Suy Niệm Tin Mừng Lễ An Táng Bài 1-40 Ta là sự sống lại và là sự

Thứ ba - 22/01/2019 09:01
Suy Niệm Tin Mừng Lễ An Táng Bài 1-40 Ta là sự sống lại và là sự sống
Suy Niệm Tin Mừng Lễ An Táng Bài 1-40 Ta là sự sống lại và là sự sống
Suy Niệm Tin Mừng Lễ An Táng Bài 1-40 Ta là sự sống lại và là sự sống
AnTáng 01: HÃY TỈNH THỨC – Tgm Ngô Quang Kiệt 2
AnTáng 02: RẮN GIÀ RẮN LỘT.. 4
AnTáng 03: NẾU CHÚA CHẤP TỘI 8
AnTáng 04: SỰ CHẾT LÀ THẦY DẠY TA”. 11
AnTáng 05: CHUYỂN ĐỔI 13
AnTáng 06: THÂN  PHẬN  CON  NGƯỜI 17
AnTáng 07: CHIẾC GIƯỜNG.. 21
AnTáng 08: HÀNH HƯƠNG HY VỌNG.. 23
AnTáng 09: CHIỀU TÀ.. 28
AnTáng 10: HÀNH TRANG CHO ĐỜI SAU.. 32
AnTáng 11: SỨ  ĐIỆP  TỪ  NẤM  MỒ.. 36
AnTáng 12: ĐỀN THỜ BỊ PHÁ HỦY.. 39
AnTáng 13: SỰ CHẾT LÀ THẦY DẠY TA.. 43
AnTáng 14: MỘT CON NGƯỜI : HAI TIẾNG GỌI 46
AnTáng 15: SỐNG  SAO  CHẾT  VẬY.. 50
AnTáng 16: BẾN GA.. 52
AnTáng 17: PHẬN AI NGƯỜI ẤY LO.. 55
AnTáng 18: CON CHỒN VÀ VƯỜN NHO.. 59
AnTáng 19: TỈNH THÚC VÀ SĂN SÀNG.. 62
AnTáng 20: VIVE MORITURUS. 64
AnTáng 21: ĐỊNH HƯỚNG CHO CUỘC ĐỜI 70
AnTáng 22: PHẢI SINH HOA KẾT TRÁI 74
AnTáng 23: ĐI VỀ ĐÂU.. 77
AnTáng 24: MỘT BỘ XƯƠNG KHÔ.. 82
AnTáng 25: MỘT CUỘC TRẢ GIÁ.. 85
AnTáng 26: GIỜ ĐƯỢC TÔN VINH.. 89
AnTáng 27: TÍN HIỆU VUI HAY BUỒN  ?. 93
AnTáng 28: VƯỢT BIỂN.. 97
AnTáng 29: QUÊ HƯƠNG.. 101
AnTáng 30: BÓNG CÂU CỬA SỔ.. 106
AnTáng 31: LẼ SỐNG CHẾT.. 109
AnTáng 32: SỨ ĐIỆP TỪ LOÀI  HOA.. 114
AnTáng 33: HÃY SẴN SÀNG.. 119
AnTáng 34: CHẾT ĐI ĐỂ ĐƯỢC SỐNG.. 124
AnTáng 35: XÉT XỬ KHOAN DUNG.. 129
AnTáng 36: HAI BÀN TAY TRẮNG.. 137
AnTáng 37: SỐNG KHÔN CHẾT THIÊNG.. 142
AnTáng 38: CHUYẾN XE CUỘC ĐỜI 147
AnTáng 39: CON PHẢI TRẢ.. 151
AnTáng 40: ĐI VỀ ĐÂU (bài 2) 155

 

AnTáng 01: HÃY TỈNH THỨC – Tgm Ngô Quang Kiệt

2Mc 12, 43-45; Kh 21, 5a.6b-7; Lc 17, 26-37
Thánh lễ đưa chân
Bác Giuse Ngô ngọc Khiết
Đan viện Châu sơn 15-11-2013

 

Từ ngàn xưa đã có niềm tin về sự sống lại đời sau. Sách Maccabê tường thuật việc Giuđa, thủ lĩnh: AnTáng 1

Từ ngàn xưa đã có niềm tin về sự sống lại đời sau. Sách Maccabê tường thuật việc Giuđa, thủ lĩnh kháng chiến quân Do thái đã quyên được khoảng hai ngàn quan tiền, và gửi về đền thờ Giêrusalem xin dâng lễ tạ tội cho quân lính tử trận. “Ông làm cử chỉ rất tốt đẹp và cao quý này vì cho rằng người chết sẽ sống lại”. Tuy có sống lại nhưng cuộc sống sẽ khác trước. Đó là điều thánh Gioan khẳng định trong sách Khải huyền. Trong thị kiến ngài thấy trời cũ đất cũ qua đi. Trời mới đất mới xuất hiện. Đẹp xinh lộng lẫy. Nhưng tuyệt vời nhất là số phận con người được đổi mới. Không còn tang tóc, đau khổ, rên la. Vì người sống lại không còn chết nữa. Con người sống với những giá trị mới vì Thiên Chúa tuyên ngôn đổi mới mọi sự.
Tuy có niềm tin vào đời sau, vào sự sống lại. Nhưng thật đáng buồn là người ta không sống niềm tin đó.  Chúa Giêsu đã nhiều lần cảnh báo thái độ mê mải đời này. Người mời gọi mọi người tỉnh thức chờ đón Người đến đưa họ vào hạnh phúc vĩnh cửu đời sau trong các dụ ngôn Người đầy tớ tỉnh thức, Mười cô trinh nữ đi đón chàng rể. Và hôm nay một lần nữa Người dùng những dẫn chứng lịch sử là nạn hồng thủy thời tổ phụ No-e và cuộc thiêu hủy thành Sơ đôm thời tổ phụ Abraham.
Thời đó, người ta mải mê tất bật với đời sống của thể xác. Chúa Giêsu gợi ra hai nhu cầu người đời gắn bó, đó là ăn uống và mua sắm. Hoàn toàn cho đời sống thân xác. Ăn uống để nuôi xác, để tận hưởng. Mua sắm để trang điểm thân xác. Mê mải đó khiến người ta không tỉnh thức, mất cảnh giác với sự đổi thay bất ngờ ập tới. Trong lúc người ta mải mê lo việc ăn uống và mua sắm thì nước dâng lên cuốn trôi tất cả. Cuốn đi những gì người ta tưởng là giá trị vĩnh viễn. Ngay cả mạng sống còn không giữ được thì còn hưởng thụ, chăm chút thân xác sao được. Chỉ có No-e tỉnh thức, không bị đắm chìm vào thói ham mê ăn uống và mua sắm, nhưng chuyên chăm đóng tầu, mới thoát được nạn hồng thủy.
Người ta mê mẩn gắn bó với thế giới cũ với những giá trị cũ. Bà Lót đã được cứu ra khỏi thành phố đang bốc lửa. Nhưng vẫn tiếc nuối quay lại. Tiếc nuối lắm. Vì trong thành Sôđôma có biết bao dinh thự tráng lệ. Có biết bao thú vui giải trí. Riêng bà còn biết bao tài sản không kịp mang theo. Bà có biết đâu tất cả sẽ tiêu tan thành tro bụi trong chớp mắt. Bà có biết đâu vì bà chậm trễ nên chính bản thân bà cũng chẳng thoát khỏi lửa diêm sinh để mà tiếc nuối những giá trị xưa cũ. Bà có biết đâu một thành phố mới đẹp đẽ gấp trăm ngàn lần đang chờ đón bà. Bà có biết đâu trong cuộc sống mới có muôn vàn giá trị mới cao quí hơn những giá trị cũ gấp ngàn vạn lần. Vì quá gắn bó với cái cũ, bà đành mất tất cả.
Nêu lên những tấm gương tày liếp ấy, Chúa Giêsu tha thiết cảnh báo ta hãy tỉnh thức để giữ được tính mạng, để đứng vững trong ngày Chúa ngự đến. Đó là ngày bất ngờ. Chỉ những ai tỉnh thức không mê mải đời này mới được cứu thoát.
Ta tự hỏi tổ phụ No-e đã tỉnh thức thế nào để làm nên khác biệt, để trở thành người được tuyển chọn, được cứu thoát, “được đưa đi” trong ngày của Chúa?
Tổ phụ No-e cũng ăn uống, cũng mua sắm như mọi người. Nhưng trong khi mọi người coi ăn uống mua sắm như mục đích đời người thì tổ phụ chỉ coi đó như phương tiện. Ăn uống để sống mà đóng tầu cho Chúa, làm việc cho Chúa. Mua sắm để có đủ dụng cụ phục vụ việc đóng tầu theo Chúa truyền dạy. Và mua sắm những thú vật, cây cối, hạt giống chuẩn bị cho chương trình của Chúa. Tóm lại mọi người ăn uống và mua sắm cho thân xác và cho nhu cầu nhất thời và cho bản thân. Còn tổ phụ No-e ăn uống và mua sắm cho những gì thuộc về mai sau, cho chương trình lâu dài, và cho Chúa, cho người khác. Đó là điều khác biệt.
Bà Lót chết vì tiếc của. Ra đi còn ngoái cổ lại nhìn. Bà gắn bó với đời này. Còn tổ phụ No-e ra đi không quay lại. Khi Chúa truyền tổ phụ lập tức đưa mọi người lên tầu, đóng cửa tầu lại trong bốn mươi ngày. Không luyến tiếc. Không gắn bó.
Người ta ra đi luôn bất ngờ. Lời Chúa cảnh báo được chứng nghiệm tỏ tường trong những ngày này. Khắp thế giới đang sững sờ xúc động vì cơn bão Hayian tàn pháPhilippines, cuốn đi hàng vạn sinh mạng. Với những thiết bị tối tân, cơn bão đã được cảnh báo. Nhưng chẳng ai cứu được các thành phố bị cơn bão quét ngang qua. Chẳng ai cứu được những con người chìm dưới những ngọn sóng khổng lồ. Được cảnh báo trước nhưng vẫn hoàn toàn bất ngờ.
Chúa đến bất ngờ cả trong vận mệnh cá nhân. Cuộc ra đi của bác Giuse Khiết khiến ta càng phải chuyên tâm lắng nghe và thực hành Lời Chúa. Chiều ngày Chủ nhật 10-11 vừa qua, bác Giuse Khiết lái xe đưa bác gái đi viếng nghĩa địa. Khi vừa đến nghĩa địa, một cơn đau ập đến khiến bác không nói được tiếng nào. Chỉ gục đầu vào thành xe mà chịu cơn đau. Gọi xe cấp cứu. Nhưng chưa kịp đến nhà thương thì bác đã ra đi. Bác gái ngồi bên cạnh mà không hề hay biết. Quả thật giờ chết đến bất ngờ chẳng ai biết được. Hai người ở bên nhau. Nhưng một người đã ra đi.
Tuy Chúa đến bất ngờ nhưng bác Giuse Khiết đã luôn tỉnh thức. Vì không để bị những mê mải đời này cuốn đi. Tuy sống bên Mỹ là thiên đường ăn uống và mê sắm, nhưng bác không bị cuốn vào dòng thác nhu cầu tiêu thụ. Trái lại bác dành nhiều thời giờ và tiền bạc cho những công việc của Nước Trời. Ngoài những bổn phận dự lễ, đọc kinh mà bác rất chuyên chăm, bác còn tham gia phong trào tĩnh tâm Cursillos, đóng góp vào hội Bảo trợ Ơn thiên triệu, là thành viên tích cực của Gia đình Châu sơn và là hội viên của Hội Mân Côi.
Việc bác được Chúa gọi giữa lúc đi viếng nghĩa địa cầu nguyện cho người đã qua đời chứng tỏ bác tỉnh thức. Cầu nguyện và đặc biệt cầu nguyện cho người đã qua đời là một việc nói lên đức tin và đức bác ái mạnh mẽ. Bác ra đi lúc đang làm việc nghĩa. Không lo lắng cho mình, không tìm hưởng thụ cho bản thân. Đó là hành động vô vị lợi. Đó là việc làm chuẩn bị cho trời mới đất mới với những giá trị mới.
Thương nhớ bác Giuse Khiết, ta hãy nhớ lời Chúa dậy hôm nay và noi gương bác, không mê mải thế giới cũ kỹ với những giá trị mau tàn. Nhưng hãy tỉnh thức chuẩn bị cho những giá trị mới. Để khi giã từ trời cũ đất cũ này, ta được vào hưởng hạnh phúc trong trời mới đất mới.
Lạy Chúa, xin đón nhận linh hồn bác Giuse Khiết vào Nước Trời. Amen.
TGM. Gs. Ngô Quang Kiệt
Đan Viện Châu Sơn

 

AnTáng 02: RẮN GIÀ RẮN LỘT

I. CHÚNG TA ĐỌC LỜI CHÚA.
          Trích : Mt 11,25-3o.
                     2Cr 5,1.6-10.
 

Bài Tin mừng chúng ta vừa nghe làm cho chúng ta tin tưởng, đầy phấn khởi và được yên ủi trước: AnTáng 02

          Bài Tin mừng chúng ta vừa nghe làm cho chúng ta tin tưởng, đầy phấn khởi và được yên ủi trước cái chết của người thân yêu ra đi về đời sau.
          Chúng ta biết rằng cuộc sống của con người trên trần gian này rất vắn vỏi, nó như bông hoa sớm nở chiều tàn, như một cơn gió thoảng qua, không có gì là vĩnh viễn. Chúng ta cũng có thể coi cuộc sống ở trần gian này là một cuộc hành trình đi về quê trời. Không có cuộc hành trình nào mà không phải vất vả, không có một lữ khách nào mà chỉ ngồi chơi xơi nước bên vệ đường mà không nỗ lực phấn đấu để tới đích.  Cuộc hành trình nào cũng có khởi đầu và kết thúc.  Chúng ta có thể ví cuộc đời chúng ta như một cuộc hành trình có ba giai đoạn :
                             SINH ra là lên đường,
                             SỐNG là chiến đấu, khắc phục,
                             CHẾT là tới quê hương.
          Hôm nay chúng ta được Chúa nói với chúng ta một cách êm ái dịu dàng :”Hỡi những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến với Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bổ dưỡng” (Mt 11,26).
Ngày kết thúc cuộc hành trình ở trần gian này  là ngày chúng ta được Chúa cho nghỉ ngơi bồi dưỡng sau bao nhiều vất vả khó nhọc
          Thánh Phaolô, trong thư gửi cho tín hữu Côrintô, cũng hé mở cho chúng ta biết : “Nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng nên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra”(2Cr 5,1)  Chúng ta chỉ có thể tới được ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời khi chúng ta kết thúc cuộc hành trình ở dưới đất này. Ngày kết thúc cuộc hành trình chính là ngày chúng ta ra đi khỏi thế gian này.  Như vậy chết là một điều kiện cần thiết để về quê trời, chết mang niềm hy vọng , yên ủi và phảng phất một niềm phấn khởi.

 II. MỌI NGƯỜI ĐỀU PHẢI CHẾT.
          Cả hai ngành khoa học có từ lâu, liên quan tới sự sống con người. Đó là y học và dược học. Cả hai đều nhận con rắn là biểu hiệu. Con rắn cuốn trên chiếc gậy là biểu hiệu của ngành y, và con rắn cuốn trên chiếc ly có chân, đầu hướng vào miệng ly, là biểu hiệu của ngành dược. Sở dĩ cả hai ngành quan trọng này, nhận con rắn là biểu hiệu, vì người xưa, cả đông lẫn tây phương, đều coi con rắn là tượng trưng cho sức mạnh. Người ta còn lầm tưởng con rắn là loài bất tử, do hiện tượng lột xác của nó. Cả đông lẫn tây đều truyền nhau câu truyện cổ tích, về sự bất tử của con rắn.
                             Truyện : rắn già rắn lột.
          Thuở trời đất vừa được dựng nên, Tạo hoá muốn cho loài người đuợc bất tử, bằng cách lột xác, còn loài rắn thì tới già phải chết. Tạo Hoá liền sai sứ giả là vị Thiên lôi xuống trần nói ý định đó cho loài người : Tạo Hóa truyền Thiên lôi, khi gặp con người thì nói mệnh lệnh này (Một mệnh lệnh có phép mầu) :
                   “Người già,người lột. Rắn già chạy tuột vô săng”.
          Thiên lôi xuống trần, vừa đi vừa lẩm nhẩm mệnh lệnh của Trời, nhưng vì Thiên lôi lơ đãng, đọc đi đọc lại thế nào, mà khi xuống trần vừa gặp con người thiên lôi lại đọc :”Rắn già rắn lột. Người già chạy tuột vô săng”.
          Vì thế mà con rắn được lột xác, còn con người sinh ra, lớn lên, già, chết, rồi phải đi vào săng, đem chôn.
                   (Đỗ đình Tiệm, Lương thực hằng ngày, tr 722)
          Khi còn nhỏ, nghe câu chuyện cổ tích trên, chúng ta phàn nàn, nuối tiếc vì tính lơ đãng của ông Thiên lôi mà con rắn đã dành được quyền lột xác, còn con người khi già phải chết, chứ không được lột xác.
          Nhưng tiếc thế nào thì tiếc, mỗi người chúng ta đều phải chết, đây không phải là sự tình cờ hay ngẫu nhiên mà là một án lệnh.
          Mở sách Sáng thế ra, ta thấy ghi lại : Sau khi Ađam Evà phạm tội ăn trái cấm, Thiên Chúa đã ra án phạt cho ông bà. Đây là án lệnh của Chúa phán với Adam :”Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà ta đã truyền cho ngươi rằng :”Ngươi đừng ăn nó, nên đất đã bị nguyền rủa vì ngươi ; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn bởi đất mà ra. Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi,  ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất”(St 3,17-19).  Trở về với bụi đất là chết chứ còn gì ?
          Chúa Giêsu xuống thế làm người chuộc tội cho loài người, Ngài đã xóa tội Ađam để đem chúng ta lại làm con Thiên Chúa.  Chúng ta sinh ra đều mang tội tổ tông, nhưng nhờ Bí tích Thánh tẩy, chúng ta được tha tội đó và tội riêng của mình.  Tuy đã được tha tội tổ tông nhưng hậu quả của tội vẫn còn và hậu quả sau cùng là phải chết (x. St 3,19).
          Kinh thánh cũng làm chứng về điều này. Chúng ta hãy đọc vài câu Thánh vịnh để xác tín về điều đó :
          * Tv 48,9-10 : Mạng sống người dù giá cao mấy nữa thì rồi ra cũng chấm dứt đời đời. Nào phàm nhân sống mãi được sao mà chẳng phải đến ngày tận số.
          * Tv 38,5-6 : Lạy Chúa, xin dạy cho con biết : đời sống con chung cuộc thế nào, ngày tháng đếm được mấy mươi, để hiểu rằng kiếp phù du là thế.
          * Tv 38, 7a : Ấy tuổi đời con, Chúa đo cho một vài gang tấc, kiếp sống này, Chúa kể bằng không. Đứng ở đời, thật con người chỉ như hơi thở, thấp thoáng trên đường tựa bóng câu.
          Từ xưa đến nay có hàng tỉ tỉ người đã sống trên mặt đất này mà nay còn ai đâu. Cả những bậc anh hùng cái thế, cả những vĩ nhân lừng danh ngày nay cũng chẳng còn ai, nếu người ta có nhắc tới là nhắc tới theo sử sách.  Có những người sống thọ đến mức nào nay cũng chẳng còn như ông Ađam sống tới 930 tuổi, ông Noe sống 950 tuổi, ông Mathusalem 969 tuổi, ông Bành Tổ của Trung hoa sống 800 tuổi.

 III. CHẾT RỒI SẼ RA SAO ?
 Chết là một sự kiện, một biến cố quan trọng của cuộc đời nhưng cái nhìn về sự chết thì khác nhau : có người cho rằng chết là hết, có người cho  r ằng chết mà vẫn còn ; có người cho rằng chết là một thất bại, là đi vào ngõ cụt đâm ra bi quan ; có người cho rằng chết là một khởi điểm mở ra một chân trời mới đầy lạc quan.
          1. Một số người vô tín.
          Những người vô tín không tin có đời sau, không có thiên đàng hoả ngục để thưởng phạt. Đối với những người này, chết là hết, là tuyệt vọng.
          Karl Marx, ông tổ thuyết Mác-xít vô thần, trong một lá thư gửi cho người bạn của ông là Lassanler đã viết :
“Cái chết của đứa con trai tôi đã làm cho tôi đảo điên. Lúc nào tôi cũng cảm thấy như cái chết ấy mới xẩy ra ngày hôm qua thôi. Còn vợ tôi thì hoàn toàn ngã gục vì biến cố này”.
          Ai trong chúng ta cũng cảm thông được nỗi đau đớn tột cùng này của ông tổ thuyết Mác-xít vô thần.  Cái chết là một mất mát mà không gì có thể lấp đầy được. Sự mất mát ấy lại càng khủng khiếp hơn khi con người không còn một niềm hy vọng nào vào cuộc sống mai hậu. Chối bỏ sự sống mai hậu cũng có nghĩa là tự đọa đầy mình  vào một nỗi tuyệt vọng khủng khiếp nhất.
                   (D. Wahrheit, Phép lạ trong đời, tr 257)
          2. Những người có đức tin.
          Những ai có đức tin thì đều công nhận rằng có đời sau, có thiên đàng hỏa ngục để thưởng phạt và linh hồn thì bất tử. Do đó, chết không phải là mất, là hủy hoại mà là một sự chuyển đổi :”Sự sống thay đổi chớ không mất đi, và khi nơi nương náu ở trần gian này bị hủy diệt tiêu tan thì lại được một chỗ cư ngụ vĩnh viễn trên trời” (Kinh Tiền tụng lễ An táng).
          Ông Trang Tử, một nhà hiền triết Trung hoa, xuất hiện trước Chúa Giêsu, cũng có một cái nhìn rất lạc quan về sự chết, khi ông nói :
“Người ta chết là trở về với Tạo Hóa, cũng như người đi ra ngoài mà trở về nhà, thế mà ta còn theo đuổi nghêu ngao khóc lóc thì chính ta chẳng hóa ra không biết mệnh trời à ? Cho nên ta không khóc lại còn hát nữa”.
            Hoài nam Tử cũng có một ý nghĩ như Trang Tử khi ông nói :”Sinh ký tử qui” : sống là sống gửi sống nhờ, chết mới là về.  Tư tưởng này giống như của thánh Phaolô tông đồ khi viết thư gửi cho tín hữu Côrintô (x. 2Cr 5,1.6-10).
          Ông Wolfany Goethe, một thi sĩ kiêm triết gia Đức ,  còn nói một cách ví von hơn nữa :”Con người chết là một vì sao lặn để mọc huy hoàng hơn ở một bán cầu khác”.
          Với con mắt đức tin, chúng ta thấy chết không phải là đi vào hư vô, đi vào ngõ cụt, là tuyệt vọng, nhưng chết chính là phương tiện để chúng ta được về kết hợp với Chúa trên quê trời, như  thánh Phaolô nói :”Quê hương chúng ta ở trên trời và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

AnTáng 03: NẾU CHÚA CHẤP TỘI

Mùa báo hiếu
(Lễ cầu cho Các Đẳng)
 I. Ý NGHĨA NGÀY LỄ.
 

Hôm qua, Hội thánh hân hoan mừng các con cái mình vinh thắng đang hưởng mặt Chúa trên nởi vĩnh phúc. AnTáng 03

          2. Hôm nay, Hội thánh là Mẹ hiền không thể quên được những đứa con đang bị đau khổ trong nơi thanh luyện. Hội thánh phải cứu giúp để đưa họ về hưởng nhan thánh Chúa.
          3. Ta tin có sự hiện hữu của luyện ngục, nơi giam hãm để thanh luyện các tín hữu qua đời mà còn mang tội nhẹ hay đền tội chưa đủ. Qua tín điều các Thánh thông công, ta có thể cứu giúp được các linh hồn ấy.
 
II.  NẾU CHÚA CHẤP TỘI.
        Ta thường đọc kinh Vực sâu tức Thánh vịnh 130 để cầu cho các linh hồn nơi luyện ngục. Ta để ý đến câu “Nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được” (Tv 130,3). Thiên Chúa là Đấng thánh thiện vô cùng không thể nào để người ta xúc phạm đến. Thế mà con người là tạo vật Chúa dựng nên dám cả gan phạm đến Chúa khi phạm tội, vì khi phạm tội là chống lại với Chúa. Nếu Chúa chấp tội theo sự công thẳng của Ngài thì không ai được cứu rỗi.
          Nhưng chúng ta được an ủi vững vàng khi đọc đến câu “Bởi Chúa tôi hằng có lòng lành cùng vì lời Chúa tôi đã hứa”.  Cậy trông vào lượng từ bi hải hà và tha thứ của Thiên Chúa, ta dám xin Chúa thứ tha các tội ta phạm như lời Ngài đã hứa.
          Theo tín điều các thánh hiệp thông (Giáo lý Công giáo số 962) ta có thể cầu nguyện cho các người đang bị giam phạt trong luyện ngục. Đây là một hành vi thể hiện đức bác ái giữa các thành phần trong Hội thánh.
 
III.  NGÀY THỂ HIỆN ĐẠO “HIẾU”.
          Chữ “HIẾU” rất quan trọng đối với người Á đông. Người ta nâng chữ hiếu lên thành ĐẠO hiếu tức đạo làm con. Theo truyền thống Á đông, tội nặng nhất là tội bất hiếu.

Công cha như núi Thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho trọn chữ hiếu mới là đạo con.
                                      (Ca dao)

          Đạo làm con phải đáp đền công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ; ơn ấy người ta gọi là “ơn nghĩa cù lao”.
          Trong Kinh thi có câu: “Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao” : thương xót thay cha mẹ sinh ta khó nhọc.
          Trong bài thứ 5, dạy học trò sống cho phải đạo, sách Gia huấn ca của Nguyễn Trãi có viết :

Chữ rằng sinh ngã cù lao,
Bể sâu khôn ví, trời cao khôn bì.
                          (Nguyễn Trãi)

                   Trong mười giới răn của Đạo Công giáo có một giới răn nói về vấn đề này :”Thứ bốn thảo kính cha mẹ” (x. Xh 20,10). Thảo kính là yêu mến, biết ơn, vâng lời và giúp đỡ cha mẹ khi còn sống và đã qua đời (x. Giáo lý Công giáo số 2215-2218).  Giúp đỡ cha mẹ khi đã qua đời cũng là một bổn phận phải làm tròn đối với người công giáo cũng như người ngoại giáo.
          Vào rằm tháng bảy mỗi năm, người Phật tử tổ chức lễ Vu lan rất trọng thể và cảm động. Đây là lễ hội con cái báo hiếu cha mẹ. Người ta đến chùa qùy lạy trước Phật đài, đem lòng thành kính, cầu xin từ bi của Tam Bảo cứu độ cho cha mẹ được giải thoát.
          Nghĩa làm con, phụng dưỡng cha mẹ còn sống, cha mẹ mất cũng thắp đèn trời, ngày đêmkhấn nguyện.  Chữ hiếu sống cho trọn vẹn,  cao đẹp dường bao.

Công dưỡng dục thâm ơn dốc trả
Nghĩa sinh thành đạo cả mong đền,
Làm con hiếu hạnh vi tiên.
                            (Kinh Vu lan bồn)

          Ở phương Tây, tuy không có tục thờ tổ tiên, tuy chữ hiếu không nâng lên thành đạo, nhưng không vì thế mà không có ngày dành riêng để nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của ông bà cha mẹ. Vì thế, thánh 11 hằng năm là tháng dành riêng để cầu nguyện cho những người đã qua đời, đặc biệt là ngày 02 tháng 11 mỗi năm. Như vậy, có thể nói thời gian tháng 11 là mùa Vu lan báo hiếu đến muộn của người Tây phương.
          Chúng ta hãy đọc lại đoạn sách GIÁO HUẤN CA 3,1-16 để hiểu biết nghĩa vụ của con cái đối với ông bà cha mẹ.
          Có hai câu đáng chú ý :
* “Hãy thảo kính cha con bằng lời nói việc làm, để nhờ người mà con dược chúc phúc” (Hc 3,8).
* “Lòng hiếu nghĩa đối với cha sẽ không bị lãng quên và sẽ đền bù tội lỗi cho con”  (Hc 3,14).
Hôm nay ông bà cha mẹ đang mong con cái thực hiện thực hiện chữ hiếu mà Chúa đã răn
dạy.  Vậy chúng ta sẽ làm được những gì trong ngày hôm nay và mãi mãi ?
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

AnTáng 04: SỰ CHẾT LÀ THẦY DẠY TA”

Lm Đỗ Quyên
 

Nhạc sĩ Tôn thất Lập viết một câu rất hay : “Khi nghĩ về một đời người, tôi thường nhớ về một rừng : AnTáng 04

Nhạc sĩ Tôn thất Lập viết một câu rất hay : “Khi nghĩ về một đời người, tôi thường nhớ về một rừng cây”. Tại sao vậy ?. Thưa bởi vì rừng cây là một hình ảnh gần đúng về đời người. Trong một khu rừng có cây non, cây già. Lá cây thì khi xanh khi vàng rồi rụng xuống. Rõ ràng rừng cây là hình ảnh về cuộc đời con người.
Đây là một nhận định thực tế. Cuộc đời con người cho dẫu sống đến trăm năm, rồi cũng có lúc phải dừng lại, rồi cũng kết thúc nơi phần mộ. “Trăm năm nào có gì đâu, chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì” (Nguyễn Du).
Thánh Âu tinh khi suy nghĩ về sự chết đã gọi sự chết là “thầy”. Thế “thầy sự chết ´sẽ dạy chúng ta những bài học nào ?

1. Thầy dạy sự khôn ngoan
như lời Tv 90 (89), 12 : “Xin dạy con biết đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan”.
Tuổi đời chúng ta có khi đang được đếm ngược rồi đó !
Sự khôn ngoan dạy cho ta biết rằng đến một lúc nào đó rồi cũng phải dừng lại: “Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục; mạnh giỏi chăng là được tám mươi” (Tv 90 (89), 10).
Hồi xưa tôi thường nghe người ta hát như thế này : “Em ơi, có bao nhiêu, sáu mươi năm cuộc đời”. Nếu câu hát này không đúng với ai thì ít nhất cũng đúng với Oâng cố đây. Ông đã ra đi vào lúc tuổi đời sáu mươi.
Còn bài TM Luca diễn tả thật hay : hai môn đệ đi về Emmau, càng đi thì càng đụng phải ánh hoàng hôn và phải dừng lại. Đó phải chăng là hình ảnh về cuộc đời mà Giáo Hội, cách kín đáo, muốn dùng Lời Chúa mà nhắc nhở ta ?.

2. Thầy dạy ta biết kiếp người mong manh
Lời của bài hát trong lễ an táng ta thường nghe: “Một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích”.
Vâng, chỉ có Chúa là vĩnh cửu, trường tồn bất diệt, còn con người chỉ như hoa cỏ ngoài đồng, sớm nở tối tàn.
3. Thầy dạy ta hãy tìm kiếm những gì là bất diệt : “Anh em hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát và kẻ trộm không đào ngạch, khoét vách lấy đi” (Mt 6, 20).
4. Thầy dạy ta hãy làm những việc lành phúc đức, như của cải gởi về đời sau.
Xin kể một câu chuyện của người Nga, nhan đề “đồng bạc nhân nghĩa”, để kết thúc.
Chuyện rằng : “Có nhà phú hộ kia gần chết mà lòng vẫn chỉ nghĩ đến tiền của, một động lực đã thúc đẩy ông lao lực suốt cả cuộc đời. Dùng chút sức tàn còn lại, ông cố gỡ chiếc bao nhỏ đeo giấu ở cổ, lấy chiếc chìa khoá trao cho người tớ gái trung tín nhất, ra dấu chỉ chiếc rương nằm trong góc nhà và bảo cô lấy những túi tiền vàng bỏ vào quan tài của ông.
Khi chết xong, ông sống cuộc đời mới ở thế giới bên kia, nơi đó người ta cũng ăn uống và tiêu tiền như trên trần gian vậy. Đứng trước một chiếc bàn dài đầy những cao lương mỹ vị, ông hỏi người bán hàng : “Món hàng này bao nhiêu vậy cô ?”.
Cô bán hàng trả lời : “Một xu, thưa ông”.
“Thế còn hộp cá mòi kia ?”.
“Cũng một xu, thưa ông. Tất cả những thứ được bày bán ở đây, cái nào cũng giá một xu”.
Nhà phú hộ thầm nghĩ : “Thế này thì bao giờ mới tiêu cho hết số vàng ta mang theo ”. Ông chọn một đĩa thức ăn lớn với nhiều món ăn ngon nhất, rồi lấy một đồng tiền vàng ra trả, nhưng cô thu tiền không nhận. Cô ta vừa lắc đầu vừa nói : “Thưa ông, ông đã học được quá ít trong cuộc sống”.
Nghe thế, nhà phú hộ ngạc nhiên hỏi : “Thế đồng tiền vàng của tôi không đủ trả cho đĩa thức ăn này hay sao ?”.
Cô bán hàng trả lời : “Không phải, ở đây, chúng tôi chỉ nhận những đồng tiền mà trong cuộc sống trước đây ở trần gian người ta đã dùng để làm việc lành phúc đức, giúp đỡ những kẻ nghèo khó túng cực mà thôi”.
 
 

AnTáng 05: CHUYỂN ĐỔI

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Ga 154-4,1-6; 1Cr 15,51-56.
 

Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu nói với các mơn đệ những lời tâm huyết. Những lời tâm sự mang đầy : AnTáng 05

Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu nói với các mơn đệ những lời tâm huyết. Những lời tâm sự mang đầy tính giáo huấn của Ngài đã làm cho các mơn đệ biết Ngài sắp giã biệt các ơng. Các ơng cảm thấy lo buồn và xao xuyến.  Ở đây Ngài ban lời khuyếnh khích để nâng đỡ, an ủi và tin tưởng. Để khỏi bị xao xuyến, Ngài khuyên các ơng :”Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”(Ga 14,1) và Ngài còn cho biết Ngài về cùng Cha để dọn chỗ cho các ơng vì nhà Cha Ngài còn nhiều chỗ. Ngài còn hứa sẽ trở lại đón các ơng đến nơi đó và các ơng đã biết đường rồi.
          Ơng Tơma tò mò hỏi :”Thưa Thầy, chúng con khơng biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường” ? Chúa Giêsu đáp :”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, Khơng ai đến được với Cha mà khơng qua Thầy”. Nghĩa là : mục tiêu cuộc hành trình của mọi người là về với Thiên Chúa Cha; Chúa Giêsu chính là người dẫn đường, hơn nữa, Ngài chính là con đường dẫn đến đó.
          Qua lời thánh Phaolơ khuyên nhủ tín hữu Corintơ chúng ta được biết : chết chỉ là sự chuyển đổi :”Đây tơi nói cho anh em biết mầu nhiệm này : khơng phải tất cả chúng ta sẽ chết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến đổi”(1Cr 15,51).
          “Sinh ký, tử qui”, sống là gửi, chết là về. Đời này khơng phải là quê hương mà chỉ là nơi chúng ta  gửi thân xác trong một thời gian nào đó. Khi chết, chúng ta sẽ về quê hương thật. Chết là trở về nhà Cha. Đó là chân lý.

II. PHẢI CHĂNG CHẾT LÀ HẾT ?
          Những người khơng có tín ngưỡng coi đời chỉ là hư ảo, chóng qua, người ta chỉ sống cho qua ngày để hưởng thụ, càng nhiều càng tốt để rồi đợi thần chết đến. Họ coi chết là kết thúc cuộc đời, chết là hết, là đi vào ngõ cụt, là đi vào hư vô và tuyệt vọng. Họ coi chết là một thất bại và hoàn toàn vô nghĩa. Vì thế :
                                     
                             Họ rằng : trong cuộc sinh tồn
                             Chỉ có vật chất là hơn nhất đời.
                                      Trên kia không có Chúa Trời
                             Kiếp sau là chuyện của người bầy ra.
                                      Sống là sản xuất tăng gia
                             Tạo thêm của cải vinh hoa phú cường.
                                      Đừng mong những chuyện thiên đường
                             Chết rồi là hết, lẽ thường xưa nay.
                                    (Lão Quê trong báo Tông đồ 1950)

          Vì không tin có đời sau, thi sĩ Xuân Diệu đã diễn tả tâm lý của người hấp hối bằng những vần thơ bi đát :
                             Nhưng mà tôi sẽ chết, than ơi !
                             Tôi run như lá, tái như đông.
                             Trán chảy mồ hôi, mắt lệ phồng