Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 21 TN-C Bài 51-100 Hãy đi vào cửa hẹp

Thứ ba - 20/08/2019 05:20
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 21 TN-C Bài 51-100 Hãy đi vào cửa hẹp
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 21 TN-C Bài 51-100 Hãy đi vào cửa hẹp
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 21 TN-C Bài 51-100 Hãy đi vào cửa hẹp
TN 21-C51. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin. 2
TN 21-C52. Chú giải của Noel Quesson. 5
TN 21-C53. Chú giải của Fiches Dominicales. 9
TN 21-C54. CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN.. 12
TN 21-C55. CỬA HẸP, CỬA HẠNH PHÚC.. 14
TN 21-C56. Vào Nước Trời khó hay dễ? Căn bệnh hoang tưởng. 16
TN 21-C57. CHỌN CỬA HẸP VÌ YÊU.. 17
TN 21-C58. SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXI - 2001. 19
TN 21-C59. Chúa Nhật thứ 21 Thường Niên. 21
TN 21-C60. CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN, năm C.. 25
TN 21-C61. CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN.. 27
TN 21-C62. CHÔNG CHÊNH. 29
TN 21-C63. Chúa Nhật 21 quanh năm.. 32
TN 21-C64. Chúa Nhật 21 Quanh Năm.. 37
TN 21-C65. GÒ MÌNH HƠN VÀO CON ĐƯỜNG HẸP. 39
TN 21-C66. CHÚA NHẬT 21 QUANH NĂM... 45
TN 21-C67. CHỦ NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN.. 49
TN 21-C68. CHÚA NHỰT XXI (19-8-01) 53
TN 21-C69. TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXI TN (Nam C) 61
TN 21-C70. KHUNG CỬA HẸP. 65
TN 21-C71. CỬA TRỜI RỘNG HẸP AI HAY ?. 67
TN 21-C72. DỰ TIỆC TRONG NƯỚC THIÊN CHÚA.. 72
TN 21-C73. Chúa Nhật 21 Thường niên. 75
TN 21-C74. HÃY QUA CỬA HẸP. 76
TN 21-C75. ĐỨC GIÊSU LÀ CỬA HẸP. 79
TN 21-C76. SỬA LẠI CỬA THIÊN ĐÀNG.. 81
TN 21-C77. CỔNG TRỜI KHÓ LÊN THẬT.. 83
TN 21-C78. CỐ GẮNG MÀ VÀO QUA CỬA HẸP. 85
TN 21-C79. CON ĐƯỜNG SỰ SỐNG.. 87
TN 21-C80. Hãy vào cửa hẹp. 89
TN 21-C81: QUA CỬA HẸP. 90
TN 21-C82: AI ĐƯỢC CỨU ĐỘ.. 94
TN 21-C83: CỬA NƯỚC TRỜI 95
TN 21-C84: CHỌN CÁCH SỐNG PHÙ HỢP VỚI NƯỚC TRỜI 97
TN 21-C85: PHẤN ĐẤU QUA CỬA HẸP VÀO NƯỚC TRỜI 98
TN 21-C86: CHẬT HẸP. 102
TN 21-C87: CỬA HẸP. 104
TN 21-C88: ĐI VÀO CỬA HẸP. 107
TN 21-C89: CÁNH CỬA HẸP HAY CON ĐƯỜNG RỘNG.. 109
TN 21-C90: CỬA HẸP. 111
TN 21-C91: CỬA HẸP. 114
TN 21-C92: PHẢI CHĂNG NGOÀI GIÁO HỘI KHÔNG CÓ ƠN CỨU ĐỘ?. 116
TN 21-C93: CUỐI CON ĐƯỜNG HẸP... 118
TN 21-C94: CỬA HẸP. 120
TN 21-C95: CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN.. 123
TN 21-C96: HÀNH TRÌNH ĐI TỚI NIỀM VUI 126
TN 21-C97: PHẤN ĐẤU QUA CỬA HẸP VÀO NƯỚC TRỜI 132
TN 21-C98: Cửa hẹp là lối sống của Chúa Ki-tô. 138
TN 21-C99: Cửa hẹp đưa đến hạnh phúc muôn đời 140
TN 21-C100: QUA CỬA HẸP. 142

 

TN 21-C51. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

NHỮNG NGƯỜI DO THÁI BỊ LOẠI BỎ VÀ DÂN NGOẠI ĐƯỢC KÊU MỜI
 

Điệp khúc mở vào giai đoạn hai của cuộc hành trình (c.22) không chỉ nhắc tới đích điểm : TN 21-C51

Điệp khúc mở vào giai đoạn hai của cuộc hành trình (c.22) không chỉ nhắc tới đích điểm địa lý của cuộc hành trình này; nó còn loan báo một thông tri quan trọng sẽ được cung cấp trong cảnh tiếp theo (13,31-35).
Trình thuật này được dẫn nhập bằng câu 23. Một người lạ mặt hỏi: Phải tin ai? Phải tin các Kinh sư, là những người khẳng định rằng: Mọi người Israel đều tham dự vào thế giới tương lai (Misnha, Sanhedrin X, 1) hay tin những kẻ khác, đối với những người này những kẻ bị hư đi thì nhiều hơn những kẻ sẽ được cứu thoát (Edras quyển thứ tư IX, 15)? Cách thế mà Chúa Giêsu dùng để nói về tính cách cấp bách của việc hoán cải (13,3-5) phải chăng không xếp Ngài vào nhóm thứ hai?
Nhưng Chúa Giêsu lại không quan tâm đến vấn nạn kiểu kinh viện này. Trước khi trả lời, Ngài đóng khung nó bằng cách nói với tất cả các người xung quanh (cùng một cảnh như ở 12,13-14) và nhấn mạnh đến sự cố gắng:”Hãy chiến đấu để vào phòng tiệc qua được cửa hẹp” (c. 24). Thực vậy, điều quan trọng là mỗi người phải thay đổi cách sống. Chính vì thế, lời đáp của Chúa Giêsu không xác định về số ít người được cứu thoát nhưng về tính cách nghiêm trọng của cuộc sống hiện tại của con người. Nhiều người sẽ chen chúc vào cửa hẹp mà không vào được. Ngoài việc cửa hẹp dẫn đến niềm vui của bàn tiệc, thực ra còn phải nói đến một yếu tố thứ hai: thời gian gấp rút vì cửa sắp đóng. Tìm cách vào, giữa đám đông hỗn độn, ở phút chót là chuốc lấy thất bại.
Khi nói đến thời điểm mà cửa sẽ đóng, lời cảnh cáo trở thành đe doạ: Việc đóng cửa lại do lệnh của một nhân vật chủ chốt, ông chủ nhà, mà không ai khác hơn là những kẻ đối thoại với Ngài mới xin mở cửa cho họ và do đó, họ phải nhắc đến việc trước đây họ cùng ăn uống với Ngài (x. 7,36; 11,37; 14,1) và đã có nghe Ngài giảng dạy. Nhưng lời đáp nhắc tới hai lần”Ta không biết các anh từ đâu đến” –điều này, trong ngôn ngữ Kinh Thánh (x. Am 3,2) có nghĩa là:”Ta không chọn các ngươi, các ngươi không thuộc về những kẻ được chọn”. Ở đây không hề có việc tuỳ tiện theo ý ông chủ: bằng cách gián tiếp trích Thánh vịnh 6,9. Chúa Giêsu nói rằng họ bị loại bỏ bởi vì họ làm điều xấu. Có những liên hệ – hời hợt với vị Sứ Giả cũng chẳng ích lợi gì khi mà người ta không chịu hoán cải. Chẳng ai tự động mà được cứu rỗi. Việc thuộc về dân mà Thiên Chúa đã ký Giao Ước với Sinai, và là dân đầu tiên được nghe giảng Tin Mừng nơi công cộng và trong các hội đường, cũng chẳng cho người ta được tấm vé vào Nước Thiên Chúa đâu. Điều cần thiết phải làm là hoán cải và đón nhận lời rao giảng ấy.
Từ đó, Chúa Giêsu đi đến hai xác quyết (cc. 28-29). Trước hết, việc loại ra khỏi Vương Quốc đến liền sao phổ quát ở câu 27 sẽ gây ra khóc lóc và nghiến răng, giận dữ và hối hận cay đắng nơi kẻ đối thoại với Ngài. Bực bội, họ sẽ thấy những tín hữu Israel đích thực, đại diện bởi các tổ phụ và tất cả các ngôn sứ, hưởng hạnh phúc và bình an, đặc điểm của Vương Quốc trong khi chính họ phải ở lại bên Ngài. Thay chỗ của họ – xác quyết thứ hai: - thiên hạ sẽ đến từ bốn phương trời: đó là những dân tộc ngoại giáo sẽ vào tham dự ơn cứu độ vĩnh hằng. Khi dùng đề tài Kinh Thánh nói về các dân tộc hành hương về Giêrusalem để dâng lễ vật tôn thờ Thiên Chúa (x. Is 60,3tt), Chúa Giêsu để ý không nói đến tên của thành; vì vậy, thành này không còn là địa điểm nơi mà Thiên Chúa muốn người ta tôn thờ Ngài nữa: Vương Quốc là một thực tại siêu việt. Với hình ảnh được thanh lọc khỏi mọi tính cách quốc gia chủ nghĩa đó, Chúa Giêsu thêm một hình ảnh ở Is 25,6. Bữa tiệc trong Thế giới mới diễn tả một hiệp thông trọn vẹn giữa con người với Đấng cứu thoát họ:”Thiên Chúa sẽ dẫn đưa những kẻ được tuyển chọn vào tình thân mật với Ngài và biến họ thành những người nhà của Ngài” (J.Schlosser).
Phần kết luận (c.30) làm ta nhớ đến sấm ngôn của ông Simêon khi ông nói về sứ vụ của Chúa Giêsu như duyên cớ cho nhiều người Israel phải vấp ngã hay được chỗi dậy (2,34) và nhắc lại rằng Vương Quốc sẽ kéo theo sự đảo ngược các tình trạng của con người (x. những mối phúc và hoạ ở 6,20-26). Giữa những kẻ đến sau cùng có nhiều kẻ sẽ vượt lên truớc những kẻ kỳ cựu, mặc dù những người này đã được các ngôn sứ loan báo từ lâu về việc Vương Quốc ngự đến. Tuy nhiên đây cũng không phải là luật tổng quát: câu kết luận hiểu ngầm rằng những kẻ kỳ cựu đến trước nhất sẽ chia sẻ chỗ nhất với những kẻ mới đến từ khắp thế giới. Ở Luca, lời Chúa Giêsu nói đây rõ ràng thuận lợi cho Israel hơn là ở những đoạn song song của Marcô và Matthêu.
Lời cảnh cáo có tính cách ngăn đe trước hết được nói với các thính giả Do Thái ở Giuđê – Galilê vào những năm 28-30; dưới cái nhìn của Luca, chỉ một số ít trong họ đã hoán cải, như nhóm Mười Hai và các môn đệ khác, và có thể vào được Nước Trời. Trong các thính giả này đặc biệt được nhắc tới, cũng là số ít thôi, những kẻ dám làm điều bất chính tột độ cộng tác vào việc hành quyết Chúa Giêsu (xcc. 31-35). Nhưng đừng quên rằng những lời Tin Mừng này vẫn còn tính thời sự và là tiếng mời gọi hoán cải. Sẽ càng không có việc cứu rỗi tự động cho các Kitô hữu cứ khất lần đến ngày mai. Việc canh tân đời sống luôn luôn cần được lặp lại không ngừng. Đối với mọi người, cửa đều hẹp cả: những ai trong họ làm điều bất chính không có thể nại vào sự thân thiết hời hợt với Chúa Kitô để xin mở cửa sau khi cửa đã đóng rồi.

 

TN 21-C52. Chú giải của Noel Quesson

Trang Tin Mừng của Luca mà chúng ta đọc hôm nay là một bức tranh ghép gồm những bản: TN 21-C52

Trang Tin Mừng của Luca mà chúng ta đọc hôm nay là một bức tranh ghép gồm những bản văn:
Câu 24, khung cửa hẹp (Mt 7,13) trong bài giảng trên núi.
Câu 25, “thưa ngài, mở cửa cho chúng tôi với” (Mt 25,11) là kết luận của dụ ngôn mười cô trinh nữ khôn ngoan và rồ dại.
Câu 26, “Ta không hề biết các ngươi” (Mt 7,22) là một giáo huấn về sự cầu nguyện.
Câu 28, “từ phương đông sang phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc” là kết luận của việc chữa lành người đầy tớ của ông đại đội trưởng dân ngoại (Mt 8,11).
Câu 30, “những người sau rốt trở thành những người đầu tiên” (Mt 19,30 và 20,16).
Vậy Luca liên kết những lời mà Đức Giêsu đã nói trong những trường hợp khác nhau. Tuy nhiên chúng ta có một bản văn mang tính nhất quán cao: Khi trả lời câu hỏi về con số người được chọn. Đức Giêsu khẳng định hai chân lý có vẻ trái ngược nhau. Cánh cửa Thiên đàng thì hẹp, nhưng những dân ngoại sẽ đến đông đủ, tiến vào bàn tiệc của Đấng Mêsia, còn những người đầu tiên được mời ở lại bên ngoài.
Trang sách này của Luca mà chúng ta đọc hôm nay là kết quả của sự cầu nguyện, của việc dạy giáo lý thờ phụng của các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Trong một chừng mực, chúng ta thấy xuất hiện một dụ ngôn mới gồm toàn những câu của Đức Giêsu, mặc dù không trực tiếp là dụ ngôn của Người Thay vì ngạc nhiên về sự khám phá này, tại sao chúng ta lại không vui mừng. Đức Giêsu đã không “biết” gì cả, cũng không làm “xơ cứng” điều gì. Hiển nhiên, đây là một điều có chú ý. Người đã thật sự trao Lời cho Giáo Hội Ngay để Giáo Hội nói Lời ấy và thích nghi Lời với các nhu cầu của mỗi thời kỳ lịch sử. Vì danh nghĩa gấp đôi ấy, lòng Tin Mừng của Luca là của Đức Giêsu: Do miệng Chúa nói ra trong những lúc khác nhau... đồng thời cũng là công việc của Đức Giêsu sống động trong Giáo Hội là Nhiệm Thể của Người... “Ai nghe anh em là nghe Thầy”. Một cách đọc Tin Mừng có khoa học thay vì mâu thuẫn với một cách đọc ngây thơ hơn và làm cho chúng ta hoài nghi tính chính thống hẳn phải đến chúng ta đến chỗ chấp nhận thái độ của Luca: Trung tín với suối nguồn... tự do trong Thần Khí... để việc giải thích Lời Chúa luôn luôn sống động và có thể soi sáng những vấn đề của chúng ta hôm nay.
Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy.
Luca trở lại việc Đức Giêsu đang trên đường lên Thành thánh ở đó chúng ta biết điều gì sắp xảy ra. Đức Giêsu “du hành”. Người không xơ cứng. Người bước đi! Luca, bạn thông hành của Phao lô, nhà “du hành cao cả” đã dùng từ đó tám mươi tám lần. Đời sống Kitô hữu cũng là một cuộc lữ hành, tiến lên phía trước. Phần tôi, tôi có xơ cứng, dừng lại bất động không? Lịch sử với sự tiến hóa của nó là một phần của kế hoạch Thiên Chúa. “Thời gian” là tạo vật của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã hội nhập trong thời gian. Người không làm thời gian ngừng lại. “Thầy ở với các con mỗi ngày cho đến tận thế”.
Có kẻ hỏi Người: “Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?”
Một câu hỏi nóng bỏng, luôn luôn hiện thực. Một câu hòi rất nhân bản, căng phồng máu của những quan hệ tình cảm của chúng ta: Làm sao tôi có thể hưởng hạnh phúc trên trời nếu những Người thân không có ở đó? Một câu hỏi rất tự nhiên: “Bạn chớ đến dự tiệc Nước Trời một mình; trên những nẻo đường bạn đi, bạn hãy cao rao Tin Mừng: Lời Chúa hứa là bánh được ban cho để chia sẻ”. Bất kỳ người nào không ước ao “tất cả” đều được cứu, chính người ấy không thể được cứu, bởi lẽ người ấy không hoàn thành luật của Nước Thiên Chúa là tình yêu phố quát… “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta muốn cho mọi người được cứu độ” (1 Tm 2,4).
Người bảo họ: “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được”
Một lần nữa, Đức Giêsu không trả lời trực tiếp. Người không nói những người được cứu sẽ nhiều hay ít. Người làm như thể câu hỏi lý thuyết ấy không làm Người quan tâm và ngay sau đó, Người đưa các thính giả trở về với tránh nhiệm của họ. “Thay vì tranh luận một cách trí thức, bạn hãy làm gì cụ thể để “bước vào” sự sống đời đời... vấn đề là phải vào được!” Sự tò mò về con số người được cứu thoát bộc lộ sự tìm kiếm điều an toàn là điều có thể thiếu lành mạnh: Nếu mọi người đều lên trời, cần gì phải lo lắng? Nếu rất ít người được lên trời, tại sao lại phải tốn bao công sức mà chắc gì đã được? Vì thế, Đức Giêsu đã không xác định con số nhưng trả mỗi Người về với quyết định mà mỗi người phải có đồng thời khẳng định rằng như thế mới là nghiêm túc. Đức Giêsu không muốn “trấn an”, Người muốn người ta sống có trách nhiệm. Từ đây, Người dùng một hình ảnh quen thuộc trong toàn bộ Kinh thánh: Nước Chúa như một phòng tiệc. Nhưng Người thêm: người ta xô đẩy nhau trước cửa vì cửa phòng “hẹp”. Từ Hy Lạp mà chúng ta dịch là chiến đấu là một động từ mạnh bạo “agonizesté” nghĩa đen là “đánh nhau để được vào”. Từ “agonie” (hấp hối) trong tiếng Pháp có ngữ căn lấy từ động từ Hy Lạp: Cuộc chiến đấu cuối cùng của sự sống. Để đem lại ơn cứu độ cho mọi người, Đức Giêsu là người đầu tiên đã chiến đấu, ở vườn Ghet-sê-ma-ni và đồi Gôn-gô-tha.
Người không cho chúng ta lời khuyên nào mà trước hết chính Người đã không sống nó. Trong một đoạn văn khác, Người đã nói rằng “Chỉ những ai mạnh sức mới chiếm được Nước Trời” (Mt 11,12; Lc 16,16).
Để chiếm được Nước Trời, cuộc chiến đấu của tôi là gì? Tôi phải chiến đấu ở điểm chính xác nào, trong hoàn cảnh của tôi, với tính khí của riêng tôi, khi vượt qua những điều kiện giới hạn là những bó buộc đang đè nặng trên cuộc đời tôi?
Thánh Phaolô cũng dùng từ “ngôn” “cuộc chiến đấu” để nói đời sống Kitô hữu là gì.. “Tôi tìm thấy niềm vui trong những đau khổ mà tôi phải chịu, để loan báo Đức Kitô: Đó là công việc và cuộc chiến đấu của tôi” (Côlôxê 1,29; 1 Côrintô 9,25; Côlôxê 4,12; 1 Timôthê 4,lo). “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết công đường, đã giữ vững niềm tin”. (2 Timôthê 4,7). Làm thế nào chúng ta lại có ảo tưởng “vào” nước trời mà không phải nỗ lực? Đời sống Kitô hữu không phải là một cái ghế bành. Dĩ nhiên đó là một ơn không mất tiền, ban cho cả những người tội lỗi. Còn phải chấp nhận ơn đó... mà không hoàn toàn khép kín lại trên ơn đó.
“Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khoá cửa lại, mà anh em còn đứng ở ngoài, bắt đầu gõ cửa và nói: `Thưa ngài, xin mở cho chúng tôi vào!’, thì ông sẽ bảo anh em: `Các anh đấy ư? Ta không biết các anh từ đâu đến!’
Dụ ngôn mạnh mẽ tiếp tục: Cánh cửa vốn đã hẹp giờ đây đóng kín. Lời mời gọi bước vào trở nên cấp bách: Thời gian gấp lắm, ngày mai sẽ quá trễ. Ngay hôm nay phải “bước vào trong Nước Trời”. Vâng, đối với tôi, thêm một ngày cũng là quá trễ. Tôi còn lại bao nhiêu thời gian? Chúng ta phải sống mỗi ngày như thể đó là ngày sau rốt.
Bấy giờ anh em mới nói: ‘Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi.’ Nhưng ông sẽ đáp lại: ‘Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!’
Dân Israel, ý thức về giá trị của Giao ước khó mà chấp nhận những người dân ngoại bước vào trong Nước Thiên Chúa. Giáo trưởng Méir viết: “Để trở nên một con cái của đời sau, phải cư ngụ trên đất nước Israel, nói tiếng Do Thái là ngôn ngữ thánh và sáng chiều đọc kinh Shema Israel”. Trái lại, đối với Đức Giêsu, những đặc quyền về chủng tộc này không đáng kể. Lời cảnh cáo nghiêm khắc của Đức Kitô trước tiên áp dụng cho những người đã từng được ăn uống trước mặt Người, và những người đã từng nghe Người “giảng dạy” giờ đây áp dụng cho chính chúng ta, những người chia sẻ bàn tiệc thánh thể. Một giờ ngắn ngủi sống với Đức Giêsu ngày Chúa nhật không thể bù đắp tất cả những giờ khác trong tuần mà chúng ta dùng làm điều ác xa cách Người.
“Bấy giờ anh em sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài. Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa. “Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót.”
Cách nói này có thể cho chúng ta cảm tưởng rằng những người có thiện chí, thật sự tìm cách vào Nước Trời bị loại trừ một cách độc đoán bởi quyết định độc tài của một ông chủ không có lòng thương xót. Hẳn đó là một bức ảnh biếm họa về Thiên Chúa. Thiên Chúa không tàn nhẫn và bất công. Thật vậy, ai không vào được bữa tiệc chỉ có thể trách cứ chính mình. Quả thật, ngay cả dân ngoại, bởi một thái độ quay ngược lại (kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu!) sẽ đến từ mọi phương trời. Thiên Chúa đã làm tất cả để cánh cửa nổi tiếng là “hẹp” ấy, thật ra đó là sự nghiêm trọng của vĩnh cửu, trở thành một cánh cửa mở rộng cho mọi người không phân biệt.
Số phận bi thảm của Israel, được mời gọi đầu tiên, đã bị các dân tộc khắp nơi vượt qua phải thức tỉnh sự mê ngủ của chúng ta. Người ta không thể vào Nước Trời như thế, nghĩa là không nhận thức điều vừa nói. Phải ao ước có Phải chiến đấu vì nó. Phải chọn Đức Giêsu. Thuộc về một nhóm người, một chủng tộc, một gia đình, hoặc thực hành một vài nghi thức không thể đem lại cho chúng ta một sự an toàn nào, có chăng chỉ là ảo tưởng... Điều chủ yếu là sự dấn thân bằng tất cả con người chúng ta trong mọi lúc, theo Đức Giêsu. Và nhất là, chúng ta chớ phán xét những người khác. Chúng ta biết được hai điều: 1% về phía Thiên Chúa, tất cả đã sẵn sàng để cứu chuộc mọi người... 2% về phía con người, chỉ cần có sự nghiêm túc của tự do, tự do này có thể từ chối ơn Thiên Chúa ban cho và tự do này là một cuộc chiến đấu... ở trần gian này, chúng ta không bao giờ biết được có phải tự do ấy no anh em chúng ta đã nói tiếng nói sau cùng. Sự gặp gỡ sau cùng với Thiên Chúa vào lúc chết phải là hồi chung cuộc. Mọi người đều đã hiểu rằng tiền đặt cuộc siêu nhiên ấy chỉ có thể trở thành “cứu độ” với Thiên Chúa: Chớ đến dự tiệc Nước Tròi một mình. Trên những nẻo đường bạn hãy loan báo Tin Mừng: Lời Chúa hứa là bánh được ban cho để chia sẻ: Thiên Chúa thúc giục các bạn bước vào nơi ở duy nhất và quy tụ các bạn trong tình yêu. Lạy Đức Giêsu, niềm hy vọng của con người, xin làm cho chúng con trỏ thành những chứng nhân ơn cứu chuộc của Ngài.

 

TN 21-C53. Chú giải của Fiches Dominicales

DỤ NGÔN CỬA HẸP
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Vào qua cửa hẹp
 

Một lần nữa Luca xác định Đức Giêsu đang “trên đường lên Glêrusalem”. Một nhận xét có: TN 21-C53

Một lần nữa Luca xác định Đức Giêsu đang “trên đường lên Glêrusalem”. Một nhận xét có tính thần học hơn là địa lý: Người đang tiến gần đến Thành Thánh, nơi chính Người phải đi trước qua “cửa hẹp” của cuộc khổ nạn để dẫn đưa anh em
mình vào dự tiệc Nước Trời. Sau đó, Người còn tuyên bố trong câu 33: “Tôi phải tiếp tục đi, vì một Ngôn sứ mà chết ngoại thành Giêrusalem thì không được”.
Chính lúc đó một người đối thoại vô danh - Luca viết: “Có kẻ hỏi Đức Giêsu: ‘Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?’. Một vấn nạn thường được đưa ra tranh luận giữa các kinh sư và luật sĩ thời đó: kẻ thì bảo “mọi người Israel sẽ được dự phần vào thế giới đang đến”, người khác lại quả quyết “chắc chắn số kẻ bị hư mất sẽ nhiều hơn số người được cứu”.
Theo thói quen thường làm trong tình thế tương tự, Đức Giêsu tránh không trả lời trực tiếp câu hỏi có tính lý thuyết của người đối thoại, nhưng mượn một dụ ngôn, trong trường hợp này là dụ ngôn Cửa Hẹp, Người đưa ra một lời cảnh báo mạnh mẽ cho thính giả mọi thời, xưa cũng như nam Thay vì đoán xa đoán gần về số lượng ít hay nhiều kẻ sẽ được chọn, tốt hơn họ nên lo cho phần rỗi của chính mình một cách sao cho thật thiết thực. “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào người nói rõ như thế. Động từ Hy Lạp được Luca dùng ở đây và được dịch là “Hãy chiến đấu”, chính là “agoomdesthé”: một động từ gợi lên ý tưởng đấu tranh vật lộn, từ đó có chữ “agonie” (có nghĩa là ‘lâm chung’ ‘cuộc vật lộn sau cùng’). Như thế đủ thấy tầm quan trọng mà Đức Giêsu dành cho kiếp sống hiện tại của con người.
2. Trước khi cánh cửa được khoá lại
Bởi cánh cửa, cái cửa chật hẹp ấy, sẽ được “khoá” lại, nên người ta cần phải khẩn trương đón nhận lời dạy của Đức Giêsu và đem ra thực hành. Thời giờ không còn nhiều. Không hề có chế độ ưu tiên trong việc tham dự bàn tiệc Nước Trời. Đâu phải cứ thuộc giống nòi Abraham, “từng được ăn uống trước mặt Ngài”, từng được nghe Ngài giảng dạy trên các đường phố của mình, là đương nhiên được Đức Giêsu, vị chủ nhà, mở cho vào khi gõ cửa. Nhưng là phải biết đón nhận lời loan báo nước Trời và mau mắn hoán cải, nếu không sẽ phải nghe tiếng trả lời từ trong nhà: “Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt Ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính”.
Thật đau đớn vỡ mộng cho những kẻ tưởng rằng cứ thuộc về dân của Chúa là đương nhiên nắm chắc trong tay tấm vé vào dự bàn tiệc Nước Trời. Họ sẽ phải đứng ngoài cánh cửa đã khép kín, trong lúc cả một đám đông dân ngoại “từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa”.
Và để hoạ lại lời tiên tri của ông già Ximêon: “Cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng những kẻ đứng chót (dân ngoại) sẽ lên hàng đầu, và cả những kẻ đứng đầu (dân Đo Thái) sẽ xuống hàng chót”. Hugues Cóusin lưu ý, “Lời cảnh báo được gởi đến trước hết cho những thính giả Do thái cư ngụ ở Giuđê là Galilê trong những năm 28-30. Tuy nhiên chúng ta đừng quên: những lời của Phúc Âm luôn luôn mang tính hiện tại và nhằm mời gọi một sự hoán cải. Không thể có một thứ ơn cứu độ dọn sẵn cho những Kitô hữu không lo thực hành ngay việc canh tân liên lỉ đời sống mình” (“L’evangilc de Luc”, Centurion, trg 198-199).
BÀI ĐỌC THÊM:
1. Quyền công dân Nước Trời
“Nước Thiên Chúa là một thực tại mầu nhiệm. Nước ấy hiện diện như một hạt giống bé nhỏ đang vươn lên thành cây cao bóng cả. Nó được vùi vào trong bột như chút men làm dậy cả khối bột. Để được đự phần vào nước ấy, con người phải để cho Nước ấy biến đổi, phải để cho men của Nước ấy làm dậy bột. Nếu chỉ đóng vai kẻ ngoài cuộc hay kính nhi viễn chi thôi thì không đủ phải bước vào, mà cánh cửa lại chật hẹp, nó chỉ mở ra cho những ai nỗ lực bước qua. Đức Giêsu đã đến giữa nhân thế, và loài người có thể lui tới gặp gỡ Người: “Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt Ngài, và Ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi”. Nhưng như thế không đủ. Nhưng sau đó phải bước theo Chúa, phải vào trong Nước Trời qua chính cửa hẹp đó, nếu không sẽ mãi là kẻ xa lạ: “Ta không biết các anh từ đầu đến”. Để gặp gỡ Đức Kitô không nhất thiết ưu tiên cho những ai đã từng gần gũi với Người. Dụ ngôn trực tiếp nhắm đến dân tộc đã sinh ra người trên đời, nhưng đồng thời cũng liên can đến tất cả chúng ta. Thuộc thành phần “từ đông tây nam bắc đến dự tiệc, chính chúng ta cũng dễ dàng tháo lui không dám bước qua cửa hẹp. Hành trình của sự hoán cải không có lối đi vòng nào khác: “Cút di cho khuất mắt Ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính”. Chỉ có một thứ giấy thông hành thôi, đó là phải đổi đời. Chính nó sẽ cấp cho chúng ta quyền công dân của Nước Trời. Khi điều đó được sáng tỏ, chúng ta mới thấy mọi thứ giả tạo sẽ lộ nguyên hình: “Có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót”.
2. Trở lại với nguồn mạch Tin Mừng
Dựa vào lời dạy của Đức Giêsu, Thánh Luca muốn đưa ra câu trả lời chính xác cho một tình huống khá cụ thể, trong đó kẻ thuận người chống về vấn đề dân ngoại xin gia nhập Hội Thánh. Người thuận thì cho rằng Nước Thiên Chúa luôn mở rộng cho tất cả những ai tìm kiếm và muốn bước vào. Người chống thì chủ trương phải thuộc thành phần ưu đãi, nghĩa là phải được cắt bì theo luật Do Thái mới được gia nhập. Giáo huấn của Đức Giêsu đã qua rõ. Rõ đến nỗi đụng chạm và gây vấp phạm đến tất cả những ai từng bám vào những đặc ân và ngoại lệ, những bảo hiểm an toàn dành cho những tín hữu “ngoan đạo”. Nhưng Đức Giêsu lại chẳng để ý gì đến chuyện thuộc thành phần nào, chuyện đặc quyền đặc lợi hay việc giữ đúng phép đạo.
Nếu cánh cửa có hẹp, nó vẫn đủ rộng để đón mời mọi người và mỗi người. Nhưng lối vào không thênh thang. Để lọt được vào trong, đòi phải có sự mềm mại của tình yêu đáp trả tình yêu đang thao thức, đang xét xử và đón mời. Ở đây, chúng ta được nghe nhắc lại tầm quan trọng của đức tin và việc sống đạo, mà chủ yếu là thực hành hai giới răn chính mà thực tế chỉ là một giới răn tình yêu. Cần phải lên án cả lối nhìn nghiêm khắc của Jansénisme lẫn chủ trương dễ dãi buông thả, cả sự bối rối sợ hãi lẫn thái độ thoải mái vô tư.
Hãy dẹp sang một bên những bảng thống kê và con số, những suy đoán vô ích, những nỗi lo lắng và tin tưởng vu vơ. Tốt hơn, chúng ta hãy trở về với nguồn suối Tin Mừng. Chính nơi đó người ta tìm được tất cả những gì mình phải là và phải làm, để trở nên và mãi là “công dân Nước Trời”.

 

TN 21-C54. CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN

Lc 13, 22 - 30
Anh chị em thân mến.
 

Trong chuyện ngụ ngôn của Lafontaine có kể lại câu chuyện chạy đua của thỏ và rùa. Con thỏ: TN 21-C54

Trong chuyện ngụ ngôn của Lafontaine có kể lại câu chuyện chạy đua của thỏ và rùa. Con thỏ rất nhanh chân, còn rùa thì bước đi không thể so bì được với ai. Thế mà kết cuộc rùa đã thắng thỏ. Rùa biết thân phận mình, nên cố hết sức, tận dụng hết khả năng của mình để vượt chặng đường qui định. Rùa vẫn biết khả năng thắng cuộc rất mong manh.
Nhưng chính sự cần cù vượt khó: vượt qua sự mệt nhọc, vượt qua khả năng giới hạn của bản thân, vượt qua sự chê cười của đối phương. Chính những cố gắng đó đã đưa rùa đến chiến thắng.
Còn thỏ, quá ỷ lại vào tài năng bản thân, nên cứ lo rong chơi thoải mái, tìm của ăn để thưởng thức. No nê rồi mà thỏ vẫn còn nhìn thấy rùa đang lê từng bước chân nặng nề chưa đi đến đâu. Thỏ mỉm cười ung dung đánh một giấc ngon lành. Khi chợt tỉnh dậy, thỏ không còn nhìn thấy rùa đâu nữa. Thỏ bèn tăng tốc, vận dụng hết khả năng mình có, khi nhìn thấy bóng dáng rùa từ xa, thì không còn kịp nữa, rùa đã đến nơi. Thỏ đành ôm hận mà quay trở về với thất bại.
Có tài năng, nhưng quá ỷ lại, không biết vận dụng, không biết cố gắng, thì cũng trở nên vô dụng. Còn biết cố gắng vượt khó, sẽ thành công.
Chúa Giêsu bảo các môn đệ và những người thời bấy giờ: "Hãy cố gắng vào qua cửa hẹp". Ngài bảo thế và Ngài đã làm gương. Ngài đã đi qua cửa hẹp của con đường Thập Giá. Ngài đã đi qua cửa hẹp của sự vâng phục, vâng phục đến hy sinh mạng sống. Ngài đã đi qua cửa hẹp của sự nhục nhả, bị người đời khinh chê. Ngài đã vượt qua tất cả và đã chiến thắng để đem sự sống đến cho con người. Vì yêu thương mà Ngài đã kiên trì vượt qua những khó khăn trở ngại để chiến thắng. Mặc dù là Con Thiên Chúa, Ngài không ỷ lại, không tự hào, nhưng với tất cả sự khiêm nhường và nhẫn nhục, mang lại chiến thắng, chứng tỏ tình yêu thương của Ngài. Chính vì thế Ngài kêu gọi mọi người đi trên con đường chiến thắng đó .
Trong mọi thời đại loài người luôn đi tìm con đường sự sống. Biết bao người đã nhìn thấy được con đường nhưng họ vẫn đi tìm, vì con đường mà họ hìn thấy không đúng như họ mong muốn, nên họ cứ mãi đi tìm, để rối đành ôm nỗi hận trong sự thất bại. Rất nhiều người không muốn đi trên con đường mà họ đã có được chiếc chìa khóa trên tay, họ không muốn mở cửa con đường, vì họ không muốn bước vào: nó chật hẹp quá, nó khó khăn quá và nhiều lúc không biết con đường đi đến đâu mới đạt được mục đích. Chiếc chìa khóa họ có trong tay trở nên vô dụng, vì không giúp gì được cho họ. Họ cũng đành ôm nỗi thất bại trong cuộc đua về đích.
Chúng ta, những người của thời đại mới, Chúa Giêsu cũng trao cho mỗi người chiếc chìa khóa của con đường sự sống: "Các ngươi hãy cố gắng vào qua cửa hẹp". Chúng ta đã nghe, đã biết rất nhiều. Chúng ta biết rất rỏ con đường dẫn đến sự sống là con đường như thế nào. Nhưng chúng ta dể mang tâm trạng của con thỏ trong cuộc đua với rùa.
Trước tiên vì quá ỷ lại vào sức khỏe. Chúng ta ngở rằng thời gian còn dài, nên cứ mặc tình tìm sự hưởng thụ cho thân xác mà một ngày kia nó sẽ bị tiêu hao đ; vậy mà nó vẫn được phục vụ hết sức chu đáo, nhiều khi quá mức cần thiết, để rồi bất chấp tất cả, bất chấp cả tiếng nói của lương tâm ngay chính, bất chấp cả tiếng nói của con tim yêu thương, bất chấp cả tiếng kêu than của sự bất công mà chúng ta đã gây nên.
Chúng ta cũng ngỡ rằng, mình làm một số việc mà mình cho là đạo đức, những việc đó bảo đảm an toàn cho sự sống vĩnh cửu. Chính vì thế chúng ta cứ cho con người mình thoải mái trong lời nói, trong suy tư, trong những toan tính, và trong cách đối xử với người khác. Coi chừng chính những gì chúng ta ngỡ là đạo đức theo như mình muốn. Những gì chúng ta cho là bảo đảm, nó sẽ phản bội chúng ta. Giống như tài năng chạy nhanh của con thỏ đã phản bội nó vì sự ỷ lại và khinh dể kẻ khác. Không lẽ cuối cùng chúng ta sẽ lãnh nhận một câu nói phủ phàn :" Ta không biết các ngươi từ đâu tới".
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết tìm đúng con đường đi đến sự sống và can đảm bước đi cho đến cùng.

 

TN 21-C55. CỬA HẸP, CỬA HẠNH PHÚC

Lc 13, 22 - 30
 

Mỗi năm, cứ đến mùa thi đại học, các thí sinh xem ra lắm kẻ buồn và ít người vui, bởi vì năm nào: TN 21-C55

1 . Mỗi năm, cứ đến mùa thi đại học, các thí sinh xem ra lắm kẻ buồn và ít người vui, bởi vì năm nào cũng vậy, số dự thi thì nhiều, nhưng số được tuyển thì ít. Cánh cửa vào đại học, nhất là hệ chính quy xem ra rất hẹp, chỉ dành cho những thí sinh cố gắng, có phương pháp học tốt mới được vào. Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy, cửa vào Nước Trời là cửa hẹp, nhưng là cửa hạnh phúc, chúng ta làm gì để có thể qua cửa đó được ?
Đức Giêsu đã dùng hình ảnh quen thuộc trong đời sống hằng ngày để giảng dạy, giúp cho người nghe dễ hiểu. Qua hình ảnh “cửa hẹp” này làm chúng ta có thể có những suy nghĩ sau :
2 . Nếu cửa Nước Trời hẹp, hẳn là do chủ nhà Giêsu và những người được mời vào phải “nhỏ bé”. Dĩ nhiên ở đây không nên hiểu theo nghĩa thể lý mà là luân lý. Đức Giêsu là Đấng cao cả nhưng chọn con đường hèn mọn mà như thánh Phaolô đã tóm gọn trong thư gởi tín hữu Philipphê. Người là Thiên Chúa mà sẵn sàng trút bỏ vinh quang của Thiên Chúa để làm con người, mà lại là con người hèn mọn và chấp nhận chết ô nhục trên thánh giá để chuộc tội chúng ta (x.Plp 2,6-7). Vậy ai muốn vào Nước Trời thì hãy trở nên nhỏ bé, mọn hèn như Đức Giêsu.
3 . Nếu cửa Nước Trời là hẹp, mà ta muốn vào dễ dàng thì hành trang của ta phải gọn nhẹ. Gọn nhẹ đó là bớt đi, cắt xén đi những việc không tốt nơi con người mình. Bớt đi lòng vị kỷ, hẹp hòi ; bớt đi những đam mê, dục vọng xấu ; bớt đi sự hận thù, ghen ghét ; bớt đi sự xảo trá, gian tham ; bớt đi lòng tự cao, tự đại… nói gọn là bớt đi, cắt tỉa đi những gì làm cản trở ta không thể đến với Chúa và tha nhân được. Có như vậy thì mới có thể vào Nước Trời.
4 . Nếu cửa Nước Trời là hẹp, để qua cách dễ dàng thì phải có sức mạnh. Sức mạnh nỗ lực của bản thân chưa đủ, mà cần nhất là sức mạnh của ơn Chúa giúp. Đức Giêsu đã thấy trước nên Người đã đưa ra phương cách, để ta có thể qua cửa đó được, là mến Chúa và yêu người. Người cũng đã lập các bí tích để nâng đỡ, chữa lành hoặc ban những ơn cần thiết cho người Kitô hữu. Vậy mà ta thờ ơ với các bí tích, nhất là bí tích giải tội và Mình Thánh Chúa thì làm sao có thể vào Nước Trời được !
5 . Nếu ta hình dung vào Nước Trời là có cửa, thì hãy nhớ rằng đã có cửa thì có lúc cửa mở và có lúc cửa đóng. Vì thế như trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe Đức Giêsu cho biết khi cửa đóng rồi, thì chủ nhà sẽ từ chối người đến gõ cửa, dù bất cứ lý do gì (x Lc 13,25-27). Cửa đóng lại là biểu tượng của giờ cánh chung hay giờ chết của mỗi người. Cửa đóng lúc nào, ai mà biết được ? Cho nên hãy cố gắng sống thật tốt ngay những phút giây nầy, không chần chờ gì nữa.
6 . Nếu ta hình dung vào Nước Trời thì phải qua cửa, tuy hẹp, nhưng Thiên Chúa mời gọi mọi người vào cửa ấy, từ Đông chí Tây, từ Nam đến Bắc, tất cả đều được mời gọi vào bàn tiệc Nước Trời không trừ ai với điều kiện đơn giản là tin nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa và thực hành những điều Người dạy :”Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa”(Lc 11,28). Như vậy không được chễnh mãn, ỷ lại mình là Kitô hữu, thì đương nhiên được hạnh phúc Nước Trời, như người Do thái xưa quan niệm là dân riêng của Thiên Chúa, thì Ngài phải lo cho. Hãy nhớ Thiên Chúa là Đấng nhân từ nhưng cũng công bằng vô cùng, là Kitô hữu mà thôi chưa đủ mà còn phải sống đời sống của Kitô hữu nữa thì mới đáng được hạnh phúc Nước Trời.
7 . Nếu ta hình dung vào Nước Trời phải qua cửa hẹp, chính mình phải qua đồng thời có trách nhiệm hướng dẫn người thân của mình qua cửa đó nữa. Thì những bậc phụ huynh, những người có trách nhiệm hãy lo cho con em mình về cả ba phương diện: thể dục, trí dục và đức dục. Phương cách giáo dục hiệu quả nhất đó chính là bằng đời sống gương mẫu. Khi bảo con đừng chưởi thề nói tục mà ta mở miệng ra là văng tục thì làm sao dạy được nó. Bảo con đi Lễ thờ phượng Chúa mà ta không bao giờ đi, thì thật là khó thuyết phục nó...!
8 . Qua cửa hẹp mới có thể hưởng hạnh phúc muôn đời, tuy biết vậy mà nhiều khi chúng ta không cố gắng. Thí sinh ra sức học để thi vào trường này trường nọ, nhưng rồi bằng cấp, chức vị không thể trường tồn, bởi cái chết sẽ kết thúc tất cả. Lực sĩ ra sức luyện tập, kiêng cử đủ điều nhưng rồi kỷ lục cũ sẽ nhường chỗ cho kỷ lục mới! Còn hạnh phúc Nước Trời thì không bao giờ mất, vậy ta càng có lý do cố gắng hết sức để bước theo Đức Giêsu vào cửa hẹp bởi chính Người là đường là sự thật và là sự sống. Amen.

 

TN 21-C56. Vào Nước Trời khó hay dễ? Căn bệnh hoang tưởng.

Lc 13, 22 - 30
“Hãy phấn đấu vào qua cữa hẹp, vì có nhiều người tìm cách vào mà không được ” (Lc 13, 24)
Anh chị em thân mến,
 

Bệnh lý lịch, gốc gác, ConÔngCháuCha, trước đây đã một thời làm hư hoại xã hội VN, bại hoại: TN 21-C56

Bệnh lý lịch, gốc gác, ConÔngCháuCha, trước đây đã một thời làm hư hoại xã hội VN, bại hoại nhân phẫm con người. Hiện tại không phải không còn, nhưng hôm nay tự nơi xã hội ý thức được mầm bệnh để mà tránh, ý thức được tác hại của căn bệnh mà tự đề phòng. Tự nhận ra căn bệnh để chừa, tự nhận ra mầm bệnh để tránh, đó là cách phòng tránh bệnh hữu hiệu nhất của thứ bệnh hoang tưởng, bệnh lý lịch, gốc gác. Có người sẽ hỏi: Trong nhà đạo, có thứ bệnh này không? – Xin thưa: Có đấy. Gioan Tẩy giả đã chưởi thẳng vào nhóm biệt phái: đừng ỷ mình là con cháu Abraham …. Bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nói cùng chủ đề này. Kính mời anh chị em cùng suy niệm.
a/. Trước hết hãy thử đọc lại Phúc âm, xem Chúa muốn nói về chuyện này thế nào?
* Mt 7, 21 : “Không phải ai nói lạy Chúa, lạy Chúa thì được vào Nước Trời; chỉ có người tin và làm theo Ý Chúa Cha mà thôi”.
* Mt 7, 13-14: Hãy vào qua cữa hẹp, vì nó sẽ đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm …
* Mt 19, 24: Người giàu có vào Nước Thiên Chúa thì khó biết bao; con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nưóc Thiên Chúa ….
* bài TM hôm nay : Chúa nói: hãy phấn đấu vào qua cữa hẹp ….vì có nhiều người tìm cách vào mà không được vào…
* Tám mối Phúc cũng là lời chúc , lời mời gọi cho những ai vào Nước Trời bằng cách qua cữa hẹp như ý câu trên (Lc 13,
Qua tất cả những câu Phúc Âm trên và qua chính lời Chúa Giêsu nói cho ta hai ý này:
Phải tự mình phấn đấu qua cửa hẹp mà vào Nước Trời …
Nước Trời không thuộc về kẻ có gốc gác mạnh, con cháu Abraham, để mà ỷ lại.
b/. Lời Chúa Giêsu nói trong Bài Tin Mừng hôm nay xem ra như nhắm đến nhóm người biệt phái, kinh sư. Lời nói rõ ràng và cứng rắn, không một chút nễ nang: Muốn vào Nước Trời ……hãy phấn đấu vào qua cửa hẹp....Khi cửa đã đóng: ông chủ bảo, ta không biết các ngươi … Bấy giờ các ngươi sẽ phải khóc lóc nghiến răng… kẻ đứng hàng chót sẽ lên đầu, kẻ đứng đầu sẽ xuống chót…
Từ chổ minh định con đường vào Nước Trời, phải là một cuộc phấn đấu tự mình, Chúa Giêsu đả kích quyết liệt một thứ bệnh : hoang tưởng lý lịch – gốc gác – COCC. Đây là một thứ bệnh trầm kha, đáng sợ, dù nó không đưa đến cái chết, nhưng quả thật nó làm cho tinh thần ta ra nghèo nàn dài dài, dẫn đến mất …..trắng luôn. Người mắc bệnh không nghỉ rằng mình là kẻ khốn khổ đáng thương ở trên đời này…Đó chính là thứ bệnh hoang tưởng: lúc nào cũng tưởng mình KHÔN - tưởng mình NGON. Cái mình dở nhiều thì tưởng mình dở ít, tưởng mọi việc không đến nổi nào. Điều mình bình thường ở bậc trung, thì lại cho là hay ho hơn hẳn mọi người. Bài Tin mừng hôm nay cho ta thấy người mắc bệnh này sẽ bẻ bàng cay đắng lắm, vì những lời Chúa Giêsu nói y như gáo nước lạnh tạt ngay vào mặt họ, chỉ mong cho họ hiểu chính mình mà thôi.
c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Ngày xưa, người Do thái thường tự hào vì có tổ phụ Abraham, vì họ là con dòng cháu giống. ngày nay một số người công giáo vẫn còn nghỉ như vậy. Bệnh lý lịch đã ăn vào tận xương tủy của dân tộc VN, nên thực tế bỏ ngay không phải là chuyện dễ. Thời bao cấp đã nổi cộm vì chuyện này. Chúa Giêsu chỉ trích gay gắt và còn nói mạnh mẻ: hãy coi chừng…kẻo người chót lại lên hàng đầu, người đứng đầu lại xuống hàng chót. Ta nghỉ làm sao? Bao lâu nay ta thuộc vào hàng nào đây?

 

TN 21-C57. CHỌN CỬA HẸP VÌ YÊU

Lc 13, 22 - 30
 

Theo tâm lý chung của con người, ai cũng muốn cái gì đó rộng rãi và thoải mái. Ở một ngôi nhà: TN 21-C57

Theo tâm lý chung của con người, ai cũng muốn cái gì đó rộng rãi và thoải mái. Ở một ngôi nhà rộng rãi và đầy đủ tiện nghi thì thích hơn một ngôi nhà tù túng, chật hẹp. Đi trên một con đường lớn rộng thì cảm thấy dễ chịu hơn một con đường gồ ghề, nhỏ bé. Đối với người tín hữu, dường như chúng ta cũng muốn Chúa và Giáo hội rộng rãi và cho chúng ta được thoải mái trong việc giữ và sống đạo. Tuy nhiên, đằng sau những sự rộng rãi ấy quan trọng là có thật sự mang lại lợi ích cho chúng ta không.
Có lẽ, chúng ta sẽ thất vọng khi thấy Chúa và Giáo hội có vẻ như không đáp ứng được mong muốn của mình. Hơn nữa, với câu trả lời của Chúa Giêsu trong Tin mừng Chúa nhật hôm nay lại càng làm cho chúng ta thất vọng hơn. Khi ấy, có người hỏi Chúa Giêsu: "Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?". Chúa Giêsu đã không trực tiếp trả lời câu hỏi ấy mà lại nói: "Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được". Vậy "cửa hẹp" ở đây là gì và tại sao cần phải vào qua cửa ấy lại còn phải chiến đấu?
Trước hết, chúng ta hãy tin chắc là Thiên Chúa luôn muốn cứu độ con người và luôn mong muốn cho mọi người được hạnh phúc thật. Cho nên với câu trả lời của Chúa Giêsu chúng ta cũng hãy tin chắc là vì Người muốn chúng ta được cứu độ và hạnh phúc thật. Vì thế, cửa hẹp ở đây chúng ta không thể hiểu theo nghĩa vật chất mà phải hiểu rộng hơn, có tính cách thiêng liêng hơn.
Vì yêu thương và vì muốn cứu chuộc chúng ta nên chính Chúa Giêsu đã chọn qua cửa hẹp. Chúa Giêsu lên Giêrusalem nghĩa là Người chấp nhận đi vào con đường thập giá, con đường tử nạn. Cả cuộc sống của Chúa Giêsu ở trần gian cũng là đi vào cửa hẹp. "Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự..." (Pl 2, 6 - 8)
Như thế, nhìn vào Chúa Giêsu chúng ta thấy cửa hẹp là những gì không theo như ý muốn của riêng mình mà theo ý muốn của Thiên Chúa Cha. Khi chúng ta biết làm theo ý muốn Chúa Cha chắc chắn sẽ mang lại cho chúng ta và người khác lợi ích thiêng liêng, quý giá. Cho nên vì lợi ích của ta và của người khác và nhất là vì yêu, chúng ta sẵn sàng chọn vào qua cửa hẹp.
Chúng ta thấy, hai người nam nữ yêu nhau thật lòng sẽ vì nhau và hạnh phúc của nhau mà sẵn sàng từ bỏ những ý muốn và sở thích riêng tư. Cũng thế, một đứa con vì yêu cha mẹ nên sẽ bằng lòng vui vẻ từ bỏ những điều cha mẹ không muốn mình làm vì lợi ích của mình. Đó là những cửa hẹp.
Chúa Giêsu đã hứa: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy". (Ga 14, 25). Vậy nếu cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa dành cho mình chúng ta cũng sẽ biết đáp lại bằng tình yêu. Một trong những cách đáp đền tình yêu Chúa là chúng ta chọn vào qua cửa hẹp. Vào qua cửa hẹp là chúng ta sống theo những gì Chúa và Giáo hội truyền dạy. Chắc chắn khi quyết tâm sống theo những gì Chúa và Giáo hội dạy thì đòi hỏi chúng ta cần phải chiến đấu nhiều với bản thân mình. Cho dù trước mắt chúng ta sẽ thấy hơi gò bó, chật hẹp nhưng chúng ta hãy tin chắc đằng sau cửa hẹp ấy là một cuộc sống hạnh phúc bền vững.

 

TN 21-C58. SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXI - 2001

Lời Chúa hôm nay đề cập đến một vấn đề nhiều lần trong cuộc sống người tín hữu đã lo lắng: TN 21-C58

Lời Chúa hôm nay đề cập đến một vấn đề nhiều lần trong cuộc sống người tín hữu đã lo lắng và muốn có một giải đáp thật rõ ràng : vấn đề "phải chăng chỉ có ít người được cứu độ ?". Chúa Giêsu không trả lời thẳng câu hỏi, nhưng Ngài hướng chúng ta suy nghĩ theo một hướng khác "Các ngươi hãy cố gắng vào qua cửa hẹp". Vấn đề không phải là ít hay nhiều người được cứu độ, vấn đề ấy là của Thiên Chúa, vấn đề của chúng ta là "phải vào" và "ngả đường nào đưa ta vào".
Chúa thấy một thực tế nhiều khi thật đau thương "Nhiều người tìm vào mà không vào được". Không ít người "đã từng ăn uống trước mặt Ngài, và Ngài cũng đã từng giảng dạy giữa các công trường" của họ. Cũng như nhiều tín hữu hôm nay có thể nói với Ngài như thế. Nhưng cuối cùng họ cũng chỉ nghe được một câu trả lời nghiệt ngã "Ta không biết các ngươi tự đâu mà tới". Tuy nhiên Ngài cũng nói tới một thực tế ngược lại "Người ta từ đông chí tây, từ bắc chí nam đến dự tiệc nước Thiên Chúa". Và Đức Giêsu đã nói tới những con người đã vào Nước Thiên Chúa : Abraham, Isaac, Giacob và các tiên tri để mời gọi mọi người hãy "cố gắng vào qua cửa hẹp", mà chính bản thân Ngài cũng đang tiến vào. Thực vậy, Thánh Sử Luca khi nói tới hành trình lên Giêrusalem của Đức Giêsu là nói tới cuộc Vượt Qua của Người. Hành trình trở nên nhỏ bé, trở nên như không... Cũng chính Ngài đã chẳng từng tuyên bố "Ta là cửa chuồng chiên" đó sao ? Cửa duy nhất cho chiên đi qua để được nuôi sống. Những lời Tin Mừng ấy chẳng thúc bách chúng ta cởi bỏ lối sống đạo trong những hình thức lễ hội để chia sẻ với Đức Giêsu một lối sống khiêm hạ và tự hủy để hoàn tất mọi ý muốn của Thiên Chúa đó sao ? Đức Giêsu vẫn thường vào các hội đường mỗi ngày thứ bảy, và không bao giờ vắng mặt ở Đền Thờ Giêrusalem trong những dịp lễ của người Do Thái, nhưng Tin Mừng cho thấy ngay trong chính các Hội Đường và cả trong đền thánh Giêrusalem, Đức Giêsu luôn là hiện thân của Một Thiên Chúa đến gặp gỡ và nuôi dưỡng dân Ngài. Chính thái độ này gây nên những căng thẳng, mâu thuẫn giữa Ngài và các lãnh đạo Hội Đường. Isaia đã chẳng nói về Thiên Chúa rằng "Ta đến quy tụ mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ" đó sao ? Và "Cũng như Ta tạo thành trời mới, đất mới, đứng vững trước mặt Ta thế nào, thì dòng dõi ngươi và danh tánh các ngươi, sẽ vững bền như vậy". Hành trình lên Giêrusalem của Đức Giêsu, hành trình đi vào "Nơi Cực Thánh" của Ngài chính là hành trình hiến mạng sống mình để quy tụ con cái Thiên Chúa khắp nơi về một mối, hành trình trở nên tấm bánh bị bẻ ra cho một thế giới mới được khai sinh. Nói theo thánh Phaolô đó là hành trình "nâng đỡ những bàn tay bủn rủn và những đầu gối rụng rời", hành trình đi "bạt cho thẳng đường đi, để người què khỏi bị trẹo chân, nhưng được an lành". Như thế đời sống đạo chân thật chính là như Isaia nói trở nên "một dấu lạ", người "rao giảng cho các dân biết vinh quang" của Thiên Chúa, nó mang 2 chiều kích không thể tách rời "chiều kích Thiên Chúa" và "chiều kích huynh đệ".
Chúng ta cũng còn phải lưu ý một khía cạnh khác của Tin Mừng "Khi chủ nhà đã vào và đóng cửa lại", đây là chiều kích thời gian. Nhiều người kitô hữu không nhận ra được tính cách cấp bách và tức thời của mọi đòi hỏi của Tin Mừng. Họ sống như là còn quá nhiều năm tháng ! Thật khác với Đức Giêsu, Ngài đã từng khẳng định "Thầy còn phải chịu một phép rửa, và Thầy luôn băn khoăn thao thức cho đến khi sự việc ấy được hoàn tất". Và nếu chúng ta tìm hiểu kỹ Tin Mừng, chúng ta luôn thấy các Thánh Ký đã nhìn và đã trình bày mọi biến cố đời sống Đức Giêsu trong viễn tượng của cuộc Khổ Nạn Phục Sinh của Người. Như thế thời gian của Đức Giêsu luôn luôn là thời gian của hành trình về Giêrusalem. Giáo Hội thấu hiểu tính cấp bách và tức thời ấy, nên Giáo Hội cũng đã dành một nỗ lực đặc biệt để Thánh Hóa Thời Gian mà Phụng Vụ các giờ kinh là một thực hành kiên trì điển hình.
Quả thật cửa vào Nước Trời tuy là cửa hẹp, và phải lập tức bước vào, nhưng Lời Chúa cũng cho thấy chính Đức Giêsu đã đi trước và mở cửa ấy cho hết những ai tin cậy và bước theo Ngài. Chính trong Thánh Lễ này, khi trao ban Mình và Máu Ngài cho ta, chính là Ngài giúp Ta đi qua cửa hẹp ấy để vào cánh đồng sự sống. Chúng ta hãy tin tưởng và đến với Ngài.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

 TN 21-C59. Chúa Nhật thứ 21 Thường Niên

(11-8-2004)
Điều quan trọng nhất trong việc sống đạo là tuân hành thánh ý Thiên Chúa.
ĐỌC LỜI CHÚA
· Is 66,18-21: (18) Còn Ta, Ta biết rõ việc làm và ý định của chúng, Ta sẽ đến tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ; họ sẽ đến và được thấy vinh quang của Ta.
· Dt 12,5-7.11-13: (5) Con ơi, đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. (6) Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt. (7) Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy.
· TIN MỪNG: Lc 13,22-30
Thiên Chúa ruồng bỏ người Do-thái bất trung
và kêu mời dân ngoại

(22) Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy. (23) Có kẻ hỏi Người: «Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?» Người bảo họ: (24) «Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được.
(25) «Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khoá cửa lại, mà anh em còn đứng ở ngoài, bắt đầu gõ cửa và nói: «Thưa ngài, xin mở cho chúng tôi vào!» thì ông sẽ bảo anh em: «Các anh đấy ư? Ta không biết các anh từ đâu đến!» (26) Bấy giờ anh em mới nói: «Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi». (27) Nhưng ông sẽ đáp lại: «Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!»
(28) «Bấy giờ anh em sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông Ápraham, Ixaác và Giacóp cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài. (29) Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa. (30) Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót».

CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
 

Trong đời sống thường nhật, người làm việc không có phương pháp, không có đường lối thì có: TN 21-C59

Trong đời sống thường nhật, người làm việc không có phương pháp, không có đường lối thì có thành công không? Còn trong đời sống tâm linh thì sao?
1. Trong đời sống thường nhật, người làm việc không có phương pháp, không có đường lối thì có thành công không? Còn trong đời sống tâm linh thì sao?
2. Có bao giờ bạn nghĩ rằng có những người mang danh giữ đạo suốt cả đời, thế mà không vào được Nước Trời, chỉ vì họ giữ đạo cách sai lầm không? Phải giữ đạo hay sống đạo cách nào mới đúng?
3. Cốt tủy của Kitô giáo là gì? Nói chung, bạn đã nghiêm túc giữ đúng cốt tủy này chưa, hay chỉ giữ những điều tùy phụ?
Suy tư gợi ý:
1. Muốn thành công, phải đi đúng đường, làm đúng lối
Trong đời sống thường nhật, làm việc gì mà muốn thành công thì cần phải làm cho đúng phương pháp hay cách thức của nó. Để thực hiện những kế hoạch lớn, cần phải đi cho đúng hướng, nếu không đúng hướng, sẽ thất bại ê chề: «sai một ly, đi một dặm». Nhiều người khi làm việc gì thì chỉ biết cắm cúi làm, không cần biết làm thế nào cho đúng để có thể chắc chắn thành công và đạt hiệu quả cao nhất. Dường như họ quan niệm: «cần cù bù thông minh»! Làm không đúng cách, đi không đúng hướng, chẳng những không đạt được mục đích, mà còn gây thiệt hại nữa. Vì thế, có danh nhân đưa ra công thức: «Nhiệt thành + ngu xuẩn = phá hoại».
Dù việc nhỏ hay việc lớn ở trần gian này, muốn thành công, đều cần phải làm cho đúng cách, đúng phương pháp. Việc nên thánh, việc đạt được hạnh phúc vĩnh cửu đời sau, theo quan niệm của người Kitô hữu, là việc quan trọng nhất trên đời. Thế mà nhiều Kitô hữu chẳng cần biết phải làm cách nào để chắc chắn đạt được mục đích ấy, và điều gì cần thiết nhất để đạt được mục đích ấy. Việc quan trọng như thế mà họ cứ thực hiện theo kiểu mò mẫm, làm theo những hiểu biết không chắc chắn, thiếu chính xác! Vì thế, sẽ có nhiều trường hợp người Kitô hữu trung thành giữ đạo cả một đời, tưởng sẽ được Thiên Chúa thưởng công bội hậu, nhưng… rất tiếc không phải như thế! Bài Tin Mừng hôm nay cho ta biết điều không may ấy có thể xảy ra.
2. Muốn vào Nước Trời, phải thi hành thánh ý Thiên Chúa
Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu cho biết: «Có nhiều người tìm cách vào (Nước Trời) mà không thể được» vì họ đã sử dụng những cách không đúng, không hiệu quả. Ngài cho thấy cảnh thất bại của họ vào ngày phán xét: họ tưởng những việc họ đã làm ở trần gian để vào Nước Trời sẽ giúp họ vào được Nước ấy. Nhưng sự việc xảy ra thật phũ phàng! Những việc họ đã làm với mục đích vào được Nước Trời là hoàn toàn vô ích, vì những việc không cần thiết thì họ làm một cách thật chăm chỉ, còn việc cần thiết phải làm thì họ lại không thèm làm. Đức Giêsu mô tả cảnh ấy cách rõ rệt hơn trong Tin Mừng Matthêu: «Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» (Mt 7,22-23).
Theo đoạn Tin Mừng này thì vào ngày phán xét, nhiều người được tiếng là tốt lành thánh thiện – vì đã làm được những việc đạo đức ít ai làm được, như nói tiên tri, trừ quỉ, làm phép lạ – họ tưởng rằng làm được như thế thì chắc chắn mình đã đủ hoặc dư tiêu chuẩn để vào Nước Trời rồi. Nhưng không ngờ Chúa phán một câu khiến họ bật ngửa: «Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» Thì ra những việc đạo đức ấy tuy được người đời nể phục và ca tụng, nhưng hoàn toàn không ích lợi gì cho việc vào Nước Trời của họ nếu không muốn nói là có hại. Có hại vì chúng làm họ lầm tưởng rằng mình thánh thiện thật sự rồi sinh tự hào, kiêu ngạo.
Vậy thì việc gì là cần thiết để vào được Nước Trời? Đức Giêsu nói rất rõ: «Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi» (Mt 7,21). Lời Chúa nói thật rõ ràng: điều cần thiết nhất và duy nhất để được vào Nước Trời là thi hành ý muốn của Thiên Chúa (cụm từ «chỉ… mà thôi» nói lên tính duy nhất của điều cần thiết ấy). Thực hiện thánh ý Chúa, đó là điều phải làm trong thực tế, nghĩa là phải hành động thật sự chứ không chỉ nói hay tuyên xưng xuông. Phần đầu của câu Tin Mừng trên còn nhấn mạnh sự vô ích của những lời nói, lời tuyên xưng, hoặc những lời cầu nguyện rỗng tuếch không dẫn đến hành động.
Vậy điều quan trọng và cần thiết để vào Nước Trời là thực hiện thánh ý Thiên Chúa. Nhưng thánh ý Thiên Chúa là gì? Ngài muốn chúng ta làm gì?
3. Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì?
Thiên Chúa là Tình Yêu, và Nước Trời là vương quốc của Tình Yêu, trong đó, Tình Yêu thống trị tất cả. Vì thế, chỉ những ai có tình yêu đích thực mới phù hợp với Nước Trời. Thiên Chúa là Tình Yêu, nên Ngài chủ yếu muốn chúng ta – vốn được dựng nên theo hình ảnh của Ngài – phản ảnh trung thực bản tính yêu thương của Ngài. Vì thế, khi Đức Giêsu đến, Ngài chỉ đưa ra một lề luật duy nhất là: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 13,34). Ngài không hề đưa ra một giới luật nào khác để mọi Kitô hữu theo Ngài hiểu được tầm quan trọng duy nhất của nó mà tập trung mọi nỗ lực của mình vào đó. Để nhấn mạnh tầm quan trọng duy nhất này, Ngài còn mô tả ngày phán xét cuối cùng, Thiên Chúa chỉ xét theo một tiêu chuẩn duy nhất: ta đã yêu thương tha nhân ra sao bằng hành động cụ thể: «Xưa Ta đói (khát, là khách lạ, trần truồng, đau yếu, ngồi tù…), các ngươi đã (không) cho ăn (uống, tiếp rước, cho mặc, thăm viếng, đến hỏi han…)» ; «mỗi lần các ngươi (không) làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã (không) làm cho chính Ta vậy» (Mt 25,31-46). Không thấy Ngài phán xét theo một tiêu chuẩn nào khác. Vậy, điều Thiên Chúa muốn nơi chúng ta chủ yếu là tình yêu đích thực, nghĩa là biết tích cực yêu thương tha nhân.
Điều rất lạ là Kitô hữu nào cũng biết cốt tủy Kitô giáo là công bằng và yêu thương, nhưng số Kitô hữu – kể cả những người giảng dạy về Kitô giáo – tập trung cố gắng để thực hành điều cốt tủy này dường như không nhiều. Nếu nhiều thì chắc chắn bộ mặt Kitô giáo đã khác hẳn hiện nay. Lời Chúa nói về điều cốt tủy ấy thật chắc chắn và rõ ràng, nhưng người Kitô hữu dường như tập trung cố gắng vào những gì khác chứ không phải vào điều cốt tủy ấy. Hiện nay, đa số Kitô hữu vẫn còn đi vào vết xe cũ đã đổ của người Do Thái, là quá coi trọng hình thức tôn giáo bên ngoài, những tập tục, nghi thức, chỉ biết lãnh nhận các bí tích một cách chiếu lệ thiếu hẳn chiều kích nội tâm, v.v… Đó là những điều mà các ngôn sứ bao đời và cả Đức Giêsu đã đả phá kịch liệt (x. Is 1,11-17; Am 5,21-24; Gr 6,20; 14,12; Mk 3,4; 6,6-8; Mt 5,23-24; 9,13; Mc 12,33; v. v…). Hoặc họ tập trung nỗ lực vào việc giữ những luật này lệ nọ, đủ mọi thứ luật, nhưng luật quan trọng nhất phải tuân giữ là công bằng và yêu thương thì lại bỏ qua.
Chính vì thế, trong bài Tin Mừng hôm nay «có kẻ hỏi Người: Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?» và Đức Giêsu đã khẳng định: «Kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít» (Mt 22,14; 20,16). Vậy chúng ta phải sống đạo thế nào cho đúng thánh ý Chúa, kẻo cả đời giữ đạo Chúa của chúng ta trở thành «xôi hỏng, bỏng không», hay thành «công dã tràng» thì thật đáng tiếc! Đừng để câu Kinh Thánh sau đây đúng với chính chúng ta: «Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 8,11-12).
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, chúng con mang danh là Kitô hữu, nhưng nhiều khi chúng con không sống theo quan niệm và tinh thần của Đức Kitô, mà sống theo quan niệm và tinh thần của ai đấy mà chúng con cho là đúng, hoặc tưởng rằng là của Đức Kitô. Xin giúp chúng con biết rõ Cha muốn chúng con làm gì, và tinh thần của Đức Kitô là gì, bằng cách tham chiếu Lời của Ngài. Đừng để chúng con quan trọng hóa những điều tùy phụ mà coi nhẹ điều chính yếu nhất là thực hiện công lý và tình thương trong cuộc đời mình (x. Mt 23,23b).
Joan Nguyễn Chính Kết

 

TN 21-C60. CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN, năm C

Lc 13, 22-30
CHÚA ĐÃ CHỌN CỬA NÀO ?
 

Thường con người vẫn thích được tự do thong dong va bước đi trên những con đường rộng thênh: TN 21-C60

Thường con người vẫn thích được tự do thong dong va bước đi trên những con đường rộng thênh thang, tráng nhựa va trơn tru, ít có những ai muốn chọn con đường sỏi đá, trơn trượt, bụi đất, mù sương. Khuynh hướng của con người là thế. Ai cũng thích dễ dãi, thỏa hiệp để được lợi, để được ích riêng cho mình. Ai cũng thích thu vén và tích trữ của cải, ham danh, trục lợi. Chính những cái kềnh càng, những cái vướng víu cản họ khiến họ không vượt được cửa hẹp mà vào Nước Thiên Chúa.
NHỮNG KẺ TRƯỚC HẾT SẼ XUỐNG RỐT HẾT :
Cái trớ trêu và nghịch lý của Tin Mừng vẫn là có nhữg kẻ rốt hết sẽ lên trước hết và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống cuối hết. Biết được cái nghịch lý của Tin Mừng, nhưng con người hầu như đều thích những gì là dễ dãi, những gì là có lợi, những gì là đem lại danh vọng, tài lộc, phú quí cho mình.Những kẻ đứng đầu là những kẻ được Thiên Chúa trao ban cho của cải, dư ăn dư để, lương thực chất đầy kho nẫm, nhưng họ lại là những người không biết chia sẻ cho những kẻ nghèo hèn, thiếu ăn, đói khổ. Họ đã có dư lại muốn vun khoén cho mình, chỉ sống ích kỷ, chỉ nghĩ về mình mà thôi. Họ có thể đã giữ lề luật tỉ mỉ, chi li, nhưng lại ăn ngốn, ăn nghiến ngay cả của cải của bà góa. Họ tuân giữ những điều Hội Thánh buộc nhưng lại giống anh thanh niên giầu có trong Tin Mừng:” Anh buồn rầu bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải “. Những người đứng đầu có thể là những con người được Chúa ban cho địa vị, danh vọng, tài cao, khôn ngoan, thông minh hơn người nhưng họ lại không biết dùng sự khôn ngoan, thông minh để nâng đỡ anh em, phục vụ mọi người, nhưng họ lại dùng sự khôn ngoan, địa vị Chúa trao ban để làm lợi cho chính mình. Vì thế, những cái cồng kềnh, tự mãn, tự khoe của họ đã khiến họ không thể vượt qua cửa hẹp để vào được Nước Trời.
NHỮNG KẺ RỐT TRỞ LÊN TRƯỚC HẾT :
Cái cồng kềnh của những kẻ đứng đầu, những kẻ trước hết là của cải, danh vọng, sự hà tiện, keo kiệt, bủn xỉn, cái tôi to như cái rún vũ trụ, tham vọng cá nhân, tự kiêu tự mãn, tự cao tự đại đã là những cản ngăn không thể vượt qua để những người này có thể vào được Nước Trời. Tuy nhiên, cánh cửa đã mở ra cho những kẻ thành tâm, thiện chí vào được vì họ đã biết trở nên bé nhỏ, trở nên trẻ thơ như Chúa nói, nghĩa là họ đã ra hư không, từ bỏ chính mình để làm mọi việc theo ý Chúa. Nên, cánh cửa Nước Trời dễ dàng đối với những người thiện tâm thì lại trở nên khung cửa hẹp đối với nhiều người vì cái tôi của họ quá cồng kềnh vì nhiều chuyện trần thế quá.
HÃY BƯỚC QUA CỬA HẸP MÀ VÀO :
Thực tế, Chúa bảo mọi người hãy phấn đấu, hãy hy sinh, từ bỏ để bước qua cửa hẹp. Chúa nói tới cửa hẹp có nghĩa Chúa bảo rằng cửa hẹp chỉ dành cho những con người bé nhỏ chứ không phải những con người khổng lồ, những con người to lớn vv…Cửa hẹp chỉ có những con người nhỏ bé mới luồn lách vào được. Chúa đã từng nói :” Hãy trở nên bé nhỏ” “ Hãy tiếp nhận trẻ thơ “ ( Lc 18, 17 ). Cửa hẹp dẫn con người đến sự sống, đưa con người vào chốn tốt đẹp, vinh quang ( Mt 7, 14 ). Chúa nói hãy tỉnh thức, sẵn sàng và cầu nguyện. Tỉnh thức như năm cô trinh nữ khôn ngoan mang đèn mà lại mang dầu. Như người đầy tớ tỉnh thức chờ đợi chủ về, như người quản lý khôn ngoan, lanh lợi, như nông gia tìm được viên ngọc quí vv…Tất cả đều phải tỉnh thức và sẵn sàng cầu nguyện. Đừng để cho sắc dục, danh vọng, của cải, tiền tài làm mờ ám con người, ngăn cản con người, đừng để cho những cái phù phiếm, giả trá, hư vô níu kéo con người, cản ngăn con người và làm cho con người không thể bước qua cửa hẹp. Đừng để cho cửa bị đóng kín như năm cô khờ dại mang đèn lại không mang dầu :” Ta không biết…từ đâu đến “ ( Lc 13, 27 ).
Lạy Chúa, cửa hẹp ít người thích bước vào, nhưng Chúa lại chọn cửa hẹp để vào. Cửa hẹp là thập giá, là đau khổ, là hy sinh, là từ bỏ. Xin giúp chúng con biết bước vào cửa hẹp vì chính Chúa đã chọn con đường hẹp, con đường khổ giá để đi qua.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

TN 21-C61. CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN

Lc 12, 22-30
HÃY PHẤN ĐẤU ĐI QUA CỬA HẸP ĐỂ VÀO NƯỚC TRỜI
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

Chúa Giêsu khi đi rao giảng thường dùng những dụ ngôn, những sự việc thực tế, cụ thể trong: TN 21-C61

Chúa Giêsu khi đi rao giảng thường dùng những dụ ngôn, những sự việc thực tế, cụ thể trong đời sống hằng ngày của người Do Thái lúc đó để diễn tả về Nước Trời, diễn đạt những điều Ngài muốn nói . Phụng vụ Chúa Nhật 21 thường niên, năm C, đặc biệt bài Tin Mừng của thánh Luca 12, 22-30 trích đọc hôm nay, Chúa ví Nước Trời giống như một bữa tiệc cánh chung và qua bữa tiệc này, Ngài chỉ ra một số tiêu chuẩn cốt thiết cho những người đến dự tiệc. Những tiêu chuẩn Ngài đưa ra như phải phấn đấu đi qua cửa hẹp, chịu thử thách khó khăn, vác thập giá là những điều kiện bắt buộc phải có để đi vào Nước Trời. Chúa đưa ra những điều kiện ấy không phải để dọa nạt, làm khó dễ con người, nhưng Ngài khuyến khích họ lạc quan, tin tưởng, cậy trông, phó thác vì đời con người quả quá vắn vỏi, mau qua, chóng tàn.
 CON ĐƯỜNG HẸP CỦA CHÚA:
Con đường của Chúa vạch ra không phải là con đường rộng thênh thang, lộng gió, con đường thẳng băng, đầy nhựa, nhưng con đường của Ngài lắm khi có nhiều thử thách, giăng giăng, vướng mắc. Con đường của Chúa là con đường hẹp, con đường thập giá, đường đau khổ, khó khăn. Tuy nhiên, Chúa đòi hỏi những ai đi theo Ngài rất quyết liệt rằng họ phải phấn đấu đi con đường của Ngài suốt cả cuộc hành trình đời sống của con người. Đường mà Chúa đòi hỏi khác với những suy nghĩ của con người: đường ấy là con đường từ bỏ, ra khỏi chính mình lột xác và không ham danh lợi, vinh quang, phú quí. Tuy nhiên, sống ở đời, có những người hiểu được Lời của Chúa, họ đã sống chia sẻ và hầu như lấy tám mối phúc làm mốc đích để nhắm tới Nước Thiên Chúa. Cũng có những người đã lợi dụng người nghèo để tiến thân, để làm giầu bất chính, để ích kỷ vinh thân phì gia. Chúa Giêsu khi đưa ra những tiêu chuẩn để đi vào Nước Trời , Ngài đã đòi hỏi những điều kiện thật vô tư và công minh. Dù trên đời này con người có tất cả mọi sự đi nữa như danh vọng, của cải, vật chất, nhưng trước mặt Chúa tất cả đều là phù vân, mau tàn, chóng qua. Điều Chúa muốn là:” Hãy đi vào cửa hẹp, hãy bán tất cả để chia sẻ cho người nghèo, vác thập giá và hy sinh ngay cả mạng sống”. Đó là những đòi hỏi hết sức rõ ràng, trong sáng và công minh. Con người chỉ có thể làm đẹp lòng Chúa khi họ biết chấp nhận những tiêu chuẩn Ngài  đòi hỏi họ tuân theo.
 SỨ ĐIỆP CHÚA TRAO GỬI CHO NHÂN LOẠI, CHO CON NGƯỜI:
Con đường Chúa vạch ra cho nhân loại, cho con người đi xem ra dễ, nhưng cũng rất là khó. Chúa muốn con người chọn tình yêu hơn ham lợi, ích kỷ. Đọc lại Cựu Ước và Tân Ước, chúng ta đã thấy những tấm gương thật trong sáng và đức tin hết sức vững mạnh của tổ phụ Abraham, Isáac, Giacóp, Môsê và nhiều vị khác nữa; và trải qua lịch sử cứu độ, nhiều vị thánh đã làm gương cho nhân loại bằng cách chọn con đường hẹp, con đường đau khổ, con đường thử thách, con đường tám mối phúc thật để đi vào Nước Trời. Chúa đòi chúng ta chọn lựa hoặc đi theo Chúa hoặc từ khước Ngài. Tất cả đều tùy thuộc sự tự do định đoạt của chúng ta.  Quả thực, Chúa đã trấn an nhân loại, trấn an mọi người và từng người, đặc biệt các môn đệ của Ngài:” Đừng sợ, hỡi đoàn chiên nhỏ bé, vì Cha các con đã khấn ban Nước Trời cho các con “. Đây là sứ điệp quan trọng Chúa gửi cho nhân loại, cho mỗi người chúng ta. Điều chúng ta cảm thấy thực an ủi là chúng ta cảm nghiệm sâu xa Chúa vẫn luôn ở cạnh bên chúng ta để nâng đỡ, an ủi, vỗ về và chở che chúng ta trong suốt cuộc hành trình cam go đi về nhà Cha trên Trời.
 Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết tin tưởng, cậy trông, phó thác vào Chúa.
 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
Tại sao Chúa Giêsu lại hay dùng dụ ngôn để diễn tả điều Ngài muốn nói ?
Bạn hiểu thế nào về Thiên Đàng và Hỏa Ngục ?
Bạn cảm nghiệm sao về con đường hẹp ?

 

TN 21-C62. CHÔNG CHÊNH.

Chúa Nhật 21C Thường Niên.
 

Nước Trời mang tính phổ quát hay giới hạn ?   Chúa luôn mời gọi mọi người.  Nhưng nhiều: TN 21-C62

Nước Trời mang tính phổ quát hay giới hạn ?   Chúa luôn mời gọi mọi người.  Nhưng nhiều người đã từ chối vì Kitô giáo khắt khe.   Nhưng những ai chấp nhận, sẽ nhận được nguồn an ủi lớn lao.  Cả một bầu trời thênh thang trước mắt.
CON ĐƯỜNG HẸP.
Nước Trời luôn rộng mở đón nhận muôn dân.   Chính Đức Giêsu quả quyết : “Trên nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở…” (Ga 14:2)   Ngôn sứ Isaia cũng nhắc tới tiếng gọi phổ quát của Giavê (Is 66:20).  Nhưng hôm nay, tại sao Đức Giêsu lại nói phải chui qua “cửa hẹp” mới vào được Nước Trời.   Người không ngần ngại nói sự thật : “Có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được” (Lc 13:24) ?   Tại sao không vào được ?  Phải chăng vì họ thiếu đức tin hay những việc lành ?   Hay phải chăng họ đã vô lầm cửa ?   Phải chăng vì định mệnh khắt khe ?  Hay tại họ thiếu ân sủng nên không được Thiên Chúa tuyển chọn ?   Nếu thế tự do con người ở đâu  ?  
Quả thực, lời Chúa chưa vén màn bí mật về số phận con người.   Nhưng Đức Giêsu muốn cho thấy hai mặt của một thực tại.   Một đàng Nước Trời phổ quát, vì “thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.” (Lc 13:29)   Đàng khác, Nước Trời thênh thang đó chỉ có một “cửa hẹp”.   Chẳng mấy ai thích cửa hẹp.   Nhưng thực tế, “cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong.” (Mt 7:13)   Bởi vậy, cần chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào” (Lc 13:24) Nước Trời.   Sức chiến đấu đó vừa cho thấy con người tự do vừa mạc khải Thiên Chúa tình yêu.   Chính vì tự do nên con người có thể chọn chiến đấu cho những giá trị Nước Trời.   Chính vì bản chất là tình yêu, Thiên Chúa mới mời con người đáp trả tình yêu.
Tình yêu sẽ hướng dẫn qua những nẻo đường chông gai.   Nhiều khi có những vấp ngã đau điếng trên đường về nhà Cha.  Thế nhưng Thiên Chúa đầy lòng yêu thương luôn vực dậy những ai sa ngã.  Đôi khi cần những biện pháp hơi mạnh.  “Thuốc đắng giã tật”.   Xin “đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chờ nản lòng khi Người khiển trách. Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy.” (Dt 12:5-6)   Không phải lúc nào cũng dễ dàng  chấp nhận những lời cảnh giác. Nhưng càng được sửa dạy, càng thấy mình thuộc về Thiên Chúa.  Muốn làm con Thiên Chúa, “anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy.” (Dt 12:7)  Thiên Chúa không bao giờ sửa phạt cho thỏa cơn giận hay có ý báo thù.   Nhưng Người sửa dạy để như gọt đẽo chúng ta cho vừa khung cửa hẹp của Nước Trời. Người sửa dạy khác hẳn với người đời. Quả thế, “những người chịu (Thiên Chúa) rèn luyện như thế sẽ gặt được hoa trái là bình an và công chính.” (Dt 12:11)  Bình an và công chính là đặc tính của Nước Trời.  Bởi thế, ngay từ đời này, ta đã cảm thấy tất cả kích thước chật hẹp của cửa trời và cả bầu trời thênh thang trong Nước Chúa.  
Nhưng nếu không chịu đi qua cửa hẹp, người ta sẽ cảm thấy nhục nhã của kiếp lưu đầy khỏi Nước Chúa.    Thái độ lạnh lùng của Chúa càng gây kinh ngạc cho những ai quan tâm tới những đòi hỏi của Tin Mừng : “Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính !” (Lc 13:27)    Thật là kinh hoàng khi phải nghe những lời cứng cỏi đó ! Thái độ lạnh lùng đó nhằm xua đuổi và loại trừ những người đã không sống công chính theo lượng ân sủng Chúa.   Họ tự hào vì đã dành rất nhiều thời giờ đồng bàn với Chúa và lắng nghe lời Chúa (x. Lc 13:26).  Còn ai có thể hiểu biết Chúa hơn họ ? Vậy mà Chúa vẫn lạnh lùng đáp : “Ta không biết các anh từ đâu đến !” (Lc 13:25.27)   Người ta đã phí phạm biết bao thời giờ hay cả cuộc đời vì đã quên mất một yếu tố chính tức là mở rộng cõi lòng đón nhận Nước Chúa.  Người ta đã quá khép kín tâm hồn và không thi hành tất cả những đòi hỏi của Tin Mừng là sống “công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.”    Không bao giờ Đức Giêsu lại trình bày Nước Chúa như một bánh vẽ.  Trái lại, Nước Chúa là một thực tại sống động và là một đòi hỏi gắt gao.
Đòi hỏi gắt gao nhất là phải mở rộng cõi lòng theo chiều kích Nước Chúa.  Nếu trong cuộc sống còn một chút gì kỳ thị đông tây nam bắc, chắc chắn không thể vào được Nước Trời.  Vì “thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.” (Lc 13:29)   Như vậy, những kẻ “còn đứng ở ngoài” sẽ không bao giờ có thể nếm đượchương vị ngọt ngào và thơm tho của bàn tiệc Nước Chúa.   Tất cả những người công chính, bất kể phát xuất từ đâu, đều được nhập tiệc với “các ông Abraham, Isaac và Jacob cùng tất cả các ngôn sứ.” (Lc 13:28)   Nói khác, họ là những người vất vả phấn đấu để được cứu thoát.   Họ phải trả giá bằng chính con người và cuộc đời.   Nếu còn lấn cấn với những giới hạn về văn hóa, chủng tộc, màu da, chính kiến, tôn giáo của mình, họ không bao giờ có thể hiểu nổi những chiều kích lớn lao của Nước Thiên Chúa.   Vì ơn cứu thoát chỉ dành cho những người biết hòa nhập với sứ mệnh của Đấng đã phán : “Ta sẽ đến tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ.” (Is 66:18)   
Nước Trời quả thực là một hồng ân dành cho hết mọi người.  Nhưng hồng ân đó cũng là tặng phẩm dành riêng cho từng người.   Bởi vậy, Nước Trời vừa có chiều kích phổ quát vừa thuộc về từng cá nhân.   Phải  nhận ra hai chiều kích đó mới thấy niềm hi vọng của mình tươi sáng chừng nào và nỗ lực theo đuổi hi vọng đó lớn lao tới đâu.
NƯỚC CHÚA GIỮA TRẦN GIAN
Nhưng Nước Chúa không ai có thể độc chiếm.   Chỉ có Đức Giêsu mới là cửa độc nhất dẫn vào Nước Chúa.   Chính Người đã quả quyết : “Tôi là cửa.  Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu.” (Ga 10:9)    Nhưng Người là cửa hẹp hay rộng ?   Quả thực, không một nền luân lý thông thường nào có đòi hỏi gắt gao như giáo lý của Đức Giêsu.   Thế nhưng, cũng không ai có một sức mạnh giải thoát bằng Người.    Bởi vậy, thánh Phaolô đã xác định sứ mạng lớn lao của Đức Giêsu : “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta.” (Gl 5:1)   Chính Người đã tìm được phương giải thoát cho thân phận làm người.   Con người không thể thoát ra khỏi luật lệ.   Nhưng có nhiều thứ luật trói buộc con người trong vòng nô lệ.  Có những luật dẫn tới tự do hạnh phúc.  Đức Giêsu đã xác định rõ về bản chất lề luật : “Ngày sabbat được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày sabbat.” (Mc 2:27)    Bởi vậy, luật lệ Nước Trời cũng nhằm phục vụ con người.  Đức Giêsu là cửa hẹp nhưng mở ra vô biên.   Đó là sự thật.
Sự thật ấy đã được chứng minh qua hai ngàn năm lịch sử.   Giáo hội làm chứng Đức Giêsu là “con đường, sự thật và sự sống.” (Ga 14:6)   Thế nhưng, vẫn có những người xuyên tạc sự thật và không chịu nhìn nhận sứ mạng đó của Giáo hội.  Chẳng hạn, thứ bảy 18/8/2001 vừa qua, Thủ tướng Aán Độ Atal Behari Vajpayee tuyên bố “động cơ” đằng sau các hoạt động bác ái của người Kitô hữu là “chiêu dụ tín đồ” (CWNews 20/08/2001)   Rõ ràng, Thủ tướng đã cố tình không muốn đọc thấy sứ điệp Kitô giáo ngang qua những hoạt động vô cùng cần thiết cho những người nghèo khổ và những thành phần bị gạt ra ngoài lề xã hội.   Mặc nhiên ông biện minh cho những thái độ thù nghịch tôn giáo đang lan rộng khắp nước Aán độ.   Oâng đã khoán trắng việc trợ giúp các nạn nhận lũ lụt đầu năm nay cho Rashtriya Swayamsevak Sangh, một tổ chức Aán giáo cực đoan, thủ phạm đã giết nhiều linh mục, giáo dân và tấn công nhiều giáo xứ Công giáo trong vòng hai năm nay.   Tổ chức đã thúc giục các cộng đồng Aán giáo từ chối các phẩm vật cứu trợ từ các tổ chức Kitô giáo (x. VietCatholic 22/8/2001)  Trên đất nước đầy những thù nghịch đó, Kitô hữu đang phải chui qua cửa hẹp.   Lời chứng càng mạnh mẽ hơn khi nào.   Lực lượng thù nghịch càng cố gắng giới hạn sức mạnh Giáo hội, Thánh Linh càng có cơ hội làm cho nhiệm thể Chúa Kitô phát triển.  Những nỗ lực thù nghịch chỉ để lộ ra sự sợ hãi trước những ảnh hưởng của Giáo hội.  Chẳng hạn, nữ tu Têrêsa Calcutta đã nhá lên cho thế giới thấy tình yêu như ánh sáng đang soi chiếu vào tận những nơi tăm tối nhất trong thân phận làm người và sởi ấm những ẩm thấp nhất nơi những hang cùng ngõ hẻm trên thế giới.
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

TN 21-C63. Chúa Nhật 21 quanh năm

(Lu-ca 13: 22-30)
 

Để tiếp nhận Nước Thiên Chúa và được cứu độ, người ta phải chấp nhận những hậu quả như phải:  TN 21-C63

          Để tiếp nhận Nước Thiên Chúa và được cứu độ, người ta phải chấp nhận những hậu quả như phải sống trong sự chia rẽ, chống đối của những người không muốn đáp lại lời gọi của Chúa Giê-su, kể cả những người trong cùng một gia đình.  Tình trạng này được mô tả một cách cụ thể như “cha chống lại con trai, con trai chống lại cha;  mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ;  mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng” (Lc 12:53).  Bài Tin Mừng hôm nay trình bày một khía cạnh khác của việc tiếp nhận ơn cứu độ:  để được cứu độ, “hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào” (Lc 13:24).  Vậy muốn qua được cửa hẹp của Nước Trời, ta phải chiến đấu với những gì?
1)  Cửa hẹp cứu thoát
          Trong Tin Mừng Gio-an, Chúa Giê-su đã ví Người là cửa chuồng chiên, để chiên ra vào và sẽ được sống đời đời (Ga 10:7).  Qua Đức Ki-tô, sự sống của Thiên Chúa đến với nhân loại; đồng thời cũng qua Đức Ki-tô, con người tiếp nhận sự sống ấy và đến với Thiên Chúa trong hành trình trở về nhà Cha (x. Ga 5:24.26).  Như thế ta nhận thấy tầm quan trọng của cánh cửa Ki-tô như thế nào, vì tất cả thân phận của nhân loại phải tùy thuộc vào cánh cửa ấy.
          Nhưng Chúa Giê-su lại làm ta hết sức ngạc nhiên khi Người xác định Người không phải là cánh cửa rộng thênh thang để người ta có thể ra vào thoải mái.  Trái lại, Người là “cửa hẹp” và muốn qua cửa hẹp này ta phải chiến đấu thật vất vả. 
          Chúa Giê-su là Đấng cứu độ phổ quát, được Chúa Cha sai đến để cứu thoát mọi người không trừ ai.  Tuy nhiên ơn cứu độ không phải là một phù phép tự nó sẽ đem mọi người về thiên đàng, mà là lời gọi Thiên Chúa mời gọi ta hãy lấy lối sống của Chúa Ki-tô, Con Một Người, như là mẫu mực để noi theo và biến đổi con người của ta nên giống như Chúa Ki-tô.  Chính Chúa Ki-tô đã bảo ta:  “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14:6).  Đường đi cũng có trăm nẻo vạn thứ, nhưng đối với số phận tương lai của ta thì chỉ còn hai con đường: đường thênh thang hay đường chật và cửa rộng hay cửa hẹp.  Rồi Người dặn dò ta:  “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó.  Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7:13-14).  Vậy tại sao cánh cửa Ki-tô lại hẹp và con đường Ki-tô lại chật?
          Khi Chúa nói cửa hẹp và đường chật thì Người không lấy bản thân Người làm đơn vị để đo lường rộng hay hẹp, chật hay thênh thang, nhưng là lấy chính kẻ vào cửa hoặc kẻ đi trên đường làm đơn vị đo lường.  Khung cửa sẽ rộng nếu người bước vào không đem theo những hành lý lỉnh kỉnh, vàng bạc nặng nề, vợ bé vợ nhỏ...  Con đường sẽ thênh thang nếu người đi đường chịu bỏ lại chiếc xe đắt tiền, căn nhà lộng lẫy, những tham vọng xấu xa...  Hình ảnh cửa hẹp và đường chật nhắc nhở ta phải từ bỏ mọi sự để bước vào cửa Nước Trời và đi theo con đường Ki-tô mà đến với Thiên Chúa Cha.  Đồng thời những hình ảnh ấy cũng mời gọi ta nhìn vào Chúa Ki-tô, Đấng đã từ bỏ vinh quang Thiên Chúa để nhận lấy thân phận con người khiêm hạ, dẫn ta bước theo con đường Tám mối phúc là con đường hoàn toàn đi ngược với con đường của thế gian (Mt 5:1-12).  Đọc Tám mối phúc thật, ta thấy rõ ràng những gì thế gian cho là cửa hẹp hay đường chật thì đó chính là cửa Chúa Giê-su đã qua và đường Người đã đi, rồi Người gọi ta bước theo Người cũng qua cửa ấy và cũng trên con đường ấy.
2)  “Hãy chiến đấu”
          Bước qua một khung cửa hẹp để vào tuy có thể là khó khăn một chút, nhưng chắc không đến nỗi phải “chiến đấu”.  Thế mà Chúa Giê-su không ngại khi nói “hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào”.  Vậy nếu phải chiến đấu thì chiến đấu với ai hoặc chiến đấu với cái gì?  Chắc chắn đây không phải là chiến đấu để giành lối hay chỗ, như ta thấy cảnh chen lấn chà đạp nhau trong một rạp hát bị lửa cháy hoặc hình ảnh xô đẩy nhau giành lên máy bay Mỹ ngày 30-4-75.  Cánh cửa cứu độ luôn luôn mở sẵn.  Vấn đề là ở người muốn đi qua cửa ấy mà thôi.  Họ có thực sự muốn vào không?  Họ có sẵn sàng tuân thủ những điều kiện cần thiết của Đấng Cứu độ không?  Người tôn trọng sự tự do lựa chọn của họ chứ không áp đặt gì trên họ.  Người gọi họ:  “Hãy theo Thầy” (Mt 4:19; Mc 1:17; Ga 1:43; 21:19).  Phần họ, họ có thể suy nghĩ cân nhắc, có thể xin theo hoặc bỏ đi.  Cũng không phải Chúa gọi và ta đáp lại chỉ một lần, nhưng lời gọi của Người và tiếng đáp của ta là cả một đời người.  Có khi ta thấy hăng hái, nhưng cũng có lúc ta thấy chán nản muốn bỏ đi.  Quả thực là một cuộc chiến đấu nội tâm liên lỉ.  Khi ta yếu đuối bỏ đi, Chúa sẽ nói với ta như đã nói với các Tông đồ:  “Cả anh em em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6:67).  Chọn lựa giữa cửa hẹp và cửa rộng, giữa đường chật và đường thênh thang luôn luôn tạo nên một cuộc chiến đấu mãnh liệt trong tâm hồn ta.  Cho nên Chúa Giê-su mới nói “Hãy chiến đấu...” 
Một chi tiết thật ý nghĩa là thánh Lu-ca kể lại rằng Chúa Giê-su nói những điều này đang khi Người và các Tông đồ trên đường lên Giê-ru-sa-lem.  Chúa  “lên Giê-ru-sa-lem” có nghĩa là Người đi qua cuộc Thương Khó và cái chết khổ nhục, như đi qua cửa hẹp để tiến vào vinh quang Phục Sinh.  Chúa Giê-su đã phải chiến đấu để tuân hành thánh ý Chúa Cha đến độ đổ mồ hôi máu trong Vườn Dầu và chấp nhận chén đắng Người phải uống.  Người dạy ta phải chiến đấu mà qua cửa hẹp và Người đã sống những điều Người giảng dạy.
3)  “Có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được”
          Có phải Chúa nêu lên một sự kiện có thực hay không?  Dĩ nhiên là một sự kiện đáng buồn, nhưng có thực.  Nhiều người muốn được cứu độ, nhưng họ không theo cách của Chúa Giê-su, nghĩa là không muốn qua cửa hẹp và đi con đường chật mà Người đã đề ra.  Họ muốn mục đích là được Thiên Chúa cứu độ, nhưng lại không chấp nhận đường lối của Đấng Cứu độ là Chúa Ki-tô do Thiên Chúa sai đến, giống như bệnh nhân muốn được chữa lành mà lại không muốn gặp bác sĩ. 
Nói đến những người này, Chúa Giê-su muốn ám chỉ những người Do-thái bất trung không muốn nhận Người là Đấng Cứu độ.  Nhưng nếu ta muốn hiểu đó là những người Công giáo hôm nay tuy mang danh Công giáo muốn được lên thiên đàng, nhưng lại không muốn theo lối sống của Chúa Giê-su, thì cũng không sai!  Họ muốn được rỗi linh hồn, nhưng lại sống ác độc kiêu căng, chứ không hiền lành và khiêm nhường như Chúa Giê-su. Họ muốn được “cứu độ” bằng đô-la, bằng những tham vọng bất chính, bằng bạo lực...  thay vì theo con đường sống khó nghèo, chuyên chăm thi hành ý Chúa.  Họ từ chối những phương tiện gây đau đớn vất vả cho họ, như thập giá hằng ngày, những hy sinh và tự chế, để chọn những phương tiện của họ là sống theo vật chất và hưởng thụ.  Như thế không phải vì cửa quá hẹp mà là cái tôi của họ quá lớn.  Họ mang danh người Công giáo, nhiều khi còn được tiếng là ngoan đạo nhất cộng đoàn, làm những việc đạo đức mà chỉ một ít người có thể làm.  Nhưng thực ra họ đang đi theo con đường của họ chứ không phải của Chúa.  Rồi một ngày Chúa sẽ nói với họ cũng những lời này:  “Ta không biết các anh từ đâu đến.  Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!” (Lc 13:27).
4)  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Lời gọi nên thánh là một mệnh lệnh chung cho mọi người trong mọi bậc sống.  Lý tưởng của tôi là nên thánh.  Vậy tôi đang đáp lại lời gọi ấy như thế nào?
          Tôi có xác tín cuộc sống của Ki-tô hữu là một cuộc chiến đấu nội tâm để luôn trung thành với niềm tin vào Chúa Ki-tô không? 
          Những lúc phải hy sinh hoặc chọn lựa thiệt thòi để sống theo lời dạy của Chúa, tôi có nghĩ đến Chúa Ki-tô là gương mẫu và được thêm phấn khởi không?  Lời Chúa dạy “hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào” có tác động nào nơi tôi lúc ấy?
Cầu nguyện
          “Lạy Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa,
          Chúa đã làm người như chúng con,
          nên Chúa hiểu gánh nặng của phận người.
          Cuộc đời đầy cạm bẫy mời mọc
          mà con người lại yếu đuối mong manh.
          Hạnh phúc thường được trộn bằng nước mắt,
          và giữa ánh sáng cũng có những bóng mờ đe dọa.
          Lạy Chúa Giê-su,
          nếu có lúc con mệt mỏi và xao xuyến,
          xin nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu
          Chúa đã buồn muốn chết được.
          Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây,
          xin nhắc con nhớ rằng trên thập giá
          Chúa đã thốt lên:  Sao Cha bỏ con?
          Xin nâng đỡ con, để con đừng bỏ cuộc.
          Xin đồng hành với con, để con không cô đơn.
          Xin cho con yêu đời luôn
          dù đời chẳng luôn đáng yêu.
          Xin cho con can đảm
          đối diện với những thách đố
          vì biết rằng cuối cùng
          chiến thắng thuộc về người
có niềm hy vọng lớn hơn.  A-men.”
          (Trích RABBOUNI, lời nguyện 28)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN 21-C64. Chúa Nhật 21 Quanh Năm

Nhìn lại cấu trúc của đoạn thư huấn dụ về đời sống đức tin (10:26 - 12:13), chúng ta thấy thư Do-thái: TN 21-C64

          Nhìn lại cấu trúc của đoạn thư huấn dụ về đời sống đức tin (10:26 - 12:13), chúng ta thấy thư Do-thái đã lần lượt trình bày đức tin là gì, những gương mẫu đức tin trong Cựu Ước, đặc biệt và trổi vượt trên hết là gương đức tin của Chúa Giê-su, Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin, để đi tới kết luận thực hành qua đoạn trích dẫn sử dụng cho Phụng vụ Lời Chúa hôm nay.
          Ngay từ còn thơ bé, chúng ta đã được dạy bảo: Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi. Lời ca dao Việt Nam ấy gần gũi và đi theo tinh thần con cái Chúa được mô tả trong sách Châm ngôn 3:11-12: "Này con, chớ khinh thường khi Đức Chúa sửa dạy con, đừng chán ngán khi Người khiển trách. Vì Đức Chúa khiển trách kẻ Người thương, như người cha xử với con yêu quý." Nhắc nhở chúng ta rằng người cha trần gian sửa dạy con cái là vì yêu thương, thư Do-thái đã khuyến khích chúng ta hãy chịu đựng gian khổ, coi như đó là phương thức Cha trên trời sửa dạy chúng ta.
          Mặc dù không nêu ra ở đây, nhưng chắc chắn thư Do-thái muốn ám chỉ đến tấm gương siêu việt của Chúa Giê-su và bảo chúng ta hãy học bài học sống động qua cuộc sống của Người. Chúa Giê-su, con người đức tin gương mẫu, luôn được nêu cao cho tất cả nhân loại bắt chước. "Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai vâng phục Người" (Dt 5:8-9).
          Để chấp nhận phương thức sửa dạy của Cha trên trời, điều cần thiết là chúng ta phải thay đổi cái nhìn về những đau khổ đời này. Nếu chỉ để ý tới hậu quả đau khổ gây ra mà thôi, chúng ta sẽ dễ dàng coi đau khổ là "hình phạt" do những tội lỗi chúng ta phạm. Nếu chỉ nhìn đau khổ qua lăng kính cuộc đời của người chung quanh để thấy họ làm nhiều điều ác mà vẫn sung sướng phây phây, chúng ta sẽ thấy đau khổ mình đang chịu là sự bất công. Nhưng chúng ta được mời gọi hãy nhìn xa hơn nữa, chứ không phải nhìn vào chính đau khổ, có như thế chúng ta mới nhận ra được ý tốt lành và mục đích phương thức sửa dạy của Cha trên trời, tức là "để chúng ta được thông phần vào sự thánh thiện của Người."
          Có lẽ tới đây, chúng ta vẫn có thể cho là thư Do-thái quá lý thuyết, thiếu thực tế. Không đâu! Trong câu 11, thư đã nói lên một cảm nghiệm hết sức người và chân thực: "Ngay lúc bị sửa dạy, thì chẳng ai lấy làm vui thú mà chỉ thấy buồn phiền." Phản ứng buồn phiền khi gặp đau khổ là phản ứng tự nhiên của con người. Vậy Ki-tô hữu phải làm gì đối với phản ứng tự nhiên ấy? Họ vẫn phải nhìn về tương lai. Đối với họ, phản ứng buồn phiền chỉ là phản ứng nhất thời, xảy ra "ngay lúc bị sửa dạy" thôi. Cho nên chúng ta phải hướng về hoa trái vui thú sẽ xảy tới sau cái lúc buồn phiền ấy, đó là "bình an và công chính." Đến đây, thư Do-thái lại lập lại hình ảnh người lực sĩ chịu rèn luyện là hình ảnh đã được sử dụng trong bài đọc Chúa Nhật trước. Chúng ta hãy đứng thẳng lên, tập luyện đối đầu với gian nan khốn khó hiện thời và hãy hoàn tất cuộc chạy đua đã được bắt đầu.
          Đau khổ là cơ hội để Ki-tô hữu được lớn lên trong đức tin. Đức tin chân chính không thể phát triển nếu không có những gian nan thử thách. Thiên Chúa đã để cho những đau khổ trở thành cơ hội cho chúng ta thêm lòng tin vào Người. Nhưng Người cũng ban cho chúng ta Đức Giê-su như một gương mẫu và một bảo đảm chúng ta sẽ thực hiện được những gì Người muốn. Con người Giê-su ấy, "khi còn sống kiếp phàm nhân, đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời vì có lòng tôn kính" (Dt 5:7). Nói tóm lại, điểm cốt yếu của huấn dụ sống đức tin vẫn luôn luôn là mời gọi Ki-tô hữu nhìn vào Chúa Giê-su như mẫu gương tối cao và linh động, nhất là liên kết mật thiết với Người để "những bàn tay bủn rủn, những đầu gối rã rời" của chúng ta được "nên mạnh mẽ."
Câu hỏi gọi ý chia sẻ
          Tôi hãy chia sẻ kinh nghiệm về đau khổ có ảnh hưởng đối với đức tin của tôi. Đau khổ giúp đức tin của tôi lớn lên như thế nào?
          Một cách cụ thể, tôi diễn tả những bước khác nhau khi tôi phải đối diện với đau khổ trong đức tin của mình: buồn phiền lúc đầu, chiêm ngưỡng gương Chúa Giê-su, cầu nguyện, cố gắng xác tín mục đích của đau khổ, nhận ra sứ điệp của đau khổ, tìm ý nghĩa của đau khổ trong kế hoạch tình yêu của Cha trên trời...
          Qua kinh nghiệm một đau khổ nào đó trong đời, tôi chia sẻ với anh chị em nhóm hoa trái "bình an" do việc sống đức tin.
          Trước đau khổ của anh chị em, tôi sẽ làm gì để hỗ trợ anh chị em, sẽ cùng với Chúa giúp cho những bàn tay bủn rủn và những đầu gối rã rời của anh chị em được nên vững mạnh?
Cầu nguyện kết thúc
          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát "Con đường Chúa đã đi", CNLT 86.
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

 TN 21-C65. GÒ MÌNH HƠN VÀO CON ĐƯỜNG HẸP

Chúa Nhật 21 Thường Niên Năm C
 (Isaia 66,18-21; Thư Hipri 12,11-13; Tin Mừng Luca 13,22-30)
 Phúc Âm: Lc 13, 22-30
"Người ta sẽ từ đông chí tây đến dự tiệc trong nước Chúa".
Khi ấy, Chúa Giêsu rảo qua các đô thị và làng mạc, vừa giảng dạy vừa đi về Giêrusalem. Có kẻ hỏi Người rằng: "Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ?" Nhưng Người phán cùng họ rằng: "Các ngươi hãy cố gắng vào qua cửa hẹp, vì Ta bảo các ngươi biết: nhiều người sẽ tìm vào mà không vào được. Khi chủ nhà đã vào và đóng cửa lại, thì lúc đó các ngươi đứng ngoài mới gõ cửa mà rằng: 'Thưa ngài, xin mở cửa cho chúng tôi'. Chủ sẽ trả lời các ngươi rằng: 'Ta không biết các ngươi từ đâu tới'. Bấy giờ các ngươi mới nói rằng: 'Chúng tôi đã ăn uống trước mặt ngài và ngài đã giảng dạy giữa các công trường chúng tôi'. Nhưng chủ sẽ trả lời các ngươi rằng: 'Ta không biết các ngươi tự đâu mà tới, hỡi những kẻ làm điều gian ác, hãy lui ra khỏi mặt ta'. Khi các ngươi sẽ thấy Abraham, Isaac, Giacóp và tất cả các tiên tri ở trong nước Thiên Chúa, còn các ngươi bị loại ra ngoài, nơi đó các ngươi sẽ khóc lóc nghiến răng. Và người ta sẽ từ đông chí tây, từ bắc chí nam đến dự tiệc trong nước Thiên Chúa. Phải, có những người sau hết sẽ trở nên trước hết và những người trước hết sẽ nên sau hết".
 Suy Niệm:
 

Ngày lễ Ðức Mẹ hồn xác lên trời hẳn còn để lại nhiều âm vang trong tâm hồn chúng ta. Chúng ta:  TN 21-C65

Ngày lễ Ðức Mẹ hồn xác lên trời hẳn còn để lại nhiều âm vang trong tâm hồn chúng ta. Chúng ta cứ giữ lấy hình ảnh về Ðức Mẹ lúc này đang hạnh phúc ở trên trời, để hiểu rõ các bài đọc Kinh Thánh hôm nay. Bài sách Isaia không mô tả trước hạnh phúc chung cuộc dành cho mọi dân tộc đó sao? Ðể đạt được hạnh phúc ấy, tức là được vào Nước Trời, bài Tin Mừng hôm nay nói chúng ta phải đi qua cửa hẹp. Và kiểu nói này được bài thư Hípri giải thích để chúng ta biết đi qua cửa hẹp tức là chấp nhận đi vào con đường nhiều thử thách và phấn đấu.
Đó là những quan niệm không lạ lùng gì; nhưng phải đem ra thực hành và vì thế cần được suy nghĩ thấu đáo. Chúng ta hãy bắt đầu với bài sách Isaia, rồi bài Tin Mừng và cuối cùng đến bài thư Hípri.
 1. Chúa Hứa Ban Nước Trời
Đoạn sách Isaia hôm nay chấm hết tác phẩm dầy những 66 chương mang tên một vị đại tiên tri. Nhiều người coi nó như phần phụ lục, mãi sau này mới được đính vào toàn bộ tác phẩm đã được viết từ lâu. Ðiều ấy không quan trọng, vì đàng nào đây cũng là một đoạn sách thánh, một chương Lời Chúa, có giá trị mạc khải dẫn dắt đời sống chúng ta.
Chúa mở ra trước mắt chúng ta chân trời của thời kỳ cánh chung, tức là sau hết. Người không phải chỉ là Chúa của một dân tộc hay của riêng những kẻ giữ đạo của Người. Ngay từ câu đầu tiên trong đoạn sách hôm nay, Người đã khẳng định chính Người linh động tư tưởng và hành động của các dân tộc. Và như vậy Người làm chủ lịch sử.
Lịch sử này sẽ kết thúc ra sao, thì đây là Lời Chúa: "Ta sẽ đến thâu họp tất cả các nước và các tiếng nói. Chúng sẽ đến và sẽ thấy vinh quang của Ta". Lời nói rõ ràng, chắc chắn, không cần mảy may chú thích. Chúng ta tin vào định mệnh tốt đẹp của các dân tộc. Thiên Chúa đã hứa, đã muốn dân của mọi thứ ngôn ngữ chung cuộc sẽ được nhìn thấy vinh quang của Chúa. Kiểu nói này có nghĩa rằng họ sẽ được hân hoan, hạnh phúc khi Chúa đến trong vinh quang. Chính ánh sáng của Người sẽ xua đuổi mọi u sầu đen tối ra khỏi họ. Hình bóng sự chết cũng sẽ phải lui đi. Và sự sống mới, sự sống bắt nguồn từ ánh sáng vinh quang của Chúa sẽ làm cho mọi loài được sống lại. Chúng ta có thể nghĩ đến quang cảnh của một buổi sáng. Ánh sáng mặt trời tỏa ra đến đâu, đêm tối lui đi đến đó và tất cả tạo vật được hồi sinh trong hạnh phúc. Hình ảnh này giúp chúng ta hiểu Lời Chúa vừa tuyên bố: mọi dân tộc sẽ nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa để được sống mới mẻ và trường cửu.
Nhưng Chúa sẽ thâu nạp các dân tộc lại bằng cách nào? Theo một kiểu trình bày rất quen thuộc trong giáo huấn của các tiên tri, ở đây Isaia nói rằng: Chúa sẽ đặt một dấu hiệu giữa các dân tộc để họ nhìn thấy mà đến. Ông không nói rõ dấu hiệu nào. Nhưng ai đọc Kinh Thánh nhiều và nhất là biết tác phẩm của ông thì dấu hiệu mà Chúa sẽ đặt lên làm cờ hiệu cho các dân tộc nhìn thấy để đến chiêm ngưỡng vinh quang của Chúa là Giêrusalem và núi Sion khi được Thiên Chúa viếng thăm và được rực sáng trong ánh sáng vinh quang của Người, là dân còn sót lại sau thử thách luyện lọc, là Hội Thánh Chúa Kitô, là chính Ðức Kitô vinh hiển phục sinh... Từ ngày cây Thánh giá được dựng lên trên một quả đồi ở Sion và Giêrusalem, Thiên Chúa đã đặt một dấu hiệu giữa các dân tộc để chiếu giãi ánh vinh quang của Người cho họ được nhìn thấy.
Tuy nhiên chưa đủ. Chúa còn sai những người trong số dân còn sót lại sau thử thách tinh luyện mà ở đây tác giả gọi là những kẻ "thoát nạn", đi đến các nước. Tức là Chúa sẽ sai các thánh của Người đến với các dân tộc, để những tông đồ này nói cho mọi dân về Chúa, để những kẻ chưa bao giờ thấy vinh quang của Chúa, thì nay được thấy và được sống.
Không phương trời nào không được Chúa sai tông đồ đến. Cả những đảo xa xôi nhất và những miền rừng rú mà thổ dân còn sống bằng nghề cung tên. Bất cứ nơi nào cũng sẽ được nghe nói về Chúa và thấy vinh quang của Người. Các dân tộc sẽ trở nên như anh em của người rao giảng Phúc Âm. Họ sẽ tuôn về với Chúa như các đoàn người tiến về Giêrusalem. Họ đi cáng, đi lạc đà, đi đủ mọi thứ phương tiện. Họ giống như các người Do Thái đang mang lễ dâng lên bàn thờ. Hơn nữa, Chúa còn chọn trong đoàn người đang tiến lên đó những tư tế và Lêvi mới cho Người.
Chắc hẳn khi viết câu này, Isaia có lẽ chỉ nghĩ đến các người Do Thái kiều cư nơi dân ngoại tiến về Giêrusalem vào các dịp lễ. Và trong bọn họ sẽ có những kẻ được chọn làm tư tế. Nhưng vì lời Isaia là lời tiên tri, nên chúng ta có thể hiểu tất cả theo mạc khải của Chúa Giêsu. Và chúng ta sung sướng nghĩ rằng các lời tiên tri của sách Isaia quả thật hướng lòng trí chúng ta về thời cánh chung. Thiên Chúa chọn Ðức Giêsu với thánh giá và Hội Thánh của Người làm cờ hiệu cho các dân tộc. Người sai các tông đồ mới đã thoát nạn thế gian và tội lỗi đến nói với các nước về Chúa và Tin Mừng cứu độ. Các dân tộc sẽ hân hoan đứng lên tiến về với Chúa. Người làm cho họ trở nên vương quốc tư tế của Người...
Một viễn tượng như vậy không làm nức lòng chúng ta sao? Ðó thật là những "lời an ủi", danh từ mà người ta vẫn dùng để nói về các lời Isaia trong các chương sau cùng nơi tác phẩm của ông. Tuy nhiên vẫn có những người đọc sách thánh mà không hiểu. Họ không dám tin hoàn toàn vào Lời Chúa. Não trạng ấy Ðức Giêsu đã bắt gặp khi Người đang hành trình truyền giáo, như bài Tin Mừng hôm nay kể. Chúng ta hãy xem Người dạy dỗ như thế nào?
 2. Người Ta Phải Ði Vào Đường Hẹp
Tác giả Luca không nói rõ cho chúng ta biết hôm ấy là ngày nào và Ðức Giêsu đang ở chặng đường nào. Chỉ biết Người đang rảo qua các làng mà dạy dỗ và hành trình lên Giêrusalem. Tác giả Luca dùng cuộc đi đường này để thuật lại những Lời Chúa giáo huấn cho các môn đệ và cho tất cả chúng ta trên đường đi về Nước Trời. Tác giả cho có một người đến hỏi Chúa: "Thưa Ngài, có ít người được cứu thôi phải không?". Người hỏi ấy là ai, chúng ta không cần biết. Ông ta nói lên tâm trạng của một số người và có thể nói của nhiều người nữa. Thời bấy giờ - cũng như thời nay - người ta hay tranh luận với nhau xem số người được cứu nhiều hay ít vì trong mạc khải có chỗ nói Chúa sẽ cứu các dân tộc, nhưng cũng có chỗ viết: Ơn cứu độ chỉ dành cho những kẻ thoát nạn. Người ta tranh luận với nhau như thế để làm gì? Nếu cuối cùng chẳng phải chỉ là để thỏa mãn tính tò mò? Hoặc hơn nữa, để có một lời hứa lạc quan, tránh cho người ta phải nỗ lực phấn đấu?
Ðức Giêsu hiểu não trạng ấy. Người không để ai lợi dụng mình. Ở đây cũng như ở mọi chỗ khác, khi thấy người ta tò mò muốn biết về tương lai để sống ỷ lại, Ðức Giêsu vẫn từ chối trả lời. Về số người được cứu rỗi, cũng như về ngày giờ cứu độ, và về chỗ ngồi bên hữu hay bên tả Nước Trời, tất cả những điều ấy nằm trong bí mật của Thiên Chúa. Người không cho biết kẻo chúng ta trở nên những kẻ thụ động. Lời hứa cho chúng ta đã rõ ràng, phương hướng cứu rỗi đã được đề ra; được rỗi hay không cũng còn tùy ở mỗi người. Ðức Giêsu chỉ có the thương người ta bằng cách giới thiệu đường lối cứu độ rõ ràng hơn. Thế nên Người bảo: "Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào".
Lời nói này đã được xác định thêm trong câu Người nói tiếp: "Một khi gia chủ dạy khóa cửa rồi và các ngươi đứng ngoài gõ cửa... xin mở... thì sẽ được đáp lại; Ta không biết các ngươi từ đâu đến".
Như vậy, chúng ta có thể hình dung Nước Trời như là nhà của Chúa. Lúc này cửa nhà ấy đang mở để chúng ta vào. Nhưng nó hẹp. Người ta phải cố gắng mà lách vào; kẻo khi chủ nhà đứng lên và đóng cửa lại, không ai còn vào được nữa. Chúng ta có thể hình dung hơn nữa: Nước Trời là nhà Chúa đang mở tiệc cưới. Người ta phải mau mau đi qua cửa hẹp mà vào, kẻo đến khi khai tiệc, cửa sẽ đóng lại và không ai ra vào nữa.
Nhưng vẫn có những kẻ sẽ không vào được. Họ là ai? Ở đây tác giả Luca nói: đó là những người đã ăn uống ở trước mặt Chúa và đã thấy Người đi lại giảng dạy nơi phố xá của họ, nhưng vẫn làm điều tàn ác. Ðó là người Do Thái đồng hương, đồng thời với Ðức Giêsu mà không đổi đời theo lời Người giảng dạy. Họ sẽ bị xua đuổi ra khỏi nhà đang có các tổ phụ và các tiên tri vui hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa. Họ sẽ bị tống ra ngoài, nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng; đang khi ấy những kẻ bên Ðông bên Tây, tức là dân ngoại lại được vào dự tiệc Nước Trời. Há chẳng chứng nghiệm lời ca dao tục ngữ này sao? Có những người cuối sẽ lên đầu hết và có những kẻ đầu hết sẽ nên cuối hết? Không phải hết mọi người trước hết được nghe Lời Chúa, tức là người Do Thái đều bị xua đuổi. Nhưng có những kẻ trong bọn họ vì không thi hành Lời Chúa nên sẽ bị đuổi ra, để nhường chỗ cho những người cuối hết, là dân ngoại nghe Lời Chúa sau dân Do Thái mà trở lại. Những người lương dân ấy sẽ lên trước hết trong Nước Thiên Chúa.
Ðiều này đã đúng ngay thời Ðức Giêsu, vì đang khi rất nhiều người Do Thái không tin Người, thì có những kẻ lương dân lại được lòng tin. Nhưng điều ấy còn rõ ràng hơn nữa ở thời Luca, vì đang khi các dân ngoại chen chúc nhau đi vào Hội Thánh, phần lớn người Do Thái vẫn có thái độ thù nghịch. Vì sao?
Ðức Giêsu đã nói: Vì họ không chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào. Cửa hẹp đây, dĩ nhiên là các đòi hỏi của đức tin. Nhưng chúng ta sẽ có lý hơn khi nhớ chính Ðức Giêsu đã tự nói mình là cửa chiên. Ai muốn được cứu độ phải tin vào Người và đi qua Người, qua mầu nhiệm tử nạn phục sinh của Người, để đến với Chúa Cha. Người Do Thái không tin ở Người nên ở ngoài Hội Thánh là nhà Chúa; đang khi các dân tộc thực hiện lời sách Isaia, thấy Ðức Giêsu và Hội Thánh của Người là cờ hiệu Thiên Chúa, đã dựng lên để cứu thế, đang chen chúc nhau đi vào Nước Trời.
Nhưng trong kế hoạch cứu độ, những gì dân Chúa đã sống, từng Kitô hữu cũng phải kinh nghiệm. Và vì thế ai ai cũng phải chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào sản nghiệp Chúa đã hứa ban cho các dân tộc. Và cửa hẹp của chúng ta, theo lời thư Hípri, là những thử thách hàng ngày.
 3. Chúng Ta Phải Tu Chỉnh Lại
Quả vậy, đời sống con người quá nhiều đau thương, đời sống Kitô giáo lại thêm nhiều thử thách khác, vì đức tin con người không biết lướt thắng đau thương sẽ thất bại; và người Kitô hữu không vượt qua được thử thách sẽ mất sản nghiệp Nước Trời mà Chúa đã hứa ban.
Ðộc giả của thư Hípri đang gặp thử thách. Tác giả viết thư này để an ủi và khích lệ họ. Người đã nại đến gương sống đức tin của các tổ phụ; đặc biệt Người đã bảo họ hãy ngắm nhìn Ðức Giêsu trong mầu nhiệm tử nạn phục sinh. Những thử thách họ đang chịu chưa đến nỗi làm cho phải đổ máu mà! Hãy còn là những chiến đấu nhỏ thôi. Và như vậy, họ nên nhớ lại lời sách châm ngôn: "...Chúa thương ai, Người muốn sửa dạy; con nào Người nhận, Người mới cho đòn".
Thật ra, mới nghe, chúng ta có thể coi thường một lời an ủi như thế. Nó phản ánh một kinh nghiệm thông thường: con người lớn lên cần phải giáo dục và giáo dục đòi sửa dạy. "Vì còn gì là con, kẻ người cha không dạy?". Nhưng điều rất tự nhiên trong gia đình lại khó được chấp nhận ở môi trường khác. Và đó là cảm tưởng của chúng ta những khi gặp đau khổ. Chúng ta thấy Chúa không an ủi được chúng ta. Chúng ta phàn nàn vì sao Ngài không chăm sóc chúng ta hơn? Tác giả thư Hípri nghĩ rằng: Chính những lúc ấy chúng ta đã quên Chúa là Cha. Người đã chọn chúng ta giữa muôn muôn người làm con cái Người. Thế thì Người phải sửa dạy chúng ta hơn. Chúng ta phải gặp thử thách hơn những người khác. Không như vậy, làm sao có thể nói chúng ta là con cái Chúa? Và nếu Chúa không sửa dạy, thì làm sao, chúng ta có thể lớn lên làm người trong đời sống Kitô hữu?
Ðàng khác bị sửa dạy thì trước mặt không vui nhưng sau này sẽ thấy lợi ích. Ðây cũng còn là một kinh nghiệm loài người. Nhưng tác giả Hípri đã hướng dẫn chúng ta suy nghĩ sang bình diện đạo đức. Ông nói: Lợi ích của sửa dạy là hoa quả bình an công chính. Con cái Chúa có thể cảm thấy mau lẹ hơn con cái loài người; vì có thể nói ngay khi chấp nhận thử thách người Kitô hữu đã thấy nó như mầu nhiệm tử nạn chứa chấp mầu nhiệm phục sinh, đang khi con cái trong nhà có thể chưa mau mắn nhận ra lợi ích của việc cha mẹ sửa dạy. Các tín hữu khi chấp nhận đau khổ với tinh thần đạo đức sẽ thấy ngay được bình an công chính.
Nói như vậy có phải để chúng ta ao ước thử thách không? Tác giả thư Hípri không đi quá xa như vậy. Ông rất chân thực, và chỉ đưa ra một câu kết luận: chúng ta hãy dùng thử thách để chạy thẳng tắp trên đường đạo đức, chứ đừng đi dệu dạo nữa. Ông muốn nói, vì chúng ta còn hai lòng và chưa hoàn toàn trong đời sống thánh thiện, nên Chúa gởi thử thách đến sửa dạy. Chúng ta hãy tỉnh ngộ đi vào đường ngay. Thử thách sẽ sinh ra bình an công chính. Chúng ta sẽ thành thân hơn và đạt tới những điều Chúa hứa.
Người đã hứa tương lai và đời sống tốt đẹp cho chúng ta như bài sách Isaia đã nói. Người còn xác định phải qua cửa hẹp để vào hạnh phúc. Những thử thách gặp phải trong đời sống đạo đức nhắc nhở chúng ta gò mình hơn vào con đường hẹp. Chúng ta chấp nhận, sẽ thấy hạnh phúc.
Giáo huấn này không phải chỉ rõ trong Lời Chúa hôm nay, nhưng còn cụ thể hơn nữa trong mầu nhiệm Thánh Thể.
Ở đây, chúng ta cử hành lễ Vượt qua của Ðức Giêsu, để kết hợp với cuộc tử nạn của Người, chúng ta mong đạt được các hiệu quả của việc Người phục sinh. Chúng ta phải có tinh thần muốn đi vào con đường hẹp trong thánh lễ này là dâng mình và dâng đời sống làm hy lễ cho Thiên Chúa. Chúng ta có thê không thực hành tinh thần ấy sau khi dâng lễ sao? Ngược lại, chắc chắn chúng ta sẽ có tinh thần đi vào con đường hẹp nhiều hơn để được vào Nhà Chúa và bàn tiệc của Người sau này cùng với tất cả các dân tộc.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm) 

 

TN 21-C66. CHÚA NHẬT 21 QUANH NĂM

(Lu-ca 13: 22-30)
 

Bài Tin Mừng hôm nay gom lại một số ngôn từ của Chúa Giê-su.  Chúa nói về việc gia nhập: TN 21-C66

Bài Tin Mừng hôm nay gom lại một số ngôn từ của Chúa Giê-su.  Chúa nói về việc gia nhập Nước Trời đang khi Người đi lên Giê-ru-sa-lem.  Đề tài về Nước Trời là một Tin Mừng cho cộng đồng Dân ngoại, nhưng lại là vấn đề nhức nhối đối với cộng đồng Do-thái là những người không muốn nhìn nhận Chúa Giê-su và sứ mệnh cứu thế của Người.  Tiếp nhận Nước Trời có nghĩa là tiếp nhận chính Chúa Giê-su và Tin Mừng Người rao giảng.  Việc tiếp nhận ấy đòi một giá đắt, tới độ người ta phải từ bỏ mọi sự và ngay chính bản thân mình để bước theo Chúa.  Đối với người Do-thái, bỏ đi tất cả gia sản Lề Luật và truyền thống tổ tiên để ôm ấp một lối sống mới của Tin Mừng quả thực là một thách đố.  Nhưng không có chọn lựa nào khác cho họ cả.  Thái độ tiêu cực không muốn tiếp nhận Tin Mừng ấy cũng có thể gặp thấy ngay nơi những người hôm nay tuy mang danh Ki-tô hữu, nhưng lại không muốn “chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào” Nước Trời.
a)  Đường lên Giê-ru-sa-lem và đường vào Nước Trời
          Sách Tin Mừng thường đặt các huấn dụ và ngôn từ của Chúa Giê-su về việc làm môn đệ trong bối cảnh hành trình lên Giê-ru-sa-lem.  Đường lên Giê-ru-sa-lem là đường dẫn đến cuộc Thương khó và cái chết của Chúa Giê-su, nhưng cũng là con đường duy nhất để Người được vinh hiển và để các môn đệ đi theo Người sẽ được chung phần vinh phúc với Người.  Đã gọi là đường đi lên thì tự nó đòi hỏi ta phải cố gắng và chấp nhận khổ cực rồi, khổ cực cả thể chất lẫn tinh thần.  Chúa Giê-su không lên Giê-ru-sa-lem để được tuyên dương làm vua Ít-ra-en, nhưng để chấp nhận cái chết làm chứng cho giá trị Tin Mừng và biểu lộ tình yêu Thiên Chúa, “sẵn sàng thí mạng mình vì bạn hữu.”
          Đường lên Giê-ru-sa-lem là quãng đường Chúa Giê-su dạy ta phải làm gì và sống thế nào thì mới là môn đệ của Người.  Trên con đường này, Chúa Giê-su thường nhân cơ hội những người đến hỏi Người điều này điều nọ mà ban cho ta những lời vàng ngọc, những lời khuyên thiết thực liên quan tới số phận tương lai của ta.  Chúa Giê-su sử dụng con đường này để “đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy.”  Người luôn có mặt trên con đường này để cứu thoát ta.  Hôm nay, có người muốn được cứu thoát đến hỏi Chúa:  “Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?”  Đường lên Giê-ru-sa-lem tượng trưng cho con đường được cứu thoát, thế mà người ta lại đặt vấn đề những người được cứu thoát thì ít!  Chúa Giê-su không minh nhiên đồng ý, nhưng cách Người trả lời cho thấy đó là sự thật:  “Tôi nói cho anh em biết:  có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được.”  Vậy tại sao không thể được?
 b)  “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào”
          Lời khuyên của Chúa Giê-su cũng chính là lời giải thích tại sao có nhiều người tìm cách vào mà không vào được.  Khung cửa hẹp là lối vào Nước Trời.  Những lời hướng dẫn của Chúa Giê-su ban cho chúng ta là để giúp ta đi lọt khung cửa hẹp ấy.  Người bảo ta phải để lại hết trước khi vào, vàng bạc của cải, xe hơi nhà lầu, thậm chí cả đến những tình cảm tự nhiên và hợp lý của con người, để chấp nhận những đòi hỏi của Tin Mừng và đi ngược chiều với lối sống của người đời.  Cửa hẹp ấy đòi ta phải gạt bỏ thù hằn và yêu thương kẻ thù.  Cửa hẹp muốn ta sống luật yêu thương tự trong lòng, thay vì quá tôn trọng và câu nệ những hình thức bên ngoài.  Cửa hẹp dạy ta phải đem lời Chúa ra mà thực hành chứ không phải chỉ huyênh hoang kêu “lạy Chúa, lạy Chúa” (Lc 6:46-47).  Chúa Giê-su đã gọi việc chấp nhận sống Tin Mừng là một cuộc chiến đấu.  Mà thực, đó là một cuộc chiến đấu, cuộc chiến nội tâm thánh Phao-lô đã cảm nghiệm và phải la lên:  “Tôi thật là một người khốn nạn!  Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?  Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta!” (Rm 7:24).
          Người Do-thái thời Chúa Giê-su không muốn từ bỏ lối sống làm nô lệ cho Lề Luật để chấp nhận lối sống của Tin Mừng.  Họ ôm lấy Lề Luật như của gia bảo kềnh càng khiến họ không thể qua lọt cửa hẹp của Tin Mừng.  Họ khép lòng chỉ dành cho những ai thương yêu họ chứ không muốn mở ra đón nhận kẻ thù và mọi người.  Họ thà làm ngơ trước người bộ hành nửa sống nửa chết vì nạn cướp để lên Đền Thờ dâng lễ thay vì thi hành bác ái, cứu giúp người anh em.  Mẫu người như họ thì làm sao đi qua được của hẹp.  Họ tìm cách để được cứu thoát, nhưng phải là cách do họ đề ra chứ không phải là cách của Chúa.
          Ngày nay có biết bao Ki-tô hữu cũng tìm cách vào Nước Trời theo cách riêng của họ.  Đối với họ, Lời Chúa chỉ là lớp dầu bóng bên ngoài làm cho họ trông vẻ như những Ki-tô hữu chính danh.  Nhưng lối sống của họ lại hoàn toàn không phản ảnh giá trị Tin Mừng chút nào.  Thực ra họ đâu có biết Chúa.  Biết Chúa ở đây có nghĩa là sống quan hệ với Người.  Mà đã không sống quan hệ với Người thì thật là đích đáng khi Người trả lời họ đến gõ cửa nhà Người:  “Ta không biết các anh từ đâu đến!”   Giống như những người Do-thái từng vỗ ngực xưng mình là con cháu ông Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp nhưng đã không tiếp nhận Đức Ki-tô và Tin Mừng nên bị loại ra khỏi Nước Trời, thì những Ki-tô hữu có danh mà không sống lý tưởng Ki-tô cũng sẽ bị loại ra khỏi Nước Trời như vậy.  Mang tên Ki-tô hữu không phải là mang thẻ thông hành lên thiên đàng, nhưng là chấp nhận một cuộc chiến đấu cam go, đòi hỏi nhiều hy sinh, phải mất đi mạng sống để được sống đời đời.
 c)  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Cửa hẹp Chúa Giê-su nói đến có ý nghĩa gì đặc biệt đối với tôi?
          Có bao giờ tôi tìm cách vào không?  Và cách của tôi là cách nào và có phù hợp với cách của Chúa Giê-su không?
          Những kẻ gõ cửa thưa:  “Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt Ngài, và Ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi.”  Đó có phải cũng là hoàn cảnh của tôi hiện thời không?  Tôi hằng tuần hoặc hằng ngày dự tiệc thánh với anh chị em trước mặt Chúa, nghe giảng dạy và suy niệm Lời Chúa.  Nhưng thực sự tôi đã “biết” Chúa chưa, nghĩa là đã sống mối quan hệ mật thiết với Người chưa?  Nếu chưa, tôi phải làm gì?
 Cầu nguyện
          “Lạy Chúa Giê-su,
          Chúa đã yêu trái đất này,
          và đã sống trọn phận người ở đó.
          Chúa đã nếm biết nỗi khổ đau và hạnh phúc,
          sự bi đát và cao cả của phận người.
          Xin dạy chúng con biết đường lên trời,
          nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.
          Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu,
          chúng con thấy mình được thêm sức mạnh
          để xây dựng trái đất này,
          và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.
          Lạy Chúa Giê-su đang ngự bên hữu Thiên Chúa,
          xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời
          không làm chúng con quên trời cao;
          và những vẻ đẹp của trần gian
          không ngăn bước chân con tiến về bên Chúa.
          Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con,
          mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.”
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 46)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
20-8-2004

 

TN 21-C67. CHỦ NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN

26.08.2001
NGHE
* Is 66, 18-21:
Còn Ta, Ta biết rõ việc làm và ý định của chúng, Ta sẽ đến tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ; họ sẽ đến và được thấy vinh quang của Ta.
* Dt 12,5-7.11-13:
Anh em đã quên lời khuyên nhủ được nói với anh em như với những người con: Con ơi, đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi vọt. Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con.
* TIN MỪNG: Lc 13,22-30: Cửa hẹp. Thiên Chúa ruồng bỏ người Do Thái bất trung và kêu mời dân ngoại.
Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy. Có kẻ hỏi Người: "Thưa Ngài những người được cứu thoát thì ít, có phải không?" Người bảo họ: "Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được.
Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khóa cửa lại, mà anh em còn đứng ở ngoài, bắt đầu gõ cửa và nói: "Thưa ngài, xin mở cho chúng tôi vào!" thì ông sẽ bảo anh em: "Các anh đấy ư? Ta không biết các anh từ đâu đến!". Bấy giờ anh em mới nói: "Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi". Nhưng ông sẽ đáp với anh em: "Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính".
Ở đó anh em sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông Abraham, Ixaác và Giacóp cùng tất cả các ngôn sứ ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài. Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.
Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót.
NGẪM
* Câu hỏi gợi ý:
 

Ý định của Thiên Chúa là gì? 2. Tại sao Chúa Giêsu trách người Do Thái? 3. Chúng ta có đáng:  TN 21-C67

* Suy tư gợi ý:
1.Ý định của Thiên Chúa:
Trong cách sống đạo, dường như phần đông giáo dân Việt Nam ít nhiệt thành với việc loan báo Tin Mừng, với việc làm chứng, với việc mở mang Nước Chúa. Dường như họ chỉ giới hạn tầm nhìn và sự quan tâm vào phần rỗi cá nhân hoặc cùng lắm là đến "số phận" của Giáo hội
1. Ý định của Thiên Chúa là gì?
2. Tại sao Chúa Giêsu trách người Do Thái?
3. Chúng ta có đáng Chúa trách như những người Do Thái không?
* Suy tư gợi ý:
1.Ý định của Thiên Chúa:
Trong cách sống đạo, dường như phần đông giáo dân Việt Nam ít nhiệt thành với việc loan báo Tin Mừng, với việc làm chứng, với việc mở mang Nước Chúa. Dường như họ chỉ giới hạn tầm nhìn và sự quan tâm vào phần rỗi cá nhân hoặc cùng lắm là đến "số phận" của Giáo hội. Thế nhưng Nước Thiên Chúa thì có biên cương rộng lớn hơn Giáo hội. Ý định và Chương trình Cứu độ của Thiên Chúa thì không chỉ giới hạn ở phần rỗi của mỗi con người mà bao trùm cả nhân loại và vũ trụ vạn vật. Sỡ dĩ chúng ta hiểu và sống như thế, vì trong một thời gian dài, chúng ta được dạy rằng Giáo hội và Nước Thiên Chúa là một thực tại hoặc là hai thực tại nhưng đồng hóa với nhau. Thật ra không phải như vậy! Chỉ cần đọc lịch sử Dân riêng Chúa và Tin Mừng một cách chăm chú một chút là chúng ta thấy rõ điều ấy.
Thật vậy, ngay từ thuở đầu, Thiên Chúa đã muốn thông ban đời sống ân sủng thần linh cho con người, nhưng nguyên tổ loài người đã dùng tự do mà chối bỏ ý muốn ấy của Thiên Chúa và phá đổ chương trình của Ngài. Dù vậy Thiên Chúa vẫn không thay đổi Ý định đem hạnh phúc đến cho con người và quy tụ muôn dân muôn nước thành một dân tộc, thành một gia đình: Dân Chúa và gia đình của Cha! Dân Do Thái là khởi điểm của sự qui tụ ấy. Giáo hội tiếp nối vai trò mà Chúa đã giao cho Dân Do Thái xưa, tức vai trò làm dấu chỉ loan báo Nước Trời và làm công cụ xây dựng Nước Thiên Chúa ở trần gian này.
Trong giảng dậy, Đức Giêsu đã dùng nhiều hình ảnh, nhiều dụ ngôn để nói về Nước Trời: người gieo giống (Mt 13,23); cỏ lùng (Mt 13, 24-30); hạt cải (Mt 13, 31-32); men trong bột (Mt 13,33); kho báu và ngọc quý (Mt 13, 44-46); chiếc lưới (Mt 13,47-50). Nhưng hình ảnh mà Đức Giêsu thích dùng nhất để nói về Nước Trời là Tiệc cưới (Lc 14, 15-24). Đức Giêsu cũng đã công bố Hiến Chương Nước Trời trong bài giảng Tám Phúc Thật (Mt 5,1-12)! Có thể nói là Đức Giêsu đã dùng hết cách để giúp người Do Thái thời xưa và giúp chúng ta ngày nay hiểu Ý định, Chương trình của Thiên Chúa và vai trò ưu tiên và vinh dự lớn lao mà Thiên Chúa dành cho họ và cho chúng ta.
Để bước vào Nước Thiên Chúa, Đức Giêsu chỉ đặt ra một điều kiện nhỏ cho người Do Thái xưa và cho người công giáo chúng ta ngày nay: đi qua cửa hẹp. Đi qua cửa hẹp có nghĩa: là tuân giữ luật lệ của Thiên Chúa; là trung thành với giao ước đã ký kết với Người; là đi theo đường lối của Người; là sống theo tinh thần Bát Phúc...
2. Đức Giêsu trách người Do Thái xưa:
Nhưng nhiều người Do Thái đã không chịu đi qua cửa hẹp ấy. Họ thích sống theo sở thích và làm theo ý muốn riêng của mình. Họ thích bày ra đủ thứ tục lệ mà coi thường giới răn của Thiên Chúa. Họ muốn giữ đạo hình thức, phô trương, mầu mè mà không đi vào trọng tâm của Đạo. Họ ỷ vào "gốc gác", "lý lịch con ông cháu cha" của mình mà không chịu phấn đấu và đổ mồ hôi để làm nên sự nghiệp theo Chương trình của Thiên Chúa. Nên họ đã bị Chúa quở trách và từ chối vào thời điểm quyết định.
3. Đức Giêsu trách chúng ta ngày nay?
Còn chúng ta ngày nay? Chúng ta có đáng bị Chúa Giêsu quở trách như người Do Thái xưa không? Nhìn vào cách sống Đạo của chúng ta ngày nay, chúng ta không khỏi tự ái ngại cho chính mình: Chúng ta đi lễ đi thờ cho có lệ và cho thế là đủ. Chúng ta thờ ơ với việc học hỏi Giáo lý, Thánh Kinh, Giáo huấn của Giáo hội, vịn cớ là chúng ta ít học và phải vất vả làm ăn sinh sống, không có thời gian. Chúng ta chạy theo đồng tiền, danh vọng và thú vui một cách mù quáng và tưởng mình có quyền sống như những người không biết Chúa. Chúng ta buôn gian bán lận như người không biết có luật công bình bác ái, mà lương tâm không hề ray rứt. Chúng ta làm những việc, những nghề mà một người có lương tri lành mạnh không bao giờ dám làm mà lại biện minh cho việc làm của mình là để sống và để nuôi gia đình. Chúng ta ngại hy sinh, từ bỏ vì cho rằng chỉ có dại mới cho đi, chỉ có khờ mới từ bỏ. Chúng ta sống đóng kín, ích kỷ, chỉ biết có mình và sợ phải chia sẻ của cải, thời giờ với người khác vì cho rằng sống "thủ cho kỹ" là khôn là ngoan, sống bác ái là khùng là dại. Chúng ta thích đi những con đường cao tốc, thênh thang chứ không muốn đi những con đường gồ ghề, dốc khó. Chúng ta muốn bước vào cánh cổng rộng mở chứ không chịu bước qua cửa hẹp. Điều mâu thuẫn là trong khi đó, chúng ta lại muốn sau này được cùng với các tổ phụ và ngôn sứ, ngồi bên Chúa để dự Tiệc Nước Trời. Nói cách khác, chúng ta muốn được cả chì lẫn chài, muốn sung sướng hạnh phúc cả đời này lẫn đời sau. Sao chúng ta "khôn" thế?
NGUYỆN
Lạy Thiên Chúa là Cha của chúng con, Cha muốn chúng con xây dựng Nước Cha trong tâm hồn, trong gia đình và trong cộng đoàn của chúng con! Cha còn muốn chúng con xây dựng Nước Cha trong xã hội Việt Nam hôm nay.. Cha kêu mời chúng con đến làm việc cho vườn nho của Cha! Xin Cha cho chúng con ý thức hơn nữa về trách nhiệm loan báo và xây dựng Nước Cha trong môi trường sống của chúng con!
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy và đã làm gương cho chúng con là phải đi qua cửa hẹp để vào Nước Trời; là phải hy sinh, từ bỏ và chết đi để xây dựng và mở mang Nước Thiên Chúa.. Xin Chúa giúp chúng con biết noi theo gương Chúa, biết cậy dựa vào sức mạnh của Chúa mà xây dựng Nước Trời trong môi trường sống của chúng con!
Lạy Chúa Thánh Thần, vì yếu đuối và hèn nhát nên chúng con sợ phải bước qua cửa hẹp. Xin Chúa ban sức mạnh nâng đỡ chúng con, để chúng con bước theo Đức Giêsu, dấn thân vào con đường xây dựng Triều Đại của Thiên Chúa trong môi trường sống của chúng con!
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

 

 TN 21-C68. CHÚA NHỰT XXI (19-8-01)

CHÚA NHỰT XXI (19-8-01)
Chủ đề :
Chúa ban ơn cứu độ cho mọi người

"Hãy cố gắng qua cửa hẹp để vào Nước Trời" (Lc 13,24)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I : "Người ta sẽ đưa tất cả những anh em các của thuộc mọi dân tộc về"
- Đáp ca : "Muôn nước hỡi nào ca ngợi Chúa, ngàn dân ơi hãy chúc tụng Người"
- Tin Mừng : "Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa"
- "Hãy cố gắng qua cửa hẹp để vào Nước Trời" (Lc 13,24)
I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
 

Dân do thái là dân riêng của Chúa. Còn chúng ta chỉ là dân ngoại. Vậy mà chúng ta đã được Chúa  TN 21-C68

Dân do thái là dân riêng của Chúa. Còn chúng ta chỉ là dân ngoại. Vậy mà chúng ta đã được Chúa thương, cho chúng ta biết Ngài và quy tụ chúng ta lại trong Giáo Hội của Ngài.
Chúng ta hãy cám ơn tình thương của Chúa, và hãy cầu nguyện để ngày càng có thêm nhiều người được biết Chúa và đến với Ngài.
II. Gợi ý sám hối
- Rất ít khi chúng ta biết cám ơn Chúa vì ơn được biết Ngài.
- Cũng rất ít khi chúng ta quan tâm làm cho nhiều người khác cũng được biết Chúa như chúng ta.
- Chúng ta ngại đi qua "cửa hẹp", nghĩa là ngại khó khăn, ngại cố gắng.
III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (Is 66,18-21)
Đây là đoạn kết của sách Isaia, qua đó Thiên Chúa tỏ cho biết giai đoạn cuối của chương trình cứu độ của Ngài là tất cả mọi dân tộc (chứ không riêng gì dân do thái) sẽ tin vào Ngài, đến với Ngài và hưởng hạnh phúc muôn đời với Ngài.
2. Đáp ca (Tv 116)
Thánh vịnh này nhấn mạnh lại ý tưởng của bài đọc I : kêu mời mọi nước mọi dân hãy ca ngợi và chúc tụng Chúa.
3. Tin Mừng (Lc 13,22-30)
Hai câu trong đoạn Tin Mừng này đáng chú ý nhất :
c.23 : Câu hỏi mà một người kia đặt ra cho Chúa Giêsu phản ánh quan tâm của người Do Thái đương thời về số lượng những kẻ được cứu.
          Khi đặt vấn đề dựa theo số lượng, người ta sẽ có thái độ không thích hợp : nếu mọi người đều được cứu thì thái độ sẽ là ỷ lại ; còn nếu có một số nhỏ được cứu thì thái độ sẽ là chán nản, cố gắng làm chi cho uổng công.
c.24 : Chúa Giêsu không trả lời thẳng câu hỏi. Người ta hỏi về số lượng. Ngài trả lời về cách thức làm sao cho mình được ở trong số lượng những kẻ được cứu ấy, đó là phải cố gắng, diễn tả bằng hình ảnh "đi qua cửa hẹp".         
- "Đi qua" : Động từ "qua" diễn ta sự thay đổi cách sống. Có rất nhiều người đứng trước cái của hẹp ấy, nhưng chỉ những ai biết "đi qua" (thay đổi cách sống) thì mới vào nhà được.
          - "Cửa hẹp" diễn ta sự cố gắng. Muốn vào Nước Trời thì phải cố gắng nhiều (và khó khăn như lạc đà chui qua lỗ kim : xem Mt 19,24, Mc 10,25, Lc 18,25).
Như thế, số lượng những kẻ vào Nước Trời (nhiều hay ít), và lý lịch của những người ấy (do thái hay dân ngoại) đều không quan trọng. Vấn đề quan trọng là phải cố gắng đi qua cửa hẹp mà vào.
4. Bài đọc II (Dt 12,5-7.11-13) (Chủ đề phụ)
Đoạn thư do thái này bàn đến những gian truân khốn khó.
Như chúng ta đã biết, các kitô hữu gốc do thái phải chịu nhiều khốn khó từ phía đế quốc rôma lẫn phía Do thái giáo.
Tác giả cho họ biết rằng những gian nan khốn khó đó là những việc Chúa cho phép xảy ra để thử thách và sửa dạy họ. Mà Chúa thương ai thì mới thử thách và sửa dạy người ấy. Vì thế, họ đừng ngả lòng, trái lại hãy vui mừng vì biết mình được Chúa thương, và kiên trì chịu đựng.
IV. Gợi ý giảng
1. Ai sẽ được cứu rỗi ?
Thời Chúa Giêsu nhiều người Do thái tưởng rằng ơn cứu rỗi chỉ dành riêng cho dân tộc họ mà thôi. Vì thế khi họ hỏi Chúa Giêsu "Thưa Thầy, phải chăng chỉ có một số ít người sẽ được cứu rỗi ?" thì họ thầm mong Chúa Giêsu sẽ trả lời "Phải" để xác nhận quan điểm của họ.
Nhưng Chúa Giêsu đâu có muốn xác nhận một quan điểm hẹp hòi như vậy, và Chúa Giêsu cũng không muốn trả lời thẳng câu hỏi của họ. Nếu Chúa đáp "Phải" chỉ có một ít người sẽ được cứu rỗi" thì sẽ sinh hậu quả là những người Do thái thành ra kiêu căng tự mãn vì nắm chắc phần rỗi : vì tự mãn như thế họ không cần cố gắng gì thêm nữa. Và những người khác không phải là Do thái thì sẽ nản lòng, tự nhủ "Ơn cứu rỗi không thuộc về mình, thôi thì cố gắng làm chi cũng vô ích". Ngược lại nếu Chúa Giêsu đáp "Ơn cứu rỗi được ban cho số đông" thì cũng làm cho mọi người ỷ lại, không cố gắng, bởi vì cố gắng làm chi vì mình chắc chắn sẽ được rồi mà.
Chính vì những lý do nêu trên mà Chúa Giêsu không trả lời thẳng câu hỏi dựa trên số lượng, Chúa nhắm đến phẩm chất : Ơn cứu rỗi không phải là đặc quyền của một số người nào, của một dân tộc nào, của một phe nhóm nào cả, mà thuộc về bất cứ ai biết sống theo Lời Chúa dạy. Vì thế mà sẽ có những cảnh trớ trêu :
- Những kẻ trước hết sẽ có thể nên sau hết ; ngược lại những kẻ sau hết có thể thành trước hết. Dân tộc Do thái dù được biết Chúa sớm hơn hết nhưng nếu không sống theo Lời Chúa thì có thể đi sau các dân khác tuy biết Chúa muộn hơn nhưng đã biết sống theo Lời Chúa.
- Chúa còn nói :"Nhiều người từ đông sang tây nam bắc sẽ được mời vào nước Chúa đang khi con cái trong nhà bị đuổi ra", ie có thể các dân tộc khác sẽ vào chiếm chỗ dân Do thái vì các dân tộc ấy đã biết sống theo Lời Chúa.
Trên đây là ý nghĩa trực tiếp của đoạn Tin mừng, áp dụng cho dân Do thái và các dân khác thời Chúa Giêsu. Còn ý nghĩa hiện thực áp dụng cho thời đại chúng ta ngày nay là : không phải hễ có rửa tội, có đạo, có dự lễ, rước lễ, xưng tội, đọc kinh, nghe giảng vv thì đương nhiên sẽ được cứu rỗi đâu. Nhưng ơn cứu rỗi được ban cho bất cứ kẻ nào sống theo Lời Chúa, cho dù người đó có đạo hay là không có đạo. Thực vậy, có đạo mà không sống theo Lời Chúa thì không bằng người tuy không có đạo, không biết Chúa nhưng cuộc sống của họ lại theo đúng những điều Chúa dạy. Giáo thuyết này đưa đến 2 quan niệm mới trong nền thần học ngày nay : thứ nhất là quan niệm về những người Kitô hữu vô danh : đó là những người tuy không có đạo, nhưng vì cuộc sống của họ phù hợp với tinh thần Tin mừng nên vẫn được cái là Kitô hữu mặc dù họ không có danh hiệu Kitô hữu. Còn quan niệm thứ hai là về những người "Kitô hữu ngoại đao", nghĩa là những người tuy có đạo nhưng lại không sống theo tinh thần Tin mừng nên bị coi là ngoại đạo mặc dù họ có danh hiệu Kitô hữu.
Nếu danh hiệu không làm nên thực chất của người Kitô hữu, thì là cái gì ? Thưa là cuộc sống được thể hiện qua những phản ứng của mình trước mọi tình huống trong đời.
Một nữ tu già ngồi sau một chiếc xe đạp, rồi có một chiếc xe hơi trên đó có một số cán bộ chạy lướt qua. Chiếc he hơi lái hơi ẩu nên chạm chiếc xe đạp làm cho bà sơ già té ngửa xuống, áp đầu xuống đường. Những cán bộ trên xe hơi vội vả xuống đỡ bà dậy. Mặc dầu đau lắm nhưng bà cố gắng nói "Không sao đâu các con, xin Chúa chúc lành cho các con". Câu nói đột ngột đó làm cho các ông cán bộ kia vừa tức cười vừa nghĩ ngợi : tức cười vì các ông ấy đâu có tin Chúa mà cần tới phúc lành của Chúa, nhưng các ông phải nghĩ ngợi vì phản ứng đầy bác ái và đầy đức tin của bà sơ : chỉ có kẻ nào quá quen với tha thứ và lúc nào cũng luôn nhớ tới Chúa mới có thể thốt ra một câu như vậy". Và sau đó những ông cán bộ ấy hay tới lui chăm sóc và thăm viếng vị nữ tu ấy, lòng rất mến phục.
Đó là những phản ứng, phản ứng thì lẹ làng, bất ngờ nhưng rất trung thực. Trước một tình huống xảy ra, trong lòng mình thế nào thì mình sẽ phản ứng đúng như vậy. Người nào chỉ có đạo trên danh nghĩa nhưng không quen sống theo Lời Chúa thì không thể nào có được phản ứng mang tính chất Kitô giáo đích thực. Như thế, thước đo của lòng đạo chúng ta chính là những phản ứng của chúng ta.
Thí dụ như khi bị trộm mất đồ, không ít người có đạo đã đi coi thầy bói để đoán xem ai đã lấy đồ của mình. Đây rõ ràng là phản ứng của người không đạo.
Còn ông Gióp khi dồn dập nhà cửa bị cháy rụi, các vật bị cướp đi, con cháu bị chết hết, bản thân mang chứng phong cùi gớm ghiếc đã biết nói "Xưa Chúa đã ban, nay Chúa lấy lại, xin ngợi khen Chúa". Ông còn khuyên người khác "Mình biết lãnh nhận những ơn lành của Chúa thì sao không biết chịu đựng những thử thách của Chúa,. Đó mới là phản ứng của người có lòng đạo thực.
Thế nhưng không thiếu người cho rằng : sống giữa một xã hội đầy tráo trở mà phản ứng theo tinh thần Tin mừng thì là khờ dại quá. Xin hỏi lại : Thế thì đạo không có ăn nhập gì với cuộc đời sao ? Con người chúng ta phải chia ra làm hai sao : một con người hiền lành lúc ở nhà thờ đọc kinh dự lễ và một con người tráo trở gian manh khi cư xử với người đời sao ! Không được, con người chúng ta phải là một ở nhà thờ cũng vậy mà ở giữa chợ đời cũng vậy. Đạo chúng ta là đạo nhập thể vào đời chứ không phải chỉ là đạo ở nhà thờ.
Qua bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn nói rằng không phải hể mang danh nghĩa là người Do thái ngày xưa, hay người Công giáo ngày nay là đương nhiên được ơn cứu rỗi ; không phải hể có rửa tội, hễ có thường xuyên đọc kinh rước lễ là đương nhiên được ơn cứu rỗi. Nhưng ơn cứu rỗi là dành cho bất cứ ai biết sống theo Lời Chúa và có những phản ứng hợp với tinh thần Tin mừng trong mọi tình huống cuộc đời.
Xin Chúa giúp chúng ta không chỉ là những người Kitô hữu trên danh nghĩa nhưng thấm nhuần tinh thần Kitô hữu trong cả cuộc sống, trong mọi cách suy nghĩ, lời nói, việc làm của mình.
2. Cửa nào Chúa đã đi qua ?
Một buổi sáng náo nhiệt, người đàn bà sang trọng đi chiếc xe hơi bóng láng, lóng lánh như kim cương tới cửa thiên đàng. Nghe tiếng còi điện lừng vang, thánh Phêrô vội vã mở cửa dẫn vào. Khi vị thánh giữ cửa thiên đàng chỉ cho bác tài xế của bà một toà nhà đồ sộ, thì bà sung sướng nghĩ thầm : "Bác tài mà còn được ở một toà nhà nguy nga tốt đẹp như thế ! Còn tôi chắc phải được một dinh thự sang trọng lộng lẫy đến chừng nào !" Và bà ta xoa tay vui sướng.
Ngờ đâu khi bác tài đi rồi, thánh Phêrô lại chỉ vào một túp lều lụp xụp ở góc vườn và nói :
- Đó là nhà của bà.
Người nhà giàu hốt hoảng, choáng váng đầu óc :
- Nhà của tôi đó thật sao ? Không, tôi không thể nào sống trong một căn lều tồi tàn xấu xí như thế được ?
Thánh Phêrô vân vê chòm râu bạc, trả lời giữa hai cái nháy mắt :
- Thưa bà, với vật liệu bà đã gởi lên cho tôi xưa nay, tôi chỉ làm được có ngần ấy thôi !
"Có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót" (Lc 13,30). Đó là bất ngờ đau đớn cho "những kẻ đứng đầu". Họ là những người được Chúa ban cho giàu có nhưng lại sống trong ích kỷ, chỉ biết thu vén cho mình những của cải đời này, mà không biết chia sẻ trao ban như luật yêu thương Chúa dạy. Chính tài sản đã làm họ vướng víu nên không thể qua "cửa hẹp" mà vào được Nước Trời.
"Những kẻ đứng đầu" có thể là những ai được Chúa ban cho địa vị, chức quyền, khôn ngoan, nhưng lại sống trong huênh hoang tự đắc. Thay vì dùng ơn lành Chúa ban để nâng đỡ anh em, phục vụ cộng đoàn, họ lại nuôi dưỡng tham vọng cá nhân. Chính cái tôi cồng kềnh đã làm họ vướng víu nên không thể qua "cửa hẹp" mà vào được Nước Trời.
"Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào" (Lc 13,24). Nếu Chúa đã bảo hãy "chiến đấu" tức là phải nỗ lực cố gắng thật nhiều, phải vất vả gian nan thật lâu, thì mới vượt qua được "cửa hẹp". Nếu Chúa đã nhắc đến "cửa hẹp" thì phải hiểu là chỉ có những người bé nhỏ mới lách qua được, chỉ có những trẻ thơ mới vào được dễ dàng. Chúa phán : "Ai không tiếp nhận Nước Trời như một trẻ nhỏ thì không được vào" (Lc 18,17).
"Cửa hẹp dẫn đến sự sống" (Mt 7,14), cửa hẹp đưa vào bàn tiệc Nước Trời, nhưng không phải lúc nào cửa cũng mở : Sẽ đến giờ "chủ nhà đứng dậy và khoá cửa lại" (Lc 13,25) thì không cách gì, không lý lẽ chi để cửa mở ra lại. Đó chính là lúc vô cùng bất hạnh cho những kẻ đến trễ : những kẻ mải mê tìm của cải danh vọng, thú vui phù du mà quên đi hạnh phúc vĩnh hằng ; những kẻ cậy dựa vào đạo dòng, vào các việc lành đã làm, vào tài đức đã đắc thủ mà quên đi Đấng mà họ phải kiếm tìm, để sống thân mật, để dâng hiến và để yêu mến Người với tất cả trái tim.
Ước gì chúng ta đừng đến lầm cửa, đó !à cửa rộng thênh thang ; cửa tiền tài, sắc dục, hư danh ; cửa dẫn vào cái chết muôn đời. Cũng đừng đến mà cửa đã đóng kín để không phải nghe Chúa nói : "Ta không biết các anh từ đâu đến" (Lc 13,27) (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu", năm C)
3. Thử thách giúp nên người
Ở một số bộ lạc da đỏ, có tục lệ sau đây : khi một trẻ trai đến tuổi thành niên, người cha của nó sẽ dẫn nó vào rừng, giao cho nó một cây giáo, sau đó người cha rút lui để lại nó một mình trong rừng suốt đêm hôm ấy. Trong đêm đó, nó sẽ phải một mình ở trong rừng, đối diện với nhiều nỗi sợ hãi : sợ cô đơn, sợ bóng tối, sợ thú dữ. Nếu nó hèn nhát đòi theo cha về nhà thì nó vẫn bị coi là trẻ con. Nhưng nếu nó chịu đựng được tất cả và sáng hôm sau rời khỏi khu rừng trở về với gia đình thì nó được chính thức công nhận là người một trưởng thành.
Nếu nói theo bài Tin Mừng hôm nay thì cái đêm khó khăn trong rừng ấy là cái "cửa hẹp" ; còn nếu nói theo bài đọc II thì đó là "thử thách". Có qua thử thách hay cửa hẹp đó thì chàng thiếu niên mới trở thành người.
Tại sao gian nan cực khổ giúp ta nên người ?
- Vì nó thanh luyện tâm hồn
- Vì nó rèn luyện đức tính
- Và vì nó sinh nhiều hoa trái tốt
Chẳng những giúp ra nên người, gian nan cực khổ còn giúp ta nên người kitô hữu tốt :
- Sở dĩ Chúa cho phép gian nan cực khổ xảy đến với ta là vì Chúa biết nó có thể làm ích cho chúng ta. Nói ngược lại, nếu nó chỉ có hại thì Chúa đã không cho nó xảy đến với ta.
- Nó khiến ta tìm đến Chúa
- Nó giúp ta cảm nghiệm được quyền phép Chúa
- Nó giúp ta cảm nhận được tình thương của Chúa
- Và nó khiến ta biết thương xót những người gặp hoàn cảnh gian nan cực khổ như ta.
4. Chuyện minh họa
a/ Cửa hẹp
Một cặp vợ chồng trẻ nọ chia sẻ cho nhau nghe ước muốn có được một ngôi nhà khang trang. Một nhà tỉ phú tình cờ theo dõi câu chuyện. Với tất cả nghiêm chỉnh. ông đề nghị với họ : nếu cô vợ chịu ngủ với ông một đêm, ông sẽ tặng họ một triệu mỹ kim. Hai vợ chồng đồng ý. Nhưng khi người vợ lên đường đến với nhà tỉ phú thì người chồng cũng bắt đầu hối hận. Nhưng đã quá muộn. Sau một đêm để có một triệu mỹ kim, hai vợ chồng đã tan vỡ (...) Con đường dễ dãi là con đường dẫn tới hư mất. Sự thành đạt thường không đến cách ngẫu nhiên, mà là kết quả của những cố gắng và kiên nhẫn lâu dài
b/ Tiếng Chúa
Thiên Chúa nói thì thầm trong cơn vui sướng của chúng ta ; Ngài nói đủ nghe trong lương tâm của chúng ta ; nhưng Ngài hô lớn trong những cơn đau của chúng ta (C.S. Lewis).
c/ Vào thiên đàng
Một Rabbi do thái kia có đứa con theo Kitô giáo. Khi ông chết, Chúa Cha cho ông vào thiên đàng. Nhưng ông nói :
- Lạy Chúa, con chẳng đáng vào thiên đàng đâu, vì đứa con của con đã bỏ đạo Giavê để theo đạo Kitô.
- Có sao đâu ! Đức Chúa Cha an ủi, Ta thông cảm, Ta thông cảm. Ngày xưa Con của Ta cũng thế !
V. Trong Thánh Lễ
- Trước kinh Lạy Cha : Chút nữa khi đọc kinh Lạy Cha, chúng ta hãy đặc biệt cầu xin cho "Nước Cha trị đến" để ngày càng có thêm nhiều người nhận biết Chúa và đến với Chúa.
VI. Giải tán
Chúng ta sắp trở lại với cuộc sống hằng ngày với biết bao cực nhọc và đau khổ. Nhưng Lời Chúa hôm nay đã cho chúng ta biết đó chính là những thử thách mà vì yêu thương chúng ta nên Chúa mới gởi đến cho chúng ta. Đó chính là cái cửa hẹp mà chúng ta cần phải qua đó mới vào được Nước Trời. Vậy chúng ta hãy vui lòng đón nhận tất cả những cực nhọc và đau khổ ấy với lòng yếu mến.
Lm. Carolo Hồ Bặc Xái

 

TN 21-C69. TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXI TN (Nam C)

Lc 13,22 – 30
VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH
 

Ngoài cuốn Guinness ghi các kỷ lục mới trên thế giới về mọi lãnh vực, hằng năm các tờ báo: TN 21-C69

Ngoài cuốn Guinness ghi các kỷ lục mới trên thế giới về mọi lãnh vực, hằng năm các tờ báo như Forbes và Times đều đưa ra danh sách những nhân vật lọt vào “top”: Tạp chí Forbes có lẽ được biết đến nhiều nhất với danh sách định kỳ về tài sản,vì nó thường sử dụng những điều tra đáng tin cậy để xác định tài sản thực tế của cá nhân, từ đó Forbes xếp hạng những người,những công ty giàu có nhất ở Hoa Kỳ và trên thế giới. Vừa qua tạp chí nầy đã làm chủ tịch Fidel Castro nỗi cáu khi ước đoán ông nầy đang sở hữu một tài sản 550 triệu USD!  Tạp chí Times chuyên về xã hội, hằng năm xếp hạng 100 nhân vật hoặc sự kiện nỗi bật hoặc có ảnh hưởng nhất trên thế giới về mỗi lãnh vực hoặc mỗi khía cạnh. Ví dụ : 100 khuôn mặt ảnh hưởng nhất, có thể là tốt như Mẹ Têrêxa hoặc xấu như Osama Bin Laden. Nhưng dù xét dưới khía cạnh nào,nên ích hay có hại, thì họ đếu là những người đã phấn đấu và thi thố hết tài năng để chiếm lĩnh những vị trí được công nhận ấy. Và con đường họ đã trải qua, chắc chắn không phải trải gấm và rộng thênh thang,mà phải năm gai nếm mật, phải vượt qua bao thử thách, gian nan, thất bại mới có được ngày hôm nay và phải tiếp tục để giữ vững thành quả. Họ đã phải luôn ‘vượt lên chính mình”
 Trong mỗi trận thi đấu ở môn thi đấu, huy chương vàng,huy chương bạc,huy chương đồng chỉ có một chiếc. Để đứng được trên bục cao, đón nhận vinh quang, hàng triệu vận động viên đã ngày đêm tập luyện, thi đấu, đổ mồ hôi và cả máu, có khi mang chấn thương và tàn phế cả đời, qua nhiều lần tuyển chọn, giao đấu và cuối cùng cũng chỉ có ba người chiến thắng. Ở những giải Marathon, hàng ngàn – có khi hàng chục ngàn - người tham dự, nhưng cũng chỉ có ba người về đầu được nhận giải. Song với đa số, giải thưởng chỉ là phụ. Họ có thể về hạng chót,nhưng vẫn thấy hạnh phúc,vì điều quan trọng đối với họ,là đã ‘vượt qua chính mình”. Họ đã không bỏ cuộc.
 “Vượt Lên Chính Mình” – do HTV phối hợp thực hiện -  là chương trình giáo dục, giải trí mang tính xã hội và nhân bản cao được phát từ năm 2005 và được khán giả truyền hình yêu thích. Nó tạo ra cơ hội cho các gia đình nghèo có thể nhận được sự hổ trợ về tài chính để xóa nợ ngân hàng và được cấp thêm vốn để thoát khỏi cảnh nghèo và đổi đời, nếu qua cuộc thi họ chứng minh được là có khả năng, nghị lực và làm giỏi trong nghề nghiệp của họ. Câu nói được người dẫn chương trình lập lại mỗi lần: “chúng ta chỉ thật sự thất bại khi từ bỏ mọi nỗ lực”, đã tiếp thêm nghị lực cho rất nhiều người khi gặp khó khăn,thử thách trong cuộc đời. Vinh quang không dành cho người không có ý chí vượt khó và kiên trì. Thành công không đến với những người ỷ lại, ươn lười,”ngồi chờ sung rụng”. Trong tất cả mọi lãnh vực đều như thế, đạo cũng như đời, không có đất cho những hạng “chưa đỗ ông nghè, đã đe hàng tổng”. Thành công,vinh quang,chiến thắng chỉ đến với những người có thể vượt qua “cửa hẹp” khó khăn nhất,là chính bản thân. Ai đã đọc tác phẩm “À marche forcée” (tạm dịch : bước chân khổ sai), - người thật việc thật - của nhà văn Slavomir Rawicz, đều thấy ý chí “vượt lên chính mình” của con người thật đáng nể, khó tin nhưng có thật : đó là chứng từ, tường thuật lại cuộc mạo hiểm vượt ngục không thể tin được do tám tù nhân vào năm 1942, thoát khỏi trại lao động khổ sai sô-viết. Cùng nhau họ vượt qua Siberia, sa mạc Gobi, nước Tây Tạng trong thời gian hai năm ròng và qua hàng ngàn cây số, sống sót nhờ tình bạn và sự tương trợ không thể nào quên.
Bên cạnh vô vàn câu chuyện và gương sáng “vượt lên chính mình”, người ta cũng nghe những chuyện vừa đáng thương,vừa khôi hài : Ngày 25 tháng 7 vừa qua, Đài Phát Thanh Hy Vọng đưa tin về sự cố bi thảm xảy ra tại đại nhạc hội Love Parade ở Duisburd, Đức,làm 19 người thiệt mạng và hàng trăm người bị thương.Nguyên nhân được cho là do dẫm đạp lên nhau, vì chỉ có một lối vào duy nhất qua một đường hầm, nhưng có quá đông người chen lấn để vào. Ở Thái Lan, hộp đêm hạng sang Santika ở BangKok,bị hoả hoạn khiến cho hơn 60 người thiệt mạng và hơn 200 người bị thương. Cảnh sát cho hay các nạn nhân chết vì bị bỏng, ngạt khói và bị thương do giẫm đạp lên nhau để tìm lối thoát khỏi câu lạc bộ này.Lực lượng cứu hoả đã được báo động ngay sau lúc nửa đêm nhưng khi họ tới nơi thì hộp đêm này đã vô cùng hỗn loạn với hàng trăm người chen nhau tìm đường sống. Còn nhớ năm 2005, đài BBC đưa tin vụ hoả hoạn tại một quán bar ở Trung Quốc đã cướp đi sinh mạng của 26 người, do quán bar trái phép nầy không có bình cứu hoả trong khi cửa thoát hiểm lại quá bé. Trước đó vào tháng 12 năm 2000,cũng tại Trung Quốc, hoả hoạn xảy ra trong một câu lạc bộ đêm giết chết 309 người.Trong vụ này, các cửa thoát hiểm đều bị khoá khiến các nạn nhân mắc kẹt bên trong. Cửa hẹp vào Thiên Đàng cũng phải nhanh tay lẹ mắt, chen lấn mà vào, nhưng không phải như thế nầy!
 Cửa hẹp mà Chúa Giêsu nói đến và là điều kiện mà mọi Kitô hữu phải thực hiện, để được cứu rỗi,chính là cửa mà chính Người đã đi qua, trong Mầu Nhiệm Cứu Độ, hay nói chính xác hơn : Mầu Nhiệm Cứu Độ khởi từ Lời Thiên Chúa hứa sau khi Ađam và Evà phạm tội cho đến Khi Chúa Giêsu Phục Sinh, được cấu thành và nối tiếp bằng những thiếu thốn nghèo khổ, đau đớn, hy sinh và cái chết tức tưởi trên thập giá. Chính xác hơn nữa ; Chúa Giêsu đã phải đánh đổi phục sinh và vinh quang bằng sự vâng lời và tự hạ “cho đến chết và chết trên thập giá” (Pl 2, 6-8). Con đường Chúa Kitô đã đi, cánh cửa Chúa Kitô đã qua, chắc chắn hẹp hơn con đường và cánh cửa mà Người muốn chúng ta phải qua. Thoái thác,tránh né con đường hẹp, cánh cửa hẹp, nghe theo đam mê dục vọng và danh lợi, tức là chúng ta chà đạp lên thập giá và không muốn được cứu rỗi. Con đường chúng ta đi và được viện ra hàng trăm lý do để bao biện, là để nuông chiều và thoả mãn xác thịt, bỏ bê những bổn phận thờ phượng tri ân hằng ngày và sống ích kỷ, thiếu bác ái. Thánh Phaolô nói : “Chúa họ thờ là cái bụng” ( Pl 3,19 a). Biết bao Kitô hữu đã bằng cuộc sống, chối bỏ Thánh Giá của Chúa Giêsu, gạt bỏ thập giá của bản thân (x. Mc 8,34; Mc 10,38). 
 Có ba “chân lý” mà chúng ta có thể khẳng định với nhau: Thứ nhất, Thiên Chúa là Đấng không giống ai. Thứ hai, Thiên Chúa luôn làm những chuyện khác đời,ngược đời. Nếu Thiên Chúa cũng “giống ai”, thì con người đã không được dựng nên và đã không tồn tại qua những hành động phản bội,tội lỗi,vong ân. Nhưng Thiên Chúa còn đi xa hơn nữa trong tính “lập dị”,khi Người luôn làm những chuyện ngược đời, như bắt Con Một làm người, chịu nạn và chịu chết chỉ để tỏ cho bọn thế nhân bất xứng rằng Người yêu thương chúng vô biên. Và hôm nay, trong bài Tin Mừng nầy, Chúa Giêsu lại dạy các môn đệ những điều ngược đời nữa : hãy vào Nước Trời bằng cửa hẹp. Thiên Chúa không thanh minh. Người chỉ cho biết :” tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối của các ngươi không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy (Isaia 55,6-8). Chúa Giêsu cũng không thanh minh. Người chỉ nói :”vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa” (Mt 16,23). Chúa Kitô cũng không muốn các môn đệ - và chúng ta - thanh minh. Người chỉ nói :”ai muốn theo Ta,thì hãy từ bỏ chính mình,và hãy vác thập giá mình mà theo Ta” (Mt 16,24). Cha nào con nấy;Thầy nào trò nấy: Xưa nay vẫn thế!
 Nhưng “chân lý” thứ ba quan trọng hơn cả, chứng minh cho hai “chân lý” trên đây. Đó là Kitô giáo và Giáo Hội Công giáo tồn tại bền vững chính nhờ những cái ngược đời,những cái không giống ai ấy. Một hiến chương Nước Trời mà những người ưa đấu tranh vì công lý, coi là “nhu nhược”, nhát đảm và chủ bại. Nhưng bao nhiêu thế lực mạnh mẽ,hung tàn,đã bách hại và muốn hủy diệt Đạo Thánh Chúa đã biến mất,còn chăng là để lại những tiếng xấu bị muôn đời phỉ báng. Những chủ thuyết nầy nọ, cả trong lẫn ngoài Giáo Hội, tưởng chừng làm cho Giáo Hội phải sụp đổ ngày một ngày hai, thì lần lượt tan rã như những vệt khói mờ. Chỉ vì chúng giống con người, hình thành từ lòng dạ đen tối, độc ác và tham lam của con người không tin nhận Chúa, mang tất cả bản chất hư đốn của loài người tội lỗi. Còn Đạo Chúa, Giáo Hội Chúa nghĩ khác, làm khác, “ngược đời”, vì thế vẫn mãi tồn tại, vẫn mãi bền vững. “Con người đâu phải mạnh mà thắng” (I Sm 2,9).
 Đâu phải tuyên bố “vượt qua cửa hẹp” là đã thực hiện Lời Chúa và vào được Nước Trời và đương nhiên được ông chủ mở cửa Nước trời cho (x. Lc 13, 25 – 27). Bởi vậy mà trong khi những người từ Đông,Tây,Nam,Bắc lũ lượt vào Nước Trời, còn con cái lại bị loại ra ngoài. Phép rửa là một dấu ấn,chứ không phải là một bảo chứng. Đó là ý nghĩa của dụ ngôn các nén vàng được giao (x. Lc 19, 11 -27).
 Muốn “qua cửa hẹp”,muốn đi con đường Chúa Kitô đã đi, để vào được Nước Trời, phải “vượt lên chính mình”!
 ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI 63

 

TN 21-C70. KHUNG CỬA HẸP

Cuộc sống của con người trên dương thế này phải đối diện với nhiều trạng thái và hoàn cảnh: TN 21-C70

Cuộc sống của con người trên dương thế này phải đối diện với nhiều trạng thái và hoàn cảnh khác nhau. Những trạng thái và hoàn cảnh đó được ví như những cánh cửa cuộc đời. Có những cánh cửa rất lớn; rất rộng, nhưng cũng có nhiều cánh cửa rất hẹp: Cửa hẹp khi học sinh thi vào đại học. Cửa hẹp khi người công nhân đi xin việc làm. Cửa hẹp của bệnh nhân đang chiến đấu tranh giành giữa sự sống và cái chết. Cửa hẹp trong cảnh mất mát chia lìa của người thân yêu trong gia đình..v..v.. 
***
Bạn thân mến! Sống là phải phấn đấu để bước qua cửa hẹp. Cửa càng hẹp, càng phải cố gắng nỗ lực thật nhiều. Nếu thiên đàng có cửa, thì chắc hẳn vào được cửa thiên đàng cũng phải phấn đấu với rất nhiều cố gắng và quyết tâm nỗ lực… Cửa hẹp mà vào được thì mới quý, mới hãnh diện.
Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay nhắc nhở ta: “Hãy chiến đấu để vào qua cửa hẹp”(Lc 13,24), vì “cửa hẹp dẫn đến sự sống đời đời”(Mt 7,14). Chiến đấu ở đây là chiến đấu với chính mình, với cái tôi cồng kềnh của mình, cái tôi nặng nề vì những thu tích cá nhân, cái tôi phình to vì tự hào và kiêu căng đầy tham vọng.
Thật ra cửa vào Nước Trời rộng thênh thang, không phải là cửa hẹp, nhưng hẹp vì “cái tôi” của ta quá to lớn cồng kềnh . Cửa hẹp không phải vì Nước Trời chật hẹp. Nước Trời rộng mênh mông, có thể đón tiếp tất cả mọi người. Nhưng không phải tất cả mọi người có thể vào được, vì vào Nước Trời cần phải có những điều kiện cần thiết. Cửa hẹp chính là để tuyển lựa những người có phẩm chất thích hợp với Nước Trời. Ai muốn vào Nước Trời phải phấn đấu. Cần nỗ lực liên tục để cắt xén “cái tôi” của ta, để giữ cho “cái tôi” của ta trở nên bé nhỏ; khiêm hạ trước Thiên Chúa và cởi mở trước anh em.
Cái tôi của ta luôn có khuynh hướng phình to vì những thu tích cho chính mình: tri thức, tiền bạc, khả năng..v..v.. Cả những kinh nghiệm, tuổi tác, đạo đức, chức vụ… cũng có thể làm cho “cái tôi” của ta trở nên xơ cứng và phình to.
Phải trở nên nhỏ bé như trẻ thơ thì mới được vào Nước Trời (Mt 18,3). Cần phải biến đổi và tự hạ để có thể vào được Nước Thiên Chúa (Mt 18,3-4). Quả thật, đời sống người Kitô là một cuộc chiến đấu không ngưng nghỉ, một cuộc chiến đấu liên lỉ với chính mình. Khi ta cắt xén “cái tôi” của mình, khi ta tự hủy thân phận của mình, ta sẽ dễ dàng đi qua cửa hẹp, để bước vào cuộc sống hạnh phúc đời đời trong Nước Thiên Chúa.
Đức Giêsu cũng chính là “Cửa” để ta bước vào Nước Trời.  Cửa vào Nước Trời hẹp vì được làm theo kích thước của Chúa Giêsu:
Cửa này thấp vì Chúa Giêsu đã hạ mình sâu thẳm: Là Thiên Chúa, Người đã tự nguyện trở nên người phàm. Từ trời cao, Người đã tự nguyện xuống nơi đất thấp. Là Thầy, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phục vụ. Vô cùng thánh thiện nhưng Người đã tự nguyện để bị đối xử như một tội nhân.
Cửa này bé vì Chúa Giêsu đã trở nên bé nhỏ: Người đã sinh ra nghèo, sống nghèo và chết nghèo. Trong cuộc tử nạn, Người đã bị bóc lột hết, không phải chỉ quần áo mà cả uy tín và danh dự.
Chúa Giêsu đã khai mở con đường về Nước Trời. Muốn vào Nước Trời chẳng có con đường nào khác ngoài con đường Chúa Giêsu đã đi. Chẳng có cửa nào khác ngoài khung cửa hẹp mà Chúa Giêsu đã bước qua. Ai muốn qua đó cũng phải noi gương Người, phải phấn đấu để khiêm tốn hạ mình, phải từ bỏ cái tôi cồng kềnh ích kỷ mới qua được khung cửa hẹp mà vào Nước Thiên Chúa.
***
Lạy Chúa Giêsu! Xin ban ơn giúp sức cho con để con không ngừng nỗ lực phấn đấu với chính mình, biết “bỏ mình, vác thập giá mình” mỗi ngày mà bước đi theo Chúa. Amen.
Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Isaiah 66:18-21 – BĐ2: Do Thái 12:5-7,11-13 – PÂ:Luca 13:22-30)

 

TN 21-C71. CỬA TRỜI RỘNG HẸP AI HAY ?

Tác giả: Cố Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, op.
(Lc 13:22-30)
Viết ngày: 26.08.2007
 

Hôm nay, ngồi nghe tâm sự bạn trẻ nhiễm HIV trên mạng, lòng tôi se buồn.  Nỗi buồn càng : TN 21-C71

Hôm nay, ngồi nghe tâm sự bạn trẻ nhiễm HIV trên mạng, lòng tôi se buồn.  Nỗi buồn càng ngấm khi đọc số liệu về tình trạng HIV tại Việt nam.  “Năm 2000, số người nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam là 122.000 người, sáu năm sau con số đó tăng lên hơn gấp đôi, vượt trên 280.000 người. Trung bình mỗi ngày Việt Nam có hon 100 ca nhiễm mới.  Cho đến tháng 6 năm 2006, tại Việt Nam mới chỉ có 1500 người được điều trị bằng ARV nhờ tiền của chính phủ Mỹ, trong khi đó số người chết vì AIDS trong năm 2005 là 14.000 người.”[1]
Nỗi buồn càng tăng khi thấy các bạn hối hận về quá khứ và lo lắng trước tương lai.  Con đường thênh thang đầy đam mê tuổi trẻ đã dẫn các bạn đến thảm trạng hôm nay.  Nhưng bỗng một bạn trẻ nhiễm HIV cho mình có phước hơn nhiều người, vì có thời gian chuẩn bị ngày gặp Chúa.  Nỗi buồn ngừng hẳn lại.  Một chân trời mới đã mở ra.  Phải phấn đấu tới mức nào, bạn trẻ mới có một niềm tin như thế ?   Có phải bạn trẻ ấy đang “chiến đấu (với ác thần) để qua được cửa hẹp mà vào” (Lc 13:24) Nước Thiên Chúa không ?  Ðức tin quả là một sức mạnh phi thường ! 
CÓ TRỜI CÓ TA 
Chúa Giêsu đem đến một cơ hội cuối cùng cho những người muốn vào Nước Thiên Chúa.  Người lên đường lên Giêrusalem, xuyên qua các thành thị và làng mạc.  Ðó là cuộc hành trình chót.  Trên đường, Người dạy dỗ quần chúng.  Ðây đó trong Tin Mừng Mathêu cũng có những cảnh tương tự.  Một cửa hẹp (Mt 7:13).  Tiếng các thiếu nữ kêu gào (Mt 25:11).  Một câu trả lời tiêu cực : “Ta không biết các ngươi.” (Mt 7:22).  Một cuộc đổi đời : “Những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu.” (Mt 8:11)
Thoáng đọc qua Tin Mừng Luca hôm nay, ai cũng nhận thấy có một sự căng thẳng ngay từ đầu.  Cánh cửa khép lại để bao kẻ chen nhau ngoài ngưỡng cửa.  Chủ nhà cấm cửa thực khách và nói : “Ta không biết các anh từ đâu đến … Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính !” (Lc 13:25.27)  Thật là lạ lùng và đau xót ! 
Ơn cứu độ là công trình của Thiên Chúa.  Chính Chúa có sáng kiến đó. Người quy tụ.  Người sai đi.  Người chọn các tư tế và Lêvi ngoài những bộ tộc truyền thống để lắng nghe sứ điệp này: “Ta là cửa !” (Ga 10:9)   Ðó không phải là một cánh cửa mở rộng cho đủ mọi hạng người, nhưng chỉ cho những ai được Thiên Chúa tiền định nên đồng hình đồng dạng với Con của Người (x. Rm 8:29.30).  Bởi thế, ơn cứu độ hoàn toàn là một hồng ân nhưng không của Thiên Chúa.
Rõ ràng chúng ta không thể tự cứu rỗi.  Không có cách nào tự mình phấn đấu để được Thiên Chúa ưng nhận.  Không phải do sức riêng, con người có thể chiến đấu và chiến thắng.  Nói thế không có nghĩa con người hoàn toàn thụ động và không cần nỗ lực đóng góp chút gì vào công trình đó.  Nếu không, Chúa Giêsu đã không quả quyết : “Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được.” (Mt 11:12)  
Như thế rõ ràng ơn cứu độ là một công trình của cả Thiên Chúa lẫn con người.  “Có Trời mà cũng có ta !” Chính vì thế, con người không hoàn toàn vô trách nhiệm về phần rỗi của mình.  Nếu mọi người sẽ được cứu độ, chẳng ai cần cố gắng làm việc lành và cũng chẳng cần sám hối nữa.  Nếu Ðức Giêsu mạc khải ít người được tuyển chọn, người ta sẽ nản chí sờn lòng và dễ dàng bỏ cuộc.  Tôi hy sinh làm gì nữa ... nếu tôi biết mình sẽ không bao giờ vượt qua cửa ải quá nhỏ như thế.  Nhưng không !  Ðức Kitô mạnh mẽ kêu gọi chúng ta cố gắng hết sức để được cứu độ, nghĩa là trở nên công chính.
Như thế, ơn cứu độ cũng là công trình của tất cả chúng ta.  Các tín hữu phải trở nên những sứ giả và có trách nhiệm làm chứng tích cực cho anh em mình về hồng ân cứu độ của Thiên Chúa.  Mọi người sẽ nhìn xem cách họ đón nhận và đáp trả hồng ân ấy như thế nào.  Chúng ta chỉ lảng tránh lời mời gọi của Thiên Chúa khi bỏ quên người thân cận, gia đình, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp của mình.  Chính trong lối sống, tư tưởng, lời nói, hành động, phán đoán của chúng ta, ơn cứu độ đang diễn ra.  Nói khác, sự công chính được thành hình từ môi trường chúng ta đang sống.
Sống giữa bao nhiêu thử thách và cám dỗ, con người phải nỗ lực hết sức mới có thể trở nên công chính.  Có khi phải liều cả mạng sống mới có thể chen chân vào Nước Trời.  Chúa Giêsu là một thí dụ điển hình.  Viễn ảnh cái chết ở Giêrusalem cũng không làm Chúa chùn chân trước sứ mệnh cứu độ nhân loại.  
CĂNG THẲNG  
Dù Israel không nhìn nhận Ðức Giêsu là Ðấng Thiên sai, Thiên Chúa cũng không ngưng kế hoạch cứu độ nhân loại.  Chư dân đã đến chiếm chỗ dân Do thái trong bàn tiệc Nước Trời. Dù được mời gọi trước tiên, Do thái đã bị chư dân qua mặt.[2]  Thiên Chúa thực hiện lời hứa cho nhân loại và tập hợp muôn dân (Is 66:18-21).  Không có dân tộc nào được ưu đãi đặc biệt.  Israel đích thực gồm mọi người tin vào Thiên Chúa.  Ðây là sự kiện quan trọng thánh Luca nhấn mạnh khi ông hướng Tin Mừng về Dân Ngoại (x. Rm 4:16-25; Gl 3:6-9).[3]  Vấn đề không phải là Do thái hay Dân Ngoại.  Vấn đề chủ yếu là có “thi hành ý muốn của Thiên Chúa” (Mc 3:35) là Ðấng công chính hay không.
Cuối cùng mọi sự được giải tỏa khi “thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.” (Lc 13:29)  Chắc chắn đây phải là những người công chính, không phân biệt chủng tộc, văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, nghề nghiệp, giai cấp v.v.  Bởi đấy, không nên ngạc nhiên khi trong Nước Thiên Chúa đầy những người nghèo, thấp cổ bé họng, bị khinh miệt và gạt ra bên lề xã hội.  Tuy nghèo hèn và bị đời lãng quên, nhưng họ thật “vĩ đại” trước nhan Thiên Chúa, vì đã trung thành giữ lời cam kết với Chúa.  Họ trở nên công chính vì đặt Thiên Chúa trên tất cả mọi giá trị trần gian.  Bởi đấy họ đủ điều kiện để nhập tiệc Nước Trời với mọi người trên thế giới.[4] 
Tự bản chất, Nước Thiên Chúa là sự công chính.  Những bọn người bất chính, làm sao đủ điều kiện ?  Không đủ điều kiện không phải vì những bất chính quá khứ, nhưng vì không biết nhìn nhận tội lỗi mình và chấp nhận ơn tha thứ của Chúa.  Tuy có lắng nghe và khâm phục những phép lạ của Chúa, nhưng vì quá tự tin và cố bám vào những thành tích và truyền thống, nên họ không quan tâm và tin tưởng vào Thiên Chúa cứu độ.
“Trong hoàn cảnh sống ngày nay, công lý rất quan trọng, vì giá trị cá nhân, phẩm giá và quyền lợi con người bị đe dọa một cách nghiêm trọng bởi các xu hướng lạm dụng các tiêu chuẩn lợi nhuận và quyền tư hữu một cách thái quá ở khắp nơi.”[5]  Từ đó mọi hình thức bất công mới xuất hiện trong xã hội.  Muốn được cứu độ hay nên công chính, Kitô hữu không thể làm ngơ hay im lặng trước những cảnh cường quyền đàn áp dân oan.  Lời mời gọi của Thiên Chúa vang lên mãnh liệt hơn lúc nào hết !
Chúng ta có thể giả điếc làm ngơ trước lời mời gọi ấy mà có thể được cứu độ hay hạnh phúc cho riêng mình không ?! Dĩ nhiên, nếu cứ tiếp tục im lặng, không những chúng ta có thể bị lạm dụng vào mục tiêu bất chính, mà còn rơi vào ảo tưởng mình vẫn làm chứng cho sự thật và sống công chính.  “Chúng ta phải tố cáo tội bất công và bạo lực đang len lỏi vào xã hội bằng nhiều ngả và hiện thân trong xã hội.  Biết bao vấn đề xã hội nảy sinh từ sự bất công trên thế giới.  Khi nhân quyền bị lãng quên hay chà đạp, tình trạng lạm dụng và bất quân bình sẽ nổi lên và đưa tới biến động xã hội.  Bạo lực và bất công sẽ tràn lan.  Công bằng xã hội là câu trả lời đích xác cho những vấn đề lớn lao đó.”[6]  
Bất công là nguồn gốc sinh ra mọi vấn đề xã hội.  Thế nên muốn chữa trị những căn bệnh xã hội, phải chữa tận gốc.  “Thực vậy, công lý không phải chỉ là một quy ước thuần túy nhân loại, vì những gì là ‘công chính’ trước tiên không do luật pháp, nhưng do bản chất sâu xa của con người quy định.”[7]  Nói khác, con người và xã hội không thể quyết định hay thay đổi những tiêu chuẩn công lý.  Công lý cũng như nhân quyền không tùy thuộc vào văn hóa, hoàn cảnh, dân tộc, luật pháp v.v.   Phát xuất từ bản chất sâu xa của con người, công lý là một tiếng nói phổ quát nằm sâu trong lương tâm con người.   
Thực tế, công lý đòi con người hy sinh nhiều hơn bác ái, có khi mất cả mạng sống.  Nếu chỉ lo làm bác ái, chúng ta chỉ chạm tới ngọn, mà chưa đụng tới gốc.  Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc !  Nếu không, vấn đề ngày càng phình to hơn.  Công cuộc bác ái nhiều khi trở thành một trò chơi thời thượng trước mắt những kẻ cầm quyền. Bản chất  vấn đề xã hội vẫn còn nguyên vẹn.  Những kẻ độc tài và bộ máy đàn áp có thể sống chung với những người và cơ quan làm việc bác ái, nhưng không bao giờ có thể đồng hành với những người tranh đấu cho công lý và hòa bình.  Chẳng ai chết vì những công cuộc bác ái bao giờ.  Trái lại, có nhiều người chết vì công lý.  Trong đó Chúa Giêsu là số một. 
THẾ ÐỨNG GIÁO HỘI  
Tóm lại, trên phương diện cá nhân hay tập thể, sự công chính vẫn là điều kiện duy nhất và cần thiết nhất cho công cuộc cứu độ.  Ở cấp độ quốc gia hay quốc tế, công lý là mẹ sinh ra hòa bình.  Bởi thế, ngày nay nhiều người thiện chí và tổ chức không ngừng săn tìm công lý cho xã hội.  Giáo Hội Công Giáo rất vui mừng khi được kể vào số đó.
Quả thực, tiếp nối công trình của Thày Chí Thánh, Giáo Hội luôn làm chứng và hy sinh cho công lý và hòa bình nhân loại.  Ðó là điều kỳ vọng duy nhất thế giới đang đặt nơi Giáo Hội Công Giáo toàn cầu và địa phương.  Thực thế, ông Kagefumi Ueno, Tân Ðại sứ Nhật Bản tại Tòa Thánh nhận định : “ÐGH là một hạng ‘người canh giữ’ tình hình quốc tế.  Cộng đồng quốc tế kỳ vọng Người nói về hòa bình và công lý.” [8]  Ông thú nhận Tòa Thánh có một giá trị và thẩm quyền đạo đức được cả các thẩm quyền ngoài Kitô giáo tôn trọng.  Khi phát biểu về các vấn đề quốc tế, từ việc giải trừ vũ khí hạt nhân đến các cuộc đàn áp tại Phi châu hay Á châu, tiếng nói của ÐGH được nhanh chóng phổ biến khắp thế giới và thu hút sự chú ý quốc tế.   Tóm lại, theo ông Tân Ðại sứ Nhật Bản, Vatican rất độc đáo và gây nhiều ấn tượng vì lập trường vô tư và cương quyết trước những vấn đề luân lý xã hội và chính trị quốc tế ! [9]
Dựa vào đâu Giáo hội có được một tiếng nói mạnh mẽ như vậy, trong khi nhân loại ngày càng xa dần Thiên Chúa và bị trần tục hóa ?  Thưa, chính vì muốn cho mọi người thấy tầm vóc cao cả và  giá trị đích thực của mình như món quà vô giá của Thiên Chúa, nên Giáo hội không ngừng tranh đấu hồi phục quyền làm người cho nhân loại. Theo Rose Busingye, một Nữ Y tá săn sóc bệnh nhân AIDS ở Uganda, Phi châu, vấn đề lớn nhất lục địa Phi châu không phải là sự nghèo đói hay thiếu thốn các cơ sở hạ tầng, nhưng là “sự vắng bóng một thẩm quyền cho thấy đang thiếu một lý tưởng và một ý nghĩa cuộc sống.”  Theo cô, đó là nguyên chính gây nên sự bất an nói chung trong tương quan nhân vị.  Hằng ngày cô phấn đấu với hiện tượng này.  Không những lo đáp ứng những nhu cầu vất chất cho bệnh nhân, cô còn cố gắng làm cho họ ý thức về giá trị của họ.  Giá trị này không thể bị suy giảm ngay cả khi họ chìm ngập trong nỗi khốn cùng.
Dạy cho con người biết giá trị của mình là giải đáp cho những vấn đề Phi châu hôm nay.  Cô kết luận : “Hy vọng của Phi châu cũng là hy vọng toàn thể nhân loại cần đến, đó là biết mình là ai.”[10]  Nói khác, hy vọng đó tăng lên theo mức độ nhân quyền con người được hưởng trong một xã hội công bằng.  Tất cả giá trị con người nằm ở đó !
Niềm hy vọng đã nhú lên trong xã hội và Giáo Hội Việt nam chưa ?  Bao lâu nhân quyền bị chà đạp và công lý chưa có tiếng nói, niềm hy vọng vẫn còn tắt ngúm.  Trách nhiệm đó về ai ?   Dĩ nhiên không thể quy trách cho hàng lãnh đạo Giáo Hội mà thôi.  Nhưng trong tình thế hiện tại, có lẽ giáo dân cũng không thể làm gì hơn với cơ chế cứng ngắc trong Giáo Hội.  Bởi thế, “người tín hữu đang chờ đợi nhiều cải cách làm sao để công việc chung của giáo hội không phải là ưu lo riêng, phận vụ riêng của một giới, một bậc sống mà của mọi tín hữu. Và không phải trong nguyên tắc nhưng trong thực tế áp dụng với những điều kiện thực hiện được.”[11] 
Trong một thế giới đầy biến động và nhiều bất công hôm nay, “Giáo hội có bổn phận phải biện minh, giải thích, bảo vệ nhân phẩm và nhân quyền không chỉ bằng lời nói, nhưng hơn nữa còn phải bằng hành động và cuộc sống của mình. Hơn ai hết, Giáo hội không được làm cho thế giới chúng ta ngày nay phải thất vọng về nỗi khao khát công lý và ước muốn sôi nổi tìm về nhân tính của mình.”[12]
Nhưng làm sao Giáo Hội có thể hoàn thành sứ mạng đó, nếu bộ máy giáo quyền còn quá nặng nề, giáo dân thiếu hiểu biết và chỉ cúi đầu vâng phục ?  Còn lâu giấc mơ mới thành sự thật, vì giáo dân không tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết để trở nên những Kitô hữu trưởng thành dám lãnh trách nhiệm trước lịch sử !
Lạy Chúa, tất cả sức mạnh chúng con ở nơi Chúa.  Xin cho chúng con luôn phấn đấu cho quê hương và thế giới  sống trong công lý và hòa bình.   Amen.
đỗ lực 26.08.2007

 

TN 21-C72. DỰ TIỆC TRONG NƯỚC THIÊN CHÚA

Chúa Nhật XXI Thường Niên C
Lc 13:22-30: 22 Ngài rảo khắp các thành các làng, mà giảng dạy và tiếp tục hành trình đi Yêrusalem. 23 Có người nói với Ngài: "Thưa Ngài, ít người được cứu thôi phải không?" Ngài nói cùng họ: 24 "Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào, vì Ta bảo các ngươi: Có lắm kẻ sẽ tìm cách vào, nhưng không thể được."
25 Một khi gia chủ dậy khóa cửa rồi, và các ngươi bắt đầu đứng ngoài gõ cửa, mà rằng: "Thưa Ngài, xin mở cửa cho chúng tôi!"; đáp lại, Ngài sẽ bảo các ngươi: "Ta không biết các ngươi từ đâu đến". 26 Bấy giờ các ngươi lên tiếng nói: "Chúng tôi đã ăn đã uống trước mặt Ngài, và Ngài đã giảng dậy nơi phố xá của chúng tôi". 27 Nhưng Ngài sẽ bảo các ngươi rằng: "Ta không biết các ngươi tự đâu đến; Hãy kéo đi xa Ta, hết thảy phường tàn ác".
28 "Ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng, khi các ngươi thấy Abraham, Ysaac và Yacob cùng các tiên tri hết thảy trong Nước Thiên Chúa, còn các ngươi thì bị đuổi ra bên ngoài. 29 Và người ta sẽ từ phương Ðông phương Tây, từ phương Bắc phương Nam mà đến, và được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa."
30 "Và này có những người cuối hết sẽ nên đầu hết, và có những kẻ đầu hết sẽ nên cuối hết".
 

Đoạn nầy ở vị trí khởi đầu giai đoạn hai của hành trình lên Giêrsalem (x. 9:51). Chủ đề của đoạn: TN 21-C72

Đoạn nầy ở vị trí khởi đầu giai đoạn hai của hành trình lên Giêrsalem (x. 9:51). Chủ đề của đoạn được đưa vào bởi câu hỏi: “Thưa Thầy, ít người được cứu thôi phải không?” (13:23). Câu trả lời của Chúa Giêsu là những lời khuyến cáo (13:24-30), chia thành 3 đoạn nhỏ: - Mệnh lệnh “Hãy vào cửa hẹp” (13:24); - Khuyến dụ bằng hình ảnh dụ ngôn (13:25-27); - Kẻ đứng ngoài và người bên trong cửa; và  kết luận (13:28-30).
Chúa Giêsu tiếp tục hành trình lên Giêrusalem (c. 22), dù biết cái chết đang chờ đợi Người tại đó (13:33). Người trả lời cách chắc chắn những câu hỏi đặt ra cho Người. Người không ngần ngại đòi hỏi họ và nói sự thật về sự cứu độ. Luca dùng hình ảnh ẩn dụ “cửa” để bàn về đề tài nầy. Để trả lời câu hỏi về số người được cứu độ (c. 23), Chúa Giêsu ra lệnh chiến đấu vào cửa hẹp, và cho lời giải thích (c. 24). Sẽ tới lúc chủ nhà đóng cửa lúc ấy mọi sự sẽ được quyết định cách dứt khoát và không thay đổi được nữa (cc. 25-27). Người đứng ngoài cửa sẽ bị loại bỏ (c. 28a); người bên trong cửa sẽ dự tiệc Nước Trời (cc. 28-30). Cố sức vào “cửa hẹp”, nhưng đừng để quá muộn!.
Đi lên Giêrusalem, Chúa Giêsu tiếp tục giảng dạy (c. 22). Bài giảng đầu tiên nói về sự chiến đấu để vào Nước Trời (cc. 23-30). Người nào đó đặt ra câu hỏi về số người được cứu độ (c. 23). Ông quan tâm về số lượng “ít người được cứu độ”. Khi trả lời cho ông, Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ (2:11), đồng ý với mối lo ngại nầy của người ấy là “nhiều người” không vào được (c. 24b). Ít người được cứu độ và nhiều người hư mất. Chính vì nguy cơ rất lớn nầy mà Người ra lệnh phải chiến đấu để vào (c. 24a), và vào trước khi cửa đóng (c. 25).
Luca mời gọi “chiến đấu”, agôn, (c. 24a), từ vựng riêng của Luca (x. Mt 7:13). Mệnh lệnh nầy ở thì hiện tại có tính cách kéo dài. “Chiến đấu”, như trong một cuộc thi đấu, là đòi hỏi cố gắng lớn để có thể dành phần thưởng (x 1 Co 9:25). Chiến đấu phải hao tốn sức lực (x. Col 1:29). Phải kiên trì chiến đấu cho đến khi vào được cửa hẹp. Đối lại với sự chiến đấu nầy là “không chịu nổi”, “không đủ sức”, ouk  ischyô, (c. 24b). “Cửa” là yếu tố phân chia hai không gian: bên trong nhà và ngoài nhà. Bên trong là sự thông hiệp (x. 12:36-37); ngược lại, là bên ngoài (x. 11:7). Vậy mệnh lệnh “hãy cố vào cửa hẹp” mời gọi kiên trì cho đến cùng cho đến khi vào được tiệc Nước Trời (cc. 28-29); vì có nhiều người đã khởi đầu nhưng không vào được. Họ đã không đủ sức và kiên trì cho đến cùng.
Khuyến dụ tiếp theo được trình bày dưới hình thức cuộc đối thoại (13:25-27): - Cửa đóng. Lời cầu xin (c. 25a) - Trả lời (c. 25b); - Lời giải bày (c. 26) - Trả lời (c. 27). Sau mệnh lệnh, Chúa Giêsu khuyến dụ phải vào cửa hẹp ấy đúng lúc, nghĩa là trước khi chủ nhà đóng cửa (c. 25). Thời gian gắng sức vào cửa hẹp có giới hạn, tuy không xác định là lúc nào. Cửa ấy sẽ đóng lại cách dứt khoát do chủ nhà quyết định. Ai không vào trước thời gian ấy là quá muộn, và tình cảnh họ sẽ thảm khốc. Trong lời đối thoại thứ nhất (c. 25), Luca cho thấy không có một liên hệ hiểu biết nào giữa chủ nhà và những người đứng ngoài.
Trong lời đối thoại thứ hai (cc. 26-27), những người đứng ngoài nhắc cho chủ nhà nhớ một vài liên hệ: “ăn và uống trước mặt”, thấy “Người giảng dạy nơi phố xá chúng tôi”. Họ muốn chủ nhà nhận ra họ trong tương quan hổ tương. Nhưng đây chỉ là những liên hệ bề ngoài. Lần nữa Người tuyên bố thẳng thắn là “không biết họ từ đâu đến”; nghĩa là không biết họ bởi nguồn sống nào. Lời khẳng định tiếp theo “những người làm điều bất chính” chứng tỏ họ đã không sống theo lời của Người. Và “Hãy đi xa Tôi” gợi lên sự phán xét cuối cùng. Vậy, vào cửa hẹp và vào đúng thời liên hệ mật thiết với nhau. Không thể trì hoãn, mà phải gắng vào ngay bây giờ. Đó là sống làm sao để được chủ nhà nhận biết mình là ai.
Hai cảnh tương phản: người bên ngoài và bên trong cửa (cc. 28-30). Tình cảnh sau cùng của những người nầy tương tự như trường hợp của người giàu có và Lazarô (x. 16:23). Những người bên ngoài cửa: thụ động “ngồi đó” ở cửa, thất vọng “khóc lóc”, và nổi giận “nghiến răng” (c. 28a; Cv 7:54). Cụm từ “khóc lóc và nghiến răng”, diễn tả sự nổi loạn vì không được chấp nhận, được dùng nhiều trong Matthêô hơn là Luca (Mt 8:12; 13:42.50; 22:13; 24:51; 25:30). Đối lại với họ, là những người dự phần bàn tiệc Nước Trời (cc. 28b-29). Các tổ phụ của Israel (Abraham, Isaac, Giacóp), các ngôn sứ (c. 28b): thành phần tiêu biểu của giao ước cũ. Những người đến từ khắp nơi trên mặt đất, được diễn tả bằng cách nói “họ đến từ bốn hướng” đông tây nam bắc (c. 29), là thành phần của giao ước mới. “Tiệc trong Nước Thiên Chúa” là sự hiệp thông trọn hảo với Thiên Chúa trong sự công chính. Chúa Giêsu là Đấng Công Chính (23:47), những người dự tiệc cũng là những người công chính, đối lại với những người “bất chính” ngồi ngoài cửa. Họ đã dọn tiệc cho những người nghèo, tàn tật, mù lòa (14:13), nên Thiên Chúa dọn tiệc thiên quốc cho họ khi “người công chính sống lại” (14:14). Công thức ở kết luận “Những người cuối hết sẽ nên đầu hết…” (c. 30) có thể hiểu là chỉ Thiên Chúa mới có thể đánh giá mỗi người tùy theo sự chiến đấu của họ để vào cửa hẹp (c. 23). Vậy số phận mỗi người được định đoạt khi cửa đóng lại.
Hành trình lên Giêrusalem sẽ chấm dứt bằng cái chết được thực hiện trên thánh giá. Chúa Giêsu phải chiến đấu để hoàn tất sứ mạng nầy. Môn đệ của Chúa Giêsu cũng phải chiến đấu qua cửa hẹp, nghĩa là đi vào trong cuộc đời và lời của Người. Vì chỉ ngang qua Người mới có thể vào Nước Trời   (x. Gio 10:7.9; 14:6).
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

TN 21-C73. Chúa Nhật 21 Thường niên

Sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 13:22-30)
 

Bài Tin Mừng hôm nay không phải là tin vui mà là tin buồn.  Tại sao vậy?  Trước hết buồn vì : TN 21-C73

          Bài Tin Mừng hôm nay không phải là tin vui mà là tin buồn.  Tại sao vậy?  Trước hết buồn vì Chúa Giê-su phải nói lên sự thật phũ phàng:  Số người được cứu thoát không phải là nhiều.  Thứ hai, buồn vì Chúa phải đành lòng đuổi đi chính con cái mình:  “Ta không biết các anh từ đâu đến.  Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi những quân làm điều bất chính”.  Thứ ba, buồn vì trong khi các tổ phụ dân Do-thái cùng các ngôn sứ “được ở trong Nước Thiên Chúa” thì dân chúng Do-thái lại bị đuổi ra ngoài.
          Để hiểu rõ hơn tin buồn này, có lẽ chúng ta nên nhìn lại cách sắp xếp của bài Tin Mừng.  Trước hết một người Do-thái hỏi Chúa Giê-su có phải số người được cứu độ thật là ít hay không.  Chúa trả lời bằng cách sử dụng hình ảnh cửa hẹp.  Chúa Giê-su so sánh việc “được cứu thoát” giống như đi qua cửa hẹp mà vào để “dự tiệc trong nước Thiên Chúa”.   Giống như “chủ nhà” đang ở đằng sau cửa hẹp ấy chờ đợi khách dự tiệc bước vào, Chúa Giê-su cũng đang chờ đợi dân Do-thái là con cái Thiên Chúa bước qua cửa hẹp mà vào nước Chúa.  Nhưng thật đáng tiếc, phần đông họ lại không muốn đi qua cửa hẹp này.  Đã có lần Chúa Giê-su khẳng định với họ:  “Tôi là cửa cho chiên ra vào… Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu” (Gio-an 10:7.9). Họ ngoan cố đứng ở bên ngoài, mặc dù cửa vẫn mở sẵn sàng cho họ.  Họ không muốn nhìn nhận sứ mệnh của Chúa Giê-su và đáp lại Tin Mừng của Người.  Rồi khi Chúa là chủ tiệc “đã đứng dậy và khóa cửa lại”, họ mới “bắt đầu gõ cửa” và xin Người mở cửa cho họ.    Họ lý giải với Người rằng họ “đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của họ”.  Tuy nhiên đó không phải là những điều kiện để được vào nước Chúa, mà là họ phải “chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào”.  Kết cục thật đáng buồn!  Đáng lẽ họ là những người được ưu tiên vào nước Thiên Chúa thì lại bị đuổi ra ngoài, vì họ ngại cửa hẹp và vì muốn mải mê ở bên ngoài để “làm những điều bất chính”.
Sống sứ điệp Tin Mừng
Những người Do-thái, nhất là nhóm Pha-ri-sêu, nghe Chúa Giê-su nói thẳng về số phận không được cứu thoát của họ chắc sẽ thất vọng và tức giận lắm!  Nhưng có khi nào chúng ta nghĩ rằng mình cũng ở trong số những người bị đuổi đi cho khuất mắt Chúa và trong số những quân làm điều bất chính không?  Lời lý giải của người Do-thái có thể cũng là của chính chúng ta.  Chúng ta là những kẻ đã “từng được ăn uống trước mặt Chúa và Chúa cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng ta”, tức là từng tham dự Thánh lễ và được nghe giảng dạy về lời Chúa.  Nói khác đi, chúng ta từng vỗ ngực xưng mình là những người Công giáo, là những người trong hội đồng mục vụ, trong hội đoàn này nọ… Nhưng điều quan trọng không phải là danh nghĩa người Công giáo, mà là có thực sự sống theo chân lý Tin Mừng của Chúa Giê-su hay không.  Để sống lời Chúa, chúng ta phải “chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào”.  Hình ảnh này có vẻ tức cười, nhưng quả thực như vậy.  Để bước qua một cánh cửa hẹp, chúng ta phải để lại bên ngoài tất cả những gì cồng kềnh làm nghẽn lối.  Những cồng kềnh ấy mang nhiều ý nghĩa lắm.  Là những tham lam vật chất hoặc danh vọng địa vị.  Là những đam mê thú vui xác thịt, ăn uống rượu chè, bài bạc cá độ.  Là tính ích kỷ, không quan tâm tới những thiếu thốn hoặc đau khổ của người khác…  Để lại sau lưng tất cả những cồng kềnh này không dễ dàng đâu, nhưng đúng là một cuộc “chiến đấu” nội tâm hết sức cam go.  Tuy thế chúng ta không nản lòng, vì biết rằng Chúa đang chờ chúng ta đằng sau cửa hẹp ấy!  Lm. Dominic TTL 

 

TN 21-C74. HÃY QUA CỬA HẸP

Chúa Nhật 21 thường niên C
Lc 13, 22 – 30
 

Thánh Luca hôm nay thuật lại rằng: trên đường tiến lên Giêrusalem, Chúa Giêsu rảo qua các : TN 21-C74

Thánh Luca hôm nay thuật lại rằng: trên đường tiến lên Giêrusalem, Chúa Giêsu rảo qua các đô thị và làng mạc, vừa đi vừa giảng dạy, thì có kẻ đến hỏi Ngài: “Lạy Thày, phải chăng chỉ có một số ít người sẽ được cứu độ?”
Tại sao lại có câu hỏi này? Tại sao người Dothái lại băn khoăn về số người được cứu độ?
Tại vì có quan niệm: Chúa chỉ cứu độ dân Dothái, còn dân ngoại Ngài tiêu diệt hết! Cụ thể như ông Giôna trốn lệnh Chúa không đi giảng cho dân thành Ninivê, vì ông nghĩ có giảng cũng vô ích. Chúa đâu có cứu dân ngoại!
Khi quan niệm như vậy, họ quên mất rằng tình thương Chúa bao trùm cả vũ trụ. Chúa muốn cho tất cả mọi người nhận biết chân lý và được cứu độ. Điều này không phải đợi đến thời Tân ước mới được mạc khải, mà ngay thời Cựu Ước xa xưa, qua lời tiên tri Isaia, Chúa đã phán: “Ta sẽ đến tập hợp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ, họ sẽ đến và được thấy vinh quang của Ta…”
Thế nên, Chúa Giêsu mới không trả lời thẳng vào vấn đề được nêu ra là ít hay nhiều người được cứu độ. Vì nếu trả lời “nhiều người được cứu độ” thì người ta sẽ sống buông thả, phóng túng, chẳng cần cố gắng hy sinh và tuân giữ lề luật cũng được nắm chắc phần rỗi. Còn nếu trả lời “ít người được cứu độ”, thì người ta sẽ buông xuôi, thất vọng, có cố gắng hy sinh hãm mình, sống thánh thiện cũng chẳng đến lượt mình.
Vâng, Chúa Giêsu không muốn người ta quan tâm đến số lượng người được cứu độ. Điều mà Chúa muốn con người quan tâm là phải làm gì để được cứu độ. Bởi thế, Chúa mới bảo kẻ đến hỏi Chúa rằng: “Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào Nước Trời, vì Ta bảo các ngươi: có lắm kẻ sẽ tìm cách vào mà không thể được”.
Nhưng thế nào là cửa hẹp, là đường hẹp mà Chúa muốn ta phải đi?
Phụng vụ lời Chúa hôm nay chỉ cho ta 3 cách đi đường hẹp để vào Nước Trời:
1/ Hãy cẩn trọng trong lời nói: Chúa Giêsu biết rõ nhiều hay ít người được cứu độ, nhưng Ngài không nói, vì nói ra không lợi cho ai, trái lại còn có hại và làm cho vinh danh Chúa bị che khuất!
Vậy không phải mọi sự hiểu biết, mọi sự thật buộc ta lúc nào cũng phải nói ra. Chỉ buộc ta nói sự thật, khi sự thật ấy mang lại ích lợi cho người nghe, hầu diễn tả vinh quang Thiên Chúa, nghĩa là nói đúng lúc đúng chỗ, nói khi cần phải nói, nói với tinh thần trách nhiệm và xây dựng, không thể phát ngôn bừa bãi. Hơn nữa Chúa dựng nên ta có hai lỗ tai, nhưng chỉ có một cái miệng. Nên ta cần phải nghe nhiều hơn nói.
2/ Hãy khó với mình và quảng đại với người khác:
Chúa dạy: “Hãy chiến đấu qua cửa hẹp” là mời gọi ta tự khép mình vào con đường hẹp, chứ không phải ta khắt khe với người khác, nhưng lại dẽ dãi với mình. Cụ thể:
Về tiền của: Đừng tự cho phép mình tiêu xài thoải mái, cho dù tiền của đó do mình làm ra. Thường đối với bản thân, ta tiêu xài xả láng, còn đối với người khác thì ta keo kiệt, tính toán, ngay cả với những bậc sinh thành dưỡng dục ta, ta cũng tính toán thiệt hơn: “Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.”
Về thời giờ: Một ngày có 24 tiếng, bao nhiêu thời gian ta dành cho Chúa và tha nhân?
Thường mỗi ngày ta dành nhiều giờ để chè chén say sưa, vui chơi giải trí, buôn dưa lê, nói chuyện tào lao … nhưng giờ cầu nguyện, đi lễ, làm việc bác ái giúp đỡ tha nhân thì chẳng có là bao. Ta cần phải sắp xếp thời gian cho ta, cho Chúa và tha nhân cách hợp lý và khoa học.
Về việc lành: Hãy khuyến khích nhau làm việc lành, nhưng ta không nên lấy sự nhiệt tình sốt sắng của ta mà bắt người khác phải sống y như vậy. Vì làm thế sẽ gây gánh nặng cho nhau.
Về điều xấu: Không nên dung túng và bao che cho nhau, cần phai sửa lỗi cho nhau. Nhưng đừng đòi lấy cái rác ra khỏi mắt người khác, mà không chịu lấy cái xà ra khỏi mắt mình.
3/ Hãy coi tất cả đều là hồng ân Chúa:
Thường ta chỉ nhìn nhận những gì xảy đến vừa ý mình là ơn Chúa ban, còn điều “xui xẻo” là bị Chúa phạt! Tác giả thư Do thái (trong bài đọc II) đã lưu ý chúng ta: “Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, có nhận ai làm con thì Người mới cho roi vọt.” (Dt 12,6). Đúng là “yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”.
Cổ Học Tinh Hoa kể rằng: Khấu Chuẩn thuở nhỏ ham chơi, không chịu học hành. Bà Mẹ ông vốn nghiêm khắc, nhưng lại rát mực thương con.
Một hôm Khấu Chuẩn bỏ học đi chơi. Biết được bà giận lắm. Đang dệt vải, thấy Khấu Chuẩn về, bà liền lấy thoi cửi ném vào Khấu Chuẩn. Thoi cửi rơi trúng vào chân Khấu Chuẩn máu chảy đầm đìa… Ông bị thương, ít lâu sau mới khỏi. Từ đó Khấu Chuẩn không dám chơi bời lêu lổng, quyết tâm chăm lo học hành. Về sau ông thi đỗ làm quan đến chức Tể Tướng. Nhưng lúc đó mẹ ông đã qua đời. Mỗi khi sờ đến vết thương ở chân, thì ông lại nức nở khóc và nói rằng: “Chính nhờ cái vết thương này mà ta nên người đây!”
Như thế, con đường rộng thênh thang là con đường chết. Con đường hẹp đầy gian nan là con đường sống.
Lạy Chúa, xin cho con can đảm bước đi trên con đường hẹp, là con đường chính Chúa đã đi từ Belem đến Núi Sọ- con đường nghèo khó và thánh giá, để con được vào dự tiệc trong Nước Trời cùng với tổ phụ Abraham và các thần thánh trên trời. Amen
Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hữu.

 

TN 21-C75. ĐỨC GIÊSU LÀ CỬA HẸP

Chúa Nhật XXI Thường Niên Năm C
  (Is 66,18-2;1 Tv 117,1-2 Dt 12,5-13; Lc 13,22-30)
 

Ở chương 9 câu 51 tác giả Phúc Âm Luca đã trình bày chi tiết: “Khi ngày được cất về trời đã : TN 21-C75

Ở chương 9 câu 51 tác giả Phúc Âm Luca đã trình bày chi tiết: “Khi ngày được cất về trời đã đến gần, Đức Giêsu nhất quyết lên đường lên Giêrusalem.” Bản văn Hy Lạp còn nói rõ: Ngài nhất quyết “hướng mặt” (‘prósopon sterizon’) đi Giêrusalem. Nơi Giêrusalem thành đô của Thiên Chúa, có đền thờ Thiên Chúa, biểu tượng sự hiện diện của Chúa với Dân Người. Chính vì thế, Đức Giêsu có tâm tình đặc biệt với Giêrusalem. Hơn thế nữa, tại Giêrusalem Ngài sẽ chịu đau khổ, chết, và “cất nhắc” về trời. Đi Giêrusalem là chuyến đi định mệnh của Đức Giêsu, đi Giêrusalem là quyết định vâng theo ý Cha để hy sinh chính mình như sự vâng phục yêu thương cao cả nhất và cũng là tình yêu cao vời nhất cho nhân loại để họ được nối kết lại với Thiên Chúa. Khi lựa chọn lên Giêrusalem, Đức Giêsu đã chọn đi vào “cửa hẹp,” Ngài hạ mình hơn nữa, Ngài trở nên khiêm nhường nhỏ bé hơn nữa, Ngài bỏ ý mình chết đi cho mình hơn nữa để theo ý Cha. Đi Giêrusalem là vào qua “cửa hẹp” để về cùng Cha.
Đoạn Phúc Âm Luca của Chúa Nhật hôm nay trình bày: Trên con đường lên Giêrusalem để chu toàn ý Cha, một câu hỏi đã được đặt ra cho Đức Giêsu: “Có phải chỉ một số ít người sẽ được cứu rỗi?” (Lc 13:22-23) Đây là một câu hỏi hàm chứa một sự giới hạn những người được tuyển chọn. Đức Giêsu không giới hạn con số những kẻ được cứu rỗi, Ngài cũng không giới hạn ơn cứu độ của Ngài trong dân Do Thái, nhưng Ngài đặt điều kiện cho bất cứ ai muốn được cứu rỗi là “phải vào cửa hẹp”. Vào “cửa hẹp” là trở nên giống Đức Giêsu, là đồng hình dạng với Ngài, là vâng phục tin tưởng, khiêm nhường, yêu vì người khác. Vào “cửa hẹp” là lên Giêrusalem vác thập giá với Ngài đến tận đồi Canvê để được cất nhắc về trời.
Nhiều người đi theo Đức Giêsu, ăn uống đồng bàn với Ngài, có đám đông kéo theo Ngài khi Ngài vác thập giá đến đồi Canvê, ngay cả các môn đệ tháp tùng Ngài lên Jerusalem, nhưng thật sự họ vẫn chưa vào được “cửa hẹp.” Chỉ khi họ tin vào Đức Giêsu và chấp nhận vác thập giá hằng ngày trong cuộc đời mình với vâng lời, khiêm nhường, tin tưởng và yêu mến, họ trở nên giống Ngài khi đi qua “cửa hẹp.” Như vậy họ đi trên con đường của Thày mình để được “cất nhắc” về trời.
Để vào được “cửa hẹp” người ta phải thích ứng mình với cửa hẹp. Người cao phải cúi xuống, người “quá khổ” phải làm cho người mình gọn gàng mà lách mình qua “cửa hẹp.” Đức Giêsu là “cửa hẹp”, là khuôn mẫu cho mọi người đào luyện mình với ân sủng để qua Ngài mà đến được với Thiên Chúa Cha. Đi qua “cửa hẹp” để trở nên giống Đức Giêsu với những nhân đức của Ngài, người ta phải khổ công, kỷ luật mình, để cho Thiên Chúa “sửa dạy” mình với “roi vọt” như thư Do Thái dạy (Dt 12:6). Nhưng Đức Giêsu bảo đảm : qua “cửa hẹp” người ta sẽ đạt đến sự sống vĩnh cửu.
 LM. Alphongsô Phạm Hùng

 

TN 21-C76. SỬA LẠI CỬA THIÊN ĐÀNG

Những ngày đầu sau khi vừa đặt chân đến Hoa Kỳ vào cuối tháng 4 năm 1975, chúng tôi được: TN 21-C76

Những ngày đầu sau khi vừa đặt chân đến Hoa Kỳ vào cuối tháng 4 năm 1975, chúng tôi được học thêm Anh ngữ để chuẩn bị cho những chương trình huấn luyện sau này. Người thầy Anh Văn của chúng tôi là một nữ tu Dòng Máu Thánh Chúa tên là Lilian. Nữ tu Lilian là một người có thân hình to lớn, và tướng đi mạnh bạo như đàn ông nên chúng tôi đã đặt cho bà một tên cúng cơm “Sơ Lính Làng”. Lính Làng là phiên âm chại của chữ Lilian. Và từ đó, chúng tôi thay vì gọi nữ tu Lilian, thì gọi là “sơ lính làng”.
Ngoài thân hình to lớn, dáng vẻ bề ngoài như đàn ông Sơ Lính Làng còn thuộc thành phần nữ tu với đầu óc tiến bộ, mà từ ngữ quá khích thường gọi là cấp tiến. Bà rất thích làm linh mục, và hết mình ủng hộ tư tưởng nữ giới làm linh mục, nên tôi là một trong những học trò ưa làm bà nổi nóng. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn là những học sinh ngoan và rất dược Sơ Lính Làng yêu quí và hay hỏi ý kiến. Và một hôm, nhân một bài văn tự chọn, đề tài được trích từ Thánh Kinh, tôi đã dùng câu Thánh Kinh của Thánh Sử Luca: “Hãy cố mà vào cửa hẹp” (Lc 13:24), để trêu chọc bà.
Tôi đã viết bài luận văn dựa vào câu Thánh Kinh trên, nhưng với lối cắt nghĩa rệu rạo, cốt để bà hiểu rằng tôi có ý chọc quê bà, vì bà mập quá. Bài văn của tôi được bà chiếu cố rất kỹ, với lời phê bằng bút pick mầu đỏ: “Khi anh về Thiên Đàng trước tôi, hãy nhớ nói với Thánh Phêrô rằng ông ấy cần phải sửa lại cửa Thiên Đàng để tôi có thể vào được”.
Bẵng đi sau hơn 30 năm, giờ đây không biết Sơ Lính Làng đã về Thiên Đàng chưa, hay vẫn còn chờ tôi để nhắn lời với Thánh Phêrô. Nhưng hôm nay, khi ngồi một mình suy nghĩ lại lời Chúa Giêsu, tôi bỗng giật mình và sửng sốt. Tôi thấy tôi mới là người cần phải xin Thánh Phêrô sửa lại cửa Thiên Đàng. Và tôi mới là người phải nói với Sơ Lính Làng nhờ nhắn với Thánh Phêrô sửa lại cửa Thiên Đàng để tôi có thể lọt vào được trong đó. Lý do vì lúc này tôi quá mập, quá phì nộn. Tôi không thể lách mình lọt vào cửa hẹp Thiên Đàng được.
Mập mạp, phì nộn tâm linh:

Theo cơ thể học và sinh vật học, một người phì nộn và béo mập thường là do bệnh tật, hoặc do ham ăn, ham uống. Thêm vào đó là lười không chịu hoạt động. Chính vì thế mà những chương trình giảm ký, làm đẹp thân hình, đặc biệt cho giới phụ nữ, đã lên đến hằng chục tỷ Mỹ Kim mỗi năm. Đâu đâu cũng có những phòng tập thể dục. Đâu đâu cũng có những bác sỹ thẩm mỹ. Tóm lại, tham ăn, và ươn lười là hai yếu tố chính làm cho con người trở nên mập mạp và béo phì.
Cũng như sự mập mạp và to lớn của thể xác, sự mập mạp và to lớn thiêng liêng khiến nhiều người quá khổ để có thể lọt vào được cửa Thiên Đàng. Đi tìm nguyên nhân của chứng bệnh mập phì tâm linh, chúng ta cũng thấy mình thường vướng mắc vào hai yếu tố đã làm cho con người trở thành phì lũ thể xác, tức là tham lam ăn uống, và ươn lười hoạt động.
- Tham lam ăn uống: Người mập thường bao giờ cũng mắc chứng tham ăn uống. Không chỉ do yếu tố sinh lý mà còn do ảnh hưởng tâm lý. Một thân hình mập mạp, to lớn đương nhiên đòi hỏi nhiều thực phẩm. Và khi thực phẩm có trước mắt, thì ảnh hưởng tâm lý càng làm gia tăng cơn đói khát, khiến càng ăn càng thấy đói, và thèm ăn.
Trong lãnh vực tâm linh, người mắc chứng tham ăn cũng thấy mình tự nhiên thèm thuồng và đói khát. Đói khát và thèm thuồng danh vọng, quyền lực, giầu sang, và dục vọng. Có thể nói như người mắc chứng mập phì thể xác, càng thấy danh vọng, càng thấy quyền lực, càng thấy giầu sang, và càng thấy dục vọng, thì cơn đói và khát tâm linh cũng như tâm lý kia lại càng trổi dậy cách mạnh mẽ. Chính vì vậy, nhiều khi con người bị cào cấu, ngấu nghiến, hăng say chạy chọt, kiếm tìm và chiếm hữu cho được những thức ấy, hầu khỏa lấp cơn đói tâm linh.
Và trong khi tranh dành nhau những miếng ăn ấy, con người đã trở nên độc ác, hung dữ đến bất chấp lương tri. Ganh tỵ với người này người khác. Bực tức, và cuớp dật của người này, người khác. Sẵn sàng nhắm mắt trước những cơn đói khát chính đáng của đồng loại, miễn sao thấy mình no thỏa. Và từ đó, tấm lòng trở thành chai cứng. Trí óc trở nên hẹp hòi, và toan tính. Con người đã để mất sự nhẹ nhàng, nét vui tươi hạnh phúc, và sự bình an tâm hồn mà Chúa Giêsu đã nói đến trong bài giảng Tám Mối Phúc Thật: “Phúc cho những ai đói khát sự công chính” (Mt 5:6).
- Ươn lười hoạt động: Và rồi khi linh hồn trở nên mập phì , cũng là lúc linh hồn trở nên ươn lười và thụ động. Như ông phú hộ mà Thánh Luca đã ghi lại, người ta cũng tự nói với lòng mình: “Hãy ăn uống thỏa thuê. Hãy hưởng thụ” (Lc 12:19).
Đời sống tâm linh là một cuộc hành trình gian khổ. Đòi hỏi phải luyện tập và tự chế mỗi ngày. Như những người muốn có thân hình thon gọn và trẻ đẹp, cần phải tự chế và tập luyện. Họ không thể chỉ dựa vào những cuộc giải phẩu thẩm mỹ, hoặc những viên thuốc giảm cân.
Không! Vẻ đẹp của mình là phải do chính mình luyện tập. Nhưng một khi đã mắc chứng ươn lười, thì làm gì có thân hình thon gọn, trẻ đẹp. Và lúc ấy, cái tâm lý làm đẹp lại thúc đẩy con người chìm vào những ảo tưởng, ảo giác trong khi vẫn cứ tham lam ăn uống. Đó là tư tưởng dối gạt mình rằng, tôi còn trẻ. Tôi vẫn có thời giờ. Và lúc này tôi cần phải thành công, và có công danh sự nghiệp trước đã. Ngày mai sẽ lo.
Sự ươn lười và dối gạt mình ấy mục đích là để tránh né hy sinh, tự chế. Tránh chấp nhận thử thách và đau khổ trên đường hoàn thiện hóa cuộc sống. Tránh khỏi những kìm hãm, và cố gắng tâm linh. Nó khiến con người không còn lo đến phần rỗi mình. Không thực hành điều mà Thiên Chúa muốn mình phải thực hành và phải sống. Đời sống tâm linh, do đó, đã lịm chết, không còn sinh động và năng nổ như Chúa muốn nó sinh động và năng nổ.
Hãy vào cửa hẹp:
Lời Chúa hôm nay chợt thức tỉnh tôi, và cho tôi biết rằng, tôi không thể sống và hành động như tôi đang sống và hành động như hiện nay: Tham lam, đói khát, và ươn lười, thụ động. Sự tham lam, đói khát. Sự ươn lười, thụ động tâm hồn.
Những triệu chứng này, những lý do này chính là nguyên nhân khiến tâm hồn tôi trở thành phì lũ, trở thành béo mập quá khổ để rồi, tôi chỉ có thể đứng trước cửa Thiên Đàng mà nhìn vào với tâm hồn nuối tiếc.
Lậy Chúa, xin cho con biết tiết độ, biết chế ngự những ham muốn vật chất, và những cái chỉ thuộc về thế giới mau qua này, để đời sống con trở nên thanh thản, bình an và nhẹ nhàng. Để con có thể vào được cửa hẹp Nước Trời, để cùng với Mẹ Maria và muôn thần thánh đời đời ca vinh tình yêu Ngài. Amen.
T.s. Trần Quang Huy Khanh

 

TN 21-C77. CỔNG TRỜI KHÓ LÊN THẬT

CHA NHẬT 21 THƯỜNG NIN
Lc 13, 22-30
 

Cuộc đời đầy người giàu, đầy người khỏe, đầy người tài giỏi, đầy người nắm chắc quyền lực: TN 21-C77

          Cuộc đời đầy người giàu, đầy người khỏe, đầy người tài giỏi, đầy người nắm chắc quyền lực trong tay, đầy người khôn, đầy người đẹp, nhưng mà tất cả đều có một điều giống nhau, là dù có đẹp, có giàu, có giỏi, có khỏe mấy đi nữa, thì cũng không nhảy qua cái hố định mệnh, chỉ dài có 2 mét và rộng 7 tấc. Định mệnh đã viết sẵn cho kiếp người như thế. Nhưng mà, cái hố định mệnh ấy, chỉ là cái dấu chấm hết cho cuộc đời trần thế này thôi. Chứ chưa chấm dứt cuộc đời của con người, bởi vì băng ngang qua cái hố định mệnh ấy, gởi thân xác lại cho lòng đất giữ hộ, phần chính yếu của con người là linh hồn, sẽ bước vào cuộc sống bên kia, là kết quả cuối cùng của cuộc sống gian trần, mà đời sống gian trần là sự lựa chọn giữa tốt và xấu, giữa thiện và ác, giữa tình yêu và hận thù. Cho nên ở bờ bên kia, sẽ có nơi thưởng là Thiên Đàng, và nơi phạt là hỏa ngục.
          Người ta hỏi Chúa: Có đông người được vào Thiên đàng không? Chúa không trả lời, mà chỉ chỉ cho con đường chắc chắn để vào thôi. Đó là hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào. Cửa hẹp. Nói tới cửa, là nói tới lối đi vào. Nơi con người, có muôn vàn lối đi, lối đi của lý trí, lối đi của trái tim, lối đi của ngũ giác : xem, nghe, nếm, ngửi, sờ. Chúa nói, phải đi qua cửa hẹp thì tất cả những lối đi ấy, phải đi qua lối cửa hẹp cả. Vậy cửa hẹp là gì? Thưa :
          1- Là luôn chọn theo ý Chúa.
          Bà Eva hôm xưa, chỉ vì chọn ý mình, là con đường tự do phúng túng, cho nên đã bị loại trừ. Con người có tự do, nhưng tự do của con người thường được lựa chọn, theo dục vọng của mình. Vì thế, thường đánh mất phẩm giá của mình. Lựa chọn theo ý Chúa, là một điều khó khăn. Vì thế, Chúa bảo phải phấn đấu. Chiến đấu để thắng lợi, cần rất nhiều cố gắng, và mệt nhọc đớn đau.
          2- Cửa hẹp là phải biết từ bỏ.
          Thân xác con người, gắn liền với trần tục, xa hoa, hưởng thụ, ăn chơi, tiếng khen, tiền bạc, xa xỉ. Và tất cả các thứ đó, là những thứ rất hấp dẫn, và bám víu chặt chẽ với con người, chúng gây hỏa mù, để con người bỏ quên mất phần linh hồn và hạnh phúc đời sau. Cho nên, để có hy vọng bước vào cõi phúc vĩnh hằng, ta phải biết dứt bỏ, để không vương víu và kềnh càng, hầu linh hồn có thể nhẹ nhàng mà hướng thượng. Sự dứt bỏ nào mà chả đớn đau. Nhưng biết sao được, cái gì cũng có cái giá của nó. Muốn được cái hạnh phúc vĩnh cửu, người ta phải biết đánh đổi bằng những đau đớn của mình.
          Gợi ý suy niệm
1- Bạn thường chọn ý Chúa hay là ý của riêng bạn trong những quyết định của mình?
2- Sau mỗi từ bỏ, bạn có thấy mình cao thượng?
Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên

 

TN 21-C78. CỐ GẮNG MÀ VÀO QUA CỬA HẸP

Lc 13, 22 - 30
 

Nửa đêm có người đến kêu cửa giựt ngược : Xin cha làm phước mẹ con chết hụt mất! Không: TN 21-C78

Nửa đêm có người đến kêu cửa giựt ngược : Xin cha làm phước mẹ con chết hụt mất!
Không trả lời nhiều ít được. Vì nếu nói nhiều thì chắc có tội, khỏi lo. Nếu nói ít thí chắc không có tội rồi, khỏi lo! Cũng không vì một số điều kiện nhất định nào đó được. Không thể ra giá ơn cứu độ hay Nước Thiên Chúa bằng một giá nào nhất định được vì không phải là một món hàng vật chất có giá cả nhất định mà là một giá trị thiêng liêng vô giá, phải đổi bằng tất cả những gì mình có. Người ta muốn biết chắc một số điều kiện rồi cố chịu khó lo cho đủ, có tấm giấy bảo như "miễn tử bài" rồi tha hồ, giờ chót Chúa ban ơn trở lại , bảo đảm không sợ mất linh hồn Giữ 7 thứ sáu đầu tháng RTTT ĐCG bảo đảm giờ chót được ơn ăn năn trở lại hoặc 9 thứ 7 đầu tháng Trái tim vẹn sạch Đức Mẹ Maria cũng hứa như vậy..Rất nhiều người tin như vậy.
Hãy cố gắng. Chịu khó. Làm một hai chút trong một thời gian nào đó chưa gọi là cố gắng. Cố mà gắng là phải đeo bám luôn. Đá banh ngày nay là áp sát và đeo bám, hở chút là thua. Đội nào sức trẻ đeo bám tốt thì hạn chế được thất bại. Cố gắng thì phải liên lỉ,không sơ hở như CG nói "như người đợi chủ đi ăn cưới về". Có nhiều người tìm cách vào mà không vào được. Không phải tại cửa không vào được vì cửa là để cho mọi người vào, mà là tại có người không tìm thấy cửa, tìm chỗ không có cửa.
Vào qua cửa hẹp! Cửa hẹp khó vào. Nhưng hỏng chật đâu vì ít người thích vào. Cố gắng thì vào được.
Dể thì không đáng mấy xu. Càng khó càng đắc gía. Độ khó làm thành giá trị của phần thưởng cao vì có số điểm cao.
ĐG minh họa bằng dụ ngôn: khi chủ nhà đứng dậy khóa cửa lại các người còn đứng ở ngoài gõ cửa gọi xin mở thì ông sẽ trả lời "ta không biết các ngươi là ai". Giờ chót là vậy. Đợi giờ chót thì sẽ gặp như vậy đó! Dù có nhắc tới "chúng tôi đã từng ăn uống trước mặt ngài, ngài đã từng giảng dạy trên các đường phố chúng tôi. Năm cô trinh nữ không có dầu phải ra hàng mà mua, trở lai kêu cửa. Cũng nghe đáp "Ta không biết" một cách khô khốc! Nặng hơn, khốc liệt hơn: Cút! Đi khỏi mặt ta, đồ làm điều gian ác! Làm điều gian ác mà muốn vào được sao? Không làm điều Chúa dạy là làm điều gian ác.Thế gian không vào Nước Trời được vì là thế gian. Nước Trời là công chính, thánh thiện. Không làm điều Chúa dạy thì là làm điều gian ác, là thế gian. Ở ngoài mà khóc lóc nghiến răng nhìn thấy từ Nam chí Bắc từ Đông sang Tây thiên hạ tựu đến ăn tiệc sung sướng vô cùng còn con cái trong nhà thì bị bỏ ở ngoài.
Trước hết sẽ nên sau hết. Sau hết sẽ nên trước hết. Trước hết : Do thái rồi những kẻ chức cao quyền trọng, được nhiều đặc ân đặc lợi trong Giáo Hội. Hoặc tự ỷ là đạo dòng, con ông trùm ông câu gì đó!
Là câu trả lời cho những người giữđạo chót, sợ chết hụt.