CHỨNG NHÂN GIỮA ĐỜI THƯỜNG - Chuyện kể gia đình - Sách 11

Thứ sáu - 05/08/2022 08:50
CHỨNG NHÂN GIỮA ĐỜI THƯỜNG - Chuyện kể gia đình - Sách 11
CHỨNG NHÂN GIỮA ĐỜI THƯỜNG - Chuyện kể gia đình - Sách 11
Lm. Phêrô NguyễnVăn Mễn
(sưu tầm)


CHỨNG NHÂN GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Nguồn:
https://linhmucmen.com/news/chuyen-ke-gia-dinh/


---------------------------------

- Đọc các bài của Lm. Mễn:
1. Vào Facebook.com; tìm: Nguyễn Mễn;
hoặc https://www.facebook.com/ nguyen.men.71;

2. Vào Internet: Google, Youtube, Cốc Cốc, Safari, hoặc Yahoo.com;
tìm: Cha Mễn, hoặc linh mục Mễn

3. https://linhmucmen.com
4. Email: mennguyen296@gmail.com

5. ĐT: 0913 784 998; 0394 469 165

**** "Bao lâu còn thời giờ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người” (Galata 6,10)

**** Lạy  Chúa, xin hãy hoàn thành nơi con những ý định của Chúa. Và xin ban cho con ơn: Không làm trở ngại ý định của Chúa do hành vi của con. Lạy Chúa, con muốn điều Chúa muốn, chỉ vì Chúa muốn, như Chúa đã muốn và tới mức độ Chúa muốn. Amen.

----------------------------
Mục Lục

Bài 1: CHUYỆN BA CON CHUỘT.. 2
Bài 2: CHUYỆN CON SƯ TỬ VÀ CON CHUỘT NHẮT.. 4
Bài 3: CHUYỆN CON CHUỘT VÀ CÁI BẪY CHUỘT.. 6
Bài 4: LÝ DO SAY MÊ ĐỌC SÁCH THÁNH THẬT ĐƠN GIẢN.. 10
Bài 5: CHUYỆN CHÚA GIÊSU HÚT THUỐC.. 11
Bài 6: CHUYỆN CẬU BÉ TÌM CHÚA.. 13
Bài 7: TẦM QUAN TRỌNG CỦA CON “SỐ KHÔNG”. 15
Bài 8: BÍ QUYẾT HẠNH PHÚC CỦA BÀ MARIA MAĐÊLÊNA.. 16
Bài 9: HÃY YÊU NHƯ CHÚA.. 17
Bài 10: CHUYỆN ĐỨC PHẬT và NGƯỜI PHỤ NỮ ĐAU KHỔ.. 20
Bài 11: CHUYỆN VỀ MỘT GIẤC MƠ LẠ.. 22
Bài 12: CHUYỆN MỘT NGƯỜI MẸ QUẢ CẢM... 23
Bài 13: NIỀM TIN CỦA VỊ TỔNG THỐNG NỔI TIẾNG.. 25
Bài 14: CHUYỆN MỘT TÂN BINH DŨNG CẢM... 27
Bài 15: MỘT VIỆC TRUYỀN GIÁO ĐƠN GIẢN.. 29
Bài 16: CHUYỆN HIẾU THẢO CỦA VỊ TỒNG THỐNG NỔI TIẾNG.. 32
Bài 17: NHỮNG CHUYỆN LÊN ĐƯỜNG THẬT TUYỆT DIỆU.. 33
Bài 18: CHỨNG NHÂN GIỮA ĐỜI THƯỜNG.. 36
Bài 19: CHUYỆN TƯỞNG NHỎ, NHƯNG KẾT QUẢ QUÁ TUYỆT VỜI 37
Bài 20: HY SINH NÀO CŨNG ĐỀU QUAN TRỌNG.. 39
Bài 21: CON KHÔNG THỂ YÊU CHÚA ĐƯỢC.. 41
Bài 22: SỨC MẠNH CỦA NHỮNG LỜI THÌ THẦM... 43
Bài 23: NIỀM TIN CỦA NHÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC.. 45
Bài 24: KIỂU LÝ LUẬN CỦA NHÀ VÔ THẦN.. 47

----------------------------

 

Bài 1: CHUYỆN BA CON CHUỘT

Năm Tý nói chuyện con chuột:
 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 352
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Một đêm nọ, có ba con chuột cùng nhau đi ăn trộm mỡ. Thế nhưng, chum mỡ thì quá sâu, mà mỡ thì lại ở thì lại ở tầng dưới đáy chum.

Sau một lúc bàn bạc tính toán hội ý, góp ý, cuối cùng, chúng đã đi đến một thống nhất rất hay: Đó là con chuột này sẽ cầm đuôi con chuột kia, nối đuôi nhau, giống như một cái thang, để rồi lần lượt thay phiên nhau xuống đáy chum để ăn mỡ.

Con chuột đầu đàn sẽ được chọn là con chuột đầu tiên, được ưu tiên xuống trước. Khi được đưa tới cái chum, bỗng nó nghĩ mỡ thì ít thế này, mà mọi người sẽ lần lượt ăn, thì chả bỏ dính răng.

Hôm nay, coi như mình được ưu tiên, kể như được may mắn. Thôi thì mặc kệ bọn chúng nó, mình cứ ăn cho no nê, cứ ăn cho thỏa thích, cứ ăn cho đã cái miệng.

Con chuột thứ hai ở giữa chum cũng nghĩ: Rõ ràng, mỡ ở dưới đáy chum chả có bao nhiêu, lỡ ra con chuột thứ nhất ăn hết, thì hóa ra mình bỏ công vô ích, mà cuối cùng, sẽ không được ăn chút gì, tội gì mà mình phải khổ sở, treo người lơ lửng ở giữa chum, để cho con chuột thứ nhất kia hưởng hết cơ chứ. Hay mình cứ thả nó ra, rồi tự mình vùng vẫy nhảy xuống, cùng chén chung với nó, ăn cho no nê, ăn cho đã thèm.

Con chuột thứ ba trên miền miệng chum liếc xuống đáy chum cũng thấy sự tình như vậy, nên nó cũng nghĩ: Thấy rồi, mỡ thì ít như vậy, mà đợi hai con chuột kia xuống ăn cho no, đến lượt của mình, thì chắc chắn là chẳng còn gì nữa. Thôi, còn chần chừ gì nữa, mình buông tay ra, thả cho bọn chúng nó xuống, rồi mình cũng nhảy xuống để cùng ăn chung một bữa cho no nê, ăn cho bỏ thèm.

Cuối cùng, chúng nói là chúng làm. Thế là cả ba con chuột cũng vội vã tranh nhau mà ăn, ăn cho hết, ăn cho sạch sẽ, đến khi chúng đã thỏa mãn cơn thèm muốn, thì chúng mới phát hiện ra, là cả người của chúng nó đã ướt đẫm mỡ, mà nhìn lên miệng chum thì lại quá cao, chân chúng thì lại bị trơn trợt, không thể nào leo trèo lên được nữa. Chúng tìm mọi cách để thoát thân, nhưng tìm mãi mà không có cách nào để thoát ra khỏi miệng chum được nữa. Thế là cả ba con chuột đành phải chấp nhận chờ đợi cái chết thê thảm đang chờ chúng, khi chủ nhà tới.

*****

Bạn thân mến,

Trong cuộc sống, nếu lúc nào chúng ta, ai ai cũng cứ chỉ biết lo tìm lợi ích riêng tư của mình mà thôi, mà không biết nghĩ đến người khác, thì cái chết chắc chắn sẽ là rất thê thảm đang chờ đón mình. Mà không phải là chỉ chết có một mình, mà còn đưa cả một tập thể đến cái chết.

Ông bà chúng ta từng nói: Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

Chỗ khác ông bà chúng ta vẫn nói: Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết.

Trong truyện cổ tích dân gian chắc chúng ta không quên câu chuyện bó đũa: Một cây đũa thì dễ bị bẻ gãy, nhưng mà cả một bó đũa thì không ai có thể làm gì được.

Lạy Chúa, xin cho con luôn được thông minh sáng suốt trong mọi tình huống của cuộc sống, biết lựa chọn cái đúng và loại bỏ điều sai, biết chọn lựa cái nên làm và loại bỏ những cái không nên làm, để đừng vì những lợi ích vật chất riêng tư, ích kỷ, thấp hèn, mà rồi chà đạp lên lương tâm của mình, và rồi hãm hại người khác, bởi chúng con là con Chúa, nên xin chúa hướng dẫn mỗi người chúng con luôn biết sống sao cho xứng đáng là con Chúa, để đáng được Chúa yêu thương hơn nữa. Amen.

-------------------
Mời nghe: https://www.youtube.com/watch?v=COvL1a-7zVQ

-------------------------------

 

Bài 2: CHUYỆN CON SƯ TỬ VÀ CON CHUỘT NHẮT

Năm Tý nói chuyện con chuột
 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 354
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Có một con sư tử đang nằm liêm diêm ngủ dưới bóng mát của một tàn cây thật to, thật cao, mà bóng mát của nó phủ cả một vùng bao la rộng lớn.

Bỗng nó giật mình chồm dậy, vì có một con chuột nhắt đang đi đi lại lại trên lưng nó.

Như một phản xạ sẵn có, nó lập tức vô lấy con mồi và tóm được con chuột.

Chuột ta hoảng hồn, sợ quá, sợ đến chết người, nên nó hết lời năn nỉ, van xin con sư tử tha mạng cho nó, với những lời lẽ hết sức thống thiết, bi ai, hy vọng ông Chúa Sơn Lâm này tha mạng cho nó.

Chuột nói: Lạy Ngài, xin Ngài tha mạng cho con, đừng có ăn thịt con. Nếu Ngài thả con ra thì con xin hứa, là con sẽ không bao giờ quên ơn ngài đâu, sẽ không bao giờ quên lòng tốt của Ngài, và nhất định một ngày nào đó, con sẽ tìm cách để đền ơn, để đáp nghĩa lại cho ngài.

Sư Tử tra kênh kiệu, lên giọng, trả lời bằng một nụ cười thật ngạo nghễ, vang dội khắp cả rừng xanh.

Mi à, mi à, mi mà trả ơn cho ta được sao ? Ôi con chuột nhắt nhỏ bé, thật thảm hại cho ngươi quá, thân nhỏ bé của ngươi quá. Thân nhỏ bé của ngươi mà lại có thể làm gì được cho ta sao ? Lời nói của ngươi nghe cho nó buồn cười quá, nhưng mà thôi, vì hôm nay ta đang có một tâm trạng vui. Vả lại, cả con người của ngươi nữa thì lại quá nhỏ bé, không đủ để ta nhét kẻ răng, nên ta thả cho người đó. Thôi cứ đi đi. Nhưng mà nhớ: Đừng bao giờ lảng vảng ở đây nữa để chọc giận ta nha.

Còn chuột cúi đầu, liên hồi nói lời cảm ơn, và nhanh chân biến mất trong đống rác gần đó.

Thế rồi, vào một buổi trưa hè nóng nực nọ, sư tử ta đang đi lang thang tìm chỗ hóng mát giữa rừng xanh, thì bỗng không may bị một cái bảy lưới của người thợ săn nào đó, từ trên những cành cây, rơi chụp xuống. Sư tử ta cố gắng vùng vẫy, cố hết sức để thoát thân, nhưng không thể nào thoát ra khỏi được cái chiếc lưới bẫy quái ác đó. Càng vùng vẫy, thì lưới càng quấn chặt vào nó.

Cũng may chính lúc ấy, chú chuột nhắt nhà ta, cùng với cả nhà của nó cũng đi lang thang tìm bóng mát quanh quẩn ở gần khu vực đó. Khi nghe có tiếng gầm thét, rên la thê thảm của một con sư tử, nó bèn rón rén tiến lại gần để xem sao. Bỗng nó khám phá thấy chú sư tử xưa kia đang gặp nạn. Chuột nhắc ta cùng với cả nhà nó bèn tranh thủ, nhanh tay, dùng hàm răng sắc nhọn của mình, mà gặm dần dần chiếc bảy lưới đó. Chẳng bao lâu sau, chúng đã tạo ra được một lỗ hổng thật to, và con sư tử có thể thoát thân ra ngoài. Và sư tử ta đã thoát nạn.

Khi đã nhận ra nhau, chuột ta mới lên tiếng: Ông có nhớ cháu không ? Khi xưa, ông cười cháu. Vì ông đâu có nghĩ, là chưa nhắc nhỏ bé như cháu, lại có thể làm cho ông được một điều tốt nào. Nhưng mà thực tế bây giờ, như ông đã thấy đó. Thôi bây giờ, cháu cũng xin phép cáo lui, vì cháu còn nhiều việc phải làm.

Sư tử ta đứng ngẩn tò te, chưa kịp nói một lời cám ơn, thì cả nhà chuột đã nhanh chân biến đâu mất.

*****

Bạn thân mến,

Một con sư tử to lớn, oai phong lẫm liệt như vậy, mà rồi cũng có lúc phải cần nhờ đến sự giúp đỡ của những kẻ bé nhỏ tầm thường, như những con chuột nhắt.

Vậy nên, chúng ta đừng bao giờ lên mặt kêu căng, khinh khi, coi thường bất cứ một ai. Kẻo như con sư tử hôm nay, nếu không có sự giúp đỡ của những con chuột nhắt bé nhỏ, tầm thường, thì mạng của nó chắc chắn sẽ là thê thảm khôn lường.

Trong Kinh Thánh, chúng ta còn nhớ lời thánh Phaolô dạy trong thư thứ nhất gửi cho giáo dân Cô-rin-tô, đoạn 1 câu 28 như sau:

“Những gì thế gian cho là hèn mạt, không đáng kể, thì xin chúa lại chọn”.

Lạy Chúa, xin cho con có một tâm hồn bao dung, quảng đại và cao thượng, để không khinh khi, hay coi thường bất cứ một ai. Bởi tất cả mọi người đều là con Chúa.

Và trong Kinh Thánh con còn nhớ, có lần Chúa cũng đã tự động hóa mình với những kẻ bé mọn, hèn kém nhất ở trong xã hội.

