Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 30 TN-C Bài 51-100 Tôn mình lên sẽ bị

Thứ tư - 23/10/2019 06:17
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 30 TN-C Bài 51-100 Tôn mình lên sẽ bị hạ xuống
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 30 TN-C Bài 51-100 Tôn mình lên sẽ bị hạ xuống
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 30 TN-C Bài 51-100 Tôn mình lên sẽ bị hạ xuống
TN30-C51: BẮT CHỨƠC CẢ HAI 3
TN30-C52: Đồi cao sẽ không giữ được nước, 4
TN30-C53: Xin chúa biến đổi lòng con. 5
TN30-C54: TIẾNG NÓI CỦA NGƯỜI NGHÈO.. 10
TN30-C55: Xin thương xót con- ĐTGM. Ngô quang Kiệt 14
TN30-C56: Hài lòng về mình hay về Thiên Chúa?. 16
TN30-C57: Tôi không giống tên kia! - Trần Mỹ Duyệt 17
TN30-C58: CẦU NGUYỆN VÀ SỐNG ĐẠO.. 20
TN30-C59: TẨU HOẢ NHẬP MA.. 24
TN30-C60: TÔI CÚI MẶT, LỜI NGUYỆN CẦU RẤT KHẼ.. 27
TN30-C61: CÚI MÌNH XUỐNG.. 30
TN30-C62: Cầu nguyện. 33
TN30-C63: Lời cầu nguyện khiêm nhường. 35
TN30-C64: Lời cầu nguyện đích thực. 37
TN30-C65: Tự hào. 40
TN30-C66: Tội lỗi chống lại sự có tội - McCarthy. 42
TN30-C67: Biệt phái và thu thuế. 44
TN30-C68: SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXX - 2001. 45
TN30-C69: CHÚA NHẬT THỨ 30 THƯỜNG NIÊN.. 47
TN30-C70: NGƯỜI KHIÊM NHƯỢNG CẦU NGUYỆN.. 52
TN30-C71: TỰ TRỌNG.. 54
TN30-C72: Chúa Nhật 30 Quanh Năm.. 57
TN30-C73: CHÚA NHẬT 30 QUANH NĂM, C.. 60
TN30-C74: CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN.. 64
TN30-C75: CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN.. 68
TN30-C76: ĐÂU LÀ CẦU NGUYỆN CHÂN THẬT?. 70
TN30-C77: CHÂN THÀNH.. 71
TN30-C78: KHIÊM NHƯỜNG DƯỚI BÀN TAY CHÚA.. 73
TN30-C79: TÍN THÁC VÀO LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA.. 75
TN30-C80: KHIÊM NHƯỜNG KHI CẦU NGUYỆN.. 76
TN30-C81: THÁI ĐỘ KHI CẦU NGUYỆN.. 78
TN30-C82: CẦU NGUYỆN KHIÊM NHƯỜNG.. 81
TN30-C83: Giải Mã. 83
TN30-C84: Khiêm Nhượng, Biết Mình. 87
TN30-C85: MÃNH LỰC LỜI NGUYỆN.. 89
TN30-C86: Tự công chính hóa chính mình một thái độ sai lầm.. 92
TN30-C87: Mũi nhọn xung kích – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống. 95
TN30-C88: Người thu thuế ra về được khỏi tội 99
TN30-C89: Người Pharisêu và người thu thuế – Vincent Travers. 102
TN30-C90: Nâng mình lên sẽ bị hạ xuống. 105
TN30-C91: Con mắt – Lm. Vũ Đình Tường. 107
TN30-C92: Chỉ công đức không mua được thiên đàng. 110
TN30-C93: Ai là người công chính?. 112
TN30-C94: Khiêm tốn. 116
TN30-C95: Người tín hữu. 118
TN30-C96: Hai con người – Hai thái độ. 119
TN30-C97: Lòng khiêm nhường sám hối 122
TN30-C98: Đối với Đức Giêsu, ai mới thực là công chính?. 124
TN30-C99: Người Pharisêu và người thu thuế. 127
TN30-C100: Khiêm tốn trong cầu nguyện. 129

 

TN30-C51: BẮT CHỨƠC CẢ HAI

Một vị linh mục giảng về người biệt phái tự phụ và người thu thuế khiêm nhu. Mọi người đều cảm: TN30-C51

Một vị linh mục giảng về người biệt phái tự phụ và người thu thuế khiêm nhu. Mọi người đều cảm kích, nhất là Joe và Brown, hai anh quyết định không giống những người biệt phái hay bất kỳ ai khoe khoang: “Lạy Chúa, con cám ơn Chúa vì con không giống như người kia”. Ngay sau thánh lễ, Joe đến bắt tay cha sở và nói với Ngài: “Thưa cha, cha giảng hay quá”. Thế rồi anh thêm: “Cám ơn Chúa, con không giống người biệt phái kia”.
Joe đã không ý thức rằng: anh vừa mắc cái tội phô trương, cái tội tự coi mình hơn một người nào khác.
Đó chẳng phải là thái độ của nhiều người chúng ta khi nghe dụ ngôn này đó sao ? Chúng ta tự khen mình rằng chúng ta không phô trương như người biệc phái: chúng ta đánh ngực thú nhận rằng: chúng ta là kẻ có tội xin ơn tha thứ. Thái độ đó lại chính là cái lỗi đức Kitô cảnh cáo.
Đức Kitô không biết tội người biệt phái về những gì họ đã làm, nhưng về thái độ phô trương của họ về những việc làm ấy. Đức Kitô cũng chẳng nói rằng người biệt phái không làm được việc gì tốt.
Trong ngôn ngữ Chúa Giêsu dùng có nghĩa là: “Người này (người thu thuế) trở về nhà được công chính hóa hơn người kia (người biệt phái).
Chúng ta có thể học hỏi cả hai người, người biệt phái và người thu thuế. Người biệt phái không lừa đảo, không gian lận, không ngoại tình. Bạn có giữ giới răn của Chúa như vậy không ? Họ ăn chay tuần lễ hai lần. Bạn đã làm gì để đền tội ? Họ dâng cúng một phần mười những gì họ có. Bạn dâng cúng được bao nhiêu so với họ ? Bạn học hỏi người biệt phái những việc tốt họ đã làm. Nhiều người công giáo noi theo họ, chúng ta giữ mọi giới răn của Chúa và kỷ luật của Giáo hội. Nhưng chúng ta khinh khi những người không giữ. Đừng bắt chước người biệt phái ở điểm sau.
Hầu hết chúng ta cảm thấy dễ chịu với người thu thuế, anh là tội nhân, chúng ta cũng vậy, anh thống hối ăn năn vì tội lỗi của mình, chúng ta cũng thế, anh xin Chúa đoái thương tha thứ cho anh, chúng ta cũng thế.
Đặc biệt chúng ta hãy làm điều này trong thánh lễ. Ngay từ đầu lễ, chuẩn bị dâng thánh lễ chúng ta đã nhớ đến tội lỗi của mình. Chúng ta thú tội cùng Thiên Chúa, cùng Mẹ Maria và tất cả Thánh. Chúng ta xin ơn tha thứ. Chúng ta kêu cầu: xin Chúa thương xót chúng con. Trong kinh Tin kính, chúng ta tuyên xưng niềm tin vào ơn tha tội. Cùng với linh mục chúng ta dâng Máu Thánh Chúa đã đổ ra để “ban ơn tha tội”, “Xin thương xót tất cả chúng con. Ngay trước khi rước lễ chúng ta thưa với Chúa: “Lay Chúa, con chẳng đáng”. Ước chi lời cầu nguyện của người thu thuế là lời cầu nguyện của mỗi người chúng ta: “Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ có tội”.
Hãy bắt chước người biệt phái trong những việc tốt họ làm, nhưng đừng bắt chớc họ khoe khoang. Hãy cố gắng làm điều đẹp lòng Chúa, nhưng đừng phô trương. Hãy bắt chước người thu thuế trong tinh thần thống hối ăn năn. Hãy bắt chước người thu thuế khi bạn tham dự thánh lễ, vì thánh lễ đem lại ơn tha tội.
Xin Chúa chúc lành  bạn. Amen.

 

TN30-C52: Đồi cao sẽ không giữ được nước,

dưới chỗ trũng sâu sẽ có nhiều nước
VietCatholic News (21/10/2004 )
CN XXX TN, 23.10.2004, Lc 18, 9-14

Đồi cao sẽ không giữ được nước, dưới chỗ trũng sâu sẽ có nhiều nước

Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống. Còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18, 14)

 

Chính lời Chúa Giêsu dạy bảo những kẻ luôn hợm mình, tự cao tự đại, cho mình rất là quan trọng và: TN30-C52

Chính lời Chúa Giêsu dạy bảo những kẻ luôn hợm mình, tự cao tự đại, cho mình rất là quan trọng và coi khinh kẻ khác. Trong trường hợp cụ thể này, Chúa Giêsu muốn nói thẳng với những người Pha-ri-sêu luôn nghĩ rằng họ đạo đức hơn bao nhiêu người khác chung quanh. Vì trước Thiên Chúa quyền năng cao cả muôn trùng, con người thật chẳng là gì, nếu không có tình yêu thương của Thiên Chúa tác sinh và bảo tồn, thì làm sao người ta có thể tự mình sinh ra làm người ở trần gian? Ai ai cũng bắt đầu kiếp sống con người một cách rất mong manh yếu đuối của một trẻ sơ sinh đỏ hỏn, không thể tự chăm sóc cho chính mình được, bởi lúc bấy giờ vẫn chưa có khả năng nhận biết mình là ai, nhất nhất mọi chuyện đều hoàn toàn lệ thuộc vào sự nâng niu bảo bọc của cha mẹ. Đấy cũng chính là hình ảnh mong manh yếu ớt của con người trước mặt Thiên Chúa, cho dù người đời có khôn lớn và phát triển được nhiều khả năng tiềm ẩn nơi mình, người ta vẫn không thể sống mà không cần đến tình thương của Ngài. Và mức độ tình thương của Chúa dành cho mỗi người hẳn là bằng nhau, bởi vì nó được tuôn tràn ra từ một trái tim dạt dào yêu thương và chí nhân chí từ của Thiên Chúa duy nhất. Và tình thương của Ngài ban cho con người là hoàn toàn vô điều kiện, nghĩa là Ngài ban ơn là vì Ngài thương, chứ không phải Ngài ban vì người đó tốt hay không ban vì người đó xấu.

Nhưng hiệu quả ơn thánh của Thiên Chúa tác động nơi mỗi con người lại khác nhau, nó tùy vào tấm lòng chân thành của mỗi tâm hồn biết đáp trả lại tình thương của Chúa hay không? Nếu người ta không nhìn nhận những ơn huệ tốt đẹp đó là từ Thiên Chúa, mà lại cho đó là do chính tự sức mình tạo nên được, dẫn đến việc không tin vào Thiên Chúa, rồi bất hợp tác với Ngài; làm sao ơn thánh của Chúa có thể hoạt động được? Trái lại, ai biết nhìn nhận sự hèn kém yếu đuối của mình trước mặt Thiên Chúa, tin rằng mọi điều tốt đẹp ta đang có đều xuất phát từ tình yêu vô hạn của Thiên Chúa, rồi luôn thiết tha gắn bó để hợp tác với công trình lâu dài của Ngài, thì chắc chắn ơn thánh Ngài sẽ hoạt động mạnh mẽ và sinh hoa kết quả gấp bội.

Ơn thánh Chúa tuôn đổ trên loài người không phân biệt chẳng khác chi mưa sa từ trời cao; những tự ai nâng mình lên là những chỗ cao, những đồi non không thể giữ được nước. Ngược lại, những ai biết rõ thân phận hèn yếu của mình, ví như những chỗ trũng sâu, càng sâu càng chứa đựng được nhiều nước. Đó cũng là kết quả tất nhiên do thái độ riêng của mỗi cá nhân dành cho Thiên Chúa, khiến Ngài phải tôn người tự hạ và hạ kẻ tự tôn.

Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ

 

TN30-C53: Xin chúa biến đổi lòng con

(Lc 18, 9-14)
 

Tuần này chúng ta tiếp tục đề tài cầu nguyện, nhưng nhìn từ khía cạnh khác. Tuần trước, kiên trì nài nỉ: TN30-C53

  • Tuần này chúng ta tiếp tục đề tài cầu nguyện, nhưng nhìn từ khía cạnh khác. Tuần trước, kiên trì nài nỉ. Tuần này thái độ, trong dụ ngôn người thu thuế và người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện. Nhìn chung, câu chuyện thật buồn và mang tính cảnh giác cao, không nên tự mãn kể công, nhưng phải chân thật thú nhận tội lỗi tự đáy tâm can.
Thưa quý vị,

Người biệt phái trong Tin Mừng hôm nay dự tính bắt bí Đức Chúa Trời. Trong lời cầu nguyện, ông ta khoe với Ngài là ông ta vượt xa người Do thái khác về lòng đạo đức. Theo luật lệ thì chỉ buộc ăn chay trong ngày đền tội (the Day of Atonement). Nhưng ông ăn chay một tuần hai ngày. Cũng theo luật lệ thì người Do Thái chỉ buộc nộp thuế thập phân trên súc vật và thực phẩm quý báu. Đằng này, ông nộp trên mọi thu nhập của gia đình. Như thế không những ông nộp thuế để duy trì đền thờ, các hoạt động tôn giáo mà còn góp phần vào công việc từ thiện, bác ái. Ai có thể chê bai ông được? Cứ theo tiêu chuẩn ngày nay thì chúng ta phải xếp ông vào bậc ân nhân trong giáo xứ, đáng nêu gương cho tín hữu khác noi theo. Nhưng khi ra khỏi đền thờ lại bị Chúa Giêsu đánh giá không được nên “công chính” như người thu thuế. Vì ông đã đi sai con đường Ngài muốn. Tức con đường chân thật mà mọi người phải có trước mặt Đức Chúa Trời. Ông đã tự lừa dối khi cầu nguyện. Ông đã nâng mình lên làm gương mẫu cho người khác, trong khi trước mặt Giavê mọi người chỉ là tội nhân, phải khiêm nhường ăn năn thống hối.

Câu chuyện thật đáng sợ, làm các tín hữu năng đi nhà thờ phải nổi da gà, sởn tóc gáy, lạnh xương sống. Bởi chúng ta cũng hành động như ông Biệt phái, cũng bỏ tiền rộng rãi vào giỏ lạc quyên, cũng đóng góp to lớn vào quỹ xây dựng thánh đường, các công trình nhà xứ, các hội từ thiện bác ái. Hơn nữa chúng ta cũng từng xung phong trong các công việc chung. Vậy thì còn thiếu điều chi? Thực tế chúng ta đã được hàng xứ công nhận, chiếm được lòng tin cậy của họ và có thể là chỗ dựa cho nhiều người. Tất cả đều là gương mẫu. Vậy mà dụ ngôn hôm nay vẫn ám chỉ về chúng ta, vẫn làm cho chúng ta nao nao. Cho nên cần xem lại cách sống đạo của mình, thái độ của mình đối với người khác, nhất là các động lực thúc đẩy mình thi hành bổn phận đạo đức. Chúng ta gia nhập đoàn hội nhằm mục tiêu nào? Để tiến bộ thiêng liêng hay để khoe khoang, dùng người khác như bàn đạp ngõ hầu đạt tới danh vọng, địa vị, tiền tài. Xin hãy suy nghĩ kỹ hơn về ý nghĩa dụ ngôn, để nó soi sáng mình, nhất là tâm hồn cầu nguyện của mình.

Trước hết, một vài lời bênh vực ông Biệt phái. Trong xã hội Do Thái lúc ấy, các Biệt phái là những cột trụ đức tin trong đạo Môsê. Tình hình chính trị thì rõ ràng dân chúng phải sống khốn đốn dưới sự cai trị của người La- mã, và ảnh hưởng nặng nề của văn hoá ngoại lai, vô đạo. Nhiều ngươi Do Thái đã thoái hoá, lơ là lề luật tôn giáo, chạy theo nếp sống xa hoa vật chất, tương tự như một bộ phận tín hữu trong các đô thị lớn của chúng ta ngày nay. Việc giữ đạo của họ thực chất chỉ còn cái vỏ bên ngoài, bên trong là tiền bạc, dục vọng, tham sân si nặng nề. Trong bối cảnh đó, đảng Biệt phái quả là can đảm, đáng khâm phục, bởi họ sống chống lại trào lưu, tuân giữ lề luật Môisê, truyền thống của cha ông một cách nghiêm ngặt. Như vậy đáng lẽ họ được Chúa Giêsu yêu mến, lượng giá cao. Nhưng thực tế lại bị Chúa chê bai. Người Biệt phái trong dụ ngôn xem ra vượt xa lòng đạo đức của người tín hữu Do thái tốt, nhưng lại làm sai lạc ý nghĩa về Thiên Chúa và không biết trái tim Giavê nằm ở đâu. Chúa Giêsu chỉ cho ông (và cả chúng ta) trái tim Ngài nằm ở con người thu thuế hối cải. Rõ ràng hợp lý cách lạ lùng, không ai có thể tưởng tượng tới được. Xin lưu ý tính khoe khoang trong lời cầu nguyện của người Biệt phái, Phúc âm mô tả: “Ông ta đứng thẳng nguyện thầm rằng: Lạy Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác, tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.” Ông ta đâu có cầu nguyện, ông kể công trước mặt Đức Chúa Trời. Lời cầu của ông không hướng về Thiên Chúa, không mở lòng ra cho Ngài, không xin ơn tha thứ tội lỗi mà ông đã xúc phạm rất nhiều trong quá trình sống. Ông khoe mình và các việc lành ông đã thực hiện, ông kiêu ngạo, chỉ thích nghe kể về mình, bằng lòng với nếp sống “đạo đức” của mình, khinh dễ kẻ khác, cái nhìn của ông ta không thoát khỏi bản thân, tức trệch hướng. Chính ra ông phải nhìn lên Thượng đế để nhận ra lòng thương xót của Ngài trên bản thân ông. Đây cũng là cái lỗi chung của mọi tín hữu. Chúng ta thường xuyên không tạ ơn, ca ngợi Thiên Chúa khi cầu nguyện mà chỉ tập trung về mình, cầu xin cho các nhu cầu của mình hay của thân nhân, trong khi chính yếu chúng ta phải xin cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến… như Chúa Giêsu đã dạy trong kinh Lạy Cha.

Một trong các lý do cầu nguyện là để lắng nghe tiếng Chúa nói trong linh hồn, lay động chúng ta khỏi u mê, say đắm thế gian. Tức cầu nguyện để thay đổi mình, làm cho mình ý thức hơn về lòng thương xót của Chúa. Đấng đã kiên nhẫn tha thứ cho mình rất nhiều. Từ đó chúng ta rộng lòng cảm thông và tha thứ cho người khác. Họ cũng đang vật lộn để thay đổi bản thân. Người Pharisêu không nhận ra được giới hạn của mình, hay của nhân loại nói chung. Ông đã không nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa bao la, sẵn sàng tha thứ cho những ai thật lòng sám hối. Cho nên ông đã vội vàng phán đoán sai lệch về người thu thuế. Trong khi đó người thu thuế ý thức được mình tội lỗi, cần đến Thiên Chúa xót thương, giúp đỡ mình thoát khỏi tình trạng khốn khó. Ông không thể tự thân thoát ra khỏi ngục tù. Ông cầu xin Giavê tha thứ. Tâm trí ông hướng về trời cao, chứ không về mình, tin tưởng Thiên Chúa sẽ ra tay cứu giúp. Và bởi vì cầu nguyện thay đổi con người, cho nên hậu quả của hai người khác nhau. Người Pharisêu ở trong tình trạng cũ, không đổi thay. Người thu thuế trở về nhà thì được nên công chính. Ông đã ở trong tương giao hợp lý với Thiên Chúa. Mắt ông đã được mở rộng. Trái lại, người Biệt phái vẫn còn trong u tối của mình. Đây là bài học lớn cho mỗi tín hữu. Khi cầu nguyện chúng ta phải thay đổi, không đổi thay kể như không cầu nguyện. Câu nói của Chúa Giêsu chỉ rõ như vậy: “Người này khi trở xuống mà về nhà, thì được nên công chính rồi, còn người kia thì không”. Tức là ông vẫn y nguyên như cũ, vẫn tự lừa dối mình trong đường “thánh thiện” luật định, không thay đổi chi cả. Các tác giả chú giải thánh kinh đều đồng ý như vậy. Ví dụ J. Pirot viết bằng tiếng Pháp: “C’est-à-dire dans l’illusion de sa propre justice” (nghĩa là trong ảo tưởng về sự công chính riêng của mình) chứ không phải là sự công chính Đức Chúa Trời mặc cho nhờ bửu huyết của Chúa Giêsu. Nói cách khác, chưa được Chúa thương xót tha tội. Cho nên việc cải hoá khi nguyện cầu là tối quan trọng cho người tín hữu, bất kỳ là ai, giáo dân hay các đấng, các bậc tu sĩ, linh mục.

Thường thường, sau khi chữa lành một ai, Chúa Giêsu tuyên bố: “Lòng tin của ngươi đã chữa ngươi.” Như vậy đức tin là căn bản cho người ta nhận được ơn lành. Nó cho phép chúng ta tin cậy vào sự bảo đảm của Chúa Giêsu rằng Thiên Chúa về phe với mình. Ngài muốn cho chúng ta được lành mạnh. Tuy nhiên trong câu chuyện hôm nay, người thu thuế được Chúa thương tha thứ. Cuộc đời ông thay đổi lớn lao trong tâm hồn, nhưng chẳng có dấu chỉ nào bên ngoài. Khi hai người bước ra khỏi đền thờ, dáng điệu họ hoàn toàn giống như lúc họ tới. Thiên hạ vẫn trông thấy họ như ngươi bình thường. Ông Biệt phái vẫn đạo mạo, được dân chúng kính nể, ông về nhà ăn chay hai ngày một tuần, thứ hai và thứ sáu, nộp thuế thập phân rộng rãi trên nguồn lợi gia đình, giữ nghiêm ngặt các luật lệ tôn giáo. Còn người thu thuế, có lẽ cũng vẫn như trước. Nhưng chúng ta có thể dự đoán ông đã thay đổi nếp sống, tin tưởng rằng mình đã được Thiên Chúa thứ tha. Hạnh kiểm của ông khá hơn, đối xử với vợ con, tha nhân hiền hậu hơn theo tiêu chuẩn của lòng Chúa xót thương mà ông đã nhận được. Phúc âm không kể ra điều này, tất cả những chi chúng ta biết được là bề ngoài ông không thay đổi, vẫn bị đồng bào khinh bỉ như kẻ thu thuế tội lỗi. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã tuyên bố ông được công chính hoá, làm bạn hữu với Thiên Chúa, ở trong tương giao tốt lành với Ngài.

Căn cứ vào lời cầu nguyện của hai người, chúng ta nhận ra được sự khác biệt, nêu rõ tâm trạng của từng nhân vật trước tôn nhan Thiên Chúa. Người Biệt phái nói: “Tôi xin tạ ơn Chúa, tôi không như bao kẻ khác, tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, tôi dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của tôi”. Tất cả 5 chữ tôi, một sự khoe khoang không thể tưởng tượng, ông làm chủ lời cầu nguyện của mình. Còn người thu thuế khiêm nhường hơn, lời cầu xin của ông rất ngắn, chỉ vỏn vẹn như sau: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Ông không làm chủ mà chỉ là kẻ thụ ơn lòng xót thương của Thiên Chúa. Ông mở rộng lòng ra để đón nhận tình yêu Thiên Chúa vào lòng. Hai tâm trạng trái ngược nhau. Người Biệt phái bộc lộ mình là người tự cao, tự đại, điều khiển cuộc sống theo ý mình, là chủ trong tương giao với Thiên Chúa, không có chỗ cho Ngài hành động trong sinh hoạt của mình. Chúa Giêsu không ưa thái độ này, Ngài năng nêu tên họ như kẻ giả hình. Tôi đếm trong Phúc âm tất cả 15 lần: “Khốn cho các ngươi, hỡi những người Pharisêu và ký lục, các ngươi giả hình,…. (Lc 11,42). Trong cuộc sống riêng tư, có lẽ chúng ta vẫn thường mắc phải não trạng biệt phái, vụ hình thức, ích kỉ và tham lam. Bởi lẽ chất liệu để làm nên biệt phái vẫn còn đầy ắp trong Giáo Hội. Phải khó khăn lắm mới có thể lương thiện với ơn gọi của mình. Chúng ta cần Lời Chúa để gọt giũa tâm hồn. Vì Lời Ngài giải phóng ta khỏi lầm lạc, tự kiêu, ảo tưởng. Thực sự, đây là lúc chúng ta phải tỏ ra thành thật với chính mình và nhận ra ý định của Thiên Chúa muốn tưới gội ơn lành cho chúng ta, nhờ sự dẫn dắt của dụ ngôn hôm nay. Chúng ta luôn thất bại về luân lý trước mặt Thiên Chúa, không sống đúng với chương trình Ngài dự định cho mình! Vậy không thể nhận vị trí của người Biệt phái được: “Tôi không như bao kẻ khác, tham lam, bất chính, ngoại tình hoặc như tên thu thuế kia”. Câu thành ngữ thêm vào: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”. Thánh Luca đã nhắc đến một trường hợp khác, tức dụ ngôn các khách mời dự tiệc cưới (14,15). Thánh Matthêu viết khác đi một chút: “Những kẻ đứng trước tiên sẽ phải xuống hạng chót và kẻ hạng chót sẽ được lên hàng đầu.” Thiên Chúa thấu suốt mọi tâm can, sẽ lượng giá chúng ta theo tiêu chuẩn của Ngài, chứ không phải của thế gian. Ngài thấu rõ mọi hành động của chúng ta là do tư tưởng thực sự nào, chứ không phải dáng vẻ bên ngoài.

Do đó, xin thành thực với chính mình trước Thánh thể trong thánh lễ hôm nay. Chẳng một ai trong chúng ta là hoàn hảo trước mặt Thiên Chúa. Thánh thể không phải là chỗ để chúng ta lừa dối mình, sống trong ảo tưởng, vụ lợi mà là nơi để bày tỏ tấm lòng thành thật, lương thiện. Chúng ta đến trước mặt Chúa là để xin ơn tha thứ tội lỗi, ca tụng lòng thương xót của Ngài. Ngài ban lương thực để trợ giúp chúng ta thay đổi cuộc sống cho am hợp với đường lối Phúc âm hơn. Mặc dù bề ngoài không có chi đổi thay. Nhưng lương tâm được Ngài thanh luyện, dẫn dắt, trên con đường thánh thiện thực sự. Nhờ đó các hành vi bên ngoài có sự tiến bộ. Chúng ta sẽ trở nên lương thiện, ngay chính, bác ái, công bằng hơn. Bớt đi nhưng thói giả hình, lường gạt, quanh co, những tính hư nết xấu; rượu chè say sưa, ươn lười, hưởng thụ, ghen tương,… Nguyên do là bởi lúc này Thiên Chúa là chủ thể các lời cầu nguyện của chúng ta, chứ không phải đứng nghe chúng ta khoe khoang thành tích. Chúng ta sẽ là kẻ thụ hưởng ơn lành biến đổi, giống như người thu thuế trở về nhà được nên công chính. Có lẽ đó là ước nguyện của mọi tín hữu ngày nay vậy. Amen.

Lm. Jude Siciliano, OP.

 

TN30-C54: TIẾNG NÓI CỦA NGƯỜI NGHÈO

 [CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN NĂM C (28.10.2007)]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Trong xã hội loài người thì tiếng nói của người nghèo chẳng đuợc ai lắng nghe. Vì thế người nghèo: TN30-C54

Trong xã hội loài người thì tiếng nói của người nghèo chẳng đuợc ai lắng nghe. Vì thế người nghèo được xem là người “không có tiếng nói”. Nhưng trước mặt Thiên Chúa thì hoàn toàn khác: tiếng nói của người nghèo lại luôn được Thiên Chúa lắng nghe và đáp ứng. Đó là kinh nghiệm của người xưa đuợc chép lại trong sách Huấn Ca. Đó cũng là quan điểm của Chúa Giê-su trong câu truyện dụ ngôn hai người Pha-ri-sêu và thu thuế lên Đền Thờ cầu nguyện: một người được lắng nghe, một người không.             
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Lời Chúa trong Sách Huấn Ca (35,12-14.16-18): 12 Vì Đức Chúa là Đấng xét xử, Người chẳng thiên vị ai. 13 Người không vị nể mà làm hại kẻ nghèo hèn, nhưng nghe lời kêu xin của người bị áp bức. 14 Người không coi thường lời khấn nguyện của kẻ mồ côi, hay tiếng than van của người góa bụa.
                 16 Kẻ phục vụ Đức Chúa theo ý Người sẽ được Người chấp nhận, lời họ kêu xin sẽ vọng tới các tầng mây. 17 Lời nguyện của người nghèo vượt ngàn mây thẳm. Lời nguyện chưa tới đích, họ chưa an lòng. 18 Họ sẽ không rời đi bao lâu Đấng Tối Cao chưa đoái nhìn, chưa xét xử cho người chính trực và thi hành công lý.
(2) Bài đọc 2: Lời Chúa trong thư 2 của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi ông Ti-mô-thê (2 Tm 4,6-8.16-8): 6 Còn tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. 7 Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. 8 Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện.
         16 Khi tôi đứng ra tự biện hộ lần thứ nhất, thì chẳng có ai bênh vực tôi. Mọi người đã bỏ mặc tôi. Xin Chúa đừng chấp họ. 17 Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng. 18 Và tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử. Chúa sẽ còn cho tôi thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người ở trên trời. Chúc tụng Người vinh hiển đến muôn thuở muôn đời. A-men.
(3) Bài Tin Mừng: Lời Chúa trong Sách Tin Mừng theo Thánh Lu-ca (Lc 18,9-14): 9 Đức Giê-su còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: 10 "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế. 11 Người Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. 12 Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con. 13 Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi. 14 Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (Hc 35,12-14.16-18) là đúc kết một kinh nghiệm tôn giáo và tâm linh của dân riêng của Thiên Chúa đã được ông Giê-su, con ông Xi-ra (Hc 50,7), một người giầu có, học thức và từng trải ghi chép lại. Nếu trong xã hội các dân tộc khác, người nghèo bị thua thiệt trăm bề, thì trong dân riêng của Chúa, người nghèo được Thiên Chúa đối xử một cách ưu ái, yêu thương, vì nỗi khổ của họ được Thiên Chúa cảm thông và chia sớt. Lời cầu của họ được Thiên Chúa lắng nghe và nhận lời.
Qua đoạn của Sách Huấn Ca (35,12-14.16-18) này, một lần nữa chúng ta thấy Thiên Chúa luôn ở bên và như đứng về phía người nghèo, người bị áp bức, mồ côi, góa bụa. Tất cả những hạng ngườì này đểu bị thua thiệt về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị. Phẩm giá của họ thường bị tổn thương, tiếng nói của họ chẳng được mấy ai quan tâm, cứu xét, bênh vực. Họ chỉ biết dựa vào một mình Thiên Chúa mà thôi.
(2) Bài đọc 2 (2 Tm 4,6-8.16-8) là những lời chia sẻ rất riêng tư, thầm kín của Thánh Phao-lô với ông Ti-mô-thê là người con thiêng liêng, là môn đệ tín trung và cộng sự viên đắc lực của ngài. Thánh Phao-lô cho biết ngài đã kiên cường chiến đấu cho đức tin, cho đời sống tâm linh và ngài vững lòng trông cậy vào Chúa Giê-su, vào Thiên Chúa, là Đấng thấu suốt mọi sự, an tâm chờ đợi ngày gặp gỡ vào cuối đời.
            Trong đoạn thư thứ hai của Thánh Phao-lô gửi ông Ti-mô-thê (4,6-8.16-8), chúng ta được thánh nhân cho biết: Thiên Chúa là vị Thẩm Phán Chí Công, là Đấng sẽ tưởng thưởng cho những hy sinh, cố gắng của tất cả những ai đã tin tưởng và nỗ lực sống theo giáo huấn của Người.
(3) Bài Tin Mừng (Lc 18,9-14) là dụ ngôn Chúa Giê-su kể với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: hai người, một Pha-ri-sêu, một thu thuế, lên Đền Thờ cầu nguyện, nhưng khi ra về thì người thu thuế (bị coi là người tội lội) trở nên công chính còn người Pha-ri-sêu (được xem  là người đạo đức) thì không. Lý do là người thu thuế khiêm nhường tự hạ, nhìn nhận mình tội lỗi xin Chúa thứ tha; còn người Pha-ri-sêu thì tự kiêu về những việc làm đạo đức của mình mà khinh chê người khác, cụ thể là người thu thuế cũng lên Đền Thờ cầu nguyện vào lúc ấy. 
          Qua đoạn Phúc âm Lc 18,9-14 này chúng ta khám ra Thiên Chúa là Đấng có nhiều phẩm chất siêu việt như (a) thấu suốt mọi tâm hồn, (b) phán xử rất công minh (c) yêu chuộng sự thật và (d) quý trọng người khiêm nhu, tự hạ. 
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay chính là lời công bố của Chúa Giê-su cũng là câu kết của dụ ngôn: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
          Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta sống khiêm nhường, tự hạ chẳng những trước mặt Thiên Chúa mà còn trước mặt người ta nữa. Không phải là sống khiêm nhường, tự hạ một cách giả hình, bề ngoài mà là sống khiêm nhường, tự hạ một cách chân thật, tự đáy lòng.
          Muốn sống đuợc như thế, chúng ta cần được Thiên Chúa mở mắt, mở lòng để chúng ta nhận ra rằng: tất cả những gì chúng ta hiện có - sức khoẻ, thời gian, tài năng, của cải, hoàn cảnh và địa vị xã hội, chức vụ và trách nhiệm trong Giáo hội, đời sống tâm linh và các nhân đức- đều là ân huệ ‘nhưng không’ của Thiên Chúa ban cho chúng ta, để chúng ta lo cho phần rỗi của mình và giúp đỡ những người chung quanh.
IV. CẦU NGUYỆN  (Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân trong Thánh Lễ)
4.1 Chúng ta hãy cầu nguyện cho Hội Thánh, nhất là cho các vị lãnh đạo là Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XVI, các Giám Mục, các Linh Mục, Phó Tế và Tu Sĩ Nam Nữ, biết noi gương sống khiêm nhường, tự hạ của Chúa Giê-su Ki-tô, mà phục vụ mọi người lương cũng như giáo bằng tinh thần của người tôi tớ của Thiên Chúa.  
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.2 Chúng ta hãy cầu nguyện cho giáo xứ (cộng đồng/cộng đoàn) chúng ta, để mọi người nhận ra mình là người tội lỗi, thiếu sót và yếu đuối trăm bề mà sống khiêm nhường, yêu thương, hài hòa với mọi người trong giáo xứ (cộng đồng/cộng đoàn). 
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.3 Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người sống trong mặc cảm tội lỗi, do bị hoàn cảnh cá nhân và xã hội khống chế, để họ tìm lại được lòng tự tin và phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban cho họ từ khi họ bước vào đời!
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.4 Chúng ta hãy cầu nguyện cho những nạn nhân của cơn bão số 5 và nạn lụt tại Miền Trung Việt Nam, đang phải sống trong cảnh lầm than, thiếu thốn mọi thứ cần thiết, để họ tìm được sự trợ giúp vật chất cũng như tinh thần từ đồng bào các nơi để sống và xây dựng lại cuộc đời!
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.  Seattle ngày 15 tháng 11 năm 2007

 

TN30-C55: Xin thương xót con- ĐTGM. Ngô quang Kiệt

Hai người cùng lên đền thờ cầu nguyện. Nhưng kết quả thật bất ngờ. Người mà ai cũng kính: TN30-C55 FB

Hai người cùng lên đền thờ cầu nguyện. Nhưng kết quả thật bất ngờ. Người mà ai cũng kính trọng thì lại không được nhận lời. Người mà ai cũng khinh miệt thì lại được Chúa nhận lời và được công chính hóa. Qua dụ ngôn này, Chúa cho thấy lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa phải là lời cầu nguyện khiêm nhường.
Khiêm nhường không tự mãn.
Người biệt phái tự mãn vì những việc tốt mình làm được. Làm được việc tốt thật đáng khen. Nhưng cần phải nhận biết nguồn gốc việc tốt của mình. Biết nguồn gốc việc tốt phải khởi đi từ nhận biết nguồn gốc bản thân mình. Tôi có mặt ở đời là ơn Chúa ban. Tôi thừa hưởng một sức khỏe, một gia đình, một nền giáo dục, một nề nếp đạo đức, đó là ơn Chúa ban. Vì thế tôi làm được việc tốt cũng là ơn lành Chúa ban. Nếu tôi rơi vào một hoàn cảnh xấu, tôi có làm được việc tốt không? Rất khó. Vì thế đừng tự mãn khi làm được việc tốt.
Khiêm nhường không khinh người.
Người khiêm nhường nhận biết thân phận mình sẽ không dám khinh người. Tôi làm được việc tốt vì tôi có hoàn cảnh tốt. Người kia làm việc xấu vì họ không có hoàn cảnh tốt như tôi. Vì thế không nên khinh người. Hơn nữa, trong tinh thần bác ái huynh đệ, thấy người hèn kém tôi càng phải yêu thương, nâng đỡ. Thấy người tội lỗi yếu đuối tôi càng phải tế nhị kính trọng. Chúa Giêsu vẫn làm gương trân trọng người tội lỗi như đối với người phụ nữ ngoại tình, đối với Giakêu và cả đối với Giuđa nữa.
Khiêm nhường nhận biết thân phận tội lỗi.
Con người đâu có ai hoàn hảo. Huống hồ có những nết xấu đeo đẳng ta mãi không thể dứt ra được. Ta đã ngã đi ngã lại nhiều lần. Biết bao quyết tâm. Biết bao ơn Chúa. Biết bao lời cầu nguyện. Nhưng “một cái dằm” cứ nằm mãi trong thịt khiến ta đau nhức khôn nguôi. Ta không thể nào thoát khỏi tội lỗi. Vì thế tâm tình xứng hợp là khiêm nhường nhận biết thân phận tội lỗi của mình. Khiêm nhường nhận trước mặt Chúa. Khiêm nhường nhận trước mặt anh em. Đó là thái độ trung thực và đúng đắn.
Khiêm nhường xin Chúa ban ơn cứu độ.
Vì không thể tự mình thoát khỏi tội lỗi, không thể đạt tới ơn cứu độ, nên ta cần ơn Chúa. Không thể tự giải thoát, nên ta cần Chúa giải thoát ta khỏi ách nô lệ tội lỗi. Thân phận ta thật khốn cùng. Sức lực ta thật yếu đuối. Nên lời cầu nguyện đúng nhất là: “Lạy Chúa, xin thương xót con”. Tương truyền đó là lời cầu nguyện liên lỉ suốt đời của thánh Phêrô, vị Tông đồ trưởng, vị Giáo Hoàng tiên khởi.
Với lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con”, ta nhận biết mình không thể sống công chính tự sức riêng, nhưng chỉ được “công chính hóa” nhờ ơn Chúa. Với lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con”, ta nhận biết ta được ơn Chúa không phải vì ta xứng đáng nhưng vì được Chúa thương yêu. Với lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con”, ta nhận biết rằng lời cầu nguyện khiêm nhường là lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa.
“Lạy Chúa, xin thương xót con”
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1) Tôi có hay tự mãn vì mình sống tốt hơn người khác không? Thái độ này có đúng không?
2) Tôi có hay khinh miệt, lên án người khác không? Thái độ này có đúng không?
3) Tại sao tôi phải khiêm nhường khi cầu nguyện?
4) Tôi có một nết xấu thường phạm. Tôi đã xưng tội nhiều lần và quyết tâm chừa cải. Nhưng chứng nào tật ấy. Bạn có cảm nghiệm được điều này nơi bản thân không?

 

TN30-C56: Hài lòng về mình hay về Thiên Chúa?

Dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế, nói theo ngôn từ thời nay, có thể gọi là một tiểu luận: TN30-C56

Dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế, nói theo ngôn từ thời nay, có thể gọi là một tiểu luận chớp nhoáng về một sự tương phản. Đức Giêsu dạy chúng ta thái độ phải giữ trước mặt Thiên Chúa. Có hai thái độ: tự mãn của người biệt phái, ăn năn khiêm nhường của người thu thuế. Tự mãn về mặt đạo đức, nghĩa là hài lòng về mình, cho dẫu có ảo tưởng, đó cũng là một cách tạ ơn Thiên Chúa. Trái lại khiêm nhường chính là sáng suốt. Đức Giêsu nêu rõ sự tương phản mạnh mẽ giữa hai nhân vật tiêu biểu hai thái độ trên. Người kết thúc dụ ngôn bằng lời dạy về cách làm đẹp lòng Thiên Chúa. Một sắc thái quan trọng cần ghi nhận: hai người cùng lên đền thờ cầu nguyện. “Cầu nguyện” ở đây là gì? Cầu nguyện là muốn được Thiên Chúa nhìn nhận mình vô tội, mình là kẻ lành, tức là muốn được hưởng lòng nhân lành của Thiên Chúa. Căn cứ vào đâu mà người biệt phái cầu nguyện? Căn cứ vào những việc đạo đức, những việc tuân thủ, mà thật ra trong những việc ấy người biệt phái không phải là không tỏ ra ít nhiều độ lượng. Còn người thu thuế thì sao? Người này biết mình lắm tội nên chỉ trông cậy vào chính Thiên Chúa, vào lượng từ bi, vào tình yêu thương của Thiên Chúa. Một kẻ kể công, một người van xin. Đó là sự khác biệt rất có ý nghĩa giữa thái độ khép kín và tâm tình cởi mở. Chúng ta đặt vấn đề: Thái độ nào được Thiên Chúa từ bi nhân hậu chúc phúc? Chúng ta phải đối xử với anh em đồng loại như thế nào?
1) Thiên Chúa chúc phúc cho kẻ khiêm nhường tin cậy. Như vậy, khiêm nhường, xét về căn bản, là mở rộng tấm lòng đón lấy niềm vui. Hai yếu tố của khiêm nhường là sáng suốt và tin cậy. Sáng suốt cho nên biết rõ thực trạng lương tâm mình. Sáng suốt cho nên khám phá ra nỗi cực khổ lớn lao của mình, do đó có thể đâm ra thoái chí tuyệt vọng. Tuy nhiên vì tin cậy cho nên tâm hồn không bị lay chuyển. Khám phá ra nỗi cực khổ của mình trước con mắt Thiên Chúa, trong khi biết rõ Thiên Chúa là tình thương –đó là phương cách rất hữu hiệu để được Thiên Chúa thứ tha thương xót. Nếu chúng ta thành thật, nghĩa là thực tế quyết tâm muốn ra khỏi hoàn cảnh khốn khổ, thì sau khi than thở với Thiên Chúa, trên đường ra về chúng ta được Người dõi theo với đầy lòng nhân từ thương mến, chúng ta sẽ có được niềm vui sâu rộng nhất.
2) Thái độ tự mãn, hài lòng về mình, ngang nhiên trước mặt Thiên Chúa, ngang nhiên trước mặt tha nhân, là điều làm mất lòng Người. Trong chúng ta ai mà không có lúc muốn cho mình là tốt, là hoàn hảo trước mặt tha nhân? Chúng ta có thật tâm chọn lấy thái độ khiêm nhường làm đẹp lòng Thiên Chúa không? Chúng ta rất dễ sa vào cơn cám dỗ muốn đề cao mình. Chúng ta làm một trắc nghiệm: gặp trường hợp bị người ta coi rẻ, chúng ta phản ứng thế nào? “Chừng nào đến lúc người ta không khen ngợi mình như mình mong đợi, mà lại làm phật ý mình, lúc đó càng tỏ ra nhũn nhặn kiên nhẫn bao nhiêu mình càng thật sự có những đức tính ấy bấy nhiêu, chẳng có gì khác hơn” (thánh Phanxicô). Cũng như khiêm nhường tin cậy thì đẹp lòng Thiên Chúa, nhũn nhặn thành thật thì đẹp lòng người ta. Cả hai thái độ đều mở rộng trí óc và tâm hồn để đón tiếp, trao đổi, vui sướng.

 

TN30-C57: Tôi không giống tên kia! - Trần Mỹ Duyệt

 “Tôi không giống các người khác hay như tên thu thuế kia” (x. Lc 18:9-).  
 

Nhưng những người khác và tên thu thuế kia là ai? Là những kẻ tham lam, bất công, ngoại tình. Hoặc nếu: TN30-C57

Nhưng những người khác và tên thu thuế kia là ai? Là những kẻ tham lam, bất công, ngoại tình. Hoặc nếu nhìn vào xã hội ngày nay, thì đó là những tên đầu trộm đuôi cướp, đĩ điếm, nghiện ngập, xì ke, ma túy, cờ bạc. Hay những tên bần cùng khố rách, áo ôm. Những tên đầu đường xó chợ, thất học, và dốt nát. Vâng, đó không phải là tôi. Đó không phải là những kẻ mà tôi coi là bạn hữu, là những kẻ được hân hạnh giống như tôi, hoặc đứng bên tôi. Chúng đứng sau tôi, xa tôi, và khép nép dưới kia.  
Còn tôi thì sao? “Tôi ăn chay mỗi tuần hai lần và dâng cúng một phần mười tất cả các hoa lợi của tôi” (Lc 18: 12). Cũng có thể diễn dịch nôm na, tôi là một Kitô hữu đạo đức. Tôi là người đóng góp nhiều nhất công sức, thời giờ và tiền bạc cho xã hội này, cho cộng đoàn này, và cho giáo xứ này. Là người mà không có tôi chắc chắn thế giới sẽ cô liêu, sẽ tụt hậu, và sẽ tồi tệ lắm. Là người mà nếu không có tôi thì đoàn thể này, giáo xứ này không thể phát triển và tồn tại được.
Vậy mà sao trong Thánh Kinh, những thứ tham lam, bất công, ngoại tình. Những tên đầu trộm đuôi cướp, đĩ điếm, nghiệp ngập, cờ bạc; những tên bần cùng, khố rách áo ôm kia lại được Chúa đoái thương nhìn đến. Được tha tội, và được công chính.   
Chúa có lầm không? Hoặc ngài đối xử không công bằng? Thật vậy, nếu Chúa nhìn thấy tất cả, nếu Ngài thật sự công bằng, và nếu Ngài còn biết sự khác biệt giữa một người hy sinh ăn chay tuần hai lần và người không ăn chay lần nào. Giữa người dâng cúng 1/10 những gì mình có và người không dâng cúng gì, thì ít ra Ngài cũng phải thưởng cho những cố gắng và hy sinh ấy chứ? Vậy tại sao kẻ dâng cúng, người ăn chay lại không được tha tội, không được công chính, còn kẻ lười biếng không ăn chay, cũng không hề dâng cúng gì lại được xót thương và tha tội. 
Thật ra, cái làm nên sự khác biệt đó chính là tâm tư, thái độ, và lối nhìn của tôi, người tưởng mình đã làm, đã hy sinh, và đã xứng đáng với những việc lành thánh, tốt đẹp ấy. Nhiều lần tôi đã chẳng lớn tiếng hơn cả người Pharisiêu kia khi đòi phải rao tên tôi trong thánh lễ khi bỏ ra 20, 50, hoặc 100 đôla xin lễ. Tên tôi phải có trong danh sách những vị ân nhân. Phải được khắc bảng đồng, và tôi phải là người được lãnh bằng khen, hay bằng ân nhân. Làm vậy vì tôi tưởng tôi xứng đáng, một sự xứng đáng tách lìa tôi khỏi những thành phần mà tôi cho là thua tôi, không bằng tôi, và không xứng đáng như  tôi.    
Những lúc nghe tên mình được rao trong thánh đường. Những lúc thấy tên mình được khắc vào tấm bảng đồng ở cuối hội trường, ở cuối thánh đường, hoặc những lúc tôi tiến lên bằng một vẻ trịnh trọng, đầu hơi cúi xuống cho có vẻ khiêm tốn lãnh cái bằng tưởng lệ, nhưng rồi lại dơ cao lên như cho mọi người biết là qua tấm bằng khen ấy, tôi đã đóng góp công sức, tài năng, thời giờ cho những công việc lớn lao của xã hội, và giáo hội.  
Những lúc như vậy, tôi thật khó lòng kiềm hãm mình mà không nẩy ra một vài hình ảnh so sánh trong trí óc, như ông Pharisiêu nọ. Những lúc như vậy, tôi tự thấy mình cao cả hẳn ra, đạo đức, và khiêm nhượng hẳn ra. Tôi thấy mình có cái gì hơi khác và không giống như  những tên nọ, tên kia. Không giống như ông này, bà nọ. Tôi thấy tôi đạo đức hơn, thánh thiện hơn, sốt sắng hơn, và cũng có thể là giầu có và sang trọng hơn. Rồi từ những cái khác thường ấy, những cái hơn ấy, tôi thấy mình quan trọng và không thể thiếu được, không thể vắng mặt trong mọi sinh hoạt của xã hội, của cộng đồng, của giáo xứ, và của hội đoàn.  Tôi cảm thấy tôi có đủ nghị lực và tài đức. Có đủ sáng suốt, mạnh mẽ và hy sinh để “can đảm vác thánh giá” theo chân Chúa. Những lúc được đề cử, được tín nhiệm, và được bầu chọn vào chức nọ, chức kia, nếu có ai bảo tôi hy sinh “bỏ thánh giá”, lập tức tôi phản ứng ngay và cho rằng những người như thế không có lòng đạo đức, không can đảm và không dám “tử đạo”, không dám chết vì Chúa, vì anh chị em mình.  
Hy sinh vác thánh giá chứ không hy sinh bỏ thánh giá. Đó cũng là tâm trạng của tôi mỗi khi cầu nguyện và mỗi khi cần để chứng tỏ mình hơn người như ông Pharisiêu nọ mặc dù tôi biết làm như vậy là Chúa phật lòng. Coi thường anh chị em mình là không khiêm nhường. So sánh mình với người này, người khác để đề cao mình là kiêu ngạo. Cho mình đạo đức hơn người này, người khác là không đạo đức. Thế nhưng tôi vẫn không muốn xuống khỏi thánh giá. Thánh giá của địa vị, của quyền lực, và của danh vọng. Thánh giá được làm chủ tịch, được làm trưởng ban, được làm thế này, thế khác. Ai cũng bảo làm những việc ấy, giữ những chức vụ ấy là “vác thánh giá”, nhưng mà Chúa vẫn cứ phải vác thánh giá có một mình. Họa may thỉnh thoảng chỉ gặp một vài Simêon ghé vai vào, nhưng khổ cho Chúa, tìm mãi mà không thấy Simêon đâu cả, mà chỉ thấy những kẻ muốn ôm trọn thánh giá để rồi chả có ai rảnh mà vác hộ Chúa lấy một đoạn đường. 
Cầu nguyện, sống đạo với tâm trạng như vậy thử hỏi làm sao Chúa không buồn. Làm sao Chúa có thể tha thứ cho tôi. Làm sao Chúa có thể biến tôi nên công chính được. Vì tôi có thấy mình lỗi lầm gì đâu mà cần Chúa tha tội. Tôi tự trong cuộc sống đã là tốt lắm rồi. Dâng cúng 1/10 của cải mình, thì cần gì để Chúa phải làm thêm cho tôi nên công chính.
Ôi! Sao tôi khờ dại, và u mê quá. Sao tôi tự ái và cao ngạo quá! Cao ngạo như thế, u mê như thế thì làm sao Chúa có thể thánh hóa và làm cho tôi trọn lành thêm lên được một chút. Cao ngạo như thế, tối tăm như thế thì ánh sáng lời Chúa làm sao có thể lọt vào và soi chiếu tâm hồn tôi được. Làm sao tôi có thể bằng an được trước mặt Chúa.  
Tôi không giống như tên kia. Nhưng tên kia lại là tên được Chúa yêu, Chúa thánh hóa, và Chúa tha thứ. Bởi vì hắn có tấm lòng khiêm nhường. Hắn thấy mình có lỗi nên không dám huênh hoang. Hắn thấy mình yếu đuối nên không dám vỗ ngực tự hào. Hắn đã biết khiêm tốn và tin tưởng ném những yếu đuối, tội lỗi của mình vào biển lửa tình yêu vô tận của Chúa, để được Chúa xót thương và thánh hóa.   
Lậy Chúa, xin cho con có tâm hồn và đời sống khiêm tốn. Khiêm tốn trong hành động. Khiêm tốn trong lối sống. Khiêm tốn khi làm các việc đạo đức. Khiêm tốn cả khi biết mình yếu đuối và sa ngã. Và nhất là xin cho con có tâm hồn khiêm tốn để tìm được sự tha thứ và bình an của Chúa.  

 

TN30-C58: CẦU NGUYỆN VÀ SỐNG ĐẠO

 (CN 30TN – 2Tm 4, 6-8. 16-18; Lc 18, 9-14)
          “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18, 8)
 

Một lần nữa, nhịp đập trái tim yêu thương của Chúa Giêsu lại rộn rã trong trái tim tôi. Người mời: TN30-C58

Một lần nữa, nhịp đập trái tim yêu thương của Chúa Giêsu lại rộn rã trong trái tim tôi. Người mời gọi tôi cùng rung lên với tình yêu kỳ diệu của Người. Tôi lắng nghe đựơc lời tình tự của Người trước “khi Con Người ngự đến”, trước khi Người “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” là:
          “Đây là điều răn của Thầy:
          Anh em hãy yêu thương nhau
          như Thầy đã yêu thương anh em.
Không có tình thương nào cao cả
hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng
 vì bạn hữu của mình.
Anh em là bạn hữu của Thầy,
nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dậy”. (Ga 15, 12-14)
Và để cho thấy thế nào là người có lòng tin vào “Con Người ngự đến”, Đức Giêsu đã đưa ra dụ ngôn với hai hình ảnh rất biểu tượng vào thời của Người để tôi soi rọi mà biết sống theo chân lý của Người.
Người không có lòng tin đích thực là người không sống theo ánh sáng Lời Chúa, không sống theo sự thật, họ là “người tự hào cho mình là người công chính mà khinh chê người khác” (Lc 18, 9).
 Đời sống của Pharisêu được thể hiện rất rõ bởi vì “họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ lại không buồn động ngón tay vào. Họ làm mọi việc cốt là để cho thiên hạ thấy” (Mt 23, 4-5). Chính vì họ sống thiếu tình người, thiếu nhiệt huyết như thế nên họ cầu nguyện huyênh hoang tự hào như Đức Giêsu nêu bật trong dụ ngôn:
“Người Pharisêu đứng riêng một mình, cầu nguyện rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”. (Lc 18, 11-12)
Ngay trong cuộc sống của “người tự hào cho mình là người công chính mà khinh chê người khác”, được thể hiện rất rõ là “họ nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ” (Mt 23, 14) và rồi thì “bên ngoài có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong tòan là giả hình và gian ác” (Mt 23, 28). Cũng vì sống kiêu căng tự đắc đến như thế mà ngay trong tư thế cầu nguyện, ông cũng đứng riêng một mình, tách biệt ra khỏi những người khác, đúng như nguyên ngữ Pharisêu (Biệt Phái) mà xã hội đặt thành tên gọi cho họ. Ông ta lại còn tự hào về việc giữ luật của mình và bảo đảm được coi là người công chính và không cần trông chờ điều gì khác nữa từ Thiên Chúa.
Đó là cung cách sống mà Đức Giêsu muốn tôi xét lại mình vì Người khẳng định:
“Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18, 14).
Còn người có lòng tin “khi Con Người ngự đến” mà Đức Giêsu nói đến là người thu thuế. Sau khi đã lắng nghe và nhận ra ánh sáng Lời Chúa chiếu soi tận sâu trong lòng mình, người này đã ăn năn về những lỗi phạm đối với những người anh em đồng hương trong quá khứ, bởi ông ta đã chỉ vì ham lợi nhuận mà tiếp tay với người Rôma để trấn lột, áp bức những người thân cận của mình. Cũng như ông Dakêu, khi được ánh sáng Đức Kitô chiếu rọi, ông đã thành thật sám hối cùng khai báo tận đáy lòng: “Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19, 8)
Và một khi người thu thuế nhận ra mình xúc phạm đến tha nhân, ông ta đã khiêm hạ ăn năn thống hối, đã cảm thấy bất xứng. Nên ông ta “đã chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực, vừa thưa rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18, 13).
Rồi “người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi”. Đó là lời Đức Giêsu xác tín và mừng vui như nói với ông Dakêu rằng: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này... vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19, 10).
Suy tới đây, tôi nhớ lại lời thánh Phaolô khuyên dậy rằng:
“Anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, và hãy sống trong tình bác ái như Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta và vì chúng ta, đã nộp mình làm hiến tế, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt” (Ep 5, 1-2).
Và để bắt chước như “Con Người ngự đến”, thánh Phaolô đưa ra một phương thức mà chính ngài đã sống:
“Khi tôi đứng ra biện hộ lần thứ nhất thì chẳng có ai bênh vực tôi, mọi người đã bỏ mặc tôi. Xin Chúa đừng chấp tội họ. Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành và tất cả dân ngoại được nghe biết Tin Mừng” (2Tm 4, 16-17)
Quả thật, thánh Phaolô đã được Ánh Sáng Đức Kitô tràn ngập trong tâm hồn nên ngài đã bắt chước mà cầu nguyện: “xin Chúa đừng chấp tội họ”, khi ngài bị bỏ rơi. Lại nữa, ngài đã suy đi nghĩ lại trong lòng Lời Chúa truyền dậy cũng như sống kết hợp cầu nguyện mật thiết với Đức Kitô, nên ngài đã mạnh dạn nói rằng: “có Chúa đứng bên cạnh, Người ban sức mạnh cho tôi”.
Nhờ chiêm ngắm trái tim sống “yêu thương đến cùng” của Đức Giêsu trước khi “Con Người ngự đến”, cũng như nhìn vào mẩu gương “sống theo sự thật, trong tình bác ái” và cầu nguyện kiên trì của Tông Đồ Dân Ngoại, tôi cảm nghiệm được lời của thánh Ôrigênê thật quí giá, khi ngài nói:
“Ai cầu nguyện liên lỉ cũng biết kết hiệp kinh nguyện với việc làm và việc làm với kinh nguyện. Chỉ như vậy, chúng ta mới thực hiện được nguyên tắc cầu nguyện liên lỉ”.
Mới đây, tôi đọc được vài dòng tâm huyết của cố linh mục Giuse Trần ngọc Châu, giáo phận Qui Nhơn, khi ngài nói đến vai trò của các linh mục trong việc truyền giáo vào tháng 4 năm 1999 như sau:
“Linh mục chúng ta có thể đóng vai trò tạm ổn trong việc giúp cho người tín hữu giữ sinh hoạt tôn giáo truyền thống họ đạo, như dâng Thánh Lễ, ban Bí Tích nói chung, điều hành người giáo dân trong họ đạo sẵn có. Nhưng việc giảng đạo, truyền giáo cho anh em bên lương rất khó, lắm lúc linh mục chúng ta chưa được chuẩn bị thích đáng. Thời các thánh Tông Đồ, Chúa ban cho các Đấng làm được những điềm thiêng dấu lạ, quyền trừ quỷ. Ngày nay có ma quỷ hiện diện, tung hoành mang nhiều cách thức lắm. Linh mục chúng ta chưa thánh đủ, thiếu cầu nguyện cũng như ăn chay hãm mình, chưa chân tu, nên khó trừ quỷ, khó thành công trong việc truyền giáo. Đạo Chúa chậm phát triển, một phần do tự mình, do linh mục chúng ta, dù nghiên cứu, tìm tòi, canh tân đủ thứ, nhưng chưa chân tu đầy đủ. Số linh mục có thể ngày càng đông đảo, nhưng chưa tu hành đúng mức, chưa trở nên Chúa trọn vẹn, nên khó thành công trong việc truyền giáo!”
Trước tâm tình của cố linh mục Giuse thánh thiện và đạo đức, tôi chỉ còn biết tha thiết dâng lên Thiên Chúa là Cha cùng với mọi người lời nguyện xin cho các vị mục tử luôn sống theo sự thật và trong tình bác ái:
Lạy Cha Yêu Thương và Tòan Năng,
Cha đã gửi Con Một của Cha là Đức Giêsu Kitô để trở thành Vị Tư Tế Tối Cao của chúng con. Và Cha đã cho chúng con hồng ân của thiên chức Linh Mục để tiếp tục công trình cứu rỗi của Cha.
Xin Cha hãy chúc phúc cho các vị Linh Mục của chúng con, và cho chúng con nhiều vị Linh Mục nữa.
Xin Cha hãy cho các ngài được trở nên thánh thiện.
Xin Cha hãy thêm sức mạnh nơi các ngài để các ngài rao giảng Phúc Âm của Sự Sống và bảo vệ phẩm giá của tất cả mọi người, đặc biệt là những trẻ sơ sinh chưa được chào đời.
Chúng con nguyện điều này qua Chúa Kitô, Chúa chúng con, Amen.

Chúa Nhật, ngày Linh Mục Thế Giới, ngày 28/10/2007
Phêrô Vũ văn Quí CVK64
Email: peterquivu@gmail.com

 

TN30-C59: TẨU HOẢ NHẬP MA

Trong các phim và truyện võ hiệp, nhiều người vẫn thường nghe nói đến việc bị "tẩu hỏa nhập: TN30-C59

Trong các phim và truyện võ hiệp, nhiều người vẫn thường nghe nói đến việc bị "tẩu hỏa nhập ma" khi luyện tập công phu võ thuật. Tuy vậy, phần đông vẫn cho rằng đó chỉ là những chi tiết mang tính hư cấu, hoàn toàn không thể có trong thực tế. Thực ra, "tẩu hỏa, nhập ma" là hai hiện tượng khác nhau:
Người bị "tẩu hỏa" sẽ lâm vào tình trạng toàn thân tăng nhiệt độ, khí lực di chuyển trong châu thân không kiểm soát được, đầu nặng, mắt hoa, ngực đau... Nếu không kịp chữa trị, người bị "tẩu hỏa" sẽ chuyển sang giai đoạn trầm trọng hơn, tiến dần đến tình trạng mất trí và cuối cùng bị điên. Những bệnh tật hiểm nghèo khác theo đó lần lượt kéo đến và cuối cùng có thể là cái chết.
Người bị "nhập ma" thì hoàn toàn khác hẳn: Giai đoạn đầu của tình trạng "nhập ma" khó có ai thẩm định được, hầu như không hề bộc phát ra bên ngoài. Duy chỉ có những người giàu kinh nghiệm mới nhận biết được mà thôi. Đó là sự say mê hoàn toàn ảo tưởng của người bị "nhập ma" làm cho họ giống như những kẻ tự cao, tự đại. Một khi căn bệnh "nhập ma" đến giai đoạn bộc phát thì người bệnh sẽ sống trong tình trạng mê loạn tâm thần, không có khả năng phân biệt thực hư, thể tạng ngày một xanh xao, vàng vọt. Cuối cùng, nếu không chữa trị kịp thời, người bị "nhập ma" cũng đi đến tình trạng điên loạn, suy nhược cơ thể, bệnh tật liên miên và có thể dẫn đến tử vong.
“Tẩu hoả nhập ma” do đó, không phải là chuyện hoang đường !
“Tẩu hỏa, nhập ma” trong ngành xây dựng, là khi những cao ốc không tuân theo quy hoạch chung, nói ( xin ) một đàng, làm một nẻo, đã xây vượt giấy phép thêm nhiều tầng, muốn đặt mọi người trước sự đã rồi, nhưng khi bị luật pháp cưỡng chế “cắt bỏ” những tầng thừa, mới thấy rằng bàn tay không che nổi mặt trời.
“Tẩu hoả nhập ma” còn là lối làm ăn gian dối, rút ruột, lắm khi hết sức tinh vi khoa học, xong công trình mà không theo đúng những tiêu chuẩn thiết kế tối thiểu, thì sẽ có ngày những biểu hiện “tẩu hoả nhập ma” như nghiêng lún, nứt gãy và có khi sụp đổ tan tành, như vụ cầu dẫn ở Cần Thơ, như vụ cao ốc Pacific mới đây.
Những điều Khổng Tử dạy: ”Sở kỷ bất dục, vật thi ư nhân” ( điều mình không muốn người làm với mình, thì cũng đừng làm với người ) không được đưa vào đạo đức kinh doanh, đã gây bao chèn ép, bất công, đau khổ. Trầm cảm ( stress ) cũng đáng sợ và tai hại không kém gì “tẩu hoả nhập ma”, đã khiến nhiều người thuộc mọi tầng lớp, tuổi tác, tìm đến cái chết. Cảnh “kẻ ăn ốc, người đổ vỏ”, “quýt làm, cam chịu” nhan nhản trong xã hội ngày nay !
“Tẩu hoả nhập ma” nơi con người, là khi coi mình như “rốn vũ trụ”, không chỉ biết tôn vinh mình, mà còn muốn người khác phải kính phục, đề cao họ. Tệ hại nhất là khi người ta dùng lưng đồng loại, đồng bào, đồng chí, đồng đạo làm những nấc thang để dẫm lên không thương xót mà leo lên cao. Đó cũng chính là trường hợp hai khuôn mặt thường xuất hiện nhất trong khi Chúa Giê-su rao giảng công khai và trong các câu chuyện, các dụ ngôn mà Người dùng để dạy dỗ các môn đệ.
Hai khuôn mặt, hai nhân vật ấy – một người Pha-ri-sêu và một người thu thuế – hôm nay không hẹn mà hò, cùng lên Đền Thờ cầu nguyện và trở thành hai khuôn mẫu cầu nguyện trái ngược nhau. Người thu thuế bị “tẩu hoả” vì những nố lem nhem tham ô hối lộ vốn quá quen xảy ra trong ngành nghề luôn đụng chạm tới tiền của anh.
Điều may mắn, là anh đã nhận ra căn bệnh ác tính trầm trọng của mình, vì thế mà thấy cần gấp rút đến thú tội với Thiên Chúa, để xin tha thứ và dốc lòng chừa ( như cán bộ thuế Mát-thêu đã rủ áo từ quan để theo Chúa Giê-su; như tay thu thuế Lê-vi đã ngay lập tức bàn giao hết để mau mắn đi theo Chúa và nhất là như tay trùm thuế vụ Gia-Kêu mà câu chuyện trở lại thật kịch tính và cảm động ).
Tâm niệm của “người thu thuế” là xưng thú và xin tha thứ, để thoát khỏi vũng bùn tội nhơ: động cơ là sụ ý thức tình trạng xấu xa của mình trước mặt Thiên Chúa. Đứng xa cách người thu thuế tội lỗi, là người “cho-mình-là-công-chính” Pha-ri-sêu. Khi mà hộp kinh, tua áo treo dán khắp trên thân thể dường như chỉ đủ để anh khoe khoang công đức, thánh thiện với loài người, thì anh thấy không thể bỏ qua việc cần khoe khoang với Thiên Chúa.
Tại đó, không phải xui xẻo, mà thật may mắn vì anh có “đối trọng” cho những công lênh của anh; phải có bóng tối thì ánh sáng mới phát huy hết tác dụng; phải có những ngưòi mà cả thiên hạ khinh khi phỉ nhổ như bọn thu thuế, thì những việc đạo đức như anh đã làm, mới nổi bật, đáng ca tụng cả trước loài người lẫn Thiên Chúa. Tấm lưng khom còng vì hối hận ăn năn của người thu huế “tội lỗi” ngay lập tức được người Pha-ri-sêu “công chính” dẫm lên, để làm vật so sánh trong bài kệ dài kể lể công trạng. Diễn tiến câu chuyện ra sao và quan trọng nhất là kết luận của Chúa Giê-su như thế nào, thì ai cũng đã rõ. Người thu thuế hết bị “tẩu hoả”; còn người Pha-ri-sêu thì bị “nhập ma” vô phương cứu chữa !
Trong cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 23 tháng 10, Văn Phòng Chủ Tịch Nước thông báo: Chủ Tịch Nước vừa ký quyết định đặc xá 8.066 trường hợp. Ngay từ chiều 23 tháng 10 và muộn nhất là trong hai ngày 24 và 25 tháng 10, các trại giam trên toàn quốc công bố công khai danh sách những người được đặc xá và họ sẽ trở về đoàn tụ với gia đình ngay sau lễ công bố này. Theo thống kê, thì có khoảng 4,2% số phạm nhân được thả, sẽ tái phạm, nghĩa là không ít những người hưởng đặc xá đợt nầy, sẽ... “ngựa quen đường cũ” và bị bắt giam lại.
Chia vui với những người đã một thời lầm lỗi, nay được trở về đoàn tụ với gia đình, hoà nhập với xã hội sau một thời gian chịu giam giữ tù đày để trả giá cho những sai lầm của họ, chúng ta nhớ đến tội lỗi của chính mình phạm đến Tình Yêu Chúa, đáng chịu án phạt muôn đời. Nhưng dù tội ta nặng nề đến mấy, khi ăn năn thống hối và chạy đến toà giải tội xin tha, thì Chúa “đặc xá” ngay cho chúng ta và vui mừng yêu thương đón chúng ta vào lại trong Gia Đình Chúa.
Điều kiện duy nhất Chúa đòi hỏi ở chúng ta, là lòng chân thành và khiêm nhường, biết thân phận tội lỗi của mình và cầu xin lượng từ bi của Chúa thứ tha ( như người thu thuế ), chứ không phải là quên đi khiếm khuyết, tội lỗi của mình để khoác lác và khinh miệt anh em ( như người Pha-ri-sêu trơ trẽn tự cho mình là công chính ).
Chúng ta đang bước vào Tháng Mười, Tháng các Đẳng Linh Hồn, tháng mà chúng ta gia tăng cầu nguyện và việc lành phúc đưc, để cầu xin Chua “đặc xá” cho các linh hồn nơi luyện ngục, trong đó có linh hồn những người thân của chúng ta. Nếu dùng vật nầy món kia mà xóa được án hoặc “chạy” cho sớm được ra tù, thì hẳn vô số người đã không ngần ngại, để người thân được trả tự do sớm tối đa, nhưng phạm nhân thì phải thi hành luật pháp tương ứng tội họ đã phạm.
Đó là công bằng. Còn chúng ta lại khác: tín điều CÁC THÁNH THÔNG CÔNG đã tạo cho chúng ta cơ hội giúp đỡ những anh em chúng ta trong thành phần GIÁO HỘI ĐAU KHỔ mau chóng được “đặc xá”, để về hưởng hạnh phúc muôn đời trong Chúa. Các linh hồn vui hưởng hạnh phúc vì lòng xót thương vô biên của Chúa, cũng sẽ không quên ơn chúng ta, những cháu con, anh em, bạn hữu...
CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Tình Ca cho Người Được Yêu 73

 

TN30-C60: TÔI CÚI MẶT, LỜI NGUYỆN CẦU RẤT KHẼ

TÔI CÚI MẶT, LỜI NGUYỆN CẦU RẤT KHẼ ( Lc 18, 9 – 14 )
Tôi cúi mặt, lời nguyện cầu rất khẽ,
Cầu cho người và nguyện ước cho tôi
Linh hồn tôi nay đã khác xưa rồi
Cũng rạo rực bao đam mê trần thế.
( thơ CV )
 

Mới “cầu nguyện rất khẽ” thôi, mà sao nhà thơ đã “rạo rực bao đam mê trần thế”. Nguyện cầu rất: TN30-C60

Mới “cầu nguyện rất khẽ” thôi, mà sao nhà thơ đã “rạo rực bao đam mê trần thế”. Nguyện cầu rất khẽ, lâu nay vẫn chỉ thấy có một người. Cầu nguyện khẽ, ở chỗ riêng tư hay thánh đường im ắng, nhà thơ nay khác xưa, rất nhiều. Đâu nào giống kiểu Pha-ri-sêu thông thái, vào hôm trước. Khác kiểu của người thâu thuế cứ sợ sệt, như trình thuật gợi nhớ, hôm nay.
Trình thuật hôm nay, một dụ ngôn Chúa kể về phương cách nguyện cầu, nơi nhà Đạo. Hai lối cầu nguyện, mang phong thái hoàn toàn khác biệt. Một đằng là của “người-tốt-việc-tốt”, lúc nào cũng cho mình chính đáng – giữ luật, rất tự hào. Một đằng theo kiểu người nghèo, lại cho mình luôn có lỗi. Và cuối cùng, câu hỏi vẫn là: ai cầu nguyện đúng, ai sai ?
Trình thuật hôm nay, cũng cho thấy nghịch lý nơi lời phê của Đức Chúa về các thái độ khi nguyện cầu. Nhiều nguời cứ tưởng Chúa chỉ ưa những ai biết giữ luật Đạo. Không làm điều sai quấy, trái lương tâm. Như đám Pha-ri-sêu, Biệt Phái vẫn thường làm. Không phải thế. Chúa chỉ đề cao thái độ khiêm nhường của người thu thuế biết mình có lỗi, dám phạm luật phản chống Đạo.
So sánh thái độ của hai người khi cầu nguyện, với điều mà thánh Phao-lô viết trong thư gửi đồ đệ mình, cũng thấy cả một khác biệt. Đọc thư, nghe có điều nhẹ nhàng như tâm sự: “Tôi cam chịu mọi sự vì các kẻ được chọn, để họ được cứu rỗi, cùng với vinh quang đời đời, trong Đức Giê-su” ( 2 Tm 2, 9 – 10 ).
Như Thánh Phao-lô khẳng định, điều ta làm hoặc khi nguyện cầu dù rằng tốt hay rất hợp với pháp luật, chỉ vì Chúa và nhằm giải phóng tha nhân, đồng loại. Điều ta làm, là quyết đưa người người về với quyền năng yêu thương của Đức Chúa.
Với dân Do thái, người thu thuế rõ ràng là kẻ phạm lỗi. Anh rút rỉa lấy tiền bạc của dân đen, kẻ bị trị. Và, chỉ trao phần nhỏ cho chính quyền đô hộ Rô-ma, thôi. Và vì thế, anh luôn bị dân chúng oán ghét. Oán thán – ghét bỏ, chỉ vì anh chẳng lý gì đến luật lệ. Nhưng anh lại là người biết mình biết hết mọi người. Biềt rằng mình là kẻ đớn hèn, rất khiêm tốn. Không hợm hĩnh. Cũng chẳng tự cao, như các đấng bậc đại sĩ, rất Pha-ri-sêu.
Với nguời thường, quà tặng Chúa gửi, là: biết mình hèn hạ, rất đáng tội. Nhận mình có tội không phải để xưng thú hằng tháng, như thói rất quen. Xưng cho nhiều, cũng chỉ là xưng thú những tật ít quan trọng, như: nổi nóng, cắp vặt, bất tuân bề trên, hay quên sót lễ lạy, ngày của Chúa, v.v... Tội đích thật mà thu thuế – dân thường vẫn hay quên, là: làm mất đi tương quan đẹp ta có với Chúa. Với nguời cùng sống quanh ta. Tương quan ấy, là điều ta phải giữ. Để mất đi, là mất tất cả. Và, đây mới là điểm chính yếu, của nguyện cầu.
Tội của đám người tự-cho-mình-là-người-tốt, là thái độ luôn duy trì tương quan với mọi người theo phương thế kẻ cả, rất trịch thuợng. Chẳng bận tâm gì đến việc tạo niềm vui sống, tích cực với những người đang chung sống. Nhất thứ, là những người sống ngoài quỹ đạo của giới cao trọng, quyền chức.
Lỗi phạm ít được người đời để tâm xưng thú, đó là: thiếu quyết tâm yêu thương – giùm giúp hết mọi người. Không giúp họ duy trì tương quan cần có với Chúa. Với người thường. Thiếu sót ấy, ta vẫn nghe quen lời khiển trách, trong Kinh Sách, đại để như: “Ta đói khát, đơn độc, cố phấn đấu làm lành, mà nào thấy ai ra tay phụ giúp ! Ta lúng túng lo âu, bị hắt hủi bỏ rơi, ngươi đâu nào đứng lại, hầu đỡ nâng. Thậm chí còn xỉ vả, trách thầm:như thế cho đáng đời, bọn ngu si”.
Chấp nhận là mình có lỗi, không làm ta ly cách, tách rời khỏ vòng tay yêu thương của Đức Chúa. Nhưng, là tín hiệu. Là thành phần của cuộc sống của ta. Khốn khổ cho người nào không nhận là mình đã lỗi phạm, mà còn dương oai cứ cho rằng mình chẳng cần gì đến nhu cầu đạo đức. Người như đám Pha-ri-sêu, đâu nào muốn Đức Chúa can thiệp vào đời mình. Tệ hại hơn, tội và lỗi còn là trạng thái tuyệt vọng, cứ nghĩ rằng: Đức Chúa chẳng còn yêu tôi, vì tôi phạm vào luật cấm.
Điều cần ghi nhớ, là: đừng lo sợ mình đã lầm lỡ. Bởi, phụng vụ Phục Sinh đêm canh thức có nói đến “tội hồng phúc”, khi con người cả gan đóng đinh Chúa trên thập tự. Và, phải nhận rằng chính hành động này đã kéo theo ơn cứu rỗi. Cũng thế, trong cuộc sống đời thường, những lầm lỡ ta mắc phạm, cũng có thể được đánh giá như hành động chất chồng thêm ân huệ, mang đến cho ta. Miễn là, tội ấy giúp ta nhận ra được chính mình. Cái mình còn yếu kém. Cái mình, vẫn còn tùy thuộc vào sự đỡ nâng của Thiên Chúa. Từ những người xa lạ, rất tha nhân.
Biết nhận mình đã lỡ lầm hệt như người thu thuế, còn giúp ta biết xót thương cảm thông cho yếu đuối và vấp ngã của người khác, nữa. Nhận mình có lỗi, để rồi sẽ không bao giờ để luột mất niềm tin tưởng vào lòng từ nhân, của Đức Chúa. Bởi, Thiên Chúa là Đấng luôn sẵn sàng ở cạnh ta. Ở cạnh bên, Ngài vẫn đợi chờ mọi người sai phạm gửi tín hiệu về, cần sự đỡ nâng.
Biết nhận mình có lỗi, còn là ý nghĩa trong câu nói của sách huấn ca, rất nguyện cầu, như: “Lời cầu nguyện của người khiêm tốn đã vọng lên thấu các tầng mây.” ( Hc 35, 15 ). Nguyện cầu xuyên thấu tầng mây, chắc chắn sẽ đạt tới Đức Chúa, vẫn sẵn sàng đợi chờ. Chấp nhận mình chỉ là kẻ đớn hèn, phạm lỗi, tuy thế, vẫn không là chuyện dễ làm. Nhưng khi đã nhận mình lầm lỡ, Chúa đến tiếp sức mọi người, Ngài chẳng bao giờ từ nan.
Trong tinh thần chờ đón Chúa đến giúp, hãy phấn khởi mà cất lên lời tâm sự của người nghệ sĩ luôn hân hoan, hát rằng:
          Vui lên, vui lên ca vang ngàn phương
          Sao cho nơi nơi không mang sầu thương
          Thanh niên chí kiêu hùng, gieo sức sống tưng bừng
          Cùng hợp lực ta xây ngày mai sang tươi. ( Phạm Đình Chương – Bài ca tuổi trẻ )
Vâng. Hãy cứ vui lên. Dù có cảm nhận rằng mình đã lỗi phạm, tội tày trời. Cứ vui lên, mà “cầu cho người, nguyện ước cho tôi”. Cho “nơi nơi không mang sầu thương”. Nỗi sầu hèn, của người phạm lỗi. Nhưng, vẫn “gieo sức sống tưng bừng”. Vì đã có Chúa ở bên, trong nguyện cầu.
Lm. PHAN ĐỖ THỤC LINH, bản diễn dịch của MAI TÁ ( Úc )

 

TN30-C61: CÚI MÌNH XUỐNG

Dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế lên Đền Thờ cầu nguyện cho thấy sự tương phản: TN30-C61

Dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế lên Đền Thờ cầu nguyện cho thấy sự tương phản giữa hai thái độ của con người trước tình yêu thương bao la của Thiên Chúa.
Người Pha-ri-sêu là nhân vật được xã hội đương thời kính trọng, vì thuộc thành phần nhiệt tâm giữ luật, thực thi đức ái hơn nguời khác. Người thu thuế, kẻ bị xã hội mạt sát, khinh chê.
Hai mẫu người đối lập cùng bước vào Đền Thờ và làm cùng một công việc là cầu nguyện. Tại đây, sự tương phản giữa hai con người trở nên rõ nét khi tâm tính và thái độ sâu kín được bộc bạch trước nhan Thiên Chúa.
Người Pha-ri-sêu ung dung tự tại, đứng thẳng cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa, con cảm tạ Chúa vì con không giống các người khác, không tham lam, không bất công, không ngoại tình hay như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, dâng một phần mười thu nhập của con”. Người Pha-ri-sêu đang báo cáo thành tích. Ông nói điều ông đã làm và những gì ông làm thì không chê vào đâu được: không gian tham, không chiếm đoạt, không rối vợ rối chồng, không đam mê tội lỗi, thậm chí về phần đạo đức bác ái, ông còn làm quá điều luật dạy. Thường người ta chỉ ăn chay một ngày trong năm vào dịp lễ Sám Hối, đàng này ông ăn chay hai ngày trong tuần. Luật buộc các nông dân nộp một phần mười sản phẩm cho việc phụng tự, ông lại nộp thuế thập phân tất cả thu nhập của ông.
Đây là lời cầu nguyện mà nhiều người Do Thái thời ấy mơ ước. Không thấy ông xin gì cho bản thân. Lời cầu nguyện chỉ là lời tạ ơn. Điều đáng tiếc là lời cầu nguyện của ông đầy nét tự hào, tự mãn và khinh bỉ tha nhân: “Vì tôi không như bao người khác, tôi không như tên thu thuế kia”. Rõ ràng người Pha-ri-sêu tốt lành quãng đại nhưng lại tự phụ khoe khoang, khinh người. Đây là biểu tượng cho hạng người hay chúc tụng, tôn thờ bản thân mình. Thật đúng, kiêu căng đứng trước trong danh sách bảy mối tội đầu.
Người thu thuế đến thú tội, anh ý thức mình là tội nhân nên run rẩy xấu hổ, đầu cúi xuống chẳng dám ngước lên. Anh đã nghe thấy lời cầu nguyện của người Pha-ri-sêu nên anh thấy khỏi cần cáo tội mình. Anh chỉ còn đặt mình trước nhan Thiên Chúa một cách trung thực và khẩn khoản nài xin: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Điều anh khao khát là được Thiên Chúa tha thứ và được làm hoà với anh em.
Anh chỉ “đứng xa xa” vì thấy mình bất xứng. Lời cầu hết lòng khiêm tốn đó có sức an ủi anh ngọt ngào biết bao. Anh cảm thấy đầy lòng tin tưởng vào lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa, vì anh biết rằng: dù tội lỗi như A-ha-ron đúc bò vàng cho toàn dân thờ, dù thủ đoạn như vua Đa-vít đã cướp vợ giết chồng người khác nhưng họ đã hết lòng ăn năn sám hối và Thiên Chúa đã sẵn lòng tha thứ; dẫu rằng cả toàn dân bỏ Chúa và bị bắt lưu đày Ba-bi-lon, lại bị thủ tướng A-man ra tay diệt trừ nhưng trong cơn cùng khốn như thế, hoàng hậu Et-te cùng toàn dân đã biết ăn năn sám hối tội lỗi, Thiên Chúa đã ra tay giải thoát họ; hay tội lỗi như dân ngoại Ni-ni-vê, Thiên Chúa còn thương, bắt buộc Ngôn sứ Gio-na đến rao giảng cho họ biết cải tà quy chính, Thiên Chúa liền tha thứ cho họ khi họ sám hối chân thành.
Thấy tất cả những sự kiện lịch sử thống hối đó, người thu thuế càng thêm tin tưởng vào lòng thương xót khoan dung cùa Thiên Chúa, anh càng đấm ngực hết lòng ăn năn.
Đức Giê-su kết luận: Người thu thuế trở nên công chính còn người biệt phái thì không được…. Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.
Tội lỗi hay hành động xấu không làm người ta mất sự công chính cho bằng tính tự mãn, thói kiêu căng. Người thu thuế đã thật sự phạm nhiều tội lỗi nên đã làm mất đi sự công chính, nhưng hành động khiêm tốn biết nhìn nhận mình tội lỗi và hết lòng thống hối nên được công chính trước Thiên Chúa.
Khiêm nhường có khả năng biến tội lỗi thành thánh thiện, bất chính thành công chính. Trái lại, kiêu ngạo tự mãn có thể biết điều tốt thành điều xấu.
Khiêm nhường, tự hạ, quên mình luôn được coi là nền tảng của sự thánh thiện, là gốc rễ của các nhân đức. Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô I đã nói: “Trên thiên đàng không thiếu bọn thu thuế và gái điếm, nhưng không có kẻ kiêu ngạo. Dưới hoả ngục có cả Hồng Y, Giám Mục nhưng không có người khiêm nhường”.
Khiêm nhường bao nhiêu cũng không đủ, chỉ một chút kiêu ngạo cũng quá nhiều. Đừng vì mình đạo đức mà khép kín trong tự mãn, cũng đừng vì mình tội lỗi mà khép kín trong tuyệt vọng. Ơn Chúa chỉ đến với người biết mở tâm hồn ra để đón nhận. Tội lỗi hay công đức đều có thể làm ta khép lại hay mở ra. Điều quan trọng là thấy mình luôn luôn cần Chúa.
Sự triển nở trong đời sống thiêng liêng nằm chỗ là ta trở nên nhỏ lại, là nhường bước để cho Chúa xâm chiếm và chi phối trọn vẹn đời ta. Càng lớn lên trong Chúa, ta càng cảm thấy một cách mạnh mẽ rằng mình cần đến Chúa ngày một hơn. Cha Nguyễn Tầm Thường đã viết những bài suy niệm thật hay trong cuốn sách “Con biết con cần Chúa”.
Một Đấng Thánh vĩ đại như Phao-lô mà đã tự nhận mình là kẻ thấp hèn nhất ( 1 Cr15, 9 ); một ngôi sao chói lọi trong công việc bác ái từ thiện như Thánh Vinh Sơn Phao-lô mà cũng đã tự gọi mình là người thấp hèn nhất trần gian thì huống là chúng ta !
Người tự cao tự đại không thể cầu nguyện được. Cửa thiên đàng hẹp và thấp, chỉ quỳ xuống mới vào được mà thôi.
Tại Đền Thờ Thánh Phê-rô có một bức tượng Chúa Chịu Nạn do Thorvaldsen ( 1770 – 1844 ), nhà điêu khắc Đan Mạch nổi tiếng thực hiện. Ngày kia, một du khách đến viếng bức tượng, ông ta nhìn mãi rồi lắc đầu nói: tôi nghe đồn bức tượng này nổi tiếng là đẹp lắm nhưng tôi chẳng thấy có gì đẹp cả. Một người quỳ sau lưng ông nói: “Ông ơi, ông phải quỳ gối xuống mới thấy đẹp !” Ông du khách liền quỳ gối. Bây giờ ông mới khám phá ra vẻ đẹp lôi cuốn của bức tượng Chúa Chịu Nạn. Muốn gặp gỡ Chúa, muốn đón nhận lòng thương xót của Người, con người cần quỳ gối với tâm tình khiêm tốn.
Đức Cha Fulton J. Sheen đã viết:
“Chúa Giê-su không sinh ra ở giữa Trời, nơi người ta có thể đứng thẳng, nhưng Ngài giáng sinh trong hang đá, nơi người ta phải cúi mình để đi vào. Đó là một cử chỉ khiêm nhường. Một số người quá tự mãn không hạ mình sẽ không thấy được niềm vui bên trong hang đá. Các mục đồng và các đạo sĩ đủ đơn sơ để nghiêng mình xuống. Khi làm như thế, họ thấy mình không ở trong một cái hang, nhưng ở trong một thế giới khác.
Tại đó, một người nữ diễm lệ, đầu đội mặt trời, chân đạp mặt trăng, và cánh tay ẵm Hài Nhi – Đấng dùng những ngón tay bé nhỏ của mình nâng đỡ trái đất, nơi chúng ta đang sống. Và khi các mục đồng và các đạo sĩ quỳ gối, tôi tự hỏi: không biết những người thông thái ghen với những người đơn sơ, hay những người đơn sơ ghen với những người thông thái ? Tôi hướng tới xác tín rằng: các đạo sĩ ghen với các mục đồng, bởi vì con đường của các mục đồng ngắn hơn, họ tìm thấy sự khôn ngoan là chính Thiên Chúa mau hơn.” ( Người Galilê vĩnh cửu, trang 36 ).
Lm. Giu-se NGUYỄN HỮU AN, Giáo Phận Phan Thiết

 

TN30-C62: Cầu nguyện

Đâu là sự khác biệt trong lời cầu nguyện của ông biệt phái và của anh thu thuế? Lời cầu: TN30-C62

Đâu là sự khác biệt trong lời cầu nguyện của ông biệt phái và của anh thu thuế?
Lời cầu nguyện của ông biệt phái trước hết là một lời tạ ơn, cùng với những thói hư tật xấu mà ông không hề phạm, và những việc đạo đức ông thường làm. Chẳng những ông đã làm các việc đạo đức do luật buộc, như ăn chay mỗi năm vào dịp lễ xá tội, nộp 1/10 lợi tức cho đền thờ, mà hơn thế nữa, ông còn tự nguyện làm những việc đó ở một mức độ cao. Chúng ta không thấy ông xin gì cho bản thân, mà chỉ luôn tạ ơn. Điều đáng tiếc là lời cầu nguyện của ông đầy vẻ tự hào, tự mãn và khinh bỉ tha nhân. Chính vì thế mà chúng ta có thể nghi ngờ về tâm tình tạ ơn của ông, bởi vì tâm tình tạ ơn thực sự bao giời cũng gắn liền với sự khiêm tốn.
Trong khi đó, anh thu thuế lên đền thờ để thú tội. Anh ý thức mình là kẻ tội lỗi. Anh đặt mình trước tôn nhan Chúa một cách trung thực và khẩn khoản nài xin: Lạy Chúa, xin thương xót con vì con chỉ là kẻ tội lỗi. Điều anh khao khát là được Chúa tha thứ và được hoà giải với anh em. Anh chỉ dám đứng xa xa vì thấy mình bất xứng.
Từ hai hình ảnh trên chúng ta thấy: Ông biệt phái đi gặp Chúa vì ông cảm thấy mình có thế giá nhiều hơn những người khác. Ông đã sống một đời sống đạo đức và nghiệm nhặt. Ông đi gặp Chúa với một kho tàng công nghiệp to lớn của riêng ông. Thế nhưng cái kho tàng đó quá lớn đến độ đã ngăn cách ông với Chúa, nó không cho ông thấy được Ngài nữa, mà chỉ còn thấy có chính mình ông. Có quá nhiều chữ tôi trong lời cầu nguyện của ông: Tôi thế này, tôi thế nọ, tôi không như người này người khác... Rốt cuộc, ông lại là người quay vào mình, khép lại trên chính mình, mặc dù môi miệng ông đã kêu lên: Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa.
Tạ ơn thực sự là nhìn nhận mọi sự mình làm được là do bởi ơn Chúa ban. Tạ ơn thật sự là quay về với Chúa, nhìn nhận Ngài là nguồn mạch, là trung tâm, là sức sống của đời mình, của những việc tốt mình làm được.
Như thế, ông biệt phái đã không thực tâm tạ ơn, vì ông quay vào mình, coi mình là trung tâm, là tác giả mọi điều tốt đẹp, còn Thiên Chúa chỉ là một người thừa, hay cùng lắm chỉ là một người mà ông đến gặp để kể công và đòi nợ. Thiên Chúa phải trả cho ông Nước Trời vì ông đã có công. Ông không xin vì ông không thiếu và Chúa cũng sẽ không cho vì ông đã đầy ắp.
Trong khi đó, anh thu thuế, mặc dù lắm tiền nhiều của, nhưng thật ra lại là một người nghèo trước mặt Chúa. Anh chẳng có công trạng gì để cậy dựa. Anh ý thức về tình trạng nhơ nhớp của mình, nên chỉ còn một lối thoát duy nhất là tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa.
Và như vậy thật là oái oăm, chính sự đạo đức của ông biệt phái lại trở nên chướng ngại vật khiến ông không gặp được Chúa, không lãnh nhận được ơn huệ của Ngài, còn sự tội lỗi của anh thu thuế lại đưa anh đến chỗ mở rộng cõi lòng để đón nhận Chúa và ơn tha thứ của Ngài.

 

TN30-C63: Lời cầu nguyện khiêm nhường

LỜI CẦU NGUYỆN KHIÊM NHƯỜNG XUYÊN QUA NHỮNG ĐÁM MÂY
(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ - Charles E. Miller)
 

Trong Phúc Âm theo Thánh Luca, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta về cầu nguyện. Đầu tiên chúng ta: TN30-C63

Trong Phúc Âm theo Thánh Luca, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta về cầu nguyện. Đầu tiên chúng ta học cầu nguyện với Chúa Giêsu là cầu nguyện với Cha trong lời kinh mà chúng ta gọi là”lời cầu nguyện của Chúa” hoặc đơn giản là”kinh Lạy Cha”. Chúng ta học, chúng ta phải nhớ dâng lời tạ ơn và ngợi khen Thiên Chúa, chúng ta phải kiên trì với những lời nài xin dâng lên Thiên Chúa.
Ngày hôm nay Chúa Giêsu dạy chúng ta về chân lý, đã được tiên báo trong sách Khôn ngoan: “Lời cầu nguyện khiêm nhu xuyên qua những đám mây nó không nghỉ ngơi cho đến khi nó đạt được mục đích”. Thiên Chúa thương đến những lời cầu nguyện khiêm nhường, đó là một bài học bên trong của dụ ngôn có hai người lên Đền Thờ cầu nguyện. Thiên Chúa không hài lòng với tất cả những lời cầu nguyện của người Pharisiêu kiêu căng. Thật sự, đó không phải là một lời cầu nguyện nhưng đó chỉ là một bản danh sách những lời tự ca tụng. Nhưng Thiên Chúa hài lòng với lời cầu nguyện của người thu thuế tội lỗi. lời cầu nguyện chân thành của ông đã được thương xót.
Chúa Giêsu lấy làm sung sướng khi chú ý đến việc chấp nhận người anh hùng của câu chuyện (hãy nhớ đến người Samaria nhân hậu đã giúp đỡ một người ngoại quốc bị nạn và trở thành một vị anh hùng trong dụ ngôn này). Mọi người khinh bỉ người thu thuế, đặc biệt dị ứng đối với người thu thuế và sở thu thuế. Nhưng người đàn ông này biết mình tội lỗi và đã cầu xin nơi thc sự xót thương.
Chúa Giêsu chọn người thu thuế oán ghét này để làm người anh hùng bởi vì Người muốn ám chỉ tới dụ ngôn là: “Những người đã tin vào sự công chính của họ trong lúc nhìn mọi người với cặp mắt khinh bỉ”. Người Pharisiêu trong dụ ngôn đã được giới thiệu như những người này, ông là một hình thức xấu nhất của cái tôi phiền phức. Ông ta có thể chỉ biết chính mình trong con đường thuận lợi.
Mặc dầu ông đã cảm tạ Thiên Chúa không làm cho ông giống như người đàn ông tội lỗi kia, ông là một kẻ giả hình. Điều ông ta nói chẳng có ý nghĩa gì. Thật sự ông chỉ thấy chính mình như là người đã tạo ra con người hoàn hảo mà không cần bất cứ ai, không cần ngay cả Thiên Chúa. Đó là sự sai lầm làm nền tảng, là tội nguyên tổ mà tổ tiên chúng ta đã nghĩ đến khi đặt chính mình thay thế Thiên Chúa. Cái tôi làm cho chúng ta giống như những chiếc xe hơi mà chúng ta gọi vô dụng. Chúng có những hiệu quả nghiêm trọng bởi vì chúng ta được chế tạo với những sai sót và số phận là lập lại những thất bại.
Người thu thuế thì không phải là một kẻ vô dụng, nhưng ông ta giống như một chiếc xe hơi đã chịu đựng những tay lái không cẩn thận và không biết bảo quản xe. Chỉ có một quyết định duy nhất là mang xe hơi trở lại cho người buôn bán để họ tân trang lại. Người thu thuế đã làm một chọn lựa đúng, ông ta đã đi tới với người công chính để sửa chữa lại những gì mình cần. Ông đã làm một lời xin thứ lỗi. Ông không nhận biết những vấn đề của mình nhưng cầu xin Thiên Chúa ban ơn cho những gì ông cần trong lời cầu nguyện đơn giản: “Ôi Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi”.
Lời cầu nguyện của người thu thuế là một lời nài xin, một lời van xin giúp đỡ, một kiểu cầu nguyện mà chúng ta thường dâng lên Thiên Chúa. Sự nài xin đích thực diễn tả trong sự khiêm nhường đã được Chúa Giêsu chuẩn nhận. Chúng ta yêu cầu Thiên Chúa ban ơn, bởi vì chúng ta biết rằng Ngài là Đấng sẽ xoay chuyển được mọi sự, Người là Đấng quyền năng có thể giúp đỡ chúng ta. Một nửa của sự khiêm nhường để nhận biết quyền năng của Thiên Chúa thì lớn lao hơn bất cứ sức mạnh nào trong vũ trụ này. Một nửa kia của sự khiêm nhường này là chấp nhận rằng chúng ta cần Thiên Chúa, chúng ta không thể đi đâu, làm gì một mình được và chúng ta tùy thuộc vào tình yêu của Ngài cũng như quyền năng của Ngài. Lời cầu nguyện khiêm nhường diễn tả sức mạnh của Thiên Chúa và nhu cầu của chúng ta.
Lời cầu nguyện khiêm nhường của chúng ta bay thẳng lên trời vì lời cầu nguyện khiêm tốn sẽ xuyên qua các đám mây và sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi nó đạt đến mục đích của nó.

 

TN30-C64: Lời cầu nguyện đích thực

Một vị linh sư nọ đang cầu nguyện. Các môn đệ đến xin ông dạy họ cách cầu nguyện. Vị linh sư : TN30-C64

Một vị linh sư nọ đang cầu nguyện. Các môn đệ đến xin ông dạy họ cách cầu nguyện. Vị linh sư liền dạy các môn đệ cầu nguyện bằng một câu chuyện như sau:
Cả hai người dẫn nhau đi qua một cách đồng, bỗng một con bò mộng giận dữ không hiểu từ đâu chạy tới. Hai người bèn chạy đến hàng rào gần nhất để ẩn núp; những đã quá trễ, họ không thể lẩn trốn được con bò mộng hung dữ kia đang chạy tới để hút vào người họ. Trong cơn hốt hoảng, không còn biết làm gì được nữa, một trong hai người đề nghị: chỉ còn có sự cầu nguyện may ra giúp chúng ta thoát được. Thế nhưng người kia lắc đầu tuyệt vọng:
- Cả đời tôi, có bao giờ tôi cầu nguyện đâu!
Người bạn quả quyết:
- Anh hãy đọc bất cứ kinh nào anh nhớ.
Một chút hy vọng bỗng lóe lên, anh ta nói:
- Vậy thì tôi sẽ đọc lời kinh duy nhất mà tôi còn nhớ, đó là lời cầu nguyện cha tôi thường đọc trước bữa ăn như sau:
“Lạy Cha, xin cho chúng con luôn biết tạ ơn Chúa, vì tất cả những gì chúng con đã nhận được”.
Anh chị em thân mến,
Cầu nguyện là sinh hoạt căn bản và là nhu cầu cấp thiết của lòng tin. Cầu nguyện còn là biểu hiện của một lòng tin sống động. Người Kitô hữu nào cũng phải cầu nguyện. Nhưng lời cầu nguyện của chúng ta chỉ có ý nghĩa thực khi nó diễn tả mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Và đó là lời cầu nguyện đẹp nhất mà Thiên Chúa mong đợi nơi những kẻ tin Ngài.
Chúng ta thường cầu nguyện như thế nào?
Hôm nay chúng ta hãy nghe lời cầu nguyện của người Pharisêu và của người thu thuế trong dụ ngôn Chúa Giêsu đã kể cho chúng ta. Qua lời cầu nguyện của hai người nầy, chúng ta thấy được phần nào nội tâm của từng người.
Lời nguyện của người Pharisêu trước hết là một lời tạ ơn, tiếp theo là bản liệt kê những thói hư tật xấu mà ông không hề phạm, cuối cùng là những việc đạo đức ông quen làm. Đây là một lời cầu nguyện hết sức thành thực, người Pharisêu chỉ nói lên những điều ông đã sống. Chẳng những ông đã làm các việc đạo đức do luật buộc như ăn chay mỗi năm vào dịp lễ Xá tội, nộp một phần mười lợi tức cho đền thờ, mà ông còn tự nguyện làm những việc đó ở mức độ cao hơn, như ăn chay một tuần hai lần, nộp cho đền thờ một phần mười lợi tức chẳng những về gia súc, ngũ cốc, rượu và dầu mà còn cả về rau, đậu và thảo mộc nữa. Chúng ta không thấy ông xin gì cho bản thân, nhưng chỉ là “tạ ơn”. Điều đáng tiếc là lời tạ ơn của ông đầy nét tự hào, tự mãn và khinh bỉ tha nhân: “Tạ ơn Chúa vì con không như bao người khác…”, “con không như tên thu thuế kia”. Chính vì thế chúng ta có thể nghi ngờ về tâm tình “tạ ơn” của người Pharisêu nầy. Tạ ơn thực sự bao giờ cũng gắn liền với thái độ khiêm tốn thẳm sâu.
Còn người thu thuế đến đền thờ để thú tội. Anh ý thức mình là một tội nhân, bị kể ngang hàng với bọn đĩ điếm (x. Mt 21,31-32). Có lẽ anh đã nghe thấy lời cầu nguyện lớn tiếng của người Pharisêu “con không như tên thu thuế kia”, nên anh thấy khỏi cần thú tội mình. Anh chỉ đặt mình trước Thiên Chúa một cách trung thực và khẩn khoản nài xin: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Điều anh khao khát là được Thiên Chúa tha thứ và được làm hòa với anh em, nhưng anh chỉ dám đứng xa vì thấy mình hoàn toàn bất xứng.
Thưa anh chị em,
Qua lời cầu nguyện của hai người trên đây, chúng ta thấy: Người Pharisêu ra gặp Thiên Chúa và ông cảm thấy mình có thế giá hơn nhiều người khác. Ông đã sống một đời sống đạo đức, nhiệm nhặt. Ông ra gặp Chúa với một kho những công trạng to lớn của riêng ông. Nhưng than ôi, cái kho đó lớn quá đến độ nó ngăn cách ông với Chúa, nó không cho ông thấy được Ngài nữa mà chỉ còn thấy chính mình. Có nhiều chữ “tôi” trong lời cầu nguyện của ông. Tôi tôi thế nầy, tôi thế nọ, tôi không như người nầy, không như người khác… Rốt cuộc ông Pharisêu lại là người quay vào mình, ông ngắm chính mình, dù chúng ta tưởng ông đã mở ra khi nói: “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa”. Tạ ơn là quay về với Thiên Chúa, nhìn nhận Ngài là nguồn mạch, là trung tâm, là sức sống của cả đời mình, của những việc tốt mình làm được. Ông Pharisêu đã không tạ ơn thực tâm vì ông quay vào mình, coi mình là trung tâm, là tác giả mọi điều tốt đẹp ông đã làm. Như thế Thiên Chúa là một người thừa, hay cùng lắm chỉ là một người mà ông đến gặp để kể công và đòi nợ. Thiên Chúa phải trả cho ông Nước Trời vì ông đã có công. Người Pharisêu không xin Thiên Chúa cũng chẳng thể cho điều gì, vì ông đã đầy ắp. Vì tự mãn, nên ông mất đi một khả năng quan trọng, đó là mở ra để đón nhận Thiên Chúa vào đời mình.
Nếu người Pharisêu là một ông nhà giàu, chẳng có gì phải xin Thiên Chúa, thì ngược lại, anh thu thuế, tuy là là người có lắm tiền nhiều của, nhưng thực ra anh là người nghèo trước mặt Thiên Chúa. Anh chẳng có công trạng gì để cậy dựa. Anh ý thức về sự nhơ nhớp của mình và thấy gần như không thể làm lại cuộc đời. Nếu hoán cải, anh phải bỏ nghề, và nhất là phải bồi thường toàn bộ những gì anh đã thu quá mức, cộng thêm một phần năm số tiền trên. Tình cảnh của anh thật là tuyệt vọng. Anh chỉ còn biết cậy dựa vào lòng thương xót của Thiên Chúa.
Như thế, thật là oái oăm, chính sự đạo đức của người Pharisêu đã trở thành một chướng ngại khiến ông ta không gặp được Thiên Chúa, không lãnh nhận được ơn của Ngài. Còn sự tội lỗi của người thu thuế lại đưa anh đến chỗ mở lòng ra để đón nhận Thiên Chúa, Đấng yêu thương tha thứ. Chúa Giêsu đã long trọng tuyên bố: “Tôi nói cho các ông biết:người nầy, khi trở về nhà, thì đã được nên công chính; còn người kia thì không”.
Như thế, thưa anh chị em, những ai tự cho mình là công chính thì không được Thiên Chúa nhìn nhận, còn kẻ tội lỗi biết cậy trông, lại được Thiên Chúa làm cho nên công chính. Chúng ta không thể tự tạo cho mình sự công chính thánh thiện nhờ làm những việc lành phúc đức. Trở nên công chính là một ơn Chúa ban cách nhưng không, nhờ lòng tin và lòng mến của ta đối với Chúa Giêsu Kitô. Chắc chắn chúng ta phải làm nhiều việc lành phúc đức, nhưng đừng tưởng mình có thể mua được Nước Trời bằng những công phúc của mình. Chúng ta được cứu độ nhờ công trạng của Đức Kitô. Dù sống đạo đức hay trót mang thân phận tội lỗi, chúng ta phải tránh thái độ khép kín trước Thiên Chúa và tha nhân. Đừng vì mình đạo đức mà khép kín trong tự kiêu, cũng đừng vì mình tội lỗi mà khép kín trong tự mãn, cũng đừng bì mình tội mà khép kín trong tuyệt vọng. Ơn Chúa chỉ đến với người biết mở ra để đón nhận.
Anh chị em thân mến,
Hình ảnh của hai nhân vật trong dụ ngôn hôm nay đã giúp chúng ta khám phá lại hai sự thật căn bản: sự thật về Thiên Chúa tình thương và sự thật về con người tội lỗi. Vì thế lời cầu nguyện của người thu thuế về con người tội lỗi. Vì thế lời cầu nguyện của người thu thuế lại chính là mẫu mực cho đời sống đức tin của chúng ta: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Nếu dụ ngôn giúp chúng ta khám phá hai sự thật căn bản đó thì để kết thúc, không có gì tốt hơn là lặp lại thật sâu và thật trọn vẹn lời cầu nguyện của Thánh Âutinh: “Lạy Chúa, xin cho con biết Chúa và xin cho con biết con”.

 

TN30-C65: Tự hào

Suy Niệm
 

Đạo đức là một điều tốt, nhưng tự hào về đạo đức của mình lại là một nguy cơ. Làm việc: TN30-C65

Đạo đức là một điều tốt, nhưng tự hào về đạo đức của mình lại là một nguy cơ. Làm việc lành là một điều tốt, nhưng nếu việc lành khiến tôi khinh miệt tha nhân thì thật là nguy hiểm.
Dụ ngôn trên đây cho thấy hai khuôn mặt trái ngược: người pharisêu công chính và người thu thuế tội lỗi.
Chúng ta cần hình dung cách đứng cầu nguyện của họ, và cần suy nghĩ về lời họ thưa với Chúa.
Lời nguyện nào cũng phản ảnh tâm hồn.
Người pharisêu trước hết dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, vì ông thấy mình hơn kẻ khác nhiều. Ông liệt kê những tội ông không hề phạm, và những việc đạo đức ông quen làm, vượt quá điều Lề luật đòi hỏi. Ông vừa cầu nguyện, vừa liếc mắt nhìn anh thu thuế đứng ở xa phía dưới. Ông thấy mình hơn hẳn anh ta. Đúng ông là một người giàu, vì ông chẳng có gì phải nài xin Thiên Chúa.
Ngược lại, anh thu thuế lại là người nghèo. Anh muốn làm lại cuộc đời, nhưng hầu như không sao làm nổi. Nếu hoán cải, chắc anh phải bỏ nghề, nhất là phải bồi thường mọi gian lận xưa nay. Anh không dám ngước mắt lên trời, chỉ biết đấm ngực nài xin lòng thương xót Chúa.
Thiên Chúa sẽ nghiêng về phía ai?
Ngài không nghiêng về người pharisêu, kẻ tự hào mình công chính và khinh rẻ tha nhân, nhưng Ngài cúi xuống người thu thuế và đáp lại lời nài xin của anh, vì anh không cậy dựa vào công đức của mình nhưng vào lòng thương xót Chúa.
Chúng ta không thể làm cho mình nên thánh thiện chỉ nhờ thi hành những việc đạo đức nào đó.
Chúng ta cũng không thể mua được Nước Trời chỉ nhờ những cố gắng của bản thân.
Trở nên thánh, nên công chính là việc Chúa làm nơi tôi, là quà tặng Ngài ban cho tôi.
Tôi chỉ cần khiêm tốn mở ra, để cho Ngài chiếm lấy mọi khoảng đời của mình, chi phối mọi khoảnh khắc của ngày sống.
Nên thánh là để cho Chúa chinh phục và yêu thương.
Thánh nhân chẳng bao giờ là người tự hào, nhưng là người càng lúc càng cần đến Thiên Chúa.
Gợi Ý Chia Sẻ
Bạn nghĩ gì với những lời cầu nguyện của bạn? Có khi nào nó giống với lời cầu của người pharisêu không?
Chúng ta thường xét đoán người khác theo cái nhìn bên ngoài. Có khi nào bạn thấy mình mắc phải sai lầm khi vội vã xét đoán người khác không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa, khi đến với Chúa con tháo bỏ đôi giày những tham vọng của con, con cởi bỏ đồng hồ thời khóa biểu của con, con đóng lại bút viết các quan điểm của con, con bỏ xuống chìa khóa sự an toàn của con, để con được ở một mình với Ngài.
Lạy Thiên Chúa duy nhất và chân thật, sau khi được ở với Ngài, con sẽ xỏ giày vào để đi theo con đường của Chúa con sẽ đeo đồng hồ để sống trong thời gian của Chúa, con sẽ đeo kính vào để nhìn thế giới của Chúa, con sẽ mở bút ra để viết những tư tưởng của Chúa, con sẽ cầm chìa khóa lên để mở những cánh cửa của Chúa. (Graham Kings).

 

TN30-C66: Tội lỗi chống lại sự có tội - McCarthy

Người Pharisêu hoàn toàn không biết đến sự có tội của mình. Ông ta không nghĩ mình có tội gì: TN30-C66

Người Pharisêu hoàn toàn không biết đến sự có tội của mình. Ông ta không nghĩ mình có tội gì cả. Ông ta không phải là một người tội lỗi như phần còn lại của nhân loại. Không. Ông ta khác hẳn. Tuy nhiên, thay vì xem xét lương tâm của mình và xưng thú tội lỗi của mình, ông xem xét lương tâm của những người khác và xưng thú tội lỗi của họ –tham lam, bất công, ngoại tình vân vân…
Tuy nhiên, ông ta có tội. Thật vậy, tội rất nghiêm trọng. Tội chính của ông là lòng kiêu ngạo. Nhưng ông ta cũng phù phiếm và tự cho mình đúng lại còn khinh khi những người khác. Những tội lỗi của ông ta không phải vì những việc làm xấu mà là những thái độ xấu. Ông ta tỏ một thái độ có vấn đề như người ta thường nói như thế ở Mỹ.
Người thu thuế nếu muốn cũng có thể cáo tội người Pharisêu. Nhưng ông không làm thế. Ông tập trung vào chính mình, và để tội lỗi của những người khác ở giữa họ và Thiên Chúa. Với sự lương thiện triệt để, ông bóc trần tâm hồn trước mặt Thiên Chúa. Ông không cố tình giấu giếm điều gì. Ông đứng trước mặt Thiên Chúa và với tất cả sự khiêm tốn, ông nói: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Kết quả là khi ông trở về nhà, ông đã được nên công chính. “Lời cầu xin của người khiêm tốn sẽ vọng tới các tầng mây” (Bài đọc 1).
Chúng ta có thể học hỏi cả hai người ấy. Trước hết người Pharisêu. Thật vậy, có một người Pharisêu ẩn núp trong mỗi người chúng ta. Giống như họ, chúng ta có thể nhận thức rõ những tội lỗi của các người khác nhưng lại không nhìn thấy tội lỗi của mình. Người ta dễ có thói quen cáo tội người khác. Nhưng điều nguy hiểm bởi vì nó ngăn cản chúng ta nhìn vào chính tội của mình. Ngoài ra, không thể định tội những người khác mà không để cho sự chủ quan của mình, làm cho thiên lệch.
Và chúng ta có thể học hỏi với người thu thuế. Ông này chỉ cho chúng ta biết phải xưng thú tội lỗi của chúng ta như thế nào. Dù chúng ta chưa nhận thức hết mọi tội mình làm, mỗi người trong chúng ta vẫn có thể nói với tất cả sự thật: “Con là kẻ tội lỗi”.
Nhiều người đến với Bí tích hoà giải với một danh sách các tội đã được chuẩn bị trước. Phần lớn những điều ghi trong danh sách ấy thì tầm thường, không đáng kể và không thay đổi bao nhiêu từ lần xưng tội này đến lần xưng tội sau. Người ta không nỗ lực đi sâu vào căn nguyên của mối tương giao của họ với Thiên Chúa và với người khác. Người ta quá nhấn mạnh đến các tội mà không nhấn mạnh đúng mức trên sự kiện là một người tội lỗi.
Người thu thuế hẳn sẽ dễ dàng lập ra danh sách các tội. Nhưng ông đã không làm thế; ông làm một điều tốt hơn, và cũng khó khăn hơn. Ông nói: “Con là kẻ tội lỗi”.
Chúng ta cũng phải chuẩn bị đứng trước Thiên Chúa như những kẻ tội lỗi cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa như đất hạn cần mưa. Chúng ta cần phải đối diện không phải với sự thật chúng ta phạm tôi mà với sự thật chúng ta là những kẻ tội lỗi. Chúng ta là một dân có tội, sa đoạ – đây là một thực tế. Tội lỗi không phải là một hành động hay một hoạt động các hành động, nhưng là một điều kiện trong đó chúng ta sống. Đó là một chân lý cao cả mà người thu thuế đã lĩnh hội.
Một vấn đề lớn của thời đại chúng ta là con người không biết được chính mình, nhận ra điều xấu và giải quyết nó nơi bản thân mình. Những người trong các nhóm hỗ trợ nói rằng khúc quanh lớn làm họ chuyển biến là khi họ có thể nói lên sự yếu đuối của mình.
Người Pharisêu đầy sự tự mãn, là tâm điểm của thế giới ông ta. Ông đã tự tán dương mình. Từ vị trí tự tâng bốc ấy, ông nhìn xuống những người khác, trong đó có những người mà ông khinh bỉ. Người thu thuế, trái lại, hạ mình trước mặt Thiên Chúa. Ông này đặt hy vọng của ông vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta làm tốt khi theo gương ông. Thiên Chúa yêu thích tâm hồn tan vỡ và sầu khổ biết rõ những thất bại của mình hơn tâm hồn tự mãn và kiêu căng không bao giờ nhận rằng mình đã phạm tội.
“Một kẻ tội lỗi biết rằng mình là kẻ tội lỗi tốt hơn một ông thành biết mình là thánh nhân” (Châm ngôn Yiđít).

 

TN30-C67: Biệt phái và thu thuế

Qua đoạn Tin mừng vừa nghe, chúng ta cùng nhau dừng lại ở hình ảnh người Biệt phái và kẻ: TN30-C67

Qua đoạn Tin mừng vừa nghe, chúng ta cùng nhau dừng lại ở hình ảnh người Biệt phái và kẻ thu thuế.
Cứ bề ngoài người Biệt phái đầy vẻ đạo đức và công chính, đồng thời được mọi người kính nể, vì ông là người cầm cân nảy mực mọi nghi lễ và lề luật. Hằng ngày ông cặm cụi vào từng chi tiết của lề luật. Ông tuân giữ ngày Sabbat, rửa tay chân trước khi ăn uống. Ông đeo thẻ kinh, đứng cầu nguyện và ăn chay nghiệm ngặt. Ông đóng mọi thứ thuế… Đời sống của ông được dệt bằng trăm ngàn khoản luật, và ông cho đó là phương tiện để nên thánh.
Thế nhưng trước mắt Chúa, ông chỉ là một con số không mà thôi. Tại sao thế?
Lý do thứ nhất vì ông cho mình là kẻ vô tội và thánh thiện. Còn những kẻ khác chỉ là những kẻ xấu xa tội lỗi đáng sa hỏa ngục. Từ niềm xác tín ấy, ông trở thành người kiêu ngạo, cố chấp và cứng lòng.
Lý do thứ hai vì ông không hề cầu nguyện. Nếu có thì cũng chỉ là khoe khoang và cầu danh mà thôi. Bên ngoài ông tỏ ra cám ơn Chúa, nhưng cái lõi bên trong nhằm mục đích chứng tỏ ông xứng đáng là một người biệt phái có khả năng, có đạo đức.
Nếu ông thực sự cầu nguyện thì tại sao ông không tạ ơn về những điều đã có, đã làm và đã thất bại. Ông không thể cầu xin vì ông tự mãn, cho mình đầy đủ quá rồi. Cách cầu nguyện của ông chỉ là một hình thức đóng kịch, lấy vải thưa mà che mắt thánh. Đáng lý ra cầu nguyện phải là hơi thở của linh hồn, thì linh hồn của ông đã chết từ lâu.
Và như thế chúng ta thấy cầu nguyện chính là thước đo sự sống. Không cầu nguyện, linh hồn trở nên yếu đuối và có thể chết đi, nghĩa là sa vào vòng tội lỗi. Cầu nguyện không phải chỉ là kể lể, van xin nhưng còn là ca ngợi, ăn năn và sống theo ý Chúa. Cầu nguyện không phải là độc thoại giữa ta và Chúa nhưng là đối thoại giữa Chúa và ta. Cầu nguyện như thế thì hậu quả gấp trăm lần hoạt động vì chúng ta kéo Chúa về phe mình, để Chúa giải quyết những khó khăn và hành động qua đời sống chúng ta.
Rất nhiều người đã cầu nguyện nhưng lòng không đi theo hay tệ hơn nữa còn đi ngược chiều. Có khi chúng ta cầu nguyện chỉ để đánh lạc hướng một dư luận, để ru ngủ mình trong chốc lát, để chửi xéo hay tâng bốc người khác, để khoe khoang công đức của mình. Xét cho cùng, lối cầu nguyện không quan trọng cho bằng đối tượng cầu nguyện. Chúng ta nói chuyện với ai trong khi cầu nguyện, đó mới là vấn đề. Có thể chúng ta đã nói với chính mình hay với một tạo vật nào khác trong lúc cầu nguyện và như vậy lời cầu nguyện của chúng ta chẳng ích lợi gì,
Trái lại, cầu nguyện phải là nói chuyện với Thiên Chúa Đấng ngập tràn quyền năng và yêu thương. Và chúng ta có thể tìm thấy mẫu gương của sự cầu nguyện qua hình ảnh người thu thuế.
Trước mặt mọi người ông chỉ là một kẻ tội lỗi, liên hệ với ngoại bang để bóc lột đồng bào. Chính vì nhận biết thân phận tội lỗi của mình mà ông chỉ dám đứng ở đằng xa, gục đầu xuống và đấm ngực ăn năn.
Với tâm tình khiêm nhu ông đã kêu cầu Chúa: Lạy Chúa xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi. Ông ý thức tội lỗi ông nặng nề mà chỉ mình Thiên Chúa mới có thể thứ tha. Ông tin vào uy quyền của Thiên Chúa khả dĩ làm ông đổi mới. Ông là người đáng khen hơn đáng khinh. Chính vì thế mà ông đã được tha thứ và lời van xin của ông được Thiên Chúa chấp nhận.
Biết cầu nguyện là biết sống và lời cầu nguyện đích thực có thể biến đổi được cả tâm hồn.

 

TN30-C68: SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXX - 2001

Chúng ta đang bước những bước cuối cùng trong Năm Phụng Vụ, Lời Chúa cũng muốn nâng đỡ: TN30-C68

Chúng ta đang bước những bước cuối cùng trong Năm Phụng Vụ, Lời Chúa cũng muốn nâng đỡ những bàn chân rã rời của chúng ta. Một cách đặc biệt, trong những ngày tháng sống trong lo sợ hãi hùng vì khủng bố, vì các cổ phiếu tụt giá, vì nạn mất việc làm...
Dẫu sao Lời Chúa cho thấy chúng ta vẫn còn nhiều hy vọng hơn Thánh Phaolô (nhìn trong cái thực tế trần gian này), vì Phaolô đã thấy ngày " sắp phải đổ máu ra...", đã thấy "giờ phải ra đi"., còn chúng ta, dẫu sao vẫn còn hệ thống an sinh xã hội, kèm theo một tinh thần yêu nước dâng cao, tất cả đảm bảo cho chúng ta "thoát khỏi mọi mưu thâm chước độc". Nói thế là để cùng chia sẻ một cảm nghiệm mới đang nhen nhúm lên trong lòng mỗi người : Ngay giữa tột đỉnh của mọi kỹ thuật và phồn vinh con người vẫn chẳng có gì bảo đảm cho chính mình.
          Đã có những con người như anh biệt phái trong Tin Mừng nghĩ tới thiết lập một hệ thống phòng thủ cho hạnh phúc và an bình của mình bằng "những công trạng đạo đức" : không trộm cướp, không bất công, không ngoại tình, ăn chay mỗi tuần 2 lần, dâng nộp 1/10 lợi tức... Và cũng không ít người ngày hôm nay giống như những Nêrô thời Phaolô tích cực lăn xả vào cuộc chiến tiêu diệt những "kẻ ngoại đạo" như là nền móng cho một thế giới đạo thuần khiết, đảm bảo cho cuộc sống an vui : họ sa#n sàng cho cuộc "tuẫn đạo" vì một thế giới hòa bình. Cũng như anh biệt phái, họ muốn nói "Lạy Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như những kẻ khá...", và hơn anh biệt phái họ muốn bảo vệ "đạo" hay "đời" bằng mọi giá, kể cả mạng sống mình và mạng sống của tập thể mình.
          Nhưng Lời Chúa lại xem ra không đồng tình với suy nghĩ của họ "Ta nói cho các ông biết : người này khi trở về, thì đã được nên công chính rồi, còn người kia thì không". Một phán quyết không khoan nhượng. Một phán quyết bao hàm một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ về Đạo và về Đời.
          Đời ở đây là những mảnh đời bị thua thiệt, bị áp bức, mồ côi, góa bụa, những mảnh đời bị tù đầy chẳng ai bên vực cho... và Đạo ở đây là "Thiên Chúa đứng bên cạnh" những mảnh đời ấy, "ban sức mạnh" để nhờ những mảnh đời đen tối ấy "mà việc rao giảng được hoàn tất". "Đạo" biết rõ "họ còn ở trong thế gian" nhưng không cầu xin "Cha đưa chúng ra khỏi thế gian", nhưng cho họ như cho Phaolô "thoát khỏi mọi mưu thâm chước độc". Cũng như chính bản thân "Đạo" đã "được sai vào thế gian" mang lấy hình hài "tôi đòi", không mưu cầu sự tôn vinh của thế gian, không tìm cách rũ bỏ cái hình hài tôi đòi ấy, không đấu tranh để giai cấp mình thành giai cấp thống trị, nhưng cho dù không thay đổi gì cái hình hài của người thu thuế trong Tin Mừng, mà bằng ánh sáng của Niềm Tin, đã thay đổi cái căn tính để anh trở nên người công chính trong chính cái hình hài thu thuế còn đó. Cũng như chính bản thân "Đạo" đã vào Vương Quốc của Cha trong hình hài của một kẻ đã thụ hình Thập Giá. Đấy là Tin Mừng mà Phaolô đã được nhận lãnh để rao giảng. Đó cũng là Tin Mừng mà mỗi Kitô hữu chúng ta được trao ban.
          Trong sự hoảng loạn của cuộc sống, biết bao tiếng nói tự mệnh danh là Cứu Độ từ bên này hay bên kia những chính kiến. Trong số đó không thể không nhắc đến những tiếng nói vô cùng nhiệt huyết của những anh chị em không đồng quan điểm với các Chủ Chăn tại VN hôm nay. Nhưng mỗi người hãy nhìn vào chính Đức Giêsu, hãy nhìn vào thánh Phaolô để nghiệm ra con đường "Đạo" đã chiếu soi những mãnh đời khốn cùng như thế nào để hãy cùng thánh Phaolô "giữ vững niềm tin" vào "lễ tế" cuộc đời như là sức mạnh tỏa sáng Tin Mừng trong mỗi tâm hồn. Ơn Cứu Độ không nhằm những cơ chế, những tổ chức, nhưng nhằm gợi lên trong trái tim và trí tuệ con người TÌNH YÊU HIỆN DIỆN CỦA Thiên Chúa, Tình yêu chấp nhận đồng hành, chia sẻ, và đón nhận mọi con người. Quả thực, nếu nhìn theo cách nhìn của những chủ thuyết cứu thế thường gặp, thì Đức Giêsu đã thất bại, Phaolô cũng đã thất bại, các Chủ Chăn của chúng ta cũng đã thất bại, nhưng nếu nhìn vào tính cách đồng hành, chia sẻ và đón nhận mọi con người trong TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA, thì Giáo Hội Việt Nam hôm nay có thể nói như thánh Phaolô "Cha đã chiến đấu xuất sắc, đã chạy hết quãng đường, đã giữ vững niềm tin...". Xin Tạ Ơn Chúa.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN30-C69: CHÚA NHẬT THỨ 30 THƯỜNG NIÊN

(24-10-2004)
Sự công chính theo cách đánh giá của Đức Giêsu
ĐỌC LỜI CHÚA
· Hc 35,12-14.16-18: (12) Đức Chúa là Đấng xét xử, Người chẳng thiên vị ai. (13) Người không vị nể mà làm hại kẻ nghèo hèn, nhưng nghe lời kêu xin của người bị áp bức.
· 2 Tm 4,6-8.16-18: (8) Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện.
 · TIN MỪNG: Lc 18,9-14
Dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế
 (9) Đức Giêsu còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: (10) «Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. (11) Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác, tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. (12) Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”. (13) Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. (14) Tôi nói cho các ông biết, người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên».
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý
 

Bạn có ngạc nhiên về cách đánh giá của Đức Giêsu về hai người trong bài Tin Mừng trên không? : TN30-C69

1. Bạn có ngạc nhiên về cách đánh giá của Đức Giêsu về hai người trong bài Tin Mừng trên không? Nếu là bạn, bạn đã đánh giá hai người ấy thế nào?
2. Bạn rút ra bài học gì về quan điểm của Đức Giêsu về sự thánh thiện? Bạn phải thay đổi cách đánh giá của bạn theo Đức Giêsu hay theo người đời?
3. Theo Đức Giêsu, sự công chính hệ tại điều gì? tại sự vô tội? tại những việc đạo đức mình làm được? tại việc giữ luật nhiệm nhặt? hay tại tình yêu? tại lòng khiêm nhượng? tại sự hối cải?
Suy tư gợi ý
1. Cách đánh giá của Đức Giêsu thật đáng ngạc nhiên
Đọc đoạn Tin Mừng trên, chúng ta không khỏi ngạc nhiên và kinh sợ. Ngạc nhiên vì kết luận rất bất ngờ của Đức Giêsu so với cách suy nghĩ đánh giá của chúng ta. Kinh sợ vì thấy chính mình nhiều khi cũng hành xử y hệt người Pharisêu ấy. Người Pharisêu trong đoạn Tin Mừng tự hào về những việc mình làm, điều đó không phải là không có lý do chính đáng. Chắc hẳn ông ta đã thật sự làm được những điều mà ông ta kể ra với Thiên Chúa. Bài Tin Mừng viết, «Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng…». Từ «nguyện thầm» cho ta thấy những việc tốt lành đạo đức ông kể ra là chỉ để cho Chúa nghe, chứ không phải để khoe khoang với mọi người. Cho nên những việc ấy là có thật. Chẳng những ông tuân giữ luật Môsê cũng là luật Chúa một cách nhiệm nhặt, mà còn làm tốt hơn những gì luật ấy buộc nữa. Chẳng hạn luật Môsê chỉ buộc kiêng ăn mỗi năm một lần vào ngày lễ tạ tội, tức ngày 10 tháng 7 của lịch Do Thái (x. Lv 16,29), thế mà ông đã ăn chay mỗi tuần hai lần. Nghĩa là nhiều hơn gấp 104 (=52 x 2) lần luật buộc! Chính những việc làm xem ra tốt lành ấy đã khiến ông tự hào mình đạo đức, khiến ông rơi vào tình trạng mà sách Cách Ngôn nói: «Có hạng người cứ cho mình là trong sạch, dù chưa được gột rửa khỏi vết nhơ» (Cn 30,12).
Nhưng rõ ràng theo quan điểm Đức Giêsu thì ông không phải là người công chính trước mặt Thiên Chúa. Điều đó hẳn phải làm ta ngạc nhiên. Nhưng ta còn ngạc nhiên hơn nữa khi Đức Giêsu lại coi người thu thuế tội lỗi kia – là người công chính sau khi ông cầu nguyện cách khiêm cung như thế. Mặc dù người thu thuế chắc chắn đã phạm nhiều tội hơn người Pharisêu kia. Quả thật, cách suy nghĩ, đánh giá của Đức Giêsu ngược hẳn với cách thường tình của chúng ta, kể cả những Kitô hữu “cao cấp”. Nhưng là người Kitô hữu, chúng ta phải học cách suy nghĩ và đánh giá của Đức Giêsu, chứ không phải tiếp tục cố chấp với cách suy nghĩ của mình.
Thiên Chúa cũng sẽ xét xử chúng ta dựa trên cách suy nghĩ và đánh giá của Đức Giêsu chứ không theo cách của chúng ta. Do đó, tới ngày phán xét, sẽ có một sự đảo lộn không ngờ so với những suy nghĩ hay dự đoán của con người, vì có «những điều cao trọng đối với người đời lại là điều ghê tởm trước mặt Thiên Chúa» (Lc 16,15). Vì thế, ngày ấy có thể xảy ra: «Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót» (Mt 20,16; Mc 10,31; Lc 13,30); «Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 8,11-12); «Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác» (Mt 7,22-23).
2. Sự công chính theo quan điểm của Đức Giêsu
Rõ ràng Đức Giêsu không phán đoán theo kiểu con người, kể cả những Kitô hữu “cao cấp”. Sự công chính không chính yếu hệ tại những việc đạo đức, những lễ nghi tôn giáo mà ta làm được, cho dù nhiều tới đâu. Lời của thánh Phaolô soi sáng cho ta phần nào: «Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,2-3). Như vậy, tất cả những việc tốt lành mà ta làm được, dù nhiều đến đâu, nếu không phát xuất từ tình yêu đích thực, thì trước mặt Thiên Chúa, vẫn chỉ là một con số không to tướng.
Những việc làm tốt đẹp ấy nếu thật sự phát xuất từ tình yêu, thì ta sẽ không bao giờ kể ra để được mọi người khen ngợi, kể cả việc kể ra với Thiên Chúa. Khi kể ra để được khen ngợi, thì việc kể ra đó chứng tỏ ta làm những việc ấy không phải do tình yêu, mà do ý muốn được khen ngợi là đạo đức, là có tình yêu, là giỏi giang, là tuyệt hảo. Và như thế thì ta «đã được phần thưởng rồi» (Mt 5,2.5), nên Thiên Chúa không còn phải thưởng cho ta nữa.
Nếu ta kể công với Thiên Chúa, thì hóa ra ta làm những việc ấy chỉ để Ngài trả công như thể ta là người làm công. Họ làm việc để được trả lương hơn là làm vì tình yêu, khác với con cái trong nhà làm vì yêu thương cha mẹ chứ không để được cha mẹ trả công. Trường hợp này, Thiên Chúa, Đấng vô cùng công bằng, luôn trả công cho ta xứng đáng bằng một phần thưởng nào đó có thể ngay ở đời này; nhưng Ngài không thể kể ta là người công chính đáng được hưởng thứ phần thưởng vốn chỉ dành cho những người có tình yêu đích thực. Cũng như ông chủ có thể trả lương sòng phẳng cho những người làm công, nhưng không bao giờ chia gia tài cho họ, mà chỉ chia gia tài cho con cái, cho dẫu con cái làm được ít việc cho ông hơn người làm công. Cũng vậy, trước con mắt Thiên Chúa, giá trị của một công việc dù nhỏ bé nhưng được làm vì tình yêu thì vẫn vô cùng lớn hơn giá trị của một công việc dù to tát nhưng lại làm vì một động lực khác.
3. Trường hợp hai người cầu nguyện trong dụ ngôn
Trong dụ ngôn của bài Tin Mừng trên, người Pharisêu tưởng rằng ông có thể cậy vào việc giữ lề luật và những việc đạo đức của mình để tự hào là công chính trước mặt Thiên Chúa. Nhưng thánh Phaolô cho biết, «Trước nhan Chúa, không người phàm nào được nhìn nhận là công chính vì đã làm những gì Luật dạy» (Rm 3,20; Gl 2,16); «Dân Ítraen tìm một luật làm cho họ nên công chính thì lại không đạt tới Luật đó.  Tại sao thế? Vì họ không tìm cách nên công chính nhờ đức tin, nhưng nhờ việc làm» (Rm 9,31-32). Sự công chính không đến từ việc làm hay việc tuân giữ lề luật, mà đến từ việc tin vào ân sủng của Thiên Chúa và sống phù hợp với niềm tin ấy.
Do đó, càng cậy vào việc giữ luật và những việc mình làm để tự hào về sự công chính của mình thì càng trở nên bất chính trước mặt Thiên Chúa. Vì «Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường» (Gc 4,6; Pl 5,5). Do đó, ta đừng bao giờ tự hào về sự thánh thiện hay những việc làm tốt đẹp của mình. Thánh Phaolô viết: «Người nào không dựa vào việc làm nhưng tin vào Thiên Chúa, Đấng làm cho kẻ vô đạo nên công chính, thì lòng tin sẽ làm cho người ấy được Thiên Chúa kể là công chính» (Rm 4,5). Trước khi sa ngã, chắc chắn thiên thần Lucifer còn thánh thiện hơn ta bây giờ rất nhiều. Nhưng ‘ông’ đã trở nên xấu xa tội lỗi vì tính kiêu ngạo và niềm tự hào về sự thánh thiện của ‘ông’. Do đó, kiêu ngạo là đầu mối mọi tội lỗi, nó xấu xa và tác hại hơn bất kỳ tội ác nào.
Còn người thu thuế, tuy rằng ông tội lỗi thật, ông đã từng phạm nhiều tội ác, nhưng ông đã hối hận và thành thật nhận chân tình trạng tội lỗi của mình. Qua sự đánh giá của Đức Giêsu, ta thấy đối với Thiên Chúa, tuy tội lỗi làm mất lòng Thiên Chúa nặng nề, nhưng tình yêu được thể hiện bằng tâm hồn khiêm nhượng lại làm đẹp lòng Ngài nhiều hơn. Thật vậy, thánh Phêrô nói: «Lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi» (1Pr 4,8; x. Tb 12,9). Kẻ thánh thiện nhất trên đời cũng vẫn có tội, vì trước mặt Thiên Chúa, «không ai là người công chính, dẫu một người cũng không» (Rm 3,10). Vấn đề không phải là mình tội lỗi nhiều hay ít, mà là mình có được Thiên Chúa tha thứ hay không: «Hạnh phúc thay kẻ lỗi lầm mà được tha thứ, người có tội mà được khoan dung! Hạnh phúc thay người Chúa không kể là có tội!» (Rm 4,7-8). Chính tình yêu và lòng khiêm nhường thống hối khiến Chúa tha thứ tất cả và «không kể là có tội». Do đó, một người vô cùng tội lỗi nhưng một khi đã thật lòng thống hối, thì trước mặt Thiên Chúa, người ấy công chính hơn một người ít phạm tội, làm được nhiều việc phúc đức, nhưng lúc nào cũng tự hào về sự vô tội hay đạo đức của mình.
Bài Tin Mừng hôm nay mặc khải cho chúng ta biết điều ấy. Đó là tin vui cho những người tội lỗi, vì họ chỉ cần thật lòng thống hối là được nên công chính; nhưng lại là tin buồn cho những người kiêu ngạo, thích tự hào về sự đạo đức hay thánh thiện của mình.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, có thể nói: trước mặt Cha, tính ích kỷ và kiêu ngạo của một người che lấp tất cả mọi sự tốt đẹp của người ấy, khiến người ấy trở thành bất chính. Và tình yêu thương và lòng khiêm nhượng của một người co thể che lấp được những tội lỗi xấu xa của người ấy. Vậy, xin Cha giúp con biết sống yêu thương, khiêm nhượng và trừ tuyệt tính ích kỷ và kiêu ngạo trong con.
Joan Nguyễn chính Kết

 

TN30-C70: NGƯỜI KHIÊM NHƯỢNG CẦU NGUYỆN

Lc 18, 9-14
 

Tôi còn nhớ rất rõ khi còn thời trung học, một hôm tôi tới lớp, anh em cùng lớp đã tề tựu khá: TN30-C70

Tôi còn nhớ rất rõ khi còn thời trung học, một hôm tôi tới lớp, anh em cùng lớp đã tề tựu khá đông, một anh bạn kể cho tôi câu chuyện làm tôi vẫn còn nhớ tới ngày nay. Anh bạn kể rằng :” Gần nhà anh ta có một cậu sinh viên rất giỏi nhưng đầy tự kiêu và khoe khoang.Một hôm anh ta ba hoa chích chòe khoe hết môn này môn nọ và môn nào anh ta cũng cho là anh ta không ngán, môn nào nào anh ta cũng xem mình là giỏi, là hơn cả giáo sư. Một anh bạn khác đế vào :” Trên trần gian này chỉ có ba bồ chữ anh bạn sinh viên này đã chiếm hơn cả hai bồ, vậy còn gì cho người khác nữa đâu ! “. Câu chuyện xem ra rất thường nhưng nó gây cho tôi nhiều suy nghĩ cho tới lúc này. Tin Mừng Lc 18,9-14 hôm nay cũng đưa ra hai nhân vật ông Pharisiêu kiêu ngạo, khoe khoang và khóac lác, kể công, người thu thuế thì khiêm nhượng, tự hạ, bị lép vế không dám khoe khoang, tự kể, tự  trưng thành tích gì cả.
CÁI TRỚ TRÊU CỦA CON NGƯỜI : Đời thường và trong giới đạo đức cũng thế. Có những người được Chúa ban cho ơn huệ, được tài trí khôn ngoan, làm giầu, học hành giỏi giang hơn người, thành công trong cuộc đời, làm được những việc nổi bật trong xã hội, lại đâm ra tự khoe, tự mãn, khinh rẻ người khác. Có những người tự cho mình đạo đức, giữ luật, đọc kinh,lại cũng đâm coi mình là thánh thiện, đạo đức hơn người khác. Những chuyện ấy nhan nhản trong xã hội trong giới đạo đức và xem ra thực thường tình, do đó, Chúa Giêsu mới nhắc nhở nhân lọai, nhắc nhở con người, nhắc nhở mỗi người qua dụ ngôn :” Người Pharisiêu công chính và người thu thuế tội lỗi “. Đọc đọan Tin Mừng này, chúng ta cảm thấy nực cười, cảm thấy nhột nhạt, khó chịu, cười ra nước mắt. Ông Pharisiêu lên đền thờ cầu nguyện. Nếu chỉ nhìn qua sự việc, cầu nguyện là điều tối quan trọng và ông Pharisiêu lên đền thờ để cầu nguyện là việc thật chính đáng. Nhưng ông Pharisiêu đã không cầu nguyện như chúng ta tưởng tượng, như chúng ta suy nghĩ. Ông lên đền thờ để khoe thành tích của ông. Ông cầu nguyện, thưa chuyện với Chúa nhưng thực ra ông đang nói một mình và chỉ mình ông nghe mà thôi. Ông tạ ơn Chúa nhưng kỳ thực ông bắt Chúa phải cám ơn ông. Ông đã huênh hoang kể công đức của ông. Quả thực những điều ông kể là đúng nhưng thay vì khiêm nhượng biết ơn Chúa, ông lại cho rằng ông làm được những việc đó là do tự sức ông, ông không biết đây là do ân huệ của chính Thiên Chúa ( Pl 3, 9 ). Do đó, những việc ông làm được, những điều ông giữ, những việc đạo đức ông làm thay vì trở nên ơn nghĩa, công phúc thì nó lại trở nên bọt bèo đi theo cái tôi quá lớn của ông. Ông thẳng thừng khinh miệt người khác. Ông trở nên sai lầm nặng nề khi ông so sánh mình với người thu thuế khiêm nhượng. Sai lầm của ông ở chỗ:” Vì con không như bao kẻ khác ; tham lam, bất chính, ngọai tình hoặc, như tên thu thuế kia “( Lc 18, 11 ). Phải chi, ông Pharisiêu đừng đem mình ra so sánh với người khác, với người thu thuế mà huênh hoang, ngạo mạn, dậy đời. Phải chi, ông pharisiêu biết nhìn lên Chúa, ông sẽ thấy mình chưa ra gì mà còn phải cố gắng hết sức để cậy trông vào Chúa, vì đối với Chúa ông chỉ là hư vô…Nếu biết nhìn vào Chúa, ông sẽ cần đến lòng nhân từ xót thương của Chúa, ông sẽ cần đến sự tha thứ và khoan dung của Người. Khi đó, ông mới nhận ra sự yếu hèn của mình và mới biết cầu nguyện bằng những lời lẽ chân thành và khiêm tốn của người thu thuế:” Lạy Tiên Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội “ ( Lc 18, 13 ). Người thu thuế tự nhận mình là kẻ đắc tội với Chúa và với anh em. Nên, anh ta chỉ biết cúi mặt xin Chúa tha thứ tôi lỗi. Chính vì thế, người thu thuế đang sống trong sự thật và là người công chính trước mặt Thiên Chúa.   
CÁI ĐẸP CỦA TIN MỪNG : Câu chuyện về người sinh viên tự mãn, tự kiêu, tự khoe mà tôi đã được một anh bạn cùng lớp trung học kể lại giúp tôi hiểu thật rõ ý nghĩa của dụ ngôn hôm nay. Bởi vì, tất cả đều là hồng ân của Chúa. Tất cả đều do Chúa ban và mọi người đều phải dùng những tài năng, những thành công, danh vọng, chức tước, địa vị, của cải để làm vinh danh Chúa. Tự kiêu,tự mãn, tự khoe, tự đề cao sẽ chẳng nhận được lợi ích nào. Kẻ  tự cho mình là thánh thiện, đạo đức, là đầy đủ sẽ trở nên không trước mặt Thiên Chúa, còn kẻ khiêm tốn, tự nhìn nhận mình là yếu hèn, tội lỗi sẽ được Chúa khỏa lấp và ban tràn đầy hồng ân. Bởi Chúa đã phán :” Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên “( Lc 18, 14 ). Đây là nét rất đẹp và hoàn toàn thật của Tin Mừng, của con đường cứu độ của Chúa Giêsu.
CHÚA MỜI GỌI MỌI NGƯỜI, MỖI NGƯỜI : Đường vào Nước Trời là con đường hẹp, đường vác thập giá. Người Kitô hữu tất cả đều được mời gọi trở nên thánh. Tuy nhiên, theo đạo không chưa đủ mà giữ đạo không vẫn chưa đủ. Con người còn được mời gọi sống công chính và thực hiện con đường phục vụ khiêm tốn. Lời cầu nguyện của người thu thuế phải nên mẫu mực cho chúng ta. Cầu nguyện không phải là khoe khoang, đòi Chúa phải biết ơn chúng ta hay nói cách nôm na là chúng ta đòi nợ Chúa. Cầu nguyện là khiêm tốn tạ ơn Chúa và xin Chúa đoái thương tha thứ cho chúng ta.” Lạy Chúa xin xót thương con là kẻ tội lỗi “.
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết cầu nguyện như Chúa đã dạy các môn đệ. Xin giúp chúng con biết nhìn ra sự yếu hèn của mình và nhận ra chúng con chỉ là không trước mặt Thiên Chúa. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

TN30-C71: TỰ TRỌNG

Cầu nguyện là đặc điểm của con người.   Cầu nguyện là hơi thở của các tín hữu.  Nhưng đâu là: TN30-C71

Cầu nguyện là đặc điểm của con người.   Cầu nguyện là hơi thở của các tín hữu.  Nhưng đâu là bản chất và hình thức cầu nguyện đích thực.  Hôm nay, Đức Giêsu trình bày những điều kiện sâu xa cần thiết cho việc cầu nguyện.
HAI LỜI CẦU NGUYỆN.
Cầu nguyện là một hành vi đạo đức. Nhưng việc đạo đức đó cũng có thể trở thành vô đạo đức, nếu con người không biết tự trọng.   Lời cầu nguyện hão huyền chỉ dựa trên những điều hư không.   Hư không đích thực và lớn nhất trên trần gian này chính là cái tôi.     “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện.” (Lc 18:10)   Cả hai người đều thờ một Chúa, đều ở trong một đền thờ, đều đang làm một hành vi đạo đức cao cả nhất.   Một trong hai người cầu nguyện trong đền thờ là ông Pharisêu.  Từ tâm tình, cung cách  đến lời nói đều không thích hợp với  việc cầu nguyện.   “Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như  bao người khác : tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.” (Lc 18:11)   Oâng xác định thế đứng của minh trong tương quan với người thu thuế.  Khi so sánh, ông mới thấy mình cao vượt hơn mọi người về mặt đạo đức.   Trong khi mọi người sống ích kỷ, xa hoa, trác táng, ông chỉ lo việc đạo đức.   Trong việc đạo đức, ông là người rất kỷ luật và sốt sắng.    Oâng cầu nguyện thường xuyên và giữ Luật Thiên Chúa.  Oân vượt trên cả những đòi hỏi của lề luật.  Trong khi luật chỉ đòi ăn chay mội năm một lần vào Ngày Xá Tội Vong Aân, ông ăn chay một tuần hai lần vào thứ hai và thứ năm.   Oâng kể lể với Chúa : “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.” (Lc 18:12)    Thái độ tự mãn đã không cho ông nhìn thấy sự thật về mình và người khác nữa.   Như vậy ông còn cần gì đến Chúa nữa không ?  Vậy tại sao ông lại vào đền thờ ?   Thực ra ông quan niệm cầu nguyện chỉ là việc đổi chác theo lẽ công bình, chứ không phải là một ân sủng.
Trong khi đó, người thu thuế hoàn toàn ý thức tự bản chất cầu nguyện chỉ là xin Chúa thương xót.   Oâng cảm thấy phải tùy thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa.    Nhìn cung cách ông cầu nguyện cũng có thể thấy được tất cả tâm tình của ông.  “Người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời.” (Lc 18:13)   Cung cách đó cho thấy một khoảng cách giữa Thiên Chúa cực thánh và con người tội lỗi.   Nếu Chúa không thương xót, khoảng cách đó không bao giờ lấp đầy được.   Oâng thành tâm cầu nguyện, “vừa đấm ngực vừa thưa rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.’” (Lc 18:13)   Oâng nhận sự thật về mình, chứ không dám so sánh với ai.  Oâng chỉ biết tương quan giữa Thiên Chúa và mình là một tương quan bất tương xứng.  Nhưng ông tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh của lòng Chúa xót thương sẽ xóa nhòa biên giới giữa cõi thánh thiêng và trần tục.  
Dụ ngôn hôm nay mạc khải một lúc hai tương quan.   Tương quan giữa Thiên Chúa và con người không thể ổn định nếu tương quan giữa con người với nhau không tốt đẹp.  Trong dụ ngôn này, rõ ràng ông Pharisêu tập trung hoàn toàn vào cái tôi của mình.  Không thông cảm với người khác, làm sao ông có thể đòi Thiên Chúa cảm thông với mình ?   Đó là lý do tại sao ông thất bại trong việc cầu nguyện.   Ông không làm đẹp lòng Chúa như mình tưởng.   Thật là công dã tràng bao nhiêu khó nhọc trong việc giữ luật và đóng góp vào đền thờ.   Trái lại, dù không có những việc đạo đức như ông, người thu thuế “đã được nên công chính” (Lc 18:14) vì đã hết lòng cầu khẩn Chúa xót thương đến thân phận mình.   Oâng không có công trạng gì để tự hào.   Khi nhìn lại mình, ông chỉ thấy một vực thẳm tội lỗi.   Nhìn lên Thiên Chúa, ông lại thấy vực thẳm đầy ân sủng, “ân sủng tự bản chất đầy lòng thương xót và tha thứ.” (NIB 1995:343)   Trái lại, ông Pharisêu không hề cầu xin Chúa tha thứ hay thương xót, nên tình trạng ông trước sau như một.   Oâng coi mình hoàn hảo về mọi phương diện, nên cầu nguyện đối với ông là đòi nợ.   Thiên Chúa chẳng nợ ai cả, tại sao ông lại biến Thiên Chúa thành con nợ ?  Lời cầu của ông hoàn toàn dựa trên công trạng riêng, chứ không trên tình yêu Thiên Chúa.   Oâng nói bằng một ngôn ngữ lạ hoắc.  Thiên Chúa không hiểu ông muốn nói gì.   Oâng tin Chúa.  Nhưng ông tin mình hơn. 
Thế mới biết tại sao Đức Giêsu lại nói có “một số người tự hào cho mình là người công chính mà khinh chê người khác.” (Lc 18:9)  Những hạng công chính như thế không bao giờ là đối tượng của sứ mệnh cứu độ.  Nói khác, ơn cứu độ không dành cho những người kiêu ngạo.   Bởi đấy Chúa mới nói : “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn.” (Lc 5: 32)  Chỉ những người tội lỗi mới hiểu được Chúa.  Ngược lại, chỉ Chúa mới thông cảm với người tội lỗi, vì chính Chúa đã từng đi sát với họ, đến nỗi bị mang tiếng là “bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.” (Lc 7:34)    Người tội lỗi hoàn toàn tay trắng trước nhan Chúa.  Họ cũng là một hạng người nghèo về tinh thần.   Họ không có gì để kể lể.  Lời cầu nguyện của họ thật là vắn tắt và đơn sơ, nhưng đầy ý nghĩa đối với Chúa. “Oâng đã chẳng cho đi cái gì, nhưng đã nhận được tất cả.” (Faley 1994:696)
PHARISÊU THỜI ĐẠI.
Thánh Phaolô cũng đã từng là Pharisêu hạng gộc.   Nhưng thánh nhân đã trải qua một kinh nghiệm đau thương và đã thấy được tất cả bộ mặt thật của những hạng “người tự hào cho mình là công chính.”   Nhưng giờ đây Người không tự cho mình là công chính, nhưng hi vọng được vinh dự ấy : “Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính.” (2 Tm 4:8)   Thánh nhân cũng cảm thấy tự hào khi nói : “Nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe  biết Tin Mừng.” (2 Tm 4:17)   Thế nhưng, khác với đồng môn xưa, Người qui hướng tất cả về Thiên Chúa, Đấng “đã ban sức mạnh cho tôi.” (2 Tm 4:17)   Đó là lý do tại sao Người đầy hứng khởi khi “chúc tụng Chúa vinh hiển đến muôn thuở muôn đời. Amen ” (2 Tm 4:18)    Khác với thái độ ngông nghênh của ông Pharisêu, thánh nhân thú nhận : “Tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa.  Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa.” (1 Cr 15:9-10)  Ơn Chúa vô cùng sung mãn đã bù đắp được tất cả những thiếu sót quá khứ và đưa thánh nhân vào một tương quan hoàn toàn mới với Thiên Chúa và tha nhân.
Tương quan giữa con người với Thiên Chúa và với anh em đang đổ vỡ.  Khủng bố và chiến tranh là bằng chứng cho thấy vẫn còn nhiều Pharisêu trong cộng đồng nhân loại.  Thượng phụ Igace IV Hazim đã vạch mặt chỉ tên: “Chính phủ Hoa Kỳ vô tình cho người ta cảm tưởng họ đang tìm cách thống trị thế giới,”(CWNews 22/10/2001) trong khi họ vẫn tỏ ra nhân đạo qua chính sách viện trợ.  Nhân  đạo chỉ là phấn son che đậy những nét cao ngạo trên gương mặt Aâu Mỹ.  Giống như Pharisêu, họ xuất hiện trước nhan Chúa với một tay đầy ắp công đức, một tay ngổn ngang bom đạn.   Thử hỏi có thể lập tương quan với Thiên Chúa trong khi tương quan con người bị gẫy đổ không ? Tương quan nhân loại hôm nay cần phải được điều chỉnh lại.   Nếu không, nhân loại sẽ trở về thời ăn lông ở lỗ, xây dựng cuộc sống trên luật báo thù.  Theo phái đoàn Vatican tại Liên Hiệp Quốc, cuộc không kích vào Afghanistan là “‘những hành động bào thù’, không loại trừ được các nguyên nhân gây nên khủng bố.” (CWNews 23/10/2001)    Đức Tổng Giám mục Martino cho biết cần phải “loại bỏ các yếu tố hiển nhiên tạo nên những điều kiện dễ dàng sinh ra thù hận và bạo lực.  Việc phủ nhận nhân phẩm, thiếu tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản, việc loại trừ một số người khỏi đặc quyền xã hội, những nơi tị nạn không thể chịu đựng nổi, và sự đàn áp về thân thể cũng như tâm lý là những mảnh đất mầu mỡ sẵn sàng cho bọn khủng bố khai thác.  Bởi đấy, bất cứ chiến dịch chống khủng bố nào cũng cần đưa ra các hoàn cảnh xã hội, kinh tế, và chính trị nuôi dưỡng mầm mống khủng bố, bạo lực, và xung đột.” (CWNews 23/10/2001)

 

TN30-C72: Chúa Nhật 30 Quanh Năm

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:       2 Ti-mô-thê 4: 6-8, 16-18
 

Trong ba Thư Mục vụ gửi cho Ti-mô-thê và Ti-tô, thánh Phao-lô thường chia sẻ về chính cuộc: TN30-C72

Trong ba Thư Mục vụ gửi cho Ti-mô-thê và Ti-tô, thánh Phao-lô thường chia sẻ về chính cuộc sống ngài và những đau khổ ngài phải chịu vì Tin Mừng, để khích lệ hai ông và những người kế vị các ông hãy kiên trì trong gian khổ đời tông đồ.
          Phao-lô nói đến hoàn cảnh cô đơn của ngài khi bị mọi người bỏ rơi trong lúc ngài cần tới họ. Chỉ có mình Lu-ca là ở bên cạnh ngài lúc này. Nhưng có lẽ một mình Lu-ca không đủ trấn an ngài. Ngài muốn có càng đông người càng tốt. Những tên người này người nọ, cả đến những đồ vật thường dùng cũng được nhắc đến, như cái áo choàng, sách vở, cuộn giấy da, đã gián tiếp nói lên tâm trạng cô đơn ấy (cc. 10-15) và ước mong của Phao-lô là "Anh (Ti-mô-thê) hãy mau mau đến với tôi... Anh hãy mau đến trước mùa đông" (câu 9 và 21). Cho dù hoàn cảnh như vậy, Phao-lô vẫn xác tín rằng Chúa ở với ngài và ban sức mạnh cho ngài. Hơn lúc nào hết, ngài vững tin rằng Chúa Ki-tô sẽ đến cứu thoát ngài và đem ngài vào "vương quốc của Người ở trên trời" (4:18).
          Thánh Phao-lô so sánh cuộc đời ngài như một cuộc chạy đua và chính ngài như một lực sĩ của Chúa Ki-tô. Cuộc đua ấy có biết bao gian khổ và bách hại, nhưng Phao-lô đã luôn trung thành với Chúa Ki-tô. Hình ảnh về cuộc đua hoặc cuộc chiến đấu này còn được thánh Phao-lô nhắc đến rất nhiều lần trong các thư của ngài. Nhưng ở đây, khi ví mình như lực sĩ điền kinh của Chúa Ki-tô, ngài muốn nhắn nhủ Ti-mô-thê và những ai đọc thư này hãy kiên trì trong cuộc chạy đua là chính cuộc đời Ki-tô hữu. Để khích lệ họ, ngài đã lấy chính mình làm gương mẫu cho Ti-mô-thê và những tín hữu khác. Ngài nhấn mạnh đến hình ảnh "chạy hết chặng đường" để nhắc nhở những ai bị cám dỗ bỏ cuộc hay dừng lại trước khi tới đích. Bởi vì ngài đã tới đích nên ngài có thể cam kết với chúng ta những gì chúng ta sẽ được lãnh nhận sau cuộc đua. Đó là vòng hoa và phần thưởng cho những ai "hết tình mong đợi" Đức Ki-tô xuất hiện.
          Hai thái độ người Ki-tô hữu phải có trong cuộc chạy đua ở trần gian này là kiên trì và hy vọng. Đối với hiện tại, chúng ta kiên trì để chấp nhận và thắng vượt gian khổ để trung thành với Chúa Ki-tô và sống theo những giá trị Tin Mừng. Đối với tương lai, chúng ta đặt tất cả niềm hy vọng nơi Chúa vì chúng ta biết "Chúa là vị Thẩm Phán chí công."
          Đức cậy giúp chúng ta biết kiên nhẫn và hy vọng thế nào, thì cũng thế, đức tin làm cho chúng ta nhận biết sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình. Bản thân Phao-lô, qua những kinh nghiệm khổ đau quá khứ ngài đã nhận thấy rõ ràng: "Chúa đứng bên cạnh, Người ban sức mạnh cho tôi." Vị Tông đồ Dân ngoại giờ đây nhìn lại những việc mình đã thực hiện, "việc rao giảng được hoàn thành và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng," không phải để vỗ ngực tự phụ, nhưng là để khiêm tốn tôn vinh sự hiện diện và sức mạnh của Chúa đã hành động qua ngài.
          Ki-tô hữu khi đã sống đức tin và đức cậy thì lòng họ cũng đầy ắp lòng mến Chúa. Chính Phao-lô đã cảm nghiệm điều ấy và ngài đã nói lên xác tín của ngài trong thư Rô-ma: "Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta" (Rm 8:38-39).
          Cả ba nhân đức đối thần ấy đã nắn đúc con người Phao-lô với đầy đủ đức tính để đối phó với những phũ phàng cuộc đời khi thi hành sứ mệnh, theo cùng cách thức Đức Ki-tô đã làm gương cho ngài. Như Đức Ki-tô giờ phút cuối cùng vẫn có thể cầu nguyện cho những kẻ giết hại mình - "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23:34) - Phao-lô cũng có thể nói tương tự: "Mọi người đã bỏ mặc tôi. Xin Chúa đừng chấp họ." Một thái độ bình tĩnh, đầy tin tưởng lạc quan trong khi "sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ phải ra đi", phải là thái độ được nuôi dưỡng và thấm nhuần do đức tin, cậy, mến.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Có nhiều lý do khiến chúng ta sống cô đơn. Nhưng tôi có thể chia sẻ với nhóm nỗi cô đơn vì cố gắng sống Tin Mừng như thế nào?
          Nhìn lại thái độ của mình đối với cuộc đời, tôi phải diễn tả thái độ của tôi thế nào? Đó có phải là thái độ tôi cần thay đổi và học hỏi nơi Chúa Giê-su và nơi thánh Phao-lô không?