Chuyện linh mục vào Thiên Đàng - Chuyện minh họa Tin Mừng Chúa Nhật - Sách

Thứ năm - 18/11/2021 04:42
Chuyện linh mục vào Thiên Đàng - Chuyện minh họa Tin Mừng Chúa Nhật - Sách
Chuyện linh mục vào Thiên Đàng - Chuyện minh họa Tin Mừng Chúa Nhật - Sách
Lm. Phêrô NguyễnVăn Mễn
(sưu tầm)


Chuyện linh mục vào Thiên Đàng

(Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật)
Nguồn:
https://linhmucmen.com/news/chuyen-minh-hoa-tin-mung/


---------------------------------
Mục Lục

Bài 1: Chuyện Quên mài rìu. 2
Bài 2: Chuyện Mẹ Têrêxa Calcutta. 3
Bài 3: Chuyện bé trai bán diêm.. 7
Bài 4: Chuyện linh mục vào Thiên Đàng. 9
Bài 5: Chuyện Tế Lễ thời Cựu Ước. 12
Bài 6: Chuyện Người con hiếu thảo với mẹ. 17
Bài 7: Chuyện Bên lề một Thánh Lễ đồng tế. 19
Bài 8: Chuyện áo quần khi đi dự tiệc tiệc. 23
Bài 9: Chuyện Chúa Giêsu không biết làm kinh tế. 26
Bài 10: Chuyện Thầy dòng và cuộc gặp gỡ Chúa. 29
Bài 11: Chuyện Tài Xế giỏi, nhưng phải an toàn nữa. 32
Bài 12: Chuyện người Giàu Có và Thánh Giá Chúa. 34
Bài 13: Chuyện sĩ quan quân đội Đức Quốc xã trở về với Chúa. 38
Bài 14: Chuyện người mù cầm đèn ra đường ban đêm.. 40
Bài 15: Chuyện hòn đá ném vào xe hơi 45
Bài 16: Chuyện đồng xu của bà góa nghèo. 47
Bài 17: Chuyện Cái chết đầu tiên trên trái đất 49

---------------------------------
 

Bài 1: Chuyện Quên mài rìu


Có một thanh niên lực lưỡng xin đốn cây để phụ giúp gia đình.

Thấy anh vạm vỡ, chủ liền trao cho anh một chiếc rìu, dẫn anh vào rừng và bảo:

- Anh thử đốn cây này cho tôi xem.

Vì đã từng lao động, nên anh đốn rất nhanh. Ông chủ nhận anh vào làm việc, đưa ra mức lương và cho nơi cư ngụ.

*****

Dù mệt nhọc nhưng anh cảm thấy rất vui, vì nghĩ rằng cuối tuần sẽ có một số tiền kha khá đem về gia đình.

Thứ Hai, Thứ Ba, rồi Thứ Tư vùn vụt trôi qua.
Đến ngày thứ năm, chủ gọi anh vào cám ơn và trao cho anh tiền công cho cả một tuần.

Anh vui sướng cầm những tờ giấy bạc thấm đẫm mồ hôi, đôi mắt rạng ngời niềm vui. Bỗng chợt nhận ra có điều gì bất thường, nên anh thắc mắc hỏi chủ:

- Tôi xin cám ơn chủ đã trả lương cho tôi suốt tuần.
Nhưng sao không để đến thứ bảy mà lại trả lương vào hôm nay.

- Đáng tiếc là tôi không thể mướn anh được nữa, vì theo sổ sách thì anh đốn được nhiều cây nhất vào ngày thứ Hai, nhưng qua ngày thứ Ba số cây đã giảm xuống, và ngày thứ Tư, anh là người đốn được ít cây nhất trong các công nhân ở đây.

- Nhưng thưa ông chủ, tôi đã làm hết sức mình. Tôi đi làm sớm về trễ. Tôi chỉ nghỉ để ăn trưa có nửa tiếng thay vì một tiếng. Tôi làm việc không ngừng. Tôi làm việc cả giờ giải lao. Vậy ông chủ còn muốn gì nữa?

- Những gì anh vừa nói không sai chút nào, tôi hoan nghênh sự nhiệt tình của anh. Nhưng tôi chỉ xin hỏi anh một câu: anh có mài rìu không?

******

“Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút”.

Sau cuộc hành trình truyền giáo vất vả, các tông đồ phấn khởi thuật lại cho Đức Giêsu nghe những thành quả vàng son của mình. Nhưng Người lại quan tâm đến con người hơn công việc. Người muốn các ông hãy dành một chút nghỉ ngơi cho thân xác, một chút lắng đọng cho tâm hồn, để tách mình ra khỏi đám đông, để sống tình thầy trò, tương giao mật thiết với Thầy và với nhau.

Lắm khi chúng ta quên mất “mài rìu”, vì cho rằng khối lượng công việc chồng chất, vì thời buổi kinh tế cạnh tranh, nên không dễ tìm được một chút tĩnh lặng: để thẩm định lại những biến cố, và soát lại công việc đã làm và lắng nghe được tiếng Chúa mời gọi.

Nếu muốn đốn nhiều cây, càng phải năng “mài rìu” cho sắc.
Nếu muốn đi thật xa, càng phải luôn dừng lại để nghỉ ngơi, lấy sức.
Nếu muốn hoạt động tông đồ hiệu quả, càng phải năng tĩnh dưỡng tâm hồn.

Khi được hỏi bí quyết nào khiến George Washigton Carver thành công trong thành tựu khoa học của mình với trên 300 sản phẩm hữu dụng, ông đã trả lời: “Tôi thức dậy lúc 4 giờ sáng, và trong sự yên tĩnh của buổi sớm mai, tôi lắng nghe tiếng Chúa và chương trình của Người xếp đặt cho tôi”.

P. Doncocur đã quả quyết:

“Không một vĩ nhân nào đã thành công, mà không đắm mình trong tĩnh lặng để hồi tâm và cầu nguyện”.

Vâng, trong cuộc hành trình về quê trời, người ta không thể đi hết con đường vừa dài vừa dốc, nếu không dừng lại nghỉ ngơi, lấy sức và định hướng.


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 16-B: “Anh em hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút”. - Marcô 6,31)

------------------------

 

Bài 2: Chuyện Mẹ Têrêxa Calcutta


Có một phụ nữ trung niên, đến Đất Nước Ấn Độ, đã chứng kiến được những cảnh nghèo đói, thất học, đầy những tệ nạn xã hội, ở khu “Ổ Chuột”, thuộc thủ thô  nước này là Calcutta, bà đã tự nhủ với lòng mình:

“Tôi phải làm một điều gì đó mới được”.

Thế rồi, bà đã dồn tất cả tiền bạc của mình, thuê được một căn nhà cũ, với chiếc sàn nhà dơ bẩn. Tuy căn nhà không khang trang lắm, nhưng có thể ở được.

Ngày hôm sau, bà đi khắp các vùng lân cận, tìm lũ con trẻ đang lang thang bên lề đường, trên các hè phố, đem về dạy dỗ chúng.

Bà dùng căn nhà cũ kỹ làm phòng học, dù không có lấy một chiếc bàn, một chiếc ghế. Bà đã dùng sàn nhà làm bảng viết phấn. Bà dùng tấm vải rách nát cũ kỹ để lau sạch nền nhà, rồi viết tiếp lên trên đó cho lũ trẻ học.

Đó là phương cách bà dùng để chiến đấu với những sự nghèo đói, dốt nát, tàn bạo, hung ác, và tràn ngập những tệ nạn xã hội chung quanh bà.

Thế rồi, điều gì đã xảy ra cho người phụ nữ này và công việc mạo hiểm của bà, đã dám can đảm đứng ra bảo trợ xã hội này, diễn ra thế nào?

*****

Ngày hôm nay (2021),

- bà đã có 80 trường học trang bị đầy đủ,
- 300 nhà phát chẩn lưu động hiện đại,
- 70 bệnh viện cho người cùi,
- 30 viện chăm sóc người hấp hối,
- 30 viện chăm sóc trẻ em mồ côi bị bỏ rơi,
- 40.000 nhân viên thiện nguyện khắp thế giới sẵn lòng giúp đỡ bà.

Người phụ nữ đó không ai khác, chính là Mẹ Têrêxa thành Calcutta, vị sáng lập Dòng Thừa Sai Bác Ái.

*****

Bạn thân mến,

Tôi nghĩ rằng: không có câu chuyện nào hay hơn để làm sáng tỏ chủ đề của bài đọc I (2V4,42-44) và bài Tin Mừng (Ga 6,1-15), Chúa Nhật 17 TN-B hôm nay:

Bài đọc I (2V4,42-44):
- 20 cái bánh đầu mùa của một nông dân từ Baal-salisa, mang đến, dâng lên cho Ngôn Sứ Êlisê, góp phần, nhân lên để dọn cho 100 người ăn, mà còn dư thừa.

Bài Tin Mừng (Ga 6,1-15):
- 5 cái bánh và 2 con cá của cậu bé trai, đã góp phần cho Chúa Giêsu thực hiện phép lạ cho 5.000 người ăn no nê, mà còn dư đến 12 thúng đầy.

*****

- Đó, cũng là điều Mẹ Têrêxa đã làm.

Bà đã trao cho Chúa khẩu phần “bánh và cá” của bà, để Chúa Giêsu thực hiện điều kế tiếp.

Thế là, Chúa đã nhân chúng lên gấp bội, vượt mọi niềm mơ ước của bà.

*****

- Đó cũng là điều Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II ngỏ cùng các bạn trẻ tại Edingburgh, trong lần Ngài đến thăm Scotland vào năm 1982:

“Giờ đây, Cha xin nhấn mạnh chủ đề này: Cậu bé trong Tin Mừng đã trao cho Chúa tất cả khả năng cậu có thể, để rồi Chúa Giêsu thiết đãi đám đông 5.000 người ăn no nê một cách lạ lùng và vẫn còn dư.

Đời sống của các con cũng y hệt như thế, nếu phải một mình đối đầu với những thách đố khó khăn của cuộc sống, các viễn cảnh tương lai.

Nhưng cha xin nói với các con điều này:

“Hãy đặt cuộc đời các con trong tay Chúa Giêsu. Chúa sẽ chấp nhận và sẽ chúc lành cho các con, và Chúa sẽ biến đổi cuộc đời các con một cách tốt đẹp hơn, vượt mọi kỳ vọng lớn lao nhất của các con”.

*****

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại tâm hồn mình và tự vấn xem, chúng ta đang đặt trong tay Chúa Giêsu bao nhiêu phần trăm cuộc sống và khả năng chúng ta để Chúa sử dụng theo ý Ngài muốn?

Nói rộng hơn, chúng ta có dâng hiến chính mình và mọi năng lực của mình như mẹ Têrêxa Calcutta, như người nông dân trong bài đọc 1 và như cậu bé trong Tin Mừng hôm nay đã làm chưa?

Hôm nay, Chúa Giêsu ngỏ lời với tất cả chúng ta:

“Cha cần tài năng của các con,
Cha cần lòng quảng đại của các con, nói chung,
Cha cần đến các con: cần đôi chân, đôi tay, môi miệng của các con.

Vì hôm nay,

Cha chỉ biết, nhờ đôi chân của các con để mang Cha  đến các khu xóm tồi tàn, các xưởng thợ và phòng làm việc ở các thành phố của các con.

Cha chỉ biết nhờ đôi tay của để vươn tới những người yếu đuối bơ vơ, những người trẻ em đường phố, những người không cửa không nhà và đang lâm và tình trạng tuyện vọng.

Cha chỉ biết nhờ vào miệng lưỡi của các con, để nói cho mọi người lý do Cha đã đến trên trái đất này, đã mang thân phận con người, đã chịu đau khổ và chịu chết cho mọi người”.

*****

Tóm lại, thưa anh chị em,
hôm nay Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hợp tác với Ngài thực hiện những phép lạ y hệt như những phép lạ Ngài đã làm trong Kinh Thánh.

Bất cứ chúng ta trao tặng cho Ngài điều gì

- chẳng hạn thời gian,
- tài năng,
- tiền của,
- lời cầu nguyện,
- sự hy sinh và
- nguồn lực của chúng ta.

Ngài sẽ sử dụng tất cả để đem lại kết quả vượt mọi kì vọng vĩ đại nhất của chúng ta.

Ngài sẽ bội nhân chúng lên, vượt khỏi bất cứ niềm mơ ước nào của chúng ta, giống như Ngài đã bội nhân 5 cái bánh và 2 con cá của cậu bé trong Tin Mừng hôm nay.

Cậu bé vì quảng đại, đã sẵn sàng trao khẩu phần trưa của em cho Chúa, thì lại được ăn no nê, hơn nữa lại được sung sướng nhận thấy món quà nhỏ mọn của mình đã đem lại những thích thú bất ngờ cho bao nhiêu người khác.

Cha Mckarns nói:
“Tôi tưởng chừng như sau đó Chúa Giêsu sẽ bảo các Tông Đồ gởi về nhà cậu bé ấy vài thùng bánh còn dư để tỏ lòng biết ơn”.

*****

Anh chị em thân mến,

Cậu bé chính là anh chị em, là chúng ta, là tất cả mọi Kitô hữu.

Trước nỗi thống khổ của biết bao người, chúng ta thường nghĩ rằng, tài sản của chúng ta chẳng thấm thía gì, quá ít. Điều đó đúng. Thế nhưng, nếu chúng ta trao tặng tài sản đó, thì như một số vốn,

- lòng quảng đại sẽ kéo thêm lòng quảng đại,
- sự chia sẻ sẽ thúc đẩy sự chia sẻ,
- tình yêu sẽ khơi dậy tình yêu…

Làm như vậy, chúng ta đặt nền móng cho Nước Trời, Nước của những người quảng đại, biết yêu thương chia sẻ cho nhau.

Như thế,
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta,

- hãy chia sẻ tình yêu để chuẩn bị cho Nước Trời là tình yêu vĩnh cửu;
- hãy chia sẻ với lời cảm tạ để bánh trần gian được Đức Kitô biến đổi thành Bánh Bởi Trời, thành chính Ngài: Bánh ban sự sống muôn đời.


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 17-B: Phép lạ nhân 5 cái bánh và 2 con cá cho 5.000 người  ăn no. - Gioan 6,1-15)

---------------------

 

Bài 3: Chuyện bé trai bán diêm


Nhà  văn Pháp Pécaut (Pê-cô) đã kể lại một câu chuyện thật cảm động, mà chính ông vẫn ân hận mãi, mỗi khi nhớ lại chuyện xưa. Ông kể rằng:

Một hôm, vừa ra khỏi nhà, thì tôi gặp một em bé trai 12 tuổi chạy đến, van nài tôi mua giúp em một hộp diêm quẹt. Động lòng thương tôi rút ví ra định mua, nhưng tôi lại chỉ có toàn tiền chẵn. Tôi đang ngần ngại thì thằng bé nói ngay:

“Không sao ông ạ, xin ông cứ vui lòng đưa tiền cho cháu, cháu sẽ chạy đi tìm chỗ đổi tiền, rồi trả lại cho ông ngay”.

Tôi nhìn thằng bé gương mặt xanh xao của nó, có vẻ thành thật. Tôi liền trao cho nó một đồng tiền vàng và nó chạy biến ngay về hướng cuối phố. 5 phút trôi qua, rồi 10 phút, tôi bắt đầu hồ nghi về sự ngay thẳng của thằng bé. Và nửa giờ sau, thì tôi hết kiên nhẫn, bỏ đi, tiếp tục cuộc dạo phố, và lòng thầm nhủ trong lòng: sẽ chẳng bao giờ còn tin vào những bọn lêu lổng đầu đường xó chợ như thế nữa.

*****

Buổi trưa, khi về tới nhà, đúng chỗ tôi đứng ban sáng, thì  tôi lại thấy một đứa bé nhỏ hơn đứa tôi gập ban sáng, chỉ  độ 8, 9 tuổi thôi, đang đứng sẵn, khuôn mặt khá giống thằng ăn cắp ban sáng. Nhưng nét mặt nó, bộc lộ một sự lo âu, tuyệt vọng. Nó thổn thức nói với tôi:

“Thưa ông, có phải ban sáng, ông đã đưa cho anh cháu một đồng tiền vàng không ạ? Đây là chỗ tiền lẻ. Chính anh cháu nhờ gửi lại cho ông. Chúng cháu đều là trẻ mồ côi, nhưng không phải là bọn ăn cắp. Anh cháu không thể đến trao tận tay ông ngay lúc sáng, là vì anh cháu đã bị xe đụng, khi vội chạy đi tìm chỗ đổi tiền. Cháu… cháu sợ rằng anh cháu chết mất thôi…”

Tôi bàng hoàng vội hỏi thằng bé trong tiếng nghẹn ngào:

“Thế bây giờ anh cháu nằm ở đâu? Đưa bác đến gặp anh cháu ngay đi”.

*****

Tôi rảo bước gần như chạy theo sau em bé. Chúng tôi rời khỏi những khu phố giầu sang để lách vào những con hẻm lầy lội của một khu ổ chuôt nghèo khổ. Em bé dừng lại ở một căn lều xiêu vẹo. Trong một xó tối, tôi nhận ra thằng bé bán diêm quẹt ban sáng. Nó nằm dài bất động trên một đống áo quần cũ rách, mặt trắng bệch, vì mất khá nhiều máu.

Tôi lặng lẽ cúi xuống hôn lên vầng trán bị giập nát vì vết thương của em. Tôi ân hận vì cái nhìn thiển cận của tôi. Tôi nuối tiếc, vì sự đánh giá thiếu cân nhắc của mình. Nhưng tôi lại thầm cám ơn đời đã cho tôi gặp được một tâm hồn trẻ thơ, vô cùng trong trắng ngay giữa cảnh đời nghèo khó và đau khổ đến cùng cực…

*****

Vâng, giữa cuộc đời mà người ta đang đua nhau tranh giành miếng cơm manh áo đến nỗi coi nhẹ nhân phẩm, nhân vị, thì vẫn còn đó những con người nghèo khó mà vẫn giữ được lòng thanh sạch. Giữa cuộc đời mà người ta đang loại trừ và hãm hại lẫn nhau, chỉ vì một chút địa vị, bổng lộc, thì vẫn còn đó những con người tìm niềm vui, trong đời sống yêu thương, phục vụ một cách quảng đại và vô vị lợi.

*****

Lời Chúa hôm nay, mời gọi chúng ta hãy tìm kiếm giá trị Nước Trời, hơn là những của ăn mau hư nát.

Thắng bé trong câu chuyện đã sống cao thượng, nó không vì tiền, mà đánh mất danh dự. Nó thà chết, chứ không để lòng tốt bị đánh cắp, trong xã hội hôm nay.

Nếu xã hội, mà mỗi người đều biết trọng danh dự, trọng lẽ phải, thì cuộc đời đâu còn nước mắt, trần gian đâu còn đọa đầy, mà là thiên đàng tại thế.

Nếu cuộc đời, ai cũng biết trần gian là tạm bợ, thiên đàng mới là vĩnh cửu, có lẽ họ sẽ sống cao thượng, sống thanh sạch, sống công bình bác ái, hơn là gian dối, tham lam tầm thường.

Nguyện xin Chúa là Đường, là sự thật, và là  sự sống, giúp chúng ta biết đi theo đường lối vẹn tuyền, biết tìm kiếm của ăn không bao giờ  hư nát, biết chọn Chúa là phần gia nghiệp đời đời. Amen

Lm.Giuse Tạ duy Tuyền


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 18-B: Hãy ra công làm việc, không vì lương thực hay hư nát, nhưng hãy vì lương thực ban sự sống đời đời. -  Gioan 6,27)

----------------------

 

Bài 4: Chuyện linh mục vào Thiên Đàng


Có một câu chuyện tưởng tượng, tuy là tưởng tượng, nhưng lại rất có chất lượng để giúp chúng ta suy tư:

*****

Có một linh mục nọ mới qua đời, được Thiên thần bản mệnh dẫn dưa đến trình diện với thánh Phêrô ở cổng Thiên đàng, để làm một cuộc thẩm tra, trước khi có phán quyết cuối cùng. Thánh Phêrô hỏi:

- Ở dưới thế, Ngài là linh mục, thì Ngài đã làm được những gì?

Vị linh mục nhanh nhẹn trả lời:

- Dạ, thưa thánh Phêrô, khi còn ở dưới thế, con đã xây dựng được một ngôi thánh đường.

Thánh nhân lấy viết ghi trên giấy: Một điểm.

- Ngài còn làm được điều gì nữa?

- Dạ thưa, con còn xây được một trường học.

Thánh Phêrô ghi tiếp: Một điểm.

- Hãy nói tiếp đi, Ngài còn làm được điều gì nữa ?

Vị linh mục bắt đầu suy nghĩ, rồi trả lời:

- Dạ, con đã làm được nhiều công tác từ thiện xã hội.

Thánh Phêrô ghi thêm: một điểm.

- Còn gì nữa? Thánh Phêrô giục giã hỏi tiếp.

Tới lúc này, vị linh mục bắt đầu cảm thấy lo lắng thật sự mới hỏi thánh Phêrô:

- Dạ thưa thánh Phêrô, có bao nhiêu điểm thì mới được vào Thiên Đàng?

Thánh Phêrô khẳng khái trả lời một cách dứt khoát: một ngàn điểm.

Nghe nói thế, vị linh mục bỗng đâm ra hoảng sợ thật sự. Bởi ông thầm nghĩ: "Thế là mình chết chắc rồi, làm sao mình có được tới chừng ấy điểm được? Nếu có moi hết trí óc, mà kể ra hết tất cả những việc mình đã làm ở dưới thế, e rằng chẳng thể nào đạt tới chuẩn đó đâu...

Trong nỗi hoảng sợ hiện rõ trên gương măt, đầy vẻ tuyệt vọng, không còn tự tin được nữa. Vị linh mục cảm thấy lúng túng, đôi môi run run, miệng ấp a ấp úng, nói không nên lời, thì thánh Phêrô lên tiếng thúc giục:

- Thì ở dưới thế, Ngài còn làm được những điều gì nữa, cứ kể ra cho hết đi! Nếu chỉ có thế, thì cuộc thẩm tra hôm nay sẽ kết thúc tại đây.

Quá hốt hoảng, vị linh mục bèn hạ giọng. Với một giọng nói khiêm tốn, đầy sợ hãi, vị linh mục nói:

- Kính thưa thánh Phêrô, NHỜ ƠN CHÚA, trong những ngày còn ở dưới thế, con cũng chỉ làm được có đôi ba việc nhỏ nhoi đó thôi.

Nghe vậy, thánh Phêrô lấy viết ghi ngay: một ngàn điểm. Và thánh Phêrô tuyên bố:

- Ngài được một ngàn, lẻ ba điểm. Ngài đã dư được ba điểm. Mời Ngài bước vào Thiên Đàng!

*****

Vị linh mục trên, chỉ được Thánh Phêrô cho vào hưởng vinh quang Thiên Đàng, khi  Ngài khiêm tốn nhận ra rằng: tất cả những việc ngài đã làm ở dưới thế, chỉ là do ơn Chúa mà thôi.

Sự nhận ra sự nghèo nàn của mình và cậy trông vào tình thương của Chúa, đó là cách dễ dàng nhất để đạt được hạnh phúc Thiên Đàng.

*****

Trong Bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã tuyên với những người Do Thái:

Chẳng ai đến được với tôi, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, đã không lôi kéo người ấy, và tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết”  (Goan 6,44)

Còn thánh Phaolô tronh thư thứ I gởi cho giáo dân thành Côrintô, đã viết như sau:

“Anh em có gì, mà anh em đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao anh em lại vênh vang, như thể là đã không nhận lãnh?” (I Cor 4:7).

Bởi vậy, thánh Phaolô kêu gọi chúng ta hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh:

“Trong mọi hoàn cảnh và trong mọi sự, anh em hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Ep 5:20).

Vậy, trong tất cả mọi sự, chúng ta hãy bày tỏ lòng biết ơn đối với Thiên Chúa. Bởi biết ơn Thiên Chúa, là món quà làm đẹp lòng Thiên Chúa nhất, và cũng là cách lôi kéo được những ân huệ khác nữa từ Thiên Chúa đến với chúng ta.

*****

Nếu tất cả mọi sự đều nhờ ơn Thiên Chúa, thì chúng ta càng phải sống trong tâm tình biết ơn Ngài.

Chúa Giêsu là mẫu gương tuyệt vời của lòng biết ơn. Cuộc đời của Ngài là bài trường ca tạ ơn dâng lên Thiên Chúa Cha:

- Ngài tạ ơn trước khi cho Lagiarô sống lại.
- Ngài tạ ơn Chúa Cha khi lập Bí Tích Thánh Thể.
- Ngài tạ ơn Chúa Cha trước khi làm một phép lạ.
- Ngài tạ ơn Chúa Cha mỗi khi cầu nguyện;
- mỗi khi chiều buông, Ngài tìm chỗ thanh vắng để tâm sự, chuyện trò thân mật với Chúa Cha, như một người con thảo hiếu.

*****

Hầu hết trong thơ của Thánh Phaolô, Ngài cũng đã khuyên các tín hữu hãy có lòng biết ơn Chúa. Chính Thánh Phaolô cũng đã luôn tạ ơn Chúa: “Tôi hằng cảm tạ Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Ngài ban cho anh em nơi Đức Giêsu Kitô” (1 Cor 1:4).

Thiên Chúa luôn luôn thi ân cho chúng ta. Ngài thi ân cho mọi người, không trừ một ai. Ngài đổ mưa hồng ân xuống trên kẻ lành và người dữ.

Ngài ban ơn, nhưng khả năng lãnh nhận được ơn hay không, là còn tùy thuộc vào tấm lòng biết ơn mỗi người chúng ta.

Một khi đã coi thường ơn Chúa
thì làm sao chúng ta có khả năng lãnh nhận được ơn nào khác nữa
.

Một trong những đức tính quan trọng nhất của con người đó là lòng biết ơn. Một người có nhân cách là người luôn thể hiện lòng biết ơn.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta đã lãnh nhận biết bao ơn của biết bao người sống bên cạnh chúng ta. Từ ơn sinh thành, ơn dưỡng dục, ơn giúp chúng ta thành người, ơn giúp chúng ta làm con Chúa. Mà vì chúng ta đã lãnh nhận ngững ơn này, quá nhiều, và quá dễ dàng nữa, nên chúng ta coi là chuyện thường, nên chúng ta không biết trân trọng, nên chúng ta không biết cám ơn ai. Đúng là ta đã trờ thành con người vô ơn, từ lúc nào, mà nào có hay có biết gì đâu.

*****

Có thể nói, cuộc đời của con người chúng ta là những chuỗi ngày sống trong ân huệ của Thiên Chúa và của biết bao người.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết ý thức tính vô ơn của con, để con biết lo tìm cách để chỉnh sửa, và lo tìm cách để đáp trả lại phần nào.

Xin Chúa tha thứ cho con về những tội này. Xin giúp con thực hiện lòng biết ơn, như Chúa Giêsu đã dạy và đã làm gương cho con. Amen.


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 19-B: “Chẳng ai đến được với tôi, nếu Chúa Cha không lôi kéo người ấy”. – Gioan,6,44)

-------------------

 

Bài 5: Chuyện Tế Lễ thời Cựu Ước


Đối với phần đông chúng ta, đây là một đoạn khó hiểu. Đoạn này được trình bày bằng một ngôn ngữ và chuyển động trong một thế giới tư tưởng hoàn toàn xa lạ với chúng ta hôm nay, có thể nói là quái dị và thô kệch nữa.

Nhưng chúng ta phải nhớ điều này, với thế giới thời cổ (Thời Cựu Ước), nó vốn vận hành giữa những tư tưởng quen thuộc, những ý niệm có từ thời ấu trĩ của loài người.

Các ý niệm trong đoạn sách này vốn hoàn toàn bình thường đối với bất cứ ai đã quen với việc dâng tế lễ đời xưa.

Ngày xưa, khi dùng sinh tế, lễ vật ít khi được thiêu hủy trọn vẹn, thường chỉ thiêu một phần tượng trưng nơi bàn thờ, tuy toàn thể con vật được dâng lên cho vị thần.

- Một phần thịt được chia cho các thầy tế lễ kể như thù lao cho họ,
- một phần khác được chia cho người dâng lễ vật, để người ấy tổ chức bữa tiệc thiết đãi bạn bè mình ngay trong khuôn viên Đền Thờ.

Trong bữa tiệc ấy, vị thần cũng được xem như một vị khách.

Hơn nữa, khi thịt đã dâng cho thần rồi, người ta nghĩ thần đã nhập vào đó, cho nên khi người ta ăn thịt ấy, là ăn vị thần của mìnhSau khi dự một bữa tiệc như thế, họ tin rằng họ đã được tràn trề vị thần ấyHọ hoàn toàn tin từ lúc ấy, trong người họ có sức sống sinh động của vị thần.

Ta có thể nghĩ đó là thờ ngẫu tượng, là ảo tưởng viễn vông, nhưng với một số người khác thì đoạn sách này chẳng có gì khó hiểu cả.

Hơn nữa trong thế giới thời ấy, có thứ tôn giáo sống động, đó là các tôn giáo thần bí. Một điều đáng nói mà các tôn giáo thần bí ấy cung ứng được, là sự thông hiệp và ngay đến sự đồng hóa với vị thần nào đó. Cách thức thực hiện việc đó như sau.

Tất cả các tôn giáo thần bí chủ yếu đều là những vở kịch đam mê. Có nhiều chuyện kể về một vài vị thần đã sống và chịu đau khổ khủng khiếp, đã chết rồi sống lại. Câu chuyện được dựng lên thành một vở kích cảm động, nhưng trước khi xem vở kịch ấy, người nhập giáo phải trải qua một lớp tập huấn lâu dài về ý nghĩa tiềm ẩn sau câu chuyện. Người ấy phải trải qua đủ thứ lễ nghi thanh tẩy, phải qua một thời gian dài kiêng cữ mọi liên hệ tính dục. Khi vở kịch về đam mê được trình diễn thì mọi sự đều được dàn xếp nhằm tạo bầu không khí dễ gây cảm xúc cao độ, người ta tính toán rất kỹ mức độ ánh sáng, có mùi hương trầm kích thích, có nhạc kích động, có kinh kệ kỳ bí, mọi sự đều nhằm tạo cho người mới nhập giáo một cảm xúc và khát vọng cao độ mà người ấy chưa từng biết trước đó. Nếu muốn, chúng ta có thể gọi là ảo giác, là sự kết hợp giữa thôi miên với tự kỷ ám thị – thái độ sẵn sàng chờ đợi một cái gì xảy ra. Và điều xảy ra đó là được đồng hóa với vị thần. Khi người mới nhập giáo được chuẩn bị sẵn sàng xem diễn kịch, thì người ấy trở thành một với vị thần. Người ấy chia sẻ những âu lo, đau khổ, sự chết và sống lại. Người ấy với vị thần vĩnh viễn trở thành một, do đó, người ấy sẽ được an toàn khi còn sống và lúc đã chết.

Có một số câu nói và kinh cầu nguyện của các tôn giáo thần bí nghe thật hay.

- Trong huyền thoại về Mithra, người mới nhập giáo cầu nguyện rằng:

“Xin hãy ở với linh hồn tôi, xin đừng bỏ tôi, để tôi bắt đầu được sống với thần linh và thân linh sẽ cứ ở mãi trong tôi”.

- Trong huyền thoại về Hermes, người mới theo đạo nói:

“Tôi biết thần Hermes, và Ngài biết tôi, tôi là Ngài, và Ngài là tôi”.

Cũng trong huyền thoại đó, có một bài cầu nguyện như thế này:

“Lạy Chúa Hermes, xin hãy đến trong tôi, như những con trẻ đến với lòng các bà mẹ vậy”.

- Trong huyền thoại về Iris, người thờ phượng nói:

“Thần Orisis thật sự sống mãi thế nào, thì nguyện mọi kẻ thờ phượng Ngài cũng được sống thể ấy. Thần Orisis quả thật là không hề chết thể nào, nguyện người theo Ngài cũng sẽ không chết nữa”.

Chúng ta cần nhớ rằng, những người thời cổ biết rõ mọi sự về sự phấn đấu, chờ đợi, mơ ước được đồng hóa với thần của họ, được phúc nhận vị thần ngự trong mình và nghe được vị thần mình. Họ không hề đọc những câu như “ăn thịt và uống máu Chúa Kitô” theo nghĩa đen một cách sống sượng và đáng sợ. Họ đã biết ít nhiều về kinh nghiệm kết hợp không thể mô tả được, một sự kết hợp mật thiết hơn bất cứ sự kết hợp nào trên thế gian. Đó là loại ngôn ngữ mà người thời cổ hiểu được, và chính chúng ta cũng hiểu được.

Cũng cần nhớ ở đây Gioan lại làm điều ông vẫn làm. Ông không cố gắng đưa nguyên văn lời Chúa Giêsu đã nói. Bảy mươi năm suy nghĩ về những gì Chúa Giêsu đã nói và bây giờ, dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, ông đưa ra ý nghĩa bên trong lời ấy. Ông không kể lại từng chữ từng tiếng, vì nếu thế, chỉ là công việc của trí nhớ. Nhưng ông kể lại phần ý nghĩa cốt lõi của những lời ấy, tức là phần bởi Thánh Thần soi sáng.

*****

Bây giờ chúng ta tìm xem Chúa Giêsu muốn nói điều gì, và Gioan hiểu thế nào từ những lời lẽ ấy như thế.

Có hai cách để khảo sát đoạn này.

1. Có thể hiểu theo một ý nghĩa hết sức tổng quát, Chúa Giêsu nói về việc ăn thịt và uống máu Ngài.

Thịt của Chúa Giêsu là nhân tính trọn vẹn đầy đủ của Ngài. Trong thư 1 Ga, đúng là tác giả đã phẫn nộ khi viết:

“Phàm, Thần Khí nào tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng đã đến và trở nên người phàm, thì Thần Khí đó là bởi Thiên Chúa. Còn Thần Khí nào không tuyên xưng Đức Giêsu thì chẳng phải bởi Thiên Chúa” (1Ga 4,2-3).

Thật vậy, Thần Khí nào phủ nhận Đức Giêsu lấy xác phàm mà đến là thần của Antichrist. Gioan muốn nhấn mạnh là chúng ta phải bám lấy, không bao giờ buông rơi phần nhân tính trọn vẹn của Chúa Giêsu. Chúa vốn có thịt xương giống như chúng ta. Điều ấy có nghĩa là gì? Như chúng ta đã thấy, Chúa Giêsu là tâm trí của Thiên Chúa trở thành con người. Có nghĩa là nơi Chúa Giêsu chúng ta thấy Thiên Chúa mặc lấy sự sống như con người đối diện với hoàn cảnh con người, phấn đấu với các vấn đề của loài người, tranh chiến với những cám dỗ của con người, giải quyết các mối liên hệ giữa loài người chúng ta.

Dường như Chúa Giêsu đã nói: “Hãy lấy tư tưởng về nhân tính của Ta mà nuôi dưỡng tâm trí linh hồn các ngươi. Khi các ngươi chán nản hay thất vọng, quá mệt mỏi với đời sống mà ngã quỵ, chán đời và chán sống, thì hãy nhớ Ta đã từng lấy đời sống các ngươi với tất cả những nỗi gian nan mà khoác vào mình Ta”. Như thế đời sống và thân xác sẽ mặc lấy vinh quang vì đã được Thiên Chúa chạm đến. Chúa Giêsu đã thần hóa thân xác chúng ta bằng cách mặc nó lên chính Ngài, đó là niềm tin quan trọng của các học giả Kitô giáo chính thống Hy Lạp. Ăn thịt Chúa Kitô là nuôi dưỡng tư tưởng bằng nhân tính Ngài, cho đến chừng nào nhân tính của bạn được tăng cường, được tẩy sạch để trở thành thuần khiết và được Ngài chiếu sáng cho.

Chúa Giêsu dạy chúng ta uống máu Ngài. Tư tưởng Do Thái cho rằng máu tiêu biểu cho sự sống. Thật dễ hiểu, tại sao Ngài bảo vậy. Một vết thương làm máu chảy ra tức là sự sống bị giảm đi. Với người Do Thái máu thuộc về Thiên Chúa. Đó là lý do cho đến ngày nay, người Do Thái chẳng bao giờ ăn một con vật còn máu bên trong. “Song các ngươi không nên ăn thịt còn hồn sống nghĩa là có máu” (St 9,4). “Các ngươi chớ ăn máu nó, phải đổ máu trên đất như vậy” (Đnl 15,23). Bây giờ chúng ta mới hiểu điều Chúa Giêsu dạy bảo: “Các ngươi phải uống máu Ta, phải nhận lấy sự sống của Ta là sự sống Thiên Chúa”. Khi Chúa Giêsu phán dạy phải uống máu Ngài, là Ngài dạy chúng ta phải nhận láy sự sống của Ngài vào trong mình.

Như thế có nghĩa gì? Xin minh họa như sau:

Đây là tủ sách của tôi, trong đó có một cuốn sách mà tôi chưa hề đọc. Dù cho quyển sách có quý và bổ ích đến thế nào, mà nếu tôi không đọc đến nó thì nó vẫn ở ngoài tôi. Nhưng một ngày kia, tôi lấy nó ra đọc, tôi cảm thấy hồi hộp, lôi cuốn và rung cảm. Câu chuyện đó thôi thúc tôi, những dòng chữ quan trọng được ghi khắc vào tâm trí tôi. Bây giờ lúc cần, tôi có thể lấy những điều kỳ diệu đó từ bên trong, hồi tưởng lại, suy gẫm nó, bồi dưỡng tâm trí mình. Trước kia, cuốn sách vốn ở ngoài tôi, nằm trên kệ sách. Bây giờ, nó thâm nhập vào tôi, tôi có thể lấy nó để nuôi mình. Những kinh nghiệm từng trải trong đời cũng vậy. Chúng vẫn ở ngoài ta, cho đến khi chúng ta nhận lấy cho riêng mình.

Với Chúa Giêsu cũng vậy. Bao lâu Ngài còn là một nhân vật trong sách, thì Ngài vẫn ở ngoài ta, nhưng một khi Ngài đã vào lòng chúng ta, thì Ngài ở trong chúng ta, chúng ta được nuôi dưỡng bằng sự sống, sức mạnh và sự sinh động do Ngài ban. Chúa Giêsu dạy chúng ta phải uống máu của Ngài. Ngài phán:

“Các ngươi phải lãnh nhận sự sống của Ta, đưa vào bên trong các ngươi. Phải thôi nghĩ về Ta như một nhân vật trong sách hay một đề tài thảo luận thần học, mà phải nhận lấy Ta vào trong các ngươi, và các ngươi vào trong Ta, lúc ấy, các ngươi sẽ có sự sống và đó là sự sống thật”.

Đó là điều Chúa Giêsu muốn nói khi Ngài đề cập đến việc chúng ta ở trong Ngài và Ngài ở trong chúng ta. Khi Chúa Giêsu dạy chúng ta ăn thịt và uống máu Ngài, là dạy chúng ta hãy nhận lấy nhân tính của Ngài để nuôi dưỡng tâm trí và linh hồn ta, hãy bồi dưỡng đời sống mình bằng sự sống của Ngài cho đến khi chúng ta được thấm nhuần, tràn ngập, đầy dẫy sự sống của Thiên Chúa.

2. Nhưng Gioan còn muốn nói nhiều hơn, Gioan cũng nghĩ đến Bữa Ăn Tối của Chúa, là Tiệc Thánh. Chúa Giêsu phán:

“Nếu các ngươi muốn có sự sống, hãy đến ngồi vào bàn ăn để ăn miếng bánh đã bị bẻ ra, uống chén rượu đã được đổ ra, để bởi ân huệ của Thiên Chúa, các ngươi được tiếp xúc với tình yêu và sự sống của Chúa Giêsu cách sống động”.

Gioan nói với mọi người:

“Các bạn không thể có được đầy dẫy diệu kỳ của đời sống Kitô hữu, trừ phi các bạn đến ngồi vào bàn tiệc yêu thương này”.

Nhưng, Gioan không hề kể lại câu chuyện về Bữa Ăn Tối cuối cùng, đây là điều vô cùng lạ lùng trong quan điểm của ông. Ông đưa ra lời giáo huấn về Tiệc Thánh, không phải trong phần tường thuật câu chuyện ở phòng cao, mà trong câu chuyện một bữa ăn ngoài trời trên sườn đồi gần Bétxaiđa Guilia, bên bờ hồ Galilê xanh biếc.

Chúng ta không có gì nghi ngờ về những điều Gioan muốn nói. Ông muốn nói với Kitô hữu chân chính điều này, là mỗi bữa ăn đều trở thành Thánh Lễ. Có thể nói không quá đáng rằng một số người đã lạm dụng Thánh Lễ trong Hội Thánh, khiến nó trở thành một thứ bùa phép ma thuật, hoặc ngụ ý rằng: Tiệc Thánh là nơi duy nhất chúng ta có thể đến gần Chúa Kitô Phục Sinh. Gioan thật tình chủ trương mỗi bữa ăn, dù là trong gia đình hèn hạ nhất hay trong cung điện cao sang, dưới bầu trời với bãi cỏ xanh làm thảm, cũng đều là một Tiệc Thánh. Gioan không giới hạn sự hiện diện của Chúa Kitô trong khung cảnh giáo đường hay một buổi lễ có kinh kệ theo đúng nghi thức. Ông nói:

“Trong bất cứ bữa ăn nào, các bạn cũng lại thấy bánh chỉ về nhân tính của Thầy, rượu nho chỉ về máu vốn là sự sống”.

Trong tư tưởng của Gioan, tại bàn ăn qua loa ngoài bờ biển hay trên sườn đồi, tất cả đều giống nhau ở chỗ, trong tất cả các bữa ăn đó chúng ta đều có thể nếm, chạm đến và cầm lấy bánh với rượu nho đem chúng ta đến gần Chúa Kitô. Kitô giáo sẽ thật nghèo nàn, nếu Chúa Kitô bị giới hạn trong các nhà thờ. Gioan tin rằng: Chúng ta có thể tìm gặp Chúa Kitô bất cứ ở đâu, vì trong thế giới có sự hiện diện của Ngài khắp nơi. Không phải ông làm giảm giá trị Tiệc Thánh, nhưng ông mở rộng ra để chúng ta có thể tìm gặp Chúa Kitô tại bàn Tiệc Thánh trong nhà thờ, rồi đi ra để cùng gặp Ngài ở bất cứ nơi nào mà con người họp lại để vui hưởng các ân huệ của Ngài.
------------------
NB: Theo chú giải của William Barclay


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 20-B: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời. – Gioan 6,54)

-------------------

 

Bài 6: Chuyện Người con hiếu thảo với mẹ


Có một chàng thanh niên, đến tuổi đi “quân dịch” (= nghĩa vụ quân sự), tên là Vũ Thành Tâm, đã tâm sự, kể lại chuyện đời mình như sau:

Lúc xưa, thời còn xuân trẻ, vì ham vui, tôi đã bỏ Chúa, bỏ đạo, bỏ đến nhà thờ từ lâu lắm rồi. Tôi đã không đi lễ, cũng chẳng có chịu các phép Bí Tích nữa.

Khi sắp nhập ngũ, Mẹ tôi lo lắng lắm về tình trạng khô đạo của tôi. Mẹ tôi sợ tôi có thể bị chết ngoài trận chiến bất kỳ lúc nào, bởi vì là lính trong thời chiến mà.

Vì thế, trước khi lên đường, mẹ tôi soắn xúyt bên tôi, vồn vã nói nhỏ với tôi:

- "Tâm con, mẹ muốn con làm cho mẹ một điều có được không".

- "Điều gì đó mẹ?" Anh hỏi lại.

Con đi xa nhà, đời binh nghiệp, trôi nổi bôn ba đó dây, cái chết hầu như tầu lá rơi rụng trước gió, vì thế mẹ muốn con hứa với mẹ:

“Dù con có bận bịu mệt mõi đến đâu đi nữa, thì mỗi tối, trước khi ngủ, con hãy nhớ đọc cho mẹ một kinh kính mừng, để dâng phó linh hồn và xác con cho Đức Mẹ. Có được không?”

*****

Bỗng tôi miên mang suy nghĩ, lời mẹ sao như đưa mình vào trong một thế kẹt: Mẹ đã biết rõ là mình đã bỏ Chúa, bỏ đạo từ lâu lắm rồi, mà sao nay mẹ lại “gài độ” mình như vậy ? Lòng tôi muốn chối từ, không muốn chấp nhận.

Nhưng rồi suy đi nghĩ lại, tôi tự nhủ với lòng mình: Xưa nay, mình vẫn tự hào cho mình là người con có hiếu với mẹ, chả lẽ lại từ chối một đề nghị nho nhỏ của mẹ sao ?. Thôi thì chấp nhận cũng được. Chấp nhận cho mẹ vui cái đã. Hãy coi lời mẹ vừa nói như một “Lời trăng trối".

Thế rồi, trong nhiều năm tháng trôi qua của đời binh nghiệp, vì bận bịu với việc quân ngũ nay đây mai đó, tôi cũng chẳng nhớ biên thư, hay có liên lạc gì với mẹ.

Đến một hôm, mẹ tôi đã nhận được một lá thư của cha Tuyên Úy Quân Đội tại đây, gởi về cho mẹ tôi, thông tin về việc tôi bị trọng thương, cũng thông tin về sức khỏe hiện tại của tôi, và Ngài cũng cho biết là tôi đã được lãnh nhận các phép Bí Tích.

Ít lâu sau khi được bình phục, tôi cũng đã viết thư về cho mẹ: "Mẹ ơi, con cám ơn mẹ đã bảo con hứa với mẹ là sẽ đọc một kinh kính mừng mỗi ngày. Con đã giữ lời hứa đó, và nay, con đã bắt đầu đi lễ và chịu lễ mỗi chúa nhật, mỗi khi có cơ hội đến nhà thờ".

*****

Bài Tin Mừng ngày hôm nay cũng là một thách đố cho các môn đệ Chúa. Niềm tin của các ngài cũng bị thử thách trầm trọng, bởi trong bài giảng Chúa Giêsu đã nói:

"Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì sẽ được sống muôn đời" (Gioan 6,59).

Có nhóm không chấp nhận được lời Chúa Giêsu tuyên bố, nên quyết tâm bỏ Chúa mà đi. Thì cũng giống như anh Tâm, đã bỏ Chúa bỏ đạo từ lâu lắm rồi, thì làm sao có thể chấp nhận lời đề nghị của mẹ mỗi tối đọc một kinh Kính Mừng cho được.

Nhưng cũng còn có một số ít môn đệ còn lại, tuy cảm thấy lời Thầy nói có khó nghe, nhưng vì tình nghĩa, vì thương Thầy, vì nhận ra mình là môn đệ của Thầy, nên quyết  tâm tin vào Thầy, quyết tâm trung thành ở lại với Thầy:

"Bỏ thầy con biết theo ai. Thầy mới có những lời hằng sống". (Gioan 6,68)

Cũng như anh Vũ Thành Tâm, tuy có ngại, nhưng quết trung thành với: "Lời dặn dò của mẹ, như một lời mẹ trối".

******

Chúng ta có thể tin rằng: Một linh hồn, dù có xa Chúa đến mấy đi nữa, mà còn giữ được một cái gì đó nối kết được với Chúa, dù chỉ là một câu kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng mỗi ngày, hay một việc đạo đức nào đó làm vì Chúa, thì vẫn còn hy vọng sẽ tìm lại được con đường trở về với Chúa.

Anh Tâm, cũng như rất nhiều người công giáo, đã bắt chước các môn đệ thành tâm trong bài tin mừng hôm nay: Tuy họ không thể tin Chúa Giêsu có thể cho họ ăn Mình và uống Máu Ngài, nhưng họ lại quyết tâm tin vào Chúa, quyết tâm ở lại với Chúa, ít ra là vì họ đã chứng kiến việc Chúa làm, là đã dùng chỉ 5 cái bánh và 2 con cá, thế mà lại có thể để nuôi được tới 5000 người ăn no.

Nhiều người thường lấy lý do: "Đi dự lễ không thấy phấn khởi, đọc một kinh, xem lễ, không thấy được ơn ích gì..." Nhưng họ vẫn cứ làm, ít ra là họ vì tin vào những lời Chúa dạy.

Cứ làm đi rồi Chúa sẽ hỗ trợ, và sẽ ban ơn cho.

Hãy như Anh Vũ Thành Tâm trong câu chuyện, mỗi người chúng ta hãy cố làm những gì có thể được, càng nhiều càng tốt, để đáng được Chúa thương cứu giúp.

-----------------------------

Phỏng theo: Dongcong.net - Lm. Thu Băng, CMC


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 21-B: “Bỏ Thầy, con biết theo ai”. – Gioan 6,68)

----------------

 

Bài 7: Chuyện Bên lề một Thánh Lễ đồng tế


Có một đoàn rước các linh mục đồng tế, đang nghiêm trang tiến vào nhà thờ, bỗng trong đám đông dân chúng dứng 2 bên, có tiếng một phụ nữ xầm xì nghe khá rõ:

“Lễ hôm nay các cha đông như ma (quỷ) vậy”.

Tôi chẳng biết là ma có bao nhiêu con, nhưng chắc là cũng nhiều lắm, vì hôm đó, các cha cũng thật đông.

Khi nói các cha đến đông như vậy, thì hiểu ngay là ý người này muốn nói:

“Buổi lễ hôm nay thật là long trọng”.

Nhận xét của người này, tôi thiết nghĩ, cũng là của nhiều người trong chúng ta, vì chẳng biết từ bao giờ, trong tâm trí của chúng ta có một suy nghĩ, cứ lễ nào có đông các cha, rước xách linh đình, rầm rộ, thì đó là lễ trọng, có giá trị hơn các lễ khác.

Chúng ta chỉ dừng lại ở những nghi thức bên ngoài,
mà quên đi đời sống nội tâm bên trong.


*****

Tuy nhiên, Lời Chúa hôm nay (Chúa Nhật TN 22-B) cho chúng ta một cái nhìn khác với cái nhìn của chúng ta.

Thiên Chúa muốn chúng ta có một lòng yêu mến chân thành đối với Ngài. Và chính lòng yêu mến đó sẽ chỉ cho chúng ta biết phải làm gì đối với Thiên Chúa. Do đó, dưới ánh sáng của Lời Chúa hôm nay, tôi muốn cùng quý ông bà anh chị em nhìn lại đời sống đạo của mỗi người chúng ta.

1. Từ việc giữ đạo …

Khi nói đến đời sống tôn giáo, thông thường chúng ta nghĩ ngay đến một số các luật lệ và nghi thức. Và chúng ta cũng thường có khuynh hướng đánh giá mức độ đạo đức của một người qua số lần người đó tham dự các lễ nghi, và giữ các luật lệ.

Chính vì thế mà mỗi khi thấy có người nào, không giữ như chúng ta, chúng ta liền phê bình và cho là “khô đạo”.

Đó cũng chính là quan niệm của những người Biệt phái thời Chúa Giêsu. Ngay khi thấy các môn đệ của Đức Giêsu dùng bữa mà không rửa tay theo luật, lập tức các người Biệt phái liền chất vấn Ngài:

“Sao môn đệ ông không giữ tập tục của tiền nhân, mà lại dùng bữa với những bàn tay không tinh sạch?”.

Như vậy, thắc mắc của những người Biệt phái không phải là vấn đề vệ sinh, nhưng là “tập tục của tiền nhân”.

Chúng ta biết rằng: Đối các người Biệt phái, trước khi ăn, họ phải rửa từ khuỷu tay trở xuống 2 lần.

- Lần thứ nhất vì tay bẩn, và
- lần thứ hai là để tẩy rửa nước của lần rửa thứ nhất đã bị bẩn vì đã dính vào tay bẩn của mình.


Đứng trước chất vấn của họ, một chất vấn chỉ dựa vào nghi thức bên ngoài, Đức Giêsu đã lên tiếng cảnh cáo họ:

“Hỡi bọn giả hình, Isaia thật đã nói tiên tri rất chí lí về các ngươi, như lời chép rằng: “Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta…”.

Đức Giêsu còn tuyên bố rõ rằng: Chỉ có những gì từ bên trong ra, mới làm cho con người ta ra ô uế, chứ không phải là những điều từ bên ngoài vào:

“Không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho họ ra ô uế. Chỉ có những gì từ con người xuất ra, chính những cái đó mới làm cho họ ra ô uế. Vì từ bên trong, từ tâm trí người ta xuất phát những tư tưởng xấu, ngoại tình, dâm ô, giết người, trộm cắp, tham lam, độc ác, xảo trá, lăng loàn, ganh tị, vu khống, kiêu căng, ngông cuồng. Tất cả những sự xấu đó đều ở trong mà ra, và làm cho con người ta ra ô uế”. (Marcô 7,15-23)

Những người Biệt phái đã cắt nghĩa và thêm vào thật nhiều chi tiết tỉ mỉ, trong khi đó, điều quan trọng là giới luật yêu thương của Thiên Chúa, thì họ lại bỏ qua.

Họ quên mất lời nhắc nhở của Môisen trong sách Đệ Nhị Luật:

“Các ngươi chớ thêm bớt điều gì trong các điều ta đã truyền, nhưng hãy tuân giữ các giới răn của Chúa là Thiên Chúa các ngươi mà ta đã truyền dạy các ngươi”.

Họ đã thêm quá nhiều điều phụ và chỉ dừng lại ở đó, mà quên đi điều chính yếu. Họ quên mất rằng: Đối với Thiên Chúa, Ngài muốn từng người chúng ta đến với Ngài bằng cả tấm lòng, và trọn vẹn con người của chúng ta, chứ không chỉ là những nghi thức rầm rộ ở bên ngoài.

Chỉ dừng lại ở những nghi thức, lề luật nơi Nhà thờ, mà quên đi việc phải sống Lời Chúa trong cuộc sống hàng ngày, cũng là điều mà tôi và quý ông bà anh chị em rất dễ mắc phải.

Thực ra, có lẽ chúng ta chẳng muốn sống giả hình, nhưng vì giữ những nghi thức đó, xem ra dễ hơn là sống những đòi hỏi của Thiên Chúa. Chúng ta chỉ mới giữ đạo, chứ chưa sống đạo. Chúng ta chưa để Tin mừng của Chúa biến đổi cuộc sống của chúng ta; chính vì thế, chúng ta vẫn còn phải nghe những nhận xét thật đau lòng của anh chị em chưa tin: “Tin đạo, chứ không tin người có đạo”. Họ không tin chúng ta, vì chúng ta chưa thật sự sống điều chúng ta tin.

2. … đến việc Sống đạo:

Nếu chỉ lo giữ những nghi thức bên ngoài, mà không có một tấm lòng chân thật bên trong, những nghi thức này sẽ không bền vững, thậm chí, chúng còn dẫn chúng ta đến một thói xấu khác, là kiêu căng, là tự phụ, là dễ kết án người khác….

Ý thức điều đó, Môisen đã nhắc nhở dân Israel: “Hỡi Israel, giờ đây hãy nghe các lề luật và huấn lệnh mà ta dạy bảo các ngươi phải thực hành để được sống”.

Môisen nhắc cho dân biết rằng, để mãi mãi được sống trong tình yêu của Thiên Chúa và được Ngài giữ gìn, thì họ phải sống điều Thiên Chúa dạy, chứ không chỉ nghe xuông, hay là chỉ giữ những gì con người nghĩ ra.

Như thế để được sống, chúng ta không chỉ nghe, nhưng cần đem Lời Chúa ra sống, ngay trong cuộc sống hiện tại hàng ngày của chúng ta cách cụ thể, như lời thánh Giacôbê:

“Anh em hãy khử trừ mọi thứ nhơ bẩn và lòng đầy gian ác, anh em hãy ngoan ngoãn nhận lãnh Lời đã gieo trong lòng anh em … Lòng đạo đức trong sạch và tinh tuyền đối với Thiên Chúa Cha là: thăm viếng cô nhi quả phụ trong cơn quẫn bách, và giữ mình khỏi mọi ô uế đời này”

Không những bản thân chúng ta sống Lời Chúa, nhưng mỗi người còn có bổn phận thông truyền và giúp đỡ cho người khác cùng sống Lời Chúa, nhất là những người thân trong gia đình của chúng ta, như lời dạy của Môisen:

“Các ngươi hãy ý tứ và giữ mình. Trong suốt đời các ngươi đừng quên và đừng để lòng xao lãng những điều các ngươi đã thấy. Hãy dạy cho con cháu các ngươi biết các điều ấy”.

Sống Lời Chúa chính là sự bảo đảm cho chúng ta có được một tâm hồn bình an và nhất là giúp chúng ta ngày càng đến gần với Chúa hơn. Chính tác giả Thánh vịnh trong bài đáp ca, với kinh nghiệm sống của mình, cùng với sự soi sáng của Thánh Thần đã khẳng định điều đó, khi nêu lên câu hỏi:

“Lạy Chúa, ai được cư ngụ trên núi thánh của Chúa?”.

Và tác giả cũng đã đưa ra cho chúng ta câu trả lời:

“Đó là người sống thanh liêm và thực thi công chính, và trong lòng suy nghĩ điều ngay, và lưỡi không bịa lời vu khống; người không làm ác hại bạn đồng liêu, cũng không làm nhục cho ai lân cận”.

Chúng ta cần tin tưởng và sống theo Lời Chúa, lời của Đức Kitô, bởi vì đây là con đường duy nhất đưa chúng ta đến sự sống đời đời, như lời Ngài đã khẳng định:

 “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”.

Lắng nghe Lời Chúa hôm nay, là cơ hội để mỗi người chúng ta kiểm điểm lại cuộc sống của mình trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta nghe Lời Chúa mỗi tuần, thậm chí là mỗi ngày, nhưng chúng ta đã có lần nào can đảm sống những đòi hỏi của Chúa chưa?

Mỗi lần tham dự Thánh lễ, là mỗi lần chúng ta tham dự vào hiến tế tình yêu để lãnh nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa. Thế nhưng, khi trở về nhà, chúng ta vẫn nói hành, vẫn sống gian dối, vẫn còn chia bè, lập phái, và chưa sẵn sàng để tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng ta. Như thế, phải chăng chúng ta đang tự lừa dối chính mình và người khác, như lời thánh Giacôbê:

“Anh em hãy thực thi Lời đã nghe,
chớ đừng nghe xuông mà lừa dối chính mình”.

Chớ gì, với sự trợ lực của Thánh Thể, khi rời ngôi Thánh Đường này, để trở về nhà, từng người chúng ta luôn sẵn sàng thực hiện những điều Chúa dạy chúng ta trong từng ngày sống của mình. Amen.

Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 22-B: “Các ông gạt bỏ điều răn Thiên Chúa, chỉ lo giữ truyền thống người phàm. – Marcô 7,8a)

----------------------------

 

Bài 8: Chuyện áo quần khi đi dự tiệc tiệc


Có một ông nhà giàu, trong một buỗi lễ của gia đình, đã cho mời khá đông những bạn bè thân hữu trong thành phố đến dự tiệc.

Trong những khách được mời đến dự tiệc, có một ông ăn mặc trong bộ đồ lôi thôi, tồi tàn, như một kẻ ăn xin. Khi vừa đến cửa, người này bị người bảo vệ cổng đuổi về, không cho vào.

Không buồn lòng vì sự sỉ nhục này, ông quay trở về, và đến mượn một bộ đồ khá sang trọng, cũng của một anh bạn láng giềng giàu có. Rồi người này tiếp tục trở lại nhà tiệc. Lần này, người gác cổng tiếp đón với vẻ niềm nở trân trọng và chỉ cho ông một chỗ ngồi khá sang ở bàn trên.

Đang lúc ăn, ông với tay để lấy miếng thịt chiên, thì bất ngờ cái tay áo sang trọng đó lại bị nhúng vào cái đĩa thức ăn bên dưới. Người khách ngồi kế bên, mới kê tai nói nhỏ với ông: “Kéo tay áo của ông lên”.

Ông này đã không làm theo, mà còn khẳng định thật to tiếng, cốt để cho mọi người  trong bữa tiệc đều có thể nghe thấy:

“Không, cứ để như vậy đi”.

Rồi ông cố ý vén tay áo ngoài lên thật cao, để cho mọi người đều thấy tay áo trong của ông, lem luốc, rách rưới, te tua, thê thảm.

Ông lớn tiếng nói với tay áo sang trọng: “Mày ăn đi. Cứ ăn đi, hỡi tay áo của tôi. Ăn đi cho thật no nê thỏa thích. Chính mày mới có quyền dự bữa tiệc này, vì trong nhà này, người ta tôn trọng mày hơn tao”.

*****

Thánh tông đồ Giacôbê trong bài đọc thứ 2 lễ hôm nay (Chúa Nhật 23 TN-B): “Anh em đã tin vào Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Chúa vinh quang, thì đừng đối xử thiên tư (giữa các giai tầng xã hội - Giac. 2,1-5). Chính đoạn văn này của thánh Giacôbê, có lẽ đã làm cho chúng ta khó chịu, vì sự thật phủ phàng của xã hội chúng ta xưa nay.

Xã hội chúng ta có đầy sự phân biệt đối xử giai cấp. Chúng ta thấy điều đó qua loại xe người ta lái, loại phi cơ người ta đi, nơi khu đất người ta ở, ở câu lạc bộ người ta năng lui tới, ngay cả cái điện thoại đắc tiền khi người ta nghe, v.v… cũng khẳng định tầng lớp giai cấp của họ. Thì ra, trong xã hội có một chỗ dành riêng, có một thế giới dành riêng cho những người giàu và lại có một chỗ dành riêng cho những người nghèo.

Người ta gán ghép giá trị xã hội theo số lượng tiền bạc mà người đó có: Nếu bạn giàu có, bạn là một nhân vật nào đó. Còn nếu bạn nghèo, thì ngươi ta đối xử với bạn, coi bạn không ra gì.

Việc phân chia giai cấp sẽ không đến nỗi nào, nếu kết quả của nó không ảnh hưởng đến chúng ta. Nhưng đây, sự phân chia giai cấp đã dẫn đến những sự thiên vị, phân biệt đối xử, trọng phú, khinh bần. Và người ta cứ thường giữ chặt mỗi người ở vị trí của họ, làm cho có những người nghèo bị tự ti mặc cảm. Nó bắt người ta sống riêng rẽ theo thế giới riêng của mình. Có khi, người nghèo không được phép bước chân vào thế giới, vào trong khu vực của những người giàu.

*****

Nhưng, người giàu cũng có lúc sẽ phải đau khổ, có lúc sẽ phải nếm cảm thật xót xa, cái giả tạo về sự vinh sang, về sự quan trọng của họ.

Sự phân chia giai cấp dẫn đến những tiêu chuẩn kép và không nên có giữa các Kitô hữu với nhau, giữa những người môn đệ của Chúa. Các Kitô hữu không được phép để mình bị lôi kéo theo những tiêu chuẩn giả tạo đó, để gọi là thích ứng với xã hội.

Những rào cản giữa các giai cấp, có lúc sẽ bị đổ xập xuống. Như khi có những tai họa, những nguy hiểm và đau buồn tập thể (thời Covid-19),  thì những sự phân biệt ấy sẽ bị gạt sang một bên. Lúc đo, họ mới thấy những sự phân biệt đó, chỉ là những điều ngớ ngẩn, vô lý, giả tạo.

Trong những cảnh đau thương thê thảm cùng cực, người ta mới có thể đến với nhau và làm phong phú cho nhau trong tình nhân loại anh em chân tình

*****

Trong kinh thánh, hay trong thực tế, nếu Thiên Chúa có tỏ ra thiên vị kẻ này người nọ, thì đó là sự thiên vị dành cho những người nghèo và những người bị áp bức, bị bỏ rơi ở xã hội. Việc Thiên Chúa quan tâm đến người nghèo, không có nghĩa là Thiên Chúa yêu họ chỉ vì họ nghèo, như thể nghèo khó là một thứ nhân đức.

Không, Thiên Chúa đứng về phía người nghèo và người bị áp bức, là bởi vì họ bị đối xử bất công. Và Thiên Chúa quyết định lấy lại sự công bằng và chính nghĩa cho những người bị áp bức.

Các Kitô hữu phải làm sao cho các tiêu chuẩn của mình phù hợp với các tiêu chuẩn của Thiên Chúa.

Sự cao thượng, cùng lòng nhân hậu, không thể do giai cấp xác định. Điều xấu cũng thế. Không có giai cấp nào được độc quyền tốt hoặc xấu, đau khổ hay vui mừng. Nhưng khi đến với đức tin, thánh Giacôbê nói rằng: Chính những người nghèo đối với thế gian này, mới thật sự là những người giàu có trong đức tin.

Người giàu thì có khuynh hướng cậy dựa vào của cải của mình.

Trong khi những người nghèo, thì theo bản năng, họ lại muốn quay về với Thiên Chúa, tin tưởng, cậy  trông, phó thác vào Thiên Chúa, và chỉ một mình Thiên Chúa thôi. Chính vì thế, mà Đức Giêsu đã nói:

“Phúc thay ai nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”.

Ở đây, trong Giáo Hộ, trong ngôi nhà của Thiên Chúa, mọi rào cản phân chia giai cấp đều cần phải phá đổ. Bởi vì ở đây, phẩm giá thật sự của chúng ta đã được xuất hiện. Phẩm giá đó không dựa trên những giá trị phân chia theo cách con người và xã hội đánh giá, hay đề cao. Nó dựa trên một điều rất sâu xa, đó là bản chất của con người.

Nói cách khác, chúng ta đều là con cái của Thiên Chúa và là anh chị em với Đức Kitô. Bất cứ sự phân biệt nào khác, đều là tầm thường, đều là vô nghĩa. Khi chúng ta đến nhà thờ đây, những sự phân biệt khác đều tiêu tan như sương mù buổi sáng trước ánh mặt trời.

Lạy Chúa, xin giúp cho mỗi người chúng con biết cố gắng thực hiện trong cuộc sống, theo những hiểu biết mà Chúa đã gợi lên cho chúng con hôm nay. Amen.


*** (Chuyện này minh họa Bài Đọc 2 - Chúa Nhật 23 TN-B: “Anh em đã tin vào Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta bla2 Chúa vinhquang, thì đừng đối xử thiên tư (giữa csa1c tầng lớp xã hội. – Giacôbê 6,1-5)

--------------------

 

Bài 9: Chuyện Chúa Giêsu không biết làm kinh tế


Những khuyết điểm đáng yêu của
Chúa Giêsu
-------------------

Trong quyển sách "Niềm vui sống đạo", Đức Cố Hồng Y PX. Thuận đã kể ra được 10 "khuyết điểm" của Chúa Giêsu. Và ngài nói là ngài yêu lắm 10 "khuyết điểm" ấy.

Ở đây, chỉ xin đưa ra 2 khuyết điểm này thôi:
 

1. Khuyết điểm thứ I: Chúa Giêsu không biết làm kinh tế

Đọc kinh thánh, chúng ta thấy, có lần Chúa Giêsu đã tuyên bố: Ngài thà để 99 con chiên lại tại chuồng, rồi bôn ba đi khắp nơi, để tìm cho bằng được con đi chiên lạc.

Con chiên lạc đang đi đâu, đang ở đâu, thì không hề biết. Vậy mà Chúa dám nói, Ngài sẽ liều bỏ 99 con chiên lại chuồng, để tìm cho bằng được con chiên lạc đó. Mà đâu ó chắc gì tìm lại được con chiên lạc đó đâu.

Còn 99 con chiên, tuy đang ở trong chuồng, nhưng có gì là an toàn không, khi ông chủ của nó không có ở đó với chúng, thì chúng phải đối mặt với biết bao sợ hãi lo âu, biết bao nguy hiểm, nào là trộm cướp, nào là bao thú dữ đang rình mò...

Đối với Chúa. hình như 1 con chiên lạc, lại có giá hơn 99 con chiên đang ở trong chuồng. Đúng như tục ngữ Việt nam có câu: “Thả mồi bắt bóng” (mồi trong miệng thì không chịu ăn, lại cứ chạy đuổi theo cái bóng). Không khéo là “mất cả chì lẫn chài”.
 

2. Khuyết điểm thứ II: Chúa Giêsu không biết cách tiếp thị và quảng cáo.

Quảng cáo là mời gọi người ta đến với mình, thì phải tìm cái gì đó hấp dẫn và lôi cuốn, bằng cách "tô son" lên một chút những điều mình nói.

Đằng này Chúa Giêsu lại nói:

"Ai muốn theo tôi, thì hãy từ bỏ mình đi. Hãy vác thập giá của mình mà theo" (Mc 8, 34). Quảng cáo, tiếp thị và chiêu mộ lính kiểu này thì "thua" là cái chắc!

Bởi lẽ, nghe nói đến thập giá, thì ai mà chẳng sợ. Chẳng ai háo hức ôm lấy thập giá vào mình bao giờ!

Hơn nữa, theo Thầy, người ta cứ tưởng là sẽ được một cái gì hấp dẫn, như lãnh vài chục triệu đồng một tháng, hay là sẽ được mọi người kính trọng, nễ vì, hoặc sẽ có địa vị cao trong xã hội, hay sẽ được một cái gì đại loại như thế.

Chứ theo Thầy, mà chỉ có vác thập giá thôi, thì dại gì mà liều mạng như thế!

Như vậy, xem ra Chúa Giêsu dở hơn con người chúng ta ngày nay, trong chuyện làm ăn và quảng cáo nhiều lắm!

*****

Nhưng Chúa Giêsu đến trần gian không phải để làm kinh tế!

Ngài cũng không biết dùng ngôn ngữ của quảng cáo của con người thường làm, để tô son cho mình và sứ vụ của mình.

Ngài đến trần gian với một sứ mạng duy nhất là "nói lên Sự thật, sống cho Sự thật và làm chứng cho Sự thật" (x. Ga 18,37).

Ngài đã nói như thế trước mặt tổng trấn Philatô.

Và đặc biệt, trong những năm tháng ra đi rao giảng Tin mừng Nước Thiên Chúa, Ngài đã từng lớn tiếng nói rằng: "Sự thật sẽ giải phóng các ngươi" (Ga 8,32). Philatô đã hỏi Chúa Giêsu: "Sự thật là cái gì?". Nhưng Chúa đã không trả lời ông ta câu hỏi đó. Bởi lẽ, Sự thật chính là bản thân của Ngài. Ngài là hiện thân của Sự thật. Từng lời nói, từng hành động và trọn cuộc sống của Ngài đều là Sự thật trọn hảo!

*****

Tin mừng hôm nay chỉ cho chúng ta thấy có rất nhiều nội dung, nhiều vấn đề nói lên Sự thật nơi Thiên Chúa.

Nhưng ở đây, chúng ta hãy chọn câu nói, mà Chúa Giêsu xem ra rất thao thức, rất tha thiết mời gọi chúng ta thực hiện nó trong cuộc sống của chúng ta. Ngài nói rất rõ rằng:

"Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất. Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy" (Mc 8,35).

Đó là sự thật, một Sự thật trọn hảo dành cho những ai dám dấn thân vào con đường của sự hy sinh và từ bỏ: Con đường Thập giá.

*****

Có lẽ việc chọn lựa cho mình một con đường sống là cần thiết, là chính đáng nhất trong cuộc đời của mỗi con người.

Theo thói thường thì ai cũng muốn có một cuộc sống dễ dàng, một cuộc sống tiện nghi, sung túc và vui vẻ. . . Nhưng có điều là một cuộc sống dù đáng ước mơ như thế nào, cũng không có gì đảm bảo cho con người ta được sống hạnh phúc. Vì hạnh phúc đích thực không thể tìm thấy được nơi cuộc sống ở trần gian này.

Thế nhưng, nhiều người lại say mê và ra công, ra sức tìm kiếm, để sở hữu cho được nó! Biết bao nhiêu cố gắng, biết bao khó nhọc, và phải bôn ba ngày đêm khắp đó đây, quyết tìm kiếm để sở hữu cho hạnh phúc trần gian. Nhưng tất cả chỉ là công dã tràng, chỉ là vô ích thôi. Hôm nay thấy nó. Ngày mai nó lại biến đâu mất.

Bởi vì, "con người từ đất mà ra thì cũng phải trở về với đất bụi" (x. St 3, 19).

Và con người đã không mang gì vào trần gian, thì cũng đừng mong đem gì ra khỏi chốn gian trần.

Điều chắc chắn duy nhất là: "ba tấc đất mới thật là nhà, nơi nó ở muôn đời muôn kiếp" (Tv 49, 12).

*****

Con đường đưa con người tới hạnh phúc thật chính là con đường "liều mất mạng sống mình vì Chúa Giêsu và vì Tin mừng".

Nói cách khác, đó là con đường của Thập giá. "Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất".

Kẻ yêu mạng sống mình thì chỉ biết sống cho mình, muốn được mọi người nhìn nhận và phục vụ cho mình. Đó là con đường sống được lót bằng những chiếc thảm hoa êm ái và rực rỡ, nhưng sẽ dẫn con người ích kỷ đi tới hố diệt vong.

Thật bất hạnh cho những người chỉ biết yêu mình, qui hướng về mình và sống cho riêng mình!

*****

Trong Thần thoại Hy Lạp có kể câu chuyện về một anh chàng có tên là Narcise.

Narcise là một chàng trai trẻ đẹp không còn chỗ nào chê được, và cũng không có dung mạo của ai có thể so sánh với anh ta được. Anh ta cũng nhận ra điều đó nên rất tự hào về chính mình. Dần dần anh ta khám phá ra là không ai xứng đáng để anh ta kết bạn cả. Cuối cùng, anh ta chỉ còn cách là quay trở lại để yêu chính mình. Anh ta đã yêu mình cách tha thiết và say mê mình ngây ngất đến độ quên hết mọi sự. Ngày đêm lo tìm cách để nhìn ngắm mình cho đã thèm! Bất cứ nơi đâu có thể soi mình được là anh ta không tiếc thời gian để nhìn ngắm mình cho thoả lòng khao khát. Một hôm, anh ta đi ngang qua một cái giếng sâu, có nước rất trong xanh. Anh chàng Narcise liền soi mình dưới lòng giếng sâu. Tiếc thay, vì không kìm chế được lòng say mê vẻ đẹp của mình, nên anh ta đã lao mình xuống lòng giếng để ôm lấy mình. Nhưng khốn khổ thay, anh ta đã chết chìm một mình trong lòng giếng ấy.

Câu chuyện trên muốn đem đến cho chúng ta một thông điệp này là: kẻ nào quá yêu mình và say mê mình thì khó có thể tránh được cái chết trong cô đơn và tủi nhục.

Đó cũng chính là sứ điệp mà Tin mừng hôm nay gửi đến chúng ta:

"Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất.
Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin mừng,
thì sẽ cứu được mạng sống ấy".
 (Marcô 8,35)

Chúng ta cầu xin Chúa ban cho chúng ta biết can đảm chọn lấy con đường "thập giá" và vui vẻ vác lấy thập giá đời mình để theo Chúa đến cùng. "Vác thập giá" theo Chúa là chu toàn việc bổn phận của mình hằng ngày, là trung tín sống niềm tin tưởng phó thác vào Chúa, qua mọi biến cố buồn vui trong cuộc sống của mình.

Ước gì Lời của Chúa hôm nay luôn vang vọng mãi trong từng ngày sống của chúng ta, để chúng ta được sáng suốt nhìn thấy con đường mà Chúa Giêsu đang mời gọi và chờ đợi ta bước theo Ngài, ngõ hầu mai sau chúng ta được Chúa cho đứng vào hàng ngũ những người Chúa chọn và tìm được sự sống đời đời làm gia nghiệp. Amen.


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật 24 TN-B: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. – Marcô 8,34)

----------------------

 

Bài 10: Chuyện Thầy dòng và cuộc gặp gỡ Chúa


Có một vị tu sĩ già trong một tu viện, đã nhiều năm cầu nguyện với Chúa, với ước mong, xin Chúa chỉ 1 lần hiện ra, để củng cố thêm niềm tin của mình. Bởi ông cảm thấy đức tin của mình sao hãy còn quá yếu kém.

Nhưng xin mãi xin hoài, mà điều đó chẳng xảy ra bao giờ.

*****

Thế rồi, đang khi ông hầu như đã tuyệt vọng, thì một hôm, Chúa lại hiện ra với ông. Phải nói là ông vui mừng phấn khởi biết chừng nào.

Tuy nhiên, đang lúc ông say mê tâm sự với Chúa, thì lại có một hồi chuông của nhà dòng vang lên, báo hiệu đã tới giờ phát gạo cho những người nghèo. Mà hôm nay, là đến phiên trực của ông. Chính ông phải chủ trì buổi phát lương thực này. Nếu ông không có mặt, thì buổi phát lương thực này coi như là bị hủy bỏ. Những người nghèo khổ kia phải chấp nhận ra về tay không, lòng thì buồn bã, bụng phải chịu đói.

Ông đang bị giằng co mạnh trong việc lựa chọn, giữa Chúa và đám dân nghèo. Cuối cùng, ông phải lấy hết can đảm để quyết định: tạm ngưng cuộc gặp gỡ với Chúa, trong nỗi niềm tiếc xót vô chừng.Và ông xin lỗi Chúa về sự thất lễ này, để đi làm bổn phận của nhà dòng trao, đó là đi phát gạo theo định kỳ, cho dân chúng đang túng cực, nghèo khổ.

*****

Sau hơn một tiếng đồng hồ làm việc, ông trở về phòng. Và khi mở cửa, thật bất ngờ, ông không thể nào tin vào con mắt mình, bởi vì Chúa đang ở đó và chờ đợi ông. Thế là ông vội vàng quỳ gối xuống, cảm tạ Chúa, vì tấm thịnh tình Chúa dành cho ông.

Bấy giờ Chúa nói với ông:


- Giả như con không chịu đi phát cơm gạo cho đám dân nghèo, thì Ta cũng chẳng ở lại đây để chờ con đâu.

*****

Từ câu chuyện trên, chúng ta nhận thấy phương cách tốt nhất để phụng sự Chúa, không nhất thiết là phải từ bỏ mọi sự, không nhất thiết là quay lưng lại với thế gian, không nhất thiết là phải ẩn mình vào một tu viện nào đó, không nhất thiết là phải quỳ gối cầu nguyện lâu giờ, không nhất thiết là phải làm nên những công việc to lớn, kỳ diệu.

Trái lại, phương cách tốt nhất để phụng sự Chúa, đó chính là phục vụ những anh chị em sống bên cạnh chúng ta, đặc biệt là những người bất hạnh, những người nghèo khổ, thiếu may mắn. Bởi có lần trong kinh thánh, Chúa Gie6su đã tự đồng hóa mình vời những người nghèo khổ, túng đói:

“Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.” (Matthêu 25,40).

Đây cũng là điều Ngài không ngừng xác quyết trong Kinh Thánh, nhất là qua đoạn Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay (TN 25-B).

Ngài nói:

“Ai muốn là người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Marcô 9,35).

Nơi khác, Ngài lại còn xác quyết mạnh mẽ hơn:

“Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Marcô 10,45)

Chính vì thế, trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã quỳ gối xuống rửa chân cho các môn đệ mình, để dạy cho các ông bài học về tinh thần khiêm nhường và phục vụ:

“13 Anh em gọi Thầy là “Thầy”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. 14 Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. 15 Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”. (Gioan 13,13-15)

Những Việt kiều khi về thăm quê hương, thường cho biết: tình hình đạo đức bên Tây phương có phần sa sút, người ta ít đi nhà thờ, ít lãnh nhận các bí tích. Thế nhưng về tinh thần bác ái và phục vụ thì họ lại hơn hẳn. Có những gia đình Mỹ, sẵn sàng đón nhận những người Việt Nam thất nghiệp, cho ở và nuôi ăn trong nhà mình. Chắc hẳn chúng ta khó mà thực hiện được như vậy.

Người Việt Nam chúng ta thường tự hào là đạo đức, vì rất siêng năng tham dự thánh lễ, tổ chức rước kiệu, dâng hoa kính Đức Mẹ, thế nhưng đó chưa phải là dấu hiệu để thiên hạ nhận biết người môn đệ của Chúa, vì:

“Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau”. (Gioan 13,35)

Nếu như bây giờ chúng ta tạm gác bỏ những hình thức đạo đức bên ngoài ra một bên, để chỉ căn cứ vào tinh thần khiêm tốn  phục vụ, vào những hành động bác ái yêu thương, thì liệu chúng ta có còn là những môn đệ của Chúa nữa hay không ?


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 25-B: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và phục vụ mọi người”. – Marcô 9,35)

-------------

 

Bài 11: Chuyện Tài Xế giỏi, nhưng phải an toàn nữa


Có một người rất giầu có và lại rất hiếu thảo, rất yêu kính mẹ già của mình. Ông không muốn mẹ già của mình phải buồn phiền, hay thiếu thốn bất cứ điều gì. Nhưng vì công việc của công ty, xí nghiệp, nhà máy quá bận rộn, ông không có thời gian để ở bên cạnh mẹ, để chăm sóc mẹ, cho nên ông đã cố đi tìm và đã tìm được một người giúp việc rất chuẩn, rất đạt, đã làm cho ông rất hài lòng, về sự tậm tụy, chăm chỉ, nhiệt tình của người giúp việc này. Cô ta trực chiến, luôn ở sát kề bên mẹ ông, để chuyên lo việc ăn uống, thuốc men, và những thứ mẹ cần thay cho ông. Ông rất vui và rất an tâm về sự vắng mặt của mình, không thể thường xuyên ở bên mẹ.

Nhưng ông lại còn muốn có thêm một tài xế, để chiều chiều lái xe đưa mẹ đi dạo chơi, giải trí, dạo mát đó đây cho thoáng mát, thay đổi bầu không khí, thay đổi cảnh tù túng trong nhà.

Ông lên tiếng chiêu mộ một tài xế. Có 3 ứng viên đến xin chân tài xế này.

*****

Để lựa chọn ai trong 3 người này, ông ra đề thi: “Tôi không muốn có một tai nạn nào xảy ra, trong khi các ông đưa mẹ tôi đi chơi. Vậy, tôi sẽ thử tài của 3 ông, xem ai là người lái xe giỏi nhất và an toàn nhất, để tôi lựa chọn”.

Người tài xế thứ nhất tự nhủ:”Cái đó thì dễ ợt”. Ông ngồi bẻ tay lái và chạy vù xuống đường, cách bờ hồ nuôi cá một tấc.

Người thứ hai thầm bảo: “Mình lái ngon hơn hẳn là cái chắc”. Ông này cũng lái vèo xuống đường và chỉ cách bờ hồ nuôi cá có nửa tấc.

Trong khi đó, người thứ ba suy nghĩ rất mông lung. Cuối cùng, ông lái xe cách bờ hồ nuôi cá những tới một mét.

Hai người tài xế trước thấy thế cười đắc chí. Nhưng người giầu lại bảo bác tài xế thứ ba rằng: “Tôi xin nhận bác làm tài xế cho mẹ tôi. Bởi tôi cần một người tài xế không những giỏi, mà phải có độ an toàn thật bảo đảm. Mà một người lái có chất lượng bảo đảm, thì sẽ không bao giờ dám mạo hiểm, lái quá sát bờ hồ nuôi cá như vậy”.

(W.J. Diamond, Đồng cỏ non, 1968, tr 19-20)

*******

Hôm nay, trong bài tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-B, Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Nếu tay, hay chân, hay mắt anh, nên cớ làm anh sa ngã phạm tội, thì hãy chặt, hãy móc nó mà quăng đi” (Marô 943).

Như thế, có khác nào Chúa muốn chúng ta phải đứt khoát tránh xa dịp tội. Đừng bao giờ liều lĩnh, liều mạng, mà nhảy vào dịp tội. Nghĩa là để an toàn, thì ta phải tránh dịp tội, tránh những nguy hiểm, có thể dẫn ta đến tội.

Ông bà chúng ta thường nói: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Ở trong một môi trường tốt thì người ta dễ nên tốt. Còn người ở trong một môi trường xấu, thì sẽ dễ trở nên xấu, đó là định luật tâm lý, vì người ta thường hay bắt chước một cách vô ý thức.

Còn Kinh Thánh thì nói: “Ai thích sự nguy hiểm thì sẽ rơi vào sự nguy hiểm” (Gv 3,27). Hay chơi với lửa có ngày sẽ bị bỏng, chơi với dao có ngày sẽ bị đứt tay, chơi với bùn có ngày sẽ lấm áo... Đó là kinh nghiệm ngàn đời của dân gian xưa nay.

Chống lại chước cám dỗ là tốt, việc phải làm. Nhưng cũng không nên gây ra dịp thuận tiện để cho cám dỗ ập tới. Tại sao không cố mà tránh những cơ hội gây ra cám dỗ, để khỏi bị mắc bẫy ?

Ca dao Việt Nam ta có câu:

”Chim ham mồi sa lưới,
Cá ham thính mắc câu.
Con người phải nghĩ cho sâu,
Đừng ham danh lợi, sắc hầu sa cơ.
Tài danh là cạm giữa trời,
Hồng nhan là bả những người tài hoa”(ca dao).

Chúa Giêsu đã từng khuyên chúng ta:”Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, kẻo phải sa chước cám dỗ” (Mt 26,41 ; Mc 14,38).

Cẩn thận đề phòng là phương pháp tốt nhất để khỏi bị rơi vào cạm bẫy của ma quỉ đang giăng ra khắp nơi, như lời thánh Phêrô khuyên: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỉ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự” (1Pr 5,8-9a).

Ngoài ra, chúng ta còn phải nỗ lực hy sinh chịu khó nhiều, để giữ lòng mình được trong sạch và luôn trung thành với Chúa. Thà chết, chứ chẳng bao giờ dám phạm tội mất lòng Chúa.



*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-B: “Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà vào cõi sống, còn hơn là có đủ 2 tay, mà phải sa Hỏa Ngục”. – Marcô 9,35)

-------------------------

 

Bài 12: Chuyện người Giàu Có và Thánh Giá Chúa


Có một người giàu có thường hay đến xưng tội với cha thánh Philipphê Nêri.

Ông này có nhiều tiền, nhiều của lắm. Nhưng ông cũng có nhiều thiện chí. Tuy nhiên, khi thấy trong thời gian dài, ông thấy mình không đạt được một sự tiến bộ nào trên đường thiêng liêng, nên đã đâm ra chán nản, thất vọng. Cuối cùng, ông đã buông xuôi, bỏ cuộc và không trở lại xưng tội với cha thánh nữa.

*****

Thấy ông đã lâu không đến xưng tội, cha thánh đã tìm đến nhà ông để thăm hỏi và cũng để tìm hiểu thêm sự việc.

Sau một hồi trò truyện, cha thánh nhìn lên cây thánh giá đang treo trên tường, rồi ngài cân nhắc cái độ cao của ảnh thánh giá, mới đề nghị với người đàn ông giàu có, đứng lên, tiến lại phía tường có treo cây thánh giá. Chẳng hiểu gì, nhưng ông cũng vẫn  làm theo. Cha bảo ông giơ tay lên xem có đụng tới cây thánh giá không. Với thân hình ao to, ông cứ nhón gót hết sức, mà không sao đụng tới cây thánh giá được, vì cây thánh hãy còn một khoảng cách khá xa.

Thấy thế, cha thánh đề nghị với ông, cùng với cha đế đẩy cái két sắt nhỏ (tủ tiền) cạnh đó, tới chỗ ông đang đứng, và bảo ông hãy đứng lên trên cái két sắt đó. Ông làm theo ý cha và rồi ông đã sờ được Chúa Giêsu trên thánh giá.

Xong, 2 người trờ lại ghế ngồi, cha thánh nhẫn nha giải thích việc làm vừa rồi. Cha nói:  “Ông thấy không, để có thể nắm lấy được chân Chúa Giêsu, ông phải đứng lên trên thùng tiền. Thì đời sống thiêng liêng cũng thế, để có thể tiến bộ trên đường thánh thện đạo đức, chúng ta cần phải đứng lên trên tiền bạc và của cải”.

*****

Câu truyện trên phần nào tương tựa như câu truyện trong bài Tin Mừng hôm nay (TN 28-B):

Một anh thanh niên giàu có đến hỏi Chúa Giêsu: Làm sao tôi có thể: Vừa có được một đời sống giàu sang sung sướng, lại vừa được sống đời đời ?

Chúa Giêsu đã nhìn anh một cách trìu mến, vì thấy nơi anh thanh niên này, đã biết nghĩ đến đời sống trọn lành, muốn sống đời sống trọn lành, và đã biết lo lắng cho cuộc đời mai sau.

*****

Sở dĩ anh hỏi Chúa Giêsu như vậy, cũng là vì anh muốn làm môn đệ Chúa. Anh nghĩ: Anh đã giữ được sáu điều răn của Chúa rồi: không giết người, không ngoại tình, không trộm cắp, không làm chứng gian, không lường gạt ai, không bất hiếu với cha mẹ. Vậy anh còn thiếu điều gì nữa không ?

Chúa bảo anh hãy về bán hết của cải tài sản, đem phân phát, chia sẻ cho những người nghèo khó túng thiếu. Rồi đến đây mà theo Ngài.

Đối với Chúa, đó là điều kiện cho riêng anh, để anh được nên trọn lành và được làm môn đệ của Ngài.

Nhưng điều kiện này, đối với anh sao khó quá, anh không thể chấp nhận được, vì anh có nhiều của cải. Anh không muốn buông bỏ nó. Cho nên, anh đã tỏ ra buồn bã, lặng lẽ rút lui.

Dân gian thường nói:

“Đại bàng muốn cất cánh bay lên mây xanh,
nhưng đã bị xiềng xích trói buộc”.


Của cải vật chất đã xiềng trói anh ta lại mất rồi.

Rõ ràng, giữa Chúa và của cải, giữa đời sống trọn lành và tiền của, anh đã chọn của cải, chọn tiền của.

*****

Qua trường hợp anh chàng thanh niên này, Chúa Giêsu nghĩ tới tất cả những người bị xiềng xích như anh, nên Chúa mới nói với các môn đệ:

“Các con ơi, vào được nước Thiên Chúa thật khó biết bao !
Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Thiên Chúa”.
                   (Marcô 10,25)


Chúa nói đến nỗi khó chung của mọi người, khi muốn vào nước Thiên Chúa. Rồi  Chúa mới nói đến nỗi khó đặc biệt của người giàu.

Đây chỉ là một kiểu nói sánh ví thôi, để chỉ một việc rất khó thực hiện, như những câu nói của người Việt Nam chúng ta:

- “Lấy đá vá trời”,
- “Tát bể đông cũng cạn”.

Đây là kiểu nói nhấn mạnh, để in sâu vào tâm trí người nghe và làm nổi bật nỗi khó của người giàu.

Tại sao có nhiều của cải, có nhiều tiền của lại khó vào nước trời ?

Ai ai cũng công nhận rằng: Của cải là cần thiết cho đời sống con người biết bao. Của cải sẽ đem lại cho con người nhiều hạnh phúc hơn. Cả tây phương lẫn đông phương đều có chung quan niệm:

- “Bao tử đi trước, đầu óc theo sau”.
- “Có thực mới vực được đạo”.

Nghĩa là:

- Cần phải ăn trước đã, kế đến mới suy tư, triết lý.
- Tiền của cần thiết đến như thế, nên Chúa Giêsu không bao giờ lên án tiền của hay lên án những người có tiền của, tức là người giàu. Ngài biết con người cần phải có tiền của để sống xứng đáng với cuộc sống của mình. Ngài biết “đồng tiền liền với khúc ruột”, cần có tiền để sống, để giữ đạo nữa. Sự túng thiếu, bần cùng là một sự dữ, loài người chẳng một ai mong muốn, thì Chúa cũng không muốn con cái Ngài phải vướng mắc vào cái nghèo đói khốn khổ đó.

Tuy nhiên, tiền bạc, của cải, vẫn luôn là con dao hai lưỡi: được sử dụng như một phương tiện, tiền của sẽ giúp cho chúng ta sống đúng với phẩm giá của mình hơn.

Trái lại, khi chúng ta chạy theo tiền của như cứu cánh cho cuộc đời, mà quên đi những giá trị khác trong cuộc sống, nhất là những giá trị thiêng liêng, đạo đức, tinh thần, thì nó sẽ làm cho chúng ta bị phá sản về vật chất cũng như tinh thần. Sự ham mê tiền của dễ làm cho người ta ra đen bạc, khó mà vào nước trời là như vậy.

Nói rõ hơn, tiền của tự nó là tốt và giúp ích cho con người. Nó chỉ xấu và có hại, khi đem sử dụng vào những mục tiêu xấu.

Đúng vậy,

- Vì tiền của, người ta có thể đánh mất lý tưởng cuộc đời.
- Vì tiền của, người ta có thể chà đạp phẩm giá của mình cũng như của người khác…
- Vì tiền của, người ta có thể chối bỏ niềm tin.
- Vì tiền của, người ta có thể phớt lờ luôn cả tiếng nói của lương tâm.
- Vì tiền của, người ta có thể làm những điều bất chính, tội lỗi…

Đó là nguy cơ mà bất cứ ai cũng có thể rơi vào. Và người nào ham mê tiền của đến quên cả Chúa và quên cả anh em, thì đó chính là thứ lạc đà đứng trước lỗ kim, đó chính là những người khó vào nước trời.

- Anh thanh niên giàu có đã từ chối lời mời gọi của Chúa Giêsu.
- Anh không dám từ bỏ mọi sự để đi theo làm môn đệ Chúa.

Tin Mừng lại cho biết: các tông đồ chính là những người đã đáp lại lời mời gọi ấy.

Ông Phêrô đã nói lên điều đó như một niềm hãnh diện: “Còn chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy”.

Theo bản văn Tin Mừng Marcô thì ông Phêrô chỉ nêu lên thực trạng đó thôi, ông không đòi hỏi gì và cũng không xin xỏ gì. Nhưng trong Tin Mừng Matthêu thì lại cho biết ý của ông Phêrô muốn hỏi: “Vậy chúng con sẽ được cái gì ?”.

Vì thế, nhân dịp này Chúa đã giải đáp một thắc mắc ngấm ngầm trong lòng các môn đệ. Việc các ông tranh giành ngôi thứ với nhau chứng tỏ các ông vẫn băn khoăn về chuyện các ông sẽ được cái gì. Không riêng gì ông Phêrô hay các môn đệ, mà người tín hữu nào cũng có lúc thắc mắc như thế:

Chúng ta đi đạo, chúng ta tin Chúa, chúng ta sẽ được cái gì ?

Chúa Giêsu bảo chúng ta: Hãy dùng tiền của và cư xử cách nào để đem lại ích lợi cho cuộc sống hôm nay và đồng thời cũng đầu tư cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau của mình nữa.

Một phương thế Chúa dạy là: Hãy cảm thông, hãy chia sẻ với những hòan cảnh nghèo khổ của những người sống chung quanh chúng ta. Chúa không đòi chúng ta phải từ bỏ tất cả để theo Chúa, nhưng Chúa đòi chúng ta phải biết chia sẻ.

Chúng ta chia sẻ cho người khác một,
Chúa sẽ trả cho chúng ta gấp nhiều lần hơn.

Bởi vì một đồng tiền kinh doanh là một đồng tiền sinh lợi.
Một ánh lửa chia sẻ là một ánh lửa tỏa lan.
Một vết dầu thả lỏng là một vết dầu loang.
Đôi môi có hé mở mới thu nhận được nhiều nụ cười.
Bàn tay có mở rộng trao ban, tâm hồn mới tràn ngập vui sướng.

Về mặt thiêng liêng cũng thế:
- Chúng ta cho đi thì chúng ta sẽ được nhận lại.
- Chúng ta càng chia sẻ, chúng ta càng nhận lãnh trở lại nhiều hơn, nhất là Chúa sẽ trả lại nhiều hơn cho chúng ta ở đời sau.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con hiểu, và thực hành những điều Chúa soi dẫn chúng con hôm nay. Amen.


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 28-B: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa”. – Marcô 10,25)

-----------------------

 

Bài 13: Chuyện sĩ quan quân đội Đức Quốc xã trở về với Chúa


Có một câu chuyện đã xảy ra từ lâu lắm rồi, thế mà ngày nay hằng năm, tại địa phương này, người ta vẫn còn tiếp tục tổ chức lễ kỷ niệm sự kiện này rất trang trọng.

Chuyện xảy ra ở Italia (nước Ý).

Một sĩ quan tên là Lohser, mang cấp bậc trung úy trong quân đội Đức Quốc Xã. Vốn là người Công Giáo bẩm sinh, nhưng anh đã bỏ đạo để được gia nhập vào Đảng Quốc Xã Phát Xít Đức.

Năm 1944, khi đang khi anh chỉ huy một toán quân đội Đức, đến và dừng chân lại tại thành phố Molina, thì Lohser đã vào một quán rượu tên là Graziani để giải sầu.

Trong lúc quá chén, anh đã ngẫu hứng, rút khẩu súng lục ra, nhắm vào tượng Thánh Giá Chúa, đang treo trên tường của quán bia, để biểu diễn tài nghệ bách phát bách trúng của mình cho mọi người xem. 

- Phát súng thứ nhất, Lohser bắn trúng con mắt bên phải của tượng Chúa.
- Phát súng thứ 2 và thứ 3, anh bắn trúng ngực tượng Chúa.
- Phát súng thứ 4 thì trúng vào bàn chân trái tượng Chịu Nạn.

Thấy vậy, mọi người trong quán quá sợ hãi, đã bỏ chạy trốn hết, chỉ còn lại anh tài xế, tên Georgis, lái xe đưa trung úy chỉ huy của mình trở về đơn vị.

Khi xe đang chạy bon bon trên đường, thì bất ngờ một phi cơ phe Đồng Minh phát hiện xe Jeep của địch, viên sĩ quan Đức, nên đã bắn xối xả. Lohser đã bị trúng đạn, máu ra nhiều, nên buộc tài xế phải nhanh lẹ tìm chỗ an toàn, mà săn sóc vết thương cho vỉ chỉ huy của mình. 

Khi nhìn lên những vết thương trên thân thể của Lohser, anh tài xế bỗng rợn người, quá khiếp sợ, qua hãi hùng, bởi sao quá trùng khớp với những vết thương do Lohser bán vào tượng Thánh Giá Chúa:

- cũng mắt phải bị trúng một viên đạn,
- ngực ông ta cũng bị trúng hai viên,
- và bàn chân trái ông ta cũng trúng một viên.

Trong cơn đau đớn tột cùng, trung úy Lohser mới giật mình, tỉnh ngộ và hối lỗi. Tự dưng, ông đã thốt ra những lời cầu nguyện tự phát như sau:

“Lạy Thánh Giá Chúa! Lạy Thánh Giá Chúa Giêsu! Suốt nhiều năm qua, con mắt linh hồn của con đã mù quáng, không nhìn thấy Chúa, chẳng nhận ra đời sau, mà chỉ thấy có tiền tài, danh vọng đời này. Giờ đây, con đã được thấy Chúa, đã thấy sự công bình của Chúa và nhất là đã thấy lòng yêu thương thứ tha của Chúa. Lạy Chúa, xin thương xót con. Xin thương xót con”. 

Vừa thầm thì thốt ra những lời ăn năn hối lỗi với Chúa xong, thì đôi mắt anh ta từ từ nhắm lại, và rồi tắt thở khoảng 10 phút sau đó.

*****

Tượng Thánh Giá bị Lohser dùng làm bia bắn ngày xưa, nay vẫn còn được lưu giữ trong một tủ kính thật trang trọng ở nhà thờ Molina (Ý).

Và điều đặc biệt là hàng năm, cứ đến ngày 15/6, giáo dân địa phương này vẫn giữ thói quen tổ một chức rước kiệu Thánh Giá này rất trọng thể chung quanh nhà thờ, để nhớ lại biến cố hải hùng năm xưa, để cùng nhau ăn năn thống hối những lỗi lầm của mình, và của cả nhân loại đã xúc phạm đến Chúa (Nguồn: Lời Chúa & Cuộc Sống 2, Lm. Giuse Đinh tất Quý).

*****

Chúng ta biết: Chúa là Đấng nhân từ vô cùng, đối với những ai có lòng thống hối, ăn năn. Bởi thánh Gioan đã viết: “Thiên Chúa yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (Ga 3,16-21). Chúa đến thế gian để chữa lành hơn là để kết tội, để cứu độ hơn là để lên án.

Đọc Phúc âm, chúng ta thấy rõ điều đó:

1. Chúa đã giơ tay cứu giúp đủ mọi thứ bệnh hoạn tật nguyền trong dân: mù, què, câm, điếc, bại liệt, phung hủi, băng huyết… đều được chữa lành, thần ô uế chế ngự ai, luôn bị Ngài trục xuất ra khỏi người ấy, và người chết được sống lại.

2. Thánh Phêrô vì yếu đuối, nhác sợ, mà lỡ miệng chối Chúa ba lần, Ngài xót thương tha thứ cho ông, lại đặt Phêrô làm vị đại diện Chúa, lãnh đạo Giáo Hội Chúa ở trần gian (Mt 16:13-19).

3. Người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình (Ga 8:1-11) đáng lãnh nhận hình phạt ném đá cho chết theo luật. Nhưng, Chúa mạnh tay tha thứ, đánh tan lòng hận thù trong dân. Ngài đến cứu độ hơn lên án. Ngài muốn kẻ có tội nặng nề ấy “hãy đi và đừng phạm tội nữa”.

4. Nơi đỉnh đồi Canvê, 2 tử tù cùng bị hình phạt treo trên thập tự với Chúa, thì có một anh van xin lòng thương xót của Chúa, anh đã được Chúa cứu. (Lc 23:39-43).

5. Tại nhà ông biệt phái Simon, một phụ nữ tội lỗi xuất hiện bất ngờ: chị quỳ bên chân Chúa khóc lóc, sám hối tội mình đã phạm. Chúa động lòng tha thứ vì chị đã mến Chúa cao độ (Lc 7:47).

6. Làm nhân viên thu thuế cho Roma, Lêvi (Mt 9:9) và Giakêu (Lc 19:2) bị đồng hương Do Thái ghét bỏ. Chúa khoan dung đi bước trước đến gặp họ. Ngài không muốn cô lập họ, nhưng đã mời gọi Lêvi đi theo mình, cùng ghé nhà Giakêu ban ơn cứu độ cho cả gia đình ông. 

7. Trên đường đi bách hại những người theo đạo Chúa, Sao-lô thình lình bị ngã ngựa tại Damas. Chúa tỏ ý tốt lành giúp ông nhận diện những sai trái mà ông đang làm (Cv 22:6-21). Ngài muốn cứu độ Sao-lô, mà không lên án trừng phạt ông.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con trong mọi giây phút cuộc đời, biết luôn tin tưởng, cậy trông, phó thác tuyệt đối vào tình thương vô biên của Chúa. Amen.


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 29-B: Con Người đến trần gian là để phục vụ và hiến mạng sống để cứu độ muôn người. – Marcô 10,45)

-----------------------

 

Bài 14: Chuyện người mù cầm đèn ra đường ban đêm


Có một anh mù, đi thăm một người bạn. Vì đã lâu không gặp nhau, nên đôi bạn hàn huyên tâm sự mãi đến quên cả thời gian.  Khi màn đêm buông xuống, là lúc anh mù mới cáo từ ra về. Người bạn liền lên tiếng bảo: “Anh có biết không, giờ này thì đã khuya lắm rồi. Hãy ở lại qua đêm, sáng mai hãy về”.

Năn nỉ cở nào, thuyết phục cở nào, anh mù vẫn không nghe, vẫn cứ nhất quyết đòi về.

Thấy vậy, anh bạn mới đề nghị: “Thôi, để tôi thắp cho anh cái đèn để đi, vì trời đã tối rồi”. 

Anh mù nghĩ là bạn muốn chế diễu mình, nên trả lời: “Anh muốn đùa hay sao? Tôi mù, thì ngày và đêm có khác gì nhau đâu”.

Người bạn vội vàng xin lỗi và nói: “Tôi đâu có dám đùa với anh. Ý tôi, là anh nên cầm cái đèn trên tay, để người ta thấy ánh sáng đèn mà tránh, không đụng phải anh”.

Anh mù nghe nói có lý, liền vui vẻ nhận đèn, và hiên ngang xách đèn ra về một cách tự tin.

Đi được một đoạn thì có một người đi ngược chiều, đụng phải vào anh, làm cho anh ngã lặn xuống vệ đường. Quá tức giận, anh mù lồm cồm ngồi dậy, miệng thi chửi đổng: “Đồ đui, người ta cầm đèn sáng như thế, mà không thấy sao?”.

Người kia liền mắng lại, cũng khá nặng lời: “Mày mới là đồ đui. Đèn đã tắt từ lúc nào, mà mày có biết không. Đã thế mà còn chửi người ta”.

***

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến một người mù.

Anh mù thấy nhiều cái, mà người khác không thấy:

- Anh thấy Đức Giêsu là Con Vua Đavít là Đấng Messia, là Đấng Kitô Cứu Thế (Mc.10:47). 

- Anh thấy quyền năng của Đức Giêsu có thể giúp đỡ anh, một cái gì đó khác hơn là vật chất, tiền bạc.

- Anh thấy tình trạng khốn khổ mù lòa của mình.  Anh mù thấy được nhiều cái mà người sáng mắt không thấy.

Tiếng kêu của anh: “Lạy Thầy, xin cho con được thấy” (Mc.10:51) là một tiếng kêu của lòng tin. Tất cả sức mạnh của anh nằm ở tiếng kêu, tiếng kêu thống thiết, bi ai, của một người đau khổ, nhưng cũng là tiếng kêu đầy tin tưởng, hy vọng.

Tiếng kêu báo hiệu một sự hiện diện, một sự cầu cứu. Nhiều người muốn bịt miệng anh, nhưng anh chẳng sợ gì đe dọa.  Càng bị đe dọa, anh càng gào to hơn nhiều. Cuối cùng tiếng của anh đã đến tai Ðức Giêsu. Ngài dừng lại và sai người đi gọi anh. Khi biết mình được gọi, anh vội vã và vui sướng, vất bỏ cái áo choàng vướng víu, nhẩy cẫng lên, mà đến với Ðức Giêsu.  Anh đi như một người đã sáng mắt, bởi thực ra, con mắt tâm hồn của anh đã sáng rồi. Lời cầu của anh được Đức Giêsu đáp ứng: “Lòng tin của anh cứu chữa anh”. (Mc.10:52)

Khi được khỏi mù lòa, lòng tin của anh thêm vững mạnh. Anh thấy lại mặt trời, anh gặp Ðấng cho anh ánh sáng. Không ngồi ở vệ đường nữa, anh đứng lên đi theo Ðức Giêsu. (Mc.10:52), vì Ngài chính là ánh sáng cho đời anh. Ngài sẽ dẫn đường anh đi. Đi đến sự thật và đến sự sống.

*****

Chúng ta hãy đi vào lòng mình, để nhận ra những bóng tối đang che phủ đời ta. Ta có tìm thấy Chúa là ánh sáng cho đời ta không? Chắc hẳn, đời sống của tôi có nhiều bóng tối, vì tôi chưa tin tưởng vào Chúa. Đời sống tôi bế tắc, vì tôi chưa đặt niềm hy vọng vào Chúa. Đời tôi mệt mỏi chán chường, vì tôi chưa yêu mến Chúa hết lòng. 

Hãy tin tưởng vào Chúa. Ánh sáng đức tin sẽ chiếu soi đường đời tôi đi. Hãy hy vọng vào Chúa. Niềm hy vọng là ánh sáng ấm áp cho cuộc đời. Hãy yêu mến Chúa. Tình yêu Chúa là ánh sáng hướng dẫn mọi tư tưởng, lời nói, việc làm của tôi.  Hãy noi gương anh mù thành Giêricô, bỏ tất cả mà theo Chúa. Sống bên Chúa, đời tôi sẽ ngập tràn ánh sáng.

***

Lạy Chúa! Như người mù ngồi bên vệ đường, xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy:

Cho con được thấy bản thân của con, với những yếu đuối và khuyết điểm, những giả hình và che đậy.  Cho con được thấy Chúa hiện diện bên con, cho ánh sáng Chúa chiếu soi vào bóng tối của đời con.

Xin mở mắt con, để con biết nhìn ngắm những cảnh đẹp thiên nhiên, những kỳ công do tay Chúa tạo dựng trong vũ trụ, trong trời đất, trong vạn vật

Xin mở mắt con, để con thấy những anh em nghèo đói, ốm đau, bệnh tật quanh con, để con biết yêu thương, để con biết nâng đỡ, và để con biết chia sẻ.

Xin mở mắt con, để con thấy cái tốt nơi người khác, thấy những việc tốt lành anh Có một anh mù, đi thăm một người bạn. Vì đã lâu không gặp nhau, nên đôi bạn hàn huyên tâm sự mãi đến quên cả thời gian.  Khi màn đêm buông xuống, là lúc anh mù mới cáo từ ra về. Người bạn liền lên tiếng bảo: “Anh có biết không, giờ này thì đã khuya lắm rồi. Hãy ở lại qua đêm, sáng mai hãy về”.

Năn nỉ cở nào, thuyết phục cở nào, anh mù vẫn không nghe, vẫn cứ nhất quyết đòi về.

Thấy vậy, anh bạn mới đề nghị: “Thôi, để tôi thắp cho anh cái đèn để đi, vì trời đã tối rồi”.  

Anh mù nghĩ là bạn muốn chế diễu mình, nên trả lời: “Anh muốn đùa hay sao? Tôi mù, thì ngày và đêm có khác gì nhau đâu”.

Người bạn vội vàng xin lỗi và nói: “Tôi đâu có dám đùa với anh. Ý tôi, là anh nên cầm cái đèn trên tay, để người ta thấy ánh sáng đèn mà tránh, không đụng phải anh”.

Anh mù nghe nói có lý, liền vui vẻ nhận đèn, và hiên ngang xách đèn ra về một cách tự tin.

Đi được một đoạn thì có một người đi ngược chiều, đụng phải vào anh, làm cho anh ngã lặn xuống vệ đường. Quá tức giận, anh mù lồm cồm ngồi dậy, miệng thi chửi đổng: “Đồ đui, người ta cầm đèn sáng như thế, mà không thấy sao?”.

Người kia liền mắng lại, cũng khá nặng lời: “Mày mới là đồ đui. Đèn đã tắt từ lúc nào, mà mày có biết không. Đã thế mà còn chửi người ta”.

***

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến một người mù.

Anh mù thấy nhiều cái, mà người khác không thấy:

- Anh thấy Đức Giêsu là Con Vua Đavít là Đấng Messia, là Đấng Kitô Cứu Thế (Mc.10:47).  

- Anh thấy quyền năng của Đức Giêsu có thể giúp đỡ anh, một cái gì đó khác hơn là vật chất, tiền bạc.

- Anh thấy tình trạng khốn khổ mù lòa của mình.  Anh mù thấy được nhiều cái mà người sáng mắt không thấy.

Tiếng kêu của anh: “Lạy Thầy, xin cho con được thấy” (Mc.10:51) là một tiếng kêu của lòng tin. Tất cả sức mạnh của anh nằm ở tiếng kêu, tiếng kêu thống thiết, bi ai, của một người đau khổ, nhưng cũng là tiếng kêu đầy tin tưởng, hy vọng.

Tiếng kêu báo hiệu một sự hiện diện, một sự cầu cứu. Nhiều người muốn bịt miệng anh, nhưng anh chẳng sợ gì đe dọa.  Càng bị đe dọa, anh càng gào to hơn nhiều. Cuối cùng tiếng của anh đã đến tai Ðức Giêsu. Ngài dừng lại và sai người đi gọi anh. Khi biết mình được gọi, anh vội vã và vui sướng, vất bỏ cái áo choàng vướng víu, nhẩy cẫng lên, mà đến với Ðức Giêsu.  Anh đi như một người đã sáng mắt, bởi thực ra, con mắt tâm hồn của anh đã sáng rồi. Lời cầu của anh được Đức Giêsu đáp ứng: “Lòng tin của anh cứu chữa anh”. (Mc.10:52)

Khi được khỏi mù lòa, lòng tin của anh thêm vững mạnh. Anh thấy lại mặt trời, anh gặp Ðấng cho anh ánh sáng. Không ngồi ở vệ đường nữa, anh đứng lên đi theo Ðức Giêsu. (Mc.10:52), vì Ngài chính là ánh sáng cho đời anh. Ngài sẽ dẫn đường anh đi. Đi đến sự thật và đến sự sống.

*****

Chúng ta hãy đi vào lòng mình, để nhận ra những bóng tối đang che phủ đời ta. Ta có tìm thấy Chúa là ánh sáng cho đời ta không? Chắc hẳn, đời sống của tôi có nhiều bóng tối, vì tôi chưa tin tưởng vào Chúa. Đời sống tôi bế tắc, vì tôi chưa đặt niềm hy vọng vào Chúa. Đời tôi mệt mỏi chán chường, vì tôi chưa yêu mến Chúa hết lòng.  

Hãy tin tưởng vào Chúa. Ánh sáng đức tin sẽ chiếu soi đường đời tôi đi. Hãy hy vọng vào Chúa. Niềm hy vọng là ánh sáng ấm áp cho cuộc đời. Hãy yêu mến Chúa. Tình yêu Chúa là ánh sáng hướng dẫn mọi tư tưởng, lời nói, việc làm của tôi.  Hãy noi gương anh mù thành Giêricô, bỏ tất cả mà theo Chúa. Sống bên Chúa, đời tôi sẽ ngập tràn ánh sáng.

***

Lạy Chúa! Như người mù ngồi bên vệ đường, xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy:

Cho con được thấy bản thân của con, với những yếu đuối và khuyết điểm, những giả hình và che đậy.  Cho con được thấy Chúa hiện diện bên con, cho ánh sáng Chúa chiếu soi vào bóng tối của đời con.

Xin mở mắt con, để con biết nhìn ngắm những cảnh đẹp thiên nhiên, những kỳ công do tay Chúa tạo dựng trong vũ trụ, trong trời đất, trong vạn vật

Xin mở mắt con, để con thấy những anh em nghèo đói, ốm đau, bệnh tật quanh con, để con biết yêu thương, để con biết nâng đỡ, và để con biết chia sẻ.

Xin mở mắt con, để con thấy cái tốt nơi người khác, thấy những việc tốt lành anh em đã làm cho con trong cuộc sống hôm nay.

Xin cho cuộc đời của con luôn phản chiếu ánh sáng của Chúa, vì Chúa là Sự Sáng, là Tình Yêu, là Chân Lý và là Sự Sống đời đời của con. Amen.

em đã làm cho con trong cuộc sống hôm nay.

Xin cho cuộc đời của con luôn phản chiếu ánh sáng của Chúa, vì Chúa là Sự Sáng, là Tình Yêu, là Chân Lý và là Sự Sống đời đời của con. Amen.

*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 30-B: “Thưa Thầy, xin cho con nhìn thấy được”. - Marcô 10,51

--------------------------

 

Bài 15: Chuyện hòn đá ném vào xe hơi


Có một chiếc xe du lịch, đang phóng nhanh trên con đường vắng. Chợt nghe tiếng một hòn đá của ai đó, ném vào cửa kính xe của anh, mà tiếng vang của nó nghe thật kinh hồn. Anh vội thắng gấp và tấp vào lề đường, để  xem sự việc và xem chiếc xe.

Bước ra khỏi xe, liếc nhìn chỗ xe bị ném và đứa bé đang đứng bên lề đường, cũng gần đó. Anh bực tức, chạy nhanh đến, tóm lấy ngay thằng bé - chắc chắn nó là tác giả của vết trầy trên chiếc xe. Bởi trước đó, anh có thấy nó vẫy xe, chắc là để đi nhờ.

- “Không cho đi nhờ, mà mày làm như vậy hả?”.

Anh vừa gằn giọng, vừa nắm chặt cổ áo, đẩy cậu bé sát vào chiếc xe, chỗ vết xe trầy ...

Cậu bé lắp bắp sợ hãi:

- “Cháu xin lỗi chú! Nhưng cháu.... cháu... không biết làm cách nào khác. Nếu cháu không ném đá vào xe của chú, thì chú đã không dừng xe lại... Nãy giờ, cháu đã vẫy tay không biết bao nhiêu xe rồi, mà không có xe nào chịu dừng lại”.

Nói đến đó, hai hàng nước mắt cậu bé lăn dài trên má. Bé chỉ tay về phía cụm cỏ, bên kia đường, nơi có nhiều sỏi đá lởm chởm.

- “Có một người... anh ấy bị ngã và chiếc xe lăn của anh ấy cũng ngã theo. Con tình cờ đi ngang qua thấy vậy, cháu đã cố hết sức đỡ anh ấy lên, nhưng không thể đỡ nổi, vì anh ấy nặng quá”.

Giọng ngắt quãng, vì những tiếng nấc liên tục. Cậu bé tha thiết nài nỉ van xin:

- “Chú có thể giúp cháu đưa anh ấy lên chiếc xe lăn được không? Anh ấy ngã từ lúc nào không biết. Nhưng chắc chắn là máu đã chảy ra nhiều lắm. Chắc là đau đớn lắm”.

*****

Lời nói của cậu bé khiến anh thanh niên không thể thốt lên được một lời nào. Anh thấy cổ họng mình như bị nghẹn lại vì xúc động. Anh đến đỡ người bị ngã lên chiếc xe lăn. Băng bó vết thương và cùng cậu bé kéo xe lăn lên đường….

Cậu bé tiếp tục đẩy chiếc xe lăn, đưa nạn nhân về nhà. Hỏi ra, cũng không xa lắm.

Người thanh niên dõi mắt nhìn theo, cho đến khi hình ảnh cậu bé và chiếc xe lăn khuất sau rặng cây đường làng.

Anh bước thật chậm về phía chiếc xe của mình, với nhiều miên man suy nghĩ trong đầu. Sự giận dữ trong anh đã biến mất. Anh quyết định không sơn sửa lại vết trầy của xe. Anh muốn nó sẽ nhắc nhở anh luôn về câu chuyện xúc động hôm nay. Và anh muốn nó nhắc nhở anh luôn về một cách sống, mà từ trước nay anh không hề để ý tới và cũng không hề quan tâm nghĩ đến bao giờ: Đó là sự quan tâm đến người khác, biết sống với người khác, biết sống cho ngưởi khác, biết sống vì người khác.

Anh cảm thấy hổ thẹn với lòng mình, vì đã không có được một chút lòng trắc ẩn như cậu bé. Đó là điều thiếu đạo đức, mà từ xưa đến nay anh không hề nhận ra, phải đợi một em bé, ném một hòn đá vào xe, thì anh mới bừng mắt, mà thấy rõ chính mình.

Lạy Chúa, lời Chúa trong bài Phúc âm hôm nay (TN 31-B) đã nhắc nhở con về một giới luật quan trong nhất trong đạo Chúa, đó là “Mến Chúa và Yêu Người”, thế mà con lại hay quên. Xin Chúa nhắc nhở con luôn, để con biết sống với người khác, sống cho người khác, sống vì người khác, những người sống bên cạnh con, như Chúa đã dạy. Amen.


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 31-B: Giới luật yêu thương là giới luật hàng đầu. -,28b-34.)

--------------------------

 

Bài 16: Chuyện đồng xu của bà góa nghèo


Có một ông già giàu gặp một vị đạo sĩ ngồi ở gốc cây bên lề đường, liền hỏi:

- “Ông ngồi đây làm gì vậy ? Nhà tôi đang cần người giúp việc, về làm việc cho tôi, ông sẽ có tiền”.

Vị đạo sĩ trả lời:

- “Cám ơn ông, tôi rất sợ tiền bạc, vì ở đâu có tiền bạc thì ở đó có tội ác”.

Ông nhà giàu nói:

- “Ông rất lầm, nên mới yếm thế bi quan. Thế gian có tiền là có tất cả. Có tiền mua tiên cũng được, khắp đông tây đều công nhận như vậy”.

Vị đạo sĩ trả lời:

- “Ông càng lầm hơn tôi. Tiền bạc mở được mọi cửa, trừ cửa Thiên Đàng. Đó là câu nói của các nhà đạo đức phương tây. Còn đông phương thì cho rằng: tiền bạc mua được tất cả, nhưng không thể mua được lương tâm của người quân tử”.

Ông nhà giàu lại nói:

- “Ông biết chứ, lịch sử chứng tỏ: tiền bạc đi tới đâu thì ở đấy phồn thịnh. Có phải tiền bạc đã biến đổi thế giới khổ cực thành xa hoa sung sướng không ?”.

Vị đạo sĩ trả lời:

- “Ông chỉ thấy tiền bạc có một mặt, ông không thấy mặt trái của nó. Lịch sử cũng ghi rõ: Tiền bạc đi tới đâu thì gieo chia rẽ giàu nghèo, gây nên cảnh bất công, ghen tương, tranh chấp và chết chóc”.

Ông nhà giàu không nói thêm gì nữa.

*****

Cuộc đàm thoại giữa ông nhà giàu và vị đạo sĩ trên đây xác nhận những điều mà có lẽ tất cả chúng ta đều đã biết và công nhận như vậy. Bởi vì tự nó tiền bạc chỉ có một giá trị rất nhỏ.

Theo cách đánh giá này thì tờ 500 đồng cũng giống như tờ 1 đồng, chỉ là một tờ giấy có in hình khác nhau, đáng giá vài xu do tiền giấy và công in.

Nhưng theo giá trị định ước, thì tờ 500 gấp 500 lần tờ 1 đồng. Chính vì giá trị định ước này, mà tiền bạc:

- Dù rách, dù hôi, nó vẫn được quí trọng.
- Dù đẹp, dù xấu, dù mới dù cũ, nó vẫn được người ta dành cho nhiều cảm tình.


Nó được chuyền qua biết bao nhiêu bàn tay và được sử dụng vào muôn vàn việc khác nhau.

*****

Tiền bạc là phương tiện giúp cho người ta trao đổi, để dễ dàng sinh hoạt trong cuộc sống hằng ngày. Nên tiền bạc, tự nó không xấu mà trái lại là đàng khác.

Nhưng nó trở nên tốt hay xấu là do con người sử dụng nó. Nó có thể được dùng vào những việc gian manh, bất lương, xảo trá, gây nguy hiểm và tai hại, cũng như được dùng vào những công việc bác ái, xây dựng tình yêu, tạo nên tình bạn, hay đem lại những lợi ích vật chất và tinh thần.

Như vậy, tất cả chúng ta đều nhất trí rằng:

Tiền bạc tự nó là tốt và luôn luôn có giá trị rất thực tế theo như định ước người ta gán cho nó.

Tờ 1.000 đồng chắc chắn phải hơn tờ 50 đồng, tờ 100 đồng, tờ 500 đồng.

*****

Nhưng tại sao trong bài Tin Mừng Chúa Giêsu lại nói hai đồng tiền kẽm, chỉ đáng một phần tư đồng xu Rô-ma của người đàn bà góa nghèo bỏ vào thùng tiền dâng cúng ở đền thờ lại quí hơn những số tiền lớn của những người giàu ?

Xét về số lượng thì chắc chắn hai đồng tiền của bà góa thua kém xa số tiền lớn của những người khác.

Nhưng xét theo tỷ lệ tương quan, nghĩa là về hoàn cảnh, về lý do, về mục đích, thì người đàn bà này đã bỏ vào thùng tiền nhiều hơn, bà ấy đã cho nhiều hơn hết, vì bà không dâng những thứ dư thừa, mà dâng những cái rất cần thiết để nuôi sống.

Có thể số tiền đó chính là một ổ bánh mì, một lon gạo, một bó rau, đủ để nuôi sống bà trong ngày hôm đó. Nhưng không, bà không lo đến tương lai, không lo ngày mai sẽ ra sao, bà chỉ biết phụng sự , mà không biết lợi dụng tôn giáo hay lợi dụng Thiên Chúa.

Trái lại, những người dâng cúng nhiều chỉ để khoe khoang, chỉ để tìm danh vọng tiếng khen. Số tiền họ dâng cúng tuy nhiều, nhưng so với cơ nghiệp và gia tài của họ thì có thấm thía gì. Họ chỉ mất một ít tiền bạc, nhưng lại được lời về danh giá và tiếng khen.

Cho nên, thực sự họ chẳng cho hoặc dâng hiến được bao nhiêu. Đó là một cuộc đầu tư một vốn bốn lời. Đó là một sự lợi dụng tôn giáo và bác ái, chứ không phải phục vụ. Chính vì lý do đó mà Chúa Giêsu đã đánh giá bà góa nghèo dâng cúng nhiều hơn mọi người.

Hơn nữa, đối với Thiên Chúa, điều quan trọng không phải là bao nhiêu, nhiều hay ít, miễn là với tất cả tấm lòng. Ngài không ham của cải Ngài đã ban cho loài người, nhưng chỉ muốn lòng thành thực của con người mà thôi.

Cho nên, người ta có thể dâng thật nhiều cho Thiên Chúa, nhưng bao lâu người ta chưa dâng chính mình, hay ít nữa những gì thuộc về bản thân, những gì liên hệ tới chính con người của mình, thì kể là người ta chưa dâng hiến gì cả.

*****

Qua bài Tin Mừng (TN 32-B) với việc làm của người đàn bà góa nghèo, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết ý nghĩa và giá trị của tiền bạc đối với người sử dụng nó và qua đó, chúng ta rút ra được một bài học, đó là hãy biết cho đi. Bởi vì thương yêu là cho đi. Càng cho nhiều là dấu càng yêu thương nhiều, nhất là cho đi với một lòng thành thực thiết tha.

Nhưng không phải chỉ cho những gì là vật chất như của cải, tiền bạc mới là cho. Chúng ta có thể cho những gì là siêu nhiên cao quí như lời cầu nguyện; và cho những gì là tinh thần như một nụ cười, một cái nhìn thiện cảm, một lời nói vui vẻ hiền hòa, hay những lời an ủi chân thành…


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 32-B: “Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng tiền nhiều hơn ai hết”. - Marcô 12,43)

-------------------

 

Bài 17: Chuyện Cái chết đầu tiên trên trái đất

là cái chết của Abel
---------------------------

Khi Ađam bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, ông phải khổ cực vất vả tìm kiếm miếng cơm manh áo.

Một lần kia, trên đường lao dịch, Ađam vấp phải cái xác bất động của Abel. Ông nâng con dậy, vác trên vai, đem về đặt trong lòng Eva. Ông bà lay gọi, nhưng Abel không đáp lại. Trước đây, Abel đâu có trầm lặng như vậy! Eva nâng tay đứa con yêu quý lên, bàn tay lại rơi xuống vô hồn. Trước đây không hề thấy như thế bao giờ! Ông bà nhìn vào đôi mắt trắng đã vô tư một cách bí mật. Trước đây đôi mắt của Abel có vô tình như thế đâu? Ông bà rất đỗi kinh ngạc. Nỗi kinh ngạc càng tăng dần cho đến lúc ông bà chợt nhớ lại lời Ðức Chúa Trời: "Ngày nào ngươi ăn trái cây này, ngươi sẽ chết". Ðó là cái chết đầu tiên trên thế giới.

***

Cái chết của Abel là cái chết đầu tiên trên trái đất.

Còn,
cái chết cuối cùng của nhân loại sẽ là ai?
Ở đâu?
Vào lúc nào?
Ðiều đó không ai được biết, và cũng không cần biết
.


Sách Tông đồ Công Vụ có viết: "Anh em không cần phải biết thời gian và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt" (Cv.1,7).

Tin mừng hôm nay (TN 33-B) cũng quả quyết: "Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các Thiên Sứ trên trời hay Người Con cũng không hề biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi" (Mc.13,32).

*****

Khi được hỏi bao giờ đến ngày tận thế?

Thánh Augustinô đã trả lời dứt khoát: "Việc này hoàn toàn nằm trong quyền năng của Chúa Cha". Nói khác, ngài còn nói: "Ðức Giêsu không cho biết ngày cuối cùng của ta, để ta luôn cảnh giác chờ đợi Người".

Ðứng trước các tin đồn về ngày tận thế, thái độ sống thích hợp nhất của chúng ta là: Vì thân phận con người mỏng dòn và yếu đuối, chúng ta hãy sống trong "tỉnh thức và cầu nguyện", trong niềm mong chờ "ngày Chúa đến sẽ xảy ra bất cứ lúc nào".

Chúng ta không biết ngày tận cùng của thế giới,nhưng chúng ta biết chắc ngày ấy phải đến.

Ðó không phải là tai nạn trong chương trình của Thiên Chúa, nhưng đó là một ngày mà Thiên Chúa dọn sẵn chỗ ở mới, một thế giới mới cho nhân loại. Nơi đó, công bằng sẽ ngự trị, hạnh phúc sẽ ngập tràn, và niềm vui sẽ trọn vẹn cho những ai "bền đỗ đến cùng".

Với cái nhìn đầy tin tưởng, Seneca (một tên tuổi lớn của văn học La Mã) đã nói:

"Ngày mà bạn cho là cùng tận của mọi sự, lại là ngày khởi đầu của vĩnh cửu".

Chúng ta không biết ngày nào Chúa sẽ đến trong vinh quang, nhưng chúng ta biết chắc: để được vào vương quốc ấy, con người phải nhìn lại chính mình, sắp xếp lại cuộc sống, và tích cực xây dựng một gia đình nhân loại đầy yêu thương, công lý và hòa bình.

Cha Mark Link viết: "Khi Chúa đến, Người không cân đo trí khôn chúng ta thông minh thế nào. Nhưng Người sẽ cân đo trái tim chúng ta yêu thương ra sao".

Vì tình yêu là ngôn ngữ của Thiên Đàng, nên chỉ những ai biết yêu thương mới được bước vào. Chính lòng nhân ái là tấm thẻ căn cước không thể thiếu của những công dân Nước Trời.

***

Lạy Chúa,
Xin hãy đến, cho những người được tuyển chọn tập họp chung quanh Người.
Xin hãy đến, để trong mọi biến cố kinh hoàng, chúng con vẫn một niềm cậy tin: Chúa là Ðấng cứu độ chúng con.

Trong giây phút định mệnh của mỗi người, xin cho chúng con nghe được tiếng Chúa: "Con sắp trở về cùng Cha". Amen.


*** (Chuyện này minh họa Tin Mừng Chúa Nhật TN 33-B: “Còn về ngày hay giờ đó, thì không ai biết được, ngay cả các Thiên Sứ trên trời, hay Người Con, cũng không hề biết. Chỉ có Chúa Cha biết mà thôi. - Marcô 13,32)

---------------------------------
- Đọc các bài của Lm. Mễn:
1. Vào Facebook.com; tìm: Nguyễn Mễn;
hoặc https://www.facebook.com/ nguyen.men.71;

2. Vào Internet: Google, Youtube, Cốc Cốc, Safari, hoặc Yahoo.com;
tìm: Cha Mễn, hoặc linh mục Mễn

3. https://linhmucmen.com
4. Email: mennguyen296@gmail.com

5. ĐT: 0913 784 998; 0394 469 165

**** "Bao lâu còn thời giờ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người” (Galata 6,10)

----------------------------

 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Giáo phận long xuyên
Chuyen ke cho cac gia dinh
Chuyện kể cho các gia đình
http://www.giaoxugiaohovietnam.com/
Báo công giáo
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây