Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 2-A Bài 151-173: Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa TN 2-A Bài 151-173: Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian
------------------------------------------
Mục Lục:
Phúc Âm: Ga 1, 29-34: "Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian".
TN 2-A151: ĐẤNG CỨU THẾ LÀM GÌ CHO TÔI?
TN 2-A152: VÌ YÊU, CHÚA LIỀU THÂN GÁNH TỘI TRẦN
TN 2-A153: ĐÂY LÀ CHIÊN THIÊN CHÚA
TN 2-A154: ĐÂY CHIÊN THIÊN CHÚA!
TN 2-A155: LOAN BÁO LỜI CHÚA BẰNG TRUYỀN THÔNG
TN 2-A157: TÔI ĐÃ KHÔNG BIẾT NGƯỜI
TN 2-A158: GIỚI THIỆU CHÚA CHO ANH CHỊ EM
TN 2-A161: CÙNG CHÚA, TA VƯỢT QUA
TN 2-A162: CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN_A
TN 2-A163: ĐẤNG XÓA TỘI TRẦN GIAN
TN 2-A164: Đã thấy và làm chứng
TN 2-A165: Người Tôi Tớ của Yavê
TN 2-A167: Đây Chiên Thiên Chúa
TN 2-A168: Chúa Nhật 2 Thường Niên
TN 2-A171: Chúa Nhật 2 Thường Niên
TN 2-A172: Chúa Nhật 2 Thường Niên
TN 2-A173: Chúa Nhật 2 Thường Niên
------------------------------------------
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, ông Gioan thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình liền nói: "Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian. Này tôi đã nói về Ngài: Một người đến sau tôi, nhưng đã có trước tôi, vì Ngài cao trọng hơn tôi. Và tôi, tôi đã không biết Ngài, nhưng để Ngài được tỏ mình ra với Israel, nên tôi đã đến làm phép rửa trong nước". Và Gioan đã làm chứng rằng: "Tôi đã thấy Thánh Thần như chim bồ câu từ trời đáp xuống và ngự trên Ngài. Về phần tôi, tôi đã không biết Ngài. Nhưng Ðấng sai tôi làm phép rửa trong nước phán bảo tôi: "Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần". Tôi đã thấy và tôi làm chứng: chính Ngài là Con Thiên Chúa". - Ðó là lời Chúa.
-----------------------------------
Lm.Giuse Đỗ Đức Trí
Một dự báo được đăng trên trang Vietcatholic ngày 17/12/2019: Đến năm 2049, chỉ còn 250,000 người Công Giáo tại Úc thực hành đạo, chủ yếu là người Việt Nam.
Số người thực hành đạo tại Úc đang suy giảm một cách đáng báo động. Philippa Martyr của tờ Tuần báo Công Giáo cho biết khoảng 90 % người Công Giáo Úc cho rằng không cảm nhận được gì khi tham dự Thánh lễ. Nhiều người cho rằng các Thánh lễ mỗi Chúa Nhật quá nhanh, từ 25 đến 45 phút, các bài giảng ngắn ngủi, không làm đọng lại trong tâm hồn họ bất cứ điều gì.
Hiện nay có khoảng 600,000 người Công Giáo thực hành đạo tại Úc, nhưng khoảng hai phần ba trong số đó là những người trên 60 tuổi. Trong số người Công Giáo thực hành đạo tại Úc hiện nay, những người di dân chiếm một tỷ lệ rất lớn. Các Thánh lễ tiếng Việt đầy chật người, tỷ lệ người Công Giáo gốc Việt thực hành đạo được kể là cao nhất tại Úc. Tuy nhiên, tỷ lệ đáng mừng này chỉ kéo dài trong khoảng một hay hai thế hệ, vì những thế hệ tiếp theo chắc chắn bắt đầu mất dần đi lòng mộ đạo của cha mẹ họ do ảnh hưởng của đời sống cao nhưng nghèo nàn về giáo lý.
Thưa quý OBACE, xu hướng lạnh nhạt, xa rời đời sống đức tin đang diễn ra tại nhiều nơi. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như sự lôi kéo của tiền bạc công việc, vui chơi, thái độ dửng dưng với đời sống tâm linh, các gương xấu từ trong Giáo Hội, các cử hành phụng vụ của Giáo Hội chạy theo thị hiếu nhanh gọn đã đánh mất giá trị thiêng liêng và linh thánh, không đọng lại gì nơi tâm hồn người tham dự.
Nhiều Kitô hữu đã không khám phá về Đức Giêsu, không nhận ra Ngài là động lực sống, là Đấng truyền cảm hứng sống cho mình, họ để Đức Giêsu đứng bên ngoài cuộc đời. Trong Tông huấn Christus Vivit – Đức Thánh Cha Phanxicô muốn nhấn mạnh cho Giáo Hội đặc biệt cho người trẻ: “Đức Kitô Đang Sống, Ngài không bao giờ là lỗi thời, không bao giờ mất sự hấp dẫn, trẻ trung, Ngài là Đấng Cứu độ cho nhân loại.” Các bài đọc Lời Chúa hôm nay một lần nữa nhấn mạnh cho chúng ta chân lý đó: Đức Giêsu là Ánh sáng cho trần gian, Ngài là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian.
Tiên tri Isaia trong bài đọc một đã nói về sứ mạng của Người Tôi Trung của Thiên Chúa và cũng là hình ảnh của Đấng Cứu Thế sau này. Sứ mạng của Ngài là trở nên Ánh sáng cho muôn dân để đem ơn cứu độ của Thiên Chúa đến tận cùng cõi đất: “Hỡi Israel người tôi trung của ta. Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang. Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đấn tận cùng cõi đất.” Như thế, Đấng Cứu Thế sẽ là người của Thiên Chúa, Đấng đem lại cho toàn thể nhân loại ơn cứu độ, là Đấng biểu lộ vinh quang của Thiên Chúa cho nhân loại. Ngài sẽ khởi đầu sứ vụ bằng việc quy tụ nhà Giacóp, đem Israel trở về với Thiên Chúa sau những ngày họ bị tản mác khắp nơi.
Tuần trước, Tin Mừng đã kể cho chúng ta việc Đức Giêsu tiến đến với Gioan để xin ông làm phép rửa cho mình, trước sự ngỡ ngàng của Gioan Tẩy Giả. Sau khi bước lên khỏi nước, các tầng trời mở ra và có tiếng Thiên Chúa Cha long trọng giới thiệu Đức Giêsu với nhân loại: “Đây là Con ta rất yêu dấu, Người hằng làm đẹp lòng Ta.” Hôm nay, khi thấy Đức Giêsu tiến về phía mình, Gioan đã giới thiệu Đức Giêsu cho mọi người: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian.” Khi giới thiệu cho mọi người bằng hình ảnh “Con Chiên xoá tội trần gian”, Gioan Tiền Hô đã nhắc đến một thực hành đặc biệt trong đời sống đạo của người Do Thái: Hằng năm trong ngày lễ Xá Tội, mọi người quy tụ trước đền thờ Thiên Chúa. Vị thượng tế cử hành nghi thức sám hối bằng việc bắt một con chiên, đặt tay trên đầu nó và xưng thú tất cả tội lỗi của dân trước mặt Thiên Chúa. Con chiên ấy trở thành con chiên phải mang tất cả tội của toàn dân. Nhưng hình ảnh thiêng liêng nhất đó là con chiên trong ngày Xuất Hành vượt qua Biển Đỏ. Ngày đó mỗi gia đình phải bắt một con chiên, làm thịt và cùng ăn bữa ăn Vượt Qua, đánh dấu biến cố Thiên Chúa đã dùng cánh tay hùng mạnh để giải thoát dân Israel ra khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, chôn vùi quân binh Ai Cập dưới lòng biển. Hằng năm Người Do Thái vẫn phải giết con chiên vào dịp lễ Vượt Qua để tưởng nhớ biến cố quan trọng này.
Như vậy khi giới thiệu Đức Giêsu: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian”, Gioan giới thiệu Đức Giêsu như là Đấng đổi mới, Ngài sẽ xoá bỏ tội trần gian nhờ cái chết của Ngài; Ngài sẽ đưa cả nhân loại vào một cuộc vượt qua mới đó là vượt qua cõi chết để vào cõi sống, vượt qua tối tăm để vào nơi đầy tràn ánh sáng. Tội lỗi là nguyên nhân khiến cho con người đau khổ và kẻ cầm đầu gây ra tội lỗi chính là ma quỷ. Kể từ khi nguyên tổ loài người quay lưng chống lại Thiên Chúa, bắt tay với ma quỷ thì cũng là lúc ma quỷ thống trị thế gian và gieo rắc tội lỗi trên nhân loại. Từ đó, đau khổ trở thành bóng tối triền miên bao phủ cả nhân loại. Nay Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa sẽ dùng máu của Ngài để tẩy rửa tội lỗi nhân loại, dùng quyền năng của Ngài để phá huỷ sức mạnh của ma quỷ trả lại cho con người cuộc sống tự do, thoát khỏi sự ràng buộc của tội lỗi và sự chết.
Gioan khi giới thiệu Đức Giêsu cho mọi người, thì đồng thời, ông cũng khiêm tốn nhìn nhận sự giới hạn thấp kém của mình và phép rửa ông thực hiện. Ông làm chứng cho mọi người cách chắc chắn rằng: “Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi vì có trước tôi…Tôi đến làm phép rửa trong nước để Người được tỏ ra cho dân Israel.” Ông còn làm chứng cho mọi người rằng: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người…Chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.” Lời chứng của Gioan đã nhìn nhận sự giới hạn của phép rửa ông thực hiện không có sức tẩy xoá tội lỗi, trái lại Đức Giêsu sẽ dùng Thần Khí để tha thứ tội lỗi cho tất cả những ai lãnh nhận phép rửa của Người.
Thưa quý OBACE, Đức Giêsu mãi mãi là Đấng Cứu Độ của nhân loại, Ngài đã dùng cái chết thập giá và cuộc phục sinh để tẩy xoá tội lỗi cho trần gian và ban tặng cho nhân loại sự sống thần linh của Người. Một điều chắc chắn rằng, tội lỗi không bao giờ đem lại niềm vui, nó chỉ có thể đem đến bất hoà và bất an mà thôi. Ma quỷ dụ dỗ chúng ta phạm tội, nó dùng khoái lạc, hưởng thụ để dụ dỗ chúng ta, nó nói với chúng ta phạm tội sẽ vui lắm, nhưng khi chiều theo cám dỗ, chúng ta sẽ bất an, sẽ đau khổ và sẽ bị lệ thuộc vào nó. Chỉ có Chúa Giêsu mới đem lại bình an và niềm vui đích thực cho tâm hồn. Đến với Chúa Giêsu chúng ta sẽ được tha thứ, được chữa lành và được phục hồi phẩm giá con người của chúng ta.
Trong Tông Huấn Đức Kitô Đang Sống, Đức Thánh Cha Phanxicô quả quyết với chúng ta rằng: “Trên cây thập giá, Đức Giêsu yêu thương chúng ta và chết vì chúng ta, Ngài đã xoá tội cho chúng ta. Cho đến ngày hôm nay Ngài vẫn tiếp tục cứu chuộc chúng ta. Hãy nhìn lên cây thập giá và bám chặt lấy Người, hãy để Người cứu chúng ta, bởi vì những ai để mình được Người cứu độ sẽ được giải thoát khỏi tội lỗi, buồn phiền trống rỗng và cô đơn trong tâm hồn” (119). Đức Giêsu không bao giờ phản bội chúng ta, cho dù chúng ta có chống lại Ngài, Ngài vẫn yêu chúng ta vì Thiên Chúa lớn hơn tất cả những yếu đuối và nhỏ nhen của chúng ta.
Xin cho chúng ta xác tín cách chắc chắn vào Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, để cho Ngài làm chủ và hướng dẫn cuộc đời và dám bước theo lời mời gọi của Ngài cho dù phải trải qua những thăng trầm vui buồn của cuộc sống. Xin cho chúng ta cũng mạnh dạn giới thiệu Chúa Giêsu cho đồng nghiệp và những người chung quanh như Gioan ngày xưa đã nói với mọi người: “Đây là chiên Thiên Chúa, đây là Đấng xoá bỏ tội trần gian.” Amen.
------------------------------------
Lm Nguyễn Xuân Trường
Phúc Âm tuần này ông Gioan giới thiệu Chúa Giêsu: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian.” Lời giới thiệu ngắn gọn nhưng diễn tả trọn vẹn sứ mạng cứu độ của Chúa luôn được Giáo hội nhắc lại tới 4 lần trong mỗi thánh lễ. Lặp lại nhiều như thế để chúng ta khắc ghi vào tâm trí rằng: Chúa Giêsu yêu thương đến độ liều thân hy sinh gánh tội cho nhân loại. Đây là một Tin Mừng vĩ đại.
Vì yêu nên Chúa không giết chết nhân loại tội lỗi, mà ngược lại Chúa chịu chết như con chiên hiến tế để cứu chuộc các tội nhân. Chúa yêu liều thân cứu độ.
Vì yêu nên Chúa không dùng công lý để kết tội, mà dùng tình thương để tha tội cho trần gian. Chúa yêu dù có tội nhiều cũng xí xóa hết.
Vì yêu nên Chúa không đầy đọa nhân loại tội lỗi, nhưng lại gánh lấy những đau khổ tội lỗi của loài người. Chúa yêu Chúa gánh nỗi đau của nhân loại.
Tạ ơn Chúa vì yêu đã liều thân gánh tội trần gian. Loài người sẽ không ỷ nại rằng: cứ phạm tội đi, Chúa thương tha thứ hết. Làm người ai làm vậy. Nhưng để đáp lại tình yêu Chúa, loài người sẽ cố gắng tránh phạm tội làm mất lòng Chúa, và noi gương Chúa sẵn lòng hy sinh tha thứ, sẵn lòng gánh lấy niềm đau của nhau.
Và chúng ta đừng quên hưởng niềm vui ơn phúc mỗi khi đi tham dự thánh lễ là đi dự tiệc Chiên Thiên Chúa như lời linh mục xướng lên trước khi hiệp lễ: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian! Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa.” Amen.
----------------------------------------
Jorathe Nắng Tím
Tin Mừng hôm nay trình thuật cảnh Gioan Tẩy Giả giới thiệu và làm chứng những gì đã thấy ở Đức Giêsu :
Hôm sau thấy Đức Giêsu tiến về phía mình, liền nói : “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”… Ông Gioan còn làm chứng : “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống, và ngự trên Người” (Ga 1,29.32).
Lời giới thiệu và lời chứng này được vang lên ngay ngưỡng cửa từ Cựu Ước bước vào Tân Ước, và Gioan đã mang vinh dự làm người giới thiệu và chứng nhân quan trọng ở giao điểm này.
Như chúng ta biết, trong Cựu Ước, chiên Vượt Qua là con chiên mà dân Do Thái đã hiến tế và ăn trước khi trốn khỏi Ai Cập, riêng máu của Chiên đã được bôi lên cửa để làm dấu, như Đức Chúa đã căn dặn : Đêm ấy, tức đêm trốn khỏi đất Ai cập, “Ta sẽ rảo khắp đất Ai Cập, sẽ sát hại các con đầu lòng trong đất Ai Cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai Cập : vì Ta là Đức Chúa. Còn vết máu chiên trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng họa trên đất Ai Cập” (Xh 12,12-13).
Chiên Vượt Qua của Cựu Ước chính là Chiên giải phóng, Chiên cứu độ, Chiên chịu hiến tế để gánh hết tội người khác, mà ngôn sứ Isaia đã so sánh với người tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa Giavê : “Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca ; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng. Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu… Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt…” (Is 53,7-8).
Điều quan trọng ở đây là Gioan Tẩy Giả đã không giới thiệu Đức Giêsu là ai khác ngoài “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”, và danh hiệu “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội” được Gioan coi như danh hiệu chính xác nhất với Đức Giêsu, cao qúy nhất và xứng hợp nhất với sứ mệnh Cứu Thế của Ngài.
Gioan đã giới thiệu vì đã nhận ra ở Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ loài người ; Gioan đã xác tín lời giới thiệu quan trọng này, vì đã thấy Đức Giêsu là Đấng đến từ Thiên Chúa để chuộc tội con người, hầu hoà giải con người với Thiên Chúa.
Khi giới thiệu Đức Giêsu là “Chiên Thiên Chúa”, hình ảnh Chiên chịu hiến tế trong Cựu Ước, hình ảnh máu Chiên cứu dân khỏi tai ương trong đêm ra khỏi đất Ai Cập, Gioan đã nhận ra và mời gọi chúng ta cùng ngài tin nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ nhân loại ở “Hài Nhi bọc tã, nằm trong máng cỏ”, ở một Giêsu ẩn dật tại Nadarét, ở một Giêsu dong duổi trên đường đời, ở một Giêsu gần gũi, giữa những người đau ốm, tật nguyền, yếu đuối, tội lỗi, bị qủy ám.
Giới thiệu Đức Giêsu là “Chiên Thiên Chúa”, Gioan một lần nữa nhắc nhở chúng ta : Đức Giêsu, Đấng cứu chúng ta khỏi tội và khỏi chết đang mời gọi chúng ta đi theo Ngài đến tận chân Thánh Giá trên Núi Sọ.
----------------------------------
Gm Giuse Vũ Văn Thiên
Phung vụ Lời Chúa các Chúa nhật đầu mùa Thường niên nhằm giới thiệu với chúng ta chân dung và sứ mạng của Đức Giêsu. Tuần trước, Tin Mừng cho thấy Đức Giêsu được giới thiệu một cách long trọng, có thể so sánh như một lễ phong vương: có lời của Chúa Cha xác nhận, có hiện diện của Chúa Thánh Thần như hình chim bồ câu.
Chúa nhật thứ hai hôm nay, Phụng vụ nhấn mạnh tới khái niệm “Chiên Thiên Chúa”. Có lẽ không người Do Thái nào còn xa lạ với khái niệm con chiên. Hình ảnh con chiên được nhắc tới rất nhiều lần trong Cựu Ước. Con chiên đóng vai trò quan trọng trong biến cố Vượt Qua của người Do Thái ra khỏi Aicập. Khởi đi từ biến cố này, hình ảnh con chiên gắn liền với ơn cứu rỗi, sự giải phóng, việc chuộc tội. Máu chiên đổ ra là dấu chỉ của giải phóng và cứu thoát. Con chiên trong hy lễ bị sát tế và là vật đền thay tội lỗi muôn dân.
Khi nói với các môn sinh của mình “Đây Chiên Thiên Chúa”, Thánh Gioan Tẩy Giả muốn cho các ông biết sứ mạng của Đức Giêsu là cứu chuộc nhân loại. Người là Đấng muôn dân mong đợi và nay đã đến giữa trần gian. Gioan Tẩy Giả không tự mình nói điều ấy, nhưng là Đấng sai ông đi làm phép rửa trong nước đã báo cho ông điều ấy, và chứng cứ của Gioan là xác thực.
Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa. Người đã chứng minh điều ấy qua cuộc khổ nạn. Như con chiên bị sát tế, máu của Người đổ ra trên thập giá đã gột rửa tội lỗi muôn dân. Những ai tắm mình trong dòng máu của Người thì được thanh tẩy và cứu thoát. Những người được nghe Gioan Tẩy Giả giới thiệu hôm đó chắn hẳn đã nhớ lại lời ngôn sứ Isaia: “Này đây Ta đặt ngươi như ánh sáng các dân tộc để ơn cứu độ của Ta tràn lan khắp địa cầu” (Bài đọc I). Việc Đức Giêsu khởi sự công cuộc loan báo Tin Mừng cũng là thời điểm Thiên Chúa ra tay can thiệp để thực hiện chương trình cứu độ của Ngài. Đức tin của Giáo Hội trải qua bao thế hệ vẫn xác tín điều đó. Lời Chúa hôm nay muốn nhắc nhở các tín hữu tái xác quyết điều căn bản này, đồng thời ước mong mỗi người hãy giới thiệu Chiên Thiên Chúa, tức là Đức Giêsu, cho anh chị em mình.