Xin cho chúng con cũng ý thức được điều này, là lòng tốt, bao dung, độ lượng, tha thứ, sẽ làm cho bản thân và cho mọi người, cũng như cho xã hội chung quanh, luôn được cảm thấy bình an, vui vẻ, hạnh phúc

Xin cho chúng con thực hiện điều mà chúng con vừa ý thức hôm nay. Amen.

-------------------
Mời nghe: https://www.youtube.com/watch?v=uem7w9hUSN4

----------------------------

 

Bài 3: CHUYỆN CON CHUỘT VÀ CÁI BẪY CHUỘT

Năm Tý nói chuyện con chuột:
(Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 356
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Có một gia đình nông dân nọ một hôm ra chợ mua được một cái bẫy chuột và mang về lắp đặt ở trong một phòng kho.

Khi thấy cái bẫy, chuột ta hết sức sợ hãi, hết sức lo lắng, lo cho sự an nguy của tính mạng mình. Nhất là mỗi ngày, chuột ta phải thường xuyên đối mặt với cái bẫy đó, mỗi khi phải qua lại.

Mà càng sợ hãi, thì tâm trí của con chuột lại càng thêm bối rối, tâm trí càng thêm căng thẳng, căng thẳng đến mức gặp ai chuột ta cùng oan oan thông báo về cái nguy cơ tai hại của cái bẫy, hy vọng sẽ có ai đó hiến kế cho mình, tham mưu cho mình, giúp đỡ cho mình, để giải quyết vấn đề cái bẫy. Miễn sao cái bẫy đó biến mất là được, miễn sao các bẫy đó không còn ngăn chặn lối đi của mình, thì mình mới có thể an tâm mà sống được.

Đầu tiên, con chuột chạy thẳng ra nông trại, lớn tiếng thông báo: Alo! Alo! Trong nhà ông chủ của chúng ta mới có một cái bẫy chuột. Trong nhà ông chủ của chúng ta mới có một cái bẫy chuột. Xin mọi người hãy cảnh giác, hãy cẩn thận, hãy đề phòng, hãy canh chừng.

Khi bước vào chuồng gà, chuột ta gặp được chị gà mái. Chị gà mái bèn lên tiếng, với giọng nói đanh đá thật khó chịu: Chuyện cái bẫy chuột à. Cái bẫy chuột là để bẫy chuột, đó là chuyện của cậu, đó là mối nguy cho riêng cậu, cho gia đình nhà cậu, chẳng có ăn nhập gì đối với chúng tôi, chẳng có liên quan gì đối với chúng tôi. Vậy thì chúng tôi xin miễn bàn. Thôi đi về đi, đừng có lải nhải ba cái chuyện vớ vẩn đó. Tôi phải đi vô nhà đây, để còn lo chuyện đẻ trứng nữa, vì chúng tôi đang cần tăng dân số.

Không thành công ở nhà gà, chuột ta chạy sang chuồng heo. Con heo đầu đàn ra tiếp khách.

Chuột ta bảo: Trong nhà ông chủ của chúng ta mới có một cái bẫy chuột đấy nhé, xin hãy cảnh giác, hãy cẩn thận, hãy đề phòng, hãy canh chừng.

Con heo nhà ta cũng tỏ ra dửng dưng, lãnh đạm, mặt lạnh như đá, cất tiếng nói: Rõ ràng người ta mua cái bẫy chuột về là muốn lấy cái mạng của cậu, và muốn lấy mạng của cả nhà cậu, chứ đâu phải là lấy mạng nhà heo của chúng tôi. Vậy thì cậu đến đây nói với chúng tôi những chuyện đó để làm gì? Thân tôi to lớn như thế này thì cái bẫy chuột có ăn nhập gì đối với chúng tôi đâu, có làm gì được chúng tôi. Thôi này anh bạn, hãy về nhà mà tự xử với nhau đi. Tôi đang đói bụng. Tôi cần vào trong, để ăn, để uống. Bao thức ăn ngon đang chờ chúng tôi.

Chuột ta thấy buồn vì những thất bại vừa rồi, nên tâm trạng thật nặng nề. Nhưng cũng phải cố gắng kéo lê những bước chân đến chuồng bò, mang theo những nỗi buồn miên man khó tả, để tâm sự với con bò: Anh ơi, anh có biết không: Trong nhà ông chủ của chúng ta mới có một cái bẫy chuột, đáng sợ lắm.

Bò ta cũng tỏ ra tức giận không kém, nên to tiếng: Cái bẫy chuột là để bẫy cậu, nó làm sao gây hại được tôi và anh em nhà bò của chúng tôi. Thôi đi chỗ khác đi. Tôi không nghe những chuyện tầm phào đó nữa đâu. Tôi đang cần ở một mình. Tôi đi ngủ đây, bởi tôi đang cần điều trị cái bệnh mất ngủ của tôi.

Chuột ta lang thang, đi mãi, đi hết nơi này đến nơi nọ, nhưng nơi nào chuột ta cũng nghe những lời nói tương tự như vậy, những giọng nói tương tự như vậy, và phải chấp nhận ứng xử tương tự như vậy. Chẳng có một ai giúp cho mình được một sáng kiến nào, để giải quyết vấn đề cái bẫy, như mình mong đợi.

Trên đường trở về nhà, chuột ta mặt mày thì thểu não, chân không muốn bước, vì nghĩ đến việc cái bẫy, mà hàng ngày phải đối mặt. Chán thật, một mình phải đối mặt với cái bẫy chuột cho đến bao giờ đây. Mà vì buồn rầu, chán nản, tinh thần suy sụp, cho nên chuột ta chẳng tha thiết gì đến ăn, đến uống nữa. Từ đó, sức khỏe của chuột mỗi ngày một giảm sút ngó thấy.

Biết được tin này, rắn ta mừng thầm, vì nó vốn rất thích thịt chuột, nên đã lên kế hoạch để tấn công chuộc một cách bất ngờ, ngay tại miệng hang. Với sức khỏe như vậy, thì nhà chuột chắc chắn lần này khó lòng mà thoát thân được.

Rồi cũng vì tò mò muốn xem cái bẫy chuột, mà chuột ta đã đi loan báo khắp nơi, nên con rắn cũng quyết tâm, tranh thủ trong khi chờ đợi con chuột ở miệng hang, thì rón rén lại gần cái bẫy chuột xem nó ra sao. Bởi cái bẫy nó như thế nào, mà nhà chuột lại kinh hoàng, hoảng sợ đến như thế !!!

Rồi cho tới một đêm khuya nọ, một âm thanh bất ngờ vang to làm khắp cả nhà thức giấc. Đúng là tiếng vang của cái bẫy chuột đã sập.

Vợ người nông dân vội chạy tới kho xem cái bẫy. Trong ánh đèn mờ trong phòng tối, bà không thấy con rắn độc đang bị kẹt cái đuôi, dính vào cái bẫy chuột. Con rắn đã quay đầu lại, đớp ngay vào cái chân của bà.

Vì làm ban đêm, mà Nông Trang thì ở cách xa thành phố, cho nên chưa có thể đưa bệnh nhân đến bệnh viện ngay được.

Vã lại, ở nông thôn, chuyện rắn cắn, người ta coi là chuyện bình thường như cơm bữa, nên người ta coi đó là chuyện chẳng quan trọng gì. Chỉ cần vài cọng cỏ, rễ cây, lá cây, hay nhờ một thầy nào đó đến lấy nọc rắn là xong.

Nhưng mà chuyện lần này của bà chủ nhà thì khác:

Sau khi bị rắn cắn chưa được bao lâu thì bà lại lên cơn sốt. Đến gần sáng, cơn sốt của bà trở nên quá nặng và đã phát sinh thêm nhiều biến chứng lạ. Ông chồng vội vàng lấy xe đưa bà đến bệnh viện. Nhưng vừa khi tới bệnh viện thì bà đã tắt thở, bệnh viện đành bó tay, không thể làm gì được cho bà, cho nên ông chồng bèn phải chở bà vợ về nhà.

Sau khi xác bà được đưa về nhà thì bà con lối xóm xa gần hay tin đã lần lượt kéo đến phân ưu, chia buồn.

Lúc đầu, khách còn ít thì chỉ vài ba con gà là có thể tiếp khách được rồi. Nhưng dần dần, khách càng ngày càng đông thêm, nhất là đám tang kéo dài hai ba ngày, thì cả lũ heo và đàn bò cũng phải lần lượt lên bếp, để giải quyết vấn đề tiếp khách.

*****

Bạn thân mến,

Qua câu chuyện vừa kể, chắc bạn đã thấy: Trong cuộc sống, chúng ta đừng bao giờ có ý nghĩ như con gà, con heo, con bò nói trong câu chuyện: Rằng cái bẫy chuột chẳng có liên quan gì đến ta, nên đã dửng dưng, ta lạnh lùng, xua tay, đứng ngoài cuộc.

Nhưng thực tế đã cho thấy: Chỉ vì cái bẫy chuột, mà cả đàn gà, đàn heo, đàn bò lần lượt phải bị giết chết gần hết.

Ta nên nhớ, trong cuộc hành trình chung, gọi là cuộc đời, hay là cuộc sống trong xã hội, thì không có ai là một hòn đảo biệt lập, cho nên mọi người và từng người trong xã hội đều có những mối tương quan, liên quan với nhau, rất mật thiết, rất chặt chẽ như những mắt xích.

Vậy thì chúng ta đừng bao giờ cậy dựa và đồng tiền, hay là của cải của mình, hay sự giàu sang của mình, hay cậy dựa vào chức tước quyền lực của mình, để ăn hiếp, để lấn lướt kẻ này người nọ, khinh khi coi thường người khác.

Cuối cùng chúng ta sẽ trở thành những con người vô tâm, vô cảm, những người vô ơn, vô nghĩa, với mọi người. Bởi chúng ta chỉ nghĩ đến mình, chứ không nghĩ đến ai khác. Bởi chúng ta luôn sống trong hoang tưởng, là chúng ta không cần đến ai, chẳng cần ai giúp đỡ.

Chúng ta đã quên một điều khá quan trọng, mà ông bà chúng ta đã dạy: Tối lửa tắt đèn có nhau, nghĩa là hãy sống với bà con chòm xóm, sao cho có tình, sao cho có nghĩa, để những ngày hoạn nạn bất ngờ, thì có bà con chòm xóm sẽ ra tay giúp đỡ mình.

Chẳng ai biết ngày mai của mình ra sao đâu và cũng chẳng ai học được chữ ngờ đâu.

Trong cuộc sống như ta biết đó: Chúng ta hãy biết quan tâm đến nhau, hãy giúp đỡ nhau. Nỗi lo của anh của chị, cũng là nỗi lo của tôi. Nỗi khổ của anh của chị, cũng là nỗi khổ của tôi, để còn biết thông cảm, để còn biết chia sẻ.

Hãy tìm mọi cách khích lệ nhau, để giúp nhau sống cho tốt trong cuộc sống hôm nay, đừng quá vô tâm, đừng quá vô cảm, với những gì đang diễn ra chung quanh chúng ta.

Lạy Chúa, xin cho chúng con có một trái tim rộng lượng, bao dung và quảng đại như Chúa, để biết sống hết mình với những anh chị em sống bên cạnh chúng con, như Chúa đã làm gương cho chúng con.

Bởi Chúa đã can đảm bỏ Trời, sinh xuống trần gian này, để sống với chúng con, để ở giữa chúng con, để sống như chúng con, để chia sẻ những nỗi cơ cực như chúng con.

Cây thánh giá của Chúa chính là bằng chứng nói lên tình yêu thương đó.

Lạy Chúa, xin giúp con sống như Chúa. Amen

-------------------
Mời nghe: https://www.youtube.com/watch?v=yDfJ0o0dysk

-------------------------------

 

Bài 4: LÝ DO SAY MÊ ĐỌC SÁCH THÁNH THẬT ĐƠN GIẢN

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 357)
-------------------------------------

Một bà kia, rất thường đọc Sách Thánh và đọc rất sốt sắng.

Khi được hỏi tại sao, bà dùng một thí dụ để giải thích:

Một hôm, tôi nhận được một bức thư của một người tôi rất quý mến. Tôi đã đọc rất kỹ và đọc đi đọc lại đến 5 lần. Tôi đọc, không phải vì tôi không hiểu lời lẽ trong thư, vốn đã quá rõ, nhưng là vì tôi biết, đó là lời của một người rất thương tôi, và tôi cũng rất thương người đó (United Presbyrian).

*****

“Để làm sống lại đức tin đã bị lung lay, người môn đệ cần có 3 yếu tố: Thánh kinh, Bí tích Thánh Thể, cộng đoàn sống đức tin…

Khi đức tin của chúng ta bị lung lay, bị thử thách, chúng ta cần kiểm điểm lại xem, chúng ta có thái độ nào đối với Lời Chúa. Chúng ta sống Bí tích Thánh thể ra sao, và chúng ta đã hiệp nhất với cộng đoàn đức tin của chúng ta như thế nào” (“Mỗi ngày một niềm vui”).

*****

Tôi rất quý bạn bè. Chỉ mong sao bạn được hạnh phúc: Những gì có thể làm cho bạn vui hơn được một chút, là tôi nguyện cố gắng. Nhưng trước nỗi buồn chán, thất vọng của bạn, tôi thật lúng túng, vụng về, có khi cũng “xìu” luôn.

Tin Mừng thánh Lu-ca (Lc 24, 13-35) cho chúng ta thấy: Chúa Giêsu Phục sinh là người bạn tuyệt vời.

Hai môn đệ trên đường E-mau cũng là người bạn của Chúa. Họ đang chán trường, thất vọng, buông xuôi tất cả. Thế mà, Chúa Giêsu đã giúp họ được vui mừng chỗi dậy, quay lại Giê-ru-sa-lem… biến thất vọng, thành hy vọng tràn trề.

Chúa Giêsu đã làm gì ?

Ngài đến với họ và cùng đồng hành với họ. Ngài gợi cho họ thổ lộ những nỗi lòng buồn chán, khổ đau. Rồi Ngài giải thích Thánh kinh cho họ nghe. Ngài cảm thông, và cùng đồng bàn với họ. Cuối cùng, Ngài chia sẻ cơm bánh với họ.

Nói chung, Ngài đã đồng hành với họ trong vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của họ.

Lạy Chúa, xin cho con biết noi gương Chúa Phục Sinh, mà cố gắng trở thành người bạn tốt của những anh chị em sống bên cạnh con, bằng cách đồng hành với họ, trên mọi nẻo đường vui buồn cuộc sống. Amen.

-------------------

 

Bài 5: CHUYỆN CHÚA GIÊSU HÚT THUỐC


 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 358)
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Có một cha xứ kia, thấy một người mới tin vào Chúa Kitô, nhưng lại mắc cái tật là nghiện thuốc lá. Ngài đã khuyên anh ta nên bỏ thuốc, vì hút thuốc rất có hại cho sức khoẻ. Thế nhưng anh ta không chỉ nghe để mà nghe. Mà hơn thế nữa, đã có lần anh ta còn cãi lại:

- Thưa cha, Kinh Thánh không hề cấm hút thuốc.

Thấy vậy, cha xứ đành bó tay, chỉ biết cầu nguyện cho anh ta thôi.

Nhưng thật là lạ. Sau đó vài tháng, thì cha nghe biết là anh ta đã bỏ hẳn thuốc lá. Quá tò mò, nên vừa khi gặp lại anh ta, cha liền hỏi tại sao, thì anh trả lời.

- Thưa cha, có một đêm kia, con nằm chiêm bao: Thấy Chúa Giêsu đến thăm nhà con. Khi Chúa bước vào nhà thì con đang phì phà thuốc lá. Con mời Chúa vô phòng khách. Trên bàn có gói thuốc lá con vừa mới mua.

Chúa Giêsu hỏi con:

+ Con đang làm gì đó?

- Dạ con ngồi nghỉ và hút thuốc cho đỡ buồn.

+ Sao con không mời Ta hút thuốc?

Con vội vã trả lời:

- Dạ đâu có được! Con hút thì được, chứ mà Chúa hút thuốc thì coi sao được!

Chúa ôn tồn bảo con:

- Ta là mẫu người, để con noi gương bắt chước. Con là môn đệ của Ta, thì con phải có tâm tình và hành động giống Ta. Nếu con nghĩ: Ta không nên hút thuốc lá, vậy tại sao con lại hút?

Thưa Cha, khi con vừa tỉnh dậy, con đã hiểu ngay là Chúa muốn dùng giấc chiêm bao, để dạy dỗ con. Bởi đó, con đã quyết định bỏ thuốc lá, và sẽ không bao giờ con hút thuốc nữa.

-------------------

 

Bài 6: CHUYỆN CẬU BÉ TÌM CHÚA

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 359)
-------------------------------------

Bạn thân mến

Có một cậu bé, cùng đi với mẹ đến nhà thờ để tham dự thánh lễ. Bé còn nhỏ, chưa đủ tuổi Rước Lễ Lần Đầu, nhưng người mẹ vẫn thường dẫn con theo đi lễ, để tập cho con quen.

Bài  Tin Mừng hôm đó (Ga 6, 1-15) kể lại phép lạ Chúa Giêsu làm cho 5.000 người ăn no nê, từ Năm chiếc bánh và hai con cá của 1 chú bé nhỏ.

Về đến nhà, bé ta cứ thắc mắc mãi: “Chúa là ai ?”

Bé bèn lấy một cái túi xốp, và bỏ vào đó một vài cái bánh ngọt và một chai nước ngọt, cậu quyết một mình, mang ra công viên gần đó, để tìm Chúa.

Vừa bước vào công viên, người đầu tiên bé gặp là một bà cụ, đang ngồi trên ghế đá. Cụ bà đang say sưa nhìn mấy con chim bồ câu đến nhặt thức ăn. Bé liền đến ngồi bên cạnh bà cụ, rồi mở cặp, lấy bánh và nước ngọt ra.

Nhận thấy bà cụ như có vẻ như thiếu ăn, cậu bé bèn lấy bánh ra mời bà cụ. Bà cụ đón nhận cách vui vẻ và mỉm cười với cậu. Sau đó cậu lấy nước ngọt ra và cũng mời bà như thế. Một lần nữa, bà lại đón nhận và mỉm cười. Chưa bao giờ cậu bé cảm thấy lòng mình hân hoan, vui sướng như vậy.

Cả buổi chiều hôm đó, bà cháu ngồi bên nhau, chia sẻ từng miếng bánh, từng hớp nước ngọt, mỉm cười với nhau, mà không cần phải nói với nhau lời nào.

Chiều đã muộn, sợ cha mẹ sốt ruột, cậu bé đứng lên từ giả cụ, rồi ra về. Vừa đi được một quãng, cậu lại quay trở lại bá cổ bà cụ, rồi hôn vào má bà cụ. Cụ bà đáp lại cái hôn ấy bằng một nụ cười thật đẹp, như chưa bao giờ có.

Khi cậu bé vừa mở cửa bước vào nhà, người mẹ nhận ra ngay trên gương mặt của con mình đang có một niềm vui là lạ, mà bà chưa từng thấy bao giờ. Bà liền hỏi con:

- Hôm nay con làm gì mà vui thế ?

Cậu bé đáp:

- Hôm nay, con ăn uống với Chúa.

Người mẹ ngỡ ngàng chưa hiểu gì thì cậu bé nói tiếp:

- Mẹ biết không, con chưa bao giờ thấy ai có một nụ cười đẹp, bằng nụ cười của Chúa.

Còn bà cụ, với một niềm vui rộn rã trong tâm hồn, bà thong thả trở về nhà. Vừa bước chân vào cửa thì người con út đã nhận ra ngay sự tươi tắn, rạng rỡ khác thường trên gương mặt của mẹ mình, cho nên cậu hỏi ngay:

- Hôm nay mẹ làm gì mà vui thế.

Bà cụ trả lời:

- Mẹ đã cùng ăn bánh với Chúa.

Trước sự ngỡ ngàng của người con, bà giải thích:

- Con biết không. Chúa trẻ hơn là mẹ nghĩ rất nhiều.

*****

Một tác giả vô danh đã tưởng tượng ra một câu truyện như thế này:

Khi Thiên Chúa tạo dựng xong vũ trụ, cũng như muôn người, muôn vật, thì Ngài gọi các sứ thần lại để hỏi xem: Ta nên đặt cái bí ẩn của sự sống - tức là cái quí giá nhất trong chương trình sáng tạo của Ngài - ở đâu ?

Một sứ thần góp ý: “Nên chôn vùi nó dưới đất”.

Một sứ thần khác: “Nên đặt nó dưới đáy biển”.

Một vị nữa lại đề nghị: “Đặt nó trên núi cao là thượng sách”.

Thế nhưng, Thiên Chúa không đồng ý với những giải pháp kể trên. Ngài nói: “Phải làm thế nào để cho bất cứ người nào cũng có được cái bí ẩn của sự sống mới được”

Cuối cùng một sứ thần liền nói: “Nên đặt cái bí ẩn ấy nơi trái tim con người”

Thiên Chúa nhận thấy đó là điều tốt đẹp, Ngài liền đặt cái bí ẩn của sự sống vào trái tim con người. Và từ đó, con người luôn thấy mình có một sức sống tuyệt vời, hơn hẳn các loài thụ tạo khác.

Lạy Chúa, xin cho trái tim con biết rung cảm, biết khám phá ra sự hiện diện của Chúa nơi những người sống bên cạnh con. Amen.
-------------------

 

Bài 7: TẦM QUAN TRỌNG CỦA CON “SỐ KHÔNG”

(Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 360)
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Trong toán học, chúng ta biết vị trí của những “con số không” trong tương quan với dấu chấm thập phân, tầm quan trọng biết chừng nào:

Số “một” càng bị nhiều số “không” ngăn cách nó, xa với dấu chấm thập phân, thì giá trị của nó càng thấp. Thí dụ: 0,000.001.

Tuy nhiên, nếu số “một” đứng đầu, thì sau nó, càng nhiều số “không” chừng nào, thì giá trị của nó càng cao chừng ấy. Thí dụ: 1.000.000.

*****

Chính Chúa là số một đời ta.

Khi ta đặt Chúa hàng đầu, trước những công việc của ta làm, thì càng làm nhiều việc chừng nào, thì giá trị của chúng càng nhiều chừng đó.

Ngược lại, Chúa càng xa tâm trí ta chừng nào, thì mọi công việc ta làm, sẽ càng ít giá trị chừng ấy. (Frank Mihalic).

Đó là trường hợp các tông đồ đánh cá suốt đêm, mà chẳng bắt được con cá nào, nhưng có Chúa, các ông đã có được một mẻ cá thật lạ lùng, bắt được rất nhiều cá (Ga 21, 1-14).

*****

Mỗi ngày ta học và làm việc, theo một thời khóa biểu kín mít, do cuộc sống đặt ra cho ta. Rồi khi tối về, bị mệt mỏi, lăn ra ngủ, nên ta thường khi thấy mình bị rơi vào trong những khoảng trống, cảm thấy mình bị lạc lõng, cô đơn, có khi đâm ra chán nản, thất vọng.

Thế nhưng, nếu ta có được một vị “Kỹ sư tâm hồn”, đồng hành với ta trong cuộc sống, và hiện diện với ta trong mọi việc ta làm, thì hay biết chừng nào.

Vậy nên, hằng ngày ta nên dành ra một vài phút cho Chúa, để mời Chúa hiện diện trong mọi việc ta làm.

Rồi mỗi tối trước khi ngủ, ta cũng nên dành ra ít phút, để nhìn lại những ơn lành mà Chúa ban cho trong ngày, để tạ ơn Chúa. Và cũng để nhìn lại chính mình, để xin Chúa tha thứ cho những lỗi lầm thiếu sót.

Sẽ thật là hạnh phúc cho ta, nếu mỗi khi ta lên giường ngủ, mà ta có thể mỉm cười với chính mình, vì thấy có Chúa hiện diện và đồng hành với ta suốt cả ngày, trên khắp các nẻo đường ta đi.

Lạy Chúa, những bóng tối trong tâm hồn và những bận tâm khác, đã phủ lấp, làm cho con không nhận ra được sự hiện diện của Chúa.

Thật ra, chỉ một vài phút dành cho Chúa trong ngày, nó có đáng là gì so với 24 giờ, mà Chúa ban cho con, thế mà lâu nay, con không biết!

Lạy Chúa, xin hãy là Vị “kỹ sư tâm hồn” của con, trong những ngày con sống ở trần gian này. Amen.

-------------------

 

Bài 8: BÍ QUYẾT HẠNH PHÚC CỦA BÀ MARIA MAĐÊLÊNA


 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 361)
-------------------------------------

Có một bà nổi tiếng là đạo đức, nhân hậu và luôn bình tâm trước mọi thử thách.

Một bà khác ở cách xa ít dặm, nghe nói, nên đã tìm đến tham vấn, hy vọng tìm được bí quyết, để sống bình tâm và hạnh phúc.

Bà hỏi:

- Thưa bà, có phải bà có một đức tin lớn lao?

- Ồ không, tôi không phải là người có đức tin lớn lao, mà chỉ là một người có đức tin bé nhỏ, đặt vào một Thiên Chúa lớn lao. Đó là bí quyết tôi học đươc nơi bà Maria Mađêlêna.

*****

Kinh thánh cho biết: “Sau khi sống lại, Đức Giêsu đã hiện ra trước tiên với bà Maria Mađêlêna… Và sai bà đi báo tin cho những kẻ đã từng sống với Người, mà nay đang buồn bã khóc lóc” (Mc 16, 9-15).

Chúng ta biết: Bà Maria Mađêlêna, là kẻ bị mọi người sỉ vả, chê bai, không ai dám đụng đến, vì sợ bị ô uế và lây nhiễm tội lỗi. Mọi cặp mắt khinh miệt đều hướng về bà. Vậy mà khi gặp Thầy Giêsu, Ngài đã nhìn bà với đôi mắt trìu mến và đầy tình thương. Bà đã không thể nào quên đôi mắt ấy, đôi mắt kéo bà ra khỏi vũng lầy tội lỗi. Từ giây phút đó, bà bước đi theo Ngài, cùng với Ngài rảo qua khắp các làng mạc, thành phố để rao giảng Tin Mừng.

Rồi Thầy Giêsu bị bắt, bị đem giết. Bà bối rối sợ hãi và tuyệt vọng. Các môn đệ của Ngài cũng đều đã bỏ chạy.

Trong cơn tuyệt vọng, Thầy Giêsu gọi bà “Maria”. Vâng chính là Ngài. Không phải là cái xác bà đang tìm, mà là một Đức Giêsu đang sống, sống thực sự.

Nhiệm vụ của bà bây giờ là phải đi loan báo tin mừng này, cho tất cả mọi người. Bà không có quyền giữ lại niềm vui và hạnh phúc cho riêng mình. Chúa muốn mọi người cũng được hạnh phúc như bà, được chia sẻ niềm hạnh phúc này như bà.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã sống lại, xin cho tâm hồn con cũng được sống lại. Và xin  cho con cũng biết đem niềm vui Phục sinh đến cho mọi người. Amen.

-------------------

 

Bài 9: HÃY YÊU NHƯ CHÚA

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 362)
-------------------------------------

Khi người ta hỏi cha Phêrô (Abbé Pierre), một người được người Pháp yêu mến nhất trong thế kỷ XX (cha và tổ chức Emmaus của cha, chuyên chăm lo giúp đỡ những anh chị em bất hạnh, ở đầu đường xó chợ, có được công ăn việc làm để mưu sinh):

Nếu mai đây cha mất đi, người ta nên ghi lại điều gì về cuộc đời cha. Cha trả lời liền, không ngần ngại:

“Xin ghi trên mộ của tôi câu này: Nơi yên nghỉ của một người đã cố gắng yêu thương”.

*****

Mục sư Martin Luther King người đã xả thân tranh đấu cho dân da đen được bình đẳng như người da trắng tại Hoa Kỳ, được giải thưởng Nobel Hòa bình.

Cũng vì tinh thần dấn thân, vì quyền lợi của người da đen, mà ông đã bị ám sát.

Trong quyển nhật ký của Luther King có viết những dòng sau đây:

“Tôi rất hãnh diện, nếu ngày tôi qua đời, có ai đó sẽ kể lại rằng: Martin Luther King là người đã cố gắng sống và yêu thương”.

*****

Bạn thân mến,

Lời mời gọi của Chúa Giêsu dành cho những ai bước đi theo Ngài: “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15,9c).

Dịch sát theo nguyên tự Hy Lạp là: “Hãy ở trong tình yêu vốn thuộc về Thầy”, nghĩa là “trong tình yêu Thầy dành cho anh em”.

Yêu Ngài, gắn bó với Ngài, thúc đẩy theo mệnh lệnh của Ngài, thực thi điều răn quan trọng nhất:

“Ðây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).

Từ ngữ trung tâm của lời Chúa truyền là “tình yêu” (tiếng Hy Lạp: agape), và tình yêu cũng là từ chìa khóa của chuyển động tuần hoàn vòng tròn.

Tác giả A. Marchadour đưa ra một nhận xét: “Trong trường hợp này, hoàn trả và tặng đáp lễ, luật của tình yêu, luôn hướng về một đối tượng khác, với người đã trao tặng.

Sự đáp trả của Đức Giêsu đối với tình yêu của Chúa Cha lại hướng về các môn đệ.

Cũng thế, sự đáp trả của các môn đệ đối với tình yêu của Đức Giêsu dành cho mình, lại hướng về anh em”

Tình yêu trao ban cho anh em, mà Đức Giêsu muốn người môn đệ thực hành, luôn mang những đặc tính tiệm tiến:

- Yêu như Chúa yêu: “Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người, mà chúng ta được sống... và sai Con Một Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,8-11).

Tình yêu chia sẻ ấy đã được thánh Gioan tông đồ mô tả: “Căn cứ vào điều này chúng ta biết tình yêu là gì, đó là Đức Kitô đã phó mạng vì chúng ta” (1Ga 3,16), yêu như thầy: “Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15,12). Yêu tận cùng bằng hy sinh bản thân và cho đến chết.

- Yêu đến tận cùng như Chúa Giêsu dạy: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).

Ngài đã thực hiện chính sự hy sinh cao độ như các tông đồ xác tín: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta” (x. Rm 5,6.8; Ep 5,2; 1Ga 3,16).

Thánh Gioan diễn giải: “Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em” (1Ga 3,16). Bằng việc làm cụ thể, đòi phải hy sinh, mà hy sinh càng lớn thì tình yêu càng sâu đậm, càng tha thiết.

- Tình yêu phải được thể hiện trong việc làm như Chúa Giêsu truyền là: “Nếu như các con giữ điều răn của Thầy”.

Thánh Gioan diễn giải: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu nhau nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1Ga 3,16-18).

Theo lệnh truyền của Thầy, chúng ta cùng tiến bước vào thế giới mang tâm tình: “Chúng ta được đặt để vào trong trái đất này một không gian nhỏ bé, để chúng ta có thể học hỏi được việc mang lại những tia sáng của tình yêu” (William Blake).

Lạy Chúa, xin giúp chúng con hiểu và tích cự thực hành điều mà thánh Gioan nhắc nhở chúng con: “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1Ga 3,18). Lạy Chúa, xin giúp con. Amen.

-------------------

 

Bài 10: CHUYỆN ĐỨC PHẬT và NGƯỜI PHỤ NỮ ĐAU KHỔ

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 363)
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Trong kinh điển Phật giáo có ghi lại một câu truyện như sau:

Có một người đàn bà nọ có đứa con độc nhất trên đời đã bị chết. Trong niềm đau khổ tột cùng, người đàn bà đem đứa bé đến nhà những người láng giềng và xin họ vui lòng chỉ cho biết, có thứ thuốc nào có thể làm cho con bà sống lại, nhưng ai ai cũng chỉ biết lắc đầu và chỉ cảm thông mà thôi.

Nhưng cuối cùng, có một người mách cho người đàn bà biết: Có một vị lương y có thể cải tử hoàn sinh cho đứa bé, người đó chính là Đức Thích Ca.

Người đàn bà khốn khổ chạy tìm đến Đức Thích Ca và khẩn cầu Ngài ban cho một liều thuốc.

Đức Thích Ca liền nói: “Ta cần có một ít hạt cải”.

Nghe thế, người đàn bà liền vội vã đi tìm hạt cải và đem lại cho Đức Thích Ca.

Nhưng vừa thấy những hạt cải, Ngài lại bảo: “Hãy đi mời những gia đình nào, mà không có tang chế, đến nhận lấy những hạt cải này, để chế ra thuốc”.

Tin lời Đức Phật, người đàn bà đi gõ cửa từng nhà để mời gọi mọi người nhận lấy hạt cải, nhưng tất cả đều từ chối, vì thật ra không ai mà lại không có người thân đã ra đi.

Khi người đàn bà trở về nhà thi đêm đã bắt đầu xuống, bà đến ngồi bên xác con và nhìn ra phố phường đang lên đèn. Nhưng càng về khuya, ánh sáng càng tắt dần, và cuối cùng đêm đen dầy đặc bao trùm vạn vật. Lúc bấy giờ người đàn bà mới suy nghĩ: đời là thế: sinh ra, đau khổ, rồi chết. Nghĩ thế, bà đứng dậy đem xác con vào rừng và chôn cất.

*****

Đau khổ và tận cùng là cái chết, đó là phần số của kiếp người, mà khi nhập thể làm người, Con Thiên Chúa cũng không thoát khỏi.

Chúa Giêsu đã ba lần chính thức loan báo về cuộc tử nạn, mà Ngài phải trải qua.

Nhưng xem ra các môn đệ Ngài không hiểu được và cũng không muốn chấp nhận:

Tại sao một số phận nghiệt ngã như thế lại có thể xẩy ra cho Thày mình, một người có quyền phép trên cả sự chết và nhất là đang trên đường tiến đến một tương lai sáng lạn.

Trong những giờ phút cuối cùng còn ngồi bên các ông. Chúa Giêsu lại nói đến cái chết của Ngài, nhưng lần này Ngài nói đến cuộc tử nạn ấy như một cuộc ra đi: Ra đi, mà không vĩnh biệt.

Do đó, Chúa Giêsu đã nói:

“Một ít nữa, các con sẽ không thấy Thày, rồi một ít nữa, các con sẽ lại thấy Thày”.  (Ga 16, 16-20)

Một lần nữa, loan báo cái chết, Chúa Giêsu cũng báo trước sự Phục sinh của Ngài:

Các môn đệ sẽ buồn sầu, vì cái chết của Chúa Giêsu, nhưng rồi niềm vui của họ sẽ gấp bội, khi Ngài sống lại.

Cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu, gắn liền với đau khổ và niềm vui của các môn đệ;

Đúng hơn, cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu chiếu dọi ánh sáng vào mầu nhiệm khổ đau của con người.

Kitô giáo không chối bỏ thực tại của khổ đau. Nhưng trong cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu, Kitô giáo không còn nhìn vào khổ đau như một ngõ cụt của cuộc sống. Trái lại, trong ánh sáng Phục sinh của Chúa Giêsu, cuộc sống vẫn tiếp tục có ý nghĩa và đáng sống.

“Một ít nữa, các con sẽ không thấy Thày, rồi một ít nữa, các con sẽ lại thấy Thày”.

Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ của Ngài tham dự vào mầu nhiệm Vượt qua của Ngài cũng có nghĩa là nhìn thấy Ngài ngay cả trong những lúc tăm tối nhất của cuộc sống. Thấy được Ngài, bám chặt lấy Ngài, thì cho dù khổ đau có chồng chất, con người vẫn thấy được ý nghĩa của cuộc sống.

Tham dự vào mầu nhiệm Vượt qua của Ngài cũng có nghĩa là nhận ra khuôn mặt của Ngài trong những anh em đang đau khổ chung quanh chúng ta. Sự cảm thông phục vụ đối với những người đau khổ sẽ cho chúng ta tham dự vào cuộc tử nạn của Chúa Giêsu và niềm vui Phục sinh sẽ tràn ngập tâm hồn chúng ta.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con tích cực hiểu và tích cực sống mầu mầu nhiệm đau khổ và phục sinh của Chúa. Amen.

-------------------

 

Bài 11: CHUYỆN VỀ MỘT GIẤC MƠ LẠ

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 364)
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Có một câu chuyện kể rằng: Một đêm nọ, có một người thấy giấc mơ lạ:

Anh ta thấy mình cùng với Chúa đang đi trên bãi biển. Những lúc vui, những lúc thành công, thì anh thấy có dấu vết hai đôi bàn chân in trên cát, một của Chúa và một của anh. Nhưng những lúc anh gặp khó khăn, những lúc đau buồn, thì khi nhìn lại, anh chỉ còn thấy một đôi chân!

Anh trách Chúa rằng: “Tại sao những lúc khó khăn, thất bại, Chúa lại bỏ con một mình?”

Chúa trả lời: “Ta không bỏ con đâu, vì những lúc đó, Ta đã cõng con trên vai, vì thế, con chỉ còn thấy có một đôi chân của Ta nữa mà thôi”.

*****

Chúa Giêsu nói với các môn đệ: Một ít nữa các con sẽ không thấy Thầy, rồi lại một ít nữa các con sẽ thấy Thầy”… Các con sẽ buồn sầu; nhưng nỗi buồn của các con sẽ trở thành niềm vui”. (Ga 16, 16-20).

Niềm vui mà Chúa trấn an các ông và báo cho các ông về sự xuất hiện của của Chúa Thánh Thần

Đây là niềm vui vô cùng to lớn, bởi vì nhờ Chúa Thánh Thần, mà các ông hiểu được con người, lời giảng dạy và sứ vụ của Đức Giêsu đúng theo chương trình và ý định của Thiên Chúa Cha. Như vậy, sự ra đi của Đức Giêsu sẽ đem lại cho các môn đệ niềm vui trọn vẹn qua Chúa Thánh Thần.

Trong đời sống đức tin của mình, nhiều khi chúng ta cũng cảm thấy Chúa như xa dần chúng ta! Nhất là khi túng ngặt về kinh tế, hay đau yếu bệnh tật, bị hiểu lầm, bị vu vạ cáo gian, hay cô đơn...

Nhưng qua Lời Chúa nói trong Gioan 16, 16-20, chúng ta vững tin rằng, Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta.

Thật vậy, những khi chúng ta rối trí, ngã lòng và cảm thấy lạc lõng, chúng ta hãy tin tưởng rằng: Lúc đó, chúng ta đang được Chúa bồng ẵm trên tay, để chỉ còn có một đôi chân của Chúa mà thôi. Ngài đang bồng ẵm ta vượt qua những con đường gồ ghề, sỏi đá, khó đi.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con vững tin vào Chúa, dù cho cuộc đời chúng con có nhiều nỗi khổ đau.

Xin cho chúng con hiểu rằng, những lúc đó, Chúa đang gần chúng con hơn cả, và xin cho chúng con được gắn bó mật thiết với Chúa trong niềm tin yêu, cậy trông và phó thác. Amen.

-------------------

 

Bài 12: CHUYỆN MỘT NGƯỜI MẸ QUẢ CẢM

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 365)
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Trong bài xã luận của bán nguyệt san Công giáo Italia, số tháng 3/1993 có ghi lại gương hy sinh của một người mẹ trẻ tên là Carla Levati, qua đời khi mới chỉ được 28 tuổi.

Khi mang thai đứa con thứ hai, Carla được các bác sĩ cho biết là chị bị viêm cột sống, mà một cuộc chữa trị, có thể phương hại trầm trọng đến mạng sống của thai nhi.

Với sự đồng ý của chồng, chị Carla chấp nhận đau khổ và ngay cả cái chết, miễn là đứa con được sinh ra lành mạnh.

Nhưng vì quá đau đớn, người mẹ đã qua đời 8 tiếng đồng hồ sau khi đứa con chào đời ngày 26/1/1993.

Cái chết của chị Carla đã gây nhiều phản ứng sôi nổi tại Italia.

Những tờ báo lớn xuất bản tại Rôma xem sự hy sinh của chị như một hành động hy sinh cao cả, chứ không phải mù quáng.

Nguyên tắc của chị Carla tuân theo chính là Tình Yêu: Chỉ tình yêu, mới có thể thúc đẩy người mẹ hy sinh mạng sống mình vì đứa con.

Nguyên tắc ấy không chỉ bắt nguồn từ Tin mừng:

“Người đàn bà khi sinh con thì lo buồn, vì giờ đã đến, nhưng khi đã sinh con rồi, thì bà mừng rỡ, không còn nhớ đến cơn đau, bởi vì đã có một người sinh ra đời”. (Ga 16, 20-23a),

mà còn là một đòi hỏi của tình Mẫu Tử. Người mẹ là người trao ban sự sống bằng chính đau khổ của mình và nếu cần, dám chết đi để cứu mạng sống của con mình.

****

Ý nghĩa cao cả nơi cái chết của chị Carla có thể giúp chúng ta đi sâu vào Lời Chúa (Ga 16, 20-23a).

Thật thế, chính Chúa Giêsu đã nhận chân ý nghĩa cao cả của nỗi đau đớn, mà người đàn bà phải chịu trong khi sinh con. Niềm đau đớn ấy mang một ý nghĩa cao cả đến độ đã được Chúa Giêsu mượn để nói lên chính cuộc Tử nạn và Phục sinh của Ngài.

Có đau đớn trong khi sinh con, người đàn bà mới cảm nhận được niềm vui khi đứa con chào đời.

Có trải qua khổ nạn, Chúa Giêsu mới đi vào vinh quang Phục sinh;

Và từ nỗi đau khổ được chấp nhận trong tinh thần phó thác hiến dâng, người môn đệ Chúa Kitô mới cảm nhận được niềm vui tái sinh.

Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy luôn nhìn vào những biến cố cuộc, với một cái nhìn đức tin.

- Chỉ trong đức tin, con người mới tìm thấy được ý nghĩa cao cả của hy sinh;

- Chỉ trong đức tin, đau khổ mới mang ý nghĩa của hy sinh và trở thành biểu tỏ của tình yêu.

* Kitô giáo không phải là một tôn giáo đề cao đau khổ;
* Kitô giáo không tuyên xưng một Thiên Chúa chỉ biết vui lòng khi thấy con người đau khổ.
* Kitô giáo thiết yếu là đạo của Tình Yêu.

- Chỉ có tình yêu mới mang lại ý nghĩa cho cuộc sống;
- Chỉ có tình yêu được cảm nhận trong mọi hoàn cảnh cuộc sống mới có thể khiến cho người hy sinh ngay cả mạng sống mình;
- Chỉ có tình yêu, mà con người không ngừng trao ban cho người khác, mới thực sự đem lại ý nghĩa cho cuộc sống.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết nếm cảm tình yêu của Chúa dành cho chúng con, mỗi khi lên thánh giá Chúa.

Và cũng xin Chúa nhắc nhở chúng con biết thực hiện bài học thánh giá Chúa, trong cuộc đời chúng con, để cuối cuộc đời trần gian này, chúng con xứng đáng hưởng ơn Phục Sinh của Chúa. Amen.

-------------------

 

Bài 13: NIỀM TIN CỦA VỊ TỔNG THỐNG NỔI TIẾNG

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 366)
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Khi cuộc Nam Bắc phân tranh bùng nổ tại Hoa kỳ vào khoảng năm 1860, một vị giáo sĩ đã đến gặp Tổng thống Abraham Lincoln và trịnh trọng phát biểu:

“Thưa Tổng thống, chúng ta hãy tin tưởng rằng: Thiên Chúa luôn ở phía chúng ta trong cuộc chiến này”.

Nghe thế, Tổng thống Abraham Lincoln phản ứng ngược lại:

“Tôi không mấy quan tâm về điều đó, vì tôi biết rằng: Thiên Chúa luôn đứng về phía những người công chính. Nhưng tôi thì luôn lo lắng và luôn cầu nguyện, để tôi và toàn dân Mỹ luôn đứng về phía Chúa.

*****

Lời phát biểu của Tổng thống Abraham Lincoln nhắc nhở chúng ta về ý nghĩa và về thái độ đích thực trong lời cầu nguyện của chúng ta.

Cầu nguyện, thiết yếu là xin cho được đứng về phía Chúa, chứ không phải lôi kéo Thiên Chúa đứng về phía mình.

Lời Chúa nhắc nhở chung ta trong Tin mừng Gioan 16, 23b-28 chính là đoạn kết trong diễn từ Tiệc ly:

“Thật, Thầy bảo thật các con: điều gì các con sẽ nhân danh Thầy mà xin Cha, thì Người sẽ ban cho các con”.

 Một trong những đặc ân nơi cách sống của người môn đệ Chúa Giêsu, chính là cầu nguyện nhân danh Ngài.

Chúa Giêsu là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người, cho nên từ nay, chỉ trong Ngài, con người mới có thể cầu nguyện với Thiên Chúa một cách đúng đắn.

Chúa Giêsu là trung gian duy nhất giữa con người và Thiên Chúa trong sự cầu nguyện, bởi vì Ngài: Vừa là con người, vừa là Thiên Chúa: Ngài là người luôn đọc trong từng biến cố đời mình, như một thể hiện chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa;

Ngài là Thiên Chúa, nên Ngài nắm giữ chìa khoá của chương trình cứu rỗi ấy và biết rằng Thiên Chúa luôn nhận lời Ngài.

Sinh hoạt nền tảng nhất của người kitô hữu chính là cầu nguyện.

Nhưng mãi mãi, có lẽ chúng ta phải thốt lên như các môn đệ Chúa Giêsu:

“Lạy Thày, xin dạy chúng con cầu nguyện” vì chúng con chưa biết cầu nguyện.

 Thay cho lời giải thích về sự cầu nguyện. Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ Kinh Lạy Cha, đó là tất cả cuộc sống của Ngài, một cuộc sống luôn diễn ra phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.

Như vậy, cầu nguyện là đi vào tri giao, mật thiết với Thiên Chúa.

Hay nói như Abraham Lincoln là đứng về phía Chúa.

Thật ra, thái độ nền tảng của việc cầu nguyện là ra khỏi chính mình và đi vào tương quan với người khác.

Cầu nguyện là đứng về phía Chúa.

Ước gì trong Chúa Giêsu Phục sinh, Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người, đồng thời là mẫu mực của việc cầu nguyện, giúp cuộc sống của chúng ta luôn là một cuộc thực thi thánh ý Chúa và phục vụ tha nhân.

Lạy Chúa Giêsu Phục sinh xin đồng hành với chúng con, để cuộc sống của chúng con trở thành một lời cầu nguyện đẹp lòng Thiên Chúa. Amen.

-------------------

 

Bài 14: CHUYỆN MỘT TÂN BINH DŨNG CẢM

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 367)
-------------------------------------
Bạn thân mến,

Henri Shepler là một tân binh. Viên hạ sĩ sai anh xuống làm việc tại nhà ăn. Anh không đi. Viên hạ sĩ cho là anh bướng bỉnh và dọa sẽ báo cáo lên cấp trên.

- Được, hạ sĩ cứ việc báo cáo. Tôi đăng ký đi lính, chứ không phải đi làm bồi bàn.

Buổi chiều, Shepler bị gọi lên bộ chỉ huy. Đôi chân run run, nhưng anh vẫn bình thản, vì anh biết mình hành động đúng.

Vị sĩ quan hỏi:

- Có phải sáng nay, anh không tuân lệnh cấp trên?

- Đúng vậy, thưa ngài.

- Tại sao anh làm vậy?

- Đơn giản, là vì tôi cho rằng: Công việc trao cho tôi là không đúng. Tôi đăng ký làm người lính, chứ không phải làm bồi bàn.

Vị sĩ quan đứng bật dậy, đến bắt tay anh và nói:

“Shepler, anh đúng là hạng người chúng tôi cần. Tôi vui mừng, khi thấy anh là một con người dũng cảm và tự tin ở mình”.

*****

Bạn thân mến,

Chúa Giêsu nói về sự thương khó của Ngài (Ga 16, 29-33): Sẽ phải đối diện với sự sợ hãi, đau khổ, nghi ngờ, phản bội, khi người bán Thầy như Giuđa, kẻ chối Chúa như Phêrô, và cuối cùng Ngài phải trực diện với cái chết. Nhưng Ngài vẫn phải tiến bước với lòng can đảm, sẵn sàng bước vào một cuộc chiến…

Ðức Giêsu cũng loan báo cho những môn đệ của Ngài, qua các môn đệ Ngài loan bào cho với chúng ta:

Những Kitô hữu ở mọi thời sẽ phải lao đao khốn khó, do bóng đêm tội lỗi, do thiếu vắng niềm tin.

Chúng ta nhiều lúc bế tắc trong cuộc sống: Sự ác lộng hành, sự dữ nhiều khi đè bẹp chúng ta. Tội lỗi tràn ngập thân xác, tâm hồn, khiến chúng ta không còn chỗi dậy được nữa. Quyền lực của thế gian luôn bách hại những người tin...

Chúa Giêsu đi trước chúng ta, Ngài đã vượt qua sức mạnh của sự chết và bóng đêm của tội lỗi. Ngài dạy chúng ta đừng sợ, vì Ngài đã chiến thắng thế gian, và hãy vững lòng và can đảm bước đi giữa thế gian…

Niềm tin vào Chúa Phục sinh: “Thầy đã thắng thế gian” cho chúng ta sức mạnh vượt thắng những khó khăn trong đời, đối diện và đi lên từ những thất bại, vượt qua những tranh đấu nội tâm và thể xác, những xung đột trong đời sống hàng ngày, thay vì để nó gặm nhấm trái tim, để rồi tiêu cực, trốn chạy.

Chúng ta hãy can đảm đứng lên, xua tan đêm đen, xua tan bóng tối của tội lỗi, phá tan gông cùm xiềng xích của sự hủy diệt, nhờ sức mạnh của Đấng Phục Sinh.

Khi hiện ra với các môn đệ sau khi Phục sinh khải hoàn, Chúa Kitô đã giúp các môn đệ nhìn tổng thể cuộc đời trong tinh thần Phục sinh, mà chính Ngài là một điển hình: Tất cả là để ứng nghiệm Thiên ý.

Các Tông đồ được soi chiếu bằng ánh sáng Phục sinh của Thầy, nên hiểu được ý nghĩa vá đã hoàn thành mọi sự trong cuộc đời. Các ông được mời gọi tiến bước trong cuộc sống loan báo Tin Mừng Phục sinh và để niềm tin Phục sinh chiếu rọi cho cuộc đời, dù phải đối diện bóng đêm của thế gian và sức mạnh của sự dữ...

Trong Chúa Kitô Phục sinh, chúng ta bước đi giữa thế gian. Chúng ta hãy mang tâm tình của thánh Phaolô đã xác quyết: “Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Ðấng đã yêu mến chúng ta” (Rm 8,37).

Lạy Chúa, xin giúp chúng con mỗi ngày thêm xác tín hơn nữa vào sức mạnh của Chúa Phục Sinh, vả can đảm tiến bước theo Chúa. Amen.

-------------------

 

Bài 15: MỘT VIỆC TRUYỀN GIÁO ĐƠN GIẢN

(Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 368)
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Mẹ Têrêsa thành Calcutta đã thuật lại một câu chuyện sau đây, nhân dịp một đài truyền hình phỏng vấn Mẹ.

Mẹ nói: Có một lần khi còn ở Úc, tôi có đến thăm một người thuộc thổ dân Aborigine. Ông cụ sống trong cảnh cô độc thật thảm thương. Ông sống trong một túp lều xiêu vẹo, với tuổi đã già nua của mình.

Khởi đầu câu chuyện cho lần gặp đầu tiên, tôi đã đề nghị:

- Để tôi dọn dẹp nhà và sửa soạn giường ngủ cho ông.

Ông ta trả lời cách hửng hờ:

- Tôi đã quen sống như vậy rồi.

- Nhưng ông sẽ cảm thấy dễ chịu hơn, với căn nhà sạch sẽ và ngăn nắp.

Sau cùng, ông ta bằng lòng để cho tôi dọn dẹp lại nhà cửa cho ông.

Trong khi quét dọn, tôi thấy một cái đèn cũ, đẹp, nhưng phủ đầy bụi bặm và bồ hóng. Tôi hỏi ông:

- Có bao giờ ông thắp đèn này chưa?

Ông ta trả lời cộc lốc:

- Nhưng thắp đèn để cho ai? Có ai bước chân vào nhà này bao giờ đâu? Tôi sống ở đây đã từ lâu, không hề trông thấy mặt người nào cả.

Tôi hỏi ông:

- Nếu như, có người tình nguyện đến thăm ông thường xuyên, ông có vui lòng thắp đèn lên không?

- Dĩ nhiên.

Từ ngày đó, các nữ tu quyết định, mỗi chiều sẽ ghé qua nhà ông. Ông ta bắt đầu thắp đèn và dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ hơn. Ông còn sống thêm hai năm nữa.

Trước khi qua đời, ông nhờ các nữ tu ghé thăm, nhắn tin giúp ông:

- Xin nhắn với mẹ Têrêsa, bạn tôi, rằng ngọn đèn, mà mẹ thắp lên trong đời tôi, vẫn còn chiếu sáng.

Đó chỉ là một việc nhỏ mọn, nhưng trong bóng tối cô đơn của đời tôi, một tia sáng đã thắp lên và vẫn còn tiếp tục chiếu sáng mãi.

Vâng! Đúng là một cuộc viếng thăm thật tuyệt vời.

*****

Ngọn đèn cũ không được thắp sẽ trở nên vô dụng và quên lãng nơi một xó xỉnh nào đấy, nhưng khi được châm vào một chút dầu tình yêu và sự bao dung, thì nó đem đến sự sáng và sưởi ấm lòng người.

Giờ đây, con người dù phải sống cô độc, nhưng không còn cô đơn nữa, vì bóng tối đã bị đẩy lui, và nhường bước cho tình yêu và lòng bao dung của những đốm sáng nhỏ nơi con người, nơi nhân loại.

*****

Quả vậy, khi nhìn vào cuộc sống xô bồ trong xã hội hôm nay, chúng ta thấy chuyện đi thăm viếng nhau ngày càng ít dần, nhất là những người sống nơi thành thị. Có khi hai người ở sát nhà nhau, mà không gặp nhau từ tháng này sang tháng khác. “Tình nghĩa láng giềng” ngày càng lợt lạt. Và thay vào đó là “đèn nhà ai nhà nấy sáng”, và “sống chết mặc bây”.

Linh mục Azevedo nhận xét: Ngay cả những tu sĩ ở cùng một cộng đoàn, mà nhiều khi chỉ “sống bên cạnh nhau”, chứ không phải “sống với nhau”.

Suy gẫm câu chuyện Đức Mẹ lặn lội đường xa đến thăm và giúp đỡ bà Êlisabeth (Lc 1, 39-56), là một lời nhắc nhở những người sống cạnh nhau, hãy nhớ đến nhau.

Hơn nữa khi chúng ta thăm nhau, nhưng thử hỏi: Chúng ta đã đem lại được những gì tốt đẹp cho những người chúng ta viếng thăm, hay chỉ là những chuyện cà kê, dê ngỗng với nhau, hoặc là ngồi lê đôi mách.

Việc thăm viếng nhau như thế, chẳng những không giúp ích gì cho nhau, mà có khi còn làm dịp tội cho nhau và là dịp để nói hành, nói xấu người khác.

Có lẽ chúng ta cũng phải thành thực kiểm tra lại những cuộc thăm viếng của chúng ta xem:

Tôi có mang Chúa đến cho người tôi thăm viếng hay không?

Những điều tôi nói có phải là Tin Mừng, khiến người được tôi thăm cảm thấy được bình an và hạnh phúc hơn không?

Lạy Mẹ Maria, việc Mẹ lặn lội đường xa, đến thăm và giúp đỡ bà Êlisabeth, là một sự nhắc nhở mỗi người chúng con: Hãy cố gắng quan tâm đến nhau nhiều hơn, những người sống bên cạnh chúng con. Quan tâm để thông cảm, để an ủi, để nâng đỡ, để chia sẻ, đặc biệt đối với những người đang cần sự giúp dỡ của chúng con. Lạy Mẹ, xin giúp chúng con. Amen.

-------------------

 

Bài 16: CHUYỆN HIẾU THẢO CỦA VỊ TỒNG THỐNG NỔI TIẾNG

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 369)
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Có một câu chuyện thật cảm đổng, về George Washington, một trong những nhà anh hùng của nền độc lập Hoa Kỳ, và là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ, được kể như sau:

Sau những trận chiến cam go nhất, giữa những công việc nặng nề của một nguyên thủ quốc gia, ông thường về nhà thăm viếng và trò chuyện lâu giờ với người mẹ già.

Một hôm, ngạc nhiên về sự gắn bó của ông đối với mình, mẹ ông đã đặt câu hỏi như sau:

"Tại sao con lại chịu khó mất hằng giờ như vậy, để ngồi bên cạnh mẹ?".

Vị tổng thống của nước Mỹ đã trả lời như sau:

"Thưa mẹ, ngồi bên cạnh mẹ để lắng nghe mẹ nói, không phải là một việc mất giờ. Bởi vì, sự thanh thản và lòng tốt của mẹ dạy con, để con còn muốn tiếp tục sống".

*****

Bạn thân mến,

Sự vội vã lên đường của Mẹ Maria để đi thăm người chị họ đang cưu mang trong lúc tuổi già, là biến cố khai mạc sứ mệnh của Mẹ (Lc 1, 39-56): Sứ mệnh luôn có mặt để phù trợ giúp đỡ con người:

- Sự hiện diện ấy đã củng cố niềm tin của bà Isave.

- Sự hiện diện ấy đã đem lại niềm an ủi vô bờ cho Gioan Tẩy giả.

Bên cạnh Chúa Giêsu, từ việc cưới Cana, cho đến dưới chân thập giá, và những ngày đầu của Giáo Hội, Mẹ luôn có mặt để nâng đỡ, để ủi an, để củng cố niềm tin của mọi người.

Một cách âm thầm, nhưng vô cùng gần gũi, ngày nay lúc nào Mẹ cũng có mặt trong Giáo Hội và trong từng phút giây của cuộc sống chúng ta.

Mỗi lần nhắc đến biến cố Mẹ lên đường, đến viếng thăm bà Isave, mỗi người Kitô chúng ta được mời gọi để tin tưởng hơn bao giờ hết sự hiện diện đầy ưu ái của Mẹ, có sức mang lại cho chúng ta niềm vui, sự can đảm để tiếp tục dấn bước trong cuộc lữ hành trần gian này.

Những lúc mệt mỏi trong cuộc sống, những lúc tối tăm bao trùm cuộc sống, những lúc hụt hẫng, đến độ không còn biết nương tựa vào ai, chúng ta hãy chạy đến với Mẹ. Một vài Kinh Kính Mừng, mà chúng ta có thể chỉ đọc một cách máy móc, đó chính là những giây phút chúng ta đến ngồi bên Mẹ. Ðó không là những phút giây vô ích, trái lại sự thanh thản của Mẹ, lòng quảng đại của Mẹ sẽ là nguồn nâng đỡ chúng ta.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là nguồn an ủi, là nguồn cậy trông của chúng con. Xin Mẹ nhắc chúng con biết siêng năng chạy đến cùng Mẹ, nhất là mỗi khi chúng con gặp gian nan khốn khó. Amen.

-------------------

 

Bài 17: NHỮNG CHUYỆN LÊN ĐƯỜNG THẬT TUYỆT DIỆU

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 370)
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Vào vào một buổi chiều tháng Năm 1873, tại một nhà thờ ở Honolulu, trên hòn đảo Molokai, thuộc quần đảo Hawai, những người cùi hủi đầy nghẹt nhà thờ, Đức cha Maigret, giám mục Giáo phận, đứng bên cạnh bàn thờ, quay xuống hỏi họ:

Các con thân mến,

Các con hằng mong ước có một vị linh mục đến ở cùng và phục vụ các con. Thì đây tôi xin giới thiệu: cha Đamien (Joseph de Veuster 1840-1889 người Bỉ, 33 tuổi), Ngài đến và sẽ ở lại để chăm sóc, phục vụ và chia sẻ với các con từ nay cho đến chết. Các con có vui mừng không?

Cả nhà thờ, không có ai vỗ tay. Nhưng những tiếng xôn xao, những tiếng thầm họ to nhỏ với nhau, rồi không ai bảo ai, họ đã lần lượt, từ từ, tiến lên cung thánh, đến bên cha Đamien, sờ vào mặt, vào tay và vào áo của cha…

Cha Đamien hỏi Đức giám mục: Họ làm gì vậy?

Đức cha giải thích: Họ không thể tưởng tượng được có một người từ nơi phương xa, chẳng có bà con huyết thống gì với họ, mà còn quá trẻ và lại đẹp trai nữa, không bệnh tật gì, mà lạ tự nguyện đến phục vụ họ, trên mảnh đất khốn cùng này.

Họ không tin vào tai nghe, mắt thấy của mình, nên họ mới xúm lại, sờ mó vào người cha, xem thử: Cha có thực sự bị mắc bệnh phong cùi như họ không?

Vừa trở về chỗ, họ lại vừa xầm xì to nhỏ nói với nhau rằng:

“Không, cha không bệnh tật gì và cha đẹp trai quá!”.

*****

Vào năm 1873, cha Đamien đã tự tình nguyện ra đảo Molokai, nơi mà chính quyền Hawaii thời đó “thu gom” những người  bất hạnh bị bệnh cùi hủi ra sống ở đảo nhằm cách ly, tránh sự lây lan cho xã hội. Vì thế họ bị bỏ mặc, sống lạc loài và cô đơn trên đảo, không nhận được bất cứ một sự chăm sóc nào về thể xác, cũng như tâm linh!

Cha Đamien đã đến và biến đổi một trại cùi hiu quạnh, bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài, thành một trung tâm sinh hoạt yên vui như một gia đình lớn.

Và rồi sau mười sáu năm tận tình phục vụ những anh chị em cùi, cha đã bị lây bệnh và qua đời vào năm 1889. Vì thế cha được mệnh danh là “Tông Đồ người cùi”. Cha được phong chân phước ngày 04/06/1995 và được phong hiển thánh ngày 11/10/2009).

*****

Theo tường thuật của Phúc Âm ngày lễ Đức Mẹ đi thăm viếng gia đình bà Elisabet 31/05, thì ngay sau khi nói lời “xin vâng”, Đức Mẹ đã “vội vã” lên đường đên thăm gia đình người chị họ.

Đây không phải là một cuộc thăm viếng bình thường, mà là chuyến đi mang niềm vui của ơn cứu độ đến cho tha nhân.

Niềm vui này thật quan trọng và lớn lao, đến nỗi bà chủ nhà Elisabet, vừa khi thấy Đức Maria đến, đã phải thốt lên rằng:

“Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến thăm viếng tôi”.

Và Gioan, tuy chỉ là một thai nhi, những cũng đã vui mừng, mà nhảy lên trong dạ mẹ.

Như vậy chúng ta thấy, khi nhận được niềm vui của Tin Mừng cứu độ, Mẹ đã không giữ lại cho riêng mình, mà đã vội vã lên đường, đi chia sẻ niềm vui ấy cho mọi người.

Với tư cách là Mẹ Đấng Cứu Thế, thì lẽ ra, người cần phải đến chăm sóc, phục vụ và ngợi khen Đức Mẹ, đó phải chính là bà Elisabet.

Nhưng ở đây, vì lòng khiêm nhường, Đức Mẹ đã không quản ngại đường xá xa xôi, vất vả, lên đường từ Nadarét, để đến nhà ông bà Dacaria, hành trình dài khoảng 160 cây số, và phải đối mặt với không biết bao nguy hiểm trên đường! Nhưng, Mẹ vẫn kiên quyết lên đường, để đến thăm viếng và phục người chị em này.

*****

Noi gương Đức Mẹ, chúng ta là những người được mệnh danh là “người có Chúa”, tức những Ki-tô hữu, thì cũng phải có bổn phận đem Chúa đến giới thiệu cho tha nhân.

Nhưng trước hết, chúng ta hãy học nơi Mẹ nhân đức khiêm nhường và yêu thương. Bởi, chỉ có thực sự khiêm tốn và yêu thương chân thành, chúng ta mới có thể đem Tin Mừng cứu độ của Chúa cho tha nhân được.

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta biết thể hiện những hành động yêu thương quí mến mọi người mà chúng ta gặp gỡ, trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Chúng ta có thể trao cho họ những nụ cười tươi thắm, những lời nói nhỏ nhẹ chân thành, những ánh mắt thiện cảm, nhân từ, biết cảm thông, chia sẻ…

Như thế là chúng ta đã mang niềm vui, an bình đến cho mọi người, và nhất là chúng ta đã thể hiện được là người có Chúa Ky-tô đang ngự trị nơi tâm hồn của chúng ta.

Lạy Chúa, hành trình đi thăm viếng của Mẹ, vừa xa xôi, vừa vất, và cả cuộc đời hy sinh của cha thánh Đamien, phải đối mặt thường xuyên với cái chết rình rập hằng ngày, chính là một bài học và cũng là những lời nhắc nhở thường xuyên cho chúng con, về tinh thần khiêm tố, hạ mình, hy sinh, phục vụ, để chúng con cố gắng làm theo, để mỗi ngày chúng con nên xứng  đáng là con Chúa, và được Chúa và Mẹ yêu thương nhiều hơn nữa. Amen.

-------------------

 

Bài 18: CHỨNG NHÂN GIỮA ĐỜI THƯỜNG

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 371)
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Nhà giáo dục vĩ đại Booker T. Washington có viết như sau trong cuốn tự thuật mang tựa đề: “Từ ách nô lệ đi lên” của ông:

“Càng lớn tôi càng tin chắc rằng, không một sự giáo dục nào có thể gặt hái được từ sách vở, hay từ những dụng cụ đắt tiền, mà có thể sánh ví được với những gì ta có thể gặt hái được, do tiếp xúc với các bậc vĩ nhân”.

Cách đây ít lâu, một phụ nữ Ấn độ giáo đã trở lại Công giáo, sau một thời gian nghe rao giảng Lời Chúa.

Bà chịu nhiều gièm pha, đay nghiến từ người chồng và bao người thân, do việc bà trở lại đạo.

Có lần cha xứ hỏi bà: “Khi chồng con nổi giận và hành hạ con, thì con làm gì”?

Bà đáp: “Thưa Cha, con cố gắng nấu ăn ngon hơn. Khi ông than trách, con lau chùi nhà sạch hơn. Khi ông ăn nói cộc cằn, con trả lời ôn tồn nhỏ nhẹ.

Con cố gắng để chứng tỏ cho ông ta thấy: Khi con trở lại đạo Chúa, con phải là người vợ và người mẹ tốt hơn”.

Một thời gian sau, chính ông chồng cũng xin trở lại đạo Công giáo, không phải vì lời giảng của cha xứ, cho bằng chính nhờ gương sáng sống đạo của bà vợ đạo đức của ông.

*****

Bạn thân mến,

Trong lời cầu nguyện cho các môn đệ trước khi lìa bỏ trần gian, Chúa Giêsu đã không cầu xin Chúa Cha miễn cho các môn đệ khỏi những đau khổ gian truân, khi họ thi hành sứ mạng tông đồ.

Bởi vì Ngài biết: Thế nào họ cũng sẽ gặp căm thù, ghen ghét, hành hạ, thử thách, cực khổ. Nhưng Ngài chỉ xin Chúa Cha gìn giữ họ khỏi bị nhiễm lây tội lỗi và luôn sống trong sự thật của lời Ngài.

Nói rõ hơn, Chúa Giêsu xin Chúa Cha thánh hóa các môn đệ của Ngài, để trong lúc sống giữa đời, họ vẫn giữ được sự thánh thiện nguyên tuyền.

Lạy Chúa, giữa những khó khăn thử thách của cuộc sống đời thường hôm nay, xin cho chúng ta được luôn kiên vững trong tin yêu, cậy trông, phó thác, và trung thành làm chứng cho tình Yêu Chúa giữa đời thường, như men trong bột, như muối ướp cá, như những chiếc đèn trên cao, soi sáng cho mọi người.

Lạy Chúa xin giúp chúng con. Amen.

-------------------

 

Bài 19: CHUYỆN TƯỞNG NHỎ, NHƯNG KẾT QUẢ QUÁ TUYỆT VỜI

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 372)
--------------------------------------

Bạn thân mến,

Có một cặp vợ chồng trẻ, đang sống với nhau vô cùng hạnh phúc. Người vợ lại rất xinh đẹp và người chồng lại cũng rất mực yêu thương vợ mình.

Một hôm, khi người chồng đi làm việc ở xa, người vợ ở nhà tình cờ phát hiện ra mình đang mắc một thứ căn bệnh về da thật kỳ lạ: Những đốm đỏ nổi lên từ vai, rồi nhanh chóng lan ra khắp mặt mũi và toàn thân.

Cô lập tức đến gặp nhiều bác sĩ, nhưng họ cho biết: Đây là một căn bệnh cực kỳ hiếm, và hiện nay chưa có thuốc, cũng như chưa có phương cách để chữa trị.

Người vợ xinh đẹp vô cùng đau khổ, khuôn mặt cô đã trở nên xấu xí nhanh chóng. Cô nghĩ: Mình sẽ mất hết tình thương yêu của chồng và cuộc đời cô từ nay, kể như là chấm hết.

Rồi bất ngờ, cô lại nhận được một hung tín: Xe của chồng cô gặp tai nạn, khi anh đang làm việc xa nhà, và anh vẫn còn hôn mê sau nhiều ngày cấp cứu.

Khi anh hồi tỉnh, cô cũng được các bác sĩ báo tin, là đôi mắt của anh đã bị mù vĩnh viễn.

Người chồng mù trở về, và dĩ nhiên, anh không nhìn thấy sự thay đổi của vợ. Anh vẫn một mực yêu thương vợ như ngày nào, và dĩ nhiên cô cũng yêu anh không thể nói hết.

Người vợ vẫn thường dắt chồng đi dạo quanh thị trấn. Cô thì quàng chặt tay anh. Còn người chồng mù thì đeo cặp kính đen, với chiếc gậy dò đường trên tay. Họ vừa đi, vừa trò chuyện rất vui vẻ, rất hạnh phúc.

Ít lâu sau, người vợ trượt chân ngã từ trên cầu thang xuống đất, cô đã qua đời, vì bị vết chấn thương ở đầu quá nặng.

Người chồng đau khổ tột cùng trong những ngày tang của vợ, khiến cho cư dân trong thị trấn, ai ai trông thấy cũng đều bùi ngùi xót thương, không thể cầm được nước mắt.

Khi những ngày tang lễ chấm dứt, một người bạn rất thân thương đã hỏi anh: Anh dự định thế nào, trong những ngày sắp tới.

Người bạn mù cho biết: Anh sẽ phải đi xa khỏi thị trấn này. Bởi nơi đây luôn gợi lại cho anh biết bao kỉ niệm êm đềm của người vợ yêu thương của anh. Và sự luôn nhớ lại những tháng ngày hạnh phúc quá tuyệt vời đó đã làm cho anh thêm đau khổ, mà không thể chịu nổi.

Một người khác hỏi: "Anh đi đâu bây giờ, khi mà anh không nhìn thấy gì cả, và biết làm gì được, khi không còn người vợ bên cạnh anh như trước đây?".

Người mù từ từ tháo cặp kính đen ra và chậm rãi trả lời:

"Tôi chưa bao giờ bị mù, nhưng tôi phải giả vờ mù trong những năm qua, là để người vợ nghĩ tôi nhìn thấy tất cả. Bởi nếu vợ tôi biết là tôi thấy tất cà, thì nàng sẽ còn đau đớn gấp trăm ngàn lần, hơn căn bệnh quái ác kia đã tàn phá cô ấy. Tôi chỉ muốn vợ mình luôn được hạnh phúc ...".

*****

Bạn thân mến,

Có nhiều lúc trong cuộc đời, chúng ta cũng cần phải giả mù, giả điếc, để giữ gìn hạnh phúc cho nhau được bền chặt, được lâu dài. Hãy biết cố tình không nhìn thấy, không nghe thấy những điều nhỏ nhặt, để cuộc sống của chúng ta sẽ dễ dàng, nhẹ nhàng, và hạnh phúc hơn.

Lạy Chúa, xin cho con biết sống rộng lượng và quảng đại hơn đối với những người sống chung quanh con, nhất là đối với những người thân trong gia đình, để hạnh phúc của con ở đời này, ở đời sau, được xây dựng bền chặt và chắc chắn  hơn. Amen.

-------------------

 

Bài 20: HY SINH NÀO CŨNG ĐỀU QUAN TRỌNG

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 373)
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Trong thời kỳ nội chiến, Tổng thống Hoa kỳ là Abraham Lincoln có một viên sĩ quan trẻ làm thư ký. Viên sĩ quan này nổi tiếng là hiếu động, can đảm và gan dạ, cho nên công việc ở bàn giấy xem ra không thích hợp đối với anh ta. Anh ta lúc nào cũng chỉ mơ ước được trở lại mặt trận để chiến đấu, và nếu cần cũng sẵn sàng chết cho tổ quốc, hơn là làm cái công việc đơn điệu, nhàm chán trên bàn giấy.

Một hôm, sau khi nghe biết sự anh than phiền, Tổng thống Lincoln đã nhìn thẳng vào mắt anh và nói:

“Này anh bạn trẻ, tôi nghe biết anh ước ao muốn ra chiến trường, để xả thân, chết cho tổ quốc, nhưng tại sao anh lại không can đảm mà sống sống cho tổ quốc”.

*****

Tử đạo theo nguyên ngữ là “làm chứng cho đức tin”.

Có người dùng cái chết để làm chứng, nhưng có người dùng cả cuộc sống để làm chứng.

Tuy nhiên, chết đau thương nhục nhã, hoặc chết âm thầm từng ngày, thì cả hai đều có giá trị như nhau.

Phêrô, vị Giáo hoàng tiên khởi được mời gọi bước theo Chúa Giêsu, nghĩa là chấp nhận những thử thách, chấp nhận những cuộc bách hại và chấp nhận cái chết trên thập giá để làm chứng cho Chúa.

Còn Gioan, vị tông đồ được Chúa Giêsu yêu mến, lại làm chứng cho Chúa bằng chính cuộc sống của mình.

Gioan tuy không được phúc tử đạo như các Tông đồ khác, nhưng chính Ngài đã sống một thời gian rất dài, để củng cố niềm tin của các tín hữu tiên khởi, nhất là để suy niệm, và viết cuốn Tin mừng thứ tư và ba lá thư. Tất cả đều là những cách thức làm chứng cho Đấng đã chết và sống lại là Chúa Giêsu Kitô.

Lịch sử Giáo Hội từ đầu cho đến nay là cả một cuốn sách về những chứng từ khác nhau: bằng lời nói, bằng đau khổ, bằng hy sinh, bằng công việc từ thiện… mỗi người một cách, mỗi thời đại một cách, tùy ở Chúa Thánh Thần soi sáng và dẫn dắt, nhưng tất cả đều là để giới thiệu tình yêu Chúa cho mọi người, nhờ đó mọi người hưởng nhờ được ơn cứu độ.

Chắc chắn, không phải tất cả chúng ta đều có thể làm chứng cho Chúa bằng cái chết vì đạo, nhưng tất cả chúng ta đều có thể làm chứng cho Chúa bằng chính cuộc sống của chúng ta.

Lạy Chúa, xin giúp cho con luôn ý thức và thực hiện phần khả dĩ con có thể đóng góp vào kho tàng phong phú của Giáo Hội, qua những hy sinh âm thầm từng ngày trong cuộc sống, để nhờ đó mọi người có thể nhận biết tình yêu Chúa và đến với Chúa. Amen.

------------------------------

 

Bài 21: CON KHÔNG THỂ YÊU CHÚA ĐƯỢC

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 374)
-------------------------------------

Thánh Phanxicô Assisi là vị thánh có lòng mến Chúa và yêu người cách rất sâu xa.

Một hôm, ngài gặp một người giáo dân, có lẽ anh ta đã gặp quá nhiều thử thách trong đời, cho nên anh đã chia sẻ, tâm sự với cha thánh như sau: Con không thể nào yêu mến Chúa được.

Đang khi hai người đi đường, thì bỗng gặp một người hành khất, vừa mù, vừa què, ngồi bên lề đường. Thánh Phanxicô dừng lại, hỏi người hành khất:

“Này anh, nếu tôi chữa cho anh thấy được và đi được, thì anh có yêu mến tôi không?”.

Người hành khất trả lời:

“Dạ thưa ngài, không những tôi yêu mến ngài, mà tôi còn xin dâng hiến trọn phần còn lại của đời tôi, để phục vụ ngài”.

Nghe câu trả lời của người hành khất, cha thánh Phanxicô quay sang nói với người bạn đồng hành: “Đó anh thấy không, người hành khất này chỉ mong thấy được thôi, chỉ mong đi được thôi, mà đã dám hứa với tôi như thế đó, huống hồ là anh.

Anh không những được Chúa dựng nên, với chân, với tay, với mắt, với mũi lành lặn, mà Ngài còn chịu chết, để cứu chuộc anh nữa. Chúa đã thương anh đến như thế, mà anh lại không thể yêu mến Chúa được sao?”.

Bỗng, anh bạn đang đồng hành với thánh nhân khựng lại, đôi chân như bước đi được nữa, đôi mắt anh trở nên nặng trĩu, với nhiều đam chiêu, với những suy nghĩ thật sâu lắng !!!!

*****

Bạn thân mến,

Yêu là tuân giữ Lời của Chúa dạy, chứ không chỉ dừng lại ở những tình cảm suông, hoặc ở những xúc động thuần túy, do những cảm xúc rung động cách hời hợt thoáng qua trong trái tim.

Tình yêu là một nội lực, luôn thúc đẩy, và dẫn đưa chúng ta tới hành động. Tình yêu không có hành động là tình yêu không sức sống, là tình yêu lý thuyết, là tình yêu chết…

Hành động, chính là bằng chứng của tình yêu đích thực, như thánh Grégôriô le Grand đã khẳng định:

“Bằng chứng của tình yêu, được chứng nhận qua những công trình. Không bao giờ tình yêu của Thiên Chúa cư ngụ trong nhàn rỗi. Khi tình yêu hiện hữu, tình yêu luôn làm những sự việc lớn lao”.

Yêu thương là giữ các giới răn, là chúng ta ở với Chúa và Chúa ở với ta, là ta lưu lại trong tình yêu của Chúa. Người theo Chúa Kitô, làm thành đạo của tình yêu: Yêu Chúa và yêu người. Tình yêu sẽ chắp cho chúng ta đôi cánh để bay cao.

Chúa Giêsu đã nói:

“Ai yêu mến Thầy thì tuân giữ các giới răn của Thầy. Ai giữ các giới răn của Thầy mới là người yêu mến Thầy”.

Giới răn, mà Chúa mời gọi chúng ta tuân giữ, được thánh Gioan ghi lại trong Tin Mừng của Ngài như sau:

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34), và chỗ khác Chúa còn nhấn mạnh: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, đó là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35).

Cho nên, Chúa coi việc yêu thương anh chị em và tất cả những người lân cận, là người giữ trọn giới răn Chúa, và Chúa coi đó là người thật sự yêu mến Ngài.

Mến Chúa, dẫn đến yêu anh em. Thánh Gioan đã diễn giải nhân quả của sự yêu mến này thật rõ ràng khi nói:

“Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh chị em mình, thì người ấy là kẻ nói dối; Bởi ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, Đấng mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20).

Đức Giêsu khẳng định:

“Ai giữ các giới răn của Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến. Cha và Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ đến và ở trong người ấy” (Ga 14,21).

Sự yêu mến và giữ giới răn, làm thành mối tương quan thẳm sâu, giữa Chúa Giêsu với chúng ta: Tình yêu gắn bó tình Thầy-Trò, và cấu tạo nên một tương quan với Chúa Cha trong chính Chúa Giêsu.

Lạy Chúa, xin cho chúng con, có được một tình yêu sắt son, theo lệnh truyền của Chúa: Yêu Chúa là tuân giữ Lời Chúa, là sống bằng con tim với đời, với anh em bằng một tình yêu sắt son và mãnh liệt. Tình yêu được biểu hiện cụ thể, qua hành động tuân giữ các giới răn, trong sự tự nguyện. Lạy Chúa xin giúp chúng con thực hiện đúng điều Chúa dạy. Amen.

-------------------

 

Bài 22: SỨC MẠNH CỦA NHỮNG LỜI THÌ THẦM

Chúa nói trong tâm hồn chúng ta.

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 375)
-------------------------------------

Tại góc đường của một thành phố lớn, có một người đàn bà quần áo rách tả tơi, đứng xa ăn xin với đứa con trai nhỏ của bà, gầy ốm, xanh xao. Trong số những người đi qua đường phố, có một người đàn ông triệu phú bước qua, nhìn họ không nói tiếng nào, cũng chẳng giúp đỡ gì.

Nhưng khi trở về biệt thự sang trọng của mình rồi, nhìn vào bàn ăn với đủ mọi thứ cao lương mỹ vị, ông liên tưởng đến thằng bé còm nhom và người mẹ khốn khổ của nó. Càng nghĩ về họ ông càng tức giận Thiên Chúa.

Rồi ông nắm tay lại, đứng lên, đưa quả đấm lên trời, rồi la to với Thiên Chúa:

“Làm sao Ngài lại có thể để cho sự khốn khổ như thế này xảy ra cho được? Tại sao Ngài lại không làm gì, để giúp đỡ những con người bất hạnh đó?”.

Và bỗng từ một nơi nào đó, tự nơi rất thẳm sâu, tự bên trong tâm hồn của ông, có một tiếng Thiên Chúa trả lời, mà chỉ có một mình ông nghe: “Ta đã làm. Ta đã dựng nên ngươi”. Bỗng con người của ông trở nên mềm nhũn, té quỵ xuống đất mà không cách nào kềm lại được, trước sự chứng kiến của mọi người trong nhà.

Bạn thân mến,

Dân Chúa đứng trước sự đói khát về nhu cầu thân xác, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?”.

Các ông thưa lại rằng: “Ở đây có một bé trai, có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người”.

Với sự lo toan của con người, các ông không thể lo cho cả ngàn người, đó là sự phản ứng bất lực nơi con người, trước những nhu cầu to lớn (lương thực cho năm ngàn người).

Chúa Giêsu bảo các ông: “Cứ bảo người ta ngồi xuống”, có nghĩa là sửa soạn ăn, ngả lưng là tư thế để ăn, như là tư thế sẵn sàng để lãnh nhận hồng ân.

“Chúa Giêsu cầm lấy bánh và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn”.

Bánh trao ban dư đầy, ai nấy đều đã ăn no nê, Chúa Giêsu ra lệnh cho các ông thu lại phần còn dư, chứa được mười hai thúng đầy. Phép lạ muốn nói tới bữa tiệc sau này trên nước Trời (Mt 8,11-12; 22,1.10).

Hành động trung tâm của nước Trời, là mọi người đều ăn no. Sự dư dật, là một dấu chỉ được loan báo cho thời kỳ của Đấng Mêssia trong Kinh Thánh (x. Đnl 6,11; Tv 132,15; Is 65,10).

Phép lạ bánh hóa nhiều của Chúa Giêsu, gợi cho chúng ta sự việc:

Tiên tri Êlisê ra lệnh cho các đầy tớ đa nghi, mang hai mươi chiếc bánh, nuôi cả trăm người (x. 2V 4,42-44).

Các sách Tin Mừng thuật lại cho chúng ta sáu lần hóa bánh ra nhiều (Mt 14,13.21; 15,32-39; Mc 6,30-44; 8,1-9; Lc 9,10-17; Ga 6,1-15). Qua đó, cho chúng ta thấy, Ngài yêu thương con người. Ngài cứu chữa phần hồn, và dưỡng nuôi phần xác.

Ðược chứng kiến phép lạ hóa bánh ra nhiều, người Do Thái cho rằng Ðức Giêsu là vị ngôn sứ của thời cuối cùng, được sai đến để giải phóng dân tộc và phục hồi sức mạnh nước Israel.

Họ muốn tôn Ðức Giêsu làm vua, với mục đích để Ngài bảo đảm đời sống cho họ, bằng những phép lạ tương tự.

Nhưng Ngài được Thiên Chúa sai đến thế gian, không phải để làm chính trị, mà là để cứu vớt con người, dẫn đưa con người về với Thiên Chúa. Cho nên, Ðức Giêsu đã trốn lên núi một mình.

Xin cho chúng con lòng khao khát tìm đến bên Chúa, lắng nghe Lời Chúa, được Chúa chạnh lòng thương và ban phát của ăn tinh thần là Thánh Thể, cũng như cả lương thực nuôi thân xác ,như Ngài ra tỏ tình thương qua phép lạ bánh hóa nhiều.

Lời của chân phước Mary MacKillop: “Hãy bình tĩnh, lắng nghe, và tin tưởng những lời thì thầm của Thiên Chúa nói trong tâm hồn chúng ta”.

-------------------------------

 

Bài 23: NIỀM TIN CỦA NHÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 376)
-------------------------------------

Daniel Connell, là người đã giải phóng dân tộc Ái Nhĩ Lan, là một tín hữu Công Giáo, can đảm và rất nhiệt thành.

Khi bị một số bạn bè theo đạo Tin Lành chế nhạo ông, vì họ không hiểu rõ và cũng không tin Đức Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể.

Bấy giờ Daniel đã trả lời như sau:

“Sao các ông lại hỏi tôi? Lẽ ra các ông phải hỏi Đức Giêsu mới đúng.

Phần tôi, tôi chỉ tin vào Lời Chúa nói. Nếu Lời Chúa khẳng định rằng: “Thịt Ta thật là của ăn, máu Ta thật là của uống”, mà thực sự là không đúng, thì người nói là Đức Giêsu mới đáng trách, chứ không phải là tôi! Nhưng tôi luôn tin rằng: Lời Chúa là sự thật, là Lời hằng sống và sẽ tồn tại đến muôn đời”.

Câu trả lời của Daniel Connell giúp cho ta thấy: Niềm tin vào bí tích Thánh Thể, cũng như toàn bộ niềm tin của chúng ta đã được xây dựng trên nền tảng vững chắc là Lời Chúa trong Thánh Kinh.

Lời Chúa là ánh sáng chỉ đường, là sức sống của ta, là căn bản đức tin của ta, là lương thực nuôi dưỡng linh hồn chúng ta. Do đó, ta cần phải có thái độ tôn trọng Lời Chúa, yêu mến và thực hành Lời Chúa.

Bạn thân mến,

Tin Mừng Ga 6,53-60, là phần kết của diễn từ Thánh Thể ở Capharnaum (x. Ga 6,22-58), sau khi Chúa Giêsu khẳng định: Chính Ngài là bánh ban sự sống, được Giáo hội gọi là bí tích Thánh Thể.

Chúa Kitô cho chúng ta biết ba hiệu quả của Thánh Thể: Thánh thể cho ta được sống muôn đời, Thánh Thể làm cho ta được kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu, và Thánh Thể làm chúng ta sống, nhờ sự sống của Chúa Giêsu, theo khuôn mẫu sự kết hiệp giữa Đức Giêsu với Chúa Cha.

1- Thánh Thể ban cho ta được sống muôn đời và được sống lại như Người phán:

“Ai ăn thịt và uống máu Ta thì được sống muôn đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54).

Nếu như ngày xưa manna là của ăn được ban để nuôi thân xác, thì ngày nay, hơn bất cứ của ăn nào, Mình Máu Chúa Kitô ban cho ta ơn thần hóa vĩnh cửu:

“Đây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời” (Ga 6,48-50.58).

Bằng những lời xác quyết như thế, Chúa Giêsu giới thiệu cách long trọng bánh hằng sống, bánh muôn đời tồn tại và đầy quyền năng, trao ban ơn sống đời vĩnh cửu cho tất cả những ai rước lấy, trong đức tin, với lòng trong sạch, đơn sơ, ngay lành.

2- Hiệu quả thứ hai của bí tích Thánh Thể, bí tích Tình yêu, làm cho ta được kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu, như Người khẳng định:

“Ai ăn thịt và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong người ấy” (Ga 6,56).

Cách nói “ở lại trong” và “ở trong người ấy” (x. Ga 14,10-20; 15,4-5; 1Ga 3,24; 4,15-16) chỉ một sự trao đổi, kết hiệp vừa thân mật, vừa hỗ tương.

Chính dụ ngôn cây nho và các cành, sẽ làm sáng tỏ ý nghĩa này hơn nữa (x. Ga 15,1-17): Người rước Thánh Thể sẽ ở lại trong sự sung mãn của Chúa Kitô, sẽ đón nhận sự sống Người tuôn chảy vào trong họ, như dòng nhựa sống nuôi thân nho đơm trái.

3- Hiệu quả thứ ba của Thánh Thể, là hệ quả của hiệu quả thứ hai, khi kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô, thì được sống nhờ sự sống của Ngài, theo khuôn mẫu sự kết hiệp giữa Đức Giêsu với Chúa Cha:

“Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai Ta, và Ta sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Ta, cũng sẽ nhờ Ta mà được sự sống như vậy” (Ga 6,57).

Với ba hiệu quả trên, trong Thánh Thể, Chúa Kitô đã trở nên lương thực nuôi dưỡng chúng ta. Ngài trở nên như cơm bánh, là sức sống của chúng ta.

Cho nên, rước Thánh Thể, là cách thức duy nhất giúp ta tránh được tình trạng suy nhược thiêng liêng và cái chết linh hồn.

Rước Thánh Thể là rước Chúa Kitô, sức sống của ta được tiếp sức sống của Chúa Kitô. Nếu chúng ta hiệp thông đều đặn vào sự sống này của Người, chúng ta đã được đặt để trong tình trạng ân phúc, và tình trạng này, sẽ triển nở thành vinh quang trong cuộc sống vĩnh cửu.

- Như người cô đơn tìm được nguồn an ủi;
- Người yếu đuối tìm được sức mạnh;
- Người tội lỗi tìm được ơn tha thứ;
- Người đau đớn tìm được sự chữa lành;
- Người bất hạnh tìm được nghị lực tinh thần;
- Người mất niềm tin vào cuộc đời tìm được chỗ nương thân… nguồn tình yêu chất chứa đầy sự thông cảm và âu yếm.


Lạy Chúa, xin cho chúng con ơn biết quý trọng, và siêng năng đến lãnh nhận Thánh Thể Chúa, để chúng con được sống muôn đời. Amen.

-----------------------------------------

 

Bài 24: KIỂU LÝ LUẬN CỦA NHÀ VÔ THẦN

 (Chuyện cha Mễn kể cho các gia đình Bài 377)
-------------------------------------

Bạn thân mến,

Hôm ấy trên con tàu lênh đênh giữa biển, các hành khách, ngồi quây quần truyện vãn với nhau, trong đó có bàn về Thiên Chúa.

Trong số những người có mặt, có một vị vô thần. Ông này tìm mọi lẽ bác bỏ Thiên Chúa. Lời ông nói, lý ông đưa ra khá mạnh, khiến một số thính giả xiêu lòng.

Thình lình, có cơn bão lớn thổi đến, khiến cho con tàu chao đảo muốn đắm. Bỗng người ta thấy ông vô thần mất tích. Họ bảo nhau: Nào chúng ta hãy đi tìm kiếm ông ta xem.

Bỗng một người tri hô lên, đã tìm thất ông ta đây rồi. Mọi người đổ xô tới, thì thấy ông ta đang quỳ cầu nguyện trong phòng rửa mặt.

Một người thấy thế hỏi khích ông: “Ông cầu nguyện với ai vậy? Ông là người vô thần cơ mà?”.

Ông ta hạ nhiệt, khiêm tốn đáp: “Người ta chỉ vô thần, khi bình an thôi”.

Bạn thân mến,

Các tông đồ xao xuyến, sợ hãi trước sự loan báo ra đi, bước vào cuộc khổ nạn của Thầy. Chúa Giêsu nhận thấy các môn đệ bàng hoàng xao xuyến. Chúa Giêsu hứa ban sự bình an: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14,27).

Sự bình an của Thầy, không phải là một tâm trạng tâm lý khoan khoái, sung sướng của con người về mặt tâm lý, hay vui sướng vật chất, cũng không phải là không có chiến tranh.

Sự bình an đích thực, mà Chúa Giêsu trao ban, chính là một ân huệ lớn lao đến từ nơi Chúa Cha.

Ân huệ này chính là ơn cứu độ, ơn giải thoát ta khỏi sợ hãi và khỏi nô lệ tội lỗi, khi được sống trong sự thật và trong ánh sáng của Chúa, như cụ Simêôn đã cảm thấy và đã được toại nguyện, nên bộc phát cầu nguyện: “Lạy Chúa, giờ đây, xin để tôi tớ này được ra đi an bình, vì chính mắt con được nhìn thấy ơn cứu độ” (Lc 2,29-30).

Lời hứa “bình an” và hiệu quả của bình an, cũng được Thiên Chúa trao ban cho những người tin, để sống với biết bao biến cố thăng trầm, để vượt qua những lo lắng nho nhỏ hàng ngày, để chiến đấu với những sự việc gây hoảng loạn trong đời sống.

Bình an cũng là niềm hy vọng cho thời đại hôm nay, trên bình diện rộng lớn quốc gia và thế giới, đang trong khủng hoảng và sợ hãi, trước bóng ma của bạo lực, chiến tranh, khủng bố, tranh chấp tôn giáo, chủng tộc, ý thức hệ… Ngôi nhà chung của nhân loại cần bình an của Chúa  như lời hứa của Đức Kitô: “Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

Lạy Chúa, xin ban cho mỗi người chúng con, cho gia đình, cho khu xóm, cho giáo xứ, có được sự bình an đích thực trong tâm hồn. Ðể cuộc sống của chúng con không bị chao đảo, xao xuyến, trước những thử thách khó khăn và được sống trong sự bình an của Chúa. Vì, “Chính Người là bình an của chúng ta” (Ep 2,14).

Lạy Chúa, xin hướng dẫn chúng con luôn bức đi trong sự bình an của Chúa, để chúng con có thể phân định được những nẻo chính đường ngay, để chúng con không bao giờ phải sợ lạc lối. Amen.

---------------------------------------------------

Những sách đã in (30 cuốn):
https://linhmucmen.com/news/kho-sach-quy/nhung-sach-da-in-1654.html

(Bạn muốn có những sách này, hãy chép đường link của sách vào thẻ nhớ hoặc vào USB, đưa cho tiệm Photo, họ sẽ in, chỉ khoảng 15 phút là xong, vì mỗi sách đều đã có sẵn bìa, và mỗi sách không quá 100 trang A5)

I. - Chuyện minh họa Tin Mừng Chúa Nhật: (3 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-minh-hoa-tin-mung/
1. Chuyện người đàn ông say mê quảng cáo - sách 1
2. Chuyện linh mục vào Thiên Đàng - Sách 2
3. Chuyện con két đi khám bác sĩ – Sách 3

II. – Chuyện đời chuyện đạo: (5 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-doi-chuyen-dao/
1. Hãy vui hưởng hạnh phúc ta đang có - sách 1
2. Chuyện đời to và nhỏ - Sách 2
3. Những lời khuyên hữu ích - Sách 3
4. Những chuyện nhỏ mang nhiều ý nghĩa cho cuộc sống - Sách 4
5. Một phép lạ từ một tình thương cho đi - Sách 5

III. - Chuyện kể cho các gia đình: (11 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-ke-gia-dinh/
1. Chuyện người thu thuế và Người biệt phái - sách 1
2. Đừng bỏ cuộc - sách 2
3. Bí quyết hạnh phúc - Sách 3
4. Một chuyện không ngờ thê thảm - Sách 4
5. Đi tìm một bảo hiểm -Sách 5
6. Một mẫu người sống đạo đáng khâm phục - sách 6
7. Yêu là yêu cho đến cùng - Sách 7
8. Những chuyện lạ có thật – Sách 8
9. Một niềm vui bất ngờ - Sách 9
10. Chuyện mẹ ghẻ con chồng - Sách 10
11. Chứng nhân giữa đời thường - Sách 11

IV.- Chuyện lẽ sống: (8 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/chuyen-le-song/
1. Chuyện Chúa Giêsu đi xem bóng đá - Sách 1
2. Tình yêu là sức mạnh vạn năng - Sách 2
3. Ðời là một chuyến đi - Sách 3
4. Căn hầm bí mật - Sách 4
5. Thất bại, là khởi điểm của thành công - sách 5
6. Lịch sử ngày của mẹ - Sách 6
7. Chuyện tình Romeo và Juliet - Sách 7
8. Một cách trả thù độc đáo - Sách 8

V. – Kho sách quý: (3 cuốn)
https://linhmucmen.com/news/kho-sach-quy/
1. Bí mật đầy kinh ngạc về các linh hồn trong luyện ngục – Sách 1
2. Lần hạt mân côi – Thánh Josémaria Escrivá– Sách 2
3. Tiếng nói từ luyện ngục – Sách 3

----------------------------------------------

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Giáo phận long xuyên
Chuyen ke cho cac gia dinh
Chuyện kể cho các gia đình
Báo công giáo
http://www.giaoxugiaohovietnam.com/
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây