Chuyện minh họa Tin Mừng Chúa Nhật - Sách 13 - Những chuyện: Sức mạnh của tình thương

Thứ bảy - 17/01/2026 01:11
Chuyện minh họa Tin Mừng Chúa Nhật - Sách 13 - Những chuyện: Sức mạnh của tình thương
Chuyện minh họa Tin Mừng Chúa Nhật - Sách 13 - Những chuyện: Sức mạnh của tình thương

Lm. Phêrô NguyễnVăn Mễn
(sưu tầm)

Những chuyện: Sức mạnh của tình thương

Chuyện minh họa Tin Mừng Chúa Nhật
Sách 13 (Thường Niên 21 C - Lễ Giáng Sinh A)

Nguồn: https://linhmucmen.com/news/chuyen-minh-hoa-tin-mung/

 

**** Đọc các bài của Lm. Mễn:
1. Vào Facebook.com; tìm: Nguyễn Mễn;
hoặc https://www.facebook.com/ nguyen.men.71;
2. Vào Internet: Youtube, Google, Cốc Cốc, Safari, hoặc Yahoo.com;
tìm: Cha Mễn, Cha Mễn kể chuyện, hoặc linh mục Mễn
3. https://linhmucmen.com
4. Email: mennguyen296@gmail.com
5. ĐT: 0913 784 998 có zalo; 0394 469 165 

 

**** "Bao lâu còn thời giờ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người” (Galata 6,10)

 

**** Lạy  Chúa, xin hãy hoàn thành nơi con những ý định của Chúa. Và xin ban cho con ơn: Không làm trở ngại ý định của Chúa do hành vi của con. Lạy Chúa, con muốn điều Chúa muốn, chỉ vì Chúa muốn, như Chúa đã muốn và tới mức độ Chúa muốn. Amen.

 

---------------------------------

Mục Lục:

 

Bài 1: Bàn tiệc Nước Trời chỉ dành cho những người chiến thắng. 2

Bài 2Bài học Khiêm Nhường Chúa dạy. 6

Bài 3Tôi là thứ ba. 8

Bài 4Người Con Của Ai Đó. 12

Bài 5Của cải dễ làm hư con người 15

Bài 6Trở nên người nghèo của Tin Mừng. 18

Bài 7Xin ban cho con đức Khiêm nhường. 21

Bài 8Chuyện người thanh niên vô ơn. 24

Bài 9Chứng từ của một giáo dân truyền giáo. 25

Bài 10Kiên trì trong cầu nguyện. 27

Bài 11Xin cho con biết khiêm tốn nhận ra những thiếu sót, lỗi lầm của mình. 29

Bài 12Những chuyện: Sức mạnh của tình thương. 32

Bài 13Kinh nghiệm của những người cận tử thuật lại 38

Bài 14Chuẩn Bị Ngày Quang Lâm, Ngày Chúa Sẽ Đến. 39

Bài 15Sứ giả của hoàng tử. 43

Bài 16Hãy luôn tĩnh thức và sẵn sàng. 46

Bài 17Điều quý giá nhất ở trần gian. 48

Bài 18Emmanuel, một Thiên Chúa ở cùng chúng ta. 51

Bài 19Chuyện một vị vua chọn người làm dưỡng tử kế vị 53

Bài 20Cần phải trở thành một con chim, để lãnh đạo đàn chim.. 56

 

-------------------------------

 

Bài 1: Bàn tiệc Nước Trời chỉ dành cho những người chiến thắng

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 220

Thường Niên 21-C

 

Bạn thân mến, 

 

Ở trang trong của một tờ nhật báo xuất bản tại Manila, người ta đã đọc được câu chuyện vui sau đây:

 

Trước cửa Thiên đàng, linh hồn một nông dân xuất hiện, xin Thánh Phêrô cho vào hưởng nhan Thiên Chúa. 

 

Thánh Phêrô nghiêm nghị hỏi:

 

- “Con đã sống như thế nào trên trần gian, mà giờ đây con muốn vào Thiên Đàng?”

 

Linh hồn người nông dân trả lời với hết lòng chân thật:

 

- “Dạ, thưa Thánh Phêrô, suốt 70 năm qua trên trần gian, con đã cần cù làm ăn, tuân giữ mọi điều luật Chúa dạy, không bao giờ phạm tội làm mất lòng Chúa. Con muốn vào Thiên Đàng để được hưởng nhan thánh Chúa đời đời”.

 

Thánh Phêrô nghiêm nghị trả lời:

 

- “Con đợi ta xem lại các bản phúc trình, mà thiên thần bản mệnh của con đã gởi về”. 

 

Trong giây phút im lặng, với vẻ mặt nghiêm nghị, Thánh Phêrô lần mở sổ ra, kiểm soát thật kỹ những phúc trình, về cuộc đời của người nông dân. 

 

Quả thực, đúng như lời ông khai báo. Thánh Phêrô không tìm thấy bất cứ sai lỗi nào trong các bản phúc trình ấy cả. 

 

Sau giây phút suy nghĩ thêm, thánh nhân nghiêm nghị trả lời cho linh hồn người nông dân:

 

- “Con không đủ điều kiện để vào Thiên đàng”. Rồi thánh Phêrô ôn tồn giải thích lý do: 

 

“Con có biết không, trên Thiên đàng này, kể cả chính bản thân ta đây nữa, tất cả mọi linh hồn vào đây, đều là những linh hồn tội lỗi, đã làm phiền lòng Chúa rất nhiều, nhưng đã sám hối, ăn năn, được Chúa thứ tha, rồi mới vào đây được. 

 

Còn con thì thật là khác thường. Con suốt đời không phạm tội gì cả. 

 

Vậy con không đủ điều kiện để vào Thiên đàng. Ta cho con trở lại trần gian sống thêm ít năm nữa xem sao, để con có điều kiện, mà trở lại đây vào Thiên Đàng”.

 

*****

 

Đây là một câu chuyện vui, nhưng có thể giúp chúng ta nhìn vào cuộc đời quá khứ của mình, dưới ánh sáng của Lời Chúa hôm nay (Thường Niên 21-C: Lc 13, 22-30). 

 

Nước Trời là của những tâm hồn tội lỗi, nhưng đã sám hối, ăn năn, trở về cùng Chúa, nên được Chúa thứ tha. 

 

Nào ai dám tự phụ cho mình đã không bao giờ lầm lỗi, không bao giờ làm phiền lòng Thiên Chúa và không bao giờ xúc phạm đến anh chị em xung chung quanh. 

 

Chúng ta không nên có thái độ tự phụ, cho mình là trong sạch, tốt lành hơn kẻ khác, xứng đáng được vào Nước Trời. 

 

Đừng tưởng nghĩ như những người Do Thái, cứ tưởng là Dân riêng của Chúa, là con cháu của Abraham, là đương nhiên được bảo đảm chắc chắn vào Nước Trời. 

 

Vì chính Chúa Giêsu đã nói: “Không phải bất cứ ai thưa: Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời đâu”. 

 

Cũng không phải tất cả những ai đã được diễm phúc đồng bàn ăn uống với Chúa Giêsu, được nghe Ngài giảng dạy trên các đường phố của mình, đều là những người có đủ tiêu chuẩn bảo đảm có một tấm vé vào cửa Thiên Đàng!

 

Vấn đề là phải phấn đấu “vào qua cửa hẹp”, “phải dùng sức mạnh” mới lọt được cửa hẹp, dẫn tới bàn tiệc Nước Trời

 

Bởi vì, trước cửa Nước Trời, mọi người đều bình đẳng để vào, không có ưu tiên dành cho những người có lý lịch tốt, hay có gốc gác bự, có ô dù… 

 

Cũng không có chuyện dành chỗ trước, cũng chẳng có chuyện chạy chọt đút lót, cậy quyền, cậy thế, hoặc dựa vào thành tích quá khứ, để đòi hỏi cho mình quyền ưu tiên. 

 

*****

 

Vả lại, cũng đừng quan niệm bàn tiệc Nước Trời như một tiệc chiêu đãi có tính cách phô trương trình diễn. 

 

Trái lại, đây phải là một bàn tiệc của những người chiến thắng, mà chỉ có những người đã từng chiến đấu, đã chia sẻ những nỗi gian khổ, đã thông phần vào cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, mới xứng đáng dự phần.

 

Điều trớ trêu, là không phải con cái trong nhà sẽ là những kẻ nhanh chân nhất và được vào bàn ăn. 

 

Trái lại, chính những kẻ ở xa, những kẻ lặn lội từ bốn phương trời mà đến. 

 

Đối với những người Do Thái đang nghe Chúa Giêsu thì họ hiếu: Những kẻ từ Đông Tây, Nam Bắc mà đến, chính là các dân ngoại. 

 

Họ sẽ được vào đồng bàn với các Tổ phụ và các Ngôn sứ, trong khi chính những người Do Thái là con cái trong nhà, những kẻ hãnh diện từng ăn uống thường ngày với Chúa, từng được nghe Ngài giảng dạy, lại phải đứng ngoài gõ cửa tuyệt vọng. 

 

Vì vậy, có sự đảo ngược thứ tự khi vào Nước Trời: 

 

“Những người trước hết sẽ trở nên cuối hết, còn những người cuối hết sẽ trở nên trước hết”.

 

*****

 

Ta nên nhớ: Thiên Chúa không theo chủ nghĩa lý lịch. Trước cửa Nước Trời, Ngài không hỏi mọi người: Có chịu phép rửa tội, có theo Kitô Giáo, có phải là người Công giáo hay không? Có phải là Tu sĩ, Linh Mục, Giám Mục, Hồng Y hay Giáo Hoàng? 

 

Điều Ngài đặc biệt quan tâm và xét hỏi, đó là đã có làm và sống như Chúa Giêsu đã làm, đã sống, đã dạy hay không? 

 

Vì thế, đừng lầm tưởng rằng: Hễ có tên là Kitô hữu, là người Công Giáo, là đạo gốc, là đương nhiên được bảo đảm vào Nước Trời, để rồi tự đắc, đứng trên nhìn xuống thương hại, hay loại trừ những người anh em ngoại giáo, những người không chia sẻ một tôn giáo, một niềm tin với chúng ta. 

 

Bàn tiệc Nước Trời đón nhận tất cả mọi người thành tâm thiện chí. 

 

Nếu chúng ta không thực thi Lời Chúa, không đi theo con đường hẹp của Chúa, thì có thể những người anh em ngoại giáo sẽ vào Nước Trời trước chúng ta, đang khi chúng ta, những người được mời gọi trước, thì lại sẽ bị Chúa từ chối, vì chỉ mang cái nhãn hiệu Kitô hữu, mà không có một đời sống đức tin, một đời sống Kitô hữu đích thực.

 

*****

 

Nếu Chúa Giêsu mượn hình ảnh bữa tiệc để nói về Nước Thiên Chúa, thì chính là để diễn tả sự chia sẻ niềm vui, chia sẻ hạnh phúc với Thiên Chúa và với anh em. 

 

Bởi thế, Thánh Phaolô đã nói với tín hữu Rôma: 

 

“Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17).

 

Bàn tiệc Thánh Thể hôm nay phải là dấu chỉ cụ thể của bàn tiệc Nước Trời, nên những gì chúng ta chia sẻ trên bàn thờ, tức là Mình Máu Thánh Chúa, thì cũng phải được chia sẻ rộng rãi trong cuộc sống. 

 

Nói khác đi, chúng ta không thể bẻ Bánh Thánh với nhau, mà không biết chia cơm, sẻ áo cho nhau, cho những anh chị em ngoài cộng đoàn của chúng ta nữa, những người anh em đang cần được chúng ta chia sẻ. Thực hiện sự chia sẻ cụ thể đó, chính là phấn đấu đi qua cửa hẹp, để dự Bàn Tiệc Nước Trời vậy.

 

Lạy Chúa, cửa hẹp ít người thích bước vào, nhưng Chúa lại chọn cửa hẹp để vào. Cửa hẹp là thập giá, là đau khổ, là hy sinh, là từ bỏ….. Xin giúp chúng con biết bước vào cửa hẹp, vì chính Chúa đã chọn con đường hẹp, con đường khổ giá để đi. Amen.

 

--------------------------------------

 

Bài 2: Bài học Khiêm Nhường Chúa dạy 

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 221

Thường Niên 22-C

 

Bạn thân mến, 

 

Một hôm Dương Chu sang nước Tống, vào ở trọ một nhà kia. Người chủ nhà có hai nàng hầu, một nàng đẹp, một nàng xấu. 

 

Để ý quan sát thì Dương Chu thấy trong nhà, ai cũng quí trọng người thiếp xấu, mà lại khinh rẻ người thiếp đẹp. 

 

Lấy làm lạ, ông mới dò hỏi cậu bé giúp việc.

 

Cậu bé tiết lộ:

 

- Người thiếp đẹp hay kênh kiệu, tự cho mình là đẹp, nên mất đẹp, bởi chúng tôi chẳng ai còn nhìn ra cái đẹp của nàng nữa. 

 

Trái lại, người thiếp xấu, tự biết mình xấu, nên sống hồn nhiên, vô tư với mọi người, nên không ai còn nhìn thấy cái xấu của nàng nữa.

 

Dương Chu liền gọi học trò đến dặn:

 

- Các con hãy ghi nhớ lời này: Giỏi mà bỏ được cái thói tự cho mình giỏi, thì đi đâu mà chẳng được người yêu quí tôn trọng.

 

“Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”. 

 

Chúa Giêsu rất ưa thích sự khiêm nhường, mà còn làm gương trước cho mọi người:

 

Là một Ngôi vị Thiên Chúa quyền năng, nhưng Người đã hạ mình làm kiếp phàm nhân. 

 

Là bậc thầy trong thiên hạ, nhưng lại quì xuống rửa chân cho các đệ tử. 

 

Chỗ của Người là “chỗ nhất” trên trời cao, nhưng lại chọn “chỗ cuối” dưới chân con người....

 

Chúa Giêsu đã tự hạ mình xuống như thế, không phải là để được tôn lên, vì dưới vòm trời này, có ngôi báu nào có thể chứa được Người. 

 

Người khiêm nhường đến tự hủy như thế, cũng là để phục vụ con người đến hết mình, và để yêu thương họ cho đến cùng. 

 

Vì thế, nếu khiêm nhường để gây chú ý, để được tiếng khen, để được tôn lên, mà không nhằm phục vụ, không nhằm yêu thương, thì chỉ là một thứ kiêu ngạo trá hình mà thôi.

 

*****

 

Có thể nói, khiêm nhường như Chúa dạy, chính là “tự nhận mình là không và Chúa là tất cả”, nên chỉ cậy dựa vào Chúa mà hy sinh, mà phục vụ, mà yêu thương mọi người.... 

 

Chỉ có những ai hạ mình xuống như thế mới đáng được Chúa tôn lên.

 

Thánh Giuse đã khiêm nhường phục vụ, yêu thương Đức Mẹ và Đức Giêsu tại quê nghèo Nagiaret, nên đã được tôn làm cha nuôi Chúa Cứu Thế.

 

Đức Maria đã khiêm nhường nhận mình là nữ tì của Thiên Chúa, để suốt đời phục vụ, chăm lo cho Con Chúa Trời, nên đã được tôn làm Mẹ Thiên Chúa.

 

Noi gương Chúa, biết bao con người đã và đang âm thầm xả thân cho đồng loại, họ khiêm nhường làm những công việc dơ dáy, hôi tanh, để chăm sóc những người phong cùi, lở loét, những bệnh nhân nan y bất trị, những người hấp hối nhặt được từ đường phố, những trẻ em nghèo đói, thương tật trong các nước chiến tranh, lạc hậu....

 

Chính khi yêu thương vô vị lợi, chính khi chúng ta “đãi tiệc những kẻ nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, những kẻ không có khả năng mời lại”, thì chúng ta “mới thật có phúc”, vì chính Thiên Chúa sẽ trả công cho chúng ta. 

 

Người không có ý phân biệt giàu nghèo, thân sơ, vì trước mắt Thiên Chúa, chúng ta đều là anh em. 

 

Nhưng Chúa muốn lưu ý chúng ta rằng: Dù người được mời, giàu hay nghèo, thân hay không thân, chúng ta cũng đừng mong họ đáp trả lại theo kiểu “ăn miếng trả miếng”. Đó là lòng bác ái vô vị lợi mà Chúa muốn dạy chúng ta hôm nay.

 

Có thể chúng ta thực thi việc bác ái cho anh em, chỉ vì vụ lợi, vì khoe khoang, vì muốn hơn người, vì trách nhiệm hay vì phần thưởng... 

 

Nhưng sự trao ban đích thực chính là thứ trao ban vì yêu thương. 

 

Thánh Gioan viết: 

 

“Thiên Chúa yêu thương thế gian, đến nỗi đã trao ban Con Một Người”. (Ga 3, 14-21).

 

Chỉ những ai trao ban vô vị lợi, trao ban vì yêu thương, trao ban chính bản thân mới trở nên giống Thiên Chúa.

 

Lạy Chúa, Chúa thương những kẻ khiêm nhường, vì họ luôn nhận mình yếu hèn, và luôn luôn biết cậy dựa vào Chúa.

 

Xin Chúa dạy chúng con biết khiêm nhường và phục vụ, biết dấn thân và trao ban, mà không hề mảy may tính toán, để nhờ đó, chúng con sẽ được Chúa yêu thương nhiều hơn nữa. Amen

 

----------------------------------

 

Bài 3: Tôi là thứ ba

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 222

Thường Niên 23- C

 

Bạn thân mến, 

 

Gale Sayers là một cầu thủ chơi ở hàng hậu vệ của đội banh Chicago Bears vào thập niên 1960, được đánh giá là một trong những hậu vệ chạy nhanh nhất trong lịch sử môn bóng đá chuyên nghiệp. 

 

Chung quanh cổ anh lúc nào cũng đeo lủng lẳng một mề đai ba chữ: 

 

“I am Third” (Tôi là thứ ba). 

 

Ba chữ này đã trở nên đề tựa cho quyển tự thuật bán chạy nhất của anh. 

 

Quyển sách cắt nghĩa lý do tại sao những chữ này có tầm ý nghĩa to lớn đối với Gale. Đó cũng chính là khẩu hiệu của huấn luyện viên Bill Easton của anh. Ông này từng là hậu vệ đội bóng của đại học Kansas. Huấn luyện viên Easton thường đặt ba chữ này lên một cái khung nhỏ trên bàn làm vịêc của ông. 

 

Ngày nọ, Gale tò mò hỏi ý nghĩa của ba chữ ấy, thì Easton giải thích: 

 

Chúa là thứ nhất, các bạn tôi thứ nhì và tôi là thứ ba”. 

 

Thế là, kể từ ngày đó, Gale lấy ba chữ trên làm triết lý sống riêng cho cuộc đời mình.

 

Vào năm thứ hai sinh hoạt với đội Bears, Gale quyết định phải đeo ở cổ một cái gì đó đầy ý nghĩa giống một mề đai tôn giáo. 

 

Thế là anh liền đi mua một tấm mề đai bằng vàng và nhờ khắc lên đó ba chữ I am third (tôi là thứ ba)

 

Trong quyển tự thuật của mình, Gale nói:

 

 “Tôi cố gắng sống câu nói ghi trên tấm mề đai của tôi. Không hẳn lúc nào tôi cũng thành công trong vịêc này, nhưng dù sao, việc mang câu ấy quanh cổ cũng giúp cho tôi khỏi đi trệch đường quá xa”

 

Câu chuyện của Gale Sayers minh hoạ chủ điểm Chúa Giêsu nêu lên trong phần đầu của bài Phúc Âm hôm nay, khi Ngài tuyên bố: 

 

“Bất cứ ai đến với Ta mà không ghét cha mẹ mình… và ngay cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ của Ta” (TN 23-C: Lc 14, 25-33). 

 

Nói cách khác, chúng ta phải dành ưu tiên số một trong đời mình cho Chúa Giêsu và Cha Ngài, Đấng ngự trên trời.

 

Và điều này lại dẫn chúng ta đến chủ điểm thứ hai được Chúa Giêsu nêu ra trong phần cuối bài Phúc Âm: 

 

“Ai trong các ngươi muốn xây một ngọn tháp mà trước  hết không chịu ngồi xuống tính toán phí tổn để xem thử mình có đủ khả năng hoàn tất nó không?” 

 

Nói cách khác, dành quyền ưu tiên số một cho Chúa vẫn chưa đủ, chúng ta còn phải sống sự chọn lựa ấy nữa. 

 

Và dĩ nhiên, đây mới là phần khó khăn. 

 

Như Gale Sayers xác quyết rõ ràng: 

 

“Đặt Chúa vào vị trí số một trong đời bạn là một chuyện, còn sống cái quyết định ấy thì lại là một chuyện hoàn toàn khác”. 

 

Chính vì thế Gale mới luôn luôn đeo tấm mề đai quanh cổ anh, hầu nó nhắc nhớ anh sống sự chọn lựa ấy. 

 

Nào chúng ta hãy lập lại lời anh nói: 

 

“Tôi cố gắng sống câu nói ghi trên tấm mề đai của tôi. Không hẳn lúc nào tôi cũng thành công trong việc này, nhưng dù sao việc mang câu ấy quanh cổ cũng giúp cho tôi khỏi đi lệch đường quá xa”.

 

*****

 

Cách đây ít lâu, tờ Los Angeles Times có đăng một câu chuyện cảm động của phóng viên Dare Smith, liên quan đến một Kitô hữu khác, cũng đặt Chúa vào vị trí thứ nhất, tha nhân vị trí thứ hai và bản thân mình vào vị trí thứ ba, giống trường hợp chàng Sayers nói trên. Tên người Kitô hữu này là Charlie Deleo.

 

Charlie Deleo lớn lên như một “đứa bé phong trần ở khu Lower Eas thuộc Nữu Ước”. 

 

Sau khi từ Việt Nam trở về. Charlie kiếm được chân giữ tượng Nữ Thần Tự Do. 

 

Anh kể cho nhà phóng viên rằng: Một phần công việc của anh là lo chăm sóc ngọn đuốc trong tay bức tượng và cái mũ triều thiên trên đầu bức tượng. Anh phải lo làm sao cho các tia hơi nước có chất Natri luôn luôn hoạt động, đồng thời 200 cửa sổ bằng kính, nơi ngọn đuốc và mũ triều thiên lúc nào cũng phải sạch sẽ. 

 

Chỉ vào bó đuốc Charlie hãnh diện nói: 

 

“Đó là nguyện đường của tôi, tôi dâng hiến nó cho Chúa và thường lên đó suy niệm vào lúc rỗi rảnh nghỉ ngơi”.

 

Tuy nhiên, Charlie còn làm cho Chúa những điều khác nữa: 

 

- Anh đã nhận được bằng khen của hội đồng thập tự, sau khi anh hiến nửa lít máu lần thứ 65. 

 

- Và sau khi nghe biết công việc của Mẹ Têrêsa ở Ấn Độ, anh đã gởi tặng trên 12 ngàn đô cho mẹ và cho những ngừơi hoạt động giống Mẹ. 

 

Charlie kể rằng: Khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói chuyện tại công viên Battery cách bức tượng nữ thần tự do chừng một dặm rưỡi (hơn 2 cây số), thì ông đứng trên lối đi nhỏ viền quanh ngọn đuốc và lắng nghe bài nói chuyện của Đức Thánh Cha. 

 

Tại lối đi nhỏ này, ông cũng hăng say cầu nguyện cho chuyến viếng thăm Mỹ Quốc của Đức Gióa Hoàng được thành công. 

 

Charlie nói với phóng viên tờ Los Angeles Times: 

 

“Tôi chẳng giàu xã hội tính, cũng chẳng bận quần áo hợp thời trang, nhưng tôi có được tính khôi hài. 

 

Tuy nhiên, vấn đề là tôi không có đủ tiền cưới vợ, cũng chả giữ lại được đồng nào làm của riêng, sau khi kiếm được việc làm, tôi đã bảo trợ cho 6 trẻ mồ côi, thông qua các tổ chức lo về các trẻ em đó.

 

Cuối cùng, Charlie kể cho phóng viên rằng: Anh thường tự cho mình là “kẻ giữ ngọn lửa’ tượng thần tự do. 

 

Về sau, người hướng dẫn công viên có nói với nhà phóng viên: 

 

“Mọi người đều biết Charlie là con người đặc biệt. Lúc đầu nghe anh tự cho mình tước hiệu đó, ai nấy đều chỉ mỉm cười, nhưng giờ đây tất cả chúng tôi đều nhìn nhận điều ấy một cách nghiêm chỉnh, vì theo chúng tôi nghĩ, ông ta đích thực xứng đáng với danh hiệu “người giữ ngọn lửa”.

 

Charlie Deleo bắt đầu cuộc sống như một chú bé phong trần ở Lower East thuộc Nữu Ước. 

 

Nhưng rồi cũng giống như trường hợp Gale Sayers, anh đã quan trọng đặt Chúa vào vị trí số một trong cuộc sống, tha nhân thứ nhì và chính ông vào vị trí thứ ba. 

 

Quyết  định ấy đã vĩnh viễn thay đổi cuộc đời ông. Charlie là một minh hoạ sống động cho hai chủ điểm Chúa Giêsu đề cập trong Phúc Âm hôm nay. Đó là chúng ta phải đặt Chúa vào vị trí thứ nhất trong cuộc sống của mình, đồng thời nhất quyết thực thi sự chọn lựa ấy. 

 

Charlie còn là nguồn cảm hứng sống động khích lệ chúng ta thực hiện điều anh đã làm, đó là dành ưu tiên hàng đầu cho Chúa, đồng thời nhờ ơn Chúa giúp chúng ta dám can đảm thực thi sự chọn lựa đó.

 

Đó là sứ điệp của các bài đọc hôm nay. Đó là lời mời gọi Chúa dành cho mỗi người chúng ta hiện đang tham dự bí tích thánh thể này.

 

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện của Charlie Deleo. Lời nguyện này tóm tắt sự thách đố trong các bài đọc Thánh Kinh hôm nay:

 

“Ôi lạy Chúa, con không bao giờ dám mơ ước có được đức tin của tổ phụ Abraham, con cũng không bao giờ dám mơ ước nắm quyền lãnh đạo như Môisen, mà cũng chẳng hy vọng có được sức mạnh của Samson, lòng can đảm của David, hoặc sự khôn ngoan thông thái của Salomon… 

 

Nhưng, ôi lạy Chúa, con chỉ hy vọng một ngày nào đó được Chúa kêu gọi và con xin thi hành ý muốn của Ngài, vì mệnh lệnh Ngài sẽ là niềm vui của con… 

 

Và lạy Chúa, con sẽ không làm Chúa thất vọng, bởi vì Chúa là tất cả những gì con đang gắng công phụng sự. Amen.

 

Mark Link S.J.

 

--------------------------------------

 

Bài 4: Người Con Của Ai Đó

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 223

Thường Niên 24-C

 

Bạn thân mến, 

 

Một văn sĩ nọ đã kể lại câu chuyện ngắn về cậu bé David, câu chuyện có tựa đề là: “Người Con Của Ai Đó” như sau:

 

David đã bỏ nhà ra đi, nó viết thư về cho mẹ như sau: 

 

Thưa Mẹ, vài ngày nữa con sẽ đi ngang qua nhà, con sợ cha lắm, nếu cha tha thứ cho con, thì mẹ hãy xin cha cột một dây vải trắng nơi cây xoài trước nhà. Nhìn thấy dấu hiệu này, con biết là cha đã tha thứ và con sẽ an tâm mà về lại nhà.

 

Vài ngày sau, David lấy vé xe lửa về quê. Đường xe lửa đi ngang qua trước nhà, cậu nghĩ, nếu cậu thấy được sợi dây vải trắng cột trên cây xoài, thì cậu sẽ xuống trạm xe kế bên và đi về nhà, nếu không thì sẽ đi luôn sang nơi khác.

 

Cậu David rất hồi hộp khi xe gần đến nhà, mà sợ mình có thể nhìn lầm hay không kịp nhìn, nên cậu nhờ một người bên cạnh cùng nhìn phụ. 

 

Xe chạy ngay qua địa điểm, không những là cậu, mà cả người bạn cũng nhìn thấy, người bạn hỏi cậu:

 

- Tại sao cây xoài nhà đó lại đầy những tấm vải trắng treo trên khắp các cành cây như vậy ?

 

David mỉm cười, không trả lời, cậu chỉ giữ lấy ý nghĩa của dấu hiệu đó cho riêng mình mà thôi, và hân hoan xuống trạm xe kế tiếp.

 

*****

 

Câu chuyện vui trên giúp chúng ta hiểu thêm sứ điệp Phúc âm mà Chúa gởi đến chúng ta hôm nay (TN 24-C: Lc 15, 1-32). 

 

Như cậu David, chúng ta mang nặng ý thức về những lỗi lầm của mình và nghi ngờ tình thương tha thứ của Thiên Chúa. 

 

David cần được củng cố vì tình thương của cha sẵn sàng tha thứ. 

 

Chúng ta cũng vậy: Thiên Chúa đã thực hiện nhiều dấu chỉ trong cuộc đời để chỉ cho chúng ta thấy tình thương của Ngài, và dấu chỉ quan trọng nhất hằng ngày chúng ta thấy, đó là thập giá Chúa Giêsu Kitô, dấu chỉ đó cho chúng ta thấy tình thương tha thứ của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta.

 

Bài Phúc âm hôm nay ghi lại ba dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa: 

 

- Dụ ngôn con chiên bị mất; 

- Dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất, 

- Nhất là dụ ngôn người cha nhân hậu.

 

Qua bài Phúc âm , Giáo Hội nhắc lại cho chúng ta dụ ngôn về tình thương của Thiên Chúa Cha đối với con người tội lỗi. 

 

Thái độ của người chăn chiên đi tìm con chiên lạc, của người đàn bà bị mất một đồng tiền và của người cha có đứa con bỏ nhà đi hoang. Thái độ yêu thương tha thứ đó vượt quá mức độ bình thường con người có thể tưởng tượng được và phản chiếu thái độ của Thiên Chúa đối với con người.

 

Theo lệ thường, nếu chúng ta có một trăm con chiên, mà lỡ bị mất một con, chúng ta có nhất quyết đi tìm con chiên lạc cho đến khi gặp được mới thôi hay không ? 

 

Chắc chắn là không, vì số chín mươi chín con còn lại không đáng giá hơn một con bị lạc mất hay sao ? 

 

Quan niệm của con người chúng ta thường hay căn cứ vào số lượng, và có thể chúng ta cho rằng hành động của người chăn chiên là một hành động khác thường, nếu không muốn nói là điên khùng theo mức độ con người. 

 

Nhưng đối với Thiên Chúa thì không điên khùng, vì Ngài không đặt tương quan của Ngài trên căn bản con số, chất lượng nhiều hay ít, nhiều người hay ít người, nhưng trên căn bản tương quan giữa Ngài với từng cá nhân. 

 

Mỗi con chiên, mỗi người đều có giá trị duy nhất đối với Ngài, và do đó nếu bị lạc mất thì nhất quyết phải tìm cho được mới thôi. 

 

Rồi hành động của người đàn bà cũng thế, theo thường tình thì mất một đồng cũng không sao, vì còn cả chín đồng kia mà. 

 

Nhưng để diễn tả mức độ của Thiên Chúa thì một đồng bị mất kia là hết sức quan trọng, phải tìm cho được mới thôi.

 

Người cha của đứa con đi hoang, theo thường tình thì bỏ mặc kệ nó, nhưng để diễn tả thái độ của Thiên Chúa đối với con người, thì người cha kia hằng ngày đứng trông con mình trở về, và đã nhìn thấy con mình trở về trước khi nó nhìn thấy ông. Người cha tha thứ cho đứa con ngay cả trước khi nó mở miệng xin tha, rồi làm tiệc ăn mừng.

 

Thiên Chúa muốn cứu rỗi mọi người và mỗi người, Ngài muốn tận dụng mọi phương thế có thể để ban ơn cứu rỗi cho con người. Vì Ngài yêu thương con người, yêu thương từng người một cách vô cùng, nhưng con người có chấp nhận ân sủng và tình thương của Ngài hay không ?

 

*****

 

Trong bài dụ ngôn về người cha của đứa con hoang đàng, chúng ta còn quan sát thái độ giữa hai anh em ganh tị với nhau: Người anh cả ở nhà với cha, thay vì thông cảm và vui mừng với em mình trở về, thì anh ta lại tỏ ra ganh tị.

 

Mặt khác, như trong Cựu ước, chúng ta thấy Môisen cầu nguyện cùng Chúa, xin Ngài tha thứ cho dân đã phạm tội đến Ngài, Môisen đã không xin Chúa hủy diệt dân mình, nhưng hãy tha thứ cho dân mình. 

 

Cũng thế, chúng ta đừng bắt chước thái độ của người anh cả trong dụ ngôn, đừng ganh tị với anh chị em được ơn Chúa tha thứ cho, nhưng hãy bắt chước thái độ của Môisen cầu nguyện cùng Chúa, xin Ngài tha thứ tội lỗi cho anh chị em và cho cả chính mình nữa.

 

Trước nhan Thiên Chúa, tất cả mọi người chúng ta đều là những kẻ tội lỗi, đều cần đến lời cầu nguyện của nhau, để trở lại cùng Chúa và trung thành với đức tin. 

 

Lạy Chúa, xin thương tha thứ mọi tội lỗi của chúng con và xin thương nâng đỡ thành tâm thiện chí của mỗi người chúng con, giúp mỗi người chúng con biết trở về cùng Chúa, biết sống hết tình anh em với nhau, và biết sống xứng đáng là con cái của Cha trên trời. Amen.

 

------------------------------------

 

Bài 5: Của cải dễ làm hư con người

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 224

Thường Niên 25 C

 

Bạn thân mến, 

 

Thánh Antonino, là giám mục của vùng Firenze nước Ý vào khoảng thế kỷ thứ 15, có kể lại một câu truyện, mà ngài đã tận mắt chứng kiến trong đời mục vụ tông đồ.

 

Một hôm, ngài đang đi trên đường thì Thiên Chúa cho ngài thấy có một vị thiên thần cứ bay lượn bên trên một ngôi nhà nghèo nàn lụp xụp. 

 

Ngài ghé vào hỏi thăm cha sở vùng này, thì được biết gia đình ấy tuy rất nghèo, nhưng lại rất đạo đức và tốt bụng, luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người. 

 

Thánh Antonio động lòng thương, hiểu ra ý Chúa muốn soi sáng cho mình, ngài bèn trích quỹ từ thiện, kín đáo trợ cấp hàng tháng một số tiền vừa đủ, để cho gia đình này, vừa có vốn liếng mà chí thú làm ăn đỡ nghèo khổ, và cũng có khà năng giúp đỡ những người nghèo khổ khác.

 

Một thời gian sau, ngài lại có việc đi qua vùng ấy, ngài chợt giật mình, bởi trông thấy một tên quỷ xấu xa, đang bay lượn trên mái một ngôi nhà khang trang đẹp đẽ nhất vùng. 

 

Ngài lại ghé vào Cha Sở để hỏi thăm, thì hóa ra đó chính là ngôi nhà của gia đình, mà ngài đã từng trợ cấp lâu nay. 

 

Cha Sở cho biết: Họ đã cố gắng ăn nên làm ra, nhưng dần dần, vì tham lam, họ đã học đòi những thủ đoạn mánh khóe, bất lương, để làm giàu nhanh chóng, đời sống họ đã hoàn toàn trở nên vô đạo đức, trở nên ích kỷ và độc ác, khinh bỉ xua đuổi những người nghèo khổ láng giềng ngày xưa. 

 

Hiện tại, họ lại còn thêm thói ăn chơi trụy lạc.

 

Thánh nhân đau lòng quyết định cắt đứt nguồn trợ cấp, để mong họ sớm hiểu ra, mà sám hối, quay trở về đường ngay nẻo chính. 

 

--- Quả thật, của cải vật chất, xa hoa, dễ làm cho con người hư đi, nếu sống mà xa lìa đường lối của Thiên Chúa...

 

(Trích NỐI LỬA CHO ĐỜI tập 2)

 

*****

 

LOẠI ĐỒNG TIỀN CHO ĐI

 

Có một người kia, suốt đời chỉ lo thu gom tiền bạc, cho nên rất giàu. Khi chết, ông còn ôm túi vàng theo mình, đi sang cuộc sống bên kia. 

 

Đi một hồi ông thấy đói. Bỗng ông thấy một quán ăn bên đường, liền ghé vào. 

 

Vì hà tiện, nên ông hỏi người chủ quán: 

 

“Tô cơm nhỏ này giá bao nhiêu ?” 

 

Người bán trả lời: 

 

“Chỉ một đồng thôi.” 

 

Ông ta lại hỏi: “Còn tô lớn kia ?” 

 

- “Cũng chỉ một đồng thôi.”

 

Thấy rẻ, ông gọi luôn hai tô lớn. 

 

Nhưng người chủ quán bảo: “Ở đây chỉ xài loại tiền-cho-đi thôi. Ông có không ?” 

 

Người hà tiện chỉ vào túi vàng của mình. Nhưng chủ quán nói: 

 

- “Đó chỉ là thứ tiền-lấy-vào. Ở đây không xài được.” 

 

Ông nhà giàu thắc mắc: 

 

“Thế tiền-cho-đi là tiền gì ?” 

 

Người kia bảo: “Khi còn sống, mỗi lần ông cho ai bao nhiêu đồng, thì ông được ban lại bấy nhiêu đồng loại tiền-cho-đi.”

 

Ông nhà giàu lục lọi khắp nơi trong mình, nhưng chẳng có đồng nào thuộc loại tiền-cho-đi cả. 

 

Thế là ông bèn phải nhịn đói... 

 

--- Bao nhiêu đồng tiền cho đi là bấy nhiêu đồng tiền để dành cho đời sau vậy.

 

*****

 

ĐẠO MỘT MẮT

 

Bác sĩ A.J. Gordon kể: 

 

Ngày nọ, có một ông nhà giàu nhưng keo kiệt đến xin chữa mắt. Sau khi khám nghiệm, bác sĩ cho biết phải chữa cả hai mắt, nếu không có nguy cơ bị mù. 

 

Ông ta hỏi: “Nhưng giá bao nhiêu ?” Bác sĩ trả lời: “Chữa mỗi mắt là 100 đô.” 

 

Ông nhà giàu phân vân giữa tiền bạc và mù loà. Rồi ông nói với bác sĩ: "Tôi chỉ chữa một mắt thôi, vì một mắt cũng đủ thấy tiền và đếm tiền. Lại đỡ tốn !"

 

Nhiều người vẫn cầu nguyện: 

 

"Xin mở mắt con để thấy kỳ công của Chúa..." 

 

Nhưng xem ra nhiều Ki-tô hữu chỉ muốn Chúa mở cho mình một mắt để thấy công trình của Chúa mà thôi, một mắt còn lại phải dành riêng mà... trông coi gia sản !

 

Trích SỢI CHỈ ĐỎ

 

---------------------------------

 

Bài 6: Trở nên người nghèo của Tin Mừng

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 225

Thường Niên 26 C

 

Bạn thân mến, 

 

Một câu chuyện kể rằng,:

 

Có một em thiếu nhi con nhà giàu, học giỏi và đạo đức, cầu nguyện với Chúa như sau:

 

Lạy Chúa, con chúc tụng và tạ ơn Chúa, vỉ đã cho con được sinh ra trong một gia đình đạo đức và hạnh phúc. 

 

Nhưng tại sao Chúa lại cho người bạn thân của con lại phải cực khổ, gia đình nghèo khó, bố hắn là lao động chính trong gia đình nay lại bị đau nặng. Mấy anh chị em vừa phải bán vé số, vửa bán báo, vừa đi học, nay lại phải nghỉ học, vì không đủ tiền đóng học phí. 

 

Chúa không thưởng bạn của con sao ?

 

Trong lúc cầu nguyện, em đã nghe Chúa trả lời: 

 

“Con thật là một thiếu nhi ngoan, một người bạn tốt, biết quan tâm đến người khác, biết nghĩ đến người bạn kém may mắn hơn mình. 

 

Nhưng mà này con, con hãy nhớ rõ điều này, là chính vì Ta thương nó, mà Ta đã dựng nên con và cho nó kết bạn với con”.

 

*****

 

Trong Kinh Thánh, đã có lần Chúa Giêsu tuyên bố: 

 

“Người nghèo khó thì luôn luôn ở với các ngươi”

 

Bài Tin Mừng hôm nay (TN 26 C: Lc 16, 19-31) Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn về người phú hộ giàu có và Lagiarô nghèo khó, là một thực tế của cuộc sống trong xã hội trần gian, và đó cũng là phần nào hệ quả của Nước Trời mai sau. 

 

Hai hình ảnh trái ngược nhau, nhưng luôn đi kèm với nhau:

 

- Một bên là giàu có, sống trên nhung lụa, ngày ngày yến tiệc linh đình. Còn một bên là cùng khổ, ghẻ lác và nghèo đói. 

 

- Một bên là quằn quại trong lửa hỏa ngục. Còn một bên là hạnh phúc ngồi trong lòng Abraham trên Thiên Đàng. 

 

Nếu chỉ đọc bài Tin Mừng này, với bài đọc I trích sách tiên tri Amos, chúng ta sẽ dễ có dị ứng sai lạc với những người giàu có, và an phận trong sự khốn nạn của bần cùng, nghèo khò. 

 

Đừng nghĩ rằng, Nước trời chỉ dành cho những người nghèo, còn những người giàu thì phải trầm luân dưới hỏa ngục. 

 

Chúng ta hãy đọc kỹ lại bài đọc II, trích thơ thứ nhất của thánh Phaolô tông đồ gởi cho Timôthêô (6,11-16), thì chúng ta mới thấy rõ ý nghĩa đích thực của bài Tin Mừng hôm nay:

 

Giàu có chưa phải là hạnh phúc đích thực của con người, bởi: 

 

- Có biết bao nhiêu người giàu có đã chẳng được bình an đó sao ? Thậm chí có người phải vào tù, ra khám, có những gia đình phải tan nát đó sao ? 

 

- Và cũng đừng nghĩ rằng, người giàu có đương nhiên là bị loại ra khỏi Nước Trời. 

 

Thực tế lịch sử đã chứng minh cho chúng ta rằng: Thánh nữ Elizabeth, hoàng hậu nước Bồ Đào Nha; thánh Luois, vua nước Pháp… 

 

Họ là những vua chúa, hoàng hậu, sống trên nhung lụa và đầy quyền lực, vậy mà họ đã nên thánh. 

 

Chúng ta cũng không nên cực đoan một chiều, hiểu Nước Trời chỉ dành cho những người nghèo khổ, để rồi chúng ta trở nên lười biếng, để cứ mãi sống trong sự bần cùng, nghèo đói, khổ đau… 

 

Nhưng Nước Trời và hạnh phúc đích thực, như thánh Phaolô đã xác tín, chính là kiên vững trong đức tin và sốt sắng hết mình sống trong lòng mến. 

 

Vấn đề hệ tại ở việc: Lắng nghe Lời Chúa và tuân giữ giới răn của Ngài. 

 

Điều này đã được lặp đi lặp lại nhiều lần, bằng nhiều cách khác nhau, trong các thời đại, qua những ngôn sứ, đặc biệt qua Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, đã bỏ trời, xuống trần gian nói với chúng ta. 

 

Chúng ta không thể nào an phận trong khó nghèo, để chờ đợi được như Lazalô ngồi vào lòng Abraham, mà nhìn xuống cảnh cực kỳ nhốn nháo nơi Âm Phủ. 

 

Chúng ta lại càng không thể như anh em nhà phú hộ trong Tin Mừng, chỉ chờ đợi một phép lạ, thì mới chịu tin và thì mới chịu sống giới răn của Chúa. 

 

Nhưng phải biết đón nhận và tạ ơn những hồng ân Chúa ban, để ta trở nên sống thánh thiện và công chính hơn.

 

Thánh thiện chính là tin tưởng vào lòng yêu thương của Thiên Chúa, là biết quan tâm và quảng đại chia sẻ với người khác một cách vô vị lợi, không tính toán, không đòi hỏi, không lợi dụng.

 

Quả thật, không có cái giàu nào cho bằng cái giàu về tình thương. 

 

Và cũng không có cái nghèo nào cho bằng cái nghèo về tấm lòng. 

 

Tuy nhiên, ơn Chúa không phải lúc nào cũng dễ chịu, nhưng đòi hỏi chúng ta biết can đảm đón nhận và tạ ơn. 

 

Cũng như sự thánh thiện, không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng chúng ta phải cố gắng kiên trì tập luyện và thi hành. Vì đó chính là con đường đưa đến với Chúa và được hành phúc, không những cho đời sau, mà cho ngay cả đời này nữa. 

 

Còn có biết bao nhiêu người như Lazarô nghèo khó xung quanh chúng ta, đang chờ đợi chúng ta yêu thương, đón nhận và yêu thương chia sẻ. 

 

Và rồi còn có biết bao cái nghèo cõi lòng, mà chúng ta phải tích lũy để làm giàu, đó là lòng yêu thương, lòng quảng đại, sự nhẫn nại và hiền hòa.

 

Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con biết trở nên những người nghèo của Tin Mừng, biết khiêm tốn trước tình thương của Thiên Chúa và biết đón nhận ân sủng của Chúa, để mỗi người chúng con được trở nên giàu có về lòng nhân ái, để chúng con được quảng đại với hết mọi người, hầu xứng đáng là môn đệ Chúa, được Chúa yêu thương. Amen.

 

-------------------------------------

 

Bài 7: Xin ban cho con đức Khiêm nhường

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 226

Thường Niên 27 C

 

Bạn thân mến, 

 

Có một vị ẩn tu nổi tiếng bên Ai Cập trong những thế kỷ đầu của Kitô giáo, ngài là một con người luôn lấy sự khiêm nhượng làm nền tảng cho tòa nhà tu đức. 

 

Một hôm, ngài và một số đệ tử cùng đi dạo trong sa mạc, thình lình có một con rắn lớn xuất hiện như muốn cản đường họ. Với phản ứng tự nhiên, tất cả mọi người kể cả vị thánh đều bỏ chạy.

 

Vài năm sau, vị ẩn tu đang hấp hối trên giường bệnh, các đệ tử hỏi ngài như sau:

 

- Thưa cha, hẳn cha còn nhớ ngày nọ khi chúng ta gặp một con rắn rất lớn, tất cả mọi người đều sợ hãi và bỏ chạy. Chúng con không hiểu tại sao cha cũng bỏ chạy. Phải chăng cha cũng run sợ như chúng con.

 

Con người thánh thiện ấy trả lời như sau:

 

- Không ! Cha không hề sợ hãi trước con vật ấy. 

 

- Thế tại sao cha cũng bỏ chạy như chúng con.

 

Vị ẩn tu đang hấp hối giải thích như sau:

 

- Lúc ấy cha nghĩ rằng, thà bỏ chạy, còn hơn là dung dưỡng cho tính kiêu ngạo sẽ chồi lên trong cha sau này.

 

*****

 

Kitô giáo đề cao sự khiêm nhượng như một trong những nhân đức nền tảng mà người tín hữu Kitô phải luôn trang bị cho mình. 

 

Trong bài Tin Mừng hôm nay (TN 27 C: Lc 17, 5-10), Chúa Giêsu muốn các môn đệ đề cao cảnh giác trước tính kiêu ngạo của những người biệt phái và luật sĩ. 

 

Họ quan niệm: Thiên Chúa như một chủ chăn hà khắc, chi li, thưởng phạt tùy theo công đức của mỗi người. Chính vì thế mà họ coi những việc lành phúc đức như ăn chay, cầu nguyện, hãm mình, bố thí… là những việc lành mà Thiên Chúa ân thưởng bội hậu cho họ.

 

Sự giàu có và địa vị cao trọng của họ trong xã hội được họ xem như là một thứ ân thưởng rất công bình và hợp lý, mà Thiên Chúa dành cho họ. 

 

Đánh giá như thế về công nghiệp của mình, nên những người biệt phái và giàu có sẽ nhìn những người nghèo khổ bần cùng trong xã hội như những người tội lỗi, bị bàn tay công thẳng của Thiên Chúa đang đè nặng trên họ.

 

Đối lại với những tính toán khôn lường và khôn ngoan ấy của những người biệt phái và giàu có, Chúa Giêsu đề ra lòng tin tưởng vô điều kiện, mà con người phải có đối với Thiên Chúa. 

 

Qua hình ảnh của người đầy tớ sau khi đã vất vả nhọc nhằn suốt ngày ở đồng áng, để rồi khi về nhà, còn phải hầu hạ phục vụ ông chủ, Chúa Giêsu có ý nói rằng: Tương quan giữa con người và Thiên Chúa là một tương quan chủ tớ.

 

Thiên Chúa, mà Chúa Giêsu muốn bày tỏ cho chúng ta là một người Cha yêu thương, nhân từ. 

 

Một Thiên Chúa là Cha yêu thương, chỉ muốn con người luôn đặt tin tưởng phó thác nơi Ngài mà thôi. Sau khi đã làm hết phận sự của mình, người đầy tớ chỉ có thể thốt lên: 

 

Tôi chỉ là một đầy tớ vô dụng”.

 

Hình ảnh của người đầy tớ tự cho mình là người vô dụng, mà Chúa Giêsu sử dụng trong mạch văn này có ý nói rằng, con người không có bất cứ quyền nại đến công nghiệp nào của mình, để buộc Thiên Chúa ban ơn cho mình. 

 

Thiên Chúa ban ơn cho con người một cách nhưng không, và để đáp lại ân huệ của Ngài, con người chỉ có thể nói lên lòng tri ân và phó thác mà thôi. Tất cả cuộc sống của mình, tất cả những gì mình làm được, con người chỉ có thể và dâng lên Thiên Chúa như một đáp đền và phó thác.

 

*****

 

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta điều chỉnh lại quan niệm về Thiên Chúa mà chúng ta đang có, cũng như cách diễn tả niềm tin của chúng ta. 

 

- Phải chăng chúng ta đã không tính toán so đo với Chúa trên cách sống đạo của chúng ta. 

 

- Phải chăng chúng ta đã không giơ tay cầu nguyện, xin lễ, ăn chay, hãm mình, còn làm bao nhiêu những việc lành phúc đức khác, để cốt Thiên Chúa trả công và chúc lành cho những công việc làm ăn và cuộc sống của chúng ta. 

 

- Phải chăng có những lúc chúng ta tự phụ rằng, những thành công và may mắn chúng ta đang có là một ân thưởng, mà Thiên Chúa đã ban tặng, vì công nghiệp và hy sinh của chúng ta.

 

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đi vào mối tương quan yêu thương với Thiên Chúa:

 

- Tình yêu đích thực không bao giờ so đo, tính toán hơn thiệt. 

 

- Tình yêu đích thực luôn mời gọi niềm tin tưởng và phó thác. 

 

Qua đó, con người mới thể hiện được chính lòng khiêm nhượng đích thực của Kitô giáo. 

 

Cùng với thánh Phaolô, chúng ta hãy luôn tâm niệm:

 

“Nếu phải vênh vang, thì tôi chỉ vênh vang về những yếu hèn của tôi mà thôi, nhưng nhờ đó, mà quyền năng của Thiên Chúa được tỏ hiện” (2Cr 12,5).

 

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một Đức tin can trường, một đức mến nồng nàn, và một đức cậy vững vàng, hầu chúng con luôn chân nhận phận mình là những đầy tớ vô ích, và luôn tin tưởng, cậy trông tuyệt đối vào lòng thương yêu bao la hải hà của Chúa luôn dành cho từng người chúng con. Amen.

 

---------------------------

 

Bài 8: Chuyện người thanh niên vô ơn

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 227

Thường Niên 28 C: 

 

Bạn thân mến, 

 

Cách đây nhiều năm, trong một tờ nhật báo có đăng một bài nói về người ngư phủ và anh thanh niên say rượu.

 

Trời đã khuya, tất cả mọi sự vật đều chìm đắm trong cảnh yên lặng tĩnh mịch. Người thanh niên ngồi trên chiếc du thuyền. Anh đã xỉn rượu và lảm nhảm rống lên những tiếng ồn ào làm mất đi cái cảnh yên tịnh trong đêm tối.

 

Gần đấy, người ngư phủ vẫn phớt lờ anh và chỉ để tâm vào nghề nghiệp của ông. 

 

Bất chợt, người ngư phủ nghe một tiếng động lớn ở dưới nước. Ông quay lại, dưới ánh trăng, ông nhìn thấy người thanh niên xỉn rượu đã rớt xuống nước.

 

Người ngư phủ vội vàng bơi tới, với tất cả sức lực ra cứu anh ta. 

 

Khi đã vớt anh say xỉnh lên thuyền, người ngư phủ đã dùng hô hấp nhân tạo để cứu sống anh.

 

Khi trời bắt đầu sáng, người ngư phủ đã chèo chiếc thuyền của mình đến thăm người thanh niên xỉn rượu tối qua. Không ngờ, thay vì tỏ lòng biết ơn và cám ơn, anh lại chửi rủa và đuổi ông đi nữa.

 

Người ngư phủ liền xuống chiếc thuyền của ông và chèo đi. 

 

Ông nhìn lên trời và than thở: 

 

“Lạy Chúa, bây giờ con mới cảm thông được nỗi lòng của Chúa. Chúa đã hiến trót mạng sống để cứu con. Nhưng, giống như người thanh niên, thay vì tỏ lòng cám ơn Chúa, con đã đối xử tệ với Chúa và ra lệnh cho Chúa hãy tránh xa con.”

 

Câu chuyện trên giúp chúng ta hiểu điều Chúa nói trong bài Phúc Âm hôm nay: Mười người phong hủi được chữa lành mà chỉ có một người ngoại trở lại tạ ơn Thiên Chúa.

 

Đây là đoạn, mà hầu như mọi người chúng ta có thể biết ngay. Như Chúa Giêsu đã làm cho mười người phong hủi thế nào, thì Ngài đã làm biết bao nhiều điều tốt lành cho mọi người trên thế giới này.

 

Cũng thế, nhiều người chúng ta đã đối xử với Chúa Giêsu như mười người phong hủi. Chỉ có một người quay trở lại để tạ ơn Thiên Chúa. Có khi không phải vì chúng ta bội bạc, hay dữ tợn, nhưng chỉ là vì chúng ta đã quá bận rộn với cuộc sống hằng ngày, mà quên đi Chúa Giêsu và những gì Ngài đã làm cho ta.

 

Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy kiểm điểm xem chúng ta có nhận ra, không phải chỉ trong một ngày nhưng là mọi ngày, lòng biết ơn đối với Chúa và biết bao hồng ân Chúa ban cho chúng ta? Chúng ta kiểm điểm xem chúng ta có tỏ ra biết ơn những người đang sống chung quanh?

 

“Lạy Chúa, Chúa đã ban cho chúng con biết bao nhiên ơn phúc, xin hãy thương ban cho chúng con thêm một điều nữa, đó là trái tim luôn tạ ơn” (George Herbert)

 

Lạy Chúa, suốt cuộc đời chúng con là ngụp lặn trong đại dương ân huệ của Chúa, và suốt đời chúng con được tắm mát trong dòng suối ân tình của anh em.

 

Xin cho chúng con luôn biết sống có tình nghĩa, luôn thể hiện lòng biết ơn, luôn quí trọng những hồng ân mà Chúa đã thương ban, và những gì mà anh em đã làm cho đời chúng con thêm tươi đẹp và hạnh phúc hơn mỗi ngày. Amen..

 

-------------------------

 

Bài 9: Chứng từ của một giáo dân truyền giáo

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 228

Chúa Nhật Truyền Giáo

 

Bạn thân mến, 

 

Cha Alexis thuộc Dòng Don Bosco có thuật lại một chứng từ sống động sau đây:

 

Vào năm 1934, cha Alexis được Bề Trên sai đến truyền giáo ở vùng Đông Bắc xứ Lybia.

 

Tại đây, cha được sự cộng tác nhiệt thành của một bạn trẻ giáo dân tên là Joan Cardina, cùng nhau phụ trách cả một vùng rộng lớn, nơi người dân chưa hề được nghe nói về Chúa.

 

Ít lâu sau, cha Alexis lại được chuyển sang Châu Á để thành lập một cộng đoàn Nhà Dòng tại nước Myanmar.

 

18 năm sau, tức năm 1952, cha có dịp quay trở lại thăm xứ Lybia, với tư cách một Bề Trên Giám Tỉnh. 

 

Khi đến vùng, mà trước kia cha đã ủy thác lại cho anh Cardina, cha hết sức ngạc nhiên thấy hầu hết dân ở đây đều đã theo đạo Công giáo và sống đạo rất tốt. Còn người Giáo Lý Viên nhiệt thành năm xưa thì không thấy đâu...

 

Cha Alexis cố công tìm hỏi những người già cả và đã được nghe họ kể lại đầu đuôi mọi sự:

 

Khi anh Cardina được cử đến đây, dân làng còn theo đạo thờ các vật linh, nên họ tỏ rõ thái độ thù nghịch đối với anh. Nhiều lần các thầy phù thủy đã kiếm cớ chửi rủa và đe dọa sẽ giết anh. Thế nhưng Cardina vẫn nhẹ nhàng tỏ bày với họ thiện chí của mình: 

 

“Tôi không thể bỏ nơi này, vì cha Alexis đã sai tôi đến, để giúp các bạn biết và yêu mến Thiên Chúa duy nhất và chân thật là Cha của tất cả chúng ta. Thiên Chúa sẽ giải thoát các bạn khỏi mọi sự sợ hãi đối với các thần linh...”

 

Bị trục xuất, Cardina liền cất một cái chòi ở rìa làng để ở. 

 

Những người có thiện cảm nhất đối với anh cũng không ai dám ghé thăm và giúp đỡ thực phẩm. Thế nhưng anh vẫn can đảm tự mình làm lụng vất vả, kiên trì cầu nguyện, đồng thời sẵn sàng chia sẻ phần thu hoạch ít ỏi với những người dân làng nghèo đói, cứu giúp họ thoát khỏi những cơn bệnh nguy tử bằng vốn liếng ít ỏi của anh về các loại lá thuốc.

 

Có lần, ông già làng được cử đến thăm dò Cardina đã hỏi: “Tại sao anh không chịu đi nơi khác. Anh coi đấy, chẳng ai ưa anh, cũng chẳng ai nghe anh dạy thứ tôn giáo của anh !” 

 

Cardina ôn tồn và hiền hòa trả lời: “Thiên Chúa đã sai tôi đến đây, Ngài đã hy sinh mạng sống để cứu chuộc mọi người chúng ta. Vì thế, tôi cũng sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình để các ông được ơn nhận biết Ngài. Tôi sẽ không rời bỏ nơi này, bao lâu chưa có ai trở thành Ki-tô hữu...”

 

Thế rồi dân làng cũng đành chịu cho anh ở lại, dần dần thành quen, vì cũng không thấy anh làm điều gì tai hại cho họ, ngược lại là khác. Mấy năm sau, Cardina nhiễm phải căn bệnh sốt tê liệt, anh đã có thể ra đi để được chữa trị, nhưng anh đã trụ lại đến cùng. 

 

Sau khi anh qua đời, dân làng cảm phục trước Lòng Tin kiên trì của anh, đã tự ý tìm đến một Giáo Điểm khác xin học đạo. 

 

Những Giáo Lý Viên khác đã được cử đến, và không lâu sau đó, hầu hết cả làng đã theo Công giáo.

 

Giờ đây, cha Alexis được dẫn tới trước phần mộ của người Giáo Lý Viên quả cảm trong âm thầm này bên rìa ngôi làng, ngay nơi Cardina đã sống và đã chết như một nhà truyền giáo anh hùng. Ngài chỉ còn biết cầu nguyện cảm tạ Thiên Chúa, trong khi những người tân tòng vây quanh cùng hát lên bài Thánh Ca mới được tập cách nay không lâu: “Hạt lúa gieo vào lòng đất mà không mục nát đi, thì sẽ chẳng sinh được nhiều bông hạt...” ( Ga 12, 24 )

 

Theo nội san THÁNH THỂ số 7

 

---------------------------------

 

Bài 10: Kiên trì trong cầu nguyện

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 229

Thường Niên 29-C

 

Bạn thân mến, 

 

Nếu có giờ rảnh rỗi để quan sát một đàn kiến, chúng ta thấy những con kiến nhỏ bé, chúng luôn kết thành đàn, chúng thông tin với nhau rất nhanh. Trong công việc, chúng đoàn kết với nhau rất tốt:

 

Thử nhìn xem, chúng đang lôi kéo một vật nặng, nếu đem so sánh với trọng lượng cơ thể của chúng, có khi nặng hơn cả ngàn lần, thế mà chúng cũng mang về nơi an toàn. 

 

Không phải một cách dể dàng gì đâu, rất vất vả, chúng lôi kéo, kêu gọi nhau hợp sức. 

 

Có khi công của chúng dường như dã tràn, vì bất ngờ, vật mà chúng lôi kéo lại trở về ngay vị trí cũ. 

 

Nhưng những chú kiến nhỏ bé đó, vẫn kiên tâm bền chí, vẫn cố hết sức, tận dụng hết khả năng mình có. Cuối cùng những gì đã bắt đầu thì cũng có được kết quả tốt đẹp như nó mong muốn. Đó là nhờ sự kiên trì, bền chí, không nản lòng, cho dù có những khó khăn vất vả, nhưng vẫn thành công.

 

*****

 

Chúa Giêsu dạy các Tông Đồ và những người thời bấy giờ bài học kiên trì trong cầu nguyện, qua thí dụ cụ thể:

 

- Một vị quan tòa không kiên nể ai, không bị khống chế bởi áp lực nào. Thế mà cuối cùng, ông bị khuất phục bởi một áp lực, xem ra chẵng đáng là gì. 

 

Nhưng đây lại là một áp lực rất lớn đối với ông, áp lực còn hơn cả sự khiếp sợ, đến nỗi ông không thể chịu được: Đó là áp lực của sự kiên trì. 

 

Một con người không đáng là gì, chỉ là con số không trong xã hội Do Thái thời bấy giờ, thế mà đã tạo được một áp lực lớn và đạt được điều mình mong muốn. Nhờ sự kiên trì, không nản lòng.

 

Thiên Chúa là Người Cha nhân hậu, hằng yêu thương con cái Mình, chờ đợi để đáp ứng như cầu của họ. 

 

Nhưng những người con của Ngài có biết chạy đến với Ngài, có biết cầu xin và có đủ kiên nhẩn để nhận những ơn lành Ngài ban cho không?

 

Mỗi người trong chúng ta đã từng cầu xin và cầu xin rất nhiều. Chúng ta cũng đã được rất nhiều ơn lành Thiên Chúa ban cho. Cả những gì không cầu xin, chúng ta cũng đã được. 

 

Nhưng, cũng còn rất nhiều điều, chúng ta vẫn cầu xin, cầu xin hoài mà cũng không thấy gì, nên có nhiều lúc phải tức giận, khó chịu, có khi còn có những lời nói hay cử chỉ không được hay cho lắm. Đó là những lúc chúng ta cầu xin mà dường như ra lệnh cho Chúa chúng ta. 

 

Những lần làm tuần tam nhật, cửu nhật. Đó có phải là chúng đang ra một kỳ hạn, một tối hậu thư cho Thiên Chúa của mình đó sao? 

 

Nếu những gì mình cầu xin mà dường như đòi hỏi đó, không được như ý, chúng ta buồn phiền tức giận, chán nản, thất vọng. Có khi còn tệ hại hơn, những lời chua cay khó chịu cứ tuôn tràn ra mà không biết dừng lại.

 

Mỗi người chúng ta, để ra một ít phút suy tư, nhìn lại đời sống đã qua, cách mà chúng ta đã hành động với Thiên Chúa của mình. Lời cầu xin với tâm tình con thảo, với tất cả lòng yêu thương chân thành, trong tâm tình phó thác trọn vẹn vào Cha nhân từ; chúng có tâm tình như thế được bao nhiêu lần? 

 

Hiện tại giờ đây, tâm tình đó còn kéo dài, còn đọng lại nơi con người của chúng ta được bao nhiêu? 

 

Hay giờ đây, chúng ta chỉ còn biết cầu xin qua những lời đèo bòng, đòi hỏi cho lợi ích riêng tư. Chúng ta chỉ còn nhìn thấy những lợi ích trước mắt cho riêng mình. Còn Thánh Ý Chúa, còn bao nhiêu người chung quanh, chúng ta không cần biết đến. 

 

Chính vì thế, chúng ta không có được sự kiên trì chính đáng, không có được sự bền chí vững chắc cho đủ. 

 

Vì chúng ta chưa biết cầu xin, chưa ý thức được điều mình van xin như thế nào, nên chưa có sự kiên trì như Chúa mong muốn. 

 

Chính vì thế những gì chúng ta dường như cầu xin mà vẫn chưa thấy được, vì không đủ kiên nhẫn để vượt qua những khó khăn trở ngại như đàn kiến nhỏ bé kia.

 

Lạy Chúa, xin Chúa dạy cho mỗi người biết cầu xin. Và chúng con cũng cầu xin Chúa ban ơn cho mỗi người chúng con được luôn bền chí, trong những gì chúng con đã chọn, đã van xin. Amen.

 

----------------------------------------

 

Bài 11: Xin cho con biết khiêm tốn nhận ra những thiếu sót, lỗi lầm của mình

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 230

Thường niên 30 C: 

 

Bạn thân mến, 

 

Ngày kia, Khổng Tử dẫn học trò từ nước Lỗ sang nước Tề. Trong đám học trò có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai môn sinh được Khổng Tử sủng ái nhất. 

 

Thời Đông Chu, loạn lạc khắp nơi, khiến dân chúng lâm cảnh lầm than, đói khổ. Thầy trò Khổng Tử cũng có nhiều ngày nhịn đói cầm hơi.

 

Ngày đầu tiên khi đến đất Tề, Khổng Tử và các môn sinh được một người giàu có biếu cho một ít gạo. 

 

Khổng Tử liền phân công: Tử Lộ và một số môn sinh khác vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi đảm nhận việc nấu cơm.

 

Đang khi nằm đọc sách ở nhà trên, Khổng tử bỗng nghe tiếng động ở nhà bếp, nhìn xuống, người bắt gặp Nhan Hồi đang mở vung xới cơm, cho vào tay nắm lại từng nắm, nhỏ rồi từ từ đưa vào miệng. 

 

Thấy cảnh học trò đang ăn vụng, Khổng Tử nhìn lên trời than thở: 

 

“Người học trò tin cẩn nhất của ta lại là kẻ ăn vụng ?” 

 

Khi Tử Lộ và các môn sinh khác trở về, thì nồi cơm cũng vừa chín. Khổng Tử cho tập họp tất cả lại và nói:

 

- Bữa cơm đầu tiên này trên đất Tề, làm cho thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương. Thầy nhớ đến cha mẹ, cho nên muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ, các con nghĩ có nên không ? Nhưng liệu nồi cơm này có sạch chăng ?

 

Nhan Hồi liền chắp tay thưa:

 

- Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch, bởi khi cơm vừa chín, con đã mở vung ra xem thử, chẳng may có một cơn gió tràn vào, bò hóng bụi trần rơi xuống, làm bẩn cả nồi cơm, con đã nhanh tay đậy nồi cơm lại nhưng không kịp. Sau đó, con định xới lớp cơm bẩn vất đi, nhưng nghĩ rằng cơm ít mà anh em lại đông, nên con đã ăn phần cơm ấy. Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi.

 

Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử lại ngẩng mặt lên trời mà than rằng:

 

- Chao ôi ! Thế ra, trên đời này, có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành, mà vẫn không hiểu được đúng sự thật. Suýt nữa Khổng Tử này đã trở thành kẻ hồ đồ !

 

*****

 

Cho dù là bậc hiền triết như đức Khổng Tử, thế mà suýt nữa đã trở thành kẻ hồ đồ, suýt nữa đã phê phán người học trò rất mực chân thật và khiêm tốn, sẵn sàng chịu thiệt về phần mình, để được lợi cho anh em. 

 

Đó cũng là cám dỗ rất thường gặp nơi những người được xem là đạo đức thánh thiện, những người đã đắc thủ được một số nhân đức nào đó, đã làm được nhiều việc lớn lao, đã leo lên được chức vụ cao trong xã hội, đã đạt được một số thành tích trong đạo ngoài đời. Họ dễ tự mãn và khinh rẻ người khác lắm, nếu chẳng công khai thì cũng ngấm ngầm, lúc thì giấu được, khi thì lộ ra. 

 

Chuyện ấy thường tình lắm, nên Chúa Giêsu mới nhắc nhở chúng ta qua dụ ngôn: “Người Pharisêu công chính và người thu thuế tội lỗi”.

 

Người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện, nhưng thực ra là để khoe khoang thành tích. Ông thưa chuyện với Chúa, nhưng thực ra ông đang độc thoại một mình. Ông “tạ ơn Chúa” nhưng thực ra là ông muốn Chúa hãy biết ơn ông.

 

Quả thật, bảng liệt kê công trạng của ông không có gì sai. Những điều luật cấm ông không dám làm, những điều luật buộc thì ông còn làm hơn mức qui định. Ông thật là con người đúng mực, một con người hoàn hảo, không có gì để chê trách, một tín đồ trung thành với lề luật, một mẫu gương tuyệt vời. 

 

Chỉ tiếc có một điều, là ông quá tự mãn, tự kiêu, nên bao việc lành phúc đức của ông theo “cái tôi” bọt bèo của mình, mà trôi ra sông, ra biển hết. 

 

Cái tôi của ông quá to, đến nỗi ông chỉ nhìn thấy mình, mà không thấy Chúa; công trạng của ông quá nhiều, đến nỗi ông chỉ nhìn thấy nó là đức độ của ông, chứ không phải là do ơn Chúa; cái tự mãn của ông quá lớn, cho nên ông thẳng thừng khinh miệt anh em.

 

*****

 

Sai lầm trầm trọng của ông Pharisêu bắt đầu từ câu này: ‘Vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia”. 

 

Giá như ông đừng so sánh cuộc sống của ông với người khác, mà biết đem cuộc sống của mình đối chiếu với cuộc sống thánh thiện của Đức Kitô, thì ông sẽ nhận ra mình còn thiếu sót biết là bao nhiêu, mình còn bất toàn biết là dường nào.

 

Chính khi đó, ông mới cần đến lòng nhân từ xót thương của Chúa, cần đến sự tha thứ và khoan dung của Người. 

 

Chính lúc đó, ông mới biết cầu nguyện bằng những lời lẽ chân thành và khiêm tốn của người thu thuế: 

 

Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.

 

Sai lầm căn bản của người Pharisêu còn ở chỗ, ông đã không nhận ra sự công chính là một ân huệ Chúa ban, chứ không phải tự ông mà có, tự ông tuân giữ hoàn hảo các lề luật được. 

 

Chính khi tự mãn thiếu khiêm tốn, và nhận sự công chính ấy là của riêng mình, thì ngay lúc đó ông đã mất ơn nghĩa với Chúa và không còn công chính nữa.

 

Người thu thuế nhận mình lầm lỗi, ông biết rõ tội mình vô phương cứu chữa, chẳng dám ngước mắt nhìn lên, chỉ biết đấm ngực ăn năn và kêu xin lòng thương xót Chúa. Ông bất lực hoàn toàn, chỉ phó thác cho lòng Chúa khoan dung. Ngay lúc đó, ông đã trở nên công chính bên trong. Chính tâm tình ấy mà Chúa đã nhìn xuống và làm cho ông nên công chính.

 

Như thế, những kẻ cho mình là thánh thiện, là đầy đủ, thì sẽ trở về con số không; còn những kẻ nhận mình là không, thì sẽ đủ chỗ cho Đấng Vô Cùng. 

 

Vì phàm

 

Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.

 

“Lạy Chúa, chúng con có là gì mà chẳng do lòng Chúa thương ban. Xin cho chúng con biết khiêm tốn nhận mình thiếu sót, lỗi lầm, để được Chúa xót thương, tha thứ. Xin cho cuộc sống chúng con luôn biết rập theo khuôn mẫu thánh thiện của Đức Ki tô là Đấng Công Chính tuyệt đối. Amen.” ( Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu", năm C)

 

------------------------------------

 

Bài 12: Những chuyện: Sức mạnh của tình thương

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 231

Thường Niên 31 C

 

Bạn thân mến, 

 

1. “ Những kẻ khốn cùng” (Les Misérables) là tựa đề của một tác phẩm nổi tiếng, của đại văn hào Pháp Victor Hugo. 

 

Nội dung tác phẩm tường thuật câu chuyện về cuộc đời của một nhân vật tên là Văn Giang (Han Valjean), một tên cướp sát nhân, đã từng ở tù 19 năm. Khi vừa được thả ra, anh đã nếm mùi bị mọi người khinh dể xa lánh: 

 

- Bước vào tiệm ăn, anh liền bị chủ tiệm xua đuổi; 

- Vào trong nhà trọ thì người gác cửa đã đóng sập cửa ngay trước mặt; 

- Đi qua ổ chó, thấy bộ dạng bề ngoài nhếch nhác, râu ria sồm soàm của anh, chúng liền thi nhau sủa lên inh ỏi… 

 

Chỉ khi bước vào nhà Đức Giám Mục My-ri-ê, anh mới được tiếp đãi nồng hậu như một con người: 

 

Anh được ăn một bữa thật ngon, được nằm trên một chiếc giường êm ấm. 

 

Nhưng rồi đêm hôm ấy, khi nhìn thấy các chân đèn bằng bạc quí giá, anh không cưỡng nổi máu tham, nên đã nhẹ nhàng lấy các chân đèn đó cho vào bao và vác lên vai. lén chuồn đi mất. 

 

Nhìn thấy bộ dạng khả nghi của anh, cảnh sát liền chận lại khám xét và bắt được mấy chân đèn bạc giấu kỹ trong bao và được biết là của nhà thờ, anh liền được giải đến trước mặt vị Giám Mục để làm rõ. 

 

Nhưng vị Giám Mục không những không la mắng, không kết tội, mà còn bao che tội của anh, bằng cách nhận trước cảnh sát là đã tặng anh mấy cái chân đèn bạc kia. 

 

Hơn nữa, ngài còn tặng thêm hai chân đèn nữa cho đủ bộ và nói nhỏ với anh: 

 

“Ta không kết tội con đâu. Nhưng phải mau ăn năn sám hối, để làm lại cuộc đời”. 

 

Sau khi được thả, anh luôn suy nghĩ về những lời nhắn nhủ của vị giám mục và xúc động trước tình thương khoan dung của ngài. Anh quyết tâm hối lỗi và trở thành một người lương thiện. 

 

Nhiều năm sau đó, Văn Giang đã được mọi người quí mến và còn được bầu làm thị trưởng của thành phố. 

 

Ông đã biến đổi, từ một tên tội phạm, thành một con người lương thiện, và còn được mọi người kính nể, là nhờ đã cảm nghiệm được tình thương của vị giám mục đầy lòng khoan dung nhân ái.

 

2. Lại một câu chuyện khác:

 

Một hôm, khi cha Bosco lúc mới được thụ phong linh mục, sắp đến giờ dâng lễ, mà ngài không thấy có một em giúp lễ nào. 

 

Bất chợt ngài thấy một thiếu niên bụi đời, đang ngấp nghé ở cửa phòng thánh. 

 

Ông từ nhà nguyện trông thấy bộ dạng của cậu ta, liền chạy tới đuổi đi chỗ khác, vì sợ cậu ăn cắp đồ. 

 

Cha Bosco liền yêu cầu ông từ chạy ra gọi cậu bé quay lại. 

 

Khi gặp cậu, cha thân mật hỏi chuyện, nhưng cậu ta trả lời cách cộc lốc, vì thất học. 

 

Tuy vậy cha vẫn không buồn và vẫn tiếp tục nói chuyện. 

 

Khi cha hỏi cậu bé có khả năng gì, cậu liền trả lời có tài huýt sáo. 

 

Cha khuyên cậu ta hãy phát huy tài năng đó. 

 

Kể từ ngày ấy, cậu thiếu niên thô lỗ cộc cằn kia đã cảm nhận được tình thương nơi cha Bosco và bằng lòng theo học giáo lý với cha. 

 

Cuối cùng, cậu đã dần dần biến đổi trở nên một người tốt, tích cực cộng tác với cha trong việc giáo dục thanh thiếu niên bụi đời khác.

 

3. Xin được kể thêm chuyện ông Tê-lê-ma-cút (Telemachus):

 

Tê-lê-ma-cút là một ẩn sĩ. Một hôm ông được Chúa thôi thúc rời bỏ khu rừng đang ở để tu luyện, mà đến Rô-ma thủ đô công giáo. 

 

Bấy giờ tại Rô-ma vẫn còn tồn tại một tục lệ rất dã man, đó là thường xuyên tổ chức những cuộc giác đấu rất dã man. Tuy dã man, nhưng lại rất được nhiều người Rô-ma ưa thích. Họ kéo nhau đến xem rất đông. 

 

Đây là những cuộc quyết đấu tay đôi, giữa hai người nô lệ, mà cuộc chiến đấu chỉ ngừng, khi một trong hai bị đâm chết. 

 

Mỗi ngày, nhiều người bị chết thê thảm, trước sự cổ võ của đám đông cuồng loạn, mất hết tính người. 

 

Tê-lê-ma-cút nghĩ rằng: “Cần phải chấm dứt tục lệ dã man này, càng sớm càng tốt. Vì bao lâu dân chúng còn ham xem những cuộc tàn sát đẫm máu thế này, thì không thể xứng đáng trở thành con cái của Thiên Chúa được”. 

 

Nghĩ thế rồi, Tê-lê-ma-cút liền leo xuống đấu trường và chạy đến đứng giữa hai lực sĩ giác đấu, giơ tay yêu cầu hai người thôi đâm chém nhau, nhưng họ đẩy ông sang một bên và lại tiếp tục cuộc chiến. 

 

Khán giả thấy vậy, nghĩ ông muốn phá cuộc vui của họ, liền la ó phản đối và yêu cầu chính quyền can thiệp. 

 

Viên quan cai quản đấu trường chịu sức ép của quần chúng và muốn mau chóng vãn hồi trật tự, liền rút gươm hạ sát ông. 

 

Khi Tê-lê-ma-cút ngã xuống đất và máu tuôn trào lai láng trên mặt đất, thì cả đấu trường đột nhiên trở nên im lặng. Hai đấu sĩ cũng không còn hăng hái chiến đấu nữa. Mọi người đều tỏ vẻ bức xúc, hối hận và không còn thích xem giác đấu nữa. 

 

Từ ngày đó, do đề nghị của nghị viện Rôma, hoàng đế ra lệnh bãi bỏ thói tục giác đấu trong toàn thể đế quốc. 

 

Chính cái chết anh dũng và đầy tình người của Tê-lê-ma-cút đã giúp dân thành Rôma hồi tâm hoán cải, và bỏ được tục giác đấu đã giết hại biết bao mạng người cách dã man.

 

* SUY NIỆM:

 

- “Này ông Da-kêu xuống mau đi”: 

 

Bài Tin Mừng hôm nay (TN 31-C: Lc 19, 1-10) đề cập đến một nhân vật là Da-kêu. 

 

Là một người thu thuế giàu có, ông đã nghe biết về Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai, có tình thương đặc biệt đối với những người thu thuế tội lỗi và bị khinh dể như ông. 

 

Ông ước mong có ngày được gặp Đấng ấy. 

 

Dịp may đã đến, một hôm thấy đám đông đi qua trước nhà, ông hỏi thăm thì biết có Đức Giêsu dẫn đầu, ông liền đi theo và hòa mình vào đám đông. Nhưng sau nhiều cố gắng mà vẫn không sao thấy mặt Người, vì dân chúng quá đông, mà ông lại lùn thấp. 

 

Da-kêu quyết định chạy trước một quãng đường và leo lên một cây sung, chờ đợi Đức Giêsu đi qua thì chắc là sẽ trông thấy mặt Người. Ông nép mình để không ai có thể thấy ông. 

 

Bất ngờ, khi đi tới cây sung, nơi Da-kêu núp, thì Đức Giêsu dừng lại, nhìn lên cây và gọi đích danh ông. 

 

Thật là bất ngờ hơn nữa: Đức Giêsu biết rõ ông và đã nhìn thấy ông trước khi ông thấy mặt Người ! Và Ngài lên tiếng: “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”: 

 

Da-kêu không ngờ được Đức Giêsu biết rõ ông và còn tỏ ý muốn đến ở trọ nhà ông, khi ông đang là một người thu thuế tội lỗi ! 

 

Ông vui mừng thấy danh dự của mình được Đức Giêsu phục hồi trước mặt đám đông, mà trước đây học vẫn luôn khinh dể ông. 

 

Còn Đức Giêsu thì đã bỏ ngoài tai những tiếng xì xầm phản đối của những kẻ hiện diện, công khai bày tỏ ý định đến ở trọ tại nhà của Da-kêu.

 

- “Thưa ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”.

 

Anh mắt bao dung, lời nói âu yếm và thái độ yêu thương của Đức Giêsu đã đánh động tâm hồn vốn chai lì của Da-kêu, đã thổi ngọn lửa sự thiện còn đang leo lét để cho nó bùng cháy lên. 

 

Quả thật, hoán cải là kết quả của một cảm nhận về Tình Yêu

 

Da-kêu bổng chốc cảm thấy tâm hồn được tự do thanh thoát. Ông cảm thấy không còn dính bén với của cải vật chất đời này như trước, nên đã tự nguyện hiến nửa phần gia sản để chia cho người nghèo, và sẵn lòng đền trả gấp bốn lần về những gì ông đã lỗi phép công bằng trước đó.

 

“Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Apraham”: 

 

Dù Da-kêu có trở nên nghèo hơn trước, nhưng ông vẫn cảm thấy hạnh phúc nhiều hơn, vì ông đã được Đức Giêsu đến thăm và ban ơn cứu độ cho cả gia đình ông. Người còn công nhận ông là con cháu của tổ phụ Apraham.

 

*****

 

Xã hội hôm nay vẫn còn có nhiều Da-kêu. Đó là những người bị coi thường hay bị loại trừ: 

 

Những thanh niên có tiền án tiền sự, những trẻ em bụi đời lang thang không nhà không cửa, những cô gái đứng đường vào lúc đêm tối, những người nghiện ngập sì-ke ma túy, những người luôn tìm hưởng lạc thú trong những quán ba, dùng chén rượu để quên sầu trong cuộc sống… 

 

Họ cần những người có trái tim bao dung nhân ái như Đức Giêsu, để giúp họ hoán cải thành con người mới như ông Da-kêu trong bài Tin Mừng hôm nay.

 

* THẢO LUẬN: 

 

Vậy mỗi người chúng ta có thể làm gì trong khả năng của mình để giúp đỡ những người thuộc thành phần bị xã hội khinh dể, giúp họ được thêm phấn khởi để hoán cải nên con người lương thiện, quyết tâm bỏ những hành vi tội lỗi để làm lại cuộc đời ?

 

LẠY CHÚA GIÊSU, ngày nay, mỗi khi đến với chúng con, Chúa thường đến trong hình hài của một người nghèo khó đi xin ăn, một bệnh nhân liệt giường không tiền thuốc thang, một người đau khỗ đang cần một lời động viên an ủi. Chúa cần chút nước của người phụ nữ Samari, cần năm chiếc bánh va hai con cá, cần căn nhà của Da-kêu để có chỗ nghĩ qua đêm. Chúa khiêm tốn mở lời xin chúng con chút ít tiền bạc, chút lòng hảo tâm, chút sự thương cảm… để rồi sau đó Chúa lại đổ xuống trên chúng con muôn vàn ân phúc nhiều hơn gấp bội.

 

LẠY CHÚA, Xin dạy chúng con biết đến với hết mọi người, biết khám phá ra một đốm lửa của sự thiện vẫn đang còn cháy leo lét nơi tâm hồn những người tội lỗi. 

 

Ước gì chúng con biết nhìn tội nhân bằng ánh mắt nhân từ của Chúa, dám hy vọng vào tình thương đang có nơi tâm hồn mỗi người, và kêu gọi họ cùng hợp tác trong việc xua đuổi cái xấu cái ác ra khỏi gia đình, khu xóm, trường học, và nhà máy… mời gọi mọi người cùng nhau làm việc thiện. Nhờ đó thế giới này sẽ ngày càng trở nên nhân bản hơn, chan hòa tình yêu hơn và mọi người sẽ được sống trong an bình hạnh phúc hơn.

 

LẠY MẸ MARIA, qua bài Tin Mừng hôm nay, con nhận thấy con Mẹ là Chúa Giêsu thật có tài đánh động lòng người. Người chỉ cần gặp gỡ Da-kêu trong giây lát là đã biến đổi ông nên con người mới: Đang từ một người keo kiệt gian tham, trở nên một người quảng đại, sẵn sàng chia sẻ phân nửa của cải mình cho tha nhân.

 

LẠY MẸ, chính nhờ sự hiện diện của Chúa Giêsu, mà ông Da-kêu và cả gia đình đã được ơn cứu độ. Xin Mẹ giúp chúng con mỗi lần đón rước Chúa Giêsu vào nhà linh hồn, con cũng được đổi mới đời sống. Xin cho con biết quảng đại chia sẻ cơm bánh cho những người đói rách, biết cộng tác với các vị chủ chăn để đưa nhiều người lạc xa Chúa được trở về với Người. 

 

Xin đừng để con khinh dể, xa lánh những người tội lỗi, nhưng biết tỏ lòng nhân từ yêu thương họ. Hy vọng rằng một khi cảm nghiệm được tình thương của Chúa qua cách đối xử của con, họ sẽ biến đổi thành những con chiên ngoan trong đàn chiên của Chúa.

 

Lm. Đan Vinh

 

----------------------------------------------

 

Bài 13: Kinh nghiệm của những người cận tử thuật lại

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 232

Thường Niên 32-C

 

Bạn thân mến, 

 

Mấy năm gần đây, một số bác sĩ người Đức và Mỹ, đã rất chú ý đến hiện tượng, mà họ gọi là “Kinh nghiệm của những người cận tử” (near death experience): 

 

Nhiều người vì một tai nạn, hay một lý do nào đó, đã ngất đi trong một thời gian khá dài. Về mặt thể lý, coi như họ đã chết. Nhưng sau đó họ sống lại. 

 

Các bác sĩ đã phỏng vấn 1.370 người ấy. 

 

Trong những điều họ thuật lại, đã có những điểm mà ai cũng kể gần giống như sau:

 

- Cảm nghiệm thứ nhất của những người ấy là thấy mình rời khỏi thân xác của mình, đồng thời cảm thấy nhẹ nhàng dễ chịu, sau khi rời khỏi thân xác.

 

- Cảm nghiệm thứ hai là thấy mình đi trong một đường hầm rất dài. Sau khi đi hết đường hầm, thì tới một vùng đầy ánh sáng và gặp một Đấng tỏa ra ánh sáng. Thứ ánh sáng này thì sáng hơn mọi thứ ánh sáng họ đã từng thấy ở trần gian, nhưng thứ ánh sáng này không làm họ chói mắt, mà lại rất dễ chịu, đến nỗi họ muốn được ở lại mãi trong ánh sáng đó và bên cạnh Đấng tỏa ánh sáng đó.

 

- Cảm nghiệm thứ ba là được Đấng sáng láng ấy cho thấy lại cả cuộc đời của họ, giống như xem một cuốn phim, quay tất cả những lời nói việc làm và suy nghĩ của họ từ hồi có trí khôn cho đến lúc chết. 

 

Lúc xem lại cuốn phim cuộc đời ấy, khi thấy một việc xấu, thì tự nhiên lòng họ cảm thấy buồn và bứt rứt khó chịu. Đồng thời, Đấng sáng láng ấy đánh giá cho họ biết đó là một việc làm không tốt. 

 

Ngược lại, khi thấy một việc tốt, thì họ cảm thấy rất vui, rất dễ chịu và rất hạnh phúc. Đồng thời Đấng sáng láng ấy khen thưởng những việc tốt, là những việc đã làm vì lòng yêu thương. Còn những việc xấu, là những việc họ đã làm do động cơ không yêu thương, nên bị khiển trách.

 

- Được ở trong ánh sáng huyền diệu ấy và ở gần Đấng sáng láng ấy, ai cũng cảm thấy vô cùng hạnh phúc, nên muốn ở lại mãi, nhưng Đấng ấy bảo: “Bây giờ con chưa được ở lại, vì con còn nhiều việc bổn phận phải làm ở trần gian. Vậy con phải về”. Và khi đó là lúc họ tỉnh lại.

 

- Tất cả những người sống lại ấy, đều thay đổi cách sống: từ đó trở đi họ không sợ chết nữa; họ không coi trọng việc tìm kiếm danh lợi thú nữa, mà họ chỉ lo chu toàn bổn phận và đối xử với mọi người bằng tình thương.

 

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì đã cho được hưởng dùng những hương hoa của cuộc sống, cùng với biết bao niềm vui và hạnh phúc. 

 

Chúng con chỉ xin Chúa ban thêm cho chúng con một ân huệ này, là cho chúng con được về hợp hoan với Chúa đời đời, sau khi kết thúc cuộc sống trần gian này. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu", Năm C)

 

-------------------------------

 

Bài 14: Chuẩn Bị Ngày Quang Lâm, Ngày Chúa Sẽ Đến

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 233

Thường Niên 33 – C: 

 

Bạn thân mến, 

 

Tôi còn nhớ vào năm 1994 cha quản xứ của tôi đọc một bài báo nói về ngày tận thế vào ngày 5/5 năm đó, và sẽ có tối 3 ngày 3 đêm, nên cha kêu gọi mọi người phải mua đủ nến và mang đến nhà thờ để cha làm phép. 

 

Nhưng đợi đến ngày đó, không có gì xảy ra.

 

Sau đó, có tin đồn tận thế sẽ xảy ra vào năm 2000, nhưng cũng không xảy ra. 

 

Gần đây, một tờ báo cho rằng ngày tận thế được xác định theo lịch của người Maya rơi vào ngày 15/5/2015. Những lời đồn đoán này đã gây hoang mang cho biết bao người. 

 

Ở Brazil, cảnh sát phải đối phó với nguy cơ tự tử tập thể, khi chờ ngày tận thế. 

 

Nhưng tất cả chỉ dừng lại ở tin đồn.

 

*****

 

Sự kiện này cho thấy rằng, con người thời nào cũng muốn biết những gì sẽ xảy ra tương lai: 

 

- Có ngày tận thế không? 

 

- Số phận của chúng ta sẽ ra sao trong và sau ngày đó? 

 

- Chúng ta tìm được câu trả lời cho những vấn nạn đó từ phụng vụ Lời Chúa hôm nay (TN 33-C: Luca 21,5-19).

 

1. Thế giới và thế hệ này sẽ qua đi

 

Trước hết, Lời Chúa hôm nay mạc khải cho chúng ta biết rằng: 

 

- Thế giới này sẽ có ngày kết thúc. 

 

- Thế giới này không vĩnh cữu, qua sự quả quyết của Chúa Giêsu: 

 

“Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mc 13,30). 

 

Đồng thời, Chúa Giêsu loan báo về ngày quang lâm của Người. 

 

Ngày quang lâm” trong tiếng Hy lạp là parusia. Có nghĩa là sự trở lại trần gian lần thứ hai của Chúa Giêsu vào ngày thế mạt.

 

Nếu lần thứ nhất Chúa Kitô đến với nhân loại trong sự khiêm tốn và thấp hèn của người tôi tớ, thì lần thứ hai Chúa ngự đến trong vinh quang và quyền năng của vị thẩm phán. 

 

Người là vị thẩm phán chí công, đến để xét xử nhân loại. Người sẽ xét xử chúng ta dựa trên công lý và tình yêu, theo những gì mà chúng ta đã sống trên thế gian.

 

Bấy giờ, số phận của những người công chính sẽ được hưởng hạnh phúc muôn đời, sẽ được chiếu tỏa như những vị sao. 

 

Còn những người tội lỗi thì phải chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời (x. Đn 12,3).

 

Vì thế, “ngày quang lâm” sẽ trở thành ngày của sợ hãi, thất vọng, đối với những người tội lỗi vì án phạt đời đời. 

 

Nhưng đó là ngày của hy vọng và cứu độ đối với những người công chính, ngày Thiên Chúa hoàn tất cách viên mãn chương trình cứu độ con người, đó là “trời mới đất mới” (Kh 21:1), thời đại của công lý, hạnh phúc và tình yêu ngự trị mãi mãi (x. 2 Cr 5,17).

 

2. Thời gian và những dấu chỉ cánh chung

 

Như thế, điều chắc chắn là thế giới này sẽ có ngày kết thúc. Nhưng xảy ra lúc nào? 

 

Tin Mừng hôm nay khẳng định: 

 

“Về ngày giờ đó thì không ai biết được ngay cả Thiên sứ trên trời, và Người Con cũng không thể biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi” (Mc 13, 32). 

 

Thánh Augustinô còn xác quyết: “Việc này hoàn toàn nằm trong quyền năng của Chúa Cha”.

 

Tuy nhiên, trong Tin Mừng Máccô, Chúa Giêsu loan báo về những dấu chỉ xảy ra để báo trước về ngày đó: 

 

1) Những ngôn sứ giả, những Mêsia giả sẽ phỉnh gạt nhiều người (Mc 13,5-6); 

 

2) Những cuộc bách hại chống lại các môn đệ của Đức Giêsu (Mc 13,9-13); 3) 

 

Những tai ương, chiến tranh, động đất, đói kém và những hiện tượng lạ lùng xảy ra (Mc 13,7-8).

 

Trong khi đó, Tin Mừng Mátthêu chương 24 cho biết thêm 4 dấu chỉ của ngày tận thế, đó là: 

 

1) Tin Mừng về Nước Thiên Chúa được loan báo cho hết mọi người (Mt 24,14); 

 

2) Xuất hiện những tiên tri giả và phản Kitô; 

 

3) Người Do thái trở lại tin nhận Chúa Kitô. 

 

4) Thiên tai xảy ra. Đó là những dấu chỉ tiên báo về ngày thế mạt.

 

3. Thái độ của chúng ta hôm nay

 

Như vậy, Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta hiểu biết về biến cố cánh chung và ý nghĩa của ngày quang lâm, để chúng ta khi sống trong hiện tại, nhưng phải luôn hướng về tương lai, luôn nhớ đến sự phán xét chung, và phần thưởng cũng như hình phạt đời đời cho mỗi người.

 

Trước sự chắc chắn và bất ngờ của cái chết, của việc Chúa quang lâm, chúng ta được mời gọi phải tỉnh thức và sẵn sàng: 

 

“Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,44; Lc 12,40). 

 

Thái độ tỉnh thức và sẵn sàng ấy phải được thể hiện một cách thực tế, bằng một đời sống phục vụ và yêu thương tha nhân. Bởi lẽ, vào ngày xế chiều, Thiên Chúa sẽ phát xét chúng ta dựa vào lòng bác ái của chúng ta đối với tha nhân (x. Mt 25,31-46).

 

Lạy Chúa, xin Chúa thức tỉnh tâm hồn chúng con, để mỗi người chúng con biết biến cải tâm hồn mỗi ngày, để nhận ra Chúa nơi những dấu chỉ thời đại và nơi anh chị em. Nhờ đó, khi ngày của Chúa đến, chúng con vẫn luôn bình an và hy vọng, vì biết rằng Người sẽ mang lại những gì tốt lành cho những ai yêu mến và phó thác nơi Người. Amen!

 

--------------------------------

 

Bài 15: Sứ giả của hoàng tử

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 234

Thường Nên 34 C Lễ Chúa Kiytô Vua:

 

Bạn thân mến, 

 

Oscar Wilde đã viết một câu chuyện thật đẹp, có tựa đề là “Vị hoàng tử hạnh phúc”. 

 

Trong suốt cuộc đời mình, vị hoàng tử này đã sống một cuộc sống được che chở, bảo bọc rất hoàn hảo. 

 

Khi hoàng tử qua đời, người ta đúc một bức tượng của ông, và đặt ngay tại quảng trường chính của thủ đô. 

 

Trên bức tượng, được dát đầy những chiếc lá bằng vàng. 

 

Trên đôi mắt, có hai hòn ngọc bích, và một viên hồng ngọc đính trên cán thanh gươm.

 

Một buổi tối tiết trời lạnh lẻo, trên đường bay về phía nam, một con chim sẻ đáp xuống chân bức tượng. 

 

Khi con chim này đang đậu ở đó, thì có vài giọt nước rớt trên mình nó. 

 

Con chim ngước mắt nhìn lên, và nhận thấy vị Hoàng tử hạnh phúc đang khóc.

 

Con chim sẻ hỏi “Tại sao hoàng tử lại khóc vậy?”

 

Vị hoàng tử nói: 

 

“Khi còn sống, ta không hề biết đến đau khổ. Nhưng từ khi đến đây, ta nhận thấy có rất nhiều nỗi bất hạnh trên thế gian này. Ta rất muốn giúp đỡ họ, nhưng không thể được, vì đôi chân của ta bị chôn chặt vào cái bệ này rồi. Ta cần có một sứ giả. Ngươi sẽ trở thành sứ giả của ta chứ?”

 

Con chim sẻ trả lời: - “Nhưng tôi phải bay sang Ai cập”. 

Hoàng tử nài nỉ. - “Xin vui lòng ở lại với ta đêm nay”.

 

Con chim sẻ trả lời: - “Được thôi. Vậy tôi có thể làm được gì cho ngài?”

 

- “Trong căn phòng kia, có một bà mẹ đang săn sóc đứa con bị đau yếu. Bà ấy không có tiền trả cho bác sĩ. Ngươi hãy lấy viên hồng ngọc trên cán thanh gươm của ta, và đem đến cho bà ấy”.

 

Con chim sẻ dùng mỏ gắp viên hồng ngọc ra, rồi mang tới cho người phụ nữ, và bà ấy rất vui mừng. Bà đã mời được bác sĩ đến, và con bà được chữa khỏi bệnh. Con chim sẻ bay trở lại và ngủ vùi. 

 

Hôm sau, hoàng tử lại yêu cầu con chim ở lại một đêm nữa. 

 

Rồi hoàng tử nhờ con chim lấy một trong hai hòn ngọc bích, đưa tới cho một cô gái nhỏ bán diêm sống ở quảng trường. Cô bé không hề bán được cây diêm nào trong ngày hôm đó, và đang sợ rằng sẽ bị đánh đập khi trở về nhà. 

 

Một lần nữa, con chim lại làm theo lời hoàng tử yêu cầu.

 

Sau khi làm xong những việc thiện rồi, đôi mắt của con chim được mở ra. Nó nhìn thấy rất nhiều cảnh nghèo nàn và khổ sở trong thành phố. Sau đó, nó vui lòng ở lại và trở thành một sứ giả của hoàng tử. 

 

Khi hoàng tử thúc giục, con chim lại nhặt từng chiếc lá vàng mỏng, rồi đem đến cho người nghèo khổ.

 

Cuối cùng, vào một buổi tối nọ, con chim bay trở lại. 

 

Nhưng đến lúc này, bức tượng đã hoàn toàn trống trơn, vì đã lột sạch không còn một món đồ trang trí nào. Ban đêm trời rất lạnh. 

 

Sáng hôm sau, người ta tìm thấy con chim sẻ nhỏ bé chết ngay dưới chân bức tượng. 

 

Vị hoàng tử đã cho đi tất cả tài sản của mình, nhưng không thể nào thực hiện được như vậy, nếu không có sứ giả của mình, đó là con chim sẻ nhỏ bé.

 

*****

 

Trong khi còn tại thế, Đức Kitô, Vua của chúng ta, đã tự hiến bản thân mình. 

 

Ngay cả khi đã qua đời rồi, Người vẫn còn ban chính mình Người cho những ai tiếp nhận Người. 

 

Và từ nơi Thiên Đàng cao vời, Người vẫn nhìn thấy nỗi khốn khổ của con cái Người trên trái đất này. 

 

Nhưng đôi chân Người đã bị cột chặt, đôi tay Người bị trói, và lưỡi của Người im lặng. Người cần đến những sứ giả. Người đến với chúng ta. 

 

- Người không còn đôi tay nào nữa, ngoại trừ đôi tay của chúng ta.

 

- Người không còn đôi chân nào nữa, ngoại trừ đôi chân của chúng ta.

 

-  Người không còn lưỡi nào nữa, ngoại trừ lưỡi của chúng ta. 

 

Và những tài sản đó là của chính Người, chứ không phải là của chúng ta, mà chúng ta được mời gọi để phân phát – tình yêu thương, ơn tha thứ, lòng khoan dung, những tin vui…

 

*****

 

Điều này có liên quan đến việc giúp đỡ người khác, bằng những việc đơn giản, mà chúng ta luôn sẵn có để đem đến cho tất cả mọi người: Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, đón tiếp khách lạ, hoặc thăm viếng người bị đau yếu hoặc tù tội…

 

Để làm những công việc này, người ta không cần phải giàu có hoặc có tài sản gì cả.

 

Tất cả những gì người ta cần đến, chỉ là có một tấm lòng nồng nhiệt và thái độ luôn sẵn sàng giúp đỡ. 

 

Mọi người đều có thể làm được điều gì đó.

 

Vâng, ngay cả một con chim sẻ bé nhỏ cũng làm được.

 

Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng loài người chúng con nên giống hình ảnh Chúa

và cứu chuộc chúng con bằng máu Ðức Kitô.

 

Xin dạy chúng con biết nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi người đói khát, vô gia cư, rách rưới, đau yếu, tù đầy.

 

Xin tha thứ cho những lần chúng con bịt tai, nhắm mắt, trước những nỗi thống khổ và rên xiết của những người lầm than, bất hạnh.

 

Xin ban cho chúng con một trái tim biết rung động, để chúng con biết đáp ứng phần nào nhu cầu của họ, theo khà năng của chúng con, như Chúa đã dạy và đã làm gương cho chúng con. Amen.

 

-------------------------

 

Bài 16: Hãy luôn tĩnh thức và sẵn sàng

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 235

Mùa Vọng 1-A 

 

Bạn thân mến, 

 

Sách “Cổ Học Tinh Hoa” có kể lại một câu chuyện như sau:

 

Bấy giờ vua nước Ngô định đem quân đánh nước Tề, nhiều người lên tiếng can ngăn, nhưng vua chẳng chịu nghe, lại còn ra lệnh nếu ai nói tới việc đình chiến thì sẽ bị chém đầu.

 

Một vị quan trẻ tuổi, nhưng nổi tiếng là khôn ngoan, luôn ba ngày liền, cứ sáng sớm mang cung đến khu vườn trong hoàng cung. Không đếm xỉa gì tới sương rơi và nắng gội. Ngày thứ ba, vua gặp và hỏi:

 

- Khanh làm chi đó ?

 

- Thưa trên ngọn cây cổ thụ này có con ve sầu hút gió, uống sương và kêu ve ve suốt ngày. Tưởng mình yên thân, song đằng sau xa xa có con bọ ngựa đang rình nhảy tới vồ. Trong khi bọ ngựa định tóm cổ ve sầu, thì ở gần đó có con chim sẻ dòm ngó, tính bắt con bọ ngựa. Nhưng chính con chim sẻ này lại không dè dưới gốc cây có người đang nhắm bắn mình. 

 

Chính tôi đây đang rình bắn con chim sẻ, thì tôi lại quên rằng: Sương rơi và nắng gội có thể làm mình bị cảm và chết. 

 

Cũng như nhiều người, tôi chỉ nhìn thấy cái lợi nhỏ nhen trước mắt, mà quên mất cái hại tày đình sau lưng.

 

Hiểu vị quan này có ý thức tỉnh mình, nên vua nước Ngô đã nghĩ lại, đình chỉ việc đem quân xâm lấn nước Tề.

 

*****

 

Cũng vậy, những đam mê lo chạy theo tiền tài, danh vọng và lạc thú, đã làm chúng ta quên mất thần chết đang rình rập ở sau lưng. 

 

Thực vậy, ai trong chúng ta cũng biết rằng: Mình sẽ phải chết và hằng ngày luôn đối đầu với nó. 

 

Cái chết ở trước mặt người già và ở sau lưng người trẻ. Cái chết thì chắc chắn, nhưng giờ chết lại bấp bênh vô định.

 

Mặc dù đã ý thức, nhưng chúng ta lại quên, không chịu sống đạo và không lo thu tích cho mình một kho tàng thiêng liêng. Chúng ta mải miết chạy theo tiền tài, danh vọng và lạc thú, như vua nước Ngô đem quân xâm lăng, mở thêm chút bờ cõi, kiếm thêm chút danh vọng, không ngờ rằng: Một khi mình giàu sang, thì sẽ bị một nước khác nhòm ngó và chiếm đoạt.

 

Bởi đó, trước hết, không được đặt trọng tâm đời mình vào tiền của, bởi vì càng lắm tiền của, thì càng nhiều lo âu, càng nhiều bè bạn giả tạo và càng nhiều cám dỗ, để rồi sa chân vào vòng cờ bạc, rượu chè, ma túy và tội lỗi.

 

Nếu có chút dư thừa, thì hãy biết sử dụng vào những việc bác ái, giúp đỡ những người chung quanh, bởi vì chỉ những cái chúng ta biêt cho đi hôm nay, thì ngày mai mới thuộc về chúng mãi mãi mà thôi.

 

Tiếp đến không được đặt trọng tâm đời mình vào danh vọng, bởi vì càng cao danh vọng, càng dày gian nan và càng lắm kẻ thù. Trèo cao thì ngã đau.

 

De Girandin là một vị tổng thống, khi nằm trên giường bệnh, được bạn bè tới thăm và nhắc lại những công lao sự nghiệp, thì ông đã trả lời:

 

- Mấy cái đó nào có ăn thua chi. Hãy cầu nguyện cho tôi thì tốt hơn.

 

Sau cùng, cũng đừng đặt trong tâm đời mình vào lạc thú, vì lạc thú như một thứ rượu nồng, càng uống càng khát, càng tìm kiếm càng thấy mình hèn kém và đáng khinh dễ.

 

Thánh Alphongsô, một nhà thần học nổi tiếng, đã quả quyết:

 

- Có tới 90%  những người sa xuống hỏa ngục, chỉ vì  đã phạm tội này.

 

Thực tế cho hay: Phạm những tội khác, chúng ta dễ dàng sám hối ăn năn, còn phạm tội này, chúng ta ít khi chịu dừng lại, đã phạm một lần, thì thường cứ tiếp tục phạm mãi.

 

Hãy sẵn sàng, vì thần chết luôn rình rập sau lưng. 

 

Hãy sẵn sàng, vì Chúa sẽ đến vào ngày chúng ta không ngờ, vào giờ chúng ta không biết.

 

Hãy chuẩn bị cho mình những hành trang cần thiết, là một tâm hồn trong trắng và một đôi tay chất đầy công nghiệp, được kết đọng từ những hành động bác ái yêu thương chúng ta đã thực hiện.

 

Bằng không, khi Chúa đến vào cuối đoạn đường đời, chúng ta sẽ phải bẽ bàng và cay đắng, vì thấy mình trắng tay, vì thấy mình phá sản, vì thấy mình chẳng có đầu tư gì cho cuộc sống vĩnh cửu.

 

Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn biết tỉnh thức, để nhận ra ngày giờ Chúa đến, dù dưới bất cứ hình thức nào, để chúng con được đón tiếp Chúa với trọn niềm hân hoan, như Chúa đã hứa: “Phúc cho đầy tớ nào khi chủ về mà còn đang tỉnh thức”. Amen.

 

----------------------------------------------

 

Bài 17: Điều quý giá nhất ở trần gian

Mùa Vọng 2-A

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 236

 

Bạn thân mến, 

 

Người Hồi Giáo Ả Rập có kể một giai thoại nói về sám hối rất hay: 

 

Một ngày kia, Đức Thánh Allah cho gọi một thiên sứ đến và bảo: “Ngươi hãy xuống trần gian, kiếm cái quý giá nhất của con người và mang về đây cho Ta”. 

 

Thiên sứ ra đi thi hành mệnh lệnh:

 

Lần đầu tiên, thiên sứ mang về cho Đức Thánh Allah một bình máu của các chiến sĩ, mà ngài hứng được trong trận chiến giữa người Hồi Giáo và người Ấn Giáo ( đó là máu của các vị Tử Đạo, theo quan niệm của người Hồi Giáo ).

 

Lần thứ hai thiên sứ mang về là hương thơm của lòng biết ơn, mà người dân dành cho vị trưởng làng, qua cái chết của ông

 

Cả hai lần, Đức Thánh Allah rất vui, vì đó là những điều quý ở trần gian, mà sứ thần tìm kiếm được. 

 

Tuy nhiên, đây vẫn không phải là món quà quý giá, mà Đức Thánh Allah muốn tìm.

 

Và Ngài lại sai thiên sứ đi lần thứ ba. Lần này thiên sứ vừa đi vừa suy nghĩ, điều quý giá nhất ở trần gian là cái gì ? 

 

Bỗng nhiên, từ đàng xa, thiên sứ nghe thấy tiếng khóc của một phụ nữ. Đến gần, thiên sứ cảm thương hỏi: “Sao cô khóc ?” Không có tiếng trả lời ! Cô gái lại càng khóc nức nở hơn trước. Bấy giờ vị thiên sứ tiến lại gần nắm lấy tay cô và hỏi: “Sao cô khóc nhiều đến thế, có gì nói cho tôi nghe với ?” Bấy giờ có tiếng nói từ miệng cô thoát ra hòa lẫn tiếng nấc cùng với dòng nước mắt tuôn rơi. Cô gái nói: “Thưa ngài con đau khổ quá, con đau khổ vì lỗi lầm của con, con đã xúc phạm đến nhiều người và làm trái với lòng mình… Bây giờ con hối hận lắm…”

 

Thật cảm động ! Thiên sứ liền hứng những giọt nước mắt của cô mang về cho Đức Thánh Allah. Lần này Ngài vui mừng và reo lên: “Đây chính là điều Ta mong muốn. Giọt nước mắt của lòng sám hối chính là món quà quý giá nhất mà Ta cần”.

 

*****

 

Bài Tin Mừng hôm nay (MV 2-C: Lc 3, 1-6), thuật lại việc Gioan Tiền Hô loan báo và kêu gọi dân chúng ăn năn sám hối, vì Ơn Cứu Độ đã gần đến. 

 

Vậy ăn năn sám hối là gì ?

 

Trước tiên, sám hối là quay trở về với Chúa, xin ơn tha thứ và từ bỏ con đường tội lỗi. 

 

Sám hối là một động tác gột rửa tâm hồn, để sống cho hợp với ý Chúa, đem lại bình an nội tâm và liên đới với mọi người.

 

Thứ đến, sám hối còn là hành vi mong chờ Ơn Cứu Độ: “Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến”. 

 

Phải chăng, vì thế mà động từ “gần đến” của Gioan ở đây, có thể hiểu được là sắp đến lễ Giáng Sinh. Và, cũng có thể hiểu là ngày “gần đến” của Ơn Cứu Độ, ngày Cánh Chung của mỗi người chúng ta.

 

Tiếp theo, sám hối là làm mới lại tinh thần, canh tân đời sống và thay đổi não trạng cũ để đổi lấy tâm tình mới.

 

*****

 

Tinh thần đó, được Thánh Gioan vạch ra cho những người đương thời với ngài, và cũng là cho mỗi người chúng ta: 

 

"Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng” ( Lc 3, 5 ).

 

Thung lũng ở đây là những tham lam ích kỷ, hẹp hòi nhỏ nhen, ăn chơi vô độ, chỉ biết thu góp cho mình, bất chấp mọi điều bất chính. 

 

Đồng thời phải uốn cho ngay những lối nghĩ quanh co, những tính toán lệch lạc. Có thì nói có, không thì nói không. Thêm điều bịa đặt là do Ma Quỷ. 

 

Mặt khác, phải san cho phẳng những núi đồi của sự kiêu ngạo và tự mãn. Ai kiêu ngạo thì sẽ chết trên đỉnh cao của sự tự phụ. Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo và nâng đỡ những người khiêm nhường. Và, phải bạt cho bằng những gồ ghề, lồi lõm của bất công, bất chính.

 

Thiết nghĩ, hành động cụ thể nhằm đáp lại lời mời gọi của Thánh Gioan hôm nay và cũng là thể hiện lòng sám hối chân thành, chính là: 

 

- Phải lấp thật đầy những hố sâu ngăn cách bằng sự quan tâm, chia sẻ với những người bất hạnh, người khổ đau, nghèo đói. 

 

- Sẵn sàng đến với những người bé mọn, kém may mắn để nâng đỡ, yêu thương và lắng nghe họ... 

 

- Luôn trung thành với lương tâm và đứng về phía sự thật, dầu có phải chết. Quyết không bao giờ đứng về phía bất công, không vì lợi nhuận trước mắt mà bán đứng anh chị em đồng loại, đồng thời cũng đừng bao giờ lên án cách bất công người khác. Và, hãy ý thức những giới hạn của bản thân, để cần đến ơn Chúa trợ giúp.

 

Nếu Thánh Gioan là vị Tiền Hô kêu gọi sám hối để chuẩn bị đón Chúa ngự đến, thì chúng ta là những người sống lời loan báo ấy và làm cho tiếng hô của ngài âm vang trong xã hội và lòng người hôm nay.

 

Tắt một lời, sám hối là trở về với Chúa và xin ơn tha thứ của Người. 

 

Sám hối là để nhận ra những thiếu sót của mình. Biết khiêm tốn sửa sai, để liên đới, lắng nghe và yêu thương anh chị em đồng loại. 

 

Cuối cùng, sám hối là canh tân, là đổi mới để đón nhận ơn cứu độ.

 

*****

 

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy chuẩn bị con đường tâm hồn, để trở nên trong sạch, thênh thang nhờ gạt bỏ những vẩn đục của tham lam, ích kỷ, gian dối, kiêu ngạo... để trở thành đại lộ yêu thương, xứng đáng đón Chúa ngự đến trong đêm Giáng Sinh và ngày cánh chung của mỗi người chúng ta.

 

Như vậy, sám hối là món quà quý giá nhất mà chúng ta dâng lên cho Chúa trong Mùa Vọng này.

 

Lạy Chúa, xin cho con có được tâm tình sám hối. Sám hối với Chúa và tạ lỗi với anh chị em mình. Biết khiêm tốn nhìn nhận mình yếu đuối để canh tân, đổi mới. Ước gì con đường tâm hồn chúng con không còn những thung lũng, gồ ghề, cong queo, nhưng thay vào đó là một con đường khiêm nhường, trong sạch và chân thật, để đón Chúa ngự đến. “Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến”. Amen.

 

Tu Sĩ JV. Ngọc Biển

 

---------------------------------

 

Bài 18: Emmanuel, một Thiên Chúa ở cùng chúng ta

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 237

Mùa Vọng 3-A

 

Bạn thân mến, 

 

Giáng sinh năm ấy, cha Lini đang hoàn tất những chuẩn bị cuối cùng để cử hành thánh lễ Giáng Sinh trong một bầu khí trang trọng, thì bỗng mọi người trong nhà thờ đều xôn xao. 

 

Ngẩng đầu lên, cha nhìn thấy một người phong cùi, mặt mũi xần xùi, hai cánh tay bị cụt. Vết thương ở chân tuôn máu làm thành một vệt dài trên nền gạch bông. Toàn thân bốc ra mùi hôi thối.

 

Tất cả đều kinh hoàng. Còn cha thì bối rối: Một đàng không thể bắt đầu thánh lễ khi người phong cùi còn đứng đó. Đàng khác, cha cũng không thể đuổi anh ta, bởi lẽ nhà thờ là nhà của Chúa, cha chung của mọi người, không trừ một ai. Càng là bất hạnh thì lại càng đáng được ở lại để đón mừng Chúa giáng sinh.

 

Người phong cùi dừng lại trước bàn thờ với thái độ van xin. Thế rồi cha nói với anh:

 

- Bạn hãy ở lại với chúng tôi và chúng ta sẽ làm thành một gia đình duy nhất. Các vết lở loét nơi tâm hồn còn thối tha hơn những vết lở lóet nơi thân xác gấp bội. Tất cả chúng ta đều là anh em với nhau. Và dưới một góc cạnh nào đó, tất cả chúng ta đều là những người phong cùi về đời sống thiêng liêng trước mặt Chúa.

 

Sự việc này đã đánh động cha để rồi sau lễ giáng sinh năm ấy, cha đã dồn mọi nỗ lực để chăm sóc cho những người đáng thương này.

 

*****

 

Từ câu chuyện trên chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay và đưa ra câu hỏi:

 

- Nếu Thiên Chúa là tình yêu thì tại sao lại xảy ra biết bao nhiêu tội ác và bất hạnh trên thế giới ?

 

Và như thánh Phaolô đã diễn tả:

 

- Đối với nhiều người, thập giá đã trở nên dấu chỉ của sự điên khùng và dại dột. Thế nhưng Thiên Chúa lại dùng chính sự điên khùng và dại dột này để cứu chuộc chúng ta.

 

Thực vậy, để cứu chuộc chúng ta Ngài không cần phải đổ máu, mà chỉ cần phán một lời hay sai một thiên thần cũng đủ. 

 

Tuy nhiên, Ngài đã không làm như vậy. 

 

Trái lại, Ngài đã xuống thế làm người để trở thành một Emmanuel, một Thiên Chúa ở cùng chúng ta. 

 

Ở cùng chúng ta mà thôi chưa đủ, Ngài còn muốn chia sẻ thân phận khổ đau của kiếp người: 

 

Sinh ra trong nghèo khó. Lớn lên trong lao động cực nhọc. Cũng khổ đau. Cũng đói khát. Cũng mỏi mệt. Suốt dọc quãng đời công khai Ngài đã thực hiện biết bao nhiêu phép lạ để xoa dịu những đớn đau của những người đương thời. Như lời tiên tri Isaia: “Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi loan báo tin mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, công bố sự giải phóng cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được xem thấy, trả tự do cho kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân về ngày khen thưởng…”.

 

Và sau cùng đã đổ ra những giọt máu cuối cùng với cái chết đầy tủi nhục, đầy ê chề, đau thương trên thập giá để cứu chuộc chúng ta, như lời thánh Phaolô: 

 

“Chính Ngài đã hạ mình bằng cách vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá”. 

 

Để rồi kể từ đây, thập giá đã trở nên dấu chỉ của sự khôn ngoan, của tình thương và của ơn tha thứ.

 

Còn chúng ta thì sao, chúng ta có thái độ nào khi đứng trước thập giá của đời mình và nhất là chúng ta có biết nâng đỡ để làm giảm nhẹ thập giá của những người chung quanh hay không ???

 

------------------------------

 

Bài 19: Chuyện một vị vua chọn người làm dưỡng tử kế vị

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 238

Mùa Vọng 4-A

 

Bạn thân mến, 

 

Có một vị vua kia đã già cả nhưng lại không có con nối dõi tông đường, nên nhà vua đã ra lệnh mời các chàng trai trẻ đến cung vua, để chọn một người làm dưỡng tử, mà sau này sẽ lên ngôi cai trị. 

 

Điều kiện thật đơn giản: Chỉ cần người đó biết mến Chúa và yêu mến anh em hết lòng.

 

Từ một vùng quê xa xôi, một chàng thanh niên cũng biết đến việc chọn lựa này của nhà vua, nên chàng cũng lấy hết can đảm đi đến cung vua, để ứng thi. 

 

Nhưng khốn nỗi, nhìn lại mình, chàng thấy mình chẳng có một bộ áo quàn nào xứng cho buổi triều yết. 

 

Sau một thời gian cố gắng lam lũ lao động và dành dụm, cuối cùng, chàng củng sắm được cho mình một bộ đồ tạm xứng với buổi triều yết.

 

Nhưng khi đi đến gần hoàng cung, thì chàng gặp một ông lão hành khất, ăn xin, xá lạy bên vệ đường, trong bộ quần áo rách rưới, rét run. 

 

Động lòng thương, và chẳng chút do dự, chàng đổi bộ đồ mình đang mặc cho ông già.

 

Khi đến gần cửa thành, bỗng lòng chàng lại hoang mang, chẳng biết lính canh có cho mình vào, với quần áo tả tơi như vậy không ? 

 

Nhưng, may mắn thay, khi bước vào khu vực triều đình, chẳng thấy có một ai hạch hỏi về quần áo của chàng. 

 

Và khi đến trước ngai rồng, chàng lại càng ngạc nhiên hơn nữa, bởi vị vua đang ngồi trên ngai, chính là ông già ăn xin, đã được chàng giúp cho bộ quần áo và chính ông đang mặc. 

 

Chàng không tin vào mắt mình, nhưng kìa, vua đang mỉm cười nhìn chàng: “Hỡi con yêu dấu, hãy đến đây, ta đang chờ con”

 

Chàng thanh niên đã được chọn làm dưỡng tử và làm thừa kế, nhờ tấm lòng quảng đại, bao dung của anh. 

 

Hôm nay (Tin mừng Chúa Nhật 4 MV A) thánh sử Matthêu (Mt 1, 18-24) cũng tường thuận việc Vua trời đất chọn lựa một người Cha cho mình trước khi Ngài đến ở với con người.

 

Xết về nguồn gốc, thánh Giuse đích thực thuộc dòng dõi David, hậu duệ của vua Đavid.

 

Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra trong dòng dõi này, để ứng nghiệm lời các tiên tri đã báo trước: 

 

“Này đây đã tới ngày Ta gây cho Đavid một mầm giống công chính, mầm giống này sẽ làm Vua thống trị, sẽ là người khôn ngoan thực hiện công lý và công bình trên đất nước”. 

 

Hoặc ở một chỗ khác: 

 

“Chúa sẽ lập cho Đavid một nhà. Nhà của Người và triều đại Người sẽ vững bền mãi mãi”.

 

Tuy nhiên, hậu duệ của David không phải chỉ có một mình Giuse, nhưng đã có hàng trăm, hàng ngàn hậu duệ đavid. 

 

Đồng thời với Giuse, dù với hậu duệ ấy Giuse đã được chọn làm dưỡng tử của Con Thiên Chúa, vì Ngài quảng đại và bao dung.

 

Một gia đình sống đời vợ chồng ai lại chẳng mơ ước đến chuyện chung chăn gối, thế mà Giuse lại ký kết hôn ước với một người đã thề hứa suốt đời không biết đến “việc vợ chồng”

 

Và rồi người Nữ mà Ngài hết lòng yêu mến và quí trọng ấy, lại bỗng dưng mang thai. Nàng là người đức hạnh đoan trang sao lại bụng mang dạ chửa cách lén lút ?

 

Theo luật Do thái, Giuse có thể tố cáo người Nữ ấy trước Hội Trường Do Thái để nàng bị ném đá, vì tội ngoại tình. 

 

Nhưng do tấm lòng bao dung, ngãi đã không làm thế. Ngài chỉ muốn âm thầm rút lui, không cãi vã to tiếng. Ngài tôn trọng nàng, ngái muốn để mặc cho nàng tự phân xử.

 

Đang khi định tâm như vậy, thì Thiên Chúa đã ra tay can thiệp, vì ngần ấy diễn tiến cũng đủ để cho Giuse làm dưỡng tử của Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. 

 

Lời của sứ thần đã soi sáng giải đáp thắc mắc bấy lâu đang dày vò tâm hồn Giuse. 

 

Hơn thế nữa, sứ thần đả trao cho Giuse nhiệm vụ đặt tên cho con trẻ mới sinh. 

 

Với người Do thái, chỉ có người cha là người có quyền tối hậu trong việc đặt tên cho đứa trẻ, dù cho bà con thân thuộc có muốn gì đi nữa thì khi chưa có ý kiến của người cha, thì việc đặt tên cũng không mang lại giá trị gì.

 

Như chúng ta đã thấy buổi lễ đặt tên cho Giaon tẩy giả cũng phải do người cha đặt tên. 

 

Ở đây cũng vậy, Giuse được Thiên Chúa ra tay can thiệp, để lòng yêu thương nơi Ngài không bị rạn nứt, sứt mẻ, mà từ đây lòng yêu thương đã có dịp bộc lộ trọn vẹn. 

 

Giuse đã đón nhận người bạn đời về nhà mình và hết òng yêu thương chăm sóc cho nàng, cũng như cho người con đang cưu mang.

 

Thật thế, cuộc đời của mỗi người cũng có lúc căng thẳng, phân vân, đau khổ vì phải chọn lựa quyết định, nhưng Thiên Chúa Ngài đã thông suốt tất cả những giai cấp này, thế nhưng, Ngài vẫn im lặng chờ đợi. Ngài chờ phản ứng nơi mỗi người chúng ta do yêu thương hay giận ghét, nếu chúng ta xử sự với tấm lòng yêu thương quảng đại thì chắc chắn Ngài sẽ kịp thời trợ giúp và chẳng bao giờ Ngài để cho lòng yêu thương bị rạn nứt, sứt mẻ. 

 

Trong mùa đón chờ vị vua tình yêu giáng thế, ước mong rằng mỗi người trong chúng ta sẽ luôn dùng thái độ bao dung, quảng đại, làm kim chỉ nam hứng dẫn các suy tưởng và hành động của mỗi người chúng ta.

 

---------------------------------

 

Bài 20: Cần phải trở thành một con chim, để lãnh đạo đàn chim

Chuyện Minh Họa Tin Mừng Chúa Nhật Bài 239

Lễ Giáng Sinh A

 

Bạn thân mến, 

 

Một người cha gia đình đã nại đến lý do này: “Chuyện Giáng sinh chỉ là truyện thần thoại, vô lý, khi tin rằng: Thiên Chúa làm người”, để rồi không đi dự lễ đêm Giáng Sinh, tuy vợ và các con của ông đều đi. 

 

Đang miên mang suy nghĩ rằng: Thật là điên khùng, khi mừng lễ Chúa Giáng sinh. 

 

Bỗng ông nghe thấy những tiếng đập vào cửa sổ liên hồi của các con chim, đang cố sức tìm cách vào trong nhà cho ấm áp, bởi ngoài trời đang có giông tuyết. Chúng bay lượn và cố đập vào các cửa kiếng, nhưng uổng công.

 

Ông liền nghĩ tới kho lúa nhà mình, trong đó, có thể giúp đàn chim được an toàn và ấm áp. 

 

Ông mặc áo lạnh và chạy ra mở cửa kho lúa. Dù ông hết sức kêu gọi những con chim vào, nhưng chúng nó chỉ lượn quanh, rồi lại tiép tục đập đầu vào cửa sổ nhà. 

 

Người đàn ông nghĩ bụng: 

 

“Nếu tôi là một như chúng. Nếu tôi là một con chim như chúng, thì chúng sẽ hiểu tôi và tôi có thể hướng dẫn chúng một cách nào đó, sẽ chỉ cho chúng thoát nguy và tránh cơn giông bão”. 

 

Từ đó, tâm trí ông bừng sáng: 

 

Chuyện đức Kitô giáng sinh, không phải là chuyện thần thoại, nhưng là rất hữu lý trên trần gian. 

 

Đấng tạo dựng và quan phòng mọi người đều biết rằng: Chỉ có một cách để dẫn dắt nhân loại an toàn, là chính Thiên Chúa cũng phải trở nên một con người, cũng như một con chim, mới có thể dẫn dắt đàn chim lo âu đến chỗ an toàn trong kho lúa. 

 

Khi vợ con ông trở về, họ lại được nghe thêm một bài giảng nữa, là kinh nghiệm của một người cha, một người trưởng gia đình.

 

*****

 

Đêm nay chúng ta mừng sự kiện, không phải truyện biến ngôn, nhưng là sự kiện Ngôi Hai Thiên Chúa Ba Ngôi đã trở thành một con người, để lãnh đạo loài người chúng ta. 

 

Niềm tin của chúng ta dựa vào lý lẽ, như người đàn ông trong câu chuyện đã khám phá ra: Cần phải trở thành một con chim, để lãnh đạo đàn chim. Phải có một người, cũng là Thiên Chúa, để đưa con người đến ơn cứu độ.

 

Hạ mình biết bao, nếu kẻ nghi ngờ trong câu chuyện có thể biến thành một con chim, thì việc Thiên Chúa toàn năng mặc lấy thân phận con người, dưới hình dáng một em bé yếu đuối, thật vô cùng khiêm hạ.

 

Đó là lý do để chúng ta vui mừng trong đêm nay. Đó là ý nghĩa của lễ Chúa Giáng sinh.

 

Trong bài đọc I của ngôn sứ Ysai: 

 

“Một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta. Một người con đã  ban tặng cho chúng ta. Người mang trên vai vương quyền. Vâng, hài nhi là Chúa, là Đấng thống trị, là cứu Chúa của mọi người. Vì thế trong bài đáp ca chúng ta đọc: “Hãy ca tụng Chúa ... hãy loan truyền ơn cứu độ. Trời hãy hân hoan, đất hãy nhảy mừng, vì người tới cai quản địa cầu”. 

 

Chúng ta hãy hát bài ca của các thiên thần: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao”. Hãy ca tụng Chúa đang hiện diện nơi đây, với ánh nến và trầm hương, với hoa lá và nhạc điệu. Chúng ta ca ngợi Chúa vì Người đã đến với chúng ta dưới hình dáng một hài nhi dễ mến, để nói với chúng ta, dạy chúng ta phải sống thế nào, đến hy sinh mạng sống của Người để cho chúng ta được sự sống vĩnh cửu.

 

Ngày Chúa Giáng sinh ban đầu được lập lại nơi đây, trên bàn thờ này. Chính Chúa Giêsu đã sinh ra, bấy giờ đây sẽ tái sinh ở chốn này. Hãy ca tụng Chúa với các thiên thần. Vinh danh Đấng vô cùng cao cả đã tự hạ rốt hèn. 

 

------------------------------------------

 

Những sách cha Mễn đã in (87 cuốn):

 

như lương thực tinh thần hổ trợ bà con qua lại thời Covid,
từ khi nhà thờ không có thánh lễ, không có giảng dạy, không có các lớp Giáo Lý và không có các sinh hoạt đoàn thể....

https://linhmucmen.com/news/kho-sach-quy/nhung-sach-da-in-1654.html

*** Bạn muốn có những sách này, hãy chép đường link trên của sách vào thẻ nhớ, hoặc vào USB, đưa cho tiệm Photo, họ sẽ in, chỉ khoảng 15 phút là xong, vì mỗi sách đều đã có sẵn bìa, và mỗi sách không quá 100 trang A5. (Chỉ khoảng 24 tờ A4).

*** Bạn cũng có thể đọc trực tiếp các bài này, trên Điện Thoại cảm ứng, khi bạn dùng ngón tay chạm vào đường link trên: https://... 

*** Và  bạn cũng có thể chép đường link trên: https://...  gởi qua Zalo, Messenger, Line, Viber, Tango, TikTok,... làm quà tặng cho các bạn bè, nhiều người được đọc, sẽ có nhiều lợi ích.

 

---------------------------------

 

I. - Chuyện minh họa Tin Mừng Chúa Nhật: (13 cuốn)

https://linhmucmen.com/news/chuyen-minh-hoa-tin-mung/
1. Chuyện người đàn ông say mê quảng cáo - sách 1
2. Chuyện linh mục vào Thiên Đàng - Sách 2
3. Chuyện con két đi khám bác sĩ – Sách 3
4. Chuyện gà mái ấp trứng đại bàng – Sách 4
5. Chuyện “Số Con Rệp” – Sách 5
6. Thiên Chúa là Đấng hay quên  – Sách 6
7. Chuyện một người con chọn mẹ để sinh ra – Sách 7
8. Family, một định nghĩa hay về gia đình – Sách 8
9. Hộ Chiếu Nước Trời – Sách 9
10. Chuyện bán linh hồn cho ma quỉ, để đổi lấy danh tiếng – Sách 10
11. Những câu chuyện biến hình – Sách 11
12. Yêu thương không phải là chiếm đoạt, nhưng là trao ban – Sách 12

13. Những chuyện: Sức mạnh của tình thương – Sách 13

 

II. – Chuyện đời chuyện đạo: (24 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-doi-chuyen-dao/
1. Hãy vui hưởng hạnh phúc ta đang có - sách 1
2. Chuyện đời to và nhỏ - Sách 2
3. Những lời khuyên hữu ích - Sách 3
4. Những chuyện nhỏ mang nhiều ý nghĩa cho cuộc sống - Sách 4
5. Một phép lạ từ một tình thương cho đi - Sách 5
6. Phút thánh hoá gia đình đầu năm mới - Sách 6
7. Năm Mão nói chuyện con mèo - Sách 7
8. Một kiểu sống lại không vui - Sách 8
9. Chuyện con gà trống - Sách 9
10. Kinh cầu các thánh chẳng hề  được phong - Sách 10
11. Làm phúc giúp các linh hồn nơi Luyện Ngục - Sách 11
12. Các linh hồn nơi Luyện Ngục sẽ không quên sự giúp đỡ của chúng ta - Sách 12
13. Tình Mẫu Tử trong dịp Lễ Giáng Sinh - Sách 13
14. Năm Thìn, nói chuyện con rồng - Sách 14
15. Nhật ký của một linh hồn sau khi chết - Sách 15
16. Những lời tâm sự của người cận kề cái chết - Sách 16
17. Tội nhân trở thành thánh nhân - Sách 17
18. Chuyện ông Panov gặp Chúa đêm Giáng Sinh - Sách 18
19. Cách hành xử của Chúa luôn là bất ngờ - Sách 19
20. Năm Thánh - Ất Tỵ 2025 - Sách 20
21. Đừng hành động đang khi nóng giận - Sách 21
22. Chuyện chưa từng kể về Giáo Hoàng Lê-ô XIV - Sách 22

23. Lòng Thương Xót Chúa đã thắng - Sách 23

24. Phép lạ đã được viết nên từ một lời từ chối - Sách 24

 

III. - Chuyện kể cho các gia đình: (35 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-ke-gia-dinh/
1. Chuyện người thu thuế và Người biệt phái - sách 1
2. Đừng bỏ cuộc - sách 2
3. Bí quyết hạnh phúc - Sách 3
4. Một chuyện không ngờ thê thảm - Sách 4
5. Đi tìm một bảo hiểm -Sách 5
6. Một mẫu người sống đạo đáng khâm phục - sách 6
7. Yêu là yêu cho đến cùng - Sách 7
8. Những chuyện lạ có thật – Sách 8
9. Một niềm vui bất ngờ - Sách 9
10. Chuyện mẹ ghẻ con chồng - Sách 10
11. Chứng nhân giữa đời thường - Sách 11
12. Cho Chúa mượn thuyền - Sách 12
13. Nét đẹp của lòng thương xót - Sách 13
14. Chuyện tôi vào đạo Chúa - Sách 14
15. Chuyện cô giáo năm xưa - Sách 15
16. Kinh nghiệm của những người trở về “Từ Cõi Chết” nói với ta - Sách 16
17. Quyển nhật ký của mẹ - Sách 17
18. Phép lạ từ việc sùng kính Đức Mẹ - Sách 18
19. Ngày của bố - Sách 19
20. Chuyện 2 cha con hoang đàng - Sách 20
21. Chuyện Kẻ “tự bắc thang lên trời” - Sách 21
22. Chuyện Quỷ Ám là có thật - Sách 22
23. Chuyện bán linh hồn cho ma quỉ - Sách 23
24. Thảm họa: Một Thiên Đường không có Thiên Chúa – Sách 24
25. Nếu Thiên Chúa không có, thì tại sao lại chống Ngài ? – Sách 25
26. Ông già Noel không mặc đồ đỏ – Sách 26
27. Tình yêu có sức mạnh biến đổi – Sách 27
28. Chuyện một mối tình thật đẹp – Sách 28
29. Một kinh ngiệm truyền giáo thật dễ thương – Sách 29
30. Tháng các đẳng linh hồn và những ước nguyện – Sách 30
31. Các Con đã Bỏ Quên Mẹ trong Luyện Ngục – Sách 31
32. Đừng lân la, đùa giỡn hay thách thức ma quỉ – Sách 32
33. Một đức tin đích thực, cần phải được tôi luyện trong đau khổ – Sách 33
34. Phép lạ của lòng quảng đại – Sách 34
35. Sức mạnh của lòng yêu mến Chúa thúc bách tôi – Sách 35

 

IV.- Chuyện lẽ sống: (8 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-le-song/
1. Chuyện Chúa Giêsu đi xem bóng đá - Sách 1
2. Tình yêu là sức mạnh vạn năng - Sách 2
3. Ðời là một chuyến đi - Sách 3
4. Căn hầm bí mật - Sách 4
5. Thất bại, là khởi điểm của thành công - sách 5
6. Lịch sử ngày của mẹ - Sách 6
7. Chuyện tình Romeo và Juliet - Sách 7
8. Một cách trả thù độc đáo - Sách 8

 

V. – Kho sách quý: (7 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/kho-sach-quy/
1. Bí mật đầy kinh ngạc về các linh hồn trong luyện ngục – Sách 1
2. Lần hạt mân côi – Thánh Josémaria Escrivá– Sách 2
3. Tiếng nói từ luyện ngục – Sách 3
4. Sách tháng các linh hồn – Sách 4
5. 300 Chuyện ngắn giúp minh họa lời Chúa (Phần I) – Sách 5
6. 300 Chuyện ngắn giúp minh họa lời Chúa (Phần II)– Sách 6
7. Tinh hoa và những lời nói sau hết của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu (Phần I)– Sách 7.

 

---------------------------------

 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây