Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1301-1350

Thứ bảy - 23/03/2019 22:28
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1301-1350
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1301-1350
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1301-1350
Bùi-Tuần 1301: TĨNH TÂM MỘT CÁCH KHÁC 22-11-2014. 2
Bùi-Tuần 1302: NHỮNG BẤT ỔN  VÀ NHỮNG BẤT NGỜ  27-11-2014. 5
Bùi-Tuần 1303: NGOẠI KIỀU và LỮ KHÁCH 08-12-2014. 7
Bùi-Tuần 1304: Lời Chúa trong một chuyến đi 10
Bùi-Tuần 1305: TỪ CẢM NGHĨ ĐẾN LỜI CHÚC DỊP NOEL 11-12-2014. 15
Bùi-Tuần 1306: NIỀM VUI CỦA TÔI HÔM NAY 27-12-2014. 18
Bùi-Tuần 1307: Ở biên giới sự chết tôi đang thấy gì? 04-10-2014. 21
Bùi-Tuần 1308: NỖI LO LỚN NHẤT TRONG ĐỜI TÔI 01-01-2015. 24
Bùi-Tuần 1309: LO CỨU  NHỮNG CON NGƯỜI 06-01-2015. 27
Bùi-Tuần 1310: GẶP GỠ CHÚA GIÊSU 12-01-2015. 30
Bùi-Tuần 1311: HẰNG NGÀY TÔI GẶP CHÚA GIÊSU 15-01-2015. 33
Bùi-Tuần 1312: HỌC VỚI CHÚA GIÊSU HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG.. 37
Bùi-Tuần 1313: MÙA CHAY CỦA TÔI 29-01-2015. 40
Bùi-Tuần 1314: Điều mong ước nhất những ngày tết 09-01-2015. 43
Bùi-Tuần 1315: CHÚA  ĐÀO TẠO TÔI LÚC NÀY 31-01-2015. 47
Bùi-Tuần 1316: Nhân tháng kính thánh Giuse XIN LÀ CON CÁI ĐÍCH THỰC.. 50
Bùi-Tuần 1317: ĐAU KHỔ ĐÃ VÀ ĐANG ĐƯỢC BÁO TRƯỚC.. 53
Bùi-Tuần 1318: TỪ VỰC SÂU CON KÊU LÊN CHÚA 13-03-2015. 57
Bùi-Tuần 1319: XÓT THƯƠNG CHÚA GIÊSU và XÓT THƯƠNG.. 60
Bùi-Tuần 1320: CHÚA PHỤC SINH ĐẾN VỚI TÔI 28-03-2015. 63
Bùi-Tuần 1321: CHUYỆN CỦA HẠT LÚA GIEO VÀO LÒNG ĐẤT.. 67
Bùi-Tuần 1322: THAO THỨC VÀ TỈNH THỨC 05-04-2015. 70
Bùi-Tuần 1323: XIN CẢM TẠ XIN THA THỨ và XIN CẦU NGUYỆN.. 73
Bùi-Tuần 1324: Tôi trở thành Giám Mục của giai đoạn mới 30-04-2015. 76
Bùi-Tuần 1325: NHỜ MẸ DÂNG HOA LÊN CHÚA 03-05-2015. 79
Bùi-Tuần 1326: NHỜ MẸ TÔI DÂNG LÊN CHÚA BÔNG HOA “TRỞ VỀ”. 82
Bùi-Tuần 1327: MẸ DẠY TÔI  HÃY LÀ BÔNG HOA “TỈNH THỨC”. 85
Bùi-Tuần 1328: NHỜ MẸ, TÔI DÂNG LÊN CHÚA BÔNG HOA.. 89
Bùi-Tuần 1329: TIẾNG GỌI CỦA THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU: “TA KHÁT”. 93
Bùi-Tuần 1330: Đem tình yêu thánh tâm Chúa Giêsu ĐẾN CHO.. 96
Bùi-Tuần 1331: Bài ca  TÌNH YÊU THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU.. 99
Bùi-Tuần 1332: CÂY THÁNH GIÁ NHỎ 10-06-2015. 102
Bùi-Tuần 1333: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG GIÁO VIỆT NAM... 105
Bùi-Tuần 1334: ĐÀO TẠO KẺ ĐƯỢC CHỌN VÀ SAI ĐI 24-06-2015. 107
Bùi-Tuần 1335: Giới Thiệu Chúa Cứu Thế, GÁNH TỘI VÀ ĐỀN TỘI 110
Bùi-Tuần 1336: NHỜ ĐỨC MẸ  MỚI THÀNH GIOAN BAOTIXITA.. 112
Bùi-Tuần 1337: MỘT CHÚT TÂM SỰ VỀ ĐỜI LINH MỤC CỦA TÔI 114
Bùi-Tuần 1338: Chút kinh nghiệm về LOAN BÁO TIN MỪNG 07-07-2015. 115
Bùi-Tuần 1339: XIN ĐỪNG CHỦ QUAN 10-07-2015. 119
Bùi-Tuần 1340: HÃY TIẾT ĐỘ VÀ TỈNH THỨC 01-08-2015. 122
Bùi-Tuần 1341: Bước theo Mẹ trên đường lên trời 04-08-2015. 125
Bùi-Tuần 1342: ĐẠI HỌA 04-08-2015. 128
Bùi-Tuần 1343: TÔI THẤY CHÚA GIÊSU VÁC THÁNH GIÁ.. 132
Bùi-Tuần 1344: VUI MỪNG ĐƯỢC HỌC YÊU THƯƠNG 22-08-2015. 135
Bùi-Tuần 1345: Tiếng vọng từ những nội tâm 27-08-2015. 138
Bùi-Tuần 1346: SỰ THỰC CỦA TÔI HÔM NAY 04-09-2015. 142
Bùi-Tuần 1347: Bên Mẹ Maria tôi gặp gỡ Chúa Giêsu 08-09-2015. 146
Bùi-Tuần 1348: Nguy cơ cực đoan đang đến gần 14-09-2015. 149
Bùi-Tuần 1349: Cần thấy trước 19-09-2015. 152
Bùi-Tuần 1350: Hang đá Bêlem và những dấu chỉ 155

Phân cách bài ĐC Bùi Tuần

Bùi-Tuần 1301: TĨNH TÂM MỘT CÁCH KHÁC 22-11-2014

+ GB. Bùi Tuần

Mới rồi, dịp Linh mục đoàn Long Xuyên tĩnh tâm năm, tôi cảm thấy trong tôi nhiều nỗi đau: 22-11-2014 Bùi-Tuần 1301

1. Mới rồi, dịp Linh mục đoàn Long Xuyên tĩnh tâm năm, tôi cảm thấy trong tôi nhiều nỗi đau, nỗi sợ về nhiều phương diện
2. Được thấy Linh mục đoàn tăng nhanh về số lượng, đáng lẽ tôi phải mừng. Nhưng tự nhiên tôi sợ. Không phải tôi sợ cảnh ồn ào do đông người. Mà tôi sợ cảnh ồn ào do đông quyền chức. Đang khi đạo đức xuống dốc, sự kiện tăng nhanh tăng mạnh về số linh mục đời mới, có phải là một cơ may cho Hội Thánh, hay là một nguy cơ? Nỗi sợ của tôi có phải là một lỗi lầm không” Tôi sợ.
3. Được nghe những tiếng hát to, những cầu kinh lớn tiếng, đáng lý tôi phải phấn khởi. Nhưng tự nhiện tôi bị căng thẳng, do quá khao khát một bầu khí thiêng liêng giàu tĩnh lặng. Phản ứng của tôi có chính đáng không? Tôi sợ.
4. Được chia sẻ về những thành tích oai hùng, những thành công to lớn, những công trình lẫy lừng, đáng lý tôi phải phấn khởi. Nhưng tự nhiên tôi cảm thấy mệt mỏi, xa vắng. Bởi vì tôi tự thấy mình nghèo nàn, bé mọn, như thuộc về một thế giới bần cùng, không đủ khả năng nếm được hương vị của thế giới mới đang lên. Cảm nghĩ của tôi có đúng không? Tôi sợ.
5. Được thông báo về chuyển biến sẽ dẫn đến một tương lai huy hoàng cho linh mục, như linh mục sẽ là đèn sáng soi khắp trần gian, linh mục đang tiến dâng lên Chúa xác hồn trắng tinh, như ánh trăng rạng ngời, đáng lý tôi phải tự hào. Nhưng tự nhiên tôi sợ và xấu hổ, bởi vì tôi biết mình quá tội lỗi. Đó có phải là một mặc cảm xấu không? Tôi sợ.
6. Với những tâm trạng như trên, tôi thấy mình như đang vỡ vụn, như đang tan nát. Tôi xin Chúa thương xót tôi.
7. Chúa thương tôi, Người đưa tâm hồn tôi đến hang đá Bêlem. Tôi gặp được Chúa Hài Nhi. Chúa Giêsu Hài Đồng cùng với Đức Mẹ Maria và thánh Giuse đều rất nghèo. Các Đấng đón tôi ân cần, thân mật. Tôi chỉ có một tấm lòng tan nát dâng lên Chúa Hài Đồng. Tôi nghèo hèn đến như thế, thế mà Đức Mẹ và thánh Giuse đã rất thương tôi. Nhất là Chúa Hài Đồng đã tỏ ra rất gần gũi với tôi.
8. Tôi cảm được một cái gì đó rất linh thiêng toát ra từ thái độ yêu thương khiêm nhường và khổ chế nơi Chúa Cứu thế.
Chính thái độ yêu thương khiêm nhường, khổ chế của Chúa đã băng bó các vết thương lòng tôi, đã chữa lành các tội lỗi trong tôi, đã đem lại cho tôi sự bình an và hạnh phúc.
9. Chúa cho tôi thấy cuộc đời con người là một cuộc chiến giữa thiện và ác. Để là con người của sự thiện, tôi luôn phải tựa nương vào Chúa. Tựa nương vào Chúa thì phải khiêm nhường và yêu thương, khổ chế. Trước hết ở việc sám hối, cầu nguyện. Những phản ứng của tôi trước thời cuộc cũng phải rất khiêm nhường và yêu thương, khổ chế, theo gương Hài Nhi Giêsu tại hang đá Bêlem.
10. Với khiêm nhường và yêu thương, khổ chế, Chúa Giêsu đã dâng chính mình làm của lễ đền tội cho nhân loại, cứu những người tội lỗi khỏi rơi vào án phạt đời đời.
Tôi cũng được Chúa kêu gọi hãy là của lễ như vậy.
Khiêm nhường và yêu thương, khổ chế phải hiện diện đều khắp nơi của lễ. Không phải chỉ ở những việc thuần túy tôn giáo như rao giảng Lời Chúa, tham dự thanh lễ, mà còn phải hiện diện ở mọi việc thuộc về thuần túy nhân bản, như trong mọi hình thức lãnh nhận và cho đi.
11. Lãnh nhận với khiêm nhường và yêu thương, khổ chế được thể hiện ở sự biết ơn, tế nhị và hy sinh.
Cho đi với khiêm nhường và yêu thương, khổ chế được thể hiện bằng sự nhã nhặn, biết ơn những người nghèo túng, bệnh tật, cô đơn mà mình được phục vụ.
Khiêm nhường và yêu thương khổ chế như thế đòi hỏi một cái tâm tỉnh thức và rất chân thành.
12. Cái tâm chân thành và tỉnh thức vừa chú trọng đến cái lý vừa chú trọng đến cái tình. Chúa Giêsu đã làm như vậy. Tôi cố gắng sống như vậy. Sống như Chúa Giêsu yêu thương và khiêm nhường khổ chế là  phải phấn đấu rất nhiều. Để biết từ bỏ mình, biết sống hy sinh, biết sống trong kỷ luật, biết sống kính trọng người khác và đặt ích chung lên trên tư lợi.
13. Trong tiếp xúc, nhiều người tự nhiên biết phân biệt được ai có một vẻ đẹp thiêng liêng, ai không có. Người sống từ bỏ mình, khiêm nhường yêu thương có nét đẹp thiêng liêng. Người sống tự do, hưởng thụ, thiếu khiêm nhường yêu thương không có nét đẹp thiêng liêng. Nếu người ta không tìm được nơi tôi vẻ đẹp thiêng liêng, thì sao?
Con người Việt Nam hôm nay  rất khát mong gặp được những nét đẹp thiêng liêng  ấy nơi người linh mục, tu sĩ, và nơi những môi trường nhà tu.
14. Lịch sử đang biến chuyển rất mau theo chiều hướng phức tạp. Tình hình không những có những phức tạp lớn, mà cũng có những nguy hiểm trầm trọng.
Trước viễn cảnh đó, các môn đệ Chúa phải dứt khoát  thuộc trọn về Chúa bằng đời sống khiêm nhường và yêu thương, khổ chế. Cho dù phải phấn đấu cam go, hãy dấn thân theo Chúa. Tôi thấy Chúa luôn là hạnh phúc của tôi và của chúng ta.
15. Trên đây là vắn tắt những gì Chúa đã thương ban cho tôi, nhân dịp tĩnh tâm Linh mục đoàn Long Xuyên được tổ chức giữa tháng 11-2014 mới rồi.
Linh mục đoàn đã góp phần không nhỏ vào cuộc tĩnh tâm của riêng tôi. Xin tận tình cảm ơn. Xin anh em thương đến tôi.
Lạy Chúa, con xin hết lòng cảm tạ Chúa. Dù con già yếu bệnh nạn, con vẫn được tĩnh tâm, Chúa đã đến với con. Chúa cho con nhìn thấy Chúa bằng đức tin. Chúa dẫn con đi. Chúa chữa lành con. Chúa an ủi dạy dỗ con. Chúa cho con được trở thành của lễ góp phần vào công trình cứu độ của Chúa.
Lạy Mẹ Maria, con xin Mẹ dâng con cho Chúa. Lúc này, con cảm thấy xác hồn con đầy đau đớn. Còn về yêu thương, khiêm nhường, từ bỏ, thì thú thực là con không cảm thấy gì trong con. Nhưng con tin Mẹ đang bù đắp cho con bằng chính khiêm nhường của Mẹ, yêu thương của Mẹ, từ bỏ của Mẹ. Nhờ vậy, con sẽ là của lễ đẹp lòng Chúa. Con nằm trong tình Mẹ, Mẹ của con.
                               Long  Xuyên 22.11.2014

 

Bùi-Tuần 1302: NHỮNG BẤT ỔN  VÀ NHỮNG BẤT NGỜ  27-11-2014

GB. Bùi Tuần
 

Từ ít lâu nay, mỗi tối, khi lên giường ngủ, tôi lại tự nghĩ: không biết sáng mai mình còn thức dậy: 27 -11-2014 Bùi-Tuần 1302

1. Từ ít lâu nay, mỗi tối, khi lên giường ngủ, tôi lại tự nghĩ: không biết sáng mai mình còn thức dậy không? Tôi đã nghĩ như vậy, là vì sức khỏe của tôi rất bất ổn, cho nên mọi thứ bất ngờ thuộc về sự chết đều có thể xảy ra cho tôi.Tôi không bi quan, nhưng tôi chuẩn bị cho những bất ngờ một cách bĩnh tĩnh bằng đức tin.
Kinh nghiệm sống động trên đây của bản thân giúp tôi nhìn lịch sử một cách tỉnh thức hơn.
2. Ở đâu,cuộc sống con người có những bất ổn nặng nề kéo dài về nhiều mặt, do đó lòng người cũng bất an dưới nhiều hình thức và nhiều mức độ, thì những bất ngờ sẽ xảy ra. Thường những bất ngờ đó sẽ gây nên tang tóc. Đó là về mặt xã hội.
3. Ở đâu, cuộc sống có vẻ ổn định theo cái nhìn của nhiều người, nhưng trước mặt Chúa lại là rất bất ổn, do tội lỗi lộng hành, thì những bất ngờ sẽ xảy ra. Những bất ngờ đó thường là những sụp đổ, những tàn phá, như những hình phạt, gây nên đau đớn kinh hoàng. Chúa đã báo trước, nhưng người ta không tin. Nên kết quả sẽ rất thảm hại.
 
  1. Ở đây, suy nghĩ của tôi xin được giới hạn trong lĩnh vực đức tin.
Về những hình phạt khủng khiếp sẽ xảy ra bất ngờ ngay tại đời này cho những người theo đạo Chúa, thì tôi thường suy gẫm hai đoạn Phúc âm sau đây.
5. Đoạn Phúc âm thứ nhất là của Thánh Luca:
Khi đến gần Giêrusalem và trông thấy thành, Ðức Giêsu khóc thương mà nói: "Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! "Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được.  Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm".(Lc 19, 41-44)
6. Đoạn Phúc âm thứ hai là của Thánh Matthêu:
"Giêrusalem, Giêrusalem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Ðã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu. (38) Thì này, nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang mặc cho các ngươi. (39) Thật vậy, Ta nói cho các ngươi hay, từ nay các ngươi sẽ không thấy Ta nữa, cho đến khi các ngươi nói: Chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Ðức Chúa!"(Mt 23, 37-39)
7. Trong cả hai đoạn Phúc âm trên đây, Chúa Giêsu đều nói đến hình phạt nặng nề sẽ xảy ra cho Giêrusalem ngay ở đời này, vì tội thành này đã phạm tới các tiên tri, phạm đến chính Chúa Giêsu và không biết đón nhận ơn Chúa. - Nghĩa là những bất ổn do tội lỗi trước mặt Chúa đã xảy ra trước. Sau đó sẽ là những hình phạt đổ xuống bất ngờ một cách khủng khiếp.
 
  1. Những gì Chúa Giêsu đã nói về thành Giêrusalem đều đã xảy ra. Từ đó, tôi nghĩ về Hội Thánh tại Việt Nam nói chung và từng giáo phận, giáo xứ tại Việt Nam nói riêng. - Tôi thấy tình hình bất ổn do tội lỗi đang là một sự thực hiển nhiên ở nhiều nơi. Cũng có những ổn định, nhưng là ổn định giả tạo. Có những trấn an: “ mọi sự đều tốt đẹp, không sao đâu”. Nhưng đó là những trấn an ru ngủ trên những thành công giả tạo, mà trong Phúc âm, Chúa đã khẳng định: “chúng bay đã được thưởng công rồi” (Mt 6, 2.5.16), hoặc: “ Ta không biết các ngươi” (Ga 7,23).
9. Nếu phải nêu lên những gì đang gây nên bất ổn nguy hiểm trong Hội Thánh, làm nên tội lỗi, thì tôi xin được nêu lên hai ý kiến sau đây.
10. Ý kiến thứ nhất là của Đức Hồng Y Roger Etchegary. Theo ngài, thì có ba bất ổn lớn hiện nay, đó là ba ưu tiên xấu sau đây trong Hội Thánh:
Ham tiền bạc,
Ham thành công,
Ham thỏa hiệp với các vị thần có quyền lực và giàu có.
                          (Xem L’homme, à quel prix. 2012)

11. Ý kiến thứ hai là của Đức Cha Michel Dubost. Ngài dựa trên Công đồng Vatican II. Theo ngài, thì có hai bất ổn rất lớn trong Hội Thánh hiện nay.
Một là thiếu thiện chí và thiếu khả năng chia sẻ trong tình liên đới những gì đang xảy ra trong lòng những người nghèo khổ, cùng với niềm vui và hy vọng của họ.
Hai là thiếu sự cố gắng đổi mới trái tim con người là nơi không những xảy ra những buồn vui và hy vọng, mà cũng có những dấu vết của tiếng Chúa gọi. (Xem Une foi qui agit. 2013).
12. Chỉ dựa vào những ý kiến có thế giá trên đây mà thôi, để nhìn vào Hội Thánh Việt Nam hiện giờ, tôi cũng thấy tình hình đó đây rõ ràng là bất ổn. Những bất ổn đó đang làm biến chất đạo Chúa. Biến chất càng trở thành trầm trọng, khi thấy các phong trào xấu đang mạnh lên, tràn vào Hội Thánh, như phong trào tục hóa, phong trào hưởng thụ, phong trào tự do quá trớn, phong trào phản kháng cực đoan, vv.
Vậy, nếu những bất ổn hiện nay trong Hội Thánh Việt Nam đang trở nên nặng nề và nguy hiểm, không dừng lại được, thì sẽ có những bất ngờ xảy ra. Tôi nghĩ tới những biến cố đớn đau.
13. Hình như biến cố đớn đau đã bát đầu rồi, đó là sự cứng lòng và mù quáng đang xảy ra nơi nhiều người, kể cả nơi một số người có trách nhiệm trong Hội Thánh Việt Nam lúc này. Đó chỉ là khởi đầu.Vì thế, mà tôi lo sợ.
14. Tuy tôi lo sợ, nhưng vẫn tin tưởng vững vàng ở Chúa. Chúa hứa: “Cha sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Tôi xin làm chứng về điều hứa trên đây của Chúa Giêsu. Tôi thực sự được Chúa ở với tôi mọi ngày, mọi giờ, mọi phút. Tôi được Chúa chia sẻ, được Chúa cứu, được Chúa yêu thương, được Chúa đỡ nâng dắt dìu trong mọi hoàn cảnh. Tôi xin hết lòng cảm tạ Chúa. Cảm tạ của tôi ở trong sự khiêm nhường dấn thân của Đức Mẹ. Cảm tạ của tôi ở trong sự tỉnh thức sâu thẳm của Thánh Giuse.
Lạy Chúa, bất ngờ lớn nhất đối với con là tình yêu thương xót Chúa.
                                     Long Xuyên 27.11.2014

 

Bùi-Tuần 1303: NGOẠI KIỀU và LỮ KHÁCH 08-12-2014

  + GB. Bùi Tuần
 

Tôi ở Long Xuyên, trong Tòa Giám Mục, đã hơn 40 năm rồi. Nhưng khi về già, nhiều lúc tôi : 08-12-2014 Bùi-Tuần 1303

1.
Tôi ở Long Xuyên, trong Tòa Giám Mục, đã hơn 40 năm rồi. Nhưng khi về già, nhiều lúc tôi cảm thấy rất thấm thía một lời Kinh Thánh nói về thân phận con người sống đức tin. Lời đó là: “Tôi xưng mình là ngoại kiều và là lữ khách trên mặt đất này” (Dt 11,13).
2.
Tôi cảm thấy mình là ngoại kiều và là lữ khách trên mặt đất. Vì tôi, cũng như ông Apraham, vâng lời Chúa mà ra đi, đến một nơi sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, đó là thiên đàng. Nhưng hiện giờ tôi chưa tới đó. Nên tôi sống trên mặt đất này, nhìn về đó, như một ngoại kiều và lữ khách trên đường còn dài.
Với kiểu nói như trên, tôi xác tín rằng: Theo đức tin, một đàng tôi phải dấn thân cho Quê Hương tôi trên trái đất này, nhưng một đàng, tôi vẫn phải hướng về Quê Hương trên trời là đích điểm sau cùng của đời tôi. Vì thế, tôi phải biết sống trên trái đất này, như một ngoại kiều và như một lữ khách hướng về Quê Hương Chúa hứa.
3.
Ngoài ra, tôi còn cảm thấy mình là ngoại kiều và là lữ khách theo một phương diện khác. Đó là, mặc dầu tôi chỉ ở một chỗ qua bằng ấy năm, nhưng cuộc sống luôn chuyển biến. Nhà cửa thay đổi, nhân sự thay đổi, các liên hệ thay đổi, thời tiết thay đổi. Trong dòng đời có vô vàn thay đổi, còn tôi thì muốn ổn định, nên có lúc tôi không tránh được cảm nghĩ mình là ngoại kiều và là lữ khách ngay tại chính nơi tôi đang sống.
Cảm nghĩ đó sinh ra trong tôi một sự bất an nào đó, một sự cô đơn nào đó.
4.
Từ những kinh nghiệm riêng tư vừa kể, tôi nghĩ tới tương lai của giáo phận nói chung và của từng cộng đoàn nói riêng.
Tình hình cho phép tôi nghĩ rằng: Nhiều bất ổn sẽ xảy ra khắp nơi. Có chỗ hiện giờ bầu khí đạo coi như sốt sắng, nhưng rồi sẽ ra nguội lạnh. Có chỗ hiện giờ số người công giáo là đa số nhiệt tình, nhưng rồi ở đó đa số sẽ lại là người ngoài công giáo. Rất có thể chính nơi thờ phượng hôm nay sẽ có ngày không còn là nơi thờ phượng nữa, hoặc sẽ trở thành hoang vu.
5.
Khi những bất ổn như thế xảy ra, mỗi cộng đoàn công giáo và từng người công giáo sẽ cảm thấy mình như là ngoại kiều và như là lữ khách ngay trên chỗ ở của mình.
6.
Lúc đó, phải sống đức tin thế nào đây? Thưa, phải cởi mở.
Thiên Chúa không phải là Đấng chúng ta có thể đóng kín trong một giáo lý, trong một cơ chế, trong một nhà thờ. Nhưng Thiên Chúa là Đấng chúng ta có thể gặp Người, lúc và nơi mà chúng ta không chờ đợi. Người đến một cách bất ngờ. Người là Đấng tạo dựng những gì mà con người không hề dám hy vọng.
7.
Tôi nghĩ là: Xưa Do Thái đã xây tháp Babel, biểu tượng cho ý chí muốn ổn định tại nơi đó. Nhưng Chúa đã phá ý định ấy. Nay, nhiều khi chúng ta cũng bắt chước họ, xây dựng những công trình và cơ chế có tính ổn định, để sống khép kín đức tin trong đó. Nhưng rồi Chúa lại đến phá vỡ những tháp Babel ấy.
8.
Chúa Giêsu thành Nagiarét xưa đã không đóng kín mình trong một ngôi nhà. Người nói: “Con chồn có hang, chim trời có tổ. Nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58). Các môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu cũng đã sống như vậy.
9.
Thánh Phêrô khuyên giáo dân: “Anh em thân mến, anh em là khách lạ và là lữ khách, tôi khuyên anh em hãy tránh xa những đam mê xác thịt, vốn gây chiến với linh hồn. Anh em hãy ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, để ngay cả khi bị người ta vu khống, coi anh em như là người gian ác, người ta cũng thấy các việc anh em làm mà tôn vinh Thiên Chúa, trong ngày Người đến viếng thăm” (1 Pr 1,11-12).
Bằng những lời trên đây, thánh Phêrô muốn chúng ta cứ hãy sống giữa những người không công giáo, như những chứng nhân về đời sống đạo đức, nhất là về nhân bản.
10.
Hiện giờ, Chúa Thánh Thần đang mở ra một kỷ nguyên mới về truyền giáo, đó là kẻ nghèo loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo. Thánh Phanxicô Assisi đã làm như thế. Đức Thánh Cha Phanxicô cũng hô hào làm như vậy. Nghĩa là: Người truyền giáo hãy sống khó nghèo, ưu tiên lo cho những người nghèo.
Nếu thế, thì chúng ta nên nhìn tương lai với đôi mắt đức tin của người không quá lệ thuộc vào những ổn định của cơ chế, và thói quen, nhưng hãy luôn luôn là kẻ lên đường hướng về trung tâm là Chúa.
11.
Không ai trong chúng ta dám nói là mình không cần đến cơ chế tôn giáo. Nhưng chúng ta phải biết nhìn cơ chế mở ra về các biến cố, nhất là các biến cố bất ngờ. Chính Chúa là Đấng sẽ “làm nên mọi sự nên mới” (Kh 21,5).
Với những suy nghĩ trên đây, tôi bước sang Năm Mới, như một người lên đường, sẵn sàng cho những bất ngờ. Tôi sống như lữ khách và ngoại kiều hướng về Tương Lai Trời mới Đất mới do Chúa làm chủ.
Long Xuyên, ngày 8.12.2014.

 

Bùi-Tuần 1304: Lời Chúa trong một chuyến đi

Tôi mới đi Âu Châu, qua Ðức, Ý, Pháp. Từ ngày 10/09/1993 đến ngày 17/10/1993. Thời gian vội Bùi-Tuần 1304

Tôi mới đi Âu Châu, qua Ðức, Ý, Pháp. Từ ngày 10/09/1993 đến ngày 17/10/1993. Thời gian vội vã. Hình ảnh qua mau. Nhưng vẫn còn lại trong tôi vài kỷ niệm để nhớ để thương.
Tôi nhớ thương những gì là vẻ đẹp Lời Chúa mà tôi đã gặp. Những vẻ đẹp ấy đang biến đổi lòng tôi. Tôi xin chia sẻ.

 Một lời tạ ơn cảm động
Ðối với tôi, một lời tạ ơn của Ðức Kitô mà tôi đã cảm nghiệm được một cách sâu sắc nhất trong chuyến đi vừa qua, đó là “Lạy Cha, Con tạ ơn Cha đã giấu những mầu nhiệm Nước Trời cho những người thông thái, nhưng lại mạc khải cho những kẻ bé mọn" (Mt. 11,25).
Thực vậy, tôi đã gặp rất nhiều người bé mọn đang sống Tin Mừng Nước Trời. Họ bé mọn do thái độ tâm hồn đơn sơ khiêm tốn. Họ làm chứng đức tin trong đời thường. Thấy họ, tôi có cảm tưởng gặp được nụ cười của Ðức Kitô, một nụ cười trao tặng bình an và niềm trông cậy. Trao đổi với họ, tôi có cảm tưởng bắt gặp cái nhìn của Ðức Kitô, một cái nhìn thân thương đầy sức mạnh đổi mới tâm hồn.
Ðặc điểm của họ là luôn sống thân phận người con bé nhỏ đối với Cha trên trời, tuyệt đối tin vào tình yêu Cha, luôn sống theo mẫu gương duy nhất là Ðức Kitô.
Họ thuộc đủ mọi thành phần. Có những người âm thầm như thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu. Có những người khó nghèo như thánh Phanxicô Assisi. Có những người ẩn mình như cha Charles Foucauld. Có những người đơn sơ như Ðức Thánh Cha Gioan XXIII.
Một hôm, tại Ðức, tôi đang trò chuyện giữa đám đông, thì một phụ nữ tới chào tôi. Chỉ sau một phút, chúng tôi đã vào đề “phong trào canh tân cầu nguyện”. Tôi hỏi cô: "Nghe như hoàng hậu Fabiola cũng thuộc phong trào đó, phải không?" Cô thưa: "Ðúng. Hoàng gia hay tới sinh hoạt trong nhóm của cháu."
Ba ngày sau, tại Ý, tôi gặp lại một ông bạn cũ người Ðức. Trong cuộc đàm luận về dung mạo Hội Thánh hôm nay, ông cho biết: Cách đây hai năm, ông đi tĩnh tâm chung với một nhóm 10 người trong một tu viện trên núi. Qua trò chuyện, ông phát giác ra một người trong nhóm chính là vua Baudouin, hoàng đế vương quốc Bỉ. Hai người trở thành bạn thân. Ông đã được nghe nhà vua chia sẻ những kinh nghiệm về đức tin trong đời sống gia đình, văn hoá và xã hội.
Trong thế giới Tây phương hôm nay đang bị tục hoá, tôi vẫn nhìn thấy vô số những đốm sáng Tin Mừng qua các tâm hồn phúc âm như thế.
Có lúc tôi tưởng rằng giữa nền văn minh đa dạng hôm nay và đức tin truyền thống có một vực thẳm phân cách không sao nối liền được. Nhưng nay tôi đã gặp được những chiếc cầu bắc qua vực thẳm ấy. Ðó là những tâm hồn đơn sơ, sống say mê tinh thần của Ðức Kitô. Họ lắng nghe tiếng Chúa, dễ phân biệt được tiếng Chúa gọi họ, để rồi mau mắn đáp ứng bằng hành động cụ thể.
Gặp họ, tôi có cảm tưởng gặp được Tin Mừng. Và cùng với họ, tôi nghe Ðức Kitô hôm nay đang tiếp tục tạ ơn Chúa Cha vì đã mạc khải mầu nhiệm Nước Trời cho các tâm hồn nghèo khó, đơn sơ khiêm tốn.

 Một lời gọi tha thiết xót xa
Ðức Kitô, mà tôi gặp được trên chuyến đi này, cũng còn là Ðức Kitô trong vườn Cây Dầu đêm xưa, thứ năm tuần thánh. Ðêm đó, Ngài lo âu khắc khoải cho phần rỗi các linh hồn. Ngài cầu nguyện với trái tim ngột ngạt mùi cay đắng hãi hùng của tội lỗi nhân loại. Trong cô đơn, Ngài bước tới các môn đệ thân tín nhất, và hỏi họ: “Các con ngủ sao?" (Mc 14,37).
Lời gọi ấy nhỏ nhẹ, tha thiết nhưng xót xa vô vàn. Lời gọi ấy vẫn văng vẳng bên tai tôi trên chuyến đi vừa qua. Nghe lời gọi ấy tôi hiểu Ðức Kitô muốn nói gì với tôi và các môn đệ Ngài.
Các con ngủ sao, đang khi những lực lượng bắt Chúa đã tới gần. Tôi thấy lực lượng đó rất đông, rất mạnh. Ðó là những khuynh hướng xấu đang nổi dậy khắp nơi, như tự do hưởng thụ, tự do ích kỷ, tự do hận thù, tự do tục hoá, tự do tranh giành quyền lực.
Các con ngủ sao, đang khi bao người xung quanh bị đẩy vào cảnh cô đơn, thất vọng, giống như cảnh Ðức Kitô xưa lo buồn đến đổ mồ hôi máu ra, lo buồn, đến độ có thể chết được. Tôi thấy hiện nay những người đau khổ đã tăng hơn nhiều, nếu so với những chuyến đi trước đây của tôi.
Các con vẫn ngủ sao, đang khi Ðức Kitô hấp hối cầu nguyện cho nhân loại. Tôi thấy hiện tượng xa rời Hội Thánh vẫn tiếp tục tăng, hiện tượng nghi kỵ nhau đang nổi dậy mạnh.
Một buổi sáng nọ, tại Pháp, tôi đang từ sân chủng viện đi vào nhà, thì thấy một người ngoại quốc đàng xa vội vã bước tới. Tôi mở cửa, nhường cho người đó vào trước. Gặp tôi, người lạ niềm nở chào và hỏi: "Thưa, có phải đây là Ðức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần không?" Tôi thưa: "Phải, tại sao biết tôi?" Họ đáp: "Chiều qua, con thấy ảnh Cha treo ở một cộng đoàn tại Paris này, con đã cầu nguyện cho Cha, và mong ước gặp được Cha. Con thuộc Cộng Ðoàn Tám Mối Phúc. Con nghĩ rằng cuộc gặp gỡ này là do Chúa sắp xếp." Thế là chúng tôi bắt đầu trao đổi. Qua trao đổi, tôi thấy những cộng đoàn như thế này đúng là những người tỉnh thức và cầu nguyện. Họ đã nghe Lời Chúa tâm sự: Các con ngủ sao. Và họ đang quảng đại đáp lại.
Họ cầu nguyện riêng và cầu nguyện chung. Cầu nguyện rất nhiều trước Mình Thánh Chúa, và cầu nguyện rất nhiều bằng sự suy gẫm Lời Chúa.
Họ tỉnh thức, nên nắm bắt được những đòi hỏi khẩn cấp Phúc Âm của từng nơi và của từng thời điểm.
Họ tỉnh thức, nên có những sáng kiến riêng và biết học hỏi những sáng kiến đó đây, để đáp ứng kịp thời và đúng đắn những yêu cầu khẩn cấp của sứ mạng cứu rỗi các linh hồn trong thế giới hôm nay.
Một hôm, trên công trường thánh Phêrô, Vaticăng, tôi thấy rải rác những thanh niên thiếu nữ đang phân phát báo và trò truyện vui vẻ với khách du lịch. Gặp họ, tôi biết họ thuộc một phong trào mang tên “Những con đường của Chúa”. Tôi có cảm tưởng nhóm này không những cầu nguyện và tỉnh thức, mà còn đi đánh thức những tâm hồn còn ngủ. Họ đánh thức bằng nhiều cách hấp dẫn. Chính bản thân con người họ, với vẻ lịch sự vui tươi, cũng đã là một mùi hương thơm có sức đánh thức một số tâm hồn. Gặp họ, tôi có cảm tưởng gặp được hình ảnh Ðức Kitô hiền hoà, khiêm tốn, năng động, đi tìm gặp con người, để phục vụ họ.

 Một chọn lựa tiên tri
Ðức Kitô mà tôi gặp trong chuyến đi vừa qua cũng còn là Ðức Kitô xưa đã chọn các tông đồ: “Các con sẽ là những người đánh cá các tâm hồn" (Mt. 4,19).
Ðức Kitô là thợ mộc, nhưng không chọn những người thợ mộc. Ngài sống giữa miền đồng ruộng, nhưng không chọn những người làm nghề nông. Trái lại Ngài chọn một số người làm nghề cá. Vì những người này thường dễ có tâm thức mênh mông như biển cả, có một cái nhìn bát ngát tới tận chân trời.
Những người như thế cũng đang có mặt trên thế giới, mà tôi đã đi qua. Tại các nơi tôi nghỉ lại, tôi thường tìm đến các tiệm sách. Liếc qua các tên sách và mục lục các sách, tôi thấy được phần nào một loại tông đồ thời nay có tâm hồn rất bao la với những cái nhìn rất rộng rất xa.
Một buổi tối nọ, tôi dùng bữa tại một gia đình người Pháp. Bà chủ đã trình bày với tôi về ba chương trình truyền giáo có tầm cỡ quốc tế hướng về Việt Nam. Trên xe chở tôi về, bà đã tâm sự với tôi về những lo âu của bà trước tình hình Hội Thánh Việt Nam đang và sẽ phải đối phó với những thách thức mới của thời kinh tế xã hội mở ra.
Những người mang thao thức như vậy không phải là ít. Họ là những thầy thuốc, những giáo sư, những nhà kinh doanh. Họ thuộc loại người truyền giáo không biên giới. Tâm hồn họ như những người đánh cá trên biển khơi, không bị giới hạn vào những mặt bằng chật hẹp như thửa ruộng của nhà nông, cũng không bị đóng chặt vào những công trình khô cứng như chiếc ghế chiếc bàn của thợ mộc.
Nhìn vào các thứ lưới, mà loại tông đồ này đang dùng để đánh cá các tâm hồn, tôi thấy có thứ là những chân lý, có thứ là những tâm lý. Họ lợi dụng mọi cách, nhất là sách báo và giao thiệp để truyền giáo. Họ loan báo chân lý qua con người của họ hiền lành, khiêm nhường, bao dung, thương xót..
Loại tông đồ đánh cá thường đơn sơ như chim bồ câu, nhưng trong nghề, họ cũng thường khôn ngoan như con rắn. Họ biết cá nào thích mồi nào, cá nào đi ăn vào giờ nào, cá nào hay tập trung ở vùng nào. Họ rất bén nhạy với những thay đổi của biển khơi và thời tiết. Nếu họ không khôn ngoan như thế, để biết linh động, thì không những không bắt được cá, mà còn thiệt hại cả đến ghe thuyền, và chính bản thân.
Tại Ðức, tôi thấy nhiều con đường mang tên các loài hoa, nhiều phố mang tên các nhạc sĩ, bác sĩ. Ði trên các đường phố đó, tôi nghĩ tới các đường lối truyền giáo của Hội Thánh tôi. Ước chi các đường lối ấy cũng toả ra được mùi thơm vẻ đẹp của Tin Mừng như những vườn hoa. Ước chi các đường lối ấy cũng gieo được vào lòng người bài ca Tin Mừng như những tiếng hát truyền cảm. Ước chi các đường lối ấy cũng đem lại cho con người những liều thuốc Tin Mừng như những thầy thuốc giỏi.
Một hôm, tại một nhà ga Paris, tôi gặp một chị nhân công đang dọn sân ga. Do tình cờ, tôi biết chị là thành viên của một nhóm truyền giáo. Chị là con một gia đình giàu có trí thức, chị đã là giáo sư trường trung học cấp ba. Nay chị từ bỏ hết, hiến thân cho việc tông đồ. Nhóm của chị chọn cách truyền giáo bằng sự có mặt của mình giữa những người lao động, những người nghèo, để phục vụ họ, nhất là để chia sẻ đời sống của họ. Thấy các chị này vui vẻ sống nghèo, giữa các xóm nghèo, tôi nghe lòng mình nao nao nhớ lại lời Chúa: “Thầy sẽ ở lại với chúng con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt. 28,20). Ðúng là Chúa đang ở giữa nhân loại qua những tông đồ âm thầm như thế đó.
Sáng ngày 05/10/1993, tôi được đồng tế với Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II tại nhà nguyện riêng của Ngài. Ðây là dịp giúp tôi càng xác tín Ðức Thánh Cha là vị tông đồ hết sứ quan trọng, có nhiều khả năng đánh cá các tâm hồn, và chính qua con người của Ngài, mà Chúa đang ở giữa chúng ta.
Ngày 10/10/1993, tôi chủ sự thánh lễ Chúa nhật lúc 9 giờ tại Lộ Ðức. Thánh lễ Chúa nhật vào giờ này tại Lộ Ðức vẫn được gọi là thánh lễ quốc tế, vì thường có đông người tham dự, và họ thuộc nhiều nước khác nhau. Hôm đó số linh mục đồng tế vào khoảng 50, và số người tham dự thánh lễ vào khoảng 5 ngàn. Trong khi chủ sự thánh lễ, tôi có cảm tưởng tôi đang bị một chiếc lưới vô hình của Chúa vây bắt tôi. Chiếc lưới đó là vô vàn ánh mắt, vô vàn trái tim, vô vàn lời nguyện, đang nâng đỡ tôi, đang khích lệ tôi. Và tôi cảm nghiệm được thế nào là sự hiệp thông trong Hội thánh. Chính sự hiệp thông này là một chiếc lưới Chúa đang dùng để tái-Phúc-Âm-hoá các tông đồ của Chúa hôm nay, và cũng là chiếc lưới Chúa muốn các tông đồ dùng để kêu gọi thực hiện Lời Chúa: “Thầy là cây nho, các con là ngành" (Ga 15,5).
***
Thế là chấm dứt một chuyến đi dài trong một thời gian vắn. Giờ đây, tôi nhìn về phía trước. Tương lai cũng là một chuyến đi. Trong chuyến đi này, vấn đề lớn nhất của tôi vẫn là luôn luôn trở về với Ðức Kitô và giới răn của Ngài : “Thầy cho các con một giới răn mới là các con thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương các con" (Ga 15,12).
Long Xuyên, tháng 11/1993

 

Bùi-Tuần 1305: TỪ CẢM NGHĨ ĐẾN LỜI CHÚC DỊP NOEL 11-12-2014

 + GB. Bùi Tuần
 

Mỗi năm, lúc gần tới lễ Noel, tôi lại suy nghĩ cách riêng về ý nghĩa lễ trọng đại đó. Năm nay, suy: 11-12-2014 Bùi-Tuần 1305

1.
Mỗi năm, lúc gần tới lễ Noel, tôi lại suy nghĩ cách riêng về ý nghĩa lễ trọng đại đó. Năm nay, suy nghĩ của tôi suy giảm nhiều, do tình hình xuống cấp toàn diện nơi tôi. Nhưng trong bầu khí gia đình, tôi cũng đành có gì tặng đó. Xin vui lòng nhận tấm lòng của tôi.
2.
Ý nghĩa của lễ Noel là gì? Thánh Tông đồ Gioan viết: “Thiên Chúa đã sai Con Một Người đến thế gian, để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,9-10)…“Chính tôi đã chiêm ngưỡng và làm chứng rằng: Chúa Cha đã sai Con của Người đến, làm Đấng cứu độ thế gian” (1 Ga, 14). Nhờ lời dạy trên đây của thánh Gioan tồng đồ, tôi xác tín: Chúa Giêsu sinh vào thế gian tại hang đá Belem, chính là Con Thiên Chúa. Người đến, để biểu lộ tình yêu Thiên Chúa, bằng việc dâng mình làm của lễ đền tội cho chúng ta, hầu cứu độ chúng ta.
3.
Như vậy, Hài Nhi tại hang đá Belem âm thầm nói với tôi và nhân loại một sự thực. Chúng ta là kẻ tội lỗi, cần được cứu. Đấng cứu chúng ta là Chúa Giêsu. Người cứu chúng ta bằng cách dâng chính mình làm của lễ đền tội.
4.
Khi tôi ra sức tìm hiểu của lễ chính mình mà Chúa Giêsu đã thực hiện, để đền tội và cứu tôi cũng như loài người, thì Chúa trả lời là: Hãy đọc lại thánh Phaolô về sự bước xuống của Chúa Giêsu. “Đức Giêsu Kitô, vỗn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi vui lòng chịu chết, chết trên cây thập giá” (Pl 2,6-8).
Những lời trên đây của thánh Phaolô giúp tôi nhận ra hai nét đặc điểm của Hài Nhi Giêsu tại Belem, chứng tỏ Người là Đấng Cứu độ. Hai nét đặc điểm đó là vâng phục và khiêm nhường. Với hai nét đó, Chúa Giêsu tại Belem trở nên bé nhỏ và gần gũi. Tôi gặp Người một cách dễ dàng. Rất nhiều người không phân biệt giai cấp, tín ngưỡng, quốc tịnh, cũng đã gặp Người một cách rất tự nhiên.
5.
Nhờ được gặp Người và ở lại với Người khá lâu, tôi được Người cho biết còn một đặc điễm nữa nơi Người, khiến Người trở nên Đấng Cứu độ, đặc điểm đó là Tình Yêu. Tình Yêu đó vượt trên mọi sự tốt lành. Thánh Phaolô diễn tả tình yêu đó như sau: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh là phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng.
Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì.
Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp của tôi mà bố thí, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.
Giả như tôi có nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.
Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.
Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13,1-7).
6.
Tình yêu tuyệt vời trên đây nơi Chúa Giêsu là do sự Người luôn kết hợp với Chúa Cha, Đấng sai Người. Tình yêu tuyệt vời ấy đã làm cho sự vâng phục và khiêm nhường của Người trở thành giá trị cứu rỗi.
7.
Cứu rỗi như thế của Chúa Giêsu chính là một sự đổi mới, mà Người làm cho Hội Thánh và cho toàn thế giới. Đó là gương cho mọi đổi mới sau này trong Hội Thánh.
Chúa cho tôi nhìn Hội Thánh hiện tại đang được đổi mới. Tất cả các vị được Chúa chọn, để tiếp tục cuộc đổi mới của Chúa Cứu thế hiện nay đều rất vâng phục, khiêm nhường và có lửa mến nội tâm nồng nàn tha thiết.
Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu rất tha thiết với việc cứu những người tội lỗi.
Mẹ Têrêsa Calcutta rất tha thiết với việc cứu những người nghèo khó, bệnh tật, cô đơn.
Đức thánh Cha Phanxicô rất tha thiết với việc cứu các cơ cấu đời đạo khỏi những gì trái với bác ái và công bình.
Tất cả ba vị đổi mới trên đây đều rất khiêm nhường, vâng phục và sống nội tâm sâu sắc với đức mến nồng nàn.
8.
Những gì tôi vừa chia sẻ không phải chỉ là những suy nghĩ, mà còn là những cảm nghĩ. Do vậy, nếu cần có một lời chúc dịp Noel này, thì tôi xin chúc mọi người xa gần gặp được Hài Nhi Giêsu trong hang đá, để rồi biết cộng tác với Người trong chương trình cứu độ, cứu mình và cứu người khác. Cứu hiện tại đang xuống dốc đã là điều khó. Cứu tương lai sắp chạm đáy vực thẳm cũng là điều quá khó. Nhưng tôi tin Chúa Giêsu vẫn là hy vọng của chúng ta. Chính niềm hy vọng ấy cho phép chúng ta vui đặt nơi Chúa giàu lòng thương xót.
Xin mọi người cũng thương cầu nguyện cho tôi.
Long Xuyên, ngày 11 tháng 11 năm 2014

 

Bùi-Tuần 1306: NIỀM VUI CỦA TÔI HÔM NAY 27-12-2014

 + GB. Bùi Tuần
 

Nhiều lúc, tôi cảm thấy mình như tụt dốc trầm trọng. Đau đớn, mỏi mệt, chán nản, buồn lo, sợ : 27-12-2014 Bùi-Tuần 1306

1.
Nhiều lúc, tôi cảm thấy mình như tụt dốc trầm trọng. Đau đớn, mỏi mệt, chán nản, buồn lo, sợ hãi, tất cả như những đợt sóng thay nhau đổ vào hồn tôi.
Tôi phải phấn đấu với chính mình để đi nốt quãng đời còn lại. Tôi cầu nguyện không ngừng. Tôi vững tin vào lời Chúa hứa: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28).
2.
Lời Chúa không sai. Chúa đã bồi dưỡng cho tôi và cho tôi được nghỉ ngơi, bằng cách Người ban cho tôi được một niềm vui thiêng liêng. Niềm vui đó là được gặp Chúa những khi nhận được và những khi cho đi các việc từ thiện. Niềm vui này rút ra từ Phúc Âm, trong đoạn Chúa nói về ngày phán xét chung.
Ngày ấy, Chúa sẽ nói với những người được xếp bên hữu Chúa những lời sau đây: “Nào, những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các con ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các con đã cho ăn. Ta khát, các con đã cho uống. Ta là khách lạ, các con đã tiếp rước. Ta trần truồng, các con đã cho mặc. Ta đau yếu, các con đã thăm nom. Ta ngồi tù, các con đã đến thăm. Bấy giờ, những người công chính sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống, có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước, hoặc trần truồng mà cho mặc. Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến thăm đâu. Để đáp lại, Chúa sẽ bảo họ rằng: Ta bảo thật các con, mỗi lần các con làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta, là các con đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,34-40).
3.
Với niềm tin vào Lời Chúa trên đây, tôi nhìn tất cả những ai đã làm cho tôi bất cứ việc từ thiện nào đều sẽ được Chúa xót thương. Họ sẽ được gặp Chúa. Họ sẽ được Chúa yêu thương, đời sau và ngay cả ở đời này.
Họ được Chúa yêu thương, đó là một niềm vui lớn lao tôi được cảm nhận rất rõ. Cảm nhận đó càng rất an ủi tôi, khi tôi thấy có những người đã sống từ thiện một cách âm thầm, tế nhị, như lời Chúa dạy: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời ban thưởng. Vậy, khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được thưởng công rồi. Còn anh em, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh em bố thí được kín đáo. Và Cha của anh em, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh em” (Mt 6,1-4).
4.
Số người bố thí cho tôi một cách tế nhị, kín đáo, như Chúa dạy trên đây, không phải là ít. Họ thuộc đủ mọi thành phần, trong Công giáo và ngoài Công giáo. Tôi thấy Chúa trong họ. Điều đó đem lại cho tôi niềm vui thiêng liêng, giúp cho cuộc sống của tôi được triển nở. Tôi xin hết lòng cảm tạ Chúa. Đó là niềm vui, khi nhận được các việc từ thiện.
5.
Còn khi cho đi các việc từ thiện thì sao? Thưa, trong hoàn cảnh già nua, bệnh tật, bị giới hạn bởi những yếu đuối và tội lỗi, tôi vẫn cố gắng cho đi những việc từ thiện. Nhỏ bé thôi, bằng nhiều cách. Dầu vậy, tôi vẫn gặp được Chúa. Đó là niềm vui thực sự sâu thẳm, Chúa ban cho tôi.
6.
Tôi có cảm tưởng là Chúa đợi tôi nơi những người già nua, bệnh tật, nghèo túng, khổ đau. Họ là những địa chỉ có Chúa đợi chờ. Tất nhiên, nhà thờ vẫn là một địa chỉ của Chúa. Nhưng địa chỉ đó không miễn trừ cho tôi khỏi tìm đến địa chỉ những người đau khổ.
7.
Xưa, trong đêm Chúa giáng sinh, các thiên thần đã báo tin mừng cho các mục đồng đang chăn chiên. Các thiên thần đã bảo họ đến tìm Đấng Cứu Thế mới giáng sinh ở một địa chỉ rất nghèo, đó là một hang bò lừa giữa cánh động lạnh lẽo. Tương tự cũng vậy, đôi lúc tôi cũng được thôi thúc trong lòng hãy đi tìm Chúa ở những địa chỉ nghèo khổ. Tôi đã vâng, và tôi đã gặp được Chúa ở những địa chỉ đó. Tại những địa chỉ đó, Chúa đã dạy tôi là hãy bắt chước Chúa, mà chia sẻ thân phận những người nghèo khó, bệnh tật, già yếu, khổ đau. Chúa sẽ như một tình yêu trao tặng nhưng không, mà không tìm được đền đáp. Tôi vâng làm như vậy. Và tôi cảm thấy rất vui, một niềm vui mênh mông sâu thẳm dạt dào.
8.
Những gì tôi chia sẻ trên đây không phải chỉ thuộc riêng tôi. Tôi tin chắc nhiều người tại Việt Nam hôm nay cũng đã và đang cảm thấy niềm vui được gặp Chúa, những khi nhận được và những khi cho đi các việc từ thiện một cách khiêm nhường, tế nhị, cho dù kín đáo.
Tôi nói là rất nhiều người tại Việt Nam hôm nay đang được Chúa ban cho niềm vui cao quý ấy. Tôi xác tín là họ, dù trong đạo hay ngoài đạo, sẽ là những người cộng tác với Chúa để đưa dân tộc Việt Nam đến bình an và hạnh phúc thật.
Tình hình đang diễn biến phức tạp, có thể là nguy hiểm. Vì thế, bênh cạnh những biện pháp về an ninh, ngoại giao, kinh tế, văn hoá và các biện pháp thuộc sức tự nhiên, tôi nghĩ là chúng ta không nên quên tựa nương vào sức thiêng liêng của Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu. Chỉ có tình yêu mới cứu được chúng ta.
9.
Đức Thánh Cha Phanxicô mới phát biểu dịp lễ Giáng sinh năm nay, 2014. : “Quá nhiều nước mắt đã rơi trong lễ Giáng sinh”. Ngài có ý nói về những khổ đau gây nên tại nhiều nước do hận thù, ngay trong chính lễ Giáng sinh, Thánh lễ nhiều, nhưng thiếu tình yêu thương với nhau, thì còn gì là bình an cho người thiện tâm. Cái tâm thiếu yêu thương là cái tâm không thiện. Cái tâm không thiện thì không đem lại bình an, thậm chí cũng không thể đón nhận được bình an. Do đó, niềm vui đích thực phải khởi đi từ việc từ thiện, theo lời Chúa và theo gương Chúa.
Nếu đất nước và con người có phát triển về của cải để hưởng thụ, mà không phát triển về cái tâm hướng về yêu thương lo từ thiện, thì hòa bình sẽ rất mong manh, hạnh phúc sẽ rất giới hạn.
Vì thế, niềm vui của tôi được Chúa ban cho là một mời gọi tôi đến trách nhiệm phải đào tạo cái tâm, theo mô hình trái tim Đức mẹ Maria.
Lạy Mẹ, xin Mẹ thương xót con.
Long Xuyên ngày 27-12-2014

 

Bùi-Tuần 1307: Ở biên giới sự chết tôi đang thấy gì? 04-10-2014

Tôi như thấy Chúa. Tôi như cảm được Chúa ở bên tôi và ở trong tôi. Chúa hiện diện như một nguồn 04-10-2014 Bùi-Tuần 1307

Tôi như thấy Chúa. Tôi như cảm được Chúa ở bên tôi và ở trong tôi. Chúa hiện diện như một nguồn sáng đầy tình yêu. Chúa hiện diện như một Đấng thiêng liêng mang bản chất người cha. Chúa hiện diện như một sức mạnh quyền năng đầy mầu nhiệm, nhưng lại rất gần gũi.
1.
Chết là một biến cố tất nhiên phải tới.
 Biến cố tất nhiên đó đang rất gần tôi. Tuổi tác và bệnh tật báo tin đó cho tôi. Mỗi ngày tôi lại cảm thấy rõ hơn biên giới sự chết.
 Đúng thực là lúc này tôi đang ở biên giới sự chết. Bằng ánh sáng đức tin, tôi đang thấy gì? Dưới đây xin được chia sẻ đôi chút tâm tư chân thành của một người chuẩn bị ra đi.
 2.
Sự tôi thấy rõ nhất là sự Chúa hiện diện.

 Hiện diện của Chúa không phải chỉ là một niềm tin, mà còn là một cảm nghiệm.
 Tôi như thấy Chúa. Tôi như cảm được Chúa ở bên tôi và ở trong tôi. Chúa hiện diện như một nguồn sáng đầy tình yêu. Chúa hiện diện như một Đấng thiêng liêng mang bản chất người cha. Chúa hiện diện như một sức mạnh quyền năng đầy mầu nhiệm, nhưng lại rất gần gũi.
 3.
Sự tôi cũng thấy rất rõ là Chúa hiện diện đặt ra cho tôi câu hỏi này: “Con đã dùng đời con để làm gì?”.

 Với câu hỏi đó, Chúa muốn tôi nhìn lại suốt cả đời tôi, từ quá khứ cho đến bây giờ.
 Với ơn Chúa, tôi thoáng nhìn lại đời mình. Trong thoáng nhìn đó tôi thấy Chúa cho tôi nhận ra rất rõ: Đời tôi có giá trị hay không có giá trị, hoặc nhiều hoặc ít, là do từ Chúa thẩm định, chứ không do từ tôi tự xét. Chính Chúa phán xét, chính Chúa thẩm định. Chứ không do tôi có quyền tự định đoạt giá trị cho mình.
 Khi Chúa xét, thì Chúa không quan tâm đến việc tôi làm là việc lớn hay việc nhỏ, mà Chúa để ý đến giá trị của những việc đó.
 4.
Giá trị quan trọng nhất mà Chúa xét nơi các việc tôi làm là các việc đó có hợp theo thánh ý Chúa không.

 Chúa dạy tôi điều đó trong lần Chúa nói về người môn đệ chân chính.
 “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.
 “Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng nhân danh Thầy mà nói tiên tri, mà trừ quỷ, mà làm nhiều phép lạ đó sao? Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi, xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7,21-23).
 Lời Chúa trên đây chỉ trong chốc lát đã cho tôi nhận ra phần nào giá trị các việc tôi làm suốt những năm qua. Những việc tôn giáo như lễ lạy linh đình, tổ chức hoành tráng, xây cất lộng lẫy, con số tăng cao về ơn gọi, về bác ái, về hành hương vv... Tôi cho là tất cả đều nhân danh Chúa, nhưng thực sự Chúa có nhận tất cả đều là đúng ý Chúa không. Tôi được thanh luyện nhờ sám hối chân thành.
 5.
Sự tôi cũng thấy rõ là tôi phải tránh tìm cho mình những lợi ích riêng tư, khi tôi dấn thân làm các việc đạo đức.

 “Khi làm các việc đạo đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng” (Mt 6,1).
 Rồi Chúa áp dụng lời đó cho việc từ thiện (Mt 6,2-4); việc cầu nguyện (Mt 6,5-6), việc ăn chay (Mt 6,16-18).
 Phô trương đang được tôi nhìn thấy là một thứ nọc độc, mà trước đây tôi ít nhận ra. Đúng là ở biên giới sự chết, tôi được ơn nhận ra sự thật cứu rỗi tôi.
 6.
Sự thực cứu rỗi tôi còn là tôi phải tỉnh thức với những tư tưởng, ước muốn trong tâm hồn tôi.
 Nếu không tỉnh thức, để khám phá đúng và đưa vào trật tự các tư tưởng, ước muốn, xúc động trong trái tim, thì các thứ đó sẽ tạo nên một môi trường tâm linh xấu trong tôi và xung quanh tôi. Chính môi trường xấu đó sẽ là áp lực chống lại tình yêu Thiên Chúa (x. Mc 7,20-23).
 7.
Chống lại tình yêu Thiên Chúa là một xúc phạm tầy trời đến Thiên Chúa.

 Tội đó thường nẩy sinh ở những thái độ thông thường, như thái độ vô cảm, thái độ dửng dưng, thái độ bất cần, thái độ tự mãn, trong các thói quen sống đạo nặng về hình thức.
 8.
Sự tôi thấy rõ lúc này ở biên giới sự chết, đó là sự cần thiết tôi sẽ được nghỉ yên trong Chúa.
 Nghỉ yên trong Chúa, không có nghĩa là được an nghỉ trong các việc lành tôi làm, mà chính là trong tình yêu của Chúa, một tình yêu được ban cho tôi một cách nhưng không, như một quà tặng, như một chia sẻ tấm lòng xót thương của Chúa.
 Sự nghỉ yên trong Chúa mà tôi ước mong và cầu nguyện như thế, đang làm cho tôi trở nên như trẻ thơ, khó nghèo và phó thác.
 Sự nghỉ yên trong Chúa cũng đang thôi thúc tôi hướng lòng lên với Chúa, để gặp gỡ thân mật với Chúa trong mọi tình huống, dù khi thức, dù khi ngủ.
 Sự nghỉ yên trong Chúa cũng đang là niềm tin: Tôi sẽ luôn luôn được ở trong tình yêu Chúa. Như lời thánh Phaolô quả quyết: “Tôi tin chắc rằng: Cho dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay quỷ dữ, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39).
 9.
Tôi đang ở biên giới sự chết, nên tôi cảm thấy rất gần những linh hồn các người đã qua đời. Họ đang sống trong cõi đời sau. Họ có những nhắn gởi thân thương gởi về những người còn sống trên cõi đời này. Nhắn gởi quan trọng nhất là “Hãy dùng đời mình để” yêu thương như Chúa đã yêu thương (Ga 13,34). Tức là yêu thương đúng theo thánh ý Chúa.
 10.
Những gì tôi chia sẻ trên đây đang là động lực thiêng liêng mạnh mẽ giúp tôi biết sống vui, cho dù phải vác thánh giá. Thánh giá chính là hy vọng của Phục sinh. Ở biên giới sự chết, tôi ôm lấy thánh giá mà nói: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 25,45).
 +GB Bùi Tuần
Long Xuyên, ngày 04.10.2014

2015
 

Bùi-Tuần 1308: NỖI LO LỚN NHẤT TRONG ĐỜI TÔI 01-01-2015

 + GB. Bùi Tuần
 

Đời tôi là quãng thời gian tương đối dài. Bước sang năm 2015, tôi được 89 tuổi. Trong dòng đời: 01-01-2015 Bùi-Tuần 1308

1. Đời tôi là quãng thời gian tương đối dài. Bước sang năm 2015, tôi được 89 tuổi. Trong dòng đời với nhiều chuyển biến ấy, có 60 năm là giáo sĩ mang chức linh mục, rồi mang thêm chức giám mục tới nay được 40 năm.
Như vậy quãng 60 năm qua là mảnh đời quan trọng nhất đối với tôi.
2. Hôm nay, nhìn lại dòng đời quan trọng đó để tạ ơn Chúa, tôi thấy có một nỗi lo lớn đã đồng hành với tôi một cách khăng khít. Chúa dạy tôi là đừng ngại nói ra cho mọi người biết nỗi lo đó. Xin nói ngay nỗi lo đó là làm sao luôn sống mật thiết với Chúa Giêsu. Nỗi lo ấy rất sống động. Tôi xin phép chia sẻ đôi chút về sức sống thăng trầm của nỗi lo ấy trong một quá khứ không thiếu đủ thứ chuyển biến.
3. Tôi thụ phong linh mục ngày 02.7.1955 tại nhà nguyện các cha dòng Đaminh ở HongKong.
Chính khuya đêm mồng một trước lễ truyền chức, tôi đã âm thầm xin được gặp cha linh hồn, tức cha Valderama Xuyên. Tôi xin ngài cho phép tôi được rút lui, khỏi bước lên nhận chức linh mục. Lý do là tôi quá lo, vì thấy mình bất xứng bất tài. Lúc đó, tình hình đất nước còn ngổn ngang những hận thù. Chúa cho tôi thấy: Làm linh mục cho Việt Nam lúc ấy là phải làm chứng cho tình yêu Chúa. Tôi sẽ làm chứng thế nào đây. Tôi thấy mình quá yếu đuối, sợ không thể làm gì được đúng theo ý Chúa. Vì thế, tôi xin phép được rút lui.
Cha linh hồn nghe hết nỗi lo của tôi. Rồi ngài bình tĩnh trấn an tôi. Sau cùng, ngài nói như trao một quyết định là hãy phó thác cho Chúa, mà vâng nhận chức linh mục.
Lễ phong chức linh mục được tổ chức một cách âm thầm, đơn sơ, rất sốt sắng.
4. Sau đó, tôi được trở về miền Nam Việt Nam. Thánh lễ đầu tiên của tôi được tổ chức tại nhà thờ Long Phước Thôn, Thủ Đức, thuộc trại di cư khó nghèo, ngày 11.7.1955.
Nửa giờ trước thánh lễ, tôi xin xưng tội với Cha Minh Đăng ngay tại phòng áo cung thánh. Ngài gợi ý cho tôi là làm chứng cho tình yêu Chúa trong tình hình cụ thể tại Việt Nam lúc nàyhãy ưu tiên sống mật thiết với Chúa Giêsu. Trong tâm tình đầy yêu thương, ngài khuyên tôi hãy luôn đánh thức lương tâm các linh mục Việt Nam, để các ngài coi việc sống mật thiết với Chúa Giêsu là việc không gì thay thế được. Nếu cần đánh thức một cách quyết liệt, thì chính ngài và tôi hãy sẵn sàng được chết một cách đau đớn theo ý Chúa.
Trong thánh lễ đầu tiên, tôi dâng mình cho Chúa với quyết tâm sống mật thiết với Chúa Giêsu, như một của lễ.
5. Ngày 30.4.1975, tôi thụ phong Giám mục lúc tình hình thay đổi khó lường. Khi Đức Cha Cố Micae Nguyễn Khắc Ngữ an ủi tôi hãy vâng phục ý Chúa mà lãnh nhận trọng trách Giám mục, tôi không vui chút nào. Nỗi lo dâng trào. Tôi nhìn rõ tôi sẽ chẳng làm được gì cho giới răn yêu thương, nếu không sống mật thiết với Chúa Giêsu. Nhưng tôi quyết tâm như một trẻ thơ.
6. Quyết tâm đó là một niềm vui, nhưng cũng là một nỗi lo. Càng ngày, tôi càng thấy sống mật thiết với Chúa Giêsu không phải là điều dễ.
Chúa Giêsu dạy: “Thầy là cây nho, các con là ngành nho. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, các con không làm gì được” (Ga 15,5). Tôi hiểu Chúa muốn tôi phải sống mật thiết với Chúa như vậy. Phải luôn luôn như vậy, để mọi việc tôi làm mới sinh được kết quả đích thực mà Chúa muốn. Lời Chúa trên đây thực rõ ràng, thực dứt khoát.
Thế mà, Lời Chúa đầy tha thiết đó đã nhiều khi chỉ là một lý thuyết suông đối với nhiều người, kể cả những người đi tu, thậm chí kể cả những người muốn làm linh mục hay đã là linh mục.
7. Cho rằng lý thuyết ấy đã có lúc thâm nhập vào con người muốn theo Chúa một cách đặc biệt, nhưng trên thực tế, sự thâm nhập vào con người mà thôi, đâu đã đủ để thành sự sống thân mật với Chúa Giêsu. Bởi vì sự sống thân mật với Chúa Giêsu là một ơn đặc biệt Chúa ban. Ơn ấy biến đổi con người nên gần gũi với Chúa, biết vâng phục ý Chúa, trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa. Con người ấy cần biết đón nhận ơn cao quý đó, và cần biết cộng tác vào ơn đặc biệt đó.
8. Kinh nghiệm cho tôi thấy: Nếu thiếu đời sống cầu nguyện, suy gẫm, không quen tự chế, từ bỏ mình và khiêm tốn, thì không thể nào có thể đón nhận được ơn sống thân mật với Chúa, và không thể nào cộng tác với ơn sống mật thiết với Chúa được.
9. Tôi được hạnh phúc gặp Đức thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhiều lần. Điều đã gây ấn tượng nhất nơi tôi những khi gặp Ngài là thấy Ngài sống mật thiết với Chúa Giêsu. Trong thánh lễ, ở bàn giấy, cả tại bàn ăn, Ngài luôn luôn toả ra một sức thu hút lạ lùng, do sự Ngài luôn sống thân mật với Chúa Giêsu. Ngài không hề khuyên dạy tôi điều gì, mặc dầu tôi đã gặp riêng Ngài nhiều lần. Nhưng, Ngài đã dạy tôi rất nhiều, do sự thu hút từ đời sống thân mật của Ngài với Chúa Giêsu.
10. Mấy ngày nay, tôi cầu nguyện với Đức Mẹ rất nhiều. Tôi đọc kinh: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội”. Tôi rất vui, vì Đức Mẹ đã nhìn đến thân phận tội lỗi của tôi. Mẹ đã cầu bầu với Chúa cho tôi. Tôi hiểu điều đó, khi Mẹ dạy tôi là: “Lúc này, trong tình hình này, sống mật thiết với Chúa Giêsu, là hãy ở bên Chúa trong vườn Cây Dầu, hãy bước theo Chúa trên đường Chúa vác thập giá, hãy đứng dưới chân thánh giá khi Người chịu đóng đinh và hấp hối trên thánh giá. Có sống mật thiết như thế với Chúa Giêsu, thì mới thực sự cộng tác với Người để cứu nhân loại nói chung, và đồng bào Việt Nam nói riêng đang hết sức lâm nguy”.
11. Khi được Đức Mẹ dạy tôi điều trên đây, tôi mới thấy là những người muốn theo Chúa phải rất tỉnh thức khiêm nhường, để can đảm sống mật thiết với Chúa đang chịu thương khó trong lịch sử hôm nay. Như vậy thì phải can đảm điều chỉnh lại mọi thứ hoành tráng, phô trương, đắc thắng, hưởng thụ, sang trọng, lộng lẫy, vẻ vang, an nhàn.
12. Bây giờ, khi được chia sẻ một chút như trên, tôi cảm thấy nhẹ nhàng. Bởi vì nỗi lo lớn nhất đời tôi nay trở thành một lời mời gọi gửi tới mọi người, đặc biệt là gửi tới các linh mục và các người đi tu: “ Hãy sống mật thiết với Chúa Giêsu”. Tình hình 2015 sẽ rất khó khăn, đầy thử thách và bất ngờ. Chỉ sống mật thiết với Chúa Giêsu mới có thể gọi là những môn đệ đích thực cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa. Chia sẻ hôm nay cũng là đón nhận niềm vui sẽ được ơn tha thứ từ Chúa, từ Hội Thánh, từ bao người, bởi vì tôi nhận biết mình đã có những lỗi lầm, thiếu sót trong bổn phận làm chứng cho tình yêu Chúa bằng sự sống mật thiết với Người.
Long Xuyên ngày 01.1.2015

 

Bùi-Tuần 1309: LO CỨU  NHỮNG CON NGƯỜI 06-01-2015

 + GB. Bùi Tuần
 

Trong mấy ngày nay, tôi được hạnh phúc sống thân mật với Chúa Giêsu một cách hơn thường : 06-01-2015 Bùi-Tuần 1309

1.
Trong mấy ngày nay, tôi được hạnh phúc sống thân mật với Chúa Giêsu một cách hơn thường. Chính nhờ Người, với Người và trong Người. Tôi xin cảm tạ Người đã đến với tôi, trong hoàn cảnh tôi cảm thấy mình rất tồi tệ.
Trong những khoảnh khắc thân mật ấy, tôi đã gọi Chúa Giêsu bằng nhiều tước hiệu khác nhau, như Ngôi Hai nhập thể, Chúa chiên lành, Vua vũ trụ, vv... Nhưng sau đó, Chúa Giêsu dạy tôi là Người muốn tôi cứ gọi Người là Đấng Cứu Thế.
2.
Từ tên gọi đó, Chúa Giêsu đã dạy tôi điều này: Sống thân mật với Người, thì hãy cùng với Người lo cứu thế gian.
Cứu thế gian là công việc quá lớn. Tôi rất yếu đuối. Nhất là lúc này, yếu đuối của tôi đang trở thành nỗi nguy. Tôi trình bày với Chúa như vậy. Nhưng Chúa trấn an tôi, bằng cách Người bảo tôi hãy nhìn vào thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu.
Tôi xin vâng. Ngay cạnh tôi là mấy cuốn sách ghi lại tư tưởng và cuộc sống người nữ tu dòng Kín thành Lisieux. Tôi đọc lại. Tôi thấy người nữ tu trẻ ấy đã dạy tôi cách cứu thếgian ngay trong cuộc sống âm thầm thường ngày với đời tu nhiệm nhặt. Tôi xin ghi lại vài nét chính rất gợi ý cho tôi.
3.
Thánh nữ đưa ra một chuyện biến ngôn. Có một vị lãnh chúa muốn xây một thánh đường nguy nga dâng kính Thiên Chúa. Ông ra sắc lệnh, kêu gọi những ai có của phải góp phần vào. Từ khắp nơi, đoàn ngựa kế tiếp nhau chở vật tư đến nơi xây cất. Các chủ vật tư đều là những người giàu có. Đang khi đó, một người đàn bà rất nghèo cũng muốn dâng cúng. Nhưng bà chỉ đủ tiền mua một sọt cỏ. Bà đưa cỏ cho mấy con ngựa chở vật tư ăn. Khi thánh đường được xây cất xong, vị lãnh chúa truyền ghi trên tấm bảng tên của mình và của các ân nhân, được gắn vào tường thánh đường. Nhưng, qua một đêm, trên tấm bảng đó các tên đã ghi đều bị xoá, và thay vào đó là tên một người đàn bà vô danh. Vị lãnh chúa phẫn nộ, truyền làm lại tấm bảng. Nhưng đêm sau, các tên trên bảng lại bị xoá, và lại ghi tên một người đàn bà vô danh. Ông liền điều tra. Sau cùng, ông được gặp người đàn bà nghèo đó. Bà nói thật bà chỉ cho ngựa ăn mớ cỏ, mà bà đã bỏ hết tiền của bà ra để mua. Vị lãnh chúa hiểu trước mặt Chúa bà là người có nhiều công nhất.
Từ chuyện biến ngôn trên đây, thánh nữ Têrêsa nghĩ về chính mình. Trong việc xây dựng Hội Thánh, ngài sẽ chỉ làm những việc bé nhỏ, âm thầm, nhưng tin chắc Chúa sẽ căn cứvào tình yêu hơn là việc làm.
Bài học trên đây rất dễ hiểu. Tôi áp dụng cho tôi. Tôi sẽ chỉ đủ sức làm những việc nhỏ. Nhưng tôi đem tất cả tình yêu của tôi vào những việc nhỏ đó. Chúa sẽ thương nhận, để góp phần xây dựng Hội Thánh, và cứu các linh hồn. Xin hết lòng tạ ơn Chúa đã ban cho tôi một trái tim biết yêu thương.
4.
Về việc cứu các linh hồn, thì thánh nữ Têrêsa đã cho tôi một bài học cũng dễ hiểu. Có lần ngài đã nói với các em đệ tử của ngài: “Nếu chị phải ở luyện tội cho đến tận thế, để cầu nguyện, chỉ để cứu lấy một linh hồn mà thôi, thì hãy để mặc chị”.
Qua lời nói trên đây, thánh nữ cho thấy ngài rất quên mình để cứu các linh hồn. Yêu thương và hy sinh chịu đau khổ, để cứu các linh hồn, đó là niềm vui ngài muốn dâng lên Chúa.
Một nữ tu trẻ dòng Kín có được một khao khát cứu các linh hồn như thế, quả là một tiếng Chúa đánh thức lương tâm tôi. Tôi có nhiều cách để tránh né tiếng gọi đó. Nhưng nếu làm thế, tôi sẽ chỉ chuốc khổ vào thân. Tôi sẽ chẳng cứu được ai, và cũng chẳng cứu được chính mình. Tôi cảm tạ Chúa đã cho tôi nghị lực để dấn thân cứu các linh hồn bằng cầu nguyện và hy sinh âm thầm trong chính hoàn cảnh già yếu hiện giờ của tôi.
5.
Trong một lá thư gởi chi Céline, thánh nữ Têrêsa đã viết: “Chúng ta hãy sống cho các linh hồn nhất là hãy cứu linh hồn các linh mục. Bởi vì có những linh mục xấu. Hãy chịu hy sinh cho các ngài. Đến ngày tận thế, Chúa Giêsu sẽ biết ơn chúng ta về việc đó”. Đọc đoạn thư trên đây, tôi rất xúc động. Tôi nghĩ là đã có nhiều người cầu nguyện cho tôi được trở nên đạo đức theo thánh ý Chúa. Riêng tôi rất xác tín là việc quên mình để cứu các linh mục là điều quan trọng và khẩn thiết. Chúa chờ đợi mỗi người chúng ta. Có những linh mục xấu, nữ tu Têrêsa dám nói như thế, chỉ vì thương, chứ không vì khinh.
6.
Càng về cuối đời, thánh nữ Têrêsa càng nói nhiều tới sự phải từ bỏ mọi sự và từ bỏ chính mình, để yêu thương và hy sinh cho các linh hồn. Ngài không ngại tỏ lộ các thứ khổ đau ngài phải chịu.
7.
Tuy nhiên, có một điều tôi lấy làm lạ, đó là thánh nữ xem ra khắc khổ, nhưng lại rất dễ thương. Chính vì ngài sống theo tinh thần thơ ấu thiêng liêng. Khi hành hương ởLisieux, tôi cảm thấy rất rõ vẻ đẹp dễ thương của thánh nữ toả ra khắp nơi.
Tôi sực nhớ lại đoạn Phúc Âm sau đây của thánh Luca: “Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: 'Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín, không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha'” (Lc 10,21).
8.
Một thoáng nhìn trên đây về thánh nữ Têrêsa thành Lisieux đã đưa tôi đến kết luận này: Nhiều người bé mọn đã cứu được các linh hồn một cách hiệu quả. Chính các linh mục cũng cần đến những người bé mọn, để có thể trở về với Chúa. Chính tôi cũng đã được họ cứu.
Tôi xin tận tình cảm ơn họ.
9.
Tôi xin Chúa cho tôi luôn biết sống bé mọn, và luôn biết cậy nhờ đến những kẻ bé mọn. Đó là cách cứu các linh hồn, rất hợp với tôi, nhất là lúc này, trong hoàn cảnh tuổi già sức yếu. Thiết tưởng, đó cũng là cách, chính Chúa nhắn gởi tất cả những môn đệ Chúa, bất cứ họ là ai đang sống trên Quê Hương Việt Nam lúc này.
Truyền giáo trên đất nước Việt Nam này trong hoàn cảnh hiện nay không thể coi thường mô hình thánh nữ Têrêsa thành Lisieux. Tôi tin chắc như vậy. Tòa Thánh cũng đang nhắc cho tôi điều đó.
Lạy Chúa, con xin hết lòng cảm tạ Chúa đã dạy con bổn phận và cách cứu các linh hồn. Xin Chúa thương giúp con biết kiên trì thực hiện những điều Chúa đã dạy con.
Long Xuyên, ngày 6.1.2015.

 

Bùi-Tuần 1310: GẶP GỠ CHÚA GIÊSU 12-01-2015

 + GB. Bùi Tuần
 

Nhân dịp Tết mới, tôi xin thân ái cầu chúc cho mọi người nhận được món quà, mà tôi cho là rất : 12-01-2015 Bùi-Tuần 1310

1.
Nhân dịp Tết mới, tôi xin thân ái cầu chúc cho mọi người nhận được món quà, mà tôi cho là rất quí, đó là được gặp Chúa Cứu Thế, để cuộc sống của mình được nên tốt đẹp, như lời Người đã phán xưa: “Ta đến, để cho chiên được sống, và sống dồi dào” (Ga 10,10).
2. Sở dĩ, tôi chúc như vậy, bởi vì tôi tin: Ai gặp được Chúa Giêsu, kẻ ấy sẽ nhờ Người mà có được cuộc sống tốt.
Không những tôi tin như thế, mà thực sự tôi đã trải qua một cuộc đời được kinh nghiệm như thế. Ở đây, tôi xin phép được chia sẻ đôi chút về những kinh nghiệm đó.
Trên suốt cuộc đời dài, nhiều lần tôi đã gặp được Chúa Giêsu một cách rất rõ, gây ấn tượng mạnh. Có thể tóm tắt những gặp gỡ đó vào hai loại:
3.
Một là được gặp Chúa trong cảnh huy hoàng, siêu thoát, như ba môn đệ đã gặp trên ngọn núi cao, ở đó Chúa biến hình. Ba môn đệ đã rất vui. (x. Mc 9,2-12)
4.
Hai là được gặp Chúa trong cảnh đớn đau như ba môn đệ đã thấy, trong vườn Cây Dầu, khi Người chiến đấu trước cái chết khổ nhục. Tôi cũng như ba môn đệ kể trên đã rất sợ hãi, kinh hoàng. (x. Mc 14, 33-42)
Tôi nghĩ chính vì yêu thương thân mật, Chúa Giêsu mới cho tôi được nếm đôi chút những giờ phút đặc biệt nhất của cuộc đời Chúa. Nhờ đó, tôi được Chúa dạy tôi hãy sống thân mật với Người. Sống thân mật với Người là phải gắn bó với Người một cách kiên trì trong mọi hoàn cảnh, dù sáng sủa, dù tối tăm, mà tôi phải trải qua.
5.
Tôi đã được gặp Chúa Giêsu như thế trong những dịp nào? Thưa thường xuyên tôi gặp Người bằng đức tin. Bằng đức tin, tôi gặp Chúa. Sự gặp gỡ này được thực hiện do ơn Phép Rửa tội. Ngoài ra, tôi còn được gặp Chúa, như một người được Chúa gọi hãy làm chứng cách riêng cho sự sống thân mật với Chúa.
Nhưng gặp gỡ thân mật với Chúa Giêsu mà tôi cảm nhận được thường không kéo dài lâu. Nhưng ảnh hưởng của nó thường nuôi sống linh hồn tôi một cách sâu xa lâu dài.
6.
Nơi đầu tiên tôi được gặp Chúa một cách thân mật, là nội tâm thinh lặng. Không phải lúc nào tôi cũng nếm được sự ngọt ngào do ở bên Chúa. Bởi vì rất nhiều khi, tôi cảm thấy nguội lạnh, tối tăm. Nếu có lúc, tôi nói được như vua Đavít xưa: “Tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn” (Tv 16,9), thì lúc đó, chính là khi tôi sống nội tâm thinh lặng, trút bỏ những bận tâm của nếp sống hoạt động ồn ào, hướng ngoại, để dành thời giờ cho Chúa. Trong nội tâm thinh lặng, tôi cầu nguyện, đọc Lời Chúa.
Được gặp Chúa lúc đó có thể chỉ như một tia sáng lạ thường, nhưng tôi cảm thấy rất rõ sự hiện diện của Chúa thực là dịu dàng, đem lại cho tôi hạnh phúc và một sức sống lạ lùng khôn tả.
7.
Nơi thứ hai tôi gặp Chúa một cách thân mật, là lúc tôi xưng tội và trở về với Chúa.
Tôi xưng tội hàng tháng, nhiều khi hàng tuần. Mỗi lần xưng tội là mỗi lần tôi nhìn nhận mình tội lỗi yếu hèn, xin ơn tha thứ của Chúa, qua các vị của Hội Thánh được Chúa trao quyền. Bao giờ cũng vậy, lúc đó, tôi được gặp Chúa một cách rất thân mật, rất riêng tư. Người là Đấng cứu thế vô cùng nhân hậu của tôi.
8.
Nơi thứ ba tôi thường gặp được Chúa là việc tôi phục vụ kẻ khốn khó nghèo hèn.
Tôi phục vụ họ bằng nhiều cách thích hợp với khả năng nhỏ bé của tôi. Thí dụ đã từ lâu tôi viết bài chia sẻ. Khi làm việc đó, tôi không dám nghĩ là tôi phục vụ những người đạo đức, những người đầy đủ, nhưng tôi nghĩ tới những người túng nghèo, khổ đau về phần linh hồn. Tôi tự nghĩ rằng tôi cần phải có chút can đảm để đi ra khỏi cái thế giới của giáo sĩ thường có nhiều tiện nghi, để dìm mình vào những vấn đề nóng bỏng của người nghèo khổ hôm nay. Tôi cần khiêm tốn và cậy trông, mở rộng đức tin ra để cho mọi thứ người nghèo khổ xung quanh tôi có thể nhận ra cái giá mà Chúa Giêsu đã vui chịu, để cứu họ, đem họ tới hạnh phúc thật sự.
Khi làm như vậy, nhiều lần tôi đã gặp được Chúa Giêsu. Tôi như rụng rời, không phải thấy Chúa uy nghi quyền phép, nhưng thấy Chúa khiêm tốn, hạ mình, dấn thân vào con đường thánh giá một cách nhục nhã, chỉ vì yêu thương, muốn cứu chuộc loài người.
Từ đó, tôi hiểu rõ hơn những lời Chúa Giêsu phán trong ngày phán xét chung: “Mỗi lần con làm việc tốt cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là con làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,45).
9.
Nơi thứ bốn tôi thường gặp được Chúa là những gì xảy ra, đã đụng tới tôi một cách đặc biệt và riêng tư.
Thí dụ một cảnh trời đẹp, một người dễ thương, một tác phẩm hay, một cơn bệnh, một biến cố lịch sử. Tôi như cảm được lời Chúa xưa đang thực hiện nơi tôi: “Này đây, Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa ra, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3,20). Trong chốc lát, tôi đã nhận ra Chúa gõ cửa lòng tôi qua những gì xảy ra đó. Tôi đã mở cửa đón Chúa vào.
10.
Qua những lần gặp gỡ Chúa Giêsu, tôi xác tín đạo Công giáo của tôi là một mời gọi đi xa, vượt quá những gì chúng ta có thể tưởng tượng, rất hơn cuộc sống thế trần này. Tôi càng xác tín là con người đi tu, hiến thân cho Chúa, phải thuộc trọn về Chúa, để cùng với Chúa, đưa con người tới một sự sống thực, một sự sống dồi dào bình an và hạnh phúc đời đời.
Hôm nay, những ngày sắp Tết, tôi gói gọn những kinh nghiệm và niềm tin của tôi vào một lời chúc chân thành:
Gặp gỡ Chúa Giêsu
Tôi nghĩ là nhiều người đã gặp được Chúa Giêsu, người cách này, người cách khác. Chúng ta giúp nhau gặp gỡ Chúa Giêsu, đó cũng chính là hạnh phúc muốn được chia sẻ trong ngày đầu năm Ất Mùi này. Giúp nhau như vậy chính là yêu thương nhau, trân trọng nhau và tin vào nhau.
Chớ gì được như vậy, để mùa xuân Quê Hương dưới đất sẽ là phản ánh được phần nào mùa xuân Quê Hương trên trời.
Long Xuyên 12-01-2015
+ GB. Bùi Tuần

 

Bùi-Tuần 1311: HẰNG NGÀY TÔI GẶP CHÚA GIÊSU 15-01-2015

 + GB. Bùi Tuần
 

Tôi đã về hưu. Nhưng tôi vẫn có bổn phận đối với Hội Thánh để lo cho các linh hồn. Trong tôi: 15-01-2015 Bùi-Tuần 1311

1.
Tôi đã về hưu. Nhưng tôi vẫn có bổn phận đối với Hội Thánh để lo cho các linh hồn.
Trong tôi, mọi khả năng càng ngày càng yếu đi. Chính vì vậy, càng ngày tôi càng cảm thấy mình cần phải gần gũi với Chúa Giêsu, xin Người ban cho tôi niềm vui và hy vọng, để có thể lo được chút gì cho các linh hồn, dù chỉ là một chút rất bé nhỏ.
2.
Mỗi buổi sáng, tôi thường hôn tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Tôi  nói với Người: Này con đây. Chúa muốn con làm gì? Bao giờ cũng thế, tôi được nghe Chúa nhắc lại trong lòng tôi lời Chúa phán xưa: “Ta hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11.16.17.18).
3.
Cùng với lời đó, Chúa đốt lên trong lòng tôi niềm khao cứu các linh hồn bằng thánh giá tượng trưng cho tình yêu và hy sinh. Niềm khao khát đó được đốt lên rất mạnh trong thời gian tôi chịu bí tích Thánh Thể.
4.
Thế rồi, Chúa sai tôi đi. Tôi không đi được bằng chân, bởi vì tôi cũng như bị đóng đinh vào một chỗ, do bệnh tật già yếu. Nhưng tôi đi bằng tâm hồn, qua thời sự.
5.
Tâm hồn tôi đi gần, tới xa. Đâu đâu tôi cũng thấy những cảnh đau lòng. Nhiều cảnh rất đau lòng xảy ra trong đời sống vật chất, trong đời sống tinh thần, trong đời sống tâm linh.
Những cuộc sống như thế cần được cứu. Tôi nhận ra Chúa Giêsu đang cứu họ qua những người Chúa chọn.
6.
Chúa cho thấy đặc điểm của những người được Chúa chọn đang cộng tác với Chúa trong việc cứu các linh hồn tại Việt Nam hiện nay là:
- Họ khao khát cứu các linh hồn.
- Họ yêu thương và hy sinh.
7.
Về đặc điểm thứ nhất là khao khát cứu các linh hồn, thì tôi được một chút kinh nghiệm như sau:
Khi hôn Chúa Giêsu chịu đóng đinh, tôi được Chúa Giêsu chia sẻ cho sự khao khát, mà Người kêu lên trên thánh giá xưa: “Tôi khát” (Ga 19,28).
Người khát các linh hồn. Nỗi khao khát đó chính là một thương tích sâu sắc nhất trong trái tim Người. Trong chốc lát, tôi hiểu khao khát các linh hồn là “muốn cho mọi người được cứu độ và biết chân lý” (1 Tm 2,3). Muốn cứu độ, tôi xác tín là phải cứu con người khỏi mọi lầm than, đặc biệt là cứu khỏi tội, khỏi lửa hoả ngục, để họ được phúc thiên đàng đời đời.
Một khao khát như trên chỉ do Chúa chia sẻ cho từ trái tim của Người, chứ không do lý luận, thảo luận. Chúa chia sẻ cho những kẻ bé mọn. Tôi thấy những kẻ bé mọn được Chúa chia sẻ cho nỗi  khao khát của Chúa đang sống rải rác khắp nơi trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Tôi học được rất nhiều ở họ.
8.
Về đặc điểm thứ hai là yêu thương và hy sinh, thì tôi cũng được một chút kinh nghiệm như sau:
Yêu thương và hy sinh mà Chúa Giêsu chia sẻ cho tôi, được tôi cảm nghiệm như là một sự tôi được Chúa thu hút về với tình yêu Chúa trong sự vâng phục thánh ý Chúa.
Thu hút đó là một sự hiện diện dịu dàng của Chúa tình yêu, là một việc làm chọn lựa của Chúa tình yêu. Tôi  nhận được sự Chúa thu hút, đó chính là yêu thương, mà tôi cảm nhận.
Yêu thương như vậy, đòi vâng phục thánh ý Chúa trong mọi nơi mọi lúc. Vâng phục ý Chúa sẽ phải từ bỏ ý riêng mình, và đó chính là hy sinh, một thứ hy sinh cũng đem lại niềm vui như yêu thương.
Tôi đang thấy đặc điểm yêu thương và hy sinh, như vừa tả, nơi nhiều người trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Họ âm thầm. Họ có mặt trong mọi giới. Tôi học được rất nhiều điều nơi họ. Một điều rất quý, tôi học được nơi họ là sự tế nhị.
Sự tế nhị là kết quả của yêu thương và hy sinh.
9.
Mỗi tối, trước khi ngủ, tôi lại hôn tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Tôi thưa với Người: “Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn con làm gì?”. Hầu như lần nào cũng vậy, Chúa Giêsu lại âu yếm nói với tôi: “Con hãy bắt đầu lại”.
Với lời đó Chúa dạy tôi một sự thực rất cần cho tôi, đó là tôi còn rất bất toàn, còn rất nhiều điều phải học. Với sự thực đó, tôi nhận ra điều này, đó là: Con đường tôi đi sẽ không luôn luôn suôn sẻ. Chính tôi cũng không luôn luôn an ổn. Tôi cần phải bám chặt vào Chúa. Sẽ có lúc, tôi sẽ như đi trong đêm, trên đầu là núi, dưới chân là vực thẳm, trước mắt là sông lớn. Sẽ chẳng còn nhìn thấy ai. Tôi sẽ rất cô đơn. Tôi không tránh được sợ hãi. Một điều, và chỉ một điều tôi cần phải có trong hoàn cảnh như thế, đó là cậy tin phó thác vào Chúa. Một cách tuyệt đối. Một cách triệt để. Một cách kiên trì.
10.
Một phút trước khi ngủ, tôi lại hôn tượng Chúa chịu đóng đinh. Tôi nói với Người: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Thế rồi, tôi ngủ trong tâm hồn phó thác.
Khi ngủ, tôi thường gặp Chúa Giêsu trong tiềm thức và vô thức. Như vậy, có thể nói: Chúa Giêsu là Đấng tôi gặp suốt ngày suốt đêm. Nhờ vậy, tôi được cùng với Người, góp phần vào việc lo cứu các linh hồn theo khả năng bé mọn của tôi.
11.
Dần dần, tôi khám phá thấy Tin Mừng là chính Chúa Giêsu. Người cứu tôi, và dùng tôi để cứu  người khác. Trong suốt con đường cứu chuộc, Người đã bước xuống, đã cúi xuống, đã quỳ xuống. Tình yêu của Người là những hy sinh tự hạ dành cho những kẻ yếu hèn tội lỗi.
Suốt đời này và mãi mãi đời sau, tôi sẽ ca tụng Người, và làm chứng về Người, dù chỉ được vài người  nghe và tin vào những gì tôi làm chứng về Người, tôi vẫn cho đó là một niềm vui và một niềm hy vọng.
Bởi vì chính Chúa Giêsu thực là hy vọng và là niềm vui của tôi. Chính Người là: “Đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Chính  nhờ Người, với Người và trong Người, mà tôi yêu thương đồng bào của tôi, phục vụ Đất Nước của tôi, gắn bóvới Hội Thánh của tôi.
12.
Qua những gặp gỡ với Chúa Giêsu, tôi được Người cho thấy là Hội Thánh đang đi vào một giai đoạn rất khó khăn, cuộc chiến giữa thiện và ác sẽ rất khốc liệt, lực lượng Satan sẽ rất lộng hành, lôi kéo các linh hồn xuống hoả ngục một cách dã man và dễ dàng, đạo đức sẽ xuống dốc trầm trọng. Vì thế, hãy mau trở về với Chúa, bằng con đường Tin Mừng là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Người là “cửa chuồng chiên” (Ga 10,7). Không qua cửa đó mà vào chuồng chiên chính là trộm cướp (x. Ga 10,1).
Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.
Long Xuyên 15-01-2015

 

Bùi-Tuần 1312: HỌC VỚI CHÚA GIÊSU HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG

 20-01-2015
 + GB. Bùi Tuần
1.
 

Chúa mãi mãi thương gọi tôi. Một trong những Lời Chúa gọi đang trở thành khẩn thiết cho tôi lúc: 20-01-2015 Bùi-Tuần 1312

Chúa mãi mãi thương gọi tôi. Một trong những Lời Chúa gọi đang trở thành khẩn thiết cho tôi lúc này, đó là: “Hãy học với Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29).
Chúa gọi âm thầm, nhưng da diết. Cùng với Lời gọi đó, Chúa ban cho tôi hai ơn này: Một là lòng khao khát muốn nên hiền lành và khiêm nhường thực sự. Hai là khao khát học hiền lành và khiêm nhường nơi Chúa Giêsu là Đấng thương gọi tôi.
2.
Xin thú thực là tôi chỉ hiểu được một phần rất nhỏ những gì Chúa dạy tôi, và tôi chỉ thực hiện được cũng một phần rất nhỏ những gì tôi đã hiểu. Tôi yếu đuối lắm. “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm” (Rm 7,19)
Tuy nhiên, với lòng cảm tạ Chúa và trong tình liên đới cộng đoàn, tôi xin được phép chia sẻ chút ít những gì rất ít đó. Xin tóm tắt như sau:
Chúa dạy tôi qua thánh giá của Chúa trong tôi.
Chúa dạy tôi qua sự tế nhị Chúa dành cho tôi.
Chúa dạy tôi qua phục vụ kẻ nghèo khổ mà Chúa cùng làm với tôi.
Chúa dạy tôi qua những phức tạp bất ngờ xảy ra cho tôi.
3.
Chúa dạy tôi qua thánh giá của Chúa trong tôi.
Xưa, Chúa Giêsu đã chịu thử thách bằng đủ mọi đau khổ. “Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15). “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Kitô đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện, nài xin Đấng có quyền năng cứu Người... Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ, mới học được thế nào là vâng phục...” (Dt 5,7-8). Chúa Giêsu đã vâng chịu đủ mọi khổ đau vì mục đích gì? Thưa, để cứu chuộc loài người. Thánh Phêrô quả quyết: “Anh em đã được cứu chuộc nhờ máu châu báu của Con Chiên vẹn toàn, vô tì tích, là Đức Kitô” (1 Pr 1,19).
Nay, Chúa dạy tôi cũng hãy góp một phần nhỏ vào việc cứu chuộc loài người, cũng bằng khổ đau. Tôi hiểu như vậy. Nên những khi chịu đau khổ, tôi luôn nghĩ là Chúa Giêsu đang chịu đau khổ trong tôi, để cứu các linh hồn. Niềm tin ấy giúp tôi nhìn rõ hơn bổn phận tôi phải sống hiền lành và khiêm nhường theo gương Chúa. Tất nhiên hiền lành và khiêm nhường trong mọi khổ đau chính là vì tình yêu. Và như thế, khi được sai đi rao giảng, tôi phải luôn luôn nhớ mình là của lễ đền tội cho đoàn chiên. Tôi sẽ là của lễ có giá trị đền tội, khi tôi vác thập giá và chịu đóng đinh vào thập giá, với tình yêu chấp nhận khiêm tốn và hiền lành như Chúa Giêsu. Làm được gì thì cũng làm với tấm thân là của lễ. Không làm được gì, thì thân mình vẫn là của lễ hiền lành khiêm tốn. Chúa dạy tôi như vậy.
4.
Thêm vào đó, Chúa còn dạy tôi hãy học hiền lành và khiêm nhường ở sự tế nhị của Chúa Giêsu.
Sự tế nhị của Chúa Giêsu được tiên tri Isaia báo trước: “Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gẫy. Tim đèn còn leo lét khói, Người chẳng nỡ tắt đi”. Lời đó ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu (Mt 12,20). Tôi thấy Chúa Giêsu đã rất tế nhị như thế đối với tôi. Bao lần, tôi như cây lau bị giập, nhưng Chúa không đành bẻ gẫy. Chúa vẫn nâng niu, để tôi được lành. Bao lần, tôi như cây đèn chỉ còn leo lét khói, nhưng Chúa vẫn che chắn, không những để không tắt, mà còn cho lửa lại bùng lên. Đúng thực, Chúa hiền lành và khiêm nhường. Tôi cảm nhận được điều đó một cách sâu sắc.
5.
Có một nơi hiện nay Chúa hay dạy tôi về hiền lành và khiêm nhường, đó là phục vụ những kẻ nghèo hèn khổ đau.
Chúa luôn nhắc cho tôi nhớ lại lời Chúa quả quyết: “Mỗi lần các con làm việc tốt cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các con làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).
Chúa còn dạy tôi: Phục vụ là cho đi, từng cái nhìn, từng cách suy nghĩ, từng lời nói, từng giọng nói, từng cử chỉ thái độ, từng việc làm, tất cả phải hướng về niềm tin là Chúa có mặt nơi kẻ nghèo khó, để đón nhận bất cứ sự gì tôi dành cho họ. Niềm tin đó an ủi tôi rất nhiều.
Nhiều người hiện nay cũng đang được niềm tin ấy khích lệ, và họ rất vui, khi gần lại những kẻ khổ đau, nghèo hèn.
Chính tôi cũng đang được thừa hưởng niềm tin đó của nhiều người, khi họ nâng đỡ tôi. Bởi vì họ tin rằng: Họ làm việc lành cho tôi đang bệnh tật đau đớn, là làm cho chính Chúa. Họ thực là hiền lành và khiêm nhường.
6.
Hiền lành và khiêm nhường là thái độ không luôn dễ. Nên, nhiều khi Chúa dạy tôi điều đó một cách quyết liệt hơn. Đó là Chúa để cho tôi gặp phải những bất ngờ phức tạp gây đau đớn. Thí dụ tôi định sẽ là thế này, sẽ phải thế nọ. Nhưng không ngờ, thực tế lại xảy ra khác. Tôi phải khiêm nhường hiền từ để vâng phục ý Chúa. Ý Chúa nhiều khi rất khác ý của loài người chúng ta. Nhưng, biết khiêm nhường từ bỏ ý riêng, vâng phục ý Chúa, thì mới là thực sự thờ phượng Chúa. Thờ phượng Chúa với bao nhiêu việc lành, mà thiếu khiêm nhường, thì Chúa cũng không nhận.
7.
Chúa Giêsu nói rất rõ về điều kiện khiêm tốn, trong dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện.
Người Pharisêu đứng riêng một mình, gần bàn thờ và cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa, con xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác; tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con. Còn người thu thuế thì đứng đàng xa, thậm chí không dám ngước mặt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi. Tôi bảo thật cho các ông biết: Người này khi trở xuống mà trở về nhà, thì đã được nên công chính rồi. Còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống. Còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18,10-14). Tạ ơn Chúa cũng có thể kiêu căng.
8.
Còn thánh Phêrô thì dứt khoát trong chỉ một câu: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1 Pr 5,5).
Giả sử, giờ đây, tôi cảm tạ Chúa vì đã ban cho tôi được ơn khiêm nhường hơn những kẻ khác, thì tôi lại quá kiêu ngạo mất rồi. Vì thế, để khiêm nhường, tôi cần tỉnh thức, sẵn sàng chiến đấu với chính mình và quỷ hoả ngục. Chiến đấu bằng chính sự hiền lành và khiêm nhường, mà Chúa ban cho những kẻ bé mọn tin cậy nơi Người.
9.
Tôi xin Chúa Giêsu ban ơn cho tôi luôn sống bé mọn, một thứ bé mọn mà Người muốn, để được vào số những người mà Người ám chỉ, khi Người cảm tạ Chúa Cha. “Ngay bấy giờ, được Thánh Thần tác động, Đức Giê su hớn hở vui mừng và nói: Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha”. (Lc 10,21).
Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, xin thương xót con. Xin cứu con thoát khỏi tính kiêu căng và vô cảm trước tình hình nguy hiểm hiện nay.
Long Xuyên ngày 21.01.2015

 

Bùi-Tuần 1313: MÙA CHAY CỦA TÔI 29-01-2015

+ GB. Bùi Tuần
 

Với những kinh nghiệm của đời mình, tôi thường sống Mùa Chay với tinh thần sám hối và tin: 29-01-2015 Bùi-Tuần 1313

1. Với những kinh nghiệm của đời mình, tôi thường sống Mùa Chay với tinh thần sám hối và tin vào Chúa, một cách sống động hơn, nhờ ơn Chúa Thánh Thần.
Cụ thể là tôi sống với bốn xác tín sau đây:
2.
Tôi xác tín mình là kẻ tội lỗi rất cần được ơn tha thứ.
Tôi thực sự là kẻ rất yếu đuối tội lỗi. Thánh Phaolô viết về chính mình thế này: “Tôi mang tính xác thịt, bí bán làm tôi cho tội lỗi. Thật vậy, tôi làm gì thì tôi cũng chẳng hiểu. Vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm” (Rm 7,14-15).
Lời thú tội trên đây của thánh Phaolô khích lệ tôi hãy nói lên sự thực về tôi, tôi cũng là như thế, và còn hơn thế rất nhiều.
Khi tôi thú nhận mình tội lỗi, tôi không quá nhấn mạnh đến sự hư đốn của tôi, nhưng tôi nhấn mạnh hơn đến sự tôi được Chúa tha thứ. Tôi thực sự đã cảm nhận những lời Chúa phán xưa về tình yêu Chúa dành cho kẻ tội lỗi, như: “Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13). “Con Người đến, để cứu cái gì đã hư mất” (Mt 18,11). “Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để 99 con kia trên núi, mà đi tìm một con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là 99 con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,12-14).
3.
Tôi không thể hiểu được, làm sao tôi có thể sống, nếu không được tha thứ. Tôi càng không dám gánh trách nhiệm nào, nếu tôi không tin rằng Chúa sẽ tha thứ cho những yếu đuối tôi.
Tôi được ơn tha thứ. Nên tôi rao giảng về sự tha thứ. Tôi làm chứng đạo Chúa có đặc điểm là tha thứ.
4.
Tôi xác tín mình là kẻ có rất nhiều giới hạn trong mọi lãnh vực, rất cần khiêm tốn tìm hiểu, lắng nghe và cộng tác với nhiều người.
Kinh nghiệm cho tôi thấy: không gì hại cho tôi bằng sự tôi nghĩ mình phải làm đủ mọi sự, và có thể làm được mọi sự. Kinh nghiệm cũng cho tôi thấy là: Không gì dại khờ cho tôi bằng sự tôi cho rằng mình phải làm được điều gì đặc biệt, khác với các Giám mục, và linh mục tại Việt Nam hôm nay.
5.
Tôi vững tin rằng: Chúa chỉ đòi tôi một điều là: Hãy kết hợp mật thiết với Chúa, rồi ơn Chúa sẽ dẫn đưa tôi làm những gì Chúa muốn, theo khả năng bé nhỏ của tôi. “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa quả, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
6.
Tôi xác tín mình được gọi tham dự vào thánh giá Chúa, để góp phần vào việc cứu các linh hồn.
Rất nhiều khi, tôi đã nghĩ rằng: Đau khổ tôi chịu là do tội lỗi của tôi, và là con đường giúp tôi nên thánh. Nhưng dần dần, tôi xác tín: Đau khổ là một ơn gọi Chúa dành cho tôi, để tôi được góp phần vào việc cứu các linh hồn.
7.
“Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người” (Mc 19,45). “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,15).
8.
Càng ngày, những lời Chúa phán trên đây càng làm cho tôi xác tín về sự tôi chịu đau khổ là để đáp lại ơn gọi Chúa dành cho tôi. Đau khổ gắn liền với mục vụ, đau khổ là một cách cứu độ, đau khổ là để hiệp thông với thánh giá Chúa.
Đau khổ là một ơn gọi, là đau khổ ấy đến từ nhiều phía. Rất có thể đến từ phía cộng đoàn của tôi, do những chống đối, những xa cách, những hiểu lầm, những ghen tương, vv...
Tôi phải sẵn sàng đón nhận. Rất có thể đau khổ đến từ những chuyển biến bất ngờ đòi tôi phải từ bỏ chương trình có sẵn, để bắt đầu lại.
Rất có thể đau khổ đến từ phía những văn hoá mới có vẻ bình thường hoá những tội lỗi và căn cứ vào ý kiến số đông như thước đo đạo đức. Những trường hợp như thế, tôi sẽ rất cô đơn và đau khổ.
Rất có thể đau khổ của tôi lại là những đau khổ của người khác. Khổ cái khổ của đồng bào tôi. Đau cái đau của Hội Thánh tôi.
9.
Tôi xác tín là cuộc sống của tôi rất mong manh, tôi ra đi bất cứ lúc nào, tôi phải sẵn sàng ra trước mặt Chúa với niềm phó thác tuyệt đối vào lòng thương xót Chúa.
Thánh Têrêsa thành Lisieux nói về mình: “Tôi sẽ hiện diện trước Chúa với bàn tay không”. Ngài nhận mình chẳng là gì, chẳng đáng gì, chẳng có gì gọi là công phúc. Ngài chỉ là đứa con bé nhỏ, chỉ tin vào tình yêu Chúa mà thôi.
Tôi sẽ không nói được như thánh nữ. Nhưng tôi sẽ nói với Chúa: Con là kẻ tội lỗi, mang theo nhiều dấu ấn của tội lỗi. Nhưng con tin ở lòng thương xót Chúa. vì Chúa là Chúa của con.
10.
Với bốn xác tín trên đây, tôi sống mùa Chay năm nay một cách bình an. Tôi biết sống như thế chính là một sự hoán cải nội tâm, đòi tôi phải rất khiêm nhường vâng phục thánh ý Chúa. Sự vâng phục khiêm nhường đó nhiều khi vượt quá tính cách hợp lý theo cách suy nghĩ của thế gian. Nhưng Chúa Giêsu đã làm. Tôi cũng làm như Chúa Giêsu. Như thế, tôi mới góp phần vào việc cứu nhân loại. Nhân loại hiện nay đang rất cần được cứu. Chỉ Chúa mới cứu được mà thôi.
Long Xuyên 29-01-2015

 

Bùi-Tuần 1314: Điều mong ước nhất những ngày tết 09-01-2015

+ GB. Bùi Tuần
 

Những ngày tết, tôi thường phải bận rộn với các thứ mong ước. Trong lúc rối bời, tôi đến bên Đức: 09-01-2015 Bùi-Tuần 1314

1
Những ngày tết, tôi thường phải bận rộn với các thứ mong ước. Trong lúc rối bời, tôi đến bên Đức Mẹ Maria. Như một trẻ thơ, tôi hỏi Mẹ: “Mẹ ơi, con nên mong ước điều gì nhất?”. Tôi lắng nghe. Mẹ cho tôi nhớ lại giây phút Truyền tin. Mẹ được Tổng lãnh thiên thần Gabriel chào chúc: “Chúa ở cùng Bà” (Lc 1,28). Rồi Mẹ bảo tôi: “Điều con nên mong ước nhất, chính là “được Chúa ở cùng con”.
2
Tin vào lời Mẹ, tôi lui vào nội tâm sâu thẳm, tôi cầu xin Chúa thương đến với tôi. Tôi đợi chờ và khao khát với tất cả tấm lòng nghèo khó khiêm cung. Trong giây phút không ngờ, Chúa đến với tôi. Tôi đã được gặp Chúa. Đúng là Chúa, Đấng hằng sống, Đấng uy quyền và giàu xót thương, Người đem tôi vào một sự sống mới. Sự sống mới đó chính là sự sống của Người.
3.
Tôi nhận ra Chúa đã yêu thương tôi. Chúa đã cứu tôi. Chúa đã ban ơn cho tôi. Chúa đã gọi tôi. Chính Chúa là hy vọng của tôi. Chúa là cùng đích của tôi. Chúa là Cha tôi.

4.
Chúa gọi tôi hãy đến với Người để Người được vui trong tôi, và để tôi được vui trong Người. Ở trong Chúa, tôi được Người gắn vào bản tính tự nhiên của tôi một cảm quan thiêng liêng, để tôi có thể nghe được tiếng Chúa, và nhận ra được sự hiện diện của Chúa.
5
Việc đầu tiên tôi làm sau đó là cùng với Đức Mẹ, ca tụng và tạ ơn Chúa. Tôi nhận thấy mình bất xứng. Ơn Chúa ban là ơn nhưng không.
6.
Bỗng chốc, tôi cảm thấy đời tôi có một chiều kích hướng thượng rất cao, tới Chúa là nguồn mọi sự sống, mọi hy vọng, mọi hạnh phúc.
7
Lúc đó, tôi tin Chúa, tức là tôi gắn bó với Chúa, tôi vâng phục Chúa, tôi đi về với Chúa. Chứ không phải chỉ là chấp nhận một hệ thống giáo lý.
8.
Tôi đi về với Chúa, qua đời sống yêu thương phục vụ con người. Tôi yêu thương phục vụ, như Chúa đã dạy và đã yêu thương phục vụ. Do vậy, mọi tình yêu của tôi dành cho người khác đều khởi đi từ nguồn vô tận là tình yêu Chúa. Nếu làm được gì tốt cho ai, tôi sẽ qui chiếu về Chúa, như lời Chúa phán: “Thầy là Cây nho, anh em là cành, ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh được nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).

9.
Một thoáng chia sẻ trên đây cũng là những gì tôi vốn đã được cảm nhận ít nhiều suốt đời tôi, từ nhỏ đến giờ.
Vì thế, hôm nay khi được Đức Mẹ nhắn nhủ: Sự được Chúa ở cùng là điều nên mong ước nhất, tôi lại thêm xác tín tôi luôn cần được Đức Mẹ dạy dỗ, đào tạo vì tôi rất yếu đuối, dễ quên và ngại thực hiện.
10.
Với hết lòng khiêm nhường, tôi xin Chúa và Đức Mẹ thương tha tội cho tội.
Cảm tạ và xin lỗi là những việc cần làm chung với nhau, nhất là dịp Tết.
Điều tôi xin lỗi cách riêng ở đây là không dùng ơn Chúa ở cùng, để làm tốt bổn phận của tôi.
11.
Khi được Chúa ở cùng, đáng lẽ tôi phải phấn đấu hết sức để thi hành việc bổn phận một cách tốt nhất. Thí dụ bài giảng của tôi, dù với hình thức nào, cũng phải làm chứng là có Chúa ở cùng, được Chúa đóng dấu vào. Nhưng biết bao lần, thực tế đã không luôn được như vậy. Tôi xin sám hối, cầu xin Chúa thứ tha.
12.
Khi được Chúa ở cùng, đáng lẽ tôi phải có ý thức về thời gian như Chúa. Thí dụ, khi làm mục vụ, đáng lẽ tôi phải khiêm tốn đợi chờ kết quả một cách kiên trì, như Chúa vẫn làm. Nhưng tôi thì nóng vội, cái gì cũng muốn phải có kết quả ngay. Đó là điều sai lầm của tôi. Tôi xin sám hối. Xin Chúa thương tha thứ cho tôi.

13.
Khi được Chúa ở cùng, đáng lẽ tôi phải quên đi cái tôi của tôi, nhưng bao lần cái tôi của tôi vẫn hiện diện trong các việc tôi làm, kể cả các việc đạo đức. Đó là điều yếu đuối của tôi. Tôi xin sám hối. Xin Chúa thương tha thứ cho tôi.
Khi được Chúa ở cùng, đáng lẽ tôi phải tỉnh thức chiến đấu với quỉ satan, nó luôn tìm cách phá vỡ bất cứ chương trình nào có tính cách cứu độ của Chúa. Nhưng nhiều khi tôi đã chủ quan, không nghĩ tới kẻ thù vô hình đó. Tôi xin sám hối. Xin Chúa thương tha thứ cho tôi.
14.
Khi được Chúa ở cùng, đáng lẽ tôi phải coi đau khổ là điều kiện cần vốn đi liền với thánh giá cứu chuộc. Nhưng bao lần tôi đã tránh xa và có khi phản bội thánh giá. Tôi xin sám hối. Xin Chúa thương tha thứ cho tôi.
15.
Khi được Chúa ở cùng, đáng lẽ tôi phải rao giảng sự hòa giải, sự tha thứ. Nhưng bao lần, tôi đã không làm đủ, làm đúng. Tôi xin sám hối. Xin Chúa thương tha thứ cho tôi.
16.
Để kết, tôi xin phép nói thêm điều này: Với ơn được Chúa ở cùng, tôi thường nhìn mọi người đến với tôi, như một bức thư Chúa gửi cho tôi. Dù là ai, họ đều là một bức thư Chúa gửi cho tôi. Tôi đọc thư đó được viết trong tâm hồn họ, trên trái tim họ. Chúa viết. Và tôi đã hiểu tình Chúa mênh mông, giàu xót thương và nhân ái.
Đó là cái Tết thánh hóa đời tu của tôi. Xin thân ái kính chúc anh chị em “được Chúa ở cùng anh chị em”.
Tết Ất Mùi, Long Xuyên 09.02.2015

 

Bùi-Tuần 1315: CHÚA  ĐÀO TẠO TÔI LÚC NÀY 31-01-2015

 + GB. Bùi Tuần

 

Hiện nay, tình hình đang chuyển biến một cách phức tạp và nguy hiểm, tôi rất lo cho đất nước: 31-01-2015 Bùi-Tuần 1315

1.
Hiện nay, tình hình đang chuyển biến một cách phức tạp và nguy hiểm, tôi rất lo cho đất nước và Hội Thánh. Tôi cầu nguyện rất nhiều. Xin Chúa thương cứu độ.
Chúa dạy tôi hãy cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa, một cách quảng đại hơn. Tôi xin vâng. Xin vâng của tôi được diễn tả bằng một sự khao khát hiểu biết ý Chúa và thực thi ý Chúa. Khao khát chân thành, khao khát nồng nàn, khao khát với tất cả sự sẵn sàng và chờ đợi.
2.
Thế rồi, Chúa giúp tôi dọn tâm hồn để được Chúa đào tạo trở thành người cộng tác với Chúa.
Dọn tâm hồn là điều kiện cần thiết. Việc dọn tâm hồn được Chúa dạy có thể tóm tắt thế này:
3.
Tôi nhận thấy mình rất nghèo nàn về đời sống thiêng liêng, rất dốt nát trong lĩnh vực hiểu biết thánh ý Chúa. Tôi không tự mình lo cho mình những sự quá sức mình như vậy được.
Tôi xin Chúa thương giúp. Ơn Chúa giúp là nhưng không, chứ chẳng phải do tôi xứng đáng được giúp.
4.
Dọn tâm hồn còn là tin vào tình yêu Chúa. Tôi được Chúa dạy là Chúa yêu thương tôi một cách lạ lùng. “Chúa Cha đã yêu thương Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu thương con như vậy” (Ga 15,9). Tình yêu như thế, khi cảm nhận được đôi chút, đã đổi mới tôi rất nhiều. Tôi lạc quan về tôi rất nhiều, lạc quan trong khiêm nhường và cảm tạ.
5.
Dọn tâm hồn còn là xin vâng phục ý Chúa. “Con sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, nếu con vâng giữ các điều Thầy dạy” (Ga 15,10).
Mến yêu và vâng phục trong niềm tin vững vàng khi tâm hồn đã trở nên nghèo khó, đó là thái độ mà Chúa muốn, để tôi có thể đón nhận được nội dung Chúa dạy.
6.
Nội dung Chúa dạy tôi là “Hãy đi vào cửa tình thương và con đường cứu độ”. Cửa đó và con đường đó là chính Chúa Giêsu “Thầy là con đường là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Suốt đời Chúa Giêsu là yêu thương hy sinh và Người kết thúc đời mình bằng hy sinh chính mạng sống mình vì yêu thương. “Thầy hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”(Ga 10,15).
Chúa Giêsu đã hy sinh như thế, để vâng phục thánh ý Chúa Cha. Chúa Cha muốn Người là của lễ đền tội cho loài người, và để làm chứng Thiên Chúa chính là tình yêu. Tình yêu ấy chiến thắng mọi sự. Vì vậy, khi vào trần gian, Ðức Kitô nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xóa tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con”. (Dt 10, 5-7). Chính Người sẽ là của lễ hy sinh.
7.
Con đường hy sinh được biểu dương bằng cây thánh giá chính là một cách làm vinh danh Chúa. “Xin Cha tôn vinh Con Cha, để con tôn vinh Cha”(Ga 17,19). Chúa Cứu Thế đã cầu nguyện như thế trước giờ tử nạn.
8.
Chúa dạy tôi là hãy cộng tác với Chúa, bằng cách cùng với Người cứu nhân loại bằng tình yêu và trong tình yêu. Chúa muốn tôi đi tới tận cùng con đường tình yêu. “Chúa yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Yêu thương là phải hy sinh.
9.
Có lúc, tôi sợ con đường hy sinh theo Chúa Cưu Thế, lúc đó Người như khích lệ tôi. Người quả quyết tôi được Chúa chọn để sống theo Chúa. “Không phải con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn con” (Ga 15,16).
10.
Trên đây là những gì Chúa Giêsu đang đào tạo tôi trong sâu thẳm tâm hồn tôi.
Thực tế luôn phức tạp, nhất là trong lúc này. Cho dù tôi có sẵn lửa mến, giúp đi tới cùng con đường tình yêu như Chúa Giêsu. Nhưng để áp dụng vào thực tế, tôi phải thấu hiểu thực tế theo ánh sáng của Chúa, rồi tôi cần phải khôn ngoan trong việc thực thi ý Chúa theo hoàn cảnh mình sống như ý Chúa muốn.
Chúa dạy tôi rằng: Làm thực tốt bổn phận hằng ngày, đó chính là của lễ mang tình yêu và hy sinh.
11.
Chia sẻ trên đây của tôi là hết sức thành thật, mang tính cách gởi gắm, xin anh chị em thương yêu cầu nguyện cho tôi rất nhiều. Vì tôi rất yếu đuối.
Tôi tin Chúa cũng đang đào tạo rất nhiều con cái Chúa đang sống trên quê hương Việt Nam này. Cũng có thể Người đang đào tạo họ theo cùng một cách như Người đang đào tạo tôi. Nhưng có thể Người đang dùng cách khác để đào tạo họ. Dù với cách nào, Chúa vẫn coi việc đào tạo là cần thiết.
Tình hình lúc này đang chờ đợi được cứu, cũng nhờ những con người được đào tạo theo thánh ý Chúa. Họ được Chúa dùng để cộng tác với Chúa. Chúa muốn như vậy. Chúa mời gọi mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy vâng nghe với tâm tình cảm tạ. Đừng chậm trễ, kẻo sẽ quá muộn.
Long Xuyên 31.01.2015

 

Bùi-Tuần 1316: Nhân tháng kính thánh Giuse XIN LÀ CON CÁI ĐÍCH THỰC

 CỦA THÁNH GIUSE 28-02-2015
 + GB. Bùi Tuần
 

Từ còn rất nhỏ, tôi đã có lòng kính thánh Giuse. Trải qua nhiều thử thách, cuộc sống của tôi được: 28-02-2015 Bùi-Tuần 1316

1.
Từ còn rất nhỏ, tôi đã có lòng kính thánh Giuse. Trải qua nhiều thử thách, cuộc sống của tôi được như hôm nay, cũng nhờ ơn thánh Giuse.
Thánh Giuse đã dạy tôi rất nhiều. Ở đây, tôi xin được chia sẻ vắn tắt mấy ơn đặc biệt Ngài ban khi uốn nắn và đào tạo tôi.
2.
Ơn thứ nhất là thánh Giuse dạy tôi hãy tin vào Lời Chúa một cách tuyệt đối và đơn sơ.
Xưa thánh Giuse đã được Chúa dạy làm những điều rất khó hiểu, như nhận Trinh Nữ Maria nghèo làm bạn đời, như đem thánh gia nghèo trốn sang Ai Cập, như đưa Mẹ Con nghèo trở về Israel qua con đường kín đáo để sống âm thầm tại Nadarét. Thánh Giuse biết đó là những việc khó hiểu và khó thực thi. Nhưng Ngài tin vào Lời Chúa một cách đơn sơ và tuyệt đối. Tin khiêm nhường. Tin phó thác.
3.
Tôi cũng được Chúa dạy nhiều điều khó hiểu và khó làm trong bổn phận đối với người nghèo. Công đồng Vatican II dạy: “Khi sử dụng của cải, con người phải coi tài sản mình đang sở hữu cách chính đáng, không chỉ là của riêng mình, nhưng còn là của chung, trong ý nghĩa là của cải có thể sinh ích không những cho riêng mình, mà còn cho nhiều người khác.
Đàng khác, mọi người đều có quyền nhận được phần của cải đủ nuôi sống bản thân và gia đình mình. Đó là điều các Giáo phụ và các Tiến sĩ Giáo Hội đã nghĩ đến khi dạy mọi người hiểu về bổn phận phải giúp đỡ người nghèo, vì không phải chỉ giúp bằng của dư thừa... Trước con số quá lớn những người đói khổ trên thế giới, Thánh Công đồng tha thiết kêu gọi mọi người hãy nhớ đến lời sau đây của các Giáo phụ: Hãy cho kẻ sắp chết đói ăn, vì nếu không cho họ ăn là đã giết họ” (Giáo Hội trong thế giới ngày nay, số 68).
4.
Tôi khó hiểu và khó thực thi những lời sau đây: “Tài sản của tôi không là của riêng tôi, nhưng cũng là của chung.
“Tôi có bổn phậnn phải giúp đỡ kẻ nghèo, không phải chỉ bằng của dư thừa.
“Không cho kẻ sắp chết đói ăn, tức là đã giết họ”.
Thú thực là nhiều khi tôi chỉ đọc lướt qua những câu nói trên của Công đồng, bởi vì tôi như không muốn hiểu, để khỏi phải thực hành. Nhưng thánh Giuse không ngừng dạy tôi là phải vâng ý Chúa mà sống tốt với kẻ nghèo, như xưa Ngài đã thực hiện. Tạ ơn thánh Giuse, tôi đã vâng ý Ngài. Dần dần tôi cảm thấy mình phải tin vào Lời Chúa và phải sống tốt hơn với kẻ nghèo. Cho dù tôi chỉ làm được rất ít cho họ. Nhưng phần rất ít đó là rất quan trọng cho lương tâm tôi.
5.
Ơn thứ hai là thánh Giuse dạy tôi hãy coi chức vụ Chúa trao để mà phục vụ, và phục vụ thì phải khiêm nhường và tỉnh thức.
Xưa, thánh Giuse được Chúa chọn làm bạn trăm năm của Đức Mẹ Maria, là làm cha nuôi của Chúa Giêsu. Đó là những chức cao quyền trọng. Nhưng thánh Giuse chỉ coi những chức quyền ấy như những bổn phận phục vụ.
Phục vụ của Ngài được thực hiện một cách khiêm nhường. Ngài chôn vùi mình vào cuộc sống âm thầm. Nhiệt tình mà kín đáo. Tỉnh thức mà lặng lẽ. Vất vả nhọc nhằn mà thinh lặng. Ngài phục vụ với tất cả tấm lòng yêu thương. Phục vụ của Ngài là rất thiết thực: Làm đúng việc, đáp ứng đúng nhu cầu, vào đúng lúc, với đúng cách.
Phục vụ tế nhị của Ngài tạo nên một bầu khí ấm áp bao trùm thánh gia, xây dựng được các liên đới tốt với những người xung quanh.
6.
Thánh Giuse dạy tôi hãy sống cuộc đời phục vụ như Ngài. Tôi thực tình rất muốn theo gương Ngài. Nhưng thực tế không dễ dàng chút nào. Thói đời, thói đạo thường tạo ra vô số những hào quang giả, để gắn vào chân dung các người có quyền chức. Những người có quyền chưc nếu không tỉnh thức, cũng lại dễ hãnh diện với những hào quang đó. Thế là phục vụ cua họ sẽ rơi vào phô trương, nhiều khi tới mức ghê tởm mà không hay biết.
7.
Tôi xin thánh Giuse thương giúp tôi trong phục vụ. Ngài giúp tôi. Nhưng Ngài đòi tôi phải phấn đấu không ngừng. Vì thế, cho đến hôm nay, tôi vẫn phải phấn đấu rất nhiều. Trong phấn đấu có những lúc phải bắt đầu lại, với sám hối và cầu nguyện thiết tha. Tôi vững tin vào Chúa.
8.
Ơn thứ ba là thánh Giuse dạy tôi bất cứ việc gì tôi làm đều hãy được đóng dấu: Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế.
Xưa, khi sứ thần Thiên Chúa báo tin cho thánh  Giuse biết: Đức Maria sẽ hạ sinh con trai, thì sứ thần lại truyền lệnh cho Ngài là “Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21).
Nay, thánh Giuse cũng theo hướng đó. Ngài dạy tôi làm gì cũng hãy gắn chặt vào danh Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế.
9.
Khi thực hành lời dạy trên đây của thánh Giuse, tôi hay bị lạc vào những thứ danh không phải là Đức Giêsu, mà là danh các thần khác. Nếu là danh Đức Mẹ, thánh Giuse và các thánh thì vẫn khá. Nhưng khốn nỗi, nhiều khi danh, mà tôi nêu lên và dựa vào lại là các cơ sở, cơ chế, công trình, tổ chức này nọ. Vô tình những danh đó lại là những bức cản hình ảnh Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế.
10.
Hiện nay, các thứ danh đang đua nhau dựng lên khắp Hội Thánh tại Việt Nam. Nhiều nơi, các danh đó đã quá nhiều, quá lớn, đến nỗi làm cho danh Chúa Giêsu bị trở nên lu mờ.
Phải nói: đây là một phát triển đạo một cách không lành mạnh. Thánh Giuse dạy tôi hãy vâng lời Công đồng Vatican II mà trở về tập trung vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Chỉ có Chúa Giêsu mới thắng được ma quỷ. Chỉ có Chúa Giêsu mới cứu được con người khỏi tội. Chỉ có Chúa Giêsu mới là của lễ đền tội có sức cứu được con người khỏi lửa hoả ngục.
11.
Mấy chia sẻ trên đây đang giúp tôi trở nên người con đích thực của thánh Giuse. Thời nay, lãnh vực nào cũng có cái thực cái giả. Trong lãnh vực đạo, rất nhiều người xưng mình là con thánh Giuse. Nhưng con đích thực mới thực sự đáng quý.
Cúi xin thánh Giuse thương giúp tôi luôn biết phấn đấu trở về, để là con đích thực của vị thánh khiêm nhường, đấng bảo vệ Hội Thánh của Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế.
Long Xuyên, 28.2.2015

 

Bùi-Tuần 1317: ĐAU KHỔ ĐÃ VÀ ĐANG ĐƯỢC BÁO TRƯỚC

08-03-2015
 + GB. Bùi Tuần
 

Mùa Chay kêu gọi tôi suy gẫm cách riêng về cuộc Thương khó của Chúa Giêsu. Suy gẫm của: 08-03-2015 Bùi-Tuần 1317

1.
Mùa Chay kêu gọi tôi suy gẫm cách riêng về cuộc Thương khó của Chúa Giêsu. Suy gẫm của tôi từ đầu mùa Chay năm nay đến bây giờ tự nhiên hướng về một nét đặc biệt của cuộc Thương khó Chúa, đó là đau khổ của Chúa Giêsu đã được báo trước.
2.
Đau khổ của Chúa Giêsu đã được báo trước thế nào?
Để rồi, đau khổ của môn đệ Chúa Giêsu cũng được báo trước ra sao?
Sống với những báo trước quan trọng ấy, chính là nét sống tu đức của tôi hôm nay. Dưới đây, tôi xin được chia sẻ vắn tắt đôi chút kinh nghiệm của tôi.
3.
Bình thường, tôi quen sống đức tin bằng sự gặp gỡ thân mật với Chúa Giêsu, tôi để ý nhiều đến tính cách thân mật trong cuộc sống bình thường. Nhưng khi suy gẫm về cuộc thương khó Chúa, tự nhiên tôi gặp gỡ Chúa trong một hoàn cảnh rất khác, đó là hoàn cảnh Người chịu đau khổ, nhục nhã, nghèo hèn.
4.
Do thân mật, tôi nói với Chúa: “Chúa bị khinh, bị chối bỏ, bị kết án, bị giết như thế, thì còn gì là thu hút đối với những ai muốn theo Chúa?”. Cũng trong thân mật, Chúa trả lời tôi: “Con Người phải chịu khổ đau như thế, để đưa nhân loại vào Nước Thiên Chúa. Cái thu hút không phải là đau khổ, mà là hy sinh cho tình yêu. Chính vì thế, mà đau khổ Cha chịu đã được Cha báo trước”.
5.
Thế rồi, Chúa cho tôi nhớ lại những lời chính Chúa đã báo trước về cuộc thương khó của Người. Thánh sử Marcô thuật lại ba lần chính Chúa báo trước: Phải qua đau khổ, mới tới Phục sinh.
6.
Lần thứ nhất: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và sau ba ngày sẽ sống lại” (Mc 8,31).
Lần thứ hai: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời. Họ sẽ giết chết Người. Và Người bị giết chết. Rồi sau ba ngày, Người sẽ sống lại” (Mc 9,31).
Lần thứ ba: “Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người, và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại” (Mc 10,33-34).
7.
Chúa Giêsu đã thấy trước, và đã báo trước cuộc thương khó của Người. Có nghĩa là Chúa coi cuộc thương khó là con đường tốt nhất Người chọn, để làm chứng cho tình yêu, để đưa loài người vào Nước Thiên Chúa.
Thú thực là tôi tin hơn là tôi hiểu. Niềm tin ấy cũng là do ơn Chúa. Tôi đón nhận ơn đó, tôi cộng tác vào ơn đó với tất cả tấm lòng khiêm tốn của tôi.
8.
Rồi, cũng trong thân mật, Chúa Giêsu âu yếm nói với tôi những lời xưa Người đã nói với các môn đệ của Người. Đại khái là: con đường Người đã đi sẽ là con đường tôi phải đi. Chúa phán: “Ai muốn theo Cha, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Cha” (Mc 8,34).
9.
Đem Lời Chúa trên đây soi vào cuộc đời mình, tôi thấy đúng là chỗ nào cũng không tránh được đau khổ.
“Phải từ bỏ mình” đâu có dễ.
Cái tôi xấu không hẳn chỉ gồm những thói hư nết xấu, mà cũng gồm cả những tư tưởng, việc làm, lời nói mà tôi tưởng là đạo đức, nhưng thực sự lại không hợp ý Chúa, nên bị Chúa ruồng bỏ. Thánh Phêrô xưa, khi nghe thầy mình báo về cuộc thương khó Người sẽ phải chịu, đã phát biểu một cách đầy đạo đức: “Xin Thiên Chúa thương Thầy, đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy”. Nhưng Chúa Giêsu quay lại bảo Phêrô: Satan, hãy lui lại đàng sau Thầy, tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,22-23). Tôi nay nhiều lúc cũng vậy. Từ bỏ mình luôn có khổ đau.
10.
“Vác thập giá mình” cũng đâu là chuyện nhởn nhơ.
Nếu thập giá của tôi là những giới hạn của tôi, là bệnh tật của tôi, là gánh nặng tuổi tác của tôi, là những nghịch cảnh luôn có trong cuộc đời, vv... thì đau khổ tất nhiên sẽ đồng hành chặt chẽ với tôi. Nói lên thực tế đó chính là một điều lương thiện.
11.
“Mà theo Chúa”, đó mới chính là chuyện chắc chắn phải khổ.
Theo Chúa, để ở bên Chúa, để cùng chia sẻ với Chúa, đâu là chuyện lúc nào cũng vui. Khi Chúa bị đánh đòn, bị khạc nhổ vào mặt, bị vác thập giá, bị đóng đinh vào đó, bị xỉ vả, chế nhạo. Lúc đó, Chúa bảo: Con hãy cùng theo Chúa mà chia sẻ thân phận như thế của Chúa. Tôi xin thú thực là tôi không luôn sẵn sàng. Nếu có sẵn sàng, thì cũng phải nhận rằng mình phải thực sự đau đớn, như Chúa đã thực sự đau đớn. Đó mới là theo Chúa thực sự.
12.
Với những gì tôi vừa chia sẻ trên đây, tôi xin đưa tới một cảm nghiệm đau đớn, mà chính tôi đã trải qua, đó là:
Đôi khi những đau đớn coi như quá tàn nhẫn cứ mãi đổ trên mình một cách vô lý, tôi thấy đời mình như đi vào thất bại. Một đàng tôi cảm thấy mình như đã trở thành gánh nặng cho người khác, một gánh nặng họ muốn loại trừ. Một đàng tôi như mất niềm tin vào lòng khoan dung của người khác. Đó là một nỗi đau lớn, gây nên thương tích trong lòng tôi. Nó ảnh hưởng nhiều đến cái nhìn của tôi về chủ nghĩa thực dụng đang tràn vào Hội Thánh tại Việt Nam.
Nhưng Chúa vẫn thương tôi. Chúa dạy tôi hãy cứ khiêm nhường cầu nguyện. Và kết quả là cho đến bây giờ tôi vẫn tin vững vàng vào Lời Chúa: “Phải qua đau khổ mới tới được Phục sinh”. Đau khổ là cái giá phải trả để cứu chuộc các linh hồn khỏi lửa hoả ngục.Đau khổ có nhiều thứ và nhiều mức độ, Chúa không thử thách ai quá sức của họ.
13.
Đau khổ đã và đang được báo trước cho các môn đệ Chúa, trong đó có tôi. Tôi không biết những gì sẽ xảy ra cho chúng ta. Riêng tôi, tôi vẫn chuẩn bị trong tâm hồn mình bằng những ước mong là được theo Chúa và ở bên Chúa, trên con đường thương khó của Chúa.
Tôi chuẩn bị như vậy. Còn thực tế cuộc đời tôi luôn ở trong tay Chúa. Tôi coi đây là điểm rất quan trọng trong việc đào tạo sống chân lý Tin Mừng đích thực. Cho dù đau khổ trăm bề, tôi tin tôi vẫn hạnh phúc, vì được ở bên Chúa. Người vẫn thương tôi. Tuy nhiên phải thú thực điều này: Rất nhiều khi, tôi đã xin Chúa đừng bắt tôi uống chén đắng. Rất nhiều khi, tôi đã vác thánh giá, mà ngã quỵ xuống đất. Rất nhiều khi, người khác đã vác thánh giá thay tôi. Rất nhiều khi, tôi đã thốt lên những lời than cô đơn, khi bị treo lên thánh giá. Vì tôi quá yếu đuối. Lạy Chúa, xin xót thương con. Con tin đau khổ là trường đào tạo con. Con cảm tạ Chúa đang đào tạo con bằng đường thánh giá.
Long Xuyên 08.3.2015

 

Bùi-Tuần 1318: TỪ VỰC SÂU CON KÊU LÊN CHÚA 13-03-2015

 + GB. Bùi Tuần
 

Trong vườn Cây Dầu, tối thứ Năm Tuần thánh, Chúa Giêsu đã trải qua một cơn buồn sầu xao xuyến : 13-03-2015 Bùi-Tuần 1318

1.
Trong vườn Cây Dầu, tối thứ Năm Tuần thánh, Chúa Giêsu đã trải qua một cơn buồn sầu xao xuyến rất kinh hoàng. “Người sấp mặt xuống đất, cầu nguyện rằng: Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39).
2.
Chén, mà Chúa Giêsu xin Chúa Cha đừng bắt Ngài uống, chính là cuộc khổ nạn sắp tới. Chúa Giêsu sợ cuộc khổ nạn mà Ngài biết trước là rất đớn đau. Ngài muốn thoát khỏi. Chứng tỏ rằng cuộc khổ nạn là một thực tế gây những đau đớn khôn lường. Ngài kêu xin Chúa Cha, đó là nguồn an ủi và sức mạnh.
3.
Những gì đã xảy ra cho Chúa Giêsu xưa, cũng đã và đang xảy ra cho tôi. Khổ nạn của tôi là rất nhỏ. Nhưng đối với sức của tôi, nó thực là lớn. Tôi sợ hãi. Tôi kêu lên với Chúa. Tôi kêu than, tôi kêu cầu, tôi kêu rên, tất cả đều có nghĩa là tôi hy vọng vào Chúa. Tôi như con người ở dưới đáy vực sâu kêu lên Chúa. Sau cùng, tôi đã gặp được Chúa. Đó là điều tôi xin được chia sẻ, như một nhân chứng hèn mọn.
4.
Từ vực sâu của những người tội lỗi, tôi kêu lên Chúa.
Chỗ ở của những người tội lỗi là vực thẳm tối tăm. Tôi ở chung với họ, tận đáy vực thẳm. Từ đó, tôi kêu Chúa: “Lạy Chúa, xin thương xót con”.
Tôi kêu thảm thiết. Và Chúa đã trả lời tôi. Người đã bước xuống. Ngài đã cứu tôi. Tôi nghe Người nói: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc. Người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17). Tôi cũng nhớ lại lời thánh Phêrô: “Anh em đã được cứu chuộc nhờ máu châu báu của Con Chúa vẹn toàn, vô tì tích là Đức Kitô” (1Pr 1,19).
Trong đáy vực sâu, Chúa đã gọi tên tôi, Chúa đã lấy máu của Người, mà xoá tội cho tôi. Tôi xin làm chứng điều đó.
5.
Là kẻ tội lỗi, tôi cũng còn là kẻ nghèo túng
Từ vực sâu của những người nghèo túng, tôi kêu lên Chúa.
Nghèo túng trong tôi gồm đủ mọi thứ thiếu thốn như nghèo sức khoẻ, nghèo tài đức, nghèo uy tín. Những người nghèo cũng ở trong một vực thẳm. Tôi ở chung với họ. Từ đáy vực thẳm đầy thê thảm ấy, tôi kêu lên Chúa những lời van xin thống thiết. Chúa đã nhậm lời tôi. Người đã bước xuống. Người đã ôm lấy tôi. Tôi được nghe lại những lời Người đã nói xưa: “Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,5-6).
Tôi là người tội lỗi, tôi là người bần cùng. Với những tư cách đó, tôi đã gặp được Chúa từ những vực thẳm. Thêm vào đó, tôi còn là kẻ bé mọn.
6.
Từ vực sâu của những kẻ bé mọn, tôi kêu lên Chúa.
Kẻ bé mọn được hiểu là những kẻ bị đẩy ra lề xã hội. Tôi đứng chung giữa họ. Chúng tôi như rơi vào vực thẳm. Từ vực sâu ấy, tôi kêu lên Chúa. Chúa đã bước xuống. Người đã ôm lấy tôi. Tôi được nghe lại lời Người đã phán xưa: “Mỗi lần các ngươi làm điều tốt cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Tôi cảm thấy tôi được thuộc về Chúa, chính vì tôi hèn mọn đã kêu cầu Chúa.
Kinh nghiệm về sự kêu cầu từ ba vực sâu kể trên đã giúp tôi kêu cầu từ một vực sâu khác, đó là vực sâu của những người cầu nguyện và ăn chay đích thực trong âm thầm khiêm tốn.
7.
Từ vực sâu của những người cầu nguyện và ăn chay, tôi kêu lên Chúa.
Họ là những người cầu nguyện và ăn chay một cách âm thầm theo như Chúa dạy (x. Mt 6,5-6. 16-18).
Khi cùng với họ cầu nguyện và ăn chay, như xưa Chúa Cứu Thế đã làm trong hoang địa, tôi cảm thấy mình như đứng dưới đáy vực thẳm vô hình. Từ đó tôi nhìn lên Chúa. Và Chúa cho tôi thấy Satan là ác thần rất dữ tợn. Tôi kêu cầu Chúa. Chúa bước xuống. Người bảo vệ tôi. Tôi nghe Người quả quyết: “Giống quỷ này không chịu rút lui, nếu người ta không ăn chay và cầu nguyện” (Mt 17,21).
8.
Tất cả những gì tôi vừa diễn tả trên đây cho phép tôi nhận rar ơn Chúa đã và đang ban cho tôi là rất lớn lao. Chúa dẫn đưa tôi về Nước Trời qua hướng phục vụ cộng đoàn.
Tôi phục vụ cộng đoàn bằng cách tôi đồng hành với những người tội lỗi, bần cùng, bên lề xã hội, và cùng với những người cầu nguyện và ăn chay.
Tôi phục vụ họ không phải chỉ là đồng hành, mà còn là đi vào sâu những vực thẳm cuộc đời của họ.
Tôi phục vụ họ còn là cầu nguyện và ăn chay¸ để cùng với họ phó thác mình theo bước Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Chỉ có Người là Đấng cứu chúng ta khỏi ác thần. Chỉ có Người là Đấng cứu chúng ta khỏi tội lỗi. Chỉ có Người là Đấng cứu chúng ta khỏi mọi cản trở, để đưa chúng ta vào được Nước Trời.
9.
Hướng đi của cuộc đời tôi đã được rõ nét. Hướng đó không dễ dàng chút nào. Tôi phải tỉnh thức và phấn đấu không ngừng, theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Điều này chứng tỏ việc tăng cường đời sống nội tâm là một nhu cầu quan trọng và cấp bách.
Tăng cường đời sống nội tâm đôi khi là phải xây dựng lại đời sống nội tâm. Xây dựng lại đời sống nội tâm cũng chính là xây dựng lại toàn thể con người của tôi về mọi mặt, để tôi trở thành một dụng cụ ngoan ngoãn của Chúa, và là một của lễ dâng lên Chúa.
10.
Trong việc xây dựng lại con người của tôi, Chúa cho tôi thấy là tôi sẽ phải từ bỏ rất nhiều, để cùng đi với Chúa trên con đường, mà nhiều khi tôi chẳng muốn. Tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu đã nói với thánh  Phêrô: “Thực, Thầy bảo cho con biết: Lúc còn trẻ, con tự mình thắt lưng lấy và đi đâu tùy ý. Nhưng khi về già, con sẽ phải giang tay ra cho người khác thắt lưng cho, và dẫn con đến nơi con chẳng muốn” (Ga 21,14).
Lạy Chúa, từ vực sâu con kêu lên Chúa, và Chúa đã nhậm lời con.
Long Xuyên, ngày 13.3.2015.

 

Bùi-Tuần 1319: XÓT THƯƠNG CHÚA GIÊSU và XÓT THƯƠNG

 NHỮNG NGƯỜI ĐAU KHỔ 23-03-2015
 + GB. Bùi Tuần
1.
 

Càng gần Tuần Thánh, các cộng đoàn đức tin càng tích cực chuẩn bị cho lễ kỷ niệm cuộc thương : 23-03-2015 Bùi-Tuần 1319

Càng gần Tuần Thánh, các cộng đoàn đức tin càng tích cực chuẩn bị cho lễ kỷ niệm cuộc thương khó Chúa Giêsu. Tĩnh tâm, viếng đàng thánh giá, tập các nghi thức, sửa soạn đèn nến, tập các thánh ca, bác ái mùa Chay, hành hương vv...
2.
Phần tôi, vì hoàn cảnh già yếu bệnh tật, tuy cũng chuẩn bị, nhưng bằng một cách khác. Một cách, mà Chúa khuyên, đơn sơ chỉ có hai điều, tập trung vào trái tim:
Hãy xót thương Chúa Giêsu nhiều hơn.
Hãy xót thương những người đau khổ nhiều hơn.
Để có lòng xót thương thực sự, Chúa dạy tôi hãy mở lòng tôi ra bằng những việc sau đây:
3.
Việc thứ nhất Chúa dạy tôi làm là hãy chiêm ngắm Chúa Giêsu.
Chiêm ngắm Chúa Giêsu không phải là đọc kinh nhiều, ở lâu trong nhà thờ, suy gẫm theo lý luận, làm những việc đạo đức theo chương trình hoạch định sẵn, phác hoạ những kế hoạch này nọ cho sinh hoạt cơ chế cộng đoàn.
Nhưng, chiêm ngắm Chúa Giêsu là gặp gỡ Chúa Giêsu, nhất là trước Mình và thánh giá. Gặp gỡ đó là rất thân mật, rất tư riêng, rất sống động. Gặp gỡ đó dần dần đi tới việc dâng hiến mình cho Chúa Giêsu, hoàn toàn vì yêu và vì tin, theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
4.
Đến một lúc, tôi khám phá thấy mình đã nhiều khi không thực sự sống và hoạt động cho Người, vì Người và cho Người. Tôi thấy Người đã quá khổ vì tôi. Tôi xót thương Chúa. Tôi hiểu Người đã tự nguyện chịu muôn vàn đau khổ, để cứu tôi, để đền tội thay cho tôi, để tôi được sống và được sống lại.
5.
Tôi xót thương Chúa Giêsu của tôi. Xót thương ấy gắn chặt tôi vào cuộc đời của Người. Tôi bước theo Người qua mọi gian nan thử thách, một cách hết sức tin tưởng, để cùng với Người, tôi góp phần nhỏ mọn vào chương trình cứu độ của Người.
6.
Việc thứ hai Chúa dạy tôi làm là hãy gần gũi với những người đau khổ.
Chính Chúa giúp tôi gần gũi với những người đau khổ bằng cách Chúa để tôi trở thành một người đau khổ. Từ lâu rồi, nhưng nhất là từ ít tháng nay, tôi bị các thứ cơn đau xâm chiếm một cách khác thường. Thân xác đau. Tâm hồn đau. Có những lúc tôi đau yếu, đến nỗi không còn sức cầu nguyện như thường. Chỉ còn biết kêu: Lạy Chúa, xin xót thương con. Con xin dâng cho Chúa mọi đau khổ con chịu để Chúa cứu các linh hồn.
Chính trong những tình trạng đau đớn như thế, tôi cảm thấy mình thực sự gần gũi với những người đau khổ. Tôi đau khổ, nên cảm thấy thấm thía giá trị của sự xót thương. Xót thương của Chúa, xót thương của bất cứ ai, khi tôi nhận được, đều được tôi cảm nghiệm như một quà tặng hết sức quý giá.
7.
Xót thương lúc đó như một sứ điệp thiêng liêng gởi đến cho tôi. Tôi nhận ra rất dễ. Tôi đọc được rất mau. Tôi hiểu được rất sâu. Dù xót thương chỉ trong cái nhìn, chỉ trong một lời nói, một thái độ, cũng có sức an ủi và nâng đỡ tôi.
8.
Và cũng trong tình trạng đau khổ luôn đợi chờ sự xót thương, tôi mới hiểu sự vô tâm, dửng dưng, sự xa tránh, sự bôi bác, và máy móc của các tương quan, đều có thể đẩy con người đã đau khổ vào tình trạng xấu hơn.
9.
Từ kinh nghiệm đó, tôi hiểu đức tin của tôi, nếu không được phiên dịch ra tình yêu dạt dào xót thương, thì không đúng ý Chúa.
Cái đã và đang thu hút được tôi đến với tôn giáo này, tín ngưỡng nọ, không phải là niềm tin sắt đá của những tín đồ của họ, mà là tình yêu đầy xót thương nơi họ diễn tả ra từ đức tin của họ.
Một số người Hồi giáo cực đoan hiện nay đang thực hiện những cuộc tàn sát dã man, nói là để làm chứng cho đức tin của mình, thì thực là một cách phỉ báng cho đức tin của mình.
10.
Nhìn người, mà sợ cho chính mình. Nếu không tỉnh thức, tôi cũng có thể đi vào cách sống đức tin xa rời và phản lại đức ái, mà vẫn tự phụ cho mình là chứng nhân của đức tin. Cảnh tra tấn những người bị nghi là phá đạo, cảnh đốt phá những làng bị kết án là chống đạo, cảnh sát hại những người đồng đạo không chịu theo đường lối cực đoan. Tất cả những cách đó cũng đã xảy ra đó đây trong lịch sử Công giáo. Vì thế, tôi cần sửa lại và tránh xa bằng sự tăng cường lòng thương xót.
11.
Tôi rất mừng gặp được nhiều gương sáng về lòng xót thương tại Việt Nam hôm nay.
Xót thương công khai thấy được cũng nhiều. Xót thương âm thầm không thấy được lại nhiều hơn. Xin hết lòng tạ ơn Chúa.
12.
Tuy nhiên, tôi không được phép chủ quan, coi những xót thương hiện giờ sẽ phát triển đúng hướng mãi mãi và đều khắp. Satan đang và sẽ phá lòng xót thương bằng nhiều cách tinh vi. Một trong những cách xấu đang được Satan dùng là xúi chúng ta, thay vì xót thương những con người, thì lại tập trung lòng xót thương vào các công trình đạo, các cơ chế đạo.
Nếu không tỉnh thức, lương tâm tông đồ nơi chúng ta vì thế sẽ trở nên mù quáng, coi những xót thương đó là việc ưu tiên, để rồi xót thương con người sẽ bị lu mờ dần.
13.
Đức Thánh Cha Phanxicô rất quan tâm đến việc xót thương con người, nhất là đối với những người già yếu, bệnh tật nghèo túng và các trẻ em. Ngài chủ trương xót thương thì phải cụ thể và quảng đại.
Cụ thể và quảng đại là thế nào? Tôi nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Người trả lời tôi: “Cụ thể và quảng đại là như Cha trên thánh giá. Rất yêu thương và rất hy sinh đến thế để cứu con và cứu đời. Con cũng hãy làm như vậy”.
Tôi hiểu, để yêu thương và hy sinh như Chúa đã làm gương, tôi phải phấn đấu rất nhiều. Tôi phải đặt lại vấn đề đào tạo chính mình và những người muốn là môn đệ Chúa, để làm chứng cho Chúa tại Việt Nam hôm nay.
Lạy Chúa, xin xót thương con, xin giúp con biết xót thương như Chúa đã xót thương.
Long Xuyên, ngày 23.3.2015.

 

Bùi-Tuần 1320: CHÚA PHỤC SINH ĐẾN VỚI TÔI 28-03-2015

 + GB. Bùi Tuần
 

Mới rồi, một biến cố đã xảy đến cho tôi. Biến cố riêng tư, tuy nhỏ, nhưng đang ảnh hưởng lớn : 28-03-2015 Bùi-Tuần 1320

Mới rồi, một biến cố đã xảy đến cho tôi. Biến cố riêng tư, tuy nhỏ, nhưng đang ảnh hưởng lớn đến đời tôi. Tôi xin được phép chia sẻ.
Sau một ngày được đọc và được nghe kể về những cuộc lễ tạ ơn trọng thể đó đây, trong đó đề cao những thành tích lẫy lừng nhiều mặt, tôi cảm thấy như có một sự giới thiệu về Ơn Phục Sinh tại những nơi ấy.
Đêm đến, tôi lên giường, muốn ngủ mà không ngủ được. Tôi cầu nguyện. Thế rồi, tôi đi vào một giấc mơ. Tôi thấy Chúa Giêsu Phục Sinh đến với tôi. Một cảm giác rất mạnh bừng lên trong tôi, làm tôi sung sướng và bình an lạ thường, đó là thấy Chúa Phục Sinh rất hiền lành, rất khiêm nhường, rất xót thương. Người nhìn tôi, mà không nói gì. Tôi nhìn Người, cũng không nói được gì. Đột nhiên, tôi bật khóc và tôi thức.
2.
Khi tỉnh dậy, tôi cảm thấy lòng tôi tràn trề niềm vui. Tôi thấy cái nhìn của Chúa Phục Sinh đã đổi mới tôi một cách sâu xa và mạnh mẽ. Tôi chỉ xin kể ra đây vắn tắt bốn soi sáng tôi nhận được. Soi sáng nào cũng là chân lý cứu độ tôi. Soi sáng nào cũng làm cho tôi được phục sinh.
3.
Soi sáng thứ nhất mở lòng trí tôi ra, là để tôi nhận biết tôi là kẻ tội lỗi.
Trong giây lát, cái nhìn của Chúa Phục Sinh cho tôi thấy quá khứ của tôi đầy những tội lỗi, hiện tại của tôi đầy những yếu đuối, tương lai của tôi đầy những điều phải đổi mới.
Tôi nhớ lại dụ ngôn “Người Pharisêu và người thu thuế” (Lc 18,9-14). Người Pharisêu khi cầu nguyện, đã hết lòng cảm tạ Chúa về bao việc đạo đức mình đã làm. Còn người thu thuế, khi cầu nguyện, thì hết lòng xin Chúa thương xót, vì nhận mình chỉ là kẻ tội lỗi. Chúa Phục Sinh soi sáng cho tôi thấy: Tôi hãy nhận mình là kẻ tội lỗi. Đó là sự thực. Tôi nhận rõ sự thực đó. Tôi sám hối. Tôi nhìn Chúa đang nhìn tôi. Tự nhiên tôi bật khóc.
4.
Soi sáng thứ hai mở lòng trí tôi ra, là để tôi nhận biết bất cứ tội nào của tôi cũng đều gây đau đớn cho chính Chúa Giêsu.
Cái nhìn của Chúa Phục Sinh đưa lòng trí tôi đến thánh giá. Tôi nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên đó. Người mang hình ảnh khủng khiếp của một tội nhân. Người chịu như vậy vì tội lỗi của tôi và của muôn người. Tội lỗi của tôi đã làm cho Người phải khổ. Tôi nhớ lại những lúc trước đây tôi dửng dưng trước đau khổ của Chúa Giêsu trên thánh giá. Người quá đau khổ vì tội lỗi tôi. Tôi nhận ra là sự dửng dưng đó của tôi đã làm cho Chúa bị đau khổ thêm. Tôi hối hận vô vàn. Tôi khóc.
5.
Soi sáng thứ ba mở lòng trí tôi ra, là để tôi nhận biết sự tha thứ Chúa dành cho tôi là do lòng thương xót Chúa.
Tôi nhớ lại dụ ngôn “Người cha nhân hậu” (Lc 15,11-32). Người cha này đã đối xử với người con phung phá trở về một cách xót thương quá sức tưởng tượng. Người cha ấy đã tha thứ, đã ôm lấy con, chỉ vì tình yêu xót thương. Hình ảnh người cha tha thứ đó dạy tôi, khi sám hối, phải nhìn vào Chúa là Cha, để đón nhận sự thứ tha. Chứ đừng đón nhận ơn tha thứ, chỉ từ các nghi thức. Các nghi thức sám hối, để ban ơn tha thứ, nếu chỉ nhấn mạnh đến hình thức bên ngoài, sẽ dễ tạo nên một sự thứ tha máy móc. Hãy gặp mặt chính Chúa là Cha, để trở về với Cha.
6.
Soi sáng thứ bốn mở lòng trí tôi ra là để tôi chọn Chúa Giêsu một cách tuyệt đối và dứt khoát.
Tôi đã chọn Chúa Giêsu. Sự lựa chọn đó của tôi là tuyệt đối. Tôi dám nói về sự lựa chọn đó bằng những lời của thánh Phaolô: “Tôi tin chắc rằng: Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được tôi ra khỏi tình yêu cua Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô  Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39).
Tôi chọn Chúa Giêsu là cũng chọn thánh giá của Người: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thánh giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14). Vì thế “Tôi luôn mang nơi thân xác mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Kitô cũng được biểu lộ nơi thân mình tôi” (2Cr 4,10). Tóm lại, “Tôi chỉ có một tham vọng là làm đẹp lòng Người” (2Cr 5,9).
7.
Những gì trên đây đã xảy đến cho tôi từ cái nhìn của Chúa Phục Sinh thực là tuyệt vời. Tôi hết lòng cảm tạ Chúa.
Tôi nghĩ Chúa Phục Sinh đã đến với nhiều người, có thể cũng một cách như đã đến với tôi, và có thể bằng những cách khác. Điều quan trọng là mỗi người chúng ta cần phải tỉnh thức và nhạy bén. Bởi vì Chúa Phục Sinh đến cách bất ngờ, lúc bất ngờ, và ở nơi bất ngờ.
Nếu chúng ta tưởng Chúa Phục Sinh sẽ đến theo chương trình chúng ta đã sắp đặt trước, thì ta tự lừa dối mình.
8.
Kinh nghiệm của riêng tôi cho tôi thấy: Chúa Phục Sinh thường hay đến với tôi bằng một cái nhìn thân thương của Người. Người gởi cho tôi cái nhìn thân thương ấy của Người qua nhiều phương tiện. Qua cầu nguyện, qua một số người, một số thời sự, một số bài báo, một số trang sách, một số biến cố vv... Tôi đã bắt chợt được những cái nhìn thân thương của Chúa. Chính nhờ ơn Chúa. Tôi đón nhận sứ điệp gói trong những cái nhìn đó, để rồi tôi gặp được chính Chúa Phục Sinh.
9.
Không phải sứ điệp nào trong những cái nhìn của Chúa đều làm tôi vui. Bởi vì không thiếu trường hợp, sứ điệp đó lại là những cảnh báo rất đáng sợ.
Xưa: “Khi đến gần Giêrusalem và nhìn thấy thành, Đức Giêsu khóc thương mà nói: ‘Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi. Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được. Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái ngươi đang ở giữa ngươi và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (Lc 19,41-44).
Chúa nhìn thành và đã khóc. Tôi đang thấy cảnh đó tái diễn. Người cảnh báo về một sự sụp đổ tang thương nào đó. Và tôi lo sợ. Lo sợ của tôi giúp tôi thêm khiêm nhường và bớt chủ quan để thêm cậy tin vào Chúa Phục Sinh.
10.
“Xin đừng làm theo ý con, nhưng xin theo ý Cha mà thôi” (Lc 22,42). Tôi luôn cùng với Chúa Phục Sinh nói lên lời phó thác đó, để thánh ý Chúa Cha được nên trọn nơi tôi. Tôi xác tín tôi được sai đi để làm chứng cho Chúa qua sự từ bỏ mình, để vâng phục trọn vẹn nơi Chúa Phục Sinh.
Long Xuyên 28-3-2015

 

Bùi-Tuần 1321: CHUYỆN CỦA HẠT LÚA GIEO VÀO LÒNG ĐẤT

 08-04-2015
+ GB. Bùi Tuần
 

Ngày 30 tháng 4 năm nay là một kỷ niệm lớn. Để mừng kỷ niệm trọng đại đó, tôi nhìn Hội Thánh: 08-04-2015 Bùi-Tuần 1321

1.
Ngày 30 tháng 4 năm nay là một kỷ niệm lớn. Để mừng kỷ niệm trọng đại đó, tôi nhìn Hội Thánh Việt Nam, cách riêng là tại miền Nam, và đặc biệt là tại giáo phận Long Xuyên của tôi.
Đúng là có nhiều nhà thờ mới, nhiều giáo điểm mới, nhiều cơ sở mới, nhiều nhân sự mới. Tôi hỏi Chúa xem tôi nên vui hơn cả về yếu tố nào, Chúa trả lời tôi là: Hãy vui vì đã và đang có nhiều hạt lúa được gieo vào lòng đất. Tôi nhớ lại lời Chúa phán xưa: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24).
2.
Lời Chúa trên đây giúp tôi nhận ra những ai đã và đang là loại hạt lúa được Chúa chôn vùi vào lòng Đất Quê Hương Việt Nam này, để hy sinh của họ nẩy sinh ra được nhiều người tốt.
Cảm tạ Chúa, tôi cũng phần nào được ơn là một hạt lúa như vậy. Nên tôi xin nói đôi chút về tôi, như một chứng nhân của ơn gọi là hạt lúa gieo vào lòng đất.

3.
Điều thứ nhất Chúa thường căn dặn tôi là hãy khiêm tốn và phó thác để Chúa chôn vùi tôi.
Càng ngày tôi càng hiểu tôi được chôn vùi, chứ không phải bị chôn vùi. Nghĩa là tôi coi sự chôn vùi là một ơn Chúa ban. Chôn vùi không phải chỉ là sự không đi tìm nổi nang, mà còn là để cho những khổ đau, những nhục nhã, những nhọc nhằn chôn vùi mình. Tự nhiên phản ứng là rất khó chịu. Nhưng với ơn Chúa, tôi đón nhận sự chôn vùi như thế. Tôi đón nhận, vì như thế là bước theo Chúa Giêsu, là được cùng khổ với Người, là được cùng với Người cứu các linh hồn, đưa họ về với Cha trên trời.
4.
Những cuộc đời được chôn vùi như thế, thực ra là được chôn vùi mình trong Chúa Kitô. Nhờ vậy, họ xác tín: “Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12,25).
Để sống chôn vùi như một ơn gọi, Chúa dạy tôi là phải luôn luôn cảnh giác. Ngay thời Chúa Giêsu, ma quỷ, thế gian, xác thịt đã xúi giục nhiều người coi phô trương các việc đạo là làm sáng danh Chúa. Chúng đã thành công. Vì thế, Chúa cảnh báo: Phô trương như vậy là đã được thưởng công rồi (x. Mt 6,1-6.16-17).
5.
Trong hoang địa, Satan cũng đã cám dỗ Chúa Giêsu hãy làm những việc phô trương, để chứng minh mình là Con Thiên Chúa. Nhưng Chúa Giêsu đã khước từ (x. Mt 4,1-10).
Chứng tỏ rằng: Thời nào và đâu đâu, phô trương cũng vẫn là chước cám dỗ có sức phá đạo. Thời nay cũng vậy. Vì thế, ơn gọi sống như hạt lúa được chôn vùi đòi nhiều tỉnh thức. Tỉnh thức nói đây là tỉnh thức Phúc Âm, chứ không phải tỉnh thức theo sự khôn ngoan thế gian. Tỉnh thức Phúc Âm là một lựa chọn mang nhiều đau đớn.
6.
Điều thứ hai Chúa thường nhắc nhủ tôi là hãy sáng suốt nhận ra thực tế của mảnh đất, mà Chúa muốn chôn vùi tôi.
Như một ví dụ, Chúa bảo tôi đọc lại những gì, thánh Gioan đã viết cho bảy giáo đoàn trong sách Khải Huyền (x. Kh 2-3). Giáo đoàn nào cũng có điều tốt, nhưng cũng có điều xấu. Gioan cảnh báo: “Ai có tai thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh” (Kh 2,7).
Chúa dạy tôi cũng hãy làm như vậy, với môi trường mình chôn vùi. Tôi sẽ phải vâng theo Chúa Thánh Thần soi sáng, mà tìm cách thích hợp nói lên ý Chúa, sau khi được Chúa cho thấy điều không tốt nơi họ, và điều đó là rất nguy hiểm cho họ.
7.
Kinh nghiệm cho tôi thấy môi trường nào cũng mang vài thực tế xấu, mà Chúa có nói trong dụ ngôn “Người gieo giống” (Mt 13,3-9). Nơi thì đất bị gai góc phủ, nơi thì bị sỏi đá pha trộn, nơi thì bị côn trùng làm tổ, nơi thì bị khô cứng lâu năm.
8.
Là hạt lúa được chôn vùi vào đâu, tôi phải có trách nhiệm với môi trường đó. Trách nhiệm nói lên ý Chúa gởi cho họ. Kinh nghiệm cho tôi thấy, nói lên ý Chúa gởi cho cộng đoàn không phải là việc dễ. Rất nhiều cộng đoàn, dù được tiếng đạo đức, vẫn thích an phận với nếp sống đã quen. Do vậy, họ trở thành vô cảm, xơ cứng. Và đó chính là một nỗi đau lớn của thân phận hạt lúa gieo vào lòng đất.
9.
Điều thứ ba Chúa luôn dạy tôi là chính bản thân tôi hãy luôn là hạt lúa tốt.
Thế nào là hạt lúa tốt? Tôi nhớ tới lời Chúa dạy: “Thầy là cây nho thật, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Và không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
Với lời Chúa phán trên đây, tôi hiểu, tôi sẽ là hạt lúa tốt, khi tôi kết hiệp mật thiết với Chúa, như cành với cây. Kết hợp mật thiết với Chúa là cả một sự cải hoá nội tâm sâu xa, lâu dài, thường xuyên, một cách kiên trì, trong khiêm tốn cầu nguyện và phấn đấu không ngừng.
10.
Như vậy, hạt lúa được chôn vùi vào lòng đất, thối đi và sinh nhiều trái, là một ơn gọi. Ơn gọi đó là một hành trình. Một hành trình đẹp, đang thu hút nhiều con người Việt Nam hôm nay.
11.
Riêng tôi, khi cầu nguyện xin ơn thánh hoá các linh mục, tôi hay thầm nói với Chúa rằng: Mừng cho những ai sẽ là ánh sáng soi khắp trần gian. Còn con, xin Chúa cho con chỉ là một hạt lúa được chôn vùi vào lòng đất, nó sẽ thối đi, để nếu nhờ đó nó chỉ sinh ra được vài hạt lúa tốt cho Chúa, thì con vẫn coi đó là một hồng ân Chúa ban, mà con sẽ cảm tạ Chúa đến muôn đời.
12.
Giờ đây, thời gian cuối đời, tôi đi gần về với Cha. Tôi không đi một mình, mà đang đi với muôn người, họ cũng là những hạt lúa âm thầm, họ còn được chôn vùi hơn tôi. Chúng tôi tin tưởng những hạt lúa âm thầm này được chôn vào lòng dân tộc, sẽ làm nên một mùa lúa mới đẹp thơm báo hiệu Nước Thiên Chúa là tình yêu vĩnh cửu đang gần đến.
Long Xuyên 8-4-2015

 

Bùi-Tuần 1322: THAO THỨC VÀ TỈNH THỨC 05-04-2015

 + GB. Bùi Tuần
 

Chỉ còn ít ngày nữa là chẵn 40 năm, 30/4/1975 - 30/4/2015. Đây là một chặng đường lịch sử đặc: 05-04-2015 Bùi-Tuần 1322

1.
Chỉ còn ít ngày nữa là chẵn 40 năm, 30/4/1975 - 30/4/2015. Đây là một chặng đường lịch sử đặc biệt của Đất Nước Việt Nam. Đối với nhiều người, chặng đường đặc biệt này là một lịch sử rất mới. Họ có nhiều lựa chọn.
2.
Tôi có những lựa chọn của riêng tôi. Những lựa chọn này luôn nhắm vào lợi ích chung, và luôn luôn được thực hiện trong ánh sáng của đức tin. Các lựa chọn đó có thể gom vào hai thứ sau đây:
Thao thức và tỉnh thức.
Để gọi là một chút làm chứng cho đức tin, dịp kỷ niệm 40 năm lịch sử này, tôi xin được chia sẻ vắn tắt.
3.
Thao thức lớn nhất và thường xuyên nhất của tôi ngay từ đầu giai đoạn lịch sử này là làm sao cho giai đoạn lịch sử mới này trở thành cơ hội để Quê Hương Việt Nam được hoà bình thực sự, hạnh phúc thực sự, nhờ yếu tố ưu tiên và quan trọng nhất, đó là mọi đồng bào biết yêu thương nhau thực sự, theo lời Chúa dạy.
Thao thức trên đây của tôi là một chọn lựa theo đức tin. Tôi coi chọn lựa đó chính là cách tôi bước theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu phán: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình, mà theo Thầy” (Mt 16,24).
4.
Khi tôi thao thức dấn thân vào công việc xây dựng yêu thương, đúng là tôi phải từ bỏ mình nhiều lắm. Không phải chỉ là phải từ bỏ tội lỗi, mà còn là phải từ bỏ những lựa chọn không thích hợp.
Vì yêu thương, tôi nhìn thấy không phải bất cứ sự thực nào cũng nên nói, không phải bất cứ cái gì tốt đều nên làm, không phải bất cứ điều gì được phép làm đều nên thực hiện, không phải bất cứ điều gì luật không cấm, đều cứ tha hồ làm.
5.
Khi tôi dấn thân vào công việc yêu thương, đúng là tôi phải vác thập giá mình một cách sáng suốt.
Một cách sáng suốt, nghĩa là tôi phải nhờ ơn Chúa mà nhận ra những gì là thứ thập giá, mà Chúa muốn tôi vác. Riêng đối với tôi, thập giá, mà Chúa muốn tôi vác hằng ngày trong giai đoạn mới này, không phải chỉ là những bệnh tật, những nhọc nhằn, mà là nếp sống có kỷ luật theo tu đức và sự thường xuyên trau dồi trình độ văn hoá đạo đời một cách trung tín và sâu rộng. Kinh nghiệm cho thấy: nhờ nếp sống có kỷ luật, và lối sống hăng say mở rộng trình độ kiến thức tốt đẹp, người môn đệ Chúa mới dễ trở thành dụng cụ của Chúa để gieo vãi hạt giống yêu thương vào lòng con người thời nay.
6.
Khi tôi dấn thân vào công việc yêu thương, đúng là tôi phải bước theo Chúa Giêsu một cách mạnh dạn.
Tôi thấy Chúa Giêsu thường bước tới những lớp người nghèo túng, đau khổ, hèn yếu. Tôi phải bước theo Người với tâm tình của Người. Muốn được như vậy, tôi phải mạnh dạn. Bởi vì nếu thiếu mạnh dạn, tôi sẽ có nhiều sáng kiến, để cũng gọi là bước theo Chúa đi vào lớp người đau khổ nghèo túng, nhưng bước theo xa xa, với khoảng cách từng nhiều cây số!
7.
Thao thức của tôi là thế. Vừa là do động lực nội tâm quyết theo Chúa Giêsu, vừa cũng là do động lực nội tâm tha thiết phục vụ Quê Hương Việt Nam. Chúa Giêsu là của tôi. Việt Nam là của tôi.
8.
Thao thức đó là chọn lựa thứ nhất của tôi. Thêm vào đó là chọn lựa thứ hai của tôi, đó là Tỉnh thức.
Tỉnh thức của tôi luôn đi liền với cầu nguyện. Vì thế, tỉnh thức đó là một chọn lựa của đức tin: “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Mt 26,41).
9.
Với tỉnh thức và cầu nguyện, tôi mới dễ nắm bắt được những cơ hội để xây dựng yêu thương trên mảnh đất Chúa trao cho tôi phục vụ. Mảnh đất này có dòng lịch sử phong phú những giá trị đạo đức riêng. Dòng lịch sử ấy lại như chiếc đò có những chỗ dừng lại khoảnh khắc đợi chờ, rồi lại lên đường tiếp tục đi. Nếu tôi tỉnh thức và cầu nguyện, tôi sẽ gặp Chúa trong dòng lịch sử của dân tộc tôi.
10.
Với tỉnh thức và cầu nguyện, tôi mới dễ nhận ra những nguy cơ khiến nhiều người trẽ vào những con đường xa rời yêu thương Chúa và yêu thương Quê Hương. Những nguy cơ đó là rất nhiều và thường dấu mặt. Đó là những phong trào đạo đức pha trộn những thứ nọc độc tinh vi, đưa tới các lối sống xa rời Phúc Âm. Để rồi, tự hào là đạo Phúc Âm, nhưng thực chất lại là những hình thức nặng về phô trương, hiếu thắng, phục vụ cho một giai cấp, đi tìm hưởng thụ.
11.
Với tỉnh thức và cầu nguyện, tôi mới dễ nhận ra hạnh phúc thực của tôi trong giai đoạn lịch sử mới đầy phức tạp này, chính là tôi được có Chúa ở trong tôi, mặc dầu tôi phải rất khổ.
12.
Với tỉnh thức và cầu nguyện, tôi mới dễ nhạn ra hạnh phúc của tôi cũng chính là nhận thấy Chúa đang làm nhiều sự lạ lùng nơi rất nhiều đồng bào của tôi tại Việt Nam hôm nay. Rất nhiều người đang được Chúa cải hoá từ trong sâu thẳm nội tâm. Họ xác tín không ai sẽ cứu được họ, không ai sẽ đưa họ được về một đời sau hạnh phúc yêu thương tràn trề. Chỉ có Chúa mà thôi.
13.
Những gì tôi vừa chia sẻ trên đây là rất chân thành. Thao thức và tỉnh thức là dấu ấn hành trình của tôi suốt 40 năm qua. Đã có 40 năm xưa của Moisen và dân Do Thái trong sa mạc đầy thử thách. Đã có 40 ngày đêm xưa, Chúa Giêsu sống trong hoang địa, và bị thử thách. Cả hai con số 40 xưa ấy đã dạy tôi rất nhiều về thao thức và tỉnh thức. Tôi đã sống được phần nào thao thức và tỉnh thức xưa trong 40 năm hiện nay của tôi có nhiều thử thách.
Xin hết lòng cảm tạ Chúa, Đấng đã sai tôi vào con số 40 này, như một nhân chứng hèn mọn về đức tin.
Long Xuyên 05-4-2015

 

Bùi-Tuần 1323: XIN CẢM TẠ XIN THA THỨ và XIN CẦU NGUYỆN

30-04-2015BT16 :
Đôi lời trong thánh lễ kỷ niệm 40 năm Giám mục + GB. Bùi Tuần
 

Thánh lễ kỷ niệm 40 năm Giám mục của tôi hôm nay là một hồng ân lớn lao Chúa ban cho tôi.: 30-04-2015 Bùi-Tuần 1323

1.
Thánh lễ kỷ niệm 40 năm Giám mục của tôi hôm nay là một hồng ân lớn lao Chúa ban cho tôi.
Hồng ân lớn lao, vì qua lễ thụ phong giám mục trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi nhận ra sự Chúa sai tôi vào lịch sử Việt Nam, ngay trong giờ phút Quê hương bước sang một giai đoạn mới, là một ơn đặc biệt.
Hồng ân lớn lao, vì khi nhận ra sự trùng hợp lịch sử đó là do ý Chúa, tôi đã cùng với nhiều người, góp phần vào việc xây dựng sự hòa hợp, sự yêu thương trên Quê hương Việt Nam yêu dấu.
Hôm nay, mừng 40 năm hồng ân được Chúa sai đi, tôi xin nói ba lời: Xin cảm tạ, xin tha thứ và xin cầu nguyện.
2.
Trước hết, xin hết lòng cảm tạ Chúa vì muôn ơn Chúa ban cho tôi trong suốt 40 năm qua. Ơn mà tôi coi là quý giá nhất, đó là ơn biết lo nhận ra ý Chúa và biết lo thực thi ý Chúa trong một giai đoạn lịch sử đầy chuyển biến phức tạp.
3.
Thực vậy, giai đoạn lịch sử 40 năm qua đã có nhiều chuyển biến phức tạp, trong xã hội, trong Giáo Hội, và trong chính bản thân tôi.
Chúa dạy tôi là không nên và không thể tránh được những chuyển biến phức tạp đó, nhưng hãy nhìn chúng như một thực tế mà Chúa sai tôi vào, để sống mầu nhiệm nhập thể.
4.
Ý Chúa mà tôi nhận ra là: Sống trong một thực tế phức tạp như thế, tôi phải chú ý rất nhiều đến việc đào tạo mình. Chúa soi sáng cho tôi điều đó, bằng những lo âu rất nóng, Chúa đốt lên trong tôi.
Ý Chúa còn là: Tôi phải đào tạo mình nhờ động lực nội tâm luôn khao khát thuộc về Chúa, luôn thao thức được là người trung tín trong ơn gọi được sai đi.
Ý Chúa còn là: Sự đào tạo mình nhờ động lực nội tâm như thế sẽ phải thường xuyên gặp gỡ Chúa, luôn coi ơn thánh là ưu tiên hàng đầu, luôn kiên trì phấn đấu từ bỏ mình. Tất cả ý Chúa trên đây ví như ngọn lửa nung nấu lòng tôi.
5.
Tôi đã lo nhận ra ý Chúa.
Tôi đã lo cố gắng thực thi ý Chúa. Những lo lắng đó thực là ơn Chúa. Xin tạ ơn Chúa. Nhiều người tại Việt Nam đã làm gương cho tôi về sự nhận ra ý Chúa và thực thi ý Chúa như vậy.
6.
Gương sáng gần gũi nhất của tôi là Đức Cha Cố Micae Nguyễn Khắc Ngữ.
Trong suốt mấy chục năm sống thầm lặng, Đức Cha Cố Micae luôn là con người cầu nguyện, hãm mình và đọc các tài liệu tu đức. Ngài hay nói: “Phải tận dụng mọi thời giờ để lập công đền tội, xin Chúa cứu các linh hồn”. Tôi coi nếp sống đạo đức như thế của Đức Cha Cố Micae là một gương sáng về đào tạo chính mình trong tình hình mới.
Từ đó tôi nhận ra rằng: Đào tạo chính mình như vậy là chuẩn bị cho mình một nền nhân bản chắc về nhân ái, một nền văn hoá rộng về yêu thương, một nền tu đức sâu về bác ái, để dễ làm chứng cho tình yêu Chúa trong lịch sử phức tạp hiện nay. Những chứng nhân như thế có thể ví như những hạt lúa tốt gieo vào lòng đất Quê Hương Việt Nam này. Họ sẽ âm thầm liên kết các bàn tay hợp tác. Họ sẽ âm thầm nối kết các trái tim tình nghĩa. Tất cả sẽ đều vì lợi ích chung của Nước Chúa
7.
Tôi thường sợ mình không tự đào tạo mình đủ và đúng theo thánh ý Chúa. Biết sợ như vậy là một ơn Chúa. Nên tôi hết lòng cảm tạ Chúa về ơn biết sợ đó.
8.
Cùng với lời cảm tạ trên đây, tôi xin phép nói lên lời xin tha thứ.
Tôi xin hết lòng khẩn nài ơn tha thứ, vì suốt 40 năm qua, tôi đã lỗi phận rất nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những thiếu sót.
9.
Lãnh vực, mà tôi xin Chúa tha thứ nhiều hơn hết, chính là lãnh vực tha thứ. Nghĩa là: Tôi đã không biết lãnh nhận sự tha thứ và tôi đã không biết cho đi sự tha thứ.
Thực vậy, trong tình yêu, việc tha thứ là rất quan trọng. Thế mà, 40 năm làm chứng cho tình yêu Chúa, biết bao lần tôi đã không coi trọng những tha thứ được dành cho tôi, từ Chúa, từ Hội Thánh, từ Quê Hương, từ các tôn giáo bạn, từ những người nghèo, từ chính cộng đoàn của tôi. Hơn thế nữa, 40 năm qua, để làm chứng cho tình yêu Chúa, bao lần tôi đã không cho đi sự tha thứ, cho dù sự tha thứ đó chỉ là lẽ công bằng.
10.
Không biết đón nhận sự tha thứ và không biết cho đi sự tha thứ, những hiện tượng đó đang có chiều hướng gia tăng. Có thể tôi cũng đang phần nào rơi vào cảnh đáng buồn đó. Do vậy, tôi đặc biệt xin Chúa tha thứ cho tôi mọi lỗi lầm thiếu sót trong lãnh vực tha thứ. Tôi cũng xin gởi lời xin tha thứ đó tới Hội Thánh của tôi, Quê Hương của tôi, cộng đoàn của tôi.
11.
Thú thực là: Tha thứ là việc không dễ chút nào. Chính vì nó rất khó, nên tôi hết lòng xin Chúa thương ban ơn giúp sức cho chúng ta, nhất là trong một tình hình mà niềm tin vào con người đang giảm sút trầm trọng.
12.
Những lời xin cảm tạ và xin tha thứ trên đây sẽ được kết thúc bằng lời xin cầu nguyện. Tôi xin các Đức Cha và tất cả anh chị em cầu nguyện nhiều cho tôi. Tôi yếu đuối lắm về mọi mặt. Xin anh chị em hãy coi tôi như một bức thư nhỏ Chúa gửi cho anh chị em. Bức thư nhỏ này chỉ mang một lời kêu gọi thân thương, đó là “Chúa Giêsu vẫn là Đấng hiền lành, khiêm nhường, giàu lòng thương xót. Người là Đấng cứu độ. Hãy tin cậy phó thác nơi Người”. Vậy, tôi xin phó thác cho Chúa Giêsu mọi lo lắng của tôi về bản thân, về Hội Thánh, về Quê Hương, về mọi người thân.
Xin khiêm nhường phó thác cho Chúa tương lai của chúng ta, một tương lai sẽ có nhiều khó khăn và nhiều bất ngờ đáng sợ, nhưng cũng có nhiều hy vọng lớn lao mang ơn cứu độ.
Xin Chúa thương xót chúng con. Amen.
Long Xuyên, ngày 30.4.2015.

 

Bùi-Tuần 1324: Tôi trở thành Giám Mục của giai đoạn mới 30-04-2015

 + GB. Bùi Tuần
Bài chia sẻ trong thánh lễ kỷ niệm thụ phong Giám Mục
 

Cách đây 40 năm, tại nhà nguyện bé nhỏ này, và chính ngay tại chỗ này, tôi đã quỳ, cúi đầu nhận: 30-04-2015 Bùi-Tuần 1324

1.
Cách đây 40 năm, tại nhà nguyện bé nhỏ này, và chính ngay tại chỗ này, tôi đã quỳ, cúi đầu nhận lãnh tác vụ Giám Mục.
Lúc đó chính quyền miền Nam vừa mới đầu hàng. Do vậy, sắc phong Giám Mục mà Toà Thánh gởi cho tôi trước đó, biến lễ tấn phong Giám Mục của tôi trùng đúng vào ngày lịch sử 30 tháng 4 năm 1975.
2.
Tôi trở thành Giám Mục của giai đoạn mới. Đức Cha Cố Micae Nguyễn Khắc Ngữ trao trọn trách nhiệm cho tôi. Tôi mang vào mình bao nỗi lo sợ của đàn chiên.
3.
Ngày từ giờ phút đó, tôi bắt đầu được Chúa ban cho những ơn cần thiết để gánh vác nhiệm vụ, mà ai cũng biết là rất khó khăn. Ở đây, tôi xin được kể ra mấy ơn sau đây:
4.
Ơn thứ nhất Chúa ban, là cho tôi nhận ra tầm quan trọng của các người phục vụ theo ơn sủng, mà thánh Phaolô đã nêu lên.
Thánh Phaolô viết: “Chính Chúa đã ban ơn cho kẻ này làm tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người chăn chiên và người dạy dỗ” (Ep 4,11).
Với cái nhìn mới này, thú thực là tôi nhìn các linh mục của tôi không như trước. Trước đó, tôi nhìn mỗi vị theo địa vị và chuyên môn học vị như ngài là cha Quản hạt, có bằng cử nhân Anh văn vv... Nhưng bây giờ tôi lại tử họi: Ngài có là tông đồ, là ngôn sứ, là người rao giảng Phúc Âm, là chủ chăn, người dạy dỗ do ân sủng thực sự của Chúa không?
Tôi thấy tình hình mới rất mực khó khăn. Nó đòi các linh mục phục vụ phải là các người mang các sứ vụ nền tảng, như thánh Phaolô đã nêu.
Thông thường, chúng ta quen coi linh mục là chủ chăn. Nhưng tình hình mới đòi chủ chăn cũng cần có phần nào là người tông đồ, là người tiên tri, là người có khả năng dạy dỗ.
5.
Ơn thứ hai Chúa ban, là cho tôi nhận ra giá trị của những gian truân khốn khó.
Thánh Phaolô viết: “Ai gặp gian truân thì quen chịu đựng, ai quen chịu đựng thì được kể là người trung kiên, ai được công nhận là trung kiên thì có quyền trông cậy. Trông cậy như thế, sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu vào lòng chúng ta” (Rm 5,3-5).
Kinh nghiệm trên đây của thánh Phaolô đã giúp tôi rất nhiều khi gặp phải những gian truân khốn khó trong tình hình mới. Phải nói là tình hình mới có nhiều khó khăn làm tôi phải khổ. Nhưng chính chuỗi dài những khổ đau ấy lại được báo trước là sẽ dẫn tôi tới hy vọng gặp được tình yêu Thiên Chúa. Và kết quả là tôi đã gặp được tình yêu Chúa. Người vẫn ở với tôi mọi ngày, để tôi được trở thành của lễ.
6.
Ơn thứ ba Chúa ban là, cho tôi nhận ra Nước Thiên Chúa sẽ dễ đi vào lòng dân tội Việt Nam qua những người biết yêu thương theo gương Chúa Giêsu.
Từ lúc quỳ xuống cúi đầu lãnh tác vụ Giám Mục, tôi thường được nghe Chúa hỏi tôi cũng một lời xưa Chúa đã hỏi thánh Phêrô: “Con có yêu mến THầy không?” (Ga 21,15-17). Tôi luôn trả lời: “Con yêu mến Chúa”. Những đối thoại thường xuyên về yêu thương đó đã in sâu vào lòng tôi giới răn mới của Chúa Giêsu: “Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu thương các con” (Ga 13,34). “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta trước, và sai Con Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,10).
Càng ngày tôi càng cảm thấy “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16). Để rồi, tôi ở lại trong Người, Người ở lại trong tôi. Và tôi đi vào lòng dân tộc chỉ bằng tình yêu. Một tình yêu chấp nhận nhiều hy sinh, nhiều từ bỏ.
7.
Ơn sau cùng Chúa ban là, cho tôi nhận biết mình chỉ là một dụng cụ yếu đuối hèn mọn.
Thánh Phaolô đã viết về mình rằng: “Những kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năn phi thường phát xuất từ Thiên Chúa chứ không phải là từ chúng tôi” (2Cr 4,7).
Đúng là như vậy, nếu tôi nói về tôi. Tôi chỉ là chiếc bình sành, mong manh, dễ vỡ, hèn mọn. Tôi tội lỗi lắm. Tôi yếu đuối lắm. Nhưng giữa giàu lòng thương xót vẫn thương tha thứ, vẫn thương chọn tôi. Để vinh quang của Chúa được thể hiện nơi một dụng cụ yếu hèn nhất.
Xin anh chị em tạ ơn Chúa thay tôi. Và cũng xin tha thứ cho tôi mọi lỗi lầm, nhất là xin thương cầu nguyện nhiều cho tôi, đừng bao giờ trở thành gánh nặng cho cộng đoàn. Lời cuối cùng xin phép nói là: Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau cảm tạ Chúa vì muôn vàn ơn Chúa đã ban cho giáo phận sau 40 năm qua. Ơn nhiều lắm. Ơn lớn lắm. Ơn đặc biệt lắm.

 

Bùi-Tuần 1325: NHỜ MẸ DÂNG HOA LÊN CHÚA 03-05-2015

 + GB. Bùi Tuần
 

Trong 12 tháng, thì tháng Năm được Hội Thánh Việt Nam gọi là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ : 03-05-2015 Bùi-Tuần 1325

1.
Trong 12 tháng, thì tháng Năm được Hội Thánh Việt Nam gọi là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ. Hoa dâng kính Đức Mẹ thường được hiểu là hoa tự nhiên trồng ở vườn, mua từ chợ. Bên canh hoa tự nhiên mang nhiều màu sắc và hương thơm, chúng ta còn dâng lên Mẹ những hoa thiêng liêng trồng ở tấm lòng riêng tư của mỗi người chúng ta.
Riêng đối với tôi, những hoa quan trọng nhất tôi dâng lên Mẹ, đều là những hoa thiêng liêng. Nói cho đúng, những hoa thiêng liêng này đều do chính Đức Mẹ đã giúp tôi trồng trong trái tim tôi, để rồi tôi lại hái dâng lên Mẹ, và nhờ Mẹ dâng lên Chúa.
2.
Hôm nay, tôi ôm vào lòng một bông hoa tôi cho là rất quý, mà chính Mẹ giúp tôi trồng trong sâu thẳm hồn tôi. Mẹ bảo tôi hãy dâng hoa đó lên Chúa nhân lành. Chúa đã thương nhận. Người dạy tôi hãy kể ra cho cộng đoàn biết chút ít về bông hoa đó, vì nó là công trình của Mẹ. Tên bông hoa đó là niềm tin vào tình yêu đầy xót thương của Thiên Chúa.
3. Tôi xin vắn tắt.
Ngay từ rất nhỏ, tôi đã được cha mẹ dâng tôi cho Đức Mẹ. Đọc kinh Mân Côi đã sớm trở thành thói quen tôi dùng để gặp gỡ Đức Mẹ. Mỗi ngày nhiều lần, sự gặp gỡ Đức Mẹ bằng kinh Mân Côi đã gieo vào lòng tôi những tâm tình về đức tin. Tôi tin Chúa theo kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và kinh Sáng Danh. Dần dần, tôi nhận ra Chúa là tình yêu. Rồi, đến một lúc, tôi nhận ra tình yêu Chúa là tình yêu đầy lòng thương xót.
Phải nói là, Đức Mẹ cho tôi nhận ra trước, rồi sau đó là tin tất cả những gì về tình yêu Chúa giàu lòng xót thương.
4.
Tôi nhận ra Chúa thương yêu tôi, qua những gì đã xảy ra trong đời tôi. Đời tôi là một hành trình. Chuyến đi đời tôi gặp nhiều trắc trở. Có những trường hợp tưởng là chắc chắn tôi sẽ rơi xuống hố diệt vong. Nhưng đến phút chót, tôi đã được Chúa cứu. Tôi nhận ra tôi được cứu hoàn toàn nhờ Chúa và do Chúa. Do vậy, tôi nhận ra Chúa là tình yêu cứu độ.
Tình yêu ấy Chúa dành cho tôi một cách nhưng không, một cách bất ngờ, một cách quá sức tưởng tượng. Tôi chỉ biết gọi Chúa là tình yêu, đúng như thánh Gioan tông đồ  đã viết: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16).
5.
Chúa yêu tôi, trước khi tôi yêu Chúa. Không những thế, Chúa còn yêu tôi, khi tôi còn trong tội lỗi, hư hỏng, đê hèn, đáng phải trừng phạt. Qua đó, tôi nhận ra Chúa giàu lòng thương xót. Nhận ra qua những bằng chứng sống động. Cảm thấy bằng những xúc cảm không thể nào quên. Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót, là điều bản thân tôi đã nhận ra, đã cảm nghiệm, là điều đã đóng ấn sâu trên đời tôi. Tôi đã nhận ra và đã tin. Như thánh Gioan đã viết:
“Tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người, mà chúng ta được sống.
“Tình yêu cốt ở điều này: Không phải chúng ta đã yemé Thiên Chúa trước, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,9-10).
“Chúng ta đã nhận biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và chúng ta đã tin vào tình yêu đó. Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16).
6.
Tôi đã nhận ra và đã tin Thiên Chúa là tình yêu thương xót. Sự nhận ra và sự tin như thế đã nâng đỡ tôi rất nhiều trong chức vụ linh mục và Giám mục. Nhất là khi mọi lãnh nhận các chức vụ trong Hội Thánh đều hoàn toàn do được sai đi, chứ không do tự mình tôi chọn lấy cho mình.
Được Chúa sai đi, và nhận lãnh sự sai đi chỉ vì vâng phục ý Chúa, nhất là trong những tình hình phức tạp khó khăn, đó là tâm trạng đòi nhiều phó thác. Sự phó thác đó nơi tôi đã được đỡ nâng bằng sự nhận ra và tin mình được Chúa yêu thương đầy thương xót.
7.
Khi được nhận ra và được tin vào tình yêu đầy xót thương của Chúa, tôi tự nhiên ham thích cầu nguyện. Tôi theo gương Mẹ.
Có thể nói: Sự ham thích cầu nguyện nơi tôi là do ơn Chúa. Chính Chúa làm cho linh hồn tôi ngoan ngoãn đặt mình dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, để cầu nguyện với Chúa một cách khiêm nhường và cậy trông.
Cầu nguyện nơi tôi là sự gặp gỡ với Chúa, là sự trao đổi giữa tình yêu Chúa và sự hèn hạ khốn khổ của tôi.
Cầu nguyện nơi tôi không hệ tại ở sự suy nghĩ nhiều, mà ở tại sự yêu mến nhiều.
Cầu nguyện nơi tôi là một việc đơn sơ, hồn nhiên. Bắt đầu cầu nguyện, tôi hay nhìn Chúa Giêsu và học ở Người điều mà chính Người đã phán: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29). Rồi tôi nhận được sự bình an, như Người đã hứa: “Tâm hồn các con sẽ được bình an” (Mt 11,29).
8.
Khi cầu nguyện, tôi xác tín mình rất hèn mọn, khó nghèo, tội lỗi, xấu xa, rất cần đến lòng thương xót Chúa. Tôi tin Chúa xót thương tôi, chính vì tôi là như thế. Và vì tôi chính là kẻ khó nghèo, tội lỗi, nên tôi tự nhiên không dám mơ ước đến những sự lớn lao, như hãm mình khắc khổ lớn, trở thành ánh sáng lớn, làm những việc lành lớn.
9.
Trở thành bé nhỏ, đó là một cách tôi thuộc về Chúa Giêsu. Đấng mà tôi tin luôn yêu tôi với tình xót thương vô bờ.
Trở thành bé nhỏ như thế luôn đi kèm với sự cậy trông. Chính ở đây tôi hiểu lời thphl đã nói: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10).
10.
Những gì tôi vừa vắn tắt chia sẻ trên đây là rất chân thành. Đó là bông hoa thiêng tôi dâng lên Mẹ, và nhờ Mẹ, dâng lên Chúa.
Tôi tin rằng: Tại Việt Nam hôm nay đang có nhiều bông hoa thiêng liêng dâng lên Mẹ, và nhờ Mẹ dâng lên Chúa. Những bông hoa thiêng liêng đó có thể khác nhau. Nhưng tất cả đều muốn làm chứng về Thiên Chúa.
Tuy nhiên, hơn bao giờ hết, người thời nay cảm thấy mình được thu hút bởi dung mạo Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót, hơn là bởi bất cứ dung mạo nào. Do vậy, mà việc làm chứng cho Thiên Chúa giàu tình yêu thương xót rất cần được thực hiện do chính ơn Chúa, một cách khiêm nhường vâng phục, để có sức dấn thân phục vụ theo đúng ý Chúa.
Long Xuyên, ngày 3.5.2015.

 

Bùi-Tuần 1326: NHỜ MẸ TÔI DÂNG LÊN CHÚA BÔNG HOA “TRỞ VỀ”

07-05-2015BT19 
  + GB. Bùi Tuần
 

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã nói rõ: “Ai có 100 con chiên, mà có một con đi lạc, lại không để : 07-05-2015 Bùi-Tuần 1326

  1.  
Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã nói rõ: “Ai có 100 con chiên, mà có một con đi lạc, lại không để 99 con kia trên núi, mà đi tìm con chiên lạc đó sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên lạc đó, hơn là vì 99 con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,12-14).
Qua lời Chúa phán trên đây, tôi hiểu được phần nào sự vui mừng của Chúa khi tìm được một người trở về với Chúa. Sự vui mừng đó được diễn tả một cách tỉ mỉ trong Phúc Âm thánh Luca. Con chiên lạc được Chúa vác trên vai, đưa về nhà, khoe với hàng xóm rồi ăn mừng. Đặc biệt là toàn thể trên trời đều vui mừng hớn hở đón tiếp con chiên đó (x. Lc 15,5-7).
2.
Riêng Cha trên trời đã rất vui mừng dành cho người con trở về những ưu ái đặc biệt. Chúa Giêsu diễn tả cảnh đó trong dụ ngôn “Người cha nhân hậu” (Lc 15,11-24).
3.
Khi suy gẫm những cảnh đón tiếp trên đây đầy yêu thương dành cho kẻ tội lỗi trở về, tôi thấy mình được an ủi hết sức, vì tôi chính là kẻ tội lỗi đang trở về với Chúa.
Tôi xin Đức Mẹ “cầu cho tôi là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử”. Đức Mẹ đã gọi tôi là bông hoa trở về. Tôi là bông hoa vì đang trở về.
4.
Trở về là một bông hoa, khi biết mình tội lỗi cần trở về.
Trở về là một bông hoa, khi biết cầu xin ơn trở về, vì nhận biết trở về là việc không dễ.
Trở về là một bông hoa, khi người tội lỗi khiêm tốn, để Mẹ dắt dìu từng bước, trên con đường trở về đầy trắc trở.
5.
Hôm nay, khi dâng lên Mẹ bông hoa trở về là bản thân tôi, để Mẹ dâng nó cho Chúa, tôi chỉ xin chia sẻ chút ít về hai việc mà Mẹ hằng ngày dạy tôi trên đường trở về với Chúa. Việc thứ nhất là sự từ bỏ.
6.
Mọi từ bỏ, mà Mẹ dạy tôi, đều nhấn mạnh đến tình yêu. Từ bỏ mình, từ bỏ những tội lỗi, những tư lợi vv... Chỉ vì yêu Chúa. Vì tình yêu, cho tình yêu và nhờ tình yêu, mà tôi từ bỏ. Do vậy, mà khi từ bỏ, tôi cảm thấy nhẹ nhàng, đúng như lời Chúa Giêsu đã hứa: “Ách của Ta thì dễ chịu, gánh của Ta thì nhẹ nhàng” (Mt 11,30).
Tôi từ bỏ, để chứng tỏ tôi yêu mến Chúa. Yêu mến Chúa chính là động lực để tôi từ bỏ. Chính vì thế, mà dù từ bỏ đòi phấn đấu, nó vẫn sản sinh ra một sự ngọt ngào riêng của tình yêu.

7.
Do vậy, tôi dần dần ưa thích thực hiện sự từ bỏ trong mọi giờ phút, ở bất cứ cơ hội nào, cho dù rất nhỏ. Hy sinh nhỏ, hãm mình nhỏ đều là những dịp từ bỏ đốt nóng lên lửa yêu mến trong tôi.
Từ bỏ như thế là không sống cho mình, mà là sống cho Chúa. Sống cho Chúa bằng những hy sinh nhỏ thường ngày. Làm những việc nhỏ nhưng với lòng yêu mến lớn.
8.
Từ bỏ vì tình yêu, đó là một thái độ nội tâm không nặng lòng tìm chút gì cho mình, không coi mình là trung tâm, không quan tâm tìm thoả mãn những sở thích riêng, nhưng chỉ nhìn về phía Chúa, với mong muốn yêu mến Người hết lòng hết sức mà thôi.
9.
Cùng với việc từ bỏ vừa diễn tả vắn tắt trên đây, Mẹ còn dạy tôi một việc thứ hai, mà tôi phải làm, việc đó là biết thương xót.
Mẹ nhắc lại cho tôi một lời Chúa Giêsu phán xưa. Lời đó ảnh hưởng lớn đến việc tôi trở về với Chúa. Lời đó là: “Khi nhìn thấy đám đông, Chúa Giêsu động lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36).
Cùng với việc đưa tôi vào Lời Chúa Giêsu trên đây, Mẹ cũng đưa tôi nhìn vào thực tế đám đông hôm nay. Họ là những kẻ tội lỗi, những người nghèo khổ, những kẻ bé mọn, những người bị bỏ rơi, những kẻ sống ngoài lề xã hội.
Mẹ dạy tôi hãy biết xót thương họ. Xót thương họ, đó là một cách tôi trở về với Chúa.
10.
Có nghĩa là tôi là kẻ được Chúa sai đi, để sống liên đới với đồng bào tôi, ưu tiên là để chia sẻ với những người khổ đau. Tôi được mời gọi chia sẻ bằng cách hạ mình xuống, theo gương Chúa Giêsu.
“Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa.
Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình, vâng lời đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên thập giá” (Pl 2,5-8).
11.
Chúa Giêsu đã xót thương nhân loại bằng cách hạ mình xuống, chia sẻ thân phận những người khổ đau, hy sinh cho họ, cứu họ. Chúa Giêsu đã xót thương cụ thể là như thế. Để rồi Người trở về với Chúa Cha, với những thành tích cũng chính là thương tích do tình yêu.
Mẹ dạy tôi hãy bước theo Chúa Giêsu. Con đường trở về với Chúa cũng phải là con đường xót thương cứu độ.
12.
Hãy biết từ bỏ mình và hãy biết xót thương, để trở thành bông hoa “trở về” đẹp thơm. Mẹ dạy tôi như vậy, để Mẹ được vui, dâng tôi lên Chúa.
Tôi hết lòng cảm ơn Mẹ đã dạy tôi, và đã dắt tôi đi từng bước trên đường trở về.
Mỗi ngày của tôi đều là những bước tôi trở về với Chúa. Bước từ bỏ và bước xót thương bên Mẹ nhân lành.
Tôi bước đi bằng những bước nhỏ. Mẹ cầm tay tôi. Tôi dựa mình bên Mẹ. Tôi nghe Mẹ giới thiệu với Chúa: Đây là bông hoa trở về. Xin Cha thương nhận.
Mẹ ơi, con xin cảm tạ Mẹ. Xin Mẹ mãi ở bên con.
Long Xuyên, ngày 7.5.2015

 

Bùi-Tuần 1327: MẸ DẠY TÔI  HÃY LÀ BÔNG HOA “TỈNH THỨC”

 15-05-2015
 + GB. Bùi Tuần
 

Tôi hay nói với Đức Mẹ một lời, mà Đức Mẹ đã thưa với Chúa ngày Truyền Tin. Lời đó là “Xin : 15-05-2015  Bùi-Tuần 1327

  1.  
Tôi hay nói với Đức Mẹ một lời, mà Đức Mẹ đã thưa với Chúa ngày Truyền Tin. Lời đó là “Xin vâng”.
Đức Mẹ thương đáp lại. Rất nhiều lần và bằng nhiều cách, Đức Mẹ dạy tôi về một điều “xin vâng”, mà Đức Mẹ muốn nhiều nhất nơi tôi, đó là: “Hãy luôn luôn sống tỉnh thức”.
Tỉnh thức để nghe Chúa. Không phải để nghe Chúa dạy chỉ về các nguyên tắc đạo đức. Nhưng nhất là nghe Chúa dạy về cách áp dụng các nguyên tắc đạo đức vào thực tế của cuộc sống cụ thể.
2.
Vâng lời Mẹ, tôi đã tỉnh thức như Mẹ dạy. Tuy tỉnh thức của tôi vẫn còn non kém, nó vẫn được Mẹ khích lệ coi như một bông hoa nhỏ hãy dâng lên Chúa.
Khi dâng bông hoa nhỏ này lên Chúa, tôi cũng xin được chia sẻ với cộng đoàn.

3.
“Tỉnh thức”  thứ nhất mà Chúa luôn muốn thực hiện nơi tôi, đó là Người muốn mở lòng tôi ra, để Người đổ vào đó ơn làm cho tôi ham thích trở nên nhỏ bé hèn mọn, giống tâm tình Mẹ Maria.
Tôi phải tỉnh thức đón nhận ơn đó. Tôi phải tỉnh thức cảm tạ Chúa về ơn đó. Tôi phải tỉnh thức dùng ơn đó trong mọi tương quan đối với Chúa và đối với mọi người.
Đức Mẹ nhận mình chỉ là người nữ tỳ hèn mọn. Chúa chọn Mẹ, chỉ do lòng Chúa thương đoái nhìn.
Nhận được ơn Chúa trao ban, Mẹ vẫn khiêm nhường, muốn được chôn vùi. Thú thực là khi bắt chước Mẹ Maria trong việc trở nên hèn mọn, tôi đã gặp nhiều trắc trở. Trắc trở lớn nhất là tính xấu nơi chính bản thân tôi. Nhưng Chúa thương ban ơn cho tôi biết cộng tác với Chúa bằng sự nhận thấy mình tội lỗi, chỉ biết xin Chúa xót thương mà thôi. Chân thành chỉ là thế. Mà thực Chúa đã xót thương tôi. Sự cảm nhận được ơn Chúa xót thương đó đã giúp tôi rất nhiều trong việc tránh xa những loại hoang tưởng về mình.
4.
Gọi là bệnh hoang tưởng về mình,  khi do bệnh mà tự coi mình là đạo đức hơn người, là thông thái giỏi giang hơn người. Nếu đó thực sự chỉ là do bệnh, thì còn dễ tha thứ, chứ đó lại là một chọn lựa tự do của mình, thì sẽ là một sa sút đạo đức mang tính chất tội lỗi, đưa tới hậu quả tai hại. Tai hại đáng sợ nhất là chính mình tự nộp mình cho quỷ dữ Satan.
Ở đây, tôi nhớ lại một lời thánh tông đồ Phêrô cảnh báo: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ là thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1Pr 5,8). Thực tế, Satan chỉ cắn xé và nuốt được những kẻ kiêu ngạo. Bởi vì “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1Pr 5,5).

5.
Cùng với sự tỉnh thức để đón nhận ơn trở nên bé nhỏ hèn mọn theo gương Mẹ, Chúa còn nhắc nhở cho tôi một “sự tỉnh thức” thứ hai theo gương Mẹ, đó là tỉnh thức lo mang Chúa đến cho mọi người.
Xưa Mẹ đến thăm bà Êlisabét, là để đưa Chúa Cứu Thế đến thánh hoá hài nhi Gioan trong lòng bà. Kinh Thánh viết: “Bà Êlisabét vừa nghe tiếng Cô Maria chào, thì đứa con trong bụng bà liền nhảy mừng. Bà được tràn đầy Chúa Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: Em được chúc phúc hơn mọi người nữ, và người con mà em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng tôi đã nhảy lên vui mừng. Em thực có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,41-45).
6.
Nay, Chúa cũng thường nhắc bảo tôi là: Hãy biết tỉnh thức đem Chúa đến cho những người khác. Mẹ đã đem Chúa Cứu Thế đến cho mẹ con bà Êlisabét một cách âm thầm khiêm tốn đầy bác ái. Tôi có tỉnh thức đem Chúa vào các tương quan của tôi với những người khác như vậy không?
Để có thể làm được điều đó, tôi phải có Chúa trong lòng tôi. Chúa ở trong tôi, tôi ở trong Chúa. Tôi phải sống thân mật gắn bó với Chúa, như cành nho gắn liền với cây nho (x. Ga 15,1-17).
7.
Tôi có thể nhận biết được là tôi có thực sự thuộc về Chúa, có thực sự ở trong Chúa và thực sự có Chúa ở trong tôi không, nếu tôi thực sự có dấu chỉ này: Tâm hồn tôi chỉ có một hướng đi, đó là khát khao yêu mến Chúa và làm đẹp lòng Chúa. Thú thực, là tôi chưa thấy rõ dấu chỉ đó trong tôi. Nên tôi hết lòng xin Chúa xót thương tha thứ cho tôi. Xin Chúa giúp tôi luôn biết tỉnh thức đem Chúa đến cho mọi người, bằng sự chính tôi luôn được ở trong Chúa, và luôn được thuộc về Chúa. Như Đức Mẹ, và nhờ Đức Mẹ.
8.
Còn một “sự tỉnh thức” thứ ba rất quan trọng, mà Mẹ hay nhắc cho tôi, đó là theo gương Mẹ góp phần vào việc cứu các linh hồn.
Xưa, Mẹ đã góp phần vào chương trình cứu chuộc của Chúa Giêsu bằng những hy sinh đầy yêu thương. Mẹ bước theo Chúa trên đường vác thánh giá. Mẹ đứng dưới chân thánh giá. Mẹ ủi an các tông đồ trong những giờ phút họ cô đơn nhất. Mẹ hiện diện trong Hội Thánh trong những ngày đầu đầy gian khổ. Mẹ muốn tôi cũng hãy biết tỉnh thức, khi Chúa đưa tôi vào những hoàn cảnh cần cộng tác với Chúa, để cứu các linh hồn. Có khi chỉ để cứu một linh hồn mà thôi, Chúa cũng muốn tôi phải tỉnh thức một cách quảng đại. Nếu làm được chỉ một việc đó, tôi thiết nghĩ đây cũng đã là một ơn gọi quý giá Chúa dành cho tôi.
9.
Những chia sẻ trên đây của tôi không nhắm mục đích nào, ngoài mục đích ca tụng tình yêu thương xót Chúa, nhờ Mẹ Maria yêu dấu của tôi. Chính Mẹ đã làm cho tôi được sống, được vui, được cậy, như kinh Lạy Nữ Vương đã dạy.
10.
Tình hình hiện nay đang diễn biến phức tạp. Chúa muốn chúng ta hãy theo gương Mẹ, mà tỉnh thức, ít là trong ba lãnh vực vừa nêu trên.
Kinh nghiệm của tôi cho phép tôi quả quyết điều này:
Nếu chúng ta tỉnh thức theo như Chúa dạy, và theo gương Đức Mẹ, chúng ta sẽ gặp được rất nhiều mầm hy vọng phục sinh ngay giữa những đổ nát do tội lỗi gây ra. Tôi tin vững vàng ở tình yêu thương xót Chúa. Tôi tin một cách rất đơn sơ nhưng tuyệt đối ở Mẹ Maria yêu dấu của tôi.
Long Xuyên 15-5-2015

 

Bùi-Tuần 1328: NHỜ MẸ, TÔI DÂNG LÊN CHÚA BÔNG HOA

“NƯỚC MẮT” 15-05-2015
 + GB. Bùi Tuần
 

Từ khi được Chúa sai vào lịch sử của Quê Hương Việt Nam yêu dấu, tôi vẫn thường cầu xin Đức Mẹ: 15-05-2015 Bùi-Tuần 1328

  1.  
Từ khi được Chúa sai vào lịch sử của Quê Hương Việt Nam yêu dấu, tôi vẫn thường cầu xin Đức Mẹ Maria thương dắt dìu tôi trong việc làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa.
2.
Thực sự, Mẹ đã dắt dìu tôi bằng nhiều cách, như soi sáng cho tôi phải đi vào đường hẹp, như cảnh giác cho tôi phải xa tránh những lối sống dẫn vào mô hình đạo đức giả. Một lần nọ, trong lúc tôi đang quằn quại do những cơn đau đớn ập đến trong tâm hồn, thì chính lúc cô đơn khủng khiếp đó, Mẹ đã đến với tôi. Mẹ chỉ vào Trái Tim Mẹ, và nói với tôi: Trái Tim Mẹ đã rất đau đớn, như bị lưỡi đòng đâm thâu qua, đúng lời tiên tri Simêon đã báo trước (Lc 2,35). Mẹ đã làm chứng cho tình yêu Chúa bằng một trái tim như vậy. Mẹ mong con cũng hãy đi theo Mẹ.
3.
Tôi đã “xin vâng”. Chắc là xin vâng của tôi vẫn có nhiều giới hạn do những yếu đuối của tôi, nhưng tôi cũng xin chia sẻ đôi chút về vai trò của trái tim bị đâm trong ơn gọi làm chứng cho tình yêu Chúa tại Việt Nam hôm nay.
4.
Gọi là trái tim bị đâm, để nhắc đến lời tiên tri Simêon đã nói xưa về Đức Mẹ, chứ trên thực tế, theo ý của tiên tri Simêon cũng như theo cảm nghiệm của Mẹ và của các con cái Mẹ, thì trái tim bị đâm chính là những đau đớn xảy ra trong lòng mình.
5.
Theo kinh nghiệm nhỏ bé của riêng tôi, những đau đớn xảy ra trong lòng tôi, mà Mẹ đã báo cho tôi là có tính cách làm chứng cho tình yêu Chúa, sẽ không phải bất cứ đau đớn nào, nhưng phải là những đau đớn thực sự đạo đức.
Những đau đớn thực sự đạo đức nói đây là đau đớn vì mến Chúa yêu người, đau đớn trong hiền lành, khiêm nhường, tế nhị.
Để diễn tả những đau đớn đạo đức như thế, nhiều người đã chỉ biết khóc. Ở La Salette, Đức Mẹ cũng đã hiện ra dưới hình một phụ nữ ngồi ôm mặt khóc. Do vậy, tôi cũng xin dùng “nước mắt”, như một biểu tượng.
6.
Nước mắt, mà tôi coi như một bông hoa, tôi nhờ Mẹ dâng lên Chúa hôm nay, chính là những đau đớn mang âm vang những đau đớn của Mẹ:
Đau và khóc, vì thấy Chúa bị xúc phạm, bị từ chối, bị chống phá.
Đau và khóc, vì Hội Thánh Chúa, tuy được thánh hoá, nhưng vẫn có những sai phạm, cần phải sám hối và cần xin tha thứ, không phải chỉ đối với Chúa, mà cũng đối với nhiều đối tượng trên trần thế trong lịch sử xưa và nay. Đức thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã xin tha thứ như vậy một cách khiêm tốn và can đảm.
Đau và khóc, vì bao người trên Quê Hương tôi hằng ngày vẫn còn rất khổ, do thiếu đạo đức, thiếu tình yêu, thiếu cả đến những gì tối thiểu nhất để sống xứng đáng với nhân phẩm con người. Bao người bệnh tật, già yếu, khổ cực. Bao trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi và lạm dụng. Bao người lớn nhỏ sa vào đàng tội lỗi. Bao người hấp hối trong thất vọng, cô đơn.
Đau và khóc, vì rất có thể sẽ có những thảm hoạ xảy đến cho bao nhiêu đồng bào thân yêu. Tôi nhớ lời Chúa Giêsu đã nói với các phụ nữ khóc thương Người trên đường vác thập giá lên Núi Sọ: “Xin đừng khóc thương tôi. Hãy khóc thương cho chính mình và cho con cháu các bà” (Lc 23,28). Rồi Chúa báo trước cho các bà biết sẽ xảy ra những thảm hoạ ghê gớm gây nên những đau đớn chưa từng có (x. Lc 23,29-32).
7.
Đau và khóc của tôi, nếu phải hiền lành, khiêm nhường và tế nhị, theo gương Mẹ, sẽ phải rất cần ơn Chúa. Để biết đón nhận ơn Chúa, tôi phải tỉnh thức và cầu nguyện rất nhiều. Nhờ vậy, mà đau và khóc của tôi mới có sức trở thành một của lễ đền tội có khả năng làm chứng cho tình yêu Chúa giữa Quê Hương Việt Nam của tôi hôm nay.
8.
Trên Quê Hương Việt Nam của tôi hôm nay, rất nhiều đồng bào có một cái tâm nhạy bén. Họ dễ nhận ra những ai là người thực sự thương họ. Người thương họ thực sự là những người như Đức Mẹ, biết đau và khóc vì chia sẻ và lo lắng cho họ. Loại người vô tâm, vô cảm, không biết đau không biết khóc cho họ, sớm muộn sẽ bị loại trừ.
Biết đau và khóc vì mến Chúa yêu người, sẽ là những bông hoa thơm đẹp, vì nó sẽ đưa tới niềm vui phục sinh, như lời Chúa đã hứa: “Các con sẽ đau buồn, nhưng nỗi đau buồn của các con sẽ trở thành niềm vui” (Ga 20).
9. Tới đây, tôi được Mẹ đưa trí khôn tôi nhìn vào một thực tế đau lòng đang xảy ra ở một vài nơi tại Việt Nam hôm nay: Đang khi nhiều người đau khổ khát mong đợi chờ những tấm lòng từ thiện, biết đau cái đau của họ, biết khóc với tiếng khóc của họ, thì những người mang danh nghĩa là con cái Chúa đã tìm cách tránh né, trái lại, có những người gọi là ngoại đạo lại dừng lại để chăm sóc họ. Hiện tượng đó là một cảnh báo, mà Chúa Giêsu đã nói xưa trong “dụ ngôn người Samari tốt lành” (Lc 10,29-37). Cảnh báo đó vẫn là rất thời sự cho Hội Thánh tại Việt Nam hôm nay.
10. Chính bản thân tôi cũng rất nhiều lần muốn tìm cách tránh trực diện với những người khổ đau, hoặc tìm cách tránh mọi trách nhiệm đối với thực tế đau khổ của những người mình đang sống với, sống gần. Kinh nghiệm đó dạy tôi là phải tỉnh thức thường xuyên sống mật thiết với Chúa, để chính Chúa trong tôi sẽ giúp tôi nhìn người khổ đau bằng chính Trái Tim Chúa.
11.
Mới rồi, ngày 13.5.2015, kỷ niệm Đức Mẹ hiện ra ở Fatima, tôi đã ở bên Mẹ rất lâu. Tôi xin Mẹ một ơn, đó là “Trái Tim Mẹ bị lưỡi gươm đâu thâu hãy là trường đào tạo cho tôi, đặc biệt là trong thời điểm lịch sử hiện nay”. Tự nhiên, tôi cảm thấy những cơn đau khác thường trào lên trong hồn tôi. Tôi sung sướng nhận thấy mình được gắn kết với Mẹ một cách sống động hơn. Và từ đó, tôi được cùng với Mẹ, dâng lên Chúa những đau đớn của tôi, như những bông hoa “nước mắt”, góp phần vào chương trình cứu độ của Chúa. Có những nước mắt đang chảy ra. Có những nước mắt đã khô. Có những nước mắt chảy ngược vào hồn.
12.
Đến đây, tôi nghĩ đến việc đào tạo tu đức tại Việt Nam hôm nay. Tôi nghĩ đào tạo cái trí là điều cần, nhưng đào tạo cái tâm là điều cần hơn. Nếu cái tâm của ta được đào tạo theo mô hình trái tim Đức Mẹ Maria, thì đó sẽ là lựa chọn bảo đảm nhất.
Cái tâm xơ cúng, cái tâm mù, cái tâm điếc, cái tâm không có lửa mến, đó là điều đang làm cho Đức Mẹ đau và khóc, khi Mẹ nhìn vào đám đông hiện nay.
Xin Trái Tim Mẹ thương cứu chúng con. Chúng con tin ở Mẹ.
Long Xuyên, ngày 15.5.2015

 

Bùi-Tuần 1329: TIẾNG GỌI CỦA THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU: “TA KHÁT”

 29-05-2015
 + GB. Bùi Tuần
 

Có những ngày, hơn bao giờ hết, tôi cảm thấy mình khốn khổ khác thường. Thân xác đau, tâm: 29-05-2015 Bùi-Tuần 1329

  1.  
Có những ngày, hơn bao giờ hết, tôi cảm thấy mình khốn khổ khác thường. Thân xác đau, tâm hồn đau. Những cơn đau dài đẩy tôi vào một cõi cô đơn, sợ hãi, tối tăm, như hấp hối bên bờ vực thẳm.
Tôi chạy đến bên Đức Mẹ. Mẹ nhân lành dắt tôi đến Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Mẹ dạy tôi hãy đặt những nỗi đau của tôi dưới chân thánh giá Chúa. Tôi xin vâng. Trong tĩnh lặng, tôi cảm thấy những nỗi đau của tôi dần dần biến thành một sự khao khát Chúa. Đến một lúc bất ngờ, sự tôi khao khát Chúa đã mở lòng tôi ra.
2.
Tôi như nghe được tiếng Chúa Giêsu đã kêu lên xưa trên thánh giá: “Cha khát”. Tôi hiểu Chúa khát tôi hãy đón nhận tình yêu cứu độ của Chúa Cha, qua sự Người đang vâng phục Chúa Cha mà hy sinh mình trên thánh giá, để cứu nhân loại.
Với nhận thức sâu xa về sự bần cùng của mình, tôi mở lòng ra để đón nhận tình yêu cứu độ ấy của Chúa dành cho tôi.
3.
Một hậu quả rất rõ ràng sinh ra trong tôi, khi tình yêu cứu độ Chúa tràn vào lòng tôi, đó là tôi cảm thấy sự khát khao Chúa trở nên mỗi lúc mỗi mạnh hơn, nhất là trở nên mỗi lúc mỗi cụ thể hơn ở sự khao khát tình yêu Chúa: Yêu mến Chúa là lẽ sống đời tôi.
4.
Khi tình yêu Chúa như ngấm sâu vào tôi, tôi được Chúa cho thấy tôi phải cố gắng thực thi hai điều này:
Một là hãy bắt chước Chúa Giêsu, luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha.
Hai là hãy bắt chước Chúa Giêsu luôn sẵn sàng hy sinh để cứu các linh hồn.
5.
Vâng phục thánh ý Chúa Cha một cách tuyệt đối, đó là điều Chúa Giêsu luôn nhắc cho tôi. Tôi nhớ lại lời Kinh Thánh viết: “Khi vào trần gian, Đức Kitô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Chúa, như Sách Thánh đã chép về con” (Dt 10,5-7).
6.
“Này con xin đến, để thực thi ý Cha”. Mà ý Cha là Ngài phải chịu nhiều hy sinh.
Hy sinh của Chúa Giêsu là vượt qua biên giới vinh quang của Thiên Chúa, mà xuống làm người:
“Đức Giêsu Kitô,
Vốn dĩ là Thiên Chúa,
Mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).
Hy sinh của Chúa Giêsu còn là vượt qua biên giới được tự do sống, mà bước xuống thân phận kẻ bị tử hình:
“Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,8).
7.
Xin thú thức là luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha và luôn luôn hy sinh, đó là một thực tế cam go trong đời tôi. Đời tôi do vậy đã trở thành một cuộc hành hương trong chiến đấu không ngừng. Chiến đấu nhất là trong chính nội tâm mình. Chiến đấu không đổ máu, nhưng là một từ bỏ có khi còn hơn là đổ máu.
Nhưng, tôi tin sự tôi chịu hy sinh để vâng thánh ý Chúa Cha, hầu góp phần vào việc cứu rỗi các linh hồn, sẽ là con đường dẫn tôi về hưởng vinh quang của Chúa Giêsu. “Nào, Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26).
8.
Tới đây Chúa cho tôi nhìn vào Hội Thánh Chúa tại Việt Nam hôm nay. Tôi đang nhận ra rất nhiều người con Chúa đang đi vào vinh quang của Chúa Giêsu, từ những hy sinh họ chịu do vâng phục thánh ý Chúa.
Một trong lãnh vực thực tế mà họ chịu hy sinh thường ngày nhiều nất là lãnh vực phục vụ người nghèo. Lãnh vực thực tế đó hiện nay rất rộng và rất phức tạp.
9.
Theo tinh thần Công đồng Vatican II, họ nhận mình có trách nhiệm với lịch sử Đất Nước; nhất là với những anh chị em nghèo khổ của họ trên Quê Hương này.
Trách nhiệm của họ đối với những người anh chị em nghèo khổ cũng sẽ là trách nhiệm ngăn cản sự sụp đổ của Đất Nước họ.
Không phải chỉ tiền bạc, đất đai, của cải là những phần họ phải nghĩ đến khi lo cho người nghèo, mà còn là văn hoá chứa đựng những chân lý và các giá trị thiêng liêng có sức cứu độ họ.
10.
Hơn mọi ngày thường, họ nghe được tiếng “Cha khát” của Thánh Tâm Chúa Giêsu đang ưu tiên hướng về những người nghèo khổ.
Chúa khát khao có được những người dấn thân đem tình yêu cứu độ của Chúa đến cho những người nghèo khổ.
11.
Chúa khát khao các nơi đào tạo những người truyền giáo hãy mạnh dạn và khiêm tốn coi việc lo cho người nghèo khổ là một trách nhiệm ưu tiên Chúa trao cho mình. Thực hiện tốt trách nhiệm đó chính là tân Phúc Âm hoá, rất cần cho thời điểm này tại Việt Nam hôm nay.
12.
Chúa khát khao mọi người thờ phượng Chúa hãy ưu tiên coi việc lo cho người nghèo khổ được cứu độ chính là cách “thờ phượng Chúa Cha trong tinh thần và trong chân lý” (Ga 4,24).
Lạy Chúa Giêsu, con xin tạ ơn Chúa đã thương cho con nghe được tiếng “Cha khát” từ Trái Tim Chúa. Xin tiếp tục thương giúp con biết đáp lại tiếng Chúa gọi, bằng việc làm tốt mọi việc thường ngày, dù rất nhỏ và rất âm thầm.

 

Bùi-Tuần 1330: Đem tình yêu thánh tâm Chúa Giêsu ĐẾN CHO

NHỮNG NGƯỜI ĐAU KHỔ 04-06-2015BT23: 
 + GB. Bùi Tuần
 

Hằng ngày tôi đọc báo, xem truyền hình và có nhiều tiếp xúc. Nhờ vậy tôi được biết là hiện nay 04-06-2015  Bùi-Tuần 1330

  1.  
Hằng ngày tôi đọc báo, xem truyền hình và có nhiều tiếp xúc. Nhờ vậy tôi được biết là hiện nay những người đau khổ chiếm một số đáng kể. Trên thế giới họ đang là một vấn đề lớn. Tại Việt Nam họ đang là một tiếng gọi khẩn thiết.
2.
Rất may là vấn đề lớn đó cũng như tiếng gọi khẩn thiết đó đã và đang đánh thức được nhiều lương tâm. Bác ái từ thiện được khơi dậy và thực hiện đều khắp dưới nhiều hình thức. Nhà nước làm, tôn giáo làm, đoàn thể làm, cá nhân làm.
3.
Nhưng những đau khổ cũ chưa tan, thì những đau khổ mới lại bùng lên. Cảnh đó làm tôi rất buồn. Nhờ đức tin, lòng tôi càng buồn, thì càng gần lại bên Chúa Giêsu.
4.
Trong thinh lặng âu yếm, Chúa Giêsu dạy tôi hãy nhìn vào trái tim Người, một trái tim đã bị lưỡi đòng đâm thâu qua. Người nhắc lại cho tôi nhớ lời xưa Người đã nói: “Cha chính là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11). Trong giây lát, Người cho tôi hiểu: Dù làm việc thiện nào cho người đau khổ, tôi cũng hãy mang tình yêu của trái tim Chúa đến cho họ.
Tôi xin vâng. Nhưng, làm thế nào để mang tình yêu của Trái Tim Chúa đến cho người đau khổ trong mọi việc tôi làm cho họ?
5.
Thú thực là để thực hiện điều đó, tôi luôn phải nhờ đến ơn Chúa.
Chúa ban ơn đó cho tôi, nhưng Người bảo tôi phải cầu nguyện, chiêm niệm. Như thể ơn Chúa ban là rất cao quý, tôi phải có chút phần nào cộng tác vào đó, bằng sự mở lòng tôi ra một cách khiêm nhường, nghèo khó. Tôi nhận mình hèn yếu, nhưng vững tin vào tình yêu của Trái Tim Chúa đã hy sinh vì tôi và vì mọi người.
6.
Dần dần, khi cầu nguyện như thế, tình yêu Trái Tim Chúa đã đi vào lòng tôi. Tình yêu ấy như làm cho lòng tôi, dù đang nặng nỗi đau buồn, lại nở ra hoa, một thứ hoa có yêu thương và vui mừng. Đúng như lời Kinh Thánh nói: “Hoa trái của Thánh Thần là bác ái và niềm vui” (Gl 5,22).
7.
Từ kinh nghiệm nội tâm trên đây, tôi có một cái nhìn riêng về tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu dành cho những người đau khổ. Tôi thấy tình yêu cao quý ấy có ba đặc điểm này: Yêu thương, hy sinh và vui vẻ phục vụ.
Với cái nhìn đó, tôi dễ nhận ra những ai đến với tôi mà thực sự mang tình yêu của Trái Tim Chúa đến cho tôi.
Với cái nhìn đó, tôi cũng dễ nhận ra khi tôi phục vụ, nhất là những người đau khổ, tôi có mang tình yêu của Thánh Tâm Chúa đến cho họ thực không?
8.
Tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu có một dấu chỉ sống động và hùng hồn, đó là vết thương do bị lưỡi đòng đâm thâu qua. Với dấu chỉ đó, tôi hiểu thấm thía tình yêu luôn cần được minh chứng bằng hy sinh. Tình yêu không hy sinh là tình yêu giả. Hy sinh không yêu thương là yêu thương thừa. Yêu thương thực bao giờ cũng đẹp nhờ biết hy sinh.
9.
Nếu tôi yêu thương đoàn chiên của tôi, nhất là những người đau khổ, thì yêu thương của tôi cần phải được minh chứng bằng một dấu chỉ chắc chắn, đó là hy sinh. “Tôi chính là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên” (Ga 10,11). Hy sinh, mà các mục tử đã và đang làm gương cho tôi, gồm rất nhiều thứ xảy ra thường ngày. Hy sinh về thân xác thì dễ thấy. Hy sinh trong tâm hồn thì khó thấy, nhưng lại rất nhiều.
10.
Một trong những hy sinh trong tâm hồn, mà tôi học được nơi các ngài là sự tỉnh thức, khi làm từ thiện bác ái, phục vụ người đau khổ.
Tỉnh thức tránh sự phô trương. Các ngài nhớ lời Chúa phán: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chưng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng. Vậy, khi bố thí, đừng cho khua chiêng đáng trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thật, Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi” (Mt 6,1-2).
Tỉnh thức tránh sự lừa dối. Các ngài luôn rất minh bạch về tiền của dâng cúng. Thái độ minh bạch của các ngài làm tôi nhớ lại chuyện ông Khanania và vợ là Xaphira xưa đã gian lận, lừa dối các tông đồ trong việc dâng cúng của cải, và họ đã bị Chúa phạt chết tươi (x. Cv 5,1-11).
Tỉnh thức tránh cho việc từ thiện khỏi bị lợi dụng để kết thành những nhóm lợi ích riêng (x. Ga 2,18-19).
Tỉnh thức tránh thiếu tế nhị trong việc làm từ thiện và phục vụ. Làm cho người đau khổ là làm cho chính Chúa Giêsu.
11.
Dù tỉnh thức đến đâu, tôi vẫn thấy mình còn rất xa tình yêu của Trái Tim Chúa Giêsu, nên hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, tôi chỉ biết kêu cầu Chúa một lời vắn tắt này: Lạy Chúa, xin thương xót con. Tôi kêu cầu với lòng tin tuyệt đối.
12.
Rồi, dù như bị đóng đinh vào thánh giá là bệnh tật, già yếu, tôi vẫn ra đi, đến những người đau khổ bằng nhiều cách có thể.
13.
Cho dù thân phận mong manh, tôi vẫn mang đến cho họ chút tình yêu của Trái Tim Chúa. Tôi yêu thương họ, tôi hy sinh cho họ, tôi vui lòng được phục vụ họ. Và như vậy, tôi sẽ là của lễ, hiệp cùng của lễ Chúa Giêsu dâng chính mình trên thánh giá xưa. Kết quả là sẽ góp phần vào công việc cứu độ những người đau khổ, mà Chúa Giêsu thực hiện.
14.
Trên đây là một chia sẻ rất chân thành. Nếu đó là một chứng từ nói lên kinh nghiệm về tình yêu của Trái Tim Chúa nơi một con người hèn yếu như tôi, thì thiết nghĩ đây là một đóng góp vào Tin Mừng cho tình hình phức tạp tại Quê Hương Việt Nam yêu dấu hôm nay.
Nói lên kinh nghiệm về tình yêu Thánh Tâm Chúa, chứ không nói về lý thuyết, đó là điều tôi mạo muội làm. Xin Chúa thương nhận và ban phép lành cho những ai quan tâm đến kinh nghiệm nhỏ bé của tôi, và cầu nguyện cho tôi. Hy vọng như thế đang là một niềm vui giúp tôi càng tin vào tình yêu thương xót Chúa. Xin hết lòng tạ ơn Chúa.
                   Long Xuyên  4.6.2015

 

Bùi-Tuần 1331: Bài ca  TÌNH YÊU THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

08-06-2015
 + GB. Bùi Tuần
 

Từ ít lâu nay, thỉnh thoảng tôi nghe được một bài ca lạ. Tôi nghe không bằng tai, nhưng bằng : 08-06-2015 Bùi-Tuần 1331

  1.   Từ ít lâu nay, thỉnh thoảng tôi nghe được một bài ca lạ. Tôi nghe không bằng tai, nhưng bằng trái tim. Bài ca rất dịu dàng, rất nhẹ nhàng, rất ngọt ngào. Bài ca không lời, nhưng làm rung động tâm hồn, nâng lòng tôi lên với Chúa.
2. Bài ca nhiệm mầu ấy cho tôi được cảm thấy tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu, một tình yêu khiêm nhường, một tình yêu hy sinh, một tình yêu cứu độ.
Khi được cảm nhận tình yêu ấy, tôi coi đó là dấu chỉ Chúa Giêsu đang hiện diện trong tôi. Người đang giúp tôi cảm tạ Chúa Cha. Người đang giúp tôi hợp với ca đoàn các thiên thần trên trời, để ca ngợi Chúa Cha.
4. Qua cảm nghiệm trên đây, tôi như có một cảm quan riêng, để nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi người này, người nọ. Nếu gặp họ, tôi cũng nghe được từ họ, như phát ra một bài ca thiêng liêng nhiệm mầu mà tôi đã từng được nghe trong tôi, thì tôi tự nhiên như tin chắc họ đang có Chúa hiện diện.
Chúa hiện diện trong họ chính là Chúa Giêsu với trái tim đầy yêu thương, đầy hy sinh, đầy sự sống cứu độ.
5. Cảm quan, mà tôi vừa nói, là một cảm quan thiêng liêng, do Chúa ban. Cảm quan thiêng liêng này không thay thế vai trò của lý trí, nhưng giúp cho lý trí trong nhiều trường hợp.
Riêng đối với tôi, cảm quan thiêng liêng ấy giúp cho tôi thấy rõ hơn mấy sự thực sau đây.
6. Sự thực thứ nhất là yêu thương của tôi, nếu muốn là yêu thương như Chúa yêu thương, thì nhiều lúc phải vượt qua ranh giới hợp lý, mà lý trí thường đưa ra.
Đúng lý thì người đó không đáng thương. Đúng lý thì người nọ không đáng được cứu. Nhưng cảm quan thiêng liêng cho tôi thấy Trái Tim Chúa đã không đối xử theo sự hợp lý của lý trí tôi.
Yêu thương của Trái Tim Chúa đã vượt qua cái lý luận của lý trí loài người. Nhờ vậy, mà chính tôi cũng đã được cứu.
7. Sự thực thứ hai là hy sinh của tôi, nếu muốn là hy sinh theo gương Chúa, thì cũng phải vượt qua ranh giới của quan niệm quần chúng, mà nhiều người thường vịn vào để tránh hy sinh, đau khổ.
Bao lần, người ta quả quyết là phải loại trừ mọi đau khổ, mới là hạnh phúc, phải xa tránh mọi hy sinh mới là khôn ngoan. Nhưng cảm quan thiêng liêng cho tôi nhận ra hy sinh và đau khổ giữ một vai trò cần thiết trong việc cứu mình và cứu người khác, theo chương trình của Chúa.
8. Sự thực thứ ba là yêu thương và hy sinh của tôi, nếu muốn theo gương Chúa Giêsu, thì phải sẵn sàng đón nhận những bất ngờ xảy ra.
Theo thói thường, ai cũng muốn ổn định. Chương trình mục vụ là phải thế này. Kế hoạch truyền giáo là phải thế kia. Nếu xảy ra sự gì khác với hoạch định, thì coi như thất bại. Thế nhưng, cảm quan thiêng liêng lại cho tôi thấy, nếu có những bất ngờ xảy ra, phá vỡ những gì coi như sẽ tồn tại vững bền, thì nhiều khi nên coi đó là ý Chúa. Sự kiện đó dạy tôi về sự mong manh của các công trình loài người, để phải khiêm nhường cậy tin vào Chúa.
9. Nhờ những gì tôi vừa chia sẻ như trên, tôi thấy cảm quan thiêng liêng tại Việt Nam hôm nay đang xuất hiện một cách đáng mừng. Những người được Chúa ban cảm quan thiêng liêng đó thuộc mọi thành phần. Tôi nhận ra họ, nhờ một dấu chỉ, mà tôi gọi là chữ ký của Chúa nơi họ. Dấu chỉ đó là thái độ khiêm nhường trong yêu thương và hy sinh nơi họ.
10. Tới đây, tôi lại nhớ về bài ca thiêng liêng nhiệm mầu, mà tôi được nghe thỉnh thoảng trong lòng tôi. Bài ca ấy giúp tôi đọc lại lời Kinh Thánh viết xưa về Chúa Giêsu.
“Vào lúc ấy, Chúa Giêsu cất tiếng nói: Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 10,25-26).
Tôi tạ ơn Chúa đã thương coi tôi là một kẻ bé mọn. Tôi tạ ơn Chúa đã cho Đất Nước Việt Nam của tôi có được nhiều kẻ bé mọn. Tôi nhận ra những người bé mọn ấy đang được Chúa thương yêu một cách đặc biệt. Chúa cho họ một thứ cảm quan thiêng liêng, giúp họ tìm về Chúa và thuộc về Chúa.
11. Trong một tình hình rất phức tạp như hiện nay, những kẻ bé mọn ấy đang là những chứng nhân về Chúa, đem lại hy vọng và niềm vui cho nhiều người, trong đó có tôi.
Họ mang trong mình bài ca của Trái Tim Chúa. Họ nhận ra được bài ca của Trái Tim Chúa nơi nhiều người khác. Họ sống như một bài ca của Trái Tim Chúa ca tụng Chúa Cha. Họ giới thiệu Nước Chúa đang lan rộng một cách âm thầm qua bài ca của tình yêu Thánh Tâm Chúa. Đúng là Nước Chúa ở trong lòng con người, ở ngay giữa chúng ta (x. Lc 17,20-25).
12. Bài ca ấy đang chìm sâu vào tiềm thức của tôi, nhờ đó, tôi luôn nói với Chúa Cha một lời Chúa Giêsu đã than thở xưa trên thánh giá: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).
13. Phó thác là có thực. Nhưng không có nghĩa là tôi không có bổn phận phải tỉnh thức.
Tỉnh thức, đừng từ chối và đánh mất cảm quan Chúa thương ban, vì không còn muốn mình là bé mọn luôn phải làm theo ý Chúa, mà lại muốn coi mình là tự do làm bất cứ gì mình thích.
Tỉnh thức, luôn sẵn sàng để Chúa sử dụng tôi, để Người dâng lễ hy sinh cứu các linh hồn, làm chứng cho tình yêu của Người như Người đã phán: “Không tình yêu nào cao quý cho bằng tình yêu người liều mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15,13).
Tỉnh thức, luôn ý thức mình được Chúa sai đi, như lời Chúa Giêsu đã phán: “Như Cha đã sai con đi, thì con cũng sai họ đi” (Ga 17,18). Tôi được sai đi trong Chúa Giêsu, nhờ Chúa Giêsu, và với Chúa Giêsu. Tôi được sai đi, ưu tiên đến với những tâm hồn hèn mọn khổ đau, như Chúa muốn.
14. Như vậy, có một bài ca trong trái tim tôi. Bài ca đến từ Thánh Tâm Chúa Giêsu. Bài ca giúp tôi hiệp thông sâu sắc với Hội Thánh Chúa. Bài ca cho tôi nếm được phần nào sức mạnh thánh hoá của Chúa Thánh Thần. Bài ca dẫn tôi trên đường đời đầy trắc trở. Bài ca đưa tôi tới những con người muôn dạng. Bài ca dắt tôi lên với Chúa Cha giàu lòng thương xót. Bài ca giúp tôi xác tín có một Đấng thiêng liêng sẽ phán xét mọi người.
Xin tạ ơn Chúa đến muôn thuở muôn đời.
Long Xuyên, ngày 8.6.2015

 

Bùi-Tuần 1332: CÂY THÁNH GIÁ NHỎ 10-06-2015

 + GB. Bùi Tuần
Nhân ngày giỗ Đức Cha Cố Micae Nguyễn Khắc Ngữ
 

Trên chiếc bàn nhỏ kê ở đầu giường tôi, có một cây thánh giá nhỏ bằng nhôm rất nhẹ. Nhưng đối: 10-06-2015 Bùi-Tuần 1332

1.
Trên chiếc bàn nhỏ kê ở đầu giường tôi, có một cây thánh giá nhỏ bằng nhôm rất nhẹ. Nhưng đối với tôi, đó là một kỷ vật rất nặng về ý nghĩa, rất nặng về nhắc nhở, rất nặng về niềm tin và hy vọng.
Cây thánh giá nhỏ đó đã để trên giường Đức Cha Cố Micae Nguyễn Khắc Ngữ nhiều năm. Chúa Giêsu trên cây thánh giá đã luôn ở bên Đức Cha Cố. Người là nguồn sức mạnh thiêng liêng cho Đức Cha Cố, nhất là những năm cuối đời đầy thử thách của Ngài. Người nữ tu chăm sóc cho Đức Cha Cố đã đem cây thánh giá ấy đến cho tôi, khi Đức Cha Cố vừa qua đời.
Tạ ơn Chúa vì kỷ vật này.
2.
Tôi thường nhìn vào kỷ vật này, để sống ơn gọi. Tôi nhìn Chúa Giêsu trên thánh giá, rồi nhìn Đức Cha Cố Micae.
Khi nhìn vào Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá, tôi thường được Người nhắc cho tôi nhớ lại những lời xưa Người đã nói về tình yêu nơi Người. Dưới đây là mấy lời quan trọng của Người đã và đang dẫn đưa tôi sống ơn gọi theo Người. Đức Cha Cố cũng âm thầm khuyên tôi.
3.
Lời thứ nhất là: “Thầy là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11).
Cùng với lời đó, Chúa Giêsu cho tôi nhận ra dung mạo của Chúa Giêsu đang ở bên tôi. Dung mạo đó là: mục tử nhân lành, hy sinh mạng sống mình vì chiên. Dung mạo đó được in vào lòng tôi. Chúa Giêsu với dung mạo đó đang ở trong tôi. Người biến đổi tôi nên một chút nào đó giống như Người.
Tự nhiên, tôi cảm nhận được điều Chúa Giêsu muốn nơi tôi, đó là tôi cũng hãy chia sẻ với Người chức vụ mục tử nhân lành, hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.
Tôi hỏi Chúa, thế nào là nhân lành, và thế nào là hy sinh mạng sống vì đoàn chiên, như Chúa đã làm và muốn tôi chia sẻ. Thì Chúa trả lời là hãy cầu nguyện và chiêm niệm mới rõ được, chứ lý thuyết trên sách và căn cứ vào các hội thảo sẽ không đảm bảo. Rồi, Chúa cho tôi nhớ lại gương Đức Cha Cố Micae. Ngài quan tâm nhiều đến cầu nguyện và chiêm niệm, nên Ngài sống rất yêu thương và hy sinh cho đoàn chiên với những chi tiết nhỏ thường ngày.
4.
Lời thứ hai là: “Chúa Cha đã yêu thương Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu thương các con như vậy” (Ga 15,9).
Với lời đó, Chúa Giêsu cho tôi hiểu: Người yêu thương đến hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên, chính là vâng phục Chúa Cha. Yêu thương với hy sinh của Người có giá trị cứu rỗi các linh hồn là do vâng phục ý Chúa Cha. Vâng phục là yếu tố rất cần trong ơn gọi mục tử.
Rồi, Chúa cho tôi nhìn vào đời sống mục tử của Đức Cha Cố Micae. Ngài luôn vâng phục ý Chúa. Ngài luôn vâng phục các đấng bề trên thay mặt Chúa.
Đời sống mục tử của Ngài có một chiều hướng bước xuống, đó là yêu thương đoàn chiên đến hy sinh tất cả, kể cả mạng sống mình. Cùng một lúc, đời sống mục tử của Ngài có một chiều hướng đi lên, đó là vâng phục ý Chúa, một cách tuyệt đối.
6.
Lời thứ ba là: “Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian” (Ga 17,18).
Với lời đó, Chúa dạy tôi là khi được sai đến thế gian, Chúa Giêsu đã có những chọn lựa nhất định¸đó là: Cuộc sống nghèo và lo cho người nghèo, cuộc sống tám mối phúc thật, cuộc sống cứu người ta khỏi đàng tội, để họ được lên thiên đàng với Chúa Cha. Đức Cha Cố Micae cũng đã có những lựa chọn như vậy, khi ý thức mình được Chúa sai đi. Ngài ra đi sống những lựa chọn đó, nhưng đồng thời vẫn giữ tinh thần cầu nguyện, để luôn “ở lại trong tình yêu của Chúa” (Ga 15,9), và kết hợp với Chúa, như “cành nho gắn liền với thân cây nho” (Ga 15,5).
7. Lời thứ bốn là: “Lạy Cha, con xin phó dâng linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).
Với lời đó, Chúa Giêsu dạy tôi hãy hoàn toàn phó thác đời sống ơn gọi của tôi cho Chúa. Dù là một đời sống yêu thương hy sinh, dù là một đời sống vâng phục, dù là một cái chết đau khổ. Nhưng tất cả cuộc sống và cái chết của tôi đều sẽ là của lễ dâng hiến âm thầm, kín đáo. Chúa Giêsu đã là như thế. Đức Cha Cố Micae cũng đã phần nào như vậy. Tôi vui, vì được phó thác tất cả trong tay Chúa.
8.
Tuy nhiên, xin thú thực là tính tôi hay lo, nên tuy phó thác, mà cũng nhiều lúc rất lo hết chuyện này đến chuyện khác.
Chúa thương tôi. Ngài đã cứu tôi. Cũng từ cây thánh giá, Chúa nhắc cho tôi nhớ lại lời Người đã phán xưa, khi còn tại thế: “Hãy nhìn các con chim. Chúng không gieo, không gặt, cũng không có kho lẫm, thế mà Thiên Chúa vẫn nuôi chúng. Anh em còn quý hơn loài chim biết bao! Hãy nhìn hoa ngoài đồng. Chúng không kéo sợi, không dệt vải, thế mà ngay cả vua Salomon, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa ngoài đồng, nay còn mai mất, mà Chúa còn cho mặc đẹp như thế, huống hồ là anh em” (Lc 12,24-28).
9.
Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã dạy tôi thêm về điều đo, khi Người nói: “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30). Với lời đó, Chúa Giêsu dạy tôi là Người đã chu toàn việc mà Chúa Cha trao cho Người, chứ không phải là Người đã hoàn tất hết mọi việc, mà Chúa Cha còn dành cho những người khác.
Đức Cha Cố Micae cũng đã có lần nhắc nhở cho tôi nhớ là: Theo ý Chúa, ơn gọi của tôi có những giới hạn do lòng thương xót Chúa. Tôi hiểu là tôi không nên ôm đồm, nóng vội. Tất nhiên là phải biết lo. Nhưng hãy tập trung làm thực tốt những gì trong phạm vi có giới hạn của mình.
10.
Bây giờ, tôi nhìn cây thánh giá nhỏ, và nhận thấy rằng: Không phải những gì lớn lao đã ảnh hưởng lớn đến cuộc đời tôi, mà là những kỷ vật nhỏ, như cây thánh giá nhỏ của Đức Cha Cố Micae thân yêu. Tự nhiên, tôi cầm lấy chuỗi tràng hạt, để cùng với Đức Cha Cố, đọc kinh tạ ơn Đức Mẹ, cầu cho Hội Thánh, cho Quê Hương Việt Nam, cho giáo phận Long Xuyên và cho chính bản thân tôi.
Long Xuyên, ngày 10.6.2015