhưng tấm lòng lại thanh cao như loài hoa sen.

Ngay từ hai câu đầu tác giả khẳng định về vẻ đẹp của loài hoa sen: "Trong đầm gì đẹp bằng sen - Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng". Quả thực, ở giữa đầm lầy thì bông sen đẹp nhất. Cây sen được nổi lên với những cánh lá xanh nhô lên mặt nước như những cái dù xinh xắn. Bông sen mở cánh trắng muốt sáng lên dưới nắng mặt trời, toả hương ngào ngạt từ nhị hoa vàng. Tất cả tạo lên một bức tranh thôn quê bình dị, yên hàn. Thế nhưng, tác giả dường như không dừng lại ở việc ngắm đoá hoa sen một cách chung chung hay ở đàng xa, mà dường như tác giả nâng niu từng lá sen xanh, chỉ từng bông sen trắng, đếm từng nhị sen vàng. Có như vậy, tác giả mới có thể nói lên rằng:

"Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".

Lời kết tác giả như muốn lội ngược dòng khi tác giả thi vị hoá cây sen thành nét đẹp của tâm hồn con người. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Từ đây, cây sen đã trở thành biểu tượng của tâm hồn trong sáng, hiền lành của người nông dân chân lấm tay bùn Việt Nam. "Gần bùn" ở đây chính là môi trường tiếp xúc của sen hay nói đúng hơn chính là xã hội phong kiến bất công bấy giờ có quá nhiều những tham nhũng, dơ bẩn, ô uế. Tuy vậy mà bông sen vẫn rực rỡ, sáng ngời, toả ánh hào quang, không hề dơ bẩn. Mà ngược lại nhờ những môi trường xung quanh ấy mà sen càng thêm đẹp, làm tăng sự thanh cao.

Bài ca dao trên là một bài thơ hay. Chỉ bằng những câu từ mộc mạc, giản dị kèm theo thể thơ lục bát bình dân của truyền thống dân tộc Việt Nam, đã làm nổi bật lên hình ảnh nên thơ của người nông dân Việt Nam chân lấm tay bùn nhưng tâm hồn lại thanh cao trong sáng. Họ sống giữa bùn nhơ nhưng không để lòng mình vướng bận những tham sân si giòng đời. Họ sống giữa đầm lầy tội lội nhưng không để lòng mình ngụp lặn trong đam mê tội đời.

Hôm nay chúng ta mừng lễ Mẹ Hồn Xác về trời. Mẹ Maria chính là một đoá hoa đẹp nhất trần gian. Nhìn vào cuộc đời Mẹ, chúng ta thấy một Maria trong trắng dịu dàng. Một Maria đoan trang mực thước. Một Maria bác ái bao dung. Một Maria nữ tỳ được Chúa yêu thương và chúc phúc. Mẹ luôn giữ lòng thanh khiết giữa bùn nhơ tội đời. Người ta nói Mẹ được ơn Vô Nhiễm ngay tứ lúc trinh thai, nhưng điều quan yếu là Mẹ đã giữ được vẻ thanh khiết vẹn toàn đó giữa môi trường đầy những cám dỗ tội lỗi, đầy những thói đời xấu xa. Mẹ đã thắng mọi cám dỗ để có thể toả ngát hương thơm giữa trần đời. Mẹ là người phụ nữ đẹp rạng ngời giữa muôn ngàn người phụ nữ, tựa như bông sen đẹp lộng lẫy giữa đầm lầy. Tâm hồn Mẹ lại càng thanh cao, thanh cao đến nỗi hoàn toàn xứng đáng cho Con Chúa Trời ngự trị. Mẹ hoàn toàn xứng đáng với lời giới thiệu: "Trong đầm gì đẹp bằng sen". Mẹ xứng đáng là đoá sen không phải là vì nét đẹp kiêu sa mà là vì nét đẹp tâm hồn "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".

Mẹ đã được Chúa đưa cả hồn và xác về trời như là phần thưởng xứng đáng cho những gì Mẹ đã dâng tặng cho Chúa và cho đời. Cuộc đời Mẹ hoàn toàn thanh sạch dành trọn vẹn cho Chúa. Cuộc đời Mẹ luôn toả hương bác ái yêu thương cho tha nhân. Mẹ đã sống một cuộc đời như đoá sen dâng hiến cho trần gian trong sự khiêm nhu của người Nữ Tỳ xin được làm mọi sự vâng theo thánh ý nhiệm màu.

Nguyện xin Mẹ cầu bầu cùng Chúa cho mỗi người chúng ta biết gì giữ nét đẹp cao quý nơi phẩm giá làm người và làm con Chúa của chúng ta. Xin Mẹ cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta luôn được hồn an xác mạnh, ơn thánh dư đầy để phụng sự Chúa trong mọi người như Mẹ. Amen.

-----------------------------

 

15/8-146: Marilyn, Chúng Tôi Thông Cảm Với Cô


(Trích dẫn từ ‘Lẽ Sống’ - Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu. Radio Veritas Asia)

 

Marilyn, chúng tôi thông cảm với cô": đó là hàng chữ mà hiện nay hàng ngàn du khách đều lâm 15/8-146


"Marilyn, chúng tôi thông cảm với cô": đó là hàng chữ mà hiện nay hàng ngàn du khách đều lâm râm đọc mỗi khi đứng mặc niệm trước mộ của nữ minh tinh Marilyn Monroe tại nghĩa trang Westwood, nằm ở phía Tây thành phố Los Angeles.

Hiện nay, từng giây, từng phút, hàng ngàn cánh hoa được du khách mang đến, phủ kín nơi an nghỉ của người nữ minh tinh xấu số này. Ngày 15/8/1962, người nữ minh tinh với mái tóc bạch kim óng ả lặng lẽ ra đi không một lời dã biệt. Cuộc quyên sinh của cô, cho đến nay vẫn còn là một bí ẩn. Giữa lúc danh vọng đang lên, giữa lúc tiền bạc đang vào ngút ngàn, Marilyn đã chọn lấy cái chết...

Randall Reise, tác giả viết lại cuộc đời của Marilyn Monroe, đã nhận định như sau: "Marilyn không còn là một con người nữa. Cô đã trở thành một huyền thoại. Cô không còn là một nhân vật của Holywood nữa. Cô đã trở thành một yếu tố trong nền văn hóa của nước Mỹ".

Marilyn đã trở thành lý tưởng của rất nhiều ca sĩ và minh tinh điện ảnh hiện nay. Nhưng mãi mãi, cô đã trở thành một câu hỏi lớn cho con người của thời đại: Con người bởi đâu mà ra? Con người sinh ra để làm gì? Ðâu là ý nghĩa của cuộc sống? Tiền bạc, danh vọng có làm cho con người được hạnh phúc không? Marilyn Monroe là hiện thân của những câu hỏi ngàn đời ấy...

"Marilyn, chúng tôi thông cảm với cô", bởi vì cô đã không ngừng bị dằn vặt bởi những khắc khoải quá lớn về cuộc sống. Chúng tôi thông cảm với cô, bởi vì thiếu một niềm tin vào cuộc sống, thì không còn chọn lựa nào hơn là cái chết...

Hôm nay, chúng ta mừng kính Mẹ hồn xác lên trời...

Ngày 22/7/1973, thành phố Giêrusalem đột nhiên biến thành nhộn nhịp khác thường, từng đoàn người tuôn đến vườn Giêtêmani... Có tin cho biết các nhà khảo cổ đã tìm thấy tảng đá trong mồ nơi đặt xác Ðức Mẹ. Ðức Mẹ đã chết. Ðó có lẽ phải là khẳng định đầu tiên mà các nhà khảo cổ có thể đưa ra khi tìm thấy tảng đá...

Chết là số phận tất yếu của thân phận con người. Chúa Giêsu đã chết. Có ai thoát khỏi sự chết! Nhưng có nhiều cái chết. Chúa Giêsu đã chết để phục sinh. Ðức Mẹ đã chết để được cất nhắc cả hồn xác về trời. Với Chúa Giêsu và Ðức Mẹ, cái chết là khởi đầu của hy vọng. Cái chết là ý nghĩa của cuộc sống, bởi vì có chết mới được sống đời đời...

Nếu cái chết của Marilyn Monroe là một dấu hỏi được đặt ra về ý nghĩa của cuộc sống, thì cái chết của Mẹ Maria chính là câu trả lời. Qua cái chết để được cất nhắc về trời, Mẹ Maria đã cho chúng ta thấy được ý nghĩa của cuộc sống, của cái chết và như vậy Mẹ trở thành chính niềm hy vọng của chúng ta.

Trong một cuộc sống không dư tiền dư của như Marilyn đã từng sống, chúng ta vẫn nhận ra được ý nghĩa của cuộc sống. Trong ý nghĩa đó, cái chết đã trở thành khởi điểm cho một sự biến đổi mà chính Ðức Maria đã là dấu hiệu báo trước cho chúng ta... Xin cho niềm tin này củng cố chúng ta trong cuộc sống hiện tại. Xin cho chúng ta luôn biết hướng nhìn về Mẹ Maria, như là đèn pha cho chúng ta giữa những u tối và cuồng phong của cuộc sống.

----------------------------

 

15/8-147: Chân dung Mẹ Maria


(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

 

Văn chương Việt Nam thường diễn tả hình ảnh về người mẹ thật mộc mạc chất phác, đơn sơ 15/8-147


Văn chương Việt Nam thường diễn tả hình ảnh về người mẹ thật mộc mạc chất phác, đơn sơ và giản dị. Người mẹ Việt Nam luôn gắn bó với ruộng rẫy nương dâu, nơi đồng chua nước mặn, ăn mặc giản dị nâu sồng, không phấn sáp xa hoa, mà tâm hồn hiền hòa, đôn hậu. Những bà mẹ sống cuộc đời bình lặng như mặt nước hồ thu, nhưng vẫn giữ tiết kiên trung, cao cả. Chính những bà mẹ ấy đã đem những giọt mồ hôi tưới mát ruộng đồng, làm đẹp cuộc đời và đẹp cả quê hương:

"Mẹ Việt Nam không son, không phấn,
Mẹ Việt Nam chân lấm, tay bùn,
Mẹ Việt Nam không mang nhung gấm,
Mẹ Việt Nam mang tấm nâu sồng".
(Phạm Duy, Trường ca Mẹ Việt Nam)

Hình ảnh của người mẹ Việt Nam thật cao đẹp, công ơn của mẹ đối với con thật bao la. Công ơn ấy đã được khắc ghi sâu đậm vào tâm não của con, bộc phát thành những lời ca, tiếng nhạc hết sức dạt dào:

"Rủi mai này mẹ hiền mất đi, thì con côi...
Như đóa hoa không mặt trời
Như tuổi thơ không nụ cười
Như đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm.
Mẹ là dòng suối dịu hiền.
Mẹ là bài hát thần tiên,
Là bóng mát trên cao, là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối.
Mẹ là lọn mía ngọt ngào,
mẹ là nải chuối, buồng cau,
Là tiếng dế đêm thâu, là nắng ấm nương dâu,
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời".

Vâng, khi nói về người mẹ trần thế chúng ta thường nói đến công lao trời bể, những hy sinh trải rộng suốt dọc dài cuộc đời của mẹ, thế nhưng, còn người Mẹ thiên quốc thì sao? Xem ra ít ai nhìn thấy những đắng cay mà Mẹ phải chịu trong đời, sau lần thưa xin vâng ấy! Chúng ta quá đề cao ân sủng của Chúa nơi Mẹ mà quên rằng: Mẹ chỉ được ơn phước đó nhờ đời sống luôn nở hoa yêu thương, hoa hy sinh, hoa khiêm nhường, hoa bác ái trong đời sống thường ngày của Mẹ, đến nỗi từ trời cao Thiên Chúa đã nhìn thấy Mẹ "hằng đẹp lòng Thiên Chúa".

Thực vậy, Mẹ hằng đẹp lòng Chúa qua cung lòng thanh khiết không vấn vương tội lỗi, rất xứng đáng nên cung điện cho Con Chúa Trời ngự trị

Mẹ hằng đẹp lòng Thiên Chúa khi Mẹ từ bỏ con đường riêng của mình để thưa xin vâng cho ý Chúa được thực hiện.

Mẹ hằng đẹp lòng Chúa khi Mẹ vội vã băng đồi lội suối, thăm viếng và phục vụ bà chị họ, sinh con trong lúc tuổi già.

Mẹ hằng đẹp lòng Thiên Chúa khi tiếp tục xin vâng trong mọi hoàn cảnh thiếu thốn cùng cực nhất: sinh con trong nghèo khó, chốn chạy qua Ai Cập, trở về Nagiaret với đôi tay tần tảo may vá thêu thùa.

Mẹ hằng đẹp lòng Chúa khi Mẹ đồng công thưa xin vâng với thánh ý Chúa Cha qua cái chết Cứu độ của Chúa Giê-su con Mẹ.

Vâng, Mẹ Maria với tư cách là người mẹ trần thế, mẹ cũng trải qua những gian truân, vất vả để nuôi con khôn lớn như bao bà mẹ khác. Mẹ Maria cũng trải qua những tháng ngày tần tảo một nắng hai sương để gồng gánh gia đình đi qua những thăng trầm của dòng đời. Mẹ Maria còn đau khổ hơn bao bà mẹ khác vì con của Mẹ luôn phải đối đấu với nghi nan và nhất là không ai khổ bằng Mẹ, một người mẹ đau khổ phải ôm thân xác tả tơi, bất động của con yêu quý vào lòng với nỗi niềm xót xa, mà cha ông ta diễn tả rằng: "Lá vàng còn ở trên cây lá xanh rụng xuống trời chăng hỡi trời?".

Hôm nay chúng ta chiêm ngắm Mẹ được Chúa đưa cả hồn và xác về trời. Ðây là phần thưởng mà Thiên Chúa đã tặng ban cho Mẹ sau một đời nỗ lực sống theo thánh ý Chúa. Ðây là vinh quang mà Mẹ nhận lãnh sau hành trình dương thế luôn lắng nghe và thực thi thánh ý Chúa.

Mừng Mẹ về trời cũng là dịp nhắc nhở chúng ta hãy noi gương bắt chước Mẹ trên con đường tìm kiếm và thực thi ý Chúa. Mừng Mẹ về trời để giúp chúng ta hiểu rằng những khốn khó, gian truân đời này chẳng là gì so với hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là người có phúc vì Mẹ luôn tin tưởng vào Thiên Chúa và sống cho thánh ý Chúa. Xin Mẹ giúp chúng con cũng tìm được cõi phúc như Mẹ khi buông mình trong sự tín thác vào Thiên Chúa quan phòng và mau mắn thi hành thánh ý Chúa với trọn niềm mến yêu. Amen.

----------------------------

 

15/8-148: Mẹ Maria là ưu phẩm của Thiên Chúa


(Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển)

 

Mỗi lần mừng lễ về Mẹ Maria, chúng ta được mời gọi hướng về Mẹ như là một kiệt tác của Thiên 15/8-148


Mỗi lần mừng lễ về Mẹ Maria, chúng ta được mời gọi hướng về Mẹ như là một kiệt tác của Thiên Chúa, một thụ tạo được ưu tuyển và trổi vượt trên hết mọi loài được dựng nên. Bởi lẽ Mẹ đã được Thiên Chúa yêu thương, tuyển chọn cách đặc biệt. Không những thế, Thiên Chúa còn gìn giữ Mẹ cách nhiệm mầu trong chương trình cứu độ. Những ân huệ đó không thể có nơi bất cứ loài thụ tạo nào ngoài Mẹ.

Vì thế, khi mừng kính trọng thể lễ Đức Maria hồn xác về trời, phụng vụ mời gọi chúng ta cùng nhau khám phá vị thế ưu việt của Mẹ trong chương trình cứu độ nơi tín điều, truyền thống và giáo huấn của Giáo Hội. Mặt khác, Giáo Hội cũng chỉ cho con cái mình thấy và hiểu được việc Đức Maria hồn xác lên trời có tầm ảnh hưởng thế nào đến đời sống đức tin và niềm hy vọng cua chúng ta.

1. Giáo huấn của Giáo Hội

Trước tiên, chúng ta tìm hiểu về Giáo Huấn của Giáo Hội qua biến cố Đức Mẹ được đưa lên trời cả hồn lẫn xác.

Lễ Đức Mẹ lên trời là lễ trọng và cũng là lễ cổ xưa nhất trong các ngày lễ kính Đức Mẹ được cử hành trong Giáo Hội hiện nay.Vào thời điểm đầu, lễ này được gọi là lễ Đức Mẹ an giấc. Nhưng đến năm 1950, Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII đã đổi tên thành lễ Đức Mẹ lên trời qua Tông hiến Munificentissimus Deus. Với tín điều này, Giáo Hội tin nhận: “Thân xác của Người Phụ Nữ đã trao ban thể xác cho Con Thiên Chúa đã không phải chịu định luật của sự thối rữa”; “Thánh Mẫu Thiên Chúa là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Maria Trọn Đời Đồng Trinh, sau khi sống trọn cuộc đời trần thế, đã được triệu hồi cả hồn và xác vào trong vinh quang thiên quốc” (Tông hiến Munificentissimus Deus). Từ lời tuyên bố long trọng hôm ấy, đã trở thành chân lý đức tin cho toàn thể Giáo Hội hôm nay.

Với lời tuyên tín trên, Đức Giáo Hoàng đã liệt kê bốn chân lý tuyệt đối thuộc về lòng tin nơi Đức Maria. Bốn chân lý đó là: 1) Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa; 2) Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội; 3) Đức Maria Đồng Trinh Trọn Đời; 4) Đức Maria Hồn Xác Lên Trời.

Khi tuyên bố cùng lúc những đặc ân đó của Đức Mẹ, Giáo Hội muốn cho các tín hữu hiểu được cách tổng quát những ân huệ cao cả của Đức Maria, và đây cũng là dịp để xác tín hơn nữa những nguyên lý liên quan đến việc Mẹ được đưa lên trời cả hồn lẫn xác.

Nguyên lý thứ nhất: Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Vì Mẹ được ưu tuyển để đón nhận việc cưu mang và sinh hạ Ngôi Hai Thiên Chúa, và Đấng Cứu Thế là Thiên Chúa, nên Mẹ cũng là Thân Mẫu Thiên Chúa.

Việc được Thiên Chúa cất nhắc cả hồn xác Mẹ về trời là điều không có gì khó hiểu, bởi lẽ cả cuộc đời của Mẹ đã hiệp thông cách chặt chẽ vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa qua Đức Giêsu. Nên khi Đức Giêsu về trời, Ngài không thể để lại để thân xác của người mẹ yêu dấu phải hư nát trong mồ được.

Nguyên lý thứ hai: vì Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ khỏi mọi vết nhơ tội lỗi cách nhiệm mầu, nên khi mang thai và sinh hạ Đấng Cứu Thế quyền năng, Mẹ vẫn đồng trinh trước, trong và sau khi sinh. Vì thế, việc đưa cả hồn lẫn xác Mẹ về trời là điều cần thiết để bảo tồn vẻ trinh nguyên nơi Mẹ.

Nguyên lý thứ ba: nếu trước kia, Nguyên Tổ loài người đã bất tuân, chống lại Thiên Chúa và đi vào cõi chết, thì khi Đức Maria xuất hiện với lời “Xin vâng” tuyệt đối, Mẹ đã trở thành Evà mới liên kết mật thiết với Đức Giêsu – Ađam mới, Đấng là nguồn cội của sự sống, đã từ cõi chết sống lại và lên trời hiển vinh, thì không có lẽ gì Mẹ lại phải chịu cảnh hư nát, bởi vì hư nát là kết quả của tội lỗi. Như vay, Mẹ đương nhiên và rất hợp lý để được đưa lên trời cả hồn lẫn xác (x. GLHTCG số 963- 975).

Tóm lại, ngay từ khi thân xác Mẹ cưu mang chính xác thân Đấng Cứu Thế, thì Đức Giêsu con của Mẹ, đồng thời là Thiên Chúa đã thánh hóa Mẹ cả xác và hồn ngay từ lúc đầu thai. Vì vậy, sự phục sinh của Đức Giêsu không thể tách rời việc phục sinh Thân Mẫu là người đã cưu mang Cây Sự Sống nơi cung lòng thanh khiết của mình. Mẹ không thể “nhục thân bất hoại” theo lẽ thường được.

2. Cùng với Mẹ ngợi khen Thiên Chúa

Như vậy, mỗi khi mừng lễ Mẹ lên trời, chúng ta hãy cùng với cả triều thần ca mừng Nữ Hoàng Thiên Quốc: “Kìa bà nào xuất hiện như rạng đông, diễm kiều như vầng nguyệt, lộng lẫy tựa thái dương, oai hùng như đạo binh chỉnh tề hàng ngũ?” (Dc 6,10).

Thế nên, phụng vụ hôm nay làm toát lên vẻ huy hoàng và sắc thái hân hoan, vì: kể từ đây, Mẹ nắm giữ vai trò quan trọng nhất là Nữ Vương trời đất; làm Mẹ Thiên Chúa và làm Mẹ nhân loại.

Mẹ đáng được mọi đời khen ngợi vì Mẹ là “Đấng đầy ơn phúc”; “Thiên Chúa ở cùng Mẹ”. Mẹ trở thành Evà mới, thành Cây Quả Phúc mà Thiên Chúa đem trồng vào vươn Địa Đàng mới để được cưu mang và sinh ra quả phúc trường sinh là chính Đấng Cứu Thế.

Sự xuất hiện của Mẹ đã đưa nhân loại sang một trang sử mới. Lịch sử cứu độ được mở ra với biết bao ân huệ.

Đứng trước hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa ban cho Mẹ, và đặt mình trong tâm tình của Mẹ, chúng ta hãy cất cao lời ngợi khen Thiên Chúa vì những điều kỳ diệu Ngài đã làm nơi Mẹ: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thien Chúa Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1, 46-48).

Đây chính là lời kinh tuyệt mỹ mà Mẹ Maria đã cất lên để ca tụng Thiên Chúa, và đây cũng là những cảm nghiệm về tình yêu của Thiên Chúa dành cho Mẹ cách nhiệm mầu.

Biến cố Mẹ được đưa về trời, đã đem lại cho con người niềm hy vọng lớn lao và tuyệt đối.

Bởi vì sự phục sinh của Mẹ gắn liền với sự phục sinh của Đức Kitô: “Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu [...] cũng được Thiên Chúa cho sống lại” (x. 1Cr 15, 20-22).

Qua biến cố này, mặc khải cho chúng ta rằng: Mẹ Maria đã được đưa lên trời cả hồn lẫn xác, và nếu chúng ta theo chân Mẹ, sống như Mẹ và thực hành Lời Chúa cách yêu mến, trung thành thì mai ngày cũng được lên trời hiển vinh như Mẹ. “Cuộc Lên Trời của Đức Trinh Nữ rất thánh là sự tham dư độc nhất vô nhị vào sự Phục sinh của Con mình và là việc thể hiện trước sự phục sinh của các Kitô hữu khác” (GLCG, số 966). Bởi vì “Mỗi người theo thứ tự của mình: mở đường là Đức Kitô, rồi khi Đức Kitô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Người” (x. 1Cr 15, 23-24) cũng sẽ được phục sinh như Người.

“Mẹ Lên Trời là hình ảnh và khởi thủy của Giáo Hội về ơn cứu chuộc của Thiên Chúa cho mọi người chúng ta. Mẹ chiếu sáng như dấu chỉ lòng trông cậy vững vàng và niềm an ủi cho dân Chúa đang lữ hành” (LG. số 69). Mẹ Lên Trời, nhận lãnh vai trò Nữ Vương trời đất, nên hơn bao giờ hết, Mẹ trở nên gần gũi với mọi thành viên trong gia đình nhân loại, và như thế: “Trong Hội Thánh, Đức Trinh Nữ diễm phúc được kêu cầu bằng các tước hiệu là Trạng Sư, Đấng Cứu Giúp, Đấng Phù Hộ, Đấng Trung Gian” (GLHTCG. số 969).

Như vậy, việc Mẹ được đưa lên trời cả hồn lẫn xác đem lại niềm hy vọng phục sinh cho tất cả chúng ta.

Mầu nhiệm Mẹ được rước lên trời cả hồn lẫn xác không chỉ nhắc nhở chúng ta cầu nguyện với Mẹ, mà còn hy vọng được trường sinh để cùng Đức Mẹ mãi mãi chúc tụng Thiên Chúa. Amen.

---------------------------

 

15/8-149: Maria dám tin

 

Một doanh nhân giàu có ở Mỹ có sáng kiến ngộ nghĩnh để thử lòng người: Ông cho in rất nhiều 15/8-149


Một doanh nhân giàu có ở Mỹ có sáng kiến ngộ nghĩnh để thử lòng người: Ông cho in rất nhiều bích chương và dán khắp nơi trong thành phố nơi ông đang ở. Đại khái nội dung của bích chương loan báo: Bất cứ ai mắc nợ, nếu đến văn phòng của ông ngày đó, tháng đó từ 9g đến 12g đều được ông giúp đỡ để trả nợ. Dĩ nhiên, mọi người đều bàn tán về lời mời gọi này, nhưng đa số đã xem đây là một trò đùa.

Đúng ngày hẹn, doanh nhân ngồi trong văn phòng của mình. Hai giời trôi qua mà không thấy người nào đến. Mãi tới 11giờ mới có một người đàn ông rụt rè đến… Doanh nhân ký cho ông một ngân phiếu để trả hết nợ. Gần 12 giờ một vài người nữa cũng đến… Và dĩ nhiên họ cũng được giúp đỡ tận tình. Còn tất cả những người khác khi hiểu được lời mời gọi của doanh nhân thì đã muộn.

*****

Lời hứa của doanh nhân trong câu chuyện trên đây quá lớn, nên đa số đã không tin. Chính vì không tin nên họ đã bỏ lỡ một cơ hội ngàn vàng. Đức Maria, trái lại, Mẹ đã dám tin vào lời Chúa hứa nên Mẹ đã được tràn đầy ân phúc. Bà Êlisabét nói: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”.

Tin là để cho Chúa thay đổi hướng đi của cuộc đời mình.
Tin là để cho chương trình cứu độ của Người đảo lộn chương trình sống của chúng ta.

Tin là chấp nhận lên đường, làm một cuộc hành trình mạo hiểm với Chúa.
Trước khi thưa lời “Xin vâng”, Đức Maria đã có chương trình của Mẹ là sẽ sống đời đôi bạn với thánh Giuse. Và qua lời “Xin vâng”, Mẹ đã chấp nhận hoàn toàn để cho Thiên Chúa thay đổi hướng đi cuộc đời mình, để cho Người đảo lộn chương trình sống, và cùng Người bước vào một cuộc mạo hiểm với trọn niềm tin yêu phó thác.

Mẹ ra đi mà không biết mình đi đâu, chỉ biết ra đi theo hướng dẫn của Chúa.
Mẹ đã đi từ bước phiêu lưu này đến cuộc phiêu lưu khác: Từ việc hạ sinh Con Thiên Chúa cách đơn nghèo, cho đến khi lạc mất con trong đền thánh; từ những lời cứng cỏi của con ở Cana và Caphacnaum cho đến khi gặp con dưới chân thập giá.

Mẹ đã “Suy đi nghĩ lại trong lòng” vì những kỷ niệm ấy quả là khó hiểu dưới con mắt loài người.

Mẹ xứng đáng là Mẹ Đấng Cứu Thế vì Mẹ đã dám tin vào lời Chúa và để Chúa thay đổi cuộc đời mình theo chương trình cứu độ của Người.

Mẹ thật diễm phúc vì Mẹ đã chấp nhận lên đường làm một cuộc phiêu lưu với Chúa trong tin yêu và phó thác: “Xin Chúa làm cho tôi như lời Ngài nói”.

Chính vì Mẹ diễm phúc mà lòng Mẹ đã là mái ấm đầu tiên, là Đền Thánh cho Con Thiên Chúa ngự trước khi bước và cuộc đời.

Chính vì cuộc hạnh ngộ đầy linh thánh giữa Mẹ và bà chị họ, mà Thánh Thần đã linh ứng cho bà nhận ra điều mắt thường không thể thấy, đó là chuyện cô em Maria thụ thai Đấng Cứu Thế.

Chính vì niềm hứng khỏi và những lời chúc mừng của Êlisabét đã khiến Mẹ cảm nhận thật sâu sa hồng ân cao cả, và lời ngợi ca Thiên Chúa đã vỡ òa trên bờ môi hạnh phúc trong lời Kinh Manificat.

Vâng, chính cuộc sống tin yêu và phó thác của Mẹ đã tuôn chảy dòng sông của ân phúc, cuộc sống ấy đang tỏa hương thơm của thiên đàng.

------------------

 

15/8-150: Hoa thơm quả ngọt của trái đất được đưa về Trời


(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

 

Hôm nay, Giáo hội long trọng cử hành lễ Đức Trinh Nữ Maria hồn xác về Trời. Đức Maria lên 15/8-150


Hôm nay, Giáo hội long trọng cử hành lễ Đức Trinh Nữ Maria hồn xác về Trời. Đức Maria lên Trời cho chúng ta biết chết không phải là hết, nhưng ranh giới giữa cuộc sống trần thế lữ hành trong đức tin với cuộc sống mai hậu ở trên trời.

Cuộc đời của Đức Maria là bằng chứn, Mẹ có hai cuộc lữ hành, một là cuộc lữ hành vật chất, Mẹ đi (từ Nazareth đến Bethlehem, từ Bethlehem sang Ai Cập, từ Ai Cập trở về Nazareth, từ Nazareth đến Giêrusalem, lên tới Êphêsô); hai là cuộc lữ hành về tinh thần (Mẹ bước di trong đức tin, vâng phục và yêu thương khởi đi từ lòng Mẹ đến Thiên Chúa, ban tặng cho Chúa Giêsu một trái tim bằng thịt).

Lấy lại những lời lẽ của sắc chiếu định nghĩa tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời Công Đồng Vaticanô II viết như sau: "Được gìn giữ tinh sạch khỏi mọi vết tội nguyên tổ, và sau khi hoàn tất cuộc đời dưới thế, Ðức Nữ Trinh Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ, để nên giống Con Ngài trọn vẹn hơn, là Chúa các Chúa (x. Kh 19,16), Ðấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết " (Vatican II, LG, số 59).

Bàn về cái chết của Đức Maria, một câu hỏi được đặt ra: Có thể nào Đức Maria Nazareth lại phải trải qua thảm cảnh chết chóc nơi thân xác mình hay không?

Một số nhà thần học đã chủ trương, Đức Maria được miễn khỏi phải chết, Người đã được đưa thẳng từ cuộc sống đời này về vinh quang trên trời. Tuy nhiên, một lưu truyền lâu đời vẫn coi cái chết của Đức Maria như là sự dẫn đưa vào vinh quang trên trời.

Khi suy nghĩ về số phận của Đức Maria và mối tương quan của Người với Chúa Con, một số người khẳng định: chính vì Đức Kitô đã chết, vì thế khó lòng chủ trương một điều trái ngược đối với Thân Mẫu của Chúa.

Theo đường hướng đó Các giáo phụ đã lập luận và không mảy may nghi ngờ gì về điểm này. Thánh Giacôbê Sarug (+ năm 521), viết: “ca đoàn mười hai Tông Đồ, khi Đức Maria đã đến thời đi vào con đường của hết mọi thế hệ, nghĩa là con đường của sự chết, thì đã tụ họp để an táng thân xác trinh khiết của Đấng đáng chúc tụng”. Thánh Modestô Giêrusalem (+ năm 634), sau khi đã dài dòng bàn về “giấc ngủ hạnh phúc của Đức Mẹ Chúa Trời”, đã kết luận: “lời từ giã” qua việc tán dương sự can thiệp diệu kỳ của Chúa Kitô, Đấng đã cho Đức Maria “chỗi dậy từ ngôi mộ” để đưa Người về với mình trong vinh quang. Thánh Gioan Đamascêno (+ năm 704) đã tự hỏi: “Tại làm sao mà Đấng vào lúc sinh hạ đã vượt qua hết mọi giới hạn của thiên nhiên, giờ đây lại phải chịu khuất phục những luật lệ của thiên nhiên, và làm sao thân thể vô nhiễm của Người lại có thể khuất phục cái chết?”. Ngài trả lời: “Chắc hẳn là cái phần hay chết cần phải được chôn táng để có thể mọc lên sự bất tử, xét vì chính Chủ tể thiên nhiên cũng đã không muốn khước từ cảm nghiệm cái chết. Thực vậy, Người đã chết theo xác thể và bằng cái chết Người đã hủy diệt cái chết, Người đã mang lại sự bất diệt cho sự hủy hoại, và Ngài đã biến cái chết thành nguồn của sự sống lại”.

Đành rằng, dựa theo mặc khải, cái chết được trình bày như là án phạt của tội lỗi. Tuy vậy, sự kiện Hội Thánh tuyên bố Đức Maria được giải thoát khỏi tội nguyên tổ do một đặc ân của Chúa, không minh định Đức Maria cũng đã lãnh nhận đặc ân bất tử về thân xác. Bà Mẹ không thể hơn Con mình được, Đấng đã lãnh nhận cái chết, để ban cho nó một ý nghĩa mới và biến đổi nó thành một dụng cụ của sự cứu rỗi.

Cho dù cuộc đời của Đức Maria đã chấm dứt do một sự kiện hữu cơ hay sinh lý nào đi nữa, chúng ta vẫn có thể nói, việc chuyển bước từ cuộc đời này đến cuộc đời bên kia đối với Đức Maria là một sự trưởng thành của ơn thánh tiến tới vinh quang; vì thế cái chết của Người có thể được quan niệm như là một “giấc ngủ”.

Thánh Bernard nói với chúng ta rằng: "“Đức Maria Nữ Trinh vinh hiển về Trời đã gia tăng hạnh phúc và niềm hy vọng nơi chúng ta”. Ngài thêm: “Đức Maria, Phần Tử ưu tú trên địa cầu chúng ta đang sống được đưa từ đất về trời, là một món quà vô cùng cao quí, sự vinh thăng ấy là cuộc trao đổi kỳ diệu giữa đất với trời, giữa con người trần thế với thế giới thần linh. Mẹ là hoa quả tuyệt vời của trái đất đã được đưa lên cao, để từ trên nơi cao xanh ấy ơn sủng lại tuôn đổ chan hòa xuống trên mặt đất, nghĩa là chính từ nơi Đức Maria diễm phúc được rước lên đó, đến lượt mình, Mẹ lôi kéo muôn vàn ân sủng xuống cho nhân loại”.

Ân sủng Mẹ chuyển xuống chính là Lời, Lời mà Mẹ đã đón nhận và cẩn thận ghi nhớ cũng như cưu mang trong lòng. Khi cưu mang Lời trong lòng, Mẹ cũng cưu mang Sự Sống của chúng ta: “Đức Maria vội vã lên đường, đến một thành xứ Giuđêa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Êlisabét” (Lc 1,39-40). Sự hiện diện của Mẹ Maria làm cho thế giới vui mừng như bà Êlisabét nói: “Vì khi vừa nghư tiếng em chào, thì hài nhi nhảy mừng trong lòng tôi” (Lc 1,44).

Mẹ vui mừng, Mẹ cũng làm cho thế giới mừng vui, niềm vui của Mẹ trở thành bài thánh ca muôn thủa: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng Cứu Độ tôi!” (Lc 1,46-47). Thật là một quả phúc tuyệt vời trên cõi trời cao ban xuống cho nhân loại. Bài Ca Tạ Ơn của Đức Maria đã trở thành Lời Thiên Chúa. Trong bài ca ấy, chúng ta tìm ra con đường để hiểu biết con người và Thiên Chúa như thế nào, và trần thế cũng như thiên đàng ra làm sao. Tất cả hợp nhất cùng nhau và có thể làm như Mẹ đã làm, món quà mà Thiên Chúa làm cho chúng ta trong Con yêu dấu của Chúa qua Đức Maria Trinh Nữ Rất Thánh: để trở thành món quà Chúa cho thế gian, và mai ngày, trở thành món quà của nhân loại dâng lên Thiên Chúa, chúng ta phải noi gương của Đức Maria, người đã bước vào vinh quang trước chúng ta và đang đợi chúng ta ở đó.

Nữ Vương linh hồn và xác lên Trời, cầu cho chúng con. Amen.

--------------------------------

 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

http://www.giaoxugiaohovietnam.com/
Chuyen ke cho cac gia dinh
Chuyện kể cho các gia đình
Giáo phận long xuyên
Báo công giáo
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây