Lm. Phêrô NguyễnVăn Mễn
(sưu tầm)
Tại sao Thiên Chúa để người tốt phải đau khổ ?
Chuyện Đời Chuyện đạo - Sách 25
Nguồn: https://linhmucmen.com/news/chuyen-doi-chuyen-dao/
**** Đọc các bài của Lm. Mễn:
1. Vào Facebook.com; tìm: Nguyễn Mễn;
hoặc https://www.facebook.com/ nguyen.men.71;
2. Vào Internet: Youtube, Google, Cốc Cốc, Safari, hoặc Yahoo.com;
tìm: Cha Mễn, Cha Mễn kể chuyện, hoặc linh mục Mễn
3. https://linhmucmen.com
4. Email: mennguyen296@gmail.com
5. ĐT: 0913 784 998 có zalo; 0394 469 165
**** "Bao lâu còn thời giờ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người” (Galata 6,10)
**** Lạy Chúa, xin hãy hoàn thành nơi con những ý định của Chúa. Và xin ban cho con ơn: Không làm trở ngại ý định của Chúa do hành vi của con. Lạy Chúa, con muốn điều Chúa muốn, chỉ vì Chúa muốn, như Chúa đã muốn và tới mức độ Chúa muốn. Amen.
---------------------------------
Bài 2: Tuổi già mà không tiền, dễ bị xem nhẹ
Bài 3: Những hiểu lầm về Đức Tin
Bài 4: Lời cầu nguyện cho người thân khỏi bệnh
Bài 6: Khi linh mục đối diện với áp lực cộng đoàn
Bài 7: Đừng để bị dẫn dắt theo não trạng “Chính-Trị-hóa” đối với việc truyền bá tôn giáo.
Bài 8: Tại sao Thiên Chúa để người tốt phải đau khổ ?
Bài 9: Vì sao thánh Gioan không chịu chết tử đạo ?
Bài 10: Việc kết hôn với người khác tôn giáo
Bài 11: Thánh Longinus: viên đội trưởng đâm vào cạnh sườn Chúa Kitô
Bài 12: Khi Satan đứng trên bục giảng.
Bài 13: Ngày cầu nguyện cho ơn gọi
Bài 14: Cách ứng xử giữ được lòng người
Bài 15: Sự khác biệt giữa người có đạo và người vô thần
Bài 16: Công chính hơn các kinh sư và Pharisêu là gì?
Bài 17: Vấn nạn đức tin: Thờ 2 chủ
Bài 18: Những câu người công giáo không nên nói.
Bài 19: “Đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành". Hiểu thế nào cho đúng ?”
Bài 20: Khác biệt giữa: Chủng Viện, Tu Viện, Đan Viện, Linh Mục Triều, Linh Mục Dòng
Bài 21: Lợi ích của việc rước lễ 9 ngày Thứ Sáu Đầu Tháng liên tiếp
-------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 525
Bạn thân mến,
Tình yêu là gì ?
Đây là một câu hỏi rất hay!
- Hẹn hò vui vẻ bên nhau, đâu nhất thiết phải là tình yêu.
- Nói chuyện qua điện thoại suốt đêm, cũng chưa chắc đã là tình yêu.
- Sự đam mê về thể xác, càng không phải là tình yêu.
- Dành thời gian 24 giờ ở bên nhau mà không chán, không phải là tình yêu, mà đôi khi chỉ là bạn bè tri kỷ.
- Nhớ nhau mãnh liệt. Cũng chưa hẳn là tình yêu…..
*****
- Tình yêu là khi người ấy nhìn thấy tất cả các khuyết điểm của bạn, nhưng vẫn chấp nhận chọn yêu thương bạn, với tất cả sự dịu dàng nhất.
- Tình yêu là khi ai đó ôm chặt lấy bạn, giúp bạn trầm ổn lại trong những lúc bạn giận dữ nhất, xấu xí nhất, đau lòng nhất, tệ hại nhất, và nhẹ nhàng lau đi những giọt nước mắt cho bạn.
- Tình yêu là sự chấp nhận ai đó dành cho bạn, ngay cả khi bạn không chấp nhận được chính mình.
- Tình yêu là khi ai đó tha thứ cho bạn ngay cả khi bạn không thể tha thứ cho chính mình.
- Tình yêu là khi một người nào đó luôn nhìn thấy được những điểm tốt của bạn, trong khi bạn toàn nhìn thấy những điểm xấu về bản thân.
- Tình yêu là khi ai đó luôn luôn mong muốn giúp bạn được vui vẻ hơn, hạnh phúc hơn và tốt đẹp hơn mỗi ngày.
- Tinh Yêu là khi ai đó thà chấp nhận bản thân chịu đau khổ, chứ không bao giờ khiến bạn tổn thương và đau lòng.
- Tình yêu là khi đam mê không còn, sự hấp dẫn về thể xác không còn, khi mối quan hệ có nhiều mâu thuẫn không vui, nhưng họ vẫn chọn nắm lấy bàn tay của bạn, chung thủy với bạn và không nỡ rời xa bạn.
Đó thật sự là tình yêu...
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 526
Bạn thân mến,
Khi còn trẻ, nghèo cũng không sao, tay trắng vẫn có thể tiến bước. Nhưng về già, nếu không có chút tiền phòng thân, đôi khi phải cúi đầu ngay trong chính ngôi nhà của mình. Đó là một sự thật khó nói, nhưng đang diễn ra trong rất nhiều gia đình.
Tuổi già không còn làm ra tiền, mọi chi tiêu phải trông cậy vào con cháu. Ban đầu là thương yêu, là chăm sóc. Nhưng theo thời gian, chỉ một câu nói vô tình, một ánh nhìn mệt mỏi, một tiếng thở dài khe khẽ… cũng đủ khiến người già thấy mình trở thành gánh nặng.
Con cái không hẳn là xấu. Chỉ là khi cuộc sống quá áp lực, sự tôn trọng dành cho cha mẹ dễ bị bào mòn lúc nào không hay.
Nhiều bậc cha mẹ đã hy sinh cả đời cho con: Bán nhà, bán đất, gom từng đồng cho con ăn học, lập nghiệp, nghĩ rằng “của con là của mình”.
Nhưng đến lúc tuổi cao, sức yếu, lại không dám ốm, không dám cần, vì trong tay không còn gì, và trong nhà cũng không còn tiếng nói.
Vì thế, hãy yêu thương con, nhưng đừng quên giữ lại cho mình.
Tiền không mua được tất cả, nhưng tuổi già không có tiền thì mất rất nhiều: Mất quyền lựa chọn, mất sự chủ động, và đôi khi… mất cả sự tôn trọng.
Đừng để mình về già trong im lặng và lệ thuộc.
Hãy sống sao cho đến cuối đời, vẫn có thể ngẩng cao đầu, dù tóc đã bạc, tay đã run.
Gia đình chỉ thật sự ấm êm, khi mỗi người biết sống cho nhau, nhưng cũng biết tôn trọng phẩm giá của nhau.
Một lời nhắc nhẹ cho con cháu:
“Hãy thảo kính cha mẹ ngươi, để ngươi được hạnh phúc và sống lâu trên mặt đất.” (Êp 6,2–3)
Nguồn: #Cônggiáo #lmngocbao #giaoduc #baihoccuocsong
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 527
Bạn thân mến,
"Kitô hữu tin gì?"
Câu hỏi gây bối rối cho không ít người Công giáo và dĩ nhiên là cho tất cả những ai không có cùng niềm tin.
Paul Tillich, một thần học gia Tin lành, đã từng nhận xét: "Trong các từ vựng tôn giáo, "đức tin" là từ vựng bị hiểu sai nhiều nhất.
Những hiểu lầm này, đôi khi là cố tình hiểu sai, phần đông đến từ những người vô thần, những người theo chủ nghĩa bất khả tri và thế tục.
Họ cho rằng, tin là sự cả tin, ngây thơ, mê tín, chấp nhận những điều vô lý, những tuyên bố không có bằng chứng chắc chắn…
Vì thế, họ chỉ tin những gì mà khoa học hiện đại, qua thực nghiệm, đưa ra những kết quả hợp lý, được kiểm nghiệm nhiều lần.
Thay vì tuyên xưng "Chúa là mục tử", họ tuyên bố: "Khoa học là mục tử chăn dắt tôi!"
Đối với những người này, đức tin hoàn toàn phản khoa học.
*****
Đức tin là gì?
Trái ngược với những người theo thuyết bất khả tri, những người vô thần… người Công giáo tin vào Thiên Chúa. Vì điều này mà Sách giáo lý Công giáo gọi đức tin là 1 trong 3 nhân đức đối thần. (x. GLHTCG., # 143)
Tin vào Thiên Chúa, người công giáo không vì thế mà phủ nhận khoa học. Trái lại, với người Công giáo, Đức tin và lý trí là 2 lãnh vực khác nhau, nhưng bổ túc cho nhau.
Có thể lấy một ví dụ để làm sáng tỏ điều này:
Chẳng hạn, để làm quen với 1 người, lý trí con người sẽ rất nhanh nhạy và tham gia đầy đủ vào quá trình này. Người đó sẽ quan sát, xem cách ăn mặc, cách cư xử của đối tượng… hỏi thăm những người quen biết. Cuối cùng là gặp mặt.
Nhưng, điều kỳ lạ là, tất cả những gì người đó được biết trước đó về đối tượng, có cái đúng, nhưng phần lớn – đặc biệt khi mối quan hệ của hai người đã sâu sắc và những cuộc trò chuyện trở nên sâu đậm và thân mật hơn, sẽ là những điều mới mẻ, tuyệt vời, vượt xa mọi khám phá mà người đó có thể tự mình tìm ra.
Lúc đó, người đó buộc phải lựa chọn, có tin đối tượng mà mình đã tìm hiểu trước đó hay không?
Như vậy, tin không loại trừ lý trí, nhưng sẵn sàng vượt trên lý trí để đặt niềm tin vào người khác.
Đối với Thiên Chúa cũng vậy. Chúa muốn chúng ta hiểu tất cả những gì có thể về Ngài thông qua lý trí.
Bằng cách phân tích trật tự, vẻ đẹp và tính ngẫu nhiên của thế giới, nhất là lắng nghe Lời Chúa, chúng ta có thể thu thập được một lượng “thông tin” khổng lồ về Chúa: sự hiện hữu của Ngài, sự hoàn hảo của Ngài, quyền năng của Ngài trên vũ hoàn… Sau đó, chúng ta đặt mình trước mặt Ngài, nếu chúng ta quyết định tin vào Ngài, thì đó là đức tin.
Như vậy, Đức tin là hành động chấp nhận tin tưởng vào những lời Thiên Chúa nói, dựa trên lý trí và cả sự mở lòng của con người.
Nói cách khác, người Công giáo không từ bỏ lý trí khi tin — nhưng “đi qua ranh giới của lý trí” để đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa.
Tóm lại, tin không phải là mê tín, ngây thơ như những người vô thần thường chế giễu. Trái lại, "vô tri thì bất mộ". Đức tin không tách khỏi sự hiểu biết của lý trí, nhưng làm cho những hiểu biết của lý trí thêm tròn đầy.
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 528
Lạy Đức Mẹ Maria hiền mẫu, giờ đây con đến với Mẹ bằng một trái tim lo lắng và yêu thương. Xin Mẹ đoái nhìn đến [người thân] của con đang mang trong mình bệnh tật và mệt mỏi. Xin Mẹ ôm lấy [họ] trong vòng tay dịu hiền của Mẹ, xin chuyển cầu cùng Chúa ban ơn chữa lành cho thân xác yếu đuối, cho tâm hồn [họ] được nâng đỡ và bình an.Nếu bệnh tình còn phải kéo dài, xin cho [họ] đủ sức chịu đựng từng ngày, đủ hy vọng để không gục ngã, và đủ niềm tin để biết rằng [họ] không bao giờ cô đơn. Xin cho gia đình con biết phó thác, biết yêu thương nhau nhiều hơn trong thử thách này. Con xin dâng tất cả nơi Trái Tim Mẹ. Amen.
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 529
Bạn thân mến,
Này con,
Người đời Học Hỏi, Con học Làm Thinh.
Người đời học Văn Minh, Con học Đạo Đức.
Người đời theo Kiến Thức, Con học Đạo Huyền Vi.
Người đời học Mê Si, Con học Tỉnh Thức.
Người đời học Nhớ, Con học cách Quên.
Người đời học Ngó Lên, Con tập Nhìn Xuống.
Người đời Ham Muốn, Con tập Xả Ly.
Người đời Sân Si, Con tập Hoà Ái…
Người đời Tự Đại, Con tập Khiêm Từ.
Người đời Khư Khư, Con hành Đại Xá.
Người đời Muôn Ngã, Con Một Con Đường.
Người đời Vô Thường, Con về Nẻo Giác….
Sen mọc từ Bùn, Mà Sen thơm ngát…
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 530
Bạn thân mến,
Đằng sau chiếc áo dòng chỉnh tề, sau những mỗi bài giảng chỉn chu, là một con người rất thật.
Và đã là con người, thì không ai miễn nhiễm với áp lực.
Linh mục – người được gọi để phục vụ – đôi khi lại trở thành tâm điểm của kỳ vọng, so sánh và cả… phán xét.
1. Áp lực từ kỳ vọng
Giáo dân mong Cha:
Giảng hay như diễn giả.
Hiền lành như Thánh.
Tổ chức giỏi như nhà quản trị.
Luôn sẵn sàng 24/7.
Không bao giờ mệt.
Không bao giờ sai.
Nhưng Linh mục không phải thiên thần.
Ngài cũng có giới hạn thể lý, cảm xúc và sức chịu đựng.
Có những đêm Cha mất ngủ vì chuyện giáo xứ.
Có những lần Cha im lặng không phải vì vô cảm, mà vì đã quá mệt mỏi.
2. Áp lực từ lời nói vô tình
Một lời góp ý thiếu tế nhị.
Một bình luận so sánh với Cha xứ cũ.
Một câu “Cha làm vậy không được đâu.”
Những câu nói tưởng chừng bình thường, nhưng có thể ở lại rất lâu trong lòng người Mục Tử.
Như Gioan Maria Vianney từng nói:
“Linh mục là tình yêu của Trái Tim Chúa Giêsu.”
Nhưng tình yêu ấy vẫn mang một trái tim biết tổn thương.
3. Áp lực của cô đơn
Có những điều Linh mục không thể chia sẻ rộng rãi.
Có những nỗi buồn phải giữ trong âm thầm.
Không gia đình riêng.
Không một mái ấm riêng để trút bầu tâm sự theo cách thông thường.
Sự cô đơn nơi đời Linh Mục không phải lúc nào cũng là thánh thiện — đôi khi rất thực, rất đau.
4. Khi áp lực trở thành cơ hội nên Thánh
Áp lực có thể làm người ta gục ngã.
Nhưng cũng có thể tinh luyện ơn gọi.
Mỗi hiểu lầm được tha thứ.
Mỗi lời trách móc được đón nhận trong bình an.
Mỗi hy sinh âm thầm vì đoàn chiên.
Đó là lúc Linh mục sống trọn lời “xin vâng” ngày chịu chức.
5. Cộng đoàn có thể làm gì?
Thay vì chỉ góp ý, hãy cầu nguyện.
Thay vì so sánh, hãy nâng đỡ.
Thay vì đòi hỏi, hãy biết ơn.
Một lời động viên đúng lúc có thể cứu một ngày mệt mỏi của Cha xứ.
Một lời cầu nguyện kín đáo có thể nâng đỡ một ơn gọi đang chao đảo.
Linh mục không cần được thần tượng hóa.
Nhưng rất cần được thấu hiểu.
Vì sau tất cả, trước khi là “Cha”,
ngài vẫn là một người con của Chúa – đang học từng ngày để yêu và phục vụ.
Nếu một ngày bạn thấy Cha Xứ của mình trầm lặng hơn thường lệ,
đừng vội đánh giá.
Biết đâu, hôm đó Cha đang mang thay bạn một gánh nặng…
mà bạn chưa từng nhìn thấy.
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 531
Bạn thân mến,
1. Đã đến lúc tỉnh táo tâm trí là vừa! Thế kỷ 21 rồi, đâu phải thời mông muội nữa.
Việc truyền giáo thuộc về lãnh vực tâm linh. Biết vậy, nhưng vẫn còn một số quí bạn theo đạo Phật lại vô tình đem cặp mắt "chính trị hóa" khi nhìn về tiến trình truyền giáo của đạo Chúa. Bài này đưa ra vài dữ kiện ĐỐI CHIẾU; qua đó giúp quí bạn có được cái nhìn trung thực, và không bị rơi vào những chiêu thức "chính trị hóa" nữa.
ĐẠO PHẬT (Buddhism) truyền bá vào nước Việt từ khi nào? Ắt quí bạn biết, là dưới thời Bắc thuộc, lúc nước Việt đã hoàn toàn nằm dưới sự cai trị của Tàu.
Trong lịch sử ghi nhận một số danh tính vị sư nổi bật.
Như ngài Ksudra (Khâu-Đà-La), người Ấn Độ, đến giảng đạo trong khoảng các năm 168-189, lúc đó nước Việt là "Giao Châu" thuộc nhà Hán.
Như ngài Vinitaruci (Tì-ni-đa-lưu-chi) là vị sư người Ấn đến truyền pháp vào năm 580. Lúc này nước Việt vẫn còn trong thời kỳ Bắc thuộc, nằm dưới ách đô hộ của Tàu.
* ĐẠO CHÚA (Christianity) truyền bá vào nước Việt đầu thế kỷ 17.
Có thể ghi nhận vị giáo sĩ người Bồ Đào Nha Francisco de Pina (1585-1625) đến Đàng Trong vào năm 1617. Ngài còn là một người rất giỏi về ngữ âm học, thành thử đã tiếp cận nhanh chóng tiếng Việt và tạo nền móng soạn thảo ra Bộ chữ abc (sau này gọi là chữ Quốc ngữ, mà hết thảy người VN chúng ta đang dùng ngày nay).
Rồi vị giáo sĩ Alexander Rhodius (1593-1660), người thuộc "Quốc gia Hội thánh" (Status Ecclesiasticus, còn gọi là "Quốc gia Giáo tông", "Quốc gia của sứ đồ" - "Apostolorum statum"), đến Đàng Trong vào năm 1624. Ngài học tiếng Việt nơi vị giáo sĩ Francisco de Pina. Sau đó, ngài Alexander Rhodius ra Đàng Ngoài truyền đạo.
Nước Việt lúc đó có do ngoại bang cai trị? Không. Mà triều đình Đàng Trong lẫn triều đình Đàng Ngoài đều là người Việt.
.................
Việc truyền bá đạo Phật lẫn đạo Chúa, như tôi nêu ở đầu stt, là thuộc lãnh vực tâm linh. Các ngài đi truyền đạo vì sự xác tín tâm linh của chính các ngài.
Hẳn nhiên, đâu phải ưng muốn vô truyền đạo là cứ vô, ắt phải được sự chấp thuận của giới chức chính trị cầm quyền tại nơi đến.
Các vị giáo sĩ truyền bá đạo Chúa có lúc gặp lệnh cấm đạo ngặt nghèo; nhưng cũng có những lúc được cho phép đi rao giảng Lời Chúa. Những lúc được tự do truyền đạo như rứa, ai cho phép? Là Chúa Nguyễn (Đàng Trong), chúa Trịnh (Đàng Ngoài) - nhắc lại - đều là giới cầm quyền người Việt cho phép!
Còn các vị sư sãi, cao tăng truyền bá chánh pháp, ai cho phép được đi lại trong nước? Suốt nhiều thế kỷ du nhập đạo Phật, thời Bắc thuộc, đều do giới cầm quyền đô hộ của Tàu cho phép.
Đạo Phật được du nhập, dưới thời Tàu đô hộ.
Đạo Chúa được du nhập, dưới thời người Việt tự chủ.
.................
Có phải hễ nhà cầm quyền cho phép tôn giáo nào đó du nhập thì ... bạn cho rằng tôn giáo phải "phục vụ chính trị"?
Nếu dựa theo suy diễn này, đạo Phật - được phép du nhập trong thời Bắc thuộc - thì phải phục vụ cho nhà cầm quyền, cho ngoại bang là người Tàu hay sao?
Quí bạn theo đạo Phật ắt không muốn chấp nhận lối suy diễn trên.
Vậy, sao nhiều người trong quí bạn lại cho rằng đạo Chúa - về sau, hồi Pháp thuộc - phục vụ cho ngoại bang (Pháp)?
Điều mình không muốn người khác nghĩ xấu về mình, thì mình cũng đừng bao giờ nghĩ xấu về người khác.
.................
4a) Đạo Chúa du nhập vào đầu thế kỷ 17, do các giáo sĩ đa phần là người Bồ Đào Nha.
Thực dân Pháp biết đến nước Việt và tấn công xâm lược vào năm 1858, giữa thế kỷ 19. Độ cách quãng thời gian từ lúc đạo Chúa du nhập cho đến khi Pháp đổ quân là gần 250 năm, gần hai thế kỷ rưỡi!
Xa cách tới cỡ vậy, mà vẫn có người ráng gán cho bằng được sự du nhập của đạo Chúa với sự xâm lược của Pháp.
Hoặc là họ dốt đặc lịch sử; hoặc là họ cố tình quên béng lịch sử, thành thử họ đã đi quá xa của mọi sự hài hước trên đời!
4b) Như ở mục 2 & 3 cho thấy: Đạo Phật lúc du nhập & tồn tại suốt nhiều thế kỷ là hoàn toàn nằm dưới thời cai trị của ngoại bang Tàu - chớ chẳng phải cách xa cả hai thế kỷ rưỡi của đạo Chúa lúc du nhập so với lúc ngoại bang Tây mãi sau này mới đặt sự cai trị.
Nếu ai đó nói đạo Phật gắn chặt với mưu đồ thống trị của Tàu - bởi vì đạo Phật du nhập SAU KHI Tàu đã đặt ách cai trị lên nước ta, quí bạn chấp nhận nổi không? Ắt là không!
Vậy mà vẫn có những người trong quí bạn Phật tử lại đi gán đạo Chúa với mưu đồ thống trị của Pháp - trong khi đạo Chúa du nhập được khoảng 250 năm TRƯỚC KHI Pháp xâm lược.
.................
Xin quí bạn chú ý: Trong những người thuộc giới làm chính trị, tỉ như đám Tàu, đám Tây .v.v... bao giờ cũng đầy nhóc những kẻ mưu mẹo lợi dụng tôn giáo cho ý đồ của họ.
Việc chính-trị-hóa-tôn-giáo là nghề của giới chính khách đó đa!
Mắc gì bạn, trong tư cách tín đồ của một tôn giáo, lại đi rước cái ngón nghề "chính trị hóa" vào trong não trạng của mình, vô tình trở thành ... cái loa cho bọn đầu cơ chính trị chuyên nghiệp?
Thay vì vậy, quí bạn là các tín đồ hãy hướng tâm trí của mình vào việc giúp đỡ các vị giáo sĩ, linh mục (Công giáo), các vị mục sư (Tin Lành), các vị cao tăng (Phật giáo) chơn chính, một lòng một dạ đối với Chúa Jesus, với Phật Thích Ca ở mức cao nhứt - cao hơn hẳn những kẻ cầm quyền thế tục. Giúp các vị ấy toàn tâm toàn ý truyền bá chánh đạo, chánh pháp!
THAY LỜI KẾT
Điều mình không muốn người khác nghĩ xấu về mình, thì mình cũng đừng bao giờ nghĩ xấu về người khác.
Có quá nhiều người bị mắc lỡm bởi não trạng “chính trị hóa” quá lâu. Đã đến lúc tự làm cho đầu óc tỉnh táo trở lại.
Thế kỷ 21 rồi, chớ đâu phải thời mông muội nữa ./.
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 532
Bạn thân mến,
Tại sao Thiên Chúa để người tốt phải đau khổ ?
Một câu trả lời theo đức tin công giáo, sẽ không như bạn nghĩ.
Ai cũng đã từng hỏi.
Nhưng ít người hiểu.
Và càng ít người sẵn sàng đón nhận câu trả lời thật sự.
Tại sao người trung tín lại phải chịu đau khổ?
Tại sao người vô tội lại phải khóc than?
Tại sao những người cầu nguyện, phục vụ và yêu thương vẫn phải bước qua lửa thử thách?
Kinh Thánh đem lại một câu trả lời, vừa nhiệm mầu, vừa tuyệt đẹp, vượt xa điều ta tưởng.
Hãy cùng khám phá.
1. Đau khổ không phải là dấu Thiên Chúa vắng mặt, nhưng thường là dấu Ngài hiện diện.
Trong Kinh Thánh, những người gần gũi Thiên Chúa nhất, lại là những người chịu đau khổ nhiều nhất:
- Abraham mất mát.
- Môsê bị chống đối.
- Đavít bị truy đuổi.
- Giêrêmia bị quăng xuống hố.
- Đức Maria mang “lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn”.
- Chính Chúa Giêsu vác Thập Giá....
Nếu đau khổ là dấu Thiên Chúa bỏ rơi, thì Chúa Giêsu là người bị bỏ rơi nhất, điều đó chắc chắn là không thể.
Đau khổ không phải là sự vắng bóng của Thiên Chúa.
Nhiều khi, đó lại là dấu ấn của Ngài.
2. Người tốt chịu đau khổ, vì họ được mời gọi gánh vác điều người khác không thể.
Có những linh hồn được chọn để mang những thập giá nặng hơn.
Không phải để trừng phạt, nhưng để hiệp thông.
Thánh Phaolô nói một điều gây kinh ngạc:
“Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em, và nhận lấy những gian nan của Đức Kitô còn thiếu, mà bù vào thân xác tôi.” (Cl 1,24)
Điều gì còn “thiếu” nơi cuộc khổ nạn của Đức Kitô?
Không phải là giá trị.
Không phải là quyền năng cứu độ.
Điều còn thiếu là sự tham dự của bạn.
Thiên Chúa cho phép một số người lành chịu đau khổ, để ân sủng được tuôn trào qua họ đến với người khác.
- Có người chịu đau khổ cho gia đình.
- Có người cho quốc gia.
- Có người cho những linh hồn xa cách Chúa.
Đau khổ trở thành lời chuyển cầu sống động.
3. Thiên Chúa dùng đau khổ như dao mổ, không phải như búa đập.
Trong Kinh Thánh, đau khổ không nhằm hủy diệt, mà để thanh luyện.
Thiên Chúa không làm tổn thương để phá hủy, nhưng để chữa lành.
Như vàng trong lửa: Lửa không tiêu diệt vàng, mà làm lộ sự tinh ròng.
Cũng vậy:
- Thử thách đốt cháy kiêu ngạo.
- Mất mát cắt đứt dính bén.
- Trì hoãn luyện sự kiên nhẫn.
- Phản bội phá tan ảo tưởng.
- Bệnh tật làm sụp đổ tự mãn.
- Đau khổ không phải là chiếc búa của Thiên Chúa, nhưng là dao phẫu thuật của Ngài.
Các thánh không được hình thành trên đỉnh cao, nhưng là trong lò luyện.
4. Đau khổ mở ra những cánh cửa, mà tiện nghi không bao giờ chạm tới.
Có những nơi sâu thẳm trong lòng người, mà sự dễ chịu không bao giờ chạm tới.
Nhưng đau khổ thì chạm đến.
- Bạn học được cảm thông, khi chính mình đau.
- Bạn học được xót thương, khi cần được xót thương.
- Bạn học được thinh lặng, khi lời nói bất lực.
- Bạn học được cầu nguyện, khi mọi sự khác đều vô ích.
Có những ân ban, Thiên Chúa chỉ trao trong đêm tối, vì trong đêm tối, linh hồn mới ngừng chạy trốn.
5. Đau khổ là con đường duy nhất Thiên Chúa dùng để tạo nên các thánh.
Trong Giáo Hội, không có vị thánh nào, mà không mang thương tích.
Không một ai.
Đau khổ không phải là đường vòng của nên thánh.
Nó chính là con đường.
Chúa Giêsu không nói: “Ai muốn theo Ta, hãy mang phúc lành mà đến.”
Mà Ngài nói: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mt 16,24)
Không phải vì Thiên Chúa thích thấy bạn đau khổ, nhưng vì nên thánh không thể có, nếu không có hy sinh.
6. Những linh hồn thánh thiện chịu đau khổ nhiều hơn, vì họ có thể mang vác vinh quang lớn hơn.
Có những người mang thập giá nặng hơn, vì linh hồn họ mạnh mẽ hơn.
Thiên Chúa cho những vết thương sâu hơn nơi những người Ngài muốn đổ tràn ân sủng sâu hơn.
Ngài cắt tỉa những cành, để chúng sinh hoa trái ngọt lành hơn.
Khi bạn thấy một người tốt đang đau khổ, bạn đang chứng kiến một linh hồn được Thiên Chúa chuẩn bị cho điều lớn lao hơn cả sự an nhàn.
Bạn đang chứng kiến một vị thánh đang được hình thành.
7. Mầu nhiệm cuối cùng: Chính Thiên Chúa đã chọn con đường đau khổ.
Kitô giáo là tôn giáo duy nhất, nơi Thiên Chúa không đứng nhìn con người đau khổ, nhưng Ngài cùng chịu đau khổ với họ:
Ngài chịu đóng đinh.
Ngài chịu lưỡi đòng.
Ngài chịu bị bỏ rơi.
Ngài bước vào cái chết....
Đây là câu trả lời sau cùng:
Bạn không đau khổ thay cho Đức Kitô.
Bạn đau khổ cùng với Đức Kitô.
Mỗi giọt nước mắt trở thành lời cầu nguyện.
Mỗi vết thương trở thành ân sủng.
Mỗi thập giá trở thành sự hiệp thông.
*** VẬY, TẠI SAO NGƯỜI TỐT PHẢI ĐAU KHỔ?
Không phải vì Thiên Chúa vắng mặt, mà vì Ngài ở rất gần.
Không phải vì Ngài trừng phạt họ, mà vì Ngài đang uốn nắn họ.
Không phải vì họ bị lãng quên, mà vì họ đã được tuyển chọn.
Và Thập Giá đặt trên vai họ, chính là Thập Giá đã mở cửa Thiên Đàng.
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 533
Bạn thân mến,
Trong số Mười Hai Tông đồ, chỉ có Thánh Gioan Tông đồ qua đời thanh thản vì tuổi cao (khoảng năm 100 sau Công nguyên), trong khi các Tông đồ khác hầu hết đều lãnh nhận tử đạo.
Tuy nhiên, hành trình theo Chúa của ngài không hề dễ dàng: ngài phải chịu cảnh lưu đày trên đảo Patmos, bị bách hại, và theo truyền thuyết, đã sống sót sau khi bị nhúng vào dầu sôi mà không hề hấn gì.
Vậy tại sao sứ vụ của ngài lại đặc biệt như thế?
Truyền thống Công giáo nhìn thấy câu trả lời nơi một khoảnh khắc thiêng liêng: dưới chân Thánh Giá.
Trong khi hầu hết các môn đệ đều chạy trốn vì sợ hãi, Gioan vẫn trung kiên ở lại. Ngài đứng vững bên cạnh Chúa Giêsu Kitô, cùng với Đức Maria, Mẹ Ngài, chia sẻ nỗi đau thương trên đồi Canvê bằng một tình yêu trọn vẹn (x. Ga 19, 25-27).
Và chính trong giây phút cuối cùng ấy, Chúa Giêsu đã trao cho Gioan một ân huệ vô giá:
“Thưa Bà, này là con Bà… Này là Mẹ con.”
Từ giờ khắc đó, Gioan đã đón rước Đức Maria vào chính căn nhà của mình – hết lòng phụng sự Mẹ với lòng hiếu thảo cho đến khi Mẹ được về trời.
Các Giáo phụ và truyền thống thánh thiêng nhìn thấy nơi biến cố này một mầu nhiệm sâu xa: bởi lòng trung thành kiên định của Gioan dưới chân Thánh Giá và mối dây yêu thương gắn bó với Đức Mẹ, ngài được trao phó một sứ mạng trần thế kéo dài hơn – để hướng dẫn Giáo hội sơ khai, viết nên sách Phúc Âm, các Thư Tín và sách Khải Huyền, và làm chứng bằng cả một đời sống kiên trung cho đến cuối.
Cuộc tử đạo của ngài không phải là đổ máu, nhưng là “tử đạo trắng” – một cuộc đời hiến dâng trọn vẹn trong tình yêu, sự kiên nhẫn và lòng trung thành với chân lý.
Thánh Gioan Tông đồ nhắc nhở chúng ta: hãy luôn ở lại gần Thánh Giá. Hãy tín thác vào Mẹ Maria. Và Chúa sẽ ban cho chúng ta ơn đủ sức để kiên vững trong mọi thử thách.
Thánh Gioan Tông đồ, cầu cho chúng con!
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 534
Bạn thân mến,
Xin giới thiệu bài phỏng vấn của các bạn trẻ với Đức Cha Anphong Nguyễn Hữu Long
Hỏi: “Thưa Đức cha, giới trẻ chúng con hiện nay phải đi làm ăn đây đó, và nảy sinh tình yêu với người không có đạo. Cha mẹ chúng con thường không đồng ý cho kết hôn với người khác tôn giáo, nhất là con gái đạo lấy chồng lương. Chúng con không muốn làm buồn lòng bố mẹ, cũng không muốn mất người yêu. Chúng con bị giằng co rất mãnh liệt trước những lựa chọn như thế này. Kính xin đức cha cho chúng con những lời khuyên bổ ích nhất.”
- Giải đáp: Đây hiện là vấn đề “nóng bỏng”, “nhức nhối” của bao người công giáo chúng ta, từ các giám mục, linh mục, đến cha mẹ và nhất là các bạn trẻ công giáo.
Tỷ lệ người công giáo tại nước ta thấp, chỉ 6-7% dân số, nên không tránh khỏi tình trạng kết hôn với người không có đạo.
Nếu mọi cuộc hôn nhân tự nó là “phiêu lưu”, thì hôn nhân khác đạo càng “phiêu lưu” hơn.
Nhà văn Pháp Saint-Exupéry có câu nói nổi tiếng:
“Yêu nhau không phải là nhìn nhau, nhưng là cùng nhau nhìn về một hướng”.
Khi nên vợ chồng, thì người ta kể mọi sự là của chung: Chung nhà, chung cửa, chung con cái, chung tiền bạc, chung chia vui buồn đời sống, cố gắng để tâm đồng ý hợp trong mọi vấn đề,… thế mà niềm tin tôn giáo vốn là một việc hệ trọng của cuộc sống, đáng lẽ cũng phải chung một con đường, thì ở đây, chồng vợ hai người hai hướng, có khi xung khắc nhau nữa.
Tôn giáo, đáng lẽ là yếu tố vun đắp tình yêu vợ chồng, thì có khi lại trở thành chướng ngại cho hai người.
Chính vì thế,
các phụ huynh thường không muốn con cái mình kết hôn với người ngoại đạo, vì muốn tránh cho các con không lâm vào những tình cảnh ngang trái này.
Ngoài ra, hôn nhân khác đạo còn phiêu lưu ở chỗ:
Người không có đạo đâu có biết và tôn trọng những chuẩn mực luân lý như người trong đạo, ví dụ:
- về vấn đề chung thủy, một vợ một chồng, ngừa thai, phá thai, ly dị…
Đã có nhiều người công giáo đứng trước những áp lực, những lựa chọn từ người bạn đời không công giáo để bị ly dị, bị chồng phụ bạc ngoại tình, bị buộc phá thai, ngừa thai không theo như Giáo Hội Công giáo.
– Không thể “vơ đũa cả nắm” để nói mọi hôn nhân khác đạo đều thất bại, bởi đã có những cuộc hôn nhân như thế nàylại rất hạnh phúc, hòa hợp, có khi còn hơn những hôn nhân cùng đạo ;
- Cũng không nên khinh thường để “lao đầu” vào hôn nhân khác đạo.
Phải tùy từng trường hợp mà quyết định.
Vậy, cha xin đề ra một số tiêu chuẩn để các bạn trẻ xem xét rồi quyết định:
1. Người không công giáo có đứng đắn, đàng hoàng, là một người lương thiện, biết giữ lời, biết tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo của bạn không ?
2. Người đó quan niệm thế nào về niềm tin tôn giáo, có tin vào một Đấng Tối Cao, biết kính sợ Ngài không (ít là như thế, còn hơn là một người chủ trương vô thần).
3. Quan điểm của người ấy về sự chung thủy, một vợ một chồng, về vấn đề ngừa thai, phá thai. Nếu người ấy không cùng quan điểm với bạn thì hãy cắt đứt quan hệ, vì không thể hạnh phúc với người như thế đâu.
4. Bạn tìm hiểu gia đình người đó thế nào, có niềm tin tôn giáo nào không, có tôn trọng niềm tin của bạn không ?
5. Bạn đừng ngần ngại đặt vấn đề tôn giáo, việc giữ đạo với người bạn, lắng nghe quan điểm của họ, thuyết phục họ tin vào Chúa, để cả hai “cùng nhìn về một hướng”.
6. Bạn chân thành trao đổi, xin ý kiến của cha mẹ và người thân của bạn, cha xứ nữa, để họ giúp bạn xem xét vấn đề và lựa chọn.
7. Sau cùng, xin bạn tâm niệm rằng: Thà không lấy chồng, còn hơn lấy người không tôn trọng niềm tin, tôn giáo của bạn, vì bạn sẽ không thấy hạnh phúc trong đời hôn nhân đâu.”
Đức Cha Anphong Nguyễn Hữu Long
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 535
Bạn thân mến,
Theo truyền thuyết, người lính đã đâm vào sườn Chúa Kitô trong cuộc đóng đinh đã tin vào Người và ngày nay được tôn kính là Thánh Longinus, người có bức tượng đồ sộ được đặt tại Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô.
Trong cuộc đóng đinh, hai người đàn ông đã gặp gỡ Chúa Kitô theo cách đã thay đổi cuộc đời họ mãi mãi.
Cả hai sau này đều được tôn kính là thánh:
- Một người là tên trộm tốt lành, Thánh Dismas.
Chúa Giêsu đã nói với ông: “Ta bảo thật với ngươi, hôm nay ngươi sẽ ở với Ta trên thiên đàng” (Lc 23:43).
- Người kia là viên đội trưởng Rôma đã đâm vào cạnh sườn Chúa Kitô bằng ngọn giáo và sau này được biết đến với tên gọi Thánh Longinus.
Vì những gì đã xảy ra tiếp theo, Thánh Luca kể lại:
“Khi viên đội trưởng thấy điều đã xảy ra, ông liền ngợi khen Thiên Chúa và nói: ‘Quả thật người này vô tội’” (Lc 23:47).
“Khi viên đội trưởng và những người cùng canh giữ Chúa Giêsu thấy động đất và những điều xảy ra, họ kinh hãi và nói: ‘Quả thật người này là Con Thiên Chúa!’” (Mt 27:54).
Đây là Longinus, một viên đội trưởng Rôma, người ngay lập tức tin rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, đã cải đạo, trở thành một vị thánh, và ngày nay được tưởng nhớ bằng một tượng đài trang trọng không xa bàn thờ trong Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô ở Rôma.
Một phần ngọn giáo của ngài được lưu giữ trong số các thánh tích thiêng liêng về cuộc Khổ nạn của Chúa chúng ta; thánh tích này cũng được lưu giữ tại Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô.
Từ giữa những năm 1.600, một bức tượng bằng đá cẩm thạch đồ sộ của Thánh Longinus cao gần 4,5m đứng trong một hốc lớn ở phía bên phải của một trong những trụ cột khổng lồ đỡ mái vòm phía trên bàn thờ của Đức Giáo hoàng.
Không còn mặc trang phục của một viên đội trưởng Rôma, hình ảnh vị thánh đang đứng cầm một ngọn giáo và dường như đang nhìn lên, như thể đang chăm chú vào vết thương bên cạnh sườn của Chúa Kitô.
Năm 1643, Gioan Lorenzo Bernini, người đã thực hiện phần lớn thiết kế và nghệ thuật tuyệt vời cho vương cung thánh đường, đã tạc bức tượng đáng chú ý này.
Trên cùng một cột trụ, ba vị thánh khác trong các hốc riêng của mình – Thánh Veronica, Thánh Hêlena người đã tìm thấy Thánh giá thật, và Thánh Anrê - cùng với Thánh Longinus.
Phía trên các bức tượng này là Hành lang trưng bày Thánh tích (Loggia delle Reliquie), nơi lưu giữ các mảnh của Thánh giá thật, tấm khăn của Thánh Veronica, và một phần ngọn giáo của Thánh Longinus được trao cho Đức Giáo hoàng Innôcentê VIII vào năm 1492.
Thánh Longinus không được nhắc đến tên trong các sách Tin Mừng. Ngài chỉ được xác định bằng vị trí của mình trong quân đoàn Rôma. Đó có lẽ là cách tên của ngài bắt nguồn.
Trong khi lancea là tiếng Latinh có nghĩa là “ngọn giáo,” thì tiếng Hy Lạp. mà Tân ước được viết cũng có mối liên hệ: Nó sử dụng từ lónkhē, có nghĩa là “ngọn giáo” hoặc “ngọn mác.”
Đồng thời, “Longinus” cũng là một cái tên Rôma chính thống được sử dụng vào thời đó như một tên “họ” hoặc “gia đình.” Tuy nhiên, đây có lẽ là lý do ít có khả năng nhất cho tên của ngài. Mối liên hệ với vị trí của ngài tại cuộc đóng đinh và từ tiếng Hy Lạp được sử dụng trong Tân ước là lý do khả dĩ nhất.
Nhưng, làm thế nào ngài trở thành một vị thánh?
Chân phước Jacobus de Voragine (được phong Chân phước năm 1816) đã đưa ra câu trả lời trong bộ sách nhiều tập mang tên The Golden Legend (tạm dịch: Huyền thoại Vàng), được viết vào thế kỷ XIII và chứa đầy tiểu sử các vị thánh. Đến thế kỷ XV, tác phẩm này đã trở thành một “sách bán chạy nhất” thời trung cổ bằng mọi ngôn ngữ chính của châu Âu.
Huyền thoại Vàng kể rằng, khi Thánh Longinus đâm vào sườn Chúa bằng ngọn giáo của mình, Máu Thánh và nước thánh chảy xuống từ ngọn giáo và vào tay ngài. Viên đội trưởng - theo truyền thuyết, vốn bị thị lực rất kém - đã chạm vào mắt mình, “và ngay lập tức, người trước đây bị mù giờ đây có thể nhìn thấy rõ ràng.”
Ngài đã rời bỏ quân ngũ, hoán cải, “ở cùng các tông đồ, được họ dạy dỗ và rửa tội, và sau đó,” ngài sống “một đời sống thánh thiện bằng cách bố thí và tuân giữ đời sống tu trì khoảng 38 năm ở Caesarea và Cappadocia, và bằng lời nói và gương mẫu của mình, ngài đã khiến nhiều người trở về với đức tin của Chúa Kitô.”
Cuộc hoán cải này làm Octavian, viên quan trấn thủ, không hài lòng, ông ta cố gắng ép Thánh Longinus tế lễ cho tượng thần. Từ chối, vị cựu đội trưởng nói với viên quan trấn thủ rằng:
Nếu ông “trở thành Kitô hữu, Chúa sẽ tha thứ cho tội lỗi của ông.”
Điều đó làm viên quan Rôma tức giận, ông ta ra lệnh tra tấn Thánh Longinus một cách dã man. nhằm khiến ngài câm lặng.
Bất chấp sự tra tấn khủng khiếp, vị thánh tương lai vẫn tiếp tục nói chuyện, rồi tiến hành phá hủy mọi tượng thần trong tầm mắt. Từ đó, ma quỷ xuất hiện và nhập vào viên quan trấn thủ cùng những người đi theo ông ta, hành hạ họ.
Chân phước De Voragine mô tả rằng, họ đã thú nhận: “Chúa rất vĩ đại đối với dân Kitô giáo. Hỡi thánh nhân, chúng tôi cầu xin ngài đừng để ma quỷ trú ngụ trong thành phố này.”
“Rồi Thánh Longinus ra lệnh cho ma quỷ rời khỏi những người này,”
Chân phước De Voragine tiếp tục, “và bằng cách đó, dân chúng đã rất vui mừng và tin vào Chúa chúng ta.”
Nhưng ngay sau đó, Octavian lại quay trở về với những hành động cũ. Viên quan trấn thủ độc ác nói với Thánh Longinus rằng; vì lời dạy của ngài, tất cả mọi người đã từ bỏ việc thờ cúng tượng thần, và nói thêm rằng điều đó sẽ làm “nhà vua” tức giận, khiến ông ta tàn phá dân chúng và thành phố.
Có lần, Octavian bắt đầu tra tấn một người Kitô hữu vì biết và bênh vực Thánh Longinus, và sau lời cầu nguyện của vị thánh tương lai về tội ác này, viên quan trấn thủ đã bị mù và chịu đựng những cơn đau đớn tột cùng.
Thánh Longinus nói với viên quan trấn thủ rằng nếu ông ta muốn được chữa lành, thì hãy giết mình, và nói thêm: “Sau khi tôi chết, tôi sẽ cầu nguyện cho ông với Chúa, xin Người chữa lành cho ông.” Viên quan trấn thủ đã cho chặt đầu Thánh Longinus, rồi khóc lóc, thú nhận những tội lỗi khủng khiếp của mình, và thành tâm ăn năn vì đã quay trở lại thờ thần tượng.
Lời cầu nguyện của Thánh Longinus đã được đáp ứng: Thị lực của viên quan trấn thủ được phục hồi, và thân thể ông cũng khỏe mạnh trở lại.
Ông chôn cất Thánh Longinus một cách trọng thể, tin tưởng trở lại vào Chúa Giêsu Kitô và gia nhập cộng đồng Kitô giáo. Câu chuyện kết thúc bằng câu:
“Tất cả những điều này đã xảy ra ở Caesarea thuộc Cappadocia để tôn vinh Chúa, Đấng đáng được ca ngợi và tôn vinh đến muôn thuở muôn đời (in secular seculorum).”
Ngọn giáo Longinus
Một trong những ghi chép sớm nhất về ngọn giáo Longinus xuất hiện vào năm 570, như Bách khoa Toàn thư Công giáo ghi lại, khi Thánh Antoninus thành Piacenza du hành đến Giêrusalem và nhìn thấy trong vương cung thánh đường trên núi Zion “mão gai mà Chúa chúng ta đội và ngọn giáo mà Người bị đâm vào sườn.” Vào thời điểm đó, một ngọn giáo được cho là đã đâm vào trái tim Đấng Cứu Thế được tôn kính ở Giêrusalem.
Không lâu sau đó, vào năm 586, tại Thư viện Laurentian ở Florence, một bức tranh minh họa nhỏ trong một bản thảo tiếng Syriac đã thể hiện rõ vết thương ở cạnh sườn Chúa Kitô. Nếu bức tranh vẫn giữ nguyên bản, thì những ký tự viết bằng chữ Hy Lạp (LOGINOS) phía trên đầu người lính đang đâm giáo vào sườn Chúa Giêsu chính là tên của Thánh Longinus. Điều này đã giúp xác nhận truyền thuyết về tên của viên đội trưởng.
Vài năm sau, Đức Giám mục Grêgôriô thành Tours đã chứng thực về thánh tích này. Nhưng đến năm 615, thánh tích đã rơi vào tay những người Ba Tư ngoại giáo, những người đã chiếm được Giêrusalem. Ngọn giáo bị gãy được trao cho một người mang đến Hagia Sophia ở Constantinople. Năm 1244, ngọn giáo, lúc đó được đặt trong một bức tượng thánh, được dâng lên Thánh Louis, người sau đó đã an vị thánh tích này cùng với mão gai trong nhà nguyện Sainte-Chapelle ở Paris.
Một phần khác của ngọn giáo, dường như ở Constantinople, đã rơi vào tay người Thổ Nhĩ Kỳ. Sau đó, vào năm 1492, theo cuốn Lịch sử các Giáo hoàng: Từ cuối thời Trung cổ của Ludwig von Pastor, Đức Giáo hoàng Innôcentê VIII đã được Sultan Beyazid II tặng thánh tích ngọn giáo ở Constantinople như một thiện ý vì đã giam giữ anh trai mình ở Rôma và đồng ý để châu Âu được hòa bình. Thánh tích này đã được lưu giữ ở Rôma và tại Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô kể từ đó.
Đức Giáo hoàng Bênêđictô XIV đã có được một bản vẽ chính xác về ngọn giáo ở Paris, sau đó so sánh nó với thánh tích lớn hơn ở Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô và cho thấy rằng hai phần ban đầu tạo thành một ngọn giáo duy nhất. Qua nhiều năm, đã có một vài người khác tuyên bố sở hữu một phần của ngọn giáo. Nhưng nguồn gốc của chúng không chắc chắn, không giống như thánh tích được lưu giữ tại Đền thờ Thánh Phêrô.
Thánh tích ngày nay
Trong mùa Chay, các giáo sĩ mang ba thánh tích về cuộc Khổ nạn đến cho công chúng tôn kính. Một giáo sĩ đeo găng tay đỏ mang thánh tích ngọn giáo của Thánh Longinus và dùng thánh tích này để ban phép lành. Các tín hữu được khuyến khích suy niệm về khoảnh khắc Thánh Longinus đâm vào cạnh sườn Đức Kitô và Chúa Giêsu đổ những giọt máu cùng nước cuối cùng của Người cho toàn thể nhân loại.
Sự kiện này được tưởng nhớ sau một Thánh lễ Mùa Chay, như một bài báo của EWTN News giải thích, thêm rằng “các thừa tác viên và người giúp lễ đi vòng quanh bàn thờ chính trong khi dàn hợp xướng hát bài Stabat Mater với một đoạn đối đáp cũng được hát bằng tiếng Latinh: Unus militum lancea latus eius aperuit et continuo exivit sanguis et aqua: ‘Một trong những người lính đã đâm vào cạnh sườn Người bằng một ngọn giáo, và ngay lập tức máu và nước chảy ra.’”
Theo lịch sử, lễ Thánh Longinus được cử hành vào ngày 15 tháng 3. Tuy nhiên, Sổ bộ các vị Tử đạo Rôma (Roman Martyrology) nhắc đến ngài vào ngày 16 tháng 10. Khi tưởng nhớ vị thánh này giữa các sự kiện của mùa Chay, các tín hữu có thể cầu nguyện và suy ngẫm về cuộc Khổ nạn.
Như bài báo của EWTN khẳng định, “Ngọn giáo thánh tiếp tục thu hút trái tim và tâm trí, mời gọi các tín hữu suy ngẫm ý nghĩa sâu sắc về sự hy sinh của Đức Kitô trên thập giá và cùng nói lên với Thánh Longinus: ‘Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.’”
Tác giả: Joseph Pronechen
Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
Chuyển ngữ từ: National Catholic Register (06/3/2026)
--------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 536
Bạn thân mến,
Nhiều người tưởng tượng rằng: Nếu Sa-tan bước vào Hội Thánh, hắn sẽ đến với đôi sừng, đuôi, “tay cầm chỉa ba sáng giới” và thân mình phủ đầy lửa địa ngục.
Nhưng Kinh Thánh cho thấy điều hoàn toàn khác hẳn: “Chính Sa-tan cũng giả làm thiên sứ sáng láng.” (2 Cô-rinh-tô 11:14)
Điều đó có nghĩa là: Nếu Sa-tan đứng trên bục giảng, hắn sẽ không xuất hiện như ma quỷ. Hắn sẽ xuất hiện như một mục sư, một linh mục, một nhà giảng thuyết hùng hồn….. rất dễ mến, rất bắt mắt, rất hấp dẫn… :
1. SA-TAN SẼ KHÔNG CHỐI BỎ KINH THÁNH
Hắn sẽ cầm Kinh Thánh. Hắn sẽ trích Kinh Thánh. Thậm chí hắn có thể thuộc lòng Kinh Thánh.
Đừng quên: Khi cám dỗ Chúa Giê-xu trong đồng vắng, Sa-tan đã trích Kinh Thánh. Nhưng hắn trích sai mục đích.
2. HẮN SẼ KHÔNG NÓI VỀ TỘI LỖI
Bài giảng của hắn sẽ rất dễ nghe. Hắn sẽ nói về: Chữa lành tổn thương, khám phá tiềm năng, sống tích cực hơn, vượt qua khó khăn.
Những điều đó nghe rất hay. Nhưng có một điều bị tránh né: Tội lỗi của con người trước Đức Chúa Trời.
3. HẮN SẼ GIỮ LẠI CHÚA GIÊSU — NHƯNG KHÔNG PHẢI THẬP GIÁ.
Sa-tan không cần loại bỏ tên Chúa Giêsu. Hắn chỉ cần dời trọng tâm. Chúa Giêsu sẽ được nói đến như: Người thầy đạo đức, tấm gương yêu thương, nguồn cảm hứng cho cuộc sống.
Nhưng điều bị làm mờ đi là: Chúa Giêsu chết vì tội lỗi của chúng ta.
4. HẮN SẼ BIẾN BỤC GIẢNG THÀNH SÂN KHẤU ĐỘNG LỰC.
Bài giảng sẽ đầy: Câu chuyện cảm động, đầy tiếng cười, động lực... Người nghe ra về sẽ nói: “Bài giảng hôm nay thật tuyệt!”. Nhưng rất ít người quỳ xuống ăn năn.
5. HẮN SẼ KHUYẾN KHÍCH SỰ SUY NIỆM CẢM XÚC.
Mạng xã hội sẽ đầy những bài viết như: Trích một câu Kinh Thánh. thêm một câu chuyện cảm động, rút ra một “bài học cuộc sống”. Và thế là Kinh Thánh bị biến thành: Nguồn câu nói truyền cảm hứng.
6. VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI VẪN VỖ TAY NGHE.
Kinh Thánh đã nói trước điều này: “Vì sẽ có thời, người ta không chịu nghe đạo lành; nhưng theo dục vọng mình, mà tìm cho mình nhiều thầy.”(2 Ti-mô-thê 4:3)
Con người thích nghe: Điều dễ chịu, điều khích lệ, điều không đụng chạm tội lỗi.
Vì vậy, một bục giảng như vậy rất dễ thu hút đám đông.
7. DẤU HIỆU QUAN TRỌNG NHẤT
Vậy, bạn muốn biết một bục giảng đến từ Đức Chúa Trời hay không, hãy hỏi một câu đơn giản: Thập tự giá có ở trung tâm không?
Phao-lô nói: “Chúng tôi giảng Đấng Kytô bị đóng đinh.” (1 Cô-rinh-tô 1:23)
Nếu thập tự giá biến mất khỏi bục giảng, thì dù nhà thờ có đông đến đâu, điều còn lại chỉ là một tôn giáo cảm xúc, được trang trí bằng Kinh Thánh.
8. CẦN PHẢI CẢNH TỈNH:
Sa-tan không cần phá hủy Hội Thánh từ bên ngoài, nó chỉ cần đổi sứ điệp trên bục giảng, Hội Thánh sẽ tự mất đi sức sống của Phúc Âm.
Vì vậy, câu hỏi thật sự không phải là: “Nhà thờ có đông người không?” Mà câu hỏi cần đặt ra là: Thập giá của Chúa Giêsu có còn được rao giảng hay khôn ?
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 537
Bạn thân mến,
Làm ơn bỏ đi những hiểu lầm về “Ơn Gọi Kitô Giáo”.
Cứ mỗi năm một lần, vào Chúa Nhật IV Phục Sinh, mà dân gian thường quen gọi là Chúa Nhật “Chúa Chiên Lành”, Giáo Hội dành riêng một ngày để cầu nguyện cho ơn gọi.
Và đây là điều hầu như tất cả chúng ta đều đã nghe từ nhỏ:
"Hôm nay là ngày cầu nguyện cho ơn gọi linh mục và tu sĩ."
Thậm chí cho đến hôm nay, vẫn còn rất nhiều người nói và hiểu theo hướng đó.
Phải chăng chúng ta có đang vô tình thu hẹp chữ “ơn gọi” trong Kitô giáo ?
Vì nếu chỉ có linh mục và tu sĩ mới có "ơn gọi", thì hàng triệu triệu người Kitô hữu đang sống trong hôn nhân, hoặc đang sống độc thân, họ không có “ơn gọi” à?!
Họ đang làm gì thế, họ chỉ là "người bình thường," không được Chúa gọi sao?
Đó là hiểu lầm, mà chúng ta cần cùng nhau nhìn lại.
Ơn gọi là gì theo nghĩa đầy đủ của nó?
Chữ "ơn gọi" trong tiếng Latin là vocatio, nghĩa là "tiếng gọi."
Câu hỏi đầu tiên không phải là "Tôi được gọi vào ơn gọi nào?" mà là: "Ai đang gọi?"
Câu trả lời của Kinh Thánh rất rõ ràng: Chính Thiên Chúa là Đấng gọi, và Ngài gọi tất cả mọi người.
Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô (1 Cr 1,9), thánh Phaolô viết:
"Thiên Chúa là Đấng trung tín, Đấng đã gọi anh em vào sự hiệp thông với Con của Người.".
Ngài không viết thêm điều kiện nào ở đây, không có dấu ngoặc đơn kiểu như (ngoại trừ những người kết hôn) hay (chỉ áp dụng cho người có ý định đi tu).
Thiên Chúa gọi tất cả mọi người vào một mối tương quan mật thiết với Ngài.
Đây là ơn gọi nền tảng, ơn gọi căn bản nhất: Ơn gọi nên thánh, nên một với Chúa, nên ngày càng giống như Người.
Công đồng Vatican II, đặc biệt trong Hiến chế Lumen Gentium, đã khẳng định điều này một cách long trọng:
Tất cả mọi người đã lãnh Bí tích Rửa tội đều được mời gọi nên thánh, dù ở bậc sống nào”.
Đó là điểm xuất phát. Không phải tu viện hay chủng viện, mới là nơi của ơn gọi. Mà ơn gọi bắt đầu từ giếng “Rửa tội”.
Bốn "ơn gọi", bốn con đường, một đích đến:
Sau ơn gọi nền tảng đó, Thiên Chúa gọi mỗi người đi theo một con đường cụ thể, để sống ơn gọi nền tảng ấy.
Giáo Hội nhìn nhận bốn bậc sống chính:
1. Ơn gọi đời sống hôn nhân:
Đây là ơn gọi của đại đa số Kitô hữu.
Hôn nhân không phải là "lựa chọn mặc định" của những người không đủ thánh thiện để đi tu.
Hôn nhân là một bí tích, một dấu hiệu hữu hình của tình yêu vô hình của Thiên Chúa. Vợ chồng được mời gọi trở thành hình ảnh của tình yêu Chúa Kitô dành cho Hội Thánh. Gia đình là "Hội Thánh tại gia." Đó là một ơn gọi không đơn giản, vô cùng cao quý và thánh thiêng không kém bất kỳ ơn gọi nào khác.
2. Ơn gọi linh mục và phó tế:
Người được gọi vào chức thánh phục vụ cộng đoàn Dân Chúa qua các Bí tích, lời rao giảng và sự hướng dẫn thiêng liêng. Đây là ơn gọi phục vụ, không phải ơn gọi đặc quyền đặc lợi. Với tư cách là một người mang chức thánh, tôi xin khẳng định lại một lần nữa: “Chức thánh” không là gì cả, chỉ là để người có chức thánh tự nhắc nhở chính mình sống tốt hơn để phụng sự Chúa và phục vụ cộng đoàn dân Chúa mà thôi.
3. Ơn gọi đời sống thánh hiến: Tu sĩ, đan sĩ,
Những người khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm: khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục, là những dấu chỉ mang tính ngôn sứ về Nước Thiên Chúa, về cuộc sống mai sau khi "họ không cưới vợ lấy chồng nữa." Họ sống cho điều đã đến và chưa đến.
Cũng vậy, “khấn trọn” hay “khấn trọng” không là gì cả, chỉ là lời tuyên xưng và nhắc nhớ cho người tu sĩ đã thuộc trọn về Chúa mà thôi.
4. Ơn gọi sống độc thân giữa đời:
Nhiều người sống độc thân giữa đời, có thể vì những lý do cá nhân, nhưng đa số không phải vì họ không tìm được bạn đời và sống đời hôn nhân, mà vì đó là cách họ hiến thân trọn vẹn hơn cho sứ mạng tông đồ giữa đời thường, trong các hiệp hội, phong trào, cộng đoàn, công tác bác ái xã hội.
Có bốn con đường như vậy đó, nhưng thực ra chỉ có một đích đến, đó là sự thánh thiện, sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa. Không có con đường nào hay hơn con đường nào, không có ơn gọi nào cao hơn ơn gọi nào. Đơn giản đó chỉ là những con đường mà mỗi người được Thiên Chúa mời gọi họ sống theo con đường nào mà họ hạnh phúc, triển nở nhất mà thôi.
Tại sao sự hiểu lầm ấy lại dẫn đến hậu quả tai hại?
Bây giờ, ta hãy trở lại với vấn đề chính:
Tại sao việc thu hẹp “ơn gọi” chỉ còn là "ơn gọi đi tu” lại là một điều đáng lo ngại?
1. Thứ nhất, nó tạo ra một "Kitô giáo hai giai cấp"
Giai cấp trên là giáo sĩ, tu sĩ, những người được nhiều người coi là có "ơn gọi thực sự".
Giai cấp dưới là giáo dân, những người chỉ biết "giữ đạo," đến nhà thờ ngày Chúa Nhật, đóng tiền giáo xứ, và được dạy ăn ngay ở lành.
Hậu quả là gì?
Hàng triệu Kitô hữu sống, mà không có ý thức về sứ mạng của mình.
Họ không nhận ra rằng chính họ, những người bác sĩ đang chữa bệnh cho người nghèo, các bậc cha mẹ đang nuôi dạy con cái trong đức tin, những thầy cô giáo đang gieo mầm chân lý, những anh kỹ sư đang xây dựng cầu đường cho những vùng hẻo lánh, đang sống ơn gọi Kitô hữu của mình một cách cụ thể và đáng trân quý vô cùng.
2. Thứ hai, nó gây ra khủng hoảng căn tính cho người giáo dân.
Khi một người đã suy nghĩ về đời tu nhưng nhận ra đó không phải là con đường của mình, họ thường cảm thấy như đã "thất bại" trước ơn gọi, người đời thường nói họ không còn ơn gọi nữa.
Thực ra, nghĩ và nói như vậy là sai bét!
Họ chỉ chuyển hướng và tìm ra được ơn gọi thực sự của mình mà thôi.
Ơn gọi hôn nhân có gì là sai nào, đó là một ơn gọi đẹp đẽ và thiêng liêng không kém ơn gọi tu trì.
Có những chuyện đau lòng của những người “tu xuất”, mà tôi không tiện trưng dẫn ở đây.
Đơn giản là họ không cảm thấy hạnh phúc và phù hợp trong đời tu nữa, thì họ quyết định “ra” thôi.
Nhưng khi trở về với làng quê, hàng xóm, về với đời thường, họ bị chê bai, dè bỉu, thậm chí bị tẩy chay, loại trừ, vì trong mắt gia đình, họ hàng và bè bạn, họ chỉ là những kẻ thất bại.
3. Thứ ba, nó làm nghèo đi sứ mạng của Hội Thánh.
Nếu chỉ linh mục và tu sĩ mới được xem là người có sứ mạng, thì Hội Thánh sẽ thu mình lại trong bốn bức tường nhà thờ hay tu viện mà thôi.
Nhưng Chúa Giêsu đã nói: "Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em" (Ga 20,21).
Chúa không chỉ sai các tông đồ khi xưa, mà sai toàn thể dân Chúa, những người tin theo Người, đi vào giữa thế gian và sống chứng tá giữa đời.
Một điểm cũng đáng lưu ý ở đây là, các tông đồ thuộc nhóm Mười Hai có ai đi tu đâu, hầu hết tất cả đều có vợ con. Kỷ luật độc thân linh mục chỉ được áp dụng bắt buộc sau này, từ thế kỉ XI-XII thôi.
“Mục tử tốt” và bản chất của tiếng gọi
Chúa Giêsu nói: "Chiên Ta thì nghe tiếng Ta" (Ga 10,27).
Tiếng gọi của Chủ Chiên không chỉ vang lên trong phòng cầu nguyện của chủng viện hay tu viện, mà tiếng ấy vang lên khắp nơi trong thinh lặng của mỗi tâm hồn.
Tiếng ấy vang lên khi một người trẻ băn khoăn chọn người yêu hoặc bạn đời, hoặc trong lúc họ chọn nghề và phân định xem nghề nào cho phép họ phục vụ xã hội cách tốt nhất.
Tiếng ấy cũng vang lên trong tâm hồn những người cao tuổi đang suy nghĩ về cái chết:
Tôi muốn được gia đình và người đời nhớ đến như một người như thế nào?
Mỗi khoảnh khắc ấy là khoảnh khắc của tiếng gọi. Người mục tử tốt biết từng con chiên một. Ngài không có một kế hoạch chung chung, đồng loạt cho tất cả. Ngài biết bạn. Ngài gọi đích danh bạn. Và tiếng gọi ấy phù hợp với bạn, với bản chất, tài năng, hoàn cảnh và con tim của bạn.
Làm thế nào để nhận ra ơn gọi của mình?
Ba bước thực tế:
Bước một: Đặt lại câu hỏi nền tảng.
Thay vì hỏi "Tôi có ơn gọi đi tu không?", hãy hỏi: "Với những gì tôi đang là và đang có, Thiên Chúa đang mời gọi tôi nên thánh như thế nào?" Đây là câu hỏi mà mọi Kitô hữu cần đặt ra mỗi ngày, dù đã là linh mục hay chưa lập gia đình hoặc đã có con cháu.
Bước hai: Nhận diện những "dấu hiệu", mà Chúa dùng để gọi.
Theo truyền thống thiêng liêng Kitô giáo, ơn gọi thường được nhận ra qua ba "con đường hội tụ":
1. Tiếng lòng: điều gì làm bạn sống tự do hạnh phúc nhất, làm bạn cảm thấy đang là chính mình nhất?;
2. Tài năng: Chúa không gọi ai đó làm những điều mà họ không có khả năng.;
3. Nhu cầu của thế giới: ơn gọi không chỉ của riêng tôi, chỉ cho tôi, mà về điều thế giới đang cần ở nơi tôi.
Bước ba: Thực hành biện phân trong cộng đoàn.
Ơn gọi không được nhận ra trong cầu nguyện một mình và cô tịch tuyệt đối. Chúng ta cần những người đồng hành thiêng liêng (linh mục, tu sĩ, hoặc giáo dân là những nhà linh hướng), những người bạn trung thực, đáng tin cậy, những cộng đoàn đức tin. Hội Thánh không chỉ là nơi nhận các Bí tích, mà Hội Thánh còn là cộng đoàn biện phân ơn gọi.
Kết: Mọi người đều được gọi, không ai bị bỏ quên.
Chúa nhật IV Phục sinh hôm nay, Hội Thánh cầu nguyện cho ơn gọi. Chúng ta hãy cầu nguyện cho tất cả mọi ơn gọi:
- Cho những người trẻ đang tìm kiếm con đường, xin Chúa Chiên Lành dẫn dắt họ; - Cho các linh mục và tu sĩ, xin cho họ sống ơn gọi với trọn vẹn trái tim;
- Cho các đôi vợ chồng, xin cho hôn nhân của họ là bí tích thực sự, là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa giữa muôn người;
- Cho những người đang sống trong nghi ngờ hoặc khủng hoảng về ơn gọi, xin cho họ nghe được tiếng Chúa, can đảm lựa chọn và dấn thân. Chúng ta cũng cầu nguyện cho chính mình, xin cho chúng ta luôn nhớ rằng: không ai trong Hội Thánh là người "không có ơn gọi."
Tất cả đều được Chúa gọi. Tất cả đều được yêu thương. Tất cả đều có một chỗ đứng trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Đấng là “Mục tử đúng nghĩa”, luôn biết chiên của mình và không bỏ sót một ai.
Lm. Vui Chứng Nhân.
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 538
Bạn thân mến,
1. Bị người hiểu lầm mà không phân trần, là rộng lượng. Sự việc thật giả, thời gian sẽ cho câu trả lời tốt nhất.
2. Bị người gây tổn thương mà không oán trách là lương thiện. Tình đời nóng lạnh, thời gian sẽ chứng minh tất cả.
3. Bị người vu khống mà không buồn giận, là có tu dưỡng. Phẩm chất tốt xấu, thời gian sẽ soi sáng tỏ tường.
4. Ở đời nhiều khi hơn nhau không phải bạn nhìn thấu bao nhiêu chuyện, mà quan trọng ở chỗ biết xem nhẹ những việc gì.
5. Tấm lòng rộng hay hẹp không phụ thuộc việc bạn quen biết nhiều người hay ít, mà có thể bao dung được những ai.
6, Người chấp nhận thiệt thòi sẽ không bao giờ bị thua thiệt, sớm muộn gì cũng sẽ có sự bù đắp xứng đáng.
7. Người nhường nhịn không hề mất đi tất cả. Ngoài sự tự tôn, thì trước mắt bạn sẽ giữ được lòng người.
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 539
Bạn thân mến,
Trong những hành lang dài hun hút của bệnh viện, nơi mùi thuốc khử trùng quyện lẫn với những tiếng thở dài và nhịp đập hối hả của sự sinh tồn, có một thực tại mà không ai có thể trốn chạy: Đó là nỗi đau.
Cơn đau không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt địa vị xã hội, và dường như nó cũng chẳng thiên vị một ai dựa trên hệ tư tưởng.
Thế nhưng, đằng sau những vách ngăn trắng toát của căn phòng bệnh, khi hai con người cùng đối diện với một loại bệnh tật, cùng chịu đựng những giày xéo thân xác như nhau, ta lại thấy hiện lên hai thế giới hoàn toàn khác biệt:
- Một bên là vực thẳm của sự tuyệt vọng, và một bên là đỉnh cao của sự bình an.
Câu chuyện về người đàn ông có Đạo và người bạn vô thần nằm cạnh nhau trên giường bệnh không chỉ là một bài học về thái độ sống, mà còn là một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn con người.
1. Hãy tưởng tượng về người đàn ông vô thần, người đã dành cả cuộc đời để tin vào những gì mắt thấy tai nghe, tin vào sức mạnh của lý trí và những quy luật vật chất khô khan.
Khi cơn bạo bệnh ập đến, thế giới quan của ông bỗng chốc sụp đổ:
Với ông, cơn đau là một kẻ thù tàn bạo, đang tước đoạt đi sự tự do, niềm vui và cả ý nghĩa cuộc sống.
Vì không tin vào một Đấng siêu việt, nên ông nhìn cơn đau như một sự bất công của định mệnh, một sự vô lý của tạo hóa.
Ngày qua ngày, ông nằm đó, quằn quại trong những cơn co thắt của thân xác, và mỗi cơn đau lại kéo theo một luồng tiêu cực tràn ngập tâm trí:
- Ông than thân trách phận.
- Ông cáu gắt với những người xung quanh, và trong sự bất lực cùng cực, ông buông lời nguyền rủa cuộc đời.
Đối với một tâm hồn vô thần, cái chết hay bệnh tật là một dấu chấm hết lạnh lẽo, là sự tan biến vào hư không, nên họ bám víu vào sự sống bằng một nỗi sợ hãi tột cùng.
2. Trái ngược hoàn toàn với khung cảnh u ám đó, ở chiếc giường bên cạnh, người đàn ông có Đạo lại tỏa ra một thứ ánh sáng lạ lùng.
Dù bệnh tình của ông thậm chí còn trầm trọng hơn, dù những cơn đau hành hạ thân xác ông một cách dữ dội hơn, nhưng người ta lại không hề nghe thấy một lời kêu ca hay oán thán.
Thay vào đó là một sự nhẫn nại phi thường và những nụ cười mãn nguyện, trìu mến nở trên môi, ngay cả khi mồ hôi vì đau đớn đang rịn ra trên trán.
Bí mật của ông không nằm ở thuốc giảm đau mạnh hơn, mà nằm ở một sức mạnh nội tâm được nuôi dưỡng bằng lời cầu nguyện.
Khi cơn đau lên đến đỉnh điểm, thay vì để tâm trí trôi dạt vào sự oán hận, ông lại thu mình vào trong sự thầm lặng thánh thiêng, để đàm đạo với Chúa. Ông biến cơn đau thành một lễ vật, biến giường bệnh thành một bàn thờ, và biến tiếng rên siết thành một lời kinh dâng hiến.
*****
Sự ngạc nhiên của người vô thần, khi chứng kiến thái độ đó là điều tất yếu.
Làm sao một con người bằng xương, bằng thịt, lại có thể mỉm cười trước sự giày xéo của bệnh tật?
Câu trả lời của người có Đạo đơn giản, nhưng lại chứa đựng tất cả chiều sâu của thần học về sự khổ đau.
Ông không coi bệnh tật là một tai nạn hay một hình phạt, mà coi đó là một "đặc ân" được thông phần vào mầu nhiệm Thập giá của Chúa Giêsu:
Ông tin rằng: Chúa luôn chăm sóc ông, từng giây, từng phút, đến mức ngay cả “một sợi tóc trên đầu cũng đã được đếm cả rồi”.
Niềm tin ấy mang lại một sự an ủi tuyệt đối: Tôi không cô đơn trong nỗi đau này, vì có một Đấng đã đau thay cho tôi, đã chết cho tôi và đang cùng đau với tôi.
Mỗi khi nhìn lên Chúa chịu treo trên Thánh giá, ông tìm thấy sức mạnh để vượt qua giới hạn của bản thân.
Nỗi đau của ông lúc này có một mục đích, có một giá trị cứu độ, chứ không phải là một sự lãng phí vô ích.
Hơn thế nữa, người có Đạo có một cái nhìn thấu suốt về quy luật Sinh - Lão - Bệnh - Tử.
Ông không chống lại quy luật tự nhiên, vì ông biết rằng cuộc đời này chỉ là một cuộc lữ hành, một giai đoạn quá độ để tiến về quê hương thực sự.
Việc chấp nhận quy luật này giúp tâm hồn ông thanh thản, bởi ông không còn bị trói buộc bởi nỗi sợ hãi của sự mất mát. Với ông, sống hay chết, không còn là vấn đề quan trọng nhất, mà quan trọng là "được ở bên Chúa".
Sống là sống trong Chúa, và chết là bước vào sự hiệp thông trọn vẹn với Người đời đời.
Chính niềm hy vọng vào sự phục sinh và sự sống vĩnh cửu đã biến cái chết từ một bóng ma đáng sợ, thành một người bạn đưa đường dẫn lối về nhà Cha.
Đây chính là điểm cốt lõi tạo nên sự khác biệt giữa hai tâm hồn: Một người coi bệnh tật là ngõ cụt, người kia coi đó là một cánh cửa.
Cuộc đối thoại giữa hai người bệnh đã mở ra một hành trình mới cho người vô thần:
Sự tò mò ban đầu đã chuyển hóa thành niềm khát khao tìm hiểu về một Đấng có thể làm cho con người trở nên kiên cường và bình an đến thế.
Họ bắt đầu đàm đạo. Không phải về những lý thuyết xa xôi, mà về những trải nghiệm sống động của đức tin giữa lòng nỗi đau.
Người vô thần bắt đầu nhận ra rằng:
- Lý trí và khoa học có thể giúp giải thích nguyên nhân của bệnh tật.
- Nhưng chỉ có niềm tin mới có thể mang lại ý nghĩa cho sự chịu đựng.
Ông bắt đầu nhìn thấy một chân trời mới, nơi mà sự hiện diện của Thiên Chúa không phải là một giáo điều cứng nhắc, mà là một thực tại sống động có khả năng biến đổi tâm hồn từ bi quan sang lạc quan, từ nguyền rủa sang cảm tạ.
Sự khác biệt giữa người có Đạo và người vô thần trong hoàn cảnh này chính là sự hiện diện của "Hy Vọng":
- Đối với người vô thần, hy vọng chỉ là sự mong chờ vào một phép màu y học hay một sự may rủi. Khi những điều đó không xảy đến, họ rơi vào tuyệt vọng.
- Còn đối với người có Đạo, Hy Vọng là một Ngôi Vị – là Đức Ki-tô. Niềm hy vọng này không lệ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài, nó bám rễ sâu trong trái tim và nảy nở ngay cả trong những điều kiện khắc nghiệt nhất.
Sự lạc quan của người có Chúa, không phải là sự lạc quan tếu táo hay tự huyễn hoặc mình, mà là một sự vững vàng dựa trên lời hứa của Đấng không bao giờ thay đổi.
Họ biết rằng, sau mỗi mùa đông giá rét của đau khổ, sẽ là mùa xuân ấm áp của phục sinh.
Cuối cùng, cuộc đời mỗi người là một bài giảng không lời:
Người đàn ông có Đạo trong câu chuyện trên đã truyền giáo không phải bằng những lời hay ý đẹp, mà bằng chính thái độ sống của mình trước đau khổ.
Đứng trước một căn bệnh như nhau, đau đớn như nhau, nhưng tâm hồn của người có Chúa sẽ tìm thấy ánh sáng.
Còn tâm hồn không có Chúa sẽ chìm trong bóng tối.
Đó chính là ranh giới vô hình, nhưng vô cùng rõ rệt, giữa việc có một điểm tựa siêu việt và việc phải tự mình gánh vác tất cả gánh nặng của nhân gian.
Khi có Chúa, cơn đau trở thành một nấc thang đưa ta lên cao hơn;
khi không có Người, nó trở thành một tảng đá đè bẹp ta xuống đất đen.
Sống ở đời, ai rồi cũng sẽ có lúc phải nằm trên chiếc giường bệnh của riêng mình, dù đó là bệnh tật thể xác hay những nỗi đau tinh thần.
Khi ấy, điều gì sẽ giúp chúng ta đứng vững? Tiền bạc, địa vị hay những triết lý vô thần liệu có thể mang lại sự bình an đích thực khi đối diện với cái chết?
Câu chuyện về hai người đàn ông là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng, nhưng sâu sắc rằng:
Có Đạo hay không có Đạo không chỉ là việc có tên trong sổ rửa tội hay không, mà là việc tâm hồn có thực sự để Chúa làm chủ hay không.
Chỉ khi có Chúa, chúng ta mới có thể biến những giọt nước mắt thành những hạt ngọc đức tin, và biến những ngày tháng cuối đời thành một khúc ca tri ân đầy hy vọng.
Sự khác biệt ấy chính là gia sản quý giá nhất, mà một người có Đạo sở hữu, một kho tàng mà thế gian không thể ban tặng và cũng không thể lấy đi.
Lm. Anmai, CSsR
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 540
Bạn thân mến,
Chúa dạy trong kinh thánh:
“Anh em mà không công chính hơn các kinh sư và Pharisêu siêu thì anh em không được vào nước trời đâu “ ( Mt 5 , 20)
“Công chính hơn các kinh sư và Pharisêu” Phải hiều thế nào ?
Bạn phải hiểu rằng: Sự công chính mà Chúa Giêsu đòi hỏi vượt xa sự tuân thủ luật lệ hình thức của các kinh sư và người Pharisêu. Họ tập trung vào việc tuân thủ luật lệ một cách tỉ mỉ bên ngoài, nhưng thường bỏ qua ý nghĩa sâu xa tinh thần của luật.
Chúa Giêsu kêu gọi một sự công chính từ trong tâm, một sự thay đổi thực sự trong trái tim và tâm trí.
Điều này bao gồm tình yêu thương, lòng thương xót, sự khiêm nhường và sự tha thứ.
Ngài muốn bạn không chỉ tránh những hành động sai trái bên ngoài, mà còn loại bỏ những suy nghĩ và ý định xấu xa trong lòng.
Ví dụ: Chúa Giêsu nói rằng. không chỉ giết người là sai, mà ngay cả việc giận dữ với anh em mình cũng là một tội lỗi.
Ngài nâng cao tiêu chuẩn đạo đức lên một tầm cao mới, đòi hỏi bạn phải có một sự thay đổi sâu sắc trong con người.
Nếu bạn chỉ tuân thủ luật lệ một cách hình thức, mà không có tình yêu thương và lòng thương xót, thì bạn không thể vào Nước Trời. Bởi Nước Trời là nơi dành cho những người có trái tim trong sạch: Yêu mến Thiên Chúa và tha nhân.
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 541
Bạn thân mến,
Nhiều gia đình Công giáo: Trên thờ Chúa, dưới thờ ông địa, thần tài. Đây là một thực trạng đau lòng và đầy nguy cơ đánh mất linh hồn.
Thêm phong trào phong thuỷ, xin vía, cầu may biến tướng trá hình đủ thể loại.
Đây là một tội trọng lớn nhất trong bậc thang 10 Điều Răn Đức Chúa Trời: Thờ kính Chúa trên hết mọi sự.
Ai đang mơ hồ đức tin như vậy, xin chân thành khuyên: Hãy dũng cảm trở về chính đạo, kẻo không sẽ mất tất cả: mất niềm tin, mất bình an, mất linh hồn và không làm gì thành công được (bởi bất trung thì không gì thành).
Ai cảm thấy thần tài hay vía cơ duyên linh hơn Chúa, thì cứ gỡ bàn thờ đem lại nhà thờ cho cha xứ, để khỏi xúc phạm Thiên Chúa trong đám ô hợp đó.
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 542
Bạn thân mến,
1. Đạo nào cũng là đạo
Đạo nào cũng là đạo thì cần gì phải phân biệt Tin Lành, Công Giáo, Hồi Giáo, Phật Giáo…? Tốn công chi soạn giáo huấn, giáo luật, nghi lễ, nghiên cứu thần học, truy tầm chân lý!
Nhà nước cứ gọi chung hết là Đạo, cấp phép chung một thể, làm chi tốn công nghiên cứu, tốn người phụ tránh, tốn thủ tục giấy tờ quản lý!
Đạo nào cũng là đạo thì mấy ông làm biếng học hỏi đạo, tham dự phụng tự, tối ngày say sỉn thành… giáo chủ hết.
2. Đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành
Ăn ngay ở lành là gì?
Là tôi làm tôi ăn, không hại ai, không phiền ai, không bon chen đua tranh…! Ăn ngay ở lành như thế thì con trâu con bò sống chuẩn hơn con người! Mắc chi lập đạo cho hao tâm tổn sức!
Đạo hướng con người lên cõi thần linh, đưa con người thoát ra khỏi cái tầm thường của kiếp người, để sống thánh thiện, cao thượng, hiến dâng, trao ban… Đạo mà chỉ lo ăn ngay ở lành thì chỉ ngang với đạo tỳ, đạo tặc…
3. Giữ đạo tại tâm
Đạo tại tâm là đạo thế nào? Có phải tôi thờ Chúa tại tâm, Tâm tôi có Chúa là được…!
Tôi kêu mấy người “Đạo tại tâm” thử “Ăn tại tâm”: Mình có lòng ăn là được, nấu nướng chi cho mất công!
“Nhậu tại tâm”: Có tâm tình ăn nhậu là được, cần chi rượu bia, mồi màng cho tốn kém!
“Yêu tại tâm”: Khỏi phải săn đón nhau, đưa nhau đi chơi chi cho tốn kém thời gian… Chả ai chịu làm gì “Tại Tâm”, ngoài giữ “Đạo Tại Tâm”! Khôn hết cả thiên hạ.
4. Chúa ở khắp mọi nơi, đâu nhất thiết phải vô nhà thờ.
Ông nào nói câu này kêu ra giữa lộ đứng đọc kinh, hay bơi ra giữa sông sâu thờ Chúa để chứng minh Chúa khắp mọi nơi cho người khác tin!
Giống như anh làm nhà, cái nhà để ở, thì ở chỗ nào không được, sao phải ngăn phòng và đặt ra các chức năng phòng!
Thử vô nhà vệ sinh ngồi ăn cơm, hay đem khách vào phòng ngủ tiếp xem!
Những câu nói ba phải của những người không hiểu biết về đạo, hay muốn tỏ ra mình tốt lành, dù chẳng biết gì về đạo, hay bản thân biếng nhác không thực hành đạo muốn biện minh cho mình…
Là người Công giáo thờ Chúa với Lời Chúa, phụng vụ, giáo huấn, nguyên tắc và luật lệ rõ ràng, chúng ta không nên nói hay hùa theo những câu nói ba phải, buâng quơ, mơ hồ trên.
Quen miệng thành thật, tưởng là hay và chân lý rồi rao giảng tùm lum.
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 543
Bạn thân mến,
Trong đời sống thường ngày, chúng ta thường nghe câu: “Đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành.”
Câu nói này nghe rất quen thuộc và chứa một thiện chí đáng quý: Mong con người sống hòa thuận, yêu thương và tôn trọng nhau.
Tuy nhiên, nếu hiểu không đầy đủ, người ta có thể đi đến kết luận rằng mọi tôn giáo hoàn toàn giống nhau.
Vì thế, cần hiểu câu nói này cho đúng và cân bằng hơn.
1. Điều đúng trong câu nói ấy.
Trước hết, phải nhìn nhận rằng, nhiều tôn giáo đều dạy con người sống tốt: Làm lành tránh dữ, yêu thương, sống công bằng,biết tha thứ, giúp đỡ người khác. Đó là điều tích cực và đáng trân trọng.
Người Công giáo cũng tin rằng nơi các tôn giáo khác vẫn có những giá trị tốt đẹp và những tia sáng của chân lý. Vì vậy, người có đức tin không được khinh thường hay chế giễu niềm tin của người khác.
Đây cũng là tinh thần tôn trọng và đối thoại, mà Giáo Hội luôn cổ võ.
2. Nhưng đạo không chỉ là “sống tốt”.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở câu: “Đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành” thì vẫn chưa đủ. Bởi vì: “ăn ngay ở lành” thuộc về đời sống đạo đức, còn tôn giáo không chỉ là đạo đức sống.
Nếu đạo chỉ còn là “sống tốt”, thì tôn giáo sẽ giống như một bộ quy tắc luân lý mà thôi.
Theo niềm tin Công giáo, đức tin còn là:
Mối tương quan với Thiên Chúa, việc con người tìm kiếm chân lý, và niềm tin vào Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ.
Nói cách khác: Sống tốt là điều cần, nhưng chưa phải là toàn bộ chiều sâu của đức tin.
3. Đối thoại liên tôn không có nghĩa là “mọi đạo đều giống nhau”
Ngày nay, Giáo Hội rất nhấn mạnh đến tinh thần đối thoại liên tôn.
Tuy nhiên, nhiều người lại hiểu rằng:
“Đã đối thoại thì phải xem mọi tôn giáo đều giống nhau.”
Đó không phải là tinh thần đối thoại liên tôn của Công giáo.
Đối thoại liên tôn không có nghĩa là: Xóa bỏ khác biệt, hay cho rằng mọi niềm tin đều như nhau.
Nếu như vậy thì chân lý sẽ trở nên tương đối và đức tin sẽ mất căn tính.
Theo tinh thần Công giáo: Người Kitô hữu được mời gọi biết lắng nghe, biết tôn trọng niềm tin của người khác, biết nhìn nhận những điều tốt đẹp nơi các tôn giáo khác, nhưng đồng thời vẫn giữ niềm tin rằng:
Đức Kitô là sự viên mãn của chân lý và ơn cứu độ.
Nói cách đơn giản: Tôn trọng người khác không có nghĩa là từ bỏ điều mình tin là đúng.
4. Điều đẹp nhất của đối thoại liên tôn.
Điều đẹp nhất trong đối thoại liên tôn không phải là làm cho mọi người “giống nhau”, nhưng là: Biết sống hòa bình, biết tôn trọng nhau, cùng nhau bảo vệ phẩm giá con người, và cùng hướng tới điều thiện hảo.
Một người có đức tin trưởng thành: Không cực đoan, không khinh thường niềm tin của người khác, nhưng cũng không đánh mất căn tính đức tin của mình.
Bởi vì: Yêu thương và tôn trọng người khác không có nghĩa là từ bỏ chân lý mình tin nhận.
5. Điều quan trọng nhất.
Cuối cùng, câu: “Đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành” nếu hiểu đúng thì sẽ giúp con người: Sống bao dung hơn, biết tôn trọng nhau hơn, và tránh thái độ khép kín cực đoan.
Nhưng nếu hiểu sai, người ta có thể đi đến suy nghĩ: “Tin gì cũng được.”
Theo quan điểm Công giáo: Sống tốt là điều rất cần, nhưng đức tin không chỉ dừng ở việc “sống tốt”, mà còn là
sống trong tương quan với Thiên Chúa và bước theo Đức Kitô.
Vì thế, đối thoại trong yêu thương, nhưng vẫn trung thành với đức tin của mình, đó mới là tinh thần đúng đắn của người Kitô hữu.
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 544
Bạn thân mến,
1. CHỦNG VIỆN
Chủng viện (tiếng Latinh: seminarium, có nghĩa là vườn ươm): là nơi đào tạo các linh mục tương lai. Các chủng sinh, sau khi hoàn tất chương trình Triết học và Thần học, sẽ được lãnh tác vụ/thiên chức linh mục, họ mang sứ mệnh trông coi các xứ đạo và thuộc quyền một Giám mục của giáo phận sở tại. Các linh mục này được gọi là linh mục triều (secular priest).
2. TU VIỆN
Trong Giáo hội Công giáo, có hai loại hình tu trì sống theo cộng đoàn: tu hoạt động và tu chiêm niệm. Theo cách gọi thông thường, tu viện là nơi ở dành cho những ai tu theo lối hoạt động (active), họ được gọi là tu sĩ và thường làm các công việc ngoài khuôn viên tu viện.
3. ĐAN VIỆN
Đan viện là nơi ở dành cho những ai tu theo lối chiêm niệm (contemplative). Họ được gọi là đan sĩ (dù là linh mục hay không linh mục). Họ sinh hoạt chủ yếu trong đan viện của mình với tinh thần “Ora et Labora” (cầu nguyện và lao động). Mỗi ngày các đan sĩ dành phần lớn thời gian đọc kinh chung và cầu nguyện theo phương pháp đặc thù.
4. LINH MỤC TRIỀU VÀ LINH MỤC DÒNG
Phân biệt linh mục triều và linh mục dòng:
“Triều” và “Dòng” là những từ ngữ khác nhau được dùng để chỉ về hai lối sống khác nhau trong cộng đồng Giáo Hội.
- Linh mục triều (secular priests), phục vụ trong các giáo xứ, ở giữa dân chúng hay “giữa thế gian” (theo tiếng Latin, thế giới là “saeculum”), còn được gọi là các linh mục giáo phận (diocesan priests), “nhập tịch” vào Giáo phận, trực thuộc Giáo phận, trực tiếp dưới quyền Giám mục Giáo phận, vâng lời và thi hành chức vụ linh mục, đảm nhận những công tác do Giám mục chỉ định. Thông thường, các linh mục triều hoạt động trong địa hạt Giáo phận của mình.
- Linh mục dòng hội nhập vào các dòng tu, là tu sĩ, phần tử của các dòng tu, tuyên giữ lời khấn dòng (khiết tịnh, khó nghèo, và vâng lời bề trên), trực tiếp vâng lời bề trên dòng, trong mọi sự việc và đảm nhận những công tác do bề trên chỉ định.
Các công việc của các linh mục dòng tùy thuộc đoàn sủng mỗi dòng. Họ có thể thi hành những việc về phụng vụ, quản trị, mục vụ, truyền giáo, giáo dục, xã hội, y tế, nghệ thuật, truyền thông, lao động…
Các linh mục dòng có thể được gửi đi hoạt động bất cứ nơi nào nhà dòng được phép hoạt động, cũng được bề trên gửi đến các Giáo phận để phục vụ như các linh mục triều và trong khi phục vụ, khó phân biệt họ với linh mục triều.
- Ngoài ra, trong thực tế, ta còn thấy sau chữ ký hay danh xưng của các linh mục dòng, còn có thói quen viết thêm chữ tắt tên của dòng mình như:
S.J. (Societas Jesus – Dòng Tên),
O.P. (Ordo Predicatorum – Dòng Đa Minh),
O.F.M. (Ordo Fratrum Minorum – Dòng Thánh Phanxicô),
CSsR (Congregatio Sanctissimi Redemptoris – Dòng Chúa Cứu Thế),
Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc (Congregatio Redemptoris Matris - CRM).
M.S. (Missionarus Salettensis – Dòng LaSalette),
C.F.C.(Congregatio Fratrum Christianorum – Dòng Sư Huynh Lasan),
O.H. (Ordo Hospitalis – Dòng Bệnh Viện – Gioan Thiên Chúa),
S.D.B. (Società Salesiana di San Giovanni Bosco – Dòng Salesian Don Bosco),
O.S.B (Ordo Sancti Benedicti – Dòng Biển Đức),
S.V.D. (Societas Verbi Divini – Dòng Ngôi Lời), v.v..
Têrêsa Ngọc Nga (st)
---------------------------------
Chuyện Đời Đạo - Sách 25- Bài 545
Bạn thân mến.
Chuyện xảy ra tại một xứ đạo vùng quê nước Ý và do chính Cha Sở tại đây kể lại:
(http://tonggiaophanhue.net/home/index.php?option=com_content&view=article&id=12407:hai-cau-chuyn-v-long-thng-xot-ca-thanh-tam-chua-giesu-&catid=56:chua-giesu&Itemid=81)
Buổi sáng tinh sương một ngày Thứ Sáu Đầu Tháng, tôi giật mình thức giấc vì tiếng ồn ào cãi cọ, vọng sang nhà xứ. Tôi ra ban công xem chuyện gì đang xảy ra.
Đó là ngôi nhà ông Mario. Mọi người trong gia đình đang túm nhau lại, hết lời nhiếc mắng, chửi rủa ông.
Lý do là đang mùa gặt mà ông Mario thức dậy thật sớm để đi lễ và rước lễ vào ngày Thứ Sáu Đầu Tháng! Trong khi đó, ông lại bỏ mặc bao công việc bề bộn ngoài đồng cho mọi người.
Vào thời kỳ ấy, chưa có Thánh Lễ cử hành vào ban chiều. Và việc giữ chay rước lễ rất nhiệm nhặt: Bắt đầu từ nửa đêm cho đến khi chịu lễ, là không được ăn hay uống bất cứ thức gì!
Bình thường, ông Mario rất nóng tính. Nhưng hôm ấy, tôi thấy ông thật điềm tĩnh và nhẫn nhục. Ông im lặng lắng nghe mọi người la lối om sòm.
Sau cùng, ông cất tiếng:
- “Mấy người có thể để yên cho tôi nói một lời không?”
Họ đáp ngay:
- “Thì nói đi, nói thử nghe xem sao!”
Ông Mario đằng hắng giọng, rồi trịnh trọng tuyên bố:
- “Nếu có ai đó hứa cho tôi một mẫu đất, với đủ các loại cây ăn trái, như chanh, cam, quít, bưởi, táo, lê, mận .. với điều kiện là tôi phải đi lễ và rước lễ 9 Ngày Thứ Sáu Đầu Tháng liên tiếp, thì mấy người nói sao?”
Ai nấy nhao nhao trả lời:
- “Nếu được như thế thì tôi đồng ý việc đi xem lễ và rước lễ 9 Ngày Thứ Sáu Đầu Tháng liên tiếp!”
Ông Mario cao giọng tiếp lời ngay:
- “Mấy người thật là những kẻ kém Đức Tin! Khi chết, tôi sẽ bỏ lại tất cả tài sản, gia nghiệp. Trong khi đó, Thiên Đàng đáng giá gấp trăm triệu triệu lần cái mẫu đất đủ loại cây ăn trái kia! Và tôi có thể hưởng phúc Thiên Đàng với việc thi hành 9 Ngày Thứ Sáu Đầu Tháng liên tục. Nếu thợ không chịu gặt lúa trong lúc tôi vắng mặt thì không sao cả. Đối với tôi, việc đi lễ và rước lễ vào Ngày Thứ Sáu Đầu Tháng quan trọng hơn nhiều!”
Rồi một ngày kia, ông Mario ngã bệnh. Được biết bệnh tình của ông cũng không đến nỗi nào.
Rồi vào một buổi tối mùa đông, đang khi tôi (Cha sở) trên đường từ thành phố trở về nhà xứ, lúc đó đã quá 11 giờ đêm. Đang lúc tôi đi ngang qua nhà ông Mario, trông thấy đèn nhà ông vẫn còn sáng, bỗng tôi nảy ra ý nghĩ muốn ghé thăm ông. Tuy nhiên, tôi cảm thấy có hơi ngại ngùng vì trời đã khuya, nhưng rồim tôi vẫn ghé.
Không ngờ, khi tôi bước vào nhà, ông Mario thật vui mừng tiếp đón tôi.
Tôi lấy ghế ngồi cạnh giường ông và chúng tôi nói đủ mọi thứ chuyện.
Xong, tôi đứng lên chào ông và ra về.
Lúc vừa khép nhẹ cánh cửa phòng, thì tôi nghe tiếng ông Mario gọi lại. Tôi trở vào thì ông thưa:
- “Xin Cha giải tội cho con.”
Tôi nói:
- “Thôi để lần khác đi, vì bây giờ đã khuya rồi. Ông ngủ đi. Vã lại bệnh tình của ông chưa có gì trầm trọng.”
Nhưng ông nài nĩ:
- “Tốt hơn, Cha cứ giải tội cho con ngay bây giờ đi!”
Tôi chìu ý ông. Tôi giải tội cho ông và cùng ông đọc một vài kinh. Sau đó, tôi ra về.
Khi vừa khi bước ra khỏi cửa nhà, thỉ bỗng tôi nghe rõ những tiếng khóc trong nhà vọng ra. Tôi vội vàng chạy vô nhà, thì ra, ông Mario vừa trút hơi thở cuối cùng, sau khi đã sốt sắng xưng tội và cầu nguyện chung với tôi.
*****
Câu chuyện ông nông dân Mario được ơn chết lành, thực hiện lời Đức Chúa Giêsu long trọng phán với thánh nữ Marguerite-Marie Alacoque (1647-1690), người Pháp, trong lần hiện ra vào một ngày Thứ Sáu năm 1688:
- “Trong mức độ tột cùng lòng từ bi Trái Tim Cha, Cha hứa với con rằng: ”Tình Yêu Toàn Năng của Cha sẽ ban ơn hoán cải sau cùng cho những ai rước lễ 9 ngày Thứ Sáu Đầu Tháng liên tiếp. Những người này sẽ không chết khi còn mắc tội trọng, nhưng sẽ được lãnh nhận các Bí Tích và trong giờ sau hết, Trái Tim Cha sẽ là nơi nương náu vững vàng nhất.”
(”Sembra Impossibile... eppure è così”, Ed. Comunità, 1992, trg 90-91+60-61)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
--------------------------------------
Những sách cha Mễn đã in (89 cuốn):
như lương thực tinh thần hổ trợ bà con qua lại thời Covid,
từ khi nhà thờ không có thánh lễ, không có giảng dạy, không có các lớp Giáo Lý và không có các sinh hoạt đoàn thể....
https://linhmucmen.com/news/kho-sach-quy/nhung-sach-da-in-1654.html
*** Bạn muốn có những sách này, hãy chép đường link trên của sách vào thẻ nhớ, hoặc vào USB, đưa cho tiệm Photo, họ sẽ in, chỉ khoảng 15 phút là xong, vì mỗi sách đều đã có sẵn bìa, và mỗi sách không quá 100 trang A5. (Chỉ khoảng 24 tờ A4).
*** Bạn cũng có thể đọc trực tiếp các bài này, trên Điện Thoại cảm ứng, khi bạn dùng ngón tay chạm vào đường link trên: https://...
*** Và bạn cũng có thể chép đường link trên: https://... gởi qua Zalo, Messenger, Line, Viber, Tango, TikTok,... làm quà tặng cho các bạn bè, nhiều người được đọc, sẽ có nhiều lợi ích.
---------------------------------
I. - Chuyện minh họa Tin Mừng Chúa Nhật: (12 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-minh-hoa-tin-mung/
1. Chuyện người đàn ông say mê quảng cáo - sách 1
2. Chuyện linh mục vào Thiên Đàng - Sách 2
3. Chuyện con két đi khám bác sĩ – Sách 3
4. Chuyện gà mái ấp trứng đại bàng – Sách 4
5. Chuyện “Số Con Rệp” – Sách 5
6. Thiên Chúa là Đấng hay quên – Sách 6
7. Chuyện một người con chọn mẹ để sinh ra – Sách 7
8. Family, một định nghĩa hay về gia đình – Sách 8
9. Hộ Chiếu Nước Trời – Sách 9
10. Chuyện bán linh hồn cho ma quỉ, để đổi lấy danh tiếng – Sách 10
11. Những câu chuyện biến hình – Sách 11
12. Yêu thương không phải là chiếm đoạt, nhưng là trao ban – Sách 12
II. – Chuyện đời chuyện đạo: (25 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-doi-chuyen-dao/
1. Hãy vui hưởng hạnh phúc ta đang có - sách 1
2. Chuyện đời to và nhỏ - Sách 2
3. Những lời khuyên hữu ích - Sách 3
4. Những chuyện nhỏ mang nhiều ý nghĩa cho cuộc sống - Sách 4
5. Một phép lạ từ một tình thương cho đi - Sách 5
6. Phút thánh hoá gia đình đầu năm mới - Sách 6
7. Năm Mão nói chuyện con mèo - Sách 7
8. Một kiểu sống lại không vui - Sách 8
9. Chuyện con gà trống - Sách 9
10. Kinh cầu các thánh chẳng hề được phong - Sách 10
11. Làm phúc giúp các linh hồn nơi Luyện Ngục - Sách 11
12. Các linh hồn nơi Luyện Ngục sẽ không quên sự giúp đỡ của chúng ta - Sách 12
13. Tình Mẫu Tử trong dịp Lễ Giáng Sinh - Sách 13
14. Năm Thìn, nói chuyện con rồng - Sách 14
15. Nhật ký của một linh hồn sau khi chết - Sách 15
16. Những lời tâm sự của người cận kề cái chết - Sách 16
17. Tội nhân trở thành thánh nhân - Sách 17
18. Chuyện ông Panov gặp Chúa đêm Giáng Sinh - Sách 18
19. Cách hành xử của Chúa luôn là bất ngờ - Sách 19
20. Năm Thánh - Ất Tỵ 2025 - Sách 20
21. Đừng hành động đang khi nóng giận - Sách 21
22. Chuyện chưa từng kể về Giáo Hoàng Lê-ô XIV - Sách 22
23. Lòng Thương Xót Chúa đã thắng - Sách 23
24. Phép lạ đã được viết nên từ một lời từ chối - Sách 24
25. Tại sao Thiên Chúa để người tốt phải đau khổ ? - Sách 25
III. - Chuyện kể cho các gia đình: (35 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-ke-gia-dinh/
1. Chuyện người thu thuế và Người biệt phái - sách 1
2. Đừng bỏ cuộc - sách 2
3. Bí quyết hạnh phúc - Sách 3
4. Một chuyện không ngờ thê thảm - Sách 4
5. Đi tìm một bảo hiểm -Sách 5
6. Một mẫu người sống đạo đáng khâm phục - sách 6
7. Yêu là yêu cho đến cùng - Sách 7
8. Những chuyện lạ có thật – Sách 8
9. Một niềm vui bất ngờ - Sách 9
10. Chuyện mẹ ghẻ con chồng - Sách 10
11. Chứng nhân giữa đời thường - Sách 11
12. Cho Chúa mượn thuyền - Sách 12
13. Nét đẹp của lòng thương xót - Sách 13
14. Chuyện tôi vào đạo Chúa - Sách 14
15. Chuyện cô giáo năm xưa - Sách 15
16. Kinh nghiệm của những người trở về “Từ Cõi Chết” nói với ta - Sách 16
17. Quyển nhật ký của mẹ - Sách 17
18. Phép lạ từ việc sùng kính Đức Mẹ - Sách 18
19. Ngày của bố - Sách 19
20. Chuyện 2 cha con hoang đàng - Sách 20
21. Chuyện Kẻ “tự bắc thang lên trời” - Sách 21
22. Chuyện Quỷ Ám là có thật - Sách 22
23. Chuyện bán linh hồn cho ma quỉ - Sách 23
24. Thảm họa: Một Thiên Đường không có Thiên Chúa – Sách 24
25. Nếu Thiên Chúa không có, thì tại sao lại chống Ngài ? – Sách 25
26. Ông già Noel không mặc đồ đỏ – Sách 26
27. Tình yêu có sức mạnh biến đổi – Sách 27
28. Chuyện một mối tình thật đẹp – Sách 28
29. Một kinh ngiệm truyền giáo thật dễ thương – Sách 29
30. Tháng các đẳng linh hồn và những ước nguyện – Sách 30
31. Các Con đã Bỏ Quên Mẹ trong Luyện Ngục – Sách 31
32. Đừng lân la, đùa giỡn hay thách thức ma quỉ – Sách 32
33. Một đức tin đích thực, cần phải được tôi luyện trong đau khổ – Sách 33
34. Phép lạ của lòng quảng đại – Sách 34
35. Sức mạnh của lòng yêu mến Chúa thúc bách tôi – Sách 35
IV.- Chuyện lẽ sống: (8 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-le-song/
1. Chuyện Chúa Giêsu đi xem bóng đá - Sách 1
2. Tình yêu là sức mạnh vạn năng - Sách 2
3. Ðời là một chuyến đi - Sách 3
4. Căn hầm bí mật - Sách 4
5. Thất bại, là khởi điểm của thành công - sách 5
6. Lịch sử ngày của mẹ - Sách 6
7. Chuyện tình Romeo và Juliet - Sách 7
8. Một cách trả thù độc đáo - Sách 8
V. – Kho sách quý: (7 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/kho-sach-quy/
1. Bí mật đầy kinh ngạc về các linh hồn trong luyện ngục – Sách 1
2. Lần hạt mân côi – Thánh Josémaria Escrivá– Sách 2
3. Tiếng nói từ luyện ngục – Sách 3
4. Sách tháng các linh hồn – Sách 4
5. 300 Chuyện ngắn giúp minh họa lời Chúa (Phần I) – Sách 5
6. 300 Chuyện ngắn giúp minh họa lời Chúa (Phần II)– Sách 6
7. Tinh hoa và những lời nói sau hết của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu (Phần I)– Sách 7.
---------------------------------
Tác giả: Nguyễn Văn Mễn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn
ĐỐ VUI VUI THÚ VỊ
CẦU LỄ - THEO NĂM DẤU THÁNH
SÁCH ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP
KINH CẦU ĐỨC BÀ - HĐGMVN 22.06.2020
Thánh ca có Imprimatur Cập nhật 06/06/2026
NHẬT KÝ LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA Phấn I: số 1-150
LỄ GIỖ - GIA ĐÌNH
KINH THƯỜNG ĐỌC & Nghi thức Thánh Lễ Việt-Anh-Pháp
CUỘC ĐỜI CHÚA GIÊSU - Tóm lược - Thơ
Các Bài Thánh Ca - NGUYỆN NGƯỜI QUA ĐỜI