Giới thiệu Đức Giêsu không phải chỉ là nói về một con người của lịch sử, nhưng phải làm chứng Người là Đấng cứu độ trần gian. Nếu Đức Giêsu chỉ được giới thiệu như một nhân vật thuần túy lịch sử đã qua, thì chẳng có liên quan gì đến với con người thời nay. Việc giới thiệu Người phải đi liền với những gì Người đã và làm cho trần gian. Trước đây, Đức Giêsu đã tha thứ, chúc lành, chữa bệnh… thì hôm nay qua Giáo Hội, Người vẫn đang tiếp tục thực hiện những công việc ấy. Qua Giáo Hội, Chúa vẫn làm phép lạ, vẫn xua trừ ma quỷ. Giáo Hội được cấu thành bởi các tín hữu, nên mỗi tín hữu đều là những người chuyển tải sứ điệp vui mừng và bình an đến cho con người.
Trên đất nước Việt Nam của chúng ta, vẫn còn đến 93% trong tổng dân số chưa tin Chúa Giêsu. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc đồng bào của chúng ta chưa tin hoặc không tin Chúa, trong đó chắn chắn có lý do vì chúng ta – các tín hữu – chưa thực sự nhiệt thành giới thiệu Chiên Thiên Chúa cho anh em mình.
Trước khi giới thiệu Chúa, mỗi chúng ta phải xác tín nơi Người. Thiếu xác tín, những lời loan báo của chúng ta sẽ trở thành công thức vô hồn. Thiếu xác tín nơi người rao giảng, Lời Chúa được đón nhận bằng tai này, rồi lại ra tai kia. Chỉ có những lời xuất phát từ trái tim mới có thể đến được với trái tim người khác, rồi lưu lại và sinh hoa kết trái nơi người ấy. Lời chứng của Thánh Gioan Tẩy Giả là lời cam kết về điều mình đã thấy và đã cảm nghiệm : « Tôi đã thấy nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn ». Ước chi mỗi tín hữu chúng ta cũng có thể cam kết như Vị Tiền Hô này ».
Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian, xin thương xót chúng con!
---------------------------------
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền
Gần đây một trào lưu tự làm livestream gây sốc như tố cáo bố mẹ vì không cho cưới nhau, hay tố cáo mẹ ruột vì cờ bạc mà mình phải trả nợ. Và còn rất rất nhiều bạn trẻ giải bầu tâm sự qua livestream vì giận bố, chán mẹ, hận bạn đời . . .
Người xưa có câu: “Tốt khoe xấu che”, quan niệm truyền thống này đã khiến cho những câu chuyện bêu xấu bố mẹ trên mạng trở thành đề tài bàn tán không chỉ ở thế giới ảo mà lan cả ra đời thực. Có người đồng cảm, xót xa; có người phản bác vì “vạch áo cho người xem lưng”. Chuyện vợ chồng còn phải đóng cửa dạy nhau thì việc “tố” chính đấng sinh thành lại càng là điều cấm kỵ.
Điểm chung mà chúng ta thấy qua các scandal này người đăng và người bị kết án đều nổi tiếng. Họ tưởng rằng qua livestream này sẽ có người thương, người ủng hộ. Nhưng thực ra tất cả sẽ là một nạn nhân của truyền thông. Thương người này là kết án người kia. Chê người này là ủng hộ người kia sẽ mãi mãi là cuộc khẩu chiến gây đau lòng cho nhau. Chắc chắc người trong cuộc sẽ không tìm được bình an hạnh phúc khi bêu xấu, nói xấu, kết án người khác. Chắc chắc người bị đưa ra bêu xấu sẽ mãi mãi bị vết thương lòng không bao giờ chữa lành, vì lời đã ra đi như xưa chỉ là “tứ mã nan truy”, còn ngày hôm nay facebook đã lan ra thì chẳng bao giờ lấy lại được.
Xem ra nổi tiếng kiểu này là giết nhau, là gây tai tiếng cho nhau. Cả hai đều bị người đời cười chê. Xem ra chọn phương án nổi tiếng này sẽ đánh mất đi rất nhiều thứ: tình gia đình, tình người với người và mất cả nhân cách con người biết kính trên nhường dưới!
Ở đời sự nổi tiếng không do mình đánh bóng mà được, điều quan yếu là qua việc mình làm có ích cho cộng đồng sẽ được mọi người nhìn nhận trong yêu mến.
Hôm nay, tìn mừng kể về một con người được Chúa tán dương là “trong số những người con do người phụ nữ sinh ra không ai trọng hơn ông”. Đó là Gioan B. Ông không gây ồn ào bởi kết án, tẩy chay hay loại trừ người khác. Ông sống một đời giản dị, khiêm nhường. Ông không sống xa hoa ở đô hội. Ông vào hoang địa sống nghèo khó ăn trâu trấu và mật ong. Ông dành thời giờ sống cho Chúa và với Chúa để nhờ đó mà ông có thể giới thiệu Chúa cho thế gian. Ông dọn lòng cho nhân loại đón nhận Đấng Cứu Thế . Việc mà ông Gioan mời gọi mọi người cùng tham gia chính là “hãy sám hối để dọn đường Chúa đến”.
Ông nổi tiếng và được nhiều người yêu mến. Nhưng ông chỉ nhận mình là tiếng kêu trong hoang địa. Ông khiêm tốn đến độ mong muốn mình nhỏ đi để Đấng đến sau ông nổi trội hơn ông. Ông càng không lợi dụng sự nổi tiếng của mình để gây chú ý cho bản thân mà lôi kéo sự chú ý đến Đấng Cứu Thế mà ông là người dọn đường.
Người ky-tô hữu cũng được mời gọi trở thành người dọn đường cho Thiên Chúa. Chúng ta cũng cần tận dụng mọi phương tiện hiện đại như Facebook hay livestream để nói về Chúa cho anh em. Phương tiện chúng ta dùng để mang lại bình an hạnh phúc cho anh em. Đừng vì ích kỷ cá nhân mà lợi dụng truyền thông để đánh bóng mình hay làm hại người khác. Hãy dùng nó như phương tiện thời đại để chuyển tải Tin mừng đến cho mọi người. Người ky-tô hữu không theo phe nhóm nào mà chỉ đi theo chân lý, theo Đức Ky-tô. Trong mọi lời nói, trong mọi hành động đều lấy Đức Ky-tô làm khuân mẫu để sống khiêm nhường và hiền lành như Chúa.
Cuộc sống tốt đẹp biết bao nếu có những con người biết dùng mọi phương tiện hiện đại để làm chứng nhân cho Tin mừng. Cuộc sống sẽ hạnh phúc biết bao nếu có những người biết dẫn người khác cùng sống lời Chúa, cùng thực thi Lời Chúa. Xin cho chúng ta biết sống lời Chúa trong chính cuộc sống của mình, dám làm chứng cho Tin mừng bằng cả cuộc sống là những trang tin mừng được mở ra. Ước gì chúng ta biết tận dụng khoa học hiện đại để dẫn người khác đến với niềm vui của Phúc âm, của Nước Trời. Amen.
----------------------------------
Lm. Inhaxiô Trần Ngà
Vào mùa hè, Vua Duy Tân thường ra nghỉ mát ở Cửa Tùng, một cửa biển đẹp ở Quảng Trị.
Một hôm nhà vua từ bãi tắm lên, hai tay dính đầy cát, viên thị vệ bưng lại một thau nước ngọt mời vua rửa tay. Nhà vua vừa rửa tay vừa hỏi đùa:
– “Tay bẩn lấy thì lấy nước mà rửa, còn ‘nước’ bẩn lấy gì mà rửa?”
Viên thị vệ lúng túng chưa biết trả lời sao thì vua hỏi tiếp:
– “Nước bẩn thì rửa bằng gì?”
Người thị vệ vẫn không trả lời được. Vua Duy Tân bèn nói:
– “Nước bẩn thì phải lấy máu mà rửa!”
Viên thị vệ đâu có ngờ nhà vua chơi chữ, chuyển từ nước rửa tay sang một thứ nước khác đáng quý trọng là đất nước, là quê hương.
Đúng vậy, khi đất nước bị dơ bẩn vì sự chà đạp của quân thù thì không thể rửa sạch bằng nước mà phải rửa bằng máu. Về sau, vua Duy Tân đã đứng lên hô hào toàn dân khởi nghĩa, lấy máu đào rửa cho sạch cái nhục vong quốc.
Xưa kia, vua Duy Tân cho rằng “Nước bẩn thì phải lấy máu mà rửa,” thế thì khi linh hồn ta bị tội lỗi làm cho ô uế và gây ra hậu quả tai hại khôn lường, thì lấy gì mà rửa?
Không có bất kỳ chất tẩy nào trên thế gian có thể tẩy xoá được vết nhơ và hậu quả của tội lỗi. Tội lỗi loài người chỉ có thể được rửa sạch bằng máu của Ngôi Hai Thiên Chúa mà thôi.
Nhờ máu chiên, bò
Trong thời cựu ước, người có tội cần đến máu bò, máu chiên để làm lễ xoá tội cho mình. Sách Lê-vi chép: “Nếu một người đã phạm tội, làm điều Đức Chúa cấm… thì nó sẽ đưa đến một con bò, dê hoặc chiên làm lễ tiến. Nó sẽ đặt tay trên đầu lễ vật tạ tội và sát tế lễ vật tạ tội… Tư tế sẽ dùng ngón tay lấy máu con vật và bôi lên các góc cong của bàn thờ dâng lễ toàn thiêu, rồi đổ tất cả máu còn lại xuống chân bàn thờ…. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội như thế cho người ấy và người ấy sẽ được tha. (Lê-vi 4, 27-32)
Nhờ máu Con Thiên Chúa
Tuy nhiên, qua thư Do-thái (Dt 10,4), Thiên Chúa cho biết rằng: “Máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi.” Vì thế, Ngôi Hai Thiên Chúa đành hoá thân làm người, trở thành Con Chiên mới, thay thế cho những con chiên chịu sát tế trong thời Cựu ước để rửa sạch tội lỗi thế gian.
Ngay từ đầu, ông Gioan tẩy giả đã nhận ra vai trò làm Chiên đền tội của Chúa Giê-su nên “khi thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian” (Gioan 1, 29-30).
Thế là Chúa Giê-su cam phận làm Chiên mới để hiến thân chịu chết và đổ máu mình xoá bỏ tội lỗi thế gian, vì chỉ có máu châu báu của Thiên Chúa mới có thể rửa sạch tội lỗi loài người.
Hôm nay, tội lỗi của chúng ta cũng như của nhân loại còn đang chất ngất. Thế nên, Chúa Giê-su vẫn tiếp tục sứ mạng làm con Chiên Thiên Chúa, hiến tế chính mình để xoá tội trần gian. Ngài đã dâng hiến thân mình trên thập giá trên đồi Can-vê năm xưa, đổ máu thánh mình ra rửa sạch tội lỗi muôn người. Và hôm nay, Ngài tiếp tục hy tế cao trọng ấy trong các Thánh lễ hằng ngày, tiếp tục dâng mình làm Chiên, hiến tế cho Thiên Chúa Cha để đền tội cho nhân loại. Thế nên, trước khi cho các tín hữu rước lễ, linh mục nâng cao Mình thánh Chúa và giới thiệu Chúa Giê-su là Chiên mới đang tiếp tục dâng mình, hiến máu để cứu độ thế gian: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian”.
Lạy Chúa Giê-su,
Chúa đã dùng bí tích Thánh tẩy để biến chúng con thành chi thể của Chúa và cho chúng con được thông dự vào vai trò Tư tế của Ngài và từ đó, chúng con được mời gọi làm chiên đền tội với Chúa.
Xin cho chúng con hiệp thông với Chúa trong từng phút sống, cùng vác thập giá với Chúa bằng cách làm tốt các việc bổn phận hằng ngày, cùng dâng trọn vẹn cuộc sống chúng con làm hiến lễ cho Thiên Chúa Cha, để xin Ngài ban ơn cứu độ cho bao người tội lỗi.
------------------------------
P.Trần Đình Phan Tiến
Vâng , thưa quý vị thưa các bạn, câu khẳng định , mang nghĩa “phủ định”, của thánh Gioan Tiền Hô nói lên tính chân lý thuộc về Thiên Chúa. Bởi vì, không ai có thể nhận biết Thiên Chúa, nếu Ngài không mạc khải cho. Vâng, hàng các thánh cũng không miễn trừ chân lý ấy, nhưng trái lại, các thánh là những người làm chứng về chân lý đó.
Hôm nay Lời Chúa trong ( Ga 1, 29 – 34 ) thánh Gioan Tiền Hô cho chúng ta biết điều ấy. Trong câu 31 Gioan Tiền Hô đã nói : “Tôi đã không biết Người … ), hoàn toàn , nếu nói về mối “quan hệ ” thân hữu , thì, thánh Gioan Tiền Hô không hề biết Chúa Giêsu, dù là họ hàng, phương chi là siêu nhiên. Sứ mạng Tiền Hô là “rao truyền “ Đấng Cứu Thế. Nhưng, Đấng Cứu thế “xuát hiện “ quá âm thầm, lặng lẽ, vì vậy, chính nhận vật “ dọn đường” cho Người cũng quá ngỡ ngàng. Thực hư như thế nào, không biết được.
Nhưng , nhờ dấu chỉ nào, mà Gioan Tiền Hô nhận ra “Đấng Cứu Thế “, vâng, thưa đó là : “THẦN KHÍ “ của Thiên Chúa. Vì : ” Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì Người đó chính là làm phép rửa trong Thánh Thần .” ( c 33)
Vâng, nhân vật “Hữu Hình” GIÊSU ấy là sự “mạc khải ” trọn vẹn bởi Thiên Chúa. Bởi vì, Gioan Tiền Hô là vị ngôn sứ được tràn đầy Thánh Thần, sự thần bí của Gioan không được nói đến, không ai biết được. Nhưng, Thần Khí đã mạc khải cho người biết về Đấng Cứu Thế. Sứ mạng ngôn sứ trong Cựu Ứơc rất là quan trọng, bởi vì, tiếng nói của Thiên Chúa được thể hiện qua vị ngôn sứ. Tiếng nói ngôn sứ của Gioan Tiền Hô là “tiếng nói ngôn sứ ” cuối cùng của Cựu Ứơc. Vì thế, sự làm chứng về Đấng Cứu Thế là sự làm chứng cuối cùng vềTân Ứơc đối với Cựu Ứơc. Thiên Chúa không dùng ngôn sứ “gián tiếp” nữa , mà chính Ngài phán truyền qua Người Con Một là Đức Giêsu- Kitô.
Theo đó , phép “Rửa” bởi Tân Ứơc là phép rửa bởi Thần Khí, phát xuất từ phép rửa được Gioan Tiền Hô thực hiện từ ngày Chúa Giêsu chịu phép rửa.
Vì chính Gioan Tiền Hô đã nói : “Tôi thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người “ ( c 32 ). Vâng, một dấu chỉ rõ ràng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế mà muôn dân mong đợi, và việc Người chịu phép rửa bởi TAY Gioan là để tỏ ra cho dân tộc Israel.
Một ngôn sứ Israel chính hiệu là Gioan Tiền Hô, nhưng vẫn bị” thế lực “ Israel loại trừ. Chúng ta thấy , dường như sự vô biên thua sự hiện hữu, sự vô hình thua sự hữu hình, Thiên Chúa thua trần gian. Bởi vì, chính Gioan là chứng nhân cho Đấng Cứu Thế cũng sẽ bị “ chém đầu ”, còn Đấng Cứu Thế thì “ bị “ đóng đinh vào Thập giá.
Theo đó, Lời Chúa hôm nay ( Ga 1, 29 – 34) có hai ý chính :
Gioan Tiền Hô giới thiệu Đấng Cứu Thế : “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian …”
Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Tẩy. “Nước và Chúa Thánh Thần “
Như vậy, “ Chiên Thiên Chúa” là Đấng Cứu chuộc trần gian, mặc nhiên, Người phải gánh lấy “tội “ trần gian, là phái “ trở nên “ Hy Lể đền tội, là cái chết “ bất công”.
Vâng, bản án bất công của Đấng Cứu Thế, dường như ngay cả những người bước theo Chúa Giêsu , cũng không muốn đồng tình, ngay cả thời của Người và sau nầy cũng vậy. Chúa Giêsu là hiện thân bởi một tình yêu vô biên tuyệt đối từ Thiên Chúa là Cha. Chính bản án mà Người chịu càng bất công, mà nhân loại thấy được, cảm nếm được, thì tình yêu nơi Thiên Chúa càng lớn. Tại sao vậy , thưa quý vị ? Thưa , vì không ai hy sinh cho “ người lành”, cho kẻ vô tội, mà phải hy sinh cho kẻ có tội. Vì, dưới trần gian không một ai là vô tội cả, vì thế gian đã nhuốm màu satan, chỉ có một kẻ “duy nhất” cho mình vô tội, đó là satan. Vâng, satan , nó cho là nó vô tội. Vì vậy, bán án bất công mà Chúa Giêsu chịu mới có thế giá cứu chuộc nhân loại.
Nếu ai chưa nếm trải tình yêu của Thiên Chúa , chưa cảm nghiệm được tình Chúa yêu thương nhân loại, chưa bước vào tình yêu Thập giá, thì họ nghĩ rằng Gía Thánh mà Chúa Giêsu chịu thật chẳng có ý nghĩa gì với họ. Nhưng, Gía Thánh, chính là Thánh Gía mà Chiên Thiên Chúa đã gánh để xóa tội trần gian. Như vậy, satan phải nghen tức và điều gì ghen tức với Thiên Chúa thì điều đó là satan. Về từ ngữ thì : satan là kẻ phản nghịch Thiên Chúa, là thần dữ. Về, bản chất thì, satan là một thiên thần ngỗ nghịch.
Nhưng, khi xuất hiện hữu hình, thì nhân loại quá vô cảm đối với một mầu nhiệm Nhập Thể, vì Thiên Chúa toàn năng , uy quyền phép tắc , mà quá đỗi khiêm tốn, quá đỗi từ nhân, vì vậy, ngôn sứ Gioan Tiền Hô đã làm chứng theo mặc khải của Thần Khí, chứ không phải theo loài người.
Theo đó, khi bước vào trần gian, mở đầu cho sứ vụ Cứu Thế, Người đã hạ mình để cho một nhân thế, một thụ tao là Gioan Tiền Hô làm phép rửa. phép rửa là một hình thức sám hối, tự nhận mình là tội nhân trước mặt Thiên Chúa. Nhưng, phép rửa có Thần Khí là phép rửa được Đấng Tạo Thành chuẩn nhận. Vì vậy, Chúa Giêsu vừa lãnh nhận phép rửa, vừa thiết lập phép rửa hầu ban chính Thánh Thần cho kẻ lãnh nhận.
Như vậy, Chúa Giêu lãnh nhận phép rửa nói lên sự khiêm tốn của Người. đồng thời tiên báo ơn tha thứ, sự cứu độ bởi Thiên Chúa khi “ TIN “ vào Người.
Khởi đi từ bài đọc I ( Is 49 , 3 . 5 – 6) : “… Đây Ta khiến ngươi nên ánh sáng của lương dân, ngõ hầu ngươi làm việc cứu độ của Ta cho tới tận cùng thế giới “ ( c 6 b ).
Như vậy, mầu nhiệm hữu hình của Chúa Giêsu là một phương diện tỏ bày “LỜI” của Thiên Chúa trong Cựu Ứơc.
Bài đọc II thánh Phaolo ( 1 Cr 1 , 1- 3), cho chúng ta biết “thánh” là những người được lãnh nhận cùng phép rửa Thánh Thần và kêu cầu cùng Thánh Danh GIÊSU. Như vậy, từ đó phát sinh ra Hội Thánh.
Như vậy, định nghĩa được : “ Hội thánh công giáo là một cộng đoàn lãnh nhận được ân sủng và ơn cứu độ của Đức Giêsu – Kitô trong Thần Khí của Thiên Chúa, chứ không phải là một tổ chức phi Thiên Chúa tại trần thế “.
“ Vậy, kẻ nào chống lại Giáo Hội công giáo thì không bao giờ thành công , dù là satan, vì được Thánh Thần xây dựng và thiết lập.”
Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng , vì lòng ái tuất, Cha đã ban ơn cứu độ muôn đời qua Đức Giêsu – Kitô cho tất cả những ai khao khát, kiếm tìm. Xin ban cho mọi người thiện tâm tìm kiếm Cha, được no thỏa trong ơn cứu độ của Đức Kitô, vì chỉ nơi đó họ mới nhận được Thần Khí của Cha. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con ./. Amen.
------------------------------
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
Công nghệ quảng cáo ngày nay đã đạt đến một mức độ cao và có tầm ảnh hưởng rất rộng. Nhiều lần lặp đi lặp lại một đoạn quảng cáo, sẽ làm cho người nghe nhớ đến sản phẩm nào đó. Cũng vậy, công nghệ báo chí truyền thông đang có một ảnh hưởng rất lớn trong sinh hoạt xã hội, và có thể thay đổi xã hội. Thời Chúa Giêsu chưa có báo chí cũng như phương tiện truyền thông hiện đại, để giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người, Thiên Chúa đã dùng đến một nhân vật nổi tiếng đó là Gioan.
Lời Chúa hôm nay cho thấy, khởi đầu sứ vụ công khai của Chúa Giêsu, mọi người chưa biết Ngài là ai, từ đâu đến, nhưng Gioan Tiền hô đã biết và đã công khai giới thiệu Chúa Giêsu cho các môn đệ và mọi người: Đây là Chiên Thiên Chúa, đây là Đấng xóa tội trần gian. Chính Người là Đấng mà tôi đã nói tới: Có người đến sau tôi, nhưng trổi vượt hơn tôi, vì Ngài có trước tôi.
Lời giới thiệu ngắn gọn nhưng bao hàm một niềm tin sâu xa của Gioan vào Đức Giêsu, Đấng mà ông có nhiệm vụ dọn đường cho Ngài. Gioan Tiền Hô đã ý thức rất rõ về sứ mạng của mình là kẻ dọn đường và chuẩn bị cho mọi người đón nhận Đấng Cứu Thế. Ông cũng biết điểm dừng của mình, ông khiêm tôn đứng lại nhường bước cho Đấng đến sau ông. Khi chỉ cho mọi người : Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian, Gioan đã gợi lại cho môn đệ và những người nghe hình ảnh của con chiên trong mùa Lễ Xá tội của người Do Thái. Hàng năm vào dịp lễ Xá tội, toàn dân Ít-ra-en xưng thú tội lỗi mình, cầu xin Thiên Chúa tha thứ và xoá hết tội lỗi cho toàn dân. Ngày này là ngày duy nhất trong năm, thầy thượng tế bước vào nơi cực thánh trong đền thờ. Tại đây, ông lấy máu từ hy lễ rẩy trên mình và trên dân. Ông lấy một con chiên hoặc con dê, sau khi đặt tay lên đầu nó, xưng thú tất cả tội lỗi của dân lên đầu nó, ông đuổi nó vào sa mạc như dấu chỉ tội của dân đã được xua đi.
Gioan Tiên Hô còn thấy sự trổi vượt của Chúa Giêsu, Ngài không chỉ như con chiên gánh tội của dân, mà Ngài chính là Đấng xóa bỏ mọi tội lỗi cho toàn dân. Ông còn nói thêm: Ngài đến sau tôi, nhưng trổi vượt hơn tôi, vì có trước tôi. Khi nói: Ngài có trước tôi, Gioan muốn nói đến sự hiện hữu quyền năng của Đấng Cứu Thế. Ngài hiện hữu từ muôn đời và trổi vượt không chỉ trên Gioan, mà trổi vượt trên tất cả mọi vật mọi loài. Gioan đã giải thích sự trổi vượt của Đấng Cứu Thế khi nói: Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu đậu xuống trên Người. Gioan còn so sánh: Tôi chỉ rửa anh em trong nước, còn Ngài là Đấng rửa anh em trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin làm chứng rằng : Người là Đấng mà Thiên Chúa tuyển chọn.
Với những lời này, Gioan đã tin nhận và làm chứng cho mọi người về Đức Giêsu Nazaret, Ngài không phải là một con người thường, nhưng là Thiên Chúa trong hình dạng của một con người. Vì thế, nơi Ngài có đầy đủ quyền năng của một vị Thiên Chúa và Ngài đã dùng quyền năng Thiên Chúa để cứu chuộc và tẩy rửa tội lỗi cho nhân loại. Tuy nhiên, Ngài không thi hành quyền năng bằng bạo lực hoặc vũ khí hay quân đội, nhưng Ngài dùng tình yêu, lòng trắc ẩn để chinh phục thế giới, để quy tụ muôn dân trong sự săn sóc yêu thương của Ngài.
Tiên tri Isaia trong bài đọc một đã dùng hình ảnh của một Người Tôi Trung khiêm hạ để nói về Đấng Cứu Thế và sứ mạng của Ngài: Ta sẽ dùng Người để biểu lộ vinh quang, Người sẽ quy tụ Israel chung quanh Người, để tái lập nhà Giacop và đem Israel sống sót trở về. Hơn thế nữa, Thiên Chúa còn biến Người Tôi Trung của Ngài thành ánh sáng cho muôn dân, để đem ơn cứu độ đến tận cùng trái đất. Người Tôi Trung khiêm hạ được Isaia mô tả đã ứng nghiệm nơi con người và sứ mạng của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu quả là một người Con và cũng là một tôi tớ trung thành, vâng phục, của Thiên Chúa. Vì yêu mến và vâng phục hoàn toàn ý muốn của Thiên Chúa Cha, Ngài đã chấp nhận từ bỏ địa vị của một Thiên Chúa để mang lấy thân phận giới hạn của con người. Chúa Giêsu bước vào trần gian, Ngài trở nên ánh sáng dẫn đường cho muôn dân tìm về cùng Thiên Chúa. Ngài trở nên Đấng Cứu Độ và cũng là nguồn ơn cứu độ cho nhân loại, cho đến tận cùng trái đất. Kể từ đây, ngoài Chúa Giêsu sẽ không có một con đường cứu độ nào khác, cũng không có một Đấng cứu độ nào khác.
Chúa Giêsu chính là Con Chiên Thiên Chúa đã mang lấy tội của cả nhân loại từ trước đến nay, Ngài đã đem nó lên thập giá cùng với cuộc tử nạn thập giá của Ngài. Từ cây thập Giá, Chúa Giêsu đã dùng dòng máu và nước từ cạnh sườn đổ ra để tẩy rửa tội lỗi cho nhân loại và quy tụ muôn dân muôn nước trở về thành dân của Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã khẳng định chân lý này với cộng đoàn Corintô và còn nói thêm: Bất cứ ai kêu cầu danh thánh Chúa Giêsu thì được Thiên Chúa ban ân sủng và bình an.
Ngày nay chung quanh ta, trong xóm chúng ta còn nhiều người chưa biết và chưa tin nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Đấng xóa bỏ tội trần gian. Chúng ta sẽ phải là người giới thiệu Chúa Giêsu cho họ. Chúng ta sẽ không thể nói về Chúa Giêsu một cách xác tín khi chúng ta chưa gặp Ngài, chưa tiếp xúc cá nhân với Ngài. Vì thế, để có thể tự tin giới thiệu cho mọi người như Gioan, chúng ta cần học biết về Chúa Giêsu nhiều hơn qua việc học hỏi giáo lý của Chúa, qua việc đọc và suy gẫm Kinh Thánh, vì không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Giêsu. Kế đến, chúng ta còn phải gặp được Chúa Giêsu qua việc cầu nguyện, qua các giờ kinh sớm tối trong gia đình, nhất là gặp được lòng thương xót của Thiên Chúa nơi Bí tích Giải tội và tiếp xúc đụng chạm tới Thiên Chúa qua Bí tích Thánh Thể. Khi đó, chúng ta mới có thể xác tín và tự tin, không ngại ngần giới thiệu Chúa cho mọi người.
Hãy bắt đầu từ nơi các gia đình. Các bậc cha mẹ hãy đưa con đến với Chúa mỗi ngày trong thánh lễ để chỉ cho con biết Đức Giêsu chính là Chiên Thiên Chúa, là Đấng xóa tội trần gian. Kế đến, cha mẹ hãy học nơi Chúa Giêsu để biến mình trở thành người “gánh tội, xóa tội” cho gia đình bằng sự hy sinh âm thầm tận tụy trong nhiệm vụ làm cha mẹ để vun đắp cho đời sống thể xác và nhất là đời sống đạo đức của con cháu và của gia đình. Vì tương lai, vì hạnh phúc của gia đình, mỗi người cần dẹp bỏ cái tôi ích kỷ, sự tự ái vụn vặt để vun đắp cho cái chung của gia đình. Chính cha mẹ cũng cần học nơi Chúa Giêsu để biết cảm thông tha thứ cho nhau, cùng nhau vun đắp cho tình yêu và hạnh phúc của gia đình, làm cho gia đình thêm ấm cúng thuận hòa.
Sự tự tin giới thiệu về Chiên Thiên Chúa cho mọi người của Gioan là tấm gương cho mọi người và cách riêng cho các bạn trẻ. Hầu hết các bạn trẻ hôm nay đều sử dụng internet và các trang mạng xã hội, các bạn hãy tận dụng sự lan tỏa của nó để nói về Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài cho người khác. Đừng chỉ vào mạng để thỏa mãn sự tò mò hoặc tự sướng, nhưng cần biết sử dụng chúng một cách cẩn trọng, khôn ngoan và có ích cho sự phát triển tốt của mình và đem đến an vui cho người khác. Quan trọng hơn, qua cuộc sống thường ngày, mỗi người được mời gọi giới thiệu Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế cho bạn hữu nơi công ty, chỗ làm việc, nơi buôn bán, để qua đời sống tốt lành hiền hòa, nhân ái của mỗi chúng ta, mọi người sẽ nhận ra Chúa Giêsu nơi chúng ta và nhận ra chúng ta là những chứng nhân đáng tin của Ngài.
Xin Chúa Thánh Thần thúc đẩy và đốt nóng lòng yêu mến Chúa Giêsu trong lòng chúng ta và biến chúng ta trở thành những chứng nhân không mệt mỏi nói về Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Thiên Chúa giàu lòng thương xót cho bạn hữu và cho xã hội hôm nay. Amen.
--------------------------------
Trầm Thên Thu
Có nhiều Tôn Danh được dùng để nói về Đức Giêsu Kitô, nhưng có thể nói chắc chắn rằng “nickname” được sử dụng nhiều nhất là Tôn Danh “Chiên Thiên Chúa” (Con Chiên của Thiên Chúa). Thật vậy, Tôn Danh “Chiên Thiên Chúa” được Kinh Thánh Tân Ước đề cập 31 lần – sách Khải Huyền đề cập 29 lần, và Tin Mừng theo Thánh Gioan đề cập 2 lần (với cách nói “Con Chiên”).
Thông thường, “con chiên” cũng là “con cừu” (có khi gọi là “con trừu”), loài động vật có vú. Thế nhưng tại sao người ta lại gọi là “Chiên Thiên Chúa” mà không gọi là “Cừu Thiên Chúa”? Có gì khác nhau chăng? Thưa ngay rằng “có”. Vì thế, chúng ta cần phân biệt sự khác nhau giữa “con chiên” và “con cừu”, nhất là đối với người Việt Nam, vì loài động vật này không phổ biến ở đất nước chúng ta.
Chúng ta biết rằng danh từ “cừu” dùng để chỉ chung về loài động vật này, nhưng “cừu” thường dùng để nói về những con lớn hơn một năm. Còn danh từ “chiên” dùng để nói về những con nhỏ hơn một năm. Nghĩa là người ta nói “thịt chiên” để chỉ loại thịt của những con “cừu non”, nhưng người ta nói “thịt cừu” để chỉ loại thịt của những con “cừu già”.
Người Anh dùng vài từ ngữ khác nhau để nói về giống cừu: danh từ “sheep” nói chung về loài cừu, danh từ “lamb” chỉ cừu non (dưới một năm), danh từ “ram” chỉ cừu đực, danh từ “ewes” (hoặc “yoe”) chỉ cừu cái. Do đó, chúng ta gọi là Chiên Thiên Chúa, Anh ngữ là Lamb of God (dùng chữ “lamb” chứ không dùng các chữ khác).
Chiên Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô, Cựu Ước đã đề cập bằng danh xưng Người Tôi Trung. Qua ngôn sứ Isaia, trong bài ca Người Tôi Trung II, Thiên Chúa đã phán: “Hỡi Israel, ngươi là tôi trung của Ta. Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang” (Is 49:3). Thiên Chúa đã tiền định và có kế hoạch riêng cho mỗi người, không ai giống ai. Đó là điều quá đỗi kỳ diệu mà chúng ta không thể nào hiểu nổi.
Thật vậy, ngôn sứ Isaia cho biết sự quan phòng và tiền định của Thiên Chúa: “Giờ đây Đức Chúa lại lên tiếng. Người là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ để tôi trở thành người tôi trung, đem nhà Gia-cóp về cho Người và quy tụ dân Israel chung quanh Người. Thế nên tôi được Đức Chúa trân trọng, và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi” (Is 49:5). Thật hạnh phúc cho ai vâng theo Ý Chúa. Mỗi chúng ta đều được Thiên Chúa tuyển chọn và đặt vào một vị trí nhất định theo Ý Ngài, vấn đề là chúng ta có làm theo Ý Ngài hay không.
Nếu chúng ta làm tốt công việc Ngài giao phó, Ngài sẽ giao thêm vì thấy chúng ta có khả năng. Có rồi sẽ được cho thêm là thế (x. Mt 13:12; Mt 25:29; Mc 4:25; Lc 8:18; Lc 19:26). Quả thật, Người Tôi Trung làm tốt nên Ngài muốn họ làm thêm nữa: “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta để tái lập các chi tộc Gia-cóp, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49:6).
Người tôi trung là người vâng lời tuyệt đối, không phải vì miễn cưỡng mà vì tôn trọng và yêu mến. Yêu là muốn làm vừa lòng người mình yêu (vị tha), chứ không vì mình (vị kỷ). Tình yêu đôi lứa thế gian thường là vị kỷ nhiều hơn vị tha. Mọi nơi và mọi lúc, trong bất cứ hoàn cảnh nào, người tôi trung luôn một lòng vì Chúa: “Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu” (Tv 40:2).
Yêu và được yêu là hạnh phúc nhất. Vì thế, người ta không thể không im hơi lặng tiếng, sẵn sàng làm chứng về Đấng Tình Yêu để người khác cũng nhận biết Ngài: “Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới, bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta. Thấy thế, nhiều người sẽ kính sợ và tin tưởng vào Chúa” (Tv 40:4).
Thiên Chúa có mọi sự, Ngài không cần gì ở chúng ta, mà Ngài chỉ muốn chúng ta chân thành yêu kính Ngài hết linh hồn và hết trí khôn. Cảm nghiệm được như vậy, tác giả Thánh Vịnh thân thưa: “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con; lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi, con liền thưa: ‘Này con xin đến!’. Trong sách có lời chép về con rằng: con THÍCH LÀM theo thánh ý, và ẤP Ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con” (Tv 40:7-9). Đó cũng chính là điều nói về Chiên Thiên Chúa – Đức Giêsu Kitô.
Con chiên là con vật hiền lành, dù bị xén lông rất đau đớn cũng không kêu than hoặc giãy giụa phản đối. Con Chiên của Thiên Chúa cũng vậy. Một lòng trung tín và tuân phục, Người Tôi Trung chân thành bày tỏ khúc nhôi: “Đức công chính của Ngài, con loan truyền giữa lòng đại hội; lạy Chúa, Ngài từng biết: con đâu có ngậm miệng làm thinh” (Tv 40:10). Thật đẹp thay sự quyết tâm và lòng can đảm dành riêng cho Thiên Chúa, và phúc thay cho ai hành động như vậy!
Xưa nay chúng ta đã quen với một câu nói ngắn gọn và phổ biến trong cộng đồng dân Chúa: “Vâng lời quý [trọng] hơn của lễ” (x. 1 Sm 15:22; Tv 50:8-9). Một cách nói giản dị và dễ hiểu. Và đó cũng chính là chân lý muôn đời đối với những ai tin vào Thiên Chúa.
Từ một Saolê [Saolô hoặc Saun] hung dữ trở thành một Phaolô nhiệt thành, ông bộc bạch với dân Côrintô: “Tôi là Phaolô, bởi ý Thiên Chúa được gọi làm Tông Đồ của Đức Kitô Giêsu, và ông Xốt-thê-nê là người anh em của chúng tôi, kính gửi Hội Thánh của Thiên Chúa ở Côrintô, những người đã được hiến thánh trong Đức Kitô Giêsu, được kêu gọi làm dân thánh, cùng với tất cả những ai ở bất cứ nơi nào kêu cầu danh Chúa của chúng ta, Đức Giêsu Kitô, là Chúa của họ và của chúng ta. Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an” (1 Cr 1:1-3).
Thánh Phaolô xác định rằng dân Côrintô là những người “được thánh hiến” và là “dân thánh” của Thiên Chúa, và chúng ta ngày nay cũng vậy, cũng là những “thánh nhân” trong Giáo Hội của Đức Giêsu Kitô. Như vậy, bổn phận của chúng ta là phải chân thành mến Chúa, yêu người, cùng với trách nhiệm là phải sống sao cho xứng với Đức Kitô, Đấng đã yêu thương và tin tưởng chúng ta, thế nên Ngài đã muốn chúng ta là những chứng nhân của Ngài giữa thế gian này.
Chứng nhân “gạch nối” giữa Cựu Ước và Tân Ước là ột “dị nhân” nổi tiếng đặc biệt: ông Gioan Tẩy Giả (Tiền Hô). Sau ngày ông làm phép rửa cho Đức Giêsu, lúc thấy Đức Giêsu tiến về phía mình, ông Gioan liền nói với những người có mặt ở đó: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi. Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Israel, tôi đến làm phép rửa trong nước” (Ga 1:29-31).
Ông Gioan đã mục sở thị sự việc lạ lùng tại sông Gio-đan, ông hùng hồn làm chứng về Đức Giêsu Kitô: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: ‘Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần’. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1:32-34).
Lời chứng của ông Gioan là sự thật, và thật hạnh phúc cho chúng ta vì chúng ta đã và đang tin vào chính Đấng mà ông Gioan đã làm chứng từ 20 thế kỷ trước.
Chiên Thiên Chúa vô cùng quan trọng và cao cả, nhưng Ngài lại tự hóa ra “không” chỉ vì yêu thương chúng ta. Người ta đã từng thấy cách sống lạ của Gioan Tẩy Giả, đến nỗi người ta đã tưởng ông là Đấng Mêsia. Nhưng Đức Giêsu còn có cách sống kỳ lạ hơn Gioan Tẩy Giả, và tất nhiên cách sống đó cũng khó áp dụng hơn. Nhưng khó không có nghĩa là không làm được. Cố gắng thì sẽ được, bởi vì chúng ta không nỗ lực một mình, mà có Thiên Chúa trợ lực.
Cách sống của Đức Giêsu khác người từ Belem tới Canvê, chính Ngài đã xác định: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28; Mc 10:45). Còn hơn thế nữa, vì một chỗ tựa đầu mà Ngài cũng không có (x. Mt 8:20; Lc 9:58). Còn chúng ta thì sao?
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết làm chứng về Chiên Thiên Chúa theo khả năng và hoàn cảnh sống của con, xin giúp con hành động mọi sự vì vinh danh Ngài chứ không vì một thứ gì khác. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
-----------------------------------
Lm. Giuse Nguyễn
Ánh sáng là nhu cầu thiết yếu của con người. Ánh sáng đó không chỉ là các bức xạ điện từ được nhìn thấy bằng ánh nắng, ánh trăng, ánh đèn hay ánh sáng sinh học… mà hơn bao giờ hết nhân loại đang rất cần thứ ánh sáng dẫn đưa họ đến với một thế giới hòa bình công lý đích thực, một thế giới được kiến tạo bằng tình yêu thương. Thế giới đó chính là Nước Trời mà Đức Giêsu đã loan báo.
I. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
Bài Đọc I: Is 49, 3.5-6
Trong bài đọc thứ nhất, Isaia loan báo một con người sẽ được Thiên Chúa dùng để “biểu lộ vinh quang” của Ngài, người đó là vị tôi trung của Thiên Chúa. Tôi trung là một thuộc hạ luôn trung thành và làm theo những hướng dẫn của ông chủ. Tuy nhiên, Thiên Chúa không dừng lại ở sự trung thành, nghĩa là chỉ quy hướng về Ngài, mà Ngài còn muốn làm cho người tôi trung đó trở thành căn nguyên ơn cứu độ, nghĩa là qua Ngài, mọi người sẽ đón nhận được ơn cứu độ: “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta để tái lập các chi tộc Giacóp, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng trái đất”.
Tin Mừng: Ga 1, 29-34
Gioan chỉ cho dân chúng thấy Đức Giêsu là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian”. Như vậy Gioan chính là ánh sáng soi cho người khác thấy Ánh Sáng. Gioan không quy chiếu về mình, nhưng dùng uy tín của mình để dẫn người khác đến cùng Ánh Sáng thật. Ông đã nại đến Thánh Thần bảo đảm cho lời nói của mình là sự thật: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”.
Như vậy lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy rõ việc chỉ đường để người khác nhận ra sự thật là vô cùng quan trọng. Vai trò đó chính là việc trở thành ánh sáng để dẫn đường cho người khác đến cùng chân lý.
II. ÁNH SÁNG PHÁ TAN BÓNG TỐI
Thư Chung gửi cộng đồng dân Chúa ngày 7/10/2016 của Hội đồng Giám mục Việt Nam có nêu lên những điều Hội đồng Giám mục Việt Nam đang băn khoăn lo lắng như: đạo đức xuống dốc nghiêm trọng, tội ác gia tăng về số lượng lẫn về mức độ dã man, phá thai và nghiện ngập tràn lan, tệ nạn tham nhũng vẫn không suy giảm, xâm mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long, hạn hán tại Tây Nguyên, thảm họa môi trường tại miền Trung, thực phẩm bẩn và độc hại là mối đe dọa hằng ngày… Những vấn đề này không chỉ là mối băn khoăn lo lắng của Hội đồng Giám mục Việt Nam, mà dường như của tất cả người dân Việt. Và như thế năm 2016 khép lại trong những băn khoăn lo lắng đó, như vườn hoa của người dân hoang tàn không kịp đón xuân vì thời tiết xấu trong những tháng vừa qua.
Tuy nhiên, dù hoang tàn nhưng vẫn có những cánh hoa vươn lên, nở rộ để góp thêm hương sắc cho ngày xuân sắp tới. Ví dụ như trường hợp của chị Đậu Thị Huyền Trâm ở Hà Tĩnh dù bị ung thư giai đoạn cuối nhưng đã từ chối điều trị để cứu lấy đứa con trong bụng mình, thậm chí khi mổ lấy thai, vì không thể gây mê, chị cũng sẵn sàng chịu đau đớn. Một trường hợp khác chính tôi mắt thấy tai nghe tại bến xe miền Tây trong những ngày cuối năm. Một người đàn ông mặc đồ công nhân ngồi co ro trong góc phòng chờ chuyến xe cuối ngày. Dường như có điện thoại từ người thân, ông cho biết đã đợi ở đây từ chiều mà không xe nào cho đi nhờ, ông nói biết ai đâu mà mượn, nghĩa là ông không còn tiền về quê, và ông đưa tay lau vội dòng nước mắt. Ngồi cách ông vài hàng ghế, tôi nhìn xuống chưa kịp làm gì thì có một thanh niên ngồi hàng phía trước lấy từ trong túi quần đưa cho ông 120.000 đồng để ông mua vé xe. Ông vội vã chạy ra quầy vé để mua cho kịp chuyến xe cuối cùng.
Những câu chuyện về quầy đồ miễn phí cho người nghèo trong địa bàn Họ đạo Lộ 20, Thành phố Cần Thơ với khẩu hiệu: “Ai thiếu cứ nhận, ai thừa cứ cho”; chương trình “Tiếng hát vì người nghèo” của Linh mục Nguyễn Sang; hay những “Chuyến xe mùa xuân – Tết xum vầy” cho sinh viên về quê trong dịp Tết…
Và thế là: “Mùa xuân đã đến bên em, và mùa xuân đã đến bên anh thì thầm”. Thì thầm vì những việc hết sức âm thầm nhưng đã làm làm nên một mùa xuân ấm áp. Những việc làm “thì thầm” đó cũng được ví như một thứ ánh sáng dù không rực rỡ như ánh đèn cao áp, nhưng chỉ là của ánh đèn dầu leo lét, nhưng cũng đủ phá tan đêm tối và góp phần sưởi ấm giá lạnh của cuộc đời. Đó là thứ ánh sáng được phụng vụ lời Chúa nói đến trong ngày hôm nay.
III. ĐỂ GIA ĐÌNH TRỞ THÀNH ÁNH SÁNG
Ơn gọi cách chung của tất cả mọi người, đi tu, sống độc thân hay có gia đình đều là “…Này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng trái đất”. Cách riêng trong năm mục vụ gia đình này, lời Chúa càng thôi thúc những ai sống trong đời sống Hôn nhân Gia đình phải ý thức việc trở thành ánh sáng để đem ơn cứu độ không phải đến tận cùng trái đất, nhưng đến chính những người thân trong gia đình của mình.
Ý thức trở thành ánh sáng là ý thức lo cho chính mình được cứu độ
Thực ra khi ý thức việc trở thành ánh sáng là lúc đem đến cho chính bản thân mỗi người chúng ta được ơn cứu độ. Một trong những vấn đề cấp bách của các gia đình hôm nay là người ta xem thường Bí tích Hôn nhân. Có những gia đình xem việc đến nhà thờ cử hành hôn lễ chỉ như một uy tín, một danh dự cho gia đình, để cũng cố gắng sắp xếp đến nhà thờ “làm phép” cho có với người ta, nhưng sau đó rồi thôi, không đi lễ, không thờ phượng Chúa nữa. Có những bậc phụ huynh khi xin thủ tục Hôn phối cho con mình thì nói rất ngon, hứa rất ngọt: “Con hứa với cha con lo cho con cái con xong, con sẽ đi lễ đàng hoàng tử tế”. Đó thường là những lời có cánh, vì nếu người ta có ý thức sống đạo, người ta không cần phải hứa. Vì vậy không lạ gì con cái của họ sau khi lãnh Bí tích Hôn phối cũng chẳng đến nhà thờ.
Đáng thương hơn nữa là trường hợp của những người tân tòng, lẽ ra những người “đạo gốc” phải làm gương sáng cho họ, vì chính những người có đạo đã ra điều kiện để người bạn đời của mình phải theo, nhưng khi theo rồi, họ đã bỏ mặc những người đó. Vì thế, nếu những người vợ, những người chồng theo đạo mà không được hướng dẫn để sống đạo tốt, thì mọi hậu quả là chính những người chồng, những người vợ đạo gốc phải gánh.
Đây là cơ hội để mọi người trong gia đình hãy ý thức việc sống đạo cho chính mình để còn làm gương sáng cho người khác.
Trở thành ánh sáng khi biết dõi theo Ánh Sáng
Nhiều gia đình, kể cả những gia đình Công giáo trong xã hội hôm nay không biết dõi theo Ánh Sáng thật, mà lại đi trong bóng tối. Bóng tối của những giá trị thuộc về thế gian này. Những giá trị này Giáo hội thường xuyên nhắc đến trong các giáo huấn cũng như các bài giảng dạy. Đó là quá bận rộn để lo kiếm tiền, quá đam mê trong cờ bạc, rượu chè, hút sách và sắc dục… Từ đó người ta bất chấp tất cả. Có những người quá lo làm ăn, đến khi giật mình, bệnh tật không hay. Có những người quá mê bài bạc, bán cả nhà cửa, ruộng nương. Có những người đam mê sắc dục bỏ cả vợ, hoặc chồng, nhất là bỏ cả con thơ nhỏ dại… Suy nghĩ cho kỹ lại, cuối cùng những người đó sẽ được gì?
Đó là câu hỏi để mỗi người chúng ta phải suy tư và suy tư thật nhiều để nó ăn sâu vào trong tâm trí của chúng ta. Nhờ ăn sâu như vậy nó mới có thể giúp những ai sống trong đời sống gia đình dám mạnh dạn khước từ mọi đam mê để trung thành với lời hứa ngày thành hôn. Khi họ nhớ những lời cam kết trung thành và yêu thương, nâng đỡ nhau trong suốt cuộc đời, thì họ cũng sẽ cố gắng để sống một đời sống đức tin tốt đẹp. Lúc đó họ trở thành ánh sáng, vì biết hướng đến Ánh Sáng thật.
Xin ơn Chúa giúp để mỗi người chúng ta, nhất là những ai sống trong đời sống Hôn nhân Gia đình luôn ý thức sứ mạng cao cả của mình để quyết tâm trở thành ánh sáng cho những người còn lại trong gia đình của mình noi theo. Khi cha mẹ trở thành ánh sáng trong việc sống đạo tốt, trong việc yêu thương nhau thì cũng là lúc họ góp phần với Giáo hội trang bị cho người trẻ những điều cần thiết để khi bước vào đời sống Hôn nhân Gia đình, họ sẽ dễ dàng bước theo, vì chính cha mẹ của họ đã làm gương sáng cho họ.
----------------------------------
Lm. JB Nguyễn Minh Hùng
Thánh Gioan Tông đồ ghi lại lời thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu Chúa Giêsu: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”. Đấng được gọi là “Chiên Thiên Chúa”, cũng được thánh Gioan giới thiệu hết sức long trọng: “Ngài có trước tôi, Ngài cao trọng hơn tôi. Tôi đã thấy Thánh Thần ngự xuống trên Ngài”.
Cuối bài Tin Mừng, thánh Gioan còn giới thiệu Chúa cách quả quyết hơn, long trọng trọng hơn nữa: “Ngài là Con Thiên Chúa”. Lời giới thiệu mà thánh Gioan dâng lên Chúa Giêsu là những lời hết sức cao trọng, một sự cao trọng trên mức bình thường.
Vì sao “Con Thiên Chúa” cũng chính là “Chiên Thiên Chúa”?
Chiên là vật người Dothái nuôi nhiều. Nó hiền từ, dễ yêu. Trong đêm Vượt qua xưa của người Dothái, đêm mà Chúa cứu họ thoát cảnh lầm than nô lệ người Aicập, qua ông Môisen, Chúa truyền phải cử hành lễ Vượt qua bằng cách mỗi gia đình giết một con chiên không tì vết, không thương tật, tế lễ cho Thiên Chúa, cảm tạ lòng thương xót Chúa dành cho dân khi giải phóng họ.
Đêm lễ Vượt qua, trước khi lên đường rời khỏi đất nô lệ, toàn dân cử hành nghi thức ăn lễ Vượt qua gồm bánh không men, rau diếp đắng và thịt chiên. Họ phải ăn thật vội vả. Sau đó, ngay trong đêm, tất cả lên đường rời bỏ Aicập, vượt qua tình trạng nô lệ để sống tự do.
Hành động giết chiên mừng lễ Vượt qua phải được cử hành hàng năm để muôn đời toàn dân phải nhắc đi, nhắc lại cho con cháu, không phân biệt bất cứ thế hệ nào. Đó cũng là hành động ghi nhớ khởi đầu cuộc thanh luyện dài 40 năm trong sa mạc trước khi tiến chiếm Đất hứa mà Thiên Chúa hứa ban cho dân tộc Người tuyển chọn.
Bằng việc nhắc nhớ hàng năm, hành động ăn thịt chiên để cử hành Vượt qua, người Dothái còn giúp nhau ý thức rằng: Chính Chúa đã ban cho họ vùng đất mà họ đang sống để làm gia nghiệp, làm quê hương xứ sở. Họ phải tận trung với tình yêu bền vững, một tình yêu cuồn cuộn mà muôn đời Người đã dành cho cha ông họ và vẫn tiếp tục tuôn đổ trên họ.
Khi giới thiệu Chúa Giêsu là “chiên Thiên Chúa”, thánh Gioan như muốn nói, từ nay, không còn thể thức mừng lễ với thịt chiên của Cựu ước nữa. Đúng hơn, chiên vượt qua của giao ước cũ là hình bóng báo trước, là sự chuẩn bị cho việc mừngVượt qua của giao ước mới.
Và Chúa Giêsu, chiên vượt qua của giao ước mới, là chính Con Thiên Chúa làm người hiến dâng mạng sống mình để tha thứ, cứu chuộc ta. Chúa Giêsu vượt qua sự chết, tiến vào sự sống, để ta cùng với Người, nhờ Người, vượt qua tình trạng nô lệ của tội, tiến vào tự do được làm con Chúa.
Là Thiên Chúa, Chúa Giêsu mang nơi mình hình ảnh con chiên hiền lành bị đem đi giết. Bởi đó, thánh Gioan Tẩy giả không ngần ngại giới thiệu Chúa Giêsu cho chúng ta: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”.
Cho đến hôm nay, và mãi về sau, lời giới thiệu này được Hội Thánh lặp đi lặp lại trong từng thánh lễ. Cùng với lời đọc này, linh mục chủ tế dâng cao Mình Thánh Chúa đã được bẻ ra để mọi người tôn thờ.
Hành động bẻ đôi Mình Thánh Chúa có ý cho thấy sự tự hiến của Chúa Giêsu. Người đã bẻ chính sự sống mình, bẻ cuộc đời mình dâng lên Thiên Chúa làm của lễ đền tội ta. Hành động bẻ đôi Mình Thánh Chúa cũng nói lên sự xóa mình của Chúa Giêsu.
Ngày nay, mỗi lần dâng thánh lễ, ta cử hành lễ Vượt qua, được ăn tiệc Vượt qua, và thịt chiên Vuợt qua chính là Mình Máu Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu tự hiến mình để chia sẻ kiếp sống của ta. Người đã chịu đau khổ để thông cảm và đồng cảm cùng mọi khổ đau trong đời ta. Chỉ cần ta có lòng tin, ta sẽ nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện bên mình.
Ta cần một lòng tin.
Chuyện kể rằng: Danh họa Raphael, người Ý, muốn họa chân dung Chúa Giêsu. Ông đi khắp nơi để tìm mẫu người thích hợp khuôn mặt Chúa. Nhưng càng tìm, Raphael càng khám phá: Trên trần gian không một ai hoàn hảo như Chúa Giêsu. Và ông cũng không tài đến nỗi có thể góp nhặt tất cả mọi vẻ đẹp của mọi người để tạc vào khuôn mặt của Chúa.
Nhưng vẫn quyết tâm vẽ bằng được. Vì thế, ông bỏ thời gian dài trong nhiều năm để nghiền ngẫm về tác phẩm mà ông sẽ thực hiện. Cuối cùng, Raphael bắt tay vào thực hiện bức họa. Ông vẽ Chúa Giêsu có khuôn mặt hiền từ, khả ái.
Không ngờ, trong thời gian ông đang hoàn thành bức họa Chúa Giêsu, thì liên tiếp những bất hạnh xảy ra cho ông: Nhà ông bị cháy hết một phần. Bức tranh mà ông đang vẽ tưởng chừng như bị thiêu rụi cùng với một phần của căn nhà. May mà ông cứu nó kịp thời.
Nhưng đứa con trai đầu lòng của ông bị bỏng nặng. Vợ ông, vì chứng kiến cảnh tượng hãi hùng của đám cháy, và chứng kiến cảnh tượng thương tâm của đứa con, đã trở nên ngớ ngẩn, điên dại. Còn bản thân danh họa Raphael, vì quá đau buồn nên bị kiệt lực và bệnh nặng.
Nhưng ông vẫn gượng lấy lại bình tĩnh, lấy lại nghị lực để tiếp tục sống. Ông cũng tiếp tục dành nhiều thời gian để hoàn thành bức chân dung Chúa Giêsu. Không ai ngờ, chính trong đau khổ cùng cực của mình, nhà họa sĩ đã vẽ nên một tuyệt tác.
Khuôn mặt của Chúa Giêsu vốn đã hiền từ, khả ái, bây giờ lại càng độ lượng, đáng yêu đến mức, ai nhìn vào đó, đều nhận ra khuôn mặt của Chúa toát lên một vẽ đẹp bình an và thông cảm đến kỳ diệu. Bức chân dung Chúa Giêsu của Raphael, vì thế, trở nên nổi tiếng.
Họa sĩ Raphael, trong đau khổ tột cùng, đã phác họa chính nội tâm của mình. Ông đã trút tất cả tâm tư đầy khát vọng của tâm hồn ông lên khuôn mặt rạng ngời của Chúa Giêsu.
Bởi không phải phác họa chân dung, không đi tìm bất kỳ khuôn mặt của bất kỳ ai, mà là chính khuôn mặt của tâm hồn mình, nhà họa sĩ tài ba đã để lại cho đời tuyệt phẩm bất hủ.
Bên trong bức họa chân dung Chúa, điều mà người ta nhận thấy mạnh mẽ nhất, lớn lao nhất chính là đức tin của Raphael. Chính đức tin đã làm cho ông, trong đau khổ, không oán giận Thiên Chúa. Ngược lại, càng đau khổ, ông càng nhận ra Thiên Chúa hiền lành, nhân từ, độ lượng. Ông nhìn thấy một Thiên Chúa khả ái, yêu thương và thông cảm. Người như đang sớt chia cùng ông mọi hoàn cảnh mà ông phải trải qua.
Đức tin đã cho ông thấy Thiên Chúa. Nhờ nhận ra Chúa, tâm hồn ông đầy khát vọng sống trong Chúa, vươn lên tới Chúa và trung thành với thánh ý Người xếp đặt trong đời ông.
Như bao nhiêu anh chị em tín hữu: Họ tin mãnh liệt. Ta hãy mang lấy lòng tin bất khuất như thế, để suốt đời và hết mọi ngày trong đời, dù bi thương hay hạnh phúc, dù mạnh mẽ hay yếu đuối, ta cảm nhận sâu xa: Có Thiên Chúa ở cùng. Có Chúa Giêsu cùng ta song hành.
Nhận ra tình thương, sự hiện diện của Chúa, để cùng Chúa, ta sống lễ Vượt qua kiên trì, bền bỉ, để nhờ Chúa, ta vượt qua tội lỗi, vượt qua mọi cám dỗ, vượt qua mọi bất trắc…, mà tiến đến thánh giá, can đảm vác thánh giá hướng về ơn phục sinh của đời mình trong Chúa.
Chỉ có lòng tin như thế, cuộc đời ta mới thực là lễ Vượt qua khải hoàn, vinh thắng.
--------------------------------
Lm. Antôn
Ông bà anh chị em thân mến.
Cơ quan Liên hiệp Truyền thông Hoa kỳ đã đưa ra một kết quả đáng lo ngại của cuộc thăm dò mà họ đã thực hiện. Cơ quan truyền thông này đã phỏng vấn gần 2,000 học sinh trung học sơ cấp. 65 phần trăm học sinh nam và 50 phần trăm học sinh nữ đồng ý chấp nhận người nam có thể tình dục với người đàn bà nếu họ đã quen nhau 6 tháng. Một cuộc thăm dò khác cho biết: 1 phần 3 của sự mang thai trong quốc gia Hoa kỳ đưa đến sự phá hủy những thai nhi chưa sinh ra, còn trong bụng mẹ. Có nghĩa là vào khoảng 1 triệu rưỡi cuộc phá thai mỗi năm, hay 23 giây một vụ. Kết quả của 2 cuộc thăm dò khác do một trường đại học cho biết: trung bình một thiếu niên, khoảng 10 tuổi trở lên, không có ý thức về tội, và có thái độ “không lên án” hay “không có tội” về gian dối. Một cuộc thăm dò khác do báo Chicago thực hiện và được máy dò nói dối xác nhận cho biết: 7 trong số 10 nhân công lấy cắp của công ty, và vui đùa cho rằng đó là “lợi tức bên lề.” Chúng ta còn chứng kiến nhiều vấn đề trái lương tâm và luân lý trong xã hội này.
Ông bà anh chị em thân mến. Khi chúng nghe những kết quả này có lẽ chúng ta cảm thấy bực mình khó chịu, và muốn tránh xa những điều đó. Hay chúng ta có thể cảm thấy như một người đã tuyên bố: “Giả xử nếu tôi là Chúa thì trái tim tôi sẽ vỡ tung ra vì tất cả những sự dữ, tàn ác và tội lỗi của thế gian này.” Một điều đáng lo ngại hơn: những sự dữ và tàn ác của nhân loại ngày nay là sự gia tăng khuynh hướng xem nhẹ tội lỗi hay phủ nhận tội lỗi. Thí dụ như ngày nay người ta có khuynh hướng chuyển đổi sự nói dối là “mánh khóe.” Người ta không còn ăn cắp nữa chỉ “mượn đỡ” thôi. Cuối cùng, ngày nay người ta không còn cho rằng phá thái không phải là giết những thai nhi chưa sinh ra trong bụng mẹ, mà cho rằng không muốn mang thai, hay tẩy não bào thai không muốn mà thôi. / Tất cả những sự kiện trên chỉ đơn giản là xem nhẹ hay phủ nhận tội lỗi và sự dữ. Và sự xem nhẹ và phủ nhận tội lỗi đưa đến sự xem nhẹ hay phủ nhận sự cần đến Chúa Giê-su Ki-tô. Vì nếu chúng ta không có tội, thì chúng ta không cần đến Chúa nữa. Và chúng ta thấy trong xã hội ngày nay, nhiều người không tin nhận Chúa vì họ không nhận mình là người có tội. Nếu tôi là người không có tội, thì tôi không cần đến hay tin vào Chúa. Và có tin thì cũng chỉ là bề ngoài, không chân thành sống lời Chúa. Thực sự nếu chúng ta không thú nhận mình là người tội lỗi và cần đến Đấng Cứu Độ, thì chúng ta sẽ không có niềm vui mừng và hân hoan cử hành mầu nhiệm Chúa Ki-tô,
Ông bà anh chị em thân mến. Điều quan trọng mà chúng ta phải chú ý và ý thức là trọng tâm không phải là tội mà là chính Chúa Giê-su Ki-tô. Đó cũng là chủ đích của Gioan Tiền hô được diễn ta trong bài Tin mừng hôm nay. Trọng tâm, chủ đích của Gioan Tiền hô là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian.”
Chúng ta biết sự dữ và điều xấu nhất không phải là phạm tội, vì chúng ta biết chúng ta là những con người yếu đuối, nhưng điều xấu xa nhất là phạm tội mà phủ nhận tội của mình. Thánh Gioan nói rằng “Nếu chúng ta nói rằng mình không có tội, thì chúng ta tự lừa dối mình. Nếu chúng ta nói rằng chúng ta không phạm tội thì chúng ta coi Chúa là kẻ nói dối, và lời Người không ở trong chúng ta.” (1Ga. 1, 8-10) Chúng ta nhận biết chúng ta là những con người yếu đuối, mỏng dòn và sẽ bị cám dỗ phạm tội trong suốt cuộc đời, và cần đến lòng thương xót của Chúa. Chúng ta cần đến ơn tha thứ và sự cứu rỗi của Chúa. Vì vậy, chúng ta không xem thường hay phủ nhận tội lỗi của mình, nhưng nhận biết tội lỗi và tìm đến Chúa Giê-su, “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” trong Bí tích Hòa giải như ý định của Chúa, khi Ngài tự dâng mình đền tội cho chúng ta trên đồi Can-vê.
Ông bà anh chị em thân mến. Đó là sứ điệp của Gioan Tiền hô kêu gọi mọi người đến với ngài thời đó, và đó cũng là sứ điệp của Giáo hội kêu gọi chúng ta hôm nay. Khi Gioan Tiền hô nói Chúa Giê-su là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian, ngài đã gợi lên trong tâm trí mọi người thời đó hình ảnh con vật chịu đổ máu và chịu chết chuộc tội cho dân Do thái, để họ được giải thoát khỏi cảnh nô lệ bên Ai cập, và vào thời ông Mô-sê dẫn họ vào đất Hứa. Chúng ta hiểu tại sao Gioan Tiền hô gọi Chúa Giê-su là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, vì chính Chúa là con chiên vô tội, đáng thương và không có gì tự vệ, nhưng đã chịu chết trên thập giá để gánh chịu mọi tội trần gian. Con chiên đó chính là Chúa Giê-su bằng xương bằng thịt, Ngài chính là Đấng Cứu Thế mà mọi người trông đợi.
Ngày nay, Con Chiên Thiên Chúa, là Chúa Giê-su, vẫn tiếp tục hiến tế trên bàn thờ mọi ngày để cứu chuộc những ai thật lòng muốn tha tội và khỏi chết đời đời. Vì vậy, trong Thánh lễ, khi linh mục bẻ bánh, chúng ta đọc ba lần: “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con, xin ban bình an cho chúng con.” Rồi trước khi chúng ta rước lễ, linh mục giơ Mình Thánh Chúa lên trước mặt chúng ta và đọc: “Đây Chiên Thiên Chúa. Đây Đấng xóa tội trần gian. Phúc cho ai được mời tới dự tiệc Chiên Thiên Chúa.” Hạnh phúc ở đây là gì? Là nhờ sự rước lễ, chúng ta rước Chúa vào trong tâm hồn và được kết hợp mật thiết với Chúa. Mỗi khi chúng ta rước lễ là chúng ta được dự tiệc Chiên Thiên Chúa, được ăn Chúa, được Chúa ngự vào tâm hồn, được kết hợp với Chúa, và được bảo đảm sự sống đời đời nếu chúng ta sống lời Chúa dạy, như Chúa đã tuyên bố: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời.”
Xin Chúa giúp chúng ta biết ý thức sự yếu đuối, mỏng dòn và tội lỗi của chúng ta, và nhất là có niềm xác tín, thành tâm và can đảm đến với Chúa Giê-su là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, để xin ơn tha tội. Xin Chúa cũng giúp chúng ta biết quí trọng Bí tích Hòa giải và Thánh Thể là ơn sủng của Chúa ban để chúng ta được sống trong an bình và ơn sủng của Chúa.
------------------------------------------
(CHÚA NHẬT TUẦN 2 TN NĂM A)
Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Tuần 2 Thường Niên, Năm A hôm nay, các nhà phụng vụ muốn ta ý thức rằng: Chúa điều khiển hết mọi loài trên trời dưới đất, xin Chúa rủ thương chấp nhận lời dân Chúa khẩn cầu, mà ban cho thời đại chúng ta được bình an.
Chúa điều khiển mọi loài, và ban cho ta bình an, Chúa công minh khi xét xử, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách Đệ Nhị Luật: Những lời cuối cùng của ông Môsê. Phần đầu sách Đệ Nhị Luật là một bài diễn giảng dài, được gán cho ông Môsê để nhắc cho chúng ta những nguyên tắc căn bản của Giao Ước. Trong phần dẫn nhập, tác giả đề cập đến bổn phận của những người lãnh đạo trong dân... Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Thần các thần, là Thiên Chúa vĩ đại, dũng mãnh, khả úy. Người là Đấng không thiên vị ai và không nhận quà hối lộ. Hãy nghe người nhỏ cũng như người lớn; đừng sợ ai vì xét xử là việc của Thiên Chúa.
Chúa điều khiển mọi loài, và ban cho ta bình an, chúng ta phải đồng tâm nhất trí với nhau trong cùng một Thần Khí, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích thư của thánh Inhaxiô Antiôkhia: Sống hòa hợp và hợp nhất… Tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. Anh em hãy thiết tha duy trì sự hợp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau. Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được ơn để chia sẻ cùng một niềm hy vọng.
Chúa điều khiển mọi loài, và ban cho ta bình an, chúng ta phải đặt niềm tin tưởng, cậy trông vào Đấng Cứu Độ, Đấng xóa bỏ tội trần gian, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích sách ngôn sứ Isaia: Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 39: Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Ngài. Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu. Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới, bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta. Trong bài đọc hai của Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Côrintô: Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu ban cho anh em ân sủng và bình an.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Ngôi Lời đã trở nên người phàm, và cư ngụ giữa chúng ta; những ai đón nhận Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Trong bài Tin Mừng, ông Gioan nói: Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian. Đấng xóa tội trần gian là Đấng đến sau ông Gioan, nhưng trổi hơn ông, vì có trước ông, và ông đã làm chứng về Người. Ai đón nhận Người thì được trở nên con cái Thiên Chúa, và được gọi là Dân Thánh, nhờ biết kêu cầu Danh Đức Giêsu Kitô, Đấng đến để thực thi thánh ý Chúa Cha, được Chúa Cha đặt làm ánh sáng muôn dân, để đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất, và toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Người. Thiên Chúa đã tuyển chọn Người Tôi Trung để lãnh đạo Dân Chúa, ông Môsê đã chọn những người đứng đầu các chi tộc, là những người khôn ngoan, từng trải, và đặt họ làm người chỉ huy và làm ký lục. Chúng ta phải sống hòa hợp với các mục tử, như các mục tử cũng sống hòa hợp với Đức Kitô, như những dây đàn với cây đàn. Như vậy, khi chúng ta đồng tâm nhất trí và yêu thương nhau là chúng ta ca ngợi Đức Giêsu Kitô. Chúng ta gắn bó với mục tử, như Hội Thánh gắn bó với Đức Giêsu Kitô và Đức Giêsu Kitô với Chúa Cha, đến độ, tất cả mọi sự trở nên hài hòa, nhờ tinh thần hợp nhất: Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như, chúng ta đã được ơn để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chúa điều khiển hết mọi loài trên trời dưới đất, xin Chúa rủ thương chấp nhận lời dân Chúa khẩn cầu, mà ban cho thời đại chúng ta được bình an. Ước gì được như thế!
---------------------------------
(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.)
SUY NIỆM
Khi thấy Đức Giêsu tiến về phía mình, Gioan Tẩy giả đã giới thiệu Ngài với hai môn đệ: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian”.
Một lời giới thiệu không dễ hiểu chút nào, dù chiên là con vật không xa lạ gì với người Do Thái. Người ta nuôi chiên trên đồng cỏ, để ăn thịt, lấy lông.
Chiên để dâng lễ toàn thiêu ban sáng và chập tối, mỗi ngày hai con trong Đền thờ (Ds 28,3-4).
Chiên còn đóng một vai trò quan trọng trong lễ Vượt Qua. Cả nhà quây quần ăn một con chiên vô tỳ tích (Xh 12,5).
Gioan giới thiệu Đức Giêsu là Chiên của Thiên Chúa.
Ngài là Con Chiên có khả năng xóa bỏ tội trần gian.
Đây là lời vị linh mục vẫn đọc trước khi hiệp lễ.
Xóa bỏ tội của cả trần gian
là điều người phàm không ai làm được,
nhưng đây lại là sứ mạng của Chiên Thiên Chúa.
Ngài sẽ xóa tội trần gian bằng cái chết trên thập giá,
sẽ được giương cao để kéo mọi người lên (Ga 12,32-33).
Vào giờ Đức Giêsu hấp hối trên thập giá,
tại Đền thờ Giêrusalem, người ta đang giết các con chiên
để chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua vào buổi tối.
Giống như các con chiên đang bị đâm để làm thịt,
Đức Giêsu cũng bị đâm ở cạnh sườn
khiến máu và nước chảy ra (Ga 19,34).
Ngài trở thành Chiên Vượt qua bị sát tế trên thập giá
để cứu loài người khỏi ách tội khiên
và giao hòa họ với Thiên Chúa.
Để giúp chúng ta nhận ra Đức Giêsu là Con,
Thiên Chúa Cha đã làm việc một cách bài bản.
Ngài cần đến sự cộng tác của Gioan Tẩy giả,
và đã sai ông đi làm phép rửa trong nước,
để Người Con “được tỏ ra cho dân Ítraen” (Ga 1,31).
Gioan không biết Người Con này (Ga 1,31.33),
nên chính Thiên Chúa lại phải lên tiếng
và cho ông một dấu hiệu để nhận ra:
“Khi nào ông thấy Thần Khí ngự xuống
và ở lại trên ai, thì chính là Đấng ấy” (Ga 1,33).
Thiên Chúa Cha đã sai Thần Khí xuống trên Đức Giêsu
khi Người chịu phép rửa trong nước bởi Gioan.
Gioan đã thấy, nhờ đó ông làm chứng cho toàn dân:
“Tôi đã thấy nên xin làm chứng” (Ga 1,32.34).
Sau này, Maria Mácđala cũng sẽ làm chứng
sau khi chị thấy Chúa phục sinh:
“Tôi đã thấy Chúa” (Ga 20,18).
Các môn đệ cũng sẽ làm chứng trước ông Tôma:
“Chúng tôi đã thấy Chúa” (Ga 20,25).
Làm chứng là hành vi quan trọng của đời kitô hữu.
Có thể nói truyền giáo đơn giản là làm chứng.
Kitô giáo thành tôn giáo lớn nhất thế giới
nhờ dòng người kitô hữu làm chứng không ngừng.
Người trước làm chứng cho người sau.
Người cao tuổi làm chứng cho người trẻ tuổi.
Ai cũng nhận được kinh nghiệm từ người khác,
đồng thời cũng trao đi kinh nghiệm của cá nhân mình.
Kinh nghiệm càng phong phú, lời chứng càng đáng tin.
Muốn làm chứng một cách xác tín và mạnh mẽ,
mỗi người cần có kinh nghiệm “thấy” Chúa Giêsu.
Không phải thấy bằng mắt như các tông đồ xưa,
nhưng bằng kinh nghiệm đức tin, qua cuộc sống.
Hôm nay Chúa Cha vẫn cần các kitô hữu
như xưa Ngài đã cần Gioan Tẩy giả (Ga 1,6.33)
Ngài vẫn sai chúng ta đi, thì thầm với chúng ta,
và cho chúng ta dấu hiệu để nhận ra Chúa Giêsu,
Đấng vẫn đang đứng chung với tội nhân nghèo khó.
CẦU NGUYỆN
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con,
Xin dạy trái tim con biết cách tìm Chúa
và biết tìm Chúa ở đâu,
biết cách gặp Chúa và biết gặp Chúa ở đâu.
Lạy Chúa,
Chúa là Chúa và là Thiên Chúa của con,
tuy con chưa bao giờ thấy Chúa.
Chúa đã tạo ra con và đã tái tạo con.
Chúa đã ban cho con mọi điều tốt đẹp con đang có.
Vậy mà con vẫn không nhận biết Ngài.
Con vẫn chưa làm tròn điều Chúa muốn khi dựng nên con.
Xin dạy con tìm Chúa,
vì con không thể tìm Chúa, nếu Chúa không dạy con,
con không thể gặp Chúa, nếu Chúa không tỏ mình cho con.
Xin cho con tìm Chúa trong ao ước của con,
và cho con ao ước Chúa trong khi con tìm kiếm.
Xin cho con gặp được Chúa nhờ yêu Chúa,
và xin cho con yêu Chúa khi con gặp Chúa.
(Thánh Alselmô ở Canterbury)
---------------------------------
(Suy niệm của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm-Trích dẫn từ tập sách ‘Giải Nghĩa Lời Chúa’)
Ba bài Kinh Thánh hôm nay cho phép ta gọi tên Chúa Nhật này là "Chúa Nhật Người Tôi Tớ". Không những bài sách Isaia rõ ràng nói đến Người Tôi Tớ của Chúa; mà cả bài Tin Mừng Yoan cũng chỉ rõ nghĩa khi hiểu Ðức Kitô theo các bản văn Cựu Ước nói về Người Tôi Tớ. Và cuối cùng, mấy câu mở đầu thư I gửi người Côrinthô sẽ phong phú nếu chúng ta hiểu mình cũng là những người được ơn gọi trở nên tôi tớ trung thành của Chúa.
Vậy chúng ta hãy suy nghĩ về chủ đề Người Tôi Tớ nơi Cựu Ước, nơi Ðức Kitô và nơi mỗi người chúng ta.
A. Nơi Cựu Ước
Isaia không phải là tác giả duy nhất nói đến Người Tôi Tớ của Ðức Yavê. Nhiều sách khác trong Cựu Ước, đã gọi Môsê, Ðavít, các tiên tri và nhiều người khác là Tôi tớ của Thiên Chúa. Nhưng trong sách Isaia phần II (gồm các chương 40-55) có bốn đoạn đặc biệt nói về Người Tôi Tớ (42,1-7; 49,1-9; 50,4-9; 52,13-53,12). Ðó là bốn Bài ca về Người Tôi tớ, mà chúng ta chỉ có thể hiểu được khi đọc trong bối cảnh của cả phần II của sách ấy.
Trước hết chúng ta nên biết, ngày nay không còn mấy ai nghĩ rằng Isaia là tác giả của những chương sách này. Các nhà chú giải nhất trí bảo đó là tác phẩm của một tác giả khác. Ông cũng là tiên tri, sống vào khoảng cuối thời lưu vong, tức là vào hạ bán thế kỷ VI trước Công nguyên. Ông tuyên cáo Lời Chúa về vận mạng của Dân. Ngài sẽ ra tay cứu độ. Dân sẽ được giải phóng như hồi ở Aicập. Và còn hơn cả thời bấy giờ nữa. Ngài sẽ dùng sứ mạng của một Người Tôi Tớ. Ai là con người này?
Chính tác giả cũng không rõ ràng. Câu đầu tiên trong bài hôm nay nói, Người Tôi Tớ sẽ là cả dân Israel; nhưng trong những câu sau, người ấy lại là một cá nhân đặc biệt nào đó. Ý thực của tác giả muốn gì? Ðối với ông, Israel vẫn là Người Tôi Tớ của Thiên Chúa. Người đã chọn dân làm sở hữu, gọi họ là Dân của Người, không những để chia sẻ tình thân mật với Dân, mà còn mạc khải kế hoạch cứu độ của Người cho Dân, để họ trở thành Người Tôi Tớ tín cẩn thực hiện kế hoạch đó cho Người.
Nhưng sứ mạng giao cho toàn dân, Người lại muốn thể hiện nơi và qua một số ít, gọi là "số sót của Israel", và cuối cùng, nơi và qua Một Con Người tiêu biểu. Chỉ người này đáng gọi tên là "Người Tôi Tớ của Ðức Yavê".
Tất nhiên chẳng ai trong Cựu Ước đã thực hiện được sứ mạng như "Isaia" mô tả, vì chẳng ai "đã đem được Yacob về cho Chúa và quy tụ được Israel lại quanh Người". Còn nói gì đến việc "trở thành ánh sáng các dân tộc và trở nên cứu độ của Thiên Chúa đến tận cùng trái đất".
B. Nơi Ðức Yêsu Kitô
Thế nên thật là ý nghĩa, việc phụng vụ dùng bài tiên tri Isaia này để đọc trong thánh lễ hôm nay. Lập tức chúng ta đã hiểu: Người Tôi tớ làm vinh danh Thiên Chúa, được Người hình thành ngay từ trong lòng mẹ, để trở nên ánh sáng cứu độ muôn dân, chính là Ðức Yêsu Kitô, Chúa chúng ta, Ðấng mà chúng ta đã thấy sinh ra trong mùa phụng vụ trước đây và sẽ thấy Người cứu thế trong mùa Chay và Phục sinh. Mùa này, Người đang ở giữa chúng ta, nhưng chưa được nhiều người biết. Phụng vụ qua bài sách Tiên tri Isaia muốn giới thiệu Người là Người Tôi Tớ đích thực của Ðức Yavê để chúng ta vui mừng vì ơn cứu độ đã gần. Nhưng chính bài Tin Mừng mới thật sự làm chứng điều đó.
Thật ra thì Yoan Tẩy giả đã không trực tiếp giới thiệu Ðức Yêsu là Người Tôi Tớ. Ông nói Người là "Chiên của Thiên Chúa, Ðấng xóa tội trần gian". Mặc dầu hình ảnh con chiên có thể gợi ngay đến ý tưởng về chiên vượt qua, chiên tế vật, nhưng liền sau đó, Yoan đã nói đến Ðấng xóa tội trần gian, Ðấng đến sau ông nhưng lại có trước ông và cao trọng hơn ông, nhất là Ðấng ấy lại được xức dầu bằng Thánh Thần... khiến chúng ta phải hiểu Yoan đã mượn lại mọi tư tưởng trong sách Isaia về Người Tôi Tớ.
Isaia, trong đoạn 53, tức là ở Bài ca IV về Người Tôi Tớ đã vẽ ra hình ảnh con người bị khinh khi, phế bỏ, vì đã mang lấy các bệnh tật của chúng ta; người bị tra tấn, nhưng không hề mở miệng như cừu bị dẫn đến lò sát sinh, như chiên mẹ ngậm câm, để nhờ các vết hằn người chịu, chúng ta được chữa lành; người đã mang lấy tội lỗi nhiều người và đứng ra bầu chữa cho những kẻ ngỗ nghịch.
Trước đó, trong Bài ca I, Isaia đã viết: "Này đây Tôi Tớ của Ta, Người Ta đã chọn và hồn Ta sủng mộ, Ta đã ban Thần Trí trên Người". Và đó là điều Yoan muốn gợi đến khi ông tuyên chứng đã nhìn thấy Thánh Thần lấy hình bồ câu đậu xuống trên đầu Ðức Yêsu.
Yoan đã nhìn thấy nơi Ðức Kitô hình ảnh Người Tôi Tớ trong sách Isaia. Bề ngoài, Người có vẻ thua kém ông, khi đến xin ông làm phép rửa cho mình. Nhưng khi Yoan thấy Thánh Thần xuống trên Người, ông biết ngay, đây là Ðấng mà mình có sứ mạng đi trước dọn đường như một người đầy tớ. Chính Người là Ðấng cao trọng, Ðấng mà Thánh Thần xuống ngự ở trên, nhưng bề ngoài rất khiêm nhu, đúng là Người Tôi Tớ mà sách Isaia đã tiên báo. Và phép rửa mà Người mới chịu là hình ảnh về cuộc khổ nạn mà Người Tôi Tớ phải chịu để đưa nhà Israel về với Chúa và đem ơn cứu độ của Chúa đến tận cùng trái đất. Yoan đã thấy như vậy và ông tuyên chứng để chúng ta hết thảy tin Ðức Yêsu Kitô thật là Người Tôi Tớ và là Người Tôi Tớ đau khổ của Thiên Chúa. Người đã đến thế gian, đóng vai trò Người Tôi Tớ để, như lời sách Isaia viết, Người giải án tuyên công cho nhiều người, hầu ý định của Thiên Chúa được nên trọn. Thế nên, sau khi đã tin Người là Người Tôi Tớ của Thiên Chúa, chúng ta còn phải xem Người chấp nhận sứ mạng ấy để làm gì? Và câu trả lời, chúng ta đã gặp thấy trong bài thư Phaolô hôm nay nói về chúng ta.
C. Nơi Chúng Ta
Thánh Phaolô ý thức: ngài được gọi là Tông đồ của Ðức Yêsu Kitô, do thánh ý của Thiên Chúa. Ðồng thời ngài khẳng định: chúng ta và mọi người kêu cầu Danh Chúa Yêsu Kitô cũng được gọi để nên thánh, hầu mọi người đều được ân sủng và bình an của Thiên Chúa Cha và của Ðức Yêsu Kitô.
Chúng ta không thể không cảm thấy lòng hân hoan của thánh Phaolô khi viết những dòng thư này. Ngài thấy rõ Thiên Chúa thật tốt lành. Người có cả một ý định thánh thiện, đầy yêu thương đối với mọi người. Ý định đó, Người đã nhờ Ðức Yêsu Kitô thực hiện, như trên ta đã nói và như bài thư Phaolô đây khẳng định. Chính nhờ Ðức Yêsu Kitô và trong Ðức Yêsu Kitô mà chúng ta hết thảy được gọi nên thánh thiện và làm tông đồ, để mọi người được ân sủng và bình an của Thiên Chúa. Tức là mọi người chúng ta cũng được gọi đi vào trong sứ mạng của Ðức Yêsu Kitô, để tham dự, chia sẻ và tiếp nối sứ mạng ấy.
Khi đáp lại tiếng Người kêu gọi mà chạy đến kêu cầu Danh Người, mọi tội lỗi của ta sẽ được chính đôi vai Người gánh lấy. Người là Người Tôi Tớ đau khổ, là Chiên của Thiên Chúa xóa tội trần gian: Người làm cho chúng ta nên thánh thiện, để chúng ta được giao hòa với Thiên Chúa, và như vậy Người đưa nhà Yacob trở về và quy tụ nhà Israel về với Chúa.
Khi ấy chúng ta sẽ được thừa tự sản nghiệp Lời Hứa, được trao ban sứ mạng của Dân được chọn. Và như trên đã nói, đó là sứ mạng trở thành người tôi tớ thân tín để thực hiện chương trình tốt đẹp của Thiên Chúa, tức là trở nên ánh sáng muôn dân, đem ơn cứu độ đến tận cùng trái đất, trở thành tông đồ của Ðức Yêsu Kitô cũng là trở thành Người Tôi Tớ của Thiên Chúa vậy.
Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa vì kế hoạch đầy tình thương của Người. Người đã ban Ðức Yêsu Kitô cho ta để làm Người Tôi Tớ thực hiện kế hoạch ấy. Và Ðức Yêsu Kitô giờ đây trong thánh lễ này lại tha thiết kêu gọi mọi người chúng ta quy tụ vào Thân Thể mầu nhiệm Người, để Người sai ta đem ân sủng và bình an đi, tiếp nối sứ mạng của Người Tôi Tớ. Dĩ nhiên muốn thực hiện sứ mạng này, chúng ta phải giơ vai ra gánh lấy hết mọi khổ đau nhọc nhằn của đồng bào. Thế mà nhiều người còn từ chối chung vai gánh vác những nghĩa vụ hiện này với đồng bào. Họ sợ nặng ư? Nhưng chính Chúa đã nói: gánh của Chúa vừa nhẹ vừa êm, bởi vì Thánh Thể Chúa luôn sẵn sàng bổ sức cho những ai yếu nhọc. Thế thì chúng ta hãy sốt sắng cử hành mầu nhiệm Thánh Thể này để có sức mạnh thực hiện sứ mạng của Người Tôi Tớ.
---------------------------------
Qua đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy Gioan tiền hô đã long trọng giới thiệu Chúa Giêsu cho dân chúng:
- Đây chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Này tôi đã nói về Ngài: Một người đến sau tôi, nhưng đã có trước tôi vì Ngài cao trọng hơn tôi.
Sau những lời giới thiệu này, chúng ta bỗng thấy có cảm tình với Gioan vì ông là người đã sống một cuộc sống âm thầm, khắc khổ và cầu nguyện, vì ông là người đã chu toàn sứ mạng dọn đường Chúa đến, và hơn thế nữa ông còn là một người khiêm nhường.
Khiêm nhường, đó là một nhân đức gây nhiều ngộ nhận và hiểu lầm hơn cả. Thực vậy, có người nghĩ rằng khiêm nhường là phải cúi đầu thật sâu trước những kẻ quyền quí, khiêm nhường là phải luôn chạy theo ý kiến của người khác, khiêm nhường là phải tỏ ra khúm núm quỵ lụy. Vậy khiêm nhường là gì? Tôi xin thưa: khiêm nhường là đánh giá đúng mức con người của mình, là dám chấp nhận sự thật về mình. Nếu có khuyết điểm thì cố gắng sửa đổi. Còn nếu có ưu điểm thì cảm tạ Chúa, bởi vì tất cả đều do Chúa trao ban. Chính Đức Kitô đã dạy chúng ta:
- Các con hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.
Đồng thời Ngài cũng nêu gương cho chúng ta khi quì xuống rửa chân cho các môn đệ trong phòng tiệc ly vào ngày thứ năm tuần thánh. Vậy khiêm nhường sẽ đem lại những hậu quả nào?
Trước hết kẻ khiêm nhường sẽ được mọi người yêu thương, còn kẻ kiêu căng sẽ bị mọi người ghét bỏ. Có một câu chuyện kể lại rằng: Ngày kia một ông triết gia nọ thuê đò qua sông. Ông hất hàm hỏi anh lái đò:
- Này chú, chú có biết đọc biết viết hay không?
- Bẩm nhà cháu nghèo, nên cháu không được đi học ạ.
- Ồ, thế thì uổng mất một phần ba cuộc đời. Vậy chú có biết triết lý, suy luận những sự cao siêu như ta đây hay không?
- Bẩm nhà cháu quê mùa dốt nát thì làm sao mà biết suy luận được?
- Thật đáng tiếc, lại uổng mất một phần ba cuộc đời.
Lúc ấy, đà đã ra giữa sông, chẳng may gặp phải xoáy nước. Ông triết gia hoảng sợ đứng lên, con đò tròng trành rồi lật úp. Anh lái đò cố gắng lắm mới bơi được vào bờ còn ông triết gia thì chơi vơi và bị dòng nước cuốn trôi. Thấy thế, anh lái đò bèn lẩm bẩm:
- Không biết bơi thì uổng cả một đời.
Không những được mọi người yêu thương mà hơn thế nữa, kẻ khiêm nhường còn được chính Thiên Chúa yêu thương và chúc phúc. Chúng ta đã thấy Evà vì kiêu ngạo nên đã bị Thiên Chúa trừng phạt, trái lại Maria vì khiêm nhường chấp nhận thân phận người tôi tớ nên đã được Thiên Chúa nâng lên làm mẹ Đấng Cứu thế. Cũng vậy, Gioan tiền hô đã khiêm nhường thú nhận: Tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Ngài… Ngài cần phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi… Chính vì thế ông đã được Chúa Giêsu khen ngợi: Trong số những người nam chẳng có ai cao trọng hơn Gioan tiền hô. Trong Phúc âm, Chúa đã xác quyết: Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên. Và mẹ Maria trong lời kinh Magnificat cũng đã chúc tụng: Chúa hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao mọi kẻ khiêm nhu.
Hậu quả thứ hai, đó là lời cầu nguyện của kẻ khiêm nhường sẽ được Chúa chấp nhận. Sách Giảng viên đã nói: Lời kinh của kẻ khiêm nhường sẽ bay lên tới trận trời cao. Hay như tục ngữ Pháp cũng bảo: Nhân đức khiêm nhường chính là chiếc bàn thờ, trên đó người ta dâng lên những của lễ đẹp lòng Thiên Chúa. Hẳn chúng ta còn nhớ câu chuyện hai người lên đền thờ cầu nguyện. Ông biệt phái thì vênh vang tự đắc, khoe những việc lành mình đã thực hiện được, còn anh thu thuế thì khiêm nhường đấm ngực ăn năn những điều sai lỗi để xin Chúa thương xót. Cuối cùng Chúa Giêsu cho biết lời cầu nguyện của anh thu thuế được Chúa chấp nhận vì anh ta là một kẻ khiêm nhường. Thánh Tôma Aquinô là một nhà thần học nổi tiếng, một vị tiến sĩ của Giáo hội vào thời trung cổ. Hôm ấy, có một vị giáo sư tên là Pondo đến Rôma. Ông trọ tại dòng Đaminh và ngỏ ý muốn đi thăm đền thờ Latêranô những hành lý lại quá cồng kềnh. Cha bề trên nói với ông là cứ việc nhờ một thày dòng nào vác giùm cũng được. Vừa nhìn thấy một tu sĩ đang quì cầu nguyện trước tượng thánh giá ở trong vườn, ông bèn lên tiếng gọi:
- Ê thày mập mập kia, lại vác giùm cho mớ hành lý này nhé.
Không ngờ thày mập mập ấy chính là thánh Tôma Aquinô, vị tiến sĩ thiên thần, người bạn thân thiết của Đức thánh Cha và quen biết với các vị hoàng đế. Mặc dù bị phù thũng và bước đi rất đau đớn, nhưng thánh nhân vẫn vui vẻ giúp đỡ cho Pondo. Trong lúc đi đường, vị giáo sư hỏi thánh nhân làm gì tại nhà dòng? Thánh nhân trả lời:
- Tôi cố gắng học biết hơn về Thiên Chúa.
Giáo sư Pondo vui vẻ nói:
- Tôi đã dạy môn đó tại các đại học nổi tiếng, nhưng từ lâu tôi đã chuyển sang một môn khác thực tế hơn, đó là môn luật. Còn thần học chỉ thích hợp với những kẻ viễn vông và ưa phức tạp. Câu chuyện cứ tiếp tục cho đến khi một vị Giám mục đi qua, ngạc nhiên và kêu lên:
- Ủa, thày Tôma, thày làm gì vậy?
Biết được người mang hành lý hộ mình là Tôma Aquinô, vị giáo sư liền ấp úng xin lỗi, thế những thánh nhân đã ôn tồn trả lời: Giáo sư chẳng có gì phải xin lỗi cả, tôi chỉ làm tròn bổn phận của tôi mà thôi, giáo sư hãy tin tôi, không phải những điều tôi viết là đáng kể, nhưng chính hành động bác ái này mới là đáng kể và có giá trị hơn mọi cuốn sách của tôi.
---------------------------------
Sau khi đã ăn chay trong sa mạc suốt bốn mươi đêm ngày, Chúa Giêsu trở lại nơi Gioan tiền hô đang làm phép rửa. Có lẽ Ngài muốn tìm kiếm một số người thiện chí trong số các môn đệ của Gioan tiền hô để đi theo Ngài.
Trước đám đông đến nghe những lời giảng dạy, Gioan tiền hô đã long trọng giới thiệu Chúa Giêsu cho họ:
- Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian.
Tất cả những lời này như muốn chứng minh một sự thật:
- Chúa Giêsu là Đấng Cứu thế và sứ mạng của Ngài chính là cứu độ trần gian bằng cái chết của mình.
Sở dĩ Gioan tiền hô biết được điều đó là vì chính Thiên Chúa đã tỏ lộ cho ông, như lời ông đã xác quyết:
- Đấng đã sai tôi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi rằng: ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.
Quan niệm Đức Kitô là con chiên chịu chết để xóa tội trần gian là một quan niệm vừa cũ lại vừa mới đối với nhiều người thời bấy giờ.
Thực vậy, đó là một quan niệm cũ bởi trong Cựu ước, các tiên tri cũng đã nhiều lần đề cập tới hình ảnh này.
Tiên tri Giêrêmia đã sánh ví mình như một con chiên bị dẫn đến lò sát sinh. Hơn thế nữa, tiên tri Isaia đã áp dụng hình ảnh ấy cho người tôi tới của Đức Giavê:
- Như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Ngài chẳng hề mở miệng.
Thế nhưng, đây cũng là một quan niệm mới, khác hẳn với mơ tưởng của nhiều người.
Thực vậy, sống dưới sự áp bức của đế quốc La Mã, người Do Thái mòn mỏi đợi chờ một Đấng Cứu thế hùng mạnh như Đavít, khôn ngoan như Salomon. Đấng Cứu thế ấy sẽ là vua chiến thắng, vua khải hoàn.
Đấng Cứu thế ấy sẽ giải phóng họ bằng chiến xa, kỵ mã và binh đội hùng hậu, sẽ làm cho đất nước họ được vinh quang và phồn thịnh, sẽ dẫn đưa dân tộc họ vào một thời đại hoàng kim.
Như vậy, họ chỉ trông mong một Đấng Cứu thế trong lãnh vực kinh tế, chính trị và xã hội mà thôi.
Sở dĩ Gioan tiền hô đã có một quan niệm đích thực và đúng đắn vì ông đã suy gẫm Kinh thánh dưới sự soi sáng của Chúa.
Từ đó, chúng ta nhận ra một sự thật quan trọng như sau:
- Chúa vẫn thường ban cho mỗi người những ơn cần thiết, miễn là chúng ta biết cộng tác với Ngài.
Hay như thánh Augustinô cũng đã nói:
- Khi tạo dựng nên chúng ta, Chúa không cần hỏi ý kiến chúng ta. Thế nhưng, để cứu chuộc chúng ta, Ngài cần chúng ta ưng thuận và cộng tác với Ngài.
Người Do Thái được Gioan tiền hô giới thiệu cho biết Đấng Cứu thế, nhưng họ vẫn không nhận ra Ngài. Sở dĩ như vậy vì lòng họ chất chứa quá nhiều thiên kiến, họ không thành thực và hơn thế nữa họ lại càn cố chấp trong những quan niệm sai lạc của mình.
Vậy từ đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta rút ra được bài học nào để sống và để thực hành?
Trong mọi thánh lễ, Giáo hội đều nhắc lại lời giới thiệu trang trọng của Gioan tiền hô:
- Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa.
Sở dĩ như vậy vì Giáo hội muốn chúng ta tuyên xưng:
- Đức Kitô là Đấng Cứu thế, là Con Thiên Chúa. Ngài sẽ sát tế chính bản thân mình bằng cách chấp nhận cái chết khổ đau trên thập giá để cứu chuộc nhân loại.
Như vậy, trong mỗi thánh lễ, chúng ta phải sống lại màu nhiệm cứu độ.
Đằng khác mỗi người chúng ta còn phải mang lấy và chia sẻ sứ mạng của Gioan tiền hô, nghĩa là chúng ta cũng có bổn phận phải giới thiệu Chúa Giêsu cho những người chung quanh.
Có nhiều cách thức giới thiệu khác nhau. Người thì dùng tâm tình cầu nguyện, kẻ thì dùng lời nói, người khác lại dùng những hành động bác ái yêu thương, hay dùng cả cuộc sống thấm nhuần tinh thần Kitô giáo của mình.
Việc giới thiệu Chúa Giêsu không chỉ giới hạn vào những buổi truyền thanh truyền hình, những tranh sách báo hay những cuộc rước kiệu, nhưng quan trọng hơn cả đó là mỗi người tín hữu phải thực sự sống đạo, sống đức tin bằng cách chu toàn những bổn phận của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Đồng thời còn phải biết sống gắn bó mật thiết với Chúa qua những tâm tình cầu nguyện và những cố gắng tẩy trừ tội lỗi, vì người Kitô hữu phải là người có Đức Kitô trong tâm hồn mình trước đã, rồi sau đó mới đem Đức Kitô đến cho người khác.
Chỉ khi nào thực sự có Chúa ở trong tâm hồn, thì chúng ta mới có thể đem Chúa đến cho người khác, bởi vì chúng ta chỉ có thể cho cái chúng ta đã có mà thôi.
---------------------------------
(Suy niệm của Lm. GB. Phạm Hồng Thái)
. Nhưng không sao vì hôm nay chúng ta có được hình ảnh rất đẹp và rất quan trọng đối với cuộc đời người Kitô hữu chúng ta đó là hình ảnh Con Chiên.
Dân Do thái là dân du mục nên con chiên rất quen thuộc với đời sống họ. Đêm Giáng sinh chúng ta thấy các người chăn chiên theo lời các thiên thần loan báo Tin mừng đã “hối hả ra đi, đến nơi họ gặp bà Maria, ông Giuse cùng với Hài nhi đặt nằm trong máng cỏ (Lc 2,17)”
Hôm nay chúng ta được nghe ông Gioan Tẩy giả giới thiệu Chúa Giêsu bằng lời như sau: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian” như vậy trước hết Chúa Giêsu được gọi là Con Chiên của Thiên Chúa. Theo thánh Augustinhô và thánh Gioan Kim Khẩu, Con Chiên là biểu tượng cho sự vô tội và sự công chính và thánh Phaolô quả quyết: “Đức Kitô đã chịu hiến tế làm Chiên Vượt qua của chúng ta (1 Cr 5,7)” Trong Cựu Ước máu con Chiên giết bôi trên mi cửa đã cứu các con trai đầu lòng người Do thái khỏi bị chết, thì máu Chúa Giêsu là Con Chiên Vượt Qua mới đổ ra trên cây Thánh giá thanh tẩy lương tâm chúng ta và cứu chúng ta khỏi chết vì tội lỗi.
Nhưng theo lời thánh Gioan Tẩy giả, Chúa Giêsu là Con Chiên Thiên Chúa đã xóa tội trần gian. Tội trần gian bao gồm tội tổ tông và tội lỗi của tất cả loài người chúng ta đã xúc phạm đến Chúa từ thế hệ này tới thế hệ khác. Như vậy chúng ta phải vui mừng và biết ơn công ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu qua hình ảnh Chiên Thiên Chúa biết bao nhiêu!
Nếu Chúa Giêsu là Con Chiên của Thiên Chúa thì Chúa cũng coi chúng ta là chiên trong đàn chiên Chúa như lời Chúa: “Tôi chính là mục tử nhân lành. Tôi biết các các chiên Tôi và chiên tôi biết tôi (Ga 10,14)”
Ngày Phán xét Chúa Giêsu như “Mục tử tách biệt chiên với dê: Người cho chiên đứng bên phải Người còn dê ở bên trái (Mt 9,32)”. Nếu chúng ta trong cuộc sống trần thế này theo Chúa và nghe tiếng Chúa thì chúng ta sẽ luôn là chiên của Chúa cho tới ngày Chúa phán xét và Chúa sẽ đón nhận chúng ta vào Đoàn chiên Nước Trời.
Tiếp theo bài Tin Mừng hôm nay chúng ta thấy ông Gioan đã làm chứng cho Chúa Giêsu như thế nào? Ông nói: “Một người đến sau tôi, nhưng đã có trước tôi, vì Ngài cao trọng hơn tôi”. Chúng ta biết ông Gioan sinh trước Chúa Giêsu sáu tháng và về xét về quan hệ họ hàng thì ông là vai anh. Khi ra rao giảng, ông cũng xuất hiện trước Chúa Giêsu, nhưng về phương diện Thiên Chúa thì Chúa Giêsu có trước ông vì Chúa Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa. Ông Gioan nói: “Ngài cao trọng hơn tôi”: phải xác định như thế vì ở thời đó, cũng như sau này thời giáo hội sơ khai có cộng đoàn còn tin rằng ông Gioan là Đấng Thiên sai Cứu thế nên chúng ta thấy ông nhiều lần nói lên sự trổi vượt của Chúa Giêsu như ông đã tự nhận mình chỉ là tiếng hô dọn đường và không xứng đáng cởi giây giầy cho Chúa. Ông cũng đề cao phép Rửa của Chúa Giêsu khi so sánh với phép rửa mà ông thực hiện.
Ông Gioan nói tiếp: “Tôi không biết Ngài”: là bà con với Chúa Giêsu, tại sao ông lại nói tôi không biết Chúa? Ông không biết vì ông chưa nhận ra thực sự Chúa Giêsu là Đấng Thiên sai Cứu thế cho tới khi ông làm phép Rửa cho Chúa và được thấy Thánh Thần như chim bồ câu từ trời đáp xuống và ngự trên Chúa. Từ đó ông vui mừng khi dân chúng đến với Chúa Giêsu nhiều hơn và sẵn sàng lu mờ đi để Chúa được nổi bật lên như lời ông nói: “Người phải lớn lên còn tôi thì nhỏ lại (Ga 3,30)” và thực sự ông đã lu mờ đi nhất là khi ông phải ngồi tù còn dân chúng tuốn đến với Chúa Giêsu khi Chúa rao giảng Tin Mừng và làm nhiều phép lạ.
Ông Gioan đã đi theo lộ trình “Thấy-Biết-Làm chứng, cho nên ông có thể nói: “Tôi đã thấy và tôi làm chứng: chính Ngài là Con Thiên Chúa”.
Chúng ta được ông Gioan giới thiệu Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa và là Đấng cứu độ trần gian và lời này được các linh mục lập lại trước khi cho Rước lễ. Chúng ta hãy tin kính và đón nhận Mình Máu thánh Chúa là Đấng Cứu độ tha tội thanh tẩy tâm hồn chúng ta để chúng ta được kết hợp với Chúa. Noi gương ông Gioan, mỗi người Kitô hữu chúng ta cũng hãy đi theo lộ trình “Thấy-Biết-Làm chứng để góp phần gia tăng số người tin kính Chúa và được hưởng ơn cứu độ.
Nguyện xin Chúa Giêsu biến đổi chúng ta để mỗi người chúng ta có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi (Gl 2,20)”. Amen.
---------------------------------
(Suy niệm của William Barclay)
Đến đây chúng ta bước vào ngày thứ hai của tuần lễ hết sức hệ trọng trong cuộc đời Chúa Giêsu. Bấy giờ, Ngài đã chịu phép rửa, đã chịu cám dỗ rồi và sắp bắt tay vào sứ vụ mà Ngài đến thế gian để thi hành. Một lần nữa, Phúc Âm Thứ Tư cho chúng ta thấy rõ Gioan Tẩy Giả tự phát tôn vinh Chúa Giêsu. Ông gọi Chúa Giêsu bằng danh hiệu phi thường đã được gắn liền trong chính ngôn ngữ hiến tế: “Chiên Thiên Chúa”. Gioan đã nghĩ gì khi ông dùng danh hiệu đó? Ít nhất có bốn hình ảnh được gợi lên:
Rất có thể Gioan đang nghĩ đến Chiên của lễ Vượt Qua. Bấy giờ ngày lễ Vượt Qua cũng sắp đến (2,13). Câu chuyện cổ về lễ Vượt Qua kể rằng, nhờ máu con chiên bị giết mà các con trai đầu lòng của người Israel được bảo vệ trong đêm họ rời Ai Cập (Xh 12,11-13). Trong đêm đó, lúc thiên sứ đi giết các con trai đầu lòng của người Ai Cập, thì người Israel phải bôi máu của con chiên bị giết trên cửa, để thiên sứ thấy máu thì vượt qua nhà họ. Nhờ máu con chiên đó, họ thoát được cơn huỷ diệt. Có người gợi ý chính lúc Gioan Tẩy Giả trông thấy Chúa Giêsu, ở cánh đồng gần đó ông cũng thấy những bầy chiên lùa ngang qua, từ vùng quê lên Giêrusalem. Những con chiên đó được dùng làm sinh tế cho ngày lễ Vượt Qua. Máu của Con Chiên Vượt Qua đã giải cứu người Israel tại Ai Cập thoát khỏi chết chóc. Có thể Gioan Tay Giả muốn nói: “Đây là sinh tế đích thực và duy nhất có thể giải cứu ngươi khỏi sự chết”. Phaolô cũng đã nghĩ về Chúa Giêsu như là Chiên Vượt Qua (1Cr 5,7). Có một sự giải thoát cho chúng ta mà chỉ một mình Chúa Giêsu mới thực hiện được.
Gioan Tẩy Giả vốn là con trai của thầy tư tế, chắc chắn ông biết rõ mọi nghi thức liên hệ đến Đền Thờ để chuộc tội (Xh 29,38-42). Bao lâu còn Đền Thờ thì lễ vật còn được dâng lên mỗi ngày. Cả khi dan chúng chết đói vì chiến tranh và bị bao vây, họ cũng chẳng bao giờ bỏ qua việc dâng chiên con cho đến năm 70 SC, khi Đền Thờ bị phá huỷ. Có lẽ Gioan muốn nói: “Mỗi sáng, mỗi chiều một con chiên đều được dâng lên trong Đền Thờ vì tội của dân chúng, nhưng thực sự chỉ có một mình Chúa Giêsu mới là lễ vật duy nhất có thể giải thoát loài người khỏi tội lỗi”.
Trong các sách ngôn sứ, có hai hình ảnh lớn về con chiên. Giêrêmia viết: “Còn toi, như con chiên hiền lành bị dắt đến bị đưa đi”, “như con chiên đến từ lò sát sinh” (Is 53,7). Cả hai ngôn sứ trên đều có thị kiến về Đấng chịu đau đớn và hy sinh với thái độ hiền lành và đáng yêu sẽ cứu chuộc dân Ngài. Có lẽ Gioan muốn nói rằng: “Các ngôn sứ của các ngươi từng mơ tưởng đến một người sẽ yêu thương, chịu đau đớn rồi chịu chết cho dân chúng, người ấy đã đến rồi”. Đúng là về sau, bức tranh trong Isaia 53 đã trở thành lời tiên báo quý báu nhất cho Hội Thánh về Chúa Giêsu trong cả Cựu Ước. Gioan Tẩy Giả là người đầu tiên đã thấy như vậy.
Còn hình ảnh thứ tư tuy xa lạ với chúng ta nhưng rất quen thuộc với người Do Thái. Thời gian giữa Cựu Ước và Tân Ước, có những ngày chiến đấu ác liệt của các anh em Macabêô. Trong giai đoạn ấy, con chiên, nhất là con chiên có sừng là biểu tượng của một nhà chinh phục vĩ đại. Cũng như Samuên, Đavít, Salômôn, Giuđa, Macabêô đã được mô tả như thế. Điều đó có lẽ hơi lạ tai chúng ta, là con chiên lại tiêu biểu cho nhà chinh phục vô địch của Chúa. Dĩ nhiên đây không phải là bức tranh về thái độ ngoan ngoãn, yếu đuối, bất lực mà là một bức tranh về sự uy nghi mạnh mẽ chiến thắng. Chúa Giêsu là nhà vô địch của Thiên Chúa, đã chiến đấu với tội lỗi và đánh bại nó trong chỉ một trận mà thôi.
Thành ngữ Chiên Thiên Chúa là một thành ngữ hết sức kỳ diệu. Tác giả sách Khải Huyền đã dùng thành ngữ ấy hai mươi chín lần, và trở thành một trong những danh hiệu quý báu nhất của Chúa Cứu Thế. Chỉ trong một chữ, thành ngữ tóm tắt được tình yêu, hy sinh chịu khổ và chiến thắng khải hoàn của Chúa Cứu Thế.
Gioan Tẩy Giả chưa từng biết Chúa Giêsu, nhưng ông lại quen người có bà con với Chúa Giêsu (Lc 1,36) và chắc là đã quen biết Ngài. Không phải Gioan nói ông không biết Chúa Giêsu là ai, nhưng ông muốn nói là mình chưa nhận biết Ngài là Đấng Mêsia, ông vừa mới được mặc khải Đức Giêsu này chính là Con Thiên Chúa.
Một lần nữa Gioan Tẩy Giả nói rõ phận sự duy nhất của ông là chỉ cho người ta đến với Chúa Cứu Thế. Ông chẳng là gì hết, còn Chúa Cứu Thế là tất cả. Ông không hề đòi hỏi danh tiếng hay địa vị cho chính mình, ông chỉ là người kéo màn để Chúa Giêsu một mình chiếm ngự trung tâm sân khấu.
---------------------------------
Nhìn nhận khả năng của người khác đó là một điều mà ít ai trong chúng ta cũng muốn. Việt Nam chúng ta vẫn thường nói:”Mỗi người có một ông quan trong bụng”. Ai cũng muốn mình hơn kẻ khác, nổi hơn và trội hơn kẻ khác nhiều, ít ai chịu lép vế, chịu thua kẻ khác. Tự cao tự đại, ưa chỉ tay năm ngón, đó là thói thường của con người.
Kiêu ngạo là tội đứng đầu trong bẩy mối tội đầu. Có lẽ người ta thấy tội kiêu ngạo là đầu dây mối nhợ sinh ra mọi tội lỗi khác. Tự đưa mình lên cao, không xem ai ra gì và theo như câu nói dân gian của người Việt Nam:”Coi trời bằng vung” hay “coi trời bằng ngọn rau má” là thế. Tâm trạng đó làm cho con người khó chấp nhận nhau về khả năng, về tài khiếu hơn thua.
Bài Tin mừng hôm nay nói việc thánh Gioan Tẩy giả cũng có những môn đệ tìm theo học hỏi và muốn tôn ông làm thầy, ít ra là phải hai hoặc ba người, vì sách ghi rằng:”Gioan đang đứng và nói chuyện với hai trong nhóm môn đệ của ông”, chứng tỏ là Gioan cũng có nhiều môn đệ khác nữa ngoài hai người đó.
Và tâm trạng chung khi một người có nhiều môn đệ đi theo thì không muốn một môn đệ nào của mình bỏ mình đi mà theo một người khác. Lý do đó có thể là mình kém tài giỏi, đạo đức hơn người kia chăng? Sự việc đó phải chăng đã làm mất sĩ diện cho mình? Vậy mà chúng ta thấy Gioan không nghĩ đến điều đó, ông vẫn chỉ cho các môn đệ của mình về Chúa Giêsu:”Đây là Chiên Thiên Chúa “. Hai môn đệ của Gioan nghe nói liền đi theo Chúa Giêsu nhưng Gioan cũng không ngăn cản hai môn đệ mình, vì ông đã thấy sự thật nơi Chúa Giêsu là con Thiên Chúa, là Đấng ông loan báo, Đấng cứu chuộc tội lỗi nhân loại. Ông không làm mê hoặc người khác để cho họ nhắm mắt theo ông nhưng ông chỉ cho người khác thấy sự thật, thấy chân lý, thấy Đấng cứu thế.
Mỗi người trong chúng ta đôi lúc cũng có thái độ ngược hẳn lại: theo Chúa, tuân giữ luật Chúa, đôi lúc chúng ta muốn người khác nhìn vào và khen chúng ta là người đàng hoàng, tốt lành, đạo đức và chúng ta hãnh diện vì điều đó. Như thế chúng ta đã che mất hình ảnh của Thiên Chúa trong chúng ta, người khác tìm đến chúng ta chứ không phải họ tìm đến với Thiên Chúa qua sự tốt lành đạo đức đó. Mọi lời khen thưởng, ca ngợi thay vì dành riêng cho Thiên Chúa, người ta lại dành hết cho chính mình. Bài học của Gioan Tẩy giả hôm nay là một bài học thực tế cho mỗi người trong chúng ta.
Khi hai môn đệ Gioan đi theo Chúa Giêsu. Anrê sau khi đã biết Chúa Giêsu là Đấng Kitô, là Đấng Messia thì ông giới thiệu với anh mình là Simon Phêrô đến gặp Chúa Giêsu. Anrê nói với anh mình:”Chúng tôi đã gặp Đấng Messia, nghĩa là Đấng Kitô” và rồi ông đã dẫn Simon Phêrô đến với Chúa Giêsu.
Mỗi người trong chúng ta khi biết được Thiên Chúa, biết được ơn cứu rỗi của Đức Kitô, chúng ta có can đàm mạnh dạn giới thiệu Ngài với mọi người chăng? Chúa không đòi hết thảy trong mọi người chúng ta phải từ bỏ cha mẹ, anh em và mọi sự để theo Ngài. Nhưng Ngài đòi mỗi người trong chúng ta tùy khả năng, tùy môi trường nơi chúng ta đang sống mà giới thiệu Chúa cho mọi người biết. Chúa không đòi hỏi chúng ta phải rao giảng, phải nói về Chúa thật hay như các nhà hùng biện để lôi cuốn người khác. Nhưng Ngài chỉ mong ước trong cách sống đạo của mỗi người chúng ta, như là lời mời gọi tha thiết mọi người tìm đến Thiên Chúa tình thương. Mỗi cử chỉ, mỗi lời nói, mỗi hành động của chúng ta đều thể hiện lời Chúa trong Phúc âm như thánh Phaolô đã thúc nhắc chúng ta:”Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”.
Có khi nào chúng ta làm một việc gì mà chúng ta suy nghĩ và thành thực hỏi Chúa: Chúa muốn con làm gì bây giờ đây? Hay ý Chúa muốn con thực hiện như thế nào? Có lẽ chưa hoặc ít khi chúng ta hỏi Chúa Giêsu như vậy. Nếu chúng ta thực sự yêu Chúa, Chúa luôn luôn hiện diện trong chúng ta và chúng ta luôn luôn muốn làm đẹp lòng Chúa, như một người muốn làm đẹp lòng người yêu của mình thì khi nào họ cũng tìm hiểu xem người yêu của họ thích gì rồi mua một món quà tặng đúng như ý người yêu mong ước.
Chúng ta yêu Chúa, chúng ta cũng phải tìm xem Chúa yêu thích nhất điều gì và chúng ta phải cố gắng lo làm đẹp lòng Ngài theo như điều Ngài mong muốn. Thật vậy, món quà đó không gì khác hơn là món quà của đức “Mến Chúa và yêu người”.
---------------------------------
(Suy niệm của Victor Cancino, S.J.-Nhóm Sao Biển chuyển ngữ từ America Magazine)
BỐI CẢNH THẦN HỌC VỀ CHÚA GIÊSU
dạng. Núi, sông, cây cối, tòa nhà, đường xá đều có nét đẹp riêng góp phần vào một vẻ đẹp tổng thể vượt lên bất kỳ chi tiết riêng lẻ nào. Trong thiên nhiên, có những khung cảnh không dễ gì mô tả hết được. Cũng vậy, bài Tin mừng Chúa nhật tuần này mời độc giả bước vào bối cảnh thần học về con người Chúa Giêsu.
Khả năng nắm bắt những nét đẹp trong một khung cảnh sẽ có giới hạn, ngay cả với thời đại hoàn hảo của mạng xã hội chia sẻ hình ảnh Instagram. Không một phương tiện nào trước đây có thể truyền tải được thực tại của cái đẹp. Người ta phải gặp gỡ và đích thân bước vào thực tại. Chẳng hạn, tôi đã nhiều lần đi dạo vào lúc hoàng hôn, dọc theo một khu đất trống bên cạnh một con kênh uốn lượn qua chân dãy núi Mission ở Montana, nhưng tôi chưa bao giờ có thể chụp lại được ánh sáng hùng vĩ ở phía tây thung lũng bằng máy ảnh kỹ thuật số của mình.
Trong lời tựa Tin mừng Gioan, thánh sử đã cố gắng mô tả bối cảnh thần học về Chúa Kitô. Nhiều tước hiệu Kinh thánh được gán cho Chúa Giêsu như “Ngôi Lời”, “Khởi Nguyên”, “Sự Sống”, “Ánh Sáng Thật” và là “Con Một của Chúa Cha” (x. Ga 1,1-9, 14). Tin mừng dựa trên các tước hiệu và khái niệm bám rễ sâu trong truyền thống tôn giáo của Israel để trình bày một hình ảnh Chúa Giêsu với nhiều kết cấu và sắc thái. Cũng giống như một khung cảnh tuyệt đẹp do nhiều yếu tố khác nhau, ý nghĩa đặc biệt của Chúa Giêsu đến từ nhiều truyền thống thần học khác nhau.
Thánh Gioan Tẩy giả mong muốn các môn đệ nhìn thấy khung cảnh mình đã thấy, để họ có cùng một kinh nghiệm về Chúa Giêsu đã đánh động ngài. Nhận thức Chúa Giêsu là "Chiên Thiên Chúa” của ngài không phải là sản phẩm của việc hoán cải tự động nào, mà là hoa trái của việc chuẩn bị thiêng liêng kỹ lưỡng. Qua việc học hỏi và đời sống của mình, Gioan Tẩy giả đã sẵn sàng “bước vào khung cảnh” của Chúa Kitô. Điều này đã chuẩn bị để ngài nhìn thấy vinh quang vô hình của Chúa và loan báo: “Đây Chiên Thiên Chúa!” (Ga 1,29).
Khung cảnh vô hình về Chúa Giêsu chính là điều mà bài Tin mừng Chúa nhật hôm nay mặc khải. Ở Lễ Hiển linh tuần trước, niềm mong mỏi được nhìn thấy Hài nhi mới sinh cũng là nỗi khát khao chứng kiến Tình yêu nhập thể, Đấng Thánh bằng xương bằng thịt như chúng ta. Ngược lại, vào Chúa nhật này, thánh Gioan Tẩy giả thách đố độc giả hãy nhìn sâu xa, để chứng kiến một khung cảnh về vinh quang Thiên Chúa nơi Đức Kitô nhập thể. Mệnh lệnh của Gioan Tẩy giả “hãy nhìn” thách thức các môn đệ ở mọi thời đại nhận ra Chiên Thiên Chúa ở ngay trước mặt họ và bước vào khung cảnh thiêng liêng của Chúa Giêsu.
Nguồn gốc sâu xa nhất của tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” là chiên Vượt Qua (Xh 12,1-28), máu chiên đã bảo vệ dân Israel khỏi tai họa cuối cùng trong biến cố Xuất hành. Với người Công giáo, tước hiệu này cũng gợi lên lời cầu nguyện trong mỗi thánh lễ, “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian.” Tương tự ánh sáng ở dãy núi Mission, kinh nghiệm trọn vẹn về ơn cứu độ của Chúa Giêsu là một thực tại không thể nắm bắt được bằng lời nói hay hình ảnh, nhưng phải bước vào và trải nghiệm thì mới hiểu được. Chúng ta có thể cố gắng mô tả bối cảnh Chiên Thiên Chúa, nhưng chỉ bằng cách đi theo và đi trên con đường này, chúng ta mới có thể được biến đổi nhờ vẻ đẹp của nó.
CẦU NGUYỆN
- Chúng ta có thể nhận thức sâu xa về Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể thế nào?
- Chúng ta sẽ mô tả thế nào các yếu tố được nhìn thấy trong bối cảnh về Chúa Kitô?
- Chúng ta cảm thấy được đánh động thế nào lúc này khi bước theo sát Chiên Thiên Chúa?
---------------------------------
(Trích trong ‘Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật’)
"Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian"
I. Ý CHÍNH:
Bài Tin Mừng thuật lại câu chuyện thánh Gioan Tẩy giả làm chứng vế Chúa Giêsu Kitô.
Cần lưu ý thánh Gioan Tẩy giả làm chứng về Chúa Giêsu lần thứ nhất trong bài giảng của Người (Lc 3, 16-17), lần thứ hai khi phái đoàn Do thái từ Giêrusalem đến hỏi Ngài là ai (Ga 1, 19-23) và ở đây lần thứ ba (Ga 1, 29-34).
II. SUY NIỆM:
1) "Ông Gioan thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình":
Sau khi đã ăn chay trên rừng 40 đêm ngày, Chúa Giêsu trở lại chỗ Gioan đang làm phép rửa, tức là Bêtania, bên kia sông Giođan. Lúc đó có một nhóm thính giả khá đông đến để nghe Gioan giảng và để chịu phép rửa, Gioan thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình, ông liền chỉ cho các thính giả và nói:
* "Đây Chiên Thiên Chúa": chữ "Chiên" có thể gợi lên ba hình ảnh sau đây:
+ Chiên vượt qua (Xh 12, 1-18)
+ Chiên hy sinh trong đền thờ (Dt10, 4-10)
+ Tôi tờ đau khổ dâng mình như một con chiên (Is 52, 13-53).
Nhưng ở thời Gioan Tẩy giả, người ta chưa quan niệm được một Đấng Cứu Thế có thể chịu đau khổ, chứng cớ là khi Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn của Người thì chính các tông đồ còn bỡ ngỡ (Mc 9, 32; Lc24, 11...). Vì thế ở đây Gioan Tẩy giả không nhắm tới tính cách chịu đau khổ theo như bà hình ảnh trên đây đã gợi ra, cho bằng nhắm tới sự hiền lành, nhẫn nhục và vâng lời của tôi tớ Giavê, tức là Đức Giêsu.
* "Đấng xóa tội trần gian": thánh Gioan thường dùng chữ "xóa" theo nghĩa "làm mất đi" (Ga 2, 16; 5, 8-12; 1Ga 3, 5) và như thế "Xóa" ở đây có nghĩa là giải thoát ta khỏi tội lỗi, ý nghĩa này sẽ được bổ túc bằng một việc thứ hai có tính cách tích cực hơn, đó là, rửa trong Thánh Thần, tức là tái tạo ta thành người mới, biến đổi ta nên hoàn thiện.
2) "Một Người đến sau tôi":
* Xét theo thời gian, theo lịch sử thì Chúa Giêsu đến và sinh ra sau Gioan Tẩy giả.
* "Nhưng đã có trước tôi": nhưng xét theo sứ mạng theo bản tính thì Chúa Giêsu có trước Gioan Tẩy giả, vì Người là Thiên Chúa, trổi vượt hơn Gioan Tẩy giả.
3) "Và tôi, ttôi đã không biết Người...":
* Kiểu nói "Không biết" ở đây không có ý nói Đức Giêsu Kitô đối với Gioan như là một kẻ xa lạ, nhưng có ý nói ông không nhận ra Chúa Giêsu như là Đấng Cứu Thế được Chúa Cha sai đến, vì ông chưa có đầy đủ ánh sáng đức tin, theo ý này thì điều "không biết" của Gioan Tẩy giả cũng tương tự như điều "Không biết" của người Do thái "Ở giữa các ngươi có Đấng mà các ngươi không biết".
* "Nhưng để Ngài được tỏ mình ra với Israel...": việc Gioan Tẩy giả làm phép rửa cho Chúa Giêsu là cơ hội để Chúa Giêsu tỏ mình ra cho Israel biết Người là Đấng Cứu Thế. Việc tỏ mình này được diễn ra qua sự kiện "Thánh Thần như chim bồ câu đáp xuống mà ngự trên Người".
4) "Và Gioan đã làm chứng...":
* Do những các được nhìn từ bên ngoài "Tôi đã thấy Thánh Thần...", Gioan đi đến sự nhận thức sâu xa bên trong " Ngài là Con Thiên Chúa". Vì thế, điều mà Gioan đã làm chứng chính là Thiên Sai tính của Chúa Giêsu, tức là Chúa Giêsu chính là Đấng Thiên Sai.
* "Thánh Thần như chim bồ câu": kiểu nói này không có bảo Thánh Thần hiện ra dưới hình dáng chim bồ câu, nhưng Ngài đáp xuống trên Đức Giêsu với cách thức như tiếng rung nhè nhẹ của con chim đó. Từ ý nghĩa này cho thấy việc " như chim bồ câu đáp xuống và lưu lại trên Đức Giêsu " tượng trưng cho hiệu quả chính yếu của việc tuôn đổ Thánh Thần, là việc thiết lập Israel mới. Vì thế, chim bồ câu muốn tượng trưng không phải nhằm trực tiếp Thánh Thần, nhưng tượng trưng những ngôn ngữ các tông đồ nhận được do ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, để rao giảng Tin Mừng cho thế giới > Hoặc có thể so sánh mồ hôi của Đức Kitô trong cơn hấp hối với những " giọt mồ hôi máu " (Lc22, 44) điều này không có nghĩa là mồ hôi của Đức Kitô biến thành máu, nhưng có nghĩa là cơn phiền não của Người dữ dội đến nỗi mồ hôi từ thân xác Người thoát ra nhiều như máu chảy !
5) "Vế phần tôi, tôi đã không biết Ngài":
Câu này được lập lại lần thứ hai là có ý nhấn mạnh Gioan Tẩy giả nhận biết Đức Kitô là Con Thiên Chúa, không phải tự ông mà do Thiên Chúa Cha ban cho " Nhưng Đấng sai tôi làm phép rửa trong nước đã phán bảo tôi".
6) "Đó chính là Đấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần":
Đây chính là công thức xác định về con người Chúa Giêsu đối với dân Israel.
+ Nơi Mt 3, 11 và Lc 13, 16: công thức này liên kết phép rửa với lửa và với cuộc phán xét sau cùng.
+ Nhưng nơi Mc 1, 8 lại nói phép rửa là việc ban ân sủng để tạo dựng Israel mới, còn Ga 1,35 cũng nói như Mc, nhưng làm nổi bật con người Đức Giêsu bằng cách đặt song đối " Tôi rửa trong nước (Ga 1, 26) và Ngài rửa trong Thánh Thần" (Ga 1, 35).
+ Việc song đối này không phải để so sánh hai phép rửa nhưng là để so sánh hai con người. Đức Kitô với vai trò thanh tẩy trong Thánh Thần và Gioan Tẩy giả với vai trò chứng nhân.
+ " Rửa trong Chúa Thánh Thần":
a/ Trong Cựu ước có nói nhiều đến việc đổ tràn ơn Chúa Thánh Thần xuống cộng đồng: Is3,15; 44, 3; Ed 36, 25-29; Lv 18, 69; Tv 17, 29-42. Các bản văn này cho thấy, vào thời cuối cùng, là thời Chúa Giêsu trở lại, Thiên Chúa sẽ đổ tràn ơn Chúa Thánh Thần xuống trên dân, nay nhờ Chúa Thánh Thần xuống và ngự trên Chúa Giêsu, thì chính Chúa Giêsu là người được chỉ định để thực hiện việc đổ tràn ơn Chúa Thánh Thần xuống vào thời cánh chung.
b/ Trong Do thái giáo không thấy nói tới ơn Chúa Thánh Thần ban cho Đấng Thiên Sai, chỉ trong truyền thống công giáo mới có điều đó. Xem bài giảng của thánh Phêrô trong ngày lễ Hiện Xuống (Cv 2, 32): " Chúa Giêsu đã lĩnh nơi Cha ơn đã hứa là Thánh Thần mà đổ xuống".
c/ Vì thế phép rửa trong Thánh Thần nói đây có nghĩa rộng hơn phép rửa trong Giáo Hội Kitô sau này, vì nó chỉ toàn bộ sứ mệnh của Chúa Giêsu Kitô.
7) "Tôi đã thấy và tôi làm chứng":
+ Gioan Tẩy giả xác định việc ông làm chứng là đúng vì ông thấy không những qua dấu chỉ bên ngoài "Thánh Thần như chim bồ câu đáp xuống...", mà còn được thấy từ bên trong do Thiên Chúa Cha soi động cho: " Chính Ngài là Con Thiên Chúa ".
+ "Ngài là Con Thiên Chúa": có bản viết "Người được Thiên Chúa tuyển chọn", ý nghĩa này xem ra thích hợp hơn, nhất là khi so sánh với Is42, 1.
"Này đây Tôi tớ của Ta, Người ta đã chọn, và ta sùng mộ, Ta ban Thánh Thần Ta trên Người", việc tuyển chọn đi đôi với việc ban Thánh Thần để trao sứ mạng.
III. ÁP DỤNG:
A/ Áp dụng thực hành:
Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội mượn lời chứng của Gioan Tẩy giả vè Chúa Giêsu Kitô để nhắc lại cho chúng ta về sứ mạng cứu chuộc của Chúa Giêsu đối với nhân loại và mỗi người chúng ta, nhờ đó chúng ta đem lòng mộ mến, gắn bó và vâng phục Chúa Giêsu Kitô hơn.
B/ Áp dụng thực hành:
1) Nhìn vào Chúa Giêsu:
* Chúa Giêsu tiến về phía Gioan: chính Chúa Giêsu là người đích thân tạo cơ hội và phương tiện cho Gioan thi hành nhiệm vụ làm chứng về Người, khi thi hành nhiện vụ làm chứng nhân cho Thiên Chúa, chính Chúa sẽ tạo điều kiện cho chúng ta làm việc đó, vì thế chúng ta đừng đòi hỏi quá sức mình, nhưng hãy làm theo như những gì mình đang có, rồi còn thiếu gì Chúa sẽ ban thêm cho sau.
* Đây là Chiên Thiên Chúa: Chúa Giêsu trở nên của lễ hy sinh cho chúng ta, điều này đòi hỏi chúng ta có sẵn sàng hy sinh cho Chúa và tha nhân không ?
* Đây là Đấng xóa tội trần gian: Chúa Giêsu dùng cái chết để xóa tội cho chúng ta, điều này đòi hỏi chúng ta phải biết hy sinh hãm mình, để đền tội cho mình và thay cho tha nhân.
2 / Nhìn vào Gioan Tẩy giả:
* Gioan giới thiệu Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế cho dân chúng, chúng ta cũng phải giới thiệu Thiên Chúa cho tha nhân bằng lời nói, hành động và lời cầu nguyện hằng ngày của ta.
* Gioan tự thú "Tôi đã không biết Người" làm chứng về Chúa mà không biết Chúa kể cũng lạ, nhưng điều này cho thấy Gioan biết Chúa Giêsu, nhưng không biết bản tính của Ngài, vì thế phải cần đến Thiên Chúa Cha ban cho, mới biết được Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Chúng ta noi gương Gioan phải biết khám phá về Chúa bằng sự cầu nguyện, suy niệm để ơn Chúa soi sáng thêm cho ta.
* Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian được lặp lại trong mỗi Thánh lễ để nhắc cho chúng ta về công ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô và khơi dậy nơi ta niềm vinh phúc được rước Chúa vào lòng. Allêluia! Allêluia!
---------------------------------
(Suy niệm của Lm Paul-Maurice Lâm Thái Sơn)
NÀY LÀ CON YÊU DẤU CỦA TA, CON ĐẸP LÒNG TA
Hôm nay Giáo hội mừng lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa. Chúng ta biết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Ngài là Ðấng vô tội và luôn trung thành chu toàn thánh ý Chúa Cha trong suốt cuộc đời trần thế. Vậy mà tại sao Chúa Giêsu lại chịu phép Rửa bởi Gioan ở sông Giođan? Bởi vì Chúa Giêsu không tự cho mình cao trọng vượt trên người khác, Ngài muốn chứng tỏ cho chúng ta biết rằng Ngài luôn luôn liên đới với hết mọi người, bằng cách sống trung thành với lề luật và chia sẻ thân phận làm người trong mọi chiều hướng.
Sau khi Chúa Giêsu chịu phép Rửa, Ngài liền thấy trời mở ra và Thánh Thần như chim bồ câu ngự xuống trên Ngài.
Những hình ảnh "trời mở ra và Thánh Thần như chim bồ câu" có thể làm chúng ta ngạc nhiên, bởi vì thế hệ chúng ta ngày nay thích những gì có tính cách khoa học hơn là những câu văn bóng bảy nên thơ.
Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta đành chối bỏ sự hiện hữu của Thần Linh Thiên Chúa, luôn kết hiệp với Ðức Kitô và cũng rất cần thiết cho cuộc đời của chúng ta. Ngay từ thuở khai thiên lập địa, Thần linh Chúa bay là trên mặt nước, giờ đây Người cũng hiện diện lúc Chúa Giêsu chịu phép Rửa.
Ðồng thời, hình ảnh "trời mở ra" mang đầy ý nghĩa: các tầng trời bị che lấp bởi tội lỗi của nhân loại, giờ đây được mở ra trước mặt Ðấng Cứu Thế để Thánh Thần Chúa ngự xuống trên Ðấng mà Thiên Chúa Cha yêu thương và gọi là "Con yêu dấu". Chúa Giêsu là Ðấng đến để làm cho trần gian chúng ta đang bị khép kín vì tội lỗi phải mở toang ra để đón nhận ơn cứu độ.
Từ nay, nhờ phép Rửa của Chúa Giêsu, Thiên Chúa không còn là xa lạ, mà rất gần gũi nhân loại, đất với trời thông đạt với nhau, thiên đình và hạ giới không còn cách biệt. Những gì Chúa Giêsu đã sống như là Con yêu dấu duy nhất của Chúa Cha, thì loài người chúng ta cũng đang được mời gọi sống đúng như là con cái của Thiên Chúa.
Thông thường, sống trong hoàn cảnh xã hội thiêng liêng về vật chất, chúng ta hay có những cái nhìn thật phàm trần. Thế giới tân tiến ngày nay đe dọa đánh đổ nhân cách con người và nhìn con người trong chiều kích vật chất trần tục: hạnh phúc, tương lai, và sự cứu độ chỉ nằm trong kỹ thuật. Ví dụ: Muốn có người yêu hãy dùng loại nước hoa này, muốn giữ gìn sắc đẹp và trị các vết nhăn hãy thoa loại kem kia, muốn giàu sang hạnh phúc nên dùng phương thức nọ... nên bảo vệ môi sinh thì chúng ta sẽ sống lâu bền... hãy thay đổi quy chế xã hội thì chúng ta sẽ sống ấm no hạnh phúc v..v..
Những điều trên đây không phải là không đúng, nhưng rất hạn hẹp và giảm giá trị con người trong tầm mức vật chất, quên đi đức tính siêu việt.
Chính vì đắm chìm trong thế giới kỹ thuật vật chất trần tục, mà có nhiều người vẫn tiếp tục sống coi như là không có Thiên Chúa, sống mà không biết rằng nhờ Ðức Giêsu Kitô, mọi người đều là con Thiên Chúa.
Chúng ta thử nghe câu chuyện nầy:
Dũng, một thanh niên 15 tuổi, đang học đệ tam, hỏi cha mẹ:
- Con đã được Rửa tội chưa?
Cha mẹ trả lời là chưa.
- Vậy thì ba má?
- Có chứ, và còn đi học giáo lý nữa, rồi còn làm đám cưới ở Nhà thờ nữa kia.
- Vậy tại sao ba má không xin Rửa tội cho con?
- Vì muốn con tự do lựa chọn.
- Nhưng mà làm sao biết lựa chọn, khi con không hiểu một tí gì về Thiên Chúa, phải biết mới lựa chọn được chứ!
Qua câu chuyện nầy, chúng ta thấy trong những năm gần đây, có những bậc phụ huynh, theo trào lưu Âu Mỹ hiện đại, viện cớ là vì tôn trọng tự do của đứa bé, để sau này nó tự quyết định, nên không đưa đứa bé đi Nhà thờ Rửa tội.
Ý hưởng tôn trọng tự do này được coi như đúng với điều kiện là khi lớn khôn, đứa bé phải có đủ phương tiện học hỏi, có người hướng dẫn giúp nó hiểu biết và suy nghĩ để định đoạt... bằng không thì thật nguy hại, vì đó là chính sách san bằng đoản hậu.
Làm sao đón nhận Thiên Chúa khi mà chưa được nghe nói đến Ngài? Tại sao một đàng chúng ta lại tự quyết định thay cho đứa bé bằng cách ghi danh cho nó học môn này chương trình nọ (piano, tennis v...v...) và đàng khác ta lại nói là để cho nó tự do lựa chọn. Thật là mâu thuẫn! Chúng ta đừng quên rằng đạo lý và tôn giáo không phải là việc riêng tư, nhưng có cả tầm vóc xã hội, sự chối từ đường hướng đạo đức sẽ là nguồn gốc cho sự bạo động và khước từ người khác. Vì thế, chúng ta không lạ gì khi thấy thế hệ trẻ ngày nay hoặc thiếu lý lẽ sống hoặc sống trong bạo động...
Chính vì vậy mà mỗi người chúng ta cần phải nói với những người khác rằng "tất cả chúng ta không phải là con cái của tăm tối, mà chúng ta được sinh ra để nhận biết Thiên Chúa và đón nhận hồng ân của Ngài, nhờ đó chúng ta có một cuộc sống hoàn hảo, vì chúng ta là con cái của Thiên Chúa."
Những bài Phúc âm không phải là những chuyện cổ tích thuộc về quá khứ, nhưng luôn mang tính cách hiện tại, chính hôm nay, bởi lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa mà các tầng trời sẽ mở ra cho chúng ta, để Thần Linh Chúa ngự xuống trên từng người một và được nghe tiếng Chúa Cha vang dội: "Này là con yêu dấu của Ta. Ta đặt trọn vẹn yêu thương trên ngươi".
---------------------------------
Tác giả: Nguyễn Văn Mễn
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn