Suy Niệm Tin Mừng Thứ 7 Vọng & Chúa Nhật PS 1-ABC Bài 401-444 Chúa đã sống lại rồi

Thứ hai - 05/04/2021 06:09
Suy Niệm Tin Mừng Thứ 7 Vọng & Chúa Nhật PS 1-ABC Bài 401-444 Chúa đã sống lại rồi
Suy Niệm Tin Mừng Thứ 7 Vọng & Chúa Nhật PS 1-ABC Bài 401-444 Chúa đã sống lại rồi
Suy Niệm Tin Mừng Thứ 7 Vọng & Chúa Nhật PS 1-ABC Bài 401-444 Chúa đã sống lại rồi
---------------------------

PS 1-ABC401: ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH Ở GIỮA CHÚNG TA.. 2
PS 1-ABC402: “XIN CHO CHÚNG NÊN MỘT – UT SINT UNUM”. 5
PS 1-ABC403: ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH GIẢI THOÁT CHÚNG TA.. 10
PS 1-ABC404: CHẠY ĐẾN MỘ - CHẠY TỪ MỘ.. 13
PS 1-ABC405: BÓNG TỐI VÀ ÁNH SÁNG ĐỨC KITÔ.. 17
PS 1-ABC406: TÔI ĐẶT HY VỌNG VÀO ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH.. 20
PS 1-ABC407: CHÚNG TÔI ĐÃ THẤY VÀ CHÚNG TÔI ĐÃ TIN.. 25
PS 1-ABC408: Ông đã thấy và đã tin. 27
PS 1-ABC409: Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn. 28
PS 1-ABC410: Niềm tin Chúa Phục Sinh đổi mới đời ta. 31
PS 1-ABC411: Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn. 33
PS 1-ABC412: Sao lại đi tìm người sống giữa kẻ chết?. 35
PS 1-ABC413: Suy niệm canh thức Vượt Qua. 37
PS 1-ABC414: Gioan thấy và tin. 40
PS 1-ABC415: Suy niệm Thứ Bảy Vọng Phục Sinh. 43
PS 1-ABC416: Suy niệm Chúa Nhật Phục Sinh. 46
PS 1-ABC417: Chúa Nhật Phục Sinh. 49
PS 1-ABC418: “Bàn Tay” cứu độ. 56
PS 1-ABC419: Chúa đã sống lại rồi 58
PS 1-ABC420: Tôi đã thấy Chúa! 68
PS 1-ABC421: Đường Emmau, Đường Thương Xót 72
PS 1-ABC422: Người Khách Lạ trên đường Emmaus. 74
PS 1-ABC423: Lắng đọng và bình an. 77
PS 1-ABC424: Thiên Chúa vẫn hằng sống. 78
PS 1-ABC425: Chúa Phục Sinh và vụ cháy nhà thờ Đức Bà. 80
PS 1-ABC426: Chúa Phục Sinh, Chúa Hằng Sống. 82
PS 1-ABC427: Biến đổi trở thành con người mới 85
PS 1-ABC428: Chúa đã sống lại thật rồi! 86
PS 1-ABC429: Ông đã thấy và đã tin mầu nhiệm Chúa Phục Sinh. 89
PS 1-ABC430: ĐẤNG CHIẾN THẮNG.. 99
PS 1-ABC431: QUÁN TRỌ TRẦN GIAN.. 101
PS 1-ABC432: CUỘC CHAY ĐUA CỦA LÒNG MẾN.. 103
PS 1-ABC433: CHÚNG TÔI ĐÃ THẤY VÀ CHÚNG TÔI ĐÃ TIN.. 107
PS 1-ABC434: CHẠY VỀ PHÍA CHÚA.. 108
PS 1-ABC435: TIN MỪNG PHỤC SINH.. 110
PS 1-ABC436: NIỀM XÁC TIN CHÚA PHỤC SINH.. 111
PS 1-ABC437: THIÊN CHÚA KHÔNG CHẾT.. 114
PS 1-ABC438: HÃY VUI LÊN.. 116
PS 1-ABC439: NIỀM VUI PHỤC SINH.. 118
PS 1-ABC440: PHỤC SINH ĐEM LẠI ƠN BIẾN ĐỔI 120
PS 1-ABC441: NIỀM TIN PHỤC SINH.. 123
PS 1-ABC442: XÁC TÍN.. 124
PS 1-ABC443: ĐÃ THẤY VÀ ĐÃ TIN.. 128
PS 1-ABC444: SỨC MẠNH PHỤC SINH.. 129

-----------------------------
 

PS 1-ABC401: ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH Ở GIỮA CHÚNG TA


TRONG CUỘC SỐNG
 

Đức Giêsu đã sống lại từ cõi chết! Đó là điều các môn đệ của Ngài đã được chứng kiến, khi các PS 1-ABC401


Đức Giêsu đã sống lại từ cõi chết! Đó là điều các môn đệ của Ngài đã được chứng kiến, khi các ông ở với nhau.

Ở với nhau “từ sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, khi bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến”. Họ đã thấy “trong mộ những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi” (Ga 20,6-7).

Ở với nhau, khi “Bà Maria Mácđala đi báo cho các môn đệ: Tôi đã thấy Chúa, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà” (Ga 20,18).

Ở với nhau, “vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái”. Đức Giêsu phục sinh đến, “đứng giữa các ông và nói: “Bình An cho anh em!” (Ga 20,19).

Ở với nhau, “tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Rồi Người bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng tin nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20,26-27).

Riêng Tin Mừng Luca còn kể về hai môn đệ không chỉ ở với nhau, mà còn đi với nhau trên đường từ Giêrusalem về Emmau với dáng vẻ rầu rĩ, thất vọng, và Đức Giêsu đã hiện ra đồng hành với các ông, cùng ngày Phêrô, Gioan chạy ra mộ, sau khi các ông được mấy phụ nữ từ mộ chạy về báo tin “Tảng đá đã lăn ra khỏi mộ” và “không thấy thi hài Đức Giêsu đâu cả” (Lc 24,2-3).

Và lần “ở với nhau” được kể lại trong “Đoạn Cuối” của Tin Mừng Gioan khi “Đức Giêsu lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Tibêria”. Hôm ấy có các “ông Simôn Phêrô, ông Tôma là Đyđymô, ông Nathanaen người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau” (Ga 21,1-2).

Nhưng lần này có nhiều điểm đặc biệt, không giống những lần trước, khi các môn đệ ở với nhau và Đức Giêsu phục sinh hiện ra với các ông:

1.   Đức Giêsu phục sinh hiện ra giữa lúc các môn đệ đang bươn trải với cuộc sống hằng ngày:

Hiện ra với các môn đệ lần này, Đức Giêsu đã không đến với các ông trong nhà với cửa nẻo được đóng kín, khóa chặt, vì sợ người Do Thái, cũng không trong tình trạng lo âu, thất vọng, bất an, và tình huống ngưng trệ mọi sinh hoạt, vì chán nản, mất tinh thần, không còn động cơ phấn đấu, hoạt động, nhưng hiện ra giữa lúc các ông đang đánh cá, là nghề kiếm sống, ngay chính nơi làm việc là Biển Hồ, và rất tiếc “đêm ấy họ không bắt được con cá nào” (Ga 21,3).

2.   Đức Giêsu phục sinh hiện ra giữa những nhu cầu thiết thực của cuộc sống:

Không như những lần trước, lần này Đức Giêsu đến gặp các môn đệ ngay giữa thất bại và nhu cầu của các ông: thất bại, vì thả lưới suốt đêm, mà không bắt được con cá nào, và nhu cầu trước mắt của cả đám là đói và không có gì ăn.

Khi đứng trên bờ và hỏi các ông: “Này các chú, không có gì ăn ư ?” Các ông trả lời: “Thưa không”. Người bảo các ông: “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá”. Các ông thả lưới xuống, nhưng không sáo kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá” (Ga 21,5-6).   

Đến giữa lúc “làm ăn thất bát”, thả lưới suốt đêm mà không bắt được một con cá, đám ngư phủ chuyên nghiệp, môn đệ của Đức Giêsu thấm thiá tình của Thầy và xác tín: Thầy luôn hiện diện trong mọi hoàn cảnh của đời sống, biết rõ nhu cầu của từng người, và không để các ông phải chết.

a.   Nhu cầu vật chất:

Đức Giêsu biết các môn đệ buồn ngủ vì phải thức trắng, mệt vì suốt đêm phải thả lưới, canh lưới, chán nản và đói vì không bắt được con cá nào, nên Ngài đã hướng dẫn các ông chỗ có cá nhiều, và bảo các ông “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền”’, dù biết các ông là những ngư phủ lành nghề.

Không chỉ hướng dẫn, bảo ban, Đức Giêsu còn chuẩn bị “sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa” (Ga 21,9), và bảo các ông “Anh em đến mà ăn!”. Ngài còn đích thân “cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy” (Ga 21,12-13).

Thái độ ân ân cần chăm sóc các môn đệ của Đức Giêsu phục sinh là bằng chứng cho thấy Đức Giêsu hằng lo cho nhu cầu vật chất để nuôi dưỡng thân xác con người. Sự hiện diện của Ngài giữa sinh hoạt nghề nghiệp có lúc lên xuống, thành bại của các môn đệ đã nói lên tình yêu quan phòng của Thiên Chúa trên mỗi người.

b.  Nhu cầu tinh thần:

Ngoài nhu cầu vật chất để nuôi thân xác, Đức Giêsu còn quan tâm đến nhu cầu tinh thần của các môn đệ Ngài:

“Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Simôn Phêrô đên ba lần: “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?”. Và cả ba lần, Phêrô đều trả lời: “Lậy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy” (x. Ga 21,15-17).

Hỏi Phêrô cũng là hỏi các môn đệ khác có mặt, nhưng điều quan trọng khi hỏi Phêrô có yêu mến mình không, Đức Giêsu gián tiếp cho ông và các môn đệ biết Ngài yêu các ông rất nhiều. Cũng như hai người yêu nhau thường tế nhị “tỏ tình” với người mình yêu bằng hỏi “người yêu” có yêu mình nhiều hay  không… bởi  chỉ khi yêu đối tượng, người ta mới cần biết tình yêu của đối tượng dành cho mình.

Hơn ai hết, Đức Giêsu biết ngoài nhu cầu vật chất nuôi thân xác, con người còn một nhu cầu rất quan trọng khác, đó là yêu và được yêu. Và khi nhu cầu tinh thần này không được đáp ứng, bảo đảm, con người không thể quân bình, bình an, hạnh phúc.

3.   Đức Giêsu phục sinh mời gọi các môn đệ của Ngài lên đường:

Cuộc gặp gỡ các môn đệ ở Biển Hồ Tibêria sau khi sống lại của Đức Giêsu đã không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của các ông khi cho các ông ăn uống no nê và cho các ông biết mình được Thầy yêu và tình yêu của mình được Thầy đón nhận, mà còn đi xa hơn, khi Đức Giêsu mời gọi các ông đi theo Ngài, bởi đây mới là mục đích của cuộc sống người môn đệ:

“Hãy theo Thầy” khi sống cũng như khi biết mình phải chết, vì sống chết của người môn đệ cũng chỉ để “tôn vinh Thiên Chúa” (Ga 21,19).

“Hãy theo Thầy” để yêu mến đoàn chiên như Thầy, phục vụ đoàn chiên như Thầy, hiến mạng sống vì đoàn chiên như Thầy là Mục Tử nhân lành sẵn sàng “hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên” (Ga 10,11).

“Hãy theo Thầy”, vì nhu cầu vật chất và tinh thần được đáp ứng không phải để ở lì trong “cái tôi” ích kỷ, hưởng thụ, lười biếng, nhưng để lên đường loan báo Tin Mừng cứu độ và trao ban ơn Bình An Phục Sinh của “Thiên Chúa làm người” cho muôn dân ở mọi nơi, mọi thời (x. Mt 28,19).   

Như thế, tất cả đều quy về lý tưởng mà đời người môn đệ của Đức Giêsu hằng mong ước, đó là đi theo Đức Giêsu, để Thầy ở đâu thì con xin được ở đó với Thầy, cũng là lời cầu xin của Đức Giêsu trước những ngày Thương Khó:

“Lậy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành” (Ga 17,24).

Xin Đức Giêsu phục sinh cho chúng con, những người thuộc về Chúa, khả năng “ở với nhau”, bởi “không ở với nhau”, không cùng nhau lên thuyền ra khơi đánh cá, dù suốt đêm không bắt được con cá nào, chúng con sẽ không gặp được Chúa phục sinh, để được chăm nom, săn sóc phần hồn phần xác, nhất là không được theo Chúa đến gặp anh em và cùng anh em đến nơi Chúa ở, là quê hương Bình An, bến bờ Hạnh Phúc, Niềm Vui Phục Sinh của đời làm người, làm  con Chúa, anh em của mọi người. Alléluia!
Jorathe Nắng Tím 

-----------------------------
 

PS 1-ABC402: “XIN CHO CHÚNG NÊN MỘT – UT SINT UNUM”


Suy niệm Chúa Phục Sinh
 

Ngay sau khi sống lại, Đức Giêsu Phục Sinh đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ, và lần nào PS 1-ABC402


Ngay sau khi sống lại, Đức Giêsu Phục Sinh đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ, và lần nào Ngài cũng hiện ra với “các ông”, mà không hiện ra riêng tư, riêng rẽ, riêng lẻ với “một ông” nào.

Những cuộc gặp gỡ giữa Thầy và anh em môn đệ, giữa Thầy và Nhóm cũng là những hẹn hò giữa Đức Giêsu và Giáo Hội, một cộng đoàn hiệp nhất, hiệp thông, một tập thể được tình yêu hiệp thông nối kết, làm cho tất cả nên một, như lời cầu xin của chính Đấng sáng lập: “Lậy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một trong chúng ta” (Ga 17,11).

Qủa thực, tất cả các môn đệ đều đã nghe Đức Giêsu dặn bảo nhiều lần phải hiệp nhất, phải đoàn kết, tương trợ, phải “thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Vào những ngày cuối đời trước khi lên Giêrusalem chịu chết, các ông còn được chứng kiến Đức Giêsu tha thiết cầu xin Chúa Cha cho  tất cả các ông “được nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (Ga 17,21).

Tuy thế, phải chờ đến khi các ông chứng kiến Đức Giêsu phục sinh hiện ra giữa các ông, với các ông, các ông mới thấm thiá lời căn dặn phải hiệp nhất nên một của Thầy.

Thấm thiá đòi hỏi hiệp nhất, hiệp thông của Thầy không là chọn lựa nhiệm ý, nhưng là chọn lựa thuộc yếu tính của đời tông đồ. Các ông nhớ lại Đức Giêsu đã luôn sai các ông đi với nhau, mà không sai đi một mình; bắt các ông cùng  xuống thuyền, mà không để mỗi người tự bươn trải, chèo chống qua bờ bên kia (x. Mt 14,22), và lần nào cũng thế, Đức Giêsu đều có mặt với các ông, giữa các ông.

Các ông thấm thiá giá trị của hiệp nhất, vì chỉ khi ở với nhau, đi cùng nhau, các ông mới gặp được Đức Giêsu, Thiên Chúa, như hôm nay, khi Ngài hiện đến ban Bình An phục sinh cho các ông (x. Ga 20,19), và như hôm nao Ngài đã đi trên biển mà đến với các ông, đang khi thuyền các ông “bị sóng đánh vì ngược gió” (Mt 14,24).

Thấm thiá hiệp nhất, hiệp thông với nhau là điều Đức Giêsu mong đợi hơn cả ở người môn đệ, và các ông nhớ lại ưu tiên trên mọi ưu tiên mà Đức Giêsu muốn các ông lựa chọn chính là “yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12), để tất cả được “ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15,9), cũng là ở trong tình thương của nhau, như cành nho hiệp nhất với cây nho để sinh nhiều hoa trái (x. Ga 15,1-6).   

Sở dĩ các ông thấm thiá hiệp nhất là đòi hỏi tối quan trọng, thuộc yếu tính của đời người môn đệ, vì các ông thấy Đức Giêsu phục sinh chỉ hiện ra khi các ông ở với nhau, như đã ở với nhau trong nhà (x. Ga 20,19-29), xuống thuyền với nhau ra biển đánh cá (x. Ga 21), đi với nhau trên đường từ Giêrusalem về Emmau (x. Lc 24,1-31).  

Từ những thấm thiá sau những lần Thầy hiện ra, và ký ức về những lần được sai đi khi còn ở với các ông, các môn đệ đã xác tín:

1.   Đức Giêsu luôn có mặt nơi có tình yêu hiệp thông, hiệp nhất:

Từ kinh nghiệm những ngày sống với Đức Giêsu, các môn đệ xác tín điều quan trọng nhất trong sứ vụ tông đồ, đó là ở với nhau, đi với nhau với tình hiệp thông, hiệp nhất, bởi thành qủa của sứ vụ hệ tại ở đòi hỏi hiệp thông, hiệp nhất này. Đàng khác, các ông dường như không thấy Đức Giêsu đặt nặng thành công truyền giáo cho bằng sự hiệp nhất, hiệp thông giữa các ông, và luôn luôn Ngài tạo cơ hội cho các ông đi với nhau, cùng ở với nhau, hợp tác với nhau, nhất là tỏ cho các ông chân lý: bất cứ  khi nào các ông ở với nhau, hiệp thông, hiệp nhất với nhau, thì Ngài luôn ở đó với họ.

Tin Mừng Matthêu kể: “Đức Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước trong lúc Người giải tán đám đông… Giải tán họ xong, Người lên núi một mình cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình. Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị song đánh vì ngược gió. Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với họ” (Mt 14,22-25).

Đó là kinh nghiệm ở với nhau mà các môn đệ đã trải qua “với nhau”. Qua kinh nghiệm này, các ông hiểu và xác tín: Đức Giêsu không bỏ các ông khi các ông ở với nhau, đồng tâm nhất trí với nhau, nhất là trong thử thách, gian khổ. Sự kiện Đức Giêsu đi trên mặt biển đến với các ông khi thuyền bị sóng đánh vì ngược gió minh chứng “ở với nhau” là đòi hỏi thứ nhất và quan trọng nhất mà Đức Giêsu muốn nơi các môn đệ Ngài.

2.   Sứ vụ đi loan báo Tin Mừng và lệnh truyền yêu thương, hiệp nhất với nhau nên một không thể tách rời:

Đức Giêsu lập Giáo Hội vì muốn các môn đệ của Ngài ở với nhau, muốn những người đi theo Ngài quy tụ với nhau quanh Ngài để làm thành một gia đình, một cộng đoàn. Ngài không muốn người ta theo Ngài một cách riêng lẻ, biệt lập, cá nhân, nhưng hiệp thông với nhau, hiệp nhất với nhau nên một trong Ngài.

Vì thế làm môn đệ của Đức Giêsu, làm Kitô hữu thuộc về Đức Giêsu, chúng ta không thể đứng một mình lẻ loi, cô độc; không thể lầm lũi bước đi một mình, ở một mình, hoàn toàn tách biệt, “độc lập” với những môn đệ khác, với tập thể những người cùng đi theo Chúa, với cộng đoàn Giáo Hội, vì ý muốn của Đức Giêsu khi lập Giáo Hội chính là tinh thần Hiệp Thông, Hiệp Nhất giữa những ai muốn đi theo Ngài.

Có những tôn giáo không đặt nặng tính cộng đồng và hiệp thông, hiệp nhất, nhưng mỗi người tin như mình muốn, tin như mình cảm nghiệm và đức tin ấy mang tính cá nhân, riêng tư, độc lập. Khác với những tôn giáo này, Kitô giáo đòi hiệp thông, hiệp nhất giữa những người cùng một đức tin, vì đó là ý muốn của Đức Giêsu, Đấng sáng lập: “Lậy Cha, xin cho chúng nên một như Cha với con”.

Chính vì thế, không thể có truyền giáo của môn đệ đơn độc, không thể có sứ vụ một mình ra đi, nhưng lệnh lên đường truyền giáo là lệnh mang tính cộng đoàn, gồm cả nhóm với đòi hỏi phải hiệp thông, hiệp nhất  “Anh em hãy ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19).

Người được sai thi hành sứ vụ là “anh em” tức tập thể môn đệ, và đối tượng của sứ vụ là những con người sẽ nhận phép rửa để cũng được trở thành môn đệ như người được sai đi. Nói cách khác, tính cộng đồng hiệp thông giữa người rao giảng và người được rao giảng, tính hiệp nhất giữa những người thuộc về Đức Giêsu, tức môn đệ Ngài là điểm then chốt nổi bật trong giáo huấn của Đức Giêsu.

Đó cũng là lý do Đức Giêsu đã qủa quyết với các môn đệ của Ngài: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,34-35).

Như thế, nếu không hiệp thông, hiệp nhất với nhau trong tình yêu thương, người môn đệ sẽ chẳng làm được gì trên đường truyền giáo, vì ngoài dấu chỉ yêu thương nhau, người đời không còn một dấu chỉ nào khác để nhận ra nhà truyền giáo là môn đệ của Đức Giêsu, là người loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu, giới thiệu Đức Giêsu Thiên Chúa làm người, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Không yêu thương nhau, toàn bộ công trình truyển giáo sẽ trở nên vô ích, không sinh hoa trái thiêng liêng nào, cũng không đem lại lợi ích cho ai, kể cả nhà truyền giáo. Không đủ khả năng và thiện chí để  cùng nhau trở nên dấu chỉ là môn đệ đích thực của Đức Giêsu, nhà truyền giáo đừng mơ “đón về những con chiên mới, và đưa về những con chiên lạc”, bởi cả chiên lạc và chiên mới đều không nhận ra tiếng của mục tử nhân lành, vì thiếu tình yêu thương, tình hiệp thông, hiệp nhất giữa những người được sai đi.

Không có lòng yêu thương nhau giữa những người được thánh hiến cho sứ vụ của Giáo Hội, Giáo Hội không hy vọng nhận về những hoa trái thiêng liêng được gặt hái, vì cành nho không liên kết với nhau và gắn chặt vào cây nho thì chẳng sinh hoa trái, mà chỉ đáng bị quăng ra ngoài, cho vào lửa đốt đi (x. Ga 15,5-6). Không hiệp nhất với nhau nên một, người môn đệ trước sau cũng sẽ như Giuđa lủi thủi một mình với những toan tính hơn thiệt cho bản thân, rồi tự bỏ Thầy, rời xa anh em đi vào hủy diệt.

Do đó, sẽ không có truyền giáo đích thực, truyền giáo như ý Chúa muốn, truyền giáo đem lại ơn cứu rỗi cho các linh hồn, nếu người môn đệ, nhà truyền giáo chủ trương “độc lập”: ở riêng, ăn riêng, làm riêng, chơi riêng mà bất chấp cộng đoàn, bất chấp anh em, bất chấp tinh thần hiệp thông, hợp tác, và coi thường đòi hỏi hiệp nhất nên một của Đức Giêsu, bởi khi tách khỏi Giáo Hội, tự cô lập mình khỏi cộng đoàn, tập thể, đội nhóm, người môn đệ không gặp được Đức Giêsu, như Ngài đã hiện ra và gặp gỡ “các anh em của Ngài”  khi họ ở với nhau, sau khi Ngài sống lại.

Tóm lại, những lần hiện ra sau phục sinh của Đức Giêsu với các môn đệ khi họ ở với nhau, đi với nhau, cũng như sự hiện diện của Ngài giữa các ông khi Ngài còn ở với các ông là bằng chứng về yếu tính hiệp thông, hiệp nhất của Giáo Hội, tập thể những người cùng đi theo Đức Giêsu. Chưa kể lệnh truyền và dấu chỉ duy nhất để thiên hạ nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người chính là “anh em có lòng yêu thương nhau”.

Bởi có yêu thương nhau, lời chứng về Thiên Chúa là Tình Yêu Cứu Độ của người môn đệ mới thuyết phục người nghe Tin Mừng. Bởi có yêu thương nhau, nhà truyền giáo mới là nhân chứng của Tình Yêu và ơn Bình An của Đức Giêsu phục sinh cho nhân loại bất an, bất ổn vì hận thù, bạo lực. Bởi có yêu thương nhau, những người thuộc về Đức Giêsu mới là những người đáng tin khi kể về những kỳ công của Thiên Chúa đã làm cho con người vì yêu thương con người. Bởi có yêu thương nhau, những người được thánh hiến để phục vụ mới là những gương sáng bác ái, nếu không, sẽ “phản chứng và phá hoại”.

Cũng chính vì “yêu thương nhau” là dấu chỉ để mọi người nhận biết Thiên Chúa, mà người môn đệ Đức Giêsu phải đặt ưu tiên cho hiệp thông, hiệp nhất giữa nhau, và luôn ý thức: công việc truyền giáo chỉ mang lại hoa trái thiêng liêng, một khi tình hiệp thông, hiệp nhất giữa nhà truyền giáo được củng cố vững chắc, bảo đảm.

Và điều quan trọng sau cùng người môn đệ cần lưu ý, đó là ở với nhau, làm việc với nhau, hiệp thông, hiệp nhất với nhau là ý muốn đời đời của Thiên Chúa, do Tình Yêu hiệp nhất của Chúa Ba Ngôi. Cũng vì thế, Thiên Chúa chỉ có mặt nơi nào có tình yêu thương, và phần thưởng lớn nhất, trước nhất mà người môn đệ nhận được khi hiệp thông, hiệp nhất với nhau chính là được ở trong Chúa, có Chúa đồng hành, có Chúa phù hộ, nâng đỡ. Phần thưởng này mới thực là điều người môn đệ phải khao khát đi tìm trước những thành qủa truyền giáo bên ngoài mà nhiều khi chỉ là những thành qủa của thế gian, do tính toán, sắp xếp của đầu óc kinh doanh, bàn tay thủ lợi của người đời, mà nhiều nhà truyền giáo đã ngây thơ mắc bẫy.

Xin Đức Giêsu phục sinh, Đấng luôn có mặt giữa những ai “tâm đầu ý hiệp” khi phụng sự Chúa, phục vụ anh em ban ơn Bình An Phục Sinh của Ngài cho tất cả  chúng ta là môn đệ của Ngài. Alléluia!
Jorathe Nắng Tím

-----------------------------
 

PS 1-ABC403: ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH GIẢI THOÁT CHÚNG TA

 

Đức Giêsu đã sống lại và không bao giờ chết nữa, để chúng ta, những người đã “cùng được mai PS 1-ABC403


Đức Giêsu đã sống lại và không bao giờ chết nữa, để chúng ta, những người đã “cùng được mai táng với Người”, bởi đã cùng chết với Người “sẽ cùng sống lại với Người” và được sống một đời sống mới (x. Rm 6,7-8).

1.   Chúng ta chết với Đức Giêsu khi nào?

Chúng ta được chung phần đau khổ với Đức Giêsu trên đường Thánh Giá của ngày thứ sáu tuần thánh, khi khiêm tốn nhận ra mình đã không luôn trung thành, nhưng thường xuyên  phản bội như Giuđa, Phêrô và đám đông đã chịu ơn Chúa; đã tự lừa dối lương tâm mình, hoặc hèn nhát và dựa vào cơ chế, ích lợi cộng đoàn, lề luật, nguyên tắc, đường lối chung để hồ đồ luận tội, kết án anh em vô tội; đã lấy làm thích thú khi chụp mũ người khác và đổ trên đầu họ bao nỗi oan khiên, tủi nhục.

Chúng ta được đóng đinh với Đức Giêsu trên núi Sọ khi nhìn lại và hối tiếc những thiếu sót, lỗi lầm của mình trong tương quan với người chung quanh: những lời thị phi, khinh bỉ, những cái nhìn lột trần hạ giá trị người phụ nữ, những tắc trách, vô ơn, không tình nghiã, những tính toán đê tiện, hèn hạ cốt để “ăn người”.

Chúng ta được chết với Đức Giêsu trên Thánh Giá khi đấm ngực ăn năn vì những tổn thương đã gây cho người khác, bắt đầu từ những người thân yêu, đồng nghiệp ngày đêm chung một mái ấm, ngày ngày chung một sở làm, đến những người hàng xóm thiếu ăn, thiếu mặc.  

Chúng ta được tẩm liệm với Đức Giêsu trong mồ khi thú nhận thái độ thiếu bác ái, thiếu bao dung, thiếu lòng thương xót khi bị người khác xúc phạm; về hành vi bạo lực đối với kẻ thù, những mánh lới trục lợi làm giầu trên xương máu, mồ hôi nước mắt của người khác.

Chúng ta được mai táng với Đức Giêsu trong mồ khi phản tỉnh và tự vấn: Tôi đã làm gì khi đối diện với bất hạnh, khổ đau của người khác? Tôi là ai mà Thiên Chúa vẫn thương yêu, gìn giữ? Tôi có nhận ra ơn huệ Chúa đã ban cho tôi, và niềm vui, hạnh phúc tôi đã nhận từ mọi người? Tôi có ý thức giá trị cái chết và ơn cứu độ của Đức Giêsu, cũng như yếu đuối, tội lỗi của mình? Tôi có biết cất lên lời ca ngợi Chúa là Đấng Cứu Độ và lời cám ơn những người đã đóng góp hy sinh xây dựng đời tôi ?

2.   Chúng ta sống lại với Đức Giêsu khi nào?      

Bởi đã cùng đi với Đức Giêsu trên đường Thánh Giá, cùng chết, cùng chịu tẩm liệm và mai táng với Đức Giêsu trong mồ, khi trở về với Chúa và chân nhận thân phận yếu đuối, tội lỗi của mình, đồng thời thú nhận trước Thiên Chúa là Cha giầu lòng thương xót và anh em: “Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót”, chúng ta “được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu” (Rm 6,3), khi cung kính đón nhận ơn tha tội, và ơn Bình An của Đức Giêsu phục sinh, Đấng đã chết để giải thoát chúng ta:

a.   Đức Giêsu phục sinh giải thoát chúng ta khỏi đời sống cũ của ganh ghét, hận thù, bạo lực:

Cùng đi trên đường Thánh Giá với Đức Giêsu, chúng ta đã hiểu: tác nhân làm nên  con đường khổ nạn là những con người có tâm hồn chất đầy ganh ghét, ghen tuông, trái tim ngùn ngụt lửa hận thù và lòng dạ say mê bạo lực như các thượng tế, Pharisêu, đám đông phẫn nộ, và tất nhiên trong đó có chúng ta, vì chúng ta cũng như họ, nhưng chúng ta đã được Đức Giêsu ngã xuống để nâng dậy khi chúng ta trở về và đi theo Ngài trên đường Thánh Giá.

Ngài giải thoát chúng ta khỏi hệ lụy của ganh ghét, hận thù là những trói buộc ghì chúng ta xuống bùn nhơ, nhận chìm chúng ta trong vực sâu bạo lực, để  đem chúng ta vào khung trời tự do của tình yêu, và dẫn chúng ta vào thế giới bình an của lòng bao dung, thương xót, bởi chỉ có tình yêu kẻ thù, lòng bao dung đối với kẻ vu khống, bách hại, và  lời cầu nguyện cho kẻ làm khốn mình theo gương Đức Giêsu chịu đóng đinh, chúng ta mới thực sự được giải thoát và hưởng hạnh phúc đích thực được Thiên Chúa hứa ban, tức được sống đời sống hoàn thiện của con Thiên Chúa (x. Mt 5,48).

b.   Đức Giêsu phục sinh giải thoát chúng ta khỏi đời sống cũ tội lỗi, với mặc cảm lo sợ bị Thiên Chúa luận phạt, kết án:

Không gì làm con người sợ hơn tội, vì bản chất của tội là xấu xa, gớm ghiếc, gây tổn thương, mất mát, đau khổ và chết chóc cho mình và người khác, nên khi phạm tội, chúng ta sợ đủ thứ, sợ hết mọi người, nhất là sợ Thiên Chúa, như Ađam, Evà đã sợ Thiên Chúa và lẩn tránh Ngài sau khi phạm tội (x. St 3,8-10).   

Phần chúng ta, chúng ta không chỉ sợ bị con người trả thù, lên án, mà còn sợ Thiên Chúa là Đấng thông biết vô cùng, công bình vô cùng trừng phạt đời đời trong hoả ngục.

Nhưng hôm nay, nhờ được “chết với Đức Giêsu trên Thánh Giá” khi thú nhận và thống hối ăn năn, chúng ta được sống lại trong đời sống mới của tội nhân được trắng án, của phạm nhân trọng tội được tha bổng, nhờ giá máu tuyệt đối, và cái chết sinh ơn Cứu Độ của Đức Giêsu, bởi “con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị hủy diệt, để chúng ta không làm nô lệ cho tội nữa” (Rm 6,6).

Sở dĩ khi phạm tội, khi mang tội trong người, khi để tội ra vào thoải mái trong linh hồn, chúng ta không được bình an, nhưng luôn lo âu, sợ hãi, sầu buồn, đó là vì chúng ta chấp nhận trở thành nô lệ của tội lỗi, khi đón rước tội lỗi vào đời sống, bởi ông chủ Tội Lỗi thì luôn cay nghiệt, tàn ác, dã man, và chỉ muốn những người thuộc về mình phải đau khổ và phải chết, nên không ngạc nhiên khi những người  bán thân làm nô lệ cho ông chủ Tội Lỗi suốt đời phải sợ hãi, lo âu, đau khổ và đời đời bất hạnh, vì tội lỗi ở đâu thì hình phạt ở đó, tội lỗi ở đâu thì lo sợ bao trùm, tội lỗi ở đâu thì mặc cảm đan kín, cột chặt.

Là Đấng Cứu Độ, nghiã là Đấng đến giải thoát chúng ta khỏi mọi gánh nặng của thân nô lệ tội lỗi, mà hệ qủa quan trọng của tội lỗi là  sự chết, Đức Giêsu đã dùng sự chết của mình để chiến thắng tội lỗi và giải thoát chúng ta không những khỏi tội lỗi, mà còn khỏi mặc cảm lo sợ bị Thiên Chúa trừng phạt, như thánh Phaolô đã qủa quyết: “Một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay, Người sống là sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống lại cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6,9-11). 

3.   Đức Giêsu phục sinh giải thoát chúng ta khỏi những đòi hỏi bất chính của thân xác yếu hèn nhờ ân sủng:

Ơn Phục Sinh lớn lao mà chúng ta nhận được từ Đức Giêsu phục sinh, chính là ơn được Thiên Chúa cứu chuộc, ơn chuộc lại những gì chúng ta đã làm mất vì chạy theo những đỏi hỏi bất chính của thân xác yếu hèn.

Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã tạo nên những người con của Thiên Chúa, và ban cho quyền thừa kế, nghiã là được hưởng mọi hạnh phúc của Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng. Tội lỗi đã lấy đi quyền làm con, đồng thời cướp mất mọi hạnh phúc của con cái Thiên Chúa khỏi con người.

Với ơn phục sinh của Đức Giêsu sống lại, không chỉ “sự sống đã chiến thắng thần chết, Thập Giá đã chiến thắng địa ngục”, mà chính thân xác yếu đuối của chúng ta cũng được giải thoát khỏi nanh vuốt, gông cùm của dục vọng bất chính, nhờ ân sủng từ Thánh Giá của Đức Giêsu chịu đóng đinh, để với ơn Chúa, chúng ta  không dùng thân xác mình như khí cụ để làm điều bất chính, phục vụ tội lỗi nữa. Trái lại, như thánh Phaolô khuyến khích giáo đoàn Rôma: “Anh em là những người sống đã từ cõi chết trở về, anh em hãy hiến toàn thân cho Thiên Chúa, và dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều công chính, phục vụ Thiên Chúa. Tội lỗi sẽ không còn quyền chi đối với anh em nữa, vì anh em không còn lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng” (Rm 6,13-14). 

Lậy Đức Giêsu chịu đóng đinh đã phục sinh khải hoàn, xin giải thoát chúng con khỏi ganh ghét, hận thù, bạo lực, dục vọng bất chính, tội lỗi, chết chóc, địa ngục. Xin đổ tràn ơn Bình An phục sinh của Chúa trên chúng con, để muôn ngàn đời chúng con vẫn mãi ca ngợi Tình Thương Cứu Độ của Chúa trước muôn dân. Alléluia

    Jorathe Nắng Tím

-----------------------------
 

PS 1-ABC404: CHẠY ĐẾN MỘ - CHẠY TỪ MỘ


Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT PHỤC SINH, Năm A
 

Người ta chạy khi có chuyện khẩn cấp, hệ trọng, bất thường vừa xẩy ra, chứ không ai chạy khi PS 1-ABC404


Người ta chạy khi có chuyện khẩn cấp, hệ trọng, bất thường vừa xẩy ra, chứ không ai chạy khi không vội vã, chạy khi không có việc cần, chạy khi còn được là “tỷ phú thời gian”.

Tin Mừng Gioan của Chúa Nhật Phục Sinh chỉ vỏn vẹn chín câu, nhưng có đến ba lần động từ “chạy” được ba nhân vật trong trình thuật thực hiện:

“Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”.

“Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống, và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Simôn Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết” (Ga 20,1-9).

Nhân vật Maria Mácđala là người đến mộ rất sớm. Bà là người được Đức Giêsu yêu thương đặc biệt, và bà cũng yêu mến Ngài “hơn các người khác”. Chẳng thế mà bà luôn có mặt với Đức Giêsu suốt đường khổ nạn, dưới chân Thánh Giá và khi tẩm liệm, mai táng, bên cạnh thân mẫu của Ngài. Ba Tin Mừng Mátthêu (Mt 27,56.61), Máccô (Mc 15,40.47), và Gioan đều ghi nhận sự hiện diện yêu thương của bà trong những giờ phút kinh hoàng, đau thương nhất của Đức Giêsu: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala” (Ga 19,25).

Tin Mừng cho thấy: bà là người đầu tiên ra viếng mộ, và là người đầu tiên thấy một trống. Tin Mừng Mátthêu còn kể chi tiết hơn: bà đã được gặp thiên sứ, và chính thiên sứ đã nói với bà đi gặp các môn đệ để nói cho các ông biết: “Người đã trỗi dậy từ cõi chết” (Mt 28,7). Tin Mừng Gioan còn qủa quyết: Đức Giêsu Phục Sinh đã hiện ra gặp bà, khi bà “đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc” (Ga 20,11), và bà cứ tưởng Ngài là người làm vườn, cho đến khi Ngài gọi tên bà, lúc đó bà mới nhận ra Ngài (x. Ga 20,11-18).

Sáng sớm hôm ấy bà đã lầm lũi, ngậm ngùi ra viếng mộ với cõi lòng tan nát, vì người bà yêu mến đã chết và yên nghỉ ngàn thu trong mộ. Bước chân đến mộ buồn thảm, nặng nề, lê thê lắm, chứ không hớn hở, phấn chấn như những ngày đón Thầy ghé nhà nghỉ ngơi trên đường truyền giáo.

Nhưng bất ngờ bà ra khỏi buồn thương, sầu thảm, khi ánh sáng  Phục Sinh bừng cháy, đốt nóng trái tim, và thúc bách đôi chân bà, khiến bà hối hả chạy thật nhanh, nhanh bao nhiêu có thể để báo tin Thầy đã sống lại cho các môn đệ.

Qủa thực, Tin Vui Phục Sinh vĩ đại quá đã không cho phép bà chậm trễ dù một phút; Tin Mừng “Chúa đã sống lại thật như lời Người đã hứa” vỡ oà niềm hạnh phúc vô cùng lớn lao, mà không gì có thể ngăn cản, be bờ, đã khiến đôi chân thường ngày vốn bé bỏng, yếu đuối của bà  bỗng mạnh mẽ, nhanh nhẹn, thoăn thoắt chạy đua với thời gian để Tin Mừng “Thầy đã sống lại !” được mau chóng đến với các môn đệ.

Bà vui như chưa từng vui, hạnh phúc như chưa bao giờ hạnh phúc, và Tin Vui Sống Lại như nhấc bổng bà lên cao, chắp cho bà đôi cánh, để bà bay đi rất xa, đi thật xa với Tin Vui “Chúa sống lại”, vì qủa thực, từ nay bà không còn muốn tìm kiếm gì khác, bởi niềm vui, hạnh phúc, phần thưởng lớn nhất của một đời làm người hôm nay bà đã chiếm trọn, khi mừng rỡ kể lại cho các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa !” (Ga 20,18).

Bên cạnh Maria Mácđala, người đàn bà đã chạy rất nhanh loan báo Tin Vui Phục Sinh cho các môn đệ, là hai ông Phêrô và Gioan. Cả hai cùng chạy ra mộ, vì nhận Tin Mừng Phục Sinh từ người đàn bà mà Đức Giêsu yêu thương đã từ mộ chạy về báo. Cả hai cúi đầu chạy “bán sống bán chết”, vì niềm vui sắp được gặp Thầy sống lại từ cõi chết trong tim chất ngất, vỡ oà.

Chính khao khát được gặp Thầy đã thúc bách các ông hối hả, vội vã chạy thật nhanh đến mộ. Vì thế mới có chuyện ông Gioan chạy nhanh hơn, đã đến mộ trước và bỏ ông Phêrô ở lại phiá sau.

Chính tình yêu hai ông dành cho Đức Giêsu đã làm cho đôi chân các ông trở nên săn chắc, bạo dạn, vững mạnh, qủa quyết phóng nhanh trên đường ra mộ với duy nhất một niềm vui đến từ hy vọng được gặp Thầy. Và niềm hy vọng đã thành sự thật, khi hai ông đã tận mắt chứng kiến cảnh tượng của người chết sống lại khi “những băng vải để ở đó, khăn che đầu được cuốn lại, xếp riêng ra một nơi” (Ga 20,6-7); khi hai ông hiểu vì nhớ lại lời Đức Giêsu cũng như Kinh Thánh đã nói: “Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết” (Ga 20,9), và niềm vui Phục Sinh tràn ngập tâm hồn khi hai ông “đã thấy và đã tin” (Ga 20,8).    

Vâng, cả ba nhân vật trong trình thuật buổi sáng Phục Sinh đều chạy: Maria Mácđala đã chạy từ mộ, hai môn đệ Phêrô và Gioan đã chạy đến mộ, nhưng cả ba đều chạy do một động lực chung là đức tin, một niềm vui chung là Tin Mừng Sống Lại, một Tình Yêu chung là Đức Giêsu Phục Sinh.

Thực vậy, đức tin luôn là động lực thúc bách, vì đức tin bao hàm tình yêu mãnh liệt dành cho một đối tượng là Đức Giêsu, và Phục Sinh luôn là tin vui vĩ đại, tin mừng vô cùng lớn lao, không gì có thể so sánh, vì đã chết mà nay sống, đã tiêu tan mà nay hiện hữu, đã không còn gì mà nay có tất cả, đã chết trên thập giá và chôn trong mồ mà nay sống lại vinh quang, khải hoàn.

Nhận được Tin Vui Phục Sinh, những con người hạnh phúc như Maria Mácđala, Phêrô và Gioan mỗi người đã chạy theo kiểu của mình, chạy theo hướng riêng được Chúa Thánh Thần hướng dẫn để loan báo “Đức Giêsu đã chết và nay đã sống lại”: Maria Mácđala chạy báo tin vui “Thầy đã sống lại” cho các môn đệ; Phêrô chạy đi loan báo Đức Giêsu, “Đấng mà nhờ danh Người mà mọi người nhận được ơn tha tội” (Cv 10,43) tại nhà ông Conêliô, người Rôma, sĩ quan đại đội trưởng thuộc cơ đội Italia ở Xêdarê (x. Cv 10,1); còn Gioan, những bước chân chan chứa niềm vui Phục Sinh đã dẫn ông vào con đường nội tâm của đức tin, để tìm kiếm “những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa…, chứ không còn chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” (Cl 3,1-2).

Nhận Tin Vui Phục Sinh, các vị  không còn đi trên những con đường cũ, nhưng đi trên con đường mới đang mở ra, trên đó mỗi người loan báo “Đức Giêsu sống lại” theo kiểu của mình, bằng kinh nghiệm bản thân, nhờ cảm nghiệm thiêng liêng cá nhân với Đức Giêsu phục sinh.

Con đường Phục Sinh mới này rực rỡ hy vọng và vượt qua những mặc cảm tội lỗi đã chối Thầy, mặc cảm đã hèn nhát bỏ Thầy ở giờ phút đau thương, mặc cảm đã không tin Thầy sẽ sống lại… để lên đường đến muôn dân với Đức Giêsu phục sinh và Bình An của Ngài.

Nhận Tin Vui Phục Sinh, chúng ta cũng như Maria Mácđala, Phêrô và Gioan được mời gọi chạy nhanh trên đường đức tin, tình yêu và hy vọng vào Đấng đã sống lại từ cõi chết và hẹn gặp các môn đệ Ngài ở Galilê, để từ đó Tin Mừng Phục Sinh được lan toả đến các dân tộc và hết mọi thời, bởi niềm vui Phục Sinh chỉ tiếp tục tồn tại và lớn lên, sinh sôi ơn cứu rỗi cho mọi người, khi chúng ta hối hả “chạy nhanh” đến tận cùng thế giới “loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới đi Chúa đến”, như Maria Mácđala, Phêrô và Gioan đã hối hả, vội vã chạy để báo tin Chúa đã chết và đã sống lại như lời Ngài đã hứa. Alléluia!

Jorathe Nắng Tím 

-----------------------------
 

PS 1-ABC405: BÓNG TỐI VÀ ÁNH SÁNG ĐỨC KITÔ


Suy Niệm Tin Mừng Đêm Vọng Phục Sinh     
 

Các bài đọc được chọn trong lễ Vọng Phục Sinh xoay quanh Bóng Tối và Thiên Chúa của PS 1-ABC405


TMĐP- Các bài đọc được chọn trong lễ Vọng Phục Sinh xoay quanh Bóng Tối và Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô là Ánh Sáng xua tan tất cả mọi  bóng tối, từ bóng tối của buổi đầu tạo dựng muôn loài đến bóng tối trong tâm hồn mỗi người.

Bóng tối lúc khởi đầu, khi Thiên Chúa sáng tạo trời đất, ở đó “đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, và bóng tối bao trùm vực thẳm …” (St 1,1-2).

Bóng tối tội lỗi bao trùm khắp vũ trụ, loài người khi ông bà nguyên tổ nghe lời Rắn độc Xatan ăn trái cây Thiên Chúa cấm (x. St 3).

Bóng tối nô lệ đè nặng trên Ítraen, dân riêng của Giavê Thiên Chúa bên Ai Cập (x. Xh 3,7).

Bóng tối ngăn cản dân ngoại nhận ra “ánh sáng soi đường là vinh quang của Ítraen, Dân Ngài” (Lc 2,32).

Bóng tối tiêu diệt “những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần” (Lc 1,79).

Bóng tối gieo nghi ngờ, thất vọng trong tâm hồn tội nhân, khi che khuất “Vầng Đông từ chốn cao vời” (Lc 1,78) là trái tim đầy xót thương, trắc ẩn của Thiên Chúa, bởi chính Ngài “sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên” ( Lc 1, 77).

Bóng tối không cho người mù từ thuở mới sinh được nhìn thấy bất cứ sự gì, hay người nào (x. Ga 9).

Sau cùng là Bóng Tối đức tin là bóng tối thách đố khủng khiếp, bóng đêm  thử thách kinh hoàng trong tâm hồn những người yêu mến, và đặt hết tin tưởng ở Thiên Chúa.

Thực vậy, không bóng tối nào đáng ngai hơn bóng tối đức tin, khi Thiên Chúa thử thách những kẻ yêu mến Ngài, như đã thử thách Ápraham, tổ phụ của  Dân Ngài khi thử lòng ông và nói với ông: “Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là Ixaác, hãy đi đến xứ Môrigia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu ở đấy, trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho” (St 22, 2).

Thật không thể hiểu nổi khi chính Thiên Chúa, Đấng đã gọi ông và hứa chắc với ông hôm nào: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lừng lẫy, và ngươi sẽ là một mối phúc lành” (St 12,1-2). Ngài cho vợ ông có thai ở tuổi già, vì ông bà không có con, lại truyền đặt tên cho con trai duy nhất là Ixaác (x. St 17,15-19; 18,1-15), và liên tục nhắc  ông nhớ lời Ngài hứa sẽ cho ông làm tổ phụ dân Ngài: “Hãy ngước mắt lên trời và thử đếm các vì sao, xem có đếm nổi không”….  “Dòng dõi ngươi sẽ như thế đó!” (St 15, 5), bỗng nhiên hôm nay đổi ý, xóa bàn cờ khi quyết định hủy bỏ Giao Ước cho Ápraham trở thành tổ phụ một dân tộc lớn, một dòng dõi đông như sao trên trời, nhiều như cát dưới biển, và  thay vào bằng kế hoạch mới, đó là ông phải đem con trai duy nhất, kẻ nối dòng, người sẽ cho ông trở thành tổ phụ lên núi sát tế làm của lễ toàn thiêu dâng tiến Ngài.

Nhận thiên lệnh vô cùng kinh sợ và phải lập tức thi hành, chắc chắn trí khôn Ápraham dầy đặc bóng tối, vì không con người nào có thể hiểu sự thay đổi cực kỳ khó hiểu, đường lối bất nhất, và tính khả tín đáng nghi ngờ của lời Thiên Chúa hứa, Lời Hứa mà ông hằng tin, vì Thiên Chúa Giavê của ông là Thiên Chúa  “không bao giờ lừa dối, nhưng luôn trung tín giữ lời”.

Trí khôn đã dầy đặc bóng tối “lý trí”, tâm can còn hụt hẫng, hoảng loạn gấp bội vì hoàn toàn mù lòa trong bóng tối “tình yêu”, khi chính ông phải đích thân đưa con trai duy nhất vô cùng yêu dấu đến nơi chịu sát tế.

Sách Sáng Thế cực tả nỗi đau khôn xiết trong lòng Ápraham khi “ông lấy củi dùng để đốt lễ toàn thiêu đặt trên vai Ixaác, con ông. Ông cầm lửa và dao trong tay, rồi cả hai cùng đi” (St 22,6).

Nỗi đau khôn xiết trong trái tim Ápraham đã không cho ông nói được lời nào với con trai Ixaác trên đường đến nơi sát tế, cho tới khi Ixaác phá tan cái yên lặng “nặng nề chết chóc” bằng tiếng gọi “Cha ơi!” (St 22,7), như đánh thức Ápraham ra khỏi “bóng tối ác mộng”, ra khỏi đêm đen thử thách.

Quả thực, Ápraham đã không nói được lời nào mà chỉ có thể đáp: “Cha đây con!” (St 22,7), vì không còn lời nào để nói, không thể nói lên lời vì nghẹn lời, khi trái tim đang tan vỡ thành từng mảnh vụn, vì biết  một lát nữa đây, chính ông sẽ phải giơ cao dao sắc nhọn đang mang trên tay để giết chết Ixaác, đứa con trai thơ ngây, vô tội, gần đến nơi và sắp đến giờ chịu sát tế làm của lễ toàn thiêu mà vẫn vui tươi, hồn nhiên hỏi cha: “Có lửa, có củi đây, còn chiên để làm lễ toàn thiêu đâu?” (S 22,8), câu hỏi sắc hơn dao một lần nữa đã đâm thấu lòng người cha già.

Trong bóng tối dầy đặc, giữa đêm đen mịt mùng của đức tin, người tôi trung Ápraham dường như không còn nhận ra mình. Không nhận ra mình  không chỉ trong tương quan với Ixaác, mà cả  trong tương quan với Thiên Chúa, khi nhớ lại mình đã từ bỏ tất cả, đánh đổi tất cả, mất tất cả từ “xứ sở, họ hàng, nhà cha mẹ “đến con trai duy nhất cho Lời Hứa được làm tổ phụ một dân riêng mà Thiên Chúa tự ý đặt ra, và bây giờ chính Lời Hứa ấy cũng bị lấy đi, sứ mệnh làm Tổ Phụ cũng bị thu hồi, ơn gọi làm Cha cũng bị hủy bỏ, qua chọn lựa vô cùng khó khăn, nghiệt ngã là tuyệt đối vâng phục lệnh truyền sát tế con của Giavê, và việc thi hành vô điều kiện  đòi hỏi vô cùng  đau đớn, tang thương của Giavê là  “đi tới nơi Thiên Chúa đã chỉ, ông dựng bàn thờ tại đó, xếp củi lên, trói Ixaác con ông lại, và đặt lên bàn thờ, trên đống củi. Rồi ông đưa tay ra cầm lấy dao để sát tế con mình” (St 22, 9-10).

Ôi thật khủng khiếp giây phút đức tin bị bóng tối bao phủ; thật đáng sợ bóng đêm đen kịt và dầy đặc thử thách tình yêu tín thác, mà bất cứ ai yêu mến và tin vào Thiên Chúa đều phải trải nghiệm, vì Thiên Chúa muốn những  người được  Ngài tuyển chọn  trở nên “đồng hình đồng dạng” với Đức Giêsu trên Thánh Giá, mà cao điểm là khi bóng tối sụp xuống bao trùm và  thách đố tình yêu,  lòng tín thác, thì ngay cả Con Một của Ngài cũng phải  nghẹn ngào, nức nở, thống thiết kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34).

Thực vậy, không thiếu những đoạn đường mù mịt vì thử thách trên hành trình làm người, làm con Chúa. Bằng chứng là Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người đã trải qua, đặc biệt trong những ngày Thương Khó và Tử Nạn mà chúng ta đang cùng Giáo Hội sốt sắng cử hành.

Ước gì khi cử hành cuộc Thương Khó của Đức Giêsu chúng ta có cơ hội cùng tự vấn: Nếu phải rơi vào những khúc quanh tăm tối, như Ápraham khi nhận lệnh phải sát tế con, như các môn đệ Đức Giêsu đã sống đêm tối khủng khiếp của  đức tin từ chiều thứ sáu tuần thánh đến sáng chúa nhật phục sinh, khi xác Đức Giêsu được tháo xuống và chôn trong mồ, liệu chúng ta có trung tín như Ápraham để tiếp tục tin Thiên Chúa là Ánh Sáng dẫn chúng ta ra khỏi đêm đen,  cứu chúng ta thoát khỏi mọi bóng tối; có bền tâm vững chí tin Ngài là Ánh Sáng cứu độ “rực rỡ chiếu soi vũ trụ đang hân hoan vui mừng, vì được ơn thoát ly xa miền tăm tối; là cột lửa thiêng xóa tan mọi bóng tối trần gian; là Ánh Sáng rạng ngời như bình minh soi dẫn nhân trần; là ngọn lửa lung linh để Thiên Chúa được ngợi khen tôn vinh” ( Mừng Vui Lên – Exultet); là Ánh Sáng tự do đưa dân  ra khỏi đêm đen nô lệ  (x. Xh 13,21); và liệu tình yêu trong tim chúng ta còn đủ nồng nàn để cùng bà Maria Mácđala “sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối..” đã đi viếng mộ Đức Giêsu (x. Ga 20,1); liệu đèn thiện chí của chúng ta còn đủ dầu để thắp sáng đường về với nhau “ở một nơi”, “dù các cửa đều đóng kín, vì sợ người Do Thái” (Ga 20,19)  như các Tông Đồ trong những ngày đen tối khi Thầy đã  chết thảm thương, ô nhục trên Thánh Giá để được thấy “Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông” và ban Bình An Phục Sinh cho các ông (x. Ga 20,19); sau cùng, liệu tâm hồn chúng ta có luôn đủ khiêm tốn để như tông đồ Tôma sấp mình dưới chân Đức Giêsu, Đấng đã sống lại từ cõi chết mà tha thiết thân thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28) sau những lần chối từ Ánh Sáng phục sinh vì cứng lòng?

Jorathe Nắng Tím

----------------------------------
 

PS 1-ABC406: TÔI ĐẶT HY VỌNG VÀO ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH


Suy Niệm Tin Mừng Đại Lễ Phục Sinh
 

Tôi đặt trọn hy vọng vào Đức Giêsu chịu đóng đinh, người tôi trung của Thiên Chúa, Chứng Nhân PS 1-ABC406


TMĐP- Tôi đặt trọn hy vọng vào Đức Giêsu chịu đóng đinh, người tôi trung của Thiên Chúa, Chứng Nhân của Chân Lý… Và mãi mãi tôi hy vọng ở đâu và lúc nào, Thiên Chúa cũng sẽ chỉ hỏi tôi về tình yêu tôi dành cho Ngài

1/ Tôi đặt trọn hy vọng vào Đức Giêsu chịu đóng đinh, vì Ngài đã hoàn toàn tự do đi vào cuộc Thương Khó và Tử Nạn, khi nhiều lần loan báo cho các môn đệ  biết quyết định “phải đi Giêrsalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16, 21).

Tự do trước cái chết và Lời Hứa sống lại của Ngài cho phép tôi hy vọng: chết chỉ là một bước phải đi để vào cõi sống, vì chính Ngài đã mời gọi tôi “từ bỏ  tất cả, và liều mất  mạng sống mình vì Ngài” (x . Mt 10,37- 39), nên  trước những bất hạnh, đau khổ,  thiệt thòi, và  cái “trống không” đáng sợ của sự chết, tôi hiểu lời kêu goi từ bỏ mọi sự, kể cả mạng sống ấy chính là lời mời gọi  đi vào cõi sống đời đời với Ngài, vì như Phêrô, cả khi còn trai trẻ cường tráng, nhiêtt thành, năng nổ, cũng như lúc già nua yếu đuối, Ngài vẫn gọi ông “Hãy đi theo Thầy” (Mt 4, 19 ; Ga 21,22).

2/ Tôi hy vọng vào Đức Giêsu, người tôi trung của Thiên Chúa, vì Ngài “vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người thương yêu họ đến cùng” (Ga 13,1).

Lời hứa yêu thương đến cùng của Đức Giêsu không là lời hứa hão, hứa cho có, hứa cho qua chuyện, nhưng hiện thực bằng hành động xuống “tận cùng của mọi cùng tận”, khi qùy xuống rửa sạch, lau khô và hôn những bàn chân nhớp nhúa, xấu xí của các môn đệ, là phần “tận cùng” của thân xác, vì bàn chân gắn liền với đất cát, bùn nhơ, bụi bặm, chẳng thế mà lúc nào cũng che kín, giấu nhẹm bằng úp mặt xuống đất.

Đó là lý do niềm hy vọng được cứu rỗi nảy mầm trong tôi. Hy vọng ấy không chỉ nảy sinh từ tình yêu đến cùng, mà còn từ lòng thương xót ở tận cùng tội lỗi, mà dưới đôi mắt nhân hậu của Đấng Cứu Độ từ trên Thánh Giá, bất cứ tội nhân nào cũng đáng được thương xót, bao dung, như lời Ngài cầu xin cùng Chúa Cha trước khi gục đầu tắt thở: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).

Theo logic của trái tim Thiên Chúa làm người, yêu đến cùng, yêu tận cùng có nghĩa: cuối cùng chỉ còn lại tình yêu vô cùng ôm lấy tất cả mọi khốn cùng của nhân loại, bằng “phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá cứu chuộc” (Mt 20,28)

3/ Tôi hy vọng vào Đức Giêsu, Đầu của Thân Thể mầu nhiệm, nên dám hy vọng vào những người đi theo Ngài, dù lắm lúc tôi phải bực mình vì những thiếu sót, yếu đuối, tội lỗi của họ, bởi họ nói mà không làm, hay nói một đàng, làm một nẻo, hoàn toàn trái ngược nhau, mặc dù sứ vụ của họ là phải lên tiếng làm chứng sự thật, bênh đỡ người yếu thế, bảo vệ kẻ bị hàm oan; dù trách nhiệm của họ là người hướng đạo, ánh sáng, muối men, gương sáng cho mọi người.

Lý do và nền tảng của niềm hy vọng tôi đặt ở Chúa và nơi tập thể những nguời đi theo Chúa không do Chúa làm cho họ thành một tập thể được tuyển chọn, thuộc hàng khanh tướng; cũng không biến họ thành đoàn thể gồm những thánh nhân tài đức song toàn, trong sạch, thánh thiện, nhưng muốn họ làm thành một cộng đoàn của niềm Hy Vọng và lòng Thương Xót, khi ân cần căn dặn họ trước khi lên đường đi chịu chết: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ… Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy” (Ga 14,1-3), và trăn trối cho họ chỉ một điều:  “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34). Còn hơn thế nữa, những người thuộc về Ngài sẽ chỉ mang duy nhất một huy hiệu, một dấu chỉ để mọi người nhận ra họ, đó là họ yêu thương nhau. Ngoài ra không có dấu chỉ, hay huy hiệu nào khác để nhận diện họ là môn đệ của Đức Giêsu (x. Ga 13,35).

Nhờ niềm Hy Vọng và lòng Thương xót mà đoàn thể những người đi theo Đức Giêsu trên hành trình cùng mọi nguời không  thoái hoá thành pháo đài quyền lực, hay ốc đảo vinh quang, phú quý giữa đại dương nghèo hèn, cơ cực, bị đàn áp, bóc lột; không kiêu căng, ngạo mạn, kỳ thị, tẩy chay, loại trừ những người không thuộc phe nhóm, vùng miền, hàng ngũ với mình; trái lại, họ cùng mọi người làm thành cộng đoàn huynh đệ nâng đỡ nhau sống mầu nhiệm Thiên Chúa  trên đuờng về Nước Trời bằng chia sẻ niềm Hy Vọng và lòng Thương Xót. Bằng chứng là Đức Giêsu phục sinh đã hiện ra giữa cộng đoàn gồm những con người yếu đuối, nhát sợ, không ô dù che thân, không thế lực chống lưng, không tiền bạc đút lọt, mua chuộc như các Tông Đồ đã kín đáo tụ họp trong nhà và “các cửa đều đóng kín vì các ông sợ người Do Thái” (Ga 20,19).

Nhờ sống niềm Hy Vọng và lòng Thương Xót mà sự Hiệp Nhất trong cộng đoàn  được gìn giữ, phát huy, để không bao giờ cộng đoàn trở thành sào huyệt của ganh ghét, vu khống, quy chụp, lên án, “vì kẻ tố cáo anh em của ta, ngày đêm tố cáo họ trước toà Thiên Chúa, nay bị tống ra ngoài” (Kh 12, 10).

Vâng, tôi hy vọng vào Giáo Hội là đoàn thể những người đi theo Đức Giêsu. Vì được Đức Giêsu yêu thương như Hiền Thê, nên  Giáo Hội hằng được “thánh hoá và thanh tẩy bằng nước và lời hằng sống” để “có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn…” (Ep 5,26-27), với điều kiện Hội Thánh ý thức và sống niềm Hy Vọng, lòng Thương Xót, bởi ở ngoài niềm Hy Vọng là tin vào Lời Hứa, và lòng Thương Xót là thực thi lệnh truyền, Giáo Hội sẽ không tự đặt mình vào qũy đạo tình yêu thánh hoá và thanh tẩy của Đức Giêsu để được  trở nên Hiền Thê “thánh thiện và tinh tuyền” của Ngài (x. Ep 5, 27).

4/ Tôi hy vọng vào Đức Giêsu, Chứng Nhân của Chân Lý khi Ngài tuyên bố trước quan Philatô: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sư thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37), bởi từ nay sự thật được xây trên Con Người Đức Giêsu là Tình Yêu nhập thế, nhập thể, mà không dựa vào bất cứ uy quyền, thế lực, ảnh hưởng, luận chứng nào. Nói cách khác, sự thật sẽ không là sự thật bóc trần, đe dọa, đàn áp, khống chế, tiêu diệt, nhưng là sự thật giải phóng, chữa lành, sự thật đổi mới, thăng tiến, sự thật an ủi, ban bình an, vì sự thật là Ánh Sáng cho tôi thấy sự toàn mỹ và lòng tốt của Thiên Chúa bao phủ trên toàn thể tạo vật của Ngài.

Đàng khác, sự thật và tình yêu tương quan mật thiết, nên càng yêu nhau, người ta càng biết nhau; sự thật và tình yêu sánh vai trưởng thành, nên tình yêu giúp hiểu biết nhau thấu đáo, và sự thật giúp yêu nhau thắm thiết, nồng nàn.

Đức Giêsu là Tình Yêu (x. 1 Ga 4,8). Ngài cũng là “đường, sự thật và sự sống” (Ga 14,6), nên  đi với Ngài, “đứng về phía Ngài, nghe tiếng Ngài”, yêu mến, phụng sự Ngài (Ga 18,37), chắc chắn tôi sẽ không bao giờ phải thất vọng.

5/ Tôi hy vọng vào Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người đã sống lại với thân xác loài người, khi hiện ra “bằng xương bằng thịt” với bà Maria và gọi tên bà ngay bên mộ phần buổi sáng ngày thứ nhất trong tuần khi bà đi viếng mộ (x. Ga 20, 14- 16); khi làm khách bộ hành cùng đi với hai môn đệ trên đường từ Giêrusalem về Emmau và trò chuyện, chia sẻ, ăn tối với họ (x. Lc 24,13-35) ; khi đứng giữa các môn đệ và “cho các ông xem tay và cạnh sườn” còn rướm máu do đinh sắt và lưỡi đòng, lại còn “bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20,20.27) ; khi tỏ mình ra cho các ông ở biển hồ Tibêria, và  chuẩn bị “sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa” cho các ông (x. Ga 21, 9-10).

Tôi hy vọng vì ở bất cứ hoàn cảnh, tình huống nào, Thiên Chúa làm người vẫn luôn có mặt giữa con người, với mỗi người, bên cạnh từng người; tôi hy vọng vì  dù đã sống lại, Thiên Chúa làm người vẫn tỏ mình ra trong thân xác con người, mà không phủ nhận, từ chối thân xác hay hư nát; tôi hy vọng vì Thiên Chúa yêu con người, nên yêu cả thân xác mong manh, yếu đuối, vô số khuyết điểm, vô vàn tội lụy của con người; tôi hy vọng, vì Thiên Chúa làm người đã chọn thân xác con người từ trong lòng Đức Maria cho đến khi lên trời, mà không một ngày tháo bỏ, rời xa thân xác ấy; và niềm hy vọng ấy cho tôi thâm tín rằng “thân xác hèn yếu này ngày sau sẽ được sống lại”, vì Thiên Chúa làm người đã chọn cho mình thân xác loài người và đổi mới, thánh hoá thân xác để thân xác trở thành “đền thờ của Thiên Chúa”, và có khả năng yêu thương như Đức Giêsu đã yêu thương, phục vụ như Đức Giêsu đã phục vụ, dâng hiến mạng sống vì người mình yêu như Đức Giêsu đã tự nguyện chết để làm Của Lễ cứu chuộc  nhân loại (x.1 Cr 3,16 ; Ga 13,34 ; Mt 20,28).

6/ Tôi hy vọng vào Đức Giêsu phục sinh khi trên Thánh Giá đã kêu lên “Thế là đã hoàn tất!” Rồi Người gục đầu xuống và trút linh hồn” (Ga 19,30).

Ngài đã hoàn tất ý muốn và kế hoạch từ đời đời của Thiên Chúa Cha, Đấng “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến  thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,16-18).

Nhờ thế, tôi hy vọng đối tượng được Chúa Cha yêu thương và được Con Một  Ngài là Đức Giêsu cứu độ để khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời không là một nhóm, một tập thể,  một đội ngũ, ngay cả đó là đoàn thể những người “có đạo”, nhưng là “cả  thế gian”, “toàn thể nhân loại”. Bằng chứng là “Chúa Cha yêu thế gian” (Ga 3,16), chứ không yêu một phần thế gian, một vùng thế giới, một nhóm nhân loại.

Niềm hy vọng của tôi còn được củng cố nhờ sứ vụ “đến thế gian không phải để lên án, nhưng để thế gian được cứu độ” của Con Một Thiên Chúa. Sứ vụ thuần cứu độ ấy mở ra mọi lối ngõ to nhỏ cho mọi người không trừ ai, để mọi người đều có thể nhận ra Con Một của Ngài là Thiên Chúa và có khả năng tin vào Ngài là điều kiện để được cứu rỗi, như nguời gian phi cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu đã tin vào Ngài và được Ngài hứa cho vào Thiên Đàng, hứa cho làm công dân Nước Trời, làm con Thiên Chúa vào  giây phút cuối cùng của đời làm người: “Tôi bảo thật anh, ngay hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43).

Quả thực, tôi đặt hy vọng của tôi ở Thiên Chúa, Đấng “yêu cả thế gian, yêu toàn thể nhân loại”, và tôi có quyền vui mừng trong niềm hy vọng được vào Thiên Đàng với đông đảo anh chị em tôi, dù họ không là Kitô hữu, chưa lãnh nhận bí tích rửa tội, và không thuộc về Giáo Hội hữu hình, bởi ơn cứu độ của Thiên Chúa không thể bị giới hạn, khoanh vùng,  đóng khung, be bờ; ơn cứu sống  từ cái chết của Thiên Chúa làm người không thể chỉ hữu hiệu cho những  người “có đạo”; và càng không theo những chỉ dẫn sặc mùi  ích kỷ, nồng nặc ganh ghét, kỳ thị của những người không muốn ai vào Thiên Đàng ngoài mình và những người thuộc về mình.

Thánh Phaolô cũng cho tôi thấy niềm Hy Vọng vào ơn cứu độ phổ  qúat tuôn đổ trên cả thế gian là chính đáng, khi ngài viết về “thời gian tới hồi viên mãn” trong Đức Giêsu Kitô, Đấng “quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh” là Ngài (Ep 1,10). Điều này muốn nói lên rằng tôi phải tiếp tục cùng anh chị em tôi bước đi trên hành trình về Chân Lý mà chúng tôi không nắm bắt trọn vẹn, không hoàn toàn thấu hiểu.

Vì thế, khi gặp những người anh em thuộc các tôn giáo khác, tôi phải kính trọng và ân cần quan tâm, không chỉ vì đòi hỏi của phép lịch sự hay tinh thần cởi mở đối thoại, mà còn do ý thức: những người anh em không cùng tôn giáo ấy có thể mang đến cho tôi nhiều điều tốt đẹp cho cuộc hành trình đi tìm Chân Lý Đức Giêsu của tôi, như người anh em Phật giáo có thể giúp tôi học cách thăng hoa những đòi hỏi của “cái tôi”, và người anh em Hồi giáo giúp tôi khám phá sâu sắc hơn tính tuyệt đối của Thiên Chúa.

7/ Và mãi mãi tôi hy vọng ở đâu và lúc nào, Thiên Chúa cũng sẽ chỉ hỏi tôi về tình yêu tôi dành cho Ngài được thể hiện sống động qua tình yêu tha nhân và cụ thể bằng việc tận tụy phục vụ những anh em bé nhỏ nhất của Ngài mà tôi đang cùng sống ở đây và lúc này (x. Mt 25,31-46), như Đức Giêsu đã chỉ hỏi Phêrô: “Có yêu mến Thầy hơn các anh em này không?” (Ga 21, 15.16.17), và căn dặn các môn đệ Ngài duy nhất một điều: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34), bởi từ đời đời Thiên Chúa đã thông ban hạnh phúc cho muôn loài khi tạo dựng, vì Ngài là Tình Yêu, và “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một … để thế gian, nhờ Con Một của Người mà được cứu sống” (x. Ga 3,16-17), nên tôi không bao giờ phải thất vọng về một Thiên Chúa giàu lòng thương xót, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung”, trái lại, tôi tuyệt đối tin tưởng vào Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người đã  sống, đã chết và sống lại để tất cả chúng tôi, những người “cùng chết với Người sẽ được cùng sống với Người” (2 Tm 2,11) trong vinh quang và hạnh phúc đời đời Thiên Chúa dành cho những ai kiên tâm chịu đựng và trung tín trong tình yêu phục vụ như những “đầy tớ vô dụng” chỉ biết làm việc bổn phận của mình (x. Lc 17,10) khi được Ngài kêu gọi và sai đi.

Jorathe Nắng Tím

-------------------------------
 

PS 1-ABC407: CHÚNG TÔI ĐÃ THẤY VÀ CHÚNG TÔI ĐÃ TIN


Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Phục Sinh
 

Xin Chúa Kitô phục sinh cho chúng ta “được thấy và tin Ngài đã sống lại thật“ là hy vọng, phần PS 1-ABC407


 TMĐP- Xin Chúa Kitô phục sinh cho chúng ta “được thấy và tin Ngài đã sống lại thật“ là hy vọng, phần thưởng, và hạnh phúc đời đời cho những ai tin vào Ngài. 

Kinh nghiệm đức tin của Maria Mácđala là “thấy tảng đá đã  lăn ra khỏi mộ”, và Đức Giêsu phục sinh, mà bà tưởng là người làm vườn  đã gọi tên bà và nói với bà (x. Ga 20,1.16-17); kinh nghiệm đức tin của Phêrô và Gioan là nhìn vào trong mộ và thấy những băng vải, và khăn che đầu Đức Giêsu (x.Ga 20,5.6-7); kinh nghiệm đức tin của hai môn đệ trên đường Emmau là lòng họ “đã bừng cháy lên” khi nghe “Đức Giêsu nói chuyện và giải thích Kinh Thánh”, nhưng chỉ đến khi “đồng bàn với họ”, mắt họ mới mở ra và nhận ra Ngài (x. Lc 24,30-32); kinh nghiệm đức tin của Nhóm Mười Hai là được thấy “Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn” (Ga 20,19-20). Và tất cả những người “được kinh nghiệm “đều tin” Chúa đã sống lại thật!” (Lc 24,34).

Các bài đọc của chúa nhật Phục Sinh cho chúng ta gặp gỡ những người  được Thiên Chúa “tuyển chọn từ trước” để được thấy Ngài phục sinh, như sách Công Vụ Tông Đồ khẳng định:  “Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại.  Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết” (Cv 10,40-42).

Như thế, kinh nghiệm đức tin phải được dẫn đến niềm xác tín vào Đức Giêsu phục sinh, và đưa đến hành động “lên đường” làm chứng “Chúa đã sống lại như lời Ngài phán hứa!”, là sứ vụ của những ai “đã  thấy và đã tin”.

Quan sát những người đã “thấy Chúa phục sinh”, chúng ta nhận ra ở họ điều này, đó là họ đã thấy và đã tin. Nhưng rất lạ, không một ai trong họ sau khi đã thấy và tin đã giữ riêng cho mình, giấu diếm những gì họ đã thấy và Đức Giêsu, Đấng họ tin, nhưng kể cho mọi người, và loan báo khắp mọi nơi.

Maria Mácđala là người đầu tiên đã từ mộ vội vã chạy về gặp hai môn đệ Phêrô,  Gioan và báo tin cho các ông: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu” (Ga 20,2), để từ “tin khởi đầu rất bối rối” đó, các môn đệ  tiếp tục kể cho nhau rất nhiều  lần Đức Giêsu phục sinh đã hiện ra giữa các ông, và từ hơn hai ngàn năm nay Tin Vui: “Chúa đã sống lại!” (Lc 24,34), và  “chúng tôi đã được thấy Chúa!” (Ga 20, 25) vẫn tiếp tục được các thế hệ môn đệ Đức Giêsu nối tiếp nhau kể cho mọi người, ở mọi nơi, mọi thời cho đến ngày tận thế.

Thực vậy, người Kitô hữu là người được tuyển chọn để sống kinh nghiệm tương quan cha – con với Thiên Chúa, và nhờ kinh nghiệm “được thấy, được chạm vào, được nếm sự ngọt ngào của Chúa” mà đức tin vốn yếu đuối  được ăn rễ sâu và lớn lên mỗi ngày.

Chính nhờ đức tin vững mạnh được nuôi dưỡng bằng kinh nghiệm của tương quan thiết thân với Thiên Chúa, mà  sứ vụ làm chứng Thiên Chúa trước mọi người, bằng kể lại “những điều cao cả Ngài đã làm vì thương xót” (x. Lc 1 49-50) của người tín hữu mới có thể thực hiện cách hữu hiệu. Và đó là lý do người tín hữu chúng ta cần trân qúy những kinh nghiệm đức tin, vì rất cần thiết  cho sứ vụ truyền giáo, bởi người làm chứng có xác tín nhờ kinh nghiệm “gặp gỡ và  sống với” Đức Giêsu chịu đóng đinh và đã sống lại, thì lời chứng “Thiên Chúa yêu nhân loại vô cùng và đến cùng” của chúng ta  mới có sức thuyết phục.

Xin Chúa Kitô phục sinh cho chúng ta “được thấy và tin Ngài đã sống lại thật” là hy vọng, phần thưởng, và hạnh phúc đời đời cho những ai tin vào Ngài.

Jorathe Nắng Tím

--------------------------------------
 

PS 1-ABC408: Ông đã thấy và đã tin


(Suy niệm của Dã Quỳ)
 

Nào ta hãy mừng vui. Chúa đã sống lại thật rồi, Alleluia. Chúa đã chiến thắng tử thần, Alleluia. Hôm PS 1-ABC408


nay, chúng ta hân hoan mừng Lễ Chúa Phục Sinh. Niềm vui mừng này cần được trải dài trong suốt cuộc đời mỗi người Kitô hữu. Tin Mừng Phục Sinh sẽ là Tin loan trên môi miệng và trong cuộc sống của chúng ta. Đó chính là niềm tin vào Chúa Sống Lại không chỉ kiểm chứng qua ngôi mộ trống hay những lần Chúa hiện ra mà qua chính lời nói, hành động của Gioan, Phêrô, của các Tông đồ khác và của chúng ta.

Qua Tin Mừng, chúng ta đã biết trước khi Chúa bị bắt, hành hình và sau khi Chúa chết, các Tông đồ đã sợ hãi, thất vọng, buồn rầu và dường như đó là dấu chấm hết. Cả bầu trời của các ông như đêm đen! Các ông như cũng quên luôn những lời Chúa dặn dò trong các lần tiên báo về cuộc Thương Khó: "Con Người phải chịu đau khổ nhiều...bị giết chết và ngày thứ ba sẽ chỗi dậy."(Lc 9, 22) Thế nhưng, giờ đây niềm tin vào Chúa Phục Sinh đã bừng dậy trong Phêrô và Gioan. Những gì các ông thấy là tảng đã đã lăn ra khỏi cửa mồ, là ngôi mộ trống, khăn liệm và băng vải xếp ngăn nắp. Mặc dù các ông chưa gặp Chúa nhưng dấu chỉ này đã khơi lên trong trí các ông lời Kinh Thánh và chính Lời Chúa đã tiên báo. Tâm hồn các ông sáng lên niềm vui và hy vọng. Niềm tin Phục sinh đã cho các ông sống lại với Chúa. Tất cả sức sống mới của Chúa tuôn tràn trong các ông. Sự can đảm ra đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh trong hăng say của các ông đã minh chứng cho sự Phục sinh vinh hiển của Chúa.(x Cv 2, 14) Từ nay, cuộc đời của các ông chỉ còn sống và chết cho Chúa Kitô Phục Sinh bởi vì các ông "Đã thấy và đã tin" vào Đấng đã chết và sống lại vì các ông.

Hôm nay, theo bước các Tông đồ, cuộc sống của người Kitô hữu chúng ta cũng là một cuộc dấn thân cho Niềm tin Phục Sinh. Nếu không tin vào Chúa Giêsu Kitô đã Sống Lại, chúng ta không còn phải là Kitô hữu. Niềm tin mà chúng ta tuyên xưng trong Thánh Lễ: "Lạy Chúa Giêsu, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, chúng con tuyên xưng Chúa đã sống lại và chúng con chờ đợi Chúa sẽ đến trong vinh quang." cũng sẽ là niềm tin mà chúng ta cần sống cách thiết thực trong cuộc sống hằng ngày:

+ Chúa Phục Sinh mời gọi chúng ta sống vui tươi, hy vọng cho dù những khó khăn vẫn còn đó nhưng Chúa luôn đồng hành với chúng ta, Người hiện diện với chúng ta trong mọi nơi, mọi lúc và mọi hoàn cảnh của cuộc sống chúng ta. Và Người mong chúng ta biết đem niềm vui Phục Sinh đến với những ai đang buồn sầu, đem hy vọng cho những ai đang chán nản mất cậy trông.

+ Chúa Phục Sinh cũng muốn chúng ta nhận ra Chúa hiện diện trong từng anh chị em, nơi những người thân trong chính gia đình mình, nơi người bạn đồng nghiệp, nơi người bán hàng...trong những người ta gặp gỡ trên đường và nhất là trong những người nghèo khổ, đói rách bị gạt ra lề xã hội...Và Chúa mong chúng ta thể hiện bài học yêu thương phục vụ mà cả đời Người đã sống, đã dạy chúng ta, nhất là buổi học cuối cùng Người đã tha thiết nhắn nhủ "Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau"(Ga 13, 35) và "...anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em."(Ga 13, 14-15) Khi ta sống yêu thương phục vụ anh em, ta cũng sẽ nhận ra Chúa Phục Sinh trong chính khuôn mặt và đời sống của mình.

+ Chúa Phục Sinh mong chúng ta sống bình an. Niềm tin vào Chúa Phục Sinh và sự hiện diện của Chúa sẽ là niềm bình an đích thực trong chính chúng ta và sẽ được tỏa lan trong môi trường ta sống. Sau khi Sống Lại, Chúa không nhắc đến những gì là quá khứ như đau khổ, bị hành hạ, sỉ nhục...và Chúa cũng chẳng trách môn đệ hờ hững, kém tin... hay đã bỏ rơi, chối Chúa. Nhưng những gì Người nói và ban cho các ông luôn chỉ là "Bình an cho anh em!" (Ga 20, 19.21) Chúa biết rõ chúng ta yếu hèn, mong manh và hay lo lắng. Chúa biết điều chúng ta cần hơn cả là sự Bình An của chính Chúa. Đặt trọn niềm tin tưởng vào Chúa, chúng ta sẽ bình an. Khi bình an, tin tưởng, chúng ta sẽ sống hết tình hết mình vì Chúa và cho anh em.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã dùng Thánh Giá và sự Phục Sinh của Chúa để giải thoát chúng con, xin cứu độ chúng con. Xin ban thêm đức tin cho chúng con và mãi đồng hành cùng chúng con để chúng con biết hăng say sống và loan truyền Tin Mừng Phục Sinh. Amen.

--------------------------------
 

PS 1-ABC409: Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn


SỐNG THIỆN VÀ YÊU THƯƠNG MỌI NGƯỜI NHẬN RA CHÚA PHỤC SINH HẰNG NGÀY
 

Cả bốn Tin Mừng đều ghi nhận biến cố Chúa phục sinh xảy ra vào hôm sau ngày Sabát, tức ngày PS 1-ABC409


Cả bốn Tin Mừng đều ghi nhận biến cố Chúa phục sinh xảy ra vào hôm sau ngày Sabát, tức ngày thứ nhất trong tuần. Thánh Gio-an hôm nay kể: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến”. Tại sao bà ta "chạy", mà không đi vì chị thấy ngôi mộ mở và trống hoang! Bà hốt hoảng, thêm vào đó bà chưa gặp Đức Giêsu. Bà chưa tin Chúa phục sinh nên, bà chạy nhanh đi báo tin cho các môn đệ. Bà nói: "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”. “Bấy giờ, Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Simôn Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin”.

Rõ ràng khi thuật lại cảnh Phêrô đến thăm mộ, tác giả Luca nói rõ ràng rằng ông ta chỉ chứng kiến, nhưng trở về nhà rất đỗi ngạc nhiên, không hiểu gì hết” (Lc 24, 12). Còn Gioan hôm nay nói Phêrô thấy mọi sự trước mắt, và thấy cũng như thấy, không hiểu điều gì đang xảy ra. Gioan kể tiếp còn người môn đệ kia: "ông đã thấy và đã tin". Môn đệ kia là ai? Ông đã thấy những gì và tin ai? Người môn đệ kia đó là Gioan, ông đã chứng kiến cũng một sự việc như Phêrô, nhưng Phêrô không thấy và chưa tin, ngược lại ông thì thấy và tin. Và Thánh Gioan viết người môn đệ kia, cũng có ý nói với mỗi người chúng ta hãy đặt mình trước ngôi mộ trống ấy để thấy và tin Chúa đã sống lại. Vậy hôm nay, để thấy và tin Chúa đã phục sinh, chúng ta cần phải có đôi mắt của đức tin và con mắt của yêu thương. Vì yêu thương mà Gioan đã chạy nhanh hơn! Vì yêu ông là người đầu tiên đã tin Chúa phục sinh trước Phêrô và sau này trên bờ hồ Galilê đã nhận ra Đức Giêsu phục sinh trước Phêrô (Ga 21, 7).

Quả thế, Gioan đã yêu thương Chúa Giêsu và biết rằng Chúa cũng rất yêu thương ông. Tình yêu của ông được biểu lộ trong những giờ phút sau hết của Chúa Giêsu: Ông đã theo chân Chúa trên con đường thập giá cho đến phút cuối cùng và trở về nhà với Mẹ Maria sau khi đã chôn cất Chúa. Kinh nghiệm cho thấy khi thương ai, chúng ta luôn nghĩ đến người ấy, luôn cảm thấy sự hiện diện của người ấy trong cuộc đời mình, cho dù phải xa nhau về thể lý hay đã qua đời. Cho nên, khi còn sống, chúng ta trao nhau hình ảnh chân dung như một vật kỷ niệm để luôn nhớ người mình thương đang ở với mình. Còn khi qua đời thì thờ di ảnh nửa người, vì sao phải thờ nửa người mà không phải chân dung, vì ông bà dạy: “Nhìn mặt mà bắt hình dong”, chỉ cần nhìn mặt là nguyên cả người mình thương đang ở bên mình đồng hành với mình và nhớ lại từng lời nói, hành động của người mình yêu dù đã khuất nhưng vẫn còn ở bên ta. Với cái nhìn đó, Gioan đã dễ dàng nhận ra sự kiện Chúa đã sống lại: Ông đã thấy những hành động xếp khăn vải và kiểu cách xếp của Ngài khi xưa và ông đã tin. Những lo lắng trần gian như bà Mađalêna cứ mãi đi tìm xác chết nơi kể sống. Những suy tư lý luận của Phêrô chẳng đưa tới đâu, chỉ có tình yêu của Gioan mới dẫn ông mau chóng tin rằng Chúa Giêsu phục sinh đang hiện diện nơi đây.

Trong hành trình đức tin, chúng ta chỉ có thể cảm thấy sự hiện diện của Chúa phục sinh và chỉ có thể hiểu được mọi biến cố trong cuộc đời mình, nếu chúng ta noi gương Gioan, để cho lòng trí mình luôn tiến triển trên con đường tình yêu của Chúa. Vì chưng, Đức Giêsu sống lại là để đem lại cho chúng ta sự sống mới, và trở nên những con người mới mỗi ngày, như thánh Phaolô trong bài đọc 2 nói: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8, 11).

Vậy, để có một đời sống mới, một tinh thần mới, để trở nên con người mới, với một sức mạnh mới, chúng ta cần phải quyết tâm từ bỏ con người cũ là con người ích kỷ, tội lỗi, thói vô cảm và dững dưng trước nỗi khổ của tha nhân, để mặc lấy con người mới là con người sống thánh thiện, vị tha và yêu thương tha nhân. Vì vậy, trong Sứ điệp Mùa Chay năm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Một khi luật của Thiên Chúa, luật yêu thương, bị loại bỏ, thì luật mạnh được yếu thua sẽ thắng thế. Tội lỗi tiềm ẩn trong lòng con người (x. Mc 7, 20-23) mang hình dạng của thói tham lam và tìm kiếm an nhàn cách vô độ, thiếu quan tâm đến thiện ích của người khác và thậm chí của chính mình. Nó dẫn đến việc bóc lột thiên nhiên, cả con người lẫn môi trường, do sự thèm muốn vô độ vốn coi mọi ham muốn như một quyền và chẳng sớm thì muộn sẽ hủy diệt tất cả những gì nằm trong tầm tay của nó”. Cho nên, chỉ khi chúng ta sống thiện và yêu thương tha nhân, chúng ta nhận ra Chúa phục sinh luôn ở trong ta, làm cho ta mỗi ngày trở nên giống Chúa trong tư tưởng, lời nói và việc làm. Có như thế, việc sống lại của Đức Giêsu mới thật sự ích lợi cho đời sống Kitô hữu của ta. Vì vậy, Thánh Phaolô trong bài đọc đã dạy chúng ta rằng: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới. Thật vậy, anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa. Khi Đức Ki-tô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang” (Cl 3, 1-4).

Lạy Chúa Giêsu phục sinh, đã bao năm qua, chúng con mừng lễ Chúa phục sinh chỉ như kỷ niệm, một biến cố hoàn toàn quá khứ, chẳng ăn nhập gì tới đời sống cụ thể của chúng con. Vì thế, đã bao năm, chúng con chẳng có gì thay đổi. Nhưng năm nay, chúng con quyết tâm trở nên một con người mới, một con người sống thiện và thương yêu hết mọi người để được Chúa phục sinh ở lại trong chúng con hằng ngày. Amen.

-----------------------------
 

PS 1-ABC410: Niềm tin Chúa Phục Sinh đổi mới đời ta


(Suy niệm của Joshepus Quang Nguyễn)
 

Hôm nay, toàn thể Hội Thánh hân hoan kỷ niệm ngày Đức Giêsu phục sinh. Đây là một biến cố PS 1-ABC410


Hôm nay, toàn thể Hội Thánh hân hoan kỷ niệm ngày Đức Giêsu phục sinh. Đây là một biến cố vĩ đại, làm nền tảng cho niềm tin của chúng ta. Qủa thế, Thánh Phaolô nói: “Nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cr 15, 14); và “Nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1Cr 15, 17-19).

Ðể hiểu thấu mầu nhiệm Phục Sinh, chúng ta cần dừng lại thật lâu và sâu nơi ngôi mộ trống qua trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe. Điều đáng chú ý ở đây ngôi mộ chôn Chúa Giêsu là mới hoàn toàn, chưa chôn cất ai (Ga 19, 41). Ngôi mộ này của ông Giô-xép, người trong Thượng Hội Ðồng, và cũng là một môn đệ âm thầm của Ðức Giêsu. Ông đã đến gặp chính quyền để xin xác của Thầy mình và tẩm liệm cẩn thận. Ngôi mộ nằm im lìm như trăm ngàn ngôi mộ khác. Một tảng đá to ngạo nghễ che cửa mộ. Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà chạy về báo cho Phêrô và Gioan, hai ông liền chạy đến mộ, nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Tin cái gì? Tin rằng Chúa Giêsu, Thầy mình đã sống lại. Rõ ràng, từ ngôi mộ, từ tối tăm chết chóc và rữa nát, sự sống đã bật dậy, cửa mộ đã mở toang vì ngôi mộ không thể chứa được Ðấng đã Phục sinh.

Quả thật, Chúa Giêsu đã Phục Sinh, Ngài đã sống lại từ cõi chết. Ngài không sống lại một thời gian để rồi lại phải chết. Ngài hoàn toàn chiến thắng sự chết. Sự chết không còn làm gì được Ngài. Không định luật tự nhiên nào có thể chi phối được Ngài. Như vậy, sự Phục Sinh của Đức Giêsu đã trở nên nguồn mạch sự sống và là sự sống lại của mỗi người chúng ta. Cho nên, Chúa Giêsu xác quyết: "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết" (Ga 11, 25-26).

Đức Giêsu sống lại là để đem lại cho chúng ta sự sống mới, và trở nên những con người mới, ngay bây giờ và chính tại đây, như thánh Phaolô nói: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8, 11). Vậy, chúng ta chỉ có được sự sống mới sau khi chết đi con người cũ, có nghĩa là chúng ta phải dứt khoát từ bỏ con người cũ, là con người của ích kỷ, chỉ nghĩ tới mình, lo cho mình, chỉ quan tâm tới hạnh phúc và đau khổ của chính mình, không quan tâm gì tới ai. Đây chính là điều mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô cho là thói vô cảm toàn cầu hóa. Nếu chúng ta diệt trừ thói vô cảm này, nguyên nhân mọi tội lỗi, chúng ta mới có được sự sống mới. Vì vậy, Thánh Phaolô nói: “Nếu sống nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em thì anh em sẽ được sống” (Rm 8, 13).

Thánh Phaolô xác tín: “Con người mới là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa” (Ep 4, 24); đồng thời “phải đổi mới luôn luôn để nên giống như hình ảnh Đấng dựng nên mình” (Cl 3, 10). Vậy, để có một đời sống mới, một tinh thần mới, con người mới, với một sức mạnh mới, ta cần có một quyết tâm từ bỏ tính hư tật xấu và tội lỗi, để mặc lấy con người mới sự sống mới của Chúa Giêsu Kitô phục sinh: sống vị tha, sống yêu thương, sống cho, sống với, và sống vì tha nhân. Vì vậy, trong bài đọc 2, Thánh Phaolô kêu gọi: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới”. Có như thế, việc sống lại của Đức Giêsu mới thật sự ích lợi cho đời sống Kitô hữu của ta.

Hôm nay, Đức Kitô phục sinh đang tuôn đổ ơn lành xuống cho ta. Để đón nhận được ơn lành của Người, để Ngài biến đổi chúng ta nên người mới, một đời sống đức tin mới, chúng ta hãy luôn gắn bó với Chúa Giêsu phục sinh trong lúc vui, mọi nơi và mọi hoàn cảnh đồng thời biết dứt khoát với quá khứ tội lỗi để khiêm nhường sống niềm tin: “tôi tin xác loài người ngày sau sống lại với Chúa phục sinh” một cách quyết liệt và triệt để qua việc sống Lời Chúa hằng ngày. Vì vậy, mừng Chúa sống lại, mỗi người chúng ta cũng mừng sự sống lại của chính mình bằng cách đổi mới cách sống của mình để “Khi Đức Ki-tô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang”.

Xin cho mầu nhiệm Chúa Phục Sinh mà chúng ta kính nhớ hôm nay trở thành một động lực đổi mới cuộc đời chúng ta, để chúng ta đám sống, dám chết cho Chúa và cho nhau để ngày sau chúng ta cùng phục sinh vinh hiển với Chúa. Allêluia.

-----------------------------
 

 PS 1-ABC411: Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn


TIN VÀO SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚA GIÊSU SẼ MANG LẠI HẠNH PHÚC CHO CHÚNG TA
 

Chuyện kể rằng ngày 28.3 vừa qua, có một cụ già 70 tuổi ở Mỹ, sau khi điều trị bệnh viêm phổi PS 1-ABC411


Chuyện kể rằng ngày 28.3 vừa qua, có một cụ già 70 tuổi ở Mỹ, sau khi điều trị bệnh viêm phổi virút Corona, ông phải thở máy thở trong suốt thời gian điều trị, hôm nay ông khỏi bệnh và ra viện. Khi ra khỏi phòng bệnh, các y bác sĩ đưa ông tờ giấy xuất viện, ông cầm tờ giấy đi ra trước sân bệnh viện mà khóc nức nỡ, mọi người thấy vậy liền hỏi. Sao ông khóc? Ông không có tiền đóng viện phí hả? Hay ông không có con cháu đến đón ông? Ông trả lời: “Không, tôi khóc vì sau hơn 20 ngày tôi thở bằng máy, hôm nay tôi trở bằng khí trời mừng quá mà khóc, tôi khóc vì 70 năm qua tôi thở khí trời này mà tôi không cảm thấy quý nó, biết ơn Thiên Chúa đã trao ban cho con người, tôi không tin thờ Ngài và tạ ơn Ngài mọi ngày tôi có thở tự nhiên được. Tôi khóc vì hôm nay Chúa đã cho tôi được hít lại không khí tự nhiên này. Tạ ơn Chúa”.

Sau bốn mươi ngày chay tịnh, tuần thánh trong âm thầm tĩnh lặng hy sinh và cầu nguyện, hôm nay tiếng vui mừng Alleluia không ngừng vang lên trên môi miệng chúng ta. Tại sao chúng ta hát đi hát lại điệp khúc hân hoan ấy? Vì Đức Kitô đã chiến thắng tội lỗi và sự chết bằng việc Ngài đã thực hiện một phép lạ vĩ đại nhất: Ngài đã tắt thở nay được hít thở trở lại, tức Ngài sống lại từ trong kẻ chết? Niềm vui dạt dào ấy đã được thánh Phaolô diễn tả trong bài đọc 2 rằng Thiên Chúa đã cho Đức Kitô sống lại thế nào thì Ngài cũng sẽ dùng quyền năng để cho chúng ta được sống lại như vậy. Đó chính là một niềm an ủi tuyệt vời nhất, một ý nghĩ cao sâu nhất xuất phát từ ngôi mộ phục sinh: Nếu Đức Kitô đã sống lại, thì rồi đến lượt chúng ta, chúng ta cũng sẽ được sống lại.

Niềm tin vào sự sống lại trước hết chúng ta tin vào chính Chúa Giêsu đã sống lại từ lời chứng thực của các Tông đồ trong ngôi mộ trống hôm nay. Sau đó, chúng ta tin vào Lời Chúa đã nói nhiều lần để chứng tỏ tầm mức quan trọng của việc sống lại của chúng ta. Thực vậy, Phúc âm thánh Gioan đã viết: Giờ đến, khi mọi kẻ trong mồ nghe tiếng Ngài và bước ra. Những người làm lành sẽ sống lại để được sống. Còn những kẻ làm dữ sẽ sống lại để bị luận phạt…Thánh ý của Cha, Đấng đã sai Ta là: bất kỳ ai thấy Con và tin ở Ngài, thì có sự sống vĩnh cửu. Và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại ngày sau hết…Ai ăn thịt Ta và uông máy Ta, thì sẽ có sự sống đời đời. Cho nên, trước khi làm phép lạ cho Lagiarô sống lại, Ngài đã nói với Martha: Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta sẽ không chết, nhưng sẽ có sự sống đời đời. Con có tin không? Cô Mátta thưa: “Thưa Thầy con tin” và phép lạ đã xảy ra.

Chúng ta có thể suy ngắm về chính sự sống lại của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay để tìm thấy ở đó niềm tin hy vọng và ủi an cho chúng ta trong thời đại dịch bệnh này. Thực vậy, vào buổi sáng ngày thứ nhất, các bà đạo đức đi ra mồ để xức thuốc thơm cho thi thể Chúa. Vừa đi, các bà vừa thầm nghĩ: Ai sẽ lăn giùm tảng đá lấp cửa mồ? Tảng đá của chết chóc, đau khổ và tuyệt vọng. Ngôi mộ chính là trạm chót, để rồi sau đó sẽ chấm dứt cuộc sống cũng như tình thương, sẽ chấm dứt mọi ý nghĩ cũng như mọi ước mơ. Phải chăng đó là sự chấm dứt của chính con người? Thế nhưng, Đức Kitô đã phục sinh. Tảng đá nặng đã bị lăn qua một bên, bởi vì Ngài đã giải quyết được vấn đề từng làm cho chúng ta băn khoăn lo nghĩ: Sau cái chết, sẽ còn lại gì? Sự phục sinh của Ngài chính là bảo chứng cho lời Ngài đã phán: Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta sẽ không phải chết, nhưng sẽ có sự sống đời đời.

Từ khi Đức Kitô nghỉ yên trong ngôi mộ, thì ngôi mộ đã trở nên một cái gì thánh thiện đối với chúng ta. Và hơn thế nữa, kể từ khi Đức Kitô sống lại, thì tất cả chúng ta, những con người phải chết, sẽ chờ mong buổi sáng phục sinh huy hoàng. Nếu người không tin Đức Kitô, họ ghi trên bia mộ người chết rằng: Đây là nơi an nghỉ đời đời. Nhưng từ khi Đức Kitô Phục sinh, chúng ta tin vào Ngài thì phải ghi trên bia mộ rằng: Đây là nơi an nghỉ trong tin yêu và hy vọng. Cho nên, chúng ta thường thấy ghi nơi các nhà để tro cốt tại các nhà thờ dòng chữ: Nhà Vọng Phục Sinh là có ý đó.

Chúng ta chỉ là người bao lâu hồn còn kết hiệp với xác. Giữa hồn và xác luôn có một liên hệ mật thiết. Nếu hồn mà buồn thì nước mắt sẽ tuôn trào. Nếu hồn mà vui thì khuôn mặt sẽ rạng rỡ. Hơn thế nữa, hồn mà trong trắng đơn sơ thật thà thì xác sẽ là thánh và thiện, còn hồn mà đầy gian xảo mưu mô độc ác, gian dâm thì xác sẽ tội lỗi xấu xa. Vì vậy, hồn dự vào những hành động tội lỗi thì cũng phải có những hình phạt dành cho thân xác. Trái lại, nếu thân xác đã tham dự vào những hành động thánh thiện, thì cũng phải có những phần thưởng dành cho thân xác là hạnh phúc đời này và đời sau. Cũng như đức tin, chúng ta tin Chúa mà không bao giờ sống Lời Chúa và tuân giữ các điều răn Chúa dạy thì cũng như có xác mà không hồn, cũng như hít hở không khí mà không biết nó cần và quý cho sự sống cho chúng ta. Cho nên, Chúa Giêsu hôm nay sống lại là đem lại hơi thở là sự sống mới cho chúng ta bởi chúng ta đã chết phần xác phần hồn, chết sự thánh thiện, chết hạnh phúc, niềm hy vọng, sự an ủi và sự sống đời đời vì tội nguyên tổ, vì tội riêng ta phạm. Vậy, hôm nay Chúa sống lại, chúng ta cũng sống lại và sẽ sống lại trong ngày sau hết nếu chúng ta tin vào Chúa, sống và thi hành Lời Chúa. Đúng như Lời Chúa dạy: “Nếu Đức Kitô không sống lại thì niềm tin của anh em thật là hão huyền”

Đức tin của chúng ta đã không hảo huyền vì Đức Kitô Đức Kitô đã sống lại. Đó là xác quyết của Phêrô, Giacôbê, Gioan… và cả chúng ta là những người đã từng đi theo, đã cùng sống, cùng ăn, cùng ở với Đức Giêsu và cũng tin vào Chúa Giêsu như các thánh Tông đồ xưa. Hôm nay Đức Kitô đang sống và lời rao giảng của Người là sự thật. Và sự thật Đức Giêsu công bố chính là những nẻo đường dẫn tới sự sống, tới hạnh phúc đích thực. Vì thế, ai bước đi theo Chúa, tin Chúa và sống theo Lời Chúa, chắc chắn sẽ được sống dồi dào và được hạnh phúc, được an ủi, được lành thánh, được giải thoát khổ đau và được chữa lành. Với niềm tin đó, chúng ta tuyên xưng đức tin.

--------------------------------
 

PS 1-ABC412: Sao lại đi tìm người sống giữa kẻ chết?


(Bài giảng của Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc – Giám mục Giáo phận Mỹ Tho – trong Thánh lễ vọng Phục Sinh tại Nhà thờ Chánh Tòa Mỹ Tho)

MỪNG CHÚA PHỤC SINH

Anh chị em rất thân mến,
 

Chúa đã sống lại thật”, đó là niềm tin của chúng ta, đó là niềm tin của Hội Thánh. Chúng ta hân PS 1-ABC412


1. “Chúa đã sống lại thật”, đó là niềm tin của chúng ta, đó là niềm tin của Hội Thánh. Chúng ta hân hoan tuyên xưng đức tin ấy trong Thánh lễ đêm nay.

Nhưng chúng ta tuyên xưng như thế nào, để lòng mọi người rộn rã hân hoan? Chúng ta tuyên xưng như thế nào, để Ánh Sáng bừng lên trong bóng tối, bóng tối của tâm hồn còn nhiều tội lỗi của chúng ta, bóng tối của cuộc đời còn đầy những khó khăn và thử thách, bóng tối của xã hội còn tràn ngập những điều xấu xa và bẩn thỉu, bóng tối của thế giới còn bị đe doạ bởi bóng ma chiến tranh và chết chóc?

Chúng ta tuyên xưng như thế nào, để Ánh Sáng xoá tan u tối, để mọi xiềng xích bị bẻ gãy và con người được tự do đích thực?

Chúng ta chỉ có thể làm được như vậy với quyền năng vinh hiển của Thiên Chúa là Chúa Thánh Thần!

2. Chúng ta tuyên xưng trong tư cách của những người đã chịu Phép rửa, được mai táng trong cái chết của Đức Kitô, đang thừa hưởng sự sống mới, và sẽ được cùng sống lại với Người (x. Rm 6, 3-4). Chúa đã chiến thắng các tội ác, chiến thắng thần dữ và sự chết. Sự chết không cầm giữ được Người nữa, không có quyền gì trên Người nữa. Người đã sống lại và không còn chết nữa (x. Rm 6, 9).

Thần dữ và sự chết sẽ không làm gì được chúng ta, vì chúng ta được chia sẻ Thần khí Phục sinh của Chúa, Sức mạnh Phục sinh, Quyền năng vinh hiển của Thiên Chúa (x Rm 6, 3-5). Chúa Thánh Thần là “Chúa và là Đấng ban sự sống”. Ngài đã làm nên những điều kỳ diệu, Ngài sẵn sàng đổi mới mặt địa cầu. Chúa Thánh Thần chính là Quà tặng Chúa Phục sinh ban cho chúng ta.

3. Chúa Phục sinh đầy tràn Thần Khí của Thiên Chúa, đầy tràn Ánh Sáng và Tình yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Tình yêu. Yêu thương, chính là bản chất của Thiên Chúa và cũng là sức mạnh của Thiên Chúa. Điều kỳ diệu nhất mà Thiên Chúa đã làm trong lịch sử cứu độ, là làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết. Nơi biến cố Phục sinh của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã thể hiện tất cả quyền năng, biểu lộ trọn vẹn tình yêu của Ngài, một tình yêu bất diệt, luôn sinh ra tình yêu. Ngài nói với Chúa Giêsu Phục sinh: “Con là Con của Cha, Hôm nay Cha đã sinh ra Con!” (Lc 3, 23). Sự sống của Chúa Giêsu là sự sống của Chúa Cha, vì Chúa Cha là Thiên Chúa hằng sống. Mọi sự đều qua đi, chỉ có Thiên Chúa là bất diệt, chỉ có Tình yêu của Thiên Chúa là bất diệt! Anh chị em có dám tin như vậy không?

4. Bài Tin mừng Luca tường thuật việc mấy người phụ nữ ái mộ Chúa Giêsu đã đi thăm ngôi mộ của Chúa, mang theo dầu thơm, để xức cho thi hài của Chúa. Đến nơi, họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ, nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giêsu đâu cả (x. Lc 24, 1-3). Đang lúc các bà còn sợ hãi, thì có hai thiên sứ y phục sáng chói đã nói với các bà: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở nơi kẻ chết? Đức Giêsu không còn trong ngôi mộ nữa, Người đã trỗi dậy rồi!” (Lc 24, 5-6).

“Thiên Chúa đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết”! Đó là nội dung lời rao giảng của các thánh Tông đồ. Và đó cũng là sứ điệp từ trời! Sứ điệp sẽ được công bố cho mọi người để mọi người tin, và nhờ tin mà được cứu rỗi, được đón nhận Chúa Thánh Thần và được ơn tha tội. Chính vì thế mà Thánh Phaolô đã nói một cách rõ ràng trong thư Rôma: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (Rm 10, 10).

5. Sự Sống lại của Chúa Giêsu là một sự kiện lịch sử, vì đã xảy ra trong lịch sử. Người đã chết thật và đã được chôn cất trong một ngôi mộ, mà ngày nay vẫn còn di tích tại Thánh địa Giêrusalem. Người đã trỗi dậy, ra khỏi mồ, Người đã sống lại thật, đã hiện ra với các Tông đồ, và đã trao sứ mạng “Làm chứng” cho Giáo hội mà các ông là đại diện (x. Lc 2435-48; Mc 16, 9-15; Ga 20, 19-31). Chúa đã sống lại thật, và đã sống lại vĩnh viễn, sự chết không cầm giữ được Người. Người đã chiến thắng sự chết một cách vĩnh viễn (x. Rm 6, 9-10). Chiến thắng tử thần là “chiến thắng lớn nhất”, không còn có chiến thắng nào lớn hơn, bởi vì tử thần là kẻ thù đáng sợ nhất của loài người. Chính vì thế mà Phaolô dám nói một cách khiêu khích với “tử thần”: Tử thần hỡi, chiến thắng của ngươi đâu? Tử thần hỡi nọc độc của ngươi đâu? Tử thần có độc là vì tội lỗi!” (1Cr15, 55).

Nhưng Thiên Chúa đã ban cho ta “Ơn Tha tội” nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

------------------------------
 

PS 1-ABC413: Suy niệm canh thức Vượt Qua


(Lc 24, 1-12)

(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)
 

Sau đêm dài u tối và đau khổ, giờ đây là bình minh, với ánh mặt trời yếu ớt và từ từ rực sáng. Các PS 1-ABC413


Sau đêm dài u tối và đau khổ, giờ đây là bình minh, với ánh mặt trời yếu ớt và từ từ rực sáng.

Các môn đệ Chúa đang trong cơn thất vọng. Thầy chết rồi, đã an táng Thầy rồi… Chúng ta sẽ ra sao đây? Trong các ông, không có ông nào nhớ lời Thầy: “ngày thứ ba Thầy sẽ sống lại”.

Khi nỗi buồn quá nặng, những lời an ủi cũng chẳng đi đến đâu.

Các bà lo an táng Thầy hôm trước đang chuẩn bị dầu và đi đến mộ ướp xác Thầy cho tươm tất, vì hôm ấy, trời sẫm tối và mọi sự lộn xộn hấp tấp, chẳng đâu vào đâu. Hôm nay nếu họ ướp xác Thầy sẽ dễ dàng hơn.

Không ai nhớ lời Thầy đã nói. Nhưng đến mộ, họ đã thấy gì?

“Tảng đá đã lăn ra khỏi mộ… nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giêsu đâu cả”. Không ai có thể nghĩ một người chết có thể sống lại. Các bà này cũng thế thôi, họ tưởng rằng họ đang lo cho Ngài, giúp Ngài được an táng một cách tươm tất.

Khi thấy cửa mộ mở toang và không thấy xác Chúa Giêsu nữa, chúng ta nghĩ mấy bà phản ứng như thế nào? Thánh Luca chỉ nói: “Các bà đang phân vân”, nghĩa là chưa biết phải làm gì, thì hai người đàn ông, y phục sáng chói, đã can thiệp: “Sao các bà lại tìm người sống ở giữa kẻ chết? Người không còn ở đây nữa, nhưng đã chỗi dậy rồi”, tức là đã sống lại.

Bình minh đã tỏ rạng. Không còn tăm tối u buồn nữa. Nhưng không thể tin được! Sự kiện nầy vượt quá sự tưởng tượng của các bà. Để các bà có thể tin được, hai người kia nhắc: “Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Galilê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại”.

Bấy giờ các bà mới nhớ, mới bình tĩnh lại và tin.

Phải có thời gian để nối kết dĩ vãng với hiện tại. Chúa Giêsu muốn các tông đồ tin Ngài sống lại trước khi thấy Ngài. Ngài tôn trọng định luật tâm lý con người. Ánh sáng quá chói chang sẽ làm lòa mắt. Ngài hướng dẫn họ từng giai đoạn từ nghi ngờ đến niềm tin, từ cái mộ trống đến gặp gỡ: “ Tại sao lại tìm một người sống trong cõi chết nầy? Hãy nhớ lại những gì Người đã nói hồi ở Galilê”.

Không những nhớ lời nói và cả việc làm: người thanh niên con bà góa thành Nain, sống lại… Em bé con ông Giairô, sống lại… và mới đây Ladarô, chêt bốn ngày, sống lại. Bao nhiêu cuộc sống lại đó không mang một ý nghĩa nào sao? Không gợi lại một ý nghĩa nào trong óc của họ sao?

Có lẽ sau một lúc ngỡ ngàng, các bà đã tin. Họ về tường thuật lại cho các tông đồ, nhưng các ông không tin cho rằng các bà yếu bóng vía, sợ ma và nhiều chuyện. Xã hội Do thái không tôn trọng nữ giới cho lắm. Nhưng Phêrô cần kiểm tra.

Ra mộ, Phêrô đã nhìn thấy. “Ông rất đỗi ngạc nhiên”, thế thôi. Ông đã tin chưa? Luca không nói rõ, nhưng chắc chắn ông đang trên con đường đi đến đích. Niếm tin của ông dần dần rõ nét.

Còn chúng ta?

Niếm tin của chúng ta được hưởng nhờ niềm tin của các Tông đồ, những chứng nhân đích thực của sự phục sinh. Chúng ta không bị chao đão xao xuyến như các ngài. Chúng ta thật diễm phúc! Niềm tin của chúng ta quá dễ dàng, nhưng chính vì thế mà nó không khắc ghi trong chúng ta một ấn tượng nào. Và đó là một nguy cơ. Chúng ta không cần tìm kiếm, vì thế, niềm tin của chúng ta hời hợt, nông cạn, không ảnh hưởng mạnh mẽ trên cuộc sống chúng ta. Phải nhìn nhận rằng chúng ta tin, nhưng niềm tin của chúng ta có thực sự sống động không? Niềm tin đó đã tác động thế nào trên cuộc sống hằng ngày của chúng ta? Chúng ta có thể là những chứng nhân đáng tin cho Chúa phục sinh không?

Tin vào Chúa phục sinh là một sức mạnh có thể chuyển biến mọi sự: tư tưởng, hành động và mọi thực tại tầm thường nhất của cuộc sống.

Tin vào Chúa phục sinh là tin rằng mình đã phục sinh với Ngài và cuộc sống hôm nay, trong thực tế của mỗi ngày, đều hướng về Ngài, cho Ngài.

Đọc lại những lời của thánh Phaolô, chúng ta thấy Ngài sống với Chúa Giêsu như thế nào? Hoàn toàn xả thân, coi mọi sự là rơm rác, chịu đựng mọi sự gian khổ vì Ngài. Phaolô cũng như chúng ta, không thấy ngôi mộ trống, không chứng kiến Chúa hiện ra, có chăng là trước cửa thành Đamát, nhưng ngài đã tin mãnh liệt đến nỗi liều mất tất cả để đoạt được Chúa Giêsu mà thôi.

Chúng ta nghĩ rằng chúng ta không thể giống như các tông đồ hay Phaolô. Tại sao lại không? Chỉ vì chúng ta chưa tin hay tin nửa vời. Chúng ta không giống các ngài trên nhiều phương diện, nhưng niềm tin chỉ là một. Chúa Giêsu đã chết và sống lại cho các ngài cũng như cho chúng ta. Chúng ta cũng được hưởng hồng ân cứu độ như các ngài, sao chúng ta không dám sống cho Chúa? Sao chúng ta còn ham thế gian, chạy theo thế gian với những cái phù phiếm của nó?

Câu hỏi mà Chúa muốn đặt ra cho chúng ta là: con có tin không?

Một khi đã tin rằng Chúa Kitô đã chết và sống lại cho tôi, thì cuộc sống hôm nay phải là một cố gắng liên tục để nhường chỗ cho Chúa sống như Phaolô: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi mà là Chúa Kitô sống trong tôi”. Chúng ta nghĩ rằng, Thánh Phaolô là thánh còn tôi, tôi chưa đạt tới đỉnh như Ngài. Đúng, chúng ta chưa như Ngài, nhưng chúng ta có cố gắng không? Chúng ta có thực sự muốn sống với Chúa chúng ta thân thiết gần gũi như thế không?

Chúa Kitô đã sống lại thật, chúng ta không nghi ngờ gì nữa, nhưng chúng ta có thực sự là những người được thoát ách tội lỗi và đang sống làm một với Ngài không? Sự sống lại của Ngài có là một thực tế hiển nhiên qua cuộc sống chúng ta không?
Chúa đã chết và sống lại cho chúng ta, “để niềm vui chúng ta được trọn vẹn”, chúng ta dám cộng tác với Ngài để niềm vui của Ngài được trọn vẹn không?

Ngài chết và sống lại vì yêu thương chúng ta, chúng ta có yêu thương Ngài như Ngài đã yêu thương chúng ta không? Chúng ta không thể yên tâm khi chúng ta chưa đáp lại tình yêu của Ngài. Hãy để cho con tim chúng ta bị ray rứt mãi vì chưa yêu Ngài. Cái ray rứt đó chính là hồng phúc vì nó đưa chúng ta vào tình yêu. Thánh Âutinh đã nói: “Chúa đã tạo nên chúng con cho Chúa và tim chúng con luôn khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”.

Hôm nay, chúng ta sẽ ăn lấy Chúa và con tim của chúng ta chỉ còn là một với Ngài, thì chớ gì cuộc sống chúng ta cũng sẽ mãi là một với Ngài. Đó là thiên đàng ở trần gian. Chúng ta có biết hạnh phúc của chúng ta không?

------------------------------
 

PS 1-ABC414: Gioan thấy và tin


(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)
 

Hôm nay Giáo Hội vui mừng loan báo cho mọi người tin vui: CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI. Thánh đường PS 1-ABC414


Hôm nay Giáo Hội vui mừng loan báo cho mọi người tin vui: CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI.

Thánh đường rực rỡ hoa đèn diễn tả niềm vui thánh thiện nầy.

Chúng ta có vui không?

Chúng ta vui vì tiếng hát Alleluia vang dội, vì hoa đèn rực rỡ. Nhưng lòng chúng ta có rộn rã vui mừng không?

Niềm vui phục sinh không là niềm vui của tất cả mọi người. Mốt số người đến dự lễ, tâm hồn vẫn giá băng. Niềm vui phục sinh như niềm vui của ai đó, không phải là của họ. Tâm hồn họ xa lạ với bầu không khí hân hoan từng bừng quanh họ. Tại sao?

Vì họ xa lạ với Đấng phục sinh. Họ cảm thấy lạc loài giữa rừng người hân hoan ca hát Alleluia. Vì họ không chịu đóng đinh và chết với Chúa Kitô, họ không phục sinh với Ngài.

Niềm vui phục sinh chỉ dành cho những người đã chịu tử nạn và chết với Chúa Ki-tô mới biết rằng mình đã đi từ cái chết đến sự sống. Có chết đi mới có phục sinh.

Niềm vui phục sinh được khai nguyên từ cái chết: “Con Người phải đi qua đau khổ mới tới vinh quang”, “Nếu hạt lúa mì không thối đi nó vẫn trơ trọi, nhưng nếu nó thối đi, mới sinh nhiều bông hạt”.

Niềm vui phục sinh chỉ dành cho những người tin mãnh liệt vào một Thiên Chúa Tình Yêu, “dám chết cho bạn hữu” và sống lại để cứu vớt họ khỏi cái chết và mang lại sự sống, sự sống đích thực, là sự sống trong Ngài, làm con của Chúa Cha.

Chúng ta có thuộc về những người tin đó không?

Niềm vui phục sinh không phải chỉ là niềm vui bên ngoài: cười nói, ca hát, nhảy múa, … mà là một niềm vui sâu lắng trong tâm hồn, niềm vui của tình yêu, của sự hiệp thông.

Con người hôm nay chỉ tìm vui trong rượu mạnh, trong nhảy múa hát ca nhộn nhịp, trong hưởng thụ vật chất mà tâm hồn buồn chán đến chết được. Càng ca hát càng nhảy múa nhộn nhịp, họ càng cảm thấy tâm hồn trống trải không gì có thể lắp đầy được.

Chúng ta không cần ồn ào nhộn nhịp, niềm vui của chúng ta là tin vào tình yêu không biên giới, tình yêu của Thiên Chúa Tình Yêu.

Tại sao các thánh tử đạo dám liều mạng trong ngục tù, trong khổ hình? Tại sao các tu sĩ tự giam mình trong nếp sống khắc khổ nguyện cầu suốt đời? Phải chăng là họ đã tìm được niềm vui, tìm được tình yêu đích thực và sung mãn?

Phục sinh là đỉnh chóp của tình yêu, là sự toàn thắng của tình yêu: “Ngài đã yêu tôi và đã liều mạng cho tôi”.

Nguồn suối của niềm vui phục sinh là thế đó. Niềm vui trần thế vụt đến rồi vụt đi, để lại cho con người tiếc nuối khôn nguôi và lắm khi là tuyệt vọng: “Bộ mặt thế gian nầy qua đi”.

Niềm vui của Chúa tồn tại qua mọi biến chuyển, mọi đau khổ trần thế.

Niềm vui của Chúa sẽ chiến thắng mọi khổ đau: “Chúng con đừng sợ, Thầy đã thắng thế gian”… Thầy đến để niềm vui chúng con được trọn vẹn”.

Chúng ta đã tìm được kho tàng mà trần gian không tìm được. Hạnh phúc của chúng ta là biết rằng Chúa chúng ta đã sống lại và sự chết không còn quyền gì trên Người nữa. Sự sống hôm nay là sống trong Ngài, trong ánh sáng phục sinh của Ngài.

Trần gian, với tất cả những chuỗi dài đe dọa, khổ đau, bệnh tật, gian ác, không thể nào cướp mất niềm vui của chúng ta, vì “chúng ta được chôn táng trong Chúa và sự sống của chúng ta được ẩn giấu trong Ngài”.

Chúng ta thật diễm phúc!

Các Tông đồ không được như chúng ta. Họ phải trải qua một tiến trình đau đớn. Phêrô kinh nghiệm sự yếu đuối và hèn nhát của mình. Các Tông đồ khác lo sợ, chạy trốn. Họ chứng kiến cuộc khổ nạn và cái chết thê thảm của Ngài. Họ phải trải qua sợ sệt, đau khổ, có khi là tuyệt vọng.

Khi Thầy sống lại, họ phải tìm kiếm trong lo âu, trong ánh sáng mù mờ của bình minh còn yếu ớt. Họ phải hoài nghi, bấp bênh…

Maria Macđala, sáng tinh sương, chỉ thấy cái mồ trống và không thấy xác Thầy. Simon Phêrô kiểm chứng chỉ thấy một khăn liệm xếp lại ngăn nắp, nhưng cũng không thấy Thầy. Niềm tin của ông còn chập choạng, mong manh.

Thánh Gioan cho chúng ta thấy: Maria Macđala chạy. Chạy vì hấp tấp, vì sự trầm trọng của biến cố. Phêrô và Gioan cũng chạy. Gioan chạy nhanh hơn. Tại sao phải chạy?

Chúng ta làm gì khi nghe biết nhà chúng ta đang cháy?

Sau cùng, Gioan “đã thấy và đã tin”. Ông thấy một điều (khăn liệm và mồ trống) và ông tin một điều khác: Thầy đã sống lại.

Hôm nay, chúng ta “loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”.

Biến cố phục sinh vừa là kết thúc một giai đoạn, là công trình cứu độ, vừa là khởi điểm cho một tương lai bất tận: sự sống lại của chúng ta.

Ánh sáng của Chúa phục sinh là ánh sáng soi đường cho chúng ta. Chúng ta đang đi trong ánh sáng. Đừng để ánh sáng ấy mờ đi. Đừng để cho hình ảnh của Ngài phai nhòa trong tâm khảm chúng ta.

Đừng để cho niềm vui phục sinh vụt tắt, nhưng hãy giữ cho nó sáng mãi và trở nên niềm hy vọng hướng dẫn cuộc sống hôm nay, thấm sâu vào những công việc tầm thường nhất.

Hãy là nhân chứng đáng tin cậy cho Chúa phục sinh bằng một đời sống bình thường nhưng tươi sáng, nhẹ nhàng, tràn đầy yêu thương. Hãy đem niềm vui phục sinh cho những người không may mắn, những người đang tủi buồn cô đơn, những bệnh nhân không còn hy vọng, những nạn nhân của bất công, hận thù.

Chúa đang hẹn một ngày gặp gỡ trong vinh quang. Vinh quang bắt đầu từ hôm nay trong tin yêu và sẽ kết thúc trong tin yêu.

Nơi bàn thờ hiến tế, cũng Chúa Giêsu đó, Đấng đã sống, đã chết và đã sống lại trong vinh quang; Đấng trở thành nguồn sống bất diệt cho chúng ta. Ngài đến nuôi dưỡng niềm vui của chúng ta bằng cách cho chúng ta ăn lấy Thịt Máu Ngài “để niềm vui của chúng ta trọn vẹn”.

Hãy tiếp đón Ngài và dành cho Ngài quyền ưu tiên tuyệt đối trong cuộc sống hôm nay của chúng ta. Alleluia.

-------------------------------
 

PS 1-ABC415: Suy niệm Thứ Bảy Vọng Phục Sinh


(Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành)
 

Ngày thứ Bảy tuần thánh, Giáo Hội dừng chân trước mộ Chúa Giêsu để suy niệm về cuộc khổ PS 1-ABC415


Ngày thứ Bảy tuần thánh, Giáo Hội dừng chân trước mộ Chúa Giêsu để suy niệm về cuộc khổ nạn đau thương của Ngài. Chính vì vậy, Giáo Hội gọi ngày thứ Bảy tuần thánh là ngày thầm lặng.

Theo cái nhìn của loài người thì đây là ngày buồn nhất trong năm. Không khí đượm màu tang tóc. Vì Chúa Giêsu đã chết, được an táng trong mồ. Nhưng như lời Chúa Giêsu đã tiên báo “Sau ba ngày Ngài sẽ sống lại” (x. Mc 8, 31; Mc 9, 31; Mc 10, 33- 34). Vì vậy, Giáo Hội tưởng niệm cái chết của Chúa trong niềm hy vọng phục sinh. Chính đêm nay, niềm hy vọng phục sinh đã bừng lên trong toàn thể Giáo Hội. Đức Kitô đã chiến thắng sự chết. Ngài đã sống lại, đó là niềm vui, niềm hy vọng và là nền tảng niềm tin của tất cả mọi người kitô hữu chúng ta. Bởi vì, Giáo Hội đã được khai sinh từ mầu nhiệm trọng đại này, và đó cũng là đích điểm của mọi người kitô hữu chúng ta.

Lễ nghi đêm nay bắt đầu bằng nghi thức thắp nến phục sinh. Toàn thể thế giới nằm trong bóng tối, và đang mong đợi ánh sáng, nhân loại đang trông chờ ơn giải thoát. Chủ tế bắt đầu nghi thức làm phép lửa và thắp lên cây nến phục sinh. Cả nhà thờ đang tối tăm, bổng ánh sáng phục sinh chiếu soi lan toả. Ánh sáng phục sinh tượng trưng cho Chúa Kitô đã sống lại. Chúa Kitô đến xua tan bóng tối tội lỗi, sự chết, sự thất vọng, để đi vào sự sống bất diệt. Trong lời nguyện làm phép lửa, Giáo Hội cầu xin Thiên Chúa cho ngọn lửa khao khát nước trời thiêu đốt tâm hồn các tín hữu và thanh tẩy muôn vàn tội lỗi, để mai sau họ được xứng đáng tham dự ánh sáng ngàn thu.

Trong đêm nay, mỗi người kitô hữu chúng ta đều cầm nến sáng được thắp từ cây nến phục sinh, tượng trưng cho ánh sáng Chúa Kitô. Chính vì vậy, đời sống của mỗi người chúng ta phải chiếu sáng cho những người xung quanh. Khi đứng cầm nến sáng trong tay, Giáo Hội còn nhắc nhở chúng ta phải có thái độ tỉnh thức, sẵn sàng để đón chờ Chúa Kitô ngự đến trong ngày chung thẩm.

Trong phần công bố Tin Mừng Phục sinh, Giáo Hội kêu mời mọi người kitô hữu chúng ta “Hãy vui lên”. Vui lên vì Chúa đã khải hoàn. Vui lên vì Chúa đã chiến thắng thần chết. Vui vì:

Đêm cực thánh khử trừ muôn tội vạ,
đêm vạn năng thanh tẩy hết lỗi lầm,
biến tội nhân thành con người công chính,
đem vui mừng cho hồn nặng sầu thương.

Trong phần phụng vụ Lời Chúa, Giáo Hội cho chúng ta đọc 9 bài sách thánh: 7 bài Cựu Ước, 1 bài Thánh Thư và một bài Tin Mừng. Tất cả các bài đọc hôm nay, giúp chúng ta suy niệm về chương trình ơn cứu độ của Thiên Chúa theo dòng lịch sử từ thời Cựu Ước sang thời Tân Ước. Việc Thiên Chúa yêu thương tạo dựng muôn loài, nhất là tạo dựng con người giống hình ảnh của Ngài (Bài đọc I). Đến việc ông Apraham vâng lệnh Chúa sát tế người con duy nhất của mình là Isaac, chính vì sự vâng phục này mà ông được gọi là “Cha của kẻ tin”. Ông còn được Chúa chúc phúc để trở thành cha của một dân tộc đông đúc như sao trên trời, như cát dưới biển. Việc sát tế này là hình ảnh tiên báo việc sát tế Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa sau này (Bài đọc II).

Rồi đến sự kiện dân Do Thái đi qua biển đỏ khô chân và được bình an. Đó là hình ảnh của cuộc giải thoát mới do công trình cứu độ của Đức Kitô. Đó cũng là cuộc giải thoát dân Do Thái khỏi kiếp nô lệ đến vùng tự do (Bài đọc III).

Khi dân Do Thái đang sống trong kiếp lưu đày tại Babilon, vì đã bất trung với Thiên Chúa, nhưng họ đã sám hối nên Chúa lại tha thứ cho họ. Rồi Chúa lấy lòng nhân từ vô biên qui tụ họ lại để họ vui hưởng nền hoà bình lâu dài (Bài đọc IV).

Chính tiên tri Isaia đã loan báo một thời thịnh đạt mà Israel sẽ vui hưởng, thời kỳ mà Thiên Chúa sẽ ký kết một giao ước vĩnh cửu với những hồng ân mà Ngài đã hứa với Đavít. Chính điều này sẽ được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô (Bài đọc V).

Nhưng dân Do Thái đã bỏ Chúa đi tôn thờ thần tượng, phạm đủ thứ tội nên họ bị lưu đày. Tiên tri Êzekiel đã chọ họ biết như vậy. Nhưng rồi Chúa sẽ qui tụ họ về, thanh tẩy họ, ban cho họ một quả tim và một thần trí mới để họ thực thi huấn lệnh Ngài (Bài đọc VI).

Bài đọc Thánh Thư dẫn chúng ta vào ý nghĩa của bí tích Rửa Tội. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta đã chịu Phép Rửa Tội, tức là chúng ta cùng chết với tội và chết cho Chúa Kitô để được sống lại với Người (x. Rm 6, 3-11).

Đó cũng là mong muốn của Giáo Hội mời gọi mỗi người chúng ta tuyên thệ lại lời hứa khi chịu Phép Rửa Tội trong phần Phụng Vụ Thánh Tẩy. Nhờ cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu mà chúng ta được khỏi tội. Cho nên, qua nghi thức này, Giáo Hội nhắc nhở chúng ta hãy hiên ngang dấn thân theo Chúa và trung thành phụng vụ Người. Hãy chết đi cho tội, cho ích kỷ, cho những gì làm cho chúng ta xa Chúa, để luôn sống xứng đáng thân phận làm con Chúa và Giáo Hội.

Cuối cùng, bài Tin Mừng Thánh Luca tường thuật về sự kiện ngôi mộ trống và việc Chúa Phục Sinh hiện ra với bà Maria Mađalêna. Đây là sự kiện đầu tiên và hết sức quan trọng cho niềm tin Phục Sinh của cộng đoàn Kitô hữu sơ khai và cho mỗi người qua mọi thời đại.

Mừng vọng phục sinh đêm nay, chúng ta cảm tạ tình thương bao la của Chúa. Đồng thời để đáp lại tình thương đó chúng ta quyết tâm sống cho Chúa và chết cho tội, để cùng Người sống lại vinh quang. Xin Thánh Thể Chúa Giêsu mà chúng ta cử hành trong phần cuối cùng của đêm nay luôn đồng hành, dưỡng nuôi tâm hồn chúng ta trên con đường về với Ngài. Amen.

-----------------------------
 

PS 1-ABC416: Suy niệm Chúa Nhật Phục Sinh


(Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành)
 

Chúa đã phục sinh. Đó là nền tảng của niềm tin và niềm hy vọng của mỗi người kitô hữu chúng


Chúa đã phục sinh. Đó là nền tảng của niềm tin và niềm hy vọng của mỗi người kitô hữu chúng ta.

Thánh Phaolô đã nói rất chí lý rằng: “Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Ki-tô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1Cr 15, 17-19). Vì thế, Ngài khẳng định rằng: “Nhưng không phải thế! Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu” (1Cr 15, 20). Vậy, trong ngày trọng đại hôm nay, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về những bằng chứng của niềm tin vào Chúa Kitô Phục sinh và cố gắng sống niềm tin đó trong cuộc sống của chúng ta.

1. Niềm tin Phục sinh bắt đầu bằng Ngôi mộ trống

Ngôi mộ trống là yếu tố đầu tiên mà người ta gặp thấy sau khi Chúa Kitô chịu chết và táng xác. Tự nó, đây không phải là một chứng minh trực tiếp. Bởi vì, yếu tố không còn xác Chúa Kitô trong mộ có thể giải thích cách khác (x. Ga 20, 23; Mt 28, 11-15). Dầu vậy, ngôi mộ trống đã là một dấu lạ đối với mọi người. Việc các môn đệ phát hiện sự kiện này đã là bước đầu cho việc nhận ra chính sự kiện Phục sinh: Đó là trường hợp của các phụ nữ thánh thiện (x. Lc 24, 3.22-23), rồi của Phêrô (x. Lc 24, 12). “Môn đệ của Chúa Giêsu thương yêu” (Ga 20, 2) khẳng định rằng khi vào trong mộ trống và “phát hiện ra các dải vải còn để đó”, Tin mừng cho biết rằng “Ông đã thấy và đã tin” (x. Ga 20, 8). Điều này giải thích rằng ông đã thừa nhận trong tình trạng ngôi mộ trống là sự thiếu vắng thân xác của Chúa Giêsu không thể là việc của loài người, và Chúa Giêsu đã không chỉ đơn thuần trở lại cuộc sống trần gian như trường hợp ông Lazarô (x. GLHTCG, số 640). Như vậy, qua các dự kiên trên đây cho chúng ta khẳng định rằng: Ngôi mộ trống là bằng chứng Chúa đã Phục sinh.

2. Niềm tin Phục sinh dựa vào những lần hiện ra của Chúa Giêsu

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu Phục sinh đã hiện ra nhiều lần, nhiều nơi và với nhiều người. Đặc biệt, Ngài hiện ra với các môn đệ, cùng ăn cùng uống với họ (x. Cv 10, 41). Trước hết, Tin mừng cho biết, Ngài hiện ra với Maria Mađalêna và các phụ nữ khác (x. Ga 20, 11-18). Sau đó, Ngài hiện ra với ông Phêrô, với nhóm Mười Hai, với hai môn đệ đi đường Emmau, với hơn năm trăm người, và với Giacôbê. Thánh Phaolô kể rõ ràng rằng: “Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Gia-cô-bê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non” (1Cr 15, 5-8). Những lần Chúa Giêsu Kitô hiện ra trên đây sau khi Ngài chịu nạn chịu chết trên Thánh giá là bằng chứng cho chúng ta thấy Chúa đã Phục sinh.

3. Niềm tin Phục sinh dựa vào thái độ của các tông đồ và các kitô hữu đầu tiên trước và sau khi Chúa Sống Lại

Sau buổi chiều ngày thứ sáu, một bầu khí u ám, thất vọng nơi các Tông đồ và những người theo Chúa bấy lâu nay. Còn đâu những lời giảng dạy như Đấng có uy quyền (x. Mt 1, 22). Còn đâu những phép lạ như: Phép lạ hoá bánh ra nhiều, gió yên biển lặng, kẻ què đi được, kẻ điếc được nghe, kẻ câm nói được, kẻ chết sống lại… Những hy vọng nơi Thầy Giêsu đã tan thành mây khói. Họ nghĩ rằng thế là hết. Tất cả đã chấm dứt. Vì vậy, một số trong các môn đệ trở lại nghề cũ, một số khác bỏ trốn về quê…

Thế rồi, sau khi thấy Chúa Phục Sinh, thái độ của họ thay đổi hoàn toàn. Bà Maria Mađalêna vội vã chạy về báo tin cho các Tông đồ. Phêrô và Gioan vội vã ra mồ. Khi thấy mọi sự trong mồ được xếp đặt gọn gàng, Gioan nhớ lại những lời Kinh thánh và ông đã tin. Hai môn đệ đi đường Emmau khi đã gặp Chúa Phục sinh, vội vã trở lại báo tin cho các Tông đồ khác.

Trước đây Phêrô đã nhát gan chối Chúa ba lần, nhưng giờ đây ông đã mạnh dạn rao giảng Tin mừng không biết mệt mỏi, không sợ quyền thế. Chính ông đã khẳng khái nói: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm”(Cv 5, 29).

Khi Chúa Phục sinh hiện ra bảo Tôma xỏ ngón tay vào lỗ đinh và cạnh sường Người, ông đã tuyên xưng: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con”(Ga 20, 28).

Tóm lại, khi nhận ra Chúa Kitô đã sống lại thật, các môn đệ đã mạnh dạn rao giảng Tin mừng và sẵn sàng chết để làm chứng cho niềm tin của mình.

4. Niềm tin Phục sinh giúp gì cho chúng ta

1) Niềm tin Phục sinh giúp chúng ta vượt qua được thử thách, đau khổ:

Dịp Mùa Chay vừa qua, tôi có dành thời gian đi thăm những người già cả, ốm đau, bệnh tật. Tôi gặp một cụ bà đã trên 80 tuổi, nằm liệt giường hơn chục năm nay. Dầu vậy, tôi thấy tâm trạng của cụ luôn điềm tĩnh và bình an. Cụ tâm sự với tôi: “Suốt mười mấy năm qua, nhiều lúc con đau đớn lắm. Nhưng mỗi lần cơn đau hoành hành, con nhìn lên Thánh giá Chúa và tự nhủ mình rằng, Chúa cả trời đất, không có tội lỗi gì mà Ngài còn phải trải qua đau khổ mới tới ngày Phục Sinh. Phần con, là kẻ tội lỗi đáng phải chịu đau khổ trăm ngàn lần nữa. Suy nghĩ như thế, nên con cố gắng chấp nhận đau khổ để ngày sau cùng được phục sinh với Chúa”. Tôi thăm một bệnh nhân khác, đó là một chàng thanh niên 23 tuổi, bị liệt toàn thân do một vụ tai nạn xe máy. Anh vui vẻ kể lại cho tôi nghe vụ tại nạn xảy ra cách đây gần một năm. Tôi hỏi anh: “Từ một thanh niên khoẻ mạnh, bây giờ phải nằm liệt giường như vậy, con cảm thấy như thế nào?” Anh trả lời một cách xác tín rằng: “Chúa gửi thập giá tới thì phải vui lòng vác thôi Cha. Con hy vọng cùng chịu đau khổ với Chúa để ngày sau được gặp Ngài trên Thiên Đàng”. Đúng là câu trả lời của một người có niềm tin thực sự. Niềm tin có Chúa, niềm hy vọng vào sự Phục Sinh.

Thật vậy, nếu chúng ta biết nhìn lên Thánh giá mà nhớ lại rằng: Chính Đức Giêsu Kitô cũng đã trải qua đau khổ, thất bại, đòn vọt, chịu đội mạo gai và chết nhục nhã trên Thánh giá mới bước vào vinh quang Phục sinh. Những lúc đó, ánh sáng Phục Sinh sẽ len lỏi vào cõi lòng của chúng ta. Niềm hy vọng Phục sinh sẽ vụt lên trong tâm hồn của chúng ta, giúp chúng ta vượt qua được những thử thách, đau khổ trong cuộc sống.

2) Niềm tin Phục sinh giải thoát chúng ta khỏi tội: Thánh Phaolô mời gọi chúng ta: “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Cl 3, 1). Tìm kiếm những gì thuộc thượng giới là gì nếu không phải là tâm trí luôn hướng về niềm hạnh phúc Thiên Đàng. Khi chúng ta nghĩ tới hạnh phúc Thiên Đàng, nghĩ tới sự sống lại, chắc chắn chúng ta sẽ chống trả được những cơn cám dỗ, tránh xa được những thói hư tật xấu, đam mê tội lỗi. Nếu có sa ngã phạm tội thì nhờ hướng tới hạnh phúc Thiên Đàng mà chúng ta quyết tâm thống hối ăn năn và đi xưng thú tội lỗi của mình để làm hoà cùngThiên Chúa.

3) Niềm tin Phục sinh giúp chúng ta biết sống tha thứ, yêu thương mọi người hơn: Khi chúng ta bị bỏ vạ cáo gian, bị đánh đập, bị ghét bỏ, bị lên án, bị đối xử tệ bạc bất công, chúng ta không phàn nàn kêu trách, không trả thù, trái lại yêu thương, cầu nguyện, lấy ơn đền oán là chúng ta đang hướng tới sự Phục sinh của Chúa.

Như vậy, niềm tin vào sự Phục sinh rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi người chúng ta. Tin vào sự Phục sinh sẽ giúp chúng ta vượt qua được mọi đau khổ; chống trả được các chước cám dỗ; giải thoát khỏi tội lỗi; dễ dàng chấp nhận những thiệt thòi mà người khác gây nên cho mình. Tin vào sự Phục sinh giúp chúng ta cố gắng sống tốt hơn, tha thứ và yêu thương mọi người hơn.

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, Chúa đã từng mời gọi mọi người rằng: "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Hễ ai sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ"(Ga 11, 25). Xin cho mỗi người chúng con luôn xác tín vào sự Phục Sinh của Chúa để sống niềm tin đó ở đời này và ngày sau được Phục sinh với Chúa trên Thiên Đàng. Amen.

--------------------------------
 

PS 1-ABC417: Chúa Nhật Phục Sinh


(Suy niệm chú giải Lời Chúa của Lm. Inhaxiô Hồ Thông)
 

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật Phục Sinh tập trung vào biến cố Phục Sinh của Đức Giê-su, vì thế PS 1-ABC417


Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật Phục Sinh tập trung vào biến cố Phục Sinh của Đức Giê-su, vì thế, bỏ qua Bài Đọc Cựu Ước quen thuộc để nhường chỗ cho Tân Ước. Sau khi Đức Giê-su đã hoàn tất Kinh Thánh, Giáo Hội không còn lý do gì quan tâm đến những bản văn tiên báo. Khởi đi từ lễ Phục Sinh cho đến lễ Ngũ Tuần, Bài Đọc I được trích dẫn từ sách Công Vụ Tông Đồ. Đây là một truyền thống xa xưa lên đến tận thế kỷ thứ tư.

Cv 10: 34a, 37-43

Đoạn sách Công Vụ nhắc chúng ta nhớ rằng đức tin của chúng ta vào Đức Ki-tô Phục Sinh dựa trên lời chứng của các Tông Đồ. Chính lời chứng của thánh Phê-rô, vị lãnh đạo của Giáo Hội, được nêu bật trong đoạn sách Công Vụ nầy.

Cl 3: 1-4

Đoạn trích thư gởi tín hữu Cô-lô-xê dẫn đưa chúng ta vào trung tâm mầu nhiệm Phục Sinh, mở ra cho chúng ta những chiều kích thần học của biến cố này.

Ga 20: 1-9

Sau cùng, Tin Mừng tường thuật cho chúng ta một câu chuyện sống động nhất và chính xác nhất về cuộc khám phá ngôi mộ trống, khởi điểm đức tin của các Tông Đồ vào biến cố Phục Sinh.

BÀI ĐỌC I (Cv 10: 34a, 37-43)

Sách Công Vụ được giới thiệu như phần tiếp theo của Tin Mừng Thứ Ba: cùng một tác giả: thánh Lu-ca, và cùng một người nhận: ông Thê-ô-phi-lô, một Ki-tô hữu trí thức thuộc tầng lớp thượng lưu, nhưng cũng có thể là một nhân vật hư cấu biểu tượng “người Chúa thương mến” mà bất kỳ tên người Ki-tô hữu nào có thể điền tên mình vào đây.

Thánh Lu-ca mang nỗi bận lòng của một sử gia: “tra cứu đầu đuôi mọi sự”. Trong sách Tin Mừng của mình, thánh ký đã quan tâm đến cuộc đời thơ ấu của Đức Giê-su; trong sách Công Vụ Tông Đồ, thánh ký tường thuật cuộc đời thơ ấu của Giáo Hội. Trong phần thứ nhất của sách Công Vụ Tông Đồ, thánh Lu-ca nêu bật nhân cách của thánh Phê-rô, trong phần thứ hai là dung mạo của thánh Phao-lô.

Thánh Lu-ca nhiều lần nhấn mạnh các Tông Đồ đã mạnh mẽ làm chứng về biến cố Phục Sinh như thế nào. Diễn từ của thánh Phê-rô tại nhà ông Co-nê-li-ô, viên đại đội trưởng người Rô-ma, cung cấp một ví dụ. Đó là lý do chọn lựa đoạn trích nầy vào Chúa Nhật Phục Sinh nầy.

1. Cuộc thăm viếng mục vụ của thánh Phê-rô:

Vị lãnh đạo Giáo Hội đang thực hiện một cuộc “thăm viếng mục vụ”. Sau cuộc bách hại giáng xuống cộng đoàn Ki-tô hữu Giê-ru-sa-lem non trẻ vào năm 36 (năm mà thánh Tê-pha-nô được phúc tử đạo), nay sóng gió đã qua đi. Thánh Phê-rô lợi dụng thời kỳ lắng dịu nầy để viếng thăm những giáo đoàn vừa mới được thành lập. Sách Công Vụ nói với chúng ta, “thánh Phê-rô rảo khắp nơi” (Cv 9: 32). Chính như vậy thánh nhân đến miền duyên hải mà vừa mới đây “phó tế” Phi-líp-phê đã mang Tin Mừng đến đó.

2. Thánh Phê-rô lần đầu tiên đến nhà một người ngoại giáo:

Trong khi thánh Phê-rô đang ở nhà tại Gia-phô thì một viên đại đội trưởng người Rô-ma đồn trú ở Xê-da-rê cách đó khoảng năm mươi cây số, sai người đến mời thánh nhân đến nhà ông. Viên đại đội trưởng là một cảm tình viên của Do thái giáo, trong số những người được gọi “những người kính sợ Thiên Chúa”. Sách Công Vụ nói với chúng ta ông là người đạo đức và rộng tay bố thí.

Thánh Phê-rô đến nhà ông. Đây là lần đầu tiên thánh nhân bước vào nhà một người không chịu phép cắt bì, bất chấp những cấm kỵ lâu đời. Lệnh cấm tiếp xúc với những người không chịu phép cắt bì không được phát biểu trong Lề Luật, nhưng phát xuất từ tập quán và lời giải thích của các kinh sư. Lý do đầu tiên chính là để tránh mọi tiêm nhiễm của thế giới ngoại giáo vào dân Chúa, nhưng dần dần lệnh cấm nầy phổ biến và tuân giữ nghiêm nhặt. Lần đầu tiên thánh nhân mang sứ điệp Tin Mừng đến một người lương dân và tất cả gia quyến của ông. Đây thực sự là một kinh nghiệm chấn động.

3. Bài diễn từ của thánh Phê-rô:

Bài diễn từ của thánh Phê-rô là một bản tóm tắt Tin Mừng, nhưng không cùng chung những điểm nhấn như những bài diễn từ mà thánh nhân đã công bố ở Giê-ru-sa-lem, ở đó thánh Tông Đồ đã minh chứng cho người Do thái thấy rằng Đức Giê-su đã thực hiện những lời hứa Kinh Thánh và Ngài là Đấng Mê-si-a. Ở Xê-da-rê, ngỏ lời với một cử tọa lương dân, thánh Phê-rô nhấn mạnh phẩm chất “chứng nhân” của mình: chính thánh nhân và các vị Tông Đồ khác đã là những người chứng kiến những hành động của của Đức Giê-su người Na-da-rét, cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài, và nhất là cuộc Phục Sinh của Ngài. Thánh nhân là một trong số những người “đã được cùng ăn cùng uống với Ngài sau khi Ngài đã từ cõi chết sống lại”. Đấng Phục Sinh đã ủy nhiệm họ làm chứng rằng Thiên Chúa đã đặt Ngài làm Thẩm Phán để xét xử cả người sống lẫn kẻ chết. Đối với những người có ý định gia nhập Hội Thánh và đón nhận phép Rửa, thánh nhân tế nhị nói rằng vị Thẩm Phán nầy cũng là Đấng tha tội. Thánh nhân trích dẫn Kinh Thánh để nhấn mạnh rằng đó là lời loan báo của các ngôn sứ: “Phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội”.

Giáo Hội đặt nền tảng đức tin của mình vào biến cố Phục Sinh dựa trên lời chứng của các Tông Đồ. Giáo Hội xem lời chứng nầy dứt khoát đến độ Giáo Hội đã không bao giờ cảm thấy cần phải tuyên xưng biến cố Phục Sinh như một tín điều. Sự kiện hiển nhiên buộc phải nhận như thế; nền tảng quá vững chắc: những chứng nhân đã “thấy” và “đã sống” với Đức Ki-tô phục sinh.

BÀI ĐỌC II (Cl 3: 1-4)

Thánh Phao-lô viết thư gởi tín hữu Cô-lô-xê trong khi bị giam cầm ở Rô-ma vào những năm 61-62. Trong đoạn trích thư này, thánh nhân đưa ra cho chúng ta chiều kích thần học về sự Phục Sinh một cách sâu xa.

1. Lập luận của thánh Phao-lô:

Thánh Phao-lô là nhân chứng của Đức Ki-tô Phục Sinh. Đấng Phục Sinh đã nắm bắt thánh nhân trên đường Đa-mát, đã tỏ mình ra cho thánh nhân trong ánh sáng chói lòa, đã cho thánh nhân những lời dạy của Ngài và trao phó sứ mạng cho thánh nhân.

Lập luận của thánh Phao-lô xem ra có vẻ mâu thuẫn: trước hết, thánh nhân nói: “Anh em đã được phục sinh cùng với Đức Ki-tô”, tiếp đó: “Anh em đã chết cùng với Đức Ki-tô” (tức là chết cho tội lỗi). Thật ra, đây là một trong những phương thức của thánh Phao-lô: trước tiên thánh nhân đề cao thực tại tinh thần; từ đó, cho thấy những hậu quả “luân lý” đòi buộc cách ăn nếp ở của chúng ta; tiếp đến, những hậu quả “hữu thể”, tức là những hậu quả ghi dấu ấn trên bản thân của chúng ta.

2. Người Ki-tô hữu:

Như trường hợp ở đây. Thánh Phao-lô định nghĩa người Kitô hữu là người, nhờ bí tích Thánh Tẩy và cuộc sống bí tích, dự phần vào sự Phục Sinh của Đức Ki-tô, vì thế, họ được sống lại rồi. Trong thư gởi các tín hữu Ê-phê-xô, thánh nhân diễn tả thực tại nầy còn bạo dạn hơn nữa, khi thánh nhân dùng thì quá khứ: “Người đã cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Giê-su Ki-tô trên cõi trời” (Ep 2: 6).

Vì thế, từ hoàn cảnh tinh thần này của người Ki-tô hữu, thánh Phao-lô nhấn mạnh trước tiên những hậu quả luân lý: cần thiết phải nghĩ đến những gì thuộc thiên giới. Tiếp đó, thánh nhân nói đến những hậu quả hữu thể: được sống lại rồi, tức là đã chết cho tội lỗi, đó là được biến đổi tận bên trong. Bên ngoài không có gì thay đổi, nhưng một năng lực thần linh ẩn kín ở bên trong người Ki-tô hữu, mà ánh sáng rực rỡ của nó sẽ chỉ được tỏ rạng một cách viên mãn vào ngày chung cuộc. Đây là ý tưởng rất thân thiết đối với thánh Phao-lô: sống theo Đức Ki-tô đảm bảo vinh quang tương lai của chúng ta, chắc chắn chúng ta có được những bảo chứng về vinh quang của chúng ta rồi.

TIN MỪNG (Ga 20: 1-9)

Niềm xác tín của các Tông Đồ vào biến cố Phục Sinh của Đức Ki-tô đặt nền tảng trên hai kinh nghiệm. Chúng ta có thể nói rằng niềm xác tín nầy đã hình thành nên hai giai đoạn. Trước hết, việc “phát hiện ngôi mộ trống” là mặc khải gây kinh ngạc đầu tiên. Chính kinh nghiệm này đã mở mắt họ và đã khai lòng mở trí cho họ hiểu Kinh Thánh.

Tiếp đó, vào cũng một ngày hôm ấy, “những lần Đức Giê-su hiện ra” đem đến những bằng chứng khả giác về một người đang sống, tuy nhiên, các môn đệ không thể nào hiểu thấu được mầu nhiệm tôn vinh của Ngài. Nhưng thân xác của Đấng Phục Sinh rõ ràng là thân xác đã biến mất khỏi ngôi mộ, thân xác vẫn in dấu những vết thương tử nạn của Ngài. Vì thế, đây không là một bóng ma, cũng không thân xác giả mạo. Hai kinh nghiệm củng cố cho nhau, bổ túc lẫn nhau. Các Tông Đồ làm chứng về niềm xác tín tận mức nầy cho đến phải hy sinh mạng sống của mình.

1. Ngày thứ nhất trong tuần:

Tin Mừng Gioan dâng hiến cho chúng ta một bài trình thuật sống động và chính xác về cuộc phát hiện ngôi mộ trống, một bài trình thuật của một “chứng nhân nhãn tiền”. Như thường hằng trong Tin Mừng Gioan, những chi tiết mặc khải những ý nghĩa sâu xa.

Ngày sa-bát đã chấm dứt vào buổi chiều hôm qua, ngày thứ nhất trong tuần đã khởi sự, ngày thứ nhất nầy sẽ là Ngày Chúa Nhật của chúng ta, “Ngày của Chúa”, chính xác vì đó là ngày của biến cố Phục Sinh.

2. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la:

Thánh Gioan nói: “Sáng sớm, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ”. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la là một trong số các người phụ nữ đã cũng đi với Đức Giê-su và nhóm Mười Hai trong những cuộc hành trình truyền giáo của Ngài khắp miền Ga-li-lê (Lc 8: 1-3); “các bà đã chứng kiến” cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giê-su (Lc 23: 49); các bà cùng với Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, kiên vững bên thập giá vào những giây phút sau cùng của Đức Giê-su (Ga 19: 25); và “các bà đã đế ý nhìn ngôi mộ và xem xác Ngài được đặt như thế nào” (Lc 23: 55). Bây giờ, sau ngày hưu lễ, các bà đi viếng mộ. Tin Mừng nói với chúng ta rằng các bà đến mộ “lúc trời còn tối”: tình yêu và niềm tôn kính của bà thúc đẩy bước chân dạn dĩ của bà ra đi càng sớm chừng nào có thể để được ở bên cạnh thi thể của Chúa chúng ta.

Ở đây, Tin Mừng Thứ Tư chỉ nêu đích danh bà Ma-ri-a Mác-đa-la; tuy nhiên, chính bản văn làm chứng rằng còn có các người phụ nữ khác cùng đi với bà, vì bà Ma-ri-a Mác-đa-la nói: “Chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu” (20: 2). Thật ra, thánh Mát-thêu nêu tên hai người phụ nữ: bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cùng tên là Ma-ri-a (Mt 28: 1); còn thánh Mác-cô lại kể ra ba người phụ nữ: bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Ma-ri-a, mẹ của ông Gia-cô-bê, và bà Sa-lô-mê (Mc 16: 1), riêng thánh Lu-ca còn kể ra nhiều người phụ nữ hơn nữa (Lc 24: 1). Nhưng trong số những người phụ nữ đó, bà Ma-ri-a Mác-đa-la luôn luôn được nêu đích danh đầu tiên.

Tại sao chỉ một mình bà Ma-ri-a Mác-đa-la được nêu đích danh ở đây? Chắc chắn vì trong số những thánh nữ trung tín này, kỷ niệm của bà nổi bật nhất (thánh Gioan biên soạn Tin Mừng của mình với một hồi tưởng nào đó). Bà là người được diễm phúc chứng kiến cuộc hiện ra đầu tiên trong số những lần hiện ra của Đấng Phục Sinh được các sách Tin Mừng tường thuật, và bà cũng là người đầu tiên được Đấng Phục Sinh sai đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các Tông Đồ; vì thế, chẳng lạ gì truyền thống Giáo Hội gọi bà là “Tông Đồ của các Tông Đồ”, theo kiểu nói tuyệt đối của người Do thái, nghĩa là bà là “người được sai đi tuyệt hảo”.

3. Thánh Phê-rô và thánh Gioan:

Khi bà Ma-ri-a Mác-đa-la báo tin cho thánh Phê-rô và thánh Gioan, lúc đó, có thể cả hai ông đang tá túc dưới một mái nhà. Hai ông thường được nêu tên cùng nhau và hoạt động cùng nhau (Cv 3: 1-11; 4: 1-22). Cả hai ông đều đã là nhân chứng về cuộc Biến Hình, nhất là cuộc phục sinh của anh La-da-rô, chắc chắn kinh nghiệm nầy giúp hai ông hiểu biến cố mà hai ông trải qua vào buổi sáng nầy.

Thánh Phê-rô lớn tuổi hơn, vì thế thánh nhân không thể chạy theo kịp sức trẻ của thánh Gioan. Thánh Gioan đến mộ trước nhưng chỉ đứng bên ngoài mà liếc nhìn vào bên trong ngôi mộ. Để tỏ lòng kính trọng người lớn tuổi, thánh Gioan đứng đợi và nhường cho thánh Phê-rô vào mộ trước tiên. Ở nơi sự kiện này, thánh ký hàm ý rằng thánh Gioan nhận ra quyền lãnh đạo của thánh Phê-rô. Thật ra, theo Tin Mừng Gioan, quyền lãnh đạo của thánh Phê-rô đối với các Tông Đồ và toàn thể Giáo Hội sẽ được công bố chỉ sau khi Đấng Phục Sinh gặp gỡ các ông bên bờ hồ Ti-bê-ri-a vào bữa ăn mà chính Ngài đã dọn sẵn cho các ông trong sương mờ sáng sớm (Ga 21: 15-17), tuy nhiên đã được hàm chứa rồi ở nơi cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Chúa Giê-su và thánh Phê-rô khi Ngài long trọng đổi tên: “Anh là Si-mon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kê-pha, tức là Phê-rô” (Ga 1: 42) và ở nơi sự kiện trước ngôi mộ này.

Như vậy, cả hai người đều cùng thấy hiện trường. Chi tiết này có một tầm quan trọng đặc biệt, vì đối với luật Do thái, một sự kiện chỉ được chứng thực nếu có tối thiểu hai nhân chứng. Trước đây, Đức Giê-su đã nhắc lại điều nầy cho những người Biệt Phái: “Trong Lề Luật của các ông, có chép rằng lời chứng của hai người là chứng thật” (Ga 8: 17). Ngoài ra, theo luật, lời chứng của những người phụ nữ thì không có giá trị.

4. Những băng vải và khăn che đầu được cuốn lại và xếp riêng một nơi.

Một mặt, hai ông không chỉ chứng kiến ngôi mộ trống, nhưng còn thấy những băng vải liệm và khăn che đầu được cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Cảnh tượng này được lập lại đến hai lần (20: 5 và 6-7) đánh động sâu xa hai vị Tông Đồ. Nếu thi thể bị đánh cắp, băng vải liệm và khăn che đầu có lẽ đã bị vất bừa bãi rồi. Thế mà, tất cả đều được xếp gọn gàng ngăn nắp. Mặt khác, làm thế nào không nghĩ đến việc La-da-rô được sống lại bước ra khỏi mồ, “chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn” (Ga 11: 44)? Đức Giê-su hoàn toàn tự do, không còn bị những băng vải liệm buộc chặt thân thể của Ngài, biểu tượng xích xiềng của tử thần. Như vậy, La-da-rô dù được sống lại nhưng vẫn còn nằm trong vòng kiềm tỏa của tử thần nên rồi sẽ phải chết một lần nữa, trong khi tử thần từ nay không có quyền hành gì trên Chúa Giê-su nữa: Ngài đã vĩnh viễn đánh bại tử thần. Chắc chắn, thánh Gioan đã hiểu dấu chỉ nầy và xao động đến mức thánh nhân đã phải thốt lên: “Tôi đã thấy và đã tin”. Rõ ràng lời tuyên xưng này diễn đạt quá trình từ “thấy” đến “gắn bó trọn vẹn” với Đấng Phục Sinh.

Ánh sáng niềm tin bừng lên trong lòng “người môn đệ Chúa yêu” nầy trước ngôi mộ trống cùng với những băng vải liệm và khăn che đầu được cuốn lại gọn gàng và xếp riêng ra một nơi. Dù trước đây niềm tin của thánh nhân đã bị chao đảo trước những biến cố đau thương của Thầy, tình yêu của thánh nhân đã không hề suy giảm như thánh nhân đã cho thấy khi bước theo từng bước chân của Thầy lên đến tận đỉnh đồi Sọ và chứng kiến giây phút đau thương sau cùng của Thầy. Chính độ nhạy bén của tình yêu này giờ đây dẫn đưa thánh nhân đến niềm tin vào sự Phục Sinh của Thầy ngay tức khắc. Cũng chính độ nhạy bén của tình yêu này mà vài ngày sau đó cũng chính thánh nhân sẽ là người đầu tiên nhận ra Thầy mình trên bờ hồ Ti-bê-ri-a trong sương mờ buổi sớm (21: 4, 7). Người môn đệ được yêu và đang yêu này chỉ thấy cái tối thiểu, tuy nhiên lại tin cái tối đa. Độ nhạy bén của con tim hỗ trợ cho thánh nhân rất nhiều để hiểu biết con người và sự vật. Quả thật, nhà tư tưởng Pascal đã nói: “Con tim có lý lẽ của nó mà lý trí không sao hiểu được”.

5. Theo lời Kinh Thánh.

Nhờ độ nhạy bén của con tim, người môn đệ Chúa yêu đạt đến niềm tin; tuy nhiên, ông cũng cần đến ánh sáng của lý trí: “Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Ki-tô phải chỗi dậy từ cõi chết”. Lời này ám chỉ đến tiến trình các môn đệ hậu phục sinh giải thích biến cố Phục Sinh của Chúa Ki-tô nhờ ánh sáng Cựu Ước (Ga 2: 17, 22; 12: 16). Hơn nữa, Chúa Thánh Thần, Đấng khai lòng mở trí của họ để hiểu nội dung Kinh Thánh, chưa được ban cho (x. Ga 14: 26; Lc 24: 45).

Các bản văn Kinh Thánh lại hiện ra trong tâm trí hai ông. Người ta có thể phỏng đoán rằng họ nghĩ đến Thánh Vịnh 16, vì vài tuần sau đó, chính Thánh Vịnh nầy mà thánh Phê-rô sẽ trích dẫn cho đám đông ở Giê-ru-sa-lem để đưa ra những khẳng định của mình liên quan đến biến cố Phục Sinh (Cv 2: 24-31). Quả thật, chúng ta đọc trong Thánh Vịnh 16 những hàng nầy:

“Thân xác con cũng nghĩ ngơi an toàn.
Vì Chúa chẳng đành để mặc con trong cõi âm ty,
không để kẻ hiếu trung nầy hư nát trong phần mộ” (Tv 16: 9-10).

Vì thế, truyền thống đã áp dụng Thánh Vịnh này vào Đấng Mê-si-a. Như vậy, hai vị Tông Đồ rời khỏi ngôi mộ với hai niềm xác tín: trước hết, chứng thực những điều các ông đã chứng kiến; sau nữa, khẳng định những lời Kinh Thánh loan báo.

---------------------------------
 

PS 1-ABC418: “Bàn Tay” cứu độ


(Suy niệm Lễ Vọng Phục Sinh của Lm. Inhaxio Trần Ngà)
 

Hàng ngàn hành khách vượt Đại Tây Dương trên một con tàu biển lớn, không may, tàu bị va PS 1-ABC418


Hàng ngàn hành khách vượt Đại Tây Dương trên một con tàu biển lớn, không may, tàu bị va mạnh vào tảng băng trôi khổng lồ. Tảng băng đâm thủng thân tàu, nước biển tràn vào tàu dữ dội làm cho tàu ngập nước và chìm dần xuống biển.

Hàng ngàn hành khách tìm cách thoát ra khỏi chiếc tàu đang chìm đắm và đang chơi vơi giữa biển khơi giá buốt. Tất cả mọi người đều lo âu hoảng sợ. Người không biết bơi thì sau mươi phút uống nước đầy bụng là chìm. Người biết bơi cũng chỉ cầm cự được mươi tiếng đồng hồ rồi cũng chết, hoặc vì đói mà kiệt sức, hoặc vì nước biển quá lạnh nên phải chết cóng, hoặc vì phải làm mồi cho bầy cá mập háu ăn.

Trong cơn gian nguy đó, nhìn chung quanh chỉ thấy biển cuộn sóng mênh mông, nhìn xuống chỉ thấy nước sâu thăm thẳm, nhìn lên chỉ thấy bầu trời kéo mây đen nghịt. Nhìn chung quanh chỉ thấy bao nhiêu người khác cũng sắp chết đuối như mình.

Biết bám víu vào ai bây giờ? Sớm muộn gì rồi cũng làm mồi cho cá. Biết cậy nhờ ai bây giờ?

Giá như có một bàn tay to lớn mạnh mẽ nào đó từ đám mây đen thò xuống để cho những người sắp chết đuối nắm lấy thì hạnh phúc biết bao!

***

Con người sống trên đời nầy cũng như những người bị đắm tàu đang chơi vơi giữa đại dương đầy sóng gió. Số phận mỗi người chẳng khác gì số phận của người đắm tàu trên đây. Không sớm thì muộn, không nay thì mai, ai nấy đều phải chìm vào biển chết.

Có người phải chết sớm; số phận họ như số phận những người không biết bơi, hì hụp chốc lát rồi chết đuối. Có người được sống lâu hơn, số phận họ như số phận những người biết bơi, nổi lên được một thời gian, nhưng rồi cũng phải đắm chìm trong lòng biển chết.

Trước tình trạng đau thương và bi đát này, con người biết cậy dựa vào đâu? Ai có thể cứu vớt con người khỏi biển chết đang vây bọc tư bề? Tìm đâu ra một điểm tựa vững bền trên cõi đời này?

Tựa vào tiền của ư? Tiền của không mua được sức khoẻ và sự sống. Những tỷ phú giàu nhất thế giới cũng không thoát khỏi bệnh tật, tai ương và chết chóc.

Tựa vào địa vị, chức quyền ư? Những tổng thống, vua chúa quyền lực nhất thế gian cũng chỉ được ngồi trên ngai trong thời hạn ngắn rồi bị truất phế và tất cả không trừ ai đã vùi thây dưới mộ.

Tựa vào khoa học kỹ thuật tiên tiến ư? Các khoa học gia hàng đầu cũng đã lần lượt lìa đời vì chết chóc và bệnh tật.

Con người cũng không thể dựa vào người khác vì tất cả những người khác cũng đang ở trong tư thế bấp bênh, chao đảo, sắp chết đuối như mình.

Vậy thì cần phải có một “Bàn Tay” đầy quyền năng từ trời cao vươn xuống mới có thể cứu vớt loài người đang đắm chìm trong biển chết.

Hạnh phúc cho chúng ta là những người may mắn tìm thấy “Bàn Tay” cứu vớt từ trời cao.

Chúa Giê-su chính là “Bàn Tay” đầy quyền năng của Thiên Chúa Cha từ trời cao vươn xuống để cứu vớt loài người đang chơi vơi giữa lòng biển chết.

Trong đại lễ phục sinh này, chúng ta hãy hân hoan vui mừng khôn xiết vì nhờ cuộc tử nạn và phục sinh vinh hiển của mình, Chúa Giê-su trở thành “Bàn Tay” cứu độ, đang chìa ra để cứu vớt mọi người trên khắp thế gian.

Tuy nhiên, chỉ có những ai chấp nhận nắm lấy “Bàn Tay” từ trời này thì người đó mới được cứu độ mà thôi, bởi vì Thiên Chúa luôn luôn tôn trọng tự do của con người và Ngài không thể cứu vớt những ai không muốn Ngài cứu vớt.

Muốn được cứu vớt khỏi biển chết đời đời thì chúng ta hãy nắm lấy “Bàn Tay” Chúa Giê-su, nghĩa là phải phó dâng đời mình cho Chúa và phải sống theo luật mến Chúa yêu người. Ai không mến Chúa yêu người như Chúa Giê-su truyền dạy, người đó tự xa lìa Chúa, nên không thể được cứu độ.

Lạy Chúa Giê-su phục sinh,

Chúa chính là “Bàn Tay” thần diệu đầy quyền lực của Thiên Chúa Cha từ trời cao vươn tới mọi người sắp đắm chìm trong biển đời đầy sóng gió này.

Xin cho chúng con biết nắm chặt lấy bàn tay cứu độ của Chúa bằng đức tin, bằng lòng mến Chúa yêu người thật thiết tha mạnh mẽ, nhờ đó, chúng con sẽ được cứu thoát khỏi biển chết đau thương và được đưa vào vương quốc hằng sống muôn đời.

---------------------------
 

PS 1-ABC419: Chúa đã sống lại rồi


(Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)

Sợi chỉ đỏ:
 

Những lời chứng về việc Chúa Giêsu sống lại: - Bài đọc I (Cv 10, 34a.37-43): Lời chứng của Thánh PS 1-ABC419


Những lời chứng về việc Chúa Giêsu sống lại:

- Bài đọc I (Cv 10, 34a.37-43): Lời chứng của Thánh Phêrô
- Tin Mừng (Ga 20, 1-9): Lời chứng của Thánh Gioan tông đồ
- Bài đọc II (Cl 3, 1-4; hoặc 1 Cr 5, 6-8): Lời chứng của Thánh Phaolô

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Anh chị em thân mến

Lễ Phục sinh là lễ lớn nhất của năm Phụng vụ. Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết, không phải chỉ cho Ngài mà còn cho tất cả chúng ta. Tất cả chúng ta hãy mở rộng cõi lòng để đón nhận niềm vui to lớn này.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Chúa sống lại có nghĩa là sự thiện chắc chắn chiến thắng sự ác. Chúng con xin Chúa tha thứ vì đã không tin điều ấy.

- Chúa sống có nghĩa là ân sủng chắc chắn chiến thắng tội lỗi. Chúng con xin Chúa tha thứ vì đã không tin điều ấy.

- Chúa sống có nghĩa là tình thương chắc chắn chiến thắng hận thù. Chúng con xin Chúa tha thứ vì đã không tin điều ấy.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Cv 10, 34.37-43)

Tại nhà ông Cornêliô ở Xêdarê, Thánh Phêrô đã tóm lược sứ vụ của Chúa Giêsu. Cao điểm của sứ vụ này là việc Ngài chịu chết và sống lại. Nhưng như thế chưa phải là hết: việc Chúa sống lại có ảnh hưởng đến mọi người: "Ai tin vào Ngài thì sẽ nhờ danh Ngài mà được ơn tha tội". Vì thế các tông đồ phải làm chứng và loan truyền Tin Mừng ấy.

2. Đáp ca (Tv 117)

Ca tụng Thiên Chúa vì tình thương mà làm những việc diệu kỳ, nhất là đã làm cho Chúa Giêsu, "tảng đá thợ xây nhà loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường"

3. Tin Mừng (Ga 20, 1-9)

Bằng cách viết rất súc tích với những ý tưởng sâu sắc chứa đựng trong những chi tiết được chọn lựa rất kỹ, Thánh Gioan muốn mô tả hành trình đức tin của 3 nhân vật trong bài tường thuật này: Maria Mađalêna, Phêrô và "người môn đệ kia" (tức tông đồ Gioan).

- Khi ấy là "sáng sớm khi trời còn tối": họ vẫn còn ở trong đêm tối chưa hiểu được mầu nhiệm Chúa Giêsu, nhưng đã là lúc sáng sớm rồi, bình minh sắp tỏa sáng.

- "Chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu": "địa chỉ" của Chúa Giêsu là một điều được Tin Mừng Ga lưu ý nhiều lần. Ngay từ đầu quyển Tin Mừng, hai môn đệ đầu tiên đã hỏi "Thưa Thầy, Thầy ở đâu?" (1, 38). Đến phần cuối quyển Tin Mừng, câu hỏi "Thầy ở đâu?" lại được lặp lại. Các môn đệ Chúa Giêsu luôn muốn biết "địa chỉ" của Ngài.

- Cả 3 nhân vật trong chuyện này đều "chạy": Mađalêna chạy tìm Simon-Phêrô, ông này cùng với Gioan "cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn". Họ "chạy" để làm chi? Để tìm đến "địa chỉ" Chúa Giêsu. Đây là cuộc hành trình của đức tin.

- Thiên Chúa đã đặt sẵn những dấu chỉ giúp họ tìm, đó là ngôi mộ trống, những khăn vải liệm còn đó được xếp gọn gàng và những lời tiên báo của Thánh Kinh. Nhưng chỉ một mình "môn đệ kia" đã đọc được ý nghĩa của những dấu chỉ ấy nên "đã thấy và đã tin". Gioan đã tìm được "địa chỉ" của Chúa Giêsu. Thực ra, nhiều lần Chúa Giêsu đã ám chỉ đến "địa chỉ" này ("Thầy về cùng Cha Thầy": xem Ga 7, 33-34 8, 21 13, 33) nhưng các môn đệ vẫn chưa hiểu. Hôm nay Gioan đã hiểu: Chúa Giêsu đã sống lại và về cùng Thiên Chúa.

4. Bài đọc II (Cl 3, 1-4; hoặc 1 Cr 5, 6-8)

Vì được thông phần vào sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô, kitô hữu phải sống một đời sống mới.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. "Tôi tin kính Chúa Giêsu Kitô"

Đức tin của chúng ta thường có tính cách "quy thần", nghĩa là tin có Thiên Chúa, Đấng tạo dựng trời đất muôn vật; và Thiên Chúa ấy chúng ta chỉ biết được khi linh hồn chúng ta rời khỏi thân xác này. Một đức tin như thế thì vừa lý thuyết vừa tĩnh.

Dưới ánh sáng phục sinh, chúng ta phải làm cho đức tin trở thành sống và động; đồng thời chúng ta phải làm chứng về đức tin sống động ấy cho những người chỉ có một đức tin vừa lý thuyết vừa tĩnh như đã nói trên. Nhưng làm thế nào?

Thưa chúng ta phải tập tin vào Chúa Giêsu Kitô:

- Tin vào Chúa Giêsu Kitô là tin vào Đấng đã chịu nạn chịu chết và sống lại, như Thánh Gioan tông đồ (bài Tin Mừng). Thánh Gioan đã nhìn thấy ngôi mồ trống và đã tin. Khi đó đức tin của Gioan mang một chiều kích mới hẳn: Thiên Chúa của Thánh Kinh không còn là một Thiên Chúa của quá khứ nữa mà đã trở thành "Đức Chúa", "Thiên Chúa của sự sống", luôn hiện diện trong lịch sử. Một Thiên Chúa như thế luôn có ý nghĩa với cuộc đời con người: cho dù Ngài đã chịu nạn chịu chết nhưng Ngài đã sống lại. Ngài đã chiến thắng đau khổ và sự chết. Từ nay đau khổ và chết chóc không phải là những chuyện phi lý nữa. Từ nay chúng ta cứ bước theo Ngài thì sẽ đi qua được mọi khổ đau chết chóc để đến sự sống.

- Tin vào Chúa Giêsu Kitô cũng là tin vào mầu nhiệm cuộc sống của chính chúng ta: nhờ bí tích Rửa tội, chúng ta có một sự sống mới, "và sự sống mới ấy hiện đang tiềm tàng với Chúa Giêsu Kitô nơi Thiên Chúa" (Bài đọc II), vì thế chúng ta "hãy hướng lòng về những gì thuộc thượng giới".

2. Đi thăm mộ

Sáng Chúa nhật Phục sinh, các phụ nữ đi đến ngôi mồ đã chôn xác Chúa Giêsu. Họ đến đấy để ướp xác Ngài. Nhưng đó không phải là lý do duy nhất. Họ còn muốn được ở gần Đấng đã từng làm cho đời họ tràn đầy ý nghĩa, nhưng bây giờ cái chết của Ngài lại khiến lòng họ tràn ngập nỗi u sầu không gì an ủi được.

- Chúng ta cũng thường làm như các bà ấy. Khi một người thân yêu của chúng ta chết, chúng ta khó chấp nhận rằng người ấy đã vĩnh viễn xa cách chúng ta. Vì thế chúng ta thấy cần phải duy trì một sự liên kết nào đó với người đã chết. Và một trong những cách chúng ta có thể làm, đó là đi thăm mộ. Tuy nhiên việc này chẳng những không làm dịu đi nỗi đau bị mất mát, mà còn khiến mình càng thấy mất mát hơn, bởi vì không nơi nào khiến ta ý thức về cái chết của người thân cho bằng nơi chôn cất người thân ấy.

Sáng hôm ấy, nếu mọi sự diễn ra đúng như các bà dự kiến thì các bà đã ướp xác Chúa Giêsu, xong rồi lắp của mồ lại, rồi trở về nhà với cõi lòng nặng trĩu u sầu vì các bà càng ý thức rằng những chuyện khủng khiếp xảy ra hôm Thứ Sáu không phải chỉ là một giấc mơ mà là một sự thật: Thầy của họ đã chết thật rồi !

Tuy nhiên mọi sự không xảy ra như dự kiến. Khi đến mộ, các bà đã gặp hai thiên thần. Các vị ấy bảo "Sao các bà lại tìm người sống nơi cõi chết? Ngài không còn ở đây, Ngài đã sống lại". Nghĩa là các bà đừng mất thời giờ để tìm Chúa Giêsu ở ngôi mộ nữa.

- Tất cả chúng ta thường cảm thấy tuyệt vọng khi đứng trước những nấm mồ, vì ở đó mọi sự đều nói lên chết chóc. Tuy nhiên chính ở một ngôi mộ như thế mà lần đầu tiên tin mừng sống lại được loan báo. Chúa đã chọn một nơi thật thích hợp, nơi mà xem ra sự chết thống trị, để loan báo Tin Mừng phục sinh.

Phụng vụ hôm nay cũng gởi đến chúng ta một sứ điệp tương tự: Đừng tìm kiếm những kẻ thân yêu của mình nơi những nấm mồ, vì họ chẳng có ở đó đâu. Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết, không chỉ cho bản thân Ngài mà cho tất cả mọi người chúng ta. Ngài là Đấng đầu tiên sống lại, và chúng ta cũng sẽ sống lại như Ngài. Như thế, đối với Kitô hữu thì sự chết không phải là tiếng nói cuối cùng. Người thân quá cố của chúng ta không chết, mà vẫn còn sống. Cuộc sống của họ còn thực và đẹp hơn cả cuộc sống hiện tại của chúng ta nữa. Hơn nữa họ không hề xa cách chúng ta. Những ai đã chết trong ân sủng thì khoảng cách giữa họ với chúng ta không xa hơn khoảng cách giữa Thiên Chúa với chúng ta. Mà Thiên Chúa thì rất gần với chúng ta. (FM)

3. Kỷ nguyên cứu rỗi

Một bề trên tu viện Công giáo đến tìm một ẩn sĩ ấn giáo tại chân núi Hy Mã Lạp Sơn. Ông lo âu trình bày về tình trạng bi đát của tu viện.

Trước kia tu viện này là một trung tâm thu hút nhiều khách hành hương. Nhà thờ lúc nào cũng vang tiếng hát của giáo dân khắp nơi tuôn đến. Nhà dòng không còn chỗ nhận thêm người xin gia nhập. Thế mà bây giờ tu viện chẳng khác nào một ngôi chùa hoang phế. Nhà thờ vắng lặng, tu sĩ thì leo teo mấy người. Cuộc sống thật là buồn tẻ...

Vị bề trên hỏi tu sĩ ấn giáo cho biết nguyên nhân nào hay lỗi lầm nào đã dưa tu viện tới tình trạng trên đây. Tu sĩ ấn giáo ôn tồn bảo:

- Tội của cộng đoàn đó là tội vô tình.

Và ông giải thích:

- Đấng Cứu Thế đã cải trang thành một người trong quí vị, nhưng quí vị không nhận ra Người.

Từ đó, mọi người đối xử với nhau như với Đấng Cứu Thế. Chẳng bao lâu bầu khí yêu thương huynh đệ thấm thiết, sức sống mới nảy sinh, và niềm vui tràn ngập tu viện. Khắp nơi người ta lại tìm đến tu viện tĩnh tâm cầu nguyện. Nhiều bạn trẻ lại đến xin gia nhập cộng đoàn.

***

"Sao các bà lại tìm người sống giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã chỗi dậy rồi" (Lc 23, 5-6). Buổi sáng Phục Sinh đầu tiên, Chúa Giêsu đã vinh thắng ra khỏi mộ tối, để mở đầu cho một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên cứu rỗi. Người đã hiện ra với Mađalêna, với Phêrô, với hai môn đệ trên đường Emmau, với các môn đệ "đang "tập họp trong nhà cửa đóng kín, " - trên bờ biển Tibêria. Và Người" vẫn còn hiện diện giữa chúng ta, những kẻ "tin vào" Người, " ở mọi nơi, trong mọi thời đại. Đó là một Tin vui không chỉ cho thành Giêrusalem mà còn cho toàn thế giới.

Tin vui chính là Chúa Giêsu Phục Sinh, ánh sáng rạng ngời, đã xoá tan bóng tối của tử thần và tội lỗi, để dẫn đưa con người bước vào miền ánh sáng sự sống.

Tin vui chính là Chúa Giêsu Phục sinh luôn hiện diện giữa những kẻ tin Người sống lại để mang lại cho họ niềm vui và an bình trong cuộc sống mới.

Nếu ngôi mộ tối đã không thể giam giữ Chúa Giêsu Phục sinh, và xiềng xích của sự chết đã bị Người bẻ gãy, thì không còn gì có thể tiêu diệt chúng ta được. Thánh Phaolô viết: "Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ gươm giáo?" (Rm 8, 35).

Vì thế,

Sống niềm vui Phục Sinh chính là chết đi cho tội lỗi để sống lại với Chúa trong đời sống mới, đời sống Phục Sinh.

Sống niềm vui Phục Sinh chính là tin rằng Chúa đã sống lại và đã cứu thoát chúng ta khỏi vòng tội lỗi, nên chúng ta hãy đặt niềm tin và hy vọng nơi Người.

Sống niềm vui Phục Sinh chính là sống vui tươi, an bình và yêu thương trong sự hiện diện của Chúa Giêsu Phục Sinh.

Cộng đoàn tu viện trong câu chuyện kể trên chỉ tìm được bầu không khí yêu thương và niềm vui huynh đệ khi mà mọi người nhận ra Đấng Cứu Thế đang ở giữa họ, trong người anh em.

***

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã vượt qua khổ nạn và cái chết để Phục Sinh về với Chúa Cha. Xin cho chúng con biết: Vượt qua ích kỷ nhỏ nhen để quảng đại yêu thương. Vượt qua tự ái, tự kiêu để tha thứ bao dung. Vượt qua đau khổ, cực nhọc để dấn thân hy sinh.

Ước gì cuộc sống chúng con luôn mãi tràn đầy niềm vui và bình an của Chúa Phục Sinh. Amen. (TP)

4. Mầu nhiệm Vượt qua

Cao điểm của năm Phụng vụ là Tuần Thánh vì có rất nhiều lễ nghi, giáo dân tham dự đông đảo và sốt sắng. Hôm nay thì Tuần thánh đã qua đi rồi. Nhưng chúng ta hãy nhìn lại một trong những lễ nghi phong phú ý nghĩa của Tuần Thánh, đó là ngọn nến phục sinh.

Trong đêm thứ Bảy Tuần Thánh, lúc mới bắt đầu nghi lễ thì mọi đèn nến trong sân nhà thờ đều tắt hết, bóng tối bao trùm tất cả. Thế rồi Chủ Tế lấy lửa từ một bếp than châm vào ngọn nến phục sinh. Một tia sáng nhỏ loé lên trong đêm tối. Tiếp đó ánh sáng từ ngọn nến Phục sinh lại được châm vào những ngọn nến của các tín hữu. Ánh sáng tỏa lan dần, và cuối cùng mọi đèn nến đều sáng rực. Ánh sáng đã hoàn toàn đẩy lui bóng tối.

Hình ảnh này rất đẹp, và nhất là chứa đựng một ý nghĩa sâu sắc:

- Bóng tối không thể nào thắng được ánh sáng.
- Ma quỷ không thể nào thắng được Thiên Chúa.
- Sự ác không thể nào thắng được sự thiện.

Đó chính là một chân lý mà các lễ nghi Tuần Thánh muốn soi sáng cho chúng ta. Khi Chúa Giêsu chết thì tưởng như bóng tối, quyền lực ma quỷ và sự ác đã hoàn toàn chiến thắng. Thế nhưng không phải như vậy, Chúa Giêsu đã sống lại. Nghĩa là ánh sáng đã chiến thắng tối tăm, Thiên Chúa đã chiến thắng Satan, và sự thiện đã chiến thắng sự ác.

Sự thật này không phải chỉ đúng cho một mình Chúa Giêsu mà còn đúng cho tất cả mọi người chúng ta nữa. Bởi vì Chúa Giêsu đi vào cuộc chịu nạn, chịu chết và sống lại là trong tư cách Ngài là đại diện của loài người, Ngài là trưởng tử của tất cả mọi người, là hoa trái đầu mùa. Ngài chiến thắng nghĩa là dọn đường cho tất cả chúng ta chiến thắng. Bởi thế, tất cả chúng ta đều có thể cùng với Chúa Giêsu mà lạc quan tin tưởng rằng sau cùng rồi mọi sự ác sự dữ đều sẽ bị đánh bại.

Chính vì thế mà trong khi các tín hữu Rôma đang phải lao đao khốn đốn vì những cuộc bách hại, thánh Phêrô đã gởi thư cho họ nói rằng "Anh em hãy vui mừng mặc dù còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Thực ra những thử thách đó chỉ nhằm tinh luyện đức tin của anh em, cũng như lửa thử vàng vậy" (1Pr.1, 3-9).

Còn thánh Phaolô, đang lúc phải ngồi tù mà đã viết thư cho giáo đoàn Philip rằng: "Anh em hãy vui lên. Tôi không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng anh em hãy vui mừng luôn trong Chúa" (Pl.3, 1).

Trong đêm thứ Bảy Tuần Thánh vừa qua, chúng ta đã thấy rất đông người lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức. Trong số những người đó, có nhiều người hồi trước hầu như bỏ đạo; vì nghèo quá, khổ quá, gặp thử thách nặng quá nên họ đã chán nản. Nhưng vì trong lòng họ còn một chút ánh sáng đức tin, họ đã không buông trôi. Thế rồi dần dần những khó khăn của họ được tháo gỡ, họ đã quay trở lại với Chúa, và trong đêm đó họ đã vui mừng đứng trong vùng ánh sáng chan hòa của Chúa. Bóng tối không thể nào thắng được ánh sáng.

Trong cuộc đời của chúng ta, có nhiều lúc chúng ta thấy mình quá yếu đuối tội lỗi nên chúng ta ngã lòng muốn buông trôi luôn, có nhiều lúc chúng ta thấy mình bị ác tâm và tội lỗi của kẻ xấu tấn công mạnh quá nên bị nhận chìm trong tăm tối mênh mông… những lúc đó chúng ta chán nản vô cùng. Nhưng mầu nhiệm Chúa Giêsu phục sinh dạy cho chúng ta rằng đừng nên ngã lòng bởi vì cuối cùng thì ánh sáng sẽ luôn chiến thắng, sự thiện sẽ luôn chiến thắng sự ác.

Bởi đó từ đêm lễ phục sinh, Giáo hội hân hoan cất tiếng hát Alleluia, hãy tạ ơn Thiên Chúa. Tiếng hát Alleluia ấy vẫn tiếp tục cất lên trong suốt năm Phụng vụ để nhắc mọi người tín hữu hãy luôn sống lạc quan.

Xin cho chúng ta đừng bao giờ ngã lòng thất vọng.
Xin cho chúng ta luôn luôn tin tưởng vào mầu nhiệm phục sinh.
Xin cho cuộc đời chúng ta lúc nào cũng đầy tràn tiếng hát Alleluia.

5. Lăn tảng đá ra khỏi mộ

Khi các phụ nữ đang trên đường đến mộ Chúa Giêsu, họ băn khoăn tự hỏi "Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi mộ Chúa đây?"

Sau một trận cãi vả với cha mình, một người kia không thèm nói chuyện với cha nữa. Nhà của hai cha con chỉ cách nhau một quãng ngắn ngủi, nhưng họ không đến thăm nhau và chẳng hề nói với nhau tiếng nào trong nhiều năm dài. Người mẹ thì đã bỏ nhà ra đi từ lâu. Do đó người cha phải sống một mình trong cô độc lẻ loi. Thế giới của ông ngày càng thu hẹp lại, bầu trời của ông ngày càng u ám hơn. Tuy ông chưa chết, nhưng có thể nói ông đang bị chôn trong mồ rồi.

Chúng ta ngạc nhiên vì quyền phép Chúa Giêsu đã làm cho kẻ chết sống lại. Nhưng chúng ta có biết rằng chính chúng ta cũng có thể làm được như thế không? Có thể lắm chứ. Như người con trong câu chuyện trên. Anh có thể lăn tảng đá ra khỏi nấm mộ của cha anh bằng cách đến thăm ông, nói chuyện với ông. Làm như thế tức là lại mở rộng thế giới của ông và lại làm cho bầu trời cuộc sống của ông trở nên tươi sáng. (FM)

6. Lễ Phục sinh và vấn đề đau khổ

Mừng lễ Phục sinh nhưng chúng ta vẫn còn cảm nhận những đau khổ, đau khổ của bản thân và đau khổ của tha nhân.

Tuy nhiên một yếu tố mới đã phát sinh. Nó không làm đau khổ biến mất, nhưng mang lại cho đau khổ một ý nghĩa và chiếu lên đau khổ một ánh sáng hy vọng.

Mọi sự đã đổi khác rồi, vì Chúa Giêsu vẫn còn sống và nói cho chúng ta nghe những lời bình an.

Ngài đã bẻ gảy quyền lực của sự chết và ban cho chúng ta hy vọng sự sống muôn đời.

Bởi thế, dù vẫn sống giữa những khổ đau, trong lòng chúng ta đã có một niềm vui âm thầm và một cảm giác bình an sâu lắng.

Lạy Chúa, xin ân sủng Chúa bảo vệ niềm hy vọng này, và làm cho niềm hy vọng ấy được thực hiện trọn vẹn trong Nước Chúa trên trời.

7. Bài giảng của Thánh Gioan Kim Khẩu (+ 407)

Tôi sẽ giải thích cho các bạn thế nào về những sự kín nhiệm? Tôi sẽ công bố thế nào về điều vượt quá mọi ngôn ngữ và mọi trí hiểu? Tôi phải làm thế nào cho các bạn biết về mầu nhiệm Chúa sống lại? Thập giá của Ngài là một mầu nhiệm, và việc Ngài chết 3 ngày cùng với những điều xảy đến cho Ngài đều là mầu nhiệm.

Thật vậy, Ngài đã được sinh ra từ cung lòng vẹn sạch của Đức Trinh Nữ như thế nào, thì Ngài cũng được sống lại từ ngôi mồ đóng kín như thể ấy. Con Một Thiên Chúa đã trở thành con đầu lòng sinh bởi một người mẹ thế nào, thì Chúa Giêsu phục sinh cũng trở thành kẻ sống lại đầu tiên của loài người như thể ấy. Hơn nữa, cũng như việc Ngài sinh ra không làm mất đi sự đồng trinh của Đức Mẹ thế nào, thì việc Ngài sống lại cũng chẳng phá vỡ những dấu ấn của ngôi mồ thế ấy. Tôi không biết dùng lời lẽ nào để nói về sự sinh ra của Ngài, tôi cũng chẳng biết nói sao về việc Ngài ra khỏi nấm mồ.

"Hãy đến xem nơi Chúa đã nghỉ" (Mt 28, 6), nghĩa là "Hãy đến xem nơi soạn thảo sắc chỉ bảo đảm sự sống lại của bạn. Đó là nơi sự chết bị chôn. Đó là nơi mà một thân xác, một hạt giống không được gieo xuống bởi con người, đã trổ sinh nhiều bông lúa bất tử.

"Hãy đi loan báo cho các anh em Ta là họ phải đến Galilê và gặp Ta ở đấy" (Mt 28, 10), nghĩa là "Hãy đi báo cho các môn đệ của Ta về những điều các người đã được chiêm ngưỡng".

Trên đây là những lời Chúa phán với các phụ nữ. Và ngay bây giờ nữa, bên bờ giếng rửa tội, Chúa vẫn hiện diện vô hình cạnh các tín hữu. Ngài ôm ấp những người mới được rửa tội như ôm ấp những bạn hữu và anh em. Ngài đổ đầy niềm vui và hoan lạc trong tâm hồn họ. Ngài rửa sạch mọi vết nhơ của họ trong dòng nước ân sủng. Ngài xức dầu Thánh Thần cho những người được tái sinh. Chúa trở thành lương thực và người nuôi dưỡng họ. Ngài nói với mọi tín hữu rằng "Hãy ăn bánh bởi trời, hãy uống nước chảy ra từ cạnh sườn của Ta. Các con đang đói, hãy ăn no nê; các con đang khát, hãy uống thỏa lòng"

Ôi lạy Đức Kitô, Thiên Chúa chúng con. Chỉ mình Ngài là Đức Chúa duy nhất, đầy lòng nhân từ yêu thương con người. Cùng với Chúa Cha hoàn toàn vẹn sạch và Chúa Thánh Thần Đấng ban sự sống, chúng con xin dâng lên vinh quang và quyền lực, bây giờ và mãi mãi đến muôn thuở muôn đời. Amen.

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế: Anh chị em thân mến, Thiên Chúa Cha đã cho Đức Kitô Phục sinh để trở nên nguồn sống mới và chính Người sẽ dùng quyền năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại trong ngày sau hết. Vì thế, với tâm tình cảm tạ tri ân, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:

1. Khi sống lại từ cõi chết / Chúa Giêsu đã báo Tin mừng cho mấy phụ nữ và các tông đồ / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành phần Dân Chúa / trở nên những chứng nhân trung thành của Đấng Phục sinh.

2. Khi sống lại từ cõi chết / Chúa Giêsu đã chiến thắng tội lỗi và tử thần / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết cởi bỏ con người cũ / và mặc lấy con người mới theo hình ảnh Đức Kitô Phục sinh.

3. Khi sống lại từ cõi chết / Chúa Giêsu đã hiện ra nhiều lần với các tông đồ / và ban Thánh thần cho các ngài / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa cũng ban Thánh thần / để Người tái tạo chúng ta.

4. Khi sống lại từ cõi chết / Chúa Giêsu đem đến cho những ai tin Người bình an và vui mừng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành viên trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta / trở nên những sứ giả mang bình an / và niềm vui đến cho hết thảy mọi người.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chết đau thương và sống lại vinh hiển để cứu chuộc chúng con. Xin cho chúng con biết luôn cố gắng sống xứng đáng với tình thương hải hà của Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước Kinh Lạy Cha: Chúa Thánh Thần là Đấng cho chúng ta được tham dự vào sự sống và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô. Vậy chúng ta hãy kết hợp với Chúa Thánh Thần mà dâng lên Chúa Cha những lời cầu nguyện do chính Chúa Giêsu dạy.

- Sau Kinh Lạy Cha: "…. Xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an, sự bình an mà Chúa Giêsu phục sinh luôn chúc cho các môn đệ…"

VII. GIẢI TÁN

Chúa Giêsu đã sống lại. Ngài đang hiện diện trong cuộc sống chúng ta và trong thế giới. Chúng ta hãy làm chứng cho Ngài, làm chứng về niềm vui và sự bình an của Ngài. Alleluia, alleluia.

-----------------------------------
 

PS 1-ABC420: Tôi đã thấy Chúa!


(Suy niệm của Alphonse Marie Trần Bình An)
 

Tour de France thường được xem như là cuộc đua xe đạp khó khăn nhất thế giới mặc dù thật PS 1-ABC420


Tour de France thường được xem như là cuộc đua xe đạp khó khăn nhất thế giới mặc dù thật ra địa hình đường đua không đòi hỏi cao hơn hai cuộc đua xe đạp vòng quanh quốc gia khác: Giro d’Italia (Vòng đua nước Ý) và Vuelta a Espana (Vòng đua Tây Ban Nha). Đúng ra chính là các tay đua đã làm cho cuộc đua khó khăn hơn: ở đây người ta đua nhanh hơn, cứng rắn hơn và không nhân nhượng nhiều hơn tất cả các cuộc đua xe đạp khác.

Cuộc đua bắt đầu từ năm 1957 bằng phần gọi là prologue (khởi đầu), phần đua cá nhân tính giờ (khoảng 5 đến 10 km). Trong 20 chặng đua tiếp theo đó, sau mỗi chặng thường có 1 đến 2 ngày nghỉ, nước Pháp được luân phiên chạy vòng theo chiều kim đồng hồ hay ngược lại. Sau vụ tai tiếng về chất kích thích (doping) trong năm 1998, chiều dài tổng cộng được giảm còn vào khoảng 3.500 km. Đường đua và các địa điểm cho từng chặng thay đổi hằng năm, chỉ có đại lộ Champs Élysées ở Paris, địa điểm chấm dứt Tour de France từ năm 1975 là không thay đổi. Một số đèo qua núi cao cũng được đưa vào đường đua hầu như mỗi năm.

Các ngày đầu tiên của Tour de France hầu như lúc nào cũng mang dấu ấn của các chặng đường bằng phẳng miền bắc nước Pháp, thích hợp cho các cuộc so tài ở tốc độ nhanh trước khi kết quả chung cuộc được quyết định trên các vùng núi cao Pyrénées và Alpes. Ngoài ra trong Tour de France còn phải đua tính thời gian cá nhân hai lần và từ năm 2000 lại có đua tính thời gian thời gian đồng đội.

Ngay từ thời kỳ đầu, đường đua đã vượt biên giới nước Pháp trong vài chặng riêng lẻ, từ năm 1954 địa điểm xuất phát cũng được tổ chức trong các nước lân cận không theo một quy luật nhất định (cho đến nay là ở Đức, Tây Ban Nha, Ý các nước thuộc nhóm Benelux (gồm Bỉ, Hà Lan, Luxembourg), Thuỵ Sĩ, Anh và Ireland. Kế hoạch tổ chức xuất phát Tour de France từ New York hay từ các phần đất nước Pháp ngoài Châu Âu tuy đã có từ lâu, nhưng cho đến nay vẫn chưa được thực hiện, vì các vấn đề về tiếp vận quá lớn. (Wikipedia)

Cuộc đua Tour de France tranh chiếc áo vàng, cùng tiền thưởng sôi động hằng năm, có thể gợi ý cho Tín hữu Kitô nhớ đến cuộc chạy của quý bà đạo đức, hai môn đệ Phêrô và Gioan, hối hả không kém, cùng chạy ra ngôi mộ trống tìm Chúa Phục Sinh. Tuy chẳng danh lợi, nhưng phần thưởng cực kỳ cao quý. Mỗi người tham gia đều nhận được một phần thưởng riêng, tuỳ theo thành quả đạt được từ tình yêu, tâm hồn nhiệt thành và quyết tâm tích cực.

Trích đoạn Tin Mừng thánh Luca của đêm vọng Phục Sinh, không nhắc đến kết quả mỹ mãn của bà Maria Mắcđala, nhưng các thánh sử Matthêu, Marcô và Gioan đều công bố bà Mắcđala đã được gặp Đức Giêsu sống lại. Vậy bà chính là người đầu tiên được diễm phúc hạnh ngộ với Chúa Phục Sinh. Nhờ đâu bà được diễm phúc như thế?

Lửa mến

Thánh sử Luca chỉ vắn tắt kể về bà Maria Mắcđala và quý bà đạo đức đi viếng mộ. “Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn…” (Lc 24, 1-11) Ba thánh sử còn lại đều tường thuật tương tự, nhưng khá chi tiết hơn. Chính xác, thánh sử Máccô còn quả quyết khẳng định: “Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu hiện ra trước tiên với bà Maria Mắcđala, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ.” (Mc 16, 9) Thánh sử Gioan còn đặc biệt dành riêng một trường đoạn tường thuật khá tỉ mỉ cuộc hạnh ngộ: ”…. Bà Maria Mắcđala đi báo cho các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa!” (Ga 20, 11-18)

Sau khi được Đức Giêsu giải thoát khỏi bảy quỷ ám, khỏi những tội lỗi chế ngự, bà Maria Mắcđala hân hoan đón nhận ơn gọi theo Chúa ngay từ Galilê. Hăng say, nhiệt thành, rộng rãi, bà đóng góp của cải, lẫn công sức vào hành trình rao giảng Tin Mừng Nước Trời. “Thời gian sau đó, Ngài rảo qua các thành, các làng, mà rao giảng và loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa. Có nhóm mười hai đi với Ngài, và ít phụ nữ đã được chữa lành khỏi quỉ dữ cùng đau yếu: Maria gọi là người Mắcđala, có bảy quỉ đã xuất ra khỏi bà và Yoanna vợ của Khuza, viên quản lý của Hêrôđê, và Susanna cùng nhiều bà khác: họ đã lấy của cải của mình mà trợ giúp Ngài.” (Lc 8, 1-3)

Trong khi các môn đệ đồng loạt trốn chạy, bỏ rơi Đức Giêsu cô đơn chịu khổ nạn, bà Maria Mắcđala và các bà đạo đức vẫn âm thầm đồng hành với Người suốt chặng đường thập giá. Cả bốn thánh sử đều ghi tỏ tường bà Măcđala và các bà đứng chứng kiến giây phút sầu thảm trên đỉnh đồi Golgotha. (Mt 27, 55-56; Mc 15, 40-41 & Lc 23, 49) Dưới chân thập giá, ngoài Đức Mẹ Maria và môn đệ Gioan, vẫn không thiếu vắng Maria Mắcđala. (Ga 19, 25)

Rồi bà Maria Mắcđala và các bà cũng tiếp tục hiện diện trong cuộc mai táng Đức Giêsu trong mồ do ông Giôxếp chủ trì tẩm liệm, với “chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương”. (Mt 17, 57-61; Mc 15, 42-47; Lc 23, 50-55). “Cùng đi với ông Giôxếp có những người phụ nữ đã theo Đức Giêsu từ Galilê. Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào. Rồi các bà về nhà, chuẩn bị dầu và thuốc thơm. Nhưng ngày Sabát, các bà nghỉ lễ như Luật truyền.” (Lc 23, 55-56)

Chỉ có thể lý giải vì lửa mến hừng hực, nồng nàn, mãnh liệt, bà Maria Mắcđala mới có thể trung thành, kiên trì theo Chúa từ Galilê đến tận đỉnh Golgotha. Chẳng lo ngại tính mạng, chẳng sợ bạo lực quân dữ, lẫn cơn say máu của giới lãnh đạo tôn giáo và quần chúng điên cuồng, bà Maria Mắcđala và quý bà đấm ngực, đau đớn, khóc lóc than thở, đều can đảm đồng hành với Chúa chịu khổ hình, đến tận Núi Sọ. “Ði theo Ngài, có đám dân đông đảo cùng phụ nữ: các bà này đấm ngực và khóc than Ngài.” (Lc 23, 27)

Tình yêu còn thêm đậm đà ngát hương từ bình dầu thơm, mang ra mộ vào sáng sớm tinh mơ ngày thứ nhất trong tuần. Thánh Luca có lẽ muốn diễn tả lửa mến rất nồng thắm, thuần khiết, tinh tuyền và bền vững của bà Maria Mắcđala dành cho Đức Giêsu.

Niềm tin

"Làm sao các ngươi đi tìm Ðấng sống giữa những người chết? Ngài không có đây, nhưng đã sống lại. Các ngươi hãy nhớ lại Ngài đã nói làm sao với các ngươi, khi còn ở Galilê, rằng: "Con người phải bị nộp trong tay những người tội lỗi, bị đóng đinh thập giá, và sống lại ngày thứ ba." Lời thiên sứ phán dạy, mặc khải trực tiếp mầu nhiệm Phục Sinh cho bà Maria Mắcđala và những người đi cùng.

Đồng thời thiên sứ trao cho họ trách nhiệm làm chứng nhân cho Chúa Phục Sinh. Nhờ tình yêu Chúa dẫn dắt, họ sớm được vinh dự đón nhận hồng ân tin cậy vào Lời Chúa. “Và họ đã nhớ lại các lời của Ngài.” Vội vàng trở về, Bà Maria Mắcđala đã thành chứng nhân, Tông đồ cho các Tông đồ (Apostola Apostolorum). “Ði thăm mộ về, họ đã nói lại hết các điều đó cho nhóm Mười một, và các kẻ khác hết thảy, Ðó là các bà Maria người Mắcđala, Gioanna, và Maria mẹ của Giacôbê. Và các bà khác làm một với họ, đều nói các điều đó với các tông đồ. Nhưng trước mắt các tông đồ, các lời nói ấy có vẻ là lời nói sảng, và họ không tin các bà.”(Lc 24, 9-11)

Tiếc thay, các đấng còn nặng nề thành kiến, kỳ thị, phân biệt giới tính, không hề tin họ. Bất ngờ cuộc đua marathon xảy ra tự phát giữa các ông Phêrô, Gioan và bà Maria Mắcđala. ”Nhưng Phêrô chỗi dậy chạy đến mồ. Cúi mình nhìn vào, ông thấy chỉ có những dải vải mà thôi. Và ông lui về nhà, kinh ngạc về sự đã xảy ra.” (Lc 24, 12)

Hạnh ngộ

Chung cuộc, chỉ có ông Gioan“đã thấy và đã tin.” (Ga 20, 8) Còn ông Phêrô vốn thủ lãnh, thì chỉ dám dè dặt ghi nhận sự kiện nóng bỏng ngôi mộ trống, cùng băng vải và khăn che đầu đã cẩn thận sắp xếp lại. “Sau đó, các môn đệ lại trở về nhà.” (Ga 20, 10)

Chỉ còn lại kiên trì một mình bà Maria Mắcđala, nước mắt giọt vắn giọt dài, vừa thống hối tội lỗi mình, vừa thương nhớ Đức Giêsu, lẫn hy vọng trông cậy. “Bà Maria Mắcđala đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ.” (Ga 20, 11) Bà lại thấy hai thiên thần mặc áo trắng xoá. “Thiên thần hỏi bà: "Này bà, sao bà khóc?" Bà thưa: "Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu. Nói xong, bà quay lại và thấy Ðức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Ðức Giêsu. Ðức Giêsu nói với bà: "Này bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?" Bà Maria tưởng là người làm vườn, liền nói: "Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” (Ga 20, 13-15)

Trước lửa mến nồng nàn, tuyệt đỉnh yêu thương, Đức Giêsu không thể nào nhẫn tâm làm ngơ, chẳng nỡ từ chối lòng khao khát cháy bỏng. Bà Maria Mắcđala liền được diễm phúc hạnh ngộ, được Người thương yêu đáp lại, gọi đích danh. “Ðức Giêsu gọi bà: "Maria!" Bà quay lại và nói bằng tiếng Hípri: "Rápbuni!"nghĩa là “Lạy Thầy, ” Ðức Giêsu bảo: "Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: 'Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em.” (Ga 20, 16-17)

Tình yêu dẫn đến niềm tin, rồi niềm tin dẫn đến cậy trông, hy vọng và tình yêu đáp lại. Bà Maria Mắcđala đã chân thành yêu Chúa, hoàn toàn tin Lời Chúa và đã hạnh phúc gặp được Chúa Phục Sinh. Bà đã nghe, đã sống trọn vẹn Tin Mừng: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.” (Lc 11, 9-10)

“Chúa hiện diện bên con, không phải chỉ là một tâm tình, nhưng Chúa phải chiếm hữu cả con người con, hướng dẫn, yêu thương, an ủi con.” (Đường Hy Vọng, số 241)

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh hằng sống, Chúa đang hiện diện bên con, đang ẩn giấu trong anh chị em tha nhân. Xin Chúa mở mắt, mở tai, mở tâm hồn chúng con, để chúng con hạnh phúc như bà Maria Mắcđala, được gặp Chúa, nhìn thấy Chúa, cũng như lắng nghe được tiếng Chúa luôn mời gọi chúng con mãi đi theo Chúa.

Lạy Mẹ Maria, suốt đời Mẹ đồng hành cùng Chúa, nhất là trong mầu nhiệm thương khó và Phục Sinh. Xin Mẹ san sẻ, thương ban cho chúng con tình yêu Mẹ dành cho Con Mẹ, để tâm hồn chúng con bùng lên, nóng hổi lửa mến, niềm tin, đức cậy, để luôn được hạnh ngộ cùng Chúa Giêsu Phục Sinh. Amen.

-------------------------------
 

PS 1-ABC421: Đường Emmau, Đường Thương Xót


(Suy niệm của ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt - Đan viện Châu Sơn - 2016)

Đại Lễ Phục sinh Năm Thánh 2016 (Cv 10, 34a.37-43; 1Cr 5, 6b-8; Lc 24, 13-35)
 

Lời Chúa hôm nay nói về những con người mới. Thánh Phê-rô và thánh Phao-lô trở nên người mới PS 1-ABC421


Lời Chúa hôm nay nói về những con người mới. Thánh Phê-rô và thánh Phao-lô trở nên người mới sau khi gặp Chúa Phục Sinh. Tin mừng trình bày chi tiết hai môn đệ buồn phiền chán nản đến tuyệt vọng: Bỏ Giê-ru-sa-lem; Bỏ lý tưởng; Bỏ cộng đoàn; Bỏ Chúa. Họ đi vào đêm đen, tâm hồn chìm trong bóng tối, không lối thoát. Họ đang chết. Nhưng, Chúa đã đến. Chúa làm ấm lên cõi lòng băng giá; Chúa làm sáng lên đêm đen; Chúa làm sống lại hi vọng. Họ trở lại: với Chúa, với anh em, với lý tưởng và với sự song.

Chúa Giê-su đã phục sinh các tâm hồn nhờ những phương thuốc thần diệu sau:

1. Chúa phục sinh. Họ chết vì nghĩ rằng Chúa đã chết. Họ sống lại ngay khi biết Chúa sống lại. Nhưng để phục sinh Chúa đã phải trải qua khổ nạn, trải qua cái chết, trải qua nhục nhã, trải qua thất bại.

2. Chúa đi tìm. Con người cô đơn và buồn phiền. Đi trên con đường tăm tối bất định. Họ không thể tìm Chúa nên Chúa đi tìm họ. Chúa đến gặp họ, ngay trên đường họ đi, ngay trong nỗi buồn của họ.

3. Lúc trời đã tối. Buổi tối là lúc nghỉ ngơi. Chẳng ai làm việc buổi tối, nhất là phải ra đường thì rất nguy hiểm. Nhưng Chúa đã lên đường lúc trời tối vì Chúa thương những tâm hồn tăm tối hơn bóng tối.

4. Chúa chia sẻ. Chúa đến chia sẻ những ưu tư lo lắng của họ. “Các anh có chuyện gì mà buồn thế”? Chúa để họ chia sẻ nỗi niềm. Họ được dịp giãi bầy. Chúa lắng nghe. Chúa giải nghĩa Thánh Kinh suốt chặng đường dài mấy giờ đồng hồ.

5. Chúa trở nên người bạn. Từ người xa lạ Chúa đã trở thành thân thiết. Đến nỗi họ không muốn rời xa Chúa nữa, vì Chúa hiểu họ và giúp họ.

Đó chính là Lòng Thương Xót của Chúa. Lòng Thương Xót nhìn thấu nỗi cô đơn tuyệt vọng; Quan tâm đi tìm những tâm hồn lạc lõng bơ vơ; Chiếu sáng và sưởi ấm giữa đêm đen lạnh lẽo; Cảm thông chia sẻ với những tâm hồn cô đơn; Chữa lành những tâm hồn bị thương tích; Phục sinh những tâm hồn đang chết dần mòn.

Thế giới hôm nay tràn đầy những con người như thế: buồn sầu, tuyệt vọng nhưng chẳng có ai cứu giúp. Vì con người ngày nay quá bận rộn, chỉ chú ý đến bản thân, không có thời giờ cho người khác. Mỗi con người đang trở thành một con đường cô đơn đi về sự chết, cần có Chúa, cần có Lòng Thương Xót để đường Em-mau trở thành đường yêu thương gặp gỡ, đường sự sống. Ta hãy thực hành những gì Chúa đã làm. Đó là:

Hãy đi tìm. Biết bao anh em đang cô đơn lạc lõng giữa ngã ba đường, đang khao khát được gặp gỡ, được chia sẻ.

Hãy khẩn cấp lên đường. Dù giữa đêm khuya. Biết bao người sắp chết đang chờ đợi ta.

Hãy trò chuyện. Hãy lắng nghe. Biết bao nỗi lòng cần được giãi bầy, cần được cảm thông.

Hãy làm bạn. Một người bạn sẵn sàng chia vui sẻ buồn, sẵn sàng hiện diện. Có mặt dù chỉ để cảm thông, chỉ để ăn một bữa cơm, chỉ để nói một câu chuyện, hoặc giản đơn chỉ để ở bên nhau dù không làm được gì.

Nhưng trước hết và trên hết ta hãy phục sinh chính mình. Thánh Phao-lô mời gọi ta hãy chết cho con người cũ để “sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa” được tỏ hiện. “Đừng lấy men cũ là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ”.

Hãy đón nhận Lòng Thương Xót của Chúa Phục Sinh. Hãy đem Lòng Thương Xót gieo rắc khắp nơi để bất cứ con đường nào ta đi cũng trở thành Đường Em-mau, Đường của Lòng Thương Xót; để bất cứ ai gặp ta cũng gặp được Lòng Thương Xót, gặp được lòng tốt, gặp được sự cảm thông chia sẻ, gặp được một người bạn.

Lạy Chúa, hằng ngày Chúa đi bên cạnh con mà con không nhận biết Chúa. Xin cho con nhận ra Chúa trong những người anh em sống chung với con, đi bên cạnh con, cùng làm việc với con. Amen.

--------------------------------
 

PS 1-ABC422: Người Khách Lạ trên đường Emmaus


(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy)
 

Qua bài Tin Mừng, Thánh Luca cho biết hai môn đệ này không thuộc nhóm các tông đồ. Ông PS 1-ABC422


Qua bài Tin Mừng, Thánh Luca cho biết hai môn đệ này không thuộc nhóm các tông đồ. Ông Clêôpát được nêu đích danh (câu 18), còn môn đệ kia thì không. Họ nhận được tin tức do các phụ nữ thuật lại (câu 22), và hình như họ cũng thường được nghe Đức Giêsu tiên báo, sau “ba ngày” sẽ có một điều gì đó xảy ra (câu 21) nhưng xem ra họ đã mất hy vọng (câu 21) và quyết định đi về Emmaus. Việc họ dứt khoát không chịu ở lại Giêrusalem một ngày nào nữa cho thấy họ không hiểu và cũng chưa tin vào lời Đức Giêsu đã tiên báo (18, 33-34) về cuộc phục sinh của Người. Câu chuyện trên đường Emmaus diễn tả tình yêu vô bờ bến mà Đức Giêsu đã dành cho các môn đệ. Các môn đệ đã bỏ mặc Đức Giêsu suốt ba ngày qua, nhưng rồi “chính Đức Giêsu đã tiến đến gần” giữa sự sợ hãi, ngờ vực và bối rối của họ. Bất chấp tất cả, Đức Giêsu vẫn tiếp tục hiện diện với những người mà Ngài đã chết vì họ.

Thánh Luca đã ghi lại “đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ” (Lc 24, 15). Đức Giêsu không chỉ đến gần, mà “cùng đi với họ”. Điều này cho thấy Đức Giêsu không chỉ hiện diện với các môn đệ trước cuộc tử nạn, mà còn hiện diện với họ cả sau cuộc tử nạn nữa. Đức Giêsu không bỏ mặc những ai cần đến Người. Hôm qua cũng như hôm nay và cho đến muôn đời, Đức Giêsu vẫn luôn đến gần và cùng đi với những ai cần Người nâng đỡ.

Một câu chuyện mà chúng ta đã nghe rất nhiều lần: “khi thành công, hạnh phúc, vui sướng... anh thấy có bốn dấu chân trên cát. Đó là hai dấu chân của anh và hai dấu chân của Chúa. Thiên Chúa đồng hành để chia sẻ niềm vui với anh.

- Khi anh thất bại, đau khổ, buồn sầu… anh chỉ thấy có hai dấu chân trên cát. Và anh nghĩ đó là hai dấu chân của mình. Thiên Chúa đã bỏ rơi khi anh thất bại. Thiên Chúa đã vắng bóng khi anh đau khổ.

Sau đó, anh thắc mắc với Chúa: "khi con thành công, hạnh phúc... Chúa lại đồng hành với con, đi với con... nhưng khi con thất bại, đau khổ... những lúc con cần Chúa thì Chúa lại bỏ rơi con. Tại sao Chúa lại đối xử với con như thế?"

Chúa Giêsu trả lời: "khi con vui thì Ta đi bên cạnh con, đi với con, song hành cùng con. Còn khi con buồn, đau khổ, thất vọng thì Ta đã vác con trên vai, cho nên dấu chân trên cát là của Ta chứ không phải của con".

Câu chuyện thật ấn tượng: quả vậy, Thiên Chúa luôn đồng hành với con người trên mọi nẻo đường. Ngài không bao giờ bỏ rơi con người. Khi con người gặp đau khổ và thất vọng, Ngài an ủi, đỡ nâng, ban thêm sức mạnh và tình yêu.

Câu chuyện “người khách lạ trên đường Emmaus” nhắc nhở chúng ta điều này: coi chừng chính chúng ta cũng không nhận ra Đức Giêsu nơi những người chung quanh chúng ta.

Chúng ta sống với những người chung quanh, mà không bao giờ hoặc rất ít khi ta nhận ra Thiên Chúa hay Đức Giêsu ở nơi họ. Dường như đối với ta, Thiên Chúa hay Đức Giêsu là người ở đâu đâu, ở trên trời, ở trong nhà tạm của nhà thờ, hoặc ở khắp nơi một cách thiêng liêng. Ngài có vẻ là một thực tại rất trừu tượng, nếu có cụ thể thì chỉ là những ảnh vẽ, những bức tượng bất động, vô hồn. Và tình yêu của chúng ta đối với Ngài cũng rất trừu tượng, chỉ được thể hiện bằng sự hướng thiện, bằng việc năng cầu nguyện, năng tham dự và lãnh nhận các bí tích. Nhưng bài Tin Mừng hôm nay nhắc lại cho chúng ta một chân lý hết sức quan trọng: Thiên Chúa hay Đức Giêsu có thể chính là người bộ hành mà mình ngỡ là rất xa lạ. Nghĩa là Ngài có thể mặc lấy những bộ mặt khác nhau, hình dáng khác nhau, với những tính tình khác nhau, tư cách điệu bộ khác nhau nơi những người ta gặp trên đời, nơi những người sống chung quanh ta. Và tình yêu của chúng ta - nếu có - đối với Ngài thì phải được thể hiện cụ thể nơi những con người cụ thể ấy, chứ không phải một cách trừu tượng.

Có thể nói: muốn yêu mến Thiên Chúa, thì cách tốt nhất, cụ thể nhất và chắc chắn nhất là yêu những người chung quanh ta, và bất kỳ người nào ta gặp trong cuộc đời. Và cũng có thể nói một cách chắc chắn: nếu ta không yêu những người ấy, thì ta không thật sự yêu Đức Giêsu hay yêu Thiên Chúa. Nếu ta tưởng rằng mình yêu Thiên Chúa, yêu Đức Giêsu bằng cách này hay cách khác, nhưng ta không hề yêu Ngài nơi những con người cụ thể chung quanh ta, thì tình yêu ấy chắc chắn chỉ là một ảo tưởng. Rất có thể ta đang yêu chính bản thân mình một cách ích kỷ, nhưng sự ích kỷ ấy lại mặc lấy một hình thức khôn khéo là yêu Thiên Chúa hay Đức Giêsu một cách trừu tượng.

Thánh Gioan viết: "nếu ai nói: "tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy" (1Ga 4, 20).

Tóm lại, bài Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta chân lý quan trọng này: tha nhân chính là hình ảnh, hay một cách nào đó, là hiện thân của Thiên Chúa hay Đức Giêsu. Thiên Chúa hay Đức Giêsu đang ở giữa chúng ta, ở với chúng ta qua những người chung quanh chúng ta.

Lạy Chúa, bài Tin Mừng hôm nay thật là tuyệt vời, nó cho con thấy và nhắc lại cho con một chân lý kỳ diệu: những người gần gũi với con, sống chung quanh con một cách nào đó là hiện thân của Chúa, nếu con yêu mến Chúa tất nhiên phải yêu những người ấy. Và chỉ khi con yêu thương họ, con mới chứng tỏ được rằng con thật sự yêu mến Chúa. Lạy Chúa, xin giúp chúng con tâm niệm và thực hiện điều Chúa dạy trong bài Tin Mừng hôm nay. Amen.

------------------------------
 

PS 1-ABC423: Lắng đọng và bình an


(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’ – Thiên Phúc)
 

Có một thanh niên lực lưỡng xin đốn cây để phụ giúp gia đình. Thấy anh vạm vỡ, chủ liền trao PS 1-ABC423


Có một thanh niên lực lưỡng xin đốn cây để phụ giúp gia đình. Thấy anh vạm vỡ, chủ liền trao cho anh một chiếc rìu, dẫn anh vào rừng và bảo:
- Anh thử đốn cây này cho tôi xem.

Vì đã từng lao động, nên anh đốn rất nhanh. Ông chủ nhận anh vào làm việc, đưa ra mức lương và cho nơi cư ngụ. Dù mệt nhọc nhưng anh cảm thấy rất vui, vì nghĩ rằng cuối tuần sẽ có một số tiền kha khá đem về gia đình. Thứ Hai, thứ Ba, rồi thứ Tư vùn vụt trôi qua. Đến ngày thứ Năm, chủ gọi anh vào cám ơn và trao cho anh tiền công cả một tuần.

Anh vui sướng cầm những tờ giấy bạc thấm đẫm mồ hôi, đôi mắt rạng ngời niềm vui. Bỗng chợt nhận ra có điều gì bất thường, anh thắc mắc hỏi chủ:

- Tôi rất cảm ơn chủ đã trả lương cho tôi suốt tuần. Nhưng sao không để đến thứ Bảy mà lại trả lương vào hôm nay.

- Đáng tiếc là tôi không thể mướn anh được nữa, vì theo sổ sách thì anh đốn được nhiều cây nhất vào ngày thứ Hai, nhưng qua ngày thứ Ba cây đã giảm xuống, và ngày thứ Tư anh là người đốn được ít cây nhất trong các công nhân ở đây.

- Nhưng thưa ông chủ, tôi đã làm hết sức mình. Tôi đi làm sớm về trễ. Tôi chỉ ngỉ để ăn trưa có nửa tiếng thay vì một tiếng. Tôi làm việc không ngừng. Tôi làm việc cả giờ giải lao nữa. Vậy ông chủ còn muốn gì nữa?

- Những gì anh vừa nói không sai chút nào, tôi hoan nghênh sự nhiệt tình của anh. Nhưng tôi chỉ xin hỏi anh một câu: ANH CÓ MÀI RÌU KHÔNG?

***

“Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút” (Mc 6, 31). Sau cuộc hành trình truyền giáo vất vả, các tông đồ phấn khởi thuật lại cho Đức Giêsu nghe những thành quả vàng son của mình. Nhưng Người lại quan tâm đến con người hơn là công việc. Người muốn các ông hãy dành một chút nghỉ ngơi cho thân xác, một chút lắng đọng cho tâm hồn, để tách mình ra khỏi đám đông, để sống tình thầy trò, tương giao mật thiết với thầy và với nhau.

Lắm khi chúng ta quên mất “mài rìu”, vì cho rằng khối lượng công việc chồng chất, vì tời buổi kinh tế cạnh tranh, nên không dễ tìm được một chút tĩnh lặng: để thẩm định lại những biến cố, rà soát lại công việc đã làm và lắng nghe được tiếng Chúa mời gọi.

Nếu muốn đốn được nhiều cây càng phải năng “mài rìu” cho sắc.
Nếu muốn đi thật xa càng phải luôn dừng lại để nghỉ ngơi, lấy sức.
Nếu muốn hoạt động tông đồ hiệu quả, càng phải năng dưỡng tâm hồn.

Khi được hỏi bí quyết nào khiến George Washington Carver thành công trong thành tựu khoa học của mình với trên 300 sản phẩm hữu dụng, ông đã trả lời: “Tôi thức dậy lúc 4 giờ sáng, và trong sự yên tĩnh của buổi sớm mai, tôi lắng nghe tiếng Chúa và chương trình Người xếp đặt cho tôi.” P. Doncocur đã quả quyết: “Không một vĩ nhân nào đã thành công mà không đắm mình trong tĩnh lặng để hồi tâm và cầu nguyện”. Vâng, trong cuộc hành trình về quê Trời, người ta không thể đi hết con đường vừa dài vừa dốc, nếu không dừng lại nghỉ ngơi, lấy sức và định hướng..

***

Lạy Đức Giêsu, Chúa đã “lui vào nơi hoang vắng mà cầu nguyện”. Xin cho chúng con cũng biết gác bỏ những sôi nổi của thành công, những ê chề của thất bại, để một mình tĩnh lặng bên Chúa: lắng đọng và bình an. Xin cho chúng con biết dừng lại, lắng nghe và kín múc nơi Chúa nguồn sức mạnh, để chúng con lại tiếp tục lên đường. Amen!.

------------------------------
 

PS 1-ABC424: Thiên Chúa vẫn hằng sống


(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền - Lễ Đêm Vọng Phục sinh)
 

Trong đoạn Tin Mừng theo thánh Gioan chúng ta: “Thiên Chúa đã chết”. Đã có một lần người ta PS 1-ABC424


Trong đoạn Tin Mừng theo thánh Gioan chúng ta: “Thiên Chúa đã chết”. Đã có một lần người ta lên tới cung trăng rồi bảo rằng: “Chẳng có Thiên Chúa đâu cả!”. Và cũng có một thời người ta cho rằng: khoa học tiến bộ sẽ là nấm mồ chôn vùi Thiên Chúa. Nhưng rồi cho dù nhân loại có tốn bao nhiêu giấy mực, có tốn bao nhiêu công sức bỏ vào các công trình nghiên cứu đồ sộ để loại trừ Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn hiện diện. Thiên Chúa vẫn hằng hữu. Thiên Chúa vẫn hiện diện trong thế giới quanh ta và trong lòng mỗi người chúng ta. Thiên Chúa vẫn hiện diện như là một sự thật hiển nhiên mà chẳng có gì có thể che lấp được. Sự thật hiển nhiên đó được chứng tỏ qua các tôn giáo, qua các lễ nghi thờ tự phong phú nơi các dân tộc qua mọi thời đại. Có thể nói “nơi nào có con người là nơi đấy có những cách biểu lộ niềm tin vào Thiên Chúa khác nhau”. Thế nên, niềm tin vào Thiên Chúa đã gắn liền với bản tính con người. Con người là loài vật duy nhất có khả năng nhìn nhận Thiên Chúa và bày tỏ những hình thức tôn thờ Ngài. Đó là một chân lý mà không ai có quyền bác bỏ nơi anh em của mình. Đó là quyền tự do bất khả xâm phạm của con người mà những ai có lương tri đều phải nhìn nhận và tôn trọng.

Cách đây hơn hai ngàn năm, những quan chức Do Thái đạo lẫn đời đã từng tưởng rằng: cái chết của Chúa Giê- su sẽ kết thúc mọi lời rao giảng của Ngài, kết thúc mọi công trình mà Ngài đã xây dựng trong suốt ba năm rao giảng Tin mừng. Chính những người Do Thái tưởng rằng sau cái chết của Giê su thì mọi sự sẽ tan rã như thân xác của Ngài cũng sẽ tan rã theo quy luật của thiên nhiên. Thế nhưng điều đó đã không xảy ra. Cửa huyệt đã bị bật tung. Huyệt lạnh chỉ còn tấm khăn liệm. Thân xác của Ngài không tan rã nhưng đã phục sinh và hiện ra với nhiều người. Sự Phục sinh của Ngài đã quy tụ lại tất cả các môn đệ trở về với mái nhà xưa, mái nhà tiệc ly, mái nhà của tình thầy trò, của tình hiệp nhất bằng hữu. Các tông đồ hôm qua đang tan nát cõi lòng vì Thầy đã chết hôm nay họ lại bừng lên một sức sống mới khi nghe tin Chúa đã sống lại. Sức sống mới đó càng trào dâng khi chính các ngài đã nhìn xem thấy Thầy sống lại và hiện ra với họ. Sức sống mới đó càng mãnh liệt hơn khi chính họ được nghe Chúa nói: “Tại sao các ngươi lại đi tìm kẻ sống nơi kẻ chết. Chúa đã sống lại”.

Vâng, Chúa đã sống lại, chúng ta hãy vui lên. Ưu sầu hãy đổi thành niềm vui. Thất vọng hãy nhường lối cho hy vọng được trồi sinh. Các tông đồ sau khi nhìn thấy nấm mồ đã bị bật tung, các ngài đã quên đi sợ hãi, quên đi ưu phiền để đem niềm vui Phục sinh đến cho anh em của mình. Lời rao giảng:”Chúa đã chết và đã sống lại” đã trải rộng khắp muôn nơi và đến tận cùng trái đất. Bất chấp mọi hiểm nguy, mọi đe doạ của các thế lực bạo quyền, các tông đồ vẫn trung thành với lời rao giảng về Chúa đã sống lại. Thánh Phê-rô thì bảo rằng: “Phải vâng lời Thiên Chúa hay vâng lời vua quan trần thế”. Thánh Phaolo thì nói rằng: “Tôi sống không còn là tôi sống mà là Đức Kyto đang sống trong tôi”. Chính vì những xác tin đó mà các ngài đã vượt qua mọi sợ hãi, mọi gian nguy kể cả phải đi vào phong ba bão táp, tù đầy và bị giết, các ngài vẫn hiên ngang, vì tin rằng Chúa đã sống lại đó là niềm hy vọng và vui mừng của chúng ta, vì nếu chúng ta cùng chịu đóng đinh với Người, chúng ta cũng sẽ được sống lại với người.

Ước gì niềm tin Phục sinh sẽ thay đổi đời sống chúng ta như đã từng thay đổi lối nghĩ, cách sống của các môn đệ. Ước gì niềm vui Phục sinh sẽ giúp chúng ta dám vượt qua những cám dỗ thấp hèn để sống một cuộc đời cao đẹp hơn. Xin cho chúng ta dám làm chứng cho tin mừng Phục sinh của Chúa bằng đời sống lắng nghe và thực thi lời Chúa trong cuộc sống thường ngày. Amen.

----------------------------
 

PS 1-ABC425: Chúa Phục Sinh và vụ cháy nhà thờ Đức Bà


(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Sau trận hỏa hoạn kinh hoàng thiêu cháy nhà thờ Đức Bà Paris (Pháp), nhiều người tự hỏi tại PS 1-ABC425


Sau trận hỏa hoạn kinh hoàng thiêu cháy nhà thờ Đức Bà Paris (Pháp), nhiều người tự hỏi tại sao Thiên Chúa lại để mặc nó xảy ra mà không làm gì cả?

Đó là một thắc mắc tương tự hậu biến cố 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ, khi đó, con gái của một vị giảng thuyết nổi tiếng được mời trả lời phỏng vấn trên truyền hình và MC đã hỏi cô ta như sau:

“Tại sao Thiên Chúa lại có thể để xảy ra một thảm họa khủng khiếp như vậy?”

Câu trả lời của thiếu nữ này thật là thâm thúy: “Tôi nghĩ là Thiên Chúa rất buồn vì điều đó, ít nhất là Ngài cũng buồn bằng chúng ta. Từ bao năm nay, chúng ta đã yêu cầu Ngài đi ra khỏi trường học, khỏi chính phủ và khỏi đờisống của chúng ta. Ngài là người 'quân tử' nên đã lẳng lặng rút lui.

Làm sao chúng ta có thể mong Chúa ban ơn lành và che chở chúng ta khi chúng ta đã luôn đòi Ngài để mặc chúng ta tự quyết định?

Về những biến cố mới xảy ra như tấn công khủng bố, bắn giết trong trường học, chiến tranh trên thế giới..., và tại Việt nam thì cướp của giết người, hiếp dâm, xì ke ma tuý xâm chiếm trên mọi ngõ ngách cuộc sống..., chúng ta có nghĩ rằng là do xã hội đã vắng bóng Chúa không?

Khởi đầu với Madeleine Murray O’Hare, khi bà ấy than phiền là không nên đọc kinh trong trường học nữa. Và chúng ta đã đồng ý!

Rồi lại một người khác lại có ý kiến là chúng ta không nên đọc Kinh Thánh nơi trường học, cũng chính quyển Kinh Thánh trong đó dạy chúng ta: 'Chớ giết người, chớ trộm cắp, yêu thương tha nhân như chính bản thân mình, v.v...', và chúng ta cũng đã đồng ý!

Điều Kỳ Lạ... là con người có thể loại trừ Chúa một cách dễ dàng rồi sau đó lại tự hỏi tại sao thế giới biến thành địa ngục. Thiên Chúa đâu sao không can thiệp khi chính mình đã loại bỏ Ngài?

Điều Kỳ Lạ... là chúng ta lại có thể tin những gì báo chí nói mà lại nghi ngờ những gì Kinh Thánh nói.

Thiên Chúa là có thật. Ông Trời là có thật. Thần Thánh là có thật, tại sao chúng ta không tin mà là tin những giáo thuyết mơ hồ của người phàm để rồi con người chỉ lao vào đấu tranh giai cấp và loại trừ lẫn nhau?

Có một Thiên Chúa, một Ông Trời điều khiển  con người và vạn vật hơn là để cho con người tự điều khiển mình dẫn đến một thế giới diệt vong trong đó con người đầy đoạ nhau.

Hôm nay chúng ta mừng Chúa sống lại là dịp để chúng ta tuyên xưng niềm tin của mình vào Thiên Chúa hằng sống. Chính Đức Ky-tô đã đi qua cái chết mà vào cõi sống đời đời để nhắc nhở chúng ta rằng Ngài vẫn đang sống và hiện diện bên cạnh chúng ta. Ngài vẫn đang đi vào từng cuộc đời chúng ta. Ngài đã gõ cửa từng tâm hồn chúng ta, nhưng liệu chúng ta có nhận ra Ngài hay không?

Kinh Thánh nói rằng: khi các người phụ nữ đến bên nấm mồ của Chúa. Họ đã kinh ngạc và hãi hùng. Vì tảng đá che cửa mộ đã bị bật tung ra ngoài. Họ vào trong nhưng không thấy gì. Họ tưởng rằng xác Chúa đã bị ai đó lấy đi. Họ tìm kiếm nhưng vô vọng. Họ thấy một người mặc áo trắng, tưởng là người làm công nên mới hỏi: "Ai đã lấy xác Chúa tôi rồi?". Nhưng các bà lại nghe một lời mà chưa bao giờ được nghe: "Tại sao các bà lại tìm người sống ở giữa kẻ chết? Người đã trỗi dạy và ra khỏi mồ". Nấm mồ này và khăn liệm này đã không còn dùng để phủ kín một đời người nữa! Nó không có ích cho người còn sống, có chăng là dấu chỉ cho sự thật hiển nhiên là Chúa đã sống lại từ trong cõi chết. Người không còn ở đây. Người đã ra khỏi mồ. Hãy đi báo tin cho các môn đệ và Người sẽ gặp các ông tại Ga-li-lê-a.

Vâng, Chúa đã phục sinh. Nấm mồ của sự chết đã bị bật tung. Sự lạnh vắng cô quạnh của đêm tối sự chết đã bị đẩy lùi bằng ánh sáng phục sinh huy hoàng. Con người sinh ra không phải để chờ chết như bao người lầm tưởng. Sinh ra - lớn lên - gia nua - rồi chết. Thế là hết một cuộc đời. Sứ điệp phục sinh cho chúng ta hiểu rằng: con người sinh ra là bước vào một cuộc hành trình tiến về nhà Cha. Nơi mà ngày xưa Adam - Eva đã từ đó ra đi, nay nhờ cuộc Tử Nạn và Phục sinh của Chúa khai mở cho chúng ta con đường trở về Nhà Cha. Chúa Phục sinh. Cửa trời rộng mở. Con người có thể hành hương về trời. Về với hạnh phúc bất diệt, là nơi "không còn sự chết, không còn than khóc đau thương nữa". Nơi đó, không còn đêm tối, không còn những cuộc chia ly từ biệt, cũng không còn nước mắt nhớ thương.

Ước gì niềm vui Phục sinh sẽ biến đổi chúng ta thành con người mới. Con người của ân sủng. Con người của tự do không bị những đam mê thấp hèn thống trị, không bị những thói đời gian dối làm mất đi vẻ đẹp của phẩm giá cao quý của con người được tạo dựng giống hình ảnh Chúa. Ước gì niềm tin Chúa đã phục sinh giúp chúng ta biết chiến đấu mỗi ngày để chiến thắng cái ác, chiến thắng tật xấu bằng những hy sinh khổ chế, bằng cuộc sống bác ái yêu thương để mai này chúng ta cũng được phục sinh vinh hiển với Chúa. Và ước gì nhân loại hôm nay hãy để Chúa dẫn dắt ngõ hầu sẽ được hưởng một nền hoà bình và một xã hội thịnh vượng tràn đầy niềm vui. Amen.

-------------------------------
 

PS 1-ABC426: Chúa Phục Sinh, Chúa Hằng Sống


(Suy niệm của Lm. Joemarie Hoàng, CRM)
 

Cuốn phim the Passion of the Christ của Mel Gibson đã trở thành cuốn phim bàn tán rất sôi PS 1-ABC426


Cuốn phim the Passion of the Christ của Mel Gibson đã trở thành cuốn phim bàn tán rất sôi nổi trong mấy tháng qua trên toàn thế giới và cũng là cuốn phim đã lôi cuốn thật nhiều người xem, đã đem nhiều lợi ích thiêng liêng đến cho rất nhiều người trong Mùa Chay Thánh. Một bạn trẻ đã tâm sự với tôi rằng, “đáng lẽ thì mỗi tối Thứ Sáu trong Mùa Chay tôi tới nhà thờ để cầu nguyện và suy ngắm đàng thánh giá. Nhưng tôi thấy xem cuốn phim Passion của Gibson làm tôi thật cảm động nên tôi đã đi xem phim này vào mỗi ngày Thứ Sáu trong suốt Mùa Chay năm nay để tôi có dịp suy ngắm những đàng thánh giá của Chúa một cách sống động hơn.”

Có người đã góp ý rằng giá Mel Gibson làm nổi bật cái biến cố Phục Sinh hơn qua những lần Chúa hiện ra với các phụ nữ và tông đồ, và đem lại cho họ những vui mừng, bình an, phấn khởi mới mẻ trong cuộc sống thì cuốn phim sẽ tuyệt vời hơn nhiều, vì nó liên kết mầu nhiệm đau khổ và Phục Sinh rõ ràng hơn.

Ý Nghĩa Phục Sinh

Thánh Phaolô nói rằng: “Nếu Chúa Kitô đã không sống lại thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa cả những người an nghỉ trong Chúa Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.” (1Cor. 15, 17-19).

Thật thế, nếu Chúa đã không sống lại thì chúng ta thật là những người đáng thương vì những đau khổ và cái chết của chúng ta chẳng cho chúng ta một hy vọng gì. Nhưng Thánh Phaolô cũng như Maria Madalêna, Phêrô và Gioan mà Phúc Âm nói đến hôm nay đều làm chứng nhân cho việc Chúa đã sống lại. Do đó tất cả những đau khổ, thánh giá và sự chết của chúng ta đều có ý nghĩa, vì Chúa đã thực sự phục sinh. Vì Chúa đã Phục Sinh nên Mẹ Maria, Maria Madalêna, và các tông đồ mới hân hoan vui mừng đầy sức sống để làm chứng cho sự Phục Sinh của Ngài. Vì sức sống phục sinh trào dâng trong lòng Mẹ và các Tông Đồ nên Giáo Hội được thành hình và lớn lên xinh đẹp.

Chúa Phục Sinh, Chúa của Lịch Sử Cứu Rỗi

Phúc Âm kể lại những dấu chứng việc Chúa đã sống lại từ cõi chết: chiếc mồ trống, khăn liệm trong mồ, những cuộc gặp gỡ giữa Chúa với Maria Madalêna và các tông đồ. Tất cả những chi tiết trong những lần hiện ra với Mary và các tông đồ đều liên kết với nhau và minh chứng Ngài đã sống lại thật.

Như thế việc sống lại của Chúa không phải là việc tưởng tượng, suy diễn, nhưng thực sự là biến cố lịch sử có nhân chứng thời gian và không gian. Những nhân chứng đó đã bổ túc và làm nên đức tin truyền thống tốt đẹp của Giáo Hội trong hơn 20 thế kỷ qua. Việc tin Chúa Phục Sinh không phải chỉ là thuần túy của đức tin nhưng còn mang tính chất sự kiện lịch sử. Chúa đã làm biết bao nhiêu phép lạ cứu rỗi giải thoát con người khỏi tăm tối tội lỗi và đưa vào ánh sáng phục sinh cứu rỗi. Phêrô và các tông đồ say sưa đem bình an của Chúa Phục Sinh đến cho từng vạn từng ngàn người.

Biến cố lịch sử này đã và vẫn trở thành trung tâm điểm cho những sinh hoạt của Giáo Hội. Trọng tâm của sinh hoạt tu đức phụng vụ của Giáo Hội phát sinh từ biến cố này. Sức sống và đức tin của Giáo Hội được duy trì và phát triển hằng ngày nhờ việc cử hành mầu nhiệm biến cố này. Sứ mạng truyền giáo và sinh hoạt truyền giáo xoay quanh ý nghĩa của Phục Sinh. Các chương trình giáo dục huấn luyện của Giáo Hội cũng luôn lấy trung tâm mầu nhiệm cuộc thương khó và Phục sinh của để khai thác và đào sâu.

Những cuộc hiện ra của Mẹ Maria trên thế giới cũng đưa con người lơ là với Chúa đến với mầu nhiệm Phục Sinh qua Bí Tích Hòa Giải và Thánh Thể.

Chúa Phục Sinh, Chúa Hằng Sống

Chúa Giêsu thấy rõ Mẹ Ngài luôn ôm ấp và thực hành những gì Ngài đã dậy nên ngài đã đề cao Mẹ trong việc tin và giữ Lời Chúa. Mẹ Ta và anh em Ta là những người nghe Lời Chúa và đem ra thực hành (Lk 8:21). Mẹ luôn tin điều Chúa dậy các tông đồ: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta sẽ không bao giờ chết” (Jn. 11:25, 26).

Mẹ luôn hy vọng và hoàn toàn tin rằng Con Mẹ sẽ sống lại, dù người ta có đánh đòn và giết Ngài thì Ngài cũng sẽ sống lại như Ngài đã nhiều lần nói đến. Đó là lý do để Mẹ thêm can đảm đồng hành theo Chúa trong mọi biến cố khó khăn, đặc biệt trong cuộc thương khó của Ngài. Mẹ tin rằng Con Mẹ là Đấng Hằng Sống, người đời gian ác giết thân xác Ngài nhưng xác Ngài sẽ Phục Sinh khải hoàn.

Mẹ tin Con Mẹ và biết rằng Ngài sẽ phục sinh. Khi Maria Madalena và các Tông đồ còn đang hoang mang về việc phục sinh của Chúa khi thấy xác Chúa không còn trong mồ, thì Mẹ đã đang vui mừng với Con Mẹ vì Ngài đã phục sinh. Nhiều tài liệu trong thời Giáo Hội sơ khai đã đề cập tới Mẹ là người đầu tiên được Chúa hiện đến sau khi ngài Phục Sinh.

Mẹ đã đồng công trọn vẹn với Chúa trong cuộc hành trình cứu chuộc và đặc biệt trong biến cố thương khó vác thánh giá mà không hề nghi ngờ bỏ cuộc, nên Mẹ xứng đáng hưởng ơn Phục Sinh trước hết mọi người. Mẹ luôn tin rằng Con Mẹ là Thiên Chúa, Ngài đã chịu chết và sống lại vinh quang

Với Me. Chúa Giêsu Phục Sinh không chỉ là con người lịch sử của thời gian, của sách vở, nhưng là một Thiên Chúa làm người thật sự sống động trong mọi biến cố to nhỏ trong cuộc đời. Dù Chúa không còn ở với Mẹ như trong gia đình Nazareth xưa, nhưng Mẹ cảm nhận được Ngài vẫn đang sống trong lòng Me, trong đời Mẹ từng giây từng phút. Ở bất cứ đâu và làm bất cứ điều gì Mẹ cũng cảm được Chúa đang sống trong Mẹ và với Mẹ, đặc biệt trong Thánh giá khổ đau và trong Thánh Lễ.

-----------------------------
 

PS 1-ABC427: Biến đổi trở thành con người mới

 

Một câu chuyện dụ ngôn của Nhật Bản kể về Hoàng tử bị gù lưng, theo tục lệ của Hoàng Triều đang PS 1-ABC427


Một câu chuyện dụ ngôn của Nhật Bản kể về Hoàng tử bị gù lưng, theo tục lệ của Hoàng Triều đang trị nước, bất cứ Hoàng tử nào được chỉ định thế nghiệp Vua Cha thì phải đúc tượng của mình đặt vào trong Bảo Tàng Viện của Quốc Gia để lưu danh muôn thuở. Tiếc thay vị Hoàng tử được chỉ định này lại là vị Hoàng tử bị khuyết tật gù lưng nên nhất định không chịu cho tạc tượng mình trưng trong Bảo Tàng Viện.

Cuối cùng với áp lực của nhà Vua, Hoàng tử chấp nhận nhưng với hai điều kiện:

Thứ nhất, tạc tượng Hoàng tử không bị gù lưng, nhưng đứng thẳng người như thể không bị khuyết tật nào cả.

Thứ hai, Hoàng tử được giữ bức tượng này trong phòng riêng cho tới khi nào mình chết thì bức tượng mới được đem trưng trong Bảo Tàng Viện Quốc Gia.

Làm như vậy Hoàng tử muốn giấu đi những khuyết tật của mình không cho thần dân trong nước biết đến. Vua cha để tuỳ ý. Sau khi đã có bức tượng rồi, Hoàng tử đem trưng trong phòng riêng, hàng ngày đứng ngắm mình lâu trước bức tượng, vừa cố gắng thẳng người lên như bức tượng và điều lạ lùng xảy ra, sau thời gian dài ngắm bức tượng thẳng người, Hoàng tử cảm thấy mình như thật sự đã đứng thẳng người, không còn gù lưng nữa.

Đây là một chuyện dụ ngôn nhưng cũng có thể được người Kitô chúng ta áp dụng vào trong cuộc sống tinh thần của mình. Đến với Chúa Giêsu Kitô, khuyết tật gù lưng thể xác không có gì là xấu phải giấu diếm, nhưng gù lưng tinh thần không những là khuyết tật xấu, mà còn là tội lỗi, là những tật xấu bám chặt với điều xấu.

Hoàng tử gù lưng không bằng lòng với khuyết tật thân thể của mình. Người Kitô chúng ta cũng ý thức về những khuyết tật tinh thần của mình.

Không bao giờ bằng lòng với những khuyết tật này, Hoàng tử có một ước muốn mãnh liệt thoát ra cảnh gù lưng. Người Kitô cũng cần có ước muốn mạnh mẽ thoát ra khỏi những tật xấu của mình. Hoàng tử nhờ nhìn vào bức tượng thẳng người, là lý tưởng của mình và trở thành thẳng người; người Kitô chúng ta cần nhìn thẳng vào lý tưởng của chúng ta là Chúa Giêsu Kitô và không những phải nhìn từ cái nhìn bên ngoài mà thôi mà còn thực hiện điều Chúa Giêsu mong ước, đó là sống kết hiệp với Ngài để trở nên giống Chúa đến mức độ trở nên giống Chúa đến mức độ như thánh Phaolô Tông Đồ đã sống: "Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi".

Tôi sống nhưng không phải là tôi mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi. Chúa Giêsu là mẫu gương của chúng ta, Chúa đã thực hiện cuộc vượt qua, đã chết và sống lại để thực hiện ơn cứu rỗi cho chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi những gì gù lưng tật xấu, để trở thành của ăn nuôi sống chúng ta và biến đổi chúng ta thành con người mới được tái tạo theo hình ảnh Chúa Kitô, và chúng ta cần luôn nhìn vào Chúa Giêsu Kitô để giải thoát mình khỏi những tật xấu, để chúng ta không còn bị gù lưng tinh thần mà đứng thẳng lên sống lại cuộc sống mới với Chúa.

Vậy mừng Lễ Phục Sinh hôm nay, chúng ta phải nhất quyết luôn nhìn vào Chúa để sống đồng hoá với Chúa, để mình sống sự sống của Chúa, để trở nên giống như Chúa và được phục sinh với Chúa. Alleluia.

-------------------------------------
 

PS 1-ABC428: Chúa đã sống lại thật rồi!


(Suy niệm của Huệ Minh)

Tin mừng Ga 20, 1-9: Chúa Kitô đã sống lại. Ngài đã mang lại một niềm hy vọng lớn lao cho nhân loại đang run sợ trước cái chết và đau khổ do hậu quả của tội lỗi. Nhưng thật đang buồn cho chúng ta vì thế giới không mấy quan tâm đến sự Phục sinh của Chúa.
 

Hôm nay, từ ngôi mộ trống và qua những lần hiện ra với các môn đệ sau khi phục sinh, Chúa Giêsu PS 1-ABC428


Hôm nay, từ ngôi mộ trống và qua những lần hiện ra với các môn đệ sau khi phục sinh, Chúa Giêsu tỏ cho chúng ta thấy Ngài là Sự Sống lại và là Sự Sống như đã từng khẳng định với chị em Mácta và Maria: "Ta là sự sống lại và là sự sống! Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Và bất cứ ai sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ."

Chúa Kitô đã sống lại. Ngài đã mang lại một niềm hy vọng lớn lao cho nhân loại đang run sợ trước cái chết và đau khổ do hậu quả của tội lỗi. Nhưng thật đang buồn cho chúng ta vì thế giới không mấy quan tâm đến sự Phục sinh của Chúa.

Điều này thật ra cũng dễ hiểu vì lý do của chúng rất đơn giản. Vì dù là biến cố vĩ đại, nhưng biến cố này đã được Đức Kitô thực hiện cách âm thầm, khiêm tốn. Chúa Giêsu phục sinh không xuất hiện một cách long trọng, vẻ vang trong đền thánh Giêrusalem để cho những người nỗi nang trong xã hội Do thái thời bấy giờ chiêm ngưỡng. Nhưng Ngài xuất hiện cho những người tầm thường, những người do chính Ngài ọi tên, những người cùng Ngài bẽ bánh, những người biết lắng nghe những lời bình an của Ngài... đặc biệt là những người biết ý thực được sự xuất hiện của Ngài. Và thậm chí họ là những người đã từng gặp khó khăn trong niềm tin vào sự phục sinh của Ngài.

Sự Phục Sinh của Ngài hoàn toàn là một mầu nhiệm của sự chiến thắng, hai mầu nhiệm của cùng một Đấng Cứu Thế, nhưng hoàn toàn phản diện nhau. Như vậy giá trị của đau khổ không phải là đau khổ mà là vượt qua đau khổ. Hiển nhiên bên kia của đau khổ là vinh quang, nhưng sự đau khổ của Con Thiên Chúa là sự đau khổ vinh quang, giá trị đau khồ mà Chúa Giêsu đã thực hiện là giá trị của Hy Lễ dâng lên Thiên Chúa Cha khác với giá trị đau khổ của phàm nhân. Vì vậy, người mang đau khổ vì Hy lễ thì khác với người mang đau khổ không có giá trị hy lễ.Như vậy, con người thì phải chết, nhưng Con Thiên Chúa thì Phục Sinh. Đó là niềm tin và hy vọng tuyệt đối cho những ai được xưng danh Kitô hữu đến giây phút cuối cùng.

Ta thấy một mình Maria đi thăm mồ Chúa từ sáng sớm. Việc thăm mồ của bà không phải hoàn toàn để tìm Chúa Giêsu Phục sinh, nhưng bằng con tim dạt dào lòng mến đối với vị thầy Giêsu chí thánh đã từng tha thứ và hướng cuộc đời bà rời xa bóng đêm tội lỗi, lật sang trang mới. Chính lòng cảm mến đó đã thúc đẩy bà lên đường viếng mộ Chúa, đây chỉ là việc thăm viếng bình thường. Nhưng đau thương chồng chất đau thương, bà hốt hoảng, xót xa khi nhận ra xác Thầy không còn nữa. Bà không nghĩ rằng Chúa đã sống lại, đã quên lời Thầy báo trước hôm nào. Bằng linh tính của người phụ nữ và bằng cảm thức của một con tim dạt dào tình yêu đối với Chúa Giêsu làm bà lo âu khắc khoải. Bà nghĩ ngay "xác Thầy đã bị đánh cắp". Niềm hy vọng của bà hiện nay là làm sao tìm lại xác của Thầy đã chết.

Maria chạy về báo tin cho Phêrô và Gioan, cả ba hối hả chạy đến mồ. Không thấy xác Thầy đâu, chỉ còn lại nấm mồ trống trơ, lạnh vắng với những khăn vải liệm được xếp ngăn nắp. Đứng trước mồ Chúa, ba người có ba thái độ khác nhau.

Nhìn những tấm khăn vải liệm được xếp ngăn nắp, Gioan tin Thầy mình đã sống lại. Vì chẳng ai ăn cắp xác Chúa lại phải tốn giờ sắp gọn gàng khăn liêm như thế!

Còn Phêrô thì không thấy Tin Mừng ghi lại một lời nào trước ngôi mộ trống. Chúng chỉ biết thánh Phêrô trở về nhà trong sự thinh lặng và chìm sâu trong suy nghĩ. Không phải ngài cứng lòng tin. Nhưng có lẽ vì là thủ lãnh tông đồ đoàn nên ngài cần thận trọng khi tuyên bố những gì về đức tin. Vì lời tuyên xưng của ngài có ảnh hưởng đến toàn thể Giáo hội. Còn Maria thì vẫn là bâng khuân với suy nghĩ "xác Thầy đã bị đánh cắp".

Phục Sinh của Đức Giêsu không có nghĩa là hồi sinh trở về đời sống cũ, giống như trường hợp con trai bà góa thành Na-im (Lc 7, 11-17), như con gái ông Gia-ia (Lc 8, 40-56), và đặc biệt như ông La-za-rô (Ga 11, 1-45). Cả ba trường hợp này người chết đã sống lại, nhưng đó chỉ là trở lại với đời sống cũ, và một ngày nào đó họ cũng phải theo số phận chung của loài người là phải chết một lần nữa, phải trở về với bụi đất. Họ vẫn còn nằm dưới quyền thống trị của sự chết.

Quả thật “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại.” (Rm 6, 4-5). Và chỉ đến khi đó, tôi mới thật sự vui mừng mà hoà chung tiếng hoan ca với mọi người: Chúa đã sống lại hiển vinh! Alleluia! Alleluia!

Sự Phục Sinh của Đức Giêsu là Ngài đã sống lại từ cõi chết. Ngài không sống lại một thời gian để rồi lại phải chết. Ngài hoàn toàn chiến thắng sự chết. Sự chết không còn làm gì được Ngài. Không định luật tự nhiên nào có thể chi phối được Ngài. Phục Sinh của Đức Giêsu đã trở nên nguồn mạch sự sống và là sự sống lại của mỗi người chúng ta. “Ta là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11, 24)

Niềm tin Phục sinh phải được loan báo cho muôn dâng bằng đời sống chứng nhân của các kitô hữu. Niềm tin Phục sinh phải được bày tỏ bằng một tình yêu xả thân trọn vẹn cho anh em.

Sống niềm vui Phục sinh là bằng lòng chết đi cho những đam mê của xác thịt; mai táng tính ích kỷ, tham lam, háo danh trong mộ đá, để được Phục sinh trong vinh quang với Người.

Sống niềm vui Phục Sinh là trỗi dậy sau những lần thất bại đắng cay, những mắt mát đớn đau trong cuộc đời để sống lại cùng với Đấng Phục sinh.

Cùng chết với Đức Kitô nghĩa là cùng chết đi con người cũ với những tính hư nết xấu để sống lại con người mới là con cái Thiên Chúa. Con người cũng phải chôn đi những tính xác thịt yếu đuối để từ khước những danh lợi thú mau qua. Nhất là con người cũng phải biết chết đi ý riêng của mình để ý Chúa được thục hiện trong cuộc đời chúng ta. Ý Chúa vẫn là tiếng mời gọi làm việc lành tránh điều dữ. Ý Chúa vẫn mời gọi chúng ta sống có ích cho tha nhân qua tinh thần bác ái, dấn thân phục vụ.

Tôi sống nhưng không phải là tôi mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi. Chúa Giêsu là mẫu gương của chúng ta, Chúa đã thực hiện cuộc vượt qua, đã chết và sống lại để thực hiện ơn cứu rỗi cho chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi những gì gù lưng tật xấu, để trở thành của ăn nuôi sống chúng ta và biến đổi chúng ta thành con người mới được tái tạo theo hình ảnh Chúa Kitô, và chúng ta cần luôn nhìn vào Chúa Giêsu Kitô để giải thoát mình khỏi những tật xấu, để chúng ta không còn bị gù lưng tinh thần mà đứng thẳng lên sống lại cuộc sống mới với Chúa.

------------------------------------
 

PS 1-ABC429: Ông đã thấy và đã tin mầu nhiệm Chúa Phục Sinh


(Suy niệm của Lm. Đan Vinh)

Tin mừng Ga 20: 1-9: Niềm vui Phục Sinh khởi đầu bằng việc bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi thăm mộ ngay từ sáng tinh sương ngày Thứ Nhất trong tuần. Bà hốt hoảng khi thấy tảng đá che cửa mồ đã bị lăn sang một bên và xác Thầy trong mộ biến mất.

I. HỌC LỜI CHÚA

Ý CHÍNH:
 

Gioan viết Tin Mừng nhằm mục đích “Để anh em tin rằng Đức GIÊSU là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa PS 1-ABC429


Gioan viết Tin Mừng nhằm mục đích “Để anh em tin rằng Đức GIÊSU là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (ga 20, 31). Riêng đoạn Tin Mừng hôm nay, Gioan cho thấy Đức GIÊSU thực sự đã từ cõi chết sống lại như Người đã báo trước.

CHÚ THÍCH:

- C 1:

+ Ngày Thứ Nhất trong tuần: Theo Sáng Thế Ký, thì một tuần lễ có bảy ngày. ngày Thứ Nhất là ngày sau ngày Sa-bát và bắt đầu một tuần lễ. Về sau, Giáo Hội dựa vào việc Chúa Phục Sinh hiện ra vào ngày Thứ Nhất, nên gọi là ngày Chúa Nhật hay Ngày Của Chúa.

+sáng sớm… lúc trời còn tối: Về thời gian khi các phụ nữ ra thăm mộ, các Tin Mừng có những diễn tả hơi khác nhau: Ở đây Gioan viết: “Sáng sớm ngày Thứ Nhất trong tuần, lúc trời còn tối” (x. Ga 20, 1); Còn Mát-thêu viết: “Sau ngày Sa-bát, khi ngày Thứ Nhất trong tuần vừa ló rạng (x. Mt 28, 1); So với Mác-cô: “Sáng tinh sương ngày Thứ Nhất trong tuần, lúc mặt trời hé mọc” (x. Mc 16, 2); Riêng Lu-ca lại viết: “Ngày Thứ Nhất trong tuần, vừa tảng sáng” (x. Lc 24, 1). + Maria Mác-đa-la: Mác-đa-la là một thị trấn nằm trên bờ phía tây biển hồ Ghen-nê-xa-rét. Là quê của bà Maria. Bà đã từng bị 7 quỷ ám trước khi theo Chúa GIÊSU (x. lc 8, 2). Bà là một trong những phụ nữ đầu tiên đã ra thăm mộ Chúa (x. Ga 20, 1; Mt 28, 1; Lc 24, 10). Trước đó, bà đã can đảm đứng gần thập giá (x. Ga 19, 25; Mt 27, 56) và đã chứng kiến hai môn đệ mai táng Thầy trong mồ (x. Mt 27, 61; Mc 15, 47).

- C 2:

+ Bà liền chạy về gặp ông Si-mon Phêrô: Câu này nói lên vai trò quan trọng đặc biệt của Phêrô là người đứng đầu Nhóm Mười Hai. Do đó, Maria Mác-đa-la cần phải báo cáo với ông trước tiên về việc xác Thầy biến mất.

+ Và người môn đệ thương mến: Cách nói “môn đệ được thương mến” là kiểu nói riêng trong Tin Mừng Gioan. Đây là cách tác giả nói về mình một cách khiêm tốn khi không muốn nhắc đến tên của mình.

+ Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ và chúng tôi không biết: Khi thấy mồ trống, Maria Mác-đa-la không nghĩ đến việc Chúa sống lại như nhiều lần Người đã báo trước, mà bà chỉ theo suy luận tự nhiên để cho rằng ai đó đã đến mang xác Thầy ra khỏi mồ. Từ “Chúng tôi” trong câu này ám chỉ Maria không đi ra mồ Chúa một mình mà đi chung với mấy bà khác nữa (x. Mt 28, 1).

- C 3-4:

+ Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ: Khi được các phụ nữ báo tin mộ trống và xác Thầy biến mất, hai môn đệ nòng cốt là Phêrô và Gioan liền tức tốc chạy ra mộ để kiểm tra thực hư. điều đó cho thấy lòng nhiệt thành và ý thức trách nhiệm trổi vượt của hai ông.

+ Môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước: Lý do Gioan chạy nhanh hơn và đến mộ trước Phêrô đơn giản là vì ông trẻ hơn nên khỏe và chạy nhanh hơn Phêrô, và có lẽ cũng vì nôn nóng do yêu mến Thầy nhiều hơn.

- C 5-6:

+ Băng vải còn ở đó: Đây là tấm vải lớn bao bọc toàn thân Đức GIÊSU. Khăn này theo truyền thuyết còn được lưu giữ tại nhà nguyện thánh Gioan ở Tu-ri-nô miền Bắc nước Ý.

+ Nhưng không vào: Gioa-an không vào có thể do ông tôn trọng và nhường cho Phêrô là đàn anh vào trước mình. Nhưng đúng hơn có lẽ do ông cảm thấy bàng hoàng trước sự kiện cửa mồ rộng mở và mải lo suy nghĩ về những tấm khăn để lại, đủ thời gian cho Phêrô theo sau kịp chạy đến nơi.

+ Si-mon Phêrô … vào thẳng trong mộ: Phêrô tính nóng nảy nên lập tức bước vào trong mồ.

- C 7-9:

+ Và khăn che đầu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi: Bên trong mộ các khăn liệm xác vẫn còn để lại, khác với trường hợp La-da-rô khi sống lại ra ngoài trong tình trạng “chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn (x. Ga 11, 43-44). Điều này cho thấy Đức GIÊSU không cần ai giúp đỡ khi trỗi dậy ra khỏi mồ. Người đã tự lăn tảng đá che kín mộ ra thì cũng có thể tự tháo gỡ các khăn liệm và khăn che mặt như vậy. Sự kiện khăn còn để lại cho Gioan thấy Thầy GIÊSU đã thực sự sống lại. Vì không kẻ trộm nào lại bỏ công sức và thời gian để làm một việc vô ích là cởi các dây vải ra và xếp gọn để vào một chỗ rồi mới đem xác trần đi cả! + Ông đã thấy và đã tin: Dấu chỉ ngôi mộ trống và các băng vải liệm xác được xếp gọn lại đã giúp Gioan suy luận và đạt tới đức tin vào mầu nhiệm Đức GIÊSU đã từ cõi chết sống lại.

+Trước đó hai ông chưa hiểu rằng: Theo Kinh Thánh, Đức GIÊSU phải trỗi dậy từ cõi chết: Trước khi thấy các dấu chứng vừa nói thì Gioan và các Tông đồ đều không tin Thầy các ông sẽ sống lại, dù Người đã báo trước tới ba lần (x. Mt 16, 21; 17, 23; 20, 19). Nhưng khi thấy các dấu chứng như mồ trống, các khăn vải liệm xác, dây băng được cuộn lại riêng một chỗ, thì các ông đã nhớ lại những lời Thánh Kinh được ứng nghiệm nơi Đức GIÊSU và tin Người đã thực sự sống lại từ cõi chết (x.Tv 16, 10; Tv 2, 7; Hs 6, 2).

CÂU HỎI:

1) Tại sao ngày nay người ta gọi ngày Thứ Nhất trong tuần là Chúa Nhật?

2) Về thời điểm bà Maria Mác-đa-la ra thăm mồ Chúa, so sánh bản tường thuật của 4 tác giả Tin Mừng khác nhau như thế nào?

3) Bạn biết gì về thân thế của bà Maria Mác-đa-la?

4) Bà đã báo tin xác Thầy biến mất cho ai? Tại sao?

5) Qua câu nói với Phêrô và Gioan, bà Maria Mác-đa-la có tin việc Thầy GIÊSU đã phục sinh hay không?

6) Hành động chạy nhanh ra mồ của Phêrô và Gioan cho thấy tinh thần trách nhiệm của 2 ông như thế nào?

7) Tại sao Gioan chạy nhanh hơn Phêrô? 8)Tại sao ông Gioan đến mộ trước Phêrô mà không vào bên trong mộ ngay? 9) Khi thấy hiện tượng mồ trống, băng vài và khăn che đầu được xếp gọn, hai ông đã tin gì về mầu nhiệm Đức GIÊSU sống lại?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: Ông đã thấy và đã tin (Ga 20, 8).

2. CÂU CHUYỆN:

1) Ngôi mộ trống của Đức Giêsu:

Đầu tháng 3/2007, kênh truyền hình Discovery đã cho trình chiếu một phim tài liệu mang tựa đề “Ngôi Mộ Thất Lạc của Chúa GIÊSU”. Nội dung xoay quanh việc khám phá khảo cổ năm 1980 ở khu Talpiot, phía đông Giê-ru-sa-lem. Mười hộp đựng cốt đã đưọc khai quật, trong đó có một hộp khắc tên GIÊSU con ông Giu-se. Phải chăng đoàn làm phim đã kiếm được bằng chứng khảo cổ về con người GIÊSU thành Na-gia-rét? Phải chăng đây là chứng cớ làm lung lay niềm tin vào Đấng Phục Sinh?

Các chuyên gia khảo cổ Do thái đã không cho là như thế. Vì chín phần trăm đàn ông Do thái ở thế kỷ thứ nhất mang tên GIÊSU; mười bốn phần trăm mang tên Giu-se. Đây không phải là lần đầu tiên, và cũng không phải là lần cuối cùng những hộp đựng cốt như thế này xuất hiện. Ít ra là đã có hai hộp mang tên GIÊSU con ông Giu-se được khai quật từ năm 1930. Câu chuyện tìm được hài cốt của Chúa GIÊSU chỉ là giả tưởng.

Như vậy chúng ta có thể đi đến một kết luận rằng tuy chúng ta không thể căn cứ vào sự kiện ngôi mộ trống để quả quyết một cách chính xác rằng Chúa đã sống lại thật, nhưng chúng ta phải nhận rằng sự kiện ngôi mộ trống là một sự kiện có thực. Sự thật này có thể được coi là một đóng góp quan trọng vào những sự kiện khác để chứng minh cho việc phục sinh của Chúa.

Mừng Chúa Phục Sinh, chúng ta tuyên xưng rằng: đằng sau câu chuyện “Ngôi Mộ Trống” là sự hiện diện đích thực của một “Đấng Phục Sinh”, của một quyền năng có sức mạnh biến cải những trái tim đang đau buồn thất vọng thành bừng sáng tin yêu, biến những con người yếu đuối nhát sợ nên mạnh mẽ tuyên xưng đức tin dù phải lấy cái chết mà “làm chứng” Thầy mình đã sống lại và đang sống.

2) Về sứ vụ rao giảng Tin Mừng Phục Sinh:

Sau khi chịu chết trên thập giá, Đức GIÊSU đã sống lại và vào trong vinh quang. Tuy vậy, trên tay chân và cạnh sườn Người vẫn còn mang những dấu tích đau thương từ những cây đinh nhọn và lưỡi đòng đâm thâu. Một vị thiên thần đã lên tiếng hỏi Đức GIÊSU rằng: “Chắc Chúa đã phải chịu muôn vàn đau khổ nhục nhã do loài người dưới thế gây ra?” Người đáp: “Đúng vậy!” Thiên thần hỏi tiếp: “Có phải tất cả con cái loài người đều biết Chúa đã chịu đau khổ và chịu chết để đền thay các tội lỗi của họ không?” Chúa trả lời: “Chưa đâu, mới chỉ có một số ít người nhận biết mà thôi”. Thiên thần lại nói: “Thế thì Chúa đã làm gì để họ nhận biết ơn cứu độ đó?” Chúa đáp: “Ta lại đi loan báo Tin Vui cho những người khác, đến khi nào tất cả mọi người trên địa đầu đều được nghe Tin Mừng cứu độ ấy mới thôi”. Vị thiên thần đã hiểu rõ tính bốc đồng của loài người và nghi ngờ họ nên hỏi tiếp: “Giả như Phêrô, Gioan và các Tông đồ quên thi hành sứ mệnh rao giảng đó thì sao? Nếu các tín hữu các thế hệ sau này có lúc nào đó gặp phải những bách hại chống đối của kẻ gian ác mà chán nản buông xuôi thì sao? Chúa có lập thêm một chương trình cứu độ nào khác nữa thôi?” Chúa GIÊSU trả lời: “Ta sẽ không bao giờ lập ra thêm một chương trình cứu độ nào khác nữa! Ta đã biết trước tính khí con cái loài người thường nhát đảm sợ sệt và bất định, nên đã thổi hơi ban sức mạnh Thần Khí của Ta cho họ, để giúp họ thi hành sứ mệnh, và Ta hoàn toàn tin tưởng họ sẽ chu toàn được sứ mệnh đó”.

3) Mầu nhiệm Phục Sinh diễn tả tình thương vô biên của Thiên Chúa:

Tại một nghĩa trang bên Đức, có mội ngôi mộ rất được chú ý, đó là ngôi mộ được làm bằng đá hoa cương, bên dưới đúc xi măng cột sắt rất kiên cố. Ngôi mộ được nhiều người chú ý vì đó là ngôi mộ của một người đàn bà giàu có. Trong chúc thư, bà yêu cầu người ta xây cho bà một ngôi mộ kiên cố, để nếu có sự sống lại của người chết, thì bà vẫn nằm yên dưới mộ. Trên mộ, bà ta xin được ghi: “Đây là ngôi mộ sẽ không bao giờ mở ra”.

Thời gian trôi qua, ngôi mộ xem ra vẫn kiên cố. Thế nhưng một hôm có một hạt giống rơi vào khe đá của ngôi mộ, gặp đất bên dưới, nó bắt đầu nẩy mầm, lớn lên thành cây, rễ của nó đâm xuyên qua ngôi mộ để rồi cuối cùng làm cho quan tài của người đàn bà vỡ ra.

Câu truyện trên đây diễn tả tình yêu vô bờ của Thiên Chúa đối với con người, khi cho Đức Ki-tô sống lại từ cõi chết để mở ra cho con người lối đi vào sự sống vĩnh cửu với Ngài. Con người có thể chối bỏ và khước từ Thiên Chúa, nhưng với muôn ngàn cách thế mà con người khôn lường được, Thiên Chúa vẫn tiếp tục theo đuổi con người. Con người tưởng mình có thể lẩn trốn được Thiên Chúa, nhưng qua một hạt giống nhỏ bé, tình yêu của Ngài vẫn tiếp tục len lỏi vào tâm hồn của con người. Thiên Chúa là Chúa của sự sống. Vinh quang, danh dự và niềm vui của ngài là cho con người được hưởng sự sống đời đời. Cho dù con người có loại bỏ Thiên Chúa để đi tìm cái chết, Ngài vẫn luôn theo duổi và chờ đợi con người đáp lại tình thương của Ngài để được sống với Ngài.

4) Gương can đảm tuyên xưng đức tin:

Một câu chuyện rất cảm động đã xảy ra hồi thế chiến thứ hai tại Liên xô.

Một người đàn bà bị bắt làm tù nhân trong một trại giam tại Liên xô cũ. Chính bà kể lại câu chuyện mà bà đã mắt thấy tai nghe, để mọi người tin vào sức mạnh của mầu nhiệm phục sinh của Chúa.

“Một buổi chiều kia, một cô gái trẻ cùng bị giam với chúng tôi đã kề miệng vào tai tôi hỏi khẽ:

- Chị biết hôm nay là ngày gì không?

Rồi không đợi tôi trả lời, cô ta nói tiếp:

- Hôm nay là ngày lễ Phục sinh.

Nghe thế tôi tự hỏi:

- Lễ Phục sinh đã đến rồi sao? Lễ của niềm vui và của hy vọng nhưng trong tù niềm vui của chúng tôi đã héo úa, khô cằn, còn niềm hy vọng thì ta để lại trong lòng và không dám suy nghĩ tiếp.

Bỗng một tiếng reo vang nổi lên phá tan bầu không khí nặng nề:

- Đức Kitô đã sống lại!

Tôi quay lại nhìn mặt cô gái vừa cất tiếng tuyên xưng đức tin và bắt gặp đôi mắt cô ánh lên sự lung linh huyền diệu. Cùng lúc ấy, từ mọi phía của các phòng giam khác vang lên câu trả lời:

- Ngài đã sống lại thật.

Quá sửng sốt, các nhân viên trại giam đứng bất động như tượng gỗ. Có lẽ trong tâm trí họ đang giận dữ lên án một việc chưa bao giờ xảy ra tại đây. Sau một lúc yên lặng, tôi nghe tiếng giày nặng nề tiến đến phòng giam của chúng tôi, rồi phòng bị mở tung cửa, hai nhân viên hỏi ai đã xướng câu mê tín dị đoan đó, và hùng hổ túm lấy cô gái lôi sền sệt ra khỏi phòng.

Qua tuần lễ Phục sinh, họ giam riêng cô vào phòng không có lò sưởi để qua cái lạnh thấu xương và cơn đói hành hạ một con người mà họ cho là cuồng tín sẽ phải gục ngã.

Một tuần sau, cô gái được trả lại phòng giam chung với chúng tôi. Mặt cô xanh xao, người cô gầy đi thấy rõ. Sau khi nằm yên tại một góc phòng, cô gái khều bọn tôi lại, và thều thào:

- Dù sao tôi cũng đã tuyên xưng niềm tin vào sự Phục sinh trong trại giam, những cái khác không quan trọng gì cho lắm.

Nói xong, cô cố gắng mỉm cười và tôi thấy ánh mắt cô vẫn ánh lên như dạo nào”.

3. SUY NIỆM:

Bằng lối văn súc tích và hàm chứa những tư tưởng sâu sắc, Tin Mừng Gioan đã mô tả cuộc hành trình đức tin và đức mến của ba nhân vật quan trọng trong bài Tin Mừng Phục Sinh hôm nay như sau:

1) Lòng mến đã thúc bách Maria Mácđala đi tìm Chúa:

Niềm vui Phục Sinh khởi đầu bằng việc bà Maria Mác-đa-la đi thăm mộ ngay từ sáng tinh sương ngày Thứ Nhất trong tuần. Bà hốt hoảng khi thấy tảng đá che cửa mồ đã bị lăn sang một bên và xác Thầy trong mộ biến mất. Cũng như do lòng mến đã làm cho bà thêm can đảm đứng dưới chân thập giá (x. Ga 19, 25), và ở lại chứng kiến việc 2 môn đệ an táng Thầy trước đó (x. Mt 27, 61), thì giờ đây lại thôi thúc bà cùng mấy bà khác đem theo dầu thơm ra mộ để ướp xác Thầy theo phong tục Do thái (x. Mc 16, 2). Khi thấy mộ trống, Maria hốt hoảng chạy về báo tin cho hai môn đệ Phêrô và Gioan (x. Ga 20, 2). Theo bà suy nghĩ thì ai đó đã đến lấy mất xác Thầy và bà không biết họ đã để Thầy ở đâu (x. Ga 20, 13.15). Maria không hề nghĩ rằng Thầy đã phục sinh, mà bà chỉ mong sao tìm lại được xác Thầy để mang về chôn lại trong mộ mà thôi. Sau khi Phêrô và Gioan chạy ra mộ rồi trở về, thì một lần nữa, do lòng mến thôi thúc, Maria lại quay ra mồ than khóc. Trong lần ra mộ thứ hai này, bà đã trở thành người đầu tiên gặp được Chúa Phục Sinh hiện ra. Người còn trao cho bà sứ mệnh đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các Tông đồ như sau: “Hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ rằng: Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em” (Ga 20, 17).

2) Lòng mến đã giúp Gioan nhận biết Chúa Phục Sinh trước anh em:

Gioan là một trong bốn môn đệ được Thầy kêu gọi đầu tiên (x Mt 4, 21). Là một trong ba môn đệ được chứng kiến Thầy biến hình (x Mt 17, 1) và cũng là người môn đệ được Thầy yêu mến nhất (x Ga 13, 23). Tình yêu đối với Thầy đã thôi thúc ông, làm cho ông trở thành người can đảm hơn cả: Không bỏ chạy nhưng âm thầm theo dõi các sự kiện xảy ra từ lúc Thầy bị bắt đến khi bị xét xử giữa hai tòa án đạo và đời; Can đảm đứng dưới chân thập giá để chứng kiến giờ phút cuối cùng của Thầy và được Thầy trăn trối Đức Maria làm Mẹ của mình và đón Mẹ về nhà mà phụng dưỡng thay cho Thầy (x Ga 19, 27). Cũng do tình yêu thôi thúc mà Gioan đã trở thành người môn đệ đầu tiên trong Nhóm Mười Hai nhận ra Chúa Phục Sinh tại biển hồ Ti-bê-ri-a (x Ga 21, 7). Cũng chính tình yêu ấy đã thúc bách Gioan chạy nhanh hơn Phêrô và đạt đến đức tin trước Tông đồ Phêrô (x Ga 20, 8).

3) Lòng mến làm Phêrô được tha tội và được trao quyền mục tử:

Phêrô là một trong bốn môn đệ đã theo Đức GIÊSU trước hết (x. Mt 4, 18-20). Ông đã tình nguyện bỏ hết mọi sự mà đi theo Thầy (x. Mt 19, 27-29; Lc 18, 28-30). Ông luôn được xếp đứng đầu danh sách Nhóm Mười Hai (x Mt 10, 2). Ông còn là một trong ba môn đệ được nhìn thấy Thầy biến hình trên núi cao (x Mt 17, 1), được chứng kiến phép lạ Người cho bé gái mới chết sống lại (x Lc 8, 51), được ở gần Đức GIÊSU khi Người hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-ni (x Mt 26, 37). Trong thời gian rao giảng Tin Mừng, Đức GIÊSU có lần đã đến ở trọ tại nhà ông Si-mon Phêrô tại thành Ca-phác-na-um (x Mc 1, 29). Phêrô thường đại diện anh em tuyên xưng đức tin “Thầy chính là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16). Nhờ đức tin đó, Phêrô đã được khen có phúc, và được Thầy hứa sẽ xây Hội Thánh trên nền tảng đức tin vững chắc như đá của ông. Người cũng trao quyền cầm buộc và tháo cởi cho ông (x Mt 16, 17-19). Ông còn được trao sứ mệnh củng cố đức tin cho anh em sau khi trở lại (x. Lc 22, 31-32).

Dù còn nhiều khuyết điểm như: bị Thầy nặng lời quở trách vì dám khuyên Thầy đừng chấp nhận con đường thập giá (x Mt 16, 22-23), hoặc có lúc ông đã bị Thầy trách kém lòng tin (x Mt 14, 31) hay trách khi ông không muốn cho Thầy rửa chân (x Ga 13, 6-8). Bị trách khi quá tự tin vào mình (x Mt 26, 33-35). Nhất là đã hèn nhát chối Thầy ba lần, dù đã được Thầy cảnh báo trước đó (x Mt 26, 69-75). Nhưng bù lại ông cũng có lòng yêu mến Thầy hơn mọi người. Lòng mến của Phêrô thể hiện qua việc dứt khoát bỏ nghề chài lưới bắt cá để theo Thầy làm nghề chài lưới các linh hồn (x Mt 4, 18-20). Ông cũng thường được Đức GIÊSU hỏi ý kiến như: Thầy trò có nên nộp thuế Đền thờ không? (x Mt 17, 24-27). Có lần ông hỏi ý Đức GIÊSU về số lần phải tha thứ cho anh em (x Mt 18, 21). Ông cũng đại diện anh em để tuyên xưng đức tin và thề quyết trung thành với Thầy đến cùng (x Ga 6, 68-69). Ông tỏ ra can đảm khi rút gươm ra chém tên đầy tớ của thượng tế để bảo vệ Thầy (x Ga 18, 10). Ông đi theo Gioan để theo dõi diễn tiến cảnh Thượng Hội Đồng xét xử Thầy (x Ga 18, 15). Trong Tin Mừng hôm nay, khi nghe các phụ nữ báo tin xác Thầy bị mất, Phêrô cùng Gioan chạy ra mộ để kiểm chứng thực hư. Trước sự kiện mồ trống, các khăn vải liệm xác vẫn còn, Phêrô đã tin Thầy đã sống lại chứ không bị trộm xác (x Ga 20, 8-9). Sau đó ông còn được Chúa Phục Sinh hiện ra trước anh em Nhóm Mười Một (x Lc 24, 34; 1 Cr 15, 5). Khi được Gioan quả quyết người mặc áo trắng đứng trên bờ hồ là Thầy, Phêrô vội khoác áo vào nhảy xuống biển bơi vào bờ để mau được gặp Thầy (x Ga 21, 7). Ông cũng tuyên xưng lòng mến ba lần và được Thầy trao sứ mệnh chăn dắt chiên con chiên mẹ và đàn chiên Hội Thánh (x Ga 21, 15-17). Lúc cuối đời ông còn chứng tỏ lòng mến tột cùng khi sẵn sàng chịu chết để làm chứng cho thầy (x Ga 21, 18-19).

4) Giá trị của đức tin và lòng mến:

Chính lòng mến Chúa đã làm cho Maria Mác-đa-la ăn năn sám hối tội lỗi, đi ra thăm mộ đầu tiên và đã được Chúa Phục Sinh hiện ra trao sứ mệnh loan báo Tin mừng Phục Sinh cho các Tông đồ. Cũng chính lòng mến đã làm cho Gioan nhận ra Thầy trước các anh em và thấy được ý nghĩa các sự kiện của mầu nhiệm Chúa Phục Sinh. Lòng mến cũng làm cho ông Phêrô luôn gắn bó với Thầy, hy sinh mọi sự để theo làm môn đệ của Thầy. Dù có lúc yếu đuối sa ngã phạm tội, nhưng ông đã mau hồi tâm sám hối và được Thầy tín nhiệm trao sứ mệnh làm Đá Tảng đức tin, củng cố đức tin cho anh em (x Lc 22, 32), và còn được trao quyền chăn dắt đàn chiên Hội Thánh.

Đối với các tín hữu chúng ta, lòng mến rất cần để ta khỏi bị thất vọng hay hốt hoảng khi gặp đau khổ thất bại giữa đời thường. Cuộc sống chúng ta nhiều lúc giống như một ngôi mộ trống rỗng, khi những gì chúng ta yêu quý nhất hoặc những người thân yêu nhất không còn, chúng ta thường chạy đôn chạy đáo đi tìm người chết trong nước mắt như Ma-ria Mác-đa-la xưa (x Ga 20, 11.13). Nhưng cái chết đã không giam hãm được sự sống: Sự sống đã trỗi dậy từ cõi chết; Ánh sáng đã bừng lên từ bóng tối tử thần;Tình yêu đã chiến thắng hận thù và Tin Mừng sẽ được loan báo đi khắp thế gian.

4. THẢO LUẬN:

1) Nơi Đức GIÊSU sự sống đã chiến thắng thần chết, tình yêu đã chiến thắng hận thù. Còn bạn, bạn có tin rằng đối với những kẻ biết đặt trọn niềm tín thác cậy trông vào Chúa thì “Sau cơn mưa trời sẽ lại sáng”, “Sau cơn bĩ cực tới hồi thái lai” hay không?

2) Khi gặp phải những hoàn cảnh đau thương trái ý, bạn cần làm gì để không bị chán nản thất vọng, nhưng luôn đặt trọn niềm hy vọng vào Chúa sẽ ban ơn giải cứu và giúp bạn được ơn trỗi dậy?

5. LỜI CẦU:

- Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh. Vì Chúa đã phục sinh, nên con luôn vững tâm cậy trông vào Chúa. Vì Chúa đã phục sinh, nên con sẽ không sợ khi gặp phải đau khổ thất bại trong cuộc đời. Vì Chúa đã phục sinh, nên con đã hiểu được lý do của những hành động dấn thân: Cha Đa-miêng hy sinh cả cuộc đời phục vụ các bệnh nhân phong cùi, Cha Kôn-bê đã tình nguyện chịu chết thế chỗ cho một tử tù, các thánh Tử Đạo VN đã sẵn sàng chịu chết để làm chứng cho Chúa.

- Lạy Chúa Giêsu. Sự phục sinh của Chúa vừa là lời mời gọi, lại vừa lôi cuốn chúng con hướng tâm hồn lên cao để nhận ra giá trị tương đối của sắc đẹp, tiền bạc, danh vọng, chức quyền trần gian… hầu noi gương các thánh: sẵn sàng hy sinh tất cả vì tình yêu Chúa và dám sống chết cho tình yêu ấy, để quyết dấn thân đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng, sẵn sàng đón nhận những đau khổ thua thiệt... vì xác tín rằng: “Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria.- Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

-------------------------------
 

PS 1-ABC430: ĐẤNG CHIẾN THẮNG


Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên
 

Một chi tiết nhỏ trong trình thuật thương khó của Thánh sử Gioan đáng chúng ta lưu ý: ngôi PS 1-ABC430


Một chi tiết nhỏ trong trình thuật thương khó của Thánh sử Gioan đáng chúng ta lưu ý: ngôi mộ Chúa Giêsu được an táng là một ngôi mộ mượn của người khác. Tác giả viết như sau: “Nơi Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai”. Thánh sử rất cẩn thận và chi tiết, khi nói đến một ngôi mộ mới, lại còn nhắc thêm: “chưa chôn cất ai”. Sự kiện Chúa Giêsu được an táng trong ngôi mộ mượn của người khác diễn tả sự nghèo khó đến tột cùng của Con Thiên Chúa làm người. Khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, Chúa không có đến một mảnh vải che thân. Hơn thế nữa, những kỳ lão, biệt phái và người dân thành Giêrusalem đi qua còn buông lời chế diễu Người. Trên thập giá, Người trở nên người nghèo hơn hết trong số những người nghèo. Không chỉ nghèo về vật chất, khái niệm “nghèo” còn được thể hiện qua sự tín trung và phó thác nơi Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).

Việc Chúa Giêsu được an táng trong một ngôi mộ mượn, cũng cho chúng ta thấy một góc cạnh khác của mạc khải. Thông thường, khi ta mượn của ai cái gì, ta chỉ dùng tạm, sau đó trả lại cho người có quyền sở hữu. Đức Giêsu được an táng trong ngôi mộ mượn, và Người cũng chỉ ở đó một thời gian ngắn. Đến ngày thứ ba, Người đã phục sinh, vinh quang sáng láng bước ra khỏi mồ. Ngôi mộ này chỉ là mượn. Điều này làm chúng ta liên tưởng tới con lừa Chúa cưỡi khi tiến vào thành Giêrusalem, cũng là con lừa đi mượn (x Lc 19,28-34). Phòng tiệc ly nơi Chúa mừng lễ Vượt Qua cũng là phòng đi mượn (x. Lc 22,7-13). Thân xác của Người không nằm yên trong mồ tối và chịu hư nát do tác động của thời gian. Ngôi mộ mượn ấy chỉ là điểm tạm dừng, chỉ là thời gian lắng đọng để giúp chúng ta suy tư về sự chết và sự sống nơi Thiên Chúa cũng như nơi con người. Đức Giêsu phục sinh đã chứng minh với chúng ta quyền năng Thiên Chúa nơi kiếp sống nhân sinh. Giây phút Chúa sống lại là một thời khắc quan trọng của lịch sử. Đó cũng là một điều phi thường của đức tin.

Trong sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu, sự sống đã chiến thắng sự chết. Khi bị bắt ở vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu đã nói với những người lính Do Thái: “Đây là giờ của các ông, là thời của quyền lực tối tăm” (Lc 22,53). Những gì xảy ra liên tiếp sau đó, cho thấy có vẻ như quyền lực tối tăm đã chiến thắng. Những kinh sư và người biệt phái, thậm chí cả thày Thượng tế, đều hả hê trước cái chết của Chúa Giêsu, vì họ đã diệt được một đối thủ. Đối thủ này dám lên án họ với những lời lẽ gay gắt. Sự phục sinh của Chúa đã đảo ngược tình thế. Sự sống đã chiến thắng sự chết. Đức Giêsu đã sống lại như Người đã nói trước đó. Cái chết và quyền lực của tối tăm đã thất bại. Sau này, thánh Phaolô đã mạnh dạn thách thức: “Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi?” (1 Cr 15,55).

Trong sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu, sự thiện đã chiến thắng sự ác. Trước những lời vu khống của một số kỳ lão Do Thái, trước sự hành hạ phỉ nhổ của quân lính Rôma, Chúa Giêsu vẫn khiêm nhường đón nhận. Người không dùng bạo lực để đối lại với bạo lực. Người như con chiên hiền lành bị đem đi xén lông. Chúa Giêsu là nạn nhân của bạo lực, của ghen ghét và hận thù. Cái chết trên thập giá và nhất là lời Chúa Giêsu cầu nguyện xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ giết mình chính là sự chiến thắng của sự thiện trên sự ác. Qua cái chết trên thập giá, Chúa nói với chúng ta: ở đời này, không phải lúc nào sự chết cũng là một thất bại, và không phải lúc nào kẻ mạnh hơn cũng là người chiến thắng. Đem hận thù đối lại với hận thù, chỉ làm cho hận thù càng chồng chất. Đem tình yêu vào nơi oán thù, sẽ làm cho hận thù tiêu tan. Đời sống cụ thể của chúng ta đã hơn một lần chứng minh điều ấy.

Trong sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu, niềm hy vọng chiến thắng sự thất vọng. Kể từ khi Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá, cây gỗ gồm một thanh ngang và một thanh dọc đã trở thành biểu tượng của hy vọng đối với các Kitô hữu. Đây không phải là sự ru ngủ, mua chuộc hay mị dân. Trái lại, niềm hy vọng đến từ quyền năng của Thiên Chúa. Hãy nhìn xem hai người trộm bị đóng đinh cùng với Chúa Giêsu: một người khước từ tin vào Chúa và thậm chí phê phán thách thức Người; trái lại, người kia lại cầu xin với lòng thành tín cậy trông. Người “trộm lành” đã được Chúa hứa ban thiên đàng ngay ngày hôm đó. Sự kiện này nhắc nhở chúng ta: dù tội lỗi đến đâu cũng không mất niềm hy vọng vào lòng thương xót của Thiên Chúa.

Ngày hôm nay, Đức Giêsu Phục sinh đến gặp những ai đang mang gánh nặng cuộc đời, Người mời gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28),

Ngày hôm nay, Đức Giêsu Phục sinh đến nâng đỡ những ai đang kiếm tìm chân lý và ý nghĩa cuộc đời, nhất là các bạn trẻ. Người khẳng định: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,16).

Ngày hôm nay, Đức Giêsu Phục sinh đến đổi mới tâm hồn những ai tin vào Người, với niềm xác tín “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16.16).

Ngày hôm nay, thế giới Kitô giáo đứng trước ngôi mộ trống và mang tâm trạng như tông đồ Gioan: “Ông đã thấy và đã tin” (Ga 20,8).

Ngôi mộ mượn của người khác chỉ là một điểm dừng chân của Chúa Giêsu. Người đã sống lại. Người đã chiến thắng tử thần và lòng hận thù ghen ghét. Người cũng đem lại niềm hy vọng cho những ai đang đau khổ chán chường do sức ép của gánh nặng cuộc đời. Ngôi mộ của người tín hữu cũng chỉ là nơi ở tạm, đợi ngày thân xác được phục sinh trong ngày tận thế. Mỗi chúng ta, khi mừng lễ Phục Sinh, hãy cùng với Chúa chiến thắng những tội lỗi bủa vây xung quanh chúng ta. Như thế chúng ta sẽ trở thành những người tự do, nhờ ân sủng của Đấng Phục sinh.

----------------------------
 

PS 1-ABC431: QUÁN TRỌ TRẦN GIAN


Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
 

Khi nói về những nơi chúng ta đến rồi đi người ta dùng rất nhiều tên gọi khác nhau như: ở trọ PS 1-ABC431


Khi nói về những nơi chúng ta đến rồi đi người ta dùng rất nhiều tên gọi khác nhau như: ở trọ, ở đậu, ở tạm . . . Và dường như trong cuộc đời dương thế này thì chẳng có nơi nào là định cư vĩnh viễn. Tất cả đều là tạm bợ như bài thơ “Ở Trọ” của Trịnh Công Sơn đã diễn tả:

“Con chim ở đậu cành tre, Con cá ở trọ trong khe nước nguồn“

Hình ảnh con chim đong đưa trên cành tre, con cá lững lờ trong dòng nước như những bức tranh tuyệt đẹp, nhưng cũng rất vô thường, mong manh. Vạn vật đều đi vào vòng tử sinh như kiếp người đến rồi đi nơi quán trọ trần gian:

“Tôi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời”

Và ngay cả cái đẹp của mây và nắng cũng rất mong manh, vì nó cũng mau tan biến.

“Mây kia ở đậu từng không,
 Mưa nắng ở trọ bên trong mắt người”

“Mây kia” và “nắng ấy” cũng chỉ trong chớp mắt rồi cũng tan biến. Điều quan yếu là  vạn vật tuy vô thường nhưng vẫn tác động vào nhau. Cành cây chuyển động theo gió, dòng nước luân lưu theo nguồn, và dẫu biết rằng dòng đời hợp rồi tan nhưng ai cũng mong được ở gần người mình thương, để ở trọ nhau trong đôi mắt, trong trái tim, trên đôi chân . . .

“Xin cho về trọ gần nhau. Mai kia dù có ra sao cũng đành“.

Trọ gần nhau đề hiểu nhau, thương nhau và san sẻ cho nhau chút tình đồng loại. Còn “Mai kia dù có ra sao cũng đành” dường là một bế tắc của kiếp người. Vì con người dường như mù tịt với “mai kia” khi rời quán trọ trần gian rồi sẽ đi đâu hay về đâu?

Chết rồi sẽ đi đâu trong cõi hồng trần này? Chẳng một triết gia nào tìm được câu trả lời thỏa đáng. Nhưng có một Đấng đã tự mình chết rồi sống lại. Sự phục sinh của Ngài đã trả lời cho mọi vấn nạn về kiếp sống con người. Như Thánh Phaolô quả quyết: “Nếu Chúa Kitô không sống lại thì niềm tin của chúng ta là điều vô ích, chúng ta là những người khờ dại nhất vì chúng ta tin tưởng vào một điều hão huyền”.

Như vậy sự phục sinh của Đức Ky-tô là câu trả lời đầy đủ cho vấn nạn sống để làm gì? Và chết rồi đi đâu? Thánh Gioan còn cho biết thêm: “Rồi tôi thấy trời mới, đất mới. Tôi cũng thấy thành thánh là Giê-ru-sa-lem mới từ thiên đàng của Thiên Chúa mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình. Ngài sẽ lau khô nước mắt của nhân sinh; sẽ không còn chết chóc, buồn thảm, khóc lóc hay đau đớn nữa vì những việc cũ đã qua rồi”.

Đó là hình ảnh của thiên đàng, nơi Chúa sẽ thiết đãi muôn dân một bữa tiệc trường sinh. Như thế cuộc sống trên trần thế nầy là cuộc sống tạm, cuộc sống trên thiên đàng mới là cuộc sống vĩnh viễn. Cuộc sống ấy không còn đau khổ vì chính Thiên Chúa sẽ lau khổ dòng nước mắt. Chính Thiên Chúa sẽ ban bình an, hoan lạc cho con cái của Người.

Cuộc sống này sẽ qua đi. Nhưng cuộc sống này lại là hạt giống, là căn nguyên để hình thành sự sống mai hậu. Điều này có nghĩa là sự sống của chúng ta có vĩnh cửu ở đời sau hay không còn tùy thuộc chúng ta đã sống một cuộc đời hôm nay như thế nào? Chúng ta có là hạt lúa chịu mục nát thì mới sinh ra cây lúa ở đời sau. Chúng ta có sự sống trong Chúa hôm nay thì mai sau chúng ta mới sống lại trong vinh quang với Chúa muôn đời.

Xin Chúa giúp chúng ta biết chọn Chúa trong cuộc đời này là cùng đích để mai sau sẽ cũng được sống lại với Người trong vương quốc trường sinh. Amen

-----------------------------
 

PS 1-ABC432: CUỘC CHAY ĐUA CỦA LÒNG MẾN


Lm. Ngọc Dũng
 

Chúng ta đang tìm kiếm gì trong cuộc sống này? Tiền tài và danh vọng? Nghề nghiệp và cơm PS 1-ABC432


Chúng ta đang tìm kiếm gì trong cuộc sống này? Tiền tài và danh vọng? Nghề nghiệp và cơm áo? Tình yêu và cảm thông? Ai trong chúng ta cũng có một mục đích để sống, để tìm kiếm. Tuy nhiên, nhiều người trong chúng ta vì quá lo lắng tìm kiếm những “thực tại dưới đất” mà quên mất rằng mình cũng phải tìm kiếm những “thực tại trên trời” nơi mà kho tàng của chúng ta không bị mối mọt đục khoét hay dòi bọ gặm nhấm. Thánh Phaolô trong bài đọc 2 dạy các tín hữu Côlôsê rằng: “Thưa anh em, anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” (Cl 3:1-2). Thánh Phaolô không có ý nói là chúng ta không quan tâm gì đến những thực tại trần thế. Chúng ta phải quan tâm. Điều Ngài muốn nói cho chúng ta là những thực tại trần thế không phải là đích điểm của chúng ta. Chúng chỉ là những phương tiện để chúng ta đạt đến những thực tại trên trời. Vì vậy, chúng ta không “ngủ quên” trong những thực tại trần thế mà quên rằng khi chết, chúng ta phải bỏ chúng lại đằng sau. Chúng ta phải nhớ rằng: “anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa” (Cl 3:3). Mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu phải được thực hiện trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta đã cùng chết với Chúa Giêsu, chết đi con người cũ của thế gian để sống một cuộc sống mới của nước trời. Đây chính là ý nghĩa đích thật của Mùa Phục Sinh mà chúng ta bắt đầu hôm nay và chúng ta được mời gọi hiện thực hoá ý nghĩa đó trong cuộc sống thường ngày của chúng ta. Nhưng đâu là những dấu hiệu cho tôi biết là tôi đang sống mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu?

Việc Chúa Giêsu phục sinh là chân lý tuyệt đỉnh của niềm tin của chúng ta. Giáo Huấn của Giáo Hội dạy chúng ta rằng: “Đức Giêsu Phục Sinh là chân lý tuyệt đỉnh của đức tin Kitô giáo, được cộng đoàn tín hữu tiên khởi tin và sống như là chân lý trung tâm, được Truyền Thống lưu truyền như chân lý căn bản, được các văn kiện Tân Ước xác lập, được rao giảng như phần chủ yếu của mầu nhiệm Vượt Qua và Thập Giá: Đức Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã chết để chiến thắng tử thần và ban sự sống cho kẻ đã chết” (Sách GLGHCG, số 638). Nhưng đâu là bằng chứng phục sinh của Chúa Giêsu? Lời Chúa trong các bài đọc hôm nay, nhất là bài đọc 1 và bài Tin Mừng, trình bày cho chúng ta những “bằng chứng” về sự Phục Sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta cùng nhau chia sẻ về những “bằng chứng” này và rút ra những đặc điểm cho biết chúng ta đang sống mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Giêsu.

Chứng cớ thứ nhất, “những chứng nhân mắt thấy tai nghe.” Đây là bằng chứng quan trọng nhất mà chúng ta thường đòi hỏi nơi những người làm chứng. Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta lời chứng của Thánh Phêrô. Trước tiên, chúng ta tự hỏi: Ở đâu Thánh Phêrô có được sự can đảm để làm chứng cho Chúa Giêsu nếu không phải đã chứng kiến sự phục sinh của Chúa Giêsu? Người mà trước khi Chúa Giêsu phục sinh đã hèn nhát chối Ngài ba lần, giờ lại mạnh dạn không sợ hãi làm chứng cho Ngài: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại” (Cv 10:39-41). Chứng cớ thứ nhất mời gọi chúng ta học từ Thánh Phêrô và các tông đồ khác, biết làm chứng cho Chúa Giêsu cách không sợ hãi qua một đời sống mới, một đời sống đụng chạm đến tình yêu của Ngài trong đời sống phụng vụ và cầu nguyện, trong đời sống phục vụ và yêu thương, trong đời sống tha thứ và cảm thông. Đây là dấu hiệu đầu tiên cho biết chúng ta đang sống mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu: Làm chứng cho Chúa Giêsu qua đời sống tốt lành, thánh thiện của mình.

Chứng cớ thứ hai, “ngôi mộ trống.” Theo truyền thống của Giáo Hội, hình ảnh “ngôi mộ trống” là một trong những chứng cớ quan trọng về sự phục sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta trích ở đây Giáo Huấn của Giáo Hội trình bày về chứng cớ này: “Trong biến cố phục sinh, yếu tố đầu tiên mà ta gặp là ngôi mộ trống, Tự nó, sự kiện này không phải là một bằng chứng trực tiếp. Việc thân xác Đức Kitô không còn trong mộ có thể được giải thích cách khác (x. Ga 20:13; Mt 28:11-l5). Dầu vậy, mọi người đều coi ngôi mộ trống là dấu chỉ chủ yếu. Việc phát hiện mộ trống là bước đầu dẫn các môn đệ đến việc nhìn nhận chính sự kiện Chúa sống lại. Đó là trường hợp các phụ nữ đạo đức (x. Lc 24:3,22-23), tiếp đến là Phêrô (x. Lc 24:l2). Khi vào trong mồ trống và thấy “những băng vải để ở đó” (Ga 20:6), người môn đệ Đức Giêsu yêu quý” (Ga 20:2) khẳng định rằng: “Ông đã thấy và ông đã tin” (Ga 20:8). Điều này giả thiết rằng: khi thấy mộ trống (x. Ga 20:5-7), ông nhận ra việc mất xác Chúa không phải là do loài người, và Đức Giêsu đã không đơn gian trở lại cuộc sống trần thế như trường hợp Ladarô vậy (x.Ga 11,44)” (Sách GLGHCG, số 640). Thánh Gioan trong bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta hay rằng, Phêrô và người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến không tin và không hiểu phục sinh là gì cho đến khi nhìn thấy ngôi mộ trống: “Ông Simôn Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết” (Ga 20:6-9).

Ngoài hai chứng cớ trên, chúng ta còn có chứng cớ thứ ba là những lần hiện ra của Chúa Giêsu. Chứng cớ [thứ ba] sẽ được tường thuật trong những bài Tin Mừng của các Chúa Nhật Phục Sinh. Giờ đây, chúng ta cùng nhau suy gẫm về Lời Chúa trong bài Tin Mừng để nghe Chúa muốn nói gì với chúng ta.

Một trong những dấu chứng rõ ràng cho sự phục sinh của Chúa Giêsu là sự kiện ngôi mộ trống. Đây là điều được trình bày trong Tin Mừng hôm nay. Trong khi Tin Mừng Nhất Lãm mở rộng trình thuật về những người phụ nữ đến mộ, thấy ngôi mộ mở, xác của người không có ở trong mộ, và nhận được giáo huấn Phục Sinh và sứ điệp cho các môn đệ của Chúa Giêsu (x. Mc 16:1-8a; Lc 24:14,24 nói đến việc Phêrô hoặc một số môn đệ đi kiểm tra những gì được báo), Thánh Gioan trình thuật sự kiện ngôi mộ trống cách ngắn gọn về sự kiện Maria Mácđala khám phá ra ngôi mộ trống theo sau với trình thuật dài về Phêrô và người môn đệ được Chúa Giêsu yêu tại ngôi mộ trống. Sự kiện này có sự tương đồng với cuộc thăm viếng của họ trong câu chuyện thứ hai khi Maria gặp gỡ Đức Kitô phục sinh (x. Ga 20:11-18). Câu chuyện này cũng chứa đựng những chi tiết liên quan đến ngôi mộ trống được tìm thấy trong các truyền thống khác: hình ảnh các thiên thần, và sứ điệp được chuyển đến các môn đệ. Đối với Tin Mừng Thánh Gioan, không phải ngôi mộ trống cũng không phải những lần hiện ra của Chúa Giêsu chứa đựng ý nghĩa trọn vẹn của Phục Sinh. Sứ mệnh của Chúa Giêsu chỉ được hoàn thành với việc Ngài trở về với Chúa Cha và vinh quang mà Ngài có được “trước khi tạo thành thế giới” (Ga 20:17; 3:13; 6:51; 7:33; 13:2-3; 14:4,28; 16:5,17,28; 17:13).

Thánh Gioan bắt đầu trình thuật bằng việc đề cập đến Maria Mácđala, một người trong nhóm đứng dưới chân thập giá (x. Ga 19:25). Maria Mácđala là người đầu tiên được đề cập đến trong danh sách những người phụ nữ đến viếng mộ trong Tin Mừng Nhất Lãm (x. Mc 16:1; Mt 28:1; Lc 24:10). Chi tiết đầu tiên chúng ta cần lưu ý là thời gia Maria Mácđala đên mộ: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ” (Ga 20:1). Theo truyền thống, sự quy chiếu cho sự kiện ngôi mộ trống xảy ra vào lúc rạng đông của ngày sau ngày sabát. Thánh sử có thể đã thêm bóng đêm để đưa vào trong  ánh sáng những hình tượng của Tin Mừng. Theo Tin Mừng của Thánh Gioan, vì sự kiện xức dầu của Chúa Giêsu chỉ hoàn thành trong cảnh Chúa Giêsu được chôn trong mồ, nên bóng đêm không phải là động lực cho việc Maria đi thăm mồ Chúa Giêsu. Nhìn chung, các môn đệ không hiểu gì về sự kiện ngôi mộ trống cho đến khi Chúa Giêsu Phục Sinh xuất hiện với họ. Chi tiết này mời gọi chúng ta suy gẫm về những giây phút khó khăn và đau buồn trong cuộc sống, giây phút mà chúng ta không hiểu gì ngoài cái trống rỗng của sự chết chóc. Chúng ta chỉ có thể hiểu tất cả mọi sự khi chúng ta gặp gỡ Đấng Phục Sinh từ cõi chết.

Phản ứng đầu tiên của Maria Mácđala khi thấy ngôi mộ trống là “chạy về” báo tin cho các môn đệ: “Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà nói: ‘Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu’” (Ga 20:2). Maria đã diễn tả sự quan tâm của mình ba lần về việc xác Chúa Giêsu bị lấy đi khỏi mộ (x. 20:2,13,15). Trong những lời này, chúng ta thấy Maria vẫn chưa tin vào sự phục sinh mà chỉ nghĩ là người Do Thái đã lấy xác Chúa Giêsu khỏi mộ và không biết họ để Ngài ở đâu. Theo các học giả Kinh Thánh, những lời này âm hưởng lại những bản văn trước đó trong Tin Mừng Thánh Gioan nói về việc không ai biết Chúa Giêsu đi đâu. Đứng trước sự không biết Chúa Giêsu ở đâu của Maria, Tin Mừng đã đưa ra hai câu trả lời cho việc Chúa Giêsu ở đâu: (1) Ngài về với Chúa Cha (x. Ga 13:1-3; 14:12,28; 17:21-26), và (2) ở lại với các môn đệ của Ngài (x. Ga 14:3,18,20,23,28).

Phản ứng của Phêrô và người môn đệ được Chúa Giêsu thương khi nghe tin là “chạy đi” đến nơi Chúa Giêsu được chôn cất: “Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước” (Ga 20:3-4). Điều đáng để chúng ta suy gẫm ở đây là hành động ‘chạy’ của hai môn đệ. Theo các học giả Kinh Thánh, hành động này của hai môn đệ nói về một sự “căng thẳng” đang xảy ra trong cộng đoàn của Thánh Gioan, đó là sự cạnh tranh giữa ‘cơ cấu’ [hiện thân là Phêrô] và ‘đặc sủng’ [hiện thân nơi người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến]. Tuy nhiên, sự căng thẳng, ganh đua ở đây chỉ xoay quanh việc ai chạy nhanh đến với Chúa Giêsu. Nói cách khác, đây là một cuộc đua tranh giành sự gần gũi với Chúa Giêsu. Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cũng thường ganh đua và tranh giành hơn thua về những thứ mang tính trần thế. Hình ảnh của hai môn đệ chỉ ra cho chúng ta rằng: những người môn đệ Chúa Giêsu chỉ có một cuộc tranh đua, đó là cuộc tranh đua đến gần Chúa Giêsu. Đây chính là hành trình đức tin mà người môn đệ được Chúa Giêsu yêu thương đã thực hiện: “Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Simôn Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin” (Ga 20:5-8). Người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến là người gần Chúa Giêsu nhất trong bữa tiệc ly (Ga 13:25), chính tình yêu sâu đậm dành cho Chúa Giêsu đã đưa ngài đến ngôi mộ trước. Nhưng ngài không vào trong mộ. Điều này chỉ ra rằng đối với người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến, đức tin chính là mục đích tối hậu của sự kiện viếng thăm ngôi mộ trống. Như vậy, mỗi lần đến với Chúa Giêsu, đức tin của chúng ta phải được củng cố và trở nên vững mạnh hơn.

------------------------------
 

PS 1-ABC433: CHÚNG TÔI ĐÃ THẤY VÀ CHÚNG TÔI ĐÃ TIN


Jorathe Nắng Tím
 

Kinh nghiệm đức tin của Maria Mácđala là “thấy tảng đá đã  lăn ra khỏi mộ”, và Đức Giêsu phục PS 1-ABC433


Kinh nghiệm đức tin của Maria Mácđala là “thấy tảng đá đã  lăn ra khỏi mộ”, và Đức Giêsu phục sinh, mà bà tưởng là người làm vườn  đã gọi tên bà và nói với bà (x. Ga 20,1.16-17); kinh nghiệm đức tin của Phêrô và Gioan là nhìn vào trong mộ và thấy những băng vải, và khăn che đầu Đức Giêsu (x.Ga 20,5.6-7); kinh nghiệm đức tin của hai môn đệ trên đường Emmau là lòng họ “đã bừng cháy lên” khi nghe “Đức Giêsu nói chuyện và giải thích Kinh Thánh”, nhưng chỉ đến khi “đồng bàn với họ”, mắt họ mới mở ra và nhận ra Ngài (x. Lc 24,30-32); kinh nghiệm đức tin của Nhóm Mười Hai là được thấy “Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn” (Ga 20,19-20). Và tất cả những người “được kinh nghiệm “đều tin” Chúa đã sống lại thật!” (Lc 24,34).

Các bài đọc của chúa nhật Phục Sinh cho chúng ta gặp gỡ những người  được Thiên Chúa “tuyển chọn từ trước” để được thấy Ngài phục sinh, như sách Công Vụ Tông Đồ khẳng định:  “Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại.  Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết” (Cv 10,40-42).

Như thế, kinh nghiệm đức tin phải được dẫn đến niềm xác tín vào Đức Giêsu phục sinh, và đưa đến hành động “lên đường” làm chứng “Chúa đã sống lại như lời Ngài phán hứa!”, là sứ vụ của những ai “đã  thấy và đã tin”.

Quan sát những người đã “thấy Chúa phục sinh”, chúng ta nhận ra ở họ điều này, đó là họ đã thấy và đã tin. Nhưng rất lạ, không một ai trong họ sau khi đã thấy và tin đã giữ riêng cho mình, giấu diếm những gì họ đã thấy và Đức Giêsu, Đấng họ tin, nhưng kể cho mọi người, và loan báo khắp mọi nơi.

Maria Mácđala là người đầu tiên đã từ mộ vội vã chạy về gặp hai môn đệ Phêrô,  Gioan và báo tin cho các ông: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu” (Ga 20,2), để từ “tin khởi đầu rất bối rối” đó, các môn đệ  tiếp tục kể cho nhau rất nhiều  lần Đức Giêsu phục sinh đã hiện ra giữa các ông, và từ hơn hai ngàn năm nay Tin Vui: “Chúa đã sống lại!” (Lc 24,34), và  “chúng tôi đã được thấy Chúa!” (Ga 20, 25) vẫn tiếp tục được các thế hệ môn đệ Đức Giêsu nối tiếp nhau kể cho mọi người, ở mọi nơi, mọi thời cho đến ngày tận thế.

Thực vậy, người Kitô hữu là người được tuyển chọn để sống kinh nghiệm tương quan cha – con với Thiên Chúa, và nhờ kinh nghiệm “được thấy, được chạm vào, được nếm sự ngọt ngào của Chúa” mà đức tin vốn yếu đuối  được ăn rễ sâu và lớn lên mỗi ngày.

Chính nhờ đức tin vững mạnh được nuôi dưỡng bằng kinh nghiệm của tương quan thiết thân với Thiên Chúa, mà  sứ vụ làm chứng Thiên Chúa trước mọi người, bằng kể lại “những điều cao cả Ngài đã làm vì thương xót” (x. Lc 1 49-50) của người tín hữu mới có thể thực hiện cách hữu hiệu. Và đó là lý do người tín hữu chúng ta cần trân qúy những kinh nghiệm đức tin, vì rất cần thiết  cho sứ vụ truyền giáo, bởi người làm chứng có xác tín nhờ kinh nghiệm “gặp gỡ và  sống với” Đức Giêsu chịu đóng đinh và đã sống lại, thì lời chứng “Thiên Chúa yêu nhân loại vô cùng và đến cùng” của chúng ta  mới có sức thuyết phục.

Xin Chúa Kitô phục sinh cho chúng ta “được thấy và tin Ngài đã sống lại thật” là hy vọng, phần thưởng, và hạnh phúc đời đời cho những ai tin vào Ngài.

-----------------------------
 

PS 1-ABC434: CHẠY VỀ PHÍA CHÚA


Bông hồng nhỏ
 

Thầy Giêsu đã bị đóng đinh và đã chết thảm thương trên cây thập giá. Xác của Người được an PS 1-ABC434


Thầy Giêsu đã bị đóng đinh và đã chết thảm thương trên cây thập giá. Xác của Người được an táng trong mồ. Các phụ nữ đã để ý xem chỗ người ta mai táng Thầy. Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”. Hai môn đệ ấy liền đi ra mộ, họ chạy vội vã vì muốn biết thực hư thế nào. Trước ngôi mộ trống, hai ông đã thấy gì?

Thầy Giêsu chết, bà Maria đau buồn, nhớ thương Thầy rất nhiều. Tình yêu hối thúc bà, tình yêu cho bà can đảm để ra mộ lúc trời còn chưa kịp sáng. Bà Maria thấy tảng đá lăn khỏi mộ thì đã nghĩ ngay rằng: có kẻ đã đem Chúa đi khỏi mộ. Bà không bước vào trong để nhìn xem. Bà vội vã chạy về báo tin cho các hai môn đệ. Nghe bà nói, cả hai ông đã ra tận nơi để nhìn xem ngôi mộ trống. Hai ông vội vã chạy, người môn đệ Đức Giêsu thương mến còn trẻ, khỏe hơn nên chạy nhanh hơn. Ông đến mộ trước nhưng không vào trong mà chỉ cúi xuống nhìn vào trong mộ. Ông Phêrô đến nơi liền bước vào, nhìn thấy các băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Ông bước vào trong ngôi mộ và quả thực xác Thầy không còn ở đó nữa. “Bấy giờ, người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin” (Ga 20, 8). Ông đã thấy những gì mà ông Phêrô đã thấy, đó là các băng vải, khăn che đầu của Thầy mình. Nhưng ông đã tin vào điều gì vậy? Ông nhận ra cách sắp xếp quen thuộc của Thầy. Ngôi mộ trống nhưng những gì đã sắp xếp ở đó lại rất quen thuộc. Có một trật tự mới và bằng ánh mắt của người luôn hướng nhìn về Chúa Giêsu, ông đã tin, dù ngay lúc ấy cả ông và môn đệ Phêrô đều chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh thì Thầy Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết.

Sự bí ẩn của ngôi mộ trống khiến cho cả ba người môn đệ có những phản ứng khác nhau. Dù không hiểu và không hề nghĩ đến việc Thầy Giêsu sẽ phục sinh, cả ông Phêrô và bà Maria đều đã chứng tỏ cho ta thấy rằng: Tình yêu sẽ hối thúc ta can đảm tìm kiếm Thầy Giêsu và mong gặp được Người. Sự kiện ngôi mộ trống có một ý nghĩa đặc biệt với riêng họ. Trong cuộc sống, sẽ có những lúc ta cũng rơi vào những nỗi đau, những buồn phiền. Dường như ta không cảm nhận được sự hiện diện gần bên của Thầy Giêsu, bởi những đau khổ đã làm cho đôi mắt tâm hồn của ta ra u tối. Vẫn có một sự hối thúc mạnh mẽ từ trong trái tim, có một tiếng nói cứ mời gọi ta tìm kiếm Thầy Giêsu. Ta có can đảm chạy băng qua những bóng đêm của đau khổ và tội lỗi để tìm kiếm Thầy Giêsu không? Những khi tìm kiếm Thầy Giêsu, có lẽ ta cũng giống như bà Maria hay ông Phêrô, ta không nghĩ đến lời Thầy đã từng loan báo là ba ngày sau khi chết, Thầy sẽ sống lại. Ta chỉ thấy những gì thực tế phơi bày ra trước mắt ta: một ngôi mộ trống. Hãy cứ tìm kiếm Thầy, hãy chạy đến nơi mà ta nghĩ là có Thầy ở đó, hãy chạy với sức mạnh của tình yêu dành cho Thầy Giêsu. Điều đó sẽ mang lại một giá trị và ý nghĩa đặc biệt cho riêng ta, và điều đó trở thành một kinh nghiệm thật sự rất quý giá đối với ta. Nếu ta là người vẫn thường sống thân thiết với Thầy Giêsu, có thể ta sẽ nhận được đức tin ngay khi vừa thấy những dấu chỉ mà Người để lại. Đó là một ơn đặc biệt dành cho ta. Chắc chắn rằng, những ai kiên trì tìm kiếm Chúa, Người sẽ cho gặp, vì hơn ai hết Người mong chờ ta đến với Người biết bao. Người mong chờ ta hơn ta mong chờ Người, Người yêu ta và tìm kiếm ta hơn ta yêu mến và tìm kiếm Người. Ta hãy mở lòng ra để được Thần Khí Chúa Kitô thúc đẩy.

Lạy Chúa Giêsu! Chúa đã phục sinh để cho con được sống một sự sống mới, để con được sống trong niềm hạnh phúc của người tràn đầy niềm tin và hy vọng. Xin giúp con luôn can đảm ra khỏi mình, để chạy về phía mà Chúa gợi hứng cho con rằng Chúa đang có đó. Dù có lúc con chỉ thấy một ngôi mộ trống, nhưng đó là điều mà Chúa đã chuẩn bị cho con, để con đón nhận một sự thật quan trọng biết bao: Chúa đã sống lại. Amen.

-------------------------------
 

PS 1-ABC435: TIN MỪNG PHỤC SINH


Thiên San
 

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối mịt, có một người phụ nữ tên là Maria Mácđala PS 1-ABC435 PS 1-ABC435


Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối mịt, có một người phụ nữ tên là Maria Mácđala cùng với mấy người bạn đi ra mộ từ sáng sớm. Các bà đi ra mộ của Thầy Giêsu, mới an táng được ba ngày. Hôm qua là ngày Sabat nên các bà không thể đi ra mộ được. Các bà ra mộ của Thầy Giêsu làm gì vậy? Chắc hẳn các bà rất quý mến Người. Chẳng còn tâm trí để sợ hãi, lo lắng cho sự an toàn của bản thân nhưng chỉ còn lại con tim dẫn lối đưa đường. Lúc đi ra tới mộ, thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ, một trong số các phụ nữ là bà Maria Mácđala đã vội chạy về báo tin cho Phêrô và môn đệ Đức Giêsu thương mến. “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu” (Ga 20, 2). Đó là lời loan báo đầu tiên về Tin Mừng Phục Sinh.

Chúng ta có thể thấy, dường như lời loan báo của Maria Mácđala không hoàn toàn là lời loan báo về việc Đức Giêsu đã sống lại. Vì theo như lời bà nói với hai môn đệ kia thì thông điệp chính mà bà muốn nói chính là việc không thấy xác của Thầy ở đâu. Các bà đoán là có ai đó đã đưa xác Thầy đi và các bà chẳng biết họ đã đưa Người đi đâu. Nếu chỉ dừng lại ở lời loan báo này, chúng ta chưa thể thấy được Tin mừng Phục sinh. Chẳng ai dám nói rằng Thầy đã sống lại. Có thể lúc đó các bà cũng chẳng hề nghĩ đến việc Thầy của mình đã sống lại. Các bà chỉ biết một điều là không thấy xác của Thầy mình. Điều đầu tiên các bà có thể làm lúc này là chạy về báo tin cho các môn đệ.

Sau khi nghe Maria Mácđala báo tin, cả Simon Phêrô và môn đệ Đức Giêsu thương mến liền vội chạy ra mộ để xem chuyện gì đã xảy ra. Môn đệ kia chạy nhanh hơn ông Phêrô nên đã đến mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó nhưng không vào. Chẳng biết Simon Phêrô chạy chậm hơn bao nhiêu nhưng cuối cùng ông đã đến nơi, ông vào thẳng trong mộ. Dĩ nhiên là các ông cũng chẳng thấy Thầy mình ở đâu. Các ông chỉ thấy những băng vải còn ở đó. Điều đặc biệt là khăn che đầu của Thầy được xếp gọn, để riêng ra một nơi. Bấy giờ, người môn đệ kia cũng vào, ông đã thấy và đã tin (x.Ga 20, 3-8). Có thể nói, các ông đã quá quen thuộc với cách sống của Thầy mình, chỉ cần nhìn cách sắp xếp các băng vải thôi các ông đã đoán được ai là người đã gấp chúng. Đến đây, chúng ta có thêm những dữ kiện để thấy trọn vẹn hơn Tin mừng Phục sinh.

Quả thực, Đức Giêsu, Chúa của chúng ta đã sống lại hiển vinh. Người đã chiến thắng cái chết và nay Người ở với chúng ta luôn mãi. Nếu đọc tiếp sách Công vụ Tông đồ hay thư của thánh Phaolô, chúng ta sẽ thấy được rằng Đức Giêsu phục sinh đã nhiều lần hiện ra với các môn đệ và mời gọi các ông loan báo Tin mừng này. Chúng ta tự hỏi, sự phục sinh của Đức Giêsu có ý nghĩa gì với tôi? Mỗi người chúng được mời gọi mở lòng đón nhận Tin mừng lớn lao này. Vì như thánh Phao lô đã từng nói: “Nếu  Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cr 15, 14).

Đón nhận Tin mừng phục sinh là cách để chúng ta sống trọn vẹn niềm tin vào Con Thiên Chúa, là cách để chúng ta đón nhận trọn vẹn ân sủng và tình yêu lớn lao của Ngài. Chúng ta hy vọng và tin tưởng, nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu, Chúa chúng ta, chúng ta cũng sẽ được phục sinh với Người, được hưởng hạnh phúc đời đời với Người. Hôm nay và ngày mai, chúng ta được mời gọi trở nên sứ giả của Chúa, loan báo Tin mừng phục sinh bằng chính đời sống của mỗi người. Một đời sống có khả năng chuyển tải niềm vui và hy vọng, một đời sống cho đi và yêu cho đến cùng như Chúa chúng ta đã làm. Để nhận ra sự thật về Tin mừng Phục sinh, chúng ta được mời gọi sống mối tương quan thân tình với Ngài để có thể nhạy bén nhận ra sự hiện diện đầy yêu thương của Chúa chúng ta qua các dấu chỉ trong đời sống, nhờ đó chúng ta tin tưởng và bước đi theo Chúa mỗi ngày một hơn.

----------------------------
 

PS 1-ABC436: NIỀM XÁC TIN CHÚA PHỤC SINH


Lm. Xuân Hy Vọng
 

Thế giới đảo điên trước tin đồn, tin nóng hổi, nào là người từ cõi chết trở về dương gian, người nằm PS 1-ABC436


Thế giới đảo điên trước tin đồn, tin nóng hổi, nào là người từ cõi chết trở về dương gian, người nằm trong mồ trỗi dậy về với gia đình trước sự bàng hoàng, hoảng sợ của họ hàng bà con, còn người được xác quyết đã lìa thế, nhưng nay trở về, v.v…Theo thói thường, con người chúng ta có xu hướng mong mỏi sự kiện, thông tin ‘shock’, thích bàn tán, bàn luận về ‘thế giế bên kia’, phép lạ này phép lạ kia, v.v… Thế nhưng, đứng trước niềm xác tín, lòng tin Chúa Ki-tô phục sinh, chúng ta có thái độ thế nào, và sống chứng tá ra sao?

Trước tiên, chúng ta cùng tán tạ Thiên Chúa đã thực hiện biết bao kỳ công vĩ đại và cùng chung hân hoan chia san niềm vui Chúa Phục Sinh vì “Chúa đã sống lại thật rồi, Allêluia!”. Thiết nghĩ lời chúc mừng này chính là động lực, niềm xác tín của đời sống Ki-tô hữu chúng ta. Thánh Phao-lô đã từng khẳng định khi Ngài nói về sự phục sinh của Đức Ki-tô: “Nếu Đức Ki-tô không trỗi dậy từ cõi chết, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng…và nếu Đức Ki-tô không trỗi dậy thì lòng tin của anh em thật hão huyền…nếu chúng ta chỉ đặt niềm tin vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết” (1Cr 15, 14.17.19). Vì thế, niềm vui Phục Sinh là bài ca tán tụng Thiên Chúa, là kim chỉ nam cho đời sống chúng ta.

Tuy nhiên, Phục Sinh khải hoàn này chẳng phải do công trạng, lòng đạo đức thánh thiện của riêng ta, mà đây chính là cuộc chiến thắng tử thần của Đức Giê-su Ki-tô, và nhờ vào lòng thương xót, nhân hậu của Thiên Chúa mà chúng ta được thông phần vào niềm hân hoan phục sinh của Chúa Ki-tô. Hơn nữa, một khi chúng ta kết hợp mật thiết với Ngài, đồng chịu tử nạn với Ngài, đóng đinh những sai lầm, tội lỗi, tính hư nết xấu của bản thân, thì chúng ta sẽ cùng được sống lại với Ngài. Ngạn ngữ phương tây có câu: “Có qua con đường thập giá, mới được nhận triều thiên phục sinh” (no cross, no crown). Thật vậy, lắm lúc, chúng ta mong muốn, hồ hởi đón nhận niềm vui, vòng hoa chiến thắng vinh quang, nhưng chúng ta chẳng muốn thông phần chịu tử nạn, trải qua con đường hy sinh, dâng hiến ‘trên thập tự’! Lắm lúc, chúng ta khước từ lời mời gọi ‘uống chén đắng’ với Thầy Giê-su trong mọi giây phút sinh hoạt hằng ngày, ngược lại, chỉ toàn ước mong nhanh nhanh lãnh lấy triều thiên quang vinh!

Trong các bài đọc hôm nay, Chúa Ki-tô phục sinh mời gọi mỗi người trong chúng ta hãy xác tín, tin vào Người, vì chỉ có Ngài là sự sống lại và là sự sống (x. Ga 11, 25). Thứ đến, hãy trở nên nhân chứng cho Chúa Ki-tô phục sinh qua mọi sinh hoạt, mọi nơi, mọi lúc, trong mỗi cử chỉ, lời ăn, lối suy nghĩ, cách nhìn nhận vấn đề, cách sống xây dựng tình huynh đệ trong cộng đoàn, vì chúng ta là đoàn dân của Chúa Ki-tô phục sinh như chính Đức Hồng y Lu-is An-tô-ni-ô G. Tag-lê, Tổng trưởng Thánh bộ Truyền giảng Tin Mừng cho các Dân tộc, và trước kia là Tổng Giám mục Địa phận Ma-ni-la, Phi-luật-tân, đã xác tín khi Ngài viết tác phẩm suy tư về ơn gọi cùng đích của người Ki-tô hữu, và sứ mạng của Giáo Hội Công Giáo với tựa đề nguyên bản “The Church: The People of the Resurrection” (tạm dịch: Giáo Hội: Dân Chúa Phục Sinh). Theo ngài, mỗi Ki-tô hữu là một chứng nhân của niềm vui Phục Sinh, chứ không là người ủ dột, buồn sầu. Người Ki-tô hữu là chứng tá sống động của Chúa Ki-tô Phục Sinh, chứ chẳng phải là người vô cảm, vô hồn, chẳng màng đến sự thống khổ của đồng loại. Người Ki-tô hữu là những người con cưng của Giáo Hội, luôn mang trong mình niềm tin Chúa Ki-tô Phục Sinh, luôn mặc lấy con người mới, con người của sự chia san, của sự quên mình, luôn nghĩ cho tha nhân, và đặt Chúa Ki-tô làm chủ, làm trung tâm đời sống mình.

Noi gương bà Ma-ri-a Mag-đa-lê-na, với lòng trìu mến, gắn bó với Chúa Giê-su, và nhất là bà đã đặt Ngài làm chủ, làm trung tâm của mọi sinh hoạt của bà, thế nên bà đã chiến thắng nỗi sợ sệt khi phải một mình ra mộ lúc trời còn mờ tối (x. Ga 20, 1). Bà trở nên can đảm nhanh nhẹn chia san, loan truyền những gì bà cảm nghiệm và đón nhận từ Chúa Phục Sinh. Cũng như Phê-rô, Gio-an đã dật tung cánh cửa khép kín do nỗi sợ hãi, ra khỏi con người cũ, bước tới với niềm xác tín vào Chúa Phục Sinh, và trở nên chứng tá Tin Mừng “ông thấy và ông tin” (x. Ga 20, 9). Tương tự, Phao-lô được mời gọi hoán cải từ một người Biệt Phái bắt bớ các tín hữu tin vào Chúa Giê-su Phục Sinh, trở thành tông đồ nhiệt thành, sống và làm chứng cho Chúa Ki-tô Phục Sinh “…Người đã truyền chúng tôi rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng chính Người đã được Thiên Chúa tôn vinh…” (x. Cv 10, 42). Chúng ta được mời gọi trở nên nhân chứng của niềm tin hân hoan Chúa Phục Sinh trong đời sống thường nhật, và cũng được thông phần vào sự vui mừng trọn vẹn mà Chúa Phục Sinh mang lại cho chúng ta, đó là: ơn cứu độ, vinh quang chiến thắng sự chết.

Chúa đã sống lại thật rồi, Al-lê-lui-a! Chúng ta hãy hân hoan, mừng rỡ, chia san, thông truyền niềm vui Phục Sinh đến hết mọi người, mọi dân nước vì Chúa đã chiến thắng sự chết và sống lại vinh quang.

Trần hoàn vui ca mừng
Vì Chúa đã phục sinh
Khắp nơi trong hoan lạc
Thần chết bị đập tan.
Al-lê-lui-a hoà vang
Muôn dân tung hô chứa chan
Al-lê-lui-a tán dương
Chúa đã sống lại hiển vinh. Amen!

----------------------------------
 

PS 1-ABC437: THIÊN CHÚA KHÔNG CHẾT


Giuse Phạm Đình Ngọc
 

Triết gia vô thần người Đức Nietzsche (1844-1900) nổi tiếng với lời tuyên bố: Thiên Chúa đã PS 1-ABC437


chết. Từ đó, trào lưu triết học phủ nhận sự hiện diện của Thiên Chúa ra sức chứng minh cho luận điểm này. Tuy vậy, nhiều người sẽ gặp khó khăn khi phải chú giải đoạn Kinh Thánh về Tin Mừng Phục Sinh mà hôm nay chúng ta lắng nghe (Lc 24,1-12). Đó là những dữ kiện cho thấy Đức Giêsu là Thiên Chúa và Ngài đã sống lại từ cõi chết.

Nietzsche chỉ đúng nếu xét trong cuộc thương khó của Đức Giêsu. Trong Tuần Thánh, chúng ta chứng kiến Chúa Giêsu phải chịu rất nhiều đau khổ, phải vác thập giá lên đồi Canvê. Sau cùng, rất nhiều người chứng kiến Đức Giêsu đã chết và được mai táng trong mồ. Trang sử của nhân loại chẳng có gì mới lạ nếu Đức Giêsu không sống lại, câu chuyện sẽ chẳng ồn ào nếu Đức Giêsu không phục sinh! Thực tế cho thấy Thiên Chúa không chết[1] là một dữ kiện vừa mang tính lịch sử vừa mang tính thần học.

Bằng chứng của biến cố phục sinh

Các Tin Mừng đều ghi lại dữ kiện ngôi mộ trống để cho thấy đây là bằng chứng đầu tiên liên quan đến việc Đức Giêsu sống lại[2]. Số là ngày thứ nhất trong tuần, một số phụ nữ đi ra mộ sớm để sức dầu cho thi thể Đức Giêsu. Đây là phong tục của người Do Thái, hầu giúp cho xác được phân hủy nhanh hơn. Sáng sớm khi vừa đến mộ, họ đã thấy tảng đá của cửa mộ đã bị lăn sang một bên. Họ cảm thấy có điều gì đó bất thường. Ngạc nhiên hơn khi họ không thấy thi thể Đức Giêsu trong mộ. Trong lúc hoang mang như thế, hai thiên thần hiện ra để báo Tin Mừng Phục Sinh cho các bà. Đức Giêsu đã sống lại và đã ra khỏi ngôi mộ tù túng này. Thời điểm này đánh dấu ngày Chúa Nhật, tức là ngày Chúa Giêsu sống lại.

Cố bình tĩnh trước cảnh tượng lạ lùng này, các phụ nữ đã nhớ lại lời Đức Giêsu nói khi còn rao giảng ở Ga-li-lê: “Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” (Lc 24,7). Nếu tính về thời gian, Chúa chết vào chiều thứ Sáu, ngày thứ Bảy Chúa yên nghỉ trong mồ, đến rạng sáng ngày Chúa Nhật, Đức Giêsu đã sống lại. Bên ngôi mộ trống lúc này, các bà cảm thấy một niềm vui đang lan tỏa trong tâm hồn. Thay vì buồn sầu hoảng hốt, các bà chạy về báo tin cho các môn đệ.

Nếu bạn và tôi còn khó tin vào Tin Mừng Phục Sinh này, xin đừng lo lắng, bởi chính các môn đệ cũng gặp khó khăn này. Các bà về kể cho các môn đệ những gì đã thấy ở ngôi mộ trống, đã nghe lời thiên thần nói. Thay vì tin, các môn đệ hoài nghi với biết bao lý lẽ của các đấng nam nhi, khi cho rằng các bà thật bồng bột dễ tin. Thánh Luca cho thấy tất cả những người phụ nữ này đều nói cùng một thông điệp Phục Sinh. Họ “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, nhưng các môn đệ vẫn cho rằng đó là chuyện vớ vẩn chẳng đáng tin.

Thật may là Phêrô đã chạy ra mộ để kiểm chứng. Tin mừng thánh Gioan còn cho thấy cả Gioan cũng chạy ra mộ với Phêrô (Ga 20,3-4). Họ đã thấy ngôi mộ trống với những khăn liệm ở trên nền đá. Linh tính cho thấy thầy Giêsu đã sống lại và ra khỏi mồ. Họ đã tin vào Tin Mừng Phục Sinh.

Niềm vui Phục Sinh

Đối với những ai tin vào Thiên Chúa, dĩ nhiên đây là niềm vui vô bờ, vì Thiên Chúa đã chiến thắng tử thần. Đó là “sự chiến thắng của tình yêu trên sự chết.” (Bênêđictô XVI). Từ đây, lịch sử nhân loại mở ra một giai đoạn mới trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Ước mong trước biến cố này, chúng ta xin cho mình cảm nhận được niềm vui của Chúa Phục sinh.

Một điều chắc chắn, nếu Đức Giêsu không sống lại, xin bạn đừng tin vào Người, đừng tin vào đạo Công giáo! Đó là lời quả quyết của Thánh Phaolô khi nói với chúng ta rằng: “Nếu Chúa Kitô đã không sống lại thì lời chúng tôi rao giảng sẽ vô ích, và đức tin của bạn cũng vô ích.” (1Cr  15,14). Hay có lần Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận viết trong Đường Hy Vọng: “Nếu không có sự phục sinh thì người Công Giáo là hạng vô phúc nhất trần gian.” Nhưng thật hạnh phúc cho chúng ta vì Giêsu đã sống lại thật!

Nếu lúc nào đó chúng ta hoang mang về niềm tin của mình, thật quý để bạn chiêm ngắm mầu nhiệm Phục Sinh. Đó là nền tảng cho mọi điều chúng ta tin. Hoặc nói như lời Đức Bênêđictô XVI: “Biến cố Chúa Giêsu chết và sống lại trở thành tâm điểm của Kitô giáo. Đó là điểm tựa cho đức tin của ta, là đòn bảy mạnh mẽ cho tin tưởng vững chắc của ta, là luồng gió mạnh quét sạch mọi sợ hãi, và lưỡng lự, mọi hồ nghi và tính toán của loài người.” (x. Youcat 105)

Bạn thấy Chúa Giêsu phục sinh chưa? Phần tôi chỉ thấy tượng Chúa Giêsu phục sinh mỗi khi mừng lễ Phục sinh thôi. Dẫu sao, ngoài ngôi mộ trống và những lời Thiên Thần nói trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta còn thấy rất nhiều lần Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra với các tông đồ và với nhiều người. Chúng ta lưu ý rằng thân xác của Chúa lúc này không thuộc về trần gian nữa, mà Người hiện diện trong vinh quang với Chúa Cha. Thiên Chúa vẫn đang sống và hằng hiện diện với chúng ta, cho dù chúng ta không thấy Ngài một cách hữu hình. Trong ý nghĩa này, dường như chúng ta không được phép sống trong u buồn, sợ hãi. Theo đó nhà văn Friedrich Schiller chí lý khi quả quyết rằng: “Người nào đã nhận được sứ điệp Phục Sinh không thể nào còn bước đi với bộ mặt bi thảm và sống cuộc sống không có niềm vui của một người không có hy vọng.” (Youcat 108).

Ước gì bạn và tôi luôn để Chúa Phục Sinh chi phối cuộc đời, đừng để Người quá xa vắng trong mọi biến cố vui buồn của ta. Được như thế, chúng ta mới làm chứng cho Chúa với người đời, với bạn bè rằng: Thiên Chúa đã chết, nhưng Ngài đã sống lại. Mục đích là Ngài muốn cứu độ chúng ta. Đó là niềm vui, là hạnh phúc cho những ai tin yêu Đức Giêsu phục sinh.

VŨ ĐIỆU MỪNG CHÚA PHỤC SINH: https://www.youtube.com/watch?v=3RE6wc5YTos
*****

[1] Đây cũng là tựa đề của một bộ phim: https://www.phimconggiao.com/phim-chua-khong-chet/xem-phim/9715
[2] X. Mt 28,1-8; Mc 16,1-8; Lc 24,1-11, Ga 20,1-10.

-------------------------------------
 

PS 1-ABC438: HÃY VUI LÊN


Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên
 

Hãy vui lên, đó là nội dung bài ca của Giáo Hội long trọng loan tin Chúa đã phục sinh trong đêm PS 1-ABC438


Hãy vui lên, đó là nội dung bài ca của Giáo Hội long trọng loan tin Chúa đã phục sinh trong đêm canh thức. Lời mời gọi “Hãy vui lên” được nhắc đi nhắc lại như một điểm nhấn và một điệp khúc diễn tả niềm vui lớn lao kỳ diệu. Lời kêu mời đó được ngỏ với các thiên thần trên trời, đến cộng đoàn đông đảo các thánh, rồi đến các tín hữu và những ai thành tâm thiện chí. Đây là niềm vui trọng đại, giống như đối với tù nhân được giải phóng khỏi tù ngục để bước ra hưởng tự do hạnh phúc, như người đi xa lâu năm gặp lại người thân, như nai rừng tìm thấy nguồn suối, như bông hoa thấy ánh mặt trời.
 
Hãy vui lên và trút bỏ tang chế, vì Thiên Chúa, Đấng chúng ta tôn thờ, là Đấng hằng sống. Ngài đã làm cho Đức Giêsu là Con Một của Ngài chiến thắng tử thần, sống lại vinh quang. Vâng, hãy vui lên vì từ nay sự chết không còn quyền lực gì đối với những ai tin vào Chúa. Nếu sự chết còn tồn tại, thì nó chỉ một trạm chuyển tiếp trước khi con người bước vào thế giới linh thiêng, vĩnh cửu.
 
Hãy vui lên vì trong Đức Giêsu phục sinh, thân phận con người tìm thấy ý nghĩa và phẩm giá của mình. Từ ngàn đời, con người không ngừng đặt ra những vấn nạn về thân phận của họ bên kia cái chết. Đức Giêsu phục sinh bước ra khỏi mồ như câu trả lời cho những vấn nạn ấy, và như bằng chứng hùng hồn về những gì Người đã tiên báo trước đó: “Này chúng ta đi lên Giêrusalem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án xử tử Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá, và ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy” (Mt 20,18-19). Người Do Thái đã xử với Chúa đúng y như Người tiên báo.
 
Lời Chúa trong Phụng vụ Đại lễ Phục Sinh giới thiệu với chúng ta những nhân chứng bằng xương bằng thịt, những người đã mắt thấy tai nghe. Họ đã nhìn thấy Chúa chết trên thập giá và nay họ được thấy Người sống lại. Trước hết, đó là lời chứng của Phêrô, vị tông đồ trưởng. Ông đã làm chứng về sự phục sinh của Chúa Giêsu tại nhà ông Cornêliô ở Xêdarê, trước mặt những “người ngoại”, tức không phải là người Do Thái. Đối với Phêrô, Đức Giêsu phục sinh đã đưa nhân loại sang một trang sử mới. Từ nay, “ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội”.
 
Bài Tin Mừng hôm nay còn giới thiệu với chúng ta chứng từ của Maria Mácđala và của Gioan, người môn đệ Chúa yêu. Có một sự kiện duy nhất là Chúa sống lại, nhưng mỗi người có một cảm nhận và một cách làm chứng khác nhau. Maria Mácđala, với tâm lý chung của người phụ nữ, vội vã chạy về gặp hai môn đệ Phêrô và Gioan để “khoe” về điều mình đã thấy. Bà không quên kèm theo một lời kết luận dựa trên phỏng đoán cá nhân: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Bà ngỡ ngàng kinh ngạc trước cảnh tượng vừa được chứng kiến và nóng lòng sốt ruột chạy đi loan báo cho mọi người.
 
Về phần mình, Gioan không hốt hoảng vội vã như Mácđala, không hăng hái hùng biện như Phêrô, nhưng chứng từ của ông mang tính nội tâm và sâu sắc. Chính ông đã ghi lại lời chứng của mình một cách khách quan: “Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào (mộ). Ông đã thấy và đã tin”. Việc chứng kiến ngôi mộ trống đã lập tức làm cho Gioan liên tưởng và kết nối các sự kiện cũng như những lời báo trước của Chúa, giúp ông xác tín vững vàng rằng Chúa đã sống lại. Ngôi mộ trống thay vì làm ông hốt hoảng như Mácđala, lại giúp ông tin rằng Thày mình đang sống. Ngôi mộ trống soi sáng cho ông hiểu những lời giáo huấn của Chúa và những lời tiên báo trong Kinh Thánh.
 
Giáo Hội tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu trong niềm xác tín Người vẫn đang sống và đang hiện diện. Chúa đã sống lại, hãy vui lên. Lễ Phục Sinh là lễ của niềm vui. Người tín hữu vui mừng hân hoan vì Chúa phục sinh là bảo chứng cho những ai tin theo Chúa sẽ được phục sinh vinh quang với Người.
 
Khi long trọng mừng lễ Phục Sinh, chúng ta được mời gọi hãy “sống lại về phần linh hồn”, nghĩa là hãy đoạn tuyệt với tội lỗi để sống xứng đáng là con Thiên Chúa. Những thực hành của Mùa Chay gồm chay tịnh khổ chế và cầu nguyện bác ái đã giúp chúng ta phần nào trút bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới được ánh sáng của Đấng Phục Sinh chiếu soi. Không chỉ có Chúa Giêsu phục sinh bước ra khỏi nấm mồ, nhưng mỗi chúng ta cũng đang bước ra từ những nấm mồ là sự ích kỷ, mưu mô và hận thù toan tính, rũ bỏ quá khứ tội lỗi để làm lại của đời.
 
Sự Phục Sinh của Chúa là một sứ điệp cần loan báo cho con người mọi nơi, mọi thời. Những ai đã lãnh nhận phép Thanh Tẩy đều là những sứ giả loan tin vui Phục Sinh. Như Phêrô, Mácđala và Gioan, mỗi người có cách loan báo riêng của mình, nhưng nội dung của lời loan báo luôn là Chúa Giêsu phục sinh, chúng ta cũng vậy, mỗi người có hoàn cảnh riêng, những khó khăn và thuận lợi riêng, nhưng đều có sứ mạng loan báo Đấng Phục Sinh, Đấng đang sống và đang hiện diện giữa chúng ta.
 
Xin cho mỗi chúng ta nhiệt thành nói với anh chị em chúng ta rằng: hãy vui lên, Chúa đã sống lại. Hãy vui lên, vì chúng ta cũng được sống lại với Người.

----------------------------------
 

PS 1-ABC439: NIỀM VUI PHỤC SINH


Lm. Jos. DĐH
 

Đau khổ, niềm vui, ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm, vì đã gặp; thức khuya dạy sớm để PS 1-ABC439


Đau khổ, niềm vui, ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm, vì đã gặp; thức khuya dạy sớm để đi làm, chúng ta đã từng thức, còn thức dạy sớm để ra mồ, xức dầu thơm cho người chết, thì chưa. Không ai có thể bắt người ta cười, trong khi họ đang đau khổ, nước mắt tuôn rơi; nhưng Đấng có tên là “Giêsu Nagiarét, vua dân Do-thái”, Ngài đã làm cho người thân của Ngài khóc trong vui sướng. Các phụ nữ, các tông đồ hôm xưa cười trong lúc đau khổ, không phải do gặp may hay trúng số, nhưng họ vui cười vì tìm thấy dấu hiệu của sự sống nơi “mộ trống”.

Đức Giêsu chịu đau khổ vì bất công, nhằm giúp con người qua các thời đại hiểu, và đừng nguyền rủa đau khổ. Đức Giêsu chịu đóng đinh thập giá là để biến khổ đau thập giá thành Thánh Giá cứu chuộc nhân loại tội lỗi chúng ta. Đau khổ sự chết không giết được Đức Giêsu, thì độc ác gian tà nơi nhân loại, không thể cản lối che đường người có đức có tâm gặp được sự sống lại trong Đức Kitô. Tảng đá to lớn lăn ra khỏi cửa mộ, khiến nhiều người nhớ đến câu ví von : người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo.

Đúng, lính canh đã sợ hãi bỏ chạy vì “ngôi mộ trống”, các phụ nữ nửa lo nửa mừng khi phát hiện tảng đá được lăn ra khỏi cửa mộ; và rồi tâm trí các tông đồ bừng sáng lên bởi niềm vui từ “mộ trống”. Có những sự thật ám ảnh ta đau lòng mãi không nguôi, làm sao ta có thể nghe được kinh nghiệm của cha ông mình : đừng ngồi đó mãi mà hối tiếc ly sữa đã đổ. Sai thì sửa, vấp ngã thì đứng lên, có tội, hãy sám hối để được tha; hãy giúp nhau mạnh dạn lên, dù chỉ một lời : “tôi đã thấy tảng đá lăn khỏi mộ”.

Nhân loại đã giết Đức Giêsu, các tông đồ bỏ Thầy, tìm lối thoát thân, chúng ta ở đây từng vi phạm giới luật yêu thương, tất cả đều tội lỗi bất xứng. Vâng, hãy để Đức Giêsu Phục Sinh con người tội lỗi của ta, hãy đối diện với sự thật để tâm hồn ta được bao dung tha thứ, được rửa sạch vết nhơ tội lỗi. Tội lỗi và bội phản đã giết Chúa, khổ đau thập giá Chúa chúng ta đã chịu, đã mang vác; tình yêu của Thiên Chúa đã Phục Sinh Đức Kitô từ cõi chết, vì cớ gì ta không tìm gặp Ngài ?

Tin-mừng Phục Sinh đến với hai môn đệ thân tín, các ông không từ từ hay dửng dưng, hai vị đã tức tốc chạy mau ra ngôi mồ, hẳn các ông cũng như các phụ nữ không thể tìm “người sống nơi kẻ chết”. Ánh sáng Phục Sinh đã làm cho con người phải công tâm nhìn nhận : Sự Sống mới đã đến từ Đức Kitô, Đấng đã vâng lời cho đến chết. Sự Phục Sinh vinh hiển của Đức Giêsu không như tình cờ chuyện phải tới, mà được tỏa chiếu từ tình hiệp thông Nên Một trong Thiên Chúa yêu thương.

Để khen giới phụ nữ, mọi người, mọi thời đại, sẽ còn thán phục tính đơn sơ, nhưng đầy can đảm của họ trước mục đích bé nhỏ là xức dầu thơm cho thân xác Chúa đã bất động. Để chê các học trò Đức Giêsu, người ta sẽ còn nói hoài, nói mãi : sao các ông nhút nhát thế, ham sống sợ chết vậy ? Sự kiện “ngôi mộ trống” hôm xưa và hôm nay cho chúng ta thấy sự khác biệt, Đức Giêsu sống lại, nhưng không hiện diện cho người thân, cho các tông đồ, hay cho những người giết Chúa được thấy cách tỏ tường. Chúa không hiện ra ở mộ đá để các phụ nữ, các tông đồ được “tay bắt mặt mừng”, phút đầu gặp được sự sống, nhất định phải là tình yêu, chứ không hẳn chỉ là con tim khói óc.

Niềm vui được gặp Chúa sống lại bắt đầu từ niềm tin “nho nhỏ” nơi “mộ trống”; tâm hồn trống rỗng của các phụ nữ, của các tông đồ, được lấp đầy hạnh phúc chính là điệp khúc yêu thương giữa tình Thầy-trò. Sự kiện kẻ chết và sống lại của Đức Kitô sẽ phai nhạt theo năm tháng, nếu người ta sống đạo hời hợt, sống đạo xa xa, sống vu vơ ở ngoài nhà thờ. Tình yêu và niềm vui được lớn lên là nhờ được nuôi dưỡng, nhất là tình hiệp thông. Đấng Phục Sinh sẽ ban ánh sáng tình yêu của Ngài, đặc biệt là ơn bình an, để mọi người sẽ tâm phục khẩu phục : tôi đã tin nên tôi đã vui mừng thấy Đấng Kitô Phục Sinh đã sống lại trong tôi. Amen.

---------------------------------
 

PS 1-ABC440: PHỤC SINH ĐEM LẠI ƠN BIẾN ĐỔI


Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
 

Trong một lần thăm viếng mục vụ,  một linh mục trò chuyện với một cụ già gần 90 tuổi. Vị linh PS 1-ABC440


Trong một lần thăm viếng mục vụ,  một linh mục trò chuyện với một cụ già gần 90 tuổi. Vị linh mục hỏi ông cụ : Nếu Chúa cho cụ sống thêm 50 năm nữa, cụ có muốn không ? Cụ già trả lời : Con chỉ muốn sống thêm, nếu con được thay đổi để sống một cuộc sống khác hơn thì con muốn. Con cũng chỉ muốn sống thêm khi thấy con cái cũng thay đổi, sống khác hơn bây giờ, yêu thương nhau hơn, kính trọng, thảo hiếu hơn, thì con mới muốn sống thêm. Chứ sống lâu mà bệnh tật, nhìn thấy con cháu ngỗ nghịch, phá phách thì sống thêm nữa để làm gì ?

Họp mừng Chúa Sống Lại chỉ thực sự là niềm vui và có ý nghĩa khi mỗi chúng ta thật lòng thay đổi nếp sống, để cùng Chúa Giêsu sống một cuộc sống mới. Nếu Đức Giêsu sống lại để sống một cuộc sống mới, mà những kẻ tin vào Ngài vẫn sống nếp sống cũ, thì điều đó sẽ không có giá trị và ý nghĩa gì. Như vậy, chúng ta phải làm sao để cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu thực sự tác động và biến đổi cuộc đời chúng ta.

Các bài đọc ngày lễ Chúa Phục Sinh muốn nói đến sự biến đổi của những con người đã được gặp và đã tin vào Mầu nhiệm Chúa Phục Sinh. Sự kiện Phục Sinh là sự kiện của đức tin. Sự kiện này vượt quá khả năng của lý trí và sự kiểm nghiệm của giác quan. Để đón nhận đức tin, cần phải có ơn Chúa và đón nhận sự chỉ dạy của Giáo Hội. Tin Mừng Gioan cho chúng ta nhiều hình ảnh mang tính biểu trưng. Thánh sử kể lại chuyện của Bà Maria Madalena. Bà là người đã tin Chúa sống lại nhờ tìm kiếm dựa vào kinh nghiệm cá nhân và lời chứng của Giáo Hội. Thánh Gioan cho thấy bà ra mộ từ sáng sớm, khi trời còn tối. Khi đến nơi, bà thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Bầu trời tối, không chỉ là sự tối tăm của thiên nhiên, nhưng còn là sự tối tăm trong tâm hồn của bà Madalena. Ánh sáng Phục Sinh chưa chiếu vào tâm hồn bà được. Mặc dù đã nhìn thấy tảng đá được lăn ra khỏi mộ, nhưng bà vẫn nuôi trong mình suy nghĩ của sự chết và hình ảnh Thầy Giêsu đã chết. Vì thế, bà về nói với các tông đồ : Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.

Thánh Gioan cũng cho thấy, trong lúc bối rối về Mầu nhiệm Phục Sinh, bà đã chạy về gặp ông Simon Phêrô và môn đệ Chúa Giêsu thương mến. Điều đó có nghĩa là khi gặp thử thách về đức tin, chúng ta đừng chạy ra, cũng đừng chạy đi, mà phải chạy về với Simon, tức là với Giáo Hội. Vì Simon và các tông đồ chính là chỗ dựa đức tin cho chúng ta, các Ngài là những người có thẩm quyền trong đức tin.

Thánh Gioan cũng kể về kinh nghiệm đức tin của Simon và của chính ông, người môn đệ Chúa yêu. Một người là môn đệ được Chúa yêu, người kia là môn đệ yêu Chúa nhất. Cả hai ông cùng chạy ra mộ. Người môn đệ kia đến trước, nhưng ông vẫn chờ và nhường cho Simon đến sau vào mộ trước. Hành động này cho thấy sự tôn trọng quyền thủ lãnh của Phêrô, người được Chúa trao nhiệm vụ củng cố đức tin cho anh em.

Simon Phêrô bước vào trong mồ, thấy những tấm băng vải để đó được xếp gọn gàng, khăn che đầu được cuộn lại và để riêng một nơi. Chi tiết này chứng tỏ không hề có ai lấy xác Chúa như bà Madalena đã nói. Vì nếu kẻ trộm lấy xác, chắc chắn chúng không gỡ những băng vải ra làm gì. Nếu là kẻ trộm, chúng sẽ không có thời giờ để gấp gọn các khăn và băng vải. Như thế, Simon đã nhận ra, đây chính là dấu chứng cho thấy Thầy của các ông đã sống lại.

Niềm tin của Gioan vào mầu nhiệm Phục Sinh có khác với Simon. Đứng trước việc tảng đá đã lăn ra khỏi mộ, Gioan đã cúi xuống để nhìn vào trong mồ và thấy những băng vải còn đó. Tin Mừng muốn nói rằng, để có thể chấp nhận được niềm tin Phục Sinh, cần phải có một thái độ khiêm tốn, cung kính cúi mình trước những mầu nhiệm siêu việt này. Chỉ khi cúi xuống, mới có thể thấy những dấu vết của mầu nhiệm Chúa Phục Sinh để lại trong cuộc đời chúng ta. Kế đó, ông bước vào trong mộ cùng với Simon Phêrô, ông đã thấy và ông đã tin.

Tuy nhiên, không phải mọi người đều có thể tiếp cận được với những lý chứng như ngôi mộ trống hoặc những tấm khăn xếp gọn là dấu vết về cuộc phục sinh của Chúa. Vì thế, thánh Gioan mời gọi chúng ta, muốn đón nhận được niềm tin Phục Sinh thì cần phải đọc và suy gẫm Kinh Thánh. Tác giả ghi lại : Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : Theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải chỗi dậy từ cõi chết. Kinh Thánh là Lời của Chúa và là chương trình yêu thương của Thiên Chúa dành cho con người. Kinh Thánh nói về Chúa Giêsu và cuộc tử nạn phục sinh của Người. Tin vào Kinh Thánh, chúng ta sẽ có niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh.

Khi đón nhận được niềm tin phục sinh, chúng ta sẽ được biến đổi và phải biến đổi nên con người mới. Chúa Giêsu sống lại, Ngài không sống lại với con người cũ. Mặc dù vẫn là thân xác, vẫn mang những dấu đinh, nhưng thân xác ấy đã hoàn toàn biến đổi. Thân xác của Chúa không còn bị giới hạn hay lệ thuộc vào không gian thời gian. Thân xác Chúa dù rất quen thuộc khiến cho Madalena nhận ra giọng nói của Ngài, nhưng cũng rất khác lạ khiến cho các phụ nữ và các tông đồ khi gặp đã không nhận ra Ngài.

Có một điều chắc chắn, Chúa Phục Sinh đã biến đổi hoàn toàn cuộc đời các tông đồ. Các ông từ những kẻ nhát sợ, đã trở nên can đảm ; từ những kẻ như đã chết, nay được hồi sinh ; từ những kẻ bình dân, nhà quê nay trở nên thông thái, mạnh dạn nói về Chúa Giêsu Phục Sinh.

Bài đọc một cho thấy, Phêrô đã không còn nhát sợ, không còn tính bồng bột trước đây, ông đã trở thành cột trụ cho Giáo Hội sơ khai, thành người rao giảng không mệt mỏi về Chúa Phục sinh. Tại nhà ông Cornêliô, Phêrô đã có một bài giảng long trọng nói về Chúa Giêsu Nazaret : Ngài là Đấng được Thánh Thần xức dầu để thi hành sứ mạng cứu độ. Ngài đã thi ân giáng phúc, dùng quyền năng mà làm nhiều phép lạ. Cuối cùng, người Do Thái đã giết Ngài, treo trên thập giá, nhưng vào ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Ngài chỗi dậy.

Phêrô đã làm chứng rằng : Chúa Giêsu đã chỗi dậy, đã hiện ra tỏ tường với chúng tôi là những nhân chứng Người đã tuyển chọn từ trước. Chính chúng tôi là những kẻ đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng : Chính Ngài là Đấng Thiên Chúa đã đặt làm thẩm phán để xét xử kẻ sống và kẻ chết.

Khi lãnh Bí tích Rửa tội, chúng ta được dìm vào cái chết và bước vào cõi sống cùng với Chúa Giêsu Kitô. Do đó, tuyên xưng Chúa sống lại không chỉ là lời tuyên xưng trên môi miệng, mà phải cùng biến đổi với Chúa Kitô. Thánh Phaolô chỉ cho chúng ta : Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc về thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Tin Chúa Giêsu sống lại, chúng ta không thể để mình bị chìm trở lại trong con người cũ, nhưng phải sống một con người mới, một thay đổi mới. Chắc chắn Chúa chịu chết và sống lại muốn nhìn thấy chúng ta là con Ngài sống tốt hơn, gắn bó với Ngài hơn. Ngài chết để cứu chuộc chúng ta, Ngài muốn chúng ta thuộc về Ngài. Ngài sống lại để đem đến cho nhân loại sự sống mới, Ngài muốn chúng ta đón nhận sự sống mới từ nơi ngài để được sống.

Hãy bắt đầu bằng việc làm mới lại bản thân, sống một quyết tâm mới, một con người mới. Hãy đến với Chúa thường xuyên hơn, gặp gỡ, gắn bó với Chúa nhiều hơn trong cầu nguyện và trong những công việc thường ngày. Hãy làm cho gia đình mình thực sự trở nên mới hơn, nhiều tiếng cười, nhiều niềm vui và nhiều hạnh phúc hơn. Hãy bước đến với anh em chòm xóm và mọi người với một gương mặt mới, vui hơn, tươi hơn. Hãy đem đến cho nhau tấm lòng tốt hơn, đẹp hơn và hãy làm nhiều việc nhân ái hơn, bao dung, quảng đại hơn cho người chung quanh.

Xin cho chúng ta biết để Chúa Phục sinh biến đổi mỗi người nên những con người mới và làm cho mầu nhiệm Chúa Phục sinh lan tỏa và biến xã hội này nên tốt đẹp hơn. Amen.

-----------------------------
 

PS 1-ABC441: NIỀM TIN PHỤC SINH


Lm. JB Nguyễn Minh Hùng
 

Bà Maria Mađalêna đi thăm mộ Thầy Giêsu lúc trời còn tối. Có lẽ cả đêm qua bà không chợp mắt


Bà Maria Mađalêna đi thăm mộ Thầy Giêsu lúc trời còn tối. Có lẽ cả đêm qua bà không chợp mắt được, chỉ mong cho mau sáng để lên đường.

Ai có thể hiểu trái tim của bà? Bà yêu mến Thầy cách đặt biệt. Mới chiều thứ sáu, vì lòng yêu mến, bà đứng bên chân thánh giá (Ga 19, 25). Sau đó, cũng vì lòng yêu mến, bà đã tham dự cuộc mai táng Thầy (Mt 27, 61). Bây giờ tình yêu ấy lại thôi thúc bà ra mộ trước tiên, trước cả người môn đệ được Thầy thương mến…

Nhưng thật kinh hoàng: xác Thầy đã biến mất. Tảng đá che mộ đã bị ai đó lăn ra… Maria Mađalêna hớt hãi chạy vội về báo tin cho các môn đệ. Bà nghĩ, có lẽ có kẻ đã ăn cắp xác Thầy. Vấn đề duy nhất làm bà âu lo khắc khoải, đó là họ đang để Người ở đâu (Ga 20, 2.13.15). Bà cần biết chỗ đó để lấy ngay xác về. Maria không hề nghĩ rằng Thầy của bà, và là Chúa của bà đã phục sinh. Bà chỉ mong tìm lại xác của Thầy đã chết…

Nghe Maria nói, hai tông đồ Phêrô và Gioan cũng chạy đến mộ. Họ chạy bằng những bước chân hối hả. Nhưng khi đến mộ, thì chỉ có ngôi mộ trống và băng vải đặt ở đó, còn khăn che đầu được cuốn lại, xếp riêng. Thấy mọi điều đó, tông đồ Gioan tin rằng, Thầy đã phục sinh. Chẳng ai ăn cắp xác mà lại để gọn ghẽ khăn vải liệm…

Chúng ta cần có lòng mến như bà Maria Mađalêna, nhưng rất cần có sự nhạy cảm để tin như tông đồ Gioan. Khi tin, người ta khám phá ra ý nghĩa của các biến cố: Đó là ý nghĩa của cái chết bi đát trên Núi Sọ. Đó là ý nghĩa của ngôi mộ trống và tấm khăn xếp gọn gàng. Tất cả những ý nghĩa đó dạy ta biết: Chúa chúng ta đã phục sinh.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin cho con được phục sinh với Chúa trong đời sống hằng ngày của con. Đó là cho con biết vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ, vượt qua những đam mê kéo ghì con xuống, vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhục nhã, vượt qua đêm tăm tối cô đơn của Vườn Dầu. Đó là cho con vượt qua những khắc khoải của niềm tin, vượt qua những thành kiến mà con có về người khác…

Xin cho con như Chúa Phục Sinh, gieo rắc bình an và hy vọng; tin tưởng và niềm vui. Ước gì ai gặp con, họ cũng đều gặp thấy sự sống mãnh liệt của Chúa. Amen.

---------------------------------
 

PS 1-ABC442: XÁC TÍN


Trầm Thiên Thu
 

Tử Thần thua cuộc đành khuất phục. Con Chúa phục sinh giữa vinh quang. Tin là diễm phúc, xác PS 1-ABC442


Tử Thần thua cuộc đành khuất phục
Con Chúa phục sinh giữa vinh quang

Tin là diễm phúc, xác tín là đại phúc. Chúng ta là hậu sinh nhưng lại thực sự diễm phúc vì đã được biết rõ là Đức Kitô Giêsu đã sống lại vinh quang, chứ không bán tín bán nghi như những người thời Chúa Giêsu. Thật vậy, nếu Đức Kitô không sống lại, niềm tin của chúng ta chỉ là hoang đường!

Vâng, Con Thiên Chúa đã chiến thắng Tử Thần và phục sinh khải hoàn. Vì vậy, chúng ta không thể trì hoãn cái sự sung sướng này được, mà phải cùng nhau hân hoan hợp xướng: “ALLELUIA!”. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải cố gắng thực hiện trọng trách: “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí Chúa đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4:22-24).

Ánh sáng Phục sinh đang chiếu tỏa chói ngời trên mỗi chúng ta, trên cả thế gian này. Chúng ta vô cùng vui mừng vì Đức Kitô đã sống lại thật và lòng chúng ta đầy tin tưởng nhờ Lời Chúa đã động viên: “Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1:17-18).

Đức Kitô đã sống lại thật. Đó là một sự thật minh nhiên, thật hơn cả sự thật, không thể chối cãi, lịch sử và khoa khảo cổ đã cho thấy nhiều chứng cớ về những gì liên quan Chúa Giêsu, chứng tỏ rằng thực sự có một Ông Giêsu bị đóng đinh, được mai táng và đã sống lại – dù sự thật này bị một số người bóp méo, vì họ cố chấp hoặc vô thần.

Đã và đang có các nhân chứng ở khắp nơi, điển hình nhất là ông Phêrô. Kinh Thánh cho biết: “Một hôm, tại nhà ông Co-nê-li-ô, ông Phêrô lên tiếng: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận” (Cv 10:34-35). Chúng ta cũng nên nhớ rằng Kinh Thánh là bộ sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, và được bán chạy nhất thế giới, ước tính mỗi năm có thêm 100 triệu bản (*). Điều đó chứng tỏ rằng Kinh Thánh nói những điều có thật, chứ không hư cấu hoặc bịa đặt như một số người cố chấp.

Sau khi sám hối vì chối Thầy ngay lúc dầu sôi lửa bỏng nhất, ông Phêrô đã xác tín và can đảm nó sự thật: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào” (Cv 10:34). Đó là điều chắc chắn, và không loại trừ ai, vì mọi người đều bình đẳng trước mặt Chúa. Không ai có thể cậy quyền ỷ thế hoặc ảo tưởng mạo nhận là mình “ngon” hơn người khác!

Khi nói về Sư Phụ Giêsu, ông Phêrô đã giải thích rạch ròi từng chi tiết: “Đức Giêsu xuất thân từ Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Ngài. Đi tới đâu là Ngài thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Ngài” (Cv 10:37-38). Sau khi lỡ chối bỏ Sư Phụ mình vì khiếp nhược và nhận biết sự thông cảm của Sư Phụ Giêsu khi Ngài quay lại nhìn mình (x. Lc 22:61), ông Phêrô “thót tim” khi thấy ánh mắt ấy “rất lạ”, vừa nhân từ vừa trách móc, nhẹ nhàng mà có sức xoáy vào sâu vào lòng người, nên ông đã “khóc hết nước mắt” (x. Lc 22:62), không chỉ hối hận mà còn tự xấu hổ, vì vừa mới chịu chức thánh xong (x. Ga 21:15-17) mà đã phản bội ngay, chính Thầy cho biết trước mà vẫn không tránh được. Thật khốn nạn!

Vô tri bất mộ. Biết rồi thì không thể lặng im. Và khi biết rõ Thầy Giêsu đã thực sự sống lại, ông Phêrô mạnh dạn nói một lèo, nói như chưa bao giờ được nói: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Ngài đã làm trong cả vùng dân Do Thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Ngài lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Ngài trỗi dậy, và cho Ngài xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Ngài, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại. Ngài truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Ngài là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Ngài và nói rằng phàm ai tin vào Ngài thì sẽ nhờ danh Ngài mà được ơn tha tội” (Cv 10:39-43).

Trước đây, một Phêrô-năng-động-và-thẳng-tính (trước mặt đám côn đồ mà ông dám rút gươm chém đứt tai một người đầy tớ thầy thượng tế – Ga 18:10) đã biến thành một Phêrô-khiếp-nhược. Nhưng sau khi Chúa Giêsu phục sinh, một Phêrô-nhát-đảm đã biến thành một Phêrô-can-đảm, lại dám nói thẳng nói thật như xưa. Đó là tác động của Chúa Thánh Thần!

Chúng ta cũng vậy, cũng đã bao phen “chối” Chúa và “bán” Chúa không văn tự. Nếu không tin thì cứ “sờ gáy” và thật lòng xét mình kỹ lưỡng mà xem: Mỗi lần phạm tội là mỗi lần chối Chúa, mỗi lần lườm nguýt tha nhân là liếc xéo Chúa, vân vân và vân vân… Vô kể! Nhưng dù chúng ta có dã tâm với Ngài thì Ngài vẫn cho đó là “chuyện nhỏ”, và Ngài sẵn sàng “cho qua” hết. Vì thế, chúng ta hãy can đảm và tin tưởng mời gọi người khác cùng xưng tụng Ngài: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:1). Cả Thánh vịnh 136 cũng lặp đi lặp lại 26 lần điệp khúc: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”. Chúng ta tin tưởng và đoan hứa: “Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm” (Tv 118:21). Tại sao? Vì:

Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ
Lại trở nên đá tảng góc tường
Đó chính là công trình của Chúa
Một công trình kỳ diệu vô thường
(Tv 118:22-23)

Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Anh em không biết rằng chỉ một chút men cũng đủ làm cho cả khối bột dậy lên sao? Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới, vì anh em là bánh không men” (1 Cr 5:6-7). Thật không dễ khi phải bỏ một thói quen cũ mà xấu, để sống theo một thói quen mới mà tốt. Muốn được vậy, người ta phải cố gắng rất nhiều và cố gắng không ngừng.

Thiên Chúa Ngôi Hai, Đức Kitô Giêsu, đã phục sinh, vì thế mà chúng ta cũng được sống lại và phải sống lại với Ngài. Thánh Phaolô minh định thêm: “Quả vậy, Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. Vì thế, chúng ta đừng lấy men cũ, là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ” (1 Cr 5:8). Phải có đức tin mới khả dĩ thực hiện như vậy.

Người-môn-đệ-Chúa-yêu (tức là nhân chứng Gioan tông đồ) đã tường thuật: Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mađalêna đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến.

Bà Maria Mađalêna hốt hoảng thông báo: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, chúng tôi chẳng biết họ để Ngài ở đâu” (Ga 20:2). Vì quá sợ bọn thủ ác mà ai cũng quên khuấy những gì Thầy mình nói trước. Nghe vậy, ông Phêrô và Gioan liền tức tốc đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng Gioan trẻ hơn nên chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào, vì lịch sự và vì “kính lão đắc thọ”.

Kẻ trước, người sau, rồi ông Phêrô cũng đến nơi. Kính lão đắc thọ. Ông Phêrô đến sau nhưng vào trước, vào thẳng trong mộ. Ông thấy những băng vải để và khăn che đầu Đức Giêsu có ở đó. Khăn che đầu không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ Gioan mới bước vào sau. Ông “đã thấy và đã tin” (Ga 20:8). THẤY và TIN là hai động từ quan trọng. Thấy rồi, liệu có đủ lòng tin? Nếu THẤY và TIN rồi thì phải có bổn phận LAM CHỨNG. Một quy trình hợp lý!

Theo Kinh Thánh cho biết, Đức Giêsu PHẢI trỗi dậy từ cõi chết. Nhưng trước đó, cả Phêrô và Gioan cũng chưa hiểu (x. Ga 20:9), dù cả hai ông đều là những đệ tử ruột của Chúa Giêsu. Thế nên người thời nay, kể cả chúng ta, không thấy thì rất khó tin. Chúng ta không thấy Chúa Giêsu, nhưng chúng ta có thể thấy những nhân chứng can đảm suốt đời sống và chết vì niềm tin vào Đức Kitô. Vả lại, chính Chúa Giêsu đã xác định: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Phần còn lại là có xác tín hay không, và đó là phần của mỗi chúng ta.

Xin được nhắc lại lời của Thánh nữ Bernadette (1844-1879, người được Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức): “Người tin thì không cần giải thích, người không tin thì có giải thích cũng vô ích!”.

Lạy Thiên Chúa chí thánh và toàn năng hằng hữu, xin Ngài ban thêm đức tin cho chúng con và xin giúp chúng con sống trọn niềm vui phục sinh ngay trên cuộc lữ hành trần gian này, đồng thời giúp chúng con can đảm làm chứng nhân của Ngài suốt cuộc đời này, mọi nơi và mọi lúc, qua từng nhịp thở. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

——-

 (*) Trong hơn nửa thế kỷ qua, Kinh Thánh là cuốn sách đứng đầu trong 10 cuốn sách được đọc nhiều nhất trên thế giới: [1] Kinh Thánh (3,9 tỷ bản), [2] Các Trích Dẫn từ Mao Trạch Đông (820 triệu bản), [3] Harry Potter (400 triệu bản), [4] Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn (103 triệu bản), [5] Nhà Giả Kim: 65 triệu bản, [6] Mật Mã Da Vinci (57 triệu bản), [7] Bộ truyện Chạng Vạng (43 triệu bản), [8] Cuốn Theo Chiều Gió (33 triệu bản), [9] Suy Nghĩ và Làm Giàu (30 triệu bản), [10] Nhật Ký của Anne Frank (27 triệu bản). Kinh Thánh là cuốn sách cổ xưa nhất nhưng lại có tỷ lệ “vượt trội” hơn các sách khác.

------------------------------
 

PS 1-ABC443: ĐÃ THẤY VÀ ĐÃ TIN


Bông hồng nhỏ
 

Trước cái chết của một người thân yêu, nỗi đau trong tâm hồn ta quá lớn, dường như chẳng có PS 1-ABC443


Trước cái chết của một người thân yêu, nỗi đau trong tâm hồn ta quá lớn, dường như chẳng có niềm vui nào lấp đầy. Thầy Giêsu đã chết, các môn đệ cũng đã rất đau, nỗi đau lớn đến nỗi làm họ không nhớ lời loan báo Phục Sinh của Thầy. Để khi đứng trước ngôi mộ trống, các ông đã thấy nhưng không phải tất cả đã tin.

Thánh sử Gioan đã thuật lại biến cố “ngôi mộ trống”. Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Macđala đi đến mộ (x.Ga 20, 1). Có lẽ, bà đã rất muốn tỏ lòng yêu mến Thầy nên không thể để chờ trời sáng hơn một chút. Ra đến mộ, thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ, không thấy xác Thầy đâu, bà liền vội chạy về báo tin cho môn đệ Phêrô và người môn đệ mà Thầy thương mến rằng Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu (x. Ga 20, 2). Bà không thể nghĩ đến việc Thầy Giêsu đã Phục Sinh.

Môn đệ Gioan chạy nhanh hơn nên đến trước ông Phêrô. Ông đến nhưng chỉ cúi xuống quan sát từ xa và thấy băng vải còn đó. Hành động của ông có thể là một sự bình tĩnh, xem xét từ ngoài vào trong? Còn ông Phêrô khi chạy đến nơi, ông vào thẳng trong mộ và thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Chúa Giêsu, khăn này không để lẫn với các băng vải nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi (x.Ga 20, 6-7). Ông Phêrô cũng ngạc nhiên và ông cũng không tin. Bấy giờ, ông Gioan đi vào, ông đã thấy những gì ông Phêrô thấy nhưng ông đã tin. Ông tự nhận mình là người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bấy giờ ông thấy những sắp xếp mới mẻ nơi ngôi mộ trống này, ông còn thấy cả sự đụng chạm của Thầy trong những sắp xếp này. Ông tin Thầy đã Phục Sinh.

Lạy Chúa Giêsu Chịu – Đóng – Đinh, Đấng đã Phục Sinh!  Cảm tạ Chúa đã luôn đồng hành với con trong những đau thương của cuộc đời và ban cho con niềm hy vọng được Phục Sinh với Chúa. Giữa những nỗi đau lớn lao, xin giúp chúng con có cái nhìn của người môn đệ được Chúa thương mến, để luôn thấy những đụng chạm của Chúa, những sắp xếp mới mẻ Chúa đã làm nơi cuộc đời chúng con. Chúng con có thể đã mất đi một người thân yêu, thiếu đi một niềm vui trong đời nhưng không bao giờ chúng con thiếu vắng tình yêu của Chúa. Xin Chúa củng cố niềm tin nơi chúng con và làm cho niềm tin ấy trổ sinh hoa trái. Amen.

--------------------------------
 

PS 1-ABC444: SỨC MẠNH PHỤC SINH


Anna Cỏ May
 

Chúa đã sống lại Alleluia, Alleluia. Đó là bài ca mà toàn thể Giáo hội ca mừng Chúa Kitô trong PS 1-ABC444


Chúa đã sống lại Alleluia, Alleluia. Đó là bài ca mà toàn thể Giáo hội ca mừng Chúa Kitô trong suốt mùa Phục Sinh. Đó chính là niềm tin của chúng ta.

Sáng ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Macđala đi đến mộ. Đến nơi bà thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ, liền chạy về báo tin cho các môn đệ. Bà nói: “Người ta đã đêm Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu?” (Ga 20, 2). Bà Maria Macđala là đại diện cho những người phụ nữ giàu cảm xúc trước những sự mất mát. Khi vừa trông thấy tảng đá được lăn ra, bà nghĩ ngay đến người khác đã lấy xác Chúa Giêsu. Khi Đức Giêsu hiện ra với và hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?” Bà Maria Macđala tưởng người làm vườn, liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem người đi, thì xin nói cho tôi biết, ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về” (Ga 20, 15). Ở trong nỗi đau mất Thầy, dường như bà không còn suy nghĩ được điều gì khác, chỉ có một điều chiếm hết tâm trí bà là “Thầy đâu rồi”. Nên bà nói mà không suy nghĩ “xin ông nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về” (Ga 20,15). Làm sao một người phụ nữ yếu ớt như bà lại có thể mang nổi thân xác Thầy mà “đem Người về”?

Trước đó, bà về báo tin cho ông Phêrô và người môn đệ Chúa thương, họ liền chạy ra mộ. Nhưng người môn đệ Chúa thương chạy nhanh hơn nên đến trước ông Phêrô. Ông đến nhưng chỉ cúi xuống quan sát từ xa và thấy băng vải còn đó. Hành động của ông có thể là một sự cẩn trọng, xem xét từ ngoài vào trong? Còn ông Phêrô khi chạy đến nơi, ông vào thẳng trong mộ và thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Chúa Giêsu, khăn này không để lẫn với các băng vải nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi (x.Ga 20, 6-7).

Phêrô luôn là người đi bước trước nhưng ít nhiều đã vấp ngã. Ông được Chúa chỉ bảo và trách cứ nhiều lần. Ông cũng là người chối Thầy ba lần. Nhưng lần này ông đã có hành động can đảm. Ông đã chạy thẳng vào mộ và thấy được tất cả những gì còn lại trong ngôi mộ. Ông đã thấy nhưng không hiểu. Khi ông Phêrô vào rồi, bấy giờ ông Gioan mới vào theo. Ông đã thấy và đã tin. Ông là người tin rằng Chúa đã Phục Sinh (x.Ga 20,8). Tạ ơn Chúa, nhờ các Tông đồ và bà Maria Macđala mà chúng ta đã biết Chúa Phục Sinh.

Chúa Giêsu đã Phục Sinh, chúng ta hãy tin vào Ngài, dù niềm tin của chúng ta luôn bị thử thách. Điều quan trọng là chúng ta phải mang sức sống nguyên lý của đời sống mới trong Chúa Giêsu Phục Sinh. Sức sống Phục sinh sẽ đẩy lùi sức mạnh của sự chết ra khỏi con người bất toàn của chúng ta, chữa lành mọi vết thương tâm hồn. Thật vậy, mỗi người chúng ta cần được Phục Sinh vì một xã hội tuy đầy đủ vật chất, tiện nghi nhưng sức mạnh thần chết vẫn đang ẩn mình dưới vỏ bọc của một xã hội giàu sang. Ai sống trong niềm vui của Chúa Giêsu, tâm hồn sẽ được sống lại toàn diện như Thánh Phaolô tuyên xưng: “Thiên Chúa đã làm cho Chúa Giêsu sống lại; chính Người cũng sẽ dùng quyền năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại” (1Cr 6, 14).

Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa đã sống lại để đem niềm tin, sức sống mới cho chúng con. Xin cho chúng con lãnh nhận sức sống của Chúa và sống trong niềm tín thác. Nhờ đó chúng con đạt tới sự sống trong Nước Trời. Amen.

------------------------------

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Giáo phận long xuyên
Báo công giáo
http://www.giaoxugiaohovietnam.com/
Chuyen ke cho cac gia dinh
Chuyện kể cho các gia đình
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây