Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-C Bài 1-50 Được sai đi

Thứ năm - 04/07/2019 10:23
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-C Bài 1-50 Được sai đi
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-C Bài 1-50 Được sai đi
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14-C Bài 1-50 Được sai đi
TN 14-C1. NGƯỜI MÔN ĐỆ.. 3
TN 14-C2. HRK/138- BÌNH AN.. 5
TN 14-C3. HRK/367- CHỌN LỰA.. 7
TN 14-C4. CSTM/159- TỬ TẾ.. 9
TN 14-C5. NTGT/188- SỨ GIẢ.. 12
TN 14-C6. PV/490- LÀM CHỨNG.. 14
TN 14-C7. SCĐ/591- BÌNH AN.. 16
TN 14-C8. SCĐ/592- ĐỒNG LÚA.. 17
TN 14-C9. Tất Cả Những Người Cô Đơn. 18
TN 14-C10. Vào Nhà, Vào Thành Phố. 20
TN 14-C11. Anh Em Hãy Ra Đi 22
TN 14-C12. Các môn đệ đã thành công trong sứ mệnh - Nhóm Đồng Hành. 24
TN 14-C13 HÃNH DIỆN VÌ THẬP GIÁ ĐỨC GIÊSU KITÔ.. 26
TN 14-C14. CHÚA SAI TÔI ĐI LOAN TIN BÌNH AN VÀ HẠNH PHÚC.. 28
TN 14-C15. CHÚA SAI 72 MÔN ĐỆ ĐI ĐẾN VỚI MUÔN DÂN.. 36
TN 14-C16. Các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng - Lm. Trọng Hương. 39
TN 14-C17. THỢ GẶT VÀ MÁY GẶT – VIKINI 43
TN 14-C18. ĐOÀN KẾT.. 45
TN 14-C19. BÌNH AN - ASTY/149. 49
TN 14-C20. CÔNG VIỆC - NMS/125. 51
TN 14-C21. TRUYỀN GIÁO - CS/111. 53
TN 14-C22. LÚA CHÍN - MNMTV/00/192. 54
TN 14-C23. NIỀM VUI - MNMTV/00/197. 55
TN 14-C24. Lên đường với tấm lòng của Thiên Chúa. 56
TN 14-C25. Ơn gọi - Jkn. 60
TN 14-C26. Đừng mang gì đi đường - Lm Bùi Quang Tuấn, DCCT.. 63
TN 14-C27. SỨ MỆNH CÁC MÔN ĐỒ.. 66
TN 14-C28. BÌNH AN ! Lm Louis Thanh Minh. 67
TN 14-C29. KHÍ CỤ BÌNH AN - Lm Vũ Minh Nghiễm, DCCT.. 68
TN 14-C30. VAI TRÒ CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ NHÂN CHỨNG: 71
TN 14-C31. TRUYỀN GIÁO TRONG HOÀN CẢNH HIỆN NAY.. 76
TN 14-C32. Truyền giáo. 80
TN 14-C33. TÂM SỰ TRUYỀN GIÁO - Đức Cha G.B. BÙI TUẦN.. 81
TN 14-C34. 72 MÔN ĐỆ LÊN ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO.. 84
TN 14-C35. TẠI TRUNG TÂM BÃO BIỂN - Mark Link S.J. 91
TN 14-C36. BÌNH AN CHO NHÀ NÀY - Gm. Arthur Tonne. 93
TN 14-C37. THÁNH LỄ CUỘC ĐỜI 95
TN 14-C38. Sai phái bảy mươi hai môn đệ. 97
TN 14-C39. 72 môn đệ Đức Giê-su. 101
TN 14-C40. Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác. 106
TN 14-C41.  Khí cụ bình an  - Lm Vũ Minh Nghiễm, DCCT.. 111
TN 14-C42. TÔNG ĐỒ ĐOÀN CỦA ĐỨC GIÊSU. 113
TN 14-C43. 72 MÔN ĐỆ ĐƯỢC SAI ĐI 118
TN 14-C44. TRIỀU ĐẠI THIÊN CHÚA ĐÃ ĐẾN.. 125
TN 14-C45. Thiên Chúa cần đến những con người 129
TN 14-C46. Truyền giáo bằng đời sống. 130
TN 14-C47. THỢ MÓT.. 135
TN 14-C48. THUYỀN ĐỜI SAO CẮM GIỮA HỒN TA ?. 137
TN 14-C49.  CHIÊN CON GIỮA BẦY SÓI 141
TN 14-C50. THỜI THỢ GẶT THÀNH “SAO”. 146

 

TN 14-C1. NGƯỜI MÔN ĐỆ

Nếu bây giờ tôi đặt câu hỏi : có khi nào chúng ta đã nghĩ tới bổn phận truyền giáo, bổn phận: TN 14-C1

Nếu bây giờ tôi đặt câu hỏi : có khi nào chúng ta đã nghĩ tới bổn phận truyền giáo, bổn phận làm việc tông đồ hay chưa ?
Chắc hẳn có người sẽ trả lời : Việc tông đồ, việc truyền giáo là bổn phận của các linh mục và tu sĩ, còn chúng tôi lăn lóc giữa đời, bận rộn với trăm công nghìn việc, còn thời giờ đâu đề nghĩ tới chuyện ấy.
Dĩ nhiên, sứ mạng chính yếu của các linh mục và tu sĩ là hoạt động tông đồ, dẫn đưa mọi người trở về cùng Chúa. Tuy nhiên, là người giáo dân, chúng ta cũng có bổn phận phải góp phần vào công cuộc trọng đại ấy.
Thực vậy, tin mừng hôm nay cho thấy ngoài mười hai tông đồ, Chúa Giêsu còn chọn thêm bảy mươi hai môn đệ và sai họ đi từng hai người một, đến những nơi chính Ngài sẽ tới. Ngài bảo các ông : Lúa chín đầy đồng  mà thợ gặt thì ít.
Dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù sống bằng bất cứ nghề nghiệp nào, chúng ta vẫn có thể và phải góp phần vào công cuộc truyền giáo. Chúng ta có thể và phải là người tông đồ ngay chính giữa lòng cuộc đời của mình. Vậy chúng ta thực hiện lý tưởng ấy như thế nào ? Tôi xin thưa hãy truyền giáo bằng chính cuộc sống đạo đức và yêu thương của mình, bởi vì nhờ đó, chúng ta sẽ trở nên một tin mừng sống động, một phản ảnh trung thực của Đức Kitô.
Trước hết bằng một cuộc sống đạo đức.
Tục ngữ Việt Nam đã bảo : cái nết đánh chết cái đẹp. Vẻ đoan trang  thùy mị của chúng ta sẽ là một mối duyên ngầm, chinh phục được cảm tình của người khác. Lời nói như gió lung lay, việc làm như tay lôi kéo. Chính gương sáng mới là một bài giảng hùng hồn có sức lôi cuốn và hấp dẫn người khác. Đứng trước gương sáng của chúng ta, kẻ độc ác nhất cũng phải xúc động và đặt lại vấn đề. Có những người trở lại chỉ vì thấy một em nhỏ ngoan ngoãn, lễ độ và siêng năng tới nhà thờ tham dự thánh lễ. Có một thanh niên được mọi người yêu quí vì anh ta lịch sự, sẵn sàng giúp đỡ những người chung quanh bất cứ việc gì. Anh ta không phải chỉ tỏ ra mình là người công giáo, mà hơn nữa, anh ta còn sống niềm tin của mình. Nói cách khác, anh ta đã sống đạo và người ta có thể bảo : Hình ảnh Đức Kitô luôn phảng phất nơi anh ta..
Tiếp đến bẵng một cuộc sống ngập tràn tình bác ái yêu thương.
Thực vậy, bằng một đời sống đạo đức, chúng ta trở nên tông đồ của Chúa giữa lòng cuộc đời. Tuy nhiên, tinh thần đạo đức ấy phải được biểu lộ ra bên ngoài bằng những lời nói, những việc làm của chúng ta.
Trong cuộc sống, chúng ta có rất nhiều cơ hội để dẫn đưa những kẻ lầm đừng lạc lối trở về cùng Chúa, để cứu vớt những linh hồn đang chìm sâu trong tội lỗi. Bằng lời nói chia sẻ và cảm thông, chúng ta có thể làm cho người khác khỏi cô đơn chán nản. Bằng lời nói an ủi và khích lệ, chúng ta có thể làm cho người khác khỏi bi quan tuyệt vọng. Bằng lời nói chân thành và xây dựng, chúng ta có thể làm cho người khác thoát khỏi chốn bùn nhơ tội lỗi. Bằng lời nói khuyên răn nhủ bảo, chúng ta có thể làm tông đồ cho Chúa trong gia đìnhminh cũng như trong môi trường mình đang sống. Có nghĩa là ở khắp mọi nơi.
Tinh thần đạo đức còn phải được biểu lộ qua những cử chỉ, những việc làm của chúng ta. Mấy người bạn tụ họp và trao đổi những câu chuyện thiếu đứng đắn, nếu bấy giờ  có được thái độ nghiêm túc, chúng ta sẽ làm cho họ phải dừng lại. Khi người khác bài bác tôn giáo, chúng ta không được phép yên lặng, vì yên lặng khi phải nói là một tội cũng nặng như nói khi phải yên lặng. Trái lại, chúng ta hãy lên tiếng bênh vực đức tin, dù có làm mất lòng bè bạn. Trong trường hợp này, chúng ta không sợ ai cả, mà chỉ sợ một mình Thiên Chúa, như lời thánh Cyprianô : Hãy sợ Thiên Chúa và rồi chúng ta sẽ chẳng còn phải sợ một ai cả.
Một cô y tá có thể truyền giáo bằng thái độ ân cần, bàng nụ cười cảm thông, bằng ánh mắt khích lệ, bằng cử chỉ sẵn sàng giúp đỡ những người đau yếu. Và như vậy, chúng ta có thể dùng những hành động bác ái yêu thương để cảm hóa người khác, vì bác ái yêu thương là dấu chỉ chắc chắn nhất giúp người khác nhận ra khuôn mặt Đức Kitô.
Nếu không phải là một trong số mười hai tông đồ, thì ít nữa chúng ta cũng phải là một trong số bảy mươi hai môn đệ. Sứ mạng truyền giáo không phải chỉ là sứ mạng dành riêng cho linh mục và tu sĩ, nhưng còn là bổn phận chung của mỗi người chúng ta. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ở bất kỳ địa vị nào, làm bất cứ nghề nghiệp nào, chúng ta cũng có thể và phải góp phần vào công cuộc truyền giáo, bằng một đời sống đạo đức và nhất là bằng những hành động bác ái yêu thương.
Ở Pêru có một loại cây rất ngộ nghĩnh, người ta bản xứ gọi nó là “cây làm mưa”. Lá nó hút hơi nước trong không khí, rồi nhỏ xuống như những giọt sương mai. Vì thế, chung quanh nó mặt đất lúc nào cũng ẩm ướt. Và trời càng nóng, thì nó càng nhỏ xuống nhiều nước.
Mỗi người chúng ta cũng phải trở nên như một cây làm mưa hữu ích cho những người chung quanh đang khô khan. Bằng đời sống đạo đức, chúng ta hút lấy ơn sủng của Chúa, để rồi bằng những hành động bác ái yêu thương, chúng ta gieo vãi ơn sủng ấy cho những người chung quanh.
Chúng ta sống đức tin, để rồi nhờ đó chúng ta làm cho đức tin sống lại trong tâm hồn người khác. Đồng thời, khi làm cho người khác sống đức tin, thì đức tin của chúng ta sẽ trờ nên mạnh mẽ hơn. Cũng vậy, muốn được hạnh phúc, thì chúng ta hãy cố gắng làm cho người khác được hạnh phúc. Niềm hạnh phúc chúng ta làm cho người khác sẽ trở lại với chúng ta và làm cho chúng ta được hạnh phúc hơn.

 

TN 14-C2. HRK/138- BÌNH AN

Vào năm 1980, có một tuần báo nọ bên Hoa Kỳ đã đăng tải một sự cố sau đây : Một người: TN 14-C2

Vào năm 1980, có một tuần báo nọ bên Hoa Kỳ đã đăng tải một sự cố sau đây : Một người vừa mua hàng trong siêu thị xong, trở lại xe mình thì ngạc nhiên nhìn thấy một tờ giấy để lại nằm ngay trên chỗ ngồi của người lái, trên đó có những dòng chữ viết vội như sau :
Thưa ông bà, tôi có ý định đánh cắp chiếc xe này, nhưng khi nhìn thấy lời chào chúc của ông bà gắn nơi tay lái : “Bình an của Chúa ở cùng bạn”, thì tôi bỗng dừng lại và suy nghĩ. Ý nghĩ xuất hiện trong đầu óc tôi là nếu tôi đánh cắp chiếc xe này thì chắc chắn ông bà mất xe và không có sự bình an, tôi đây cũng sẽ không có sự bình an. Đây là lần đầu tiên tôi bước vào nghề ăn cắp xe.
Xin chúc ông bà và cho cả tôi nữa sự bình an của Chúa. Chúc ông bà lái xe an toàn và lần sau xin nhớ khóa cửa xe.
Ký tên : Người sắp trở thành kẻ trộm xe.
Câu chuyện nhỏ này làm chúng ta chú ý đến một trong những lời dạy của Chúa Giêsu cho các môn đệ khi sai họ ra đi truyền giáo đến trước những nơi mà Chúa sẽ đi qua để chuẩn bị cho Chúa đến : “Vào nhà nào chúng con hãy chúc : Bình an cho tất cả mọi người trong nhà này".
Chỉ một khẩu hiệu dán nơi tay lái chiếc xe : “Cầu chúc bình an” mà bỗng tác động biến đổi ý định xấu của một người không làm việc xấu xa nữa, thì thử hỏi nếu những đồ đệ của Chúa, chính chúng ta đây, nếu chúng ta thực sự trở thành những dấu chỉ sự bình an của Chúa cho anh chị em, và không phải chỉ là dấu chỉ mà thôi mà còn là tác nhân sống động mang sự bình an của Chúa đến cho anh chị em xung quanh mà ta thường gặp hằng ngày ; nếu chúng ta thực hiện được điều này thì thử hỏi ta có thể đóng góp phần tích cực của mình cho sự bình an của anh chị em nơi môi trường chúng ta sinh sống biết là chừng nào.
Lời Chúa dạy cho các đồ đệ chúc “bình an cho nhà này” là tiếng vang trước cho lời chúc bình an của Chúa Giêsu Phục sinh trước khi sai các tông đồ ra đi làm chứng cho Tin Mừng của Chúa : “Bình an cho chúng con”. Chắc chắn khi nghe những lời chúc của Đấng Phục sinh : “Bình an cho chúng con”, các tông đồ nhớ lại lời dạy trước lúc Phục sinh của Chúa, khi Chúa sai các ngài đi thực tập trước công việc truyền giáo mà các ngài sẽ chu toàn sau biến cố Phục sinh : “Vào nhà nào, chúng con hãy cầu chúc : bình an cho nhà này. Bình an cho chúng con”.
Chúa Phục sinh ban sự bình an thật cho các tông đồ, để các ông ra đi và đến phiên các ông, các ông cũng sẽ cầu chúc như Chúa đã chúc : “Bình an cho nhà này”. Các ông nói như Chúa đã nói, làm các công việc và những việc lạ như Chúa đã làm, hay đúng hơn theo như lời Chúa nói là hơn cả những gì Chúa đã làm nữa : “Bình an cho chúng con. Bình an cho nhà này”.
Ước gì mỗi người chúng ta được thật sự lãnh nhận ơn bình an của Chúa, ơn bình an mà Chúa đã phải chết trên thập giá để thực hiện cho chúng ta, cho tất cả mọi người. Ước gì mỗi người chúng ta trước hết lãnh nhận ơn bình an đó của Chúa và để cho ơn bình an, ơn cứu rỗi thánh hóa, biến đổi chúng ta để rồi chúng ta có thể nói và làm như Chúa đã nói và làm “Bình an cho nhà này. Bình an cho chúng con”.
Người truyền giáo phải là kẻ nói những lời bình an, thực hiện những sự bình an, trao ban sự bình an của Chúa cho anh chị em. Chúng ta cần kiểm điểm lại lời nói và việc làm của mình xem có phải là lời nói và việc làm như Chúa hay không ? Đó là “Bình an cho anh chị em. Bình an cho nhà này”.
Chúng ta hãy đến lãnh nhận ơn bình an của Chúa : “Thầy ban cho chúng con bình an của Thầy”, để rồi chúng ta cũng có thể trao sự bình an đó cho anh chị em xung quanh.

 

TN 14-C3. HRK/367- CHỌN LỰA

Bà Tôrôtê đã nhận định thật hay về cuộc đời của một người sống theo lý tưởng như sau : Ai: TN 14-C3

Bà Tôrôtê đã nhận định thật hay về cuộc đời của một người sống theo lý tưởng như sau : Ai mang theo tất cả mọi sự với mình thì sẽ để lại sau rất ít, và do đó, người đó trước sau vẫn y nguyên như vậy, không có gì thay đổi và có rất ít cả thể để tìm gặp kẻ đó đang tìm kiếm. Một người không biết hy sinh gì cả thì sẽ không gặp được gì. Để gặp được điều ta tìm kiếm thì điều kiện phải có là biết từ bỏ hoàn toàn, lừng chừng thỏa hiệp nửa vời sẽ mang đến tàn phá mà thôi.
Nếu những dòng diễn tả trên diễn tả đúng cho cuộc sống theo lý tưởng nào đó thì nó lại càng đúng hơn nữa cho cuộc sống của người đồ đệ của Chúa mà bài Phúc âm hôm nay muốn nhắc lại cho chúng ta một vài đặc điểm.
Khi Chúa Giêsu sai 72 môn đệ ra đi rao giảng Tin Mừng, đặc điểm nổi bật nhất dĩ nhiên phải là sự từ bỏ, để lại đàng sau nhiều điều, nếu không muốn nói là tất cả mọi điều, để chỉ có Chúa và sự công chính của Chúa trước hết. Ai muốn mang theo mọi sự với mình thì sẽ để lại rất ít. Rất ít có cả thể gặp được điều mình tìm kiếm. Người sống ích kỷ muốn mang theo tất cả mọi sự cho mình thì sẽ để lại rất ít, nhất là khi chết rồi thì chẳng còn gì và sẽ có rất ít cả thể gặp được điều mình tìm kiếm. Sẽ có rất ít cả thể để theo Chúa cho đến cùng, để sống trọn vẹn cuộc đời theo Chúa.
Chúa Giêsu ý thức rõ ràng cuộc đời của môn đệ gặp nhiều thử thách. Ngài sai các ông ra đi như chiên vào giữa sói rừng, nhưng Chúa vẫn đòi hỏi môn đệ phải có thái độ từ bỏ những an toàn của con người và do con người tạo ra, đó là tiền, bao bị, giầy dép và liên lạc xã giao thường tình. Chúa sai các ngài ra đi với lời căn dặn : “Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép và đừng chào hỏi ai dọc đường”. Đây là những điểm nói lên sự an toàn của con người, do con người tạo ra và Chúa muốn cho những đồ đệ của Ngài ra đi làm những công việc của Ngài, không ỷ lại vào những sự an toàn của con người, do con người tạo ra.
Thật là những lời khuyên, những mệnh lệnh, xét theo thường tình con người thì rất là ngược đời, nếu không muốn nói là không khôn ngoan chút nào hoặc không thể thực hiện được. Nhưng Chúa Giêsu giõng dạc thay đổi nhằm đến một thái độ từ bỏ, không ỷ lại vào những sự an toàn của cuộc sống.
Một nhà truyền giáo tương lai sắp sửa lên đường viết thơ cho vị giám mục như sau để hỏi về những điều cần thiết cho cuộc sống của mình trước khi lên đường đến nhận nhiệm sở, nhà truyền giáo đó hỏi :
- Có xe để di chuyển không ?
- Nhà ở có máy lạnh không ?
- Có người giúp nấu cơm cho ăn hay không ?
- Trong nhà có tủ lạnh hay không ?
- Có tiền lương mỗi tháng bao nhiêu ?
- Có được đi nghỉ hè mỗi năm không ? v.v…
Dĩ nhiên nhà truyền giáo đó muốn cho mình mọi sự an toàn trước khi dấn thân. Nhà truyền giáo đó đã nhận được thơ trả lời rất nhanh của vị Giám mục yêu cầu đừng đến làm việc truyền giáo nơi giáo phận của ngài nữa.
Phải chăng, chính bản thân chúng ta cũng dễ dàng bị cám dỗ bởi những đòi hỏi tiện nghi vật chất cho cuộc đời theo Chúa của mình. Muốn có thật nhiều thì rốt cuộc chẳng có bao nhiêu. Đó là về thái độ sống của người đồ đệ của Chúa.
Về nội dung sứ điệp rao giảng thì sao ? Chúa Giêsu căn dặn các đồ đệ trong bài Phúc âm hôm nay : “Vào nhà nào chúng con hãy nói bình an cho nhà này”. Lời này loan báo trước lời chúc bình an của Chúa Giêsu cho các môn đệ khi Chúa Phục sinh hiện ra cho các ông và sai các ông ra đi mang bình an của Chúa đến cho mọi người. Lúc đó, Chúa hiện ra cho các môn đệ và nói: “Bình an cho các con”.
Được huấn luyện, được thực tập trước để rao giảng sự bình an cho anh chị em mình, nên chắc chắn khi ban bình an cho các môn đệ, các môn đệ sẽ hiểu trọn vẹn hơn ý nghĩa về hệ quả của lời chúc bình an này mà Chúa đã phải chết trên thập giá để mang đến cho các ông.
Nhận sự bình an của Chúa, các môn đệ được sai đi chia sẻ sự bình an của Chúa cho anh chị em. Nhưng nếu bám víu vào những điều trần tục, chỉ lo cho sự an toàn ích kỷ của mình và những điều trần tục, những sự an toàn ích kỷ này thường là những điều gây chia rẽ, xung đột, bất hòa giữa cá nhân với nhau, đó là nói trên bình diện nhỏ và nếu nói trên bình diện lớn thì sẽ gây chiến tranh giữa các quốc gia.
Nếu bám víu vào những điều trần tục, chỉ lo cho sự an toàn ích kỷ của mình thì làm sao có thể chia sẻ sự bình an của Chúa cho anh chị em được. Ai muốn mang theo tất cả mọi sự với mình thì sẽ để lại sau rất ít và rất ít để tìm gặp điều mình mong muốn. Một người không biết hy sinh gì cả thì sẽ không gặp được gì cả.
Lời Chúa hôm nay còn muốn nói với chúng ta nhiều điều khác nữa, nhưng ít ra trong giây phút này chúng ta hãy xét mình lại về hai điểm vừa được gợi ra cho chúng ta đó là :
Thái độ từ bỏ mọi sự để theo Chúa không ỷ lại vào sự an toàn của con người, nhưng cần nghĩ đến sự quan phòng chăm sóc của Chúa cho đời sống của mình. Và điểm thứ hai là chia sẻ sự bình an của Chúa cho anh chị em. Chúng ta hãy để cho Chúa chiếm trọn tâm hồn chúng ta, để chúng ta có được đầy tràn sự bình an của Chúa, qua đó chúng ta có thể chia sẻ sự bình an ấy cho anh chị em. Chúng ta đến cử hành thánh lễ và trong thánh lễ trước khi chúng ta đón nhận Chúa vào trong tâm hồn, chúng ta được mời gọi nhớ lại lời hứa bình an của Chúa : “Thầy ban cho chúng con bình an, bình an mà thế gian không thể ban cho”.
Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta được sự bình an này và gìn giữ mỗi người chúng ta trong đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh tin kính.

 

TN 14-C4. CSTM/159- TỬ TẾ

Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”. Chúa nhật hôm nay Giáo Hội mời gọi mọi người hãy: TN 14-C4

“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”. Chúa nhật hôm nay Giáo Hội mời gọi mọi người hãy đưa mắt nhìn đồng lúa chín vàng. Đồng lúa ấy có thể là cả thế giới. Thế giới có khoảng sáu tỉ người, mà những người tin Chúa mới chỉ hơn một tỉ. Riêng tại Á Châu, chiếm 2/3 dân số thế giới nhưng người Công giáo chỉ có không tới 3/o. Có thể là đất nước Việt Nam chúng ta gần 80 triệu người, mới có khoảng trên 10 triệu người Công giáo. Vẫn còn biết bao người chưa biết Chúa. Có thể là giáo phận, nhưng cũng có thể là khu xóm, gia đình, nơi chúng ta sinh sống, làm việc… Vậy ai là thợ gặt trong cánh đồng lúa ấy?
Trong bài Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu không chỉ sai 12 tông đồ đi rao giảng, nhưng Ngài sai tất cả 72 môn đệ. Điều này có nghĩa là việc rao giảng không phải chỉ dành riêng cho nhóm 12 là các tông đồ, nhưng cho số đông những người theo Chúa. Đối với chúng ta hôm nay, việc rao giảng Tin Mừng cũng không phải là bổn phận của một số thành phần nào trong Giáo Hội như Giám mục, linh mục hay tu sĩ, nhưng là bổn phận của những người tin theo Chúa, tức là của mọi người và mỗi người đã lãnh Bí tích Rửa tội. Như vậy, thợ gặt là tất cả chúng ta.
Thật vậy, ngay từ khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, từ khi được làm con Chúa, khi được gia nhập vào Giáo Hội, người Kitô hữu được trao cho một chiếc áo trắng đánh dấu một cuộc đời mới, đồng thời cũng được trao cho một cây nến sáng được châm lửa, được thắp sáng từ cây nến Phục sinh, tượng trưng cho Đức Kitô Phục sinh. Đức Kitô là ánh sáng. Anh sáng ấy đến thế gian để chiếu rọi bóng tối. Ai tiếp nhận ánh sáng thì cũng trở nên đèn sáng soi cho người khác. Như thế, biểu tượng trao nến sáng nói lên nhiều ý nghĩa : người lãnh Bí tích Rửa tội tiếp nhận ánh sáng trong niềm vui vì đã tìm thấy ánh sáng chân thật. Đàng khác, cũng nói lên trách nhiệm phải trở nên đèn sáng cho những người chung quanh bằng cách sống trong ánh sáng.
Như vậy, ngay từ lúc được rửa tội, ngay từ lúc tiếp nhận ánh sáng, thì người Kitô hữu cũng trở nên đèn sáng, cũng lãnh nhận sứ mạng ra đi rao giảng Tin Mừng. Nói cách khác, bản chất của người Kitô hữu là đèn sáng, là người được sai đi, sai đi thực hiện công trình của Chúa đến từng người ở mọi nơi mọi thời, không phân biệt màu da, tiếng nói, tín ngưỡng, địa vị xã hội… Và hơn nữa, ở nơi nào càng khó khăn nguy hiểm, thì người Kitô hữu càng được sai đi ; ở nơi nào càng có thế lực sự dữ ngự trị, thì lệnh truyền ấy càng khẩn thiết, như Chúa đã nói : “Thầy sai anh em đi như chiên giữa bầy sói”, bởi vì “Những người mạnh khỏe không cần thầy thuốc, chỉ những ai bệnh tật mới cần”. “Ta không đến kêu gọi người công chính, nhưng kêu mời những người bất lương ăn năn trở lại”.
Tuy nhiên, công việc rao giảng không chỉ là của con người nhưng là của chính Chúa, Ngài là chủ và là người quản lý. Chính vì vậy nên khi sai các môn đệ đi rao giảng Ngài không mấy chú trọng đến phương tiện. Phương tiện mà Chúa trao cho các môn đệ là đừng mang theo túi tiền, bao bị gì cả. Phương tiện duy nhất và tiên quyết là đem lại bình an cho mọi người, là sống chia sẻ, sống trọn tình người với họ. Tóm lại là sống tử tế với mọi người. Việc sống tử tế này không chỉ đối với những người có hoàn cảnh và điều kiện tốt, nhưng là một đòi hỏi cho tất cả mọi Kitô hữu, nhất là người Kitô hữu Việt Nam chúng ta đang sống trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn và chưa lấy gì làm sáng sủa của đất nước. Đây cũng là điều chúng ta đặc biệt lưu ý hôm nay.
Một trong những cuốn phim gây nhiều chú ý nhất ở ngoại quốc trong thập niên 80 là phim “Truyện Tử tế” của đạo diễn Trần văn Thủy. Cuốn phim này được hãng truyền hình Pháp S.R.K mua và được trình chiếu trong chương trình có tên là “Đại Dương”. Khi một ký giả ngoại quốc hỏi : “Những người Kitô Việt Nam có thể làm gì để giúp dân tộc họ sống tử tế ?”. Nhà đạo diễn đã trả lời : “Điều người ta mong đợi ở các người Kitô Việt Nam là niềm tin của họ và họ phải sống điều họ tin”.
Lời phát biểu của nhà đạo diễn trên đây đáng để chúng ta suy nghĩ. Sống trong một dân tộc còn nhiều người chưa biết Chúa. Sống trong một đất nước còn nhiều khó khăn. Sống trong một xã hội còn nhiều giả dối, gian manh, lừa đảo, tiêu cực, thì đối với người Kitô, tin và sống niềm tin của mình là phải sống, phải tin thật tử tế, tức là tin và sống tình nhân loại, sống quảng đại, tóm lại là sống tình người với nhau. Tin và sống như thế không phải chỉ là cách sống dành cho các nữ tu, các linh mục mà cũng chính là sứ mạng và ơn gọi của mỗi người Kitô chúng ta.
Có người đã nói lên một sự thật đau lòng như sau : “Chữ tử tế” bây giờ chỉ thấy ở miệng những người có tuổi hoặc những người hơi xưa. Thời bây giờ mấy ai còn thì giờ để luận bàn những chuyện xa xôi ấy”. Thật là một lời cảnh báo đáng cho chúng ta suy nghĩ. Người tử tế dường như đã trở thành loại người quí hiếm trong xã hội. Và khi lòng tử tế đã trở thành quí hiếm thì dĩ nhiên là những hành động không tử tế chút nào lại càng gia tăng với cấp số nhân. Đọc báo chí hàng ngày chúng ta thấy đầy dẫy những hành động không chút tử tế ấy.
Sống cho tử tế, sống cho ra người là điều cần thiết và quan trọng cho cá nhân cũng như xã hội. Đó là ý nghĩa của câu nói : “Tiên học lễ, hậu học văn”. Tử tế thực sự không phải là có tiền hoặc muốn là có được ngay. Nó cũng phải được học hành, được dạy dỗ, được tập luyện, kế thừa và gìn giữ. Tử tế như hoa thơm, hoa đẹp, không thể thiếu được của cuộc đời.
Một người bạn của đạo diễn Trần văn Thủy, trước khi chết vì bệnh ung thư đã nói : “Tôi chả có gì phải hối tiếc vì chúng ta đã sống tử tế với nhau”. Lời phát biểu gợi cho chúng ta niềm vui ngập tràn của 72 môn đệ Chúa sau khi đã hoàn thành công tác được giao phó. Đó là niềm vui của các tông đồ chân chính, là niềm vui của những ai dám sống tử tế trong một xã hội không lấy gì làm tử tế và đó chẳng phải là niềm vui của những người Kitô chúng ta sao?
Xã hội chúng ta đang xuống cấp về mọi mặt, nhất là mặt đạo đức, đó là thực tế không thể chối cãi. Nhưng “Thà đốt lên một ngọn nến hơn là ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối”. Tất cả những điều chia sẻ trên đây mong ước gợi lên cho mọi người một suy nghĩ : trước khi nghĩ đến những công việc truyền giáo to lớn rầm rộ, chúng ta cần chú ý đến những việc nhỏ bé đơn giản, đó là thắp một ngọn nến, tức là thắp một tia hy vọng cho người tuyệt vọng, mang bình an cho người đau khổ, mang tình yêu đến cho người bị bỏ rơi… chúng ta làm được những việc đó không ?

 

TN 14-C5. NTGT/188- SỨ GIẢ

Một vị vua hoặc ông chủ tịch của nước Việt Nam chúng ta muốn sang thăm một nước nào đó: TN 14-C5

Một vị vua hoặc ông chủ tịch của nước Việt Nam chúng ta muốn sang thăm một nước nào đó thì phải làm gì đây – vị vua hoặc ông chủ tịch nước sẽ cử sứ giả hoặc đại sứ sang nước đó báo tin cho họ hay.
Cũng thế Tin Mừng hôm nay mà chúng ta vừa nghe cho thấy Chúa Giêsu muốn đến các thành, các nơi mà Chúa định đến nên Chúa đã làm hai việc là chọn 72 môn đệ làm sứ giả cho Ngài, và trao cho các ông nhiệm vụ đến đó loan báo Tin Mừng bình an của Chúa.
Với việc tìm hiểu đoạn Tin Mừng này chúng ta sẽ nhận ra Chúa muốn nói gì với mỗi người chúng ta trong thế giới hôm nay.
Chúa Giêsu quyền năng đã biết trước và nhận thấy rõ số người sẵn sàng đón nhận Chúa rất nhiều. Nhiều đến nỗi mà Chúa đã ví họ như cánh đồng lúa trổ bông chín vàng mà lại có ít thợ gặt. Vì thế cho nên Chúa mới nói : “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt” và Chúa đề nghị các môn đệ hai nhiệm vụ :
Nhiệm vụ thứ nhất là cầu nguyện. Thiên Chúa là ông chủ của mùa gặt, Thiên Chúa có quyền quyết định những ai được vào Nước Trời. Vì thế, Chúa kêu gọi các môn đệ cầu nguyện để xin Thiên Chúa khơi lên trong lòng con người tinh thần làm môn đệ Chúa, sẵn sàng làm sứ giả của Chúa.
Nhiệm vụ thứ hai là “Hãy ra đi loan báo Tin Mừng bình an”. Cầu nguyện chưa đủ nhưng còn phải lên đường ra đi loan báo Tin Mừng bình an. Trước khi đi Chúa Giêsu căn dặn rất kỹ :
Hành trang phải nhẹ tênh : không túi tiền, không bao bị, không giày dép để thực sự trở nên nghèo khó như Chúa Giêsu. Công việc thì cấp bách nên đừng chào hỏi ai dọc đường. Đến nơi đâu thì đầu tiên phải nói lời chào thân thiện “Bình an cho nhà này”. Đây không phải là bình an mà thế gian ban tặng dựa trên của cải vật chất, danh vọng… nhưng là bình an mà bài đọc I tiên tri Isaia đã loan báo Thiên Chúa sẽ ban cho Giêrusalem : “Này Ta đổ hòa bình tuôn xuống thành đô khác nào dòng sông cả, khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ…”. Bài đọc II cho biết : Bình an đó là chính Đức Kitô đã đến trần gian để giải thoát con người khỏi tội lỗi và sự chết bằng cuộc khổ nạn thập giá, dẫn đưa con người vào cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Một thái độ phải có là khiêm tốn, siêu thoát, đón nhận những gì người ta cung cấp cho, không tìm kiếm tiện nghi, dễ chịu. Một công việc phải làm là chữa lành bệnh tật những người ốm đau. Một lời rao giảng làm rộn lên niềm vui là “Nước Thiên Chúa đã đến gần anh chị em”. Tuy nhiên, cũng phải đón nhận sự tự do từ chối của người ta nhưng cũng phải loan báo cho người ta biết rằng “Nước Thiên Chúa đã đến gần”.
Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe là câu chuyện cách đây hơn 2000 năm, nhưng thử hỏi đến lúc này Tin Mừng đã có bao nhiêu người được đón nhận.
Thế giới có trên 6 tỷ người mà những người tin vào Thiên Chúa chỉ mới có 1 tỷ, và cũng có những người có đạo nhưng không sống đạo. Riêng tại Á Châu, trong 100 người thì còn hơn 97 người chưa biết Chúa. Và chúng ta phải suy nghĩ lời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói trong Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu là “Một điều thật bí ẩn là tại sao Đấng Cứu Thế sinh ra tại Á Châu, mà cho tới bây giờ phần lớn châu lục này vẫn không biết Người”. Thử nhìn ra trong khu xóm hoặc xung quanh chúng ta, còn bao nhiêu người chưa biết Chúa. Chắc chắn là đông như cánh đồng lúa chín mà Chúa đã nhìn thấy trước rồi phải không.
Do đó, lời mời gọi của Chúa Giêsu “Hãy trở nên sứ giả loan báo Tin Mừng bình an” cho mọi dân tộc, đặc biệt là dân tộc Á Châu vẫn luôn vang dội trong tâm hồn mỗi chúng ta, và càng khẩn thiết hơn khi bước vào ngàn năm thứ ba. Cùng với Hội thánh chúng ta “Hãy ra khơi” trở nên những sứ giả loan báo Tin Mừng bình an. Trong giới hạn của đất nước Việt Nam chúng ta, Chúa sẽ mời gọi mỗi người đi loan báo Tin Mừng mỗi cách khác nhau.
Thông thường chúng ta nghĩ việc loan báo Tin Mừng chỉ dành cho các Giám mục, Linh mục, Phó tế và tu sĩ nam nữ, mà quên đi rằng ngay từ lúc lãnh nhận Bí tích Rửa tội mỗi người chúng ta đã lãnh nhận sứ mạng ra đi loan báo Tin Mừng bình an rồi.
Cầu nguyện mỗi ngày và đóng góp quỹ truyền giáo hằng năm vào lễ “Khánh nhật truyền giáo”.
Sống chứng nhân nơi mình đang sinh sống , làm việc trung thực trong mọi hoàn cảnh, chia sẻ những khó khăn, nếu có thể được thì thăm viếng an ủi, đem tình thương và bình an cho những người ốm đau bệnh tật, nghèo khổ và cô đơn…
Nếu thực hiện được như thế thì chúng ta đã và đang loan báo Tin Mừng bình an rồi đó và tên của chúng ta đã được Chúa khắc ghi.
Chung quanh chúng ta còn nhiều người chưa biết Chúa, chúng ta phải sống làm sao để nên như sứ giả loan báo Tin Mừng bình an cho mọi người. Điều đó, Chúa Giêsu vẫn đang nhắc nhở mỗi người chúng ta nhất là khi tham dự thánh lễ là lúc chúng ta đón nhận bình an từ Thiên Chúa qua Chúa Giêsu ở lời chào đầu lễ của chủ tế, rồi chúng ta lại trao bình an đó cho nhau lúc “chúc bình an” và cuối thánh lễ chủ tế xướng lên “lễ xong chúc anh chị em ra đi bình an” đó là lúc chúng ta nhận sứ mạng mang bình an đó cho mọi người.
Ước gì lời Chúa hôm nay qua việc Chúa chọn 72 môn đệ làm sứ giả cho Ngài là động lực nhắc nhở mỗi người chúng ta một lần nữa “Hãy trở nên sứ giả loan báo Tin Mừng bình an”.

 

TN 14-C6. PV/490- LÀM CHỨNG

Bốn mươi năm sau khi rời bỏ trại giam Auschwitz, nhà văn Ý Primo Levi vẫn còn mang hình: TN 14-C6

Bốn mươi năm sau khi rời bỏ trại giam Auschwitz, nhà văn Ý Primo Levi vẫn còn mang hình xăm với con số của ông khi ở đó. Khi người ta hỏi ông tại sao không xóa nó đi, ông đáp : “Tại sao tôi phải làm thế ? Không có nhiều trong chúng ta được đưa vào thế giới để làm nhân chứng”. Alexander Solzhenitsyn nói rằng ông vẫn còn bốn mảnh vải dùng để vá mạng con số mà người ta phát cho ông khi còn trong nhà tù. Ông không phải là người duy nhất đem chúng ra khỏi trại giam. Không xấu hổ về những điều đó, ông nói : “Trong một số gia đình, chúng được phô bày ra như những thành tích”.
Thánh Phaolô cũng không xấu hổ vì những dấu tích mà ông mang trên mình ông vì Đức Giêsu Kitô. Thật vậy, ông bình thản lôi kéo sự chú ý về những dấu tích ấy (Bài đọc 2). Ông nói với những tín hữu Galát : “Những dấu tích trên người tôi là những dấu tích của Đức Kitô”. Bằng từ “dấu tích”, ông không có ý nói đến những dấu thánh như Padre Pio và những người khác cho rằng mình được in dấu thánh. Ông muốn nói đến những dấu tích, vết thẹo mà những gian lao, bệnh tật, sự đánh đòn, ném đá còn để lại trên thân thể của ông. Đó là những sự trả giá  cho việc ông phục vụ Đức Kitô.
Điều thú vị hơn nữa là sự kiện Đức Giêsu giữ lại dấu đinh và vết đóng đâm trên thân thể phục sinh của Người. Người ta có thể hy vọng Người làm mất hết mọi dấu tích để chứng tỏ rằng mọi sự đã qua cả rồi, đã ở sau lưng Người, và bởi vì Người đã không muốn làm cho các tông đồ khó xử vì họ đã bỏ rơi Người hoặc những người trực tiếp hay gián tiếp có trách nhiệm gây ra các dấu tích ấy”.
Nhưng Đức Giêsu đã không tháo bỏ mọi thương tích. Người đã giữ chúng lại. Đối với Người những vết tích ấy không làm cho Người xấu hổ hoặc bối rối. Chúng là những chứng cứ sống động của tình yêu Người, là những dấu chỉ hữu hình và hùng hồn một tình yêu chân thật phải trả giá như thế nào. Chúng giống như những huy hiệu danh dự, hoặc những huy chương chỉ sự lỗi lạc mà khó khăn lắm người ta mới giành được. Chúng vẫn là những thương tích nhưng chất độc đã bị trừ khử, và vì thế không còn làm tổn thương. Bởi vì các thương tích của Đức Giêsu vẫn còn thấy rõ trên thân thể Phục sinh của Người, chúng đã trở thành suối nguồn hy vọng cho tất cả chúng ta, đặc biệt cho những người đã chịu đau khổ và vẫn đang còn đau khổ.
Rất nhiều lần chúng ta muốn che giấu những thương tích của chúng ta. Chúng ta muốn giấu kín những tổn thương của qúa khứ. Và cả khi bên ngoài của chúng ta đã lành lặn, chất độc thường vẫn còn lại, và do đó còn gây thương tổn. Nếu chúng ta yêu, chúng ta phải sẵn sàng chịu thương tích. Tuy nhiên, điều đó không giúp cho chúng ta đạt đến mục đích cao cả, nếu vì thế mà chúng ta bị đầu độc bởi sự cay đắng và lòng thù hận. Sự cay đắng là điều tệ hại khủng khiếp. “Người ta có thể sống qua những gian khổ lớn lao nhưng chết bởi những cảm nghĩ đắng cay”. (Solzhenitsyn)

 

TN 14-C7. SCĐ/591- BÌNH AN

Lời đầu tiên mà Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải nói khi vào một nhà nào  là “Bình an cho: TN 14-C7

Lời đầu tiên mà Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải nói khi vào một nhà nào  là “Bình an cho nhà này”. Như thế nghĩa là họ sẽ làm những sứ giả của sự bình an. Nói cách khác, làm sứ giả của bình an là sứ mạng đầu tiên của người môn đệ Chúa.
Bắc Ailen là một đất nước mà hai khối dân Công giáo và Tin lành thù ghét nhau và nhiều lần bắn giết nhau. Vào một dịp lễ Giáng sinh, một linh mục Công giáo đi sang bên kia đường để đến thăm một mục sư Tin lành. Vị mục sư rất cảm động, đón tiếp vị linh mục rất niềm nở. Ít lâu sau vị mục sư cũng sang bên kia đường để thăm vị linh mục. Tình thân giữa hai người ngày càng thắm thiết hơn. Tuy nhiên một vài tín đồ lớn tuổi thì nổi giận. Họ tìm đủ cách để cấp trên của Giáo Hội thuyên chuyển vị mục sư ấy đi nơi khác.
Vị linh mục và vị mục sư trên chỉ làm điều mà tất cả các môn đệ Chúa Giêsu phải làm, đó là làm những sứ giả của bình an và hòa giải trong một xã hội có nhiều chia rẽ.
Bình an không phải là một cái gì tiêu cực do không có chiến tranh và thù hận. Nó đòi phải có tinh thần cởi mở, tình huynh đệ, lòng khoan dung, thiện chí và ước muốn hòa giải. Nó buộc chúng ta đi đến với người khác. Nó giúp chúng ta gỡ bỏ những rào cản của nghi kỵ, sợ hãi, thành kiến và óc cố chấp.
Trước lúc rước lễ, chủ tế chúc “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em”. Đây thực là một món quà quí giá mà thế gian không thể ban tặng được. Tiếp đó chủ tế kêu gọi “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau”. Đáp lời ngài, chúng ta chào nhau, đến bắt tay nhau hoặc ôm hôn nhau. Ước chi những cử chỉ đó không phải chỉ là hình thức mà thực sự bày tỏ lòng thân thiện của chúng ta. Cuối thánh lễ, chủ tế lại chúc “Chúc anh chị em ra về bình an”. Câu này có nghĩa là chúng ta đã đến nhà thờ lãnh nhận bình an của Chúa, vậy khi ra về chúng ta cũng hãy mang bình an ấy đến cho mọi người chúng ta sẽ gặp gỡ.

 

TN 14-C8. SCĐ/592- ĐỒNG LÚA

Một buổi tối nọ, ông John Keller, một diễn giả nổi tiếng được mời thuyết trình trước khoảng: TN 14-C8

Một buổi tối nọ, ông John Keller, một diễn giả nổi tiếng được mời thuyết trình trước khoảng một trăm ngàn người tại vận động trường Los Angeles. Đang diễn thuyết, bỗng ông dừng lại và nói : “Xin các bạn đừng sợ. Tôi sắp cho tắt tất cả đèn trong sân vận động này”.
Đèn tắt, sân vận động chìm sâu trong bóng tối dày đặc. Ông John Keller nói tiếp : “Bây giờ tôi đốt lên một que diêm. Những ai nhìn thấy ánh lửa của que diêm tôi đốt thì hãy kêu lớn lên : “Đã thấy !” Một que diêm được bật lên, cả vận động trường vang lên “Đã thấy !”
Sau khi đèn được bật sáng, ông John Keller giải thích : “Anh sáng của một hành động nhân ái nhỏ như một que diêm sẽ chiếu sáng trong đêm tăm tối của nhân loại y như vậy”.
Một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại tắt. Một giọng nói vang lên ra lệnh : “Tất cả những ai có mang theo hộp quẹt, xin hãy đốt cháy lên !” Bỗng chốc, cả vận động trường rực sáng.
Ông John Keller kết luận : “Tất cả chúng ta hợp lực cùng nhau, có thể chiến thắng bóng tối, sự dữ và oán thù bằng những đốm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của chúng ta”.
Đã qua 2000 năm những lời dạy của Chúa Giêsu vẫn như đang nói với chúng ta hôm nay : “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít”. Thế giới có trên 6 tỉ người, mà kẻ tin vào Chúa mới chỉ hơn một tỉ. Riêng tại Á Châu, chiếm 2/3 dân số thế giới, nhưng người Công giáo chỉ không tới 3/o.
Cánh đồng lúa mênh mông còn bị bỏ hoang không thợ gặt hái. Thế giới này dường như vẫn còn mò mẫm trong bóng đêm dày đặc của sự dữ, của tranh chấp, của oán thù ; rất cần những đốm sáng của tình thương, của khoan dung, của tha thứ. Thế nên, không lạ gì Chúa Giêsu đã nói : “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói”.
“Ra đi” chứ không phải “ở lại”, đó là một lệnh truyền. Cả cuộc đời của Thầy là một hành trình : Sinh ra ngoài đường, sống và rao giảng ngoài đường, cuối cùng chết cũng ngoài đường. Thầy luôn lên đường và không ngừng ra đi. Công đồng Vaticanô II cũng long trọng khẳng định : “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo”. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng qủa quyết : “Không một ai trong những người tin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này : Đó là loan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc”
Vậy ơn gọi của người tín hữu Kitô là “ra đi”.
Ra đi đem “bình an” đến cho các dân tộc, bình an giữa mọi người với nhau, bình an với Chúa.
Ra đi chữa lành bệnh nơi thể xác cũng như trong tâm hồn.
Ra đi loan báo Nước Thiên Chúa đã đến gần, nước tình yêu và ân sủng, nước công chính và bình an.
Thánh Phaolô đã phải thốt lên : “Khốn cho thân tôi : nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”. Nhưng việc làm mới chứng thực cho lời rao giảng, và lời rao giảng sẽ soi sáng cho việc làm. Ra đi là để làm chứng, và lời chứng sáng giá nhất chính là việc làm. Đúng như L. Moody đã nói : “Các ngọn hải đăng không thổi còi ầm ỉ, chúng chỉ chiếu sáng”.

 

TN 14-C9. Tất Cả Những Người Cô Đơn

Tôi xin được trích một phần của bản nhạc "Eleanor Rigby" từ thời 1966 của ban nhạc Beatles: TN 14-C9

Tôi xin được trích một phần của bản nhạc "Eleanor Rigby" từ thời 1966 của ban nhạc Beatles:
Ôi, hãy nhìn những con người cô đơn: Eleanor Rigby đang lượm những hạt gạo ở trong nhà thờ sau một đám cưới, và sống trong mơ mộng... Những người cô đơn đến từ đâu vậy? Những người cô đơn ở đâu vậy?
"Eleanor Rigby" đã làm một phần của phong trào âm nhạc hiện thời mà có thể giúp cho người nghe không thể nào mà không mủi lòng, và nó đã gây ảnh hưởng rất nhiều cho giới trẻ. Bản nhạc đó vẫn còn đánh vào tim đen của con người. Nó vẫn còn đặt ra một câu hỏi, "Thế nào là một con người hoàn thiện?" Nhìn xung quanh, chúng ta thấy rất nhiều người đang phải đương đầu với nhiều vấn đề. Tận thâm tâm của mỗi người đều đang dâng lên một câu hỏi, "Đi đâu để tìm một cuộc sống hạnh phúc?" "Ai có thể chỉ cho chúng ta cuộc sống hạnh phúc?" Không ai giàu có mà mãn nguyện cả. Người nghèo phải chiến đấu để mà sống. Còn những người thuộc vào cấp trung lưu thì có cả đến ngàn cuốn sách đã ghi về cuộc sống buồn chán của họ. Nếu thật sự cả ba giới trong xã hội đều là như vậy thì con người có thể nào tìm được hạnh phúc không?
Bài Phúc Âm hôm nay cho chúng ta một đầu mối quan trọng cho câu hỏi ở trên. Thánh Luca nói với chúng ta rằng Chúa Giêsu đã chọn 72 tông đồ và sai họ đi vào các thành để chuẩn bị cho dân chúng ở đó đón tiếp Ngài. Nhiệm vụ của họ chính là nói cho dân chúng biết Chúa Giêsu đang đến với một sứ mạng cao cả. Chúa Giêsu được sai đến từ Thiên Chúa. "Hãy chữa những người bệnh tật", và nói cho người ta biết rằng "Nước Thiên Chúa đã đến gần," Chúa Giêsu đã truyền dạy cho các tông đồ (Lc 10:9). Đồng thời Chúa Giêsu cũng căn dặn các tông đồ những điều các ông nên làm và không nên làm. Các tông đồ ra đi và thâu lượm được nhiều kết quả, và các ông thuật lại cho Chúa Giêsu, "Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỉ cũng phải khuất phục chúng con" (Lc 10:17). Chúa Giêsu trả lời họ, "Anh em chớ mừng vì quỉ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời" (Lc 10:20). Phần đầu tiên của câu Phúc Âm vừa rồi không có gì khó hiểu cả. Chúa Giêsu khuyên dạy các tông đồ của Ngài rằng đừng sống dựa vào những cái vinh dự mau qua. Cái vinh dự trừ quỉ hoặc làm được những phép lạ này nọ, đó chính là điều mà con người chúng ta thường hay bám vào. Chúng ta thường bám vào những cái gì là vinh quang chóng qua ở đời này.
Phần thứ hai không phải là một điều dễ hiểu khi Chúa Giêsu nói tên các con được ghi ở trên trời.
"Các Mối Phúc Thật", như các bạn đã biết đó là những lời mở đầu của Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu, là một danh sách ngắn những điều thỏa nguyện. Đáng tiếc thay, rất nhiều người đi tìm hạnh phúc mà không phải đi theo lối của các mối phúc thật. Vấn đề là ở chỗ họ đã quá tập trung vào những cái không được làm cái này cái nọ mà đã đưa đến việc kết luận là những điều Chúa Giêsu thì chỉ là mơ hồ và không thể nào đạt nổi. Họ có thể quên hoặc không biết rằng sứ điệp của Chúa Giêsu không phải là, "Nếu con yêu thương kẻ thù, cầu nguyện cho kẻ bắt bớ, và đưa má bên kia, thì con sẽ được hạnh phúc." Ngược lại, những người được chúc phúc và hạnh phúc sẽ yêu thương kẻ thù, cầu nguyện cho kẻ bắt bớ họ, và đưa má bên kia. Nói một cách khác, không phải, "Nếu anh đã có vợ, và nếu anh không đi ngoại tình thì anh là người được hạnh phúc." Nhưng là, "Nếu anh đã có vợ và sống dựa trên Lời Chúa, anh là người hạnh phúc, và anh sẽ không đi theo người đàn bà khác."
Mối phúc thứ nhất trong 8 Mối Phúc Thật là phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó. Điều đó có nghĩa là những ai có tinh thần nghèo khó mà biết rằng mình thiếu thốn. Khi họ nhận biết được điều đó, họ phải biết cậy trông vào Chúa để nhận ra ý nghĩa của cuộc sống. Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó bởi vì họ sẽ tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng duy nhất có thể làm cho lòng họ được thỏa nguyện.

 

TN 14-C10. Vào Nhà, Vào Thành Phố

Suy Niệm
 

Dân số Châu Á chiếm gần hai phần ba thế giới nhưng số người nhận biết Chúa chưa tới 3%: TN 14-C10

Dân số Châu Á chiếm gần hai phần ba thế giới nhưng số người nhận biết Chúa chưa tới 3%. Cánh đồng lúa chín mênh mông đang cần thợ gặt.
Đức Giêsu hôm nay vẫn có nhiều nơi Ngài muốn đến, nhiều căn nhà, nhiều thành phố Ngài muốn đặt chân. Ngài cần những người đi trước để chuẩn bị cuộc gặp gỡ giữa Ngài với con người.
Khoa học càng tiến bộ, cuộc sống càng văn minh thì càng có nhiều lãnh vực mới Đức Giêsu cần vào.
Đưa Ngài vào thật là một thách đố cho chúng ta.
Ngài phải vào cả những nơi tưởng như bị cấm. Nhưng nếu chúng ta được Ngài sai vào trước, thì thế nào cuối cùng Ngài cũng vào được.
Nếp sống cao ở thành thị vừa gây cản trở, vừa cung ứng cho ta nhiều phương tiện để đưa Ngài vào. Hãy chuẩn bị cho Ngài vào thành phố của bạn, vào trường học, sân vận động, vào xí nghiệp, công ty... Hãy chuẩn bị để Ngài vào từng nhà, gặp từng người.
Mọi Kitô hữu đều được mời gọi để làm việc đó.
Đâu là khuôn mặt của người được sai hôm xưa? Hiền lành như chiên giữa bầy sói. Khó nghèo thanh bạch, không túi tiền, giầy dép, bao bị. Khiêm tốn đón nhận sự giúp đỡ về nhà ở cơm ăn. Tôn trọng tự do tha nhân, chấp nhận bị từ chối.
Người Châu Á hôm nay dễ đón nhận người tông đồ sống khổ hạnh, thoát tục, sống thư thái, trầm tư, sống nhân từ, phục vụ.
Cuộc sống của họ phải tỏa hương thơm của thế giới mai sau, phải có khả năng nâng con người lên Đấng Tuyệt Đối.
Đâu là đóng góp của người được sai hôm xưa? Vừa chữa người đau yếu và trừ quỷ, vừa loan báo về triều đại Thiên Chúa gần đến. Việc làm chứng thực lời giảng, lời giảng soi sáng việc làm. Cả hai đều đem lại niềm vui, bình an và hạnh phúc.
Thế giới hôm nay vẫn là một thế giới bệnh tật, một thế giới thèm khát tự do, thèm được là mình. Chúng ta sẽ rao giảng gì cho 97% dân Châu Á mà phần đông đã tin vào một Đấng Cứu Độ?
Đức Giêsu đem đến cho nhân loại quà tặng đặc biệt nào? Chúng ta phải tập trình bày sứ điệp Kitô giáo, nên cũng phải học nhiều nơi các tôn giáo Á Châu. Các giám mục Malaysia, Singapore và Brunei đã liệt kê những gì có thể học được nơi họ.
Học cầu nguyện, ăn chay, bố thí nơi người Hồi giáo. Học suy niệm và chiêm niệm nơi người Ấn giáo. Học từ bỏ của cải và trọng sự sống nơi người Phật tử. Học thái độ thảo hiếu, tôn lão kính trưởng nơi đạo Khổng. Học sự đơn sơ, khiêm tốn nơi người theo đạo Lão.
Càng học, ta càng dễ giới thiệu Đức Giêsu, và càng thấy Ngài đang ẩn mình nơi những tôn giáo khác.
Gợi Ý Chia Sẻ
Theo ý bạn, đâu là những nét đặc biệt của mẹ Têrêxa Calcutta, khiến cả thế giới mộ mến?
Theo ý bạn, muốn truyền giáo thành công cho dân tộc Việt Nam, người tông đồ cần có những đức tính căn bản nào?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, xin sai chúng con lên đường nhẹ nhàng và thanh thoát, không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào những phương tiện trần thế.
Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm: rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ, chữa lành những người ốm đau.
Xin cho chúng con biết chia sẻ Tin Mừng với niềm vui của người tìm được viên ngọc quý, biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân.
Xin ban cho chúng con khả năng đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa.
Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ của bao người đau khổ thể xác tinh thần.
Lạy Chúa Giêsu, thế giới thật bao la mà vòng tay chúng con quá nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau mà tin tưởng lên đường, nhẹ nhàng và thanh thoát.

 

TN 14-C11. Anh Em Hãy Ra Đi

Suy Niệm
 

Ai được mời gọi gặt lúa? Không phải chỉ là nhóm Mười Hai tông đồ, mà là 72 môn đệ; Không: TN 14-C11

Ai được mời gọi gặt lúa? Không phải chỉ là nhóm Mười Hai tông đồ, mà là 72 môn đệ; Không phải chỉ là 12 chi tộc Israel, mà là mọi người thuộc mọi dân nước.
Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Mọi Kitô hữu đều được mời làm thợ gặt. Cả linh mục, tu sĩ, giáo dân đều được sai đến với cánh đồng hôm nay.
Một lời rao giảng làm rộn lên niềm vui: Nước Thiên Chúa đã đến gần anh chị em.
Một lời chào thân thiện: Bình an cho nhà này.
Một thứ hành trang nhẹ tênh: không túi tiền, bao bị, giày dép.
Một việc phải làm: chữa lành những người ốm đau.
Một thái độ phải có: khiêm tốn và siêu thoát, đón nhận những gì người ta cung cấp cho, không tìm kiếm tiện nghi, dễ chịu.
Nếu hôm nay Đức Giêsu sai chúng ta đi, Ngài sẽ dặn chúng ta điều gì? Chắc Ngài sẽ dặn khác, vì cánh đồng con người đã đổi khác.
Chúng ta phải hiểu thấu nỗi khát vọng của bạn bè, phải biết nói sao để họ hiểu được, nhạy cảm để thấy điều họ thực sự đang cần, và sống hài hòa với lời mình giảng.
Có thể chúng ta sẽ đi giày, và có ba, bốn áo, sẽ có ví tiền và máy vi tính xách tay, sẽ có văn phòng, máy fax và điện thoại. Nhưng những thứ đó không làm chúng ta nặng nề.
Hành trang không được trở thành những cản trở khiến ta mất sự tín thác vào Thiên Chúa và xa lạ với con người, nhất là những người nghèo khổ.
Hôm nay Chúa sai chúng ta làm chứng giữa đời, đôi khi ta thấy mình như chiên non giữa bầy sói. Chúng ta cứ phải trăn trở hoài để Tin Mừng chúng ta rao giảng cho bạn bè, thực sự đáp ứng những khát khao thầm kín của họ: khát khao an bình, tự do, niềm tin và hạnh phúc, khát khao tình huynh đệ, sự chia sẻ, tha thứ, cảm thông; để những việc chúng ta làm cho họ xoa dịu được nỗi đau nhức nhối, và giải phóng họ khỏi xiềng xích của ác thần, đang nô lệ hoá con người dưới muôn vàn hình thức.
Các môn đệ hớn hở mừng vui khi lần đầu tiên họ trừ được quỷ nhân danh Thầy. Vương quốc của Satan bị đẩy lui bởi những con người bình thường và yếu đuối.
Hôm nay, khi xây dựng một thế giới công bằng và yêu thương chúng ta tiếp tục đẩy lui Satan, để Nước Chúa lớn lên trên mặt đất này, và trở nên viên mãn trong ngày sau hết.
Gợi Ý Chia Sẻ
Muốn trở thành tông đồ cho người trẻ hôm nay, theo ý bạn, cần có những điều kiện gì?
Satan và sự ác vẫn hoành hành trên thế giới và trong từng tập thể. Chúng ta phải làm gì để chống lại? Bạn có thấy bóng dáng của Satan trong đời bạn không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, xin sai chúng con lên đường nhẹ nhàng và thanh thoát, không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào những phương tiện trần thế.
Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm: rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ, chữa lành những người ốm đau.
Xin cho chúng con biết nói Tin Mừng với niềm vui, như người tìm được viên ngọc quý, biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân.
Xin ban cho chúng con khả năng đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa.
Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ của bao người đau khổ thể xác tinh thần.
Lạy Chúa Giêsu, thế giới thật bao la mà vòng tay chúng con quá nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau mà tin tưởng lên đường, nhẹ nhàng và thanh thoát.

 

TN 14-C12. Các môn đệ đã thành công trong sứ mệnh - Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay
(c.1) "Sau đó": sau khi vào làng Sa-ma-ri và bị dân làng từ chối tiếp đón (9:51-53), Đức Giêsu tiếp tục cuộc hành trình của Ngài lên Giêrusalem để chịu nạn, chịu chết, được phục sinh và lên trời.
"bảy mươi hai": theo sự giảng dạy của Do Thái giáo có bảy mươi hai quốc gia trên thế giới (Kh 10:2-31). Luca có thể muốn ám chỉ sứ mệnh rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội cho toàn thể nhân loại sau khi Đức Giêsu ra đi.
"từng hai người một": Các môn đệ được sai đi từng hai người một để giúp đỡ nhau và cũng để làm chứng lẫn cho nhau về những gì họ kể lại (Đnl 19:15, Mt 18:16).
(c.3) "chiên con giữa bầy sói": cho thấy trước các thừa sai sẽ không có phương tiện tự vệ khi gặp những sự hung dữ nơi các xứ xa lạ, và cũng nhắc lại lời tiên tri của Isaia rằng chiên con sẽ nằm bên sói dữ (Is. 11:6, 65:25)
(c.4) Vì sự cấp bách, các thừa sai của Đức Giêsu phải tự do với của cải vật chất, không đem theo gì cả, và cũng không để bị chi phối bởi những tục lệ chào hỏi thông thường.
(c 17) "ma quỉ": nhắc lại quyền năng của Đức Giêsu trên ma quỉ tại Galilê (8:26-39). Đức Giêsu trao cho bảy mươi hai môn đệ quyền trừ ma quỉ tương tự như đã cho Nhóm Mười Hai (9:1-2).
(c.19) "rắn rết, bọ cạp": là những hiện thực của sự dữ trong cuộc sống Palestine (Cvtđ 28:1-6)
(c.20) "tên anh em được ghi trên trời": các môn đệ đã được lãnh nhận phần thưởng cứu chuộc.
Một Điểm Chính
 

Các môn đệ đã thành công trong sứ mệnh đi rao giảng vì họ là khí cụ của ân sủng Thiên Chúa: TN 14-C12

Các môn đệ đã thành công trong sứ mệnh đi rao giảng vì họ là khí cụ của ân sủng Thiên Chúa. Đó là lý do thực sự để các ông vui mừng.
Suy Niệm
Đức Giêsu mời tôi rao giảng Tin Mừng của Ngài như thế nào trong thế giới ngày hôm nay? Đâu là những trở ngại tôi đang gặp? Tôi cần những gì để vượt thắng những trở ngại này?
Đã bao giờ tôi cảm thấy như một chiên non đi giữa sói dữ chưa? Tôi đã học được kinh nghiệm gì chăng?

 

TN 14-C13 HÃNH DIỆN VÌ THẬP GIÁ ĐỨC GIÊSU KITÔ

 - Lm. Jos. Phạm thanh Liêm
 

Sứ mạng của ki-tô hữu hôm nay là rao giảng Đức Yêsu bị đóng đinh thập giá đã phục sinh, Ngài: TN 14-C13

Sứ mạng của ki-tô hữu hôm nay là rao giảng Đức Yêsu bị đóng đinh thập giá đã phục sinh, Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Khi nhận biết Đức Yêsu là Thiên Chúa nhập thể, người ta sẽ biết được Thiên Chúa yêu thương con người đến độ nào! Thập giá trở thành biểu tượng của Đấng chịu đóng đinh, và rao giảng về thập giá là rao giảng về tình yêu nhập thể.
Khám phá kho tàng qua thập giá Đức Yêsu
Một đời vất vả lam lũ rao giảng Tin Mừng, công trạng của Phaolô rất to lớn, nhưng Phaolô nói: “ước gì tôi không hãnh diện về điều gì khác ngoài thập giá Đức Yêsu, Chúa tôi”. Với người đánh giá mọi sự theo giá trị phàm trần, thập giá chỉ là một cây gỗ, có gì mà hãnh diện? Cái chết ô nhục trần trụi trên thập giá, có gì đáng tự hào? Phaolô hãnh diện vì thập giá, không phải vì đó là một cây gỗ, nhưng Ngài hãnh diện vì Con Người đã chết trên thập giá, Đức Yêsu- Đấng yêu thương con người đến chấp nhận cái “chết treo thập giá trần trụi ô nhục”.
“Đức Yêsu chết treo thập giá”, dạy Phaolô và con người của mọi thời đại rất nhiều bài học. Ai sống trên đời mà không ham sống lâu, không ham giầu sang, không ham được trọng vọng? Có nhiều người khi bị nghèo, không được trọng vọng, không quyền cao chức trọng, thì than thân trách phận, làm như thể cuộc đời họ không còn ý nghĩa gì nữa. Cái hiểu biết sai lầm này, làm chính đương sự không hạnh phúc, và cũng làm những người thân cũng như những người sống với họ, bị ảnh hưởng. Có biết bao gia đình tan hoang vì một trong hai vợ chồng đã có quan niệm sai lạc như vậy.
Hãnh diện vì thập giá Đức Yêsu, là hãnh diện vì mình chỉ là người trần nhưng được Thiên Chúa yêu thương vô cùng, vì Thiên Chúa nhập thể đã yêu con người đến chết trên thập giá. Con người đối với Thiên Chúa thật đáng quý biết bao. Nếu chính Thiên Chúa còn quý trọng con người đến độ chết cho con người, nghĩa là con người có giá trị thực sự trước Thiên Chúa, thì con người cũng phải biết yêu thương kính trọng nhau. Thập giá Đức Yêsu, là bằng chứng cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Hãnh diện vì thập giá, là hãnh diện vì mình được yêu, là hãnh diện vì mình nhận thức được chân lý, biết được giá trị đích thực của cuộc đời.
Rao giảng Nước Thiên Chúa trong mọi tình huống
Đức Yêsu đã sai gởi không chỉ nhóm 12, nhưng Ngài còn sai 72 môn đệ đi rao giảng về Nước Thiên Chúa nữa. Sứ điệp rao giảng là “Nước Thiên Chúa đến gần”. Qua cái chết và sống lại của Đức Yêsu, “nước Thiên Chúa” đã đến và đang đến.
Đâu là cách hành xử của người ra đi rao giảng Tin Mừng? Không mang theo túi tiền, không bị, không giày dép; không chào hỏi ai dọc đường! Người rao giảng Tin Mừng, chẳng có gì đáng giá ngoại trừ chính sứ điệp rao giảng. Người rao giảng Tin Mừng, chỉ lo lắng sao cho Tin Mừng được loan báo, và không bận tâm về những điều không cần thiết như lương thực, quần áo, giầy dép. Những việc chào hỏi dọc đường có thể làm người có sứ mạng quên mất công việc chính yếu của họ. Việc rao giảng Tin Mừng, quan trọng và khẩn thiết hơn tất cả những việc xã giao, chào hỏi. Những gì ngăn trở cho việc rao giảng, phải được bỏ đi.
Với những người được rao giảng, phải như thế nào? Với những người tiếp đón các ngài, các ngài chúc bình an và loan báo cho họ biết “Nước Thiên Chúa đến gần”; với những người không tiếp đón các ngài, các ngài giũ cả bụi chân lại nhưng vẫn loan báo “Nước Thiên Chúa đã đến gần”. Môn đệ của Đức Yêsu rao giảng tin mừng Nước Trời trong mọi trường hợp, lúc thuận lợi cũng như những lúc bất thuận lợi, lúc được đón nhận cũng như lúc bị từ chối.
“Nếu ở đó có ai đáng hưởng bình an…”. Bình an hệ tại thái độ nội tâm của con người, tuỳ thuộc thái độ của người đó có sẵn sàng đón nhận Tin Mừng của Thiên Chúa hay không. Phaolô và các tông đồ, khi đi rao giảng các Ngài bị bắt bớ tra tấn, nhưng các Ngài vẫn có sự bình an đích thực. Sự bình an mà Đức Yêsu hứa ban cho các môn đệ của Ngài, và thế gian không thể cướp đi được. Những yếu tố bên ngoài, ảnh hưởng đến con người, nhưng không thể làm một người “theo Chúa” mất bình an.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Khi nói về thập giá, điều gì gợi lên trong đầu bạn? Nói thật với lòng mình, bạn thấy “thập giá” có ích lợi gì không?
2. Bình an là gì? Theo bạn, đâu là điều kiện để có bình an thực sự?
3. Một ki-tô hữu có được trao sứ mạng rao giảng Tin Mừng không? Cung cách hành xử cho những người được sai đi loan báo tin mừng “Nước Thiên Chúa”, có áp dụng đối với các ki-tô hữu không? Tại sao?

 

TN 14-C14. CHÚA SAI TÔI ĐI LOAN TIN BÌNH AN VÀ HẠNH PHÚC

"Ngài sai họ đi từng hai người một"
(Lc 10,1):
Sợi chỉ đỏ 
- Bài đọc I (Is 66,10-14c) : Khi dân do thái đang vừa trở về từ chốn lưu đày, ngôn sứ Isaia loan báo rằng Thiên Chúa sẽ ban bình an và hạnh phúc tràn trề cho họ.
- Đáp ca (Tv 65) : Ca tụng những phúc lành của Thiên Chúa.
- Tin Mừng (Lc 10,1-12.17-20) : Chúa Giêsu sai 72 môn đệ đi khắp nơi loan báo Tin Mừng.
- Bài đọc II (Gl 6,14-18) : Thánh Phaolô loan báo những phúc lành mà Thập giá Chúa Giêsu ban cho các tín hữu.
Minh họa
- Mille images 67 C
- "Ngài sai họ đi từng hai người một" (Lc 10,1)
I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
 

Bài Tin Mừng hôm nay thuật chuyện Chúa Giêsu sai 72 môn đệ đi khắp nơi như những sứ giả: TN 14-C14

Bài Tin Mừng hôm nay thuật chuyện Chúa Giêsu sai 72 môn đệ đi khắp nơi như những sứ giả của sự bình an và hạnh phúc. Ngày nay Chúa cũng sai chúng ta như thế. Nhưng muốn là những sứ giả của bình an và hạnh phúc thì trước tiên chúng ta phải có bình an và hạnh phúc trong lòng chúng ta. Đó là hai ơn rất quý mà chúng ta hãy xin Chúa ban trong Thánh lễ này.
II. Gợi ý sám hối
- Chúng ta chỉ lo đến phần rỗi của riêng mình mà không nghĩ đến việc cứu rỗi người khác.
- Trong cuộc sống chung đụng với người khác, chúng ta chưa thực sự là những người mang lại bình an và hạnh phúc cho họ.
- Chúng ta chưa được như Thánh Phaolô, biết sung sướng hãnh diện vì Thập Giá Đức Kitô.
III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (Is 66,10-14c)
Vua Cyrus nước Ba Tư vừa tiêu diệt đế quốc Babylon và ký sắc lệnh cho phép dân do thái hồi hương. Trong bầu khí phấn khởi vui mừng đó, ngôn sứ Isaia nói tiên tri rằng Thiên Chúa sẽ ban phúc lành cho dân. Điều đáng lưu ý là phúc lành quý giá nhất chính là ơn bình an : "Ta sẽ làm cho bình an chảy đến nó (Giêrusalem) như con sông".
2. Đáp ca (Tv 65)
Tv này reo mừng Thiên Chúa và ca ngợi về những ơn lành của Ngài.
3. Tin Mừng (Lc 10,1-12.17-20)
Đoạn Tin Mừng này đã được Phụng vụ cắt bớt khúc giữa (cc 13-16), để chỉ còn lại hai phần chính : Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng (cc 1-12), và các môn đệ rao giảng xong trở về kể chuyện cho Ngài nghe (cc 17-20)
a/ Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng :
- Theo tường thuật của Thánh Luca, Chúa Giêsu đã sai đi rao giảng không phải chỉ nhóm tông đồ mà còn cả nhóm môn đệ nữa. Luca muốn nhấn mạnh rằng không riêng gì các tông đồ, mà tất cả mọi người đều được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng. Ý này lại được làm rõ thêm với con số 72. Đây là số dân của loài người mà St 10 đã liệt kê.
- "Từng nhóm hai người" : Việc loan Tin mừng không phải là việc của một cá nhân riêng lẻ, mà là việc của cộng đoàn, không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải liên đới và liên kết với nhiều người khác.
- "Hãy cầu xin" : Việc đầu tiên mà nhà truyền giáo phải làm là "cầu xin". Thiên Chúa là chủ mùa gặt, nhận ai vào Nước Thiên Chúa là quyền của Ngài và là ơn của Ngài. Chúa Giêsu bảo cầu xin là để các môn đệ ý thức rằng họ được gọi là nhờ ơn Chúa, và để có thêm nhiều người nữa nhận được ơn ấy.
- "Như chiên non vào giữa sói rừng" : Chúa Giêsu khuyến cáo các môn đệ về những hiểm nguy và sự thù nghịch mà có thể họ sẽ gặp phải.
- "Đừng chào ai dọc đường" : việc chào hỏi của người Phương Đông thường kéo theo những câu chuyện rề rà rất lâu. Trong khi sứ mạng loan Tin mừng đòi phải gấp.
- "Bình an cho nhà này" : đây vừa là một lời chúc vừa là một lời ban ơn bởi vì nó có sức tạo nên điều nó chúc (Is 45,23). Người rao giảng Tin Mừng phải là "con cái của sự bình an". Họ phải có bình an trong mình và sau đó đem bình an ấy ban lại cho người khác. Nếu nhà nào đáng được hưởng ơn bình an thì được bình an, nếu không thì ơn bình an trở lại cho người chúc.
- "Cứ ở lại nhà ấy" : gặp nhà nào đầu tiên cho ở thì người môn đệ hãy ở đó. Đừng tìm hiểu nhà để so sánh chọn lựa nhà nào tiện nghi hơn. Điều quan trọng là loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa chứ không phải tiện nghi cho mình hoặc cách người ta tiếp rước mình.
- "Ăn uống của người ta cung cấp cho mình" : sứ mạng của môn đệ đừng để bị ảnh hưởng bởi những quan tâm có tính cách trần thế (đòi hỏi hoặc e ngại những gì của ăn uống người ta lo cho mình).
          - "Thợ đáng trả lương" : đây là một nguyên tắc (1Tm 5,18 ; 1Cr 9,11). Nhưng người thừa sai cũng có thể tự ý từ chối (1Cr 9,14-18).
          - "Người ta dọn thức gì cứ ăn thức ấy" : Người rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu không còn bị bận vướng bởi luật Môsê về sự phân loại thức ăn nào sạch, thức ăn nào dơ (1Cr 10,27).
          - "Hãy chữa lành các bệnh nhân" : đây là dấu hiệu Nước Thiên Chúa gần đến.
          - "Phủi bụi chân" : người Do Thái thường phủi bụi chân khi từ một vùng đất ngoại trở về đất Palestina vốn được coi là đất thánh. Cử chỉ này có nghĩa là không có chung đụng giữa Israel và dân ngoại. Thành nào không đón nhận sứ điệp của Chúa Giêsu thì cũng cắt đứt liên hệ với dân Thiên Chúa, trách nhiệm là thuộc về họ.
          - Thành đó sẽ đáng chịu phán xét trong ngày chung thẩm, họ sẽ bị trừng phạt nặng nề còn hơn Sôđôma ngày xưa. Việc các thừa sai đến loan Tin mừng là cơ hội cho người ta chọn lựa để hoặc được cứu độ hoặc bị luận phạt.
b/ Sau một thời gian đi truyền giáo trở về, các môn đệ vui mừng kể lại cho Chúa Giêsu nghe những thành công của mình. Nhân dịp này Chúa Giêsu nhận xét về kết quả ấy của họ : Ngài chia vui với họ vì những thành công ấy. Nhưng Ngài cho biết họ càng nên vui mừng hơn vì Thiên Chúa đã coi họ là công dân của Nước Trời ("tên các con được ghi trên trời")
4. Bài đọc II (Gl 6,14-18)
Trong đoạn thư này gởi tín hữu Galata, Thánh Phaolô chia xẻ cho họ biết một Tin Mừng đặc biệt mà Ngài khám phá ra, đó là giá trị tuyệt vời của thập giá Đức Kitô :
- Thập giá đã mang lại ơn cứu độ cho mọi người
- Thập giá trở thành lẽ sống của Phaolô
- Thập giá là nguồn bình an và hạnh phúc của Ngài.
IV. Gợi ý giảng
1. Những kẻ mang bình an
Lời đầu tiên mà Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải nói khi vào một nhà nào là "Bình an cho nhà này". Như thế nghĩa là họ sẽ làm những sứ giả của sự bình an. Nói cách khác, làm sứ giả của bình an là sứ mạng đầu tiên của người môn đệ Chúa.
Bắc Ai Len là một đất nước mà hai khối dân Công giáo và Tin lành thù ghét nhau và nhiều lần bắn giết nhau. Vào một dịp lễ Giáng sinh, một Linh mục công giáo đi sang bên kia đường để đến thăm một Mục sư Tin Lành. Vị Mục sư rất cảm động, đón tiếp vị Linh mục rất niềm nỡ. Ít lâu sau Vị Mục Sư cũng sang bên kia đường để thăm vị Linh mục. Tình thân giữa hai người ngày càng thắm thiết hơn. Tuy nhiên một vài tín đồ lớn tuổi thì nổi giận. Họ tìm đủ cách để cấp trên của Giáo Hội thuyên chuyển vị Mục sư ấy đi nơi khác.
Vị Linh mục và Vị Mục sư trên chỉ làm điều mà tất cả các môn đệ Chúa Giêsu phải làm, đó là làm những sứ giả của bình an và hòa giải trong một xã hội có nhiều chia rẻ.
Bình an không phải là một cái gì tiêu cực do không có chiến tranh và thù hận. Nó đòi phải có tinh thần cởi mở, tình huynh đệ, lòng khoan dung, thiện chí và ước muốn hòa giải. Nó buộc chúng ta đi đến với người khác. Nó giúp chúng ta gỡ bỏ những rào cản của nghi kỵ, sợ hãi, thành kiến và óc cố chấp.
Trước lúc Rước Lễ, chủ tế chúc "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em". Đây thực là một món quà quý giá mà thế gian không thể ban tặng được. Tiếp đó chủ tế kêu gọi "Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau". Đáp lời Ngài, chúng ta chào nhau, đến bắt tay nhau hoặc ôm hôn nhau. Ước chi những cử chỉ đó không phải chỉ là hình thức mà thực sự bày tỏ lòng thân thiện của chúng ta. Cuối Thánh lễ, chủ tế lại chúc "Chúc anh chị em ra về bình an". Câu này có nghĩa là chúng ta đã đến nhà thờ lãnh nhận bình an của Chúa, vậy khi ra về chúng ta cũng hãy mang bình an ấy đến cho mọi người chúng ta sẽ gặp gỡ.
2. Mênh mông lúa đồng
Một buổi tối nọ, ông John Keller, một diễn giả nổi tiếng được mời thuyết trình trước khoảng một trăm ngàn người tại vận động trường Los Angeles. Đang diễn thuyết, bỗng ông dừng lại và nói : "Xin các bạn đừng sợ. Tôi sắp cho tắt tất cả đèn trong sân vận động này".
Đèn tắt, sân vận động chìm sâu trong bóng tối dày đặc. Ông John Keller nói tiếp : "Bây giờ tôi đốt lên một que diêm. Những ai nhìn thấy ánh lửa của que diêm tôi đốt thì hãy kêu lớn lên : "Đã thấy !" Một que diêm được bật lên, cả vận động trường vang lên : "Đã thấy !"
Sau khi đèn được bật sáng, ông John Keller giải thích : "Ánh sáng của một hành động nhân ái nhỏ như một que diêm sẽ chiếu sáng trong đêm tăm tối của nhân loại y như vậy".
Một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại tắt. Một giọng nói vang lên ra lệnh : "Tất cả những ai có mang theo hộp quẹt, xin hãy đốt cháy lên !" Bỗng chốc, cả vận động trường rực sáng.
Ông John Kener kết luận : "Tất cả chúng ta hợp lực cùng nhau, có thể chiến thắng bóng tối, sự dữ và oán thù bằng những đốm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của chúng ta".
Đã qua 2000 năm nhưng lời dạy của Chúa Giêsu vẫn như đang nói với chúng ta hôm nay : "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít" (Lc 10,2). Thế giới có trên 6 tỉ người, mà kẻ tin vào Chúa mới chỉ hơn một tỉ. Riêng tại Á Châu, chiếm 2/3 dân số thế giới, nhưng người Công giáo chỉ không tới 3%.
Cánh đồng lúa mênh mông còn bị bỏ hoang không thợ gặt hái. Thế giới này dường như vẫn còn mò mẫm trong bóng đêm dày đặc của sự dữ, của tranh chấp, của oán thù ; rất cần những đốm sáng của tình thương, của khoan dung, của tha thứ. Thế nên, không lạ gì Chúa Giêsu đã nói : "Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói" (Lc 10,3) (…)
"Ra đi" chứ không phải "ở lại", đó là một lệnh truyền. Cả cuộc đời của Thầy là một hành trình : Sinh ra ngoài đường, sống và rao giảng ngoài đường, cuối cùng chết cũng ngoài đường. Thầy luôn lên đường và không ngừng ra đi. Công đồng Vaticano II cũng long trọng khẳng định : "Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo" (TG 2). Đức Thánh Cha Gian Phao lô II cũng quả quyết : "Không một ai trong những người rin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này : Đó là toan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc" (Sứ vụ Đấng Cứu Độ, 3).
Vậy ơn gọi của người tín hữu Kitô là "Ra đi".
Ra đi đem "bình an" đến cho các dân tộc, bình an giữa mọi người với nhau, bình an với Chúa.
Ra đi chữa lành bệnh nơi thể xác cũng như trong tâm hồn.
Ra đi loan báo Nước Thiên Chúa đã đến gần, nước tình yêu và ân sủng, nước công chính và bình an.
Thánh Phao lô đã phải thốt lên : "Khốn cho thân tôi : nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" (1Cr 9,16). Nhưng việc làm mới chứng thực cho lời rao giảng, và lời rao giảng sẽ soi sáng cho việc làm. Ra đi là để làm chứng, và lời chứng sáng giá nhất chính là việc làm. Đúng như L. Moody đã nói : "Các ngọn hải đăng không thổi còi ầm ĩ, chúng chỉ chiếu sáng". (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu", năm C)
3. "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít"
Catherine de Hueck Doherty làm việc trong một quán bar ở Mahattan. Đến 4 giờ sáng, cô nói lời tạm biệt với các khách uống rượu. Một người hỏi :
- Cô đi đâu ?
- Tôi phải đu Nhà thờ dự Thánh lễ, vì hôm nay là Chúa nhật.
- Thế cô là người công giáo hả ?
- Đúng vậy.
Nhiều người trong đám khách rất ngạc nhiên vì không ngờ Catherine có thể vừa là một người công giáo ngoan đạo vừa làm việc tại một nơi phức tạp như vậy. Vài tuần sau, một người trong đám khách trở lại nói với Catherine : "Cô đã khiến tôi suy nghĩ nhiều. Cô có thể vừa sống đạo tốt vừa làm việc ơ một nơi như thế này, thì tại sao tôi không thể !" Và người ấy đã trở lại nhà thờ.
Lần khác, Catherine đang trên đường tới trạm xe điện ngầm thì gặp một bà cụ. Bà cụ mở lời "Cô có vui lòng nói chuyện với tôi giây lát không ?" Cô vui vẻ nhận lời. Hai người đã nói chuyện với nhau trong suốt chặng đường. Sau đó hai người còn kết thân với nhau và Catherine thường xuyên tới thăm viếng bà cụ cho tới ngày bà cụ qua đời.
"Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít". Một kitô hữu có ý muốn làm thợ gặt như cô Catherine thì không bao giờ thiếu dịp để gặt lúa cho Chúa.
4. Mảnh suy tư
Tông đồ là kẻ được sai đi.
Vì thế làm tông đồ rất khác với làm chuyên viên. Làm chuyên viên thì cần phải có tài năng. Còn làm tông đồ thì chỉ cần đi theo lệnh Chúa sai, đến với người Chúa sai mình đến, và mọi việc khác hầu như Chúa sẽ làm tất cả.
5. Chuyện minh họa
a/ Đi giảng
          Ngày kia, thánh Phanxicô Assadi nói với một thày dòng : "Nào chúng ta cùng đi phố và giảng đạo." Hai người ra đi, hết con đường trước mặt, quẹo sang đường khác rồi về nhà. Thày dòng thắc mắc hỏi : "Con nghe ngài nói là mình đi phố và giảng đạo cơ mà !" Thánh Phanxicô đáp : "Chúng ta đã giảng đạo rồi đó ! Khi chúng ta đi đường. Mọi người nhìn ta, thấy phong cách của ta, nghĩ về đời sống của ta và rồi họ sẽ thắc mắc về nguồn sống nơi linh hồn của họ. Như thế chẳng phải là ta đã giảng đạo cho họ rồi sao ?"
          Câu nói của thánh nhân quả là khôn ngoan. Người Kitô-hữu không có cách truyền giáo nào hay hơn là chính đời sống chứng tá của họ.
b/ Khuôn vàng thước ngọc
"Hãy nói về Chúa cho những người quanh bạn nghe ; và hãy nói về những người quanh bạn cho Chúa nghe".
V. Trong Thánh Lễ
- Trước kinh Lạy Cha : Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đã nói "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Chúng con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người". Giờ đây chúng ta hãy tha thiết cầu xin Chúa Cha cho Nước Chúa mau trị đến.
- Chúc bình an : Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng bảo mỗi kitô hữu chúng ta hãy làm sứ giả của bình an. Chúng ta hãy thật lòng chúc bình an cho nhau.
VI. Giải tán
Anh chị em thân mến. Môn đệ Chúa là những sứ giả của bình an. Chúng ta hãy ra về và mang bình an đến cho tất cả những người chúng ta sẽ gặp gỡ.

 

TN 14-C15. CHÚA SAI 72 MÔN ĐỆ ĐI ĐẾN VỚI MUÔN DÂN

 -  Lm. Augustine, SJ.
 

Một mình tác giả Tin Mừng Luca nói tới cuộc sai phái thứ hai gồm bảy mươi hai môn đệ (10,1-12): TN 14-C15

Một mình tác giả Tin Mừng Luca nói tới cuộc sai phái thứ hai gồm bảy mươi hai môn đệ (10,1-12) sau cuộc sai phái thứ nhất chỉ gồm mười hai ông (9,1-6). Con số 12 tông đồ tượng trưng 12 chi tộc của dân mới của Thiên Chúa là Hội Thánh. Còn con số 72 tượng trưng 72 quốc gia trên thế giới theo sách Sáng Thế chương 10 bản văn Hy Lạp. Có lẽ Luca có ý ám chỉ sinh hoạt truyền giáo của Giáo Hội sau khi Đức Giêsu đã rời khỏi các môn đệ.
Quả thật, ban đầu các môn đệ được chỉ dẫn đừng đi về phía dân ngoại (Mt 10,6). Nhưng trước khi rời khỏi các ông, Đức Giêsu đã sai các ông đi đến với muôn dân và làm cho muôn dân trở thành môn đệ (xem Mt 28,16-20).
Các môn đệ được phái đi trước vào tất cả các thành nơi mà chính Đức Giêsu sẽ đến (Lc 10,1). Điều đó cho thấy các môn đệ được phái đi không phải để rao giảng về mình nhưng để chuẩn bị cho chính Đức Giêsu đến. Họ được phái đi từng hai người một. Hai người chứng sẽ có giá trị pháp lý. Họ sẽ làm chứng về Đức Giêsu và về Nước của Thiên Chúa.
Họ được khuyến cáo xin chủ mùa gặt sai thợ gặt lúa về (c.2). Tại sao không xin để có nhiều người xung phong ra đồng gặt lúa về? Lý do vì Nước của Thiên Chúa phải do chính Chúa làm chủ và điều khiển nhân sự.
Các môn đệ không được ảo tưởng về mình và về việc mình làm. Họ ở trong tình trạng không khác bầy chiên giữa sói rừng (c.3), họ không thể tự bảo vệ nên cần hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa là chủ mùa gặt, về mọi điều cần thiết. Họ được khuyến cáo đừng dừng lại để chào hỏi ai dọc đường (c.4), điều đó cho thấy tính cấp bách của nhiệm vụ loan báo Tin Mừng. Bình an mà các môn đệ trao tặng xem ra là một quà tặng cụ thể có hồn như một nhân vật. Ý niệm về bình an của Kinh Thánh ở đây là ý niệm về lời Thiên Chúa không chỉ là sứ điệp nhưng cách nào đó, là hiện thân của ngôi vị và quyền năng của chính Thiên Chúa. Ngôn sứ Isaia nói: "Lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó" (55,11). Vậy các môn đệ không chỉ chuyển giao sứ điệp mà còn mang lại quà tặng của Thiên Chúa. Họ là thừa tác viên được ưu đãi mang quà tặng tới những người họ được phái đến, cho nên tác viên về quà tặng thiêng liêng xứng đáng được chăm sóc về nhu cầu thể lý như lời tông đồ Phaolô nhắn nhủ dân thành Galát rằng: "Người được học Lời Chúa, hãy chia sẻ mọi của cải với Người dậy dỗ mình (6,6)".
Vì công bố Tin Mừng là công bố chính lời Thiên Chúa nên không thể coi như việc chuyển giao sứ điệp loài người mà thôi; người được công bố lời Chúa cũng không thể đón nhận hoặc không đón nhận tùy ý. Ai không đón nhận Lời Thiên Chúa kể như không đón nhận chính Thiên Chúa, với hậu quả không thể lường được. Đức Giêsu ví những thành đã từng nghe Người giảng mà không hoán cải để đón nhận chính Thiên Chúa, thì số phận của những thành ấy có khác chi thành Xođom xưa.
Bài Tin Mừng hôm nay trở nên đề tài thời sự với Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu đang họp tại Roma (tháng 4/98). Trước thiên niên kỷ thứ ba đang tới, các Đức Giám Mục tại phần đất này của thế giới đang muốn duyệt lại cách thức loan Tin Mừng cho các dân tộc Á Châu. Không thể đốt giai đoạn. Như dân tộc Do Thái xưa, các dân tộc Á Châu cần được chuẩn bị trước khi loan báo cho họ biết về ơn cứu độ do Đức Giêsu mang lại.
MỌI DÂN TỘC ĐỀU CHUNG MỘT NGUỒN GỐC
Công Đồng Vatican 2 khẳng định rằng: "mọi dân tộc đều thuộc về một cộng đoàn cùng chung một nguồn gốc, vì Thiên Chúa đã cho toàn thể nhân loại sinh sống trên khắp mặt địa cầu. Họ lại có cùng một mục đích tối hậu là Thiên Chúa, Đấng vẫn hằng giải rộng sự quan phòng, chứng tích lòng nhân hậu, và ý muốn cứu độ cho hết mọi người... Giáo Hội Công Giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo Hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy rằng có nhiều điều khác với chủ trương mà Giáo Hội duy trì, nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý, Chân Lý chiếu soi cho hết mọi người. Tuy nhiên, Giáo Hội rao giảng Chúa Kitô, Đấng "là đường, sự thật và sự sống" (Ga 14,16), nơi Người, con người tìm thấy đời sống tôn giáo sung mãn và nhờ Người, Thiên Chúa giao hòa mọi sự với mình." (Thời Đại Ta, 1-2).
Chẳng bao lâu nữa, ta sẽ được hưởng kết quả của Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu hướng dẫn ta đến với các dân tộc Á Châu vượt xa những hướng dẫn của Công Đồng Vatican 2. Nhưng ngay với bản tuyên ngôn Thời Đại Ta, người Công Giáo đã có thể mạnh bạo sống chan hòa với mọi người bất