Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày
Xếp gọn trong Tuần 18-2026 Thường Niên
Nguồn: https://giaophanlongxuyen.org/
----------------------------------
Mục Lục:
Thứ Hai tuần 18 thường niên năm A - 03/08/2026
Suy Niệm 6: Hãy vững tin vào Chúa
Suy Niệm 7: Tin-nhận Chúa và bước đi bình an
Suy Niệm 8: Chúa đi trên mặt biển
Suy Niệm 9: Chúa Giêsu đi trên mặt nước
Suy Niệm 10: Chúa Giêsu huấn luyện đức tin cho các môn đệ
Suy Niệm 11: Thánh Phêrô đi trên mặt nước đến với Chúa
Suy Niệm 12: Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy
Thứ ba tuần 18 thường niên năm A. – 04/08 Thánh Gioan Maria Vianê
Suy Niệm 2: XÁC THỊT VÀ THẦN KHÍ
Suy Niệm 3: Xác thịt và thần khí
Thứ Tư tuần 18 thường niên 05/08/2026
Suy Niệm 1: Lòng tin của bà lớn thật
Suy Niệm 2: Thiên Chúa xót thương
Suy Niệm 5: Một Con Chó Biết Ơn.
Suy Niệm 6: Nhờ niềm tin của Mẹ mà con được cứu sống
Suy Niệm 7: Niềm tin mãnh liệt
Suy Niệm 8: Niềm tin mạnh mẽ và lòng khiêm tốn
Suy Niệm 9: Sức mạnh của niềm tin
Suy Niệm 10: Tình yêu và lòng tin của người mẹ ngoại giáo
Suy Niệm 11: Lòng tin của bà mạnh thật
Suy Niệm 12: Này bà, bà có lòng tin mạnh
Suy niệm 13: Lòng tin bà mạnh thật
Thứ Năm tuần 18 thường niên – 06/08/2026 CHÚA HIỂN DUNG
Suy Niệm 1. Được biến đổi hình dạng
Suy Niệm 2. Hãy nghe Người 2021
Suy Niệm 10. Vinh quang Phục Sinh
Suy Niệm 11. Xin được chiêm ngưỡng vinh quang Nước Chúa
Suy Niệm 13. “Lạy Thầy chúng tôi được ở đây thì tốt lắm”
Suy Niệm 14. Trông mặt mà bắt hình dong
Suy Niệm 16. Người biến hình trước mặt các ông
Suy niệm 17: Chói lọi như mặt trời
Thứ Sáu tuần 18 thường niên 07/08/2026
Suy Niệm 3: Giá Trị Của Khổ Ðau
Suy Niệm 5: Từ bỏ mình để đi theo Chúa
Suy Niệm 8: Điều kiện phải có để theo Chúa
Suy Niệm 9: Con đường Thập Giá
Suy Niệm 10: Vác Thập Giá mình mà theo
Suy Niệm 11: Người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình
Suy Niệm 12: Điều kiện phải có để theo Chúa
Suy Niệm 13: Lấy gì mà đổi mạng sống
Thứ Bảy tuần 18 thường niên. – 08/08 Thánh Đaminh
Suy Niệm 1: Tại anh em kém tin
Suy Niệm 3: Ðức Tin Rất Cần Thiết
Suy Niệm 5: Kiêu ngạo sẽ thất bại
Suy Niệm 6: Sức mạnh của lòng tin
Suy Niệm 7: Lòng tin lớn bằng hạt cải
Suy Niệm 8: Chúa chữa đứa trẻ bị kinh phong
Suy Niệm 10: Sức mạnh của lòng tin
Suy Niệm 11: Các con mà có lòng tin, thì các con sẽ làm được mọi sự
Suy Niệm 12: Nếu các con có lòng tin, thì chẳng có gì các con không làm được
Suy Niệm 13: Chẳng có gì không làm được
---------------------------------
Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày
Phép lạ Đi trên mặt nước.
"Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi dân chúng đã ăn no, lập tức Chúa Giêsu giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi cầu nguyện một mình. Ðến chiều, Người vẫn ở đó một mình. Còn thuyền thì đã ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió.
Canh tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hồn mà nói rằng: "Ma kìa" và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng. Lập tức, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ". Phêrô thưa lại rằng: "Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy". Chúa phán: "Hãy đến". Phêrô xuống khỏi thuyền bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu. Khi thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: "Lạy Thầy, xin cứu con". Lập tức, Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà nói: "Người hèn tin, tại sao lại nghi ngờ?" Khi cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng.
Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng: "Thật, Thầy là Con Thiên Chúa!" Khi đã sang qua biển hồ, các ngài lên bộ và ghé vào Ghênêsarét. Nhận ra Ngài, dân địa phương liền loan tin đi khắp cả vùng xung quanh, và người ta đem đến cho Ngài hết mọi kẻ ốm đau. Họ nài xin Ngài cho họ rờ đến tua áo choàng của Ngài thôi, và ai đã rờ đến thì đều được chữa lành.
---------------------------------
(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)
Bài Tin Mừng hôm nay là một loạt những kinh nghiệm thiêng liêng.
Có thể chúng ta ít nhiều đều đã có những kinh nghiệm này.
Thầy Giêsu là một nhà giáo nhân từ và cương quyết.
Ngài giáo dục các môn đệ bằng cách đưa họ vào những kinh nghiệm.
Kinh nghiệm bị Thầy bắt buộc phải qua bờ bên kia (c. 22),
dù họ rất muốn ở lại bờ bên này để nếm dư vị của thành công vừa rồi.
Sau phép lạ nhân bánh, người ta định tôn Thầy lên làm vua (Ga 6, 15).
Chỉ cần Thầy gật đầu là trò được chia sẻ tiếng tăm và quyền lực.
Các môn đệ đã bị ép lên thuyền, ngay lập tức, lúc chạng vạng tối.
Kinh nghiệm bị sóng đánh vì ngược gió.
Thuyền đã xa bờ mấy cây số, tiến tới không được, lùi lại cũng không xong.
Vào lúc khó khăn ấy lại không có Thầy ở trong thuyền.
Hầu như suốt đêm các môn đệ phải vất vả chèo chống với sóng gió.
Họ phải tập chiến đấu trong đêm tối khi không có Thầy ở bên.
Họ có nghĩ quyết định của Thầy là sai lầm, vội vã không?
Kinh nghiệm hốt hoảng, sợ hãi và được trấn an.
Mãi đến lúc gần sáng, Thầy Giêsu mới đi trên biển mà đến với các môn đệ.
Ngài đến khi họ chưa thấy rõ mặt Ngài.
Ngài đến vào lúc bất ngờ và đến theo cách bất ngờ, khiến họ khiếp kinh.
Ngài đến đem bình an mà họ tưởng là ma quái đe dọa (c. 26).
Quả thật có những lúc không dễ nhận ra là Chúa đang đến với mình.
Chúa đến làm các môn đệ sợ hãi hơn cả sóng gió.
Nhưng “Cứ yên tâm, chính Thầy đây. Đừng sợ!” (c. 27).
Kinh nghiệm tự đưa mình vào một thách đố của lòng tin.
Một mặt Phêrô vẫn chưa tin trọn vẹn khi nói câu: Nếu quả là Thầy…(c. 28).
Nhưng mặt khác ông lại rất táo bạo khi dám xin ơn đi trên mặt nước.
Ông coi đó là cách thức chắc chắn nhất để biết có phải là Thầy không.
Nếu đúng là Thầy thì Thầy cũng có thể cho mình làm được như Thầy.
Chỉ cần Thầy truyền lệnh là đủ, Phêrô tin như thế.
Kinh nghiệm đi trên mặt nước và kinh nghiệm bị chìm.
Khi được Thầy cho phép, Phêrô đã dám từ thuyền bước xuống biển động.
Và ông đã đi được một quãng không rõ bao xa (c. 29).
Mặt nước cứng như đá hay người ông trở nên nhẹ bổng?
Bây giờ thì đúng là Thầy rồi, chỉ Thầy mới cho mình làm được như Thầy.
Phêrô sung sướng tiến về phía Thầy với lòng tin đang lớn lên.
Nhưng khi gặp gió thổi mạnh thì ông lại sợ, lại hoài nghi, yếu tin.
Ông mất tập trung vào sự hiện diện quyền năng của Thầy và bị chìm.
Người ta có thể bị chìm ngay khi biết Chúa ở trước mặt.
Kinh nghiệm được Thầy nắm tay mà dắt vào thuyền.
Khi Phêrô kêu cứu, Thầy Giêsu đã giữ ông khỏi bị nước nuốt chửng.
Sau đó hẳn hai Thầy trò đã cùng nhau đi trên sóng mà về thuyền.
Khi cả hai lên thuyền thì gió lặng, chẳng cần Thầy phải dẹp yên sóng gió.
Các kinh nghiệm môn đệ vừa trải qua thật kinh khủng và gần gũi với ta.
Buồn bực, sợ hãi, căng thẳng, bình an, nghi ngờ, chới với, hạnh phúc.
Đời Kitô hữu là một chuỗi những kinh nghiệm như thế.
Chúng ta tưởng Chúa bỏ rơi, Chúa vắng mặt, Chúa là ma làm ta sợ hãi.
Đơn giản Chúa là Thầy biết cách làm ta trưởng thành qua kinh nghiệm.
Cuối cùng chúng ta sẽ nhìn nhận: “Quả thật Thầy là Con Thiên Chúa” (c. 33).
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
con chẳng dám xin đi trên mặt nước như Phêrô,
nhưng nhiều khi con cảm thấy
sống đức tin giữa lòng cuộc đời
chẳng khác nào đi trên mặt nước.
Có bao thứ sóng gió đẩy đưa và lôi cuốn.
Có bao cám dỗ muốn hút con vô vực sâu.
Cả sự nặng nề của thân xác con
cũng kéo ghì con xuống.
Đi trên mặt nước cuộc đời chẳng mấy dễ dàng.
Nhiều khi con thấy mình bàng hoàng sợ hãi.
Xin cứu con khi con hầu chìm.
Xin nắm lấy tay con khi con quỵ ngã.
Xin nâng đỡ niềm tin yếu ớt của con,
để con trở nên nhẹ tênh
mà bước những bước dài hướng về Chúa. Amen.
-------------------------------
(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
Thiên Chúa tỏ ra là một nhà giáo dục đại tài: Ngài luôn tôn trọng tư tưởng, dự định của con người, nhưng với thời gian và qua dòng lịch sử, Ngài thanh lọc, kiện toàn những gì không phù hợp với Nước Trời. Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể làm người cũng đi theo đường lối đó, như chúng ta có thể thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.
Sau khi cho dân chúng ăn no, Chúa Giêsu buộc các môn đệ lên đò sang bờ bên kia. Giải tán dân chúng xong, Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện một mình. Các môn đệ vâng lời Thầy ra đi, nhưng có lẽ các ông không được hài lòng. Các ông đã hết sức kiên nhẫn chờ đợi ngày Chúa Giêsu làm vua, cơ hội đó hôm nay đã đến, nhưng Chúa lại từ chối. Không những bỏ lỡ cơ hội, Chúa còn ra lệnh cho các ông lập tức rời bỏ hiện trường. Bất mãn, chán nản và mệt nhọc làm cho các ông ngã lòng. Chúa Giêsu biết rõ tâm trạng của các ông, không những bằng ánh mắt và bằng cả cõi lòng khi Ngài cầu nguyện trên triền núi. Ngài thấy các ông chèo chống ngược với sóng gió và ngược với cả ý muốn. Chính lúc đó, Ngài đi trên mặt biển để đến với các ông. Ngài đã làm như thế để các ông hiểu rằng Ngài có quyền năng trên các tạo vật, Ngài có chương trình của Ngài và Ngài sẽ thực hiện chương trình ấy khi giờ của Ngài đến.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đặt tất cả niềm tin vào quyền năng của Chúa. Ngài có chương trình cho mỗi người chúng ta. Ðiều quan trọng không phải là chúng ta bắt Thiên Chúa làm theo ý chúng ta, để rồi khi không được như ý nguyện, chúng ta tỏ ra buồn phiền, than trách Chúa. Trái lại, chúng ta hãy đặt hết tin tưởng vào Chúa, Ngài vẫn hiện diện để sẵn sàng cứu giúp chúng ta. Hãy phó thác vào quyền năng yêu thương của Ngài và như thế tâm hồn chúng ta sẽ được bình an.
-------------------------------
(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
Biến cố Chúa đi trên mặt biển cũng được tường thuật nơi Phúc Âm thánh Maccô chương 6 và nơi Phúc Âm thánh Gioan chương 6, nhưng nơi Phúc Âm thánh Mátthêu thì có thêm chủ ý hành văn của tác giả và ý định trình bày một cái nhìn. Các nhà chú giải đồng ý có ba phương diện giúp dễ hiểu đoạn Phúc Âm này hơn:
- Bình diện thứ nhất là bình diện của biến cố khi được tường thuật.
- Bình diện thứ hai là bình diện thần học về việc Chúa mạc khải Thần Khí của Người.
- Bình diện thứ ba là ý nghĩa xã hội học của biến cố.
Trước hết, về bình diện tường thuật biến cố thì câu chuyện được kể đơn sơ, dễ hiểu: "Sau biến cố bánh hóa nhiều, Chúa Giêsu truyền cho các tông đồ xuống thuyền sang bờ bên kia. Còn Người thì ở lại giải tán dân chúng, rồi lên núi cầu nguyện. Ðến khuya, Chúa đi trên mặt biển đang bị động để đến với các tông đồ".
Nhưng nếu nhìn biến cố trong viễn tượng việc Chúa mạc khải chính mình thì biến cố mang một đặc điểm mới. Chúa Giêsu có quyền trên mọi biến cố thiên nhiên. Câu nói của Chúa: "Thầy đây, đừng sợ!" nhắc lại công thức Thiên Chúa mạc khải chính mình bằng lời quả quyết: "Ta là Ðấng Ta là".
Ý nghĩa xã hội học được trình bày qua hình ảnh con thuyền tượng trưng cho Giáo Hội Chúa. Thuyền gặp bão, Giáo Hội Chúa gặp thử thách. Nhưng Chúa Giêsu không để cho các tông đồ một mình chống lại với bão táp, không thể để cho Giáo Hội một mình gặp thử thách: "Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế". Chúa muốn cho các tông đồ luôn kiên trì trong đức tin, đừng lo sợ mê man. Chúa đến với các tông đồ, Chúa đến với Giáo Hội trong cơn thử thách. Chúng ta hãy để cho Chúa đến với chúng ta và hiện diện với chúng ta mãi mãi.
Lạy Chúa, Ðấng đã kêu gọi mọi người "Ðừng sợ".
Xin thương củng cố đức tin chúng con trong những lúc gặp gian nan thử thách.
-------------------------------
Thấy Người đi trên mặt biển các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi la lên. Đức Giêsu liền bảo các ông: “Cứ yên tâm chính Thầy đây đừng sợ!” Ông Phê-rô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” Đức Giêsu bảo ông: “Cứ đến!” Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” (Mt. 14, 26-30)
Phêrô
Mọi chú ý đổ dồn vào một nhân vật: Phêrô. Ông là tông đồ thứ nhất. Ông nói, làm nhân danh các bạn khác. Hơn nữa, ông là người thứ nhất trong các kẻ tin. Ông tỏ vẻ rất linh hoạt và diễn xuất niềm tin xuất sắc. Ông mạnh mẽ và hiên ngang tuyên bố những lời kêu gọi và lôi cuốn con người. Đó là khát vọng sâu xa hướng về mình, ở bên mình, ở với mình. Đó là bước đường dẫn tới hố sâu vì được người ta tin cậy và yêu mến. Thế rồi, khi lòng tin cậy yếu đuối, lập tức kéo theo sự mất sức căn bản và những nguy khốn tứ bề ập tới làm mình run sợ mất lòng trông cậy. Lúc đó mình là mồi ngon cho các thế lực đe dọa, nếu mình không tìm ngay đến bàn tay của Thầy đến cứu vớt. Có lòng trông cậy, có lòng tin, nhưng quá hèn mọn, quá yếu ớt thì đừng bo bo cậy mình. Chỉ có đức tin vô điều kiện mới mong dẫn dắt các bạn một cách chân chính mà thôi. Điều xảy ra với tông đồ thứ nhất là Phêrô, luôn là gương mẫu cho tất cả những kẻ tin tưởng.
Giáo Hội
Giáo hội toàn thể luôn luôn ở trước tôn nhan Đức Giêsu. Giáo hội đã được bảo đảm thắng vượt mọi gian nan thử thách, có đủ khả năng thoát khỏi mọi nguy biến. Giáo hội biết mình được bảo đảm không bao giờ bị đắm chìm tan biến theo chiều dài của lịch sử ở điều kiện nắm vững đức tin.
Một đức tin đơn sơ
Những câu cuối cùng của đoạn Tin mừng này nhắc nhở chúng ta bài học về Phêrô bước đi trên mặt biển: một bài học về đức tin đơn sơ, không giải thích. Một đức tin biểu lộ bằng cử chỉ, bằng chỉ cần động đến gấu áo Chúa, nhưng đã diễn tả mọi rung động của con tim. “Nếu anh không trở nên trẻ nhỏ…”. Nếu đức tin không như thế, chúng ta phức tạp hóa đức tin của chúng ta, đức tin sẽ mất sức mạnh, mất sức sống! Ước chi chúng ta hãy hết lòng nói với Chúa: “Lạy Chúa, con tin”.
JM
-------------------------------
Xem lại CN 19 TN A, CN 6 PS C,
lễ Cung Hiến Đền Thánh Phê-rô và Phao-lô, ngày 18 tháng 11.
Trong cuộc sống, nơi xã hội hôm nay luôn có những bất trắc. Nào là chuyện “cá lớn nuốt cá bé”; hay “ma mới bắt nạt ma cũ”; hoặc “chân lý thuộc về kẻ mạnh”. Một xã hội như thế, người ta lấy thước đo để đánh giá vấn đề, sự kiện... dựa vào tiền và quyền... Vì thế, không lạ gì khi vẫn còn đó tình trạng áp bức, bất công với người lương thiện và thấp cổ bé họng!
Đứng trước thực trạng ấy, chúng ta không thể không đặt ra câu hỏi: “Thiên Chúa ở đâu?”; “Ngài có thực sự hiện hữu không?”; “Nếu có, tại sao lại có chuyện con người thay Trời hành đạo như vậy?”.
Hôm nay, bài Tin Mừng tường thuật việc các môn đệ đang trên thuyền để đi sang bờ bên kia. Trong lúc các ông trèo thuyền ra xa, thì gió lớn nổi lên, khiến các ông lo sợ. Đúng lúc đó, Đức Giêsu hiện đến mà các ông không nhận ra Ngài. Vì thế, trong cơn hốt hoảng, các ông đã la lên: “Ma đấy”. Thấy vậy, Ngài đã trấn an các ông và nói: "Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!". Tuy nhiên, chưa tin và vẫn còn nghi ngờ, nên Phêrô đã thử liều một phen mang tính thách thức: "Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài".
Sự kiện Đức Giêsu đi trên mặt biển để đến với các môn đệ và việc cho Phêrô đi trên mặt nước với Ngài giúp cho chúng ta hiểu rằng: Chúa vẫn luôn còn đó trong cuộc đời. Mọi khó khăn thử thách, Ngài luôn có mặt, chỉ có điều chúng ta có một đức tin đủ mạnh để vượt qua mọi khó khăn và có đủ độ nhạy bén để nhận ra Ngài hay không mà thôi!
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay dạy cho chúng ta bài học: nếu có niềm tin và tín thác vào Chúa trong sự khiên tốn thì sẽ được Chúa thương.
Mong sao trong mọi hoàn cảnh, chúng ta hãy nhớ đến câu nói của Đức Giêsu khi xưa: "Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!".
Lạy Chúa Giêsu, cuộc đời của chúng con nhiều khi hoang mang và sợ hãi chẳng kém các môn đệ của Chúa là bao! Nhưng như các môn đệ, các ngài đã tin vào Chúa và được Chúa cứu, thì xin cũng ban thêm đức tin cho chúng con, để chúng con cũng được Chúa thương như các môn đệ khi xưa. Amen.
Ngọc Biển SSP
--------------------------------
(TGM Giuse Nguyễn Năng)
Sứ điệp: Giữa biển đời sóng gió, Chúa Giêsu vẫn hiện diện bên ta dù ta không thấy. Sự hoài nghi làm ta sợ hãi và chìm xuống biển sâu. Còn lòng tin sẽ giúp ta nhận ra Chúa và bước đi trong bình an.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, chẳng bao giờ Chúa bỏ các tông đồ một mình trong sóng gió. Chúa luôn có mặt chính lúc các ngài đang gặp thử thách. Chúa đến củng cố niềm tin các ngài: “Cứ yên tâm Thầy đây, đừng sợ”.
Lạy Chúa, hôm nay con nhớ đến Giáo Hội đang gặp những cơn sóng gió, những khủng hoảng, đang phải đương đầu với nhiều thế lực, những quyền bính, những phong trào: tất cả như những đợt sóng vùng lên đòi nhận chìm Chân Lý.
Con cũng nhớ đến những khủng hoảng của loài người trong xã hội hôm nay. Khủng hoảng của gia đình và của chính bản thân con. Chúng con đang bị vật nhào giữa biển đời đầy bất công, hận thù, đang quay cuồng trong dòng sông gian nan vất vả, và linh hồn con đang thoi thóp giữa cơn sóng gào tội lỗi.
Lạy Chúa, con vẫn tin tưởng Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng con. Xin Chúa đến nâng đỡ để chúng con đi trọn hành trình trần gian trong bình an của Chúa. Xin Chúa yên ủi và giúp chúng con vượt qua những đau khổ, nhất là những người không còn được xã hội quan tâm. Xin cho chúng con nhận ra Chúa vẫn ở bên chúng con và cho chúng con biết tin tưởng vào tình yêu Chúa luôn mãi. Niềm tin sẽ là sức mạnh và bình an luôn mãi cho con. Amen.
Ghi nhớ: “Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy”.
--------------------------------
(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)
Sau khi cho dân chúng ăn no, Chúa Giêsu bảo các môn đệ xuống thuyền để sang bờ bên kia. Còn Người thì lên núi cầu nguyện. Thuyền các ông ra giữa biển, bỗng gió lớn nổi lên... Lúc gần sáng, Chúa đi trên mặt nước đến với các môn đệ. Các ông thấy Người thì hoảng sợ tưởng là ma. Người bảo: “Thầy đây, đừng sợ!” Nhưng Phêrô cũng còn hoài nghi nên thưa: “Nếu thật là Thầy, xin cho con đi trên nước mà đến với Thầy”. Chúa bảo ông đi. Nhưng đi một đỗi, ông thấy sóng gió thì sợ nên bị chìm xuống. Ông hoảng hốt xin Chúa cứu giúp. Chúa liền giơ tay nắm lấy ông và trách sao ông kém lòng tin, nếu ông tin Chúa vững vàng thì ông khỏi bị chìm trong nước. Các môn đệ thấy vậy thì tin thật Người là Con Thiên Chúa.
Qua biến cố Chúa Giêsu đi trên mặt biển đến với các môn đệ trong cơn giông tố, chúng ta cần có một số suy nghĩ:
- Đối với Chúa: Việc này không có gì khó khăn, và đối với chúng ta, cũng chẳng có gì là khó hiểu, vì Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là Đấng tạo dựng vũ trụ, chính Ngài cầm quyền trên mọi định luật vật lý, nên việc Chúa đi trên sóng nước không có gì phản khoa học hay vô lý, nhưng lại minh chứng uy quyền Thiên Chúa của Ngài. Các môn đệ hôm ấy nhận thấy tỏ tường: Chúa có quyền trên sóng biển, đi trên sóng nước, truyền cho chúng yên lặng, vì thế, lòng tin của các môn đệ càng gia tăng.
- Đối với chúng ta: Lòng tin của chúng ta còn quá yếu kém, nên chúng ta cần phải cầu xin Chúa rất nhiều. Đứng trước cuộc đời đầy đau khổ, chúng ta chẳng khác nào con thuyền bập bềnh trên mặt biển đầy sóng gió. Chúa vẫn có ở đó và chờ đợi để đưa cánh tay đỡ lấy chúng ta. Đứng trước khổ đau của đồng loại, chúng ta lại được Chúa sử dụng như những chiếc phao ,để cho bao nhiêu người khác được cứu thoát.
- Đối với Giáo hội: Giáo hội được tượng trưng như con thuyền. Thuyền gặp bão, Giáo hội Chúa gặp thử thách, nhưng Chúa Giêsu không để cho các Tông đồ một mình chống lại với bão táp, không thể để cho Giáo hội một mình gặp thử thách: “Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Chúa muốn cho các Tông đồ luôn kiên trì trong đức tin, đừng lo sợ mê man. Chúa đến với các Tông đồ, Chúa đến với Giáo hội trong cơn thử thách. Chúng ta hãy để cho Chúa đến với chúng ta và hiện diện với chúng ta mãi mãi.
Chúng ta hãy coi Chúa Giêsu giáo dục đức tin cho Phêrô và các Tông đồ: ban đầu Ngài để cho các Tông đồ bị bão biển doạ (cũng như để Phêrô bị chìm xuống). Khi các ông sợ, các ông nghĩ tới Chúa. Cuối cùng Ngài ra tay cứu giúp. Kết quả là các ông tin vào Ngài: “Thật, Ngài là Con Thiên Chúa”.
Thánh Phêrô Đamianô viết: ”Giữa cuộc đời sóng gió, Chúa Giêsu vẫn ở bên ta, dù ta không thấy. Sự hoài nghi làm ta sợ hãi và chìm xuống biển sâu; còn lòng tin sẽ giúp ta nhận ra Chúa và bước đi trong bình an”.
Việc Chúa Giêsu đi trên mặt biển đến với các môn đệ và Người cho Phêrô đi trên mặt nước giúp chúng ta hiểu rằng: Chúa vẫn luôn hiện diện trong cuộc sống. Trong mọi khó khăn thử thách, Người luôn ở bên ta, chỉ có điều là chúng ta có đức tin đủ mạnh và lòng yêu mến đủ lớn, để có thể mau mắn nhận ra và kêu xin Người cứu giúp hay không mà thôi.
Trong cuộc sống, nơi xã hội hôm nay luôn có những bất trắc. Nào là chuyện “cá lớn nuốt cá bé’, hay “ma cũ bắt nạt ma mới” hoặc “chân lý thuộc về kẻ mạnh”. Một xã hội như thế, người ta lấy thước đo để đánh giá vấn đề, sự kiện... dựa vào quyền và tiền... Vì thế, không lạ gì vẫn còn đó tình trạng áp bức, bất công với người lương thiện và thấp cổ bé miệng!
Đứng trước tình trạng ấy, chúng ta không thể không đặt câu hỏi: “Thiên Chúa ở đâu?”, “Ngài có thực sự hiện hữu không?”; “Nếu có, tại sao lại có chuyện con người thay Trời hành đạo như vậy”.
Sự kiện Đức Giêsu đi trên mặt biển để đến với các môn đệ và việc cho ông Phêrô đi trên mặt nước đến với Ngài giúp chúng ta hiểu rằng: Chúa vẫn luôn còn đó trong cuộc đời. Mọi khó khăn thử thách, Ngài luôn có mặt, chỉ có điều chúng ta có một đức tin đủ mạnh để vượt qua mọi mọi khó khăn và có đủ độ nhạy bén để nhận ra Ngài hay không mà thôi!
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta bài học: nếu có niềm tin vào Chúa trong sự khiêm tốn thì sẽ được Chúa thương (Ngọc Biển).
Truyện: Hãy bám chặt vào Ta
Có người kể: Tối qua, tôi mơ thấy mình đang cầu nguyện, bỗng một luồng sáng xuất hiện; và Chúa Giêsu hiện ra mỉm cười và nói: “Con hãy ngồi trên tấm thảm này với Ta”.
Lòng tràn đầy vui sướng, tôi làm theo ý Ngài. Tấm thảm từ từ bay bổng lên không trung đưa theo Chúa Giêsu và tôi ngồi trên đó. Tôi mỉm cười, lòng đầy vui sướng và tự nhủ: thật không còn gì hạnh phúc cho bằng được ở gần bên Chúa.
Một lúc sau, tôi quay nhìn Chúa Giêsu để tỏ bày niềm vui: nhưng tim tôi bắt đầu đập mạnh vì Ngài không còn bận tâm gì đến tôi nữa, bởi lẽ Ngài đang chăm chủ rút từng sợi chỉ của tấm thảm thả cho nó bay lơ lửng ở trên không trung. Hết sợ chỉ này đến sợi chỉ khác từ từ bay lên theo gió. Chân tay tôi bắt đầu run lên vì hoảng sợ, thế mà Chúa Giêsu vẫn thản nhiên tiếp tục rút từng sợi chỉ. Sau cùng tôi kêu lên: “Lạy Chúa, Chúa làm gì thế? Chúa không thấy là chẳng còn mấy chốc nữa tấm thảm sẽ tan tành hay sao?”
Chúa Giêsu mỉm cười nắm tay tôi và nói: Sao con nhát đảm và kém tin thế? Hãy bám chặt vào Ta, con sẽ không sợ gì, dù có bị tước đoạt mọi sự, cả đến sợi chỉ cuối cùng đi nữa”.
Chúa Giêsu vừa dứt lời, thì quả thực sợi chỉ cuối cùng của tấm thảm cũng bị rút đi luôn và tôi giật mình thức giấc.
--------------------------------
(Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)
Phân tích
Chuyện xảy ra sau phép lạ hóa bánh ra nhiều:
1. Chúa Giêsu “bắt buộc” các môn đệ phải xuống thuyền ngay, để sang bờ bên kia trước, còn Ngài thì ở lại cho dân chúng ra về. Một sự khẩn trương, vội vã, có vẻ như đang đứng trước một nguy hiểm. Tại sao? vì sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, dân chúng đã quá hăng hái, một sự hăng hái trần tục vì thấy mình được hưởng thụ vật chất. Sự hăng hái này không hợp với sứ mạng Messia của Chúa Giêsu. Ngài không muốn cho sự hăng hái lệch lạc này tác động lên các môn đệ, và vội vã bảo các ông sang ngay nơi khác.
2. Chúa Giêsu đi trên mặt nước: Cựu ước nhiều lần nói về việc đi trên mặt nước ( G 9, 8- 38, 16; Tv 77, 20; Kb 3, 15; Si 24, 5) nhưng đều gán vào cho Thiên Chúa. Vậy với chi tiết Chúa Giêsu đi trên mặt nước, Mátthêu ngụ ý so sánh Chúa Giêsu với Thiên Chúa.
3. Phêrô đi trên mặt nước: So sánh với 2V 2, 1-55: Ngôn sứ Êlia dùng áo choàng đập xuống nước, nước rã làm hai cho ông đi qua. Về sau Êlisê dùng tấm áo choàng của Thầy Êlia của mình mà đập xuống nước, nước cũng rẽ làm hai cho Êlisê đi qua. Nghĩa là Êlisê đã nhận được thần lực của Thầy mình, nhưng có điểm khác biệt là: Êlisê nhận thần lực qua một vật dụng là tấm áo, còn Phêrô nhận thần lực của Thầy chỉ nhờ đức tin. Một trong những tư tưởng thần học của Mátthêu là người môn đệ được Thầy ban cho cùng quyền lực như Thầy. Hãy xem 9, 6 - 9, 8 - 10, 1 - 16, 19 - 18, 18. Nhưng điều đáng lưu ý là các môn đệ nhận được quyền lực của Thầy nhờ đức tin.
4. Phêrô sợ, nên bị chìm. Ông xin Chúa Giêsu cứu thì được Ngài cần tay nâng lên. Qua việc này Chúa Giêsu muốn huấn luyện cho các môn đệ (mà Phêrô là đại diện) để giúp họ tiến bước dần trên cuộc hành trình đến đức tin.
Suy gẫm
1. Tin Mừng Gioan cho biết thêm là sau khi hóa bánh ra nhiều, dân chúng muốn tôn Chúa Giêsu lên làm vua. Chúa Giêsu không muốn các môn đệ mình lây nhiễm các quan niệm về Đấng Messia lệch lạc ấy nên buộc họ vội vàng rời khỏi nơi đó. Chúa Kitô không muốn người ta coi Chúa như một Đấng chỉ ban cơm bánh. Chúa không muốn người ta đến với Ngài chỉ để xin những ơn vật chất.
2. Chúng ta hãy coi cách Chúa Giêsu giáo dục đức tin cho Thánh Phệrô và các tông đồ: Ban đầu Ngài để cho các tông đồ bị bão biển đe dọa (cũng như Phêrô bị chìm xuống). Khi các ông sơ, các ông nghĩ tới Chúa. Cuối cùng Ngài ra tay cứu giúp, kết quả là các ông tin vào Ngài “Thật, Thầy là con Thiên Chúa”.
Nhiều khi xem ra Chúa bỏ mặc chúng ta trong những hoàn cảng khó khăn. Nhưng đó chính là cách Chúa giáo dục đức tin cho chúng ta. Do đó đừng hoảng sợ, cũng đừng nản lòng. Hãy kêu lên Chúa như Phêrô xưa: “Lạy Thầy, xin cứu con”.
3. Có một bà nổi tiếng là đạo đức, nhân hậu và luôn bình tâm trước mọi thử thách. Một bà khác ở cách xa ít dặm, nghe nói thì tìm đến, hy vọng học được bí quyết để sống bình tâm và hạnh phúc. Bà hỏi: “Thưa bà, có phải bà có một đức tin lớn lao?” “Ồ không, tôi không phải là người có một đức tin lớn lao, mà chỉ là người có một đức tin nhỏ bé đặt vào một Thiên Chúa lớn lao.”
4.”Sau khi giải tán đám đông, Người lên núi và cầu nguyện chiều đến Ngài vẫn ở đó một mình”. (Mt14, 23).
Con thường thấy mình không có giờ cầu nguyện, không có giờ đi vào sa mạc để ở bên Chúa và trò chuyện với Chúa. Nhưng thật ra sa mạc ở sát bên con, chỉ cần một chút cố gắng của Tình yêu là con có thể tạo ra sa mạc. Mỗi ngày con có biết bao nhiêu giây phút có thể gặp Chúa mà con đã bỏ mất. Khi chờ một người bạn, chờ đèn xanh ở ngã tư, chờ điện thoại trả lời, chờ món hàng đang được gói. Khi lên cầu thang, khi đến nơi làm việc, khi bị kẹt xe, khi cúp điện bất ngờ, thay vì bực bội nóng ruột con lại cảm thấy mình sống an bình trong sự hiện diện của Chúa. Lạy Chúa, những sa mạc ngắn ngủi hằng ngày giúp con tỉnh thức để nhạy cảm với Chúa. Xin cho con yêu mến Chúa hơn, để tìm ra những sa mạc mới và vui vẻ bước vào.
5. Chúa liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi” (Mt14, 31).
Trong cuộc sống Kitô hữu, Đức tin là điều quan trọng. Chúng ta vẫn tin có Chúa, vẫn đi lễ, vẫn rước lễ hằng ngày, làm việc thệc thiện, việc bác ái giúp đỡ người khác; nhưng đôi lúc, chúng ta đã làm những việc đó như một người máy hay theo một thói quen.
Do đó, thật là tồi tệ khi ta gặp phải rủi ro hay thất bại nào…Vì ta đã đối phó bằng cách để Chúa qua một bên, bỏ hết mọi việc từng làm. Dần đần ta không còn giữ được đức tin và lúc này tâm trạng của ta rất giống tâm trạng của Thánh Phêrô khi được Chúa cho đi trên mặt biển. Mỗi người chúng ta thử nhìn xem mình sống đạo ra sao, mình đã thực sự có đức tin chưa? Hay chúng ta tin vì thấy bạn bè mình tin, không tin không được. Hay ta chỉ tin vì được sinh ra trong một gia đình Công giáo.v.v..
--------------------------------
(Lm Giuse Đinh Tất Quý)
1. Phép lạ bánh hóa nhiều hôm qua và đặc biệt phép lạ Chúa đi trên mặt nước hôm nay phải được nhìn như là cách Chúa Giêsu huấn luyện đức tin cho các môn đệ. Thật vậy, họ vừa sững sờ vì phép lạ bánh hóa nhiều, bởi vì chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá, thế mà Chúa đã làm cho hơn năm ngàn người ăn mà còn dư 12 thúng đầy bánh vụn. Phép lạ này làm cho tâm trí họ nhớ lại phép lạ Manna trong sa mạc xưa. Nay đến phép lạ Chúa đi trên mặt nước, họ lại thấy quyền năng Chúa trên vạn vật, và có lẽ họ cũng nhớ lại quyền năng tạo dựng của Thiên Chúa vì thế họ mới tuyên xưng: “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa.” (Mt 14,33).
Ông Phêrô bước xuống đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu. Nhưng khi thấy gió nổi lên thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm xuống, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với.” (Mt 14,30)
Câu chuyện này cho thấy, Chúa thông ban quyền thắng sự dữ cho Phêrô. Nhưng điều này còn tùy thuộc vào lòng tin của ông. Bao lâu còn tập trung tâm trí vào Chúa Giêsu, thì ông khống chế được bão tố của biển khơi là sự dữ, nhưng khi tâm trí rời xa Chúa, ông liền bị chìm ngay.
Bao lâu người Kitô hữu còn tập trung tâm trí vào Chúa Giêsu thì chẳng có gì phải sợ, nhưng một khi đã quay lưng lại với Chúa thì mọi sự sẽ trở nên tồi tệ ngay lập tức.
Có người kể lại giấc mơ của mình như sau: Tối hôm qua, tôi mơ thấy mình đang cầu nguyện, bỗng chốc một luồng ánh sáng xuất hiện; trong ánh sáng huy hoàng đó, tôi nhận ra Chúa Giêsu đang đứng trước mặt tôi, Ngài mỉm cười nhìn tôi và nói:
- Con hãy đến ngồi trên tấm thảm này với Ta.
Lòng tràn đầy vui sướng, tôi tiến lại gần bên Chúa và ngồi xuống trên tấm thảm bên cạnh Ngài. Tấm thảm từ từ bay bổng lên không trung đưa theo Chúa Giêsu và tôi ngồi trên đó. Tôi mỉm cười, lòng đầy vui sướng và tự nhủ: thật không còn gì hạnh phúc cho bằng được ở gần bên Chúa.
Một lúc sau, tôi quay nhìn Chúa Giêsu để bày tỏ niềm vui của tôi; thế nhưng tim tôi thắt lại và bắt đầu đập mạnh, vì tôi có cảm tưởng như Chúa không còn bận tâm gì đến tôi nữa, bởi lẽ Ngài đang chăm chú rút từng sợi chỉ của tấm thảm thả cho nó bay lơ lửng ở trên không trung theo chiều gió. Thế là chẳng mấy chốc tấm thảm chỉ còn lại phân nửa. Hết sợi chỉ này đến sợi chỉ khác từ từ bay. Chân tay tôi bắt đầu run lên vì hoảng sợ, thế nhưng Chúa Giêsu vẫn thản nhiên tiếp tục rút từng sợi chỉ như chẳng có gì xảy ra. Sau cùng tôi kêu lên:
- Lạy Chúa, Chúa đang làm gì thế? Chúa không thấy là chẳng còn mấy chốc nữa tấm thảm của chúng ta sẽ tan tành hay sao?
Chúa Giêsu mỉm cười nắm lấy tay tôi và nói:
- Sao con lại nhát đảm và kém lòng tin như thế? Con hãy bám chặt vào Ta, con sẽ không phải sợ gì nữa, mặc dù con sẽ bị tước đoạt hết mọi sự, cả đến sợi chỉ cuối cùng.
Chúa Giêsu vừa dứt lời, thì quả thực sợi chỉ cuối cùng của tấm thảm cũng bị rút đi và tôi giật mình thức giấc.
2. Vâng, có Chúa thì không có gì phải sợ nhưng làm sao để lúc nào chúng ta cũng có thể cảm nhận được Chúa luôn ở với chúng ta?
Nhà hiền triết Uddalaka muốn dạy cho đứa con của ông là Svetalefu biết cách nhận ra Đấng Duy Nhất qua muôn vàn dáng vẻ của các sự vật. Ông thường dùng những dụ ngôn để dạy con. Một lần kia ông nói với con ông: “Hãy bỏ nắm muối này vào dĩa nước cha đặt ở đây và sáng ngày mai hãy trở lại gặp cha!”
Người con làm đúng theo lời cha anh dạy. Hôm sau, cha anh bảo:
- Con hãy lấy cho ta nắm muối hôm qua con bỏ vào trong nước.
- Thưa cha, con không thể làm được vì muối đã tan trong nước hết rồi. Người con nói.
- Vậy con hãy nếm dĩa nước đó bắt đầu từ mép bên phải qua mép bên kia xem con thấy mùi vị gì?
- Muối.
- Bây giờ, con hãy nếm phía mép kia của cái dĩa xem con thấy mùi vị gì?
Uddalaka nói.
- Muối.
- Hãy phơi cái dĩa ra ngoài nắng đi. Người cha nói.
Người con làm y như thế và nhận thấy rằng, sau khi nước bốc hơi, muối lại xuất hiện. Lúc đó Uddalaka bèn nói:
- Con ạ, con không thể nào nhận ra Thiên Chúa ở đây, nhưng thật ra Người luôn có đó.
Thiên Chúa không hiện diện như một ảo ảnh hay một bóng ma. Ngài luôn sẵn sàng đưa cánh tay ra để nâng đỡ mỗi khi con người nao núng vấp ngã. Thánh Phêrô đã thực sự cảm nghiệm được bàn tay cứu độ của Chúa, khi ngài sắp chìm xuống vực sâu. Chính vì thế mà Chúa muốn chúng ta phải luôn tin tưởng vào Chúa.
Lạy Chúa, thật sự con là kẻ yếu lòng tin. Xin Ngài hãy đến với con, giúp cho con biết bám chặt vào Chúa mỗi khi con gặp thử thách. (Hosanna).
---------------------------------
(Lm. Micae Võ Thành Nhân)
Từ xưa đến nay, chẳng hề bao giờ có một người nào đi trên mặt nước như đi trên đất liền, chỉ có một người duy nhất đi được mà thôi, đó chính là Chúa. Giữa canh tư đêm tối và sóng to gió lớn, các tông đồ phải vất vả chèo chống con thuyền để con thuyền khỏi bị đánh chìm. Trong lúc đó, Chúa đi trên mặt biển để đến với các ngài.
Chúa đến với các ngài trong lúc các ngài gặp gian nan, hiểm nguy như vậy, thay vì vui mừng, nhưng các ngài lại bảo là ma kìa. Điều này cho chúng ta thấy các tông đồ hoảng loạn, sợ hãi, không còn một chút tâm trí bình tĩnh để nhận ra Chúa, để kêu xin Chúa giúp đỡ mình.
Biển là biểu hiện cho trần gian mà con người chúng ta đang sống, một trần gian với bao gian khổ, hiểm nguy, trắc trở, khó khăn, cơ cực và những điều này nó còn nhân lên gấp bội phần khi có ngoại cảnh tác động (Sóng to gió lớn dồn dập thổi tới), vì thế mà chúng ta mới nói: Khó khăn chồng chất khó khăn, hiểm nguy chồng chất hiểm nguy, cơ cực chồng chất cơ cực, đau khổ chồng chất đau khổ…Chúa đi trên mặt biển trong hoàn cảnh canh tư đêm tối đầy sóng to gió lớn, tức là chỉ mỗi một mình Chúa mới vượt lên được nghịch cảnh, mới đứng vững trước gian nan, thử thách, hiểm nguy, mới thắng được sự chết. Chúng ta thấy rất rõ điều này nơi thư thánh Phaolô tông đồ gởi tín hữu Philípphê: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người, ban mọi quyền năng cho Người …” (Pl 2, 6 – 11), và cũng chỉ có Chúa mới tha cho những người giết chết Chúa: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34), để rồi từ đó có vô số con người chúng ta noi gương Chúa sống tha thứ cho nhau. Còn riêng với thánh Phêrô, ngài xin Chúa cho ngài đi trên mặt biển để đến với Chúa, Chúa cho ngài như ý, nhưng sau đó ngài đã bị chìm. Qua đó, chúng ta thấy chẳng ai có thể đứng vững trước hiểm nguy, thử thách, trắc trở…nếu không có Chúa giúp đỡ. Vì thế, chúng ta đừng dựa vào sức mình mà hãy dựa vào Chúa. Và điều đó cũng báo trước sự yếu đuối của thánh Phêrô là ngài chối Chúa ba lần trong cuộc khổ nạn nữa (Mt 26, 57. 69 – 75).
Vì biết mình yếu đuối, nhỏ bé, bất lực trước gian nan, hiểm nguy, khó khăn, cho nên chúng ta hãy bắt chước thánh Phêrô “ Lạy Chúa, xin cứu con “ để Chúa xót thương mà đưa bàn tay Chúa cho chúng ta nắm lấy, và Chúa sẽ dẫn chúng ta vượt qua gian nan thử thách, trung thành với Chúa.
Lạy Chúa, Chúa có quyền trên tất cả mọi sự, trên tất cả sóng nước….không có gì xảy ra trên trần gian này có thể làm cho Chúa ngã quỵ được: “Sóng nước đã gầm lên, lạy Chúa, sóng nước đã gầm lên tiếng thét gào. Sóng nước đã gầm lên long trời, lở đất. Nhưng hơn hằn tiếng nước ngàn trùng, hơn hẳn sóng oai hùng ngoài biển, Chúa oai hùng ngự trị chốn cao xanh” (Tv 93, 3 – 4). Xin Chúa đừng chê bỏ lời cầu xin của chúng con, xin Chúa thương cho chúng con tựa nương vào Chúa để chúng con được bình an trong cuộc sống mà ngợi khen, truyền bá danh Chúa khắp mọi nơi. Amen.
---------------------------------
(Lm. Micae Võ Thành Nhân)
Điều mà Hội Thánh khuyên dạy chúng ta trong các cơn nguy biến là hãy bình tĩnh, không được sợ hãi, không được hốt hoảng, vì khi chúng ta mất bình tĩnh, sợ hãi, hốt hoảng chúng ta sẽ không nhận ra Chúa bên cạnh chúng ta, chúng ta sẽ mất phương hướng, chúng ta sẽ không có cách điều trị thích hợp cho bản thân mình và rồi chúng ta sẽ chết trong nỗi tuyệt vọng, buông xuôi, cô đơn. Hãy lạc quan, tin tưởng, trông cậy vào Chúa để chúng ta vượt qua nỗi sợ hãi của chính mình và rồi chúng ta sẽ chiến thắng tất cả.
Các tông đồ ngày xưa ở trên một chiếc thuyền bé nhỏ lênh đênh giữa biển khơi mênh mông không chỗ nương tựa. Đang khi đó, các ngài phải đối diện với gió lớn ngược chiều và sóng to, con thuyền tròng trềnh, chao đảo tiến lên quá khó khăn vất vả. Các ngài là những ngư phủ chuyên nghiệp đi biển, vậy mà rất sợ hãi. Sợ hãi đến nỗi không còn bình tĩnh để mà nhận ra Chúa đang đi trên mặt biển đến với các ngài nữa, mà các ngài tưởng Chúa là ma kìa: “Khi ấy, Ðức Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán đám đông. Sau khi giải tán đám đông, Người đi riêng lên núi mà cầu nguyện. Chiều đến, Người vẫn ở đó một mình, còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ nhiều dặm, bị sóng đánh vì ngược gió. Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi la lên” (Mt 14, 22 – 26).
Đàng khác, cả thánh Phêrô lúc này xin Chúa đi trên mặt biển để đến với Chúa, Chúa đồng ý, vậy mà khi thấy gió mạnh quá, ngài cũng hoảng sợ vì sắp bị chìm nên la lên xin Chúa cứu mình với: “Ông Phêrô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”. Ðức Giêsu bảo ông: “Cứ đến!” Ông Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Ðức Giêsu. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” Ðức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi? ” (Mt 14, 27 – 31).
Các tông đồ sợ hãi (sợ chết, sợ ma…). Cái sợ này còn lớn hơn lời trấn an của Chúa. Do đó, nó đã làm cho các ngài mất ý chí, mất phương hướng, không còn nhận ra Chúa. Chúa biết nỗi sợ đó cho nên Chúa nói: “Hãy yên tâm,Thầy đây, đừng sợ” và rồi khi Chúa lên thuyền, sóng yên biển lặng (Mt 14, 27, 32).
Nguyên nhân của sự sợ hãi này mà như Chúa nói là: “Người hèn tin, tại sao mà nghi ngờ?” (Mt 14, 31). Các tông đồ theo Chúa, có Chúa bên cạnh mà còn kém lòng tin thì huống hồ là chúng ta. Vì thế, chúng ta cầu xin Chúa cho chúng ta luôn vững tin vào Chúa dù trong bất cứ hoàn cảnh nào của cuộc sống. Chúng ta cầu xin Chúa cho những anh chị em đang gặp các nguy khốn luôn vững tin, cậy trông vào Chúa để xin Chúa cứu chữa.
Lạy Chúa, đức tin chúng con còn non yếu lắm, dễ bị sụp đổ khi gặp thử thách, nghiệt ngã. Xin Chúa hãy luôn nói với chúng con như xưa Chúa đã nói với các tông đồ: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ” (Mt 14, 27) để chúng con an tâm bước theo Chúa cho đến cùng. Amen.
---------------------------------
(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)
Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Thánh Gioan Maria Vianê hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã làm cho thánh linh mục Gioan Maria nên một tấm gương tuyệt vời về lòng tận tụy hy sinh của người mục tử. Vì lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, xin Chúa cho chúng ta hằng noi theo lòng bác ái của người, mà cố gắng đem nhiều anh em về với Đức Kitô, để muôn đời cùng nhau hưởng nguồn vinh phúc. Thánh nhân sinh năm 1786 tại Lyông. Được giao làm cha sở họ Ácxơ, giáo phận Benle. Người quả là vị mục tử gương mẫu: hoàn toàn lo việc loan báo Lời Thiên Chúa, giải tội, cầu nguyện và hãm mình. Có nhiều lúc, khuôn mặt người rạng rỡ khác thường, nhờ tình yêu bắt nguồn từ bí tích Thánh Thể mà người đem hết lòng sốt sắng để vừa cử hành, vừa thờ phượng. Người qua đời năm 1859.
Tận tụy hy sinh đem nhiều người về với Đức Kitô: cầu nguyện cho nhau và khuyên nhủ nhau, như trong Bài đọc 1 Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Amốt: Các thị kiến báo trước các hình phạt. Amốt hoàn toàn không phải là kẻ thù của dân ông. Hai lần nhờ lời ông cầu nguyện mà dân được Chúa cứu độ, nhưng, cuối cùng, những lời nguyền rủa của ông đã làm cho các đại diện chính thức của dân hùa nhau chống lại ông… Đức Chúa là Chúa Thượng không làm điều gì mà không tiết lộ kế hoạch của Người cho các ngôn sứ, tôi tớ của Người được biết. Đức Chúa là Chúa Thượng đã phán, ai chẳng nói tiên tri? Tôi đang đi theo sau đàn vật thì Đức Chúa bắt lấy tôi. Người truyền cho tôi: Hãy đi tuyên sấm cho dân Ta.
Tận tụy hy sinh đem nhiều người về với Đức Kitô: kết hợp với Chúa trong cầu nguyện và hết lòng yêu mến Người, như trong Bài đọc 2 Kinh Sách, trích Bài Giáo Huấn của thánh Gioan Maria Vianê: Cầu nguyện và yêu mến: phận sự cao quý của con người… Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta, cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời. Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người.
Tận tụy hy sinh đem nhiều người về với Đức Kitô, sám hối quay về để được Chúa xây dựng lại, như trong Bài đọc 1 Thánh Lễ, trích sách ngôn sứ Giêrêmia: Vì tội lỗi của ngươi quá nặng, mà Ta đã xử với ngươi như thế. Ta sẽ đổi số phận của lều trại Giacóp. Đáp Ca, Tv 101: Bấy giờ chư dân sẽ sợ uy danh Chúa, mọi đế vương hoàn cầu uý kính Ngài vinh hiển. Vì Chúa sẽ xây dựng lại Xion, sẽ xuất hiện quang vinh rực rỡ. Người đoái nghe dân bị bóc lột kêu cầu, chẳng khinh thường lời họ nguyện xin.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ítraen. Trong Bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Cây nào mà Cha của Thầy đã không trồng, thì sẽ bị nhổ đi; không còn phù hợp sẽ được thay thế và kiện toàn. Ngài là Đấng giải thoát con, muôn lạy Chúa, xin đừng trì hoãn. Chúa đã ban cho ta bánh bởi trời, bánh có đủ mọi mùi vị thơm ngon. Vì tội lỗi của ngươi quá nặng, mà, Ta đã xử với ngươi như thế, nhưng, Ta sẽ chạnh lòng thương, và thành sẽ được dựng lại. Chúa sẽ xây dựng lại Xion, con cháu bề tôi sẽ an cư lạc nghiệp, và tại Giêrusalem, mọi nước mọi dân tập trung về để thờ phượng Chúa. Đức Chúa là Chúa Thượng không làm điều gì mà không tiết lộ kế hoạch của Người cho các ngôn sứ được biết: Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời. Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người. Chúa đã làm cho thánh linh mục Gioan Maria nên một tấm gương tuyệt vời về lòng tận tụy hy sinh của người mục tử. Ước gì ta hằng noi theo lòng bác ái của người, mà cố gắng đem nhiều người về với Đức Kitô. Ước gì được như thế!
---------------------------------
Trở nên dơ bẩn.
linh mục.
Bổn mạng các Linh mục.
Lễ nhớ.
"Cây nào Cha Ta không trồng thì sẽ bị nhổ đi".
* Thánh nhân sinh năm 1786 tại Lyon. Sau biết bao khó khăn gian khổ, người làm linh mục và được giao phó nhiệm vụ làm cha sở họ Ars thuộc giáo phận Benle. Người quả là vị mục tử gương mẫu: hoàn toàn lo việc loan báo lời Thiên Chúa, giải tội, cầu nguyện và hãm mình. Có nhiều lúc, khuôn mặt người rạng rỡ khác thường, nhờ tình yêu bắt nguồn từ bí tích Thánh Thể mà người đem hết lòng sốt sắng để vừa cử hành, vừa thờ phượng. Người qua đời năm 1859.
---------------------------------
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy có những luật sĩ và biệt phái từ Giêrusalem đến gặp Chúa Giêsu mà nói: "Sao môn đệ ông không giữ tập tục của tiền nhân? Vì họ không rửa tay khi dùng bữa".
Và Người gọi dân chúng lại mà bảo: "Các ngươi hãy nghe và hãy hiểu lấy: Không phải cái gì vào trong miệng mà làm cho người ta ra dơ nhớp đâu, nhưng cái từ miệng phát xuất ra cái đó mới làm cho người ta ra dơ nhớp". Bấy giờ các môn đệ của Người tiến lại thưa với Người rằng: "Thầy có biết các người biệt phái lấy làm chướng tai khi nghe Thầy nói lời đó không?" Người đáp lại rằng: "Tất cả cây nào Cha Ta trên trời đã không trồng, thì sẽ bị nhổ đi. Các con hãy để mặc chúng: chúng là những người mù dẫn dắt những người mù. Mù mà dẫn mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố".
---------------------------------
(Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.)
Suy niệm:
Do Thái giáo coi trọng những nghi thức thanh tẩy bằng nước.
Aharon và các tư tế con của ông, trước khi tiến đến bàn thờ để dâng lễ,
phải rửa tay chân bằng nước đựng trong một cái vạc đồng.
“Họ sẽ tẩy rửa tay chân để khỏi phải chết. Đó là điều luật vĩnh viễn
cho Aharon và dòng dõi ông qua muôn thế hệ” (Xh 30, 20-21).
Khi khám phá ra những di tích ở Qumran, phía tây bắc Biển Chết,
người ta thấy có nhiều hồ tắm (mikvah) được đào dưới lớp đất sét giữ nước.
Cộng đoàn những người sống ở đây coi việc tắm rửa hằng ngày tại hồ
như một nghi thức thanh tẩy không thể thiếu trong cuộc sống của họ.
Bài Tin Mừng hôm nay bàn đến chuyện thanh tẩy trước khi ăn.
Nhóm Pharisêu trách Đức Giêsu vì môn đệ Ngài không rửa tay khi dùng bữa.
Thật ra trong Kinh Thánh Cựu Ước chẳng có luật nào dạy như vậy.
Người Pharisêu đã dựa trên một truyền thống truyền khẩu có từ thời ông Môsê.
Họ coi truyền thống tiền nhân này cũng ràng buộc chẳng khác nào Kinh Thánh.
Đức Giêsu nặng lời vì họ đặt truyền thống của mình lên trên Lời Chúa (cc. 3-9).
Khi để ý chi li những điều bên ngoài để giữ cho mình khỏi bị ô uế,
họ xao lãng việc để ý đến cái ô uế bên trong con người.
Khi nói với đám đông, Đức Giêsu nhắc họ hãy nghe và hiểu cho rõ (c. 10).
“Không phải cái vào trong miệng làm ô uế con người,
Nhưng cái ra từ miệng, cái đó mới làm con người ô uế” (c. 11).
Cái ra từ miệng lại là cái trào ra tự nhiên từ trái tim, từ cái tâm.
“Lòng có đầy thì miệng mới nói ra” (Mt 12, 34).
“Cái ra từ miệng là cái đến từ tim, chính cái ấy làm con người ô uế ” (c. 18).
Đức Giêsu mời chúng ta để ý hơn đến sự ô uế trong lời nói,
từ đó khám phá ra cái tâm ô uế của mình.
Thanh tẩy lời nói và cái tâm thì quan trọng hơn và khó hơn rửa tay.
Trong thánh lễ, vị linh mục rửa tay trước khi đọc Kinh Nguyện Thánh Thể.
Ngày nay, khi cử hành lễ Vượt Qua, người Do Thái có nghi thức rửa tay (rachaz).
Lúc rửa tay, họ cầu nguyện: “Lạy Chúa, chúc tụng Chúa là Vua vũ trụ,
là Đấng đã thánh hóa chúng con bằng các điều răn
và đã ra lệnh cho chúng con tuân giữ luật rửa tay.”
Tôn giáo nào cũng cần có những nghi lễ, luật lệ, truyền thống, phụng tự.
Làm thế nào để tất cả những điều ấy không chỉ ngừng lại ở bên ngoài
nhưng là những phương thế giúp con người thay đổi nội tâm cách sâu xa?
Thế giới hôm nay bị trái tim và miệng lưỡi con người làm nó ô uế.
Kitô hữu được sai vào thế giới để giúp nó trở lại sự trong sạch nguyên thủy.
Có cách nào thanh tẩy được thế giới tôi đang sống không?
Cầu nguyện:
Như đóa sen trong đầm lầy,
xin giữ tâm hồn con thanh khiết.
Giữa một thế giới đầy hình ảnh vẩn đục,
xin gìn giữ mắt con.
Giữa một thế giới tôn thờ khoái lạc,
xin dạy con biết trân trọng thân xác.
Giữa một thế giới bị ám ảnh bởi tình dục,
xin thanh lọc trí tưởng tượng của con.
Xin nâng con lên cao
vượt qua những thèm muốn chiếm đoạt,
để biết tự hiến trong yêu thương.
Xin đừng để con phung phí sức lực
vào những chuyện tình cảm chóng qua,
nhưng giúp con tự rèn luyện mình
để gánh vác cuộc sống Chúa mời gọi.
Như đóa sen trong đầm lầy,
xin giữ thân xác con thanh khiết.
---------------------------------
(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)
My-ri-am đối đầu với Mô-sê. Về phương diện con người thì My-ri-am chiếm ưu thế ở 3 điểm. Về xã hội: Tập tục không cho phép người Do thái kết hôn với ngoại kiều, thế mà Mô-sê đã cưới một người xứ Cút. Về gia đình: My-ri-am là chị cả trong gia đình và Mô-sê phải vâng lời bà. Về cá nhân: My-ri-am là ân nhân cứu mạng Mô-sê và chăm sóc ông từ bé. Thế nhưng Chúa lại cho rằng My-ri-am đã đối đầu với Chúa vì dám xúc phạm đến Mô-sê là tôi tớ của Chúa. Hơn nữa, bà ghen tị vì Mô-sê được Chúa gặp trực tiếp. Đó chính là cuộc đối đầu giữa xác thịt và Thần Khí. My-ri-am đã để cho tính ghen tức xác thịt bùng nổ nên nói xấu Mô-sê. Mô-sê là người của Thần Khí vì ông tràn đầy ơn Chúa và ông cư xử theo Thần Khí, hiền lành khiêm nhường không đối đáp lại My-ri-am (năm lẻ).
Tin Mừng cũng tường thuật lại cuộc đối đầu giữa nhóm Pha-ri-sêu và Chúa Giê-su. Pha-ri-sêu cũng vận dụng tập tục tiền nhân để chống lại Chúa Giê-su. Họ cũng tự cho mình có quyền giảng dậy và cắt nghĩa lề luật để dậy dỗ Chúa và các môn đệ. Cuối cùng họ cũng bộc lộ tính xác thịt, chống lại Chúa vì ghen tức với Chúa. Chúa Giê-su cho biết ai sống theo xác thịt sẽ đi vào chỗ chết: “Cây nào mà Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời không trồng, thì sẽ bị nhổ đi. Cứ để mặc họ. Họ là những người mù dắt người mù. Mù mà lại dắt mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố”. Bà My-ri-am lập tức bị phong cùi, tức là đi vào đất kẻ chết.
Sống theo xác thịt sẽ chết theo xác thịt. Như Chúa nói với Giê-rê-mi-a: “Không ai biện hộ cho vụ kiện của ngươi…Mọi nhân tình của ngươi đều quên ngươi hết, chúng không kiếm tìm ngươi nữa…Ngươi kêu la vì thương tích của ngươi làm gì? Nỗi thống khổ của ngươi thật hết đường cứu chữa. Ấy chỉ vì sự gian ác của ngươi quá nhiều, và tội lỗi của ngươi quá nặng”. Nhưng khi dân ăn năn sám hối, từ bỏ con đường xác thịt để sống theo Thần Khí, Chúa lại cho phục hồi. Sống theo Thần Khí họ được tự do vì làm chủ lấy mình: “Thủ lãnh của nó sẽ từ nó xuất thân, và người thống trị nó sẽ từ giữa nó mà ra”. Họ thuộc về Chúa: “Các ngươi sẽ là dân Ta chọn, và Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi”. Biết thờ phượng, ngợi khen Chúa: “Từ các nơi ấy, sẽ vọng ra lời cảm tạ và tiếng reo mừng” (năm chẵn).
Sống theo xác thịt thì mù quáng. Sống theo Thần Khí thì sáng suốt. Sống theo xác thịt thì lăn xuống hố. Sống theo Thần khí thì thanh thoát vươn lên. Sống theo xác thịt là đi vào cõi chết. Sống theo Thần Khí đi vào đời sống. Sống theo xác thịt bị nô lệ. Sống theo Thần Khí tự do vì tự mình làm chủ lấy mình.
---------------------------------
(https://tinmungmoingay.com/)
Việc rửa tay trước khi ăn là một thói quen tốt giúp an toàn vệ sinh, nó như là một nét văn hoá được các giáo viên mầm non tập cho trẻ từ thuở bé. Và ở nhiều nơi trên thế giới, việc rửa tay trước khi ăn đã trở thành một tập tục, thậm chí như là một điều buộc phải làm để giữ gìn vệ sinh. Tuy nhiên, đối với các Pharisiêu thì nó được giải thích như là một điều luật và là một nghi thức tôn giáo để đánh giá con người trong sạch hay dơ bẩn.
Bài Tin Mừng hôm nay kể về việc người Biệt phái thắc mắc vì một số môn đệ Chúa Giê-su không rửa tay trước khi ăn. Người Biệt phái thắc mắc không vì việc Chúa Giê-su không giữ an toàn vệ sinh ăn uống, mà là cho rằng việc Chúa lỗi luật và vi phạm nghi thức tôn giáo truyền thống về việc sạch dơ. Chính vì thế mà Chúa Giê-su không phải lên án việc rửa tay cũng như rửa chén đĩa hay những thứ đồ vật khác trước khi ăn, nhưng Người muốn nhân cơ hội để dạy cho các ông Pharisêu một bài học quan trọng hơn – một sự trong sạch đích thực là sự trong sạch cho tâm hồn, chứ không phải cái mã bề ngoài.
Vì quá câu nệ luật nên Biệt phái Pharisêu lẫn lộn cái chính yếu với cái phụ tùy, quá chú trọng đến cái phụ tuỳ bên ngoài mà đánh mất cái chính yếu bên trong là đức công bằng. Họ quan niệm giữ luật Chúa là tuân thủ những luật lệ, những nguyên tắc và những lễ nghi bề ngoài, nghiêm ngặt phần hình thức như “rửa tay trước khi ăn”, “dâng lễ phẩm cho Chúa thay thế sự hiếu kính cha mẹ”. Họ dùng nghi lễ bề ngoài, để thoái thác một bổn phận căn bản về phụng dưỡng cha mẹ, lấy quy ước của các tập tục phàm nhân do họ đặt ra để xóa bỏ đi điều răn của Thiên Chúa.
Lời dạy của Chúa Giê-su hôm nay lên án chuyện sạch – dơ, xem ra chẳng ăn khớp gì với nhau, bởi khi nói cái đi vào thân thể con người là thực phẩm ăn uống và cái xuất ra từ con người lại nói đến tư tưởng. Đó là hai phạm trù khác nhau giữa vật chất và tinh thần. Thật ra, Chúa Giê-su dùng chính cái lối quan niệm sai lầm về tập tục của Do-thái để tranh luận với họ. Họ coi những chuyện ăn uống đồ ăn vật chất lại làm cho tâm hồn thuộc tinh thần ra dơ uế hoặc thanh sạch.
Chuyện đồ ăn thức uống hằng ngày chỉ là nhu cầu nuôi sống thể xác, nhưng đã bị các Kinh sư đẩy lên thành một thứ luật lệ và thậm chí đặt nó thành định chế tôn giáo. Họ phân định ra những thức ăn nào là dơ và thức ăn nào là sạch, thức ăn nào bị cấm và thức ăn nào được ăn, thức ăn nào thành tội và thức ăn nào là thánh…
Chúa Giê-su không đồng tình với cách phân biệt này, Người khẳng định mọi thức ăn đều sạch, chỉ có lòng người mới là nguồn gốc của sự ô uế.
Đành rằng có thể có những đồ ăn thức uống có thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ vì có độc hoặc không đảm bảo vệ sinh, nhưng chắc chắn không có thứ thực phẩm nào làm cho tâm hồn ra ô uế được. Sự ô uế của tâm hồn chỉ xảy đến từ những tư tưởng xấu và những hành động xấu mà Chúa Giê-su đã liệt kê ra hôm nay: “Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.”
Tuân giữ lề luật không phải câu nệ theo mặt chữ, mà với cả lòng yêu mến và bác ái với mọi người. Vì quá câu nệ luật nên người Pharisiêu lẫn lộn cái chính yếu với cái phụ tùy, quá chú trọng đến cái phụ tuỳ bên ngoài mà đánh mất cái chính yếu bên trong là đức công bằng. Lo rửa tay rửa chén đĩa cho sạch, mà tâm hồn thì nhơ uế đầy gian tà cướp bóc, an tâm với những việc giữ luật bề ngoài mà không màng tới tinh thần. Đó là lối sống đóng kịch và khoe khoang khi muốn tỏ ra cho những người xung quanh thấy những việc làm của họ để được ca tụng.
Lời Chúa Giê-su nói với người Pha-ri-sêu cũng là lời cảnh tỉnh cho con người thuộc mọi thời đại. Bên ngoài người ta có thể là những người rất đạo mạo, lịch sự, danh giá, chức quyền, sang trọng, nhưng bên trong lại chất chứa đầy sự tham lam độc ác “đầy những chuyện cướp bóc, gian tà”. Bên ngoài đẹp như hàng Nhật, nhưng bên trong thì là linh kiện rởm của Tàu Cộng. Nhiều người chúng ta ưa tô điểm cho vẻ bề ngoài của mình để được nổi trội, kể cả việc làm phúc bố thí, nhưng bên trong đầy những mưu mô ngầm ý về danh tiếng và danh vọng.
Lời Chúa mời gọi chúng ta trong khi lo trang điểm cho mình vẻ đẹp bề ngoài, thì cũng lo trang sức cho tâm hồn những nhân đức thánh thiện, lo cải hoá đời sống để được đổi mới trong mọi sự. Sống đạo với nghi lễ, làm đủ việc đủ giờ mà thôi thì chưa đủ, nhưng phải có tâm tình bên trong, và trong đời sống thường ngày, phải tỏ hiện lòng yêu mến Thiên Chúa và bác ái với mọi người.
Chúa Giê-su kết luận: “Cây nào mà Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời, đã không trồng, thì sẽ bị nhổ đi”. Nghĩa là, những gì đem đến mối tương giao với Thiên Chúa thì mới là đến từ Thiên Chúa, còn những thứ lề luật được vẽ ra để kỳ thị đánh giá và kết án nhau thì không phải đến từ Thiên Chúa. Và đương nhiên điều không đến từ Thiên Chúa thì không thể tồn tại.
Lạy Chúa, xin cho chúng con trong khi biết lo làm đẹp bề ngoài, thì cũng lo cho linh hồn mình nên trong sạch trước mặt Thiên Chúa. Amen.
---------------------------------
(4https://giaophanthaibinh.org/)
Suy niệm: “Sông sâu còn có kẻ dò, nào ai bẻ thước mà đo lòng người”. Người ta đã chế tạo ra kính thiên văn để nhìn những ngôi sao thật xa, kính hiển vi để nhìn những vi khuẩn nhỏ xíu, máy siêu âm để có thể nhìn thấy vật dụng trong va ly túi xách, nhưng chưa có dụng cụ nào để biết rõ lòng người! Đức Giê-su nói với chúng ta rằng chính lòng người hay tâm hồn lại là bộ chỉ huy điều hành tất cả những gì xuất phát ra bên ngoài; và chính lòng người phải chịu trách nhiệm về những điều đó. Nếu tâm hồn chúng ta nghiêng về tình dục, thì từ đó sẽ phát sinh những tư tưởng dâm ô ngoại tình. Nếu tâm hồn chúng ta hiểm độc, thì sẽ có những bạo động, ganh ghét, hận thù. Còn nếu lòng chúng ta quảng đại, thì từ đó sẽ có bao nghĩa cử yêu thương, chia sẻ, tha thứ…
Mời Bạn: Loại bỏ khỏi tâm hồn mình những tư tưởng dâm ô, hận thù, tham lam, hưởng thụ; và thay vào đó, nuôi dưỡng những ước muốn sống quảng đại, yêu thương, chia sẻ, tha thứ. Sau một thời gian “nâng cấp tâm hồn” như vậy, bạn sẽ cảm thấy lòng bạn thanh thản hơn, cuộc sống với người khác an vui hơn, và chắc chắn bạn sẽ dễ thương hơn trước mặt Thiên Chúa.
Sống Lời Chúa: Mỗi ngày loại bỏ một ước muốn bất chính đang chế ngự mình, và thay thế bằng một ước muốn lành thánh theo các giá trị của Tin Mừng.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Đấng thấu suốt lòng người. Chúa biết rõ chúng con đang ước muốn gì. Xin thanh tẩy tâm hồn chúng con khỏi những ước ao bất chính, và thay thế bằng những ước muốn đạo đức, tốt lành.
---------------------------------
(http://tinvuixuanloc.vn)
Rửa tay bằng xà phòng nhiều lần, nhất là trước khi ăn để đề phòng bệnh tay chân miệng được khuyến cáo rất nhiều trong bối cảnh xã hội hội hiện nay, nhất là trong những trường học và nơi tập thể. Thật ra, đối với người Do thái, việc rửa tay, rửa chén đĩa, rửa thực phẩm, không chỉ là một biện pháp vệ sinh nhằm phòng bệnh, mà còn là một nghi thức tôn giáo nói lên ước nguyện trở nên thanh sạch để có thể hiệp thông với Thiên Chúa là Ðấng Thánh. Ðây là điều tốt, nhưng người Biệt phái đã quá vụ hình thức mà bỏ quên điều thiết yếu, họ phán đoán một người tốt hay xấu dựa trên những hình thức bên ngoài. Họ đã quá chi li giữ luật bên ngoài đến nỗi đôi khi đồng hóa vi - rút làm ô uế về thể lý lẫn với vi-rút làm ô uế tinh thần-loại vi-rút này có thể hũy hoại không những về tinh thần mà cả về thể lý.
Tôn giáo nào cũng cần có những nghi lễ, luật lệ, truyền thống, phụng tự. Làm thế nào để tất cả những điều ấy không chỉ ngừng lại ở bên ngoài mà nên đặt trọng tâm và ý nghĩa bên trong. Chắc chắn mọi sự đều có hình thức bên ngoài và nội dung bên trong, thế nhưng cái nào quan trọng hơn? Chắc chắn mọi người ai cũng rõ: tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Chúa Giê-su muốn nhắc nhở cho họ cũng như cho mỗi người chúng ta hôm nay về mầm móng của bệnh tật bên trong tâm hồn: “Không phải cái vào trong miệng làm ô uế con người, nhưng cái ra từ miệng, cái đó mới làm con người ô uế” (c. 11). Vì từ trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ trong xuất ra, và làm cho người ta ra ô uế" (x. Mt 15, 17-20).
Có một câu chuyện rằng, hai thầy dòng ẩn tu nọ, trên đường đi làm về gặp một cô gái đẹp chẳng may bị ngã, dính đầy bùn và máu me. Hai thầy dòng đã dìu cô gái đến chỗ có nước để lau chùi và băng bó sạch và đưa cô về nhà. Một trong hai vị thầy dòng nọ, cứ áy náy và xưng tội nhiều lần với linh mục: con áy náy vì tội đã chạm vào người một cô gái. Linh mục bảo: con không có tội vì tay con đã chạm vào cô gái, nhưng có tội vì tâm và tim con đã liên tục “chạm” vào cô gái….
Minh Tứ
---------------------------------
Lòng tin bà mẹ ngoại giáo.
"Này bà, bà có lòng mạnh tin".
Khi ấy, ra khỏi đó, Chúa Giêsu lui về miền Tyrô và Siđon, thì liền có một bà quê ở Canaan từ xứ ấy đến mà kêu cùng Người rằng: "Lạy Ngài là con Vua Đavít, xin thương xót tôi: con gái tôi bị quỷ ám khốn cực lắm".
Nhưng Người không đáp lại một lời nào. Các môn đệ đến gần Người mà rằng: "Xin Thầy thương để bà ấy về đi, vì bà cứ theo chúng ta mà kêu mãi". Người trả lời: "Thầy chỉ được sai đến cùng chiên lạc nhà Israel".
Nhưng bà kia đến lạy Người mà nói: "Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi". Người đáp: "Không nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó". Bà ấy đáp lại: "Vâng, lạy Ngài, vì chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi xuống".
Bấy giờ, Chúa Giêsu trả lời cùng bà ấy rằng: "Này bà, bà có lòng mạnh tin. Bà muốn sao thì được vậy". Và ngay lúc đó, con gái bà đã được lành.
---------------------------------
(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)
Bài Tin Mừng hôm nay kể lại chuyện Đức Giêsu chữa bệnh từ xa,
tại Tia và Xiđon, vùng đất của dân ngoại.
Nhưng chuyện chữa bệnh không quan trọng lắm.
Chuyện quan trọng là lòng tin của người phụ nữ Canaan.
Hẳn bà biết ít nhiều về Do Thái giáo, khi gọi Đức Giêsu là Con Vua Đavít.
Con Vua Đavít là tước hiệu người Do Thái dùng để chỉ Đấng Mêsia.
Bà tin Đức Giêsu có thể chữa lành con gái của bà.
Người phụ nữ trực tiếp gặp Đức Giêsu và ngỏ lời nài xin:
“Xin thương xót tôi… con gái tôi bị quỷ hành hạ dữ lắm.”
Người mẹ đau vì con của mình đau.
Bà kêu xin Đức Giêsu thương mình, bằng cách chữa lành cho cô con gái.
Nhưng bà chỉ gặp sự thinh lặng như thể Người không nghe thấy.
Dầu vậy bà vẫn không ngừng đi sau và kêu to.
Tiếng kêu dai dẳng của bà đuổi theo các môn đệ khiến họ bực bội.
Khi không chịu nổi được nữa, họ mới chạy đến với Thầy Giêsu.
“Xin Thầy cho bà ấy đi đi, vì bà ấy cứ kêu sau lưng chúng ta mãi.”
Có vẻ các môn đệ muốn Thầy gặp bà và cho điều bà cần.
Cho đến nay vẫn chưa có cuộc đối thoại giữa bà và Đức Giêsu.
Người phụ nữ vẫn là người độc thoại.
Nhưng Đức Giêsu vẫn chưa muốn nói chuyện với bà.
Người chỉ nói với các môn đệ và xác định sứ vụ của mình:
“Thầy chỉ được sai đến với những chiên lạc nhà Israel thôi.”
Đây là lời từ chối đầu tiên, rõ ràng và dứt khoát.
Nó như đặt một dấu chấm hết cho mọi hy vọng của người mẹ.
Đức Giêsu như muốn nói: Đừng kêu la vô ích.
Chị không phải là chiên của nhà Israel.
Dân ngoại lúc này không phải là sứ vụ của tôi,
vì Cha tôi chưa sai tôi đến.
Lòng tin của người phụ nữ bị thử thách đến tột độ.
Chắc bà bị cám dỗ bỏ đi vì sự thinh lặng lạnh lùng,
và sự từ chối cương quyết của Đức Giêsu.
Nhưng trái tim của một người mẹ không cho phép bà làm thế.
Bà trở nên táo bạo hơn và dám vượt lên trước để gặp Đức Giêsu.
Trong thái độ cung kính bái lạy, bà tiếp tục nài xin:
“Lạy Ngài, xin giúp tôi” (c. 25);
khác với lúc nãy: “Lạy Ngài, xin thương xót tôi” (c. 22).
Cả hai lời nài xin đều nhắm đến người con, dù có vẻ bà chỉ xin cho bà.
Xin giúp tôi bằng cách giúp con tôi khỏi móng vuốt quỷ dữ.
Hạnh phúc của người mẹ gắn liền với hạnh phúc của con,
vì tình yêu nối kết cả hai nên một.
Tuy vậy lời nài xin này của trái tim người mẹ
dường như vẫn chưa đụng được vào trái tim Thầy Giêsu.
Người đưa ra lời từ chối thứ hai
quyết liệt hơn và có thể gây tổn thương nghiêm trọng:
“Không nên lấy bánh dành cho con mà ném cho chó.”
Con ở đây là dân Israel, là người trong nhà, có quyền hành.
Dân ngoại đôi khi được ví với chó nuôi trong nhà.
Hai bên không ở trên cùng một mặt phẳng.
Câu nói này của Đức Giêsu phản ánh cái nhìn của người Do Thái.
Họ tự hào về tính ưu việt của mình
trong tư cách là Dân riêng của Chúa.
Nói chung họ cho rằng chỉ họ mới xứng đáng hưởng ơn cứu độ.
Người phụ nữ không phản đối cái nhìn của Đức Giêsu
Bà không cảm thấy mình bị xúc phạm và giận dữ bỏ đi.
Trái lại, bà đón nhận cái nhìn ấy và tìm thấy một kẽ hở cho ơn Chúa:
“Thưa Ngài đúng thế.
Nhưng chó con cũng được ăn các mảnh vụn rơi xuống từ bàn của chủ.”
Bà chấp nhận mình chỉ là chó con nuôi trong nhà,
không phải là ông chủ đang ngồi tại bàn ăn.
Bà tin rằng dù mình không đủ tư cách
để ngồi dự bàn tiệc cánh chung như những người Do Thái,
bà vẫn có thể được hưởng chút vụn bánh từ bàn ăn rớt xuống.
Bà vẫn giữ niềm hy vọng ngay khi bị từ chối thẳng thừng.
Chính lời từ chối của Đức Giêsu lại mở ra niềm hy vọng.
Đức Giêsu bị ấn tượng bởi lòng tin của bà.
Người kêu lên: “Này bà, lòng tin của bà lớn thật.”
Đức Giêsu từng ngỡ ngàng trước lòng tin của viên bách quản (Mt 8,10-11).
Giờ đây Người đối diện với lòng tin của một người mẹ thương con.
Chính tình thương thêm sức mạnh cho lòng tin,
khiến lòng tin trở nên kiên trì, bất chấp thinh lặng và từ chối.
Lòng tin không mất hy vọng ngay khi có vẻ chẳng còn gì để hy vọng.
Lòng tin mạnh mẽ và khiêm hạ của người mẹ đã chinh phục Đức Giêsu,
và cuối cùng đã chạm được vào trái tim của Người.
Đức Giêsu đã để mình bị cuốn đi, ngỡ ngàng và ngây ngất…
Bây giờ Người mới thực sự nói chuyện với bà: “Này bà…”
Người sẽ làm điều trước đây Người không định làm.
Người sẽ đáp lại lòng tin của bà, lòng ao ước của bà
chỉ bằng một lời nói từ xa cho một cô bé chưa hề gặp mặt:
“Hãy xảy ra cho bà như bà muốn”.
Cô bé đã được chữa lành kể từ lúc đó.
Mẹ cô đã được thương xót và trợ giúp.
Đức Giêsu không cứng nhắc và bó hẹp trong sứ vụ Cha giao.
Người vẫn nghe tiếng kêu của con người và chấp nhận những ngoại lệ.
Ngoại lệ cũng nằm trong Ý Cha.
Ý Cha vẫn mở ra mới mẻ từng ngày đòi ta phải tìm kiếm liên tục.
Ngoại lệ hôm nay sẽ mở đường cho sứ vụ ngày mai:
“Các con hãy đi, hãy làm cho mọi dân tộc thành môn đệ,”
để “nhiều người từ Đông sang Tây sẽ đến và dự tiệc trong Nước Trời.”
Xã hội hôm nay không thiếu những bà mẹ khổ vì con mình bị ám.
Ám vì đủ thứ nghiện ngập do cuộc sống đem lại.
Các bà mẹ thấy mình bất lực, chỉ biết hy vọng vào Chúa.
Nhiều khi có cảm tưởng Chúa không nghe và lạnh lùng trước nỗi đau.
Hãy có lòng tin lớn của người phụ nữ Dân ngoại,
tiếp tục tin, tiếp tục yêu, tiếp tục hy vọng
và biết mình có thể chạm được vào trái tim của Thiên Chúa.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa,
xin ban cho con đức tin lớn hơn hạt cải,
để con làm bật rễ khỏi lòng con
những ích kỷ và khép kín.
Xin cho con đức tin can đảm
để con chẳng sợ thiệt thòi khi trao hiến,
chẳng sợ từ bỏ những gì con cậy dựa xưa nay.
Xin cho con đức tin sáng suốt
để con thấy được thế giới
mà mắt phàm không thấy,
thấy được Đấng Vô hình,
nhưng rất gần gũi thân thương,
thấy được Đức Kitô nơi những người nghèo khổ.
Xin cho con đức tin liều lĩnh,
dám mất tất cả chỉ vì yêu Chúa và tha nhân,
dám tiến bước trong bóng đêm
chỉ vì mang trong tim một đốm lửa của Chúa,
dám lội ngược dòng với thế gian
và khước từ những mời mọc quyến rũ của nó.
Xin cho con đức tin vui tươi,
hạnh phúc vì biết những gì
đang chờ mình ở cuối đường,
sung sướng vì biết mình được yêu
ngay giữa những sa mù của cuộc sống.
Cuối cùng, xin cho con đức tin cứng cáp
qua những cọ xát đau thuong của phận người,
để dù bao thăng trầm dâu bể,
con cũng không để tàn lụi niềm tin
vào Thiên Chúa và vào con người.
------------------------------
(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)
Các bài Sách Thánh hôm nay tương phản nhau mãnh liệt: niềm tin của dân ngoại và sự bất tín của Ít-ra-en. Ít-ra-en đã chứng kiến biết bao việc kỳ diệu Chúa làm nhưng vẫn thiếu niềm tin. Hôm nay họ sợ người khổng lồ nên chống đối Mô-sê, chống lại ý Chúa. Không chịu vào Đất Hứa theo hướng nam qua vùng Ca-đê mà chọn đi vòng qua phía đông theo sông Gióc-đan. Họ thiếu niềm tin vào Chúa. Xét về quân đội thời ấy, còn ai mạnh hơn Ai cập. Thế mà Chúa đã tiêu diệt tất cả trong nháy mắt. So với quân đội Pha-ra-ô thì những người khổng lồ này có là gì. Nếu tin Chúa họ đâu phải sợ hãi đến hoảng loạn và chống lại ý Chúa như vậy (năm lẻ).
Tuy Ít-ra-en bất tín. Nhưng Chúa vẫn trung tín. Sau khi trừng phạt rồi lại xót thương. Tiếp tục yêu thương và cứu chữa họ: “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương. Ta sẽ lại xây ngươi lên, và ngươi sẽ được xây lại” (năm chẵn).
Lòng thương xót của Chúa bao la. Nên sau cùng đã trải rộng ra khỏi Ít-ra-en, đến với mọi dân mọi nước. Hôm nay người phụ nữ Ca-na-an đã được hưởng lòng thương xót của Chúa. Đó là dấu hiệu Chúa lập ra một dân mới. Bà chưa hề biết Chúa, mới chỉ nghe nói, thế mà đã tin tưởng hết sức vào Chúa. Chúa đặt ra trước mặt bà 3 chướng ngại lớn và bà đã vượt qua. Một sự im lặng. Chúa không đáp lại lời bà xin. Nhưng bà vẫn tha thiết, kiên trì và dai dẳng cầu xin. Một lời từ chối: “Thầy chỉ được sai đến với chiên lạc nhà Ít-ra-en thôi”. Ranh giới đã được phân định. Thế mà bà vẫn nhất quyết nài xin. Một lời nhục mạ: “Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó”. Thật là tàn nhẫn. Nhưng bà này đã chấp nhận: “Nhưng chó cũng có thể được những mảnh vụn bánh từ bàn chủ rơi xuống”. Và Chúa phải khen ngợi lòng tin của bà. Bà không còn phải là chó con nữa. Bà trở nên con cái Chúa. Được đồng bàn với Chúa. Không còn phải chờ bánh vụn. Nhưng được hưởng bánh tự do trên bàn của Chúa.
Tạ ơn Chúa vì Lòng Thương Xót của Chúa bao la trải rộng khắp mười phương. Xin cho con được vững tin vào Lòng Thương Xót của Chúa.
-------------------------------
(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
Mahatma Gandhi, người có công giành độc lập cho Ấn Ðộ bằng con đường bất bạo động, đã có lần tuyên bố: "Tôi yêu mến Chúa Kitô, nhưng tôi không phục những người Kitô hữu". Câu nói của con người đã từng lấy giáo lý của Chúa Kitô làm nền tảng cho chủ trương bất bạo động đáng làm cho chúng ta suy nghĩ.
Giáo lý của Chúa Kitô thì cao đẹp, nhưng nhiều Kitô hữu làm cho bao nhiêu người xa lánh Giáo Hội, chỉ vì cuộc sống của họ đi ngược lại với những gì họ tuyên xưng. Người ta thường nói: "Bà con xa không bằng láng giềng gần". Ðôi khi chúng ta cảm thấy gần gũi với những người láng giềng hơn là với những người thân thuộc. Trong liên hệ với Chúa Giêsu cũng thế, có biết bao người chưa từng được nghe nói đến Chúa Giêsu, có biết bao người không mang danh hiệu Kitô, nhưng lại gần gũi với Chúa Kitô và sống tinh thần Kitô hơn chính những người Kitô hữu.
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đề cao lòng tin của người đàn bà xứ Canaan, tức là một người ngoại giáo. Một trong những điều hẳn sẽ làm chúng ta ngỡ ngàng, đó là trên Thiên đàng, chúng ta sẽ gặp gỡ những người chúng ta chưa từng quen biết, ngay cả những người chưa một lần mang danh hiệu Kitô hay đặt chân đến nhà thờ.
Thời Chúa Giêsu, có biết bao người ngoại giáo có lòng tin sâu sắc hơn cả những người Do thái. Trước hết, tiên tri Isaia đã từng khiển trách lòng giả dối của người Do thái: "Dân này thờ Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng họ thì xa Ta". Thời Chúa Giêsu, có biết bao người bị loại ra khỏi xã hội, bị đặt bên lề Ðền thờ, và có lẽ cũng không hề thuộc toàn bộ lề luật của Môsê, nhưng lại có lòng sám hối và tin tưởng sâu xa hơn. Nói với những người chỉ giữ đạo một cách hình thức, Chúa Giêsu đã cảnh cáo: "Không phải những ai nói: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời; nhưng là những kẻ thực thi ý Chúa".
Người đàn bà Canaan có lẽ không hề biết đến lề luật Môsê, nhưng đã sống niềm tin của mình một cách mãnh liệt. Lòng tin đó được thể hiện qua việc phó thác hoàn toàn vào quyền năng của Chúa Giêsu. Trong tình thế hầu như tuyệt vọng, bà đã chạy đến với Chúa Giêsu; sự van nài của bà cho thấy sự kiên nhẫn và lòng tin sắt đá của bà. Sự khác biệt cơ bản giữa một người có niềm tin và một người không có niềm tin, không hệ tại ở danh hiệu Kitô hay những thực hành đạo đức, mà chính là lòng tin. Tin vào sự hiện diện quyền năng của Thiên Chúa trong cuộc sống, tin vào tình yêu vô biên của Ngài, tin vào ý nghĩa của cuộc sống, tin vào tình người, đó là sắc thái chủ yếu của người có niềm tin: chính trong niềm tin đó, con người gặp gỡ Chúa Giêsu.
Trong một hoàn cảnh mà cái nhìn của con người có thể cho là tuyệt vọng, người Kitô hữu hơn bao giờ hết được mời gọi để nêu cao niềm tin của mình. Ðây là thời điểm để họ chứng tỏ bản sắc đích thực của mình. Trong cuộc sống chỉ có nghi kỵ và hận thù, họ được mời gọi để đốt lên ngọn đuốc của yêu thương. Trong một xã hội bị gậm nhấm bởi chán nản tuyệt vọng, họ được mời gọi để mang lại niềm hy vọng. Chỉ khi nào giữ đúng vai trò đó, người Kitô hữu mới thực sự xứng đáng với danh hiệu của mình.
-------------------------------
Biến cố chúng ta vừa đọc lại trên đây cho thấy Chúa Giêsu đã vượt qua một biên giới, và đến gần vùng đất của dân ngoại. Và tại đây Ngài đã gặp một người đàn bà được hưởng lấy lợi ích từ tác vụ của Chúa Giêsu, tự lãnh nhận những hồng ân Thiên Chúa như những người con Do Thái đồng hương. Vừa bước vào vùng đất mới, Chúa Giêsu nghe được lời kêu van của một người đàn bà đang gặp thử thách: "Lạy Ngài, con vua Ðavít, xin dủ lòng thương tôi. Ðức con gái tôi bị quỉ ám khổ sở lắm". Nhưng Chúa Giêsu không đáp lại một lời. Trước lời kêu xin tha thiết như vậy, tại sao Chúa không đáp lại? Chúa là Ðấng nhân từ, đầy cảm thông trước cảnh cùng khổ của những ai đến với Chúa và đã dạy các tông đồ: "Hãy cầu nguyện thì sẽ được. Hãy gõ cửa thì sẽ mở cho". Thế mà tại sao Chúa lại làm thinh, không trả lời cho người đàn bà đang thành tâm kêu xin? Hẳn có lý do.
Các tông đồ không hiểu được thái độ của Chúa và cũng không muốn bị quấy rầy nên đã nói với Chúa như sau: "Xin Thầy bảo bà ấy đi đi, kẻo bà ấy cứ theo chúng ta mà kêu mãi". Các tông đồ hiểu lầm thái độ im lặng của Chúa như một sự từ chối và các ngài cũng muốn phủi tay: "Xin Chúa đuổi bà ấy đi cho, đừng để bà ấy quấy rầy nữa". Chúa Giêsu không chỉ im lặng mà Ngài còn lên tiếng nói lời chối từ như sau: "Ta chỉ được sai đến để cứu những con chiên lạc của nhà Israel mà thôi".
Chúng ta nên học hỏi thái độ khiêm tốn và kiên trì của người đàn bà: "Lạy Thầy, xin cứu giúp tôi". Bà không bực tức, không nổi giận, không trách móc Chúa tại sao thế này, tại sao thế nọ. Chúa càng im lặng thì bà càng khiêm tốn hơn nữa. Không những bà chỉ nói mà còn van xin bằng cả con người của mình. Bà sụp lạy Chúa Giêsu và nói: "Xin Ngài thương xót con". Sự im lặng của Chúa là một thử thách, thử thách trong đức tin, thử thách trong việc cầu nguyện Chúa Giêsu thử thách nhiều hơn nữa: "Không được lấy bánh dành cho con cái mà đem ném cho chó". Ðây là thử thách ở mức độ cuối cùng, ai có thể vượt qua được. Người đàn bà xa lạ và thuộc dân ngoại khiêm tốn thưa cùng Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, đúng thế, nhưng mà những con chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ trên bàn chủa rơi xuống". Có thể nói tâm hồn khiêm tốn đã giúp người đàn bà vượt qua được thử thách và trưởng thành trong đức tin. Chúa Giêsu trấn an bà như sau: "Này bà, lòng tin của bà thật mạnh. Bà muốn sao thì sẽ được như vậy". Người đàn bà chỉ xin Chúa cho lợi lộc thông thường cho con bà khỏi bị quỉ ám và bà được nhận lời.
Chúng ta có thể tượng tưởng người đàn bà sẽ vui mừng biết bao hơn nữa khi lãnh nhận được ơn Chúa. Cuối đoạn đường gian nan nhìn lại, chúng ta sẽ thấy rõ những giây phút Chúa xem ra im lặng là những giây phút quí trọng vô cùng vì những im lặng và từ chối này của Chúa giúp đức tin của chúng ta được trưởng thành. Khi đi qua đoạn đường gian nan, chúng ta có thể hiểu được chương trình của Chúa dành cho cuộc đời mình. Thử hỏi, chúng ta còn đủ nghị lực để đi qua đoạn đường nhiều gian nan thử thách hay không.
Lạy Chúa, Xin thương ban cho tất cả những ai chọn theo Chúa có được tâm hồn khiêm tốn để lãnh nhận những mầu nhiệm ân sủng của cuộc đời.
Lạy Chúa, Xin thương nâng đỡ chúng con và củng cố đức tin cho chúng con.
-------------------------------
Bà ấy liền bái lạy và thưa với Người rằng: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” Người đáp: “Không lên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” Bà ấy nói: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” Bấy giờ Đức Giêsu đáp: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.” Từ giờ đó con gái bà được khỏi. (Mt. 15, 25-28)
Những câu: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật, bà muốn sao thì sẽ được vậy.” cho người ta thấy Đức Giêsu rất cảm thương, tốt lành và kính chuộng những kẻ hèn mọn và nghèo khổ.
Thánh Mát-thêu cho chúng ta thấy một Đức Giêsu có óc bè phái: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi.” Có óc khinh bỉ: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.”
Nhưng kìa: Đức Giêsu hoàn toàn không phải thế, Thánh sử muốn dạy chúng ta biết lắng nghe và hiểu rõ bài học này.
Có nhiều người lương dân biết xưng tụng, kêu van danh Đức Kitô, trong khi những Kitô hữu nghe danh người xưa kia mà nay lại không biết kêu cầu Người. Hay ngay cả khi họ nghĩ đến Người, hiểu biết Người bây giờ, họ vẫn điếc chẳng nghe Tin Mừng của Người, mù không thấy những phép lạ của Người, sự phục sinh của Người, câm không nói về Người.
Chó con trong nhà.
Chó con được ăn những đồ thừa, không những nó bằng lòng mà còn tỏ niềm vui mừng và biết ơn nữa. Trẻ con trong nhà thì sao? Không phải lúc nào chúng cũng biết ơn, cảm ơn dù chúng được chăm lo rất nhiều, chúng không thấy vì được quá nhiều đặc ân, quá thường xuyên.
Bà lương dân này chẳng được dạy dỗ, chẳng được ân huệ gì, bà lại có niềm tin thật mạnh đó là điều thiết yếu Đức Giêsu muốn Người không nói bà phải tỏ ra ngoan ngoãn phục tùng, Người không tra hỏi về đời tư của bà. Như bất cứ một kẻ nào đó đến với Người, cầu khẩn Người, với cảnh cùng khổ của mình, với lòng tin cậy được nhận lời.
Chúng ta hãy thành khẩn.
Còn chúng ta ngày nay thì sao?
Không còn đề cập đến vấn đề đức tin nữa, nó làm chúng ta mù quáng bằng đủ mọi thứ bào chữa để che đậy lòng thiếu đức tin của chúng ta.
Nếu người lương dân biết tin vào Đức Kitô thì càng có lý mạnh mẽ đòi chúng ta càng xây dựng niềm tin vào Đức Kitô biết bao! và phải làm cho Người trở lên sống động nơi chúng ta và nơi mọi người đến chừng nào! vì chúng ta hiểu biết Người hơn lương dân gấp bội.
-------------------------------
Xem lại CN 20 TN A.
Trong câu chuyện kể về phép lạ của Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận, người ta kể về gương sáng đức tin của một bà mẹ. Chuyện kể rằng: nhờ mối liên hệ thân tình với Đức Hồng Y, lòng quý trọng và niềm tin tuyệt đối vào ngài, vì thế, bà thường xuyên cầu khấn với ngài khi con bà đang trong tình trạng hôn mê sâu nhiều tháng và chỉ còn chờ chết ngay tại đất nước Hoa Kỳ văn minh tiến bộ vào hạng nhất nhì thế giới!
Quả thật, cậu chủng sinh con bà đã thoát khỏi tử thần khi được chính Đức Hồng Y cầu thay nguyện giúp nhờ vào lòng tin của bà mẹ.
Hôm nay, Tin Mừng cũng trình thuật phép lạ Đức Giêsu đã làm khi cho một bé gái thoát khỏi quỷ ám nhờ vào lòng tin của mẹ em.
Thật vậy, lời cầu xin“Lạy Ngài là con vua Đavít, xin rủ lòng thương tôi” của người phụ nữ xứ Canaan đã đụng chạm đến lòng trắc ẩn của Đức Giêsu, nên bà đã được Ngài xót thương. Nhưng Đức Giêsu còn muốn kiểm chứng đức tin của bà xem có phát xuất từ con tim yêu mến hay chỉ là thực dụng???
Tuy nhiên, càng đi sâu vào câu chuyện, chúng ta lại càng thấy niềm tin ấy được tỏa sáng. Tại sao vậy? Thưa, bởi vì qua sự thinh lặng của Đức Giêsu và nhất là lời khước từ của Ngài khi nói: “Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho lũ chó con”. Đồng thời, bà còn gặp khó khăn khi những người Dothái cũng như của chính các môn đệ ngăn cản không cho bà đến gần Đức Giêsu, thế nhưng, niềm hy vọng vào tình thương của Chúa đã làm cho bà đặt hết niềm tin tưởng nơi Ngài. Vì thế, bà đã thốt lên: “Nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. Đứng trước niềm tin đặc biệt đó, Đức Giêsu đã phải chạnh lòng thương đến con bà khi nói: “Lòng tin của bà mạnh thật, bà muốn sao thì sẽ được vậy”.
Trong cuộc sống hiện nay của chúng ta nhiều khi đức tin mang tính nhất thời, tức là chỉ tin khi thuận tiện. Mặt khác, niềm tin của mỗi người có lúc mang tính nửa vời, tức là tin Chúa 50%; 50% còn lại thì dành cho những thần khác...
Tuy nhiên, niềm tin thì hời hợt như vậy, nhưng khi có người khác thể hiện niềm tin vào Chúa thì chúng ta lại tìm cách ngăn cản hay cho là phù phiếm... như các môn đệ và người Dothái khi xưa. Phải chăng họ không muốn vào Nước Trời, nhưng những người muốn vào thì chính họ lại ngăn cản không cho vào.
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết đặt niềm tin tuyệt đối nơi Chúa. Đồng thời ý thức rằng: niềm tin trưởng thành là một niềm tin trải qua thử thách và có kinh nghiệm thực sự về Chúa. Cuối cùng, hãy biết noi gương Chúa để thi ân giáng phúc cho những người hoạn nạn, kể cả họ là kẻ thù của ta.
Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa ban cho mỗi chúng con biết yêu mến Chúa và luôn đặt niềm tin tưởng tuyệt đối vào Chúa. Xin cũng cho chúng con có lòng nhân hậu với hết mọi người. Amen.
Ngọc Biển SSP
--------------------------------
(TGM Giuse Nguyễn Năng)
Sứ điệp: Niềm tin mãnh liệt và khẩn khoản của người đàn bà dân ngoại đã làm Chúa Giêsu không nỡ từ chối ban phép lạ cho bà.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, con thấy có hai lần Chúa đã từ chối không ban phép lạ, nhưng vì niềm tin và lời khẩn khoản của người xin, Chúa đã thực hiện phép lạ: đó là lời cầu xin của Đức Maria tại đám cưới Ca-na, và câu chuyện người đàn bà xứ Ca-na-an hôm nay.
Niềm tin mạnh mẽ và kiên trì đã khiến Chúa không nỡ từ chối ban ơn. Xét cho cùng, chúng con thực không xứng đáng để Chúa ban ơn cho. Con không có quyền đòi Chúa làm phép lạ. Điều con có thể làm được và phải làm, đó là tin tưởng vào Chúa, xác tín vào tình thương đầy quyền năng của Chúa và đặt trọn hy vọng vào Chúa.
Khi con cầu xin Chúa, con thường muốn Chúa thực hiện theo ý muốn của con, vào thời điểm mà con muốn, mà con không hiểu rằng điều quan trọng là tin tưởng và phó thác vào Chúa, phó dâng để Chúa thực hiện điều tốt nhất cho con theo ý định của Chúa.
Lạy Chúa, xin cho con biết kiên trì tín thác vào Chúa, cho con biết bày tỏ tấm lòng của con trong nhẫn nại. Chúa biết điều con cần, nhưng Chúa cũng muốn con tin tưởng, cậy trông vào Chúa. Đôi lúc vì cuộc đời quá đau khổ và phức tạp, con không còn dám tin vào Chúa nữa. Và vì nghi ngờ nên con không dám cầu xin nữa. Xin Chúa giúp con vững tin ngay cả trong những lúc khó tin và không còn gì để hy vọng. Amen.
Ghi nhớ: “Này bà, bà có lòng mạnh tin”.
--------------------------------
(Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)
Câu chuyện
Một em bé vâng lời mẹ xách giỏ ra tiệm tạp hóa. Em cẩn thận đọc cho người bán hàng tên của từng món đồ mà mẹ em đã ghi trên mảnh giấy. Người bán hàng nhìn em và để ý theo dõi từng cử chỉ cẩn thận của em một cách thích thú.
Sau khi đã xếp gọn các món vào giỏ cho em, người bán hàng dẫn em đến trước cái hộp đầy kẹo. Vừa mở nắp hộp người bán hàng vừa bảo em thò tay vào lấy kẹo. Em bé vui mừng rút ra một viên kẹo. Người bán hàng bèn khích lệ em và nói: “Cháu hãy bốc cho đầy lòng bàn tay của cháu đi”. Em bé mỉm cười đáp: “Vậy ông hãy bốc kẹo giùm con”. Người bán hàng ngạc nhiên hỏi: “Tại sao vậy?” Em bé dí dỏm trả lời: “Tại vì bàn tay của ông lớn hơn bàn tay của con rất nhiều”.
Em bé nhìn nhận cái bé nhỏ của mình trước sự lớn lao của người khác, nên đã được ban cho dư đầy. Người đàn bà ngoại giáo xứ Canaan khiêm tốn nhận mình là dân ngoại, so sánh với dân Chúa Israel? Bà coi mình nhỏ bé như “chó con” chỉ đáng được ăn “những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”, chính vì bé nhỏ trước mặt Thiên Chúa, cho nên bà được Chúa rộng ban theo lòng thương xót của Ngài, còn hơn cả lòng bà mong ước.
Suy niệm
Người đàn bà ngoại giáo khẩn cầu xin Chúa chữa lành cho con bà bị quỷ ám. Lời cầu của người đàn bà đầy niềm tin, nhẫn nại và khiêm tốn. Bà nhận biết Chúa Giêsu là Đấng Mêssia - Cứu Thế (dòng dõi Đavít) (x. Mt 15:22) trong lúc đó những người Do Thái không chấp nhận tư cách Mêssia của Ngài. Chính đức tin mạnh mẽ với lòng khiêm tốn chân thành của bà đã làm Chúa Giêsu xúc động, Ngài đã thi ân trên lời cầu xin.
Sự viên mãn đời đời của chúng ta là do đức tin. Chính thánh Phaolô đã xác định: “Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống” (Rm 1,17; Gl 3,11), đức tin không phải do chúng ta đạt tiêu chuẩn mà có, nhưng là một ơn riêng nhưng không của Thiên Chúa ban cho. Đức tin có nghĩa là tin một cách đơn sơ, cởi mở, vô điều kiện vào Thiên Chúa toàn năng, Đấng tạo dựng và ban sự sống như người phụ nữ đã tín thác tuyệt đối bằng lời cầu xin: “Xin rủ lòng thương tôi!...” (Mt 15:22), cả khi bị thử thách, niềm tin vẫn không lay chuyển như người nữ Canaan xác tín: “Lạy Ngài xin cứu giúp tôi!” (Mt 15:25). Lòng kiên nhẫn của bà được sinh ra từ đức tin, như thánh Giacôbê xác quyết: “Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn” (Gc 1,3). Các môn đệ muốn đuổi bà đi vì sợ bà quấy rầy Thầy. Nhưng các ông không làm lay chuyển đức tin của bà nơi sức mạnh cứu độ của Chúa Giêsu, sức mạnh có thể chữa lành con bà. Cho nên, thay vì thối chí rút lui với tâm hồn cam chịu số phận, bà tiến đến quỳ trước Ngài và van xin một cách khiêm tốn, chân thành và đơn sơ. Hình ảnh của bà đã nói lên một chân lý: Đức tin được dọn đường bằng khiêm nhượng.
Người phụ nữ mang tâm tình như trẻ nhỏ tin và chạy đến với cha mình, bà xác tín vào tình yêu và quyền năng của Chúa, Ngài là Đấng không bao giờ rút lại tình yêu đối với người đặt niềm tin tưởng phó thác vào Ngài. Hình ảnh đức tin nơi bà có nghĩa là tin như trẻ nhỏ, tin vào sự chiến thắng của Thiên Chúa trên tất cả. Niềm tin đó được Thánh vịnh quả quyết tin Chúa như con tin vào cha: “Như trẻ thơ đặt hết niềm tin nơi Chúa” (Tv 131). Cho nên, Đức Kitô đã quả quyết nơi người mang đức tin trẻ nhỏ trở nên vĩ đại: “Ai hạ mình xuống như những trẻ nhỏ sẽ là người lớn trong nước Trời” (Mt 18:4).
Nếu như ban đầu, là một hành động thử thách, Đức Giêsu đã làm ngơ trước lời khẩn cầu trong niềm tin của bà, nhưng Ngài không thể im lặng trước lòng tin mang tâm tình chân thành, khiêm tốn của một người mẹ dám làm tất cả cho con mình được sống, Chúa Giêsu trả lời, “Này bà, đức tin của bà mạnh. Bà được như bà tin”... “Lập tức, con gái bà được lành” (Mt 15:28). Bà hạnh phúc vì Thiên Chúa thi ân: Con yêu của bà được chữa lành, niềm tin của bà đã nở hoa.
Xin Đức Kitô – Đấng đã nhìn thấu lòng tin của người phụ nữ Canaan, cũng hãy dạy con vì con luôn có nhu cầu tin chân thành và khiêm tốn như người phụ nữ Canaan, tin là không đòi hỏi, là tín thác, chờ đợi tất cả từ tay Chúa và đón lấy tất cả như hồng ân nhưng không. Niềm tin phát sinh kiên nhẫn và với lòng khiêm cung trước Thiên Chúa qua mọi hoàn cảnh trong cuộc đời, chúng con sẽ được Thiên Chúa ở cùng và thi ân…
Ý lực sống:
“Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa,
và có Đức Chúa làm chỗ nương thân” (Gr 17,7).
--------------------------------
(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)
Đức tin có sức mạnh vô song, có khả năng đảo ngược tình cảnh hay đời người, giúp chúng ta vượt qua được gian khổ và làm được những việc quá sức tự nhiên của mình. Người phụ nữ Canaan nhờ lòng tin mạnh mẽ đã nhận được điều bà muốn xin. Tuy nhiên con gái của bà bị quỷ ám khốn cực và các thầy thuốc đều bó tay vô phương chữa trị, tức là tình cảnh của bà đã tuyệt vọng về mặt tự nhiên, nhưng vì đức tin mạnh mẽ của bà, Chúa Giêsu đã chữa cho con bà được khỏi ngay lúc đó.
Ta thường hát bài “Lòng mẹ” của nhạc sĩ Y Vân: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào”. Người đàn bà Canaan này rất mực thương con nên đã đến xin Chúa Giêsu chữa cho con bà bị quỷ ám. Nhưng ngoài tình mẹ thương con cao độ, còn có một điểm khác đáng chú ý, đó là sự phát triển lòng tin nơi bà mẹ. Trước tiên bà gọi Chúa Giêsu là Con Vua Đavít, một tước hiệu mang tính cách trần thế, nghĩa là bà chỉ nhìn Chúa Giêsu như một con người. Tiếp đến, khi nghe Chúa Giêsu nói Ngài chỉ được sai đến cùng chiên lạc nhà Israel, bà đã chấp nhận Ngài là một vị tiên tri, và hơn thế nữa, bà gọi Ngài là “Lạy Ngài”, một tước hiệu mang tính cách thiêng liêng, tương tự như danh hiệu “Lạy Chúa”, và như thế chứng tỏ rằng cuối cùng bà đã chấp nhận Thần tính nơi Chúa Giêsu.
Người đàn bà Canaan có lẽ không hề biết đến lề luật Maisen, nhưng đã sống niềm tin của mình một cách mãnh liệt. Lòng tin đó được thể hiện qua việc phó thác hoàn toàn vào quyền năng của Chúa Giêsu. Trong tình thế hầu như tuyệt vọng, bà đã chạy đến với Chúa Giêsu; sự van nài của bà cho thấy sự kiên nhẫn và lòng tin sắt đá của bà. Sự khác biệt cơ bản giữa một người có niềm tin và một người không có niềm tin, không hệ tại ở danh hiệu Kitô hay những thực hành đạo đức, mà chính là lòng tin. Tin vào sự hiện diện quyền năng của Thiên Chúa trong cuộc sống, tin vào tình yêu vô biên của Ngài, tin vào ý nghĩa của cuộc sống, tin vào tình người, đó là sắc thái chủ yếu của người có niềm tin: chính trong niềm tin đó con người gặp gỡ Chúa Giêsu (Mỗi ngày một tin vui).
Có thể nói người phụ nữ Canaan đã thắng được Chúa Giêsu nhờ lòng tin và sự khiêm tốn. Thật thế trước lời đáp trả cứng cỏi của Chúa: “Ta chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Israel...”, “Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó”, nhưng người phụ nữ Canaan không buông xuôi ngã lòng, bà khiêm tốn đáp: “Đúng thế, nhưng chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. Thiên Chúa phải đầu hàng trước niềm tin và sự khiêm tốn của con người.
Nhà văn Pháp Marcel Proust nhận xét: một cuộc thám hiểm thật sự không phải ở chỗ tìm gặp được những vùng đất mới, cho bằng có được đôi mắt mới. Đôi mắt ấy giúp họ khám phá thế giới quen thuộc, nhưng chứa chất nhiều bí ẩn, tuyệt diệu hữu ích cho cuộc sống.
Người đàn bà xứ Canaan trong trình thuật Tin mừng hôm nay, quả thật có đôi mắt mới. Bà không nhìn Chúa Giêsu như những người Nazareth, đồng hương của Chúa, để khinh bỉ Ngài. Bà cũng không nhìn Chúa Giêsu như những đồng hương xứ Canaan của bà, để xa tránh Chúa. Trái lại, bà nhận ra trong con người Giêsu ấy quyền năng, mà không ai trong xã hội có thể có để cứu giúp bà trong cơn khốn đốn. Ở nơi Ngài, bà trực giác nhận ra một lòng thương xót thường trực, khích lệ bà tìm đến. Như người thấy được kho báu trong ruộng, bà bỏ hết những mặc cảm, đến với Chúa Giêsu và đặt tất cả niềm tin vào Ngài. Với bà, Giêsu là Đấng làm cho con tim của bà và con bà “vui trở lại” (5 phút Lời Chúa).
Thánh nữ Monica đã kiên trì cầu nguyện trong suốt 27 năm ròng để con trai của bà được ơn hoán cải trở về với đức tin Công giáo. Cuối cùng, Thiên Chúa đã nhận lời bà cầu xin. Người không chỉ đưa cậu con trai Augustinô trở về, mà còn làm cho cậu trở thành một vị đại thánh trong Giáo hội.
Niềm tin mãnh liệt và thái độ khẩn khoản nài xin của người phụ nữ đã làm Chúa Giêsu cảm động, và Người không nỡ từ chối cứu giúp. Nhờ vậy, cô con gái của bà được chữa lành. Sự kiên trì cầu xin của người đàn bà xứ Canaan làm gương sáng cho người Kitô hữu chúng ta.
Thật vậy, trong cuộc sống ngày nay, đức tin gặp rất nhiều thử thách. Tuy nhiên, có trải qua thử thách, chúng ta mới chứng tỏ được lòng tin mạnh mẽ của mình. Vì vậy, chúng ta được mời gọi luôn tin tưởng, cậy trông vào Chúa trong mọi hoàn cảnh cuộc đời.
Truyện: Niềm tin nửa vời
Một người vô thần rất mê leo núi. Ngày kia trượt chân té ngã lăn từ đỉnh núi xuống. Nhưng may thay ông nắm được một cành cây nằm chơ vơ giữa đỉnh cao và vực thẳm. Giữa lúc chỉ còn biết chờ chết, một ý nghĩ chợt đến với ông: Tại sao không gọi Chúa đến cứu giúp. Thế là lấy hết sức lực, người vô thần la lớn: “Lạy Chúa”. Tuy nhiên, bốn bể chỉ có yên lặng và ông chỉ nghe được tiếng dội của lời kêu van. Một lần nữa, người vô thần lại kêu xin tha thiết hơn: “Lạy Chúa, nếu quả thật Chúa hiện hữu thì xin hãy cứu con. Con sẽ tin Chúa và dạy cho người khác cũng tin Chúa”. Sau một hồi thinh lặng, bỗng người vô thần nghe một tiếng vang dậy cả vực thẳm và núi cao: “Gặp hoạn nạn thì ai cũng cầu xin như thế”. “Không, lạy Chúa, nghìn lần không. Con không giống như những người khác. Chúa không thấy sao, con đã bắt đầu tin từ khi nghe tiếng Chúa phán. Nào bây giờ xin Chúa hãy cứu con đi, và con sẽ cao rao danh Chúa cho đến tận cùng trái đất”. Tiếng ấy trả lời: “Được lắm, Ta sẽ cứu ngươi. Vậy nếu ngươi tin thì hãy buông tay ra”. Người vô thần thất vọng thốt lên: “Buông tay ra ư, bộ Chúa tưởng tôi điên sao?”.
--------------------------------
(Lm Carôlô Hồ Bạc Xái)
A. Hạt giống...
Chúa Giêsu đáp lại lời xin của một phụ nữ Canaan. Có một số điểm đáng ta lưu ý:
1. Về thân phận của bà này: Bà là một người bị xã hội do thái khai trừ vì bà vừa là phụ nữ vừa là người ngoại.
2. Về sự thử thách mà bà gặp phải: thân phận bị khai trừ, Chúa Giêsu lại làm ngơ trước lời bà xin, lại còn nói nặng ví bà là chó. Nhưng bà đã kiên trì vượt qua mọi thử thách ấy.
3. Kết quả: Chúa Giêsu khen bà “có lòng tin mạnh”, và còn nói “bà muốn sao thì được vậy”.
B.... nẩy mầm.
1. Có thể khẳng định rằng không ai không gặp thử thách về đức tin. Chính Chúa Giêsu muốn thế. Người phụ nữ này bị thử thách đức tin rất nặng. Vậy khi đức tin ta bị thử thách, ta đừng nản lòng, vì đó là chuyện phải có thôi, chẳng sớm thì muộn.
2. “Xin Thầy thương (mà ban ơn) để cho bà ấy về đi, vì bà cứ theo chúng ta mà kêu mãi”:
- Ý nghĩa thái độ của các môn đệ: làm ơn không phải vì thương mà vì để khỏi bị quấy rầy nữa. Phần Chúa Giêsu thì chẳng những muốn ban thứ ơn mà bà xin, mà còn muốn ban thêm một ơn quý trọng hơn nữa là chính đức tin.
- Khi tôi xin Chúa ơn gì mà Chúa chậm ban, tôi hãy tự nghĩ: tôi muốn Chúa ban ơn cho nhanh để Chúa khỏi bị quấy rầy nữa, hay thà chậm một chút nhưng được thứ ơn quý hơn ơn mà tôi xin.
3. “Muốn sao thì được vậy”: quả là một ơn ban vô cùng to lớn. Ai mà không mong mình muốn sao được vậy. Chúa Giêsu sẵn lòng ban cho ta ơn này miễn là chúng ta có đức tin mạnh.
4. “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con” (Mt 15,26)
Đọc xong đoạn Phúc Âm, một bạn trong nhóm nói: “Có những lúc mình cảm thấy Chúa thử thách mình quá đáng!” Tôi cũng đã có lúc như vậy. Những lúc ấy tôi đã nổi giận, đã nghĩ: chẳng cần Chúa nữa. Và mỗi lúc tôi càng cảm thấy thất vọng. Phải, tôi đã không có được sự tin tưởng, phó thác của người đàn bà dân ngoại.
Lạy Chúa, Chúa thử thách để lòng tin của con mạnh mẽ. Với lòng tin mạnh mẽ, con mới có thể làm được mọi điều thiện hảo. (Hosanna)
5. ‘Vâng lạy Ngài, vì chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi xuống”: người phụ nữ này chẳng những có đức tin mà còn có lòng khiêm tốn. Khi xin thì phải có sự khiêm tốn kèm theo. Xin người ta và xin những thứ vật chất mà còn phải khiêm tốn, huống chi xin Chúa và xin những ơn siêu nhiên.
6. Bấy giờ Chúa Giêsu đáp: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật, bà muốn sao thì được như vậy”. Từ giờ đó, con gái bà được khỏi. (Mt 15,28)
Một lần nọ, tôi cùng nhóm bạn trò chuyện. Chúng tôi nói về sự sống và cái chết. Câu chuyện mỗi lúc một căng thẳng, mọi người tranh cãi kịch liệt. Khi tôi nói: “Con người chết đi mai mốt tới ngày tận thế sẽ sống lại”, thì một số bạn bật cười và cười một cách diễu cợt. Tôi muốn biện bạch cho lời nói của mình nhưng không thể vì họ còn mãi cười. Có điều làm tôi rất buồn là thấy có cả những người đồng niềm tin với tôi cũng cười. Tôi không hiểu vì sao họ cười, có lẽ vì bè bạn cười chăng, vì sợ quê lây với tôi hay vì tự bản thân họ cho đó là phi lý... Niềm tin của chúng ta như thế có đúng chưa? Người đàn bà dân ngoại còn hơn tôi và bạn, một mình bà chạy đến với Chúa Giêsu mà tuyên xưng niềm tin của mình cho dù xung quanh là những người xa lạ, chưa quen hoặc chưa tin vào Chúa. Hình ảnh về người đàn bà dân ngoại và hình ảnh về những người bạn ấy giúp tôi suy nghĩ lại niềm tin của chính mình. Tôi đang tin vào ai hay tin vào cái gì? (Hosanna)
Lạy Chúa, xin củng cố niềm tin của con, xin thêm sức để con biết sống niềm tin ấy ở giữa anh em. (Hosanna)
--------------------------------
(Lm Giuse Đinh Tất Quý)
1. Có thể khẳng định rằng, trong đời không ai mà không gặp thử thách. Qua việc Chúa thử thách người đàn bà trong bài Tin Mừng hôm nay, dường như Chúa muốn nói với mọi người rằng, thử thách, nhất là sự thử thách về đức tin là cơ hội, là dịp để cho con người được trưởng thành hơn.
Đây là những tư tưởng được ghi từ Internet:
- Một con tằm phải trải qua đau đớn để tự chui ra khỏi cái kén và trở thành con bướm biết bay.
- Một hạt giống nằm sâu trong lòng đất nảy mầm phải tự vươn thẳng lên xuyên qua tầng đất dày để thành cây cứng cáp.
- Con tằm nào được người ta cắt vỏ kén chui ra sẽ mãi bò quẩn quanh cái kén mà không bao giờ thành loài bướm biết bay.
- Hạt giống nằm trên mặt đất dễ dàng nảy mầm nhưng sẽ bị bật gốc khi gặp cơn giông tố.
- Bạn đã từng nghe nói đến vỉa đá ngầm nổi tiếng kéo dài 1.800 dặm từ New Guinea đến Úc mà khách du lịch một khi đã đến nơi đây, không thể không ghé thăm. Tại đây, một người khách đã hỏi người hướng dẫn viên du lịch một câu hỏi khá thú vị:
- Tôi quan sát thấy cũng vỉa đá này, ở ngoài đại dương nó thật rực rỡ và sống động trong khi trong hồ nước nó lại xám xịt và thiếu sức sống. Tại sao lại như thế?
Người hướng dẫn viên giải thích rằng: “Những vỉa đá dưới hồ tuy chìm trong nước nhưng vì không phải đấu tranh sinh tồn nên chúng chẳng thể hoàn thiện được. Trong khi đó, những vỉa đá phía đại dương lại không ngừng đối diện với biết bao nhiêu là sức mạnh khắc nghiệt của thiên nhiên như sóng gió, bão tố... để tồn tại. Và khi chịu đựng những thử thách như thế, nó mới có cơ hội để thay đổi và thích nghi. Nó vẫn phát triển thật mạnh mẽ và liên tục tái sinh”.
- Có nghịch cảnh, có thử thách thì mới biết rằng, bạn đang sống. Thử thách giúp bạn mạnh mẽ và kiên trì hơn. Nếu gặp khó khăn, bạn không nên quá lo lắng hay sợ hãi. Đừng chùn bước và hãy tự nói với mình rằng: “Nhờ vậy mà ta trưởng thành...”.
- Con người không thể chọn cho mình nơi sinh ra, nhưng có thể tự chọn cho mình một cách sống. Thất bại, bất hạnh có thể là điều tuyệt vọng với người này nhưng có thể là may mắn với người khác - tùy vào cách chúng ta đón nhận, bằng cách dũng cảm vượt qua hay tự thương thân trách phận mà gục ngã.
2. Chúng ta hãy nghe Lời Chúa nói với bà: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật, bà muốn sao thì được như vậy”. Từ giờ đó, người con gái bà được khỏi. (Mt 15,28).
Nếu có ai đó nghiên cứu về lịch sử thơ văn thì người đó không thể không biết đến tên tuổi của Lý Bạch. Lý Bạch là một trong những thiên tài lừng lẫy nhất của thế giới. Thơ ông bát ngát những ước mơ đẹp, thấm thía tình thương yêu con người. Làm sao mà ông được như vậy?
Tương truyền, từ thuở nhỏ, Lý Bạch đã yêu say đắm thiên nhiên, ao hồ, sông núi nhất là những con người trong vùng. Chú bé thường mải mê đi tìm những hoa cỏ đẹp, có khi quên cả buổi học, chán cả lớp học.
Một hôm, chú men theo dòng suối đến chân núi, thấy một người đàn bà tóc bạc ngồi mê mải với một phiến đá và một mảnh sắt nhỏ. Chú đến gần xem và tò mò hỏi:
- Bà ơi, bà mài sắt làm gì thế bà?
Bà nhìn chú bé đáng yêu, đáp:
- Bà mài sắt để làm kim khâu cháu ạ!
Mặt bà sao phúc hậu thế. Giọng bà sao hiền từ thế. Rồi bà bảo bé Lý Bạch ngồi bên bà. Chú nhìn đăm đăm hai bàn tay đưa đi đưa lại miếng sắt hàng trăm ngàn lần trên phiến đá mài, chú khẽ hỏi:
- Miếng sắt to thế này mà làm kim được hở bà?
Bà bảo:
- Mài mãi, sắt cũng mòn đi, bé lại, rồi thành cái kim.
Chú lại hỏi:
- Thế bao giờ mới xong hở bà?
Bà đáp, giọng ôn tồn, nhỏ nhẹ:
- Bà cứ mài, mài mãi, hôm nay, mai, một tháng, hai tháng, năm nay, sang năm, thế nào cũng xong - bà nói tiếp, dằn giọng hơn - phải xong.
Chào bà cụ, chú bé đứng dậy ra về. Suốt dọc đường, chú suy nghĩ về lời bà: có công mài sắt, có ngày nên kim. Cái phút bà ngẩng nhìn chú với ánh mắt sáng mà nói: “Thế nào cũng xong, phải xong”, cái phút ấy làm bừng lên một luồng sáng thật sáng nơi lòng chú bé và suốt đời vẫn còn rung động mãi trong tâm hồn, trái tim của Lý Bạch. Từ ngày ấy, Lý Bạch chú ý hơn đến sách vở, lớp học, rồi quen dần, ham mê đọc thật nhiều sách, ghi chép cẩn thận. Với tâm hồn dễ xúc động, với kiến thức rộng bao la, Lý Bạch để lại cho đời sau những áng thơ tuyệt mỹ.
Xin được kết thúc bằng lời chúc của Thánh Giacôbê: “Phúc thay người biết kiên trì chịu đựng cơn thử thách, vì một khi đã được tôi luyện, họ sẽ lãnh phần thưởng là sự sống Chúa đã hứa ban cho những ai yêu mến Người.” (Gc 1,12).
--------------------------------
(Lm. Micae Võ Thành Nhân)
Đọc bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy nếu chúng ta là người đàn bà quê ở Canaan có đứa con bị bệnh quỷ ám, chắc chúng ta sẽ tự ái rất nhiều khi Chúa nói: “Khi ấy, ra khỏi đó, Chúa Giê-su lui về miền Tyrô và Siđon, thì liền có một bà quê ở Ca-na-an từ xứ ấy đến mà kêu cùng Người rằng: “Lạy Ngài là con Vua Ðavít, xin thương xót tôi: con gái tôi bị quỷ ám khốn cực lắm”. Nhưng Người không đáp lại một lời nào. Các môn đệ đến gần Người mà rằng: “Xin Thầy thương để bà ấy về đi, vì bà cứ theo chúng ta mà kêu mãi”. Người trả lời: “Thầy chỉ được sai đến cùng chiên lạc nhà Israel”. Nhưng bà kia đến lạy Người mà nói: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi”. Người đáp: “Không nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó” (Mt 15, 21 – 26). Thật sự Chúa nói như vậy để thử thách niềm tin của bà vào Chúa mà thôi. Lại nữa, ơn mà Chúa ban cho bà sắp được đây là một ơn vô cùng cao quý, quá trọng đại, ban nhưng không, cho nên Chúa muốn cho bà vững tin vào Chúa hơn. Chúng ta thấy đây là một bài học cho mỗi người chúng ta. Một khi chúng ta tin vào Chúa, thì dù có đối diện bao gian nan thử thách, bão giông của cuộc đời này, chúng ta cứ vững tin vào Chúa: “Dù ai nói ngả nói nghiêng, lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân” (TN VN). Nhưng trên hết, tuy Chúa thử thách niềm tin của bà, Chúa vẫn thương bà vô cùng: “Ta yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, bởi đó Ta đã xót thương dắt ngươi đến. Rồi Ta sẽ tái thiết ngươi….” (Gr 31, 3).
Trước câu nói của Chúa là không nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó. Dường như bà đã có một niềm tin mạnh mẽ vào Chúa rồi, cho nên Chúa muốn thử thách bà mạnh thêm một chút hơn nữa để bà càng xác tín hơn vào Chúa. Đang khi đó, ở những nơi này nơi kia, khi Chúa chữa bệnh cho những người khác, thì Chúa lại nói có vẻ nhẹ nhàng hơn, không mạnh mẽ như đã nói với bà đây, như là trường hợp Chúa chữa lành bệnh cho người bị bại liệt do bốn người khiêng đến với Chúa trong lúc Chúa đang rao giảng Tin Mừng, là hãy vững tin, tội con đã được tha rồi và Chúa chữa lành anh (xMt 9, 1 – 9). Chúng ta thấy vì bà vẫn vững tin vào Chúa, cho nên bà đã thưa lên với Chúa một câu rất khôn ngoan, rất dễ thương, rất khiêm nhường: “Vâng, lạy Chúa, vì chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi xuống” (Mt 15, 27). Ở đây, chúng ta cảm nhận được bà là một người sống rất chân tình, sống rất thật lòng, và đây là một quá trình sống của bà, cho nên bà mới thưa lên được với Chúa như vậy.
Chúa thương bà và bà tin vào Chúa, cho nên Chúa đã nhậm lời và ban ơn cho bà, bà đã được như ý: “Bấy giờ, Chúa Giê-su trả lời cùng bà ấy rằng: “Này bà, bà có lòng mạnh tin. Bà muốn sao thì được vậy”. Và ngay lúc đó, con gái bà đã được lành” (Mt 15, 28). Như vậy, chẳng ai đến với Chúa mà ra về tay không: “Chẳng ai trông cây Chúa, mà phải nhục nhằn tủi hổ, chỉ người nào tự dưng phản phúc, mới nhục nhằn tủi hổ mà thôi” (Tv 25, 3).
Lạy Chúa, Chúa đầy quyền năng và mạnh mẽ vô song, Chúa sẵn sàng tha thứ tội lỗi và ban ơn cho chúng con, Chúa biến đổi tang thương thành niềm vui, hạnh phúc cho chúng con, chúng con xin Chúa nâng đỡ, ủi an, và làm cho chúng con mỗi ngày sống tốt hơn. Amen.
--------------------------------
Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Tư Tuần 18 Thường Niên, năm Chẵn này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúng ta tự hào vì được Chúa dựng nên và hướng dẫn, xin Chúa hằng rủ thương nâng đỡ chúng ta, cùng ban ơn đổi mới và giữ gìn mọi loài Chúa dựng nên cho chúng ta được nhờ.
Tự hào vì được Chúa dựng nên và hướng dẫn, ta hãy trung thành với Chúa, để được cứu thoát, như trong Bài đọc 1 Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Amốt: Tàn phá rồi phục hưng. Amốt báo cho dân tội lỗi biết: đền thờ của họ sẽ bị phá bình địa. Ítraen tự mãn là dân được Chúa chọn cũng sẽ cùng chung số phận thôi. Nhưng Amốt linh cảm sẽ có một số ít nhờ trung thành mà được cứu thoát, và tìm được niềm vui trong một thế giới đã đổi mới… Các người còn lại và tất cả các dân ngoại được mang danh Ta sẽ tìm kiếm Chúa. Ta sẽ trở lại và sẽ xây dựng lại lều Đavít đã sụp đổ, Chúa phán như vậy. Thiên Chúa đã đoái thương chọn trong các dân ngoại một dân mang danh Người.
Tự hào vì được Chúa dựng nên và hướng dẫn, ta hãy giữ vững đường lối Chúa, như trong Bài đọc 2 Kinh Sách, trích Bức Thư được coi là của thánh Banaba: Con đường dẫn tới ánh sáng… Lạy Chúa, mọi nẻo đường tà, chân con chẳng bước, cốt làm sao giữ được lời Ngài. Con chẳng lìa xa điều Ngài quyết định, bởi chính Ngài chỉ giáo cho con.
Tự hào vì được Chúa dựng nên và hướng dẫn, ta hãy tin tưởng cậy trông vào Chúa, như trong Bài đọc 1 Thánh Lễ, trích sách ngôn sứ Giêrêmia: Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở. Đáp Ca, Gr 31: Chúa canh giữ chúng ta, như mục tử canh giữ đàn chiên. Muôn dân hỡi, lắng nghe lời Chúa và loan đi các đảo xa vời, rằng Đấng đã phân tán Ítraen, cũng chính Người sẽ thâu tập lại, canh giữ họ như mục tử canh giữ đàn chiên.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người. Trong Bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Ngài là Đấng phù trợ, là Đấng giải thoát con, muôn lạy Chúa, xin đừng trì hoãn. Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương: Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ítraen mà thôi. Chúa canh giữ chúng ta, như mục tử canh giữ đàn chiên. Chúa phán: Tang tóc họ, Ta biến thành hoan hỷ, và sau cảnh sầu thương, sẽ cho họ được an ủi vui mừng. Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người. Ta sẽ đổi vận mạng của Ítraen dân Ta: chúng sẽ tái thiết những thành phố điêu tàn và định cư ở đó. Thiên Chúa đã đoái thương chọn trong các dân ngoại một dân mang danh Người: Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con, nhưng, lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống: Chính tôi là bánh trường sinh, ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ. Nhờ tin, mà “chó con” sẽ trở thành “con cái”, con cái ánh sáng, vậy, ta hãy chứng tỏ lòng tin mạnh mẽ của mình bằng cách: hãy yêu mến Đấng đã tạo thành ta; hãy tôn kính Đấng đã nhào nắn nên ta; hãy tôn vinh Đấng cứu chuộc ta khỏi tử thần; hãy có tâm hồn đơn sơ nhưng đầy Thần Khí; hãy yêu mến người thân cận hơn chính mình. Bất cứ điều gì xảy đến, hãy đón nhận như một ơn lành, vì biết rằng không gì xảy ra mà không do ý Thiên Chúa. Hãy chia sẻ mọi sự với người thân cận và đừng bảo cái gì là của riêng. Hãy xây dựng an bình, giải hòa những kẻ đang tranh chấp với nhau. Hãy xưng thú tội lỗi. Đừng đến cầu nguyện mà lòng còn gian ác. Đó là con đường dẫn tới ánh sáng. Chúng ta tự hào vì được Chúa dựng nên và hướng dẫn, ước gì Chúa hằng rủ thương nâng đỡ chúng ta, cùng ban ơn đổi mới và giữ gìn mọi loài Chúa dựng nên cho chúng ta được nhờ. Ước gì được như thế!
---------------------------------
năm A. Lễ kính.
"Đây là Con Ta yêu dấu".
* Bốn mươi ngày trước lễ Suy Tôn Thánh Giá, lễ Hiển Dung nhắc cho các tín hữu nhớ rằng Chúa Kitô đã muốn ‘chuẩn bị tâm hồn các môn đệ khỏi vấp phạm vì khổ hình thập giá’. Nhưng đồng thời lễ này cũng loan báo cho mọi tín hữu biết mình được nhận làm con cái Thiên Chúa, nhờ Con Thiên Chúa là Đức Giêsu, và loan báo ánh sáng diệu kỳ một ngày kia sẽ rạng ngời trên toàn thân thể nhiệm mầu, tức là Hội Thánh.
-------------------------------
Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê, và Gioan đi riêng với Người lên núi cao, và Người biến hình trước mặt các ông, và áo Người trở nên chói lọi trắng tinh như tuyết, không thợ giặt nào trên trần gian có thể giặt trắng đến thế. Rồi Êlia cùng Môsê hiện ra và đàm đạo với Chúa Giêsu.
Bấy giờ Phêrô lên tiếng thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia". Phêrô không rõ mình nói gì, vì các ông đều hoảng sợ. Lúc đó một đám mây bao phủ các Ngài, và từ đám mây có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người". Bỗng nhìn chung quanh, các ông không còn thấy ai khác, chỉ còn một mình Chúa Giêsu với các ông.
Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các ông đừng thuật lại cho ai những điều vừa xem thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lời căn dặn đó, nhưng vẫn tự hỏi nhau: "Từ trong cõi chết sống lại nghĩa là gì?"
-------------------------------
Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.
Đức Giêsu mê những ngọn núi vắng vẻ,
đó là nơi Ngài gặp gỡ Cha, chìm đắm trong cầu nguyện.
Có nhiều ngọn núi trong cuộc đời Đức Giêsu:
núi của Bài Giảng về các mối phúc, núi Tabo nơi Ngài biến hình,
núi Sọ và núi Ô-liu nơi Chúa thăng thiên.
Những ngọn núi trở thành cột mốc đánh dấu.
Những ngọn núi đan vào nhau làm nên cuộc hành trình.
Ba môn đệ thân tín được Ngài đưa lên núi Tabo,
để củng cố niềm tin của họ,
trước khi họ thấy Ngài như người bị Cha bỏ rơi
và bị mọi người khai trừ ruồng rẫy trên núi Sọ.
Nhưng vinh quang của núi Tabo
chỉ là một loé sáng bất ngờ và tạm thời,
báo trước vinh quang viên mãn khi Ngài về Thiên Quốc.
Biến hình là một hành động của Thiên Chúa Cha.
Sau khi gặp Cha, Đức Giêsu được Cha biến hình.
Sự biến đổi này ảnh hưởng đến thân xác và khuôn mặt,
và đến cả y phục của Ngài.
Vinh quang của Con Thiên Chúa làm người
vốn bị che khuất, nay được Cha hé mở cho các môn đệ.
Ông Môsê ngày xưa, sau khi lên núi gặp Đức Chúa
cũng đã phải che lại khuôn mặt chói lọi của mình.
Chẳng ai gặp Thiên Chúa thực sự mà lại không biến hình.
Đời sống kết hiệp thực sự với Thiên Chúa
làm cho người Kitô hữu tỏa sáng rực rỡ.
Biến hình không phải là trở thành cái gì khác mình,
như Tôn Ngộ Không với các trò biến hoá.
Biến hình là trở lại với cái tôi sâu thẳm của mình:
tôi là con yêu dấu của Thiên Chúa.
Từ khi chịu phép Thánh Tẩy, chúng ta
đã bước vào một cuộc biến hình, từ từ và liên tục.
Nếu chúng ta chấp nhận đi vào đường hẹp của Thầy Giêsu
chúng ta sẽ được biến hình đổi dạng
và phản ánh ngời sáng hơn vinh quang Chúa (x. 2Cr 3,18).
Chúng ta phải trở thành điều chúng ta đang là.
Đời sống Kitô hữu là một cuộc lên núi
và xuống núi với Chúa Kitô mỗi ngày.
Cần cảm nếm được sự dịu ngọt và hạnh phúc
khi được chiêm ngắm Chúa Giêsu trên núi cao.
Nhưng cũng phải xuống núi với Chúa
để đi đến nơi hiến mình, nơi phục vụ,
đi cùng và đi sau Chúa Giêsu đến với Vườn Dầu và Núi Sọ.
Ước gì chúng ta dám đón nhận những gai góc đời thường
và nhìn mọi khổ đau bằng cái nhìn mới mẻ.
Người Kitô hữu lên núi gặp Chúa
để rồi được sai xuống núi hành đạo.
Nhưng xuống núi rồi, lại có khi thấy cần lên núi.
Gợi Ý Chia Sẻ
Một số bạn trẻ bỏ rất nhiều tiền để sửa sang sắc đẹp và chạy theo mốt. Bạn nghĩ gì về tương quan giữa vẻ đẹp bên ngoài và vẻ đẹp bên trong tâm hồn con người?
Cầu nguyện có thể làm con người "biến hình". Bạn có tin điều đó không? Bạn có quen ai đã biến đổi sâu xa nhờ cầu nguyện không?
Cầu Nguyện:
Khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào,
xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng.
Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc,
xin cho con quý chuộng những lúc được an nghỉ trước nhan Chúa.
Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo,
xin cho con biết thanh thản
ngồi dưới chân Chúa để nghe lời Người.
Khi bị kéo ghì bởi đam mê dục vọng,
xin cho con thoát được lên cao
nhờ mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện.
Lạy Chúa,
ước gì tinh thần cầu nguyện thấm nhuần vào cả đời con.
Nhờ cầu nguyện, xin cho con gặp được con người thật của con
và khuôn mặt thật của Chúa.
---------------------------------
Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.
Ðức Giêsu đưa ba môn đệ thân tín lên núi cao,
nơi đất và trời gần nhau, nơi thích hợp cho cầu nguyện.
Lần cầu nguyện này thật khác thường.
Ðức Giêsu biết mình đã bước vào một khúc quanh quan trọng.
Ðau khổ và cái chết đang chờ Ngài (x. Mc 8, 31).
Nhưng Ngài can đảm đón lấy trong tình yêu đầy hy vọng.
Ðức Giêsu buông mình cho Cha trong sự vâng phục tín thác.
Chưa bao giờ Ngài thấy mình là Con như bây giờ.
Chính vào giây phút xuất thần ngây ngất này
mà Ngài được Cha biến đổi hình dạng.
Khuôn mặt Ngài chói sáng, y phục Ngài rực rỡ trắng tinh.
Hai nhân vật lớn của Cựu ước là Môsê và Êlia,
đại diện cho Lề Luật và Ngôn Sứ, cho cả dòng lịch sử Ítraen,
hiện ra trò chuyện với Ngài.
Ðức Giêsu được Cha biến hình một cách bất ngờ.
Ðây là hành vi ưu ái mà Cha dành cho Con,
như một nâng đỡ trước khi Con bước vào cuộc khổ nạn.
Chính Cha là Ðấng vén mở vinh quang thần linh của Con,
vinh quang này bị che khuất khi Con sống phận người.
Chính Cha hiện diện trong đám mây che phủ.
Chính Cha giới thiệu Con và nhắn nhủ các môn đệ.
Ðức Giêsu được Cha biến hình vì Ngài dám sống như Con thảo.
“Ðây là Con Ta yêu dấu” thật là lời chuẩn nhận của Cha.
Càng sống như Con thảo thì căn tính Ngài càng tỏa sáng.
Vinh quang rạng ngời là vinh quang của người Con dấu yêu.
Ba môn đệ ngỡ ngàng và kinh sợ.
Phêrô muốn kéo dài mãi hạnh phúc bất ngờ này.
“Ở đây thật tuyệt. Chúng con xin dựng ba lều...”
Nhưng tiếng từ trời đưa ông về với thực tế: “Hãy nghe Người.”
Hạnh phúc của núi cao không phải là trạm dừng.
Ðây chỉ là một củng cố đức tin trước thử thách sắp đến.
Ðiều quan trọng Cha nhắn nhủ là hãy nghe Người.
Nghe những lời loan báo về số phận của Thầy và trò.
Thầy sắp bước vào con đường hẹp.
Trò cũng được mời đi vào con đường ấy.
Chiêm ngắm Thầy biến hình và muốn ở lại đó, là điều dễ.
Vâng nghe lời Thầy là điều khó hơn nhiều
vì lời đó đòi từ bỏ mình, vác thập giá, mất mạng sống.
Có vẻ ba môn đệ không rút được nhiều ích lợi ngay
từ sau kinh nghiệm độc đáo này (x. 2Pr 1, 16-18).
Họ chỉ được chút hưng phấn chóng qua nhờ chiêm ngắm,
nhưng lại không đủ sức trung tín theo Thầy đến cùng,
để nhìn vào khuôn mặt đầy mồ hôi của Thầy trong Vườn Dầu,
và khuôn mặt đầy thương tích của Thầy trên Núi Sọ.
Chúng ta được làm người là để được biến hình.
Cuộc biến hình diễn ra mãi cho đến ngày nhắm mắt.
Nhờ nghe lời Ðức Giêsu và sống như Ngài
mà thân xác, khuôn mặt, trái tim ta được biến đổi.
Cuộc đời người Kitô hữu phải có khả năng tỏa sáng,
nhờ sống như Con Cha và thực sự trở thành Con.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xin biến đổi con,
xin biến đổi con từ từ qua cầu nguyện.
Mỗi lần con thấy Chúa,
xin biến đổi ánh mắt con.
Mỗi lần con rước Chúa,
xin biến đổi môi miệng con.
Mỗi lần con nghe lời Chúa,
xin biến đổi tai con.
Xin làm cho khuôn mặt con rạng ngời hơn
sau mỗi lần gặp Chúa.
Ước chi mọi người thấy nét tươi tắn của Chúa
trong nụ cười của con,
thấy sự dịu dàng của Chúa
trong lời nói của con.
Thế giới hôm nay không cần những Kitô hữu
có bộ mặt chán nản và thất vọng.
Xin cho con biết nhẫn nại và can đảm
cùng đi với Chúa và với tha nhân
trên những nẻo đường gập ghềnh. Amen.
------------------------------
TGM Giuse Nguyễn Năng
Sứ điệp: Chúa Giêsu đã biến hình trước mặt các môn đệ, như một dấu hiệu loan báo trước về vinh quang phục sinh của Ngài. Để được phục sinh với Chúa Giêsu, chúng ta phải biến đổi cuộc sống từng ngày.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, mỗi ngày Chúa nhật, Giáo Hội long trọng cử hành mầu nhiệm Chúa chịu chết và phục sinh. Ngày Chúa nhật cũng giúp con tìm lại ý nghĩa của cuộc đời mình: Chúa đã sáng tạo nên con để con dự phần vinh quang với Chúa. Con đang sống và chờ đợi toàn diện con người con - cả thân xác và linh hồn- được phục sinh với Chúa. Và suốt cả quãng đời này, Chúa vẫn hiện diện và đồng hành với con.
Lạy Chúa Giêsu, vinh quang biến hình không làm quên lãng khổ nạn trên đồi Can-vê. Khuôn mặt sáng chói hôm nay, một ngày kia sẽ “không còn hình tượng” nữa… và áo chói lọi hôm nay, một ngày kia sẽ bị lột trần phân chia! Vì thế, con cũng cần chấp nhận những hy sinh, trái ý trong đời sống như một thanh luyện để chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa biến hình trên núi như một khởi điểm cho sự biến đổi cả đời sống con. Con phải kiên nhẫn hằng ngày trong ý thức tự thanh luyện chính mình. Xin Chúa giúp con biến đổi tâm hồn bằng thái độ đến với Chúa, bằng tâm tình thống hối ăn năn, và nhất là gia tăng đời sống kết hợp với Chúa trong tình con thảo. Xin Chúa biến đổi thân xác và tâm hồn con nên đồng hình, đồng dạng với Chúa. Amen.
Ghi nhớ: “Ðây là Con Ta yêu dấu”.
------------------------------
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
Tin mừng hôm nay hé mở cho ta thấy vinh quang mà Con Thiên Chúa đã có trước khi đến trần gian. Vinh quang mà Đức Giêsu hé mở cho các Tông đồ thân tín được thể hiện sáu ngày khi Ngài loan báo về cuộc khổ nạn và cái chết mà Ngài sắp trải qua. Qua cuộc biến hình này, Ngài muốn củng cố niềm tin của các Tông đồ vào sứ mệnh của Ngài: Ngài phải chịu chết rồi mới sống lại vinh hiển, Ngài phải trải đi từ sự sống qua sự chết rồi mới đạt tới sự Phục sinh vinh hiển. Và đó cũng là con đường tất yếu của những ai muốn đi theo Ngài. Con đường Đức Giêsu sẽ đi qua cũng sẽ là con đường mà các môn đệ Ngài phải đi qua.
Mục đích việc biến hình của Chúa
Chắc chắn tâm tư các môn đệ vẫn còn xót xa, hoang mang bởi lời quả quyết của Đức Giêsu khi Ngài tiết lộ cho các ông: Ngài phải tới Giêrusalem, để chịu nhục hình, bị đối xử như tên tội phạm, chịu đau đớn, chịu đóng đinh vào thập giá và chết. Trước mắt họ, tương lai toàn là mầu đen nhục nhã. Nhưng toàn cảnh núi Biến hình là vinh quang. Mặt Đức Giêsu sáng rỡ ràng như mặt trời, áo Ngài rực rỡ chói loà như ánh sáng...
Chắc chắn cảnh tượng đó làm cho các ông phấn khởi, họ đã thấy vinh quang bên kia cảnh nhục nhã, khải hoàn bên kia cảnh đau khổ, vương miện bên kia thập giá. Ngay lúc ấy, họ cũng chưa phải là đã hiểu trọn vẹn, nhưng chắc chắn họ đã lờ mờ ý thức được rằng thập giá là hoàn toàn khổ nhục, nhưng nó đi liền với vinh quang, là nét chính của cuộc xuất hành đến Giêrusalem và đến cái chết.
Các ông cần được củng cố, nâng đỡ
Các môn đệ cần được nâng đỡ qua biến cố biến hình này, vì sẽ đến một ngày và ở trên một ngọn đồi kia, lúc đó bầu trời sẽ trở nên tối tăm, khuôn mặt Đức Giêsu sẽ đầm đìa mồ hôi và máu, quần áo của Ngài sẽ không còn chói sáng nữa, mà sẽ bị lột khỏi thân mình Ngài. Sẽ không có tiếng nói phát xuất từ trời nữa, nhưng chỉ có những giọng nói chế diễu và nhạo báng mà thôi. Các môn đệ sẽ bị tản mác, và không muốn tham dự vào những sự việc đang xẩy ra.
Biến cố biến hình còn cho các môn đệ niềm hy vọng là: con đường đau khổ sẽ dẫn đến hạnh phúc, cái chết tủi nhục sẽ dẫn đến ngày Phục sinh hân hoan. Tựa như học sinh kiên nhẫn và miệt mài hy vọng một mùa thi tốt đẹp, người nông phu dầm mưa dãi nắng cấy cầy vì hy vọng vào mùa gặt bội thu.
Các ông muốn hưởng những phút huy hoàng
Qua cuộc biến hình nhiều người đã có cảm nghiệm như thánh Phêrô: ông muốn làm ba lều cho Đức Giêsu, cho Maisen và cho Êlia. Ông muốn kéo dài giây phút huy hoàng ấy. Ông không muốn trở về với công việc thường ngày, ông muốn ở lại mãi mãi với vinh quang rực rỡ. Ai đã từng trải qua những giây phút thân mật, trong sáng, bình an, gần gũi với Chúa cũng đều muốn kéo dài những giây phút ấy, như có người đã diễn tả: “Núi Biến hình bao giờ cũng thích thú hơn là công tác phục vụ hằng ngày hay con đường thập giá”.
Nhưng núi Biến hình được ban cho ta chỉ để cho ta có sức mạnh làm công tác phục vụ. Giờ phút vinh quang không xuất hiện vì chính nó, nó xuất hiện là để khoác vẻ đẹp lóng lánh, rực rỡ cho những công việc bình thường mà trước kia chúng ta chẳng hề có.
Nhưng các ông cần phải xuống núi
Cũng như Phêrô và các môn đệ, mỗi người chúng ta ai cũng muốn được ở trên đỉnh vinh quang, nhưng lại không muốn đối diện với thực tế của cuộc đời, và muốn trốn tránh kiếp lữ hành trần thế, muốn trốn tránh thập giá là con đường duy nhất đưa đến sự phục sinh. Đức Giêsu hôm nay vừa tỏ cho chúng ta thấy viễn cảnh Phục sinh để nâng đỡ niềm tin cho chúng ta và cho chúng ta một niềm hy vọng chắc chắn về đời sống vĩnh hằng, nhưng Ngài mời gọi chúng ta phải xuống núi: xuống núi vừa để giúp những người khác thêm niềm tin và hy vọng, xuống núi để tiếp tục cuộc lữ hành trần thế tiến về quê trời.
Truyện: Thưa, chính Chúa đấy ạ
Cha John Diamond một nhà giảng thuyết nổi tiếng ở Mỹ có kể lại câu chuyện này: “Hôm đó có một linh hồn vì chán ngấy cuộc sống ở thế gian cho nên linh hồn đi lên trước cửa Thiên đàng. Tới nơi linh hồn gõ cửa. Ở trong có tiếng nói vọng ra: “Ai đó?” Linh hồn trả lời: “Con đấy ạ”.
Cửa vẫn đóng. Sau đó linh hồn trở về với đời sống ở trần thế tìm thầy học đạo. Sau một thời gian thấy mình đã tiến bộ, linh hồn lại lên gõ cửa Thiên Đàng một lần nữa. Lại một tiếng hỏi từ bên trong như lần trước và linh hồn trả lời một cách quả quyết hơn: “Dạ chính con đây”.
Cửa vẫn đóng. Linh hồn lại phải trở về trần thế... mở sách Tin mừng để xem Chúa muốn gì. Quả thực khi mở Tin mừng ra linh hồn mới thấy con đưởng của mình phải đi là con đường nào. Đó là con đường tự huỷ. Chúa nói thật rõ về con đường phải làm chết cái tôi ích kỷ, hay khoe khoang, phô trương, hay tự mãn, hay ghen ghét. Phải làm chết đi cái tôi đầy hận thù, nhiều kiêu ngạo và đầy dẫy những ham muốn bất chính, để làm cho con người của mình dần dần được giống Thiên Chúa Cha trên trời.
Sau một thời gian thấy mình quả thực đã không còn là mình nữa thì linh hồn lại lên trời... lại gõ cửa... lại có tiếng từ bên trong hỏi vọng ra: “Ai đó?”
Vừa nghe xong câu hỏi linh hồn đáp lại ngay: “Dạ, thưa chính Chúa đấy ạ”.
Vừa trả lời xong thì linh hồn thấy cửa Thiên đàng được mở ra và cả một đạo binh các thiên thần long trọng đón linh hồn vào Thiên đàng. Thật vui biết bao!
------------------------------
a/ Mt 17,1-9 –
b/ Mc 9,1-12 –
c/ Lc 9,28b-36—
Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái
* Lịch Sử
Việc Chúa Giêsu biến hình trên núi cao được cả ba Phúc Âm Nhất lãm tường trình (Mt 17,1-9; Mc 9,2-10; Lc 9,28-36).
Người Hy Lạp đã mừng kính thánh lễ này dưới tên “Chúa biến hình” (Métamorphose du Christ) hay lễ Núi Thabor” từ thế kỷ thứ 5. Vào thời Trung Cổ, thánh lễ này được phổ biến đây đó bên giáo hội Tây Phương. Mãi đến năm 1457 Đức Giáo Hoàng Calixtus III mới cho phổ biến thánh lễ này trên toàn Hội Thánh để kỷ niệm cuộc chiến thắng người Thổ Nhĩ Kỳ theo Hồi Giáo ở Belgrade vào năm 1456. (Lm Nguyễn văn Trinh, Phụng vụ chư thánh)
A. Hạt giống...
1. Văn mạch:
- Việc này được ghi trong cả 3 Tin Mừng nhất lãm, và trong cả 3 quyển sự việc xảy ra sau khi Chúa Giêsu loan báo lần thứ nhất về cuộc chịu nạn và trước khi loan báo lần thứ hai. Như thế, việc Chúa Giêsu biến hình có liên quan chặt chẽ với mầu nhiệm vượt qua.
- Tiếng Chúa Cha từ trời “Đây là Con Ta yêu dấu. Hãy vâng nghe lời Ngài” cũng giống như tiếng từ trời phán khi Chúa Giêsu chịu phép rửa để được tấn phong làm Messia. Như thế, sự việc này nhằm cho hiểu Chúa Giêsu là Messia theo kiểu nào: một Messia Tôi Tớ, qua cái chết rồi mới tới vinh quang.
2. Ý nghĩa:
- Để cho các môn đệ khỏi bị vấp ngã khi Chúa Giêsu chịu nạn chịu chết, hôm nay Ngài biến hình vinh quang hầu cho các ông hiểu rằng Ngài qua cái chết để tới vinh quang.
- Trong biến cố này, Chúa Cha đã xác nhận Chúa Giêsu là Messia Tôi Tớ, hai nhân vật thế giá nhất thời Cựu Ước là Môsê và Êlia cũng xác nhận điều đó. Đặc biệt, Chúa Cha cho biết Đấng Messia Tôi Tớ ấy rất đẹp lòng Ngài, và bảo các môn đệ phải vâng nghe lời Chúa Giêsu, nghĩa là cũng phải đi theo con đường Chúa Giêsu đi, tức là qua đau khổ mới tới vinh quang.
B.... nẩy mầm.
1. Chúa Giêsu đã đem 3 môn đệ đi riêng ra một chỗ trên núi cao để tỏ cho các ông thấy Ngài thực sự là ai. Thỉnh thoảng, chúng ta cũng cần tách mình ra khỏi đám đông, đến một nơi thanh vắng để ngắm nhìn Chúa Giêsu, để hiểu Ngài rõ hơn.
2. Phêrô muốn dựng lều cho Môsê, Êlia và Chúa Giêsu, nghĩa là ông thích hưởng cảnh vinh quang sáng láng. Nhưng cảnh đó chỉ diễn ra trong thoáng mắt, sau đó mọi sự trở lại như trước, Chúa Giêsu dẫn các ông xuống núi. Ai mà không thích thiên đàng, nhưng muốn lên thiên đàng thì trước đó phải vác thập giá theo Chúa.
3. Chúa Giêsu biến hình để trở lại hình ảnh vinh quang vốn có của Ngài trước đây. Chúng ta cũng thường biến hình, nhưng biến từ hình ảnh Thiên Chúa lúc mới được tạo dựng thành hình ảnh méo mó xấu xí vì tội lỗi. Mùa Chay là thời gian chúng ta phải cố gắng biến trở lại hình ảnh ban đầu.
4. Ba đồng tiền vàng: Thời trung cổ, có một vụ hành quyết tội phạm tại một thị trấn kia. Theo phép nước, chỉ có mỗi một lối thoát chết cho tử tội là nộp đủ 1000 đồng tiền vàng để chuộc mạng. Nhà vua tỏ ra hào hiệp tặng hết số vàng 700 đồng mang theo. Hoàng hậu theo gương tặng 200 đồng. Các quan cũng dốc túi... Người ta đếm được tất cả 997 đồng, còn thiếu 3 đồng. Công lý không thể nhân nhượng, đành phải thi hành án lệnh. Toán hành quyết tròng giây thừng vào cổ tử tội, sửa soạn rút giây. Bỗng một tiếng kêu lớn "Khoan đã, lục soát người nó đi. Biết đâu đấy". Tên đao phủ lần giây lưng tội nhân, móc ra được 3 đồng tiền vàng hắn giấu kỹ từ trước...
Bài học rất dễ hiểu: Vua là Chúa cứu thế, hoàng hậu là Đức Maria, các quan là các thánh và các kitô hữu chân chính... Tất cả đã quyên góp thành một kho báu cứu độ. Dẫu sao vẫn thiếu một ít. Mỗi người chúng ta phải đóng góp bằng thiện chí của mình dù là một chút, để chắc tâm thực hiện được cuộc "vượt qua" từ đời sống tội lỗi lên đời sống thánh thiện. (Trích "Phúc")
5. “Từ trong đám mây có tiếng phán rằng: Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9,7b)
Tối hôm đó, sau khi đã từ giã bà con thân thuộc và những ân nhân, bạn hữu đến thăm, chỉ còn lại hai mẹ con trong nhà, bà Magarita âu yếm nhìn con và nói “Gioan của mẹ, hôm nay con đã là Linh mục của Chúa và con được diễm phúc cử hành Thánh lễ. Từ nay con đừng lo gì cho mẹ hết, nhưng hãy lo một điều duy nhất là cứu rỗi các linh hồn”. Những lời của mẹ, Gioan Boscô đã ghi lòng tạc dạ và đã nên thánh. Lời của một người mẹ còn có sức mạnh như thế, huống hồ là lời Chúa. Lời Chúa có sức mạnh ngàn lần. Vậy mà tôi lại xem thường, không để tâm thực hành trong cuộc sống.
Lạy Cha, xin giúp con làm những gì Chúa Giêsu đã làm, là hướng về Cha trong tâm tình cầu nguyện. Ước gì con cũng được nghe Cha nói với con “Con là con yêu dấu của Cha” (Epphata).
6. “Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người” (Mt 17,5)
Tôi đã được học:
Hiếu thảo: cha mẹ vui lòng
Chăm học: Thầy cô thương yêu
Trung thực: bạn bè quý mến
Nhưng quan trọng hơn hết: Hãy làm hài lòng Thiên Chúa.
- Tại sao? Vì ta là con.
- Bằng cách nào? Yêu thương và vâng phục.
- Khó quá! Hãy bắt đầu bằng “hiền lành và khiêm nhượng”.
- Ta sẽ được gì? Vinh quang và danh dự đích thực.
- Bằng chứng? Chúa đã hiển dung.
Lạy Chúa, con như một cỗ máy, chỉ biết nói, hỏi, kiểm nghiệm, chứng minh… nhưng chưa bao giờ hành động theo gương Đức Giêsu Kitô. Lạy Chúa, xin cảm hóa con, để mỗi lời nói việc làm của con đều đem lại niềm vui, sự hài lòng cho Ngài và cho mọi người (Hosanna)
-------------------------------
Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ
Câu chuyện
Một đoàn các nhà khoa học thám hiểm vùng sa mạc Sahara (châu Phi), đang khi giữa cuộc nghiên cứu thi đoàn bị mất liên lạc và mất cả phương hướng để ra khỏi hoang mạc. Họ phải chịu đựng cái nắng thiêu đốt vào ban ngày, và giá lạnh khắc nghiệt khi đêm về. Lương thực đoàn mang theo đã cạn dần, thể xác họ cạn kiệt sức lực, lại giữa chốn hoang vu nên tinh thần cùng ý chí cũng dần dần suy sụp.
Sự tuyệt vọng bắt đầu xâm chiếm mọi người, muốn tìm một khe suối, một bóng mát, thế nhưng chung quanh họ chỉ toàn cát với cát, nắng với nắng vào ban ngày và cái lạnh thấu xương vào ban đêm. Họ thất vọng và không muốn cất bước nữa và buông xuôi cho định mệnh đen đủi. Mọi người nghĩ rằng: “Có lẽ chúng ta sẽ chết giữa sa mạc hoang vu này thôi”.
Bỗng người trưởng đoàn cất tiếng: “Anh em ơi, có bóng cây từ xa xa”. Nghe được câu nói đó, như được tiếp thêm sức mạnh, mọi người hối hả cất bước tiếp, dù chính họ không thấy gì, chỉ tin tưởng vào lời anh trưởng đoàn. Trong mỏi mệt, họ cố gắng thêm những bước đi trong hy vọng trước mặt họ sẽ là một ốc đảo với những bóng cây mát, dù quá mệt mỏi họ vẫn tiến bước, tiến bước...
Cuối cùng, nhờ những bước đi hy vọng đó, họ tìm được ốc đảo giữa sa mạc... Được nghỉ ngơi dưỡng sức và đội cứu hộ đã tìm thấy họ trong sự kinh ngạc, vì sức chịu đựng phi thường của đoàn thám hiểm. Vì mọi người cứ tưởng sẽ không thể tìm được họ trong sự sống...
Cuộc đời của chúng ta được ẩn dụ như một cuộc lữ hành, cuộc thám hiểm và đôi lúc chúng ta bị lạc lối giữa sa mạc hoang vu của cuộc đời như các nhà thám hiểm mất hướng trên hoang mạc Sahara. Chúng ta cũng cần cố bước đi hy vọng và nghỉ ngơi bên suối hồng ân.
Suy niệm
Ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan, là những người theo sát Chúa Giêsu nhất, các Ngài là người kề cận với Chúa trong mọi hành trình của sứ mạng Thiên Sai, đặc biệt là trong những giây phút khủng hoảng nhất với chính Chúa Giêsu và cả với chính họ. Ba môn đệ này sẽ nói về tương lai của Giáo hội và cuộc sống của mỗi người chúng ta: Phêrô lãnh đạo Giáo hội đương đầu với bao thử thách, Giacôbê chứng nhân thử thách đầu tiên trong hàng ngũ các tông đồ qua việc tử đạo và Gioan, người đã hiện diện trong lòng Giáo hội sơ khai như niềm hy vọng giữa bao thăng trầm. Cuộc đời của các ngài như hình ảnh của chúng ta hiện diện giữa cuộc sống với bao thăng trầm của lịch sử xã hội và của cả lịch sử cá nhân đầy sóng gió, mà tôi và bạn, mỗi người có cảm nghiệm riêng biệt. Cả ba môn đệ này đã chứng kiến cảnh Chúa trong vườn Giêtsêmani, thất bại, chán chường và cũng chính trong cơn thử thách đó, họ đã từng khủng hoảng và mất phương hướng: Có người bỏ Chúa, chối Thầy... (x. Mt 26,56.69-75; Mc 15,50. 66-72; Lc 22,55-62; Ga 18,15-27).
Đức Giêsu như nhìn thấy lòng hoang mang, khủng hoảng của các đồ đệ mình trong hành trình sứ mạng. Ngài đã cho các ông thấy “ốc đảo” của sự hạnh phúc. Ngài dẫn ba tông đồ lên núi để chứng kiến vinh quang Thiên Chúa qua dung mạo Ngài hiển dung sáng láng trước mắt họ. Vinh quang mà ba môn đệ thấy, tiên báo cho họ biết về vinh quang Phục sinh, sau khi hoàn tất khổ nạn thập giá Chúa Kitô Phục sinh sau này. Trong Ngài, chúng ta cũng được hiển dung như Ngài. Nhưng trước khi được biến đổi hoàn toàn và vĩnh viễn, Chúa Giêsu đi trong mầu nhiệm vượt qua: Ngài phải chịu khổ hình thập giá và chết đau thương. Trong mầu nhiệm thánh này, con người cùng Ngài vượt qua trần gian với tất cả thực tại, con người vượt qua từ sự chết do tội đến sự sống vinh hiển bởi tình yêu Thiên Chúa. Ngài hiển dung cũng để minh chứng tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa nơi nhân loại: Đưa vinh quang hiển dung như là một “ốc đảo” nuôi dưỡng sự hy vọng cho các tông đồ, để họ tiếp tục cất bước, tất cả như lời khuyến khích: Các con sẽ vinh quang và hạnh phúc dù rằng phải bước những bước chân mịt mù sắp tới.
Bên cạnh Đức Giêsu hiển dung, xuất hiện Êlia và Môisê, hai gương mặt nổi bật trong lịch sử dân Israel. Môisê tượng trưng cho sự ân cần của Thiên Chúa đối với dân, đồng hành với Dân Ngài đi tìm đất hứa. Đồng hành trong 40 năm trên sa mạc với lời khẳng định sẽ có miền đất hứa, mặc dù dân Chúa trong 40 năm đầy bôn ba, đầy thử thách giữa sa mạc. Còn Êlia tượng trưng cho cuộc tranh đấu của ngài cho dân, vì Êlia đã tranh đấu trong một niềm tin bị thử thách để Lời Chúa được đến với Dân Ngài một cách vẹn toàn và trung thực. Sứ mạng và nhiệm vụ của Đức Giêsu được làm tròn đầy sứ mạng và nhiệm vụ của hai vị. Môisê và Êlia là những nhân vật được báo trước về Đức Giêsu: Tình yêu và lòng ân cần của Thiên Chúa và dấn thân của Ngài tranh đấu cùng với con người trong lịch sử cứu độ.
Hình ảnh Chúa hiển dung trên núi Tabore là lời mời gọi mọi người tín hữu hãy can đảm dấn bước theo Chúa trong tiến trình vượt qua. Đó là hành trình được biến đổi hầu trở nên giống Chúa và được sống hạnh phúc trong Ngài, dù có thể xuyên qua những khổ đau của cuộc đời.
Ý lực sống
“Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho người người nên công chính, sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao” (Đn 12,3).
-------------------------------
Lm Giuse Đinh Tất Quý
Anh chị em thân mến,
Chúng ta vừa nghe một bài Tin mừng tường thuật cho chúng ta câu chuyện về việc Chúa biến hình trên một ngọn núi cao. Đây là một câu chuyện rất đặc biệt cho nên đã được cả ba Tin Mừng nhất lãm: Mathêô, Marco và Luca đã thuật lại. Nếu đọc lại và so sánh thì chúng ta sẽ thấy cả ba tường thuật lại câu chuyện này theo một bối cảnh chung xuất phát từ truyền thống có trước. Đại cương thì sự việc diễn tiến như sau:
Phêrô tuyên xưng đức tin,
Chúa loan báo về cuộc tử nạn và Phục sinh của Người lần thứ nhất
Chúa đưa ra những điều kiện để được theo Chúa
Chúa biến hình.
Chúa loan báo về cuộc tử nạn và phục sinh lần của Người lần thứ hai.
Chúa lên Jêrusalem để chịu tử nạn và sau đó Chúa phục sinh.
Câu chuyện biến hình của Chúa xẩy ra vào giữa những biến cố rất quan trọng vào cuối cuộc đời của Chúa. Như vậy nó phải mang một ý nghĩa nào đó. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu.
B. Chúng ta tự hỏi: Chúa Biến Hình để làm gì ?
Mục đích của việc Đức Giêsu biến hình hay hiển dung trên núi trước mặt ba môn đệ không phải là để cho các ông dựng lều ở lại ngay trên đó. Nhưng là để giúp các môn đệ nhận ra thiên tính của một Con Người mà họ đang cùng đồng hành và nói chuyện với họ. Con Người đó không phải chỉ là người nhưng còn là Con Thiên Chúa. Lần thứ nhất Thiên Chúa xác nhận Đức Giêsu là Con của Ngài bên sông Gio-đan. Và đây là lần thứ hai Thiên Chúa Cha xác nhận Đức Giêsu là Con của Ngài trên núi cao. Ngài là Con Thiên Chúa nhưng đồng thời Ngài cũng là Người Tôi Tớ chịu đau khổ bởi vâng lời Thánh ý của Thiên Chúa Cha đến đổ máu chết trên thập giá. Núi Tabor nơi Chúa biến hình tỏ vinh quang của Ngài là dấu báo trước chuẩn bị cho cảnh hy sinh trên núi Can-vê.
Sau khi chứng kiến Chúa biến hình thì các môn đệ đã có cơ hội biết rõ hơn Thầy của họ thực sự là ai, và họ được hưởng nếm trước cái vinh quang và hạnh phúc đang chờ đón họ bởi việc đi theo Ngài. Đây cũng là sự chuẩn bị tinh thần cho họ để khi Thầy của họ bị xỉ nhục bắt bớ thì họ không bị mất niềm tin mà thất vọng.
Thực ra, thoạt đầu khi bước theo Đức Giêsu cả ba ông Phêrô, Giacôbê và Gioan cũng như các môn đệ khác đã không biết cái giá họ phải trả khi theo Chúa như thế nào. Chính vì thế mà khi được chứng kiến dung nhan vinh quang của Đức Giêsu trên núi, họ đã sung sướng ngất ngây và muốn ở lại luôn trên đó. Nhưng chương trình của Đức Giêsu và của Thiên Chúa không như thế. Ngài đã dẫn họ xuống núi trở lại và ngăn cấm không cho họ nói với ai về những gì họ đã thấy cho đến khi “Con Người từ cõi chết sống lại” (Mt 17,9). Ngài đã trích dẫn lời chép về Ngài: “Người phải chịu nhiều đau khổ và khinh bỉ” (Mt 16,21). Nhưng họ vẫn không hiểu và hỏi nhau: “Từ cõi chết sống lại nghĩa là gì ?”
C. Qua việc tường thuật là biến có Chúa biến hình hôm nay Giáo Hội muốn nhắc cho chúng ta điều gì ? Câu trả lời không khó lắm: Giáo Hội muốn cho chúng ta hãy nghe Lời Đức Kitô
Trách nhiệm của người Kitô hữu chúng ta là mở tai, mở lòng và mở trí để đón nhận những gì Đức Giêsu giảng dạy và làm gương bằng cuộc sống của Ngài. Lắng nghe lời Ngài không có nghĩa là chỉ nghe những gì Ngài nói, nhưng còn phải chú ý đến những gì Ngài đã làm; đi theo con đường Ngài đã đi; bắt chước cách Ngài đã làm trong việc xử sự với Thiên Chúa và với những người khác. Chúng ta đáp lại tình yêu của Ngài không phải chỉ bằng việc ca hát tôn vinh, xin ơn và tạ ơn. Nhưng còn bằng việc dốc tâm dấn bước sống theo gương của Ngài. Chúng ta đi theo Ngài lên núi để cảm nghiệm niềm hạnh phúc vinh quang để rồi lại cùng Ngài xuống núi trở về với những phận vụ hằng ngày, đi vào vườn cây dầu để đổ mồ hôi máu, hành trình trên khắp nẻo đường để rao giảng Tin Mừng và làm việc thiện. Sau cùng tiến thẳng lên Giêrusalem, nhận lấy bản án, vác thập giá, và tiến lên đồi Can-vê để chịu chết.
Con đường Đức Kitô đi đã thay đổi lịch sử nhân loại.
Con đường Đức Kitô đi đã mang lại ơn cứu độ cho loài người.
Con đường Đức Kitô đi đã làm thỏa lòng Thiên Chúa Cha.
Con đường Đức Kitô đi đã hấp dẫn nhiều tâm hồn.
Đó cũng là con đường mỗi người chúng ta được mời gọi bước theo.
Việc nghe Chúa, đi theo Chúa dứt khoát phải làm cho chúng ta biế đổi. Biến đổi như thế nào thì thánh Phaolô đã gợi ý: “Trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô”.
Xin đan cử một thí dụ để minh họa.
Một nhóm doanh nhân đi dự một buổi họp ở Chicago. Họ đã dặn vợ con ở nhà là sẽ trở về nhà để kịp bữa tối. Nhưng rồi cứ hết việc này lại giây sang việc kia khiến cho cuộc họp kéo dài hơn dự định. Sau khi kết thúc họ đã vội vàng chạy ra phi trường cho kịp chuyến bay. Khi họ hấp tấp chạy tới cổng phi trường thì không may một người trong họ đụng vào một chiếc bàn có để một rổ táo của một cô bé đang đứng bán. Tất cả đã không dừng lại, cứ cúi đầu chạy thẳng để kịp chuyến bay. Khi đến nơi họ thở phào nhẹ nhõm. Nhưng rồi một người trong nhóm đã ý thức được mình phải làm gì để cảm thông với cô bé bán táo kia. Anh đã giơ tay ra chào các bạn và quay trở lại. Anh thấy vui vì đã làm như thế. Anh nhận ra cô bé bán táo là một cô gái mù. Anh đã thu lượm các trái táo đổ lăn trên trên lối đi. Anh nhận ra có một số trái táo đã bị dập bể. Anh liền móc túi lấy bóp ra và nói với cô bé bán táo mù đó rằng, “Đây xin cô cầm lấy 10 dollars để đền bù cho thiệt hại chúng tôi đã gây ra. Tôi hy vọng cô không buồn.”
Khi người thanh niên vừa quay bước đi thì cô bé mù đó sửng sốt hỏi: “Thưa ông! Ông có phải là Chúa Giêsu không ?”
Câu hỏi đó đã làm cho người doanh nhân suy nghĩ.
Bạn và tôi, chúng ta có phải là Giêsu không ? Chúng ta có đi con đường Giêsu đã đi không ? Chúng ta có hành xử như Giêsu đã hành xử không ?
Xin được kết thúc bằng lời cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xin biến đổi con,
xin biến đổi con từ từ qua cầu nguyện.
Mỗi lần con thấy Chúa,
xin biến đổi ánh mắt con.
Mỗi lần con rước Chúa,
xin biến đổi môi miệng con.
Mỗi lần con nghe lời Chúa,
xin biến đổi tai con.
Xin làm cho khuôn mặt con rạng ngời hơn
sau mỗi lần gặp Chúa.
Ước chi mọi người thấy nét tươi tắn của Chúa
trong nụ cười của con,
thấy sự dịu dàng của Chúa
trong lời nói của con.
Thế giới hôm nay không cần những Kitô hữu
có bộ mặt chán nản và thất vọng.
Xin cho con biết nhẫn nại và can đảm
cùng đi với Chúa và với tha nhân
trên những nẻo đường gập ghềnh. Amen.
------------------------------
Mt 17,1-9
Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu
Sau khi từ bỏ mọi sự mà theo Chúa Giê-su và cùng với Người rong ruổi trên các nẻo đường Pa-lét-ti-na để rao giảng Tin mừng, được nghe những lời Chúa giảng, thấy những phép lạ Chúa làm, chứng kiến thái độ yêu – ghét của dân chúng và những nhà lãnh đạo Do-thái dành cho Chúa, nhất là khi nghe thấy Chúa loan báo về việc “Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ… bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại” (x. Mt 16,21), các tông đồ bắt đầu lo sợ và đặt ra những vấn nại về Chúa Giê-su và sứ mạng của Người.
Chính trong bối cảnh này, Chúa Giê-su dẫn ba môn đệ thân tín (Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an) lên núi. Người biến hình trước mắt các ông. Cho các ông xem thấy thần tính và dung nhan sáng láng của Người, khiến các ông ngất ngây, thích thú, muốn được sống trong tình trạng sáng láng tốt lành ấy. Ông Mô-sê và Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. Một đám mây bao phủ các Ngài và có tiếng Chúa Cha giới thiệu: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người”!
Khi về sự kiện này, các nhà chú giải cho rằng: Tuy không phải là chóp đỉnh, nhưng Chúa Biến Hình là một trong những sự kiện quan trọng nhất của Tân ước, vì nó thâu tóm tất cả mạc khải:
– Chúa Giê-su tỏ lộ vinh quang thần linh của mình trong chốc lát vừa xác nhận lời tuyên xưng của Phê-rô (x. Mt 16,16), vừa phê chuẩn mạc khải của Người là muốn bước vào trong vinh quang vĩnh cửu, phải đi qua thập giá tại Giê-ru-sa-lem, nhằm củng cố niềm tin cho các môn đệ trước biến cố tử nạn.
– Mô-sê và Ê-li-a, những người phát ngôn của Lề Luật và các ngôn sứ trong Cựu Ước đã xuất hiện để giới thiệu Đấng Ki-tô của Tân Ước cho các tông đồ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an, là những cột trụ của Giáo Hội, có sứ mạng làm chứng và rao giảng Tin mừng cho mọi thụ tạo về một Đấng Ki-tô tử nạn và phục sinh đúng như lời các ngôn sứ đã loan báo.
– Chúa Cha xác nhận Chúa Giê-su là Con yêu dấu của Ngài và mời gọi các tông đồ: “Hãy vâng nghe lời Người“! Hãy vâng nghe Người, vì Người là Con Thiên Chúa và là Ngôi Lời vĩnh cửu, đã trở nên người phàm. Người chính là vị Đại Ngôn Sứ mà tất cả các tiên tri đã loan báo và là Đấng Cứu Độ muôn dân mong đợi theo như lời Chúa hứa. Người không đến để bãi bỏ Lề Luật, nhưng là để kiện toàn và ban cho nhân loại một điều răn mới, đó là giới răn yêu thương: “Yêu thương như Chúa đã yêu. Yêu đến nỗi chết cho người mình yêu” (x. Ga 15,12-13).
– Chúa Biến Hình cho chúng ta được nếm trước việc ngự đến trong vinh quang của Chúa Giê-su, Đấng “sẽ biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (x. Pl 3,21). Nhưng được như vậy, chúng ta phải “xuống núi” để chịu lao nhọc, sỉ nhục và chịu đóng đinh ở trần gian cùng với Chúa Giê-su và như Chúa Giê-su. Bởi “Người là Sự Sống, đã xuống thế gian để bị giết; Người là Bánh Hằng Sống đã xuống thế gian để chịu đói; Người là Đường đã xuống thế gian, để chịu mệt nhọc và gục ngã trên đường; Người là nguồn mạch, đã xuống thế gian để chịu khát” (x. Thánh Augustinnô, Sermo 78).
Lạy Chúa Giê-su để củng cố niềm tin cho các môn đệ trước mầu nhiệm tử nạn và để khẳng định rằng “phải qua thập giá mới tới vinh quang”. Chúa đã dẫn ba môn đệ thân tín lên núi biến hình trước mặt các ông, cho các ông xem thấy thần tính và dung nhan sáng ngời của Chúa… Xin cho chúng con biết vâng nghe lời Chúa dạy mà sẵn sàng từ bỏ ý riêng, chết đi cho tội lỗi, thế gian, ma quỉ và xác thịt ở đời này, để mai ngày cùng được phục sinh với Chúa trên thiên đàng. Amen.
------------------------------
Mt 17, 1-9
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Ngày 06 tháng 8 hàng năm, Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm một mầu nhiệm vĩ đại đó là biến cố Biến Hình của Chúa Giêsu. Lịch sử cho thấy Ba Tông Đồ Phêrô, Gioan và Giacôbê là những tấm gương trong việc lắng nghe lời Đức Giêsu và để Chúa biến đổi. Theo thánh sử Matthêu, sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin (x. Mt 16, 13-20), Chúa Giêsu bắt đầu mạc khải cho các ông biết, Con Người sẽ bị kết án tử hình, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại. Chúng ta cần phải nhìn sự kiện Chúa Giêsu biến hình trong bối cảnh này. Thánh Athanasiô viết: “Chúa Giêsu đã nhập thể làm người và khoác lên mình tấm áo da nhân loại nghèo hèn của chúng ta, hôm nay Người mặc áo thần linh sáng láng của chính Người”. Sứ điệp mà Chúa Giêsu gửi đến mỗi người chúng ta là những lời đầy tình phụ tử của Chúa Cha: “Đây là Con Ta yêu dấu, rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người” (Mt 17,5). Nghe ở đây là làm theo thánh ý Chúa, bắt chước Chúa, thực hành lời Chúa truyền dạy và vác thập giá mình mà theo Chúa.
Để tránh hiểu lầm và giải thích sai về biến cố Chúa biến hình, Chúa Giêsu cấm họ: “Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại” (Mt 17,9). Ba Tông đồ chiêm ngưỡng Chúa Giêsu biến hình, dấu chỉ thần linh của Chúa, nhưng Đấng Cứu Thế không muốn họ tiết lộ điều ấy với ai cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại, chính vì vậy mà người ta có thể hiểu được tầm quan trọng của biến cố này. Trong Tin Mừng, Chúa Kitô nói với chúng ta rằng khi cầu nguyện, nhất là sau khi chịu lễ, chúng ta có thể thân thưa với Chúa như Phêrô: “Lạy Thầy, nếu được ở đây thì tốt lắm” (Mt 17).
Kinh Tiền Tụng Thánh lễ hôm nay là bản tóm lượt tuyệt vời về cuộc biến hình: “Con Một Chúa biểu lộ dung nhan hiển vinh người, Chúa đã dùng hai chứng nhân Cựu Ước là ông Môsê và ông Êlia để củng cố niềm tin của các tông đồ vào mầu nhiệm cứu độ và báo trước hồng ân lạ lùng Chúa sẽ ban là nhận chúng con làm nghĩa tử. Xin cho chúng con nghe lời Con Một Chúa để mai sau được chung hưởng gia nghiệp với người”. Đây là bài học mà các Kitô hữu chúng ta đừng bao giờ quên.
Đức Giêsu biến hình để cho chúng ta chiêm ngưỡng vinh quang Ba Ngôi, đồng thời dạy chúng ta biết lắng nghe lời Đức Giêsu và biến đổi chúng ta theo thánh ý Chúa.
Vinh quang Ba Ngôi
Vinh quang của Thiên Chúa Ba Ngôi được biểu lộ với sự hiển hiện của Chúa Cha qua lời xác nhận: “Ðây là Con Ta yêu dấu!” (Mt 17, 5). Trong ánh sáng vinh quang của Chúa, chúng ta nhìn thấy ánh sáng; và được Chúa Thánh Thần nâng lên, chúng ta chúc tụng Thiên Chúa Ba Ngôi qua mọi muôn thế hệ.
Lắng nghe lời Đức Giêsu
Trong biến cố Chúa Biến Hình, chúng ta không những chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa mỗi ngày một sâu xa hơn, vừa đi từ ánh sáng này sang ánh sáng khác, chúng ta còn được mời gọi hãy lắng nghe Lời Chúa. Ngoài Lời Lề Luật nơi Ông Môisen và Lời Tiên Tri nơi Ngôn Sứ Êlia, Lời Chúa Cha còn vọng tới chúng ta và hướng chúng ta đến cùng Con Thiên Chúa. Khi chỉ cho chúng ta biết “Con yêu dấu của Ngài”, Thiên Chúa Cha mời gọi chúng ta hãy lắng nghe Con Ngài “các người hãy nghe lời Người” (Mt 17, 5).
Xin ơn biến đổi
Nhìn xem và lắng nghe, chiêm ngắm và vâng phục, là những con đường dẫn dắt chúng ta lên Núi Thánh, nơi Ba Ngôi Thiên Chúa được mạc khải trong vinh quang của Chúa Con. Trong Mầu nhiệm Năm Sự Sáng, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II mời gọi chúng ta xin Chúa Thánh Thần biến đổi chúng ta. Mượn lời thánh Gioan Damasceno chúng ta thưa: “Lạy Chúa Kitô, Chúa đã thu hút con bằng cách làm cho con ao ước Chúa, và Chúa đã biến đổi con bằng tình yêu của Chúa. Xin hãy dùng lửa linh thánh thiêu đốt hết mọi tội lỗi con, và xin thương ban cho con được tràn đầy sự dịu dàng của Chúa, ngõ hầu được đầy tràn niềm vui, con cất lời chúc tụng những thể hiện vinh quang Chúa”. Amen.
------------------------------
‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’
Tin Mừng được Giáo Hội cho chúng ta hôm nay ghi lại biến cố hiển dung của Chúa Giêsu trên núi Tabo. Biến cố này diễn ra sáu ngày sau khi Chúa loan báo về cuộc tử nạn và sự phục sinh của Ngài. Các môn đệ và ngay cả những người môn đệ thân tín nhất là Phêrô, Gioan và Giacôbê, không thể hiểu và không muốn chấp nhận cuộc tử nạn của Ngài. Cho các ông chứng kiến sự hiển dung, Chúa Giêsu muốn lặp lại dưới một hình thức khác lời loan báo về cuộc tử nạn và phục sinh của Ngài. Lần này Ngài muốn xác quyết với các ông rằng để đi vào vinh quang Phục Sinh cần phải đi qua bóng tối của sự chết.
Với những ai đang trải qua bóng tối của thập giá, biến cố hiển dung của Chúa Giêsu là một nguồn nâng đỡ vô biên. Dietrick Bonhoffer, vị mục sư người Ðức đã bị giam tù vì can đảm lên tiếng chống lại chủ trương dã man độc ác của Ðức Quốc Xã. Trong tám tháng bị giam giữ, ông đã không ngừng suy nghĩ về biến cố hiển dung của Chúa Giêsu và tìm thấy được ánh sáng ngay giữa những đêm dài vô tận trong một nhà tù ở Berlin. Ngay chính buổi sáng bị đem ra hành quyết, ông đã thốt lên: "Thế là hết! Cuộc sống đã khởi đầu đối với tôi". Trong bài thơ có tựa đề Những Tiếng Thì Thầm Trong Ðêm Tối, ông đã kêu gọi: "Hỡi những người anh em, sau những đêm dài, bao lâu ngày của chúng ta chưa đến, chúng ta hãy chiến đấu".
Ba người môn đệ thân tín của Chúa Giêsu đã ngây ngất khi chiêm ngắm vinh quang phục sinh của Chúa Giêsu, nhưng ánh sáng phục sinh ấy chỉ kéo dài trong giây lát; bóng đêm đã trở lại, nhìn chung quanh, họ thấy lại Chúa Giêsu cũng như mọi người và nhất là như một tên tử tội đang tiến ra pháp trường. Nhưng chắc chắn ánh sáng phục sinh ấy đang chiếu rọi trong tâm hồn các ông.
Tất cả những ai đang sống trọn cho niềm tin của mình, tất cả những ai đang thực thi cho đến cùng sứ mệnh của các ngôn sứ đều có trong mình ánh sáng phục sinh ấy. Chính ánh sáng phục sinh ấy mang lại cho họ niềm hy vọng và can đảm để tiến tới trong đêm đen của hận thù, dối trá và đặt niềm tin tưởng mãnh liệt vào Chúa, họ có đủ lý do để có thể thấy trước sự chiến thắng của ánh sáng, của chân lý và tình yêu.
Nguyện xin Chúa nâng đỡ cho tất cả những ai đang sống cho đến cùng sứ mệnh ngôn sứ cho chân lý.
------------------------------
Lm. Trần Bình Trọng
Trong thời Cựu ước, Thiên Chúa hiện ra với dân Người trong đám mây, ngoài sa mạc, nơi bụi cây. Thiên Chúa hiện ra với Môsê và Êlia trong đám mây thì Ðức Giêsu cũng biến hình trong đám mây trước mặt các tông đồ trên đỉnh núi (Mc 9:2). Thời đó, đám mây được coi là biểu hiệu của việc Chúa hiện diện.
Ðức Giêsu nhận thức rằng cuộc khổ hình mà Người sắp phải chịu, sẽ để lại một kinh nghiệm đau thương cho các tông đồ nhất là cho Phêrô, Giacôbê và Gioan là những người sẽ chứng kiến cảnh khổ nạn của Người trong vườn cây dầu. Vì thế Người đem ba tông đồ liên hệ lên núi, biến hình trước mắt các ông, cho các ông thấy cảnh vinh quang của nước Chúa và để củng cố đức tin và đức cậy của các ông trong viễn tượng của cuộc khổ hình thập giá. Nếu có ai hỏi vậy thì Ðức Giêsu biến hình trên núi nào? Truyền thuyết cho rằng đó là núi Tabo nằm về phía nam xứ Galilê, cao khoảng 600 thước tây mà nhìn lên thì thấy có vẻ giốc thẳng. Thời nay người ta làm đường trôn ốc vòng quanh núi cho tài xế tắc-xi chở khách hành hương lên. Còn thời đó chắc Chúa phải dùng quyền năng thiêng liêng mà tự nâng mình lên và cất nhắc các tông đồ lên núi.
Vậy thì tại sao trong cảnh Biến hình lại có sự hiện diện của ông Môsê và Êlia (Mc 9:4)? Theo truyền thuyết Do thái giáo, thì Môsê được coi là tác giả thu thập và kết hợp của sách Ngũ kinh, tượng trưng cho giới luật; còn Êlia là một đại ngôn sứ trong Cựu ước, tượng trưng cho các ngôn sứ. Cũng theo truyền thuyết Do thái thời bấy giờ thì ông Môsê và Êlia sẽ trở lại vào cuối thời. Như vậy sự hiện diện của hai vị này có mục đích chỉ cho bộ ba tông đồ thấy rằng đạo Kitô giáo mà Ðức Giêsu sẽ thiết lập sau này, không tách biệt khỏi những gì đã được ghi chép trong Thánh kinh Cựu ước, hầu để các ông vững tâm tiến bước theo Thầy mình mà khỏi bị hoang mang nao núng.
Tương tự như cảnh Biến hình, ngôn sứ Ðanien trong một thị kiến cũng nhìn thấy một cảnh tương tự, cũng dùng từ ngữ Con Người (Ðn 7:13) như Ðức Giêsu dùng trong cảnh Biến hình. Từ ngữ Con Người mà ngôn sứ Ðanien dùng có nghĩa là một nhân vật siêu phàm nào đó (Ðn 7:13). Trong Phúc âm Ðức Giêsu dành cho mình tước hiệu Con Người (Mc 9:9), ám chỉ thiên tính cách siêu việt và cũng nhấn mạnh đến nhân tính của Người. Còn Ðấng Lão Thành mà ngôn sứ Ðanien nói đến (Ðn 7:9,14) ám chỉ về Ðấng phán ra lời: Ðây là Con Ta yêu dấu (Mc 9:7) nghĩa là Thiên Chúa Cha trong cảnh Biến hình. Như vậy ta thấy một trường hợp nữa có sự liên hệ giữa Cựu ước và Tân ước. Nói cách khác Tân ước là sự hoàn thành của Cựu ước.
Ðức Giêsu cho ba tông đồ chủ chốt là Phêrô, Giacôbê và Gioan được thấy cảnh Biến hình để các ông có thể giữ vững đức tin của chính các ông sau ngày Thứ Sáu Chịu nạn và giúp giữ vững đức tin cho các bạn đồng chí hướng. Vậy mà trong dinh thượng tế, vì khiếp sợ, ông Phêrô đã chối Thầy mình ba lần. Phúc thay cho ông Phêrô, khi nghe tiếng gà gáy, ông liền nhớ lại lời Chúa tiên báo, khiến ông: Oà lên khóc (Mc 14:72). Nước mắt ông tuôn trào ra như là ông hối hận nói với Thầy mình: Sao con có thể chối Thầy khi con xin dựng ba lều ỏ trên núi để chiêm ngưỡng cảnh vinh quang của nước Thầy mà? Rồi con còn tuốt gươm chép đứt tai tên đầy tớ của vị thượng tế để bảo vệ Thầy, mà sao giờ này con lại hèn nhát đến thế? Như vậy những thực tại của cảnh Biến hình: đám mây, áo trắng hơn tuyết, sự hiện diện của ông Môsê và ông Êlia, tiếng phán từ đám mây có mục đích giúp các tông đồ nhận thức rằng cảnh khổ hình và thập giá của Thầy mình, không phải là một thất bại, nhưng chỉ là một sự biến đổi: qua thánh giá tới phục sinh.
Sau cảnh Biến hình, Ðức Giêsu căn dặn các tông đồ không được nói cho ai biết về chuyện này cho tới khi Con Người sống lại từ cõi chết. Và các ông đã tuân giữ lời Chúa. Sau khi Ðức Giêsu từ cõi chết sống lại thì thánh Phêrô mới thuật lại cảnh biến hình trong thư gừi giáo đoàn và nhắc lại tiếng phán từ trời: Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng qúi mến (2 Pr 1:17). Ðó là tiếng Thiên Chúa Cha phán mà thánh sử Mác-cô đã thuật lại trong Phúc âm hôm nay: Ðây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người (Mc 9:7).
Trong ngày lễ Chúa Biến hình, Giáo hội muốn dạy người tín hữu hai chân lý. Thứ nhất là Ðức Giêsu có hai bản tính: một bản tính Thiên Chúa và một bản tính loài người. Thứ hai là loài người có ngày sẽ được thông phần vào vinh quang của Nước Chúa. Thật là một điều vinh dự và an ủi, khi người tín hữu mang trong mình thân xác yêu đuối, bệnh tật và rồi sẽ chết, lại có thể được chung hưởng vinh quang phục sinh trên nước trời. Thánh Phêrô trong lúc xuất thần có xin Thầy mình để được ở lại trên núi hầu được tiếp tục chiêm ngưỡng cảnh vinh quang của nước Chúa, cho tâm hồn được chìm đắm trong thiên cảnh tuyêt vời. Ông chưa nhận thức được rằng ông còn phải xuống núi đã để làm chứng cho đức tin vào Chúa, để chịu đau khổ và vác thánh giá trước khi được vào vinh quang. Và đó là đường lối của đạo Chúa: qua đau khổ thánh giá, mới tới vinh quang phục sinh. Là môn đệ Chúa, sao ta có thể đi theo con đường khác ngoài đường Chúa đã đi?
Lời cầu nguyện xin cho được chiêm ngưỡng vinh quang của nước Chúa:
Lậy Ðức Giêsu, cũng như Chúa đã biến hình
cho các tông đồ được thấy vinh quang của nước Chúa,
xin ban cho con cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa
ở đời này để con vững tâm theo Chúa
và được thấy vinh quang nước Chúa đời sau.
Xin Chúa là niềm hi vọng và là sự cậy trông của con. Amen.
------------------------------
JM
Thánh Mác-cô kể cho chúng ta biết thân thể Đức Giê-su chiếu tỏa một thứ ánh sáng cực mạnh xuyên qua những lớp quần áo, chiếu vào đêm tối sáng choang. Trước Người Môise và Êlia đang nghiêng mình thờ lạy. Lạ lùng hơn nữa, tiếng Thiên Chúa bảo đảm sự thật cho lời dạy của Đức Giê-su: “Đây là Con Ta rất yêu dấu, hãy nghe lời Người”.
Tiếng Thiên Chúa.
Sự biến hình của Đức Giê-su mặc khải cho chúng ta sự cao cả huy hoàng của Người. Đức Giê-su là con rất yêu dấu của Thiên Chúa, là ánh sáng sinh ra bởi Thiên Chúa là ánh sáng, Ngôi Lời hằng sống của Thiên Chúa. Trong cuộc sống của Đức Giê-su, thần tính của Con Thiên Chúa bị che phủ, người ta thấy Người trước hết là một người tên là Giêsu. Biến hình mặc khải cho chúng ta biết Người là Con Thiên Chúa, nhờ tiếng Chúa phán và lời Người dạy rất đáng tin.
“Hãy nghe Người”:
Sự biến hình làm cho đức tin của chúng ta mạnh mẽ, vững chắc. Chúng ta tin Đức Giê-su là Con Thiên Chúa. Chúng ta tin Người nhờ lời chứng của các tông đồ, đó chính là lời chứng của Thánh Phêrô mà thánh Mác-cô kể lại cho chúng ta.
Nhưng chúng ta có nghe lời Đức Ki-tô không? Tai chúng ta có chăm chú nghe lời Người trong phụng vụ không? chúng ta có thể quả quyết với lòng liêm chính rằng Tin Mừng Chúa Giê-su là lương thực nuôi tinh thần, nuôi con tim chúng ta không? là thuốc bổ cho ý chí, là sức nâng đỡ lòng hy vọng của chúng ta không?
Những tin tức được báo chí, phát thanh, truyền hình, dư luận có ảnh hưởng đến phán đoán, lối cư xử của chúng ta có hơn Thiên Chúa không?
Sứ điệp của Ngài có là ánh sáng cho chúng ta biết phán đoán về hạnh kiểm của chúng ta và về những biến cố xã hội, chính trị không?
Khẫn thiết phải làm cho chúng ta tự cảm thấy luôn luôn quay về với đức tin vào Đức Giê-su Ki-tô và sống xứng đáng là Kitô hữu. Hãy làm cho chúng ta biến hình nhờ lời Chúa, để cho nước Đức Giê-su, Đấng Cứu Thế trị đến trong xã hội chúng ta.
------------------------------
Tin Mừng hằng ngày
Lm.Gioan Đặng Văn Nghĩa
Người ta không thể leo nhanh lên ngọn núi Thabor được, và chính Thabor cũng chỉ là một điểm dừng ngắn ngủi trên chặng đường đến với Thiên Chúa. Mỗi một ngày sống là một chặng đường mà chúng ta cần phải vượt qua. Nhờ vào những gì mà các tông đồ đã sống, chúng ta có thể hiểu rõ hơn chặng đường mà chúng ta cần vượt qua để đến gần với cõi vĩnh hằng hơn.
Và hôm nay trên núi Thabor chúng ta chứng kiến cuộc biến hình của Chúa Giêsu. Tại sao Ngài lại chỉ đem theo 3 Tông đồ, mà lại không đem theo thêm những người khác?
Chúng ta, là những người tin Chúa, Chúa mời gọi chúng ta tin vào Người. Tại sao Chúa lại chỉ gọi chúng ta là những người tin Chúa, mà trong khi đó biết bao người đã không tin? Chúng ta cũng là những người Chúa chọn, cũng là những người đặc tuyển leo lên núi Thabor để chứng kiến việc Chúa biến hình. Chúng ta hãy hãnh diện về ơn gọi của chúng ta và sống làm sao để đáp trả ơn gọi đó.
Ba tông đồ đã vượt qua thung lũng và đã được Chúa cho thấy vinh quang của Người trên núi Thabor. Và các ông chỉ muốn thời gian đó kéo dài, đến nỗi Phêrô đã thưa với Chúa: “Lạy Thầy, chúng tôi được ở đây thì tốt lắm, nếu Chúa ưng, chúng tôi xin làm 3 lều, một cho Thầy, một cho Môisê và một cho Êlia”.
Chúng ta cũng vậy! Có những khoảnh khắc, chúng ta cảm thấy cuộc sống sung mãn, hạnh phúc và bình yên, làm ăn phát đạt. Thế giới chung quanh và trong tâm hồn chứa đầy vẻ hài hoà. Rất có thể đó là lúc ngắm cảnh mặt trời lặn hoặc đứng trên núi chứng kiến vẻ hùng vĩ của thiên nhiên; cũng có thể là lúc rung động do một vần thơ, một giọng ca truyền cảm; cũng có thể là một cuộc gặp gỡ tình cờ,… Trong những hoàn cảnh đó chúng ta có thể thốt lên như Phêrô: “Lạy Thầy chúng tôi được ở đây thì tốt lắm”.
Nhưng dựa vào kinh nghiệm bản thân chúng ta biết rằng: không có tiệc vui nào mà lại không có lúc tàn. Có khi kéo dài dăm ba ngày, có khi chỉ trong khoảnh khắc. Sau đó tất cả lại trở về cuộc sống thường nhật.
Có lẽ những kinh nghiệm đó giúp chúng ta hiểu rõ những gì bài Tin Mừng hôm nay tường thuật. Tác giả mô tả những giây phút quí báu nhất của cuộc đời 3 môn đệ theo chân Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cùng với ba môn đệ và Người hiển dung trước mặt các ông. Trong khoảnh khắc các ông có thể cảm nhận sâu xa Đấng Cứu Thế là ai và dung nhan của Đấng Phục sinh như thế nào. Dĩ nhiên, chẳng ai muốn bỗng chốc buột khỏi tầm tay tất cả. Tất cả đều muốn nắm giữ lấy, muốn xây dựng ở đó ba lều.
Giây phút thần tiên thường hiếm có và ngắn ngủi! Thoáng chốc, Phêrô phải từ chín tầng mây trở về với cuộc sống muôn ngàn sóng gió. Ông phải học để biết rằng: những giây phút này là quà tặng của Thiên Chúa, không ai có thể giữ lấy bo bo cho mình. Ông phải từ trên núi trở về với cuộc sống thường nhật, trở về với con người và những khó khăn phải đương đầu!
Quả thật, cuộc sống con người đầy thăng trầm, và dường như chìm dần trong thung lũng tối. Ngày qua ngày, sương mù dày đặc! Chuỗi ngày kéo dài lê thê ảm đạm! Tất cả dường như vô nghĩa và tẻ nhạt!…Cũng có những giây phút con người không được yên thân, cuộc sống chao đảo, đầu tắt mặt tối với công việc. Việc này chưa xong, thì việc khác đã đứng chực ngoài cửa.
Đời sống đạo và đời sống nội tâm chúng ta từng có những kinh nghiệm như thế. Cũng chính vì vậy mà người ta thất vọng, xao nhãng công việc của cộng đoàn, bỏ luôn cả kinh hạt lễ lạy. Họ nghĩ rằng lễ lạy và kinh hạt cũng thế thôi. Làm ban hành giáo có được gì đâu, mà chỉ thấy kinh tế gia đình mình càng sa sút.
Trong hoàn cảnh này điều cần thiết nhất là nhớ đến những phút giây thiêng thánh nhất trong đời. Đó là những ngày tĩnh tâm, những giờ chầu Mình Thánh, những giây phút chìm lắng trong thinh lặng giúp chúng ta tái khám phá ra ý nghĩa đích thực của đời sống ơn gọi làm người, ơn gọi tu trì: một cuộc sống sung mãn, hạnh phúc thành công. Chúng ta cần những giây phút thần tiên ấy để giữ gìn cái nhìn toàn diện về cuộc sống. Thiên Chúa hứa đồng hành với chúng ta, đứng về phía chúng ta khi thành công cũng như lúc thất bại, khi vui cũng như lúc buồn tủi.
Điều quan trọng chính là kinh nghiệm trong cuộc sống thường nhật: tìm cho chính mình một mảnh thiên đàng tại thế. Thabor trước tiên không phải là một nơi chốn, nhưng là sự kiện có thể xẩy ra bất cứ ở đâu trong hoàn cảnh nào. Chúng ta chỉ có thể khám phá ra khi chúng ta sẵn sàng cởi mở tấm lòng tiếp nhận: một cuộc gặp gỡ vô tình, một vẻ đẹp của thiên nhiên, một khoảnh khắc yên tĩnh, một lời khen tặng, một thành công nhỏ, một sự dấn thân cho họ đạo, một kinh nghiệm trong đời sống cầu nguyện. Những lúc chúng ta cảm thấy cuộc đời này còn có nhiều thứ quí báu hơn, chúng ta phải ra sức bảo vệ, duy trì như những kho tàng vô giá trong ký ức. Những kinh nghiệm đó giúp chúng ta thêm can đảm và hăng hái dù phải gặp hoạn nạn éo le. Nhờ đó chúng ta tin rằng Thiên Chúa sẽ dẫn đưa chúng ta tới đích điểm tốt đẹp, là Thiên Đàng, là Thabor Vĩnh Cửu!
------------------------------
Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
Người ta vẫn thường nói nửa đùa nửa thật với nhau rằng: “trông vậy mà không phải vậy”. Mội lời nói đơn sơ nhưng đầy triết lý cuộc sống.
Có những người “đẹp người nhưng xấu nết”. Có những người miệng nói “nam mô nhưng lại một bồ dao găm”. Có những người bên ngoài làm biết bao điều thiện nhưng chỉ là tìm hư danh. Có biết bao điều diễn ra trước mắt nhưng thực hư lại càng khó phân biệt phải trái, đúng sai.
Nhà văn Pháp Pécaut đã kể một câu chuyện thật cảm động mà chính ông vẫn ân hận mỗi khi nhớ lại chuyện xưa. Ong kể rằng: Một hôm, thằng bé trai bán diêm quẹt cứ van nài ông mua giúp em một hộp diêm quẹt. Động lòng thương ông rút ví ra định mua, nhưng khổ nỗi trong túi chỉ có toàn tiền chẵn. Ông đang ngần ngại thì thằng bé nói ngay: “Không sao ông ạ, xin ông cứ vui lòng đưa tiền cho cháu, cháu sẽ chạy đi tìm chỗ đổi tiền rồi trả lại cho ông”. Thằng bé cầm tiền và chạy biến ngay về hướng cuối phố. 5 phút trôi qua, rồi 10 phút, chẳng thấy bóng dáng thằng bé quay trở lại trả tiền. Ông thất vọng và nghĩ rằng sẽ chẳng bao giờ còn tin vào những bọn lêu lổng đầu đường xó chợ như thế nữa. Cho tới chiều tối, ông lại thấy một đứa bé hơn nữa, chỉ độ 8, 9 tuổi, khuôn mặt giống thằng ăn cắp như tạc. Nét mặt nó bộc lộc sự lo âu tuyệt vọng. Nó thổn thức nói với ông: “Thưa ông, có phải ông đã đưa cho anh cháu một đồng tiền vàng không ạ? Đây là chỗ tiền lẻ. Chính anh cháu nhờ gửi lại cho ông. Chúng cháu đều là trẻ mồ côi nhưng không phải là bọn ăn cắp. Anh cháu không thể trao tận tay ông ngay lúc sáng là vì anh cháu đã bị xe đụng khi vội chạy đi tìm chỗ đổi tiền”. Nghe tin đó, ông đã vội vàng cùng thằng em đến gặp thằng anh đang nằm thoi thóp ở xó nhà. Vừa thấy ông thằng bé đã nói: “Em cháu đã đưa tiền lẻ cho ông rồi phải không ạ? Ông thấy không, chúng cháu đâu có phải là những đứa lừa gạt và ăn cắp”. Ông hối hận vì đã nghi oan cho một đứa trẻ thơ ngây.
Có thể sự gian dối của thế gian đã làm ông không thể có cái nhìn tích cực về những gì đang diễn ra xung quanh. Ông không thể hình dung rằng: ở giữa cảnh đời nghèo khó và đau khổ đến cùng cực này mà em bé vẫn giữ được tấm lòng ngay thẳng thật thà. Em đã chết trong danh dự, còn ông đã chết trong sự xét đoán mù quáng của mình.
Đôi khi trong cuộc sống, chúng ta thường dễ dàng kết án người khác khi chưa tìm hiểu nguyên nhân, đã bao lần chúng ta nhìn người ăn xin ở chợ, một em bé bán vé số bên đường, một người áo quần rách nát bằng ánh mắt nghi ngờ, tẩy chay.
Dù biết rằng “chiếc áo dòng không làm nên thầy tu”, thế mà, chúng ta vẫn nhìn những người lịch sự, giầu có, chức cao quyền trọng bằng ánh mắt kiêng nể, kính phục; và một ánh mắt nghi ngờ, khinh bỉ, dè bỉu dành cho những ai bên ngoài rách rưới, bẩn thỉu.
Xã hội hôm nay, người ta đang có chủ trương “thà nghi lầm còn hơn tin lầm”, hay tệ hơn nữa là “giết lầm hơn bỏ sót”. Một xã hội đang mất dần vẻ thân thiện yêu thương bởi sự đa nghi dẫn đến xa lạ và dửng dưng.
Chúa Giêsu ngày xưa cũng bị những con người đương thời nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ. “Làm sao ông này có thể làm được chuyện đó? Ông ta cũng chỉ là một bác thợ mộc nghèo nàn miền Nagiaret thôi mà. Có gì đáng kính phục đâu!”. Họ đã không thể nhận ra ở bên trong sự bình dị đó, chính là một vì Thiên Chúa đang đồng hành với con người. Một vì Thiên Chúa đã từ bỏ tất cả để mặc lấy xác phàm đến nỗi họ không thể nhận ra sự thật về một Giêsu miền Nagiarét lại là Đấng Emanuel, Đấng của Lời Hứa ban cho trần gian. Từ chỗ không nhận ra đến khinh khi coi thường và đỉnh cao là kết án, loại trừ.
Chúa Giêsu đã nhìn thấy trước những sóng gió mà các tông đồ sẽ phải trải qua trong cuộc đời theo Chúa và cuộc sống làm chứng nhân cho Chúa sau này. Ngài đã tỏ rõ dung nhan thật của Ngài là Thiên Chúa qua việc hiển dung trên núi Tabor. Với sự chứng giám của Môi-sê và Elia là hai đại diện của các tổ phụ và các tiên tri, họ là những con người đã nỗ lực chuẩn bị cho Đấng cứu thế đến trần gian. Hôm nay họ xuất hiện như một chứng nhân cho sự thật về con người Giêsu Nagairet chính là Đấng muôn dân đang mong chờ.
Ngày hôm nay, Giêsu Nagiaret đó vẫn đang hiện diện giữa chợ đời hôm nay. Ngài có thể là một bác nông dân nghèo khó, một cụ bà côi cút sống cô độc nơi ngôi nhà rách nát nghèo nàn. Ngài có thể là một anh, một chị công nhân đang đổ mồ hôi trên công trường, trong nhà máy. Ngài vẫn đang hiện diện nơi những người nghèo khổ, bần cùng trong xã hội hôm nay. Ngài đang cần chúng ta đón nhận trong yêu thương huynh đệ, trong bác ái cảm thông. Vì chính Ngài đã từng đồng hoá mình với những con người bần cùng, nghèo khó đó. Ngài đã từng hứa ân thưởng cho những ai chia sẻ với ngài một ly nước khi khát, một chén cơm khi đói. Một chiếc áo để che thân thể, một cái mền để đắp khi trời lạnh đêm đông.
Xin Chúa cho chúng con trái tim của Chúa, để có thể nhìn thấy Chúa qua những người bị xã hội khi chê, ruồng bỏ. Xin cho chúng con cái nhìn của Chúa để nhìn vào tâm hồn nơi một người chứ không chỉ dừng lại ở dáng vẻ bên ngoài. Xin cho chúng con biết mở lòng với những người thấp bé, nghèo khổ vì Chúa đang nói với chúng con qua những con người nhỏ bé đó. Amen.
------------------------------
Để một chú rắn con có thể lớn lên, nó phải “thay hình” và “đổi dạng”, phải đau đớn loại bỏ lớp da cũ kỹ, phải “lột xác” để mặc lấy bộ áo mới và trưởng thành hơn.
Đời sống tâm linh của chúng ta cũng vậy. Nếu muốn phát triển và lớn lên mãi trong tình nghĩa với Chúa, chúng ta cũng phải như chú rắn kia. Chúng ta phải can đảm hy sinh chấp nhận mọi đớn đau trong sự “biến hình” và “đổi dạng”, phải từ bỏ những cằn cỗi, già nua của lớp da cũ kỹ là thói tham sân si, ghen ghét, hận thù, bất công, vu oan, cáo vạ,… đồng thời ta phải “thay đổi” nếp sống để trở nên tốt hơn.
Vinh quang mà thánh Phêrô, Giacôbê và Gioan được cảm mến khi chứng kiến Đức Giêsu biến hình cũng sẽ là vinh quang của chúng ta mai này, nếu chúng ta trung thành bước theo Chúa, và chấp nhận những khó khăn do việc biến đổi đời sống theo tinh thần Tin Mừng.
Nhưng liệu vinh quang ấy có đủ sức hấp dẫn chúng ta vượt qua mọi thử thách, mọi cám dỗ, mọi cạm bẫy trong cuộc đời để đi trọn con đường mà Chúa mời gọi chúng ta đi vào hay không?
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã biến hình trên núi như một khởi điểm cho sự biến đổi bản thân con. Xin Chúa biến đổi con nên đồng hình đồng dạng với Chúa. Amen.
------------------------------
Lm. Micae Võ Thành Nhân
Chúa là Chân, Thiên, Mỹ, Chúa đẹp vô cùng, nhưng sự xinh đẹp ấy lại ẩn dấu trong xác phàm của Chúa làm người, khiến cho con người chúng ta không thể nhìn thấy được. Hôm nay, Chúa tỏ lộ sự xinh đẹp vô cùng ấy ra bên ngoài cho con người chúng ta, một cách đặc biệt là cho ba thánh tông đồ Chúa đem theo là Thánh Phêrô, thánh Giacôbê, thánh Gioan được thấy mà như Tin Mừng của Chúa theo thánh Maccô hôm nay tường thuật lại, khi Chúa biến hình trên núi Tabo: “Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy” (Mc 9, 3).
Chúa biến hình trở nên xinh đẹp, lộng lẫy vô cùng như vậy là do Chúa vâng lời Chúa Cha một cách tuyệt đối, để rồi Chúa bước vào cuộc khổ nạn cứu chuộc con người chúng ta. Cuộc khổ nạn mà Chúa phải chịu đó thật là đớn đau, xấu hổ, nhục nhã hết sức, chẳng một ai chịu nỗi. Dường như Chúa chỉ nghĩ đến thôi là Chúa đã cảm thấy toát mồ hôi hột, nổi da gà, rợn hết người, lạnh cả gáy rồi. Có lẽ ông Môsê và tiên tri Êlia hiện ra đàm đạo về cuộc khổ nạn của Chúa sắp chịu nhằm ứng nghiệm lời Chúa trong Kinh Thánh, và rồi các ngài an ủi Chúa để Chúa can đảm chấp nhận. Nhưng quan trọng nhất là Chúa bằng lòng vì Chúa vâng lời Chúa Cha và yêu thương con người chúng ta đang trên đà hư vong, trầm luân. Nếu Chúa không chịu chết trên thập giá để cứu thì không biết con người chúng ta sẽ đi về đâu trong cuộc sống dương gian này? “ Này con đây, con đến để thi hành ý Ngài” (Dt 10, 9). Như vậy chúng ta có thể nói như một chân lý " Vâng lời Chúa thì sẽ dẫn đến kết quả tốt đẹp ".
Tổ phụ Abraham trong bài đọc một được trích từ sách Sáng Thế (St 22, 1 – 2. 9a. 10 –13. 15 – 18), vì vâng lời Chúa, ông đã dâng người con duy nhất để nối dõi tông đường là Isaac cho Chúa, bằng cách sát tế người con này làm của lễ và Chúa đã nhận tấm lòng thành của ông, chẳng những Isaac không bị sát tế, mà Chúa còn ban phúc lành cho ông và cho dòng dõi của ông đông như sao trên trời, như cát ngoài biển. Mọi dân thiên hạ sẽ lấy dòng giống của ông mà cầu phúc cho nhau: “Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển….và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu dệu ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta “.
Cuộc đời của con người chúng ta, nếu chúng ta vâng lời và làm theo thánh ý Chúa, như từ bỏ các tính hư tật xấu, đam mê xác thịt, tham sân si, tội lỗi, trung thành vác thập giá theo Chúa mỗi ngày và luyện tập các nhân đức, chúng ta sẽ có kết quả tốt đẹp. Kết quả tốt đẹp đó là được tham dự vào cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa, để xin ơn phần rỗi cho chúng ta và cho mọi người: “Đối với những ai sống đẹp lòng Chúa, thì Chúa là kiến trúc sư chỉ vẽ cho họ cách xây tòa nhà cứu độ” (St Irênê Ks BđII MC).
Khi Chúa giúp chúng ta xây tòa nhà cứu độ cho chúng ta, nghĩa là Chúa yêu thương chúng ta. Chúa yêu thương chúng ta thì Chúa sẽ ban muôn ơn cho chúng ta, đến nỗi mà như bài đọc hai trong thư của thánh Phaolô tông đồ gởi tín hữu Rôma: “Người không dung tha chính Con mình, nhưng lại phó thác Con vì tất cả chúng ta, há Người lại chẳng ban cho chúng ta mọi sự cùng với Con của Người sao?” (Rm 8, 32). Do đó, Chúa sẽ bảo vệ chúng ta, chúng ta an tâm tiến bước trong tình yêu Chúa, không phải lo lắng gì cả: “Ai tố cáo những kẻ Chúa chọn, chính Chúa là Đấng làm cho nên công chính. Ai sẽ kết án? Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết và hơn nữa đã sống lại, đang ngư bên hữu Thiên Chúa, cũng đang biện hộ cho chúng ta” (Rm 8, 33 – 34).
Lạy Chúa, mỗi khi chúng con đi vào cuộc khổ nạn của Chúa, chúng con đi vào sa mạc tâm hồn, tập sống khắc khổ, chế ngự bản tính hư đốn, vác thập giá theo Chúa, chết đi cho con người cũ tội lỗi, để được sống lại với Chúa trong vinh quang. Xin cho Lời Chúa và Mình Máu Chúa của ngày hôm nay mà chúng con nhận lãnh, trở nên nguồn sức mạnh để chúng con thực hiện trọn vẹn ý Chúa, " Sám hối và tin vào Tin Mừng ", và xin Chúa cũng biến đổi chúng con trở nên xinh đẹp trong tâm hồn và thể xác, trong nết na, trong lời ăn tiếng nói, cách cư xử khi chúng con làm theo ý Chúa, chúng con làm sáng danh Chúa trước mặt mọi người chúng con đang sống đây.
Lạy Chúa, Chúa đã dạy chúng con phải vâng nghe Con yêu dấu của Chúa; xin lấy lời hằng sống nuôi dưỡng đức tin của chúng con, nhờ vậy, cặp mắt tâm hồn chúng con sẽ trong sáng để nhìn thấy vinh quang Chúa tỏ hiện trong cuộc đời chúng con. Amen.
------------------------------
Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Chúa Hiển Dung hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Khi Con Một Chúa biểu lộ dung nhan vinh hiển Người, Chúa đã dùng hai chứng nhân Cựu Ước là ông Môsê và ông Êlia, để củng cố niềm tin của các Tông Đồ vào mầu nhiệm cứu độ, và báo trước hồng ân lạ lùng Chúa sẽ ban là nhận chúng ta làm nghĩa tử. Xin cho chúng ta nghe lời Con Một Chúa, để mai sau được chung hưởng gia nghiệp với Người. Bốn mươi ngày trước Lễ Suy Tôn Thánh Giá, Lễ Hiển Dung nhắc cho các tín hữu nhớ rằng: Chúa Kitô đã muốn “chuẩn bị tâm hồn các môn đệ khỏi vấp phạm vì khổ hình thập giá”, nhưng đồng thời, lễ này cũng loan báo cho mọi tín hữu biết mình được nhận làm con cái Thiên Chúa, nhờ Con Thiên Chúa là Đức Giêsu, và loan báo ánh sáng diệu kỳ một ngày kia sẽ rạng ngời trên toàn thân thể nhiệm mầu, tức là Hội Thánh.
Củng cố niềm tin Tông Đồ và nhận ta làm nghĩa tử, ta hãy sống xứng đáng là con cái Thiên Chúa, như trong Bài đọc 1 Kinh Sách, trích thư thứ hai của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Côrintô: Vinh quang của Giao Ước Mới trong Đức Kitô... Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, và thật sự chúng ta là con Thiên Chúa. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.
Củng cố niềm tin Tông Đồ và nhận ta làm nghĩa tử, ta hãy chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa, như trong Bài đọc 2 Kinh Sách, trích Bài Giảng Lễ Chúa Hiển Dung của Giám Mục Anáttaxiô Xinai: Chúng con ở đây, thật hay quá… Dung nhan Đức Giêsu chói lọi như mặt trời. Được chiêm ngưỡng vinh quang của Người, các môn đệ vừa ngỡ ngàng vừa sợ hãi. Và kìa có ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Người.
Củng cố niềm tin Tông Đồ và nhận ta làm nghĩa tử, ta hãy nhảy mừng trước Nhan Thiên Chúa, như trong Bài đọc 1 Thánh Lễ, trích sách ngôn sứ Đanien: Áo người trắng như tuyết. Đáp Ca, Tv 96: Chúa là Vua hiển trị, là Đấng cao cả trên khắp địa cầu. Chúa là Vua hiển trị, hỡi địa cầu, hãy nhảy mừng lên, vui đi nào, ngàn muôn hải đảo! Mây u ám bao phủ quanh Người, bệ ngai rồng là chính trực công minh.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người. Trong Bài Tin Mừng, thánh Mátthêu tường thuật: Dung nhan Đức Giêsu chói lọi như mặt trời. Chúa là Vua hiển trị, là Đấng cao cả trên khắp địa cầu. Núi tan chảy như sáp, khi diện kiến Thánh Nhan vị Chúa Tể hoàn cầu. Trời xanh tuyên bố Người là Đấng chính trực, hết mọi dân được thấy vinh quang Người. Áo Người trắng như tuyết, tóc trên đầu Người tựa lông chiên tinh tuyền. Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, và thật sự chúng ta là con Thiên Chúa. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy. Dung nhan Đức Giêsu chói lọi như mặt trời. Được chiêm ngưỡng vinh quang của Người, các môn đệ vừa ngỡ ngàng vừa sợ hãi: Ở đây thật là hay! Còn gì hạnh phúc hơn là được ở với Thiên Chúa, được nên đồng hình đồng dạng với Người và được chan hòa ánh sáng; Ở đây thật là hay: mọi sự đều sáng ngời rực rỡ; niềm vui và hạnh phúc ngọt ngào; bình an, thanh tĩnh và êm đềm vì được nhìn thấy Đức Kitô, cùng với Người, chúng ta sẽ rực sáng. Con Một Cha biểu lộ dung nhan vinh hiển, để củng cố niềm tin cho các Tông Đồ, và loan báo trước hồng ân lạ lùng Cha sẽ ban là nhận chúng ta làm nghĩa tử. Ước gì chúng ta biết nghe lời Con Một của Cha, để mai sau chúng ta được chung hưởng gia nghiệp với Người. Ước gì được như thế!
---------------------------------
Theo Chúa, hãy vác thập giá.
"Người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình".
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ được sự sống. Nếu ai được lợi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình, thì được ích gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình?
"Bởi vì Con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ trả công cho mỗi người tuỳ theo việc họ làm. Thật, Thầy bảo các con: trong những kẻ đang đứng đây, có người sẽ không nếm sự chết trước khi xem thấy Con Người đến trong Nước Người".
---------------------------------
(Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.)
Con đường của người môn đệ Thầy Giêsu là con đường không êm ả.
Ngay sau khi Thầy Giêsu loan báo lần đầu về số phận sắp đến của mình,
Ngài đã nói đến số phận của các môn đệ (cc. 24-28).
Họ được mời chia sẻ cùng một thân phận với Thầy và như Thầy.
Thầy trò sẽ phải đi qua con đường hẹp, con đường của khổ đau và cái chết.
Nhưng cuối cùng con đường ấy dẫn đến phục sinh (Mt 16, 21).
Phục sinh, sự sống, niềm vui, sẽ chiến thắng.
Chiến thắng ấy chỉ mua được bằng khổ đau và cái chết tự nguyện.
Như thế điều kiện để giữ được sự sống đời sau là dám mất sự sống đời này.
Đây thật là một liều lĩnh của đức tin,
vì nếu không thực sự tin vào đời sau, thì chẳng ai muốn thả mồi bắt bóng.
Cuộc đời này có nhiều điều chân thiện mỹ, có nhiều giá trị đáng trân trọng.
Nhưng lắm khi cũng phải hy sinh chúng cho những giá trị lớn hơn,
cho Đấng là Chân Thiện Mỹ viết hoa, là Giá Trị của mọi giá trị.
Cái tôi của tôi là một giá trị lớn, là quà tặng độc đáo Chúa ban cho tôi.
Chẳng có hai cái tôi giống nhau dưới mắt Chúa.
Cùng với cái tôi, Chúa ban cho tôi tự do, lý trí, trái tim, thân xác…
Chúa còn ban cho tôi vũ trụ vật chất với bao tài nguyên để tôi sống nhờ,
và cả một thế giới với bao cái tôi khác, để tôi sống với như anh em.
Cái tôi là món quà quý nhất Chúa ban cho tôi.
Cái tôi cũng là món quà quý nhất tôi có thể dâng lại cho Chúa.
Nhiều tôn giáo nói đến từ bỏ cái tôi, phá chấp ngã.
Đức Giêsu cũng mời bất cứ ai muốn bước theo Ngài phải từ bỏ chính mình,
không phải vì cái tôi của mình là xấu xa, đáng ghét,
nhưng chỉ vì nó chỉ là thụ tạo trước mặt Đấng Tạo Hóa đã dựng nên nó.
Từ bỏ chính mình là đặt mình ở dưới Thiên Chúa, không coi mình là trung tâm,
và để cái tôi của mình trọn vẹn tùy thuộc vào ý muốn của Ngài.
Thầy Giêsu đã sống từ bỏ mình như vậy trong suốt cuộc đời trần thế.
Ngài luôn sống như một người con thảo, một người được Cha sai.
Lạ thay, chính lúc từ bỏ mình, múc cạn chính mình, hủy mình ra không,
thì Ngài lại được phục hồi chính mình và được siêu tôn trên mọi sự (Pl 2, 9).
Trong Kitô giáo, cái tôi được thanh luyện, nhưng không bị loại bỏ.
Cái tôi ấy cũng không bị Thiên Chúa nuốt chửng hay hòa tan.
“Ai mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (c. 25).
Như thế từ bỏ mình là cách duy nhất để giữ mình cho toàn vẹn.
Chẳng thể nào yêu mến và phục vụ lại không gắn liền với việc từ bỏ mình.
Có khi từ bỏ một định kiến hay tự ái, một quyền lợi hay ảnh hưởng riêng,
cũng khó như một hy sinh mạng sống.
Vác thập giá của mình là vác gánh nặng của bổn phận mỗi ngày,
vác yếu đuối của người anh em mỗi ngày, vác cuộc đời mình mỗi ngày.
Thầy Giêsu đòi chúng ta vác thập giá của mình mà theo Thầy cho đến chết.
Vì Thầy là Con Thiên Chúa, vì Thầy đã lấy lại được sự sống,
nên chúng ta tin tưởng vác thập giá bước đi sau Thầy.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
trước khi con tìm Chúa, Chúa đã đi tìm con.
Trước khi con thấy Chúa, Chúa đã nhìn thấy con.
Trước khi con theo Chúa, Chúa đã đi theo con.
Trước khi con yêu Chúa, Chúa đã mến yêu con.
Trước khi con thuộc về Chúa, Chúa đã thuộc về con.
Trước khi con phụng sự Chúa, Chúa đã phục vụ con.
Trước khi con từ bỏ mình vì Chúa, Chúa đã nộp mình vì con.
Trước khi con sống và chết cho Chúa, Chúa đã sống và chết cho con.
Trước khi con đặt Chúa lên trên hết,
Chúa đã coi con là hạnh phúc tuyệt vời của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu là Thầy của con,
Chúa luôn đi trước con.
Chúa làm trước khi Chúa dạy.
Con hiểu rằng mọi điều Chúa đòi hỏi nơi con
đều chỉ vì lợi ích vĩnh cửu của con mà thôi.
Xin cho con đón nhận những cắt tỉa của Chúa
với lòng biết ơn và rất nhiều tình yêu. Amen.
---------------------------------
(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)
Ai cũng muốn được. Không ai chịu mất. Nhưng thế nào là được và thế nào là mất thì không phải ai cũng hiểu. Nhất là vì con người có hai đời sống. Đời này và đời sau. Trong hai đời sống hai cách được và mất khác nhau. Được ở trần gian là thực tế trước mắt nên nhiều người tìm kiếm. Được ở Nước Trời xa vời nên nhiều người không thấy. Tuy nhiên được ở trần gian mau qua như trần gian. Được trên Nước Trời là vĩnh viễn. Được ở trần gian không bao giờ thoả mãn. Được trên Nước Trời là hạnh phúc trọn vẹn. Khác biệt lớn lao và khó khăn nhất là cách chiếm đoạt rất khác nhau. Được ở trần gian do vun quén cho bản thân. Được trên Nước Trời lại thủ đắc bằng từ bỏ hết những gì ở trần gian, kể cả bản thân và mạng sống mình. Như lời Chúa phán: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy”. Cái được ở trên Nước Trời là sự sống vĩnh cửu, dù cả trần gian cũng không so sánh được. “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình”? chính Chúa mới là Chúa Tể trời đất, có quyền xét xử định đoạt số phận chúng ta. Trần gian chỉ chiếm được đời này. Phải bó tay trước đời sau. Thiên Chúa làm chủ cả đời này lẫn đời sau. Ai bỏ Chúa theo trần gian chỉ được một chút đời này. Ai bỏ trần gian mà theo Chúa chỉ bị thiệt thòi một chút đời này. Nhưng sẽ được đời sau vô cùng phong phú sung mãn không gì sánh được. Thiên Chúa làm chủ. Điều đó được chứng tỏ qua dòng lịch sử.
Thời Mô-sê Thiên Chúa đã cứu người Ít-ra-en khỏi ách nô lệ Ai cập. Ít-ra-en đang nô lệ bỗng thành tự do. Đang tản mát bỗng thành một dân tộc. Đang bơ vơ bỗng được đất chảy sữa và mật. Đang yếu ớt bỗng chiến thắng quân đội Ai cập hùng mạnh nhất thế giới thời ấy. Đó chính là vì Chúa là Thiên Chúa của họ (năm lẻ).
Ít-ra-en phản bội nên bị Chúa phạt. Phải làm nô lệ cho Ni-ni-vê. Nhưng rồi đến ngày Chúa phục hồi dân Chúa. “Phải, đức Chúa khiến cho Gia-cóp và Ít-ra-en lấy lại sức kiêu hùng”. Ngài cho Ni-ni-vê hùng mạnh một thời gian. Rồi trừng phạt vì họ không tuân hành thánh ý. “Bấy giờ, hễ ai nhìn thấy ngươi cũng đều phải tránh xa và nói: “Ni-ni-vê đã bị phá tan hoang!” Ai còn cảm thương nó? Ta tìm đâu cho ngươi những người an ủi”? (năm chẵn).
Hôm nay Chúa mời gọi tôi. Hãy khôn ngoan đừng khờ dại. Hãy biết chọn Thiên Chúa chứ đừng chọn thế gian. Hãy biết bỏ đời này để được đời sau. Được chính Chúa. Là hạnh phúc muôn đời.
---------------------------------
(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với các môn đệ về những điều kiện để được làm môn đệ Ngài: từ bỏ mình, vác Thập giá, và đi theo Chúa Giêsu. Cả ba kiểu nói đều đồng nghĩa với nhau, và đều nói lên cái cốt yếu của đời sống Kitô hữu, đó là đón nhận đau khổ như chính Chúa Giêsu đã đón nhận cuộc khổ nạn và cái chết dành cho Ngài.
Chúa Giêsu đã đưa ra những điều kiện trên đây liền sau khi Ngài loan báo về cuộc tử nạn của Ngài: Ngài sẽ bị đau khổ và bị treo trên Thập giá. Thập giá vốn là cái giá mà Chúa Giêsu phải trả vì cuộc sống và giáo lý của Ngài. Như vậy tất cả những ai muốn làm môn đệ Ngài đều phải trải qua con đường Thập giá ấy. Thật ra, đau khổ vốn là phần số chung của mọi người: đã mang tiếng khóc vào đời là mang lấy cả thân phận khổ đau, có khác chăng là thái độ của con người trước đau khổ mà thôi.
Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta một thái độ mẫu mực. Ngài không bao giờ lý giải về nguồn gốc của khổ đau, nhưng Ngài đón lấy khổ đau và biến nó thành cội nguồn của yêu thương. Thập giá vốn là tận cùng sự bỉ ổi của con người, nhưng đã được Chúa Giêsu biến thành biểu tượng của tình yêu. Chúa Giêsu chịu treo trên Thập giá, không phải để đề cao đau khổ, mà chính là để biểu lộ tình yêu của Ngài. Như vậy, chính trong mầu nhiệm Thập giá, chúng ta đón nhận khổ đau; chính trong mầu nhiệm Thập giá Chúa Giêsu mà thái độ đón nhận đau khổ của chúng ta mang lấy ý nghĩa.
Bức tượng Mẹ Maria bồng xác Chúa Giêsu trên tay, do danh họa Michel-Angelo thực hiện và hiện được đặt tại Ðền thờ thánh Phêrô ở Rôma, là một trong những kiệt tác về sự đau khổ. Mẹ Maria ôm xác Chúa Giêsu trong vòng tay Mẹ, không gì buồn thảm bằng; thế nhưng đó cũng là một trong những kiệt tác về yêu thương. Tất cả đều tùy thuộc thái độ của con người trước khổ đau. Con người có thể trốn chạy khổ đau, con người có thể suốt một đời phàn nàn về khổ đau. Nhưng con người cũng có thể biến khổ đau thành một hành động yêu thương; đó là thái độ của Chúa Giêsu và cũng phải là thái độ của tất cả những ai muốn làm môn đệ Ngài.
Nơi nào có Thập giá, nơi đó có Thiên Chúa. Nguyện xin Chúa giúp chúng ta luôn tỉnh thức để nhận ra sự hiện diện yêu thương của Ngài ngay trong khổ đau, để giữa những giờ phút tăm tối và thử thách, chúng ta vẫn còn thấy được ý nghĩa của cuộc sống.
---------------------------------
Rồi Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? hoặc người ta lấy gì mà đổi mạng sống mình? (Mt. 16, 24-26)
Đây là vấn đề lớn được Đức Kitô nói với mỗi người chúng ta! Bạn có yêu tôi không? Bạn có yêu tôi hơn những người kia không? tình yêu của bạn đối với tôi tới mức nào? bạn yêu tôi thì hiến trọn vẹn tình yêu của bạn, ai yêu như thế thì không còn là mình nữa, nhưng hoàn toàn là người mình yêu!
Yêu…
Bạn thấy không: Đức Kitô yêu chúng ta trọn vẹn. Người hiến thân trọn vẹn cho chúng ta và hỏi chúng ta có yêu Người trọn vẹn không? chúng ta hãy hiến dâng mình để sống được cảm nghiệm được tình yêu biết yêu mến độc nhất ấy! Hãy hỏi mình xem đã yêu bao nhiêu. Có giống Người không? có yêu đến cực điểm của con người mình không? có như Người yêu chúng ta đến giọt máu cuối cùng không?
Không phải chúng ta đã làm Đức Kitô chết, nhưng chính Người đã tự hiến mạng sống Người cho mỗi người chúng ta. Và Người có quyền hỏi chúng ta bằng câu cốt yếu độc nhất này: bạn có yêu tôi không?
Dù ở hoàn cảnh nào, nghề nghiệp nào, Đức Giêsu đều hỏi: bạn có yêu tôi không?
Không có thể so sánh với người khác. Đây là câu hỏi cho chính bản thân mình, mỗi cá nhân hãy tự hỏi và tự trả lời một cách tự do, một câu trả lời hợp với khả năng yêu mến của mình.
Ngày nay.
Phải nói rằng Thiên Chúa gần chúng ta một cách kỳ lạ, hằng ngày trong đời sống chúng ta, kích thích từng tiếng nói của chúng ta để lời Ngài 2000 năm được hiện tại hóa vào nếp sống con người chúng ta ngày nay.
Tình yêu không biên giới, không già, khắc phục mọi xa cách không gian và thời gian!
“Thiên Chúa của tôi nói với tôi,
Con ơi! cần phải yêu Cha…” (Verlaine)
J.M
---------------------------------
Xem lại CN 22 TN A.
Ngày nay, khi đi phỏng vấn để xin việc, người ta thường đòi hỏi những điều kiện về sức khỏe và chuyên môn, đồng thời tùy một số công việc đặc thù, cần phải có sự thỏa thuận cụ thể hơn. Cũng vậy, khi được gọi để trở thành môn đệ, Đức Giêsu cũng đòi hỏi người môn sinh phải hội đủ những điều kiện cần thiết để chu toàn bổn phận của người thừa sai, hầu những ai được gọi và chọn thì đều cảm thấy hạnh phúc khi thi hành sứ vụ của người sai đi.
Hôm nay, bài Tin Mừng kể lại việc Đức Giêsu đòi hỏi những người Ngài muốn gọi và chọn để ra đi thi hành sứ vụ cần phải “từ bỏ mình và vác thập giá theo Ngài”.
Thoạt nghe, chúng ta cảm thấy buồn cười và có sự mâu thuẫn! Tuy nhiên, nhìn dưới khía cạnh của Kinh Thánh, thì sự đòi hỏi này của Đức Giêsu mang tính tự do cho người đón nhận chứ không phải vì ép buộc. Tức là tự nguyện từ bỏ một cuộc sống dễ dãi, an nhàn, hay ăn trên ngồi trước, để lựa chọn một cuộc sống thiếu thốn, khổ hạnh vì ích lợi và niềm vui của kẻ khác.
Từ bỏ chính mình, vác thập giá mà theo, tức là chấp nhận đi trên con đường mà chính Đức Giêsu đã đi. Con đường đó là một con đường hẹp. Con đường của hy sinh, thiệt thòi. Con đường của tự hủy. Con đường khiêm tốn và là con đường vâng phục thánh ý Chúa Cha hoàn toàn.
Thật vậy, từ bỏ chính mình quả là điều khó nhất, bởi vì: “Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì con chưa bỏ gì cả, vì chính mình con sẽ dần dần quơ góp lại những gì con bỏ trước” (Đường Hy Vọng, số 3). Nhưng nhiều người lại có suy nghĩ là: bỏ tất cả, nhưng từ bỏ mình thì nhất quyết không, bởi vì họ từ bỏ cái tôi thì phải chăng họ không còn là họ nữa!
Tuy nhiên trong hoàn cảnh này, Đức Giêsu muốn các môn đệ ra khỏi sự ích kỷ, tự phụ, kiêu ngạo, để ý Chúa rợp bóng trên cái tôi của mình, và chính từ đó, tôi được trở thành tôi đúng nghĩa trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết an vui khi chọn Chúa làm gia nghiệp. Xin cũng cho chúng con được từ bỏ mọi sự, vác thập giá để theo Chúa trên con đường cứu độ mà Chúa muốn chúng con thi hành. Amen.
Ngọc Biển SSP
--------------------------------
(TGM Giuse Nguyễn Năng)
Sứ điệp: Để cứu chuộc nhân loại, Chúa Giêsu đã bằng lòng đón nhận khổ đau và chịu chết trên thập giá, nên Chúa đã được phục sinh vinh quang. Chúa mời gọi ta là môn đệ Ngài, hãy bước theo Ngài.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa đã yêu thương con và đã để lại cho con một mẫu gương yêu thương tuyệt vời. Cuộc đời của Chúa chiếu tỏa rạng ngời tình yêu cứu độ. Chúa đã yêu thương và yêu đến cùng, dù phải chịu bao gian nan, bao chống đối, bao khổ đau và cả cái chết trên thập giá.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã bằng lòng đón nhận tất cả vì yêu, vì Chúa mời gọi con chấp nhận cùng mang lấy thân phận tôi tớ với Chúa trong cuộc sống và trong cái chết.
Xin cho con hiểu và xác tín rằng phải qua thập giá mới được vinh quang phục sinh. Xin cho con can trường quảng đại trước gian nan khổ đau vất vả, để đem lại hạnh phúc, niềm vui và ơn cứu độ cho mình và anh em. Con sẽ chấp nhận khổ đau không chỉ vì khổ đau, nhưng vì muốn biểu lộ tình yêu cứu thế. Xin giúp con quảng đại hy sinh để cộng tác với Chúa làm cho Nước Trời lớn lên trong con, trong gia đình, trong xóm ngõ, trong giáo xứ, và góp phần làm cho bộ mặt trần thế nên trời mới đất mới.
Lạy Chúa, xin cho con ghi nhớ Lời Chúa: “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất mạng sống thì nào có lợi gì?”. Con vẫn thường đi tìm những cái lợi mau qua trước mắt mà coi nhẹ sự sống linh hồn và chẳng quan tâm đến số phận đời đời. Xin Chúa giúp con hằng ngày biết hy sinh, từ bỏ chính mình để theo Chúa. Amen.
Ghi nhớ: “Người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình”.
--------------------------------
(Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)
Câu chuyện
Khi nhắc đến ông Leonardo da Vinci, chúng ta thường nghĩ đến những phát minh khoa học và những bức họa nổi tiếng của ông. Chúng ta không biết rằng để giải trí ông Leonardo de Vinci còn sưu tầm những chuyện cổ tích, hoặc đặt ra những câu chuyện vui sau đây về một cuộc đối thoại tưởng tượng giữa một tờ giấy trắng và cái bút:
Tờ giấy trắng từ lâu nằm ù lì trên bàn giấy cùng với những đồng bạn khác, nhưng bỗng nó được chọn đem ra nằm giữa bàn và chịu cảnh cây viết mực đen ngòm vẽ lên nó không biết bao nhiêu là dấu hiệu mà nó không hiểu gì cả. Nó phàn nàn với cái bút như sau:
- Tại sao anh lại làm thế? Anh vẽ trên mình tôi những dấu đen làm mất đi sự trong trắng ban đầu. Anh làm nhục tôi như thế này sao? Anh làm hư cả cuộc đời tôi rồi.
Nhưng cái bút trả lời:
- Không đâu anh giấy ạ, anh hiểu lầm tôi rồi. Tôi không bôi đen anh đâu, tôi vẽ lên anh những dấu hiệu, những dòng chữ kể từ nay anh không còn là tờ giấy vô dụng nữa, nhưng có mang trên mình những sứ điệp. Anh trở thành kẻ cộng tác với con người. Lưu giữ những tư tưởng cao siêu. Và vì thế được con người nâng niu, bảo vệ. Anh sẽ được sống mãi để trợ giúp cho con người.
Tờ giấy chưa kịp trả lời cái bút thì nó bỗng nhìn thấy một bàn tay người quơ lấy những tờ giấy khác, trước kia trắng tinh nay đã đổi màu, đầy bụi mà quăng vào ngọn lửa bên cạnh. Tờ giấy bị vẽ trên mình những lằn mực đen kia mới hiểu được hành động của cái bút và lấy làm sung sướng, vì được trở thành như người cộng tác lưu giữ trong kho tàng trí khôn con người (R.Veritas, Mạch nước trường sinh, tr 52).
Suy niệm
Lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ, đồng thời cũng nói với mọi người chúng ta, người tin theo Ngài như môn sinh: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Mối tình thâm sâu của người môn sinh Chúa Giêsu được biểu tượng bằng hình ảnh thập giá, chính thập giá liên kết vận mệnh của môn đệ với vận mệnh của chính Thầy: Thầy sao trò vậy, như Chúa Giêsu đã từng quả quyết: “Môn sinh không hơn Thầy”, Thầy vác thập giá, trò cũng mang thập tự. Như lời Chúa mời gọi các môn đệ, chúng ta cũng được mời gọi đi theo bước chân Ngài: Bước đầu là từ bỏ và vô hiệu hóa những ràng buộc chính mình với thế gian, để được tự do thanh thoát dưới ân sủng của Thánh Linh và tình yêu, bước tiếp những bước đi mới, những bước đi huyền nhiệm thập giá để có thể tiếp nhận khổ đau và cái chết theo kế hoạch và tình yêu của Chúa Cha, như Thầy đã bước đi trong hành trình thập giá tiến về đồi Canvê. Trong thập giá, khám phá ra sự phục sinh vinh quang, mà Thầy Giêsu đã khai mở bằng sự phục sinh của chính Ngài khi bước qua thập tự.
Hình ảnh đó được ẩn dụ dưới hình ảnh chim cú đã phát triển được đôi mắt sáng nhờ “bị” đẩy vào bóng đen. Chính trong bóng tối, chim cú được khai mở khả năng thấy sáng của mình và bóng đêm không thể khuất phục được sức sống của chim cú ngay trong đêm. Hình ảnh chim cú sáng mắt trong đêm tối là biểu tượng của sự khám phá ra nét công hiệu của những “mũi tên ngược” trong cuộc sống của kiếp nhân sinh, cách đặc biệt của đời sống niềm tin đó là những thập giá mà chúng ta mang qua những thử thách, với những chén đắng mà chúng ta uống xuyên qua những nghịch cảnh xảy đến trong cuộc sống. Thập giá và chén đắng này làm bừng sáng con mắt đức tin và khai mở con mắt tình yêu nơi người sống trong huyền nhiệm thập giá. Chính họ có một nhãn quan mới nhìn vào cuộc sống với biết bao nhiêu biến động có thể mang dáng dấp của bóng tối.
Trong thập giá tình yêu trở nên hy lễ sống động: Hy lễ tình yêu mà Chúa Giêsu dâng tiến lên Chúa Cha để đền tội cho nhân loại. Hy tế đó luôn kéo dài trong lịch sử và mời gọi mọi người chúng ta bằng sự đóng góp của bản thân tham dự vào hy tế qua cuộc sống được thánh hóa dưới thập giá, như tâm tình thánh Phaolô khuyên tín hữu thành Rôma “hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12,1).
Hãy cùng lên Giêrusalem để vác thập giá theo Chúa là lời mời gọi từ bỏ những thực tại hào nhoáng phù du lôi kéo con người đi vào thế gian với vỏ bọc an toàn tạm bợ “được cả thế giới”, nhưng lại đánh mất chính mình, mất tư cách bạn hữu, mất tư cách môn sinh. Từ bỏ tất cả để vác thập giá tiến lên Giêrusalem, để tôi và bạn được như thánh Phaolô: “Ðối với tôi, sống là Ðức Kitô” (Pl 1,21) và “biết Đức Kitô là một mối lợi” (Pl 3,8). Khám phá ra thập giá trong đời mà mỗi chúng ta mang và tiến đến đồi Canvê với một tinh thần “vượt qua” mang tình yêu Thiên Chúa.
Nơi thập giá, Ngài mời gọi tôi và bạn cùng xốc vác cuộc đời, trong đó có cái tôi của tài năng, thánh thiện, nhưng cũng có sự khiếm khuyết, bất toàn, đau khổ, thử thách… Ngài không ngừng cứu thoát chúng ta, và chúng ta vác thập giá là cùng Ngài chiến đấu như lời mời gọi của thánh Phaolô: “Anh em hãy cùng tôi chiến đấu...” (Rm 15,30).
Từ bỏ mình vác thập giá và nhờ đó mà thập giá của tôi và bạn trở nên hy lễ tình yêu, để xứng đáng tham dự vào hiến tế sống động của Chúa Kitô trên thập giá.
Ý lực sống:
“Vinh dự của tôi là thập giá” (Gl 6,14).
--------------------------------
(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)
Sau khi quở trách Phêrô vì đã ngăn cản Ngài đi con đường Thập giá, Chúa Giêsu nói thêm rằng con đường ấy là con đường mà bất cứ ai muốn làm môn đệ Ngài đều phải đi theo: “Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo”.
Lời tuyên bố trên là một điều kiện Chúa đề ra và đòi ý chí tự do của mỗi người. Chúa không cưỡng bách ai, Chúa không ép buộc ai phải theo Chúa. Đây là quyền tự do của con người để có thể tự do lựa chọn hay từ chối, nhưng mỗi người phải chịu trách nhiệm về sự tự do lựa chọn của mình.
Đối với người Do thái thời ấy hằng ngày chứng kiến những tội nhân vác khổ giá ra nơi hành hình, thì chắc hẳn hình ảnh mà Đức Giêsu dùng trong Tin mừng hôm nay đã quá rõ ràng. Cuộc sống của những người theo Đức Kitô cũng như của chính Ngài là cuộc sống của từ bỏ, hy sinh, chấp nhận đau khổ. Chúa Giêsu không bảo chúng ta đi tìm thập giá, nhưng là hãy vác lấy thập giá mình.
Một cách nào đó, không ai có thể thoát khỏi thập giá trong cuộc sống. Tại sao con người phải đau khổ? Tại sao con người phải vác thập giá? Chúa Giêsu không đưa ra một giải đáp nào. Ngài vác lấy Thập giá. Ngài sống như một con người đau khổ, và Ngài nói với chúng ta: Thập giá là con đường giải thoát, con đường dẫn tới sự sống... (Mỗi ngày một tin vui).
“Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Qua câu nói này, Chúa muốn dạy các môn đệ cũng như mọi người thấy rõ những gì họ tin và bằng lòng trả giá. Chúa muốn những ai tin Chúa, phải quyết tâm đi vào con đường mà Chúa đã đi. Đó là con đường từ bỏ mình và vác thập giá. Từ bỏ mình là từ bỏ con người vị kỷ, nhỏ nhen, hẹp hòi, ti tiện, sai trái, từ bỏ tất cả những gì mình muốn nhưng Chúa không muốn để hoàn toàn trống rỗng mà chứa đựng một mình Chúa thôi. Còn vác thập giá mình là chấp nhận và chịu đựng những đau khổ tinh thần và thể xác của cuộc đời.
Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta một thái độ mẫu mực. Ngài không bao giờ lý giải về nguồn gốc của đau khổ, nhưng Ngài đón lấy khổ đau và biến nó thành cội nguồn của yêu thương. Thập giá vốn là tận cùng sự bỉ ổi của con người, nhưng đã được Chúa Giêsu biến thành biểu tượng của tình yêu. Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá, không phải để đề cao đau khổ, mà chính là để biểu lộ tình yêu của Ngài. Như vậy, chính trong mầu nhiệm Thập giá, chúng ta đón nhận đau khổ, chính trong mầu nhiệm Thập giá Chúa Giêsu mà thái độ đón nhận đau khổ của chúng ta mang lấy ý nghĩa.
“Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất...”.
Muốn hiểu câu nói này, chúng ta phải biết thánh Mátthêu viết sách này vào khoảng năm 80-90 SC, nghĩa là ông viết vào những ngày cay nghiệt nhất. Những lời này có ý nói rằng: “Đã đến lúc con người có thể cứu mạng sống mình bằng cách chối bỏ niềm tin, nhưng như thế thì chẳng những không cứu được mạng sống mình theo đúng nghĩa thật sự mà là đánh mất nó”. Người giữ lòng trung tín có thể chết, nhưng chết để mà sống. Còn người bỏ đức tin mình để được an thân thì có thể sống để mà chết. Trong thời đại chúng ta, không có những cuộc cấm đạo khắt khe như thế, nhưng của cải vật chất, chức quyền, danh vọng... có thể làm cho chúng ta chết mà mất linh hồn.
Thánh Matthêu đã dùng từ “Sự sống” để nói lên hai thực tại khác nhau: sự sống trần gian và sự sống đời đời. Sứ điệp của Chúa xem ra ngược đời và chói tai, nhưng nếu không chế ngự tính ích kỷ và không dẹp bỏ những tham vọng của mình, chúng ta sẽ làm hư đi cuộc sống hiện tại lẫn cuộc sống tương lai. Nếu không dám liều, không thích nghi chương trình sống theo các bậc thang giá trị của Chúa, chúng ta sẽ đứng ngoài lề Tin mừng và tình yêu của Chúa.
Khi kêu gọi con người từ bỏ mình để đi theo Ngài, Chúa Giêsu cũng không mời gọi con người khinh chê hay ghét bỏ sự sống đến mức huỷ diệt sự sống, nhưng là đừng để mình làm nô lệ cho lợi lộc vật chất, trái lại đặt Chúa và tìm kiếm Nước Chúa trên hết mọi sự.
Truyện: Thánh giá vừa sức mình
Thánh giá ta đang mang là thánh giá vừa sức ta. Câu chuyện ngụ ngôn dưới đây chứng minh điều đó: có một người luôn than van những nỗi khổ cực của mình. Một ngày kia, thiên thần hiện đến phán bảo:
- Con hãy theo ta ra nghĩa địa, nơi đó người ta để lại thánh giá của mình. Con hãy mang thánh giá của con ra để đó và lựa chọn thánh giá vừa sức con.
Ông ta mang thánh giá của mình ra quăng nơi nghĩa địa, ông bắt đầu chọn cái khác nhẹ hơn, ông tìm kiếm mãi mà không được: có cây quá dài, cây quá ngắn, có cây thì nhẹ nhưng sù sì, khó vác, có cây thì trơn tru nhưng nặng quá, và sau cùng ông nói với thiên thần:
- Thưa thiên thần, cây nào cũng khó vác, chỉ có cây con định vứt đi là vừa với con thôi.
- Phải, Chúa đã trao cho con một cây thánh giá vừa sức, con hãy vui lòng vác đi, đừng than van gì nữa.
--------------------------------
(Lm Carôlô Hồ Bạc Xái)
A. Hạt giống...
Sau khi quở trách Phêrô vì đã ngăn cản Ngài đi con đường thập giá, Chúa Giêsu nói thêm rằng con đường ấy là con đường mà bất cứ ai muốn làm môn đệ Ngài đều phải đi theo: “Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo”
Khi giải thích ý nghĩa con đường thập giá ấy, Chúa Giêsu đưa ra một nghịch lý: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ được sống”.
B.... nẩy mầm.
1. “Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo”: Chúa không ép tôi theo Ngài, Chúa không buộc tôi bỏ mình và vác thập giá. Ngài chỉ mời tôi thôi và cho tôi tự do. Nếu tôi muốn theo thì hãy bỏ mình và vác thập giá, nếu không thì thôi.
Nhưng vì thương tôi, nên Ngài cho biết những sự lợi hại: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ được sống”, và “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình thì được ích gì?”
2. Chúa không bảo chúng ta đi tìm thập giá, nhưng là hãy vác lấy thập giá mình. Một cách nào đó, không ai có thể thoát khỏi thập giá trong cuộc sống (…) Đau khổ không là một đày đoạ mà con người phải gánh chịu, mà là một phương thế nên thánh. Mỗi người một thập giá, mỗi ngày một thập giá. Ai trong chúng ta cũng đang chịu một đau khổ nào đó. Ước gì khổ đau thanh luyện chúng ta để mỗi lúc được kết hiệp với Chúa mật thiết hơn ("Mỗi ngày một tin vui")
3. Nơi nào có thập giá, nơi đó có Thiên Chúa.
4. Hai cách đi theo Chúa:
Chính Thánh Don Bosco đã tưởng tượng chuyện sau đây: Một hôm Chúa Giêsu bảo Phêrô và Gioan theo Ngài lên núi. Ngài dặn mỗi ông mang theo một hòn đá. Phêrô suy nghĩ một lúc rồi nhặt một hòn đá nhỏ bỏ vào túi; còn Gioan, do lòng quảng đại, vác cả một tảng đá to. Dĩ nhiên, đường dài, vác nặng, Gioan thở hổn hển và lên đến nơi sau cùng. Phêrô bước thảnh thơi và còn nói với Gioan: “Sao anh nhọc công vác tảng đá to như thế!”. Tới nơi, Chúa Giêsu bảo hai môn đệ ngồi xuống. Ngài đọc lời chúc tụng và biến hai viên đá thành bánh. Dĩ nhiên, Phêrô chỉ được một chiếc bánh nhỏ xíu không đủ cho cơn đói cồn cào của ông.
Lần khác, Chúa lại bảo hai ông theo Ngài lên núi và cũng mang theo đá. Rút kinh nghiệm lần trước, Phêrô mang một tảng đá thật to. Đến nơi, ông ngồi chờ phép lạ. Nhưng Chúa Giêsu chỉ nói “Nào, mỗi người hãy ngồi lên tảng đá mà mình mang theo. Không phải lúc nào Thầy cũng biến đá thành bánh đâu”. Rồi Ngài nói riêng với Phêrô: “Lòng quảng đại thật không phải là lòng quảng đại tính toán”.
Lạy Chúa, xin dạy con biết sống quảng đại, biết cho đi mà không tính toán, biết chiến đấu mà không sợ thương tích, và không chờ một phần thưởng nào khác hơn là biết mình đã làm theo ý Chúa. (Chờ đợi Chúa)
5. “Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ được mạng sống ấy.” (Mt 16,25)
Thượng úy Tô Đức Thắng, người mới được đài truyền hình VTV1 ca ngợi về lòng can đảm, hy sinh quên mình vì những người hàng xóm. Vừa thấy tên cướp có súng vượt rào vào nhà bà hàng xóm, anh đuổi theo không chút sợ hãi, đồng thời báo cho những công an khác. Anh đã bị thương vì trúng đạn. Anh đã quên đi sự an bình của mình để lo an bình cho người khác. Ngay lúc ấy, anh đã thể hiện trọn vẹn con người và phẩm chất của mình. Phẩm chất ấy, ai cũng phải trân trọng.
Chính lúc hủy mình ra không, Chúa Giêsu cho thấy Ngài là thế đó, là Thiên Chúa Tình Yêu. Ngài đã huỷ mình vì Tình yêu, tình yêu với Cha và tình yêu với con người.
Lạy Chúa, xin dạy con hiểu được: Chính lúc quên mình là lúc con gặp lại được bản thân, vì khi cho đi là lúc con nhận lãnh. (Hosanna).
--------------------------------
(Lm Giuse Đinh Tất Quý)
1. “Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi, vác Thập Giá mình mà theo”. (Mt 16,24)
Thập Giá luôn là điều khó chấp nhận. Khi nghe Chúa báo tin cuộc tử nạn của Ngài sắp tới, Phêrô liền can ngăn Chúa. Đó là một phản ứng rất tự nhiên. Người ta ai cũng muốn thoát ra ngoài những đau khổ của cuộc sống, đó là một phản ứng của bản năng tự vệ. Chúa Giêsu cũng đã tỏ ra sợ hãi trước cuộc tử nạn của Ngài, nhưng ngay sau đó, Ngài đã thưa: “Nhưng xin vâng ý Cha.” (Mt 26,42).
Văn sĩ Công giáo người Anh, tên là Gilbert Keith Chesterton (1874-1936) đã mô tả thảm họa của thuyết vô thần trong một cuốn tiểu thuyết mang tựa đề là: “Bầu trời và Thập Giá”. Trong tác phẩm đó, một giáo sư vô thần tên là Luxiphe được ông cho ngồi bên cạnh một tu sĩ tên là Micae trên một chuyến bay xuyên qua Anh quốc.
Khi máy bay đi qua London giáo sư Luxiphe bỗng nhìn thấy Thập Giá trên tháp chuông nhà thờ chính tòa. Không thể tự chế được, ông đã thốt lên lời xỉ vả đối với Kitô giáo. Vị tu sĩ mới xin phép kể câu chuyện sau đây:
“Tôi cũng biết có một người thù ghét Thập Giá. Ông ta tìm mọi cách để triệt hạ cho bằng được. Bao nhiêu tác phẩm có hình nghệ thuật Thập Giá ông đều xé nát. Ngay cả cây Thánh Giá bằng vàng ở cổ vợ ông, ông cũng tìm cách giựt đứt mà liệng đi. Ông bảo rằng, Thập Giá là biểu tượng của sự dã man, hoàn toàn đối nghịch với niềm vui, với cuộc sống.
Ngày kia, không còn chịu đựng nổi hình thù của Thập Giá nữa, ông đã leo lên tháp chuông nhà thờ giáo xứ, đập gẫy Thập Giá mà liệng xuống. Sự thù hằn đối với Thập Giá không mấy chốc đã biến ông thành điên loạn.
Một buổi chiều mùa hè nóng bức, ông đứng tựa lưng vào một ban công gỗ, miệng phì phào khói thuốc. Bỗng chốc, ông thấy nguyên cả chiếc ban công gỗ biến thành một đạo binh Thánh Giá.
Rồi trước mặt ông, đàng sau ông nơi nào cũng có Thập Giá. Ông hoa cả mắt lên. Ông cầm gậy đánh đổ tất cả những cây Thập Giá ấy. Vào trong nhà, bất cứ vật gì làm bằng gỗ cũng được ông nhìn thấy với hình thù Thập Giá. Không thể dùng gậy mà đập nữa, người đàn ông ấy đành phải dùng đến lửa may ra mới tiêu di được Thập Giá. Thế là ngọn lửa bốc cháy thiêu rụi cả căn nhà.
Ngày hôm sau, người ta nhìn thấy xác của người đàn ông đáng thương trong dòng sông bên cạnh nhà.
Câu kết luận mà văn sĩ đã đặt trên môi vị tu sĩ là: “Nếu bạn bắt đầu bẻ gãy Thập Giá, thì chẳng mấy chốc bạn cũng sẽ phá hủy chính cái thế giới có thể sống được này.”
2. “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ được sống” (Mt 16,25).
Trong quyển sách có tựa đề là: “Sức thu hút của Thiên Chúa” tác giả người Italia, ông Alessandro Fonsato đã kể lại câu chuyện vui sau đây về con búp bê bằng muối.
Muốn tìm hiểu thế nào là biển cả - để thỏa mãn tính tò mò của mình, con búp bê một mình tiến ra bờ biển và hỏi:
- Biển cả ơi, bản chất của biển cả là như thế nào?
Và biển cả trả lời:
- Biển cả là biển cả. Nếu ngươi muốn biết ta là như thế nào thì hãy xuống đây, hãy để cho toàn thân ngươi thấm nhập vào biển cả.
Con búp bê bằng muối do dự. Nhưng rồi vì tính tò mò thúc đẩy, nó tiến gần ra mặt nước rồi đưa hai chân thấm vào nước biển. Trong nháy mắt sóng biển đánh mạnh vào đôi chân bằng muối của nó làm cho đôi chân tan tành trong nước biển. Con búp bê kinh hãi lùi lại, nhưng đôi chân đã mất. Tiếng biển cả dịu dàng mời gọi:
- Này con búp bê nhỏ kia ơi, đừng sợ – biển cả là biển cả – Ngươi muốn biết biển cả như thế nào thì đừng sợ. Hãy tiến vào đây với ta. Ta sẽ bảo vệ ngươi. Ngươi sẽ được hòa nhịp với ta và hiểu ta như thế nào. Hãy can đảm lên. Nếu bỏ cuộc nửa chừng thì không bao giờ ngươi sẽ hiểu được biển cả như thế nào đâu, và phải sống những tháng năm còn lại với đôi chân đã mất.
Lại bị tính tò mò thúc đẩy, con búp bê ngâm mình xuống biển. Chỉ một lát sau con búp bê bằng muối đã hòa tan trong nước biển và hiểu được thế nào là biển cả.
Như con búp bê được biển cả mời gọi dìm mình vào trong lòng biển cho mình hòa tan trong biển để hiểu được biển cả, thì mỗi người chúng ta cũng được mời gọi dìm mình vào trong Thiên Chúa. Cần để cho cái tôi biến mất đi trong Thiên Chúa để có thể hiểu biết Thiên Chúa, sống kết hiệp với Ngài mật thiết hơn. “Ai yêu thích mạng sống mình thì sẽ mất nó, ai liều mạng sống mình vì ta thì sẽ được sống”. (Mt 10,39)
Ước chi mỗi người chúng ta có thể đạt tới mức độ sống để nói được như thánh Phaolô:
“Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”. (Gl 2,20)
-------------------------------
(Lm. Micae Võ Thành Nhân)
Chúa nói với tất cả mọi người chúng ta bằng kinh nghiệm sống của Chúa để rồi chúng ta có biết tại sao Chúa Cha yêu thương Chúa vô cùng, và trao mọi sự trong tay Chúa hay không (xMc 1, 11)? Thưa là vì Chúa bỏ ý riêng của Chúa để Chúa vâng lời Chúa Cha trong mọi sự (xPl 2, 6 – 11) (xDt 10, 9).
Cũng vậy, chúng ta phải vâng lời Chúa như thế, nghĩa là phải bỏ ý riêng của mình mà làm theo thánh ý của Chúa. Ý của Chúa là Chúa muốn chúng ta vác thập gía theo Chúa mỗi ngày: “Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ được sự sống. Nếu ai được lợi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình, thì được ích gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình?” (Mt 16, 24 – 26). Thế nhưng trong cuộc sống, chúng ta khó bỏ mình mà vác thập giá theo Chúa. Bởi chúng ta ngại gian lao, thử thách, trái ý cực lòng, đau khổ bệnh tật, đói khát cơ hàn, hiểm nguy trắc trở... Do vậy mà có rất nhiều người ngại theo đạo Chúa, vì theo đạo thì phải dậy sớm để đi lễ, không được ngủ nướng, không được nhậu nhẹt say xỉn, trộm cắp, ngoại tình, tham nhũng, hối lộ, tham lạm của công…..và sống bác ái yêu thương, quảng đại, dấn thân, chia sẻ, từ bi, nhân hậu, khoan dung, tha thứ…. Nếu con người chúng ta hy sinh làm như Chúa truyền dạy đây, dù chúng ta có phải mất mát, có phải khó chịu, có phải hy sinh….thì chúng ta mới được Chúa ban sự sống cho chúng ta. Chính Chúa đã vác thập giá lên đồi Calvê chịu chết để cứu con người chúng ta, bây giờ chúng ta vác thập giá theo Chúa từng giây phút trong cuộc sống, chúng ta sẽ được Chúa cứu chúng ta trong giờ sau hết, Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta: “Bởi vì Con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ trả công cho mỗi người tuỳ theo việc họ làm. Thật, Thầy bảo các con: trong những kẻ đang đứng đây, có người sẽ không nếm sự chết trước khi xem thấy Con Người đến trong Nước Người” (Mt 16, 27 – 28).
Chúng ta tội lỗi, vì thế mà việc vác thập giá theo Chúa là bổn phận của chúng ta, liên quan đến phần linh hồn chúng ta, và để chúng ta góp phần hy sinh nhỏ bé vào cuộc khổ nạn mà đền bù tội lỗi và xin ơn phần rỗi, thế mà Chúa lại xem đó là công phúc để Chúa trả công bội hậu cho chúng ta. Chúng ta hết lòng tạ ơn Chúa và chúng ta luôn khẩn cầu để xin Chúa ban ơn giúp sức, đỡ nâng chúng ta trên con đường hành trình đi về Nước Chúa.
Lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa chúng con tôn thờ, ngoài Chúa ra, không có Chúa nào khác nữa, Chúa có quyền giết chết và làm cho sống lại, Chúa có quyền đánh đập để dạy dỗ và chữa lành, xin Chúa xót thương chúng con, vì cuộc đời ở trần gian này của chúng con có giới hạn (xĐnl 32, 35 – 36), mà giúp chúng ta mỗi ngày hy sinh, từ bỏ ý riêng, vác thập giá theo Chúa cho trọn. Amen.
-------------------------------
(Lm. Micae Võ Thành Nhân)
Sau khi chấm dứt cuộc sống ở trần gian này, chúng ta sẽ bước vào cuộc sống sau này. Cuộc sống sau này là vĩnh cửu, kéo dài mãi mãi. Chúng ta, ai cũng mong ước được sống đời đời với Chúa, không bị trầm luân, không bị khổ ải thì chúng ta phải đành mất mạng sống mình vì Chúa: “Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ được sự sống” (Mt 16, 25).
Đành mất mạng sống mình vì Chúa, nghĩa là: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy” (Mt 16, 24). Vác thập gía theo Chúa mỗi ngày là chúng ta chấp nhận mọi gian nan thử thách, trái ý cực lòng, bệnh hoạn tật nguyền, đau khổ thất bại, nghiệt ngã cuộc đời… với lòng tin yêu vâng phục Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.
Chúng ta vác thập gía, chúng ta dấn thân bước theo Chúa mỗi ngày, dù phải bị thua thiệt, phải mất đi tiền bạc của cải vật chất, ngay cả mạng sống của chúng ta ở nữa: “Nếu ai được lợi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình, thì được ích gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình?” (Mt 16, 26).
Chúng ta biết rằng một khi chúng ta vác thập giá theo Chúa, chúng ta hy sinh hãm mình từ bỏ tính hư tật xấu, đam mê xác thịt, tham sân si, siêng năng làm các việc lành, việc thiện, việc tốt, việc phúc đức trong cuộc đời này. Chúa sẽ ghi nhận. Chúa sẽ không quên và nhất là Chúa sẽ thưởng công cho chúng ta là Chúa sẽ ban sự sống đời đời cho chúng ta làm gia nghiệp.
Do đó, càng cố gắng làm nhiều các việc lành đó bao nhiêu, thì Chúa sẽ thưởng công chúng ta càng nhiều chừng ấy và còn hơn thế nữa là khác: “Bởi vì Con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ trả công cho mỗi người tuỳ theo việc họ làm” (Mt 16, 27).
Chúng ta hãy phấn khởi và tích cực thực hiện việc vác thập gía theo Chúa mỗi ngày như thánh ý Chúa muốn.
Lạy Chúa, khi Chúa đến trong Nước của Chúa, xin Chúa thương đến chúng con là những kẻ yếu hèn tội lỗi, bất xứng mà tha thứ cho chúng con và ban cho chúng con được sống mãi mãi bên Chúa, vì Chúa là nguồn vui, nguồn hạnh phúc của chúng con, và chỉ có Chúa mới thỏa mãn niềm khát khao của chúng con trong cuộc sống đời này cũng như mai sau. Amen.
-------------------------------
(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)
Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Sáu Tuần 18 Thường Niên, năm Chẵn này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúng ta tự hào vì được Chúa dựng nên và hướng dẫn, xin Chúa hằng rủ thương nâng đỡ chúng ta, cùng ban ơn đổi mới và giữ gìn mọi loài Chúa dựng nên cho chúng ta được nhờ.
Tự hào vì được Chúa dựng nên và hướng dẫn, ta hãy quay về với Chúa để được phục hồi, như trong Bài đọc 1 Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Hôsê: Sau khi bị phạt, dân Chúa sẽ được phục hưng. Thiên Chúa cho ta hiểu rõ ràng ý nghĩa những đau khổ ngôn sứ đã phải chịu: Cũng như người vợ ngoại tình, Ítraen đã có những mối tình tội lỗi với các tà thần. Cần thiết Ítraen phải tìm ra đường về với Thiên Chúa của mình qua cái nghèo khó cùng cực của kiếp người tù tội hay lưu đày… Đã tới ngày cử hành hôn lễ Chiên Thiên Chúa và Hiền Thê của Người đã điểm trang lộng lẫy. Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên. Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong tín thành và ngươi sẽ được biết Đức Chúa.
Tự hào vì được Chúa dựng nên và hướng dẫn, ta hãy sống xứng đáng là con cái Thiên Chúa, như trong Bài đọc 2 Kinh Sách, trích Bài Ca Thiêng Liêng của thánh Gioan Thánh Giá: Ta sẽ lập với ngươi một hôn ước vĩnh cửu… Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào. Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.
Tự hào vì được Chúa dựng nên và hướng dẫn, ta hãy cậy trông vào Chúa, chính Người sẽ ra tay, như trong Bài đọc 1 Thánh Lễ, trích sách ngôn sứ Nakhum: Khốn cho thành vấy máu. Đáp Ca, Đnl 32: Chúa phán: Ta cầm quyền sinh tử. Ngày chúng lâm nạn đã gần, và vận hạn chúng đang sầm sập tới. Chúa sẽ xét xử cho thần dân, sẽ dủ lòng thương hàng tôi tớ.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Trong Bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình? Ngài là Đấng phù trợ, là Đấng giải thoát con, muôn lạy Chúa, xin đừng trì hoãn. Chính tôi là bánh trường sinh, ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ. Đức Chúa đã khiến cho Ítraen lấy lại sức kiêu hùng. Ta chính là Ta, bên cạnh Ta, chẳng có thần nào khác, Ta cầm quyền sinh tử, Ta đánh phạt, rồi Ta lại chữa lành: Khốn cho thành vấy máu, hễ ai nhìn thấy ngươi cũng đều phải tránh xa và nói: Ninivê đã bị phá tan hoang! Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ: Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình? Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào. Người yêu đến nỗi cho ta được gọi là con Thiên Chúa. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, ta sẽ thấy Người như vậy. Đã tới ngày cử hành hôn lễ Chiên Thiên Chúa và Hiền Thê của Người đã điểm trang lộng lẫy. Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên. Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong tín thành và ngươi sẽ được biết Đức Chúa. Chúa Cha đã thực hiện điều Chúa Con cầu xin khi thông ban cho chúng ta chính tình yêu thương Người hằng thông ban cho Chúa Con bằng cách lấy tình thương mà kết hợp chúng ta với Người và thần hóa chúng ta. Chúa Con muốn xin cho ta nên một, nhờ kết hợp với nhau trong tình thương, như Chúa Cha và Chúa Con vẫn là một trong Tình Thương duy nhất., vậy, ta đừng sợ liều mất mạng sống vì Chúa. Chúng ta tự hào vì được Chúa dựng nên và hướng dẫn, ước gì Chúa hằng rủ thương nâng đỡ ta, cùng ban ơn đổi mới và giữ gìn mọi loài Chúa dựng nên cho ta được nhờ. Ước gì được như thế!
---------------------------------
Lòng tin lớn bằng hạt cải.
linh mục.
Lễ nhớ.
"Nếu các con có lòng tin, thì chẳng có gì các con không làm được".
* Thánh nhân sinh quãng năm 1170, tại Ca-lê-ru-ê-ga, Tây Ban Nha. Người học thần học tại Pa-len-xi-a rồi làm kinh sĩ giáo phận Ốt-ma. Trước hết, người quy tụ một số phụ nữ về sống tại Pơ-rô-vin-lơ (Pháp), theo một tu luật, rồi sau người lập Dòng Anh Em Thuyết Giáo tại Tu-lu-dơ để đối lại lạc giáo Ca-tha.
Chính người đã chiến đấu với lạc giáo bằng lời giảng thuyết, bằng gương sáng và đã thu hoạch được kết quả khả quan. Người muốn các anh em trong Dòng phải sống khất thực, -------- và lời giảng dạy phải xuất phát và được nuôi dưỡng bằng chiêm niệm. Người đã đặt trung tâm Dòng ở Rôma trước khi qua đời ở Bô-lô-nha ngày 6 tháng 8 năm 1221.
---------------------------------
Khi ấy, có một người đến gần, quỳ gối trước mặt Chúa Giêsu mà nói rằng: "Lạy Ngài, xin thương xót con trai tôi vì nó mắc chứng kinh phong và rất trầm trọng: nó thường ngã vào lửa và lắm lúc nó ngã xuống nước. Tôi đã đem nó đến cùng môn đệ Ngài, nhưng các ông không thể chữa nó được". Chúa Giêsu đáp: "Ôi thế hệ cứng lòng tin và hư hỏng! Ta phải ở với các ngươi đến bao giờ? Ta còn phải chịu đựng các ngươi đến bao giờ nữa? Hãy đem nó lại đây cho Ta". Chúa Giêsu quát mắng quỷ và quỷ liền ra khỏi đứa bé. Và nó được lành ngay trong lúc ấy.
Bấy giờ các môn đệ đến hỏi riêng Chúa Giêsu rằng: "Tại sao chúng con không thể trừ quỷ ấy được?" Chúa Giêsu bảo các ông rằng: "Vì các con yếu lòng tin! Thầy bảo thật các con: Nếu các con có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì các con có khiến núi này rằng: 'Hãy rời khỏi đây mà sang nơi kia', thì nó liền đi sang, và chẳng có gì các con không làm được".
---------------------------------
(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)
Thầy Giêsu và ba môn đệ xuống từ trên núi, nơi Thầy mới hiển dung.
Bốn Thầy trò gặp ngay một đám đông.
Một người cha chạy đến, quỳ xuống trước mặt Đức Giêsu.
Ông xin Ngài thương xót đứa con trai của ông bị kinh phong nặng lắm.
Những mô tả của ông về bệnh tình của con đúng là triệu chứng kinh phong.
Cậu bé không làm chủ được mình, dễ ngã vào nước, vào lửa.
Tính mạng cậu lúc nào cũng bị đe dọa (c. 15).
Điều đáng lưu ý ở đây là chín môn đệ khác đã bó tay.
“Tôi đã đem cháu đến cho các môn đệ Ngài,
nhưng các ông không chữa được” (c. 16).
Chính những người đã được Thầy trao quyền để chữa bệnh và trừ quỷ
lại không thể giải quyết được trường hợp này.
Phải chăng vì không có sự hiện diện của Thầy, hay vì đám đông cứng lòng,
hay vì cơn bệnh quá nặng khiến các môn đệ không đủ tự tin và mạnh mẽ?
Dù sao Thầy Giêsu cũng phải ra tay, để làm điều cần làm.
Với thái độ hơi mất kiên nhẫn, Ngài đã trách móc đám đông (c. 17).
Ngài gọi họ là một thế hệ không tin và gian tà.
Đức Giêsu thấy mình vẫn còn phải ở lại với họ và chịu đựng họ (c. 17)
“Đem cháu lại đây cho tôi”
Đức Giêsu quát mắng quỷ, quỷ liền xuất, và cậu bé được khỏi lập tức.
Các môn đệ hẳn bối rối và xấu hổ vì không đuổi được quỷ.
Chắc họ cũng ngạc nhiên vì thấy mình thất bại trong trường hợp này,
tuy họ đã thành công trong nhiều trường hợp khác (x. Lc 10, 17).
Họ chờ lúc riêng tư giữa Thầy trò để hỏi lý do tại sao (c. 19).
Câu trả lời của Thầy Giêsu ở đây là khá rõ ràng.
“Tại anh em kém tin!” (c. 20).
Kém tin là một từ đặc biệt chỉ có trong Tin Mừng Mátthêu.
Từ này được dùng nhiều lần (6, 30; 8, 26; 14, 31; 16, 8).
Người kém tin là người có lòng tin nhỏ bé (oligopistia),
chứ không phải là hoàn toàn không tin chút nào (apistia).
Nhưng lòng tin nhỏ bé này thật sự cũng chẳng đem lại hiệu quả gì.
Nó chưa đáng được gọi là tin theo đúng nghĩa.
Một lòng tin đúng nghĩa thì dù nhỏ bé như một hạt cải
cũng có thể chuyển núi dời non (c. 20b; 1 Cr 13, 2).
Chỉ với lòng tin nhỏ như vậy, sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được.
Dĩ nhiên, câu này không có nghĩa là họ làm được mọi sự.
Các môn đệ chỉ làm được những gì liên quan đến việc loan báo Nước Trời,
như chữa mọi bệnh hoạn tật nguyền và trừ quỷ (Mt 10).
Họ chỉ làm được phép lạ khi người bệnh có lòng tin,
và khi việc họ làm nằm trong ý định của Thiên Chúa.
Những thừa tác viên của Giáo Hội nhiều khi thấy mình bất lực trước sự dữ.
Chúng ta cần xin Chúa thêm cho ta đức tin để có thể chuyển được
những đồi núi nơi lòng con người hôm nay.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa,
xin ban cho con đức tin lớn hơn hạt cải,
để con làm bật rễ khỏi lòng con
những ích kỷ và khép kín.
Xin cho con đức tin can đảm
để con chẳng sợ thiệt thòi khi trao hiến,
chẳng sợ từ bỏ những gì con cậy dựa xưa nay.
Xin cho con đức tin sáng suốt
để con thấy được thế giới
mà mắt phàm không thấy,
thấy được Đấng Vô hình,
nhưng rất gần gũi thân thương,
thấy được Đức Kitô nơi những người nghèo khổ.
Xin cho con đức tin liều lĩnh,
dám mất tất cả chỉ vì yêu Chúa và tha nhân,
dám tiến bước trong bóng đêm
chỉ vì mang trong tim một đốm lửa của Chúa,
dám lội ngược dòng với thế gian
và khước từ những mời mọc quyến rũ của nó.
Xin cho con đức tin vui tươi,
hạnh phúc vì biết những gì
đang chờ mình ở cuối đường,
sung sướng vì biết mình được yêu
ngay giữa những sa mù của cuộc sống.
Cuối cùng, xin cho con đức tin cứng cáp
qua những cọ xát đau thưong của phận người,
để dù bao thăng trầm dâu bể,
con cũng không để tàn lụi niềm tin
vào Thiên Chúa và vào con người.
------------------------------
(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)
Thế giới nhiễu nhương. Ma quỉ và bạo chúa thống trị thế giới. Sự ác và sự dữ đè bẹp con người. Nếu không có đức tin con người không thể sống nổi.
Thời Mô-sê dân Ít-ra-en chỉ là một nhóm người nô lệ. Không tổ chức. Không lực lượng. Nhưng họ có đức tin. Họ tin vào Chúa. Họ đi theo Mô-sê. Và Chúa đã làm những việc vượt quá sức tưởng tượng của họ. “Anh em được những thành lớn và đẹp mà anh em đã không xây, những nhà đầy mọi thứ của cải mà anh em đã không tích trữ, những bể nước có sẵn mà anh em đã không đào, những vườn nho và vườn ô-liu mà anh em đã không trồng”. Vì thế Mô-sê khuyên nhủ họ “đừng quên Đức Chúa, Đấng đã đưa anh em ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ…anh em phải kính sợ…phải phụng thờ…và nhân danh Người mà thề” (năm lẻ).
Thời Kha-ba-cúc, mặc dù Ít-ra-en bị Can-đê đặt ách thống trị tàn ác, chỉ vì Ít-ra-en tội lỗi phản bội Chúa. Nhưng Chúa khuyên nhủ dân hãy cứ tin tưởng và chờ đợi. Vì ngày Chúa giải thoát dân rồi sẽ đến: “Nó đang tiến nhanh tới chỗ hoàn thành, chứ không làm cho ai thất vọng. Nếu nó chậm tới, thì cứ đợi chờ, vì thế nào nó cũng đến, chứ không trì hoãn đâu”. Trong khi chờ đợi phải giữ vững đức tin. Vì “ai không có tâm hồn ngay thẳng sẽ ngã gục, còn người công chính thì sẽ được sống, nhờ lòng thành tín của mình” (năm chẵn).
Thời Chúa Giê-su ma quỉ hoành hành ác liệt. Khống chế con người. Các tông đồ cũng đành chịu thua. Nhưng khi Chúa đến, Chúa dùng quyền năng chế ngự và bắt ma quỉ phải vâng phục. Giải phóng con người khỏi ách nô lệ ma quỉ. “Đức Giê-su quát mắng tên quỷ, quỷ liền xuất, và đứa bé được khỏi ngay từ giờ đó”. Chúa cho biết ma quỷ hoành hành vì con người thiếu niềm tin. Chúa than phiền vì thế hệ thiếu niềm tin: “Ôi thế hệ cứng lòng không chịu tin và gian tà! Tôi còn phải ở với các người cho đến bao giờ, còn phải chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa”? Ngài cho các tông đồ biết mọi việc trên thế giới có thể giải quyết dễ dàng với người có lòng tin: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: ‘Rời khỏi đây, qua bên kia! Nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được”.
Thời đại chúng ta bị biết bao ngọn núi ngăn trở khiến ta nản lòng. Tưởng không có gì có thể xê dịch được những ngọn núi ngăn chặn đời sống. Nhưng ta hãy an tâm. Nếu có đức tin một chút thôi, ta có thể giải quyết vấn đề cộng đoàn thật dễ dàng. Và thế giới ổn định. Vì khi có đức tin ta sống nhờ Chúa. Ta làm việc bằng sức mạnh của Chúa. Và mọi việc sẽ tốt đẹp.
------------------------------
(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
Thánh Augustinô nói: "Thiên Chúa dựng nên con người không cần con người, nhưng để cứu chuộc con người, thì Ngài cần đến sự cộng tác của con người". Sở dĩ như vậy là vì Thiên Chúa dựng nên con người có tự do, và tự do bao hàm sự lựa chọn tin nhận hoặc khước từ Thiên Chúa. Ðức tin cần thiết cho con người, không những để được cứu rỗi, mà còn để biết vui tươi đón nhận những biến cố trong đời sống theo thánh ý Chúa.
Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu chữa một đứa bé bị kinh phong. Có thể nói, không có gì đặc biệt, nếu phép lạ được thực hiện do Chúa Giêsu, bởi vì Ngài là Thiên Chúa toàn năng làm được mọi sự. Nhưng điều quan trọng là phép lạ có thể xẩy ra là do đức tin của con người. Thật thế, trong bất cứ phép lạ nào, Chúa Giêsu cũng đòi hỏi con người phải tin, hoặc chính đương sự hoặc cha mẹ hay người bảo trợ. Là Ðấng Cứu Thế, Chúa Giêsu yêu thương và muốn cứu chữa con người khỏi mọi tật bệnh; nhưng mỗi khi thực hiện phép lạ để cứu chữa một người nào, Ngài cũng đòi phải có đức tin. Nếu việc cứu chữa riêng lẻ đó chỉ là hình ảnh lu mờ của việc cứu chữa tối hậu mà Chúa còn đòi hỏi đức tin, thì để được cứu rỗi trong thời cứu độ viên mãn, đức tin còn cần thiết biết chừng nào.
Kết thúc bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: Nếu các con có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì chẳng có gì các con không làm được. Ðức tin làm cho chúng ta từ con người tội lỗi trở thành con cái Thiên Chúa; đức tin giúp cho những việc tầm thường trong đời sống trở thành có giá trị vĩnh cửu; đức tin cho chúng ta có cái nhìn lạc quan tin tưởng vào mọi biến cố cuộc sống; đức tin giúp con người làm được những điều mà người không có đức tin không hiểu nổi: các thánh tử đạo can đảm chấp nhận cái chết đau thương, các thánh hiển tu đã từ bỏ tất cả để hoàn toàn sống theo Chúa.
Nguyện xin Chúa củng cố đức tin của chúng ta để nhận ra bàn tay Chúa luôn dẫn dắt chúng ta và luôn sống trong bình an dưới sự chăm sóc của Ðấng Toàn Năng.
------------------------------
Bây giờ các môn đệ đến gần hỏi riêng Đức Giêsu rằng: “Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy?” Người nói với các ông: “Tại sao anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: “Rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được. [Giống quỷ này không chịu ra, nếu người ta không ăn chay cầu nguyện]. (Mt. 17, 19-21)
Nếu người ta nhìn bề ngoài theo nghĩa đen, thì có lòng tin vào Đức Kitô đã đủ làm những điều phi thường: Chữa khỏi các bệnh tật.
Chớ gì có niềm tin vô điều kiện vào Thiên Chúa và Đức Kitô, tôi hoàn toàn đồng ý! Lời dạy của Đức Kitô được chép lại rõ ràng, cần phải đọc lại các sách Tin Mừng, đặc biệt của thánh Gio-an, để xác tín điều đó. Lòng tin là điều kiện cần cho lời cầu nguyện biết bao, nhất là lời cầu nguyện cầu xin.
Nhưng chưa đủ.
Nhưng cần thiết lời cầu nguyện phải hợp với kế hoạch của Thiên Chúa, Đức Giêsu, lúc sống ở trần thế, đã không chữa mọi bệnh tật cho dân Ít-ra-en, các tông đồ cũng thế. Vì nếu đánh giá lòng tin bằng được khỏi bệnh thì lòng tin đó chỉ như một thứ tiền trả cho việc chữa bệnh. Lòng tin như thế có đủ không? Đó không phải là thứ lòng tin sống động, không phải là thứ lòng tin của thứ phần tử trong Giáo Hội, của thân thể Đức Kitô. Lòng tin như thế là của những người không tín ngưỡng.
Tôi nghĩ những đoạn Tin Mừng này có thể sẽ bị hiểu lầm và sẽ gây ra những quá đáng đạo đức.
Vâng: Một lòng tin sâu sắc.
Lòng tin trong sáng và nhiệt thành ăn rễ sâu vào tâm hồn siêng năng hơn là hành động nhất thời. Nếu người ta không thường xuyên sống với tâm tình yêu mến và phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, thì làm sao tránh khỏi không nghi ngờ. Chỉ khi nào có một chút niềm tin hoàn hảo mới mong phát sinh ra những công cuộc kỳ diệu hữu hình và vô hình.
Có những Đấng Thánh có lòng tin, một lòng tin sâu xa, sống động! đã xẩy ra và còn xẩy ra nơi các Đấng một đức tin trọn vẹn để thực hiện ơn gọi đặc biệt trong Hội Thánh.
J.M
------------------------------
Xem thêm thứ Hai tuần 7 TN.
Một sự cám dỗ lớn lao nhất thường đến với con người, đó là cơn cám dỗ về sự kiêu ngạo.
Thật vậy, sự kiêu ngạo nó thường trực trong con người, và mức độ nguy hiểm của chúng là rất cao. Có thể ví rằng: sự kiêu ngạo luôn nhăm nhe bừng phát, chúng giống như bình xăng còn ma quỷ như bó đuốc. Nếu không cẩn thận và đề phòng bằng sự khiêm nhường, ắt không sớm thì muộn, chúng cũng làm cho bình xăng bốc cháy!
Đọc lại lịch sử cứu độ, chúng ta thấy, từ xa xưa, người ta vẫn bị mắc vào cám dỗ này.
Khởi đi từ Nguyên Tổ loài người là Ađam và Evà; rồi câu chuyện tháp Babel, đến hành động của Môsê, Aharon, Đavít, và ngay cả đến các môn đệ, tất cả đều bị ngã gục trước sự cám dỗ của ma quỷ dưới lưỡi hái của sự kiêu ngạo.
Thật vậy, cậy vào sức riêng của mình là chuyện bình thường. Tuy nhiên, vì tự tin đến độ không cần đến Thiên Chúa thì lại là kẻ bất thường, vì thế, thất bại là lẽ đương nhiên.
Hôm nay, bài Tin Mừng cho thấy việc các môn đệ thất bại trong việc trừ quỷ. Nguyên do chính là do các ông tự mãn và cậy vào khả năng riêng của mình chứ không phải là niềm tin vào Thiên Chúa.
Tin Mừng thuật lại, sau khi Đức Giêsu đưa ba môn đệ lên núi Tabor, số môn đệ còn lại ở dưới núi, vì thế người ta mang đến cho các ông một đứa trẻ bị quỷ ám mắc kinh phong. Các ông đã trừ mà không được. Nên thấy Đức Giêsu xuống, dân chúng đã xúm lại và xin Ngài chữa lành. Sau khi Ngài chữa cho bé gái khỏi quỷ ám. Các môn đệ tiến lại gần và hỏi: "Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy?". Đức Giêsu mặc khải cho họ biết: "Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: ‘rời khỏi đây, qua bên kia!’ nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được".
Sau khi các ông nhận ra sự thất bại của mình và hiểu rõ về sức mạnh của niềm tin, Đức Giêsu muốn dạy các ông sự khiêm nhường và gắn bó với Thiên Chúa cách trọn ven thì mới có thể thi hành được sứ vụ.
Trong cuộc sống đức tin của chúng ta, có lẽ không cần phải xin Chúa cho được chuyển núi dời non theo nghĩa đen. Nhưng điều mà chúng ta cần chuyển dời chính là ngọn núi của kiêu căng, tự ái, ghen ghét. Có thế, chúng ta mới để cho đức tin mà Thiên Chúa ban cho chúng ta được lớn mạnh.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con. Xin cho chúng con biết gắn bó với Chúa để được Chúa yêu thương. Amen.
Ngọc Biển SSP
------------------------------
(TGM Giuse Nguyễn Năng)
Sứ điệp: Sức mạnh của đời sống người Kitô hữu tùy thuộc vào mức độ của lòng tin. Lòng tin yếu, người Kitô hữu sẽ bất lực; còn lòng tin mạnh, người Kitô hữu sẽ vượt qua mọi thử thách.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, sau khi chứng kiến Chúa trừ quỷ kinh phong, các tông đồ đã hỏi Chúa: “Tại sao chúng con không trừ được quỷ ấy?”. Bản thân con cũng nhiều lần tự hỏi: “Tại sao mình cứ sống tầm thường mãi?”. Câu trả lời của Chúa thật rõ ràng: “Vì các ngươi yếu lòng tin”.
Vì yếu lòng tin mà con chưa cảm nhận được hết ánh nhìn yêu thương của Chúa, cái nhìn trìu mến, mời gọi, khích lệ. Và vì thế con chưa một lần mạnh dạn thưa với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?”. Con thường tránh né ánh nhìn của Chúa, vội cúi đầu quay đi. Vì yếu lòng tin mà con làm ngơ trước tiếng gọi của người anh em đang cần giúp đỡ. Vì yếu lòng tin mà con dè dặt tính toán mỗi khi cần hy sinh, con ngại ngùng đứng dưới chân dốc cuộc đời, thu hẹp khát vọng của mình lại. Đời con vẫn cứ tầm thường vì tự thâm tâm con đã cam nhận sống tầm thường. Con tự vạch ra xung quanh mình những chuẩn mực an toàn, không được lỗi luật và cũng chớ phiêu lưu. Con chôn nén bạc Chúa trao xuống lòng đất và chịu đựng quãng đời vô vị trôi qua. Lạy Chúa, con yếu tin quá.
Giờ đây con muốn tìm lại ánh mắt của Chúa, muốn lắng nghe tiếng Chúa thôi thúc trong tâm tư con. Xin Chúa củng cố đức tin yếu ớt của con. Chúa muốn con vươn cao và sẵn sàng ban ơn để con có thể vươn lên. Với lòng tin mạnh mẽ mà Chúa ban cho con, con sẽ cố gắng sống thánh và sẵn sàng chấp nhận mọi thách đố của cuộc sống. Với lòng tin mạnh mẽ, con sẽ dấn thân trọn vẹn để sống cho Chúa và cho anh chị em. Và với lòng tin mạnh mẽ, con sẽ có đủ sức mạnh để chiếm được Nước Trời. Amen.
Ghi nhớ: “Nếu các con có lòng tin, thì chẳng có gì các con không làm được”.
------------------------------
(Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)
Câu chuyện
Thời Thập Tự Quân (Croisade), một kỵ sĩ bị quân nghịch đạo tấn công sắp chết. Trong cơn nguy hiểm đó, ông nhìn lên trời và khấn: “Lạy Chúa, nếu con đánh trận còn sống, con sẽ thắp một cây sáp nơi mồ Chúa và đem cây sáp luôn cháy sáng về tận nhà”.
Ông được thoát nạn. Giữ lời hứa, ông thắp một cây sáp nơi mồ Chúa và tìm cách mang nó về tận nhà.
Trên đường về, ông luôn che cho cây nến khỏi tắt vì gió mạnh. Sắp hết cây nến này, ông thắp cây nến khác. Cứ thế, ông đem cây nến đó về tận nhà như lời đã hứa với Chúa.
Thật là một gương anh dũng!
Cây đèn đức tin của chúng ta cũng vậy, trên con đường về quê Trời, phải luôn được chúng ta thắp sáng.
Suy niệm
Hạt cải là hạt nhỏ nhất trong các hạt giống, nhưng khi lớn lên nó trở nên lớn nhất các loại rau cỏ. Hạt giống đức tin nếu chỉ bằng hạt cải, khi lớn lên sẽ làm được những việc phi thường như lời Chúa Giêsu cắt nghĩa trong Tin Mừng thánh Matthêu: “Nếu các con có đức tin bằng hạt cải, nhưng khi được nuôi dưỡng và lớn lên thành cây lớn nhất trong các loại rau mà chim trời có thể ẩn náu” (Mt 13,32).
Hãy nuôi dưỡng đức tin, dù nhỏ bé như hạt cải nhưng khi lớn lên sẽ làm được việc dời non lấp biển như Tin Mừng đã thuật lại các việc vĩ đại thành sự nhờ đức tin: Khi người đàn bà bị băng huyết đến sờ vào gấu áo Chúa với niềm tin bà được Chúa chữa lành, Chúa nói: “Này bà, cứ an tâm, đức tin của bà đã cứu chữa bà” (Mt 9,22). Ông trưởng hội đường có đứa con gái ốm nặng sắp chết, ông tin vào Chúa nhưng sau đó hơi chút hồ nghi vì gia nhân bảo con ông đã chết, Chúa nói: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi” (Mc 5,36), ông vững tin, và Người đã làm cho em bé gái sống lại. Khi những người mang đứa con trai bị bệnh kinh phong tới Chúa Giêsu và tin vào Ngài (Mc 9,23), Chúa Giêsu cầm tay đứa bé, chữa lành. Tin rằng thầy Giêsu có thể chữa lành cho người anh em bất toại, nhưng không thể mang bệnh nhân vào trong nhà qua cửa được vì quá đông người, người ta phải dỡ mái nhà rồi thả bệnh nhân xuống trước mặt Chúa Giêsu và Ngài chữa lành cho anh (Lc 5:20). Người đàn bà thành Canaan xin Chúa chữa con bà khỏi bị quỷ ám (Mt 15:21-28), chính đức tin sống động, mãnh liệt này đã làm cho Chúa phải thốt lên: “Này bà, đức tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì được vậy” (Mt 15:28). Viên sĩ quan xin Chúa chữa người đầy tớ của ông khi tuyên xưng niềm tin mạnh mẽ vào Ngài (Mt 8,5-13). Đức tin của Martha đặt nơi Thầy là nguồn sự sống, Ngài đã thực hiện một phép lạ lớn lao: Cho Ladarô sống lại (x. Ga 11,7-44).
Nhưng đức tin lúc gặp phong ba bão tố nơi người tôi tớ, chính lúc đó cảm nghiệm được sự vô dụng của mình nên cần tin và bám víu vào Chúa, như Phêrô với lòng đơn thành xin Chúa cho được đi trên mặt biển đến với Chúa. Nhưng khi gặp phong ba ông hoài nghi, thiếu tin tưởng nên chìm xuống nước ông kêu cứu và Chúa ra tay nâng đỡ ông (x. Mt 14:22-33).
Tin Mừng cho chúng ta thấy sức mạnh của niềm tin. Thật thế, đức tin bằng hạt cải có thể dời non lấp biển…
Ý lực sống:
“Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11,1).
------------------------------
(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)
Lúc Chúa Giêsu và 3 môn đệ thân cận ở trên núi (biến hình) thì ở dưới núi, người ta đem đến cho các môn đệ một đứa trẻ bị quỷ ám mắc kinh phong, nhưng các ông không chữa được. Còn Chúa Giêsu đã quát mắng quỷ, nó đã xuất khỏi đứa trẻ ngay. Các ông phải một phen mất mặt. Các ông đã đến gần hỏi lý do tại sao các ông đã thất bại. Chúa cho biết lý do thất bại của các ông là thiếu lòng tin. Nếu các ông có lòng tin thì làm gì cũng được.
Tin mừng thuật lại, sau khi Chúa Giêsu đưa ba môn đệ lên núi Tabor, số môn đệ còn lại ở dưới núi, vì thế người ta mang đến cho các ông một đứa trẻ bị quỷ ám mắc kinh phong. Các ông đã trừ mà không được. Nên thấy Chúa Giêsu xuống, dân chúng đã xúm lại và xin Ngài chữa lành. Sau khi Ngài chữa cho bé gái khỏi quỷ ám, các môn đệ tiến lại gần và hỏi: “Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy?” Chúa Giêsu mạc khải cho họ biết: “Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: ‘rời khỏi đây, qua bên kia’ nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được”.
Sau khi các ông nhận ra sự thất bại của mình và hiểu rõ về sức mạnh của niềm tin, Chúa Giêsu muốn dạy các ông sự khiêm nhường và gắn bó với Thiên Chúa cách trọn vẹn thì mới có thể thi hành được sứ vụ.
Việc Chúa Giêsu chữa một đứa bé bị kinh phong, có thể nói, không có gì đặc biệt, nếu phép lạ được thực hiện do Chúa Giêsu, bởi vì Ngài là Thiên Chúa toàn năng làm được mọi sự. Nhưng điều quan trọng là phép lạ có thể xảy ra là do đức tin của con người. Thật thế, trong bất cứ phép lạ nào, Chúa Giêsu cũng đòi hỏi con người phải tin, hoặc chính đương sự hoặc cha mẹ hay người bảo trợ. Là Đấng Cứu Thế, Chúa Giêsu yêu thương và muốn chữa con người khỏi mọi bệnh tật, nhưng mỗi khi thực hiện phép lạ để cứu chữa một người nào, Ngài cũng đòi phải có đức tin. Nếu việc cứu chữa riêng lẻ đó chỉ là hình ảnh lu mờ của việc cứu chữa tối hậu mà Chúa còn đòi hỏi đức tin, thì để được cứu rỗi trong thời cứu độ viên mãn, đức tin còn cần thiết biết chừng nào (Mỗi ngày một tin vui).
Mục sư Martin Luther nói: “Đức tin cho phép chúng ta nắm giữ trong tay những điều chúng ta không thấy được”.
Đức tin biến đổi chúng ta từ người tội lỗi trở thành con cái Thiên Chúa. Đức tin làm cho những việc tầm thường trở thành những việc có giá trị phi thường. Đức tin cho chúng ta có cái nhìn lạc quan, tin tưởng vào những điều dường như không thể lý giải. Đức tin cũng chính là điều kiện cần thiết, để Chúa Giêsu làm phép lạ cứu chữa người bệnh. Việc Chúa Giêsu chữa bệnh kinh phong cho em bé trong Tin mừng hôm nay là một ví dụ điển hình về sức mạnh của lòng tin. Thật vậy, chính nhờ lòng tin vững vàng của người cha mà em bé được chữa lành.
Con người dễ mắc phải cám dỗ cậy vào sức riêng và do đó dễ gặp thất bại trong đời sống. Chính các môn đệ cũng không tránh khỏi cám dỗ đó. Thật vậy, sau khi chứng kiến cuộc biến hình của Ngài, Chúa Giêsu muốn các ông xuống núi, trở về với những vấn đề của cuộc sống. Ngài muốn các ông nhận thức giới hạn của mình khi để các ông thất bại trong việc trừ quỉ câm. Trước đây nhờ quyền năng Chúa các ông đã xua trừ được nhiều quỷ. Có lẽ các ông bắt đầu quên điều đó, quên rằng mình chỉ là dụng cụ của Thiên Chúa. Bởi đó, sau khi các ông nhận thức rõ sự bất lực của mình, Chúa đã giải thích cho các ông biết rằng để thành công, các ông cần có đức tin dù chỉ là đức tin nhỏ bé, cần gắn bó với Chúa, và theo nhiều bản Tin mừng bổ túc, cần phải cầu nguyện và ăn chay (R.Veritas).
Như hạt cải trổ thành cây lớn, đức tin đích thực dù ở khởi điểm còn ở mức độ nhỏ, nhưng rồi sẽ phát triển thêm thành cây lớn. Hơn nữa, chúng ta cũng nên lưu ý điều này là sự phát triển không tự động cách máy móc, cần có sự cộng tác của đương sự với ơn Chúa, để phát triển đức tin thêm nữa cho đến mức độ trưởng thành và sự cộng tác này được củng cố bằng lời cầu nguyện và việc ăn chay. Đây có thể là bài học Chúa Giêsu nhắc khéo cho các môn đệ khi Ngài phán: “Giống quỷ này không chịu ra, nếu người ta không ăn chay, cầu nguyện”.
Truyện: Cần có niềm tin Một tướng quân quyết định tấn công cho dù binh lính của ông chỉ bằng một phần mười quân địch. Ông quả quyết rằng sẽ thắng, nhưng lính của ông rất nghi ngờ.
Vì thế, trên đường đi tới trận chiến, ông dừng lại ở một nhà thờ và cầu nguyện. Khi trở ra, ông nói với họ:
- Tôi sẽ tung một đồng tiền lên. Nếu nó ngửa, chúng ta sẽ thắng. Nếu nó sấp, chúng ta sẽ thua. Vận mệnh bây giờ sẽ được tiết lộ.
Ông tung đồng tiền lên. Nó ngửa. Những người lính rất hăm hở vào trận đấu và tin tưởng rằng họ sẽ thắng cách dễ dàng. Hôm sau, một sĩ quan có niềm tin mạnh nói với tướng quân rằng:
- Kết quả cho thấy rằng không ai có thể thay đổi cánh tay vận mệnh.
Tướng quân trả lời:
- Rất đúng - và ông cho hay rằng đồng tiền có hai mặt ngửa!
------------------------------
(Lm Carôlô Hồ Bạc Xái)
A. Hạt giống...
Lúc Chúa Giêsu và 3 môn đệ thân cận đang ở trên núi (biến hình) thì ở dưới núi, người ta đem đến cho các môn đệ một đứa trẻ bị quý ám mắc kinh phong. Nhưng các ông không chữa được. Khi Chúa Giêsu trở lại, Ngài nói lý do thất bại là thiếu lòng tin.
B.... nẩy mầm.
1. “Ôi thế hệ kém lòng tin và hư hỏng. Ta còn phải ở với các ngươi đến bao giờ? Ta còn phải chịu đựng các ngươi đến bao giờ nữa?”: Chúa Giêsu đang than phiền về ai thế? Về những người do thái, về cha của đứa trẻ, và về cả các môn đệ Ngài.
Các môn đệ đã ở với Chúa bao nhiêu năm mà vẫn kém lòng tin và hư hỏng. Tôi cũng thế. Chúa phải buồn vì ở với tôi, Chúa phải than vì chịu đựng tôi.
Xin tha cho con và xin thêm đức tin cho con.
2. Thất bại là do yếu lòng tin.
3. Chúa Giêsu nói đức tin có sức mạnh chuyển núi rời non. Tôi không cần chuyển dời núi Thái Sơn hay Trường sơn, mà cần chuyển dời những ngọn núi kiêu căng, tự ái, ích kỷ, dục vọng. Bấy lâu này dù tôi đã cố gắng nhiều nhưng chẳng làm chúng nhúc nhích tí gì cả. Hôm nay tôi thử dùng sức mạnh đức tin vào ơn Chúa để chuyển động chúng xem sao. Tôi hãy nhớ lời tâm sự của Thánh Phaolô: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng là sức mạnh của tôi”, vì “Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh”.
4. Con người dễ mắc phải cám dỗ cậy vào sức riêng mình và do đó dễ gặp thất bại trong cuộc sống. Chính các môn đệ cũng không tránh khỏi cám dỗ đó. Ngài muốn các ông nhận thức giới hạn của mình khi để các ông thất bại trong việc trừ quỷ câm. Trước đây, nhờ quyền năng Chúa, các ông đã xua trừ được nhiều quỷ. Có lẽ các ông bắt đầu quên điều đó, quên rằng mình chỉ là dụng cụ của Thiên Chúa. Bởi đó, sau khi để các ông nhận thức rõ sự bất lực của mình, Chúa đã giải thích cho các ông biết rằng để thành công, các ông cần có đức tin dù chỉ là đức tin nhỏ bé, cần gắn bó với Chúa, cần phải cầu nguyện và ăn chay ("Mỗi ngày một tin vui")
------------------------------
(Lm Giuse Đinh Tất Quý)
Chủ đề của bài Tin Mừng hôm nay là sức mạnh của lòng tin: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi... sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được.
1. Ở đây chúng ta không thể không xúc động trước đức tin của người cha cậu bé.
Dầu các môn đệ đã được Chúa ban quyền trừ quỉ, nhưng trong trường hợp này họ phải công nhận mình bất lực. Nhưng dù các môn đệ thất bại, người cha vẫn không chút nghi ngờ quyền phép của chính Chúa Giêsu. Đứng trước sự việc mới xảy ra, dường như ông ta đã tự nhủ: “Nếu tôi gặp được chính Chúa Giêsu thì mọi khó khăn của tôi sẽ được giải quyết, nhu cầu của tôi sẽ được thỏa mãn”.
Ở đây có một cái gì rất chua chát, có một cái gì đó rất phổ biến và thức thời. Có nhiều người cảm thấy Giáo hội, những người theo Chúa Giêsu, trong thời mình, thế hệ mình đang sống đã thất bại, đã bất lực không thể đối phó nổi với những thói hư tật xấu của con người. Nhưng trong tâm tưởng họ nghĩ được rằng: “Nếu ta có thể vượt qua được người theo Chúa hôm nay; nếu ta có thể tiến tới phía sau bộ mặt của Giáo hội, bỏ qua sự thất bại của Hội thánh, mà gặp được chính Chúa Giêsu thôi, thì ta sẽ nhận được những điều chúng ta cần”. Đây là điều vừa lên án chúng ta vừa khích lệ chúng ta, nhiều người dù đã mất lòng tin nơi Giáo hội, vẫn không bao giờ bỏ mất niềm tin nơi Chúa Giêsu.
Có một người hỏi một học giả Á Đông nổi tiếng là người xác tín vào Thiên Chúa rằng:
- Tại sao ông là người học cao hiểu rộng, đã biết đến nơi đến chốn về các tôn giáo, về các triết lý cao siêu của Á Đông mà ông lại đón nhận Tin Mừng như vậy?
Vị học giả trả lời:
- Tôi vốn dĩ giống như một người chìm tàu giữa đại dương, sóng cả dập vùi, sức người có hạn. Các vị lãnh đạo tôn giáo khác đã dạy tôi rằng: Con phải bơi lội theo phương pháp này, tập dưỡng sức theo phương pháp nọ. Nhưng các lý thuyết ấy không cứu vớt tôi ra khỏi biển sâu. Chỉ có Chúa Giêsu, Ngài đã nhảy xuống biển và liều chết để cứu vớt tôi, vì vậy tôi tin vào Ngài.
2. Và cũng ở đây, chúng ta thấy đức tin hết sức cần thiết.
Đây là những lời của mẹ Têrêsa:
“Thế giới thiếu vắng đức tin vì có quá nhiều ích kỷ, quá nhiều cái tôi. Để sống đức tin chân thật, lòng người phải quảng đại cho đi.
“Thành quả của lời cầu nguyện là đức tin. Thành quả của đức tin là tình yêu. Thành quả của tình yêu là phục vụ. Thành quả của phục vụ là hòa bình”.
“Theo huyết thống, tôi là người Anbani. Theo quốc tịch, tôi là người Ấn Độ. Theo đức tin, tôi là một nữ tu công giáo. Theo ơn gọi, tôi thuộc về thế gian này. Và theo con tim, tôi hoàn toàn thuộc về những người bất hạnh, đau khổ”.
Ngày xưa, những vua nước Ba Tư có thói quen để trong gối 5 vạn đồng tiền vàng cho dễ ngủ. Hoàng đế Caligual nuôi nhiều thú dữ ngoài cửa đền để ngăn không cho ai vào khi ngài ngon giấc. Bertom để một cái vòng trên đầu trong khi ngủ, để đề phòng nhỡ trần nhà có rơi xuống thì không bị vỡ đầu. Nhưng những cái đó thực ra có ích lợi gì?… Cái gối tốt nhất và êm nhất là lương tâm yên tĩnh.
Piere de Verónne đã phải chịu đau đớn vì Đức Tin. Người bị đâm nhiều nhát. Sau những nhát đâm đầu tiên. Người can đảm kêu to: “Tôi tin!”. Khi ngã xuống, không thể nói được nữa, Người lấy ngón tay nhúng vào máu viết lên mặt đất: “Tôi tin!”.
Nếu có đức tin thì không có việc gì phải sợ. Khi Chúa Giêsu nói về việc chuyển núi dời non thì Ngài dùng một thành ngữ quen thuộc đối với người Do Thái. Chuyển núi dời non là những từ ngữ thường người Do Thái dùng để chỉ sự thanh toán những khó khăn. Chúa Giêsu không hề dùng nó theo nghĩa đen, hữu hình. Ngài muốn nói rằng: “Nếu ngươi có đủ đức tin, tất cả mọi khó khăn sẽ được giải quyết, luôn cả những công tác khó khăn nhất cũng có thể thực hiện được”.
Một tướng quân quyết định tấn công cho dù binh lính của ông chỉ bằng một phần mười quân địch. Ông quả quyết rằng sẽ thắng, nhưng lính của ông rất nghi ngờ.
Vì thế, trên đường đi tới trận chiến, ông dừng lại ở một nhà thờ và cầu nguyện. Khi trở ra, ông nói:
- Tôi sẽ tung một đồng tiền lên. Nếu nó ngửa, chúng ta sẽ thắng. Nếu nó sấp, chúng ta sẽ thua. Vận mệnh bây giờ sẽ được tiết lộ.
Ông tung đồng tiền lên. Nó ngửa. Những người lính rất hăm hở vào trận đấu và tin rằng họ sẽ thắng cách dễ dàng. Hôm sau, một sĩ quan có niềm tin mạnh nói với tướng quân rằng:
Kết quả cho ta thấy rằng không ai có thể thay đổi cánh tay vận mệnh.
Tướng quân trả lời:
- Rất đúng, và ông cho anh hay rằng đồng tiền có hai mặt ngửa.
------------------------------
(Lm. Micae Võ Thành Nhân)
Lòng tin của mỗi con người chúng ta vào Chúa là chìa khóa mở ra cho tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống đời này. Hầu hết trước tôn nhan Chúa, chúng ta là người yếu đức tin, vì thế mà chúng ta thường cầu xin Chúa thêm lòng tin cho chúng ta. Chính các tông đồ là những người ở bên Chúa, nghe Chúa rao giảng Tin Mừng, thấy các phép lạ Chúa làm hàng ngày mà các ngài cũng phải cầu xin Chúa thêm lòng tin cho các ngài: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17, 5) thì huống chi là chúng ta. Bình thường thì chúng ta chẳng mấy khi biết ai là người có đức tin mạnh mẽ, hay đức tin yếu đuối, nhưng khi đối diện với hiểm nguy, bệnh tật, đau đớn, thử thách, khốn cực, gian truân….thì chúng ta mới có thể biết một phần nào đức tin của các người anh chị em chúng ta và cả chúng ta nữa.
Ngày xưa, Chúa trừ quỷ, các tông đồ rất được lôi cuốn bởi quyền năng của Chúa. Các ngài chẳng dám mơ ước được như Chúa đâu. Nhưng chúng ta thầm trộm nghĩ rằng trong thâm tâm của các ngài, các ngài cũng mơ ước được Chúa ban cho một chút xíu quyền hành đó. Các ngài ước mơ như vậy là để nhờ có vệc trừ quỷ kèm theo mà các ngài rao giảng Tin Mừng thuận lợi hơn cũng như mang lại hạnh phúc cho dân chúng. Thật sự, khi Chúa sai các ngài đi thực tập rao giảng Tin Mừng, Chúa đã ban quyền đó cho các ngài rồi: “Rồi Chúa gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10, 1). Và các ngài đã thực hiện được quyền này khi các ngài vâng lời Chúa ra đi thực tập việc rao giảng Tin Mừng. Chúng ta thấy rất rõ khi các ngài về bên Chúa, trình bày cho Chúa nghe việc các ngài làm theo ý Chúa: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phảikhuất phục chúng con” (Lc 10, 17). Như vậy, mấy trường hợp trước, các ngài thực hiện được mà, thế nhưng, sao trường hợp hôm nay, các ngài lại không trừ quỷ được: “Tôi đã đem nó đến cùng môn đệ Ngài, nhưng các ông không thể chữa nó được…Bấy giờ các môn đệ đến hỏi riêng Chúa Giêsu rằng: “Tại sao chúng con không thể trừ quỷ ấy được?” (Mt 17, 16. 19). Chúa đã trả lời với các ngài: “Chúa Giêsu bảo các ông rằng: “Vì các con yếu lòng tin! Thầy bảo thật các con: Nếu các con có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì các con có khiến núi này rằng: ‘Hãy rời khỏi đây mà sang nơi kia’, thì nó liền đi sang, và chẳng có gì các con không làm được” (Mt 17, 20). Như thế là chúng ta đã rõ ràng, các tông đồ phải có một lòng tin mạnh mẽ qua các việc đạo đức các ngài thực hiện, các ngài phải kêu cầu Chúa nữa thì Chúa qua các ngài, Chúa mới trục xuất quỷ đó. Vì quyền trừ quỷ là của Chúa chứ không phải của con người chúng ta.
Đức tin của các tông đồ phải mạnh mẽ và còn đức tin của người cha có đứa con bị quỷ ám đến xin chữa bệnh cũng phải mạnh mẽ nữa thì mới được Chúa ban ơn. Các tông đồ không chữa được trường hợp này là do đức tin của các ngài và của người cha đứa bé chưa tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, và còn thiếu lời cầu nguyện nữa. Vì thế mà Chúa mới nói: “Chúa Giêsu đáp: “Ôi thế hệ cứng lòng tin và hư hỏng! Ta phải ở với các ngươi đến bao giờ? Ta còn phải chịu đựng các ngươi đến bao giờ nữa? Hãy đem nó lại đây cho Ta”. Chúa Giêsu quát mắng quỷ và quỷ liền ra khỏi đứa bé” (Mt 17, 17 – 18). Do đó, điều mà Chúa đòi hỏi tất cả mọi người không phận biệt một ai trong Giáo Hội của Chúa là phải đức tin vào Chúa một cách mạnh mẽ, phải siêng năng cầu nguyện, nếu có bị ngoại cảnh tác động hay phải đợi chờ, chúng ta vẫn cứ tin tưởng, cậy trông phó thác nơi Chúa thì khi làm điều gì trong cuộc sống, Chúa sẽ ban ơn cho chúng ta.
Lạy Chúa, Chúa luôn luôn yêu thương chúng con, vì thế mà Chúa sẵn sàng ban ơn cho chúng con khi chúng con khẩn cầu Chúa, xin Chúa cho chúng con biết dùng cả con người chúng con, cả cuộc đời chúng con mà ca tụng, ngợi khen, tôn vinh, chúc tụng Chúa giữa muôn người mà chúng con đang sống đây, để họ biết Chúa và tôn thờ Chúa như chúng con. Amen.
------------------------------
(Lm. Micae Võ Thành Nhân)
Người con trai bị mắc chứng kinh phong trầm trọng là do ma quỷ. Ma quỷ quậy phá hành hạ em bao phen sém chết. Các tông đồ chữa không được. Chúa chỉ quát mắng ma quỷ thôi, nó liền xuất ra khỏi em: “Khi thầy trò Đức Giêsu đến với đám đông, thì có một người tới quỳ xuống trước mặt Người và nói: Thưa Ngài, xin thương xót con trai tôi, vì cháu bị kinh phong và bệnh tình nặng lắm: Nhiều khi ngã vào lửa, nhiều khi ngã xuống nước. Tôi đã đem cháu đến cho các môn đệ Ngài chữa, nhưng các ông không chữa được. Ðức Giêsu đáp: Ôi thế hệ cứng lòng không chịu tin và gian tà! Tôi còn phải ở với các người cho đến bao giờ, còn phải chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa? Ðem cháu lại đây cho tôi. Ðức Giêsu quát mắng tên quỷ, quỷ liền xuất, và đứa bé được khỏi ngay từ giờ đó” (Mt 17, 14 – 18).
Các tông đồ hỏi Chúa vì sao các ngài chữa không được: “Bấy giờ các môn đệ đến gần hỏi riêng Ðức Giêsu rằng: Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy? Người nói với các ông: Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này” (Mt 17, 19 – 20a). Chúa nói vì các tông đồ yếu lòng tin.
Như vậy lòng tin là cội rễ cho việc giải quyết mọi vấn đề trong đời sống đạo. Lòng tin mạnh mẽ như như thánh Giob trong Cựu Ước thì dù có gặp bao gian nan thử thách (mất hết tài sản, con cái chết, bệnh tật, bị hiểu lầm, bị ruồng bỏ…) vẫn một mực trung thành với Chúa. Chúa cần chúng ta có lòng tin chỉ bằng hạt cải thôi thì chúng ta sẽ làm được bao việc cho cuộc sống: “Thì các con có khiến núi này rằng: hãy rời khỏi đây mà sang nơi kia, thí nó liền đi sang, và chẳng có gì các con không làm được” (Mt 17, 20).
Chúa nói chúng ta có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi thì làm được nhiều điều cho đời sống. Mà hạt cải thì quá nhỏ bé, cho nên nó rất dễ dàng thực hiện cho những anh chị em có lòng yêu mến Chúa nồng nàn, có mảnh đất tâm hồn là đất tốt như các thánh chẳng hạn, nhưng nó lại quá khó đối với chúng ta là vì chúng ta có rất nhiều yếu đuối, tội lỗi. Chúng ta chưa mến Chúa cho đủ, tâm hồn chúng ta là những mảnh đất vệ đường, đá sỏi, bụi gai. Chúng ta yếu đuối đủ mọi phương diện, lo lắng bao nhiêu sự đời, mưu mô tính toán thiệt hơn với Chúa. Những điều này khiến cho Lời Chúa khó thấm nhập cuộc đời chúng ta hoặc Lời Chúa thâm nhập rất hạn chế. Chúng ta cần cầu xin Chúa giúp đỡ sự yếu kém đức tin của chúng ta.
Lạy Chúa, để lòng tin chúng con như hạt cải, chúng con cần chạy đến với Chúa. Xin Chúa lấy Lời Chúa, Mình và Máu Thánh Chúa dưỡng nuôi chúng con, cho đức tin chúng con ngày càng lớn mạnh hơn trong ân tình Chúa để chúng con có thể giữ đạo tốt hơn và đứng vững trước những thử thách giông bão của cuộc đời. Amen.
------------------------------
(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)
Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Thánh Đaminh hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã cho xuất hiện trong Hội Thánh một tông đồ nhiệt tâm truyền giảng chân lý là thánh Đaminh. Xin Chúa nhậm lời thánh nhân hằng tha thiết chuyển cầu, mà ban cho Hội Thánh luôn tiến triển nhờ công đức và lời giảng dạy của người. Thánh nhân sinh quãng năm 1170, tại Calêruêga, Tây Ban Nha. Người học thần học tại Palenxia rồi làm kinh sĩ giáo phận Ốtma. Trước hết, người quy tụ một số phụ nữ về sống tại Pơrôvinlơ (Pháp), theo một tu luật, rồi sau người lập Dòng Anh Em Thuyết Giáo tại Tuludơ để đối lại lạc giáo Catha. Chính người đã chiến đấu với lạc giáo bằng lời giảng thuyết, bằng gương sáng và đã thu hoạch được kết quả khả quan. Người muốn các anh em trong dòng phải sống khất thực, và lời giảng dạy phải xuất phát và được nuôi dưỡng bằng chiêm niệm. Người đã đặt trung tâm Dòng ở Rôma trước khi qua đời ở Bôlônha ngày 6 tháng 8 năm 1221.
Một tông đồ nhiệt tâm truyền giảng chân lý, ta hãy nhiệt thành tỏ lòng sám hối, để được Chúa cứu thoát, như trong Bài đọc 1 Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Hôsê: Tình yêu của các ngươi tựa sương mai. Sau khi bị tay Chúa đánh phạt, Ítraen thường nghĩ chỉ cần sám hối sơ sài, qua loa là có thể tìm lại ân nghĩa của Chúa và được cứu thoát. Ngôn sứ bác bỏ lối suy nghĩ này: phải thành tâm sám hối mới mong được thứ tha… Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu. Tình yêu của các ngươi khác nào mây buổi sáng, mau tan tựa sương mai.
Một tông đồ nhiệt tâm truyền giảng chân lý, ta hãy nói với Chúa, để được dạy cho biết nói với người khác, như trong Bài đọc 2 Kinh Sách, trích các văn kiện lịch sử Dòng Anh Em Thuyết Giáo: Thánh Đaminh nói với Thiên Chúa hay nói về Thiên Chúa… Người xuất hiện chẳng khác nào ngọn lửa, người là ngôn sứ mới của ơn cứu độ. Lời người tựa đuốc cháy bừng bừng. Môi miệng người không nói điều gian ác, nhưng chỉ nói toàn điều chân thật.
Một tông đồ nhiệt tâm truyền giảng chân lý, ta hãy trung thành tìm kiếm Chúa, để được Chúa thương đoái đến, như trong Bài đọc 1 Thánh Lễ, trích sách ngôn sứ Khabacúc: Người công chính thì sẽ được sống, nhờ lòng thành tín của mình. Đáp Ca, Tv 9: Lạy Chúa, Chúa chẳng bỏ rơi những ai kiếm tìm Ngài. Chúa ngự trị ngàn đời, Người lập tòa xét xử. Người xét xử thế giới theo lẽ công minh, cai trị muôn dân theo đường chính trực.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Đấng Cứu Độ chúng ta là Đức Giêsu Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh. Trong Bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Nếu anh em có lòng tin, sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được. Chính tôi là bánh trường sinh, ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ. Ngài là Đấng phù trợ, là Đấng giải thoát con, muôn lạy Chúa, xin đừng trì hoãn. Chúa là thành che chở người bị áp bức, là thành che chở trong những lúc ngặt nghèo. Người nhận biết Thánh Danh, sẽ một niềm tin cậy, vì lạy Chúa, Chúa chẳng bỏ rơi những ai kiếm tìm Ngài. Ai không có tâm hồn ngay thẳng sẽ ngã gục, còn người công chính thì sẽ được sống, nhờ lòng thành tín của mình. Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu, nhưng, tình yêu của các ngươi khác nào mây buổi sáng, mau tan tựa sương mai. Thánh Đaminh nói với Chúa, rồi, nói về Chúa, người xuất hiện chẳng khác nào ngọn lửa, người là ngôn sứ mới của ơn cứu độ. Môi miệng người không nói điều gian ác, nhưng chỉ nói toàn điều chân thật. Chúa đã cho xuất hiện trong Hội Thánh một tông đồ nhiệt tâm truyền giảng chân lý là thánh Đaminh. Ước gì Hội Thánh luôn tiến triển nhờ công đức và lời giảng dạy của người. Ước gì được như thế!
---------------------------------
Tác giả: Nguyễn Văn Mễn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn
ĐỐ VUI VUI THÚ VỊ
CẦU LỄ - THEO NĂM DẤU THÁNH
SÁCH ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP
KINH CẦU ĐỨC BÀ - HĐGMVN 22.06.2020
Thánh ca có Imprimatur Cập nhật 05/07/2026
NHẬT KÝ LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA Phấn I: số 1-150
LỄ GIỖ - GIA ĐÌNH
KINH THƯỜNG ĐỌC & Nghi thức Thánh Lễ Việt-Anh-Pháp
CUỘC ĐỜI CHÚA GIÊSU - Tóm lược - Thơ
Các Bài Thánh Ca - NGUYỆN NGƯỜI QUA ĐỜI