Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 14-B Bài 51-100 Chúa Giêsu trở về quê quán, không được đón nhận

Thứ tư - 04/07/2018 09:54
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 14-B Bài 51-100 Chúa Giêsu trở về quê quán, không được đón nhận
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 14-B Bài 51-100 Chúa Giêsu trở về quê quán, không được đón nhận
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 14-B Bài 51-100 Chúa Giêsu trở về quê quán, không được đón nhận

----------------------
TN 14-B51: VẤP NGÃ VÌ CHÚA, TẠI SAO?. 2
TN 14-B52: SỰ YẾU ĐUỐI LÀ NỖI TỰ HÀO - Lm Nguyễn Khoa Toàn. 4
TN 14-B53: CHÚA NHẬT 14 TN - Lm. Đaminh Trần Đình Nhi 5
TN 14-B54: CHÚA GIÊSU TRỞ VỀ NA-DA-RÉT.. 9
TN 14-B55: BỤT NHÀ KHÔNG THIÊNG. - Lm Giuse Ịinh lập Liễm.. 11
TN 14-B56: NGÔN SỨ CỦA CHÚA - Lm. An Phong, OP. 18
TN 14-B57: TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG - Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP. 19
TN 14-B58: KINH NGHIỆM CỦA TIÊN TRI 22
TN 14-B59: CHÚA CŨNG NGỠ NGÀNG.. 27
TN 14-B60: CƯỚI "ON SALE". 30
TN 14-B61: BỤT NHÀ KHÔNG THIÊNG.. 33
TN 14-B62: SỐNG LÀM SAO CHO ĐẸP LÒNG THIẾN CHÚA?. 35
TN 14-B63: Đôi Cánh Của Đau Khổ. 39
TN 14-B64: Bụt nhà không thiêng. 40
TN 14-B65: BẢN HƯƠNG KHINH BỈ 42
TN 14-B66: Những Mạc Khải Phi Thường. 44
TN 14-B67: SỐNG KHÔNG THÀNH KIẾN.. 47
TN 14-B68: DÂN NADARÉT CỨNG LÒNG TIN.. 50
TN 14-B69: CHÚA GIÊSU BỊ KHƯỚC TỪ.. 52
TN 14-B70: THÀNH KIẾN.. 54
TN 14-B71: CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN - B.. 56
TN 14-B72: CHÚA HIỆN DIỆN TRONG CUỘC SỐNG.. 57
TN 14-B73: THẤT BẠI TRONG SỨ MẠNG.. 58
TN 14-B74: QUÊ HƯƠNG TRÁI NGỌT HAY TRÁI ĐẮNG.. 60
TN 14-B75: ĐỨC GIÊSU KITÔ, NGƯỜI LÀ AI?. 61
TN 14-B76: ''KHI TÔI YẾU CHÍNH LÀ LÚC TÔI MẠNH'' 65
TN 14-B77: SỰ CỨNG LÒNG TIN.. 67
TN 14-B78: CHÚA GIÊSU TRỞ VỀ QUÊ NHÀ.. 70
TN 14-B79: SỨ MẠNG NGÔN SỨ.. 72
TN 14-B80: Cảm nghiệm về Chúa- + TGM Giuse Ngô Quang Kiệt 74
TN 14-B81: CHÚA GIÊSU TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG NADARÉT.. 76
TN 14-B82: Chúa Giê-su đối phó với định kiến. 78
TN 14-B83: Người Đã Không Thể. 79
TN 14-B84: CHÚA NHẬT 14 QUANH NĂM... 81
TN 14-B85: Thân phận người sứ giả. 84
TN 14-B86: Những điều nghịch lý – Jean Yves Garneau. 85
TN 14-B87: Suy niệm của Charles E. Miller. 87
TN 14-B88: Chú giải của Noel Quesson. 89
TN 14-B89: NHẬN RA SỨ GIẢ CỦA THIÊN CHÚA.. 92
TN 14-B90: CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN.. 97
TN 14-B91: Tiên tri ở quê hương mình. 98
TN 14-B92: Cao ngạo là đánh mất tất cả. 100
TN 14-B93: Ơn gọi làm ngôn sứ. 103
TN 14-B94: ĐỨC GIÊ-SU BỊ ĐỒNG HƯƠNG TỪ CHỐI KHÔNG TIN.. 106
TN 14-B95: NGƯỜI NÀY KHÔNG PHẢI LÀ TÊN THỢ MỘC, CON BÀ MARIA SAO?. 112
TN 14-B96: HỌ CỨNG LÒNG KHIẾN CHÚA NGẠC NHIÊN.. 116
TN 14-B97: TẠI SAO GIÁO HỘI CẦN PHẢI KHÓ NGHÈO ĐỂ RAO GIẢNG TIN MỪNG CÁCH THUYẾT PHỤC HƠN ?. 118
TN 14-B98:  CHỨC VỊ 123
TN 14-B99: TÂM THẦN PHÂN LIỆT HOANG TƯỞNG.. 126
TN 14-B100:  ĐỨC GIÊSU KHÔNG THỂ LÀM PHÉP LẠ.. 133

-----------------------------

 

TN 14-B51: VẤP NGÃ VÌ CHÚA, TẠI SAO?


- Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Mc 6, 1-6

 

Khi đánh giá và nhận định về một ai đó, dường như có một quan niệm “bất thành văn” đa: TN 14-B51


Khi đánh giá và nhận định về một ai đó, dường như có một quan niệm “bất thành văn” đã, đang và sẽ còn tồn tại trong tâm trí con người. Đó là nhìn họ ở dáng vẻ bên ngoài hay lưu ý đến bảng khai lý lịch, thân thế và sự nghiệp hơn là nhìn ra bản chất bên trong của họ. Quan niệm “thâm căn cố đế” này, bằng nhiều cách, đi sâu vào trong từng quốc gia, từng phong tục tập quán của mỗi dân tộc và không buông tha bất cứ người nào. Nạn nhân tiêu biểu hứng chịu “búa rìu dư luận” này không ai khác chính là Chúa Giêsu – người đến từ Thiên Chúa để mang lại ơn cứu độ cho nhân loại.

Sau thời gian miệt mài rao giảng ở Caphácnaum và quanh biển hồ Galilê, Chúa Giêsu trở về Nazarét- quê hương dấu yêu. Những tưởng sự hiện diện cũng như những lời rao giảng trong Hội đường Dothái của Người sẽ được người thân cũng như dân làng Nazarét đón nhận hay ít nữa cũng có điều gì đó tự hào về người con của dân làng. Nhưng không. Mặc dù lời giảng dạy của Chúa Giêsu khiến không ít người ngạc nhiên nhưng điều đó không đủ khiến họ thay đổi cách nhìn về nhân thân của Người. Lý do hết sức đơn giản là họ biết quá rõ nguồn gốc xuất thân của Người. Hãy xem cách họ đặt vấn đề cũng đủ hiểu đối với họ, Chúa Giêsu chẳng có gì đặc biệt. “Bởi đâu ông ta được như thế?... Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Gioxê, Giuđa và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?”.

Thế đấy. Chính vì họ nhìn Chúa Giêsu là một con người hết sứ bình thường, một con người cụ thể bằng xương bằng thịt đã từng chung sống quanh họ; công việc của Người cũng hết sức tầm thường, quanh năm suốt tháng lam lũ với nghề mộc – một nghề thời đó không chỉ làm ra các vật dụng bằng gỗ mà còn có thể xây nhà và làm ra các vật dụng từ các vật liệu khác nữa. Thế mà giờ đây, sau một thời gian rời xa quê làng, cái ông thợ mộc này lại làm được những điều “quái lạ”, thật chẳng thể nào tin được!

Từ cách nhìn nhận và đánh giá thiển cận ấy, thay vì hãnh diện, người dân Nazarét lại vấp ngã vì Người. Họ vấp ngã vì Người, bởi gia thế của Chúa Giêsu không sáng giá; Họ vấp ngã vì Người, bởi trước mắt họ, Chúa Giêsu chỉ là một người phàm không hơn không kém; Họ vấp ngã vì Người, bởi gia đình ông thợ mộc này nghèo nàn quá, tầm thường quá từ lý lịch xuất thân cho đến nghề nghiệp cũng như địa vị xã hội; Họ vấp ngã vì Người, bởi, dù không nói như các Kinh sư rằng Chúa Giêsu “dựa vào thế quỷ vương” để làm những việc “quái dị”, nhưng chính thái độ khinh thường ra mặt cũng đủ nâng họ lên ngang hàng với mấy ông Kinh sư của họ. Cũng từ những lý do đó mà sau này không chỉ dân làng Nazarét mà còn nhiều người khác nữa đã quay lưng lại với Chúa Giêsu, cùng với sự kiêu ngạo và nổi loạn để rồi cuối cùng kéo bè kéo phái đóng đinh Người vào thập giá.

Dân làng Nazarét đã không nhìn ra sứ mệnh thần linh vẫn âm thầm tiềm ẩn bên trong con người Chúa Giêsu. Có thể nói chính vì quá chú trọng hình thức bên ngoài, chú trọng đến gia thế, địa vị xã hội, chú trọng đến bảng kê khai lý lịch, … đã làm cho tâm hồn của họ trở nên chai cứng, trở nên chướng ngại vật không dễ gì vượt qua để tìm đến chân lý vẹn toàn. Còn chúng ta thì sao, những Kytô hữu của thời đại hôm nay? Rất có thể chúng ta cũng đang đánh giá và nhìn nhận Chúa Giêsu và Tin mừng của Người qua lăng kính do chúng ta dựng nên. Rất có thể chúng ta đang tìm một điều gì đó hấp dẫn hơn nằm bên ngoài Chúa Kytô, nên ngoài Tin mừng bởi cho rằng Chúa Kytô và Tin mừng của Người trải qua hơn hai ngàn năm nên chẳng có gì mới mẻ và thật là nhàm chán. Đây là lúc chúng ta cần phải nhìn lại thái độ và lập trường của mình đối với Chúa Kytô cũng như Tin mừng của Người để từ đó thay đổi cách nhìn, cách đánh giá hầu có thể mang đến cho chúng ta sự bình an và ơn cứu rỗi.

Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa đã đến thế gian mặc lấy thân phận yếu hèn như chúng con, sống cuộc đời đạm bạc và lam lũ kiếp người để chia sẻ cuộc đời khốn khó của chúng con và cuối cùng đã dùng cái chết để mang lại ơn tha tội và cứu rỗi cho chúng con. Xin cho chúng con được biết nhìn ra Chúa trong thân phận kiếp người ấy để không ngừng yêu mến, quý trọng và nhìn ra những giá trị cao quý nơi anh em đồng loại.

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

-----------------------------

 

TN 14-B52: SỰ YẾU ĐUỐI LÀ NỖI TỰ HÀO - Lm Nguyễn Khoa Toàn


 “Vạch phân chia tốt xấu xuyên thâu qua trái tim mỗi người. Và có lòng dạ nào lại nỡ đâm nát chính trái tim mình?” Alexander Solzhenitsyn.

 

Surah Luqman đã viết rằng nếu đuợc chọn giữa tài tiên tri và óc khôn ngoan, ông ta sẽ không ngần ngại: TN 14-B52


Surah Luqman đã viết rằng nếu đuợc chọn giữa tài tiên tri và óc khôn ngoan, ông ta sẽ không ngần ngại chọn khôn ngoan vì ông không thể chịu đựng đuợc gánh nặng của sự tiên tri. Nếu biết trước những việc tốt xấu có thật sẽ xảy đến và nếu phải gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh thì quả thật ơn tiên tri kia là một gánh nặng khôn cùng.

Tôi linh cảm đuợc gánh nặng ngàn cân kia vào những ngày đầu tu học. Hình ảnh về một linh mục “siêu nhân” trong tuổi ấu thơ và ngay cả lúc còn trai trẻ đã vội vàng tan biến như khói như mây khi gẫm suy bài viết rất thâm sâu của Cha Giáo Tập Michael Buckley thuộc Dòng Tên ở Hoa Kỳ với tựa đề “Are you weak enough to be a priest?”

Vị tiên tri thời đại, nếu có thể mạnh dạn gọi như thế, trong một Thánh Lễ truyền chức, đã nhắn nhủ cùng các ứng viên rằng câu hỏi cần thiết nhất và duy nhất họ phải thành thật tự hỏi lòng mình là “bạn có đủ yếu đuối để là Linh Mục không?” Yếu đuối không thôi cũng chưa đuợc! Điều kiện ắt có và đủ để trở thành môn đệ Chúa Kitô là cần hội đủ yếu đuối. Không cần một ngoại hình tốt. Cũng chẳng phải một đài trán cao. Cần đủ yếu đuối: lời khuyên thật chân thành của một linh mục đàn anh dày dạn kinh nghiệm đạo đời kia phải là hành trang cho những thế hệ chủ chiên mai hậu.

Không như những nghành nghề khác, thiên chức linh mục đòi hỏi phải sống cùng sống với những yếu đuối của tha nhân như lời Solomon ben Meir ha-Levi: “Nếu bạn muốn cứu một người ra khỏi vũng bùn nhơ hôi thối, đừng một phút giây nào nghĩ rằng bạn chỉ cần đứng trên đất cao và đưa tay cho người kia nắm với. Chính bạn phải nhảy vào vũng bùn nhơ hôi thối kia và bằng vòng tay rắn chắc của bạn, ôm chặt người ấy và tự kéo cả hai lên bờ cao ánh sáng.” Hoặc nói như thánh Phaolô: “Với những người yếu đuối, tôi đã nên yếu đuối để đem lợi ích cho những người yếu đuối” (1Cor 9.22).

Một Mẹ Bề Trên Dòng Biển Đức đã chia sẻ cùng các tân tập sinh là một nữ tu cần phải dùng sức mạnh tinh thần mình đạt đến những điều hoàn thiện nhưng cũng không nên ngại ngùng sợ sệt và thậm chí che giấu những hạn hẹp yếu đuối của mình. Và điều nguy hiểm tệ hại nhất cho đời sống cộng đồng là tìm đủ mọi lý do để bênh vực chống chế cho những thiếu sót của mình, vì đó là dấu hiệu của một nội tâm còn rất bề ngoài non yếu. Và cách duy nhất biểu lộ trung trực tình yêu Chúa Kitô là công khai chân thành nhìn nhận những yếu hèn của mình là những yếu hèn có thật và cố gắng vượt qua lướt thắng mỗi ngày.

Không ai biết đuợc “cái dằm đâm vào thịt” của Phaolô là gì nhưng điều cần lưu tâm suy nghĩ là thánh nhân chẳng những không che giấu mà trái lại tự hào “vui thoả về những yếu hèn”kia. Hơn ai hết, Phaolô biết rằng ngay chính Đức Kitô cũng bị khinh bỉ ruồng rẫy về lý lịch nguồn gốc gia phả Người. Và cũng hơn ai hết, Phaolô đã hiểu rằng trong giây phút cô đơn yếu đuối tuyệt vọng nhất trong vườn Cây Dầu và trên cây thập tự cũng chính là lúc Người đạt đến tột đỉnh toàn thiện vinh quang.

Lm Nguyễn Khoa Toàn

-----------------------------

 

TN 14-B53: CHÚA NHẬT 14 TN - Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

Nếu đích thực ta là con cái Chúa, ta cần phải nhận ra lòng yêu thương của Người trong việc: TN 14-B53


Nếu đích thực ta là con cái Chúa, ta cần phải nhận ra lòng yêu thương của Người trong việc Người dạy dỗ và sửa bảo ta.  Mặc dù Thiên Chúa đã ban cho ta Lề Luật của Người trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước, nhưng vẫn cần xuất hiện những người nhắc nhở ta phải sống sao cho đúng với chân tính của ta.  Những người đó là các vị ngôn sứ, những người nói thay cho Thiên Chúa.  Khi Chúa Ki-tô được sai đến trần gian thì thời các ngôn sứ chấm dứt và Người là chính Lời của Thiên Chúa nói với nhân loại.  Đề tài ngôn sứ được trình bày qua Phụng vụ Lời Chúa hôm nay.

 1.  Chức phận của một ngôn sứ (bài đọc Cựu Ước – Ê-dê-ki-en 2:2-5)

Đã có một thời người ta gọi các ngôn sứ là các tiên tri và từ ngôn sứ xem ra còn xa lạ đối với nhiều người Công giáo Việt Nam.  Ta vẫn quen gọi tiên tri I-sai-a, tiên tri Ê-dê-ki-en... hơn là ngôn sứ I-sai-a, ngôn sứ Ê-dê-ki-en...  Ta gọi các ngài là tiên tri, vì các ngài thường tiên báo tương lai sẽ xảy ra.  Nhưng đó chỉ là một phần nhỏ thuộc sứ vụ của các ngài, mà trước hết các ngài phải là những người nói thay cho Thiên Chúa, chuyển sứ điệp của Chúa đến cho một cá nhân hay cộng đồng dân Chúa.  Vì lý do đó, ngày nay sử dụng từ “ngôn sứ” xem ra hợp lý hơn.

Ê-dê-ki-en là một trong bốn vị ngôn sứ lớn và cũng là vị ngôn sứ của thời lưu đày tại Ba-by-lon.  Ở đây, ngài được Chúa trao cho sứ vụ giúp dân Chúa hiểu biết ý nghĩa của những gì đã và đang xảy ra cho họ, nhờ đó họ giữ vững lòng tin và niềm hy vọng đợi chờ một tương lai sáng sủa.  Vậy Ê-dê-ki-en ý thức thế nào về việc thi hành sứ vụ của ngài?

Trước hết Ê-dê-ki-en phải là người hành động dưới ảnh hưởng và hướng dẫn của Thần Khí Thiên Chúa.  Thánh Thần là sức mạnh của Thiên Chúa làm cho vị ngôn sứ được “đứng vững” (Ed 2:2).  Thánh Thần “làm cho chân tôi đứng vững”, vì sứ vụ sẽ gặp đầy những chống đối thử thách.  Có mấy ai muốn người khác nói ra những lầm lỗi của họ đâu!  Cho nên mỗi lần vị ngôn sứ nói lên những lỗi phạm của dân Ít-ra-en đối với Chúa là mỗi lần ngài phải chịu đựng những phản ứng bất lợi do những nhà lãnh đạo và dân chúng gây ra.  Sách Tin Mừng Mát-thêu dành hẳn ra chương 23, ghi lại những lời Chúa Giê-su tố cáo các kinh sư và Pha-ri-sêu cũng như tổ tiên họ đã bách hại các vị ngôn sứ, chỉ vì các ngài nói thẳng nói thật. 

Điểm thứ hai là Ê-dê-ki-en “đã nghe tiếng Chúa phán” (Ed 2:2).  Vì là người nói thay cho Thiên Chúa, chuyển sứ điệp của Chúa đến người khác, nên vị ngôn sứ cần lắng nghe rõ ràng sứ điệp.  Sứ điệp càng rõ, càng ngắn gọn thì sức mạnh của sứ điệp càng lớn, nhất là khi những kẻ phải đón nhận sứ điệp lại là những người “mặt dầy mặt dạn, lòng chai dạ đá, phản nghịch, nổi loạn chống lại Thiên Chúa”. 

Thứ ba, Ê-dê-ki-en đã “được Thiên Chúa sai đi”.  Vị ngôn sứ phải ra đi, dấn thân vào chốn nguy hiểm để thi hành sứ vụ.  Khi đã tới nơi Thiên Chúa chỉ định, vị ngôn sứ phải ở lại đó.  “Chúa Thượng phán:  ‘Còn chúng, vốn là nòi phản loạn, chúng có thể nghe hoặc không nghe, nhưng chúng phải biết rằng có một ngôn sứ đang ở giữa chúng’” (Ed 2:5).  Sự hiện diện của ngôn sứ biểu tượng cho sự hiện diện của Thiên Chúa để nhắc nhở, kêu gọi, đôi khi còn “nài nỉ” dân Chúa thi hành điều Người dạy họ phải làm.  Do đó, vị ngôn sứ không được trốn chạy hoặc tránh né khó khăn.

Những điều ngôn sứ Ê-dê-ki-en nêu lên ở đây chắc chắn phải làm cho ta ý thức lại chức phận ngôn sứ mà ta được chia sẻ với Chúa Giê-su, từ những vị lãnh đạo là các giám mục, linh mục cho đến thành phần giáo dân. Điều người ta có lẽ phải suy nghĩ nhiều nhất, đó là thái độ hèn nhát.  Cha mẹ không dám dạy con, sợ chúng hỗn láo với mình.  Truyền thông báo chí sợ làm ăn thua lỗ nên không dám truyền bá sự thật.  Chính trị gia sợ thua phiếu đành phải đồng lõa với những thứ luật lệ thiếu đạo đức.  Nhiều vị lãnh đạo giáo hội địa phương do cơ chế xã hội nên không dám biểu lộ gương mặt mục tử nhân lành của Chúa Giê-su.  Tóm lại, xét lại ý thức chức phận ngôn sứ của Ki-tô hữu quả thực là vấn đề nhức nhối, nhưng vẫn phải làm.

 2.  Nhìn ngắm Chúa Giê-su, vị Ngôn Sứ đích thực và gương mẫu, được Thiên Chúa sai đến trần gian (bài Tin Mừng – Mác-cô 6:1-6)

Cuộc đời ngôn sứ của Chúa Ki-tô không có gì khác với các ngôn sứ trong Cựu Ước.  Hơn thế nữa, Người còn là tuyệt đỉnh mặc khải của Thiên Chúa và cũng ở tột độ của hy sinh để nói lên sứ điệp tình yêu Thiên Chúa qua cái chết trên thập giá.  Bài Tin Mừng hôm nay kể lại cuộc bách hại Đức Ki-tô Ngôn Sứ phải chịu ngay tại quê hương Na-da-rét của Người.

Sau những tháng ngày thi hành sứ vụ cứu độ ở khắp miền Ga-li-lê, có lẽ toàn thể Pha-lét-tin nữa, Chúa Giê-su có dịp trở về Na-da-rét và tới giảng dạy tại hội đường.  Dân chúng Na-da-rét phản ứng rất mâu thuẫn:  một đàng họ công nhận Chúa Giê-su “được khôn ngoan” và “làm được những phép lạ như thế”;  đàng khác họ lại có ý khinh thường xuất xứ của Người, coi rẻ cả cha mẹ, bà con họ hàng của Người.  Tựu chung cũng chỉ vì lòng ghen tị mà thôi!  Chúa Giê-su là con người trầm tĩnh đến thế mà cũng phải mở miệng nói thẳng với họ:  “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi!” (Mc 6:4).

Điều làm chúng ta vô cùng cảm phục ở đây là phản ứng của Chúa Giê-su trước sự tiếp đón không thân thiện và đầy miệt thị của dân làng Na-da-rét.  Ngoài câu nói thẳng thắn ta vừa kể trên, tuyệt nhiên không thấy một lời cay đắng nào khác.  Thêm vào đó, Chúa Giê-su vẫn tiếp tục thi hành sứ vụ, không tránh né, không hờn dỗi.  Dân chúng Na-da-rét “rất đỗi ngạc nhiên” về Người một cách khinh dể, thì Người chỉ “lấy làm lạ vì họ không tin”.  Người muốn dạy dỗ họ thật nhiều, làm thật nhiều cho họ, nhưng họ không đón nhận.  Vì thế “Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó”, mà “chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ” (Mc 6:5).  Có lẽ ta cũng nên thắc mắc là giữa việc “làm được phép lạ” và việc “đặt tay chữa lành”, có sự khác biệt nào không?  Để trả lời, ta nên hiểu mục đích của sứ vụ ngôn sứ là giúp người ta thay đổi tâm hồn và cuộc sống, đó là những “phép lạ” đích thực nhưng khó nhận thấy cần phải được thể hiện và tiếp diễn nơi mỗi người, chứ không phải chỉ ba cái việc chữa lành thể xác.  Nói như thế, ta có thể nghĩ rằng Chúa Ki-tô đã thất bại trong sứ vụ ngôn sứ ngay tại quê nhà.  Nhưng thành công của Người là Người đã cho dân chúng Na-da-rét biết rằng “có một ngôn sứ đang ở giữa họ” (Ed 2:5).  Và thành công khác của Chúa Giê-su là Người không nản lòng bỏ cuộc, nhưng vẫn tiếp tục thi hành sứ vụ bằng cách “đi các làng chung quanh mà giảng dạy” (Mc 6:6).

Quả thực, Chúa Giê-su đã chu toàn sứ vụ ngôn sứ một cách tuyệt hảo không chỉ tại Na-da-rét, mà còn ở bất cứ nơi nào Người đến, và kết thúc sứ vụ bằng cái chết thập giá để nói lên tình yêu bao la và vô điều kiện của Thiên Chúa.  Đó cũng là sứ vụ Người mời gọi ta tiếp tục và tiếp tay với Người để làm cho nhân loại biết Thiên Chúa yêu thương ta và muốn cứu độ ta.  Thi hành sứ vụ ngôn sứ trong cuộc sống hằng ngày là bổn phận của mọi Ki-tô hữu không miễn trừ ai.  Thánh Phao-lô đã đi theo con đường của Chúa Ki-tô và ngài đã trở thành một tấm gương sáng chói về việc thi hành sứ vụ ngôn sứ.

 3.  Thánh Phao-lô vui sướng khi bị sỉ nhục, bách hại vì làm ngôn sứ cho Chúa Ki-tô (bài đọc Tân Ước – 2 Cô-rin-tô 12:7-10)

Với những điều ta học được nơi ngôn sứ Ê-dê-ki-en và nơi Chúa Giê-su, ta có thể nhìn vào cuộc đời tông đồ của Phao-lô để học hỏi qua cách thi hành sứ vụ ngôn sứ của ngài.  Những gì sách Công vụ Tông Đồ và chính những thư của thánh Phao-lô thuật lại, ta biết cuộc đời chứng nhân của thánh Phao-lô đầy gian nan và ngài phải chịu đau khổ rất nhiều trong khi thi hành sứ mệnh.  Nhưng đặc biệt ở đây, qua đoạn thư trích thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô đã chia sẻ một điều khá riêng tư về đời tông đồ của ngài.

Ngài được Chúa gọi làm Tông đồ và ban cho “những mặc khải phi thường”.  Trong số các Tông đồ, ngài là một “siêu sao” với nhiều đức tính hiếm quý và trình độ trí thức rất cao.  Nhưng đó cũng là điều khiến ngài phải “thức tỉnh” và đề phòng để khỏi trở thành kiêu căng khinh thường người khác.  Ngài tự thú là có một “vấn đề” nào đó, hoặc yếu đau thể xác [“thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào”], hoặc một vết thương về tâm lý hay tinh thần [“thủ hạ của Xa-tan được sai đến vả mặt tôi”], làm cho ngài phải rất đau khổ.  Tuy nhiên ngài xác tín mục đích của “vấn đề” khiến ngài đau khổ, đó là để giúp ngài khiêm tốn trong sứ vụ.  Do đó, bài học ngài dạy ta trong điều này là phải giữ lòng khiêm tốn khi thi hành sứ vụ ngôn sứ.  (Ta mở một cái ngoặc nhỏ ở đây:  nếu trong bài giảng, ta có nghe cha “quát mắng, lên lớp”, thì ta cứ cắt nghĩa tốt cho ngài là vì ngài quá sốt sắng muốn nhắc nhở giáo dân thôi).  Cha mẹ mà lúc nào cũng “lấy quyền phụ mẫu” sử dụng những lời lẽ không thích hợp với cách dạy dỗ con cái thì đó cũng là một hình thức thiếu khiêm tốn trong sứ vụ ngôn sứ của cha mẹ rồi.

Điều thứ hai ta học nơi thánh Phao-lô là biết cậy vào “ơn Chúa”.  Thi hành sứ vụ ngôn sứ là điều gây đau khổ, nản lòng cho ta.  Nhưng ta phải xác tín rằng tự sức riêng, ta không thể chu toàn nổi sứ vụ ấy.  Cần phải có ơn Chúa, là sức mạnh giúp ta thắng vượt khó khăn.  Lúc thánh Phao-lô cảm thấy mình yếu đuối nhất thì lại là lúc ngài nhận thấy sức mạnh của ơn Chúa rõ rệt nhất.  Ngài dí dỏm nhận xét:  “Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12:10).

Điều thứ ba, từ thái độ khiêm nhượng biết mình yếu đuối và biết ơn Chúa mạnh mẽ, ta sẽ “vui mừng và tự hào” với sứ vụ ngôn sứ của ta.

 4.  Sống Lời Chúa

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay để lại những bài học vô cùng thực tế, đơn giản, nhưng cũng hết sức sâu sắc và cảm động.  Theo chân Chúa Ki-tô, tất cả chúng ta đều là “ngôn sứ” của Thiên Chúa, giuíp Người làm cho thế giới và nhân loại mỗi ngày một tốt đẹp hơn.  Ý thức những khó khăn và thiệt thòi một ngôn sứ phải lãnh chịu khi thi hành sứ vụ, ta học hỏi nơi Chúa Giê-su, nơi các ngôn sứ trong Cựu Ước, nơi thánh Phao-lô và nơi những ngôn sứ thời đại đang âm thầm sống bên cạnh ta, để chính ta cũng trở thành dụng cụ Chúa sử dụng cho việc xây dựng Giáo Hội và xã hội hôm nay.

 Suy nghĩ: 

Trong chức phận hiện thời, là bậc cha mẹ, giáo viên, công chức, công nhân... tôi đang thi hành sứ vụ ngôn sứ như thế nào? 

Tôi có giúp cho Tin Mừng của Chúa Ki-tô được rao giảng không? 

Tôi có đóng góp gì để thay đổi gia đình, xứ đạo, khu xóm trở nên tốt hơn không?

Cầu nguyện:  Lạy Chúa, Chúa cho kẻ lầm lạc thấy ánh sáng chân lý của Chúa để họ được trở về nẻo chính đường ngay;  xin ban cho những người xưng mình là Ki-tô hữu biết tránh mọi điều bất xứng và theo đuổi những gì thích hợp với danh nghĩa của mình.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật 15 mùa Thường niên).

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

-----------------------------

 

TN 14-B54: CHÚA GIÊSU TRỞ VỀ NA-DA-RÉT


Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi,  CSsR

Mc 6, 1 – 6

 

Người ta thường nói: “Gần Chùa gọi bụt bằng anh”. Điều này có thể áp dụng cho trường hợp: TN 14-B54


Người ta thường nói:” Gần Chùa gọi bụt bằng anh “. Điều này có thể áp dụng cho trường hợp của Chúa Giêsu bởi vì trong ba năm đi rao giảng cùng với các môn đệ ở khắp nơi nào Galilêa, Giêrusalem, Palestina, Capharnaum và nhiều nơi khác, nơi nào đặt chân đến, Chúa Giêsu cũng được nhiều đám đông đón tiếp, trầm trồ khen ngợi vì những lời giảng dạy hết sức ấn tượng của Ngài, những phép lạ hết sức thuyết phục của Chúa. Nhưng, cái trớ trêu vẫn là người dân làng Na-da-rét, quê hương của Chúa Giêsu đã có thái độ hết sức thờ ơ, lãnh đạm đối với lần đầu tiên Ngài trở về quê nhà. Tại sao những người đồng hương với Chúa Giêsu lại có thái độ đó ?

DÂN LÀNG NA-DA-RÉT ĐÃ NGẠC NHIÊN VỀ CHÚA GIÊSU:

Thực tế, khi trở về làng quê, vào trong Hội Đường, Chúa Giêsu giảng dạy một cách khôn ngoan, thông thái và có thẩm quyền. Người đồng hương lấy làm lạ, nghĩa là họ vừa thán phục, vừa lấy làm kinh ngạc. Tuy nhiên, vì quá biết lai lịch của Chúa Giêsu như Ngài làm nghề thợ mộc và lại là con bác Giuse, thợ mộc. Do đó, từ thái độ thán phục kinh ngạc, họ đâm ra bỡ ngỡ, nghĩa là kinh ngạc rồi nghi ngờ. Chính vì thế, người đồng hương càng nghĩ tới lai lịch, thân thế, nguồn gốc, địa vị xã hội và họ hàng, anh em của Chúa Giêsu, họ càng đâm ra bực bội khó chịu, nên họ châm biếm gọi Ngài là thợ mộc. Họ lý luận một người như Chúa Giêsu làm thợ mộc làm sao có thể là ngôn sứ, là Đấng Mêsia được ư ?  Họ bị xúc phạm nghĩa là bị chạm tự ái. Nên, người đồng hương của Chúa không thể chấp nhận một người thợ mộc mà họ đã quá rõ nguồn gốc làm ngôn sứ, làm Đấng cứu tinh của họ dù rằng Chúa Giêsu có nói giỏi, lợi khẩu đến đâu đi nữa và làm nhiều phép lạ, họ nhất mực nghi ngờ Ngài…Dân quê Na-da-rét ngạc nhiên về Chúa, và Chúa cũng ngạc nhiên về họ. Chúa Giêsu ngạc nhiên về người đồng hương vì họ tự cao tự đại, kiêu căng, cố chấp. Do thái độ kiêu căng, cứng lòng của người đồng hương đã khiến Chúa Giêsu không thể làm phép lạ như bài Tin Mừng quả quyết:” Ngài không làm phép lạ nào được vì họ không tin “.

DÂN NA-DA-RÉT CHỈ BIẾT MÙ MỜ VỀ CHÚA GIÊSU:

Dân Na-da-rét tưởng rằng biết rõ về Chúa, nhưng quả thực họ biết Chúa cách rất hời hợt, thiển cận, mù mờ, chẳng hạn nơi sinh của Chúa họ cũng không biết. Họ cứ tưởng Chúa sinh ra và lớn lên tại cái làng nhỏ bé Na-da-rét nghèo nàn. Họ có ngờ đâu Chúa đã chọn Bêlem để sinh ra và Chúa đã nhập thể trong cung lòng trinh khiết của Đức Trinh Nữ Maria vv…Người đồng hương của Chúa biết rất mơ hồ về Chúa, họ không hề biết Ngài là Đấng Thiên sai, là Đấng Mêsia, là Đấng cứu tinh được Thiên Chúa Cha sai tới.” Thiên Chúa đã yêu thương trần gian đến nỗi đã sai Con Một của Người là Đức Giêsu Kitô, sinh bởi một người nữ…”.Dân làng Na-da-rét đã không hiểu gì về Con Một Thiên Chúa. Họ quan niệm ngôn sứ, là Đấng Mêsia phải  là những con người siêu việt khác thường chẳng hạn như Môisê với 40 năm lữ hành sa mạc, Giona với sự thiêu hủy thành Sođoma…Những con người ấy đã khắc ghi nơi tâm hồn họ hình ảnh của những con người siêu việt…

NGÀY NAY CHÚA VẪN NGẠC NHIÊN:

Xưa Chúa Giêsu đã rất đỗi ngạc nhiên về thái độ cứng tin của người Do Thái đồng hương. Ngày nay, Chúa còn ngạc nhiên hơn nữa vì có biết bao Kitô hữu đã cứng lòng tin bởi vì người tín hữu hôm nay phải biết rõ về Chúa hơn những người Do Thái xưa:” người tín hữu hôm nay được học Kinh Thánh, học Giáo lý, nghe giảng dạy, nghe những lời giáo huấn của Hội Thánh”. Tuy nhiên, ngày nay lại có biết bao Kitô hữu vẫn cố tình cứng lòng không tin Chúa Giêsu. Có nhiều người công giáo đi đạo vì gia đình là đạo dòng, vì truyền thống gia đình nhưng kỳ thực họ không hiểu giáo lý, không lắng nghe và không tuân giữ Lời Chúa.

ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ:

Chúng ta hãy tự vấn lương tâm xem chúng ta đã vững đức tin hay đức tin của chúng ta hãy còn non yếu. Chúng ta là những Kitô hữu đích thực hay chỉ mang nhãn hiệu là Kitô ? Chúng ta đã học hỏi Giáo lỹ kỹ càng, lắng nghe và tìm hiểu Kinh Thánh thấu suốt hay chỉ hời hợt bề ngoài ? Chúng ta đã sống thế nào để chứng tỏ chúng ta là Kitô hữu đích thật ?

 Lạy Chúa xin tăng thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn tin nhận Đức Giêsu Kitô là Con Một Thiên Chúa. Amen.

 Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi,  CSsR

-----------------------------

 

TN 14-B55: BỤT NHÀ KHÔNG THIÊNG. - Lm Giuse Ịinh lập Liễm


I. ĐỨC GIÊSU TRỞ VỀ NAZARETH.

 1. Cuộc viếng thăm mục vụ.

 

Đức Giêsu rời bỏ quê hương Nazareth đi rao giảng Tin mừng và chọn Capharnaum làm trung tâm truyền: TN 14-B55


Đức Giêsu rời bỏ quê hương Nazareth đi rao giảng Tin mừng và chọn Capharnaum làm trung tâm truyền giáo. Tại nơi đây và nhiều nơi khác, Đức Giêsu đã làm rất nhiều phép lạ như dẹp yên bão tố, chữa người bị qủi ám, chữa lành các chứng bệnh nan y, làm cho kẻ chết sống lại... Danh tiếng Ngài đã vang dội khắp nơi. Nhưng Ngài cũng không quên xứ sở của mình, Ngài cũng trở về thăm quê hương Nazareth. Đây là lần thứ hai Ngài trở về Nazareth (Lần thứ nhất: Lc 4,16-30).

 Ngài không có ý trở về quê quán với tính cách riêng tư cốt chỉ thăm lại ngôi nhà và những người thân cũ. Ngài trở về với các môn đệ của mình,  nghĩa là Ngài về quê với tư cách một rabbi. Các rabbi vẫn đi đây đó trong xứ với nhóm môn đệ nhỏ của mình. Với tư cách giảng sư Đức Giêsu đã trở về Nazareth với các môn đệ.

 2. Tại hội đường Nazareth.

Theo thông lệ, ngày sabbat dân làng đến hội đường nghe đọc Sách Thánh và hát Thánh vịnh từ 9 đến 12 giờ trưa. Đức Giêsu và các môn đệ cũng đến hội đường cầu nguyện với dân làng. Đọc Sách Luật và Thánh vịnh xong, ông trưởng hội đường mời một vị có thế giá và hiểu biết về Thánh Kinh lên giải nghĩa bài đọc. Đức Giêsu cũng được mời lên đăng đàn.  Vẻ uy nghi trang trọng của Ngài khác thường. Gương mặt của Ngài luôn tỏ ra nét dịu  hiền mến yêu, đầy thiện cảm. Giọng điệu tự nhiên của Ngài càng hấp dẫn dân chúng hơn, Ý tứ Ngài trình bầy đơn sơ trong sáng hợp với tâm trí mọi người. Ngài trình bầy một cách khôn ngoan và giọng nói như của Đấng có uy  quyền, làm cho họ ngạc nhiên, thì thầm với nhau:”Bởi đâu ông ta được như thế ? Sao ông ta khôn ngoan như vậy ? Ông ta làm được nhiều phép lạ như thế, nghĩa là gì”(Mc 6,2). Họ chẳng biết sự khôn ngoan và quyền phép của Đức Giêsu ở đâu ? Họ muốn tìm về nguồn gốc của Ngài.

 3. Phản ứng của dân làng Nazareth.

Trước những lời giảng dạy khôn ngoan và hấp dẫn, cùng với những phép lạ đã làm, Đức Giêsu đã làm cho dân làng Nazareth có nhiều phản ứng khác nhau, và chúng ta có thể gồm tóm những phản ứng ấy trong ba chữ:

          a) Tín nhiệm.

Từ Nazareth người ta đã nghe đồn thổi về Ngài rất nhiều, nghe đồn về những phép lạ Ngài đã làm khắp đó đây. Hôm nay, tại hội đường, họ đã trực tiếp được nghe Ngài giảng. Trước đây nghe lời đồn thổi họ đã ngạc nhiên, bây giờ họ càng ngạc nhiên hơn:”Mọi người làm chứng cho Ngài và họ thán phục về ân sủng xuất bởi miệng Ngài”(Lc 4,22).

Những điều trên đây cho ta thấy khi Đức Giêsu trở lại Nazareth, những cảm nghĩ của họ hầu hết là tín nhiệm Ngài.

 b) Hoài nghi.

Họ muốn tìm về nguồn gốc của Ngài. Mọi người đều biết mẹ ông là bà Maria, anh em họ hàng là Giacôbê, Giôsê, Giuđa và Simon. Tất cả bà con lối xóm đều coi ông như bạn bè từ gần 30 năm nay ở Nazareth này, một thôn ấp nhỏ bé có độ 150 gia đình nghèo nàn, tối tăm, mấy ai quan tâm đâu. Ông lại là anh thợ mộc, con nhà lao động, làm thuê làm mướn, đóng bàn sửa ghế, đóng giường tủ, đục đẽo cầy bừa, thành phần địa vị thấp kém trong xã hội. Có bao giờ ông ấy nói năng, làm được việc gì lạ đâu ? Ông bỏ quê nhà đi lang thang mấy tháng, nay trở về, sao thay đổi chóng thế ?

c) Thất bại.

Đáng lẽ những phép lạ Đức Giêsu đã làm ở những nơi khác cộng với sự rao giảng đầy thuyết phục của Ngài khiến cho dân làng Nazareth phải tin nhận Ngài, nhưng đàng này họ chỉ dựa vào nguồn gốc của Ngài, một nguồn gốc có vẻ tầm thường như họ thấy, nên họ nhìn sai lệch về con người của Ngài. Họ chỉ biết nhìn Ngài theo cái dáng vẻ bên ngoài đầy thành kiến, chẳng thấy được những điều sâu lắng bên trong, những cái tinh thần cao thượng, những mầu nhiệm thiêng liêng chân thật. Vì thế,”họ bị vấp phạm vì Ngài”(Mc 6,3). Còn Ngài, Ngài âm thầm kiên nhẫn, nhỏ nhẹ nói với họ bằng câu ngạn ngữ:”Không ai là tiên tri cho xứ sở mình” vì người ta thường nói:”Gần chùa gọi bụt bằng anh”.

 Trước sự cứng lòng tin kèm theo sự ghen tương với thành kiến cố hữu của họ, Đức Giêsu không làm phép lạ nào được, ngoại trừ đặt tay chữa lành vài bệnh nhân. Phép lạ đòi hỏi phải có lòng tin, mà phép lạ chỉ là phần thưởng cho lòng tin ấy. Sự cứng lòng của con người như thánh Matthêu nói rõ (Mt 13,58) làm tê liệt phần nào quyền làm phép lạ của Ngài.

 II. CĂN BỆNH THÀNH KIẾN.

Theo Đào duy Anh, Thành kiến là ý kiến cố chấp không thể lay động được. Khi đã có ý kiến tốt hay xấu về một người hay một vật gì thì khó lòng có thể thay đổi được. Thành kiến thay đổi sự thật của sự vật, không còn như nó có. Thành kiến đã bóp méo sự thật , giống như người đeo kính xanh thì vật gì cũng xanh, đeo kính đỏ thì vật gì cũng đỏ.

 Người ta có thể nhìn sự vật với ba thái độ, đó là yêu, ghét hay dửng dưng. Nhưng thường thì chúng ta ít khi có thái độ dửng dưng, trung lập, mà thường là nghiêng về một phía yêu hay ghét. Chính thái độ yêu hay ghét này làm cho ta nhìn sự vật khác nhau:”Yêu nên tốt, ghét nên xấu”. Khi yêu thì thì coi mọi cái đều đẹp đều tốt, khi ghét thì thấy mọi cái là xấu:”Yêu ai yêu cà đường đi, ghét ai ghét cả tông chi họ hàng”.

 Truyện: Thi sĩ R. Tagore.

R. Tagore là một thi sĩ nổi tiếng của Ấn độ và cả Đông phương nữa. Ông có khiếu làm thơ ngay lúc còn thơ ấu.

Một hôm, cậu bé Tagore làm một bài thơ và đưa lên cho cha xem. Ông thân sinh lắc đầu chê:

          - Thơ mày là thơ thẩn !

Tagore mới nghĩ ra một mưu: cậu đem bài thơ của mình mới làm, chép lại thật kỹ và chua xuất xứ là trích sao trong một cuốn thơ cổ. Cậu ta lại không quên đề tên cuốn thơ cổ ấy cẩn thận.

Lần này, ông thân sinh đọc xong, mắt sáng rực lên, vỗ đùi khen:”Tuyệt, tuyệt”. Rồi đem khoe tíu tít với đứa con trai lớn của ông, hiện đang làm chủ nhiệm một tờ báo văn học. Ông nói:

          - Ba đã đọc rất nhiều thơ cổ, nhưng chưa thấy bài nào hay như bài này.

Ông con trai chủ nhiệm đọc xong cũng hết mình đồng ý, xoa tay khen là hay đáo để, và muốn trích đăng lên  mặt tờ báo văn học của ông.

Bấy giờ ông anh cũng như ông thân sinh đòi Tagore phải đưa cuốn thơ cổ kia ra đối chiếu chứng minh và cũng để dễ bề chua xuất xứ trong khi đăng.

Đến đây câu truyện mới vỡ lở ra. Có ai ngờ trên đây là một cuộc dàn cảnh bịa đặt của thằng bé Tagore ! Ông thân sinh giận sôi máu lên, nhưng rồi cũng phải nhìn con với cặp mắt thán phục và hối hận cho thái độ mâu thuẫn của mình xưa nay.(Vũ minh Nghiễm, Sống sống, 1971, tr 333-335)

 Qua kinh nghiệm hằng ngày, chúng ta phải công nhận rằng Thành kiến là một căn bệnh phổ quát chung cho mọi người. Thành kiến là chứng bệnh di truyền kinh niên bất trị của loài nguời, không ai thoát khỏi. Chúng ta hằng to tiếng lên án cái lối sống phô trương bên ngoài. Nhưng trên thực tế, chúng ta lại hằng căn cứ vào những cái bề ngoài mà đánh giá thiên hạ.

 Cùng một câu văn, một lời nói, một việc làm, mà do người này thì có giá trị, do người kia thì vô duyên, do người này thì hay đáo để, do người kia thì dở ẹc ra. Người có danh tiếng thì lời nói việc làm nào cũng được coi như vàng ngọc. Người vô danh tiểu tốt thì lời có đẹp như trăng sao, việc có hay như thần thánh, cũng bị thành kiến dìm xuống đến tận bùn đen. Vì thế, Đức Giêsu đã nói:”Không tiên tri nào lại được trọng đãi nơi quê hương mình (Ga 4,44).

 Thành kiến làm cho bụt nhà không thiêng, thích những cái lạ; thích gì thì phóng đại tô mầu, ghét thì cũng thế. Nhiều khi lý luận một chiều sai lệch, cái vô lý ngớ ngẩn cũng cho là hay là đẹp, hoặc không hiểu gì cũng cho là hay. Sống hoàn toàn theo dư luận, theo cách của người đời, không dám vượt trên dư luận sai lạc, vượt trên những phán đoán thiên lệch. Ví dụ các bà tin theo thầy bói thì cái gì thầy nói ra cũng đúng, cũng hay, coi như lời sấm, như thánh phán:

Số cô không giầu thì nghèo,
Ba mươi Tết có thịt heo trong nhà.
Số cô có mẹ có cha,
Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông.
Số cô có vợ có chồng,
Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai.
 Các bà các cô sẽ phải thốt lên:”Thánh phán. Tuyệt !Tuyệt” !

 III. BỤT NHÀ KHÔNG THIÊNG.

 1. Đức Giêsu bị rẻ rúng nơi quê hương.

Dân làng Nazareth không thể chấp nhận một người mà họ đã quen biết: thân thế tầm thường, gia đình nghèo nàn, họ hàng chẳng có danh giá gì. Biết rõ như thế thì làm sao người đó có thể là vị Cứu tinh, là Đấng Cứu thế, là Đấng giải thoát cho dân tộc mình được ? Quả thực, họ đã bị thành kiến về giầu nghèo, về giai cấp trong xã hội làm mù quáng, không thể nhận ra bản tính Thiên Chúa, nhận ra sứ mạng cứu chuộc nơi con người Đức Giêsu. Từ thành kiến sai lầm đó họ đâm ra hoài nghi và yêu cầu Ngài làm phép lạ như đã làm những nơi khác.

 Trước sự cứng lòng và khinh thường của dân Nazareth, Đức Giêsu chẳng biết làm gì hơn ngoài việc đưa ra nhận xét chua cay:”Tiên tri có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quêâ hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi”(Mc 6,4). Dân làng Nazareth không tin Chúa thì cũng vì họ đóng khung Thiên Chúa và tôn giáo vào trong những định kiến hẹp hòi có sẵn của họ. Đấng Cứu thế phải hiện nguyên hình như định kiến của họ, nghĩa là Đấng Cứu thế phải có đầy quyền lực theo nghĩa thế gian, họ không thể tin nhận được một Đấng Cứu thế như một con người đơn sơ khiêm hạ như họ thấy được.

 2. Các tiên tri cũng bị khinh dể.

Trong Tin mừng thánh Luca, Đức Giêsu nhắc đến hai vị tiên tri đã không làm phép lạ ở quê nhà được mà lại làm phép lạ ở dân ngoại:”Và Ta bảo thật các ngươi: có nhiều bà goá tại Israel thời tiên tri Êlia, khi trời khoá lại ba năm sáu tháng, và xẩy ra nạn đói lớn trong toàn xứ, song ÊÙlia không được sai đến với một bà nào trong họ, mà lại đến với bà góa tại Sorepta thuộc hạt Sidon. Cũng có nhiều người phong hủi đời tiên tri Êlisê, song không người nào trong họ được lành sạch cả, trừ phi là Naaman người Syri”(Lc 4, 26-27). Tiên tri Êlisê đã làm nhiều sự lạ ở Guilgal mà không làm được ở quê nhà (2V 4,1-29t). Sự thật và thường tình, tiên tri không được tôn trọng nơi quê nhà.

 3. Những tài năng bị coi thường.

Nhiều người có tài năng cao vời bị coi thường trước khi được chấp nhận. Chúng ta có thể đưa ra mấy trường hợp để làm chứng:

          - Giám mục Fulton Sheen, một nhà thuyết giáo vĩ đại, đã từng bị giáo sư môn biện luận trường đại học chê:”Anh đúng là diễn giả tồi nhất mà tôi từng gặp”.

          - Ernest Hamingway, một tiểu thuyết gia cự phách, đã từng bị các thầy giáo chê:”Hãy quên việc viết lách đi ! Anh không đủ tài để làm việc đó đâu”.

          - Richard Hooker, tác giả quyển sách nhan đề “Mash”, đã từng thấy quyển sách của ông bị đến 6 nhà xuất bản từ chối in để rồi cuối cùng quyển ấy đã trở thành một trong những quyển sách bán chạy nhất.

 Thành kiến đã làm cho dân làng Nazareth phán đoán sai về Đức Giêsu. Họ đã không nhận ra Ngài là Đấng Cứu thế. Đối với chúng ta cũng vậy, thành kiến có thể làm cho chúng ta mù quáng, không nhận định và phê phán một cách khách quan đúng đắn được. Thành kiến làm cho chúng ta không thể đối thoại , cởi mở với người khác và không nhìn thấy cái hay cái tốt nơi người khác. Mc Kenzie nói:”Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng kính, còn người ghen tị thì nhìn bằng kính hiển vi”.

 4. Số phận người rao giảng Tin mừng.

Cho dù Thiên Chúa là Đấng toàn năng, Ngài có thể làm được mọi sự, nhưng Ngài phải bó tay trước sự cứng lòng của con người. Ngài đã trở nên bất lực trước những kẻ thiếu niềm tin. Và quả thật, “Ngài đã không làm được phép lạ nào”tại quê hương mình. Thế mới biết con người có khả năng  ngăn cản Thiên Chúa, con người có toàn quyền từ chối quà tặng của Thiên Chúa.

 Trên con đường truyền giáo, Đức Giêsu vẫn đem các môn đệ đi theo để huấn luyện các ông. Trong việc huấn luyện cũng cần thấy sự thất bại, chứ không phải chỉ nhìn thấy thành công. Sau này trên đường truyền giáo, sự thất bại không làm cho các ông nản lòng.

Các người rao giảng Tin mừng hãy bắt chước Đức Giêsu mà đón nhận thái độ “Bụt nhà không thiêng” của những người được rao giảng. Họ có thể nghi kỵ, không ưa, hoặc chống đối chúng ta đi nữa, thì hãy vững tâm vì “chân lý sẽ thắng”. Ban đầu có thể gặp thất bại nhưng với thời gian người ta sẽ nhìn ra chân lý. Đức Giêsu đã thất bại khi còn sống nhưng đã thành công vẻ vang sau khi sống lại. Người Tông đồ cũng phải đi theo con đường ấy: phải kiên nhẫn chịu đựng, nhưng phải chịu đựng trong vui tươi vớiø tình thương mến.

 Truyện: Chú chồn Pepe LePew.

Cách đây nhiều năm, các rạp chiếu bóng thường chiếu phim hoạt hoạ. Có một bộ phim được nhiều người ưa thích tên là Looney Tunes. Một vai được nhiều người hâm mộ trong phim là chú chồn lãng mạn tên là Pepe LePew. Pepe luôn luôn yêu mến mọi người nhưng vì chú có mùi hôi, nên mọi người đều từ chối tình thương của chú. Nhưng Pepe không nản lòng. Chú vẫn tiếp tục yêu thương dù có bị từ chối nhiều lần. Pepe không bao giờ từ chối yêu thương bất cứ một ai. Đó chính là lý do tại sao  rất nhiều người coi phim này càng quí mến Pepe.(M. Link, Giảng lễ Chúa nhật năm B, tr 264).

 Chúng ta thấy Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta về tình yêu thương. Ngài không khước từ ai bao giờ. Ngài vẫn tiếp tục yêu thương dù biết bao lần Ngài đã bị từ chối. Chú chồn Pepe trong phim quả rất giống Chúa Giêsu. Đây là bài học cho chúng ta rút ra được từ các bài đọc hôm nay. Chúng ta phải bắt chước cách xử sự của Đức Giêsu, chúng ta có thể bắt chước chú chồn Pepe mà yêu thương mọi người dù có bị chối từ bao nhiêu lần đi nữa. Tóm lại, các bài đọc hôm nay dạy chúng ta hai điều: Trước hết, chúng có thể tin chắc rằng chúng ta sẽ nhiều lần bị người khác khước từ phản đối giống như Đức Giêsu đã từng bị trong đời Ngài. Tuy nhiên, chúng ta cứ tiếp tục yêu thương giống như Đức Giêsu. Dù bị khước từ Ngài vẫn không ngừng ban phát tình yêu của Ngài cho nhân loại.

Lm Giuse Đinh lập Liễm

-----------------------------

 

TN 14-B56: NGÔN SỨ CỦA CHÚA - Lm. An Phong, OP


Mc 6, 1-6

 

Lời Chúa hôm nay nói về thái độ của những người Nagiarét, những người đồng hương với Đức: TN 14-B56


Lời Chúa hôm nay nói về thái độ của những người Nagiarét, những người đồng hương với Ðức Giêsu nhưng lại từ chối Tin mừng cứu độ của Ngài. Ðó là thái độ thường xảy ra, vì "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình".

Tuy nhiên, lời ngôn sứ Êdêkien, trong bài đọc 1, cũng cho thấy rằng, dù dân có phản loạn hay "lòng chai như đá", thì Thiên Chúa vẫn tiếp tục sai các Ngôn sứ đến nói lời của Ngài.

| Ngôn sứ là những người nói Lời của Thiên Chúa cho con người. Nhưng suy nghĩ của con người lại thường khác xa hay ngược lại với tư tưởng của Thiên Chúa.

Người Nagiarét có những lý do của họ để từ chối Ðức Giêsu. Bao nhiêu người khác ngày nay cũng vậy, họ từ chối Thượng Ðế, từ chối sống quảng đại và yêu thương với người khác… Lạ một điều là người ta luôn tìm được những lý do ra vẻ chính đáng để bào chữa cho thái độ của mình. Có khi đó là sự lầm lạc, có khi đó là sự tự mãn, có khi là một thái độ bào chữa cho chính mình để khỏi phải thay đổi lối sống… Dù sao, bài học cho chúng ta là: tư tưởng của Thiên Chúa thì cao hơn tư tưởng của con người, nếu chúng ta sẵn lòng chấp nhận sự thật, khiêm tốn nhìn nhận lời chỉ giáo… chúng ta sẽ có nhiều cơ may hơn để nhận ra Thiên Chúa trong cuộc đời mình.

Các Ngôn sứ luôn là người đứng ở giữa, trong thế giằng co giữa sứ mệnh Chúa trao phó và phản ứng của con người. Là Ngôn sứ, nghĩa là chấp nhận cuộc đấu tranh gay gắt, chấp nhận bị từ chối và chấp nhận thân phận "bì xé". Chúa Giêsu, vị Ngôn sứ Cao cả, đã chịu chính những người đồng hương của mình từ chối; đó cũng là "số mệnh" của các ngôn sứ đích thực.

Mỗi người kitô hữu, khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, đều được lãnh nhận đồng thời ba chức vụ: Ngôn sứ, Tư tế cộng đồng, và Hoàng vương. Do đó, người kitô hữu nào cũng có trách nhiệm loan báo Tin mừng cứu độ của Chúa Giêsu, và đều được "báo trước" những khó khăn của sứ vụ. Dù vậy, ta vẫn thấy không thiếu những kitô hữu đã can đảm sống tình yêu trong lòng một xã hội có quá nhiều ganh ghét; sống chân thật trong lòng một xã hội đầy dối trá; sống đức Tin giữa lòng một thế giới trần tục hóa.

Quả thực, sức mạnh của Thánh Thần vẫn có và vẫn tác động trong lòng Giáo hội.

Lạy Chúa,
Xin cho con luôn sống trong sự hiện diện của Chúa.
Chúa luôn luôn đi bên con,
trong những hành trình thường ngày của con;
Như bà mẹ già vẫn luôn dõi theo bước của đứa con,
bằng tình yêu thật đậm đà gắn bó.
Xin Chúa giúp con làm việc dưới sự hiện diện của Chúa,
Vui sống trong sự hiện diện của Chúa,
An nghỉ bên sự hiện diện của Chúa. (Michel Quoist )

Lm. An Phong, OP

-----------------------------

 

TN 14-B57: TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG - Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP


Mc 6, 1-6

 

Hãy thử đặt mình vào tâm trạng của những người sống cùng thời với Đức Giê-su, cùng sống tại: TN 14-B57


Hãy thử đặt mình vào tâm trạng của những người sống cùng thời với Ðức Giê-su, cùng sống tại một làng quê và là bà con với Ðức Giê-su.

Từ thời niên thiếu, chúng tôi đã biết rõ về Người: chúng tôi cùng thuộc về một cộng đoàn, một "hệ thống xã hội". Chúng tôi cùng có một nền đạo đức, cùng có chung những giá trị: hội đường, ngày sa-bát. Chúng tôi sống với Người rất thân tình. Ðã có những cuộc gặp gỡ tại nhà cô Ma-ri-a, tại nhà ông Giu-đa, ông Si-mon và những người khác. Chúng tôi là những người bà con, những người quen biết nhau cùng sống trong ngôi làng nhỏ bé. Ðức Giê-su đã gây được ấn tượng tốt: dân làng nghĩ rằng Ðức Giê-su là người kín đáo, hay giúp đỡ, siêng năng, "khôn ngoan" ... Nói chung, người ta có thể tin cậy được.

Bỗng nhiên, sau ba mươi năm bình lặng, yên ổn, có một điều gì đó rất lạ lùng. Không còn là anh bạn Giê-su quen thuộc "của chúng tôi nữa". Lời anh nói, việc anh làm, chúng tôi không hiểu nỗi. Một điều gì đó đã xảy ra, và chúng tôi phải thay đổi cách nhìn về anh, về sự việc.

Ðối với chúng tôi, thật là khó để nhận ra người bà con, người bạn này, người đã từng sống với chúng tôi trong suốt quãng thời gian dài. Lời anh nói, việc anh làm làm xáo trộn cuộc đời, cách suy nghĩ của chúng tôi. Khó quá !

Cũng thật là khó khi phải nghĩ rằng nhờ con người đơn giản, bình thường và thân quen này, Thiên Chúa lại có thể nói với chúng tôi một điều gì đó. Anh làm chúng tôi sững sờ: điều anh loan báo về Nước Thiên Chúa, về Ðấng Mê-si-a hoàn toàn khác hẳn quan niệm xưa nay của chúng tôi. Anh quả là người gây khó khăn cho chúng tôi và chúng tôi không chấp nhận nổi.

Theo Tin Mừng, Ðức Giê-su "lấy làm lạ vì họ không chịu tin". Rồi Người "đi khắp các làng chung quanh mà giảng dạy".

Tại những nơi xa lạ, chẳng ai rõ về nguồn gốc của Người, nhờ đó, lời Người nói có thể được dân chúng đón nhận. Các cư dân ở những miền này chẳng thắc mắc gì về nguồn gốc, về thói quen, về nghề nghiệp của Ðức Giê-su ; họ dễ dàng đón nhận lời Người nói và tin vào Người.

Về phần mình, Ðức Giê-su đi hết chỗ này đến chỗ kia: lời của Người không còn bị đóng khung trong Hội đường hay trong vòng bà con thân thuộc, nhưng vang xa hơn. Lời ấy đến với một người nghèo, một người bệnh và họ được giải thoát. Lời của Người không chỉ là những từ ngữ, nhưng còn là hành động cứu người nghe khỏi tình trạng khốn khổ. Họ tín nhiệm vào Người, họ "tin" vào Người. Họ nhận ra lời Người thật "sống động" và họ hiểu rõ: đó là lời Thiên Chúa. Họ nhận ra tính cách thần linh ẩn giấu nơi một con người bình thường

Chuyến đi không thành công

"Hành hương về nguồn", tìm về nguồn cội là một trong những đề tài quen thuộc trong xã hội hiện tại. Thất bại của Ðức Giê-su tại chính quê hương của mình cho thấy những giới hạn của một cuộc ra đi như thế. Ki-tô hữu là người cắm rễ trong lịch sử, nhưng tự bản chất vẫn là người của tương lai, của điều sẽ đến.

Ðức Giê-su bị giam hãm

Theo cái nhìn bình thường, việc Ðức Giê-su xuất hiện trong hội đường của quê hương sẽ là điều kiện thuận lợi để lời giảng của Người có thể tác động đến các thính giả.

Thế nhưng, những người đồng hương với Ðức Giê-su lại muốn xác định, đánh giá "người con của quê hương", thay vì để cho những lời giảng thúc đẩy. Dù những lời Người nói rất chân tình và sống động, nhưng hình như chúng vẫn đủ làm họ quên đi những ấn tượng về nguồn gốc và quá khứ của Người.

Do đó, Ðức Giê-su không thể giảng dạy cho họ điều gì cả. Họ bị giam hãm trong những thói quen và xác tín của mình, nên cũng đóng khung Ðức Giê-su vào trong tình trạng "anh thợ mộc, con của ...". Ðối với các thính giả của Ðức Giê-su, xưa nay Người đã xuất hiện bên họ với tình trạng như thế, thì giờ đây Người cũng chỉ thế thôi. Người không thể nào khác đi được, Người không phải là vị ngôn sứ. Vì vậy, họ thẳng thừng chối bỏ những lời giảng của Ðức Giê-su mà họ cho là không thể lọt tai.

Ðức Giê-su bị ngăn cản

"Người đã không làm được phép lạ nào."

Ðó là chuyện hợp lý, chuyện bình thường sau những sự kiện mới xảy ra. Hoạt động của Thiên Chúa không bức bách con người. Phép lạ, đó là trao ban sự sống, sự sống mới, là làm cho phục sinh. Thiên Chúa không thể làm phép lạ khi con người không muốn. Thiên Chúa không thể bày tỏ uy quyền của Người trước những kẻ có thái độ lãnh đạm đối với lời Thiên Chúa.

Do lòng yêu thương và tôn trọng, Thiên Chúa để con người tự do lựa chọn. Con người phải bày tỏ thái độ là mở ra trong đức tin. Thiếu đức tin của con người, Thiên Chúa không thể làm gì được, và điều đó có thể làm Thiên Chúa ngạc nhiên.

Như thế cuộc trở về Na-da-rét của Ðức Giê-su là một thảm kịch biểu hiện cho thảm kịch của toàn bộ Tin Mừng. Sự từ chối của dân làng Na-da-rét báo trước sự từ chối của nhân loại trước mầu nhiệm Thiên Chúa, trước tình yêu của Ðấng muốn trao tặng tất cả. Thái độ này cũng đã hé mở số phận của Ðức Giê-su, tức là mầu nhiệm thập giá.

Nỗi kinh ngạc của Ðức Giê-su trước thái độ quyết liệt của những người đồng hương cũng là nỗi kinh ngạc của một vị Thiên Chúa mang đến tất cả và bị từ chối tất cả. Ðó cũng là nỗi kinh ngạc của các sứ giả Tin Mừng, khi lời nói và hành động của họ không chiều theo sở thích của con người thời đại.

Thiên Chúa luôn có những đường lối bất ngờ và con người phải chọn lựa, phải đáp lại bằng đức tin. Khi con người muốn đóng khung Thiên Chúa vào những thành kiến hẹp hòi của mình, thì cũng là lúc họ đóng lại con đường ân sủng.

Phải biết hy vọng

Từ trình thuật Tin Mừng hôm nay, chúng ta có thể rút ra hai bài học.

Trước hết, cách đơn giản nhất để làm cho người khác bị tê liệt, không hoạt động gì được là không tin vào họ, là giam giữ họ trong những ý tưởng tiên thiên, những phạm trù có sẵn nơi mình. Biết bao năng lực bị bỏ quên, biết bao tài năng bị dở dang, biết bao niềm hạnh phúc phải tắt ngúm vì những phán đoán, những định kiến về những người mà ta tưởng rằng biết rất rõ. Trong cái nhìn của chúng ta về người khác, phải biết hy vọng.

Sau nữa, Thiên Chúa gọi chúng ta, ngỏ lời với chúng ta, không phải qua những con người có dáng vẻ siêu đẳng, nhưng qua những con người rất bình thường. Thiên Chúa vẫn thường bày tỏ những chân lý siêu việt qua những phương tiện đơn sơ, tầm thường. Chính Thiên Chúa vẫn hiện diện nơi những con người yếu đuối, mỏng manh. Họ là những sứ giả của Thiên Chúa và chúng ta phải nhận ra sự hiện diện kỳ diệu của Người. Họ có thể là người khách trọ hay người bà con,  họ có thể là một người bệnh, một người xa lạ, hay là một người thân ; họ có thể là một người bạn thân thiết hay có khi là một người chống lại chúng ta ... Con đường ân sủng vẫn mở rộng nếu chúng ta luôn giữ trong lòng niềm hy vọng sống động.

Quả thật, để tự bày tỏ chính mình, Thiên Chúa cần đến con người.

"Thiên Chúa đi những bước trước, nhưng Người đợi chúng ta đáp trả. Người gõ cửa, nhưng Người chỉ bước vào khi chúng ta lên tiếng mời. Người kêu gọi, nhưng chỉ ban ơn khi chúng ta thực sự ước muốn. Chính vì vậy, Ðức Giê-su chỉ bày tỏ công trình cứu độ của Người cho những ai đón nhận Người trong lòng tin.

"Ðức tin chính là thái độ cởi mở của tâm hổn mà Thiên Chúa chờ đợi để biết chắc rằng những kẻ tìm kiếm Thiên Chúa chỉ kiếm tìm Người vì một mình Người, và được thúc đẩy do lòng mến."

Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP

-----------------------------

 

TN 14-B58: KINH NGHIỆM CỦA TIÊN TRI


Gm.Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Ed 2,2-5; 2Cr 12,7-10; Mc 6,1-6

Phúc Âm: Mc 6, 1-6

"Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương".

Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê nhà và các môn đệ cùng theo Người. Ðến ngày Sabbat, Người vào giảng trong hội đường, và nhiều thính giả sửng sốt về giáo lý của Người, nên nói rằng: "Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?" Và họ vấp phạm vì Người.

Chúa Giêsu liền bảo họ: "Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình". Ở đó Người không làm phép lạ nào được, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân, và Người ngạc nhiên vì họ cứng lòng tin. Người đi rảo qua các làng chung quanh mà giảng dạy.

 Suy NiỆm:

 

Chúa nhật trước các bài Kinh Thánh đã nói với chúng ta về đức tin. Hôm nay Lời Chúa nhắc lại những: TN 14-B58


Chúa nhật trước các bài Kinh Thánh đã nói với chúng ta về đức tin. Hôm nay Lời Chúa nhắc lại những kinh nghiệm trong cuộc đời của dân Israel, của Ðức Yêsu và của thánh Phaolô để khuyến khích đức tin của chúng ta trong những hoàn cảnh đặc biệt. Ước gì chúng ta hiểu những lời Kinh Thánh vừa nghe đọc. Và cho được như vậy chúng ta cần tìm hiểu thêm.

 1. Kinh Nghiệm Của Israel

Bài sách Ezekiel đưa chúng ta trở về đợt lưu đày đầu tiên của dân Israel, vào khoảng năm 597 trước Ðức Yêsu ra đời. Nhà tiên tri ở trong đám dân khổ sở đó. Bị đày xa quê hương và đền thờ ông cũng như mọi người tưởng rằng như vậy là hết rồi. Giao ước giữa Chúa và dân không còn nữa. Họ đã bất tín đến nỗi Người phải trừng trị. Hoàn cảnh lưu đày này làm chứng Người đã bỏ dân.

Ðang khi họ suy nghĩ như vậy thì này đột nhiên Ezekiel được một thị kiến ngay nơi đất khách. Sự kiện làm ông bàng hoàng tự nghĩ: làm sao Thiên Chúa có thể hiện ra với ông nơi dân ngoại? Yavê có quyền cả ở địa phương này sao? Và hơn nữa Người chưa hoàn toàn bỏ dân ư?

Rồi không những có thị kiến, mà còn có tiếng nói. Lời Chúa nói với Ezekiel và sai ông đi đến với dân phản loạn. Rõ ràng Thiên Chúa không bỏ kẻ có tội. Người ta bất tín, nhưng Người vẫn tín thành.

Người sai Ezekiel đến với họ như đã sai Môsê đến với Pharaon: vì Israel lúc này cũng lòng chai đá, mặt trơ tráo như vua Aicập ngày trước (Xh 7,13). Và như vậy, đoạn Kinh Thánh hôm nay ám chỉ Chúa đã bắt đầu nghĩ đến truyện cứu dân lưu đày. Và cuộc giải cứu này một cách nào đó sẽ lập lại cuộc giải phóng khỏi Aicập mà Israel vẫn nhớ lại với lòng khâm phục cảm mến.

Do đó Ezekiel cũng phần nào đó giống như Môsê. Ông được đặt làm tiên tri đến với dân nhân danh Chúa. Ông sẽ nói với những người đang làm tôi mọi dân ngoại rằng: đừng quên Chúa: Người phán như thế này; Người sẽ ra tay uy hùng cứu kẻ tin vào Người.

Dĩ nhiên bắt đầu người ta sẽ không tin lời cứu độ đâu, cũng như xưa Pharaô từ chối lời của Môsê. Nhưng Chúa sẽ ở với Ezekiel như đã ở với Môsê. Ezekiel sẽ là khí cụ để Chúa biểu dương quyền lực của Người trước mặt dân ngoại. Ông sẽ không làm những việc lạ kỳ như Môsê ở trước nhan Pharaô, vì đối với dân ngoại cần có những dấu hiệu đó để họ nhận biết quyền năng của Chúa. Nhưng còn đối với Israel, dân đã từng thấy những việc kỳ diệu, không cần phép lạ nữa và những phép lạ này cũng không đủ nữa. Ðối với những kẻ đã "thấy", bây giờ phải làm cho họ "biết" và "hiểu". Và vì thế Ezekiel phải mạnh về "Lời", về mạc khải, nói với lòng dân thay vì với mắt họ trước đây, để Israel sẽ thay lòng đổi dạ hầu có một trái tim thịt máu thay vì trái tim chai đá hiện nay.

Do đó Chúa không đặt Ezekiel làm người lãnh đạo dân như Môsê, nhưng làm tiên tri. Và như vậy không phải chính trị sẽ hướng dẫn, nhưng là Lời Chúa sẽ đưa dân đến giải thoát cứu độ. Dân sẽ không thấy có thẩm phán, vua quan hay lãnh tụ ở với mình thay quyền Chúa như trước nữa, nhưng sẽ có tiên tri của Người ở giữa dân và giúp dân đi theo đường lối của Chúa. Sự hiện diện của nhà tiên tri nói lên sự hiện diện của Chúa thay thế cho sự hiện diện của Người nơi đất Thánh và chốn đền thờ, thay thế cho sự có mặt của hoàng đế và tư tế, từng lãnh đạo dân trong nhiều thế kỷ trước đây.

Bài sách Ezekiel, vì thế, mở ra trước mắt dân lưu đày một viễn tượng hoàn toàn mới mẻ. Họ có thể thấy Chúa chưa bỏ họ trong cảnh lầm than. Người đang đi trước họ, giới thiệu con đường cứu độ mới. Từ nay Người sẽ dùng tiên tri và dùng Lời của Người để dạy dỗ và hướng dẫn dân, để ai tin thì sẽ được cứu độ.

Chúng ta không được an ủi sau khi hiểu bài sách Ezekiel như thế. Ðền thờ và hàng tư tế vẫn quý và cần thiết cho đời sống đạo. Nhưng có những lúc Chúa muốn hướng dẫn chúng ta nguyên bằng Lời của Người, tức là bằng sách thánh, và bằng những tiên tri biết đem lời của Chúa trình bày cho anh em. Chúng luôn muốn kêu gọi những tiên tri như vậy. Ai đáp lời không những sẽ như Ezekiel mà còn giống như Ðức Yêsu nữa, vì chính Người mới là vị tiên tri tuyệt diệu của Thiên Chúa mà Ezekiel và mọi tiên tri khác chỉ như bóng sánh với hình. Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta cơ hội chiêm ngưỡng vị tiên tri tuyệt diệu ấy.

 2. Kinh Nghiệm Của Ðức Yêsu

Cho đến nay người ta vẫn không ngớt thắc mắc về đoạn sách Marcô này. Nó đâu có làm vẻ vang gì cho Ðức Yêsu mà tác giả sách thánh đã viết ra? Và như vậy có lợi gì đâu mà phụng vụ ngày nay còn đem nó ra đọc trong thánh lễ? Nó cho chúng ta thấy một Ðức Yêsu bị thất bại và bất lực ngay nơi các người đồng hương bà con của Người. Nó liệt Người vào thân phận của mọi tiên tri chẳng bao giờ được quý trọng nơi quê quán, nếu không muốn nói rằng Người còn thua kém họ nữa, vì chắc chắn đã có nhiều vị tiên tri tuy không được kính trọng nhưng cũng không đến nỗi bị chống đối, phủ nhận nơi bà con của mình.

Marcô hôm nay cho chúng ta thấy vị tiên tri thành Nadarét bất lực quá: chẳng làm được phép lạ nào trước sự cứng lòng tin của họ hàng thân thuộc. Người còn là vị tiên tri không tự chủ ngay nơi bản thân Người nữa. Vì khi thì như Người thừa hiểu hoàn cảnh; lúc lại như thể Người ngạc nhiên về thái độ của người ta. Hay là Marcô đã dùng những từ ngữ không chỉnh và mâu thuẫn? Trong một câu ông khẳng định cả việc Ðức Yêsu không làm được phép lạ nào, cả việc Người chữa lành một số ít người đau ốm. Những việc chữa lành này không phải là phép lạ sao?

Nhận thấy những lời văn khó hiểu, và nhất là thấy ý tưởng chung bất lợi cho Ðức Yêsu quá, nhiều người thắc mắc không hiểu tạo sao có đoạn văn này trong sách Marcô. Và người ta đưa ra không biết bao nhiêu lý lẽ và giả thiết. Nhưng mọi cố gắng làm suy yếu đoạn văn này đều vấp phải một sự hiển nhiên: đoạn văn nằm đó trong sách của Marcô với những lời lẽ mà chẳng ai có thể tẩy xóa hay sửa chữa được nữa. Và bổn phận của chúng ta bây giờ là phải chấp nhận và tìm hiểu nó.

Nhìn vào vị trí của đoạn văn trong sách của Marcô, chúng ta thấy đã đến lúc Ðức Kitô sắp bỏ Galilêa để xuống thi hành sứ vụ ở Yuđêa. Và như vậy cũng là lúc để có một cái nhìn tổng quát về sứ vụ ở Galilêa, nếu không muốn nói rằng tác giả Marcô đã muốn lợi dụng lúc này để cho chúng ta một cái nhìn chung về những năm giảng đạo của Ðức Kitô. Có thể Marcô cũng muốn tựa vào kinh nghiệm của vị tiên tri thành Nadarét để nói về thân phận của Hội Thánh nói chung và của từng tông đồ nói riêng. Dù sao, đây cũng là một cái nhìn tổng quát về đời hoạt động của một tiên tri.

Thế nên tác giả Marcô có thể lấy lại một cái nhìn cổ điển của Cựu Ước: mọi tiên tri trong các thời đại trước đều đã không được số phận may mắn. Ezekiel chẳng hạn. Hôm nay sách thánh viết rõ ông đã được sai đến với dân phản loạn mặt trơ tráo và lòng chai đá. Nhưng người ta vẫn phải biết ông là tiên tri. Ðức Yêsu cũng là tiên tri và hơn mọi tiên tri nữa. Ở nơi Người các nét tả chính yếu về bậc tiên tri phải nổi hơn, nổi nhất. Người phải đối diện với một dân lòng chai dạ đá. Hơn nữa, họ phải phản đối kình địch với Người hơn mọi tiên tri khác. Sự cay đắng chua xót của Người phải nhiều hơn. Người gặp thấy nó ngay trong hàng bà con thân thích để Yoan có thể viết rằng: Người đã đến nhà của Người, nhưng gia nhân Người đã không chấp nhận Người. Ðó là điều Cựu Ước thường viết về Yavê Thiên Chúa: Người ra tay làm bao việc lạ cho dân mà dân vẫn tỏ lòng chai đá bội bạc.

Nhưng nơi nhà tiên tri không phải chỉ có thất bại. Ðúng hơn nữa, sự chống đối ông gặp phải nói lên tội lỗi của người ta chứ không tố cáo sự bất lực của ông. Nơi ông vẫn có "dấu tay uy quyền của Chúa". Chính vì vậy mà Ðức Yêsu vẫn chữa lành được cho một số ít bệnh nhân khi họ có điều kiện mà đa số không có. Họ có lòng tin đang khi những người khác cứng lòng tin. Nói theo loài người, Ðức Kitô có thể ngạc nhiên về thái độ của đa số: thấy giáo lý khác thường và các phép lạ Người làm mà họ không mềm lòng ra. Nhưng với cái nhìn của Thiên Chúa hay của đức tin, thì điều này cũng không lạ, bởi vì cả lịch sử thánh cho thấy loài người luôn luôn cưỡng lại tình thương của Thiên Chúa. Trừ một số ít. Số ít này là những kẻ được cứu vớt. Họ sẽ làm thành đàn chiên nhỏ. Họ sẽ thừa tự Nước Trời vì họ tin rằng: có nhà tiên tri của Chúa ở giữa họ, mặc dù bề ngoài có nhiều điều cản trở niềm tin này.

Do đó bài Tin Mừng hôm nay là cả một bài học quý giá cho chúng ta. Không nên căn cứ vào câu "chẳng tiên tri nào được kính trọng tại quê nhà" để bao biện cho các khuyết điểm và thất bại trong đời sống tông đồ. Tin Mừng của Chúa không bao giờ muốn an ủi kiểu như vậy. Luôn luôn nó muốn chất vấn lương tâm người ta thường có thái độ nào đối với một Ðấng Thiên Chúa và một Ðức Kitô Người sai đến như vậy? Người ta có sẵn sàng tin sứ điệp tình yêu và cứu độ mà Thiên Chúa gửi đến nơi Lời Kinh Thánh, nơi vị tiên tri, nơi Hội Thánh của Người không? Hay người ta luôn luôn là những người Dothái ở thời Ezekiel và ở thời Ðức Kitô, chỉ muốn tin vào sứ điệp và sứ giả nào hứa hẹn những lợi ích trước mắt? Thiết tưởng bài thư Phaolô cũng phải được hiểu theo chiều hướng này.

 3. Kinh Nghiệm Của Phaolô

Người đang nói với giáo dân Côrintô yêu quý của người. Họ đã được nhiều tông đồ có óc Dothái đến viếng thăm. Những người này gièm pha Phaolô đủ điều, cốt để người Côrintô đừng tin vào giáo lý cứu độ của Phaolô nữa. Nhưng nếu bỏ niềm tin này, thì làm sao được cứu độ? Phaolô phải can thiệp ngay. Người gửi thư không phải để chữa mình hay để lấy lại uy tín. Người quá tâm lý để biết rằng làm như vậy sẽ chỉ thêm thất bại. Nhất là lòng đạo đức và tinh thần tông đồ đã giết chết khuynh hướng tự tôn ở nơi người từ lâu rồi. Người viết thư hôm nay là để thi hành sứ vụ tiên tri, rao giảng ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Người không khoe khoang, mặc dù người có rất nhiều điều hay để nói về mình. Không những gia thế, học lực và những nét Dothái cao quý ở nơi người; mà cả những thành quả, lao công trong cuộc đời tông đồ; thậm chí những thị kiến và mạc khải cao siêu nữa... Tất cả đều không được người để ý và gán cho một chút vinh quang nào. Ngược lại, người nhấn mạnh đến một cái "dằm" ở trong thân xác người. Nó làm đau, làm nhục người triền miên. Nó là cái gì người không xác định; nên ai có ý tưởng nào cũng chỉ là suy đoán. Ðiều quan trọng mà Người muốn nói là cái dằm trong xác thịt ấy luôn luôn tố cáo sự yếu đuối của người ở trước mặt Chúa để người ý thức không phải mình sống nhưng là Ðức Kitô sống trong mình, không phải mình mạnh nhưng là quyền năng của Ðức Kitô đậu lại ở nơi mình. Và như thế người sẽ như Ðức Kitô, như Ezekiel, như mọi tiên tri.

Cuộc đời của những vị này luôn mang hình thức yếu đuối, bất lực, thất bại trước mắt thế gian, nhưng dưới cái nhìn của đức tin lại là nơi quyền năng cứu độ của Thiên Chúa đang hoạt động.

Như vậy chúng ta có phải bắt chước các ngài không, tức là tạo ra trong đời sống của mình một hình dạng yếu đuối nào đó? Không cần như vậy. Ðiều cần trước hết là chúng ta phát triển niềm tin vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, cho dù có bao nét bề ngoài của kế hoạch đó dường như muốn làm chúng ta nản lòng. Chúa đã đòi dân Dothái thời Ezekiel phải tin vào Lời Người và vào vị tiên tri khi họ không còn quê hương, đền thờ. Người đã đòi bà con thân thuộc của Ðức Yêsu lướt thắng những cản trở bên ngoài thuộc gia thế và địa vị xã hội của nhà tiên tri thành Nadarét để đón nhận ơn cứu độ. Hằng ngày Chúa vẫn đòi chúng ta phải có niềm tin như vậy qua mọi thử thách trần gian. Hơn nữa Chúa lại muốn chúng ta trở nên các tiên tri của Người để giúp anh em đồng bào nhận ra Tin Mừng cứu độ. Chúng ta có sẵn sàng đi vào đường lối của Ezekie, của Phaolô và của Ðức Kitô không?

Tất cả những điều này sẽ diễn ra trong thánh lễ. Ở đây niềm tin đòi mọi người phải lướt thắng nhiều nét bên ngoài để đạt tới các mầu nhiệm thâm sâu. Ở đây chúng ta phải đón nhận một Ðức Yêsu Kitô tử nạn và phục sinh. Và chính Người lại là Ðấng Cứu thế... Người kêu gọi chúng ta tin vào đường lối của Người, trở thành tông đồ của Người, sống như Người để làm lan rộng ơn cứu độ. Chúng ta có nhiệt tình đáp lại chờ mong của Người không, để Lời Chúa và Mình Thánh Chúa hôm nay đem lại hiệu quả thật sự trong đời sống hằng ngày của chúng ta.

Gm.Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

-----------------------------

 

TN 14-B59: CHÚA CŨNG NGỠ NGÀNG

 

Con người sửng sốt, ngỡ ngàng và khâm phục trước những kỳ công sáng tạo của Thiên Chúa: TN 14-B59


Con người sửng sốt, ngỡ ngàng và khâm phục trước những kỳ công sáng tạo của Thiên Chúa, trước muôn ơn lành Ngài ban tặng cho trong cõi sống nhân sinh là điều bình thường và cần thiết. Vì quả thực: “Con người là chi mà Chúa tôi nhớ đến. Con người là chi mà Ngài để mắt trông nom.” Nhưng Thiên Chúa mà cũng ngỡ ngàng và sửng sốt đối với con người, thì đây là một điều khiến con người phải suy nghĩ, phải đắn đo. Bởi vì, con người chẳng là chi và chẳng có gì đáng cho Thiên Chúa phải sửng sốt cả.

Điều làm Thiên Chúa ngạc nhiên nơi con người là Đức Tin của nó. Và điều làm cho Ngài sững sờ nơi con người cũng chính là sự cứng lòng tin của nó.

Thật không thể tưởng tượng nổi một Thiên Chúa rất mực yêu thương, rất mực nhân hậu, và rất mực quyền năng như Ngài mà lại bị con người chối bỏ để đổi lấy chút giầu sang, quyền lực và lạc thú chóng qua, tạm bợ.

Thật không thể tưởng tượng nổi một Thiên Chúa rất mực thánh thiện, rất mực tốt lành, đời đời vinh hiển mà lại bị con người chối bỏ để chọn lấy Satan là đầu mối mọi tội lỗi, đau khổ, xấu xa và thất vọng trầm luân.

Nếu Thiên Chúa có thể buồn, có thể giận, và có thể thất vọng thì đây là sự buồn phiền, bực bội, và thất vọng lớn lao nhất mà Ngài có thể chịu đựng từ phía con người. Do đó, khi Ngài thấy bất cứ ai dám đặt niềm tin nơi Ngài, đón nhận Ngài vào cuộc đời mình, nhất là mật thiết và sống với lời Ngài, thì sự ngỡ ngàng và niềm vui của Ngài không thể kìm hãm được. Ngài thật bỡ ngỡ như Tin Mừng Thánh Máccô đã diễn tả khi Ngài cảm thấy sức mạnh tình thương và chữa lành của Ngài toát ra vì cái động vào áo Ngài của một thiếu phụ.

Cái chạm tay của người thiếu phụ vào áo Chúa đã làm cho Ngài vui mừng đến không dấu nổi xúc động: “Chúa Giêsu nhận thấy có sức mạnh chữa lành từ Ngài phát ra. Đưa mắt nhìn đám đông, Ngài hỏi: “Ai đã chạm đến ta” (Mc 5:30). Và khi đã biết con người giầu lòng tin đó là ai, Ngài nói với bà: “Hỡi con hãy đi bình an và được chữa lành” (Mc 5:34). Thử hỏi nếu con người đụng chạm đến trái tim Ngài, tức là động chạm đến tình yêu của Ngài thì sự vui mừng và sung sướng ấy to lớn đến đâu!

Ngược lại với thái độ ân cần, yêu thương và săn sóc mà Ngài dành cho người thiếu phụ tin tưởng, là thái độ buồn phiền, ưu tư của Ngài trước sự cứng cỏi, lạnh lùng và thờ ơ của dân làng Ngài. Thánh Ký diễn tả: “Người không làm phép lạ nào ở đó, ngoại trừ đặt tay và chữa lành một vài bệnh nhân. Và Ngài lấy làm bỡ ngỡ vì sự cứng lòng tin của họ” (Mc 6:5-6).

Sự cứng cỏi và thờ ơ của đồng hương Ngài là điều khiến Chúa phải bỡ ngỡ, và cũng là điều khiến chúng ta phải suy nghĩ. Phải chăng đó cũng là thái độ và lối sống của nhiều Kitô hữu chúng ta.

Vì tự cho mình biết Chúa, hiểu Chúa, nên chúng ta không còn trọng kính, tin tưởng nơi Ngài. Có lẽ cũng như những đồng hương Ngài, nhiều lần chúng ta cũng tự hỏi: “Ở đâu ông ấy nhận được những điều này. Sự khôn ngoan của ông được ban cho là gì? Tại sao tay ông làm được những phép lạ như thế? Ông ta chẳng phải là anh thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon? Chị em ông chẳng phải là hàng xóm với chúng ta ở đây sao?” (Mc 6:2-3). Đem áp dụng vào đời sống tâm linh và mối dây mật thiết với Thiên Chúa qua Chúa Giêsu của nhiều Kitô hữu chúng ta lúc này cũng có thể diễn nghĩa: Chúng tôi là người đạo gốc. Chúng tôi chịu phép Rửa từ nhỏ. Chúng tôi thường xuyên dâng lễ, tham dự thánh lễ, chầu Thánh Thể, rước Thánh Thể, nghe đọc Thánh Kinh và cầu nguyện. Nhưng nào đâu thấy Chúa? Nào được việc gì? Chúa vẫn ở đâu đâu, và kiếp sống con người vẫn chẳng là một gánh nặng đè trên cuộc sống chúng tôi sao? Những suy nghĩ ấy, những lối sống ấy đã làm ngạc nhiên, sửng sờ đối với Thiên Chúa. Một phản ứng mang ý nghĩa tiêu cực, một điều mà như Chúa Giêsu đã có đối với đồng hương của Ngài. Nó khiến Ngài không thể làm gì được ngoại trừ một vài ân huệ nho nhỏ mà Ngài có thể thực hiện.

Trong nhiều trường hợp Kitô hữu chúng ta cũng giống như quần chúng thời Ngài. Chúng ta chen chúc đi đến thánh đường. Lô lấn lên hôn chân Chúa. Vội vàng lên rước Thánh Thể. Bực tức vì bỏ lỡ một buổi rước kiệu. Khó chịu vì không được đồng tế trong một thánh lễ long trọng có Giám Mục chủ sự. Không được giảng nhân ngày đại hội đông đảo. Than ôi! Chúng ta chen lấn, giành giật và cố đến gần Chúa, nhưng lại chưa một lần động vào được Chúa như cái chạm áo của người đàn bà mang bệnh loạn huyết.

Thật vậy, những lần chúng ta dâng lễ, tham dự thánh lễ, rước Mình Máu Thánh Chúa nhưng đã không một đụng chạm khiến Chúa ngỡ ngàng. Bởi vì đó chỉ là những hành động, những việc làm mang tính xô lấn, va chạm ồn ào quanh Chúa; nhiều khi còn mang tính cách phô trương, tìm mình nên khiến Ngài dù muốn tâm sự, muốn chia sẻ với chúng ta cũng không được. Cũng thế, bao nhiêu lần chúng ta nghe lời Chúa, đọc lời Chúa, cần xin với Chúa mà vẫn không đụng chạm được đến Chúa. Bởi vì đó cũng chỉ là những tiếng la lối, ồn ào khiến Chúa dù muốn lắng nghe cũng không hiểu ta nói gì và xin gì.

Tâm trạng ấy, lối sống ấy quả thực gây cho Người sự ngạc nhiên. Có lẽ Ngài cũng không hiểu sao sự cứng cỏi, và thờ ơ của con người lại mãnh liệt, mạnh mẽ và ghê gớm đến thế!

Tâm trạng ấy, lối sống ấy như những tâm trạng và thái độ của đồng hương Ngài. Những người cho rằng mình đã hiểu, đã biết rất rõ về gia thế, và con người của Ngài, nhưng lại không chấp nhận Ngài như là một Cứu Chúa!

Khi còn nhỏ, tôi vẫn tự hỏi tại sao Chúa lại phải chết cho nhân loại. Và tại sao Ngài lại phải chịu đóng đinh trên thập giá. Chết như vậy Ngài có đau không?! Trong những lúc suy niệm như thế, tôi cũng muốn thông cảm với nỗi đau và cực hình của Ngài nhưng không sao hiểu nổi và cảm nổi. Nhiều lần, nhất là trong những tuần Thương Khó, một mình âm thầm trong nhà nguyện, tôi đã thử lấy tay véo mạnh vào người để cảm được nỗi đau của Chúa, và để hiểu Ngài thương yêu tôi như thế nào, nhưng tôi vẫn không hiểu.

Sau này khi lớn khôn và nhờ tình yêu thương Chúa, tôi đã từ từ hiểu và cảm được lý do cũng như nỗi đau của Ngài khi phải chết cho con người. Câu trả lời ấy đến từ cảm nghiệm lời Chúa qua Tin Mừng Thánh Máccô mà tôi đang suy niệm hôm nay. Nó đã thức tỉnh lòng tôi và làm cho tôi hiểu rằng Chúa đã chết một lần, nhưng nếu Ngài có thể chết không phải một mà là ngàn lần đi nữa thì vẫn còn có kẻ không tin. Đối với họ, Chúa Giêsu quê quán Nazareth ai mà chả biết. Con bà Maria, anh em với Giacôbê, với Giuse, với Simon và Giuđa ấy ai mà chả biết. Một anh phó mộc ấy ai mà chả biết. Những cái biết ấy họ muốn thay thế cho những cái biết qua ánh mắt Đức Tin. Bởi vì nếu nhìn Ngài bằng cặp mắt Đức Tin, thì họ phải thay đổi lối nhìn và lối sống là điều mà họ không muốn. Và đó cũng là lý do tại sao Đức Tin con người có thể động chạm đến Ngài, khiến sức mạnh chữa lành phát ra từ Ngài, và làm cho Ngài phải bỡ ngỡ.

 T.s. Trần Quang Huy Khanh

-----------------------------

 

TN 14-B60: CƯỚI "ON SALE"

 

Bán đại hạ giá "on sale" đã trở thành như một kiểu sống của xã hội tiêu thụ. Mở báo hằng: TN 14-B60


Bán đại hạ giá "on sale" đã trở thành như một kiểu sống của xã hội tiêu thụ. Mở báo hằng ngày, sau khi lướt qua những mục tin tức giật gân nóng bỏng, hầu như ai cũng lật tới những trang quảng cáo bán đại hạ giá in mầu sắc rất đẹp và hấp dẫn với kỹ thuật cao. Từ các loại quần áo giầy dép cho đến đồ ăn thức uống, máy móc, đồ dùng… thôi thì không thiếu một loại nào mà không "on sale". Đang cần mua một bộ bàn ghế cho phòng khách, mình tìm ngay được chỗ bán đồ thật ngon, bộ bàn ghế bằng gỗ quí giá mọi khi tới 4 ngàn tiền Mỹ, mà tuần này nhân dịp lễ Độc Lập bán đại hạ giá chỉ có hai ngàn rưởi thôi. Thế là có lợi và "save" được tới một ngàn rưởi. Dịp may hiếm có, bỏ qua rất uổng.

Thấy thế, một anh bạn liền chen vào lời bàn rất ngang tai nhưng cũng rất hữu lý: không mua gì là lợi và "save" nhất. Khốn nỗi các quảng cáo thôi thúc kích động thế kia làm sao cưỡng lại được?! Nhà người quen mới mua một bộ đẹp lắm với giá phải chăng mà. Sự đua chen là một đòi buộc căng thẳng dường như có sức mạnh phi thường. Nhiều khi đồ cũ vẫn còn ngon lành sài được, nhưng cái sức ép bắt phải chạy theo thời trang nên cũng phải sắm thêm để thay đổi. Thế là mình răm rắp tuân theo một thứ lệnh vô hình. Rồi sau đó đi cầy tối mặt mà trả nợ.

THỜI ĐIỂM CƯỚI "ON SALE"

Kiểu sống bỏ đồ cũ sắm đồ mới không ngờ lại ăn sâu vào máu trong mọi lãnh vực. Ông bà cụ rất có thể bị xếp vào loại đồ cũ không còn ăn nhập bao nhiêu nên cũng trở nên một thứ đồ đáng phế thải. Ngay cả chuyện cưới vợ lấy chồng ngày nay cũng bị ảnh hưởng cái lối suy nghĩ này.

Tiểu bang Louisiana là một trong những tiểu bang đầu tiên thi hành đạo luật cưới thật và cưới chơi. Sau ngày 15 tháng 8 năm 1997, các cặp ra tòa xin giấy phép cưới có thể chọn xin cưới thật hay cưới chơi. Vì thấy tình trạng li dị nhiều quá bởi cái đầu óc cưới nhau theo hứng. Cưới thật là cưới một người trung thành cho đến chết dù bất cứ gì xảy ra, gọi là "covenant marriage". Còn cưới chơi là cưới theo kiểu "on sale", còn hợp thời và hợp nhau thì còn dùng được, mà nếu đã cũ hay không thích nữa thì có quyền thảy đi để tậu đồ mới vừa lợi vừa tiến bộ. Trước kia mỗi lần ra tòa li dị thì phải trưng bằng chứng một bên có lỗi, luật mới bây giờ cho phép bỏ nhau mà không cần nêu bằng chứng như vậy nữa. Không thích và không hợp nữa là dẹp thôi. Để đi tìm đồ "on sale"!

Hội Thánh Anh Giáo ở Louisiana lên tiếng ngay: chỉ chấp thuận cho cưới trong nhà thờ những cặp nào xin phép cưới thật, còn muốn cưới chơi thì đi chỗ khác chơi. Chắc chắc giáo quyền Công giáo cũng sẽ lên tiếng về chuyện lẩm cẩm mà có thật này. Đúng là thời đảo lộn luân lý.

TIN VUI GỬI NGƯỜI THÍCH MUA ĐỒ "ON SALE"

Tìm về nhận ra giá trị của những gì xem ra tầm thường đã có sẵn trong cuộc sống, trong tầm tay, là một trong những thời điểm của con người ngày nay. Sau khi đua đòi chạy theo những ảo vọng và những vật lộn hơn thua trầy da tróc vảy, con người thấy quá căng và mệt mỏi, muốn tìm về với những gì thật giản đơn trong cuộc sống thường ngày.

Khi Chúa Giêsu xuất hiện mở Đạo thì nhiều người thán phục bước theo, vì những phép lạ và Tin Vui có sức thay đổi cả một đời người. Nhưng khi trở về quê nhà là Na-gia-rét thì dân làng bửu môi mai mỉa: Ông đó là cái thá gì, chúng tôi biết quá mà, cũng dân tầm thường như mình chứ có gì mà phải bày đặt. Thấy thế, Chúa Giêsu nói thẳng vào tâm trạng và lối suy nghĩ của họ: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi" (Mác-Cô 6: 4).

Đúng là quen quá hóa nhàm, đứng núi nọ trông núi kia cao. Người Anh có câu ngạn ngữ cũng gần tương tự: bờ cỏ bên kia xanh hơn bên này. Đứng xa thì thấy ngon lành vậy, mà đến gần thì cũng lơ thơ xờ xạc, nhiều khi còn tệ hơn. Vậy mà nhiều người vẫn mơ màng ảo tưởng! Lối suy nghĩ thành nếp sống ấn sâu vào máu máu này đang hành hạ con người ngày nay, biến thành những tên nô lệ phải tuân theo những thứ lệnh vô hình, bắt phải rướn mình đua đòi bon chen, khiến luôn bị căng và mệt!

MẪU XÂY LẠI TỔ ẤM CHO THIÊN NIÊN KỶ NÀY

Ngày 12 tháng 7 là ngày giỗ một vị thánh nữ duy nhất của Hội Thánh Việt Nam là thánh Lê Thị Thành, người đã biến cuộc sống gia đình xem ra tầm thường hằng ngày thành thiên đàng hạnh phúc. Chính những bí mật tìm lại hạnh phúc theo gia đạo Việt qua gương sống của Thánh Lê Thị Thành mà Hội Thánh muốn giới thiệu cho thế giới. Qua tông thư “Đệ Tam Thiên Nhiên Sắp Đến” Đức Gioan Phaolô II đã đề cao:

“Giáo Hội của đệ nhất thiên niên đã khai sinh trong máu của các vị tử đạo: máu tử đạo là hạt giống sinh tín hữu” (Tertuliano)... Trong thế kỷ chúng ta, các vị tử đạo xuất hiện lại: thường là những kẻ âm thầm, họ như những “chiến sĩ vô danh” cho đại nghĩa Chúa. Bằng mọi cách có thể, đừng nên làm mất đi chứng tá của họ trong Giáo Hội. Như hội nghị hồng y đoàn đã gợi lên, các Giáo Hội địa phương phải làm mọi cách để gương lành của những kẻ đã chịu tử đạo khỏi rơi vào quên lãng; nên cố gắng thu thập các tài liệu cần thiết trong ý hướng này...”

“Trong viễn tượng hướng về đệ tam thiên niên, tòa thánh sẽ ghi vào trang sử tử đạo của Giáo Hội hoàn vũ, lưu ý nhiều đến sự thánh thiện của những người, ngay ở thời đại chúng ta, đã hoàn thành đời mình trong chân lý của chúa Kitô. Một cách hết sức đặc biệt, cần ghi nhận sự anh dũng của các nhân đức nơi những người nam, nữ, đã thực hiện ơn gọi làm người Kitô trong cuộc sống hôn nhân: trong xác tín rằng nhiều hoa trái thánh thiện nảy sinh trong bậc sống này, chúng tôi thấy cần phải tìm ra những phương cách thích hợp nhất để đề cao và nêu lên cho toàn thể Giáo Hội làm mẫu mực và khích lệ những người chồng người vợ Kitô giáo” (trang 40-42).

Trong những rối loạn về gia đình hiện nay, bao nhiêu khảo cứu về phương pháp tâm lý, sinh lý, xã hội học, cũng chẳng làm gì hơn. Vậy mà Mẹ Lê Thị Thành lại có thể cung ứng một đường lối rất hiệu nghiệm mà thật đơn giản. Mẹ biết cách pha chế những gì xem ra nhàm chán quen thuộc hằng ngày, rồi để lửa Trời biến những miếng thịt hay cá tanh thành những món ăn ngon. Con tim Mẹ mới là ngón tay thần, để lửa tình Chúa biến đổi tất cả. Bằng sức mạnh của cầu nguyện, của thánh lễ, của những bổn phận săn sóc con cái với cả thương yêu. Phép lạ là đây. Gia đình êm ấm là đây. Kìa, Mẹ thấy Chúa đang hiện ra ngay trong nhà mình, chứ không bị áp đặt chạy theo những ảo ảnh do xã hội làm căng thẳng xâu xé gia đình.

Ví như Chúa chẳng xây nhà,
Thợ nề vất vả cũng là luống công;
Thành kia mà Chúa không phòng giữ,
Uổng công người trấn thủ canh đêm.
(Thánh Vịnh 127)


 Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

-----------------------------

 

TN 14-B61: BỤT NHÀ KHÔNG THIÊNG


LỜI CHÚA:

Bài đọc1: Ez.2,2-5: Đây là nhà phản loạn, và họ sẽ biết rằng giữa họ vẫn có một tiên tri.

Bài đọc 2: Cr.12,7-10: Tôi rất vui sướng khoe mình về những sự yếu hèn của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ngự trong tôi.

Phúc âm: Mc.6,1-6: Không tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương.

SUY NIỆM:

 

Một trong những lãnh tụ quan trọng của phong trào công nhân nước Anh là Will Crooks. Ông ta: TN 14-B61


Một trong những lãnh tụ quan trọng của phong trào công nhân nước Anh là Will Crooks. Ông ta được sinh ra trong một gia đình rất nghèo. Ký ức đầu tiên của ông ghi nhận là hình ảnh mẹ ông đang khóc vì không biết lấy gì để ăn trong bữa sau. Ông bắt đầu làm việc trong một lò rèn, lương hàng tuần là 5 hào. Ông trở thành một tay thợ giỏi, dũng cảm và ngay thẳng nhất thời bấy giờ. Ông tham gia việc chính trị ở ngay thị xã Luân đôn. Nhiều người rất bất mãn khi Will Crooks thành chủ tịch Polar. Ngày nọ, trong đám đông, một mệnh phụ dè bỉu ông: “Người ta bầu Crooks làm chủ tịch à, anh ta chỉ là dân thợ tầm thường mà thôi”. Một người trong đám đông, chính là Crooks, đã quay lại bỏ nón ra và nói: “Hoàn toàn đúng, thưa bà, tôi chỉ là một dân lao động”.

Dân chúng ở Nazaret khinh dể Chúa Giêsu chỉ vì Ngài là một thợ mộc. Vì khi Chúa xuống thế gian, Ngài không hề đòi hỏi sự miễn trừ nào. Ngài bằng lòng nhận lấy cuộc đời với tất cả những công việc tầm thường nhất. Những may rủi về gia thế, giầu nghèo và phổ hệ chẳng có gì quan trọng với nhân cách cả. Chúng ta cần cảnh giác đối với sự đánh giá một người căn cứ vào bề ngoài, vào những cái tạm thời nay còn mai mất, chứ không căn cứ vào giá trị nội tại nơi chính người ấy.

Sự kiện Chúa Giêsu là con trai bà Maria, con bác thợ mộc Giuse, làm cho mọi người không mấy chú ý đến…. Chúa chết chỉ lúc được 33 tuổi, nhưng Ngài đã không lìa bỏ Nazaret trước năm 30 tuổi (Lc. 3,23). Trong suốt thời gian còn ở gia đình, Chúa Giêsu tận tuỵ với công việc, ngay cả trong những việc nhỏ nhặt. Là con bác thợ mộc, Chúa Giêsu bị người ta xem thường. Từ ngữ bác thợ mộc là tekton. Tekton là thợ làm đồ gỗ, nó còn có nghĩa là người làm nghề làm thủ công. Đời xưa và cả ngày nay thợ mộc có thể làm cho bạn bất cứ việc gì, từ việc xây cất nhà, đóng khung cửa, làm tủ, giường, bàn ghế, cho đến cả việc đóng chuồng gà, chuồng bò v.v. Thế nên người làng Nazaret khinh dể Chúa Giêsu vì Ngài là một công nhân, một thường dân.

Hôm nay Chúa Giêsu trở về quê hương xứ sở không phải vì lý do riêng tư là thăm lại ngôi nhà và những người thân thuộc ngày trước. Ngài trở về cùng với các môn đệ của mình với tư cách là một Rabi. Chúa Giêsu là Thầy dậy dỗ đến nỗi các Rabi Do Thái phải rất kinh ngạc. Chúa đã làm các phép lạ: Dẹp yên bão tố, chữa lành bệnh nhân, cả những chứng bệnh bất trị; xua đuổi quỉ ám v.v. Những phép lạ này làm sửng sốt mọi người và danh tiếng Ngài đồn ra khắp mọi nơi …. Thế mà Chúa Giêsu lại bị xem thường tại quê nhà chỉ vì “bụt nhà không thiêng”, đến nỗi Chúa không làm phép là nào tại đó và chỉ chữa lành một vài bệnh nhân mà thôi.

Chúa Giêsu bị đồng hương coi rẻ vì những hình thức bên ngoài có vẻ tầm thường, bởi lòng người “quen quá hoá nhàm” hay “gần chùa gọi bụt bằng anh”. Hơn nữa nhiều người Do Thái thời đó còn quan niệm Đấng Cứu Thế giáng trần với xa mã lộng lẫy, đánh đông dẹp bắc, thống trị địa cầu bằng sức mạnh quân sự và quyền lực của đế quốc, và cho đến nay nhiều người Do Thái vẫn còn đang chờ đợi Đấng Cứu Thế theo quan niệm của họ!

Ngày nay Chúa Giêsu đã về trời nhưng Ngài còn hiện diện khắp nơi trên thế gian. Ngài ngự trị trong bí tích Thánh Thể, nhưng dưới hình thức bánh miến và rượu nho, chúng ta có dễ nhận ra dung nhan khả ái của Ngài không? Các vị đại diện Chúa mà ta vẫn gọi là Chúa Kitô thứ II, danh xưng đó có phù hợp với niềm tin nơi tâm hồn của mình không? Nhất là những vị đại diện Chúa lại là bà con, họ hàng, bạn hữu, đồng hương của chính chúng ta… Chúa Giêsu còn ẩn mình trong mọi tầng lớp giai cấp trong xã hội mà không phân biệt chủng tộc, mầu da, giầu nghèo, học thức v.v. Chúng ta có nhận ra Chúa nơi tâm hồn tha nhân không? Hay chỉ thấy bằng con mắt giác cảm: nhìn nhận qua dáng vẻ béo mập, gầy còm, cao thấp, trắng đen, đẹp xấu v.v. Ước gì chúng ta có đôi mắt tinh ròng sáng suốt nhận ra chân lý, vẻ đẹp tinh thần giữa muôn hình thức của nếp sống trần gian.

Đối với bản thân, chúng ta cũng phải biết nhận ra Đức Kitô trong tâm hồn mình, nhất là khi hiệp lễ, đừng có mặc cảm vì sự tầm thường bên ngoài mà không nhận ra những ơn thánh Chúa luôn ban xuống cho ta. Những dáng vẻ hay tài năng bên ngoài sẽ qua đi hết, cuộc sống quan trọng ở chỗ là làm sao chiếm hữu được nước Thiên Đàng mà mọi người đều có khả năng lãnh nhận. Công việc hằng ngày chỉ là tạm bợ, hành trình nội tâm tiến về quê trời mới có giá trị lâu dài vĩnh cửu.

Sau hết chúng ta xin Chúa cho mình được Đức Tin mạnh mẽ để tuyên xưng danh Chúa như thánh Phêrô: “Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt. 16,16). Bây giờ chúng ta không được sống gần bên Chúa như các tông đồ xưa kia, mà chỉ ngắm nhìn Ngài dưới hình bánh hình rượu. Nhưng điều đó đâu có hề gì, vì như thánh Tôma đã nói: “giác quan không giúp được gì cả, và thị giác, xúc giác, vị giác cũng lầm”. Chỉ có đức tin mới làm cho ta nhận biết Thiên Chúa và tin vào lời Đức Kitô tuyên bố: “Đây là mình Ta…. Đây là máu Ta….” Không những thế ước gì Đức tin của ta còn phải đi đến chỗ thực hành cao hơn như các thánh tông đồ đã bỏ cha mẹ, vợ con và mọi sự ở đời này để nối gót sự nghiệp cứu độ của Đức Kitô.
Lạy Chúa xin cho chúng con luôn thấy được giá trị và uy quyền của Chúa Giêsu và tin vào Giáo Hội là duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Mặc dù thấy Giáo Hội ở trong hoàn cảnh nào đi nữa, mặc dù thấy hiện thân của Chúa trên trần gian là các vị linh mục có xuất thân từ đâu, thân thế và sự nghiệp ra sao, đời sống của các vị có thế nào đi nữa, chúng con vẫn một lòng tin yêu và sống trọn tình đạo nghĩa của người Kitô hữu.

Br. B.M.Thiện Mỹ CMC

----------------------------

 

TN 14-B62: SỐNG LÀM SAO CHO ĐẸP LÒNG THIẾN CHÚA?


I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

 

Vì không được giúp đỡ - ngay cả trong Năm Sống Lời Chúa này - để biết cách liên hệ những: TN 14-B62


Vì không được giúp đỡ - ngay cả trong Năm Sống Lời Chúa này - để biết cách liên hệ những bản văn Thánh Kinh, những truyện kể trong Cựu và Tân Ước với đời sống cá nhân và xã hội hiện tại của mình, nên đại đa số giáo dân Việt Nam khi nghe và đọc Thánh Kinh cứ tưởng nghe và đọc những chuyện đâu đâu của quá khứ xa xăm chẳng liên quan gì với đời sống đức tin của mình. Vì thế mà họ không khám phá ra tính “hiện sinh” và “hữu dụng” của Lời Chúa.

Chúng ta sẽ tập liên hệ những nhân vật và sự kiện trong bài sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en 2,2-5 và đoạn Phúc Âm Mác-cô 6,1-6 hôm nay với bản thân và cộng đoàn mình để tìm ra cách sống mà Thiên Chúa mong đợi và ưa thích.

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh

Bài đọc 1: Ed 2,2-5: Có một ngôn sứ của Thiên Chúa đang ở giữa dân.

2 Bấy giờ, thần khí đã nhập vào tôi đúng như lời Người phán với tôi và làm cho chân tôi đứng 3 Người phán với tôi: "Hỡi con người, chính Ta sai ngươi đến với con cái Ít-ra-en, đến với dân phản nghịch đang nổi loạn chống lại Ta; chúng cũng như cha ông đã nổi lên chống lại Ta mãi cho đến ngày nay. 4 Những đứa con mặt dày mày dạn, lòng chai dạ đá, chính Ta sai ngươi đến với chúng: "ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán thế này." 5 Còn chúng, vốn là nòi phản loạn, chúng có thể nghe hoặc không nghe, nhưng chúng phải biết rằng có một ngôn sứ đang ở giữa chúng.

Bài đọc 2: 2 Cr 12,7-10: Tự hào về yếu đuối của mình.

7 Thưa anh em, để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xa-tan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại. 8 Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. 9 Nhưng Người quả quyết với tôi: "Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối." Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong tôi. 10 Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Ki-tô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh.

Bài Tin Mừng: Mc 6,1-6: Đức Giê-su về thăm Na-da-rét (Mt 13, 53-58; Lc 4,16-30)

1 Hồi ấy, Đức Giê-su trở về quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. 2 Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói: "Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì? 3 Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a, và anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao? " Và họ vấp ngã vì Người. 4 Đức Giê-su bảo họ: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi." 5 Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. 6 Người lấy làm lạ vì họ không tin.

2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?

Bài đọc 1 (Ed 2,2-5) là một trích đoạn của Sách Ngôn Sứ Ê-dê-ki-en trong đó vị ngôn sứ nói về sứ mạng mà Thiên Chúa đã ép ông phải nhận. Sứ mạng đó là nói Lời Thiên Chúa cho những người Ít-ra-en nổi tiếng là ngỗ ngược và cứng đầu cứng cổ!

Trong đoạn Thánh Kinh này chúng ta khám phá Thiên Chúa là Đấng chịu đựng sự ngỗ ngược và cứng đầu cứng cổ của dân Ít-ra-en và tìm mọi cách thay đổi họ, biến họ thành những người dễ bảo và vâng phục.

Bài đọc 2 (2 Cr 12,7-10) là một đoạn của thứ thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô trong đó Thánh Phao-lô nói về sự yếu đuối hoặc khiếm khuyết hoặc cám dỗ thiêng liêng mà ngài phải chịu đựng suốt cuộc đời. Chúng ta không rõ đó là gì, vì Thánh Phao-lô nói một cách rất mơ hồ là “một cái dằm”. Cái dằm thì không đủ làm cho người ta chết, nhưng nó làm cho người ta đau đớn và khó chịu. Điều chúng ta cần ghi nhận là nhờ cái dằm ấy mà Thánh Phao-lô sống cách khiêm tốn giữa bao ơn huệ lớn lao mà Thiên Chúa đã ban cho ngài.

Trong đoạn Thánh Thư này chúng ta khám phá Thiên Chúa là Đấng ban mọi ơn cần thiết cho Phao-lô (và chúng ta), để Phao-lô (và chúng ta) sống đẹp lòng Thiên Chúa, làm chứng cho quyền năng của Thiên Chúa và phục vụ kế hoạch giúp dân ngoại trở về với Thiên Chúa.

Bài Tin Mừng (Mc 6,1-6) là bài tường thuật của Phúc âm Mác-cô về tư tưởng và hành động của những người đồng hương Na-da-rét đối với Đức Giê-su. Khi thấy Đức Giê-su bộc lộ sự khôn ngoan khác người, dân làng Na-da-rét cũng ngạc nhiên và thắc mắc; nhưng họ hoặc chỉ dựa vào những gì họ biết về Người (cha mẹ, họ hàng, nghề nghiệp, tài sản và giai cấp xã hội) hoặc ganh tỵ không muốn Người hơn họ nên sinh ra nghi ngờ và trở thành những kẻ không tin Người, thậm chí còn xô đầy Người xuống vực (xem Lc 4,29).

Trong đoạn Phúc âm này chúng ta khám phá Chúa Giêsu là Đấng rất đơn sơ chân chất và rất hiền hòa, dễ thương: Bằng chứng là Chúa Giêsu tỏ ra ngạc nhiên về thái độ không tin của những người đồng hương và vui vẻ đi đến các làng chung quanh để giảng dạy.

2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?

Để khám phá ra sứ điệp của Lời Chúa hôm nay chúng ta thử trả lời hai câu hỏi này:

Tôi, gia đình tôi, giáo hội tôi, dân tộc tôi có là những con người ngỗ ngược và cứng đầu cứng cổ đối với Thiên Chúa, giống như dân Ít-ra-en xưa không? Tôi, gia đình tôi, giáo hội tôi, dân tộc tôi có cứng lòng và nghi ngờ mà từ chối và không tin Chúa Giê-su Ki-tô không?

Trước sự ngỗ ngược, cứng đầu cứng cổ và không tin của tôi cũng như của gia đình, giáo hội và dân tộc tôi, Thiên Chúa có thái độ nào? Chúa Giê-su Ki-tô có thái độ nào? Thiên Chúa và Chúa Giê-su Ki-tô muốn gì ở tôi, ở giáo hội tôi, ở dân tộc tôi?

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY

Từ hai câu hỏi và trả lời trên, chúng ta sẽ thấy mình phải cố gắng trở thành những người con ngoan ngoãn, dễ thương, dễ bảo, biết lắng nghe và vâng lời Thiên Chúa, vì sống như thế là đẹp lòng Thiên Chúa và ích lợi cho chính mình.

Là người con ngoan ngoãn, dễ bảo của Thiên Chúa thì phải biết trân trọng và thực thi mệnh lệnh