Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 14-C Bài 151-165 Hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về

Chủ nhật - 03/07/2022 10:00
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 14-C Bài 151-165 Hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 14-C Bài 151-165 Hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 14-C Bài 151-165 Hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về
---------------------------------------

TN 14-C151: NIỀM VUI THÁNH ĐỨC.. 1
TN 14-C152: NGUYÊN NHÂN CỦA NIỀM VUI KITÔ HỮU.. 5
TN 14-C153: CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN_C.. 7
TN 14-C154: BÌNH AN CỦA NGƯỜI TRUYỀN GIÁO.. 10
TN 14-C155: VÀI NGUYÊN TẮC TRUYỀN GIÁO CỦA CHÚA GIÊSU.. 11
TN 14-C156: SỨ GIẢ CỦA NIỀM VUI 15
TN 14-C157: SAI ĐI TRUYỀN GIÁO.. 18
TN 14-C158: BÀI SAI ĐÚNG ĐẮN.. 26
TN 14-C159: LOAN BÁO - LÀM CHỨNG VÀ NGUYỆN CẦU.. 32
TN 14-C160: TƯ CÁCH MÔN ĐỆ VÀ VIỆC RAO GIẢNG TIN MỪNG CỦA CHÚA KITÔ.. 34
TN 14-C161: TẠI SAO ƠN GỌI TU TRÌ LẠI SUY GIẢM?. 38
TN 14-C162: BÌNH AN CHO ANH CHỊ EM! 40
TN 14-C163: HÃY VUI MỪNG VÌ TÊN ANH EM ĐÃ ĐƯỢC GHI TRÊN TRỜI 43
TN 14-C164: Ý THỨC TRUYỀN GIÁO.. 46
TN 14-C165: CHÚA GIÊSU SỬA SOẠN NHÂN CHỨNG.. 48

------------------------------------------

 

TN 14-C151: NIỀM VUI THÁNH ĐỨC


Trầm Thiên Thu

 

Càng thêm tuổi thì người ta càng “ngộ” ra nhiều điều. Người ta gọi đó là kinh nghiệm, nói theo TN 14-C151


Càng thêm tuổi thì người ta càng “ngộ” ra nhiều điều. Người ta gọi đó là kinh nghiệm, nói theo bình dân là tình trạng “đụng chạm” – “đụng” nhiều thì “chạm” nhiều. Đơn giản mà chí lý!

Một trong những điều người ta “ngộ” ra là nhận thấy rằng cuộc đời có gì đó xem chừng “bất ổn” lắm: buồn nhiều, vui ít. Thảo nào Chúa Giêsu luôn nhắc nhở: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Mt 16:24; Mc 8:34 ; Lc 9:23).

Buồn nhiều thì chắc rồi , vì “đời là bể khổ” mà. Nhưng vui ít chứ không phải là không vui. Tuy nhiên, vấn đề là vui vì cái gì? Có nhiều dạng và nhiều mức độ vui. Niềm vui sẽ hóa nỗi buồn: Tiệc vui tan, rồi hóa kỷ niệm. Kỷ niệm chứ có thật đâu mà vui. Nhưng niềm vui của Kitô hữu là niềm vui cao thượng, người ta khả dĩ vui ngay trong nỗi gian nan, hoạn nạn. Tại sao vậy? Vì họ luôn tín thác vào Thiên Chúa – Đấng quan phòng và tiền định mọi sự. Đó là niềm vui, vui vì an tâm!

Trước tiên, ngôn sứ Isaia xác định: “Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ, hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô! Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng, hỡi tất cả những người đã than khóc Thành Đô, để được Thành Đô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ” (Is 66:10-11). Niềm vui như thế thật là tốt lành, vì niềm vui đó mang tinh thần tín thác vào Thiên Chúa, biết tín thác là cách sống khôn ngoan và khiêm nhường. Điều đó chắc chắn Thiên Chúa rất hài lòng.

Thiên Chúa hài lòng thì Ngài sẽ ban cho cuộc sống phong phú, dồi dào, thoải mái, đúng như Ngài đã hứa: “Này Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sông cả, và Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về” (Is 66:12-13). Điều gì Ngài đã hứa thì Ngài sẽ hoàn tất theo cách quan phòng và tiền định của Ngài.

Với cảm nhận bản thân, tác giả Thánh Vịnh chia sẻ thực tế tâm linh: “Nhìn thấy thế, lòng các bạn sẽ đầy hoan lạc, thân mình được tươi tốt như cỏ đồng xanh. Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết, và nổi cơn thịnh nộ với các kẻ thù” (Is 66:14). Có hai vế rõ ràng: ai thuận với Thiên Chúa thì hạnh phúc và vui sống, ai đối nghịch với Ngài thì thua thiệt.

Đó là hệ lụy tất yếu. Điều đó được minh chứng qua lời của tác giả Thánh Vịnh: “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh! Hãy thưa cùng Thiên Chúa: Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài! Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm. Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh” (Tv 66:1-4).

Hệ lụy đó còn được xác nhận thêm một cách hùng hồn: “Đến mà xem công trình của Thiên Chúa: hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ! Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền, và dân Người đi bộ qua sông; việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ. Chúa uy dũng hiển trị muôn đời; đôi mắt Người theo dõi chư dân, quân làm phản chớ có hòng nổi dậy!” (Tv 66:5-7). Chắc chắn chỉ có Thiên Chúa mới làm được những điều kỳ diệu như vậy. Điều này mặc nhiên rằng chẳng có bất cứ thần linh nào khác có thể làm được như vậy.

Vô tri bất mộ. Biết rồi thì tin, tin rồi thì yêu, không ai có thể trì hoãn cái sự sung sướng đó được, không thể im lặng, vì tình yêu luôn vị tha, nghĩa là người ta phải chia sẻ điều đó cho mọi người cùng biết và cùng hưởng niềm vui đó: “Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời, đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi” (Tv 66:16). Thiên Chúa là Đấng trung tín (2 Tx 3:3), luôn “giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2:4). Thật vậy, tác giả Thánh Vịnh dẫn chứng cụ thể: “Xin chúc tụng Thiên Chúa đã CHẲNG bác lời thỉnh nguyện tôi dâng, lại cũng KHÔNG dứt nghĩa đoạn tình” (Tv 66:20).

Cảm nghiệm niềm vui được biết Thiên Chúa, Đức-Kitô-chịu-đóng-đinh, Thánh Phaolô chia sẻ: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Gl 6:14). Loại ước mơ như thế thực sự “rất lạ”, hoàn toàn “khác người”, thậm chí là “ngược đời”. Nếu không có niềm tin sâu sắc thì không thể nào hiểu nổi loại ước mơ “độc đáo” của Thánh Phaolô.

Với niềm tin vào Đức Giêsu Kitô và với niềm vui trong Ngài, Thánh Phaolô xác nhận và chia sẻ: “Quả thật, cắt bì hay không cắt bì chẳng là gì cả, điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới. Chúc tất cả những ai sống theo quy tắc ấy, và chúc Ít-ra-en của Thiên Chúa được hưởng bình an và lòng thương xót của Người. Từ nay, xin đừng có ai gây phiền toái cho tôi nữa, vì tôi mang trên mình tôi những dấu tích của Đức Giêsu. Thưa anh em, nguyện xin Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho thần trí anh em được đầy tràn ân sủng” (Gl 6:15-18).

Trình thuật Lc 10:1-12 và 17-20 cho biết “bài sai” của Đức Giêsu dành cho bảy mươi hai môn đệ là “đi rao giảng Tin Mừng” nhưng với điều kiện là “không đòi hỏi thứ gì” từ người khác.

Chúa Giêsu bảo các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Ngài sẽ đến. Ngài nói rõ: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. ĐỪNG mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng ĐỪNG chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: ‘Bình an cho nhà này!’. Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. ĐỪNG đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em”.

Một loạt mệnh lệnh cách – bao gồm cả phủ định và xác định. Chúa Giêsu bảo họ KHÔNG ĐƯỢC ĐÒI HỎI bất cứ điều gì, có sao hưởng vậy. Có lẽ đây là một trong những câu “chói tai” mà người ta không muốn đề cập hoặc bị người khác nhắc nhở.

Tuy nhiên, chấp nhận hoặc bằng lòng với những gì mình có là một dạng hạnh phúc giản dị mà kỳ diệu, không chấp nhận những gì mình có hoặc đòi hỏi thì chỉ là tự làm khổ mình (và làm khổ người khác). Chấp nhận điều kiện sống hiện tại không là thúc thủ hoặc miễn cưỡng với số phận, nhưng chấp nhận với niềm lạc quan và tín thác vào Thiên Chúa để Thánh Ý Chúa được nên trọn (x. Mt 26:42; Lc 23:34).

Chấp nhận hiện tại, không đòi hỏi cho mình, nhưng biết sống vì người khác, giúp ích cho tha nhân. Thật vậy, Chúa Giêsu căn dặn: “Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: ‘Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông’. Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón thì anh em ra các quảng trường mà nói: ‘Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần’. Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó”.

Nhóm Bảy Mươi Hai ra đi và đạt được kết quả mỹ mãn. Khi trở về, họ hớn hở khoe Sư Phụ rằng họ đã rao giảng, ai cũng vui nghe đến danh Thầy, ngay cả ma quỷ cũng phải khuất phục họ. Nhưng Đức Giêsu nghiêm túc và thẳng thắn nói: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên, anh em CHỚ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng HÃY mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10:18-20).

Ngày nay chúng ta cũng vậy, làm được việc gì đó thì vội kiêu hãnh, tưởng mình “ngon” hơn người, chạy theo hư danh trần tục mà quên rằng mình chẳng là chi cả, chỉ là “đầy tớ vô dụng” mà thôi (x. Lc 17:10). Quả thật, không có Chúa Giêsu thì chẳng ai làm được điều gì (x. Ga 15:5). Vả lại, nếu có làm được gì thì đó là bổn phận và trách nhiệm phải làm thay cho người khác, vì sáng danh Thiên Chúa chứ không phải vì vinh danh mình. Thiết tưởng cũng cần nhớ lại gương của ngôn sứ Gioan Tẩy Giả: “Người phải NỔI BẬT lên, còn tôi phải LU MỜ đi” (Ga 3:30).

Đó là khiêm nhường (khiêm nhu, khiêm hạ, khiêm tốn). Khiêm nhường là loại niềm vui thánh đức. Thánh Phaolô vui mừng vì Thập Giá của Đức Giêsu Kitô. Chúa Giêsu bảo các môn đệ hãy vui mừng vì tên được ghi vô Sổ Trường Sinh chứ không phải vì làm được công to việc lớn gì cả. Những điều này không hề đối lập mà lại rất hợp lý.

Khiêm nhường trái ngược với kêu ngạo. Kinh Thánh xác nhận: “Kiêu hãnh đi liền với ô nhục, khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường” (Cn 11:2). Chúa Giêsu luôn muốn chúng ta biết quên mình vì người khác, nhưng đôi khi chúng ta lại thích làm ngược lại: muốn người khác hy sinh vì mình. Nhận xét của Napoléon thật đáng để chúng ta xét mình: “Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ KHÔNG phải vì tội ác của những kẻ xấu, mà là VÌ sự im lặng của những người tốt”.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết mau mắn và vui mừng thi hành Ý Ngài dành cho con trong mọi hoàn cảnh. Xin cho con biết hết lòng tin tưởng vào Ngài, không bao giờ cậy dựa vào hiểu biết của con (Cn 3:5), để con có được niềm vui thánh đức nơi Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

--------------------------------

 

TN 14-C152: NGUYÊN NHÂN CỦA NIỀM VUI KITÔ HỮU


Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

 

Không ai đón nhận mừng vui vì thất bại! Người ta vui mừng khi thành công, nhất là thành công trong TN 14-C152


Không ai đón nhận mừng vui vì thất bại! Người ta vui mừng khi thành công, nhất là thành công trong các công việc đầy gian nan thử thách (cứ xem bóng đá hay bất cứ môn thể thao nào là tất biết: người người, từ cầu thủ đến cổ động viên, đều nhẩy mừng hân hoan sau mỗi bàn thắng vất vả). Chẳng lạ gì mà Nhóm Mười Hai, sau một chuyến hành trình truyền giáo đầy khó khăn, đã trở về hớn hở mừng vui vì: “Đến cả ma quỉ cũng phải khuất phục chúng con!” Công tác mà các ông đã chu toàn quả là cực kỳ khó khăn đối với từng cá nhân, khó như ‘chiên con đi vào giữa bầy sói’ – hình ảnh Đức Giê-su sử dụng. Đã thế trước đó, Người còn cho huấn dụ đòi các ông phải ra đi trong tình trạng thiếu thốn mọi phương tiện hỗ trợ, không chỉ vì miễn cưỡng nhưng có chủ đích rõ ràng… Thế mà các ông – những con người tầm thường lại đã hoàn thành công tác được trao cách xuất sắc; không mừng sao được!

Thế nhưng, phản ứng của Đức Giê-su trước điều này mới thật bất ngờ tới độ gây sốc: có vẻ như Người không tán đồng với niềm phấn khởi vì thành công rất đáng biểu dương đó. Người không chỉ khôn ngoan cảnh giác các ông rằng thành công có thể tiềm ẩn một cạm bẫy đầy nguy hiểm: “Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống…Anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em”, mà còn chỉ cho thấy niềm vui và tự hào chân thực của người môn đệ phải dựa trên một cơ sở khác. Câu xác quyết của Người về vấn đề này thật khó hiểu, chứa đựng nhiều uẩn khúc: “Nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời!” Thiết tưởng chúng ta cần dành chút thời giờ để tìm hiểu hậu ý Đức Giê-su muốn nói gì qua lời phát biểu lạ đời trên; bởi vì nếu hiểu được điều này ta mới có cơ may nghiệm ra điều gì đích thị là mục tiêu của những nỗ lực xây dựng niềm tin Ki-tô hữu hay sống Tin Mừng của chúng ta.

‘Cảnh giác khi thành công’… điều này đã được nhiều nhà hiền triết nhắc nhở; thành công có thể dẫn đến tự mãn, tự kiêu… và làm cho mờ mắt để không nhận ra, hoặc quên mất vai trò của Thiên Chúa trong đời sống mình; “Thầy đã ban cho anh em quyền năng”. Bình thường thì, nếu tránh được khuyết điểm này, thành công chân chính cũng rất đáng vui mừng chúc tụng lắm chứ! Không ai ngăn cấm diễn tả một niềm vui chính đáng, và hẳn Đức Giê-su cũng không! Thế nhưng hình như Người vừa nhắc tới một niềm vui còn quan trọng và lớn lao hơn cả thành công, điều mà rất thường khi các môn đệ (và cả chúng ta nữa) đã quên mất: “Vui vì tên anh em đã được ghi trên trời”. Niềm vui này có vẻ quá thụ động, chẳng có gì đáng tự hào, chẳng có gì là thành tích vẻ vang; đơn giản nó giống như niềm vui bỗng dưng trúng số vậy!

Đúng vậy, trong đời sống đạo hàng ngày, rất nhiều người chúng ta dễ dàng quên đi mất niềm vui đặc biệt này, nhất là những ai tỏ ra quá quan tâm tới phần rỗi linh hồn mình, người ta vẫn thường quan niệm: việc giữ đạo là một cuộc chiến đấu trường kỳ, đầy cam go thử thách; với ơn Chúa đỡ nâng, ta phải ra công chiến đấu sao cho có thể chiến thắng được ba thù. Ta mừng vui mỗi khi vượt thắng được một cơn cám đỗ, và rất đau buồn khi không may sa ngã vì yếu đuối; thế nhưng, có lẽ chính vì cuộc chiến thiêng liêng này được thực hiện với quá nhiều quyết tâm mà việc giữ đạo của ta trở thành một nỗi lo nhiều hơn là nỗi mừng.

Trong dịp mừng kim khánh khấn dòng, nhiều anh em đã nhắc khéo tôi là: phải đợi tới sau khi tắt thở, ta mới có thể yên tâm được rằng mình có bền đỗ hay không. Phải chăng họ có lý? Tuy nhiên qua câu gợi ý ấy, tôi thấy phảng phất đâu đó một mối lo, lo rằng mình không vững mạnh đủ để bền đỗ, rằng kiếp sống con người quá mỏng dòn. Theo lối suy nghĩ thông thường thì: mối lo sợ này rất là chính đáng và có nền tảng dựa trên kinh nghiệm hiện sinh hằng ngày; tuy nhiên đứng trước Tin Mừng thì hình như nó trở thành khập khiễng và hụt hẫng sao đó: đức tin Ki-tô hữu đâu có mục đích đặt tôi đối diện với một Thiên Chúa xét xử nghiêm minh, nhưng đối diện với một Giê-su Ki-tô đến không phải để luận phạt nhưng để cứu vớt (Ga 12:44-50). Đức Giê-su là người duy nhất đã mạc khải về một Thiên Chúa nhân ái và hay thương xót, Đấng tự ngàn xưa đã ghi tên tôi trong sổ hằng sống, trước cả khi tôi lập được công nghiệp.

Như vậy thì chỉ niềm tin vào Đức Ki-tô mới là gia tài quí giá nhất mà tôi cần lưu giữ, là niềm hy vọng vững vàng nhất mà tôi phải nuôi dưỡng, chứ đâu phải quyết tâm thủ đắc được các nhân đức hay đạt tới mức trọn lành qua dày công tu luyện. Trên con đường thiêng liêng của Tin Mừng, tôi không được phép đánh giá mức tiến bộ dựa trên các thành quả nhân đức hay thánh thiện mình đạt được. Mục tiêu đời sống tu sĩ của tôi đâu có phải là đạt tới chế ngự bản thân tới cấp độ thượng thừa có khả năng khuất phục được cả quỷ thần hay các dục vọng lăng loàn. Chính Tin Mừng dạy cho tôi biết: tự bản chất con người luôn là yếu đuối, nhưng chỉ cần đặt niềm tin tuyệt đối nơi Đức Ki-tô Giê-su để nhận biết Thiên Chúa xót thương và cứu độ, thế là tôi có thể bảo đảm ‘tên mình đã được ghi trên trời’. Mọi Ki-tô hữu đều biết rằng: chính khi cảm thấy thấp hèn và tội lỗi nhất, nhưng với lòng chân thành sám hối, họ nghiệm ra lòng Chúa xót thương là lớn hơn tất cả mọi sự, rằng tên mình đã bảo đảm được Đức Ki-tô ghi sâu trong trái tim nhân ái của Người, và như thế là phần rỗi linh hồn của họ chắc chắn được đảm bảo. Lúc đó, vâng chỉ lúc đó, họ mới nếm cảm được niềm vui thuần khiết, niềm vui chiến thắng, niềm vui mà Đức Giê-su vừa trang trọng nhắc nhở các môn đệ của mình: “Vui vì tên anh em đã được ghi trên trời”, niềm vui trọn vẹn nhất.

Phần tôi thì thế nào: tôi có thường xuyên cảm thấy niềm vui sâu xa nhất này trong thẳm sâu cõi lòng mình hay không? Phải chăng đón nhận Tin Mừng cứu độ mới thực sự là cứu cánh duy nhất của đời tôi? Phải chăng tôi vẫn coi được cứu rỗi là một ân huệ của Chúa, và tôi sẽ chỉ bảo đảm được nó trong niềm tin vào Đức Ki-tô Giê-su mà thôi?

Lạy Chúa, xin cất khỏi lòng con mối lo sợ âm ỷ do các yếu đuối và sa ngã hàng ngày tạo nên trong con; xin đổ đầy tâm hồn con niềm vui được lòng nhân ái Chúa ghi tên vào sổ hằng sống, bất chấp tất cả những giới hạn tội lỗi của bản thân. Trong đời sống thiêng liêng, con thà đánh mất tất cả các nhân đức đã dày công tu luyện trong nhiều năm tháng, nhưng xin Chúa giữ gìn con để không bao giờ… vâng, không khi nào đánh mất niềm tin vững chắc vào lòng Chúa xót thương sẽ cứu độ con. A-men.

------------------------------

 

TN 14-C153: CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN_C


Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến.

 

Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta biết “Lúa chin đầy đồng, mà thợ gặt TN 14-C153


Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta biết “Lúa chin đầy đồng, mà thợ gặt thì ít.”  Hay một cách khác, điều Chúa muốn nhắn nhủ và đề cập ở đây là: thế giới ngày nay còn có nhiều người đang cần được giúp đỡ về tinh thần và đức tin, nhưng rất ít người có tâm hồn thiện chí, sẵn sàng và vui mừng để giúp.  Và cũng có thể nói rằng chưa bao giờ trong lịch sử Giáo hội và trong giáo xứ chúng ta có một sự khẩn thiết những người có tấm lòng bác ái, có lòng quảng đại, yêu thương, hy sinh bỏ thời giờ và công sức để giúp và cộng tác với Chúa Giêsu trong mùa gặt, mùa giáo lý. Chúng ta thấy còn biết bao nhiêu người vẫn chưa biết Chúa, còn biết bao nhiêu người vẫn sống trong lầm lạc, và còn biết bao nhiêu con em, cháu chắt của chúng ta đang trông chờ sự giúp đỡ, dạy dỗ và hướng dẫn của những người có tâm hồn thiện chí, của những người có lòng yêu thương và lo lắng.  Các em cần sự cộng tác, tham gia và hy sinh của tất cả chúng ta trong chương trình giáo lý và Việt ngữ hàng năm. Con cái, cháu chắt của chúng ta đang trông chờ tấm lòng bác ái và quảng đại của chúng ta đáp trả lại lời Chúa kêu mời và cộng tác với Người. Lời Chúa Giêsu kêu mời hơn 21 thế kỷ qua, vẫn còn vang vọng, vẫn còn tha thiết cho đến ngày nay.

Chúng ta thường nghĩ rằng việc truyền giáo và dạy dỗ là công việc dành cho các Giám mục, các Linh mục, Tu sĩ, không phải là nhiệm vụ của giáo dân. Đó là những quan niệm sai lầm mà Chúa vạch cho ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu cho ta thấy tham gia và cộng tác vào việc dạy dỗ và truyền giáo là công việc của mọi người khi Người sai 72 môn đệ lên đường. Mười hai Tông đồ có tên tuổi rõ ràng và đó là thành phần khác biệt. Đó là các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ. Còn 72 môn đệ là một đám đông không xác định và không có tên tuổi rõ ràng.  Đó là tất cả mọi người giáo dân. Khi sai 72 môn đệ, Chúa Giêsu muốn huy động tất cả mọi người thuộc đủ mọi thành phần tham gia và cộng tác vào việc truyền giáo và dạy dỗ. (TGM.NQK)

Vậy giáo dân tham gia vào công việc truyền giáo bằng cách nào? Trước hết phải ý thức việc tham gia và cộng tác dạy dỗ và truyền giáo là sứ mạng quan trọng của mỗi Ki-tô hữu hay của chính mình.  Đây là ân sủng đặc biệt Chúa ban cho mỗi người để cộng tác với Người trở thành những chứng nhân loan báo Tin mừng, và mang tình yêu và bình an của Chúa đến cho người khác.  Thứ hai, mỗi người chúng ta phải ý thức sự cấp bách và khẩn thiết như lời Chúa cho chúng ta biết “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt.” Lúa đã chín vàng, phải nhanh chóng gặt về không được chậm trễ, nếu không lúa sẽ hư hỏng và vô ích.  Chúng ta thấy biết bao nhiêu tâm hồn của con cái, cháu chắt chúng ta đang mở cửa đón Chúa, đang chờ đợi được nghe Lời Chúa, và sẵn sàng chứng kiến những gương sáng chứng nhân của chúng ta. Chúng ta phải mau mắn và sốt sắng để khỏi lỡ mất cơ hội và khỏi bị chậm trễ. Đời sống đức tin của con cái chúng ta ngày mai ra sao tùy thuộc vào thái độ và hành động của chúng ta hôm nay.

Sau cùng chúng ta phải cầu nguyện. Chúng ta thấy sau khi đã chỉ cho thấy đồng lúa chín vàng, Chúa Giêsu không bảo các môn đệ lên đường ngay, nhưng Người dạy phải cầu nguyện trước. Cầu nguyện là nền tảng của việc tham gia, giúp đỡ công việc truyền giáo và dạy dỗ, và sẽ đem đến những kết quả tốt đẹp như ý Chúa muốn.  

Do đó, ông bà anh chị em thân mến, tất cả chúng ta những Kitô hữu, những người tin theo Chúa và có sứ mạng phải tự hỏi: “Chúng ta làm được gì cho Chúa, giúp Chúa được gì trong hoàn cảnh này?”  “Chúng ta phải đáp ứng như thế nào trước lời kêu gọi của Chúa trong Tin mừng”

Là một người trẻ, tôi kêu gọi các bạn hãy lắng nghe lời của Chúa Giêsu kêu mời, trở thành một thợ gặt, trở thành linh mục hay nữ tu như những linh mục và nữ tu mà các bạn biết. Thật là một hồng ân cao cả Chúa ban, thày Duy trong giáo xứ chúng ta sắp lãnh nhận thiên chức phó tế, và sau đó thày sẽ lãnh nhận chức linh mục, trở thành thợ gặt cho Chúa. 

Nếu là những vợ chồng trẻ hãy cầu nguyện cho ơn gọi trong gia đình mình, hay trợ giúp một ơn gọi để cùng cộng tác xây dựng Giáo hội.  Và trong thực tế, tôi kêu gọi những vợ chồng trẻ hãy tham gia, cộng tác và giúp đỡ chương trình giáo lý của giáo xứ.  Chương trình giáo lý và Việt ngữ hàng năm cần những người có khả năng dạy dỗ, cũng như cần những người hy sinh giúp đỡ trong mọi cộng việc khác.  Tôi biết các anh chị rất bận rộn cho công việc làm ăn, nhưng hãy quan tâm đến đời sống tôn giáo, đời sống đức tin của con cái mình.  Xin kêu gọi mọi người hy sinh giúp đỡ và cộng tác vào chương trình giáo lý để giúp đỡ cho chính con cái, cháu chắt của mình. Chúa Giêsu kêu gọi tất cả chúng ta làm một cái gì đó có ý nghĩa và hữu ích thực tế cho đức tin của con cái, chắt chắt hôm nay và trong tương lai.

Còn những vị lớn tuổi hãy suy niệm lời Chúa kêu mời một cách chân thành, và có một tinh thần hy sinh, lòng quảng đại, nhân từ và nhất là làm gương sáng cho thế hệ mai sau.  Nếu ngày nào quí vị đứng trước mặt Chúa và Chúa hỏi thái độ cũng như việc làm của quí vị trước lời Chúa kêu gọi, thì quí vị sẽ trả lời như thế nào?  Thương yêu, hy sinh và quảng đại cho thế hệ mai sau là công việc đầu tư quan trọng và khẩn thiết cho gia đình, cho cộng đoàn và cho Giáo hội.

Ông bà anh chị em thân mến. Công việc dạy dỗ và truyền giáo hoàn toàn nằm trong tầm tay của mọi người từ tu sĩ, linh mục đến giáo dân, và là sứ mạng của mọi Ki-tô hữu. Mọi người đều có thể ý thức việc truyền giáo. Mọi người đều có thể cầu nguyện. Mọi người đều có thể trông cậy vào Thiên chúa. Và mọi người đều có ơn Chúa, có khả năng tham gia, công tác và giúp đỡ. Tất cả đều có thể làm việc truyền giáo theo ý Chúa muốn.

Xin Chúa mở rộng cánh cửa tâm hồn chúng ta, để chúng ta thành tâm lắng nghe lời Chúa kêu mời, chân thành thực hành đáp trả lời Chúa, và nhất là tin vững chắc rằng lòng bác ái, quảng đại, hy sinh, và công việc chúng ta tham gia, công tác và giúp đỡ tuy nhỏ bé, nhưng sẽ sinh hoa kết quả tốt đẹp và lạ lùng vì có Chúa trợ giúp.

---------------------------

 

TN 14-C154: BÌNH AN CỦA NGƯỜI TRUYỀN GIÁO


Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

 

Với lời sai đi của Chúa: “Thầy sai các con  ra đi như chiên con ở giữa sói rừng. Các con đừng mang TN 14-C154


Với lời sai đi của Chúa: “Thầy sai các con  ra đi như chiên con ở giữa sói rừng. Các con đừng mang theo túi tiền, giày dép, bao bị… Đến bất cứ nơi đâu, các con hãy nói thế này: “Bình an cho nhà này”, chúng ta hãy xác tín, tất cả mọi người, dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân, đều có chung một ơn gọi xuất phát từ Chúa Kitô, đó là được sai đi sống chứng nhân cho Tin Mừng ở giữa cuộc đời này.

Nhưng cuộc ra đi, vào đời làm chứng cho Chúa, làm chứng cho Tin Mừng của Chúa, không là những bước chân êm ái, càng không bao giờ là lụa là gấm vóc. Nhưng  đó là khó khăn, là chống đối, là “chiên ở giữa sói rừng”…

Những tưởng đầy những khó khăn giăng mắc như vậy, Chúa sẽ dạy phải mang theo vũ khí, mang theo gậy gộc và tất cả những gì cần thiết để đề phòng. Nhưng không! Chúa dạy những điều ngược lại: “Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép, và đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: Bình an cho nhà này”.

Hình như Lời Chúa có sự mâu thuẫn? Vì một người xem ra không hề có bình an, ngược lại, bị vây bọc bởi những nguy hiểm đến nỗi “như chiên con ở giữa sói rừng”, vậy mà lại lên tiếng chúc “bình an cho nhà này”. Như Vậy bình an mà Chúa muốn nói đây là bình an như thế nào? Làm sao lại có thể trao ban bình an, trong khi bản thân chẳng có bình an?

Hóa ra, hành trang để giữ người môn đệ trong đời sống đức tin không phải là tiền của, hay bất cứ thứ vật chất nào, nhưng là bình an trong tâm hồn. Đó chính là bình an nội tâm. Đó là ơn bình an của người biết tín thác cho Chúa, biết đặt trọn sự sống và cuộc đời mình trong tay Chúa.

Đó là thứ bình an sâu lắng, là tất cả sự chấp nhận vì lòng yêu mến Chúa, vì muốn tháp nhập thập giá đời mình vào thập giá Chúa Kitô. Đó là bình an cho dù bên ngoài, nơi thân xác vẫn có đó rất nhiều đau khổ, rất nhiều thử thách, gian lao…

Đó là thứ bình an nội tâm cần thiết vô cùng cho những tâm hồn thuộc về Chúa Kitô, những tâm hồn muốn làm môn đệ Chúa. Bình an ấy giúp họ ngày đêm miệt mài để “Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến”, và Lời của Người lan tỏa, dẫu có phải chịu cảnh khốn cùng, nguy hiểm như “chiên con ở giữa sói rừng” đi nữa.

Bình an trong tâm hồn mới có thể giúp ta giữ vững đức tin, giúp ta mạnh mẽ sống đời sống chứng nhân Tin Mừng. Nếu lòng mà thiếu vắng ơn bình an, ta không thể đứng vững trước những khó khăn, nhiều lúc tưởng chừng vùi lấp mình trong đau khổ. Nếu không có bình an nội tâm, chính lúc bản thân bị chìm trong đau khổ, thì tuyệt vọng dễ hơn vươn lên.

Nếu không lãnh nhận bình an nơi Thiên Chúa, nhiều lúc cuộc đời vùi ta trong đau khổ, sẽ dễ làm ta nghi nan, nguy hiểm hơn, dễ mất đức tin.

Chỉ có Thiên Chúa là nguồn bình an đích thực. Hãy cậy dựa vào Chúa, xin Người ban cho ta bình an trong tâm hồn. Hãy chiêm ngắp thập giá Chúa Kitô để học nơi Người bài học của sự vâng phục và đón nhận. Để như Chúa Kitô, lòng ta cũng sẽ bình an và nhờ đó có thể trao ban bình an cho anh chị em.

Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết cách trao bình an cho anh chị em, bằng việc chính chúng con luôn nỗ lực cầu nguyện để kín múc bình an nội tâm nơi Chúa.  Dù qua năm tháng, dù lâm vào hoàn cảnh nào, hay dù gặp thử  thách đến đâu, lòng chúng con vẫn trung kiên sống ơn gọi của mình, để danh Chúa được cả sáng và biên cương của Hội Thánh được nới rộng ngày càng nhiều hơn. Amen.

-------------------------------

 

TN 14-C155: VÀI NGUYÊN TẮC TRUYỀN GIÁO CỦA CHÚA GIÊSU


Lm. Giuse Nguyễn

 

Trong Tông huấn “Người Kitô hữu giáo dân”, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Chắc TN 14-C155


Trong Tông huấn “Người Kitô hữu giáo dân”, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Chắc chắn rằng: mệnh lệnh của Chúa Giêsu “Hãy đi loan báo Tin Mừng” vẫn mang giá trị trường tồn và đặt ra một cách cấp bách. Tuy nhiên, tình trạng hiện nay trong thế giới, đang đòi hỏi tuyệt đối phải thực thi mệnh lệnh của Chúa một cách khẩn trương và quảng đại hơn. Một người môn đệ đích thực của Chúa Kitô không có quyền từ chối lời đáp trả của riêng mình: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Cho hay, cái mới mẻ trong việc thực thi cuộc loan báo Tin Mừng là tất cả toàn dân Chúa, không phân biệt nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, mạnh yếu. Tất cả đều được sung vào việc tông đồ truyền giáo”.

Phụng vụ lời Chúa hôm nay sẽ cho chúng ta thấy một vài nguyên tắc hoạt động của người môn đệ Chúa. Nguyên tắc này do chính Chúa Giêsu, người khởi sự công tác truyền giáo và cũng là linh hồn của việc truyền giáo chỉ dạy.

I. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc I: (Is 66, 10-14c)

Bối cảnh của bài đọc I là khi vua Cyrus của nước Ba Tư vừa tiêu diệt được đế quốc Babylon và ký sắc lệnh hồi hương cho người Do Thái. Họ rất phấn khởi vì cuối cùng họ cũng được giải thoát. Trong bối cảnh đó, tiên tri Isaia đã nói tiên tri về phúc lành mà Thiên Chúa sẽ tuôn đổ xuống dân chúng. Điều quan trọng nhất trong phúc lành này là ơn bình an: “Này Ta tuôn đổ xuống thành đô, ơn bình an như dòng sông cả” (Is 66, 12).

Bài Đọc II: (Gl 6, 14-18)

Thánh Phaolô tự hào về cây thập giá của Đức Kitô: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6, 14). Nhờ quy tắc đó mà thánh nhân được bình an. Để rồi thánh nhân cầu chúc cho mỗi người chúng ta: “được bình an và lòng thương xót của Thiên Chúa” (Gl 6, 16) nhờ biết yêu mến và rao giảng cây thập giá.

Tin Mừng: (Lc 10, 1-12. 17-20)

Đây là bài sai truyền giáo chính thức của Chúa Giêsu. Trong Tin Mừng Matthêu và Maccô, Chúa Giêsu chỉ sai các Tông Đồ thôi, nhưng Luca thì sai cả các Môn đệ nữa, để chúng ta thấy tính phổ quát của công việc truyền giáo. Ai cũng phải truyền giáo chứ không phải chỉ những người được tuyển chọn. Trong bài sai truyền giáo, Chúa Giêsu đã đưa ra những nguyên tắc hoạt động cho những cán bộ truyền giáo. Nguyên tắc đó không phải chỉ áp dụng cho các môn đệ của Chúa thời đó, mà còn là nguyên tắc cho mọi thời trong công cuộc truyền giáo.

II. NGUYÊN TẮC TRUYỀN GIÁO

Mỗi người chúng ta đều có sứ mạng truyền giáo, vì “truyền giáo là bản chất của Giáo Hội”. Vì vậy chúng ta cũng phải nắm vững một số nguyên tắc này.

Cầu nguyện:

Trước hết, Chúa Giêsu nói: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10, 2). Vì vậy cầu nguyện chính là linh hồn của việc truyền giáo. Sở dĩ Chúa muốn chúng ta phải cầu nguyện trong truyền giáo là vì đây là công việc thuộc lãnh vực siêu nhiên. Sức tự nhiên của con người không thể nào làm được điều này. Cán bộ truyền giáo phải là con người của cầu nguyện. Vì khi cầu nguyện chúng ta mới tiếp xúc với lãnh vực siêu nhiên để từ đó mới có thể thi hành đúng theo những hoạch định thần thiêng. Qua bài đọc I và bài đọc II, chúng ta thấy ơn ban quan trọng nhất của Chúa là ơn bình an. Người cán bộ của Chúa chỉ có được bình an trong cầu nguyện.

Đức Hồng Y Px. Nguyễn Văn Thuận kể chuyện ông Jim. Khi còn khỏe, mỗi ngày ông đến nhà thờ lúc 12 giờ trưa không quá 2 phút. Ông từ rất thắc mắc nên theo dõi. Một hôm ông chận Jim lại và hỏi: “Tại sao bác vào đây mỗi ngày?”. “Tôi vào để cầu nguyện”. “Quái lạ, kinh gì mà đọc trong vòng 2 phút?” Jim trả lời: “Tôi vừa già, vừa dốt nên đọc kinh theo kiểu của tôi. Tôi chỉ nói: “Lạy Chúa, Jim đây!”. Thời gian trôi qua, Jim già cả, bệnh tật, phải vào bệnh viện để điều trị. Sau đó Jim yếu liệt và chuẩn bị ra đi. Một Linh mục và một nữ tu đến hỏi thăm: “Jim ơi, hãy nói cho chúng tôi biết, tại sao từ ngày ông vào đây, bệnh viện có nhiều thay đổi, bệnh nhân vui vẻ, chấp nhận thuốc thang, sống có tình nghĩa hơn?” Jim trả lời: “Đơn giản thôi, lúc còn khỏe, Jim đi thăm mọi người, lúc đi không nổi, Jim nhớ và gọi tên mọi người, với Jim ai cũng vui hết”. “Thế tại sao Jim vui, Jim hạnh phúc?”. Jim trả lời vì ngày nào Jim cũng có người đến thăm hết. Mọi người thắc mắc, có thấy ai đâu? Jim bảo: “Lúc trước 12 giờ trưa, Jim đi thăm Giêsu, còn bây giờ trưa nào Giêsu cũng đến thăm Jim”? “Ngài nói gì với Jim”? Ngài nói: “Jim ơi, Giêsu đây!” Cầu nguyện làm cho chúng ta có Chúa Giêsu. Có Chúa Giêsu làm cho chúng ta được bình an. Bình an giúp chúng ta sống tốt đời Kitô hữu, đó là truyền giáo.

Phó thác:

Điều thứ hai, CG nói: “Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói” (LC 10, 3). Có phải là Chúa “đem con bỏ chợ không?” Có phải là Chúa đẩy chúng ta tới chỗ nguy hiểm không? Thưa không, nhưng Chúa muốn người cán bộ truyền giáo phải biết phó thác. Bản thân mình luôn luôn gặp nguy hiểm, không gì che chở, không có gì bảo đảm cho, ngoài Chúa. Nhân đức phó thác là nhân đức tối cần nơi người cán bộ truyền giáo.

Ở Cà Mau có những họ đạo phải đi bằng ghe xuồng mới đến dược. Trong những đợt áp thấp nhiệt đới, đi làm lễ gặp sóng to, gió lớn, máy chạy tới không được, quay lại không xong, cứ lòng vòng giữa sông lớn. Có những cha trẻ nghĩ chẳng lẽ mình hưởng dương !? Người môn đệ Chúa luôn ở trong tư thế nguy hiểm, nên phải biết phó thác.

Ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng:

Chúa Giêsu nói: “Đừng chào hỏi ai dọc đường” (Lc 10, 4). Nếu nói như vậy, có phải Chúa dạy cán bộ truyền giáo trở thành những con người bất lịch sự, gặp người quen cũng không chào luôn? Người xưa nói:“Lời chào cao hơn mâm cỗ”… Sở dĩ Chúa Giêsu nói vậy vì nghi thức chào hỏi của người phương đông rất rườm rà, mất thời giờ. Chúa dạy cho cán bộ của Chúa đừng mất giờ vô ích, vì việc loan báo tin mừng là việc gấp rút: “Lúa chín đầy đồng mà thờ gặt thì ít”, phải biết tận dụng thời giờ đi gặt lúa, kẻo chim chuột ăn hết.

III. BỔN PHẬN CẤP BÁCH CỦA MỌI KITÔ HỮU

Truyền giáo không là việc của riêng ai, nhưng là bổn phận cấp bách của mọi kitô hữu. Mọi người phải truyền giáo ngay chính trong môi trường, hoàn cảnh của mình. Thượng Hội Đồng Giám Mục  thế giới năm 1987 đã định nghĩa vị thế độc đáo của người giáo dân giữa lòng Giáo Hội và giữa thế giới bằng hai mệnh đề như sau: “Giáo dân là người của Giáo Hội trong lòng thế giới”. Giáo dân là ‘người của thế giới trong lòng Giáo Hội”. Là người của Giáo Hội, người giáo dân phải đem Giáo Hội và Chúa Giêsu vào trong thế giới. Và là người của thế giới, giáo dân phải đem thế giới đến cùng Giáo Hội và Chúa Kitô”.

Vì vậy mỗi người chúng ta dù là ai cũng phải nắm vững những nguyên tắc mà Chúa Giêsu đã dạy để chúng ta trở thành những cán bộ truyền giáo lành nghề và nhiệt thành, đó là: Cầu nguyện, phó thác và ưu tiên cho việc truyền giáo, để chúng ta có thể đem tin mừng bình an đến cho anh chị em xung quanh mình.

Cầu nguyện để có được sức mạnh của Chúa. Chính vì vậy kinh hôm, kinh mai, lần chuỗi mân côi, xưng tội, viếng Thánh Thể, tham dự thánh lễ, nhất là ngày Chúa nhật… là những việc không thể thiếu của một Tông đồ Giáo dân.

Phó thác để dấn thân trong đời sống đức tin. Chính vì vậy người Tông đồ của Chúa không được sợ hãi trong bất cứ cảnh ngộ nào của cuộc sống, nhưng phải biết vươn lên, vươn lên mỗi ngày vì có bàn tay Chúa nâng đỡ.

Ưu tiên truyền giáo để khỏi lạc hướng. Ai? Ở đâu? Làm gì? Thế nào?… cũng phải nghĩ đến việc làm sao cho Nước Chúa trị đến.

Nói tóm lại, Phụng vụ lời Chúa ngày hôm nay một lần nữa mời gọi chúng ta ý thức lại sứ mạng truyền giáo của mình, vì chính Chúa Giêsu đã sai mỗi người và từng người chúng ta vào cuộc đời này để sống và loan báo Tin Mừng. Muốn trở thành một cán bộ truyền giáo của Chúa, chúng ta phải thực hành những nguyên tắc mà Chúa Giêsu đã đưa ra, trong đó có việc cầu nguyện, phó thác và ưu tiên truyền giáo.

Xin ơn Chúa giúp qua lời bầu cử của Mẹ Maria, người nữ truyền giáo đầu tiên; của thánh cả Giuse, người trợ tá đắc lực của Chúa; và cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, người luôn quan tâm đến dân ngoại, cho chúng ta có một nhiệt tâm truyền giáo cùng với lòng đạo đức và sự phó thác, để chúng ta thực sự trở thành một cán bộ truyền giáo của Chúa.

-------------------------

 

TN 14-C156: SỨ GIẢ CỦA NIỀM VUI

 

Niềm vui” là ý tưởng xuyên suốt các Bài đọc Lời Chúa cũng như Thánh vịnh đáp ca của Phụng TN 14-C156


“Niềm vui” là ý tưởng xuyên suốt các Bài đọc Lời Chúa cũng như Thánh vịnh đáp ca của Phụng vụ Thánh lễ hôm nay. Trước hết là niềm vui trong thông điệp của ngôn sứ Isaia. Đây là lời tiên báo cho biết thời kỳ lưu đày của dân Do Thái sắp hết. Dân sẽ được trở về xứ sở quê hương của mình. Những tủi nhục của thời lưu đày không còn nữa, thay vào đó là sự chăm sóc yêu thương của Thiên Chúa dành cho dân riêng của Ngài. Sự chăm sóc này được ví như người mẹ hiền chăm sóc và an ủi con thơ, với tâm tình thiết tha trìu mến. Những hình ảnh vị ngôn sứ sử dụng rất cảm động và thân thiết: Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối”.

Những gì được diễn tả trong lời ngôn sứ Isaia, cũng đang thực hiện đối với đời sống Kitô hữu chúng ta. Quả vậy, trên từng bước đường đời, Chúa vẫn chăm sóc an ủi chúng ta. Chúa vẫn cùng chúng ta đi trên mọi nẻo đường. Ngài nuôi dưỡng chúng ta bằng ân sủng. Ngài ban cho chúng ta những điều tốt đẹp, mà nhiều khi chúng ta không nhận ra. Trong thời gian đại dịch Covid-19 lên tới đỉnh điểm, nhiều bệnh nhân phải có máy trợ thở liên tục. Nếu rời máy trợ thở, bệnh nhân có nguy cơ tử vong. Một bệnh nhân cao tuổi, sau những ngày dùng máy trợ thở và được khỏi bệnh, đã nói: Trong mấy tuần qua, tôi sống nhờ máy trợ thở. Vậy mà trong suốt 80 năm của cuộc đời, Chúa đã cho tôi một máy trợ thở miễn phí, tức là một không gian tự nhiên đầy sinh khí, vậy mà tôi không nhận ra quà tặng cao quý của Ngài. Vâng, Chúa luôn chiều chuộng chúng ta, và cung cấp cho chúng ta những như cầu cần thiết cho thân xác cũng như linh hồn.

“Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa”. Đó là lời Thánh vịnh 65, được hát trong phần Đáp ca của Thánh lễ. Tác giả Thánh vịnh mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng những điều kỳ diệu đang diễn ra hằng ngày xung quanh mình: đó là đại dương mênh mông, là đất liền màu mỡ, là núi cao chập trùng, là sông sâu uốn khúc. Đó còn là muôn vật cỏ cây, là ngàn ngàn sinh vật. Người vô tín cho đó là tự nhiên, người tín hữu tin đó là những thụ tạo Chúa dựng nên để phản ánh vinh quang của Ngài.

Tôn vinh Chúa là hành vi thuộc đức thờ phượng. Chúng ta tôn thờ Chúa vì Ngài đáng yêu mến suy tôn. Tôn vinh Chúa cũng là hành vi của lòng hiếu thảo và biết ơn, giống như người con biết ơn cha mẹ đã sinh thành dưỡng dục mình. Thiên Chúa là Đấng tạo thành muôn vật muôn loài. Mỗi chúng ta hiện hữu trên đời, là nhờ cha mẹ và nhờ ơn Chúa. Vì vậy mà chúng ta phải cảm tạ tri ân Ngài.

Cảm nhận niềm vui trong cuộc đời, người tín hữu cũng được mời gọi trở nên sứ giả của niềm vui. Như Ông Môisen trong Cựu ước chọn bảy mươi vị kỳ lão, Chúa Giêsu sai bảy mươi hai môn đệ, để cộng tác với Người trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Chân dung người loan báo niềm vui được chính Chúa Giêsu phác họa. Họ không phải là nhà doanh nghiệp, không phải chính trị gia hay chuyên viên kỹ thuật. Họ đi đến mọi nẻo đường của cuộc sống. Món quà họ đem đến cho mọi người là sự bình an. Nội dung sứ điệp họ loan báo rất đơn giản: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”. Đây cũng chính là nội dung sứ điệp từ thời ngôn sứ Isaia: “Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết”. Điều các môn đệ đem đến cho mọi người, trước hết là niềm vui nội tâm do đức tin đem lại. Nhờ niềm vui thiêng liêng đó, mọi người nghe sẽ được thuyết phục và đón nhận Lời Chúa.

Ngày hôm nay, Chúa cũng vẫn gọi và sai chúng ta đi đến mọi nẻo đường của cuộc sống. Thừa sai là bản chất của Giáo Hội. Mọi thành phần dân Chúa đều được mời gọi sống ơn gọi thừa sai phù hợp với hoàn cảnh sống và điều kiện cụ thể của mình. Đây là điều ít được chúng ta chú ý. Một bệnh nhân ốm đau liệt lào; một người già yếu không mấy khi ra khỏi nhà; một người sống trong môi trường công nhân thợ thuyền… tất cả đều là những tông đồ đang được Chúa sai đi để loan báo Tin vui. Nội dung của lời loan báo rất đơn giản, đó là Chúa yêu con người và Ngài khuyên họ hãy sống ngay lành thánh thiện. Người được sai đi có trách nhiệm loan báo Lời Chúa, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện, kể cả trong trường hợp bị khước từ và xua đuổi. Giống như người gieo hạt cần mẫn miệt mài làm tròn bổn phận mình, còn Chúa sẽ làm cho hạt ấy nảy mầm và lớn lên.

Người nhiệt thành loan báo niềm vui, sẽ được nhận lại niềm vui, là phần thưởng Chúa ban. Thánh Luca kể lại: nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở khoe với Chúa về những thành quả lao công mà các ông đã đạt được. Nhân danh Chúa Giêsu, các ông làm được những việc chính Chúa đã làm, như trừ quỷ, chữa bệnh. Các ông có lý để vui mừng và để khoe với Chúa. Tuy vậy, Chúa Giêsu muốn hướng các ông tới một niềm vui lớn lao hơn nhiều, đó là tên các ông đã được khắc ghi trên trời. Đây mới là phần thưởng cao quý và là niềm vui lớn lao nhất. Những sứ giả của niềm vui sẽ được ghi tên ở trên trời. Tên của họ cũng được khắc ghi trong chính trái tim của Chúa.

Người loan báo niềm vui phải trải qua nhiều gian nan thử thách. Chúa Giêsu đã báo trước cho các môn đệ, khi Người sai họ lên đường. Hành trang của các môn đệ không phải là những phương tiện trần thế, nhưng là lòng tín thác cậy trông và nhiệt huyết tông đồ.

Ở một góc nhìn khác, thánh Phaolô nói với chúng ta về niềm vui của ngài. Dưới góc độ trần gian, quan niệm của thánh nhân xem ra có phần nghịch lý: niềm vui và niềm tự hào của ngài là Đức Giêsu chịu đóng đinh. Phải thực sự đạt tới đỉnh cao của sự gặp gỡ gắn bó với Đấng chịu đóng đinh mới có thể khẳng định được như thế. Phaolô đã từng trải, đã chiến đấu và kiên trung trong mọi nghịch cảnh. Vào lúc cuối đời, ông khẳng định: Chúa vẫn là trên hết. Đấng chịu đóng đinh là niềm tự hào duy nhất của đời ông. Ông đã chọn lựa Người và sẽ xác tín vào sự chọn lựa ấy. Thánh nhân cũng mong muốn và cầu chúc cho chúng ta có cảm nhận sâu sắc như ngài.

Mỗi Kitô hữu đều là sứ giả của niềm vui. Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết trong Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng như sau: “Người loan báo Tin Mừng không bao giờ mang bộ mặt của một người vừa đi đưa đám về!… và chớ gì thế giới của thời đại chúng ta, một thế giới đang kiếm tìm, khi thì trong lo âu, khi thì trong hy vọng, có thể nhận được tin mừng không phải từ những người rao giảng rầu rĩ, chán nản, mất kiên nhẫn hay lo âu, nhưng từ những thừa tác viên Tin Mừng đang sống một cuộc đời đầy nhiệt huyết, những người trước đó đã nhận được niềm vui của Đức Kitô” (Số 10). Quả vậy, khi bản thân không cảm nhận được niềm vui của Chúa, thì không thể trở nên sứ giả của niềm vui đích thực là Tin Mừng.

Hãy reo mừng Thiên Chúa! Hãy tôn vinh Ngài, không chỉ trong nghi thức phụng vụ, mà trọn vẹn cả đời sống của chúng ta. Buồn sầu và bi quan, chán nản không thể có chỗ trong đời sống của những ai tin cậy tín thác nơi Chúa. Nguyện xin Thiên Chúa là nguồn mạch của ân sủng và hạnh phúc chúc lành cho chúng ta.

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

-----------------------------

 

TN 14-C157: SAI ĐI TRUYỀN GIÁO

 

Năm 1659, khi phái ba Giám mục Đại diện Tông tòa tiên khởi đến Đàng Ngoài (Đức Cha François TN 14-C157


Năm 1659, khi phái ba Giám mục Đại diện Tông tòa tiên khởi đến Đàng Ngoài (Đức Cha François Pallu), Đàng Trong (Đức Cha Pierre Lambert de la Motte) và Nam Kinh (Trung Hoa, Đức Cha Ignace Cotolendi), bộ Truyền bá Đức tin đã ra Huấn dụ Instructio Vicariorum Apostolicum ad Regna Sinarum Torchini et Cocinciane Proficiscentium với nhiều chỉ thị tích cực (trong phần 3).

Xin đơn cử vài ví dụ, như hãy đào tạo giáo sĩ bản quốc, vâng phục và lĩnh ý Tòa thánh, đừng bức bách người ta tuân theo ý Thánh bộ, biết kính trọng nhà cầm quyền, không xen vào chính trị như gánh một phận vụ hành chánh, chớ lưu lại nơi công đường mà hãy mau chóng trở về Giáo phận chu toàn chức vụ thiêng liêng, dạy dân chúng hợp nhất và vâng phục chánh quyền, tôn trọng cổ tục bản xứ, tôn trọng trật tự công cộng, đừng rời bỏ khu vực của mình, chớ tranh luận với nhau, buộc các linh mục giữ đúng kỷ luật truyền giáo, cẩn thận trong vấn đề tiền của, cổ vũ việc dịch sách (sách thánh, sách lễ, sách giáo lý, sách đào tạo) sang tiếng bản địa... Đấy là một cái nhìn rất sáng suốt, có giá trị cho đến cả bây giờ. Được như thế là nhờ Huấn dụ đã thấm nhuần tinh thần của chỉ thị truyền giáo Đức Giê-su đưa ra cho các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay.

Thành Phần và Cách Thức

“Một hôm, Chúa Giê-su chỉ định bảy mươi hai môn đệ khác...” Là bạn đồng hành của Phao-lô, Tông đồ dân ngoại, Lu-ca nêu bật điểm này trong đời Đức Giê-su. Ông cũng là tác giả Tin Mừng duy nhất kể lại câu chuyện đó. Vào lúc viết nó, ông đã thấy nhiều cộng đoàn Ki-tô hữu hình thành giữa các phố thị và thôn làng dân ngoại. Một số giáo đoàn địa phương này đã không phát sinh nhờ hoạt động của các Tông đồ được chính thức ủy quyền, nhưng từ việc tông đồ giáo dân của những con người di chuyển vì nghề nghiệp và loan báo Đức Giê-su luôn thể (x. Rm 16). Lu-ca nhấn mạnh: chính từ Đức Giê-su đã phát xuất chuyện các môn đệ làm tông đồ như thế. Không chỉ “sai” Nhóm Mười Hai (x. Lc 9,1-6). Người cũng đã “sai” 72 môn đệ mình với cùng những lời lẽ, cùng một sứ mệnh... mà kể ra còn chi tiết hơn sứ mệnh của “hàng giáo phẩm”. Giáo Hội không chỉ là các giáo hoàng, giám mục, linh mục mà còn là mỗi Ki-tô hữu.

“Bảy mươi hai”... Con số này ám chỉ toàn thể các nước dân ngoại được kể trong sách Sáng Thế (x. St 10)... Dĩ nhiên nó không mang tính hạn chế hay tính toán học. Đó là mọi người, mọi dân. “Từng hai người một”... Đây là con số mà Lề luật đòi hỏi để một chứng từ được nhận như có giá trị (x. Đnl 19,15). Đó cũng là thói quen của các Ki-tô hữu thừa sai đầu tiên, không bao giờ một mình: Phao-lô và Ba-na-ba... Ba-na-ba và Mác-cô... Phao-lô và Xi-la... “Trước Người... nơi chính Người sẽ đến...”. Sự nghiệp tông đồ phải luôn khiêm tốn. Ta chỉ biết sửa soạn. Công việc đích thực, Đức Giê-su sẽ đích thân làm.

Tuy nhiên, trong viễn tượng của Đức Giê-su, 72 người đầu tiên, con số đã khá lớn rồi, rõ ràng sẽ không đủ. Nhiều thợ mới sẽ phải thường xuyên bắt tay vào việc, bởi lẽ “lúa chín đầy đồng”, mùa gặt phong phú. Đức Giê-su trông rộng nhìn xa! “Mùa gặt” là một hình ảnh Thánh Kinh truyền thống để nói đến “Ngày tận cùng”, sự can thiệp cánh chung của Thiên Chúa (x. Ge 4,13; Mt 13,39; Kh 14,15-16). Trong Đức Giê-su, “thời cuối cùng” này đã bắt đầu. Người thấy sự dồi dào của “mùa gặt thần linh” ấy, nhưng khốn nỗi thợ lại không đủ. Và ngay lập tức, trước sự thiếu hụt này, Đức Giê-su gợi lên một giải pháp độc nhất: cầu nguyện! Việc tông đồ không phải là một công trình phàm nhân, như tuyên truyền hay quảng cáo, nhưng là một công trình thần linh, một ân sủng.

“Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em như chiên con đi vào giữa bầy sói”. Đức Giê-su không che giấu khó khăn của công cuộc tông đồ, trái lại muốn cảnh báo chúng ta thật rõ. Hình ảnh kể ra hơi gây khó chịu: tín hữu như một con chiên bị bầy sói tấn công. Chớ bắt hình ảnh nói quá những gì nó muốn nói. Mọi kẻ vô tín ngưỡng đều được Thiên Chúa yêu mến, nhưng “đàn chiên nhỏ” thật sự cần Mục tử bảo vệ (x. Ga 15,18; 10,1-16). Giáo Hội thường xuyên ở trong tình trạng nguy hiểm! Điều này đôi khi đòi hỏi một ý thức sắc bén, vì nhiều Ki-tô hữu nhắm mắt trước những bách hại tinh vi, thậm chí những đàn áp kinh khủng của thế quyền ở một nơi nào đó, để tự ru ngủ là đang “tốt đời đẹp đạo”, mọi chuyện đều êm xuôi. Các thời đại bình an, yên ổn thực sự mới phải khiến chúng ta kinh ngạc... Vậy thì hãy tin tưởng!

Tinh Thần và Phương Tiện

“Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép...”. Đáng lưu ý là Đức Giê-su không đưa ra chỉ thị nào thuộc loại “giáo lý”: Người chẳng nói đến nội dung đức tin... nhưng đến nhiều thái độ cụ thể của nhà thuyết giảng... y phục, hành lý, cách quan hệ của họ. Các thừa sai trước hết loan báo Nước Thiên Chúa bằng lối sống của mình!

Thứ nhất là đòi hỏi về nghèo khó. Tiên vàn chớ dựa vào những phương tiện nhân loại. Đức Giê-su đã chẳng sử dụng các khí giới của quyền lực, giàu sang... Giáo Hội trước hết phải bắt chước Thầy mình sống nghèo. “Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường...”. Chớ mất thì giờ vào những cử chỉ “lễ phép quá mức” (chào hỏi theo kiểu phương Đông rất dài dòng). Một hãy khẩn trương! Chuyện lạ lùng là trong Lu-ca, các sứ giả Tin Mừng đều “chạy”: Đức Ma-ri-a chạy đi thăm viếng, các mục đồng chạy đến máng cỏ, Phi-líp-phê chạy cho kịp chiếc xe của một người xứ Ê-thi-óp (x. Cv 8,30). “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình an cho nhà này!” Đây là một lối sống: bình an, thanh thản. Có trong mình một sự bình an và thông chuyển nó. Tin Mừng cũng chính là thế: làm cho sự hòa hợp viên mãn chảy qua giữa loài người.                                                            

“Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó... Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em”. Các vấn đề thực phẩm này xem ra tầm thường nhỏ mọn đối với chúng ta. Nhưng nếu biết được những cấm kỵ về thức ăn của người Do-thái, sẽ thấy các từ này của Đức Giê-su vang dội như một sự giải phóng tuyệt vời: hãy ăn tất cả, đừng bận tâm xem các thực phẩm sạch hay nhơ. Ở đây Đức Giê-su thật sự tỏ ra đi trước thời đại. Người biện hộ cho một thái độ khai mở rộng rãi trước các thói quen phong tục của người khác: hãy chấp nhận những thói tục văn hóa của các dân tộc mà bạn muốn đến rao giảng Tin Mừng! Điều này đi thật xa, như ta thấy trong Huấn thị 1659.

Tin Mừng này cũng rất cụ thể, thực tiễn. Đó là “Tin Mừng” hành động: làm việc thiện, đẩy lùi sự ác, an ủi chữa lành... Đó là Tin Mừng về việc thực hiện “Triều Đại”, chương trình, kế hoạch Thiên Chúa. Người ta đã từng chờ đợi nó đến vào ngày Tận cùng. Nhưng Đức Giê-su bảo nó đã có đó, gần bên! Nó ở trong cuộc sống bình thường nhất của bạn. Triều Đại Thiên Chúa là gì? Đó là Đức Giê-su. Đó là hạt giống mầu nhiệm Thiên Chúa đặt trong chính loài người. Với Đức Giê-su, Thiên Chúa thống trị, Thiên Chúa có đó, ngay tự bây giờ. Trong Đức Giê-su, việc hoàn tất thế giới đã xảy đến. “Tin Mừng” là một cái gì rất đơn giản: chính nghĩa của Thiên Chúa sắp toàn thắng, nó là tương lai tuyệt đối của loài người, và nó đã khởi sự! Thế giới sẽ chẳng kéo dài mãi, lịch sử nhân loại có một tận điểm, nhưng tận điểm này chẳng phải là hư vô mà là Thiên Chúa. Tin vào Đức Giê-su, đó là thể hiện trước thành tựu này... Cụ thể ra, làm cho Triều Đại Thiên Chúa đến, đó là “thực hiện thánh ý Người”: Xin cho Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện!”. Và thánh ý Thiên Chúa, đó là thiện ích toàn vẹn của loài người: việc chữa lành các bệnh tật (sự phá hoại toàn vẹn tính này) là một dấu chỉ của việc đó: “Hãy chữa kẻ đau yếu!” “Hãy chữa trị con người!” Triều Đại Thiên Chúa có đó, kề bên!

“Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em... Trong ngày ấy [Ngày Phán xét], thành Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó”. Đức Giê-su rõ ràng thấy trước các thất bại, các thái độ chối từ đức tin... Nhưng lời tiên báo sự thành công của chính nghĩa Thiên Chúa vẫn tồn tại. Dù muốn hay không, Thiên Chúa vẫn thống trị ngày kia, Ngày Phán xét... chỉ có điều là nếu bạn đã cố ý và ngoan cư BÀI SAI ĐÚNG ĐẮN

Việt ngữ đơn giản mà thâm thúy. Đúng như tiền nhân đã ví von: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam.” Thật vậy, chẳng hạn với hai chữ “sai trái” mà hoàn toàn trái nghĩa. Với cây cối, “sai trái” là nhiều quả, rất tốt, càng “sai trái” càng tốt; nhưng với con người, “sai trái” là sai lầm hoặc tội lỗi, càng “sai trái” càng nguy hiểm – cho chính mình và cho người khác.

Thật vậy, Kinh Thánh nhắn nhủ: “Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha.” (Hc 28:2) Tránh sai trái là điều cần phải làm bất cứ lúc nào, như Thánh Vịnh gia xác định: “Con chẳng theo thói đời buông những lời sai trái. Con tuân giữ mọi lời Chúa dạy, tránh xa đường lối kẻ bạo tàn, dõi vết chân Ngài, con không vấp ngã.” (Tv 17:4-5) Không chỉ phải tránh sai trái mà còn phải làm điều đúng đắn.

Thánh Luca cho biết rằng chính Chúa Giêsu đã truyền “bài sai” cho 72 môn đệ, với hai khoản rõ ràng là “đi rao giảng Tin Mừng” và “không đòi hỏi gì từ người khác.” Sự kiện đó được kể qua trình thuật Lc 10:1-12, 17-20.

Chính Chúa Giêsu bảo các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Ngài sẽ đến: “Anh em HÃY ra đi. Này Thầy sai anh em đi như CHIÊN CON ĐI VÀO GIỮA BẦY SÓI. ĐỪNG mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng ĐỪNG chào hỏi ai dọc đường. VÀO bất cứ nhà nào, trước tiên HÃY nói: ‘Bình an cho nhà này!’ Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. HÃY ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. ĐỪNG đi hết nhà nọ đến nhà kia. VÀO bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón thì CỨ ăn những gì người ta dọn cho anh em.”

Chúa Giêsu sử dụng hàng loạt mệnh lệnh cách, cả phủ định và xác định – Đừng, Hãy (vào, ở, ăn, đi,...). Chúa Giêsu CẤM họ ĐÒI HỎI bất cứ điều gì, có gì dùng nấy, có sao hưởng vậy. Có lẽ đây là một trong những câu “khó nghe” khiến người ta không muốn nghe nói tới, không thích ai nhắc nhở hoặc đề cập.

Thực sự không dễ gì mà “bằng lòng” với hiện tại, với những gì mình có. Bằng lòng và chấp nhận những gì mình có là một dạng hạnh phúc giản dị mà kỳ diệu, không chấp nhận những gì mình có hoặc đòi hỏi thì chỉ là tự làm khổ mình – và gây khổ liên đới tới người khác.

Chấp nhận điều kiện sống hiện tại không là thúc thủ hoặc miễn cưỡng với số phận, nhưng chấp nhận với niềm lạc quan và tín thác vào Thiên Chúa để Thánh Ý Ngài nên trọn. (x. Mt 26:42; Lc 23:34) Chấp nhận hiện tại, không đòi hỏi gì, nhưng vẫn sống vì người khác và giúp ích cho họ. Thật vậy, Chúa Giêsu dạy: “Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: ‘Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.’ Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón thì anh em ra các quảng trường mà nói: ‘Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.’ Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Sôđôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó.”

Thật tuyệt vời khi Nhóm 72 ra đi và đạt kết quả tốt. Họ trở về, hớn hở khoe Sư Phụ rằng họ rao giảng và ai cũng vui nghe đến danh Thầy, đặc biệt là ma quỷ phải khuất phục họ. Thế nhưng Chúa Giêsu thẳng thắn nói: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên, anh em CHỚ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng HÃY mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.” (Lc 10:18-20) Lại có thêm những mệnh lệnh cách!

Chúng ta ngày nay cũng tương tự, khi làm được gì đó thì kiêu hãnh, ảo tưởng về mình, muốn có hư danh trần tục mà quên rằng mình chỉ là “đầy tớ vô dụng.” (x. Lc 17:10) Chúa Giêsu xác định rằng không có Ngài thì chẳng ai làm được điều gì. (x. Ga 15:5) Mà nếu có làm được gì thì cũng chỉ là bổn phận và trách nhiệm phải làm thay cho người khác, vì sáng danh Thiên Chúa, không thể vinh danh mình. Còn đó tấm gương sáng chói của ngôn sứ Gioan Tẩy Giả: “Người phải NỔI BẬT lên, còn tôi phải LU MỜ đi.” (Ga 3:30)

Đó chính là động thái tự hạ – khiêm nhường, khiêm nhu, khiêm hạ, khiêm tốn. Và đó cũng là niềm vui thánh đức, như Thánh Phaolô vui mừng vì Thập Giá của Đức Giêsu Kitô. Chính Chúa Giêsu bảo các môn đệ hãy vui mừng vì tên được ghi vô Sổ Trường Sinh chứ không phải vì làm được công to việc lớn. Những điều này không hề đối lập mà lại rất hợp lý. Khiêm nhường trái ngược với kiêu ngạo. Ai cũng biết rõ mười mươi.

Thật vậy, Kinh Thánh minh định: “Kiêu hãnh đi liền với ô nhục, khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường.” (Cn 11:2) Chúa Giêsu luôn muốn chúng ta biết quên mình vì người khác, nhưng đôi khi chúng ta lại thích làm ngược lại: muốn người khác hy sinh vì mình. Nhận xét của Napoléon thật đáng để chúng ta xét mình: “Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ KHÔNG phải vì tội ác của những kẻ xấu, mà VÌ sự im lặng của những người tốt.” Mọi rắc rối đều bởi “cái tôi” mà ra, nó có thể khiến người ta vô cảm hoặc mất khả năng yêu thương. Thật đáng sợ!

Người Việt nói: “Lời nói hại xác phàm.” Lời nói liên quan miệng lưỡi. Kinh Thánh xác định: “Thổi vào tàn lửa, lửa sẽ bùng lên, nhổ lên nó, nó sẽ tắt ngúm. Tất cả đều do miệng của con.” (Hc 28:12)

Cuộc sống có nhiều thứ trái ngược nhau, có cái đúng mà hóa sai, có cái sai mà lại đúng. Còn nhỏ, người ta cố gắng học nói; lớn lên, người ta cố gắng học im lặng. Càng thêm tuổi thì người ta càng “ngộ” ra nhiều điều. Người ta gọi đó là kinh nghiệm, nói theo bình dân là tình trạng “đụng chạm” – “đụng” nhiều thì “chạm” nhiều. Vì thế mà sinh muôn vàn giống tội!

Với kinh nghiệm sống, chắc hẳn ai cũng biết một trong những điều người ta có thể “ngộ” ra là nhận thấy cuộc đời có gì đó xem chừng “bất ổn” lắm: nhiều buồn, ít vui. Nếu cuộc đời là 1 m thì có 8-9 dm buồn và 1-2 dm vui mà thôi. Thảo nào Chúa Giêsu luôn nhắc nhở: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” (Mt 16:24; Mc 8:34; Lc 9:23) Chắc chắn Ngài không xúi dại ai, mà Ngài muốn chúng ta chấp nhận thực tế để có thể đi xuyên qua mọi đau khổ đời này.

“Đời là bể khổ.” Đó là câu “cửa miệng” người ta thường nói. Khổ thì không thể vui. Buồn nhiều thì chắc hẳn là vui ít. Tất nhiên thôi. Nhưng vui ít chứ không phải là không vui. Tuy nhiên, vấn đề là vui gì và vì cái gì? Có nhiều dạng và nhiều mức độ vui. Niềm vui nào rồi cũng hóa nỗi buồn: Tiệc vui tan, rồi hóa kỷ niệm. Kỷ niệm chứ có thật đâu mà vui. Nhưng niềm vui của Kitô hữu là niềm vui cao thượng, người ta khả dĩ vui ngay trong nỗi gian nan, hoạn nạn. Bởi vì họ là tín nhân, là Kitô hữu, là người luôn tín thác vào Thiên Chúa – Đấng quan phòng và tiền định mọi sự. Đó là niềm vui đích thực, vui vì an tâm. Người an tâm thì sống thanh thản.

Ngày xưa, ngôn sứ Isaia đã nói: “Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ, hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô! Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng, hỡi tất cả những người đã than khóc Thành Đô, để được Thành Đô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thỏa thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ.” (Is 66:10-11) Niềm vui như thế thật là tốt lành, vì niềm vui đó mang tinh thần tín thác vào Thiên Chúa, người biết tín thác là người sống khôn ngoan và khiêm tốn, làm vui lòng Thiên Chúa.

Nếu Thiên Chúa hài lòng thì Ngài sẽ làm cho cuộc sống của họ phong phú, dồi dào, thoải mái, đúng như Ngài đã hứa: “Này Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sông cả, và Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về.” (Is 66:12-13) Ngài hứa gì thì Ngài sẽ hoàn tất theo cách quan phòng và tiền định của Ngài. Chắc chắn và chính xác.

Thánh Vịnh gia chia sẻ thực tế tâm linh: “Nhìn thấy thế, lòng các bạn sẽ đầy hoan lạc, thân mình được tươi tốt như cỏ đồng xanh. Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết, và nổi cơn thịnh nộ với các kẻ thù.” (Is 66:14) Có hai vế: ai thuận với Thiên Chúa thì hạnh phúc và vui sống, ai đối nghịch với Ngài thì thua thiệt. Rất rạch ròi, rất rõ ràng!

Đó là hệ lụy tất yếu. Điều đó được minh định qua lời của Thánh Vịnh gia: “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh! Hãy thưa cùng Thiên Chúa: Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài! Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm. Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh.” (Tv 66:1-4) Hệ lụy đó còn được xác nhận thêm một cách hùng hồn: “Đến mà xem công trình của Thiên Chúa: hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ! Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền, và dân Người đi bộ qua sông; việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ. Chúa uy dũng hiển trị muôn đời; đôi mắt Người theo dõi chư dân, quân làm phản chớ có hòng nổi dậy!” (Tv 66:5-7)

Chắc chắn chỉ có Thiên Chúa mới làm được những điều kỳ diệu như vậy. Điều đó mặc nhiên rằng chẳng có bất cứ thần linh nào khác có thể làm được như vậy. Tất cả những gì có vẻ “lạ” hoặc khác thường thì cũng có thể chỉ là lừa bịp. Đã và đang có nhiều “rối rắm” ngay tại Việt Nam chứ chẳng đâu xa – cả đạo và đời. Nhẹ dạ là chết!

Vô tri bất mộ – không biết không mến. Biết rồi thì mến, mến rồi thì tin, tin rồi thì yêu, không ai có thể trì hoãn cái sự sung sướng đó và cũng không thể im lặng, vì tình yêu luôn quảng đại, muốn chia sẻ cho mọi người cùng nhận biết và cùng tận hưởng: “Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời, đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi.” (Tv 66:16)

Thiên Chúa là Đấng trung tín, (2 Tx 3:3) giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến (Ep 2:4). Thánh Vịnh gia dẫn chứng: “Xin chúc tụng Thiên Chúa đã CHẲNG bác lời thỉnh nguyện tôi dâng, lại cũng KHÔNG dứt nghĩa đoạn tình.” (Tv 66:20) Cảm nghiệm niềm vui được biết Thiên Chúa, Đức-Kitô-chịu-đóng-đinh, Thánh Phaolô chia sẻ: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian.” (Gl 6:14) Loại ước mơ như thế thực sự “rất lạ,” hoàn toàn “khác người,” thậm chí là “ngược đời.”

Thật vậy, Thánh Phaolô xác nhận và chia sẻ: “Quả thật, cắt bì hay không cắt bì CHẲNG LÀ GÌ CẢ, điều quan trọng là trở nên MỘT THỤ TẠO MỚI. Chúc tất cả những ai sống theo quy tắc ấy, và chúc Israel của Thiên Chúa được hưởng BÌNH AN và LÒNG THƯƠNG XÓT của Người. Từ nay, xin đừng có ai gây phiền toái cho tôi nữa, vì tôi mang trên mình tôi những dấu tích của Đức Giêsu. Thưa anh em, nguyện xin Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho thần trí anh em được đầy tràn ân sủng” (Gl 6:15-18).

Mọi sự đều phân minh, vì Thiên Chúa không thiên vị bất cứ ai: “Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tuỳ theo việc họ làm; những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang, danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời; còn những ai chống Thiên Chúa mà không vâng phục chân lý và chạy theo điều ác, thì Người sẽ nổi trận lôi đình, trút cơn thịnh nộ xuống đầu họ.” (Rm 2:6-8)

Mọi Kitô hữu đều “như chiên con đi vào giữa bầy sói” giữa cuộc đời này. Người ta đã ghét Chúa Giêsu thì người ta cũng ghét bất cứ ai tin theo Ngài. Bách hại luôn xảy ra khắp nơi trên thế giới, xưa nay vẫn thế. Đau khổ là phần tất yếu của cuộc sống. Thánh Inhaxiô Loyola cho biết: “Nếu Thiên Chúa để anh em phải chịu nhiều đau khổ, đó là dấu Người đã có những chương trình lớn lao dành cho anh em, và chắc chắn Người muốn biến đổi anh em thành một vị thánh.”

Điều quan trọng cần nhớ: “Đừng sợ!” (St 15:1; St 21:17; St 26:24; St 46:3; Xh 14:13; Đnl 31:6; Is 43:1; Is 41:13; Gr 46:27-28; Gr 51:46; Ac 3:57; Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5; Mt 28:10; Mc 5:36; Mc 6:50; Ga 14:27; Lc 1:13; Lc 1:30; Lc 2:10; Lc 5:10; Lc 12:4; Lc 12:7; Lc 12:32; Lc 21:9; Ga 6:20; Ga 14:27; Kh 1:17-18,…) Với các sắc thái khác nhau, mệnh lệnh cách “Đừng Sợ!” được đề cập 365 lần trong Kinh Thánh – như vậy nghĩa là chúng ta được Thiên Chúa động viên mỗi ngày ít là một lần.

Kinh Thánh khuyên: “Hãy hết lòng tin tưởng vào Đức Chúa, chớ hề cậy dựa vào hiểu biết của con. Hãy nhận biết Người trong mọi đường đi nước bước, Người sẽ san bằng đường nẻo con đi.” (Cn 3:5-6) Mỗi người đều có quyền tự do chọn lựa, vì thế không thể biện hộ hoặc đổ lỗi cho bất cứ điều gì hoặc người khác.

Xã hội ngày nay có cách sai trái rất tinh vi, người ta càng ngày càng lộng hành thái quá, muốn tự quyết định mọi sự theo ý thế tục mình – chẳng hạn, chuyện hợp pháp hóa việc phá thai đang là vấn đề thời sự nóng tại Hoa Kỳ. Rất đáng quan ngại với nhận định của Thánh Tôma Aquinô: “Nếu bạn có thể sống giữa sự bất công mà không giận dữ, thì bạn cũng là kẻ VÔ ĐẠO ĐỨC NHƯ BẤT CÔNG vậy.” Đó là lời cảnh tỉnh lương tâm hay chỉ là chuyện bình thường giữa đời vô thường?

Lạy Thiên Chúa công minh và chính trực, hằng thấu suốt mọi sự, xin giúp chúng con phân định đúng – sai, luôn sẵn sàng thi hành Thánh Ý Ngài trong mọi hoàn cảnh. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

Thomas Aq. Trầm Thiên Thuờng chống lại việc ấy, bạn sẽ không được hưởng thành quả này mà vốn đã có thể là thành quả của bạn...

Tóm lại, các chỉ thị của Đức Giê-su nói lên tinh thần phải sinh động các môn đồ và các phương tiện họ phải vận dụng. Đó không phải là một tinh thần thống trị và chinh phục, song là tinh thần hiền hòa và bình an. Vì đó là chuyện tìm nẻo lối đi vào hồn người để họ mở lòng đón nhận Tin Mừng cứu rỗi. Và các phương tiện sử dụng chính là sự đơn sơ, nghèo khó, nhân từ, thay vì nại đến hiển hách của hành động, đến quyền lực của bạc tiền, đến sức mạnh của vũ khí, đến uy tín của kiến thức!

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

----------------------------------

 

TN 14-C158: BÀI SAI ĐÚNG ĐẮN

 

Việt ngữ đơn giản mà thâm thúy. Đúng như tiền nhân đã ví von: “Phong ba bão táp không bằng ngữ TN 14-C158


Việt ngữ đơn giản mà thâm thúy. Đúng như tiền nhân đã ví von: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam.” Thật vậy, chẳng hạn với hai chữ “sai trái” mà hoàn toàn trái nghĩa. Với cây cối, “sai trái” là nhiều quả, rất tốt, càng “sai trái” càng tốt; nhưng với con người, “sai trái” là sai lầm hoặc tội lỗi, càng “sai trái” càng nguy hiểm – cho chính mình và cho người khác.

Thật vậy, Kinh Thánh nhắn nhủ: “Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha.” (Hc 28:2) Tránh sai trái là điều cần phải làm bất cứ lúc nào, như Thánh Vịnh gia xác định: “Con chẳng theo thói đời buông những lời sai trái. Con tuân giữ mọi lời Chúa dạy, tránh xa đường lối kẻ bạo tàn, dõi vết chân Ngài, con không vấp ngã.” (Tv 17:4-5) Không chỉ phải tránh sai trái mà còn phải làm điều đúng đắn.

Thánh Luca cho biết rằng chính Chúa Giêsu đã truyền “bài sai” cho 72 môn đệ, với hai khoản rõ ràng là “đi rao giảng Tin Mừng” và “không đòi hỏi gì từ người khác.” Sự kiện đó được kể qua trình thuật Lc 10:1-12, 17-20.

Chính Chúa Giêsu bảo các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Ngài sẽ đến: “Anh em HÃY ra đi. Này Thầy sai anh em đi như CHIÊN CON ĐI VÀO GIỮA BẦY SÓI. ĐỪNG mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng ĐỪNG chào hỏi ai dọc đường. VÀO bất cứ nhà nào, trước tiên HÃY nói: ‘Bình an cho nhà này!’ Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. HÃY ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. ĐỪNG đi hết nhà nọ đến nhà kia. VÀO bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón thì CỨ ăn những gì người ta dọn cho anh em.”

Chúa Giêsu sử dụng hàng loạt mệnh lệnh cách, cả phủ định và xác định – Đừng, Hãy (vào, ở, ăn, đi,...). Chúa Giêsu CẤM họ ĐÒI HỎI bất cứ điều gì, có gì dùng nấy, có sao hưởng vậy. Có lẽ đây là một trong những câu “khó nghe” khiến người ta không muốn nghe nói tới, không thích ai nhắc nhở hoặc đề cập.

Thực sự không dễ gì mà “bằng lòng” với hiện tại, với những gì mình có. Bằng lòng và chấp nhận những gì mình có là một dạng hạnh phúc giản dị mà kỳ diệu, không chấp nhận những gì mình có hoặc đòi hỏi thì chỉ là tự làm khổ mình – và gây khổ liên đới tới người khác.

Chấp nhận điều kiện sống hiện tại không là thúc thủ hoặc miễn cưỡng với số phận, nhưng chấp nhận với niềm lạc quan và tín thác vào Thiên Chúa để Thánh Ý Ngài nên trọn. (x. Mt 26:42; Lc 23:34) Chấp nhận hiện tại, không đòi hỏi gì, nhưng vẫn sống vì người khác và giúp ích cho họ. Thật vậy, Chúa Giêsu dạy: “Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: ‘Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.’ Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón thì anh em ra các quảng trường mà nói: ‘Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.’ Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Sôđôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó.”

Thật tuyệt vời khi Nhóm 72 ra đi và đạt kết quả tốt. Họ trở về, hớn hở khoe Sư Phụ rằng họ rao giảng và ai cũng vui nghe đến danh Thầy, đặc biệt là ma quỷ phải khuất phục họ. Thế nhưng Chúa Giêsu thẳng thắn nói: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên, anh em CHỚ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng HÃY mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.” (Lc 10:18-20) Lại có thêm những mệnh lệnh cách!

Chúng ta ngày nay cũng tương tự, khi làm được gì đó thì kiêu hãnh, ảo tưởng về mình, muốn có hư danh trần tục mà quên rằng mình chỉ là “đầy tớ vô dụng.” (x. Lc 17:10) Chúa Giêsu xác định rằng không có Ngài thì chẳng ai làm được điều gì. (x. Ga 15:5) Mà nếu có làm được gì thì cũng chỉ là bổn phận và trách nhiệm phải làm thay cho người khác, vì sáng danh Thiên Chúa, không thể vinh danh mình. Còn đó tấm gương sáng chói của ngôn sứ Gioan Tẩy Giả: “Người phải NỔI BẬT lên, còn tôi phải LU MỜ đi.” (Ga 3:30)

Đó chính là động thái tự hạ – khiêm nhường, khiêm nhu, khiêm hạ, khiêm tốn. Và đó cũng là niềm vui thánh đức, như Thánh Phaolô vui mừng vì Thập Giá của Đức Giêsu Kitô. Chính Chúa Giêsu bảo các môn đệ hãy vui mừng vì tên được ghi vô Sổ Trường Sinh chứ không phải vì làm được công to việc lớn. Những điều này không hề đối lập mà lại rất hợp lý. Khiêm nhường trái ngược với kiêu ngạo. Ai cũng biết rõ mười mươi.

Thật vậy, Kinh Thánh minh định: “Kiêu hãnh đi liền với ô nhục, khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường.” (Cn 11:2) Chúa Giêsu luôn muốn chúng ta biết quên mình vì người khác, nhưng đôi khi chúng ta lại thích làm ngược lại: muốn người khác hy sinh vì mình. Nhận xét của Napoléon thật đáng để chúng ta xét mình: “Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ KHÔNG phải vì tội ác của những kẻ xấu, mà VÌ sự im lặng của những người tốt.” Mọi rắc rối đều bởi “cái tôi” mà ra, nó có thể khiến người ta vô cảm hoặc mất khả năng yêu thương. Thật đáng sợ!

Người Việt nói: “Lời nói hại xác phàm.” Lời nói liên quan miệng lưỡi. Kinh Thánh xác định: “Thổi vào tàn lửa, lửa sẽ bùng lên, nhổ lên nó, nó sẽ tắt ngúm. Tất cả đều do miệng của con.” (Hc 28:12)

Cuộc sống có nhiều thứ trái ngược nhau, có cái đúng mà hóa sai, có cái sai mà lại đúng. Còn nhỏ, người ta cố gắng học nói; lớn lên, người ta cố gắng học im lặng. Càng thêm tuổi thì người ta càng “ngộ” ra nhiều điều. Người ta gọi đó là kinh nghiệm, nói theo bình dân là tình trạng “đụng chạm” – “đụng” nhiều thì “chạm” nhiều. Vì thế mà sinh muôn vàn giống tội!

Với kinh nghiệm sống, chắc hẳn ai cũng biết một trong những điều người ta có thể “ngộ” ra là nhận thấy cuộc đời có gì đó xem chừng “bất ổn” lắm: nhiều buồn, ít vui. Nếu cuộc đời là 1 m thì có 8-9 dm buồn và 1-2 dm vui mà thôi. Thảo nào Chúa Giêsu luôn nhắc nhở: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” (Mt 16:24; Mc 8:34; Lc 9:23) Chắc chắn Ngài không xúi dại ai, mà Ngài muốn chúng ta chấp nhận thực tế để có thể đi xuyên qua mọi đau khổ đời này.

“Đời là bể khổ.” Đó là câu “cửa miệng” người ta thường nói. Khổ thì không thể vui. Buồn nhiều thì chắc hẳn là vui ít. Tất nhiên thôi. Nhưng vui ít chứ không phải là không vui. Tuy nhiên, vấn đề là vui gì và vì cái gì? Có nhiều dạng và nhiều mức độ vui. Niềm vui nào rồi cũng hóa nỗi buồn: Tiệc vui tan, rồi hóa kỷ niệm. Kỷ niệm chứ có thật đâu mà vui. Nhưng niềm vui của Kitô hữu là niềm vui cao thượng, người ta khả dĩ vui ngay trong nỗi gian nan, hoạn nạn. Bởi vì họ là tín nhân, là Kitô hữu, là người luôn tín thác vào Thiên Chúa – Đấng quan phòng và tiền định mọi sự. Đó là niềm vui đích thực, vui vì an tâm. Người an tâm thì sống thanh thản.

Ngày xưa, ngôn sứ Isaia đã nói: “Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ, hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô! Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng, hỡi tất cả những người đã than khóc Thành Đô, để được Thành Đô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thỏa thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ.” (Is 66:10-11) Niềm vui như thế thật là tốt lành, vì niềm vui đó mang tinh thần tín thác vào Thiên Chúa, người biết tín thác là người sống khôn ngoan và khiêm tốn, làm vui lòng Thiên Chúa.

Nếu Thiên Chúa hài lòng thì Ngài sẽ làm cho cuộc sống của họ phong phú, dồi dào, thoải mái, đúng như Ngài đã hứa: “Này Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sông cả, và Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về.” (Is 66:12-13) Ngài hứa gì thì Ngài sẽ hoàn tất theo cách quan phòng và tiền định của Ngài. Chắc chắn và chính xác.

Thánh Vịnh gia chia sẻ thực tế tâm linh: “Nhìn thấy thế, lòng các bạn sẽ đầy hoan lạc, thân mình được tươi tốt như cỏ đồng xanh. Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết, và nổi cơn thịnh nộ với các kẻ thù.” (Is 66:14) Có hai vế: ai thuận với Thiên Chúa thì hạnh phúc và vui sống, ai đối nghịch với Ngài thì thua thiệt. Rất rạch ròi, rất rõ ràng!

Đó là hệ lụy tất yếu. Điều đó được minh định qua lời của Thánh Vịnh gia: “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh! Hãy thưa cùng Thiên Chúa: Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài! Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm. Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh.” (Tv 66:1-4) Hệ lụy đó còn được xác nhận thêm một cách hùng hồn: “Đến mà xem công trình của Thiên Chúa: hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ! Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền, và dân Người đi bộ qua sông; việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ. Chúa uy dũng hiển trị muôn đời; đôi mắt Người theo dõi chư dân, quân làm phản chớ có hòng nổi dậy!” (Tv 66:5-7)

Chắc chắn chỉ có Thiên Chúa mới làm được những điều kỳ diệu như vậy. Điều đó mặc nhiên rằng chẳng có bất cứ thần linh nào khác có thể làm được như vậy. Tất cả những gì có vẻ “lạ” hoặc khác thường thì cũng có thể chỉ là lừa bịp. Đã và đang có nhiều “rối rắm” ngay tại Việt Nam chứ chẳng đâu xa – cả đạo và đời. Nhẹ dạ là chết!

Vô tri bất mộ – không biết không mến. Biết rồi thì mến, mến rồi thì tin, tin rồi thì yêu, không ai có thể trì hoãn cái sự sung sướng đó và cũng không thể im lặng, vì tình yêu luôn quảng đại, muốn chia sẻ cho mọi người cùng nhận biết và cùng tận hưởng: “Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời, đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi.” (Tv 66:16)

Thiên Chúa là Đấng trung tín, (2 Tx 3:3) giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến (Ep 2:4). Thánh Vịnh gia dẫn chứng: “Xin chúc tụng Thiên Chúa đã CHẲNG bác lời thỉnh nguyện tôi dâng, lại cũng KHÔNG dứt nghĩa đoạn tình.” (Tv 66:20) Cảm nghiệm niềm vui được biết Thiên Chúa, Đức-Kitô-chịu-đóng-đinh, Thánh Phaolô chia sẻ: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian.” (Gl 6:14) Loại ước mơ như thế thực sự “rất lạ,” hoàn toàn “khác người,” thậm chí là “ngược đời.”

Thật vậy, Thánh Phaolô xác nhận và chia sẻ: “Quả thật, cắt bì hay không cắt bì CHẲNG LÀ GÌ CẢ, điều quan trọng là trở nên MỘT THỤ TẠO MỚI. Chúc tất cả những ai sống theo quy tắc ấy, và chúc Israel của Thiên Chúa được hưởng BÌNH AN và LÒNG THƯƠNG XÓT của Người. Từ nay, xin đừng có ai gây phiền toái cho tôi nữa, vì tôi mang trên mình tôi những dấu tích của Đức Giêsu. Thưa anh em, nguyện xin Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho thần trí anh em được đầy tràn ân sủng” (Gl 6:15-18).

Mọi sự đều phân minh, vì Thiên Chúa không thiên vị bất cứ ai: “Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tuỳ theo việc họ làm; những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang, danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời; còn những ai chống Thiên Chúa mà không vâng phục chân lý và chạy theo điều ác, thì Người sẽ nổi trận lôi đình, trút cơn thịnh nộ xuống đầu họ.” (Rm 2:6-8)

Mọi Kitô hữu đều “như chiên con đi vào giữa bầy sói” giữa cuộc đời này. Người ta đã ghét Chúa Giêsu thì người ta cũng ghét bất cứ ai tin theo Ngài. Bách hại luôn xảy ra khắp nơi trên thế giới, xưa nay vẫn thế. Đau khổ là phần tất yếu của cuộc sống. Thánh Inhaxiô Loyola cho biết: “Nếu Thiên Chúa để anh em phải chịu nhiều đau khổ, đó là dấu Người đã có những chương trình lớn lao dành cho anh em, và chắc chắn Người muốn biến đổi anh em thành một vị thánh.”

Điều quan trọng cần nhớ: “Đừng sợ!” (St 15:1; St 21:17; St 26:24; St 46:3; Xh 14:13; Đnl 31:6; Is 43:1; Is 41:13; Gr 46:27-28; Gr 51:46; Ac 3:57; Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5; Mt 28:10; Mc 5:36; Mc 6:50; Ga 14:27; Lc 1:13; Lc 1:30; Lc 2:10; Lc 5:10; Lc 12:4; Lc 12:7; Lc 12:32; Lc 21:9; Ga 6:20; Ga 14:27; Kh 1:17-18,…) Với các sắc thái khác nhau, mệnh lệnh cách “Đừng Sợ!” được đề cập 365 lần trong Kinh Thánh – như vậy nghĩa là chúng ta được Thiên Chúa động viên mỗi ngày ít là một lần.

Kinh Thánh khuyên: “Hãy hết lòng tin tưởng vào Đức Chúa, chớ hề cậy dựa vào hiểu biết của con. Hãy nhận biết Người trong mọi đường đi nước bước, Người sẽ san bằng đường nẻo con đi.” (Cn 3:5-6) Mỗi người đều có quyền tự do chọn lựa, vì thế không thể biện hộ hoặc đổ lỗi cho bất cứ điều gì hoặc người khác.

Xã hội ngày nay có cách sai trái rất tinh vi, người ta càng ngày càng lộng hành thái quá, muốn tự quyết định mọi sự theo ý thế tục mình – chẳng hạn, chuyện hợp pháp hóa việc phá thai đang là vấn đề thời sự nóng tại Hoa Kỳ. Rất đáng quan ngại với nhận định của Thánh Tôma Aquinô: “Nếu bạn có thể sống giữa sự bất công mà không giận dữ, thì bạn cũng là kẻ VÔ ĐẠO ĐỨC NHƯ BẤT CÔNG vậy.” Đó là lời cảnh tỉnh lương tâm hay chỉ là chuyện bình thường giữa đời vô thường?

Lạy Thiên Chúa công minh và chính trực, hằng thấu suốt mọi sự, xin giúp chúng con phân định đúng – sai, luôn sẵn sàng thi hành Thánh Ý Ngài trong mọi hoàn cảnh. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

-------------------------

 

TN 14-C159: LOAN BÁO - LÀM CHỨNG VÀ NGUYỆN CẦU


Loan báo tin vui

 

Sứ mệnh của Giáo Hội là rao truyền Tin Mừng và niềm vui an ủi. Bài đọc I trích tư sách ngôn sứ TN 14-C159


Sứ mệnh của Giáo Hội là rao truyền Tin Mừng và niềm vui an ủi. Bài đọc I trích tư sách ngôn sứ Isaia nói tới niềm vui của sự an ủi. Ngôn sứ nói với một dân tộc đã trải qua một thời kỳ đen tối của kiếp lưu đầy, bị thử thách cam go, nhưng giờ đây đã tới thời ủi an cho Giêrusalem; sự buồn sầu và nỗi sợ hãi phải nhường chỗ cho niềm vui (Is 66,10). Lý do là vì Chúa sẽ đổ tràn đầy trên Thành Thánh và dân cư của nó một "thác" của sự ủi an, tràn đầy ủi an, mốt thác của hiền dịu mẫu tử : "Các ngươi sẽ được bồng ẵm trên tay và được vuốt ve trên đầu gối. Như bà mẹ để con thơ trên đầu gối và vuốt ve nó, Thiên Chúa cũng sẽ làm như vậy với chúng ta" (Is 66,12-13).

Làm chứng

Trong thư gửi tín hữu Galát, thánh Phaolô khẳng định rằng: "Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Ðức Giêsu Kitô Chúa chúng ta!" (Gl 6,14). Và thánh nhân nói tới các dấu tích, nghĩa là các vết thương của Chúa Giêsu Bị Ðóng Ðanh như là dấu ấn đặc biệt trong cuộc sống của người là Tông Ðồ của Tin Mừng. Trong sử vụ của mình thánh Phaolô đã sống kinh nghiệm khổ đau, yếu đuối và thất bại, nhưng cũng sống kinh nghiệm niềm vui và sự an ủi. Ðây là mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu: mầu chiệm của cái chết và sự sống lại. Chính việc để cho mình trở nên đồng hình dạng với cái chết của Chúa Giêsu khiến cho thánh Phaolô đã tham dự vào sự phục sinh và chiến thắng của Chúa mà Phaolô đã làm chứng.

Ngày 06/01/2022, Đức Thánh Cha đã công bố Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo năm 2022 với chủ đề: "Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy" (Cv 1,8). Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các Kitô hữu loan báo sứ điệp cứu độ của Chúa Kitô trong mọi chiều kích của đời sống hàng ngày của chúng ta.

Đức Thánh Cha nói tiếp : "Loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn là sứ mạng của Ðức Giêsu. Ðây cũng chính là sứ mạng của Giáo hội và của tất cả những ai đã lãnh nhận Phép Rửa trong Giáo hội…Là một Kitô hữu cũng chính là một nhà truyền giáo. Rao giảng Tin Mừng bằng lời nói, mà trước hết là bằng chính đời sống, là mục đích chính yếu mọi thành phần dân Chúa, cần phải đến gần với người nghèo, phục vụ họ, và thực hiện tất cả những điều này trong danh Ðức Kitô với Thần Khí của Ðức Kitô, vì Người chính là Tin Mừng của Thiên Chúa" (x. Sứ điệp truyền giáo 2022).

Mọi Kitô hữu được mời gọi trở thành một nhà truyền giáo và làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta thực hiện sứ vụ truyền giáo trong Giáo hội, vì được Giáo hội sai đi nhân danh Chúa Kitô loan báo Tin Mừng "cho đến tận cùng trái đất". Chúng ta cũng nhận được sức mạnh từ Chúa Thánh Thần và được Thánh Thần hướng dẫn để làm chứng đầy đủ và chân thực cho Chúa Kitô là Chúa đã đến trong thế gian. Vì thế, khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi, không có động lực hoặc bối rối, chúng ta hãy cầu nguyện.

Cầu nguyện

Tin Mừng hôn nay mô thuật lại Chúa Giêsu sai nhóm 72 môn đệ đi loan báo Tin Mừng. COn số 72 được Sách Sáng Thế mô tả muốn nói tới các dân tộc khác nhau (x. St 10, 1-13). Nên khi Chúa Giêsu nói với các môn đệ : "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít" (x. Lc 10,2), Người vạch ra một viễn tượng và đề nghị chúng ta cầu nguyện, tức là xin chủ mùa gặt sai thợ mang gặt lúa về (x. Lc 10,2). Đây là yếu tố để đảm bảo cho sứ mạng loan báo Tin Mừng. Chúa Giêsu đã không muốn hành động một mình. Người đến trong thế giới là để đem tình yêu thương của Thiên Chúa đến cho con người và muốn phổ biến nó với kiểu cách của sự hiệp thông, của tình huynh đệ. Vì thế Người thành lập ngay một cộng đoàn môn đệ, một cộng đoàn truyền giáo với mục đích cấp bách là loan báo Tin Mừng.

Các người thợ đã không được chọn qua các chiến dịch quảng cáo hay kêu gọi phục vụ quảng đại, nhưng được Thiên Chúa "chọn" và "sai đi". Chính Người tuyển chọn, chính Người sai đi, chính Người ban sứ mệnh. Vì thế cầu nguyện quan trọng. Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã ngỏ lời với Hồng Y đoàn vào ngày ngài thoái vị rằng: "Giáo Hội không phải của chúng ta, mà là của Thiên Chúa. Biết bao lần chúng ta, những người được thánh hiến, chúng ra nghĩ rằng nó là của chúng ta, phải không? Chúng ta làm... cái gì đến trong trí... Nhưng mà Giáo Hội không phải của chúng ta, mà là của Thiên Chúa; cánh đồng trồng tỉa là của Người".

Như thế sứ mệnh truyền giáo là ơn thánh. Và nếu việc tông đồ là hoa trái của lời cầu nguyện, thì nó sẽ tìm thấy trong đó sức mạnh cho hoạt động của nó. Thật thế, sứ mệnh của chúng ta không phong phú, còn hơn thế nữa tắt lịm, chính trong lúc chúng ta ngưng việc kết nối với suối nguồn là chính Chúa. Đức Bênêđictô XVI nói rõ: "việc truyền giáo phải làm trên đầu gối". Vì thế, cầu nguyện là cần thiết. Chúng ta phải tay chắp gối quì mà xin ơn truyền giáo.

"Các con hãy đi". Lời Chúa Giêsu ngày hôm nay vẫn còn rất cấp bách. Xin cho con người hôm nay mau mắn đáp lại sự sai đi của Chúa. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

------------------------------

 

TN 14-C160: TƯ CÁCH MÔN ĐỆ VÀ VIỆC RAO GIẢNG TIN MỪNG CỦA CHÚA KITÔ


“Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến…” (Luca 10:1-12, 17-20)

NHƯ CHIÊN CON ĐI VÀO GIỮA BẦY SÓI

 

Bài Tin Mừng này tiếp nối ngay sau bài Tin mừng của Chúa Nhật tuần trước: chúng ta đã thấy TN 14-C160


Bài Tin Mừng này tiếp nối ngay sau bài Tin mừng của Chúa Nhật tuần trước: chúng ta đã thấy Chúa Giêsu đương đầu với những nỗi khổ tâm mà sứ mạng đòi hỏi ở Ngài: chấp nhận sự không an toàn, không có chỗ tựa đầu, để kẻ chết chôn kẻ chết, nghĩa là biết lựa chọn gian khổ như bị đóng đinh, tra tay vào cày mà không ngoảnh lại, chấp nhận đối mặt với cái chết bằng cách kiên quyết đi lên Giêrusalem. Người ta có thể đoán được những cám dỗ luôn ẩn hiện đằng sau những gì Chúa Giêsu quyết định. Thánh Luca cho chúng ta thấy điều đó trên đường lên Giêrusalem: Chúa Giêsu đã tự mình vượt qua mọi cám dỗ.

Ngài vẫn còn phải truyền đi ngọn đuốc: Ngài lần lượt sai các môn đệ của mình đi truyền giáo. Việc chuẩn bị cho họ là điều cấp thiết vì sự ra đi của Ngài đang đến gần. Và Ngài cho họ tất cả những lời khuyên cần thiết để họ chuẩn bị đối mặt với những cám dỗ mà Ngài biết rõ: họ cũng sẽ phải đối mặt với những cám dỗ tương tự.

Họ cũng sẽ biết đến sự khước từ: như Chúa Giêsu đã phải chịu sự khước từ của một làng Samaria, họ phải chuẩn bị để chịu sự khước từ; nhưng đừng để điều đó ngăn cản họ. Khi họ buộc phải rời khỏi một ngôi làng, họ vẫn cứ phải nói về sứ điệp mà họ đã được sai đến để nói: “Các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần” (Luca 10; 11). Nhưng để cho thấy rõ rằng việc làm của họ hoàn toàn không được quan tâm và những người thụ hưởng sứ điệp luôn có quyền từ chối, Ngài nói thêm: “Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón…” (Luca 10; 10).

Họ cũng sẽ phải nếm trải sự căm thù: “Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói” (Luca 10: 3). Họ sẽ vẫn phải loan báo không mệt mỏi và mang lại bình an: “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này! " Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy” (Luca 10: 5-6). Chúng ta phải tin vào sự lan tỏa của bình an bằng mọi giá: khi chúng ta thực sự hết lòng cầu mong cho một ai đó bình an, thì bình an thực sự sẽ lớn lên. Chúng ta biết điều đó bằng kinh nghiệm. Tuy nhiên, người đối thoại của chúng ta cũng phải là một người bạn của bình an; nếu không, Chúa Giêsu nói với họ “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông” (Luca 10: 11), nghĩa là đừng để mình bị đè bẹp bởi những thất bại, những lời từ chối… Đừng để điều gì khiến anh em phải “kéo lê chân mình”, một cách nào đó!

Họ cũng sẽ cảm thấy không an toàn: chính Chúa Giêsu “không có chỗ tựa đầu” (Luca 9: 57); nếu chúng ta hiểu một cách chính xác, thì môn đồ của Ngài cũng vậy: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” (Luca 10: 4). Họ cũng sẽ phải học cách sống ngày nào biết ngày ấy, mà không cần lo lắng về ngày mai, bằng lòng với việc “người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó” (Luca 10: 7), giống như người Do thái xưa trong sa mạc chỉ có thể thu nhặt mana từng ngày một.

TÍNH CẤP BÁCH CỦA SỨ VỤ

Họ cũng phải lựa chọn, đôi khi như bị đóng đinh vào thập giá, vì sứ mệnh cấp bách: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa ” (Lc 9,60) đó là một đòi hỏi vì những bổn phận dù thánh thiêng nhất theo con mắt của chúng ta cũng phải nhường chỗ cho sự cấp bách của Nước Thiên Chúa. “Đừng chào hỏi ai dọc đường” (Luca 10: 4) là một cụm từ cùng ý nghĩa cấp bách: đối với các môn đồ của Ngài, là những người ở phương đông, nên việc chào hỏi nhau dài dòng là một bổn phận thực sự.

Họ cũng sẽ phải chống lại sự cám dỗ muốn thành công: “Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia” (Luca 10: 7). Họ cũng sẽ phải học cách ước ao đến lượt mình truyền đi ngọn đuốc: sứ mệnh quá nặng nề, quá quý giá, người ta không thể độc chiếm nó: sứ mệnh không thuộc về chúng ta; bởi vì một trong những cám dỗ tinh tế nhất có lẽ là không thực sự muốn những người khác làm việc bên cạnh chúng ta. “Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mátthêu 9; 38): điều này không có nghĩa là dạy cho Chúa điều gì đó mà Ngài không biết, nhưng có nghĩa là người ta phải nhận ra rằng môn đệ cần đến sự giúp đỡ. Ngài biết điều đó hơn chúng ta! Chính khi cầu nguyện, chúng ta để cho mình được Ngài soi sáng. Cầu nguyện không bao giờ nhằm mục đích thông báo cho Thiên Chúa: đó là điều rất tự phụ của chúng ta! Cầu nguyện là để chuẩn bị cho bản thân chúng ta được biến đổi.

Cám dỗ cuối cùng: tự kiêu về những thành công của chúng ta. “Anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Luca 10; 20). Cần phải tin rằng, bao giờ cũng vậy, việc trở thành ngôi sao luôn rình chờ các môn đệ: các tông đồ đích thực có lẽ không buộc phải là người nổi tiếng nhất. Các môn đệ chân chính không tự hào về chính mình hay công này việc nọ của mình, họ chỉ như thánh Phaolô: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta!” (Galát 6:14).

Chúng ta có thể nghĩ bảy mươi hai môn đồ đã vượt qua tất cả những cám dỗ này vì khi họ trở về, “Họ hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con” (Luca 10; 17). Nhưng Chúa Giêsu nói với họ: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống” (Luca 10: 18). Chúa Giêsu thực hiện chuyến đi cuối cùng đến Giêrusalem và chắc chắn Ngài kín múc được ở đó sự trợ lực lớn lao; vì ngay sau khi thánh Luca nói với chúng ta “Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Chúa Giêsu hớn hở vui mừng” thì Ngài nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Luca 10: 21).

TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA CÓ TÍNH QUYẾT ĐỊNH

“Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa,
đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời,
nào dâng lời ca tụng tôn vinh!” (Tv 66:1-2).
Trước hết tình yêu của Thiên chúa biểu lộ qua niềm vui được hứa ban. Niềm vui được “hát lên mừng Danh Thánh, được dâng lời ca tụng tôn vinh” thực sự là động lực chính của việc rao giảng tin mừng này: vào lúc khó khăn, điều quan trọng là người môn đệ phải nhớ rằng Thiên Chúa không muốn gì ngoài niềm vui của con người và một ngày nào đó niềm vui sẽ chiếm lĩnh toàn bộ trái đất, toàn thể nhân loại! Một niềm vui tràn trề, vui tươi nhưng rất cụ thể, thực tế, bắt nguồn từ những nhu cầu cơ bản nhất của chúng ta: được nuôi dưỡng, no nê, an ủi, nâng niu như Isaia nói:

“Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ,
được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối.
Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy;
tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về…” (Is 66:12-13).
Thánh vịnh 66 vọng lại:

“Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời,
đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi.
Vừa mở miệng kêu lên cùng Chúa,
tấc lưỡi tán dương, tôi đã sẵn sàng.
Điều gian ác, nếu lòng này ấp ủ,
chắc hẳn là Chúa chẳng nghe đâu.
Thế mà Thiên Chúa đã nghe rồi, để tâm đến lời tôi cầu nguyện.
Xin chúc tụng Thiên Chúa
đã chẳng bác lời thỉnh nguyện tôi dâng,
lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình” (Tv 66:16-20).
Chính Thiên Chúa là người hành động, như  tiên tri đã nói rõ điều đó: “Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy”.  Chính Thiên Chúa quan tâm đến niềm vui của dân Ngài mà đại diện là Thành Thánh:

“Hãy vui mừng với Giêrusalem,
hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ,
hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô !
Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng,
hỡi tất cả những người đã than khóc Thành Đô” (Is 66:10).
Như dân Do thái xưa ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa vì cuộc xuất hành khỏi Ai Cập để vào vùng đất Canaan là những hành động quyền uy vĩ ​​đại của Thiên Chúa, các Kitô hữu, môn đệ của Chúa Giêsu Kitô, không ngừng rao giảng thập giá cứu độ của  Ngài, thập giá đã giải cứu chúng ta khỏi ách thống trị của hoàng tử của thế gian này – là Pharaoh Ai Cập đối với dân Do thái xưa, cũng như bất cứ các quyền lực xã hội chính trị nào hiện nay phản lại giá trị Tin mừng - và đưa chúng ta vào vui hưởng các phúc lành trên trời.

Chúng ta tin vào Tin mừng tình yêu của Thiên Chúa vẫn được Chúa Kitô rao giảng qua Giáo hội hôm nay. Chúng ta được mời gọi đem lại bình an cho mọi người cách không mệt mỏi: “Điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới. Chúc tất cả những ai sống theo quy tắc ấy, và chúc Israel của Thiên Chúa được hưởng bình an và lòng thương xót của Ngài” (Galát 6: 15-16).  Và bình an này là dành cho tất cả các dân tộc trên trái đất. Để công bố bình an này, người ta phải quay về Chúa Cha là Tình yêu: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Gioan 4:16). Chúng ta phải buông bỏ mình để làm theo ý muốn yêu thương của Chúa Cha, để đắm mình trong đức tin vào Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại. Chúng ta cần phải để bản thân được dẫn dắt như thánh Phaolô: “Nhờ thập giá Ngài, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Galát 6; 14). Trong cái chết của Ngài trên thập giá, Chúa Kitô trở nên một với chúng ta, vì Ngài đã trở thành con người và chia sẻ đau khổ, ngay cả cái chết của chúng ta. Đức tin của những môn đệ là đức tin của sự chia sẻ, của sự trao đổi. Các điểm đặc biệt của đức tin của người môn đệ là mối tương quan được sống với Thiên Chúa cũng như sống trong mối tương quan với những người khác. Đó là ý muốn của Chúa Giêsu: “Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một” (Luca 10: 1). Chính trong việc chia sẻ sứ mệnh như thế mà các môn đệ hiểu được lẽ nhiệm mầu mà “Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Luca 10:21).

Vì vậy, chúng ta hãy là những người phục vụ sự bình an, sự bình an này mà chúng ta cần phải trao ban cho tất cả, vượt ra ngoài những nhóm người thân hay bạn bè đồng lòng và thoải mái của chúng ta. Chúng ta cần có sự khiêm tốn để nhận ra rằng công lao của chúng ta không là gì cả trong việc rao giảng Tin mừng của Chúa Kitô. Chính Ngài mới là người giải thoát chúng ta trong từng khoảnh khắc của cuộc sống nô lệ chất chứa đầy đam mê bất chính của chúng ta. Đây là một món quà miễn phí từ Thiên chúa dành cho tất cả mọi người mọi thời đại, ngay cả trong những ngục tù tội lỗi tăm tối của chúng ta, bởi vì chúng ta là tội nhân, nhưng là tội nhân được tha thứ! Sự tham gia của chúng ta vào công cuộc Cứu rỗi này là sẵn lòng đón nhận ơn cứu độ đó vào cõi lòng sâu thẳm của chúng ta, trong trái tim của chúng ta. Điều quan trọng là Yêu nhiều; như Thánh Augustinô nói: “Một lần cho tất cả, bạn hãy nhớ một điều: Hãy yêu đi, rồi làm điều bạn muốn. Nếu bạn yên lặng, hãy yên lặng vì yêu. Nếu bạn nói, cũng hãy nói vì yêu. Nếu bạn tha thứ, hãy tha thứ vì yêu. Hãy đâm rễ tình yêu tận đáy sâu tâm hồn: từ gốc rễ này, chắc chắn sẽ chỉ sản sinh những điều tốt lành” (Thánh Augustinô, Chú giải thư thứ nhất của thánh Gioan 7,8). mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung

----------------------------

 

TN 14-C161: TẠI SAO ƠN GỌI TU TRÌ LẠI SUY GIẢM?

 

Có lẽ là vì tình trạng ly thân ly dị, vì nạn ngừa thai, phá thai, vì các gia đình càng ngày càng sanh TN 14-C161


Có lẽ là vì tình trạng ly thân ly dị, vì nạn ngừa thai, phá thai, vì các gia đình càng ngày càng sanh ít con, vì chủ nghĩa tiêu thụ, vì người trẻ ngày hôm nay quá bận bịu với việc học hành, lo cho nghề nghiệp, coi thường việc dự lễ, không chăm lo cho đời sống tâm linh... Nhưng ngoài những lý do vừa nêu ra, tôi nghĩ còn có thêm ba lý do đã và đang khiến cho ơn gọi tu trì bị suy giảm nặng nề.

Thứ nhất, vì những gương mù gương xấu từ hàng giáo sĩ và tu sĩ. Nó không chỉ là những vụ bê bối, những vụ tai tiếng, những vụ kiện tụng…liên quan đến vấn đề ngược đãi và lạm dụng tình dục, nhưng nó còn là những thái độ sống thiếu khiêm tốn, thiếu đạo đức, thiếu khôn ngoan, thiếu lịch sự, thiếu nhân bản và thiếu bác ái của hàng giáo sĩ và tu sĩ. Bạn cứ nghĩ thử mà xem, nếu một bạn trẻ tiếp xúc với một linh mục hay một tu sĩ, mà chúng thấy những vị này tính tình kiêu căng, nóng nảy, độc quyền độc đoán, chỉ biết lo hưởng thụ, hoặc tệ hơn nữa nghiện ngập cờ bạc, say sưa rượu chè, cá độ…thì bạn trẻ đó có muốn đi tu không? Khó lắm!

Thứ hai, vì thiếu sự cầu nguyện, cổ võ và nâng đỡ cho ơn gọi tu trì. Nhiều phụ huynh, nếu không muốn nói là đa số, ao ước, cầu nguyện cho con cái, cháu chắt của họ được học hành giỏi giang thành tài, trở thành bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, luật sư…chứ ít có ai cầu nguyện cho con cái cho cháu chắt của mình làm khất sĩ, tu sĩ hay giáo sĩ cả! Mời bạn nghĩ thử xem:

- Bạn có bao giờ cầu nguyện một cách chân thành, xin cho con cái hay cháu chắt của bạn nhận ra ơn gọi, và can đảm bước theo chân Chúa trong đời tu trì không?

- Có bao nhiêu lần bạn đã động viên, khuyến khích, con cái hay cháu chắt của mình suy nghĩ, ghi danh tham gia vào những buổi tìm hiểu ơn gọi do các dòng tu hay địa phận tổ chức hàng năm?

- Bạn có lòng yêu mến ơn gọi, quảng đại phụ giúp với Giáo Hội và các dòng tu về mặt tài chánh trong việc đào tạo, huấn luyện chủng sinh và tu sĩ không?

Tôi nói thật, nếu chúng mình không động viên, khuyến khích, không cầu nguyện, không có lòng yêu mến ơn gọi, không giúp đỡ cho các chủng viện và các dòng tu…thì làm sao mà có on gọi đi tu được? Bạn đồng ý không?

Thứ ba, vì thiếu sự cảm thông và nâng đỡ cho ơn gọi tu trì. Một người trẻ đang có ý hướng đi tu, đang suy nghĩ và cầu nguyện về ơn gọi tu trì, nhưng thỉnh thoảng, nó lại nghe cha mẹ phê bình chỉ trích cha Phêrô giảng dở, cha Dominic lười biếng không chịu ngồi toà giải tội, cha Giuse chỉ mê đưa hình khoe khoang trên FB, thầy Paul thích uống rượu mạnh, sơ Maria thì hay nhăn nhó, cau có…thì bạn nghĩ thử xem, nó có dám đi tu không vậy? Làm sao mà dám? Đời tu đã gặp nhiều khó khăn thử thách rồi, mà bây giờ lại còn bị bàn dân thiên hạ, bị những con chiên bổn đạo, những người mình phục vụ, chăm sóc…đem mình ra mổ như mổ gà, mổ heo như vậy, thì thà nó lấy vợ, để một mình vợ nó mổ thôi, còn đỡ đau hơn là để cho bá tánh mổ tứ tán như vậy! Bạn thấy đúng không?

“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; vậy anh em hãy XIN chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người về” (Lc 10:2). Bạn thân mến, từ ngàn xưa, Chúa đã biết tình trạng thiếu thốn linh mục sẽ xảy ra, và tôi nghĩ, Ngài cũng muốn để cho tình trạng thiếu thốn linh mục này xảy ra đều đều như vậy trong mọi thời đại, để tôi, để bạn và để cho tất cả mọi Kitô Hữu, cảm nghiệm được sự cần thiết, và tầm quan trọng của việc cầu nguyện cho ơn gọi đi tu làm linh mục và làm tu sĩ. Nếu bạn đồng ý với tôi như vậy, thì tôi xin bạn cùng với tôi hãy siêng năng và nỗ lực hơn, trong việc XIN chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người về bằng cách:

• Tham dự Thánh Lễ và những giờ Chầu Thánh Thể trong mỗi ngày thứ năm, để cầu nguyện cho ơn gọi. Xin Chúa hướng dẫn và soi sáng cho các bạn trẻ, nhất là cho con cháu của bạn nhận ra được ơn gọi mà Chúa muốn chúng đi theo.

• Mạnh dạn khuyến khích, động viên con cháu của mình, và tạo điều kiện để chúng ghi danh tham dự những ngày tìm hiểu về ơn gọi, do các nhà dòng hay các chủng viện tổ chức.

• Tránh hết sức để không tham gia vào những buổi trò chuyện, mà ở đó, người ta đang phê bình, chỉ trích hay chống báng, hoặc mạ lị, nói hành nói xấu các Giám Mục, linh mục, và tu sĩ.

• Tích cực tham gia vào những Hội Bảo Trợ của các dòng tu, của các địa phận, đóng góp bằng lời cầu nguyện, bằng những việc thiện nguyện, và bằng tài chánh để cho con cháu bạn thấy rằng bạn là người ủng hộ hết mình và yêu mến ơn thiên triệu.

Tôi tin chắc rằng, nếu mọi Kitô hữu cố gắng làm những việc trên, thì ơn gọi đi tu làm linh mục, ơn gọi làm tu sĩ sẽ càng ngày càng phát triển và sẽ có nhiều linh mục, tu sĩ sống khiêm nhường, đạo đức, thánh thiện hơn. Amen.

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

--------------------------------

 

TN 14-C162: BÌNH AN CHO ANH CHỊ EM!

 

Cùng với Đức Giê-su và các môn đệ, chúng ta trên đường tiến về Giê-ru-sa-lem, đỉnh cao của TN 14-C162


Cùng với Đức Giê-su và các môn đệ, chúng ta trên đường tiến về Giê-ru-sa-lem, đỉnh cao của sứ vụ, để thông chia cuộc khổ nạn và sự chết của Người. Trên con đường đó, Đức Giê-su đã ghé vào làng Sa-ma-ri-a và người ta đã từ chối tiếp đón Người. Cho dù như thế, Đức Giê-su vẫn tiếp tục đi, Người và các môn đệ đã đi sang làng khác và trên lối đi này, Đức Giê-su đã gặp ba người muốn đi theo Người. Nhưng họ lại vịn vào các lý do, dường như rất hợp lý, để sắp xếp dự định làm môn đệ theo tiêu chuẩn của họ. Vì thế, nhân cơ hội này, Đức Giê-su đã đưa ra những yêu cầu mà người môn đệ của Người cần phải có.

Tiếp theo các điều kiện cần có để theo Chúa là bài tường thuật mô tả việc Đức Giê-su sai nhóm Bẩy Mươi Hai môn đệ ra đi. Sứ mạng của họ không dễ dàng, họ được sai đi giống như chiên vào giữa đàn sói. Người khuyên bảo họ không nên chất quá nhiều những thứ không cần thiết, không mang theo túi tiền, bao bị và giầy dép; nhất là không lãng phí thời gian trên đường đi và gấp rút đến những nơi có những người sẵn sàng đón tiếp các ông.

Những lời khuyên ‘từ bỏ’ của Đức Giê-su hôm nay nói lên tính cách khẩn thiết của việc rao giảng Tin Mừng. Điều quan trọng nhất mà người môn đệ cần có là tấm lòng. Tấm lòng gắn bó với Chúa và tha nhân. Từ mối quan hệ đó, chúng ta ý thức và chấp nhận giới hạn của chính mình để cần sự dậy bảo của Chúa, sự trợ giúp của cộng đoàn mà hoàn thành nhiệm vụ đã được Chúa trao phó. Khi đã có tinh thần và thái độ nhẹ nhàng không dính bén như thế, chúng ta thanh thản thi hành sứ vụ.

Sứ vụ bao gồm việc làm và lời nói. Dĩ nhiên lời nói và việc làm của người môn đệ phải hợp nhất. Việc làm là giới thiệu Nước Thiên Chúa đã đến gần. Đức Giê-su sai nhóm Bẩy Mươi Hai đi vào các nơi mà Người sẽ đến. Bổn phận của họ là giới thiệu và chuẩn bị cho việc Đức Giê-su sẽ đến. Người chính là dấu chỉ biểu hiện Vương quyền của Thiên Chúa. Còn sứ điệp mà các môn đệ đem đến cho người nghe là gì?

Hãy nghe Chúa phán với các môn đệ khi các con vào nhà nào thì hãy nói bình an cho họ trước tiên, sau đó loan báo cho họ biết Triều Đại Nước Thiên Chúa đã đến gần. Chúng ta nên để ý rằng, Đức Giê-su không hề nói các môn đệ hãy thẩm định hay đánh giá xem đối tượng mà các môn đệ trao ban bình an là ai? Họ có phải là con cháu của tổ phụ Áp-ra-ham hay không? Họ có tuân thủ những điều mà lề luật dậy bảo để xứng đáng đón nhận tin vui mà Người mang đến hay không? Họ có phải là tín hữu hay không? Không cần biết họ là ai. Chúng ta chỉ cần biết là họ mở lòng ra đón tiếp. Còn chúng ta vừa bước chân vào nhà của họ thì việc đầu tiên cần làm là trao cho họ sự bình an.

Như vậy, theo tinh thần của bài Tin Mừng hôm nay, mỗi khi chúng ta đến với người khác, việc đầu tiên chúng ta cần làm là tạo bầu khí an bình giữa ta và họ, có nghĩa là trước khi chia sẻ bình an cho người khác thì các môn đệ của Chúa phải có sự an bình trước. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể trao ban bình an cho người khác trong khi lòng mình còn lo lắng quá nhiều về các thứ khác!

Anh chị em thân mến,

Nhìn vào thực trạng của thế giới hiện nay, cho dù có lạc quan đến đâu, chúng ta cũng không thể phủ nhận hiện tại còn rất nhiều nơi cần đến sự an bình của Chúa, dĩ nhiên qua bàn tay và con tim của chúng ta. Khi đối mặt với những bi kịch và thảm họa gây ra bởi chiến tranh và các cuộc khủng bố trên thế giới khiến lòng chúng ta đau nhói. Cũng chỉ vì những bi kịch đó khiến nhiều người phải đi tìm sự sống trong cái chết; họ đã trải qua bao nguy hiểm để tìm chốn an bình.

Thế mà với thân phận của những con người tầm trú, họ lại bị khước từ và hất hủi của thế giới khiến họ lâm vào tình trạng thất vọng. Còn bao nhiêu con người đang bị đau khổ vì là nạn nhân của sự bất công và bị lạm dụng. Trước các hiện tượng có vẻ bi quan như thế cũng làm cho chúng ta cảm thấy mình bất lực và tâm hồn bị tan nát. Làm thế nào để có thể đem an bình đến cho họ đây?

Có quá nhiều nỗi đau và tổn thương cần được chữa lành để cuộc sống được an bình. Vẫn biết là trách nhiệm mà Chúa trao ban cho chúng ta thật cần thiết; nhưng đã nhiều lần chúng ta vịn vào các lý lẽ như: "Làm thế nào chúng ta có thể đối phó thỏa đáng với mầm mống của sự ác và những nỗi đau mà nó gây ra?" Đối với bản thân của chúng ta thì không thể. Chỉ có Chúa mới có thể mang lại cho chúng ta những gì chúng ta cần. Chúa Giêsu ban cho chúng ta Thần Khí của Người và trao bình an cho chúng ta vào buổi sáng Phục Sinh, để chúng ta có thể trở thành sứ giả của an bình.

Như vậy, viêc sai phái Bẩy Mươi Hai môn đệ nhắc nhở và làm sống sứ điệp của Chúa Phục Sinh ban cho các môn đệ và cả chúng ta nữa. Người muốn tặng cho chúng ta món quà này hôm nay và sẽ lưu lại trong cuộc sống của chúng mình luôn mãi. Vì vậy, với con tim an định và một lòng nương tựa vào Chúa, chúng ta sẽ hoàn tất sứ mạng đem bình an mà chúng ta tiếp nhận từ Chúa rồi chia sẻ cho người khác. Hãy đứng dậy bước tiếp để làm chứng nhân cho sự hiện diện của Nước Thiên Chúa và làm cho thế giới của chúng ta đang sống được an bình hơn. Cho dù có ai phải đối diện với các tai ương và những bi kịch trong cuộc sống thì họ vẫn có thể tận hưởng được “bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lu-ca 2:14)

Và trong phần kết thúc, Thánh Lu-ca đã mở ra cho chúng ta một kết cục thật đáng suy nghĩ. Đó là việc nhóm Bẩy Mươi Hai trở về hớn hở, hân hoan và vui mừng báo cáo cho Thầy biết về thành quả mà các ông đã đạt được. Việc làm của các ông đã khiến cho Sa-tan phải sa xuống. Các môn đệ đã chiến thắng thần dữ. Tuy nhiên, đó không phải là điều làm cho các môn đệ vui mừng. Niềm vui của người môn đệ không dựa trên thành quả của công tác và cũng không căn cứ trên con số đông người tham dự để nghe anh em giảng thuyết hay đọc bài anh em viết.

Nhưng, hãy vui lên vì tên anh em đã được ghi trên trời. Tên được ghi trên trời thì không như việc ghi tên trong sổ vàng để mọi người ca tụng; nhưng qua việc ghi tên, Đức Giê-su muốn ám chỉ đến mối tương quan của các môn đệ với Người. Trong Người, với Người chúng ta cùng vui, bởi vỉ niềm vui là dấu chỉ minh chứng cho nhân loại biết rằng Chúa đang hiện diện với chúng ta. Amen!

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

-------------------------------

 

TN 14-C163: HÃY VUI MỪNG VÌ TÊN ANH EM ĐÃ ĐƯỢC GHI TRÊN TRỜI

 

Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai. Ngài hiệp hành đào tạo các môn đệ, cho các ông hiệp thông và TN 14-C163


Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai. Ngài hiệp hành đào tạo các môn đệ, cho các ông hiệp thông và tham gia vào sứ vụ cứu độ của mình. Sau đó, Chúa Giêsu sai các môn đệ đi làm nhiệm vụ thu hoạch vì mùa màng đã nở rộ “lúa chín đầy đồng”. Công việc gặt hái lúa đồng là đem bình an đến với muôn người. Chúa Giêsu căn dặn những lời thiết thực cho sứ vụ các môn đệ. Sứ vụ đó là: lời rao giảng làm rộn lên niềm vui: Nước Thiên Chúa đã đến gần anh chị em; lời chào thân thiện: Bình an cho nhà này; hành trang nhẹ tênh: không túi tiền, không bao bị, không giày dép; việc phải làm: chữa lành những người ốm đau; thái độ phải có: khiêm tốn và siêu thoát, đón nhận những gì người ta cung cấp cho, không tìm kiếm tiện nghi, dễ chịu.

1. Hành trang

Hành trang đi đường chỉ là: cây gậy, đôi dép, không mang hai áo. Ý nghĩa ở đây là những kẻ được sai đi phải là những con người thanh thoát, không cồng kềnh nặng nề với của cải vật chất để có thể luôn sẵn sàng lên đường ra đi cho sứ vụ. Chúa Giêsu còn trao cho các môn đệ những quyền năng của Ngài: quyền rao giảng, quyền chữa bệnh, quyền trừ quỷ. Với những hành trang như thế, Chúa Giêsu muốn tỏ cho thấy sự thành công trong hoạt động Tông đồ không do tài lực của con người nhưng là do quyền năng Thiên Chúa.

2. Sứ vụ

Trao “Sứ vụ” cho các môn đệ, Chúa Giêsu không bảo các ông “phải giảng điều gì”. Ngài chỉ căn dặn các ông những chi tiết “phải sống”. Đối với Chúa Giêsu, ra đi làm chứng tá bằng cuộc sống quan trọng hơn chứng tá bằng lời nói.

Trong Tông huấn “Loan báo Tin Mừng”, Đức Thánh Cha Phaolô VI quả quyết ít nhất hai lần rằng, phương thức thứ nhất để rao truyền Phúc Âm chính là làm chứng bằng một cuộc sống Kitô hữu đích thực.

Có ba cách làm chứng: nói, làm và sống. Hiệu năng nhất là cách thứ hai và thứ ba. Ai cũng biết nói thì dễ, làm khó hơn, và sống như mình nói lại càng khó hơn nữa. Chính việc làm và đời sống làm cho lời mình nói đáng tin hơn. Nhưng cả khi người ta chưa nói hay không thể nói, chưa làm hay không thể làm một số điều nào đó, thì người ta đã có thể sống điều mình xác tín và muốn chia sẻ. Vậy để loan báo Tin Mừng thuyết phục, người Kitô hữu phải sống thế nào cho cuộc đời mình trở thành đáng tin. Đời sống đáng tin thì tự nhiên lời nói cũng đáng tin. Làm tông đồ, rao giảng Phúc Âm đặc biệt thích hợp cho ngày nay là làm cho đời sống Kitô hữu đáng tin. Như vậy toàn bộ cuộc sống của chúng ta đều phải “làm chứng”: lời ăn tiếng nói, cách cư xử, giao tiếp, trong gia đình, ngoài xã hội, khi làm việc, khi vui chơi giải trí… Đối với người có ý thức sứ vụ thì việc gì, khía cạnh nào của đời sống, họ cũng có thể là lời loan báo.

3. “Hãy vui mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”

Chúa muốn các môn đệ đem đến mọi nhà sứ điệp này: “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: bình an cho nhà này!” Bình an đến từ thái độ quên mình, sống chan hoà với mọi người. Niềm bình an đến từ sự hiệp thông, có cho đi, có nhận lãnh. Và nhất là, niềm bình an vì được làm con cái Chúa, luôn sống dưới ánh mắt yêu thương của Ngài.

“Họ ra đi, mang hạt giống vãi gieo, lúc trở về, reo vui hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 125, 6). Tác giả thánh vịnh diễn tả thật đúng tâm trạng của 72 môn đệ về những gì các ông đã thực hiện khi vâng lệnh Chúa ra đi loan báo Tin Mừng. Các ông vui mừng hớn hở vì thành quả do sứ vụ rao giảng mang lại. Đồng thời các ông còn cảm nghiệm hiệu quả nhiệm lạ từ quyền năng của Thầy: “Nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng khuất phục chúng con”. Có thể đối với các ông, thành quả của những chuyến “ra khơi”, và những ơn ích do Chúa ân ban mà mắt các ông được chứng kiến là niềm hạnh phúc tột cùng rồi. Thế nhưng, với Chúa Giêsu, đó chưa phải là đỉnh điểm của hạnh phúc. Chúa Giêsu tiếp tục giúp các ông nhận thức tầm quan trọng sâu xa từ những gì các ông đã làm vì danh Chúa cho tha nhân. Đồng thời Ngài cũng khai mở cho các ông biết nguồn gốc quyền năng mà các ông đã có dịp cảm nghiệm, tất cả đều do ân huệ nhưng không của Thiên Chúa muốn qua các ông ban tặng cho con người. Chúa Giêsu còn cho các ông biết rằng, niềm hạnh phúc vĩnh cửu, niềm vui của các ông chính là “tên của anh em được ghi trên trời”. Còn hạnh phúc nào hơn hạnh phúc này, còn thành quả và ân phúc nào hơn đặc ân vô biên mà Thiên Chúa đã ban tặng khi các ông đã chu toàn lệnh truyền của Chúa, đến với muôn dân loan báo Tin Mừng cứu rỗi.

Niềm vui không phải là cuộc chiến thắng kẻ thù, đè bẹp được kẻ chống đối, hay loại trừ được những kẻ bị hoài nghi… mà niềm vui của môn đệ Chúa Giêsu là một đời đã thi hành thánh ý Chúa với trọn tâm tình yêu mến Chúa “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn”, nay được quay về cội nguồn tình yêu, được về Nhà Cha, được về với Chúa.

“Hãy vui mừng vì tên anh em được ghi trên trời”, anh em có một chỗ ở trong cõi vĩnh hằng. Niềm vui không phải chỉ thoáng qua rồi sau đó là những hoài niệm của một thời vang bóng đầy nuối tiếc như ở trần gian. Hạnh Phúc Nước Trời là hạnh phúc vĩnh cửu. Vì chỉ có Thiên Chúa hằng sống mới có thể trao ban hạnh phúc vĩnh cửu. “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,2-3). “Hãy vui mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”. Đó mới là đích điểm của cuộc đời Kitô hữu.

Ngày xưa được khắc tên vào bia đá trên lưng rùa ở Văn Miếu là một vinh dự chỉ dành cho các tiến sĩ, trạng nguyên. Ngày nay được có tên trong từ điển danh nhân thế giới, hay ca sĩ, nhạc sĩ có tên ca khúc nằm trong bảng sắp hạng Billboard, topten là cả một niềm vui lớn… Thường thường bậc trung như phần đông chúng ta thì có lẽ tên chỉ được ghi trên bìa vở, bìa sách cho biết sở hữu chủ, và trong sổ rửa tội, thêm sức, hôn phối, trong sổ hội viên hội đoàn, rồi sổ tử của giáo xứ và cuối cùng, được ghi khắc nơi bia mộ là xong một đời! Lời Đức Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng tên chúng ta còn được ghi trên trời, trong sổ hằng sống của công dân Nước Trời, nhất là được ghi khắc nơi con tim của Thiên Chúa. Hãy reo vui, hãy phấn khởi vì tên của chúng ta đã được ghi ở trên trời, và ngay từ bây giờ rồi! Còn vinh dự nào lớn hơn! Hãy nhớ rằng để tên mình được ghi trên trời thì phải sống như những công dân Nước Trời, với tư cách là chứng nhân môn đệ Đức Kitô, với hiến pháp là Tám Mối Phúc thật, với kim chỉ nam hướng dẫn là Tin Mừng Đức Kitô. Mỗi ngày tôi sẽ xét mình để biết xem ngày hôm nay tôi đã sống xứng đáng là công dân của Nước Trời chưa. (x. tongdosongdao.org).

Hình ảnh tiên trưng được sách Khải Huyền mô tả viễn tượng cánh chung về tên của những người được đóng ấn và ghi vào Sổ Trường Sinh (x. Kh 5,9 và 20, 12.15). Đó là niềm vui vĩnh cửu được Chúa Giêsu chuộc về cho Thiên Chúa. Chúa Giêsu muốn các môn đệ cần vui mừng hơn vì mình được ghi danh trên Trời, Chúa muốn hướng các môn đệ vui mừng hạnh phúc vì được làm con Thiên Chúa. Mầu nhiệm thứ hai năm sự Mừng: “Thứ hai thì ngắm Đức Giêsu lên trời, ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”. Khi hướng lòng về trời cao, chúng ta sẽ biết cách sống thế nào cho phải lẽ khi còn ở dưới đất. Khi nhìn về trời cao chúng ta mới nhận ra giá trị đúng đắn của mọi thực tại trần gian này, và đi đến hành động thế nào cho phải đạo.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con được làm công dân Nước Trời khi chúng con được gia nhập vào Giáo hội của Chúa, xin cho chúng con sống xứng đáng với ân huệ đó, để ngày sau chúng con được Chúa gọi tên trong Sổ Hằng Sống trên Nước Chúa. Amen. mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

--------------------------------

 

TN 14-C164: Ý THỨC TRUYỀN GIÁO

 

Theo thống kê, thế giới hiện có hơn 7 tỷ người, nhưng chỉ khoảng 1,5 tỷ người Công giáo. Tại TN 14-C164


Theo thống kê, thế giới hiện có hơn 7 tỷ người, nhưng chỉ khoảng 1,5 tỷ người Công giáo.

Tại Việt Nam có hơn 90 triệu người nhưng chỉ có khoảng hơn 7 triệu tín hữu Công giáo.

Một cánh đồng truyền giáo còn bát ngát trên mọi phương diện. Vì thế, Hội Thánh của Chúa Kitô vẫn cần mọi tấm lòng của mọi tín hữu Kitô dành hết tâm huyết của mình cho việc mở rộng biên giới Nước Trời tại trần gian.

Chính vì thế, lời Chúa Giêsu: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít” mãi mãi mang tính thời sự, mãi mãi vẫn là lời thúc bách hết sức hiện thực dành cho từng người chúng ta.

Bởi tính cấp bách của sứ vụ truyền giáo, nên ngay sau khi thông báo: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít”, Chúa Kitô vừa căn dặn: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”, vừa phác lệnh: “Các con hãy đi”. Nhưng thật lạ lùng. Lời sai đi của Chúa lại kèm theo lời cảnh báo đáng sợ: “Thầy sai các con như con chiên ở giữa sói rừng…”.

Như vậy, con đường mà Kitô hữu phải bước lên đó để thực hành sứ mạng truyền giáo, không phải là con đường trải thảm, không phải là nhung lụa, càng không bao giờ là con đường mang lại vinh quang, bình an hay lợi lộc theo nghĩa tìm kiếm sự vinh thân, phì da, sung túc cho cuộc sống đời này…

Người môn đệ của Chúa thực hành công tác truyền giáo, sẽ là người quăng mình vào mọi nơi, mọi ngỏ ngách, chỉ có lý tưởng Tin Mừng, lý tưởng tình yêu Chúa Kitô làm lẽ sống. Mang lấy lý tưởng cao cả ấy để ra đi, người môn đệ Chúa Kitô chỉ còn biết hiến thân mình cho công cuộc mang ơn cứu rỗi đến trong tâm hồn con người.

Người môn đệ Chúa Kitô bất chấp tất cả mọi hiểm nguy, mọi bấp bênh, mọi thiếu thốn, mọi bách hại, mọi chống đối, mọi thách thức của hoàn cảnh, của thái độ cứng cõi và lòng người thâm ác… để chỉ băng mình sống chết cho sự nghiệp Tin Mừng mà mình đang cưu mang.

Hình ảnh người môn đệ ra đi truyền giáo như chiên hiền lành giữa bầy sói, khiến chúng ta nhớ lại lời Ðức Gioan Phaolô II, trong chuyến hành hương Lộ Ðức tháng 8.1981, khi nhắc đến những hình thức bách hại đạo tại nhiều nơi trên thế giới:

"Có những tín hữu bị bắt buộc phải hội họp một cách lén lút, bởi vì cộng đoàn tôn giáo của họ không được phép hoạt động. Có những Giám mục, Linh mục, Tu sĩ, bị cấm thi hành chức vụ trong nhà thờ hay tại những nơi công cộng. Có những nữ tu bị phân tán không thể tiếp tục cuộc sống hiến thân của họ. Có những người trẻ quảng đại nhưng không thể thực hiện ơn gọi của họ. Có những tín hữu bị tước đoạt cả quyền có thể tận hiến cho một cuộc sống chung để cầu nguyện và thực thi bác ái. Có những bậc cha mẹ bị người ta khước từ quyền được bảo đảm cho con em một nền giáo dục dựa trên niềm tin của mình..."

Y như lời Đức cố Giáo hoàng, tại Việt Nam đang xảy ra sự chênh lệch quá mức giữa nhu cầu thợ và tính cấp bách của cánh đồng lúa mà chính Chúa Kitô đã nhìn thấy cách đây hơn 2000 năm.

Đó cũng chính là lời cảnh báo về “chiên” và “sói” mà Chúa Kitô, trong khi sai các môn đệ ra đi, đã từng lên tiếng cảnh báo:

Bởi sống giữa một đất nước, tuy chưa phải là quốc gia phát triển về kinh tế, nhưng đã có hiện tượng, người ta đâm đầu chạy theo thói hưởng thụ, càng ngày càng đẩy mạnh lối sống tục hóa, cộng vào đó, những thủ đoạn khuếch trương chủ nghĩa vô thần, thậm chí nhiều nơi còn gây gắt trong việc thực hành đạo của người tín hữu Kitô, đã làm cho gánh nặng về việc truyền giáo như nặng hơn.

Cũng tại Việt Nam, có nhiều khu vực rộng lớn không có một ngôi nhà thờ nào, không tìm thấy một người Công giáo nào. Nhiều nơi khác, một vài người Công giáo phải sống chung phần lớn với những anh chị em chưa nhận biết Chúa.

Thêm vào đó, ý thức về trách nhiệm, về ơn gọi truyền giáo chưa thật sự ăn sâu và cảm nhận đủ nơi tâm tư mỗi Kitô hữu. Nhiều người sống giữa người ngoại giáo, trở thành lai căng, pha trộn, hoặc chối bỏ hẳn đức tin của mình. Rõ ràng, lời kêu gọi của Chúa Giê-su: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít” luôn thiết thực và cấp bách.

Vì thế, vâng lời Chúa và thực hiện chính mệnh lệnh của Chúa: “Các con hãy đi. Này Thầy sai các con như con chiên ở giữa sói rừng…”, là một đòi hỏi can đảm, một đòi hỏi dấn thân không biết sợ thử thách mà tất cả những ai ý thức, hãy cố gắng thực hiện cho bằng được, vì lợi ích của Hội Thánh, lợi ích thiêng liêng của chính đồng bào mình.

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

--------------------------------

 

TN 14-C165: CHÚA GIÊSU SỬA SOẠN NHÂN CHỨNG

 

Chủ đề “Bình An” được nói tới trong tất cả các bài đọc hôm nay. Đặc biệt bài đọc sách Isaiah (66:10-14c) TN 14-C165


Chủ đề “Bình An” được nói tới trong tất cả các bài đọc hôm nay. Đặc biệt bài đọc sách Isaiah (66:10-14c) và Tin Mừng Luca (10:1-12, 17-20) thì liên đới với nhau rõ ràng nhất. Isaiah chúc mừng sự trở về của dân Israel đã được mong đợi từ lâu sau cuộc lưu đầy dài hạn và mường tượng một trở về khải hoàn ở Jerusalem, một Thị Trấn Thánh và là Mẹ của các thị trấn.

Chắc chắn có sự song hành và cả đối nghịch trong bài Tin Mừng hôm nay. Cả bài đọc Isaiah và Tin Mừng Luca đều nói về nỗi vui mừng của dân Israel khi trở về Jerusalem sau cuộc lưu đầy và của các môn đệ sau một sứ mạng thành công. Trong Tin Mừng Luca, Chúa Giêsu, cũng như dân Israel, đều làm cuộc hành trình trở về Jerusalem. Lúc đầu Chúa được dân chúng đón tiếp, tung hô nồng nhiệt, nhưng sau đó lại bị từ chối. Chính tại thị trấn Jerusalem này, Chúa Giêsu sẽ khánh thành tân vương quốc của Thiên Chúa bằng cuộc khổ nạn và cái chết của Người trên thập giá.

SỨ MẠNG CỦA BẢY MƯƠI HAI VỊ THEO CHÚA

Chỉ trong Tin Mừng Luca mới có hai giai đoạn chúa Giesu sai những người theo Chúa đi thi hành sứ mạng: Giai đoạn đầu (Lc 10:1-6) Luca dựa vào Marcô (Mc 6:6b-13) kể lại việc Chúa sai 12 Tông đồ đi làm nhiệm vụ. Rồi, khi thuật lại câu chuyện, Luca (10:1-12) lại dựa vào “Q” [*] và trở thành 72 người đi làm công tác truyền giáo. Giai đoạn này tiếp tục chủ đề Chúa Giêsu sửa soạn nhân chứng cho Chúa và cho sứ vụ của Chúa. Những nhân chứng này không phải chỉ có 12 vị Tông đồ tiên khởi mà là 72 vị là những người có thể đại diện cho sứ mạng Kitô giáo vào ngày đó của Luca. Những chỉ dẫn đưa ra cho 12 Tông đồ và 72 vị thì giống nhau. Những điều dặn dò 72 vị trong Luca 10:4 cũng được nói cho 12 vị trong Luca 22:35.

Chúa Giêsu dặn mọi người khi đi thi hành sứ vụ đừng mang theo tiền bạc, đừng chào hỏi ai dọc đường (Lc 10:4) là Người có ý nhấn mạnh đến sự cấp bách của sứ mạng và điều kiện đòi hỏi của người truyền giáo là tâm trí phải thanh thoát, không vướng bận bất cứ chuyện gì ngoài việc chủ tâm chu toàn bổn phận Chúa trao. Vướng bận tiền bạc, của cải vật chất, tình cảm cá nhân cần phải tránh vì nó làm nhao lãng bổn phận của người tông đồ theo Chúa.

RAO GIẢNG TIN MỪNG VÀ CHỮA LÀNH BỆNH

Luca liên đới việc rao giảng Tin Mừng và chữa lành bệnh được Chúa Giêsu ủy thác cho 12 Tông đồ. Chúa kêu gọi các Tông đồ và sai các ông đi làm công tác mục vụ chữa lành bệnh thể xác và tinh thần cho từng cá nhân, gia đình và cộng đồng. Chúa Giêsu cũng sai 72 người là những vị tiền nhiệm của chúng ta với lời dặn: “Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón thì cứ ăn những gì người ta dọn cho mình, hãy chữa những người đau yếu và nói với họ ‘Vương quốc Thiên Chúa đã đến gần các ông’.”

Khi gửi 72 vị đi, Chúa Giêsu quả quyết qua các môn đệ và những người tin và theo Chúa là bằng an của Chúa và tin lành “Vương quốc Thiên Chúa đang đền gần họ” cũng sẽ được công bố cho toàn thế giới. Khi họ trở về trong hân hoan, dù có lúc bị thiên hạ từ chối, Chúa Giêsu cũng vui mừng vì sự thành công của họ đã nhân danh Chúa khuất phục được ma quỉ. Sứ điệp không bao giờ ngừng, không bao giờ bị bỏ dở. Tuy nhiên lời kêu gọi thống hối cũng là một phần của lời tuyên bố về vương quốc Thiên Chúa sẽ mang đến phán xét nặng nề cho những ai được nghe lời đó mà từ chối. Khi vương quốc Thiên Chúa được từ từ thiết lập thì ác quỉ dưới mọi hình thức sẽ bị đánh tan và sự thống trị của satan trên loài người cũng sẽ kết thúc.

TUYÊN BỐ LỜI CHỮA LÀNH BỆNH

Đối với Chúa Giêsu, chữa lành bệnh không chỉ là chữa bệnh thể xác mà còn chữa lành cả bệnh tâm hồn. Nó không chỉ làm cho thân xác con người được khỏe mạnh hơn mà còn toàn thể tâm hồn, tội lỗi được tha thứ và thế giới được chữa lành. Chính sự tuyên bố về Lời có nghĩa là chữa lành và nó không thể tách rời khỏi nỗi ưu tư về những người anh em huynh đệ láng giềng. Khi chúng ta chia sẻ bữa ăn với người xa lạ, như 72 vị Tông đồ tiền nhiệm của chúng ta đã làm, là chúng ta đã thiết lập tình liên đới với tha nhân, mối ưu tư của chúng ta về sức khỏe và hạnh phúc của mọi người sẽ trở nên xâu xa thắm thiết hơn. Khi chúng ta từ bỏ lợi ích cá nhân của mình và chú ý đến những nhu cầu chữa lành của tha nhân là chúng ta tái tạo giao ước của Chúa nơi những người đã từ chối cơ hội chữa lành bệnh.

Chữa lành luôn luôn bao hàm ý nghĩa ưu tư đặc biệt và tiếp tục hoạt động của Giáo Hội. Sự liên đới giữa hòa giải, chữa lành và cứu chuộc là những đề tài thường được lặp đi lặp lại trong Luca. Chúa Giêsu đã kêu gọi những người theo Chúa phải thống hối và cải đổi tận gốc rễ những thái độ và cách sống cũ thành nếp sống mới về tình liên đới và thái độ tốt lành thánh đức.

VUI MỪNG TRONG CHÚA THÁNH THẦN

Luận giải về bài Phúc Âm hôm nay, Đức Gioan Phaolô II, trong tông thư 1986 Dominum et Vivificantem (về Chúa Thánh Thần trong đời sống của Giáo Hội và Thế Giới) đã viết ở đoạn #20: “Vậy thánh sử Luca là người đã trình bày Chúa Giêsu như ‘tổng thể Chúa Thánh Thần’ và ‘được Chúa Thánh Thần dẫn… vào hoang địa’ đã nói với chúng ta là, sau khi 72 môn đệ làm xong công tác Thầy mình trao phó trở về, trong lúc các ông vui mừng kể lại những thành tích của công việc mình làm, thì đồng thời Chúa Giêsu cũng hân hoan vui mừng trong Chúa Thánh Thần và nói: “Thưa Cha là Thiên Chúa trên trời dưới đất, con cảm tạ Cha, Cha đã che dấu những việc này với những người khôn ngoan hiểu biết, nhưng lại biểu lộ cho những trẻ thơ nhỏ bé. Thưa Cha, đó quả là vì ơn ý chí của Cha.’” Chúa Giêsu vui mừng tình cha con của Thiên Chúa. Người vui mừng vì đã khám phá ra được tình cha con này. Sau cùng, Người vui mừng vì tình cha con của Thiên Chúa đã đổ tràn đầy trên những kẻ ‘nhỏ bé’. Thánh sử đã diễn tả tất cả những điều này như là ‘niềm vui mừng trong Chúa Thánh Thần.’”

TIẾP TỤC SUY NIỆM VỀ ĐẤT THÁNH

Sau Công đồng Nicea năm 325, Palestine bắt đầu phát triển với những thánh đường của Constantine, đặc biệt ở ba địa danh rất đáng kính là Nhà Mồ Thánh và đồi Calvary / Núi Sọ ở Jerusalem, địa danh truyền thống, nơi Chúa Giêsu từng giảng thuyết ở đồi Olives (còn gọi là Vương Cung Thánh Đường Eleona) và Hang Đá nơi Chúa Giáng Sinh ở Bethlehem. Một số công trình này đã được trông nom săn sóc bởi chính từ mẫu Helena.

Đối với những người hành hương về Palestine vào thế kỷ IV, những địa danh này đã là những trung tâm được họ ưa thích nhất. Những thánh địa này đã trở nên quá phổ thông và được mọi người ưa thích đến độ Jerusalem, nhất là đồi Golgotha, một trong những thánh địa truyền thống Kitô giáo, đã trở thành trung tâm của thế giới. Điều này thấy rõ ràng trên nhiều bản đồ cổ xưa về Đất Thánh từ thời kỳ đó. Năm 333, một Kitô hữu đã thực hiện một cuộc hành hương từ Bordeaux đi Jerusalem bằng đường bộ. Để nhớ lại, và có lẽ vì lợi ích cho những người hành hương trong tương lai nhiều hơn, ông ta đã thu thập mọi chi tiết về những trạm dừng chân và chiều dài đường đi và đường về rồi ghi lại trong một tập tài liệu quan trọng của ông ta gọi là Lộ Trình Hành Hương Bordeaux.

BÊN TRONG THỊ TRẤN JERUSALEM

Thánh Cyril, giám mục Jerusalem (349-384 A.D.) đã được một đặc ân độc đáo là đứng đầu hội thánh ở Jerusalem ngay sau khi hoàn thành tòa nhà mới đã được khởi công xây cất từ thời Constantine. Địa vị của Cyril lúc đó đã là một thèm muốn / ước mơ của tất cả các giám mục, mục tử, linh mục, hội đồng hàng xứ, hội đồng tài chánh, thừa tác viên mục vụ. Hãy thử tưởng tượng cảm giác bạn sẽ thế nào khi bước vào một tòa nhà rộng lớn, đẹp đẽ huy hoàng tráng lệ tuyệt vời vừa mới xây xong mà không có vốn cũng không phải vận động xin tiền! Cyril đã giảng một bài tuyệt hảo ngay tại nơi Chúa Kitô chịu chết và sống lại. Ngài nói về Calvary: “Những người khác chỉ nghe nói, nhưng chúng ta vừa nhìn thấy lại sờ vào được nữa.” Cyril viết: “Ở đây, trong thị trấn Jerusalem này, Thần Linh Chúa đã đổ tràn đầy ơn xuống cho giáo hội; ở đây, Chúa Kitô đã bị đóng đinh trên thập giá; ở đây, quí vị thấy biết bao nhiêu là nhân chứng hiển hiện ngay trước mặt quí vị, địa danh nơi Chúa phục sinh và ngọn đồi Olives về hướng Đông nơi Chúa lên trời.”

Trong nhật ký, bà Egeria (Etheria), một phụ nữ giầu có người Y Pha Nho đã ghi lại những diễn biến cuộc hành hương của bà đi về Đất Thánh khoảng giữa những năm 381-384. Lộ trình hành hương gồm có Sinai, Ai Cập, thung lũng Jordan và xuyên suốt cả vùng Jordan. Chúng ta đọc thấy không chỉ những cảm tưởng sống động bà ta ghi lại về những địa danh kinh hánh còn nguyên vẹn, mà cả những quan sát sống động của bà về những nghi thức phụng vụ được thi hành ở các đền thánh. Bà đã tả rất chi tiết những buổi lễ Chúa Nhật và ngày thường qua suốt cả năm phụng vụ, đặc biệt bà chú trọng đến những lời kinh trong Tuần Thánh mà chính bà đã tham dự tại Jerusalem. Qua bản lộ trình hành hương của bà, chúng ta cũng được biết bà đã tận hưởng các cuộc tiếp đãi rất nồng hậu và thân ái của những Kitô hữu địa phương. Họ giúp bà tất cả mọi nhu cầu cần thiết cho một người hành hương, chỉ cho biết những chỗ có liên hệ đến kinh thánh, hướng dẫn những cử chỉ thờ lạy thích hợp ở từng nơi, đi theo bà, tiếp đãi, giúp đở và cố vấn bà những điều cần thiết. Những kinh nghiệm tích cực của bà Egeria có thể là những kinh nghiệm rất quí được chia sẻ bởi đa số những người hành hương vào cuối thế kỷ IV và của những người hành hương thời nay đã có may mắn được tiếp xúc với người dân địa phương nơi Đất Thánh.

NHỮNG NGƯỜI MUỐN ĐỊNH CƯ TẠI ĐẤT THÁNH

Chúng ta cũng nhận thấy có một cử chỉ thực hành đạo đức liên quan đến những cuộc hành hương nơi Đất Thánh. Một số khách hành hương đã quyết định đi về Đất Kinh Thánh đề sống, hoặc trong thời gian lưu lại đó đã đổi ý nhất định ở lại. Đây là trường hợp thánh Jerome và những người bạn gái của ông. Sau khi đã đến Palestine vào năm 386, ông đã thiết lập một cộng đồng tại Bethlehem. Jerome đã kêu lên trong bài viết của ông: “Ở đây, Người đã được bọc trong tấm vải thô; ở đây, những kẻ chăn chiên đã được nhìn thấy Người; ở đây, Người đã được tỏ lộ ra qua các vì sao; ở đây, Người đã được ba vua thờ lạy.” Jerome sau này đã viết cho Paula, bạn ông ở Rome, thúc dục bà hãy về Đất Thánh mà sống. Thánh nhân viết: “Tất cả màu nhiệm niềm tin của chúng ta đều được sinh ra ở xứ sở này và nơi thị trấn này.”

Thực không có gì khác ngoài kinh nghiệm Kitô giáo có thể khiến thánh nhân thốt ra những lời như vậy. Không cần biết đã bao nhiêu thế kỷ qua đi, không cần biết Kito Giáo đã được lan truyền sâu rộng thế nào, người Kitô hữu quả đã kết hợp với Đất Thánh là nơi nảy sinh ra Chúa Kito và Kitô Giáo. mục lục

Bs. Nguyễn Tiến Cảnh

Trang chủ Suy niệm - Chia sẻ Lời Chúa
SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN_C
01-07-2022  123 lượt xem
[Is 66,10-14c; Gl 6,14-18; Lc 10,1-12.17-20]

Mục Lục

SỨ GIẢ CỦA NIỀM VUI - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

SAI ĐI TRUYỀN GIÁO - Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

BÀI SAI ĐÚNG ĐẮN - Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

LOAN BÁO - LÀM CHỨNG VÀ NGUYỆN CẦU - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

TƯ CÁCH MÔN ĐỆ VÀ VIỆC RAO GIẢNG TIN MỪNG CỦA CHÚA KITÔ - Phêrô Phạm Văn Trung.

TẠI SAO ƠN GỌI TU TRÌ LẠI SUY GIẢM? - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

BÌNH AN CHO ANH CHỊ EM! - Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

HÃY VUI MỪNG VÌ TÊN ANH EM ĐÃ ĐƯỢC GHI TRÊN TRỜI - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Ý THỨC TRUYỀN GIÁO - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

CHÚA GIÊSU SỬA SOẠN NHÂN CHỨNG - Bs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Thi ca: ĐIỀU ĐÁNG MỪNG - Viễn Dzu Tử

Thi ca: ĐƯỢC GHI TÊN TRÊN TRỜI - (Thế Kiên Dominic)

SỨ GIẢ CỦA NIỀM VUI

“Niềm vui” là ý tưởng xuyên suốt các Bài đọc Lời Chúa cũng như Thánh vịnh đáp ca của Phụng vụ Thánh lễ hôm nay. Trước hết là niềm vui trong thông điệp của ngôn sứ Isaia. Đây là lời tiên báo cho biết thời kỳ lưu đày của dân Do Thái sắp hết. Dân sẽ được trở về xứ sở quê hương của mình. Những tủi nhục của thời lưu đày không còn nữa, thay vào đó là sự chăm sóc yêu thương của Thiên Chúa dành cho dân riêng của Ngài. Sự chăm sóc này được ví như người mẹ hiền chăm sóc và an ủi con thơ, với tâm tình thiết tha trìu mến. Những hình ảnh vị ngôn sứ sử dụng rất cảm động và thân thiết: Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối”.

Những gì được diễn tả trong lời ngôn sứ Isaia, cũng đang thực hiện đối với đời sống Kitô hữu chúng ta. Quả vậy, trên từng bước đường đời, Chúa vẫn chăm sóc an ủi chúng ta. Chúa vẫn cùng chúng ta đi trên mọi nẻo đường. Ngài nuôi dưỡng chúng ta bằng ân sủng. Ngài ban cho chúng ta những điều tốt đẹp, mà nhiều khi chúng ta không nhận ra. Trong thời gian đại dịch Covid-19 lên tới đỉnh điểm, nhiều bệnh nhân phải có máy trợ thở liên tục. Nếu rời máy trợ thở, bệnh nhân có nguy cơ tử vong. Một bệnh nhân cao tuổi, sau những ngày dùng máy trợ thở và được khỏi bệnh, đã nói: Trong mấy tuần qua, tôi sống nhờ máy trợ thở. Vậy mà trong suốt 80 năm của cuộc đời, Chúa đã cho tôi một máy trợ thở miễn phí, tức là một không gian tự nhiên đầy sinh khí, vậy mà tôi không nhận ra quà tặng cao quý của Ngài. Vâng, Chúa luôn chiều chuộng chúng ta, và cung cấp cho chúng ta những như cầu cần thiết cho thân xác cũng như linh hồn.

“Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa”. Đó là lời Thánh vịnh 65, được hát trong phần Đáp ca của Thánh lễ. Tác giả Thánh vịnh mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng những điều kỳ diệu đang diễn ra hằng ngày xung quanh mình: đó là đại dương mênh mông, là đất liền màu mỡ, là núi cao chập trùng, là sông sâu uốn khúc. Đó còn là muôn vật cỏ cây, là ngàn ngàn sinh vật. Người vô tín cho đó là tự nhiên, người tín hữu tin đó là những thụ tạo Chúa dựng nên để phản ánh vinh quang của Ngài.

Tôn vinh Chúa là hành vi thuộc đức thờ phượng. Chúng ta tôn thờ Chúa vì Ngài đáng yêu mến suy tôn. Tôn vinh Chúa cũng là hành vi của lòng hiếu thảo và biết ơn, giống như người con biết ơn cha mẹ đã sinh thành dưỡng dục mình. Thiên Chúa là Đấng tạo thành muôn vật muôn loài. Mỗi chúng ta hiện hữu trên đời, là nhờ cha mẹ và nhờ ơn Chúa. Vì vậy mà chúng ta phải cảm tạ tri ân Ngài.

Cảm nhận niềm vui trong cuộc đời, người tín hữu cũng được mời gọi trở nên sứ giả của niềm vui. Như Ông Môisen trong Cựu ước chọn bảy mươi vị kỳ lão, Chúa Giêsu sai bảy mươi hai môn đệ, để cộng tác với Người trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Chân dung người loan báo niềm vui được chính Chúa Giêsu phác họa. Họ không phải là nhà doanh nghiệp, không phải chính trị gia hay chuyên viên kỹ thuật. Họ đi đến mọi nẻo đường của cuộc sống. Món quà họ đem đến cho mọi người là sự bình an. Nội dung sứ điệp họ loan báo rất đơn giản: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”. Đây cũng chính là nội dung sứ điệp từ thời ngôn sứ Isaia: “Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết”. Điều các môn đệ đem đến cho mọi người, trước hết là niềm vui nội tâm do đức tin đem lại. Nhờ niềm vui thiêng liêng đó, mọi người nghe sẽ được thuyết phục và đón nhận Lời Chúa.

Ngày hôm nay, Chúa cũng vẫn gọi và sai chúng ta đi đến mọi nẻo đường của cuộc sống. Thừa sai là bản chất của Giáo Hội. Mọi thành phần dân Chúa đều được mời gọi sống ơn gọi thừa sai phù hợp với hoàn cảnh sống và điều kiện cụ thể của mình. Đây là điều ít được chúng ta chú ý. Một bệnh nhân ốm đau liệt lào; một người già yếu không mấy khi ra khỏi nhà; một người sống trong môi trường công nhân thợ thuyền… tất cả đều là những tông đồ đang được Chúa sai đi để loan báo Tin vui. Nội dung của lời loan báo rất đơn giản, đó là Chúa yêu con người và Ngài khuyên họ hãy sống ngay lành thánh thiện. Người được sai đi có trách nhiệm loan báo Lời Chúa, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện, kể cả trong trường hợp bị khước từ và xua đuổi. Giống như người gieo hạt cần mẫn miệt mài làm tròn bổn phận mình, còn Chúa sẽ làm cho hạt ấy nảy mầm và lớn lên.

Người nhiệt thành loan báo niềm vui, sẽ được nhận lại niềm vui, là phần thưởng Chúa ban. Thánh Luca kể lại: nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở khoe với Chúa về những thành quả lao công mà các ông đã đạt được. Nhân danh Chúa Giêsu, các ông làm được những việc chính Chúa đã làm, như trừ quỷ, chữa bệnh. Các ông có lý để vui mừng và để khoe với Chúa. Tuy vậy, Chúa Giêsu muốn hướng các ông tới một niềm vui lớn lao hơn nhiều, đó là tên các ông đã được khắc ghi trên trời. Đây mới là phần thưởng cao quý và là niềm vui lớn lao nhất. Những sứ giả của niềm vui sẽ được ghi tên ở trên trời. Tên của họ cũng được khắc ghi trong chính trái tim của Chúa.

Người loan báo niềm vui phải trải qua nhiều gian nan thử thách. Chúa Giêsu đã báo trước cho các môn đệ, khi Người sai họ lên đường. Hành trang của các môn đệ không phải là những phương tiện trần thế, nhưng là lòng tín thác cậy trông và nhiệt huyết tông đồ.

Ở một góc nhìn khác, thánh Phaolô nói với chúng ta về niềm vui của ngài. Dưới góc độ trần gian, quan niệm của thánh nhân xem ra có phần nghịch lý: niềm vui và niềm tự hào của ngài là Đức Giêsu chịu đóng đinh. Phải thực sự đạt tới đỉnh cao của sự gặp gỡ gắn bó với Đấng chịu đóng đinh mới có thể khẳng định được như thế. Phaolô đã từng trải, đã chiến đấu và kiên trung trong mọi nghịch cảnh. Vào lúc cuối đời, ông khẳng định: Chúa vẫn là trên hết. Đấng chịu đóng đinh là niềm tự hào duy nhất của đời ông. Ông đã chọn lựa Người và sẽ xác tín vào sự chọn lựa ấy. Thánh nhân cũng mong muốn và cầu chúc cho chúng ta có cảm nhận sâu sắc như ngài.

Mỗi Kitô hữu đều là sứ giả của niềm vui. Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết trong Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng như sau: “Người loan báo Tin Mừng không bao giờ mang bộ mặt của một người vừa đi đưa đám về!… và chớ gì thế giới của thời đại chúng ta, một thế giới đang kiếm tìm, khi thì trong lo âu, khi thì trong hy vọng, có thể nhận được tin mừng không phải từ những người rao giảng rầu rĩ, chán nản, mất kiên nhẫn hay lo âu, nhưng từ những thừa tác viên Tin Mừng đang sống một cuộc đời đầy nhiệt huyết, những người trước đó đã nhận được niềm vui của Đức Kitô” (Số 10). Quả vậy, khi bản thân không cảm nhận được niềm vui của Chúa, thì không thể trở nên sứ giả của niềm vui đích thực là Tin Mừng.

Hãy reo mừng Thiên Chúa! Hãy tôn vinh Ngài, không chỉ trong nghi thức phụng vụ, mà trọn vẹn cả đời sống của chúng ta. Buồn sầu và bi quan, chán nản không thể có chỗ trong đời sống của những ai tin cậy tín thác nơi Chúa. Nguyện xin Thiên Chúa là nguồn mạch của ân sủng và hạnh phúc chúc lành cho chúng ta. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

SAI ĐI TRUYỀN GIÁO
Năm 1659, khi phái ba Giám mục Đại diện Tông tòa tiên khởi đến Đàng Ngoài (Đức Cha François Pallu), Đàng Trong (Đức Cha Pierre Lambert de la Motte) và Nam Kinh (Trung Hoa, Đức Cha Ignace Cotolendi), bộ Truyền bá Đức tin đã ra Huấn dụ Instructio Vicariorum Apostolicum ad Regna Sinarum Torchini et Cocinciane Proficiscentium với nhiều chỉ thị tích cực (trong phần 3).

Xin đơn cử vài ví dụ, như hãy đào tạo giáo sĩ bản quốc, vâng phục và lĩnh ý Tòa thánh, đừng bức bách người ta tuân theo ý Thánh bộ, biết kính trọng nhà cầm quyền, không xen vào chính trị như gánh một phận vụ hành chánh, chớ lưu lại nơi công đường mà hãy mau chóng trở về Giáo phận chu toàn chức vụ thiêng liêng, dạy dân chúng hợp nhất và vâng phục chánh quyền, tôn trọng cổ tục bản xứ, tôn trọng trật tự công cộng, đừng rời bỏ khu vực của mình, chớ tranh luận với nhau, buộc các linh mục giữ đúng kỷ luật truyền giáo, cẩn thận trong vấn đề tiền của, cổ vũ việc dịch sách (sách thánh, sách lễ, sách giáo lý, sách đào tạo) sang tiếng bản địa... Đấy là một cái nhìn rất sáng suốt, có giá trị cho đến cả bây giờ. Được như thế là nhờ Huấn dụ đã thấm nhuần tinh thần của chỉ thị truyền giáo Đức Giê-su đưa ra cho các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay.

Thành Phần và Cách Thức
“Một hôm, Chúa Giê-su chỉ định bảy mươi hai môn đệ khác...” Là bạn đồng hành của Phao-lô, Tông đồ dân ngoại, Lu-ca nêu bật điểm này trong đời Đức Giê-su. Ông cũng là tác giả Tin Mừng duy nhất kể lại câu chuyện đó. Vào lúc viết nó, ông đã thấy nhiều cộng đoàn Ki-tô hữu hình thành giữa các phố thị và thôn làng dân ngoại. Một số giáo đoàn địa phương này đã không phát sinh nhờ hoạt động của các Tông đồ được chính thức ủy quyền, nhưng từ việc tông đồ giáo dân của những con người di chuyển vì nghề nghiệp và loan báo Đức Giê-su luôn thể (x. Rm 16). Lu-ca nhấn mạnh: chính từ Đức Giê-su đã phát xuất chuyện các môn đệ làm tông đồ như thế. Không chỉ “sai” Nhóm Mười Hai (x. Lc 9,1-6). Người cũng đã “sai” 72 môn đệ mình với cùng những lời lẽ, cùng một sứ mệnh... mà kể ra còn chi tiết hơn sứ mệnh của “hàng giáo phẩm”. Giáo Hội không chỉ là các giáo hoàng, giám mục, linh mục mà còn là mỗi Ki-tô hữu.

“Bảy mươi hai”... Con số này ám chỉ toàn thể các nước dân ngoại được kể trong sách Sáng Thế (x. St 10)... Dĩ nhiên nó không mang tính hạn chế hay tính toán học. Đó là mọi người, mọi dân. “Từng hai người một”... Đây là con số mà Lề luật đòi hỏi để một chứng từ được nhận như có giá trị (x. Đnl 19,15). Đó cũng là thói quen của các Ki-tô hữu thừa sai đầu tiên, không bao giờ một mình: Phao-lô và Ba-na-ba... Ba-na-ba và Mác-cô... Phao-lô và Xi-la... “Trước Người... nơi chính Người sẽ đến...”. Sự nghiệp tông đồ phải luôn khiêm tốn. Ta chỉ biết sửa soạn. Công việc đích thực, Đức Giê-su sẽ đích thân làm.

Tuy nhiên, trong viễn tượng của Đức Giê-su, 72 người đầu tiên, con số đã khá lớn rồi, rõ ràng sẽ không đủ. Nhiều thợ mới sẽ phải thường xuyên bắt tay vào việc, bởi lẽ “lúa chín đầy đồng”, mùa gặt phong phú. Đức Giê-su trông rộng nhìn xa! “Mùa gặt” là một hình ảnh Thánh Kinh truyền thống để nói đến “Ngày tận cùng”, sự can thiệp cánh chung của Thiên Chúa (x. Ge 4,13; Mt 13,39; Kh 14,15-16). Trong Đức Giê-su, “thời cuối cùng” này đã bắt đầu. Người thấy sự dồi dào của “mùa gặt thần linh” ấy, nhưng khốn nỗi thợ lại không đủ. Và ngay lập tức, trước sự thiếu hụt này, Đức Giê-su gợi lên một giải pháp độc nhất: cầu nguyện! Việc tông đồ không phải là một công trình phàm nhân, như tuyên truyền hay quảng cáo, nhưng là một công trình thần linh, một ân sủng.

“Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em như chiên con đi vào giữa bầy sói”. Đức Giê-su không che giấu khó khăn của công cuộc tông đồ, trái lại muốn cảnh báo chúng ta thật rõ. Hình ảnh kể ra hơi gây khó chịu: tín hữu như một con chiên bị bầy sói tấn công. Chớ bắt hình ảnh nói quá những gì nó muốn nói. Mọi kẻ vô tín ngưỡng đều được Thiên Chúa yêu mến, nhưng “đàn chiên nhỏ” thật sự cần Mục tử bảo vệ (x. Ga 15,18; 10,1-16). Giáo Hội thường xuyên ở trong tình trạng nguy hiểm! Điều này đôi khi đòi hỏi một ý thức sắc bén, vì nhiều Ki-tô hữu nhắm mắt trước những bách hại tinh vi, thậm chí những đàn áp kinh khủng của thế quyền ở một nơi nào đó, để tự ru ngủ là đang “tốt đời đẹp đạo”, mọi chuyện đều êm xuôi. Các thời đại bình an, yên ổn thực sự mới phải khiến chúng ta kinh ngạc... Vậy thì hãy tin tưởng!

Tinh Thần và Phương Tiện
“Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép...”. Đáng lưu ý là Đức Giê-su không đưa ra chỉ thị nào thuộc loại “giáo lý”: Người chẳng nói đến nội dung đức tin... nhưng đến nhiều thái độ cụ thể của nhà thuyết giảng... y phục, hành lý, cách quan hệ của họ. Các thừa sai trước hết loan báo Nước Thiên Chúa bằng lối sống của mình!

Thứ nhất là đòi hỏi về nghèo khó. Tiên vàn chớ dựa vào những phương tiện nhân loại. Đức Giê-su đã chẳng sử dụng các khí giới của quyền lực, giàu sang... Giáo Hội trước hết phải bắt chước Thầy mình sống nghèo. “Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường...”. Chớ mất thì giờ vào những cử chỉ “lễ phép quá mức” (chào hỏi theo kiểu phương Đông rất dài dòng). Một hãy khẩn trương! Chuyện lạ lùng là trong Lu-ca, các sứ giả Tin Mừng đều “chạy”: Đức Ma-ri-a chạy đi thăm viếng, các mục đồng chạy đến máng cỏ, Phi-líp-phê chạy cho kịp chiếc xe của một người xứ Ê-thi-óp (x. Cv 8,30). “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình an cho nhà này!” Đây là một lối sống: bình an, thanh thản. Có trong mình một sự bình an và thông chuyển nó. Tin Mừng cũng chính là thế: làm cho sự hòa hợp viên mãn chảy qua giữa loài người.                                                             

“Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó... Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em”. Các vấn đề thực phẩm này xem ra tầm thường nhỏ mọn đối với chúng ta. Nhưng nếu biết được những cấm kỵ về thức ăn của người Do-thái, sẽ thấy các từ này của Đức Giê-su vang dội như một sự giải phóng tuyệt vời: hãy ăn tất cả, đừng bận tâm xem các thực phẩm sạch hay nhơ. Ở đây Đức Giê-su thật sự tỏ ra đi trước thời đại. Người biện hộ cho một thái độ khai mở rộng rãi trước các thói quen phong tục của người khác: hãy chấp nhận những thói tục văn hóa của các dân tộc mà bạn muốn đến rao giảng Tin Mừng! Điều này đi thật xa, như ta thấy trong Huấn thị 1659.

Tin Mừng này cũng rất cụ thể, thực tiễn. Đó là “Tin Mừng” hành động: làm việc thiện, đẩy lùi sự ác, an ủi chữa lành... Đó là Tin Mừng về việc thực hiện “Triều Đại”, chương trình, kế hoạch Thiên Chúa. Người ta đã từng chờ đợi nó đến vào ngày Tận cùng. Nhưng Đức Giê-su bảo nó đã có đó, gần bên! Nó ở trong cuộc sống bình thường nhất của bạn. Triều Đại Thiên Chúa là gì? Đó là Đức Giê-su. Đó là hạt giống mầu nhiệm Thiên Chúa đặt trong chính loài người. Với Đức Giê-su, Thiên Chúa thống trị, Thiên Chúa có đó, ngay tự bây giờ. Trong Đức Giê-su, việc hoàn tất thế giới đã xảy đến. “Tin Mừng” là một cái gì rất đơn giản: chính nghĩa của Thiên Chúa sắp toàn thắng, nó là tương lai tuyệt đối của loài người, và nó đã khởi sự! Thế giới sẽ chẳng kéo dài mãi, lịch sử nhân loại có một tận điểm, nhưng tận điểm này chẳng phải là hư vô mà là Thiên Chúa. Tin vào Đức Giê-su, đó là thể hiện trước thành tựu này... Cụ thể ra, làm cho Triều Đại Thiên Chúa đến, đó là “thực hiện thánh ý Người”: Xin cho Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện!”. Và thánh ý Thiên Chúa, đó là thiện ích toàn vẹn của loài người: việc chữa lành các bệnh tật (sự phá hoại toàn vẹn tính này) là một dấu chỉ của việc đó: “Hãy chữa kẻ đau yếu!” “Hãy chữa trị con người!” Triều Đại Thiên Chúa có đó, kề bên!

“Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em... Trong ngày ấy [Ngày Phán xét], thành Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó”. Đức Giê-su rõ ràng thấy trước các thất bại, các thái độ chối từ đức tin... Nhưng lời tiên báo sự thành công của chính nghĩa Thiên Chúa vẫn tồn tại. Dù muốn hay không, Thiên Chúa vẫn thống trị ngày kia, Ngày Phán xét... chỉ có điều là nếu bạn đã cố ý và ngoan cường chống lại việc ấy, bạn sẽ không được hưởng thành quả này mà vốn đã có thể là thành quả của bạn...

Tóm lại, các chỉ thị của Đức Giê-su nói lên tinh thần phải sinh động các môn đồ và các phương tiện họ phải vận dụng. Đó không phải là một tinh thần thống trị và chinh phục, song là tinh thần hiền hòa và bình an. Vì đó là chuyện tìm nẻo lối đi vào hồn người để họ mở lòng đón nhận Tin Mừng cứu rỗi. Và các phương tiện sử dụng chính là sự đơn sơ, nghèo khó, nhân từ, thay vì nại đến hiển hách của hành động, đến quyền lực của bạc tiền, đến sức mạnh của vũ khí, đến uy tín của kiến thức! mục lục

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
BÀI SAI ĐÚNG ĐẮN

Việt ngữ đơn giản mà thâm thúy. Đúng như tiền nhân đã ví von: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam.” Thật vậy, chẳng hạn với hai chữ “sai trái” mà hoàn toàn trái nghĩa. Với cây cối, “sai trái” là nhiều quả, rất tốt, càng “sai trái” càng tốt; nhưng với con người, “sai trái” là sai lầm hoặc tội lỗi, càng “sai trái” càng nguy hiểm – cho chính mình và cho người khác.

Thật vậy, Kinh Thánh nhắn nhủ: “Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha.” (Hc 28:2) Tránh sai trái là điều cần phải làm bất cứ lúc nào, như Thánh Vịnh gia xác định: “Con chẳng theo thói đời buông những lời sai trái. Con tuân giữ mọi lời Chúa dạy, tránh xa đường lối kẻ bạo tàn, dõi vết chân Ngài, con không vấp ngã.” (Tv 17:4-5) Không chỉ phải tránh sai trái mà còn phải làm điều đúng đắn.

Thánh Luca cho biết rằng chính Chúa Giêsu đã truyền “bài sai” cho 72 môn đệ, với hai khoản rõ ràng là “đi rao giảng Tin Mừng” và “không đòi hỏi gì từ người khác.” Sự kiện đó được kể qua trình thuật Lc 10:1-12, 17-20.

Chính Chúa Giêsu bảo các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Ngài sẽ đến: “Anh em HÃY ra đi. Này Thầy sai anh em đi như CHIÊN CON ĐI VÀO GIỮA BẦY SÓI. ĐỪNG mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng ĐỪNG chào hỏi ai dọc đường. VÀO bất cứ nhà nào, trước tiên HÃY nói: ‘Bình an cho nhà này!’ Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. HÃY ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. ĐỪNG đi hết nhà nọ đến nhà kia. VÀO bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón thì CỨ ăn những gì người ta dọn cho anh em.”

Chúa Giêsu sử dụng hàng loạt mệnh lệnh cách, cả phủ định và xác định – Đừng, Hãy (vào, ở, ăn, đi,...). Chúa Giêsu CẤM họ ĐÒI HỎI bất cứ điều gì, có gì dùng nấy, có sao hưởng vậy. Có lẽ đây là một trong những câu “khó nghe” khiến người ta không muốn nghe nói tới, không thích ai nhắc nhở hoặc đề cập.

Thực sự không dễ gì mà “bằng lòng” với hiện tại, với những gì mình có. Bằng lòng và chấp nhận những gì mình có là một dạng hạnh phúc giản dị mà kỳ diệu, không chấp nhận những gì mình có hoặc đòi hỏi thì chỉ là tự làm khổ mình – và gây khổ liên đới tới người khác.

Chấp nhận điều kiện sống hiện tại không là thúc thủ hoặc miễn cưỡng với số phận, nhưng chấp nhận với niềm lạc quan và tín thác vào Thiên Chúa để Thánh Ý Ngài nên trọn. (x. Mt 26:42; Lc 23:34) Chấp nhận hiện tại, không đòi hỏi gì, nhưng vẫn sống vì người khác và giúp ích cho họ. Thật vậy, Chúa Giêsu dạy: “Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: ‘Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.’ Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón thì anh em ra các quảng trường mà nói: ‘Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.’ Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Sôđôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó.”

Thật tuyệt vời khi Nhóm 72 ra đi và đạt kết quả tốt. Họ trở về, hớn hở khoe Sư Phụ rằng họ rao giảng và ai cũng vui nghe đến danh Thầy, đặc biệt là ma quỷ phải khuất phục họ. Thế nhưng Chúa Giêsu thẳng thắn nói: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên, anh em CHỚ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng HÃY mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.” (Lc 10:18-20) Lại có thêm những mệnh lệnh cách!

Chúng ta ngày nay cũng tương tự, khi làm được gì đó thì kiêu hãnh, ảo tưởng về mình, muốn có hư danh trần tục mà quên rằng mình chỉ là “đầy tớ vô dụng.” (x. Lc 17:10) Chúa Giêsu xác định rằng không có Ngài thì chẳng ai làm được điều gì. (x. Ga 15:5) Mà nếu có làm được gì thì cũng chỉ là bổn phận và trách nhiệm phải làm thay cho người khác, vì sáng danh Thiên Chúa, không thể vinh danh mình. Còn đó tấm gương sáng chói của ngôn sứ Gioan Tẩy Giả: “Người phải NỔI BẬT lên, còn tôi phải LU MỜ đi.” (Ga 3:30)

Đó chính là động thái tự hạ – khiêm nhường, khiêm nhu, khiêm hạ, khiêm tốn. Và đó cũng là niềm vui thánh đức, như Thánh Phaolô vui mừng vì Thập Giá của Đức Giêsu Kitô. Chính Chúa Giêsu bảo các môn đệ hãy vui mừng vì tên được ghi vô Sổ Trường Sinh chứ không phải vì làm được công to việc lớn. Những điều này không hề đối lập mà lại rất hợp lý. Khiêm nhường trái ngược với kiêu ngạo. Ai cũng biết rõ mười mươi.

Thật vậy, Kinh Thánh minh định: “Kiêu hãnh đi liền với ô nhục, khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường.” (Cn 11:2) Chúa Giêsu luôn muốn chúng ta biết quên mình vì người khác, nhưng đôi khi chúng ta lại thích làm ngược lại: muốn người khác hy sinh vì mình. Nhận xét của Napoléon thật đáng để chúng ta xét mình: “Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ KHÔNG phải vì tội ác của những kẻ xấu, mà VÌ sự im lặng của những người tốt.” Mọi rắc rối đều bởi “cái tôi” mà ra, nó có thể khiến người ta vô cảm hoặc mất khả năng yêu thương. Thật đáng sợ!

Người Việt nói: “Lời nói hại xác phàm.” Lời nói liên quan miệng lưỡi. Kinh Thánh xác định: “Thổi vào tàn lửa, lửa sẽ bùng lên, nhổ lên nó, nó sẽ tắt ngúm. Tất cả đều do miệng của con.” (Hc 28:12)

Cuộc sống có nhiều thứ trái ngược nhau, có cái đúng mà hóa sai, có cái sai mà lại đúng. Còn nhỏ, người ta cố gắng học nói; lớn lên, người ta cố gắng học im lặng. Càng thêm tuổi thì người ta càng “ngộ” ra nhiều điều. Người ta gọi đó là kinh nghiệm, nói theo bình dân là tình trạng “đụng chạm” – “đụng” nhiều thì “chạm” nhiều. Vì thế mà sinh muôn vàn giống tội!

Với kinh nghiệm sống, chắc hẳn ai cũng biết một trong những điều người ta có thể “ngộ” ra là nhận thấy cuộc đời có gì đó xem chừng “bất ổn” lắm: nhiều buồn, ít vui. Nếu cuộc đời là 1 m thì có 8-9 dm buồn và 1-2 dm vui mà thôi. Thảo nào Chúa Giêsu luôn nhắc nhở: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” (Mt 16:24; Mc 8:34; Lc 9:23) Chắc chắn Ngài không xúi dại ai, mà Ngài muốn chúng ta chấp nhận thực tế để có thể đi xuyên qua mọi đau khổ đời này.

“Đời là bể khổ.” Đó là câu “cửa miệng” người ta thường nói. Khổ thì không thể vui. Buồn nhiều thì chắc hẳn là vui ít. Tất nhiên thôi. Nhưng vui ít chứ không phải là không vui. Tuy nhiên, vấn đề là vui gì và vì cái gì? Có nhiều dạng và nhiều mức độ vui. Niềm vui nào rồi cũng hóa nỗi buồn: Tiệc vui tan, rồi hóa kỷ niệm. Kỷ niệm chứ có thật đâu mà vui. Nhưng niềm vui của Kitô hữu là niềm vui cao thượng, người ta khả dĩ vui ngay trong nỗi gian nan, hoạn nạn. Bởi vì họ là tín nhân, là Kitô hữu, là người luôn tín thác vào Thiên Chúa – Đấng quan phòng và tiền định mọi sự. Đó là niềm vui đích thực, vui vì an tâm. Người an tâm thì sống thanh thản.

Ngày xưa, ngôn sứ Isaia đã nói: “Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ, hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô! Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng, hỡi tất cả những người đã than khóc Thành Đô, để được Thành Đô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thỏa thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ.” (Is 66:10-11) Niềm vui như thế thật là tốt lành, vì niềm vui đó mang tinh thần tín thác vào Thiên Chúa, người biết tín thác là người sống khôn ngoan và khiêm tốn, làm vui lòng Thiên Chúa.

Nếu Thiên Chúa hài lòng thì Ngài sẽ làm cho cuộc sống của họ phong phú, dồi dào, thoải mái, đúng như Ngài đã hứa: “Này Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sông cả, và Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về.” (Is 66:12-13) Ngài hứa gì thì Ngài sẽ hoàn tất theo cách quan phòng và tiền định của Ngài. Chắc chắn và chính xác.

Thánh Vịnh gia chia sẻ thực tế tâm linh: “Nhìn thấy thế, lòng các bạn sẽ đầy hoan lạc, thân mình được tươi tốt như cỏ đồng xanh. Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết, và nổi cơn thịnh nộ với các kẻ thù.” (Is 66:14) Có hai vế: ai thuận với Thiên Chúa thì hạnh phúc và vui sống, ai đối nghịch với Ngài thì thua thiệt. Rất rạch ròi, rất rõ ràng!

Đó là hệ lụy tất yếu. Điều đó được minh định qua lời của Thánh Vịnh gia: “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh! Hãy thưa cùng Thiên Chúa: Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài! Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm. Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh.” (Tv 66:1-4) Hệ lụy đó còn được xác nhận thêm một cách hùng hồn: “Đến mà xem công trình của Thiên Chúa: hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ! Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền, và dân Người đi bộ qua sông; việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ. Chúa uy dũng hiển trị muôn đời; đôi mắt Người theo dõi chư dân, quân làm phản chớ có hòng nổi dậy!” (Tv 66:5-7)

Chắc chắn chỉ có Thiên Chúa mới làm được những điều kỳ diệu như vậy. Điều đó mặc nhiên rằng chẳng có bất cứ thần linh nào khác có thể làm được như vậy. Tất cả những gì có vẻ “lạ” hoặc khác thường thì cũng có thể chỉ là lừa bịp. Đã và đang có nhiều “rối rắm” ngay tại Việt Nam chứ chẳng đâu xa – cả đạo và đời. Nhẹ dạ là chết!

Vô tri bất mộ – không biết không mến. Biết rồi thì mến, mến rồi thì tin, tin rồi thì yêu, không ai có thể trì hoãn cái sự sung sướng đó và cũng không thể im lặng, vì tình yêu luôn quảng đại, muốn chia sẻ cho mọi người cùng nhận biết và cùng tận hưởng: “Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời, đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi.” (Tv 66:16)

Thiên Chúa là Đấng trung tín, (2 Tx 3:3) giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến (Ep 2:4). Thánh Vịnh gia dẫn chứng: “Xin chúc tụng Thiên Chúa đã CHẲNG bác lời thỉnh nguyện tôi dâng, lại cũng KHÔNG dứt nghĩa đoạn tình.” (Tv 66:20) Cảm nghiệm niềm vui được biết Thiên Chúa, Đức-Kitô-chịu-đóng-đinh, Thánh Phaolô chia sẻ: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian.” (Gl 6:14) Loại ước mơ như thế thực sự “rất lạ,” hoàn toàn “khác người,” thậm chí là “ngược đời.”

Thật vậy, Thánh Phaolô xác nhận và chia sẻ: “Quả thật, cắt bì hay không cắt bì CHẲNG LÀ GÌ CẢ, điều quan trọng là trở nên MỘT THỤ TẠO MỚI. Chúc tất cả những ai sống theo quy tắc ấy, và chúc Israel của Thiên Chúa được hưởng BÌNH AN và LÒNG THƯƠNG XÓT của Người. Từ nay, xin đừng có ai gây phiền toái cho tôi nữa, vì tôi mang trên mình tôi những dấu tích của Đức Giêsu. Thưa anh em, nguyện xin Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho thần trí anh em được đầy tràn ân sủng” (Gl 6:15-18).

Mọi sự đều phân minh, vì Thiên Chúa không thiên vị bất cứ ai: “Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tuỳ theo việc họ làm; những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang, danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời; còn những ai chống Thiên Chúa mà không vâng phục chân lý và chạy theo điều ác, thì Người sẽ nổi trận lôi đình, trút cơn thịnh nộ xuống đầu họ.” (Rm 2:6-8)

Mọi Kitô hữu đều “như chiên con đi vào giữa bầy sói” giữa cuộc đời này. Người ta đã ghét Chúa Giêsu thì người ta cũng ghét bất cứ ai tin theo Ngài. Bách hại luôn xảy ra khắp nơi trên thế giới, xưa nay vẫn thế. Đau khổ là phần tất yếu của cuộc sống. Thánh Inhaxiô Loyola cho biết: “Nếu Thiên Chúa để anh em phải chịu nhiều đau khổ, đó là dấu Người đã có những chương trình lớn lao dành cho anh em, và chắc chắn Người muốn biến đổi anh em thành một vị thánh.”

Điều quan trọng cần nhớ: “Đừng sợ!” (St 15:1; St 21:17; St 26:24; St 46:3; Xh 14:13; Đnl 31:6; Is 43:1; Is 41:13; Gr 46:27-28; Gr 51:46; Ac 3:57; Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5; Mt 28:10; Mc 5:36; Mc 6:50; Ga 14:27; Lc 1:13; Lc 1:30; Lc 2:10; Lc 5:10; Lc 12:4; Lc 12:7; Lc 12:32; Lc 21:9; Ga 6:20; Ga 14:27; Kh 1:17-18,…) Với các sắc thái khác nhau, mệnh lệnh cách “Đừng Sợ!” được đề cập 365 lần trong Kinh Thánh – như vậy nghĩa là chúng ta được Thiên Chúa động viên mỗi ngày ít là một lần.

Kinh Thánh khuyên: “Hãy hết lòng tin tưởng vào Đức Chúa, chớ hề cậy dựa vào hiểu biết của con. Hãy nhận biết Người trong mọi đường đi nước bước, Người sẽ san bằng đường nẻo con đi.” (Cn 3:5-6) Mỗi người đều có quyền tự do chọn lựa, vì thế không thể biện hộ hoặc đổ lỗi cho bất cứ điều gì hoặc người khác.

Xã hội ngày nay có cách sai trái rất tinh vi, người ta càng ngày càng lộng hành thái quá, muốn tự quyết định mọi sự theo ý thế tục mình – chẳng hạn, chuyện hợp pháp hóa việc phá thai đang là vấn đề thời sự nóng tại Hoa Kỳ. Rất đáng quan ngại với nhận định của Thánh Tôma Aquinô: “Nếu bạn có thể sống giữa sự bất công mà không giận dữ, thì bạn cũng là kẻ VÔ ĐẠO ĐỨC NHƯ BẤT CÔNG vậy.” Đó là lời cảnh tỉnh lương tâm hay chỉ là chuyện bình thường giữa đời vô thường?

Lạy Thiên Chúa công minh và chính trực, hằng thấu suốt mọi sự, xin giúp chúng con phân định đúng – sai, luôn sẵn sàng thi hành Thánh Ý Ngài trong mọi hoàn cảnh. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

LOAN BÁO - LÀM CHỨNG VÀ NGUYỆN CẦU

Loan báo tin vui

Sứ mệnh của Giáo Hội là rao truyền Tin Mừng và niềm vui an ủi. Bài đọc I trích tư sách ngôn sứ Isaia nói tới niềm vui của sự an ủi. Ngôn sứ nói với một dân tộc đã trải qua một thời kỳ đen tối của kiếp lưu đầy, bị thử thách cam go, nhưng giờ đây đã tới thời ủi an cho Giêrusalem; sự buồn sầu và nỗi sợ hãi phải nhường chỗ cho niềm vui (Is 66,10). Lý do là vì Chúa sẽ đổ tràn đầy trên Thành Thánh và dân cư của nó một "thác" của sự ủi an, tràn đầy ủi an, mốt thác của hiền dịu mẫu tử : "Các ngươi sẽ được bồng ẵm trên tay và được vuốt ve trên đầu gối. Như bà mẹ để con thơ trên đầu gối và vuốt ve nó, Thiên Chúa cũng sẽ làm như vậy với chúng ta" (Is 66,12-13).

Làm chứng

Trong thư gửi tín hữu Galát, thánh Phaolô khẳng định rằng: "Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Ðức Giêsu Kitô Chúa chúng ta!" (Gl 6,14). Và thánh nhân nói tới các dấu tích, nghĩa là các vết thương của Chúa Giêsu Bị Ðóng Ðanh như là dấu ấn đặc biệt trong cuộc sống của người là Tông Ðồ của Tin Mừng. Trong sử vụ của mình thánh Phaolô đã sống kinh nghiệm khổ đau, yếu đuối và thất bại, nhưng cũng sống kinh nghiệm niềm vui và sự an ủi. Ðây là mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu: mầu chiệm của cái chết và sự sống lại. Chính việc để cho mình trở nên đồng hình dạng với cái chết của Chúa Giêsu khiến cho thánh Phaolô đã tham dự vào sự phục sinh và chiến thắng của Chúa mà Phaolô đã làm chứng.

Ngày 06/01/2022, Đức Thánh Cha đã công bố Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo năm 2022 với chủ đề: "Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy" (Cv 1,8). Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các Kitô hữu loan báo sứ điệp cứu độ của Chúa Kitô trong mọi chiều kích của đời sống hàng ngày của chúng ta.

Đức Thánh Cha nói tiếp : "Loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn là sứ mạng của Ðức Giêsu. Ðây cũng chính là sứ mạng của Giáo hội và của tất cả những ai đã lãnh nhận Phép Rửa trong Giáo hội…Là một Kitô hữu cũng chính là một nhà truyền giáo. Rao giảng Tin Mừng bằng lời nói, mà trước hết là bằng chính đời sống, là mục đích chính yếu mọi thành phần dân Chúa, cần phải đến gần với người nghèo, phục vụ họ, và thực hiện tất cả những điều này trong danh Ðức Kitô với Thần Khí của Ðức Kitô, vì Người chính là Tin Mừng của Thiên Chúa" (x. Sứ điệp truyền giáo 2022).

Mọi Kitô hữu được mời gọi trở thành một nhà truyền giáo và làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta thực hiện sứ vụ truyền giáo trong Giáo hội, vì được Giáo hội sai đi nhân danh Chúa Kitô loan báo Tin Mừng "cho đến tận cùng trái đất". Chúng ta cũng nhận được sức mạnh từ Chúa Thánh Thần và được Thánh Thần hướng dẫn để làm chứng đầy đủ và chân thực cho Chúa Kitô là Chúa đã đến trong thế gian. Vì thế, khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi, không có động lực hoặc bối rối, chúng ta hãy cầu nguyện.

Cầu nguyện

Tin Mừng hôn nay mô thuật lại Chúa Giêsu sai nhóm 72 môn đệ đi loan báo Tin Mừng. COn số 72 được Sách Sáng Thế mô tả muốn nói tới các dân tộc khác nhau (x. St 10, 1-13). Nên khi Chúa Giêsu nói với các môn đệ : "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít" (x. Lc 10,2), Người vạch ra một viễn tượng và đề nghị chúng ta cầu nguyện, tức là xin chủ mùa gặt sai thợ mang gặt lúa về (x. Lc 10,2). Đây là yếu tố để đảm bảo cho sứ mạng loan báo Tin Mừng. Chúa Giêsu đã không muốn hành động một mình. Người đến trong thế giới là để đem tình yêu thương của Thiên Chúa đến cho con người và muốn phổ biến nó với kiểu cách của sự hiệp thông, của tình huynh đệ. Vì thế Người thành lập ngay một cộng đoàn môn đệ, một cộng đoàn truyền giáo với mục đích cấp bách là loan báo Tin Mừng.

Các người thợ đã không được chọn qua các chiến dịch quảng cáo hay kêu gọi phục vụ quảng đại, nhưng được Thiên Chúa "chọn" và "sai đi". Chính Người tuyển chọn, chính Người sai đi, chính Người ban sứ mệnh. Vì thế cầu nguyện quan trọng. Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã ngỏ lời với Hồng Y đoàn vào ngày ngài thoái vị rằng: "Giáo Hội không phải của chúng ta, mà là của Thiên Chúa. Biết bao lần chúng ta, những người được thánh hiến, chúng ra nghĩ rằng nó là của chúng ta, phải không? Chúng ta làm... cái gì đến trong trí... Nhưng mà Giáo Hội không phải của chúng ta, mà là của Thiên Chúa; cánh đồng trồng tỉa là của Người".

Như thế sứ mệnh truyền giáo là ơn thánh. Và nếu việc tông đồ là hoa trái của lời cầu nguyện, thì nó sẽ tìm thấy trong đó sức mạnh cho hoạt động của nó. Thật thế, sứ mệnh của chúng ta không phong phú, còn hơn thế nữa tắt lịm, chính trong lúc chúng ta ngưng việc kết nối với suối nguồn là chính Chúa. Đức Bênêđictô XVI nói rõ: "việc truyền giáo phải làm trên đầu gối". Vì thế, cầu nguyện là cần thiết. Chúng ta phải tay chắp gối quì mà xin ơn truyền giáo.

"Các con hãy đi". Lời Chúa Giêsu ngày hôm nay vẫn còn rất cấp bách. Xin cho con người hôm nay mau mắn đáp lại sự sai đi của Chúa. Amen. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

TƯ CÁCH MÔN ĐỆ VÀ VIỆC RAO GIẢNG TIN MỪNG CỦA CHÚA KITÔ

“Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến…” (Luca 10:1-12, 17-20)

NHƯ CHIÊN CON ĐI VÀO GIỮA BẦY SÓI

Bài Tin Mừng này tiếp nối ngay sau bài Tin mừng của Chúa Nhật tuần trước: chúng ta đã thấy Chúa Giêsu đương đầu với những nỗi khổ tâm mà sứ mạng đòi hỏi ở Ngài: chấp nhận sự không an toàn, không có chỗ tựa đầu, để kẻ chết chôn kẻ chết, nghĩa là biết lựa chọn gian khổ như bị đóng đinh, tra tay vào cày mà không ngoảnh lại, chấp nhận đối mặt với cái chết bằng cách kiên quyết đi lên Giêrusalem. Người ta có thể đoán được những cám dỗ luôn ẩn hiện đằng sau những gì Chúa Giêsu quyết định. Thánh Luca cho chúng ta thấy điều đó trên đường lên Giêrusalem: Chúa Giêsu đã tự mình vượt qua mọi cám dỗ.

Ngài vẫn còn phải truyền đi ngọn đuốc: Ngài lần lượt sai các môn đệ của mình đi truyền giáo. Việc chuẩn bị cho họ là điều cấp thiết vì sự ra đi của Ngài đang đến gần. Và Ngài cho họ tất cả những lời khuyên cần thiết để họ chuẩn bị đối mặt với những cám dỗ mà Ngài biết rõ: họ cũng sẽ phải đối mặt với những cám dỗ tương tự.

Họ cũng sẽ biết đến sự khước từ: như Chúa Giêsu đã phải chịu sự khước từ của một làng Samaria, họ phải chuẩn bị để chịu sự khước từ; nhưng đừng để điều đó ngăn cản họ. Khi họ buộc phải rời khỏi một ngôi làng, họ vẫn cứ phải nói về sứ điệp mà họ đã được sai đến để nói: “Các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần” (Luca 10; 11). Nhưng để cho thấy rõ rằng việc làm của họ hoàn toàn không được quan tâm và những người thụ hưởng sứ điệp luôn có quyền từ chối, Ngài nói thêm: “Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón…” (Luca 10; 10).

Họ cũng sẽ phải nếm trải sự căm thù: “Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói” (Luca 10: 3). Họ sẽ vẫn phải loan báo không mệt mỏi và mang lại bình an: “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này! " Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy” (Luca 10: 5-6). Chúng ta phải tin vào sự lan tỏa của bình an bằng mọi giá: khi chúng ta thực sự hết lòng cầu mong cho một ai đó bình an, thì bình an thực sự sẽ lớn lên. Chúng ta biết điều đó bằng kinh nghiệm. Tuy nhiên, người đối thoại của chúng ta cũng phải là một người bạn của bình an; nếu không, Chúa Giêsu nói với họ “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông” (Luca 10: 11), nghĩa là đừng để mình bị đè bẹp bởi những thất bại, những lời từ chối… Đừng để điều gì khiến anh em phải “kéo lê chân mình”, một cách nào đó!

Họ cũng sẽ cảm thấy không an toàn: chính Chúa Giêsu “không có chỗ tựa đầu” (Luca 9: 57); nếu chúng ta hiểu một cách chính xác, thì môn đồ của Ngài cũng vậy: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” (Luca 10: 4). Họ cũng sẽ phải học cách sống ngày nào biết ngày ấy, mà không cần lo lắng về ngày mai, bằng lòng với việc “người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó” (Luca 10: 7), giống như người Do thái xưa trong sa mạc chỉ có thể thu nhặt mana từng ngày một.

TÍNH CẤP BÁCH CỦA SỨ VỤ

Họ cũng phải lựa chọn, đôi khi như bị đóng đinh vào thập giá, vì sứ mệnh cấp bách: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa ” (Lc 9,60) đó là một đòi hỏi vì những bổn phận dù thánh thiêng nhất theo con mắt của chúng ta cũng phải nhường chỗ cho sự cấp bách của Nước Thiên Chúa. “Đừng chào hỏi ai dọc đường” (Luca 10: 4) là một cụm từ cùng ý nghĩa cấp bách: đối với các môn đồ của Ngài, là những người ở phương đông, nên việc chào hỏi nhau dài dòng là một bổn phận thực sự.

Họ cũng sẽ phải chống lại sự cám dỗ muốn thành công: “Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia” (Luca 10: 7). Họ cũng sẽ phải học cách ước ao đến lượt mình truyền đi ngọn đuốc: sứ mệnh quá nặng nề, quá quý giá, người ta không thể độc chiếm nó: sứ mệnh không thuộc về chúng ta; bởi vì một trong những cám dỗ tinh tế nhất có lẽ là không thực sự muốn những người khác làm việc bên cạnh chúng ta. “Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mátthêu 9; 38): điều này không có nghĩa là dạy cho Chúa điều gì đó mà Ngài không biết, nhưng có nghĩa là người ta phải nhận ra rằng môn đệ cần đến sự giúp đỡ. Ngài biết điều đó hơn chúng ta! Chính khi cầu nguyện, chúng ta để cho mình được Ngài soi sáng. Cầu nguyện không bao giờ nhằm mục đích thông báo cho Thiên Chúa: đó là điều rất tự phụ của chúng ta! Cầu nguyện là để chuẩn bị cho bản thân chúng ta được biến đổi.

Cám dỗ cuối cùng: tự kiêu về những thành công của chúng ta. “Anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Luca 10; 20). Cần phải tin rằng, bao giờ cũng vậy, việc trở thành ngôi sao luôn rình chờ các môn đệ: các tông đồ đích thực có lẽ không buộc phải là người nổi tiếng nhất. Các môn đệ chân chính không tự hào về chính mình hay công này việc nọ của mình, họ chỉ như thánh Phaolô: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta!” (Galát 6:14).

Chúng ta có thể nghĩ bảy mươi hai môn đồ đã vượt qua tất cả những cám dỗ này vì khi họ trở về, “Họ hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con” (Luca 10; 17). Nhưng Chúa Giêsu nói với họ: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống” (Luca 10: 18). Chúa Giêsu thực hiện chuyến đi cuối cùng đến Giêrusalem và chắc chắn Ngài kín múc được ở đó sự trợ lực lớn lao; vì ngay sau khi thánh Luca nói với chúng ta “Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Chúa Giêsu hớn hở vui mừng” thì Ngài nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Luca 10: 21).

TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA CÓ TÍNH QUYẾT ĐỊNH

“Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa,
đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời,
nào dâng lời ca tụng tôn vinh!” (Tv 66:1-2).
Trước hết tình yêu của Thiên chúa biểu lộ qua niềm vui được hứa ban. Niềm vui được “hát lên mừng Danh Thánh, được dâng lời ca tụng tôn vinh” thực sự là động lực chính của việc rao giảng tin mừng này: vào lúc khó khăn, điều quan trọng là người môn đệ phải nhớ rằng Thiên Chúa không muốn gì ngoài niềm vui của con người và một ngày nào đó niềm vui sẽ chiếm lĩnh toàn bộ trái đất, toàn thể nhân loại! Một niềm vui tràn trề, vui tươi nhưng rất cụ thể, thực tế, bắt nguồn từ những nhu cầu cơ bản nhất của chúng ta: được nuôi dưỡng, no nê, an ủi, nâng niu như Isaia nói:

“Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ,
được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối.
Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy;
tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về…” (Is 66:12-13).
Thánh vịnh 66 vọng lại:

“Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời,
đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi.
Vừa mở miệng kêu lên cùng Chúa,
tấc lưỡi tán dương, tôi đã sẵn sàng.
Điều gian ác, nếu lòng này ấp ủ,
chắc hẳn là Chúa chẳng nghe đâu.
Thế mà Thiên Chúa đã nghe rồi, để tâm đến lời tôi cầu nguyện.
Xin chúc tụng Thiên Chúa
đã chẳng bác lời thỉnh nguyện tôi dâng,
lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình” (Tv 66:16-20).
Chính Thiên Chúa là người hành động, như  tiên tri đã nói rõ điều đó: “Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy”.  Chính Thiên Chúa quan tâm đến niềm vui của dân Ngài mà đại diện là Thành Thánh:

“Hãy vui mừng với Giêrusalem,
hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ,
hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô !
Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng,
hỡi tất cả những người đã than khóc Thành Đô” (Is 66:10).
Như dân Do thái xưa ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa vì cuộc xuất hành khỏi Ai Cập để vào vùng đất Canaan là những hành động quyền uy vĩ ​​đại của Thiên Chúa, các Kitô hữu, môn đệ của Chúa Giêsu Kitô, không ngừng rao giảng thập giá cứu độ của  Ngài, thập giá đã giải cứu chúng ta khỏi ách thống trị của hoàng tử của thế gian này – là Pharaoh Ai Cập đối với dân Do thái xưa, cũng như bất cứ các quyền lực xã hội chính trị nào hiện nay phản lại giá trị Tin mừng - và đưa chúng ta vào vui hưởng các phúc lành trên trời.

Chúng ta tin vào Tin mừng tình yêu của Thiên Chúa vẫn được Chúa Kitô rao giảng qua Giáo hội hôm nay. Chúng ta được mời gọi đem lại bình an cho mọi người cách không mệt mỏi: “Điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới. Chúc tất cả những ai sống theo quy tắc ấy, và chúc Israel của Thiên Chúa được hưởng bình an và lòng thương xót của Ngài” (Galát 6: 15-16).  Và bình an này là dành cho tất cả các dân tộc trên trái đất. Để công bố bình an này, người ta phải quay về Chúa Cha là Tình yêu: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Gioan 4:16). Chúng ta phải buông bỏ mình để làm theo ý muốn yêu thương của Chúa Cha, để đắm mình trong đức tin vào Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại. Chúng ta cần phải để bản thân được dẫn dắt như thánh Phaolô: “Nhờ thập giá Ngài, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Galát 6; 14). Trong cái chết của Ngài trên thập giá, Chúa Kitô trở nên một với chúng ta, vì Ngài đã trở thành con người và chia sẻ đau khổ, ngay cả cái chết của chúng ta. Đức tin của những môn đệ là đức tin của sự chia sẻ, của sự trao đổi. Các điểm đặc biệt của đức tin của người môn đệ là mối tương quan được sống với Thiên Chúa cũng như sống trong mối tương quan với những người khác. Đó là ý muốn của Chúa Giêsu: “Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một” (Luca 10: 1). Chính trong việc chia sẻ sứ mệnh như thế mà các môn đệ hiểu được lẽ nhiệm mầu mà “Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Luca 10:21).

Vì vậy, chúng ta hãy là những người phục vụ sự bình an, sự bình an này mà chúng ta cần phải trao ban cho tất cả, vượt ra ngoài những nhóm người thân hay bạn bè đồng lòng và thoải mái của chúng ta. Chúng ta cần có sự khiêm tốn để nhận ra rằng công lao của chúng ta không là gì cả trong việc rao giảng Tin mừng của Chúa Kitô. Chính Ngài mới là người giải thoát chúng ta trong từng khoảnh khắc của cuộc sống nô lệ chất chứa đầy đam mê bất chính của chúng ta. Đây là một món quà miễn phí từ Thiên chúa dành cho tất cả mọi người mọi thời đại, ngay cả trong những ngục tù tội lỗi tăm tối của chúng ta, bởi vì chúng ta là tội nhân, nhưng là tội nhân được tha thứ! Sự tham gia của chúng ta vào công cuộc Cứu rỗi này là sẵn lòng đón nhận ơn cứu độ đó vào cõi lòng sâu thẳm của chúng ta, trong trái tim của chúng ta. Điều quan trọng là Yêu nhiều; như Thánh Augustinô nói: “Một lần cho tất cả, bạn hãy nhớ một điều: Hãy yêu đi, rồi làm điều bạn muốn. Nếu bạn yên lặng, hãy yên lặng vì yêu. Nếu bạn nói, cũng hãy nói vì yêu. Nếu bạn tha thứ, hãy tha thứ vì yêu. Hãy đâm rễ tình yêu tận đáy sâu tâm hồn: từ gốc rễ này, chắc chắn sẽ chỉ sản sinh những điều tốt lành” (Thánh Augustinô, Chú giải thư thứ nhất của thánh Gioan 7,8). mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung.

TẠI SAO ƠN GỌI TU TRÌ LẠI SUY GIẢM?

Có lẽ là vì tình trạng ly thân ly dị, vì nạn ngừa thai, phá thai, vì các gia đình càng ngày càng sanh ít con, vì chủ nghĩa tiêu thụ, vì người trẻ ngày hôm nay quá bận bịu với việc học hành, lo cho nghề nghiệp, coi thường việc dự lễ, không chăm lo cho đời sống tâm linh... Nhưng ngoài những lý do vừa nêu ra, tôi nghĩ còn có thêm ba lý do đã và đang khiến cho ơn gọi tu trì bị suy giảm nặng nề.

Thứ nhất, vì những gương mù gương xấu từ hàng giáo sĩ và tu sĩ. Nó không chỉ là những vụ bê bối, những vụ tai tiếng, những vụ kiện tụng…liên quan đến vấn đề ngược đãi và lạm dụng tình dục, nhưng nó còn là những thái độ sống thiếu khiêm tốn, thiếu đạo đức, thiếu khôn ngoan, thiếu lịch sự, thiếu nhân bản và thiếu bác ái của hàng giáo sĩ và tu sĩ. Bạn cứ nghĩ thử mà xem, nếu một bạn trẻ tiếp xúc với một linh mục hay một tu sĩ, mà chúng thấy những vị này tính tình kiêu căng, nóng nảy, độc quyền độc đoán, chỉ biết lo hưởng thụ, hoặc tệ hơn nữa nghiện ngập cờ bạc, say sưa rượu chè, cá độ…thì bạn trẻ đó có muốn đi tu không? Khó lắm!

Thứ hai, vì thiếu sự cầu nguyện, cổ võ và nâng đỡ cho ơn gọi tu trì. Nhiều phụ huynh, nếu không muốn nói là đa số, ao ước, cầu nguyện cho con cái, cháu chắt của họ được học hành giỏi giang thành tài, trở thành bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, luật sư…chứ ít có ai cầu nguyện cho con cái cho cháu chắt của mình làm khất sĩ, tu sĩ hay giáo sĩ cả! Mời bạn nghĩ thử xem:

- Bạn có bao giờ cầu nguyện một cách chân thành, xin cho con cái hay cháu chắt của bạn nhận ra ơn gọi, và can đảm bước theo chân Chúa trong đời tu trì không?

- Có bao nhiêu lần bạn đã động viên, khuyến khích, con cái hay cháu chắt của mình suy nghĩ, ghi danh tham gia vào những buổi tìm hiểu ơn gọi do các dòng tu hay địa phận tổ chức hàng năm?

- Bạn có lòng yêu mến ơn gọi, quảng đại phụ giúp với Giáo Hội và các dòng tu về mặt tài chánh trong việc đào tạo, huấn luyện chủng sinh và tu sĩ không?

Tôi nói thật, nếu chúng mình không động viên, khuyến khích, không cầu nguyện, không có lòng yêu mến ơn gọi, không giúp đỡ cho các chủng viện và các dòng tu…thì làm sao mà có on gọi đi tu được? Bạn đồng ý không?

Thứ ba, vì thiếu sự cảm thông và nâng đỡ cho ơn gọi tu trì. Một người trẻ đang có ý hướng đi tu, đang suy nghĩ và cầu nguyện về ơn gọi tu trì, nhưng thỉnh thoảng, nó lại nghe cha mẹ phê bình chỉ trích cha Phêrô giảng dở, cha Dominic lười biếng không chịu ngồi toà giải tội, cha Giuse chỉ mê đưa hình khoe khoang trên FB, thầy Paul thích uống rượu mạnh, sơ Maria thì hay nhăn nhó, cau có…thì bạn nghĩ thử xem, nó có dám đi tu không vậy? Làm sao mà dám? Đời tu đã gặp nhiều khó khăn thử thách rồi, mà bây giờ lại còn bị bàn dân thiên hạ, bị những con chiên bổn đạo, những người mình phục vụ, chăm sóc…đem mình ra mổ như mổ gà, mổ heo như vậy, thì thà nó lấy vợ, để một mình vợ nó mổ thôi, còn đỡ đau hơn là để cho bá tánh mổ tứ tán như vậy! Bạn thấy đúng không?

“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; vậy anh em hãy XIN chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người về” (Lc 10:2). Bạn thân mến, từ ngàn xưa, Chúa đã biết tình trạng thiếu thốn linh mục sẽ xảy ra, và tôi nghĩ, Ngài cũng muốn để cho tình trạng thiếu thốn linh mục này xảy ra đều đều như vậy trong mọi thời đại, để tôi, để bạn và để cho tất cả mọi Kitô Hữu, cảm nghiệm được sự cần thiết, và tầm quan trọng của việc cầu nguyện cho ơn gọi đi tu làm linh mục và làm tu sĩ. Nếu bạn đồng ý với tôi như vậy, thì tôi xin bạn cùng với tôi hãy siêng năng và nỗ lực hơn, trong việc XIN chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người về bằng cách:

• Tham dự Thánh Lễ và những giờ Chầu Thánh Thể trong mỗi ngày thứ năm, để cầu nguyện cho ơn gọi. Xin Chúa hướng dẫn và soi sáng cho các bạn trẻ, nhất là cho con cháu của bạn nhận ra được ơn gọi mà Chúa muốn chúng đi theo.

• Mạnh dạn khuyến khích, động viên con cháu của mình, và tạo điều kiện để chúng ghi danh tham dự những ngày tìm hiểu về ơn gọi, do các nhà dòng hay các chủng viện tổ chức.

• Tránh hết sức để không tham gia vào những buổi trò chuyện, mà ở đó, người ta đang phê bình, chỉ trích hay chống báng, hoặc mạ lị, nói hành nói xấu các Giám Mục, linh mục, và tu sĩ.

• Tích cực tham gia vào những Hội Bảo Trợ của các dòng tu, của các địa phận, đóng góp bằng lời cầu nguyện, bằng những việc thiện nguyện, và bằng tài chánh để cho con cháu bạn thấy rằng bạn là người ủng hộ hết mình và yêu mến ơn thiên triệu.

Tôi tin chắc rằng, nếu mọi Kitô hữu cố gắng làm những việc trên, thì ơn gọi đi tu làm linh mục, ơn gọi làm tu sĩ sẽ càng ngày càng phát triển và sẽ có nhiều linh mục, tu sĩ sống khiêm nhường, đạo đức, thánh thiện hơn. Amen. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

BÌNH AN CHO ANH CHỊ EM!

Cùng với Đức Giê-su và các môn đệ, chúng ta trên đường tiến về Giê-ru-sa-lem, đỉnh cao của sứ vụ, để thông chia cuộc khổ nạn và sự chết của Người. Trên con đường đó, Đức Giê-su đã ghé vào làng Sa-ma-ri-a và người ta đã từ chối tiếp đón Người. Cho dù như thế, Đức Giê-su vẫn tiếp tục đi, Người và các môn đệ đã đi sang làng khác và trên lối đi này, Đức Giê-su đã gặp ba người muốn đi theo Người. Nhưng họ lại vịn vào các lý do, dường như rất hợp lý, để sắp xếp dự định làm môn đệ theo tiêu chuẩn của họ. Vì thế, nhân cơ hội này, Đức Giê-su đã đưa ra những yêu cầu mà người môn đệ của Người cần phải có.

Tiếp theo các điều kiện cần có để theo Chúa là bài tường thuật mô tả việc Đức Giê-su sai nhóm Bẩy Mươi Hai môn đệ ra đi. Sứ mạng của họ không dễ dàng, họ được sai đi giống như chiên vào giữa đàn sói. Người khuyên bảo họ không nên chất quá nhiều những thứ không cần thiết, không mang theo túi tiền, bao bị và giầy dép; nhất là không lãng phí thời gian trên đường đi và gấp rút đến những nơi có những người sẵn sàng đón tiếp các ông.

Những lời khuyên ‘từ bỏ’ của Đức Giê-su hôm nay nói lên tính cách khẩn thiết của việc rao giảng Tin Mừng. Điều quan trọng nhất mà người môn đệ cần có là tấm lòng. Tấm lòng gắn bó với Chúa và tha nhân. Từ mối quan hệ đó, chúng ta ý thức và chấp nhận giới hạn của chính mình để cần sự dậy bảo của Chúa, sự trợ giúp của cộng đoàn mà hoàn thành nhiệm vụ đã được Chúa trao phó. Khi đã có tinh thần và thái độ nhẹ nhàng không dính bén như thế, chúng ta thanh thản thi hành sứ vụ.

Sứ vụ bao gồm việc làm và lời nói. Dĩ nhiên lời nói và việc làm của người môn đệ phải hợp nhất. Việc làm là giới thiệu Nước Thiên Chúa đã đến gần. Đức Giê-su sai nhóm Bẩy Mươi Hai đi vào các nơi mà Người sẽ đến. Bổn phận của họ là giới thiệu và chuẩn bị cho việc Đức Giê-su sẽ đến. Người chính là dấu chỉ biểu hiện Vương quyền của Thiên Chúa. Còn sứ điệp mà các môn đệ đem đến cho người nghe là gì?

Hãy nghe Chúa phán với các môn đệ khi các con vào nhà nào thì hãy nói bình an cho họ trước tiên, sau đó loan báo cho họ biết Triều Đại Nước Thiên Chúa đã đến gần. Chúng ta nên để ý rằng, Đức Giê-su không hề nói các môn đệ hãy thẩm định hay đánh giá xem đối tượng mà các môn đệ trao ban bình an là ai? Họ có phải là con cháu của tổ phụ Áp-ra-ham hay không? Họ có tuân thủ những điều mà lề luật dậy bảo để xứng đáng đón nhận tin vui mà Người mang đến hay không? Họ có phải là tín hữu hay không? Không cần biết họ là ai. Chúng ta chỉ cần biết là họ mở lòng ra đón tiếp. Còn chúng ta vừa bước chân vào nhà của họ thì việc đầu tiên cần làm là trao cho họ sự bình an.

Như vậy, theo tinh thần của bài Tin Mừng hôm nay, mỗi khi chúng ta đến với người khác, việc đầu tiên chúng ta cần làm là tạo bầu khí an bình giữa ta và họ, có nghĩa là trước khi chia sẻ bình an cho người khác thì các môn đệ của Chúa phải có sự an bình trước. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể trao ban bình an cho người khác trong khi lòng mình còn lo lắng quá nhiều về các thứ khác!

Anh chị em thân mến,

Nhìn vào thực trạng của thế giới hiện nay, cho dù có lạc quan đến đâu, chúng ta cũng không thể phủ nhận hiện tại còn rất nhiều nơi cần đến sự an bình của Chúa, dĩ nhiên qua bàn tay và con tim của chúng ta. Khi đối mặt với những bi kịch và thảm họa gây ra bởi chiến tranh và các cuộc khủng bố trên thế giới khiến lòng chúng ta đau nhói. Cũng chỉ vì những bi kịch đó khiến nhiều người phải đi tìm sự sống trong cái chết; họ đã trải qua bao nguy hiểm để tìm chốn an bình.

Thế mà với thân phận của những con người tầm trú, họ lại bị khước từ và hất hủi của thế giới khiến họ lâm vào tình trạng thất vọng. Còn bao nhiêu con người đang bị đau khổ vì là nạn nhân của sự bất công và bị lạm dụng. Trước các hiện tượng có vẻ bi quan như thế cũng làm cho chúng ta cảm thấy mình bất lực và tâm hồn bị tan nát. Làm thế nào để có thể đem an bình đến cho họ đây?

Có quá nhiều nỗi đau và tổn thương cần được chữa lành để cuộc sống được an bình. Vẫn biết là trách nhiệm mà Chúa trao ban cho chúng ta thật cần thiết; nhưng đã nhiều lần chúng ta vịn vào các lý lẽ như: "Làm thế nào chúng ta có thể đối phó thỏa đáng với mầm mống của sự ác và những nỗi đau mà nó gây ra?" Đối với bản thân của chúng ta thì không thể. Chỉ có Chúa mới có thể mang lại cho chúng ta những gì chúng ta cần. Chúa Giêsu ban cho chúng ta Thần Khí của Người và trao bình an cho chúng ta vào buổi sáng Phục Sinh, để chúng ta có thể trở thành sứ giả của an bình.

Như vậy, viêc sai phái Bẩy Mươi Hai môn đệ nhắc nhở và làm sống sứ điệp của Chúa Phục Sinh ban cho các môn đệ và cả chúng ta nữa. Người muốn tặng cho chúng ta món quà này hôm nay và sẽ lưu lại trong cuộc sống của chúng mình luôn mãi. Vì vậy, với con tim an định và một lòng nương tựa vào Chúa, chúng ta sẽ hoàn tất sứ mạng đem bình an mà chúng ta tiếp nhận từ Chúa rồi chia sẻ cho người khác. Hãy đứng dậy bước tiếp để làm chứng nhân cho sự hiện diện của Nước Thiên Chúa và làm cho thế giới của chúng ta đang sống được an bình hơn. Cho dù có ai phải đối diện với các tai ương và những bi kịch trong cuộc sống thì họ vẫn có thể tận hưởng được “bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lu-ca 2:14)

Và trong phần kết thúc, Thánh Lu-ca đã mở ra cho chúng ta một kết cục thật đáng suy nghĩ. Đó là việc nhóm Bẩy Mươi Hai trở về hớn hở, hân hoan và vui mừng báo cáo cho Thầy biết về thành quả mà các ông đã đạt được. Việc làm của các ông đã khiến cho Sa-tan phải sa xuống. Các môn đệ đã chiến thắng thần dữ. Tuy nhiên, đó không phải là điều làm cho các môn đệ vui mừng. Niềm vui của người môn đệ không dựa trên thành quả của công tác và cũng không căn cứ trên con số đông người tham dự để nghe anh em giảng thuyết hay đọc bài anh em viết.

Nhưng, hãy vui lên vì tên anh em đã được ghi trên trời. Tên được ghi trên trời thì không như việc ghi tên trong sổ vàng để mọi người ca tụng; nhưng qua việc ghi tên, Đức Giê-su muốn ám chỉ đến mối tương quan của các môn đệ với Người. Trong Người, với Người chúng ta cùng vui, bởi vỉ niềm vui là dấu chỉ minh chứng cho nhân loại biết rằng Chúa đang hiện diện với chúng ta. Amen! mục lục

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

HÃY VUI MỪNG VÌ TÊN ANH EM ĐÃ ĐƯỢC GHI TRÊN TRỜI

Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai. Ngài hiệp hành đào tạo các môn đệ, cho các ông hiệp thông và tham gia vào sứ vụ cứu độ của mình. Sau đó, Chúa Giêsu sai các môn đệ đi làm nhiệm vụ thu hoạch vì mùa màng đã nở rộ “lúa chín đầy đồng”. Công việc gặt hái lúa đồng là đem bình an đến với muôn người. Chúa Giêsu căn dặn những lời thiết thực cho sứ vụ các môn đệ. Sứ vụ đó là: lời rao giảng làm rộn lên niềm vui: Nước Thiên Chúa đã đến gần anh chị em; lời chào thân thiện: Bình an cho nhà này; hành trang nhẹ tênh: không túi tiền, không bao bị, không giày dép; việc phải làm: chữa lành những người ốm đau; thái độ phải có: khiêm tốn và siêu thoát, đón nhận những gì người ta cung cấp cho, không tìm kiếm tiện nghi, dễ chịu.

1. Hành trang

Hành trang đi đường chỉ là: cây gậy, đôi dép, không mang hai áo. Ý nghĩa ở đây là những kẻ được sai đi phải là những con người thanh thoát, không cồng kềnh nặng nề với của cải vật chất để có thể luôn sẵn sàng lên đường ra đi cho sứ vụ. Chúa Giêsu còn trao cho các môn đệ những quyền năng của Ngài: quyền rao giảng, quyền chữa bệnh, quyền trừ quỷ. Với những hành trang như thế, Chúa Giêsu muốn tỏ cho thấy sự thành công trong hoạt động Tông đồ không do tài lực của con người nhưng là do quyền năng Thiên Chúa.

2. Sứ vụ

Trao “Sứ vụ” cho các môn đệ, Chúa Giêsu không bảo các ông “phải giảng điều gì”. Ngài chỉ căn dặn các ông những chi tiết “phải sống”. Đối với Chúa Giêsu, ra đi làm chứng tá bằng cuộc sống quan trọng hơn chứng tá bằng lời nói.

Trong Tông huấn “Loan báo Tin Mừng”, Đức Thánh Cha Phaolô VI quả quyết ít nhất hai lần rằng, phương thức thứ nhất để rao truyền Phúc Âm chính là làm chứng bằng một cuộc sống Kitô hữu đích thực.

Có ba cách làm chứng: nói, làm và sống. Hiệu năng nhất là cách thứ hai và thứ ba. Ai cũng biết nói thì dễ, làm khó hơn, và sống như mình nói lại càng khó hơn nữa. Chính việc làm và đời sống làm cho lời mình nói đáng tin hơn. Nhưng cả khi người ta chưa nói hay không thể nói, chưa làm hay không thể làm một số điều nào đó, thì người ta đã có thể sống điều mình xác tín và muốn chia sẻ. Vậy để loan báo Tin Mừng thuyết phục, người Kitô hữu phải sống thế nào cho cuộc đời mình trở thành đáng tin. Đời sống đáng tin thì tự nhiên lời nói cũng đáng tin. Làm tông đồ, rao giảng Phúc Âm đặc biệt thích hợp cho ngày nay là làm cho đời sống Kitô hữu đáng tin. Như vậy toàn bộ cuộc sống của chúng ta đều phải “làm chứng”: lời ăn tiếng nói, cách cư xử, giao tiếp, trong gia đình, ngoài xã hội, khi làm việc, khi vui chơi giải trí… Đối với người có ý thức sứ vụ thì việc gì, khía cạnh nào của đời sống, họ cũng có thể là lời loan báo.

3. “Hãy vui mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”

Chúa muốn các môn đệ đem đến mọi nhà sứ điệp này: “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: bình an cho nhà này!” Bình an đến từ thái độ quên mình, sống chan hoà với mọi người. Niềm bình an đến từ sự hiệp thông, có cho đi, có nhận lãnh. Và nhất là, niềm bình an vì được làm con cái Chúa, luôn sống dưới ánh mắt yêu thương của Ngài.

“Họ ra đi, mang hạt giống vãi gieo, lúc trở về, reo vui hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 125, 6). Tác giả thánh vịnh diễn tả thật đúng tâm trạng của 72 môn đệ về những gì các ông đã thực hiện khi vâng lệnh Chúa ra đi loan báo Tin Mừng. Các ông vui mừng hớn hở vì thành quả do sứ vụ rao giảng mang lại. Đồng thời các ông còn cảm nghiệm hiệu quả nhiệm lạ từ quyền năng của Thầy: “Nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng khuất phục chúng con”. Có thể đối với các ông, thành quả của những chuyến “ra khơi”, và những ơn ích do Chúa ân ban mà mắt các ông được chứng kiến là niềm hạnh phúc tột cùng rồi. Thế nhưng, với Chúa Giêsu, đó chưa phải là đỉnh điểm của hạnh phúc. Chúa Giêsu tiếp tục giúp các ông nhận thức tầm quan trọng sâu xa từ những gì các ông đã làm vì danh Chúa cho tha nhân. Đồng thời Ngài cũng khai mở cho các ông biết nguồn gốc quyền năng mà các ông đã có dịp cảm nghiệm, tất cả đều do ân huệ nhưng không của Thiên Chúa muốn qua các ông ban tặng cho con người. Chúa Giêsu còn cho các ông biết rằng, niềm hạnh phúc vĩnh cửu, niềm vui của các ông chính là “tên của anh em được ghi trên trời”. Còn hạnh phúc nào hơn hạnh phúc này, còn thành quả và ân phúc nào hơn đặc ân vô biên mà Thiên Chúa đã ban tặng khi các ông đã chu toàn lệnh truyền của Chúa, đến với muôn dân loan báo Tin Mừng cứu rỗi.

Niềm vui không phải là cuộc chiến thắng kẻ thù, đè bẹp được kẻ chống đối, hay loại trừ được những kẻ bị hoài nghi… mà niềm vui của môn đệ Chúa Giêsu là một đời đã thi hành thánh ý Chúa với trọn tâm tình yêu mến Chúa “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn”, nay được quay về cội nguồn tình yêu, được về Nhà Cha, được về với Chúa.

“Hãy vui mừng vì tên anh em được ghi trên trời”, anh em có một chỗ ở trong cõi vĩnh hằng. Niềm vui không phải chỉ thoáng qua rồi sau đó là những hoài niệm của một thời vang bóng đầy nuối tiếc như ở trần gian. Hạnh Phúc Nước Trời là hạnh phúc vĩnh cửu. Vì chỉ có Thiên Chúa hằng sống mới có thể trao ban hạnh phúc vĩnh cửu. “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,2-3). “Hãy vui mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”. Đó mới là đích điểm của cuộc đời Kitô hữu.

Ngày xưa được khắc tên vào bia đá trên lưng rùa ở Văn Miếu là một vinh dự chỉ dành cho các tiến sĩ, trạng nguyên. Ngày nay được có tên trong từ điển danh nhân thế giới, hay ca sĩ, nhạc sĩ có tên ca khúc nằm trong bảng sắp hạng Billboard, topten là cả một niềm vui lớn… Thường thường bậc trung như phần đông chúng ta thì có lẽ tên chỉ được ghi trên bìa vở, bìa sách cho biết sở hữu chủ, và trong sổ rửa tội, thêm sức, hôn phối, trong sổ hội viên hội đoàn, rồi sổ tử của giáo xứ và cuối cùng, được ghi khắc nơi bia mộ là xong một đời! Lời Đức Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng tên chúng ta còn được ghi trên trời, trong sổ hằng sống của công dân Nước Trời, nhất là được ghi khắc nơi con tim của Thiên Chúa. Hãy reo vui, hãy phấn khởi vì tên của chúng ta đã được ghi ở trên trời, và ngay từ bây giờ rồi! Còn vinh dự nào lớn hơn! Hãy nhớ rằng để tên mình được ghi trên trời thì phải sống như những công dân Nước Trời, với tư cách là chứng nhân môn đệ Đức Kitô, với hiến pháp là Tám Mối Phúc thật, với kim chỉ nam hướng dẫn là Tin Mừng Đức Kitô. Mỗi ngày tôi sẽ xét mình để biết xem ngày hôm nay tôi đã sống xứng đáng là công dân của Nước Trời chưa. (x. tongdosongdao.org).

Hình ảnh tiên trưng được sách Khải Huyền mô tả viễn tượng cánh chung về tên của những người được đóng ấn và ghi vào Sổ Trường Sinh (x. Kh 5,9 và 20, 12.15). Đó là niềm vui vĩnh cửu được Chúa Giêsu chuộc về cho Thiên Chúa. Chúa Giêsu muốn các môn đệ cần vui mừng hơn vì mình được ghi danh trên Trời, Chúa muốn hướng các môn đệ vui mừng hạnh phúc vì được làm con Thiên Chúa. Mầu nhiệm thứ hai năm sự Mừng: “Thứ hai thì ngắm Đức Giêsu lên trời, ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”. Khi hướng lòng về trời cao, chúng ta sẽ biết cách sống thế nào cho phải lẽ khi còn ở dưới đất. Khi nhìn về trời cao chúng ta mới nhận ra giá trị đúng đắn của mọi thực tại trần gian này, và đi đến hành động thế nào cho phải đạo.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con được làm công dân Nước Trời khi chúng con được gia nhập vào Giáo hội của Chúa, xin cho chúng con sống xứng đáng với ân huệ đó, để ngày sau chúng con được Chúa gọi tên trong Sổ Hằng Sống trên Nước Chúa. Amen. mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Ý THỨC TRUYỀN GIÁO

Theo thống kê, thế giới hiện có hơn 7 tỷ người, nhưng chỉ khoảng 1,5 tỷ người Công giáo.

Tại Việt Nam có hơn 90 triệu người nhưng chỉ có khoảng hơn 7 triệu tín hữu Công giáo.

Một cánh đồng truyền giáo còn bát ngát trên mọi phương diện. Vì thế, Hội Thánh của Chúa Kitô vẫn cần mọi tấm lòng của mọi tín hữu Kitô dành hết tâm huyết của mình cho việc mở rộng biên giới Nước Trời tại trần gian.

Chính vì thế, lời Chúa Giêsu: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít” mãi mãi mang tính thời sự, mãi mãi vẫn là lời thúc bách hết sức hiện thực dành cho từng người chúng ta.

Bởi tính cấp bách của sứ vụ truyền giáo, nên ngay sau khi thông báo: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít”, Chúa Kitô vừa căn dặn: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”, vừa phác lệnh: “Các con hãy đi”. Nhưng thật lạ lùng. Lời sai đi của Chúa lại kèm theo lời cảnh báo đáng sợ: “Thầy sai các con như con chiên ở giữa sói rừng…”.

Như vậy, con đường mà Kitô hữu phải bước lên đó để thực hành sứ mạng truyền giáo, không phải là con đường trải thảm, không phải là nhung lụa, càng không bao giờ là con đường mang lại vinh quang, bình an hay lợi lộc theo nghĩa tìm kiếm sự vinh thân, phì da, sung túc cho cuộc sống đời này…

Người môn đệ của Chúa thực hành công tác truyền giáo, sẽ là người quăng mình vào mọi nơi, mọi ngỏ ngách, chỉ có lý tưởng Tin Mừng, lý tưởng tình yêu Chúa Kitô làm lẽ sống. Mang lấy lý tưởng cao cả ấy để ra đi, người môn đệ Chúa Kitô chỉ còn biết hiến thân mình cho công cuộc mang ơn cứu rỗi đến trong tâm hồn con người.

Người môn đệ Chúa Kitô bất chấp tất cả mọi hiểm nguy, mọi bấp bênh, mọi thiếu thốn, mọi bách hại, mọi chống đối, mọi thách thức của hoàn cảnh, của thái độ cứng cõi và lòng người thâm ác… để chỉ băng mình sống chết cho sự nghiệp Tin Mừng mà mình đang cưu mang.

Hình ảnh người môn đệ ra đi truyền giáo như chiên hiền lành giữa bầy sói, khiến chúng ta nhớ lại lời Ðức Gioan Phaolô II, trong chuyến hành hương Lộ Ðức tháng 8.1981, khi nhắc đến những hình thức bách hại đạo tại nhiều nơi trên thế giới:

"Có những tín hữu bị bắt buộc phải hội họp một cách lén lút, bởi vì cộng đoàn tôn giáo của họ không được phép hoạt động. Có những Giám mục, Linh mục, Tu sĩ, bị cấm thi hành chức vụ trong nhà thờ hay tại những nơi công cộng. Có những nữ tu bị phân tán không thể tiếp tục cuộc sống hiến thân của họ. Có những người trẻ quảng đại nhưng không thể thực hiện ơn gọi của họ. Có những tín hữu bị tước đoạt cả quyền có thể tận hiến cho một cuộc sống chung để cầu nguyện và thực thi bác ái. Có những bậc cha mẹ bị người ta khước từ quyền được bảo đảm cho con em một nền giáo dục dựa trên niềm tin của mình..."

Y như lời Đức cố Giáo hoàng, tại Việt Nam đang xảy ra sự chênh lệch quá mức giữa nhu cầu thợ và tính cấp bách của cánh đồng lúa mà chính Chúa Kitô đã nhìn thấy cách đây hơn 2000 năm.

Đó cũng chính là lời cảnh báo về “chiên” và “sói” mà Chúa Kitô, trong khi sai các môn đệ ra đi, đã từng lên tiếng cảnh báo:

Bởi sống giữa một đất nước, tuy chưa phải là quốc gia phát triển về kinh tế, nhưng đã có hiện tượng, người ta đâm đầu chạy theo thói hưởng thụ, càng ngày càng đẩy mạnh lối sống tục hóa, cộng vào đó, những thủ đoạn khuếch trương chủ nghĩa vô thần, thậm chí nhiều nơi còn gây gắt trong việc thực hành đạo của người tín hữu Kitô, đã làm cho gánh nặng về việc truyền giáo như nặng hơn.

Cũng tại Việt Nam, có nhiều khu vực rộng lớn không có một ngôi nhà thờ nào, không tìm thấy một người Công giáo nào. Nhiều nơi khác, một vài người Công giáo phải sống chung phần lớn với những anh chị em chưa nhận biết Chúa.

Thêm vào đó, ý thức về trách nhiệm, về ơn gọi truyền giáo chưa thật sự ăn sâu và cảm nhận đủ nơi tâm tư mỗi Kitô hữu. Nhiều người sống giữa người ngoại giáo, trở thành lai căng, pha trộn, hoặc chối bỏ hẳn đức tin của mình. Rõ ràng, lời kêu gọi của Chúa Giê-su: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít” luôn thiết thực và cấp bách.

Vì thế, vâng lời Chúa và thực hiện chính mệnh lệnh của Chúa: “Các con hãy đi. Này Thầy sai các con như con chiên ở giữa sói rừng…”, là một đòi hỏi can đảm, một đòi hỏi dấn thân không biết sợ thử thách mà tất cả những ai ý thức, hãy cố gắng thực hiện cho bằng được, vì lợi ích của Hội Thánh, lợi ích thiêng liêng của chính đồng bào mình. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

CHÚA GIÊSU SỬA SOẠN NHÂN CHỨNG

Chủ đề “Bình An” được nói tới trong tất cả các bài đọc hôm nay. Đặc biệt bài đọc sách Isaiah (66:10-14c) và Tin Mừng Luca (10:1-12, 17-20) thì liên đới với nhau rõ ràng nhất. Isaiah chúc mừng sự trở về của dân Israel đã được mong đợi từ lâu sau cuộc lưu đầy dài hạn và mường tượng một trở về khải hoàn ở Jerusalem, một Thị Trấn Thánh và là Mẹ của các thị trấn.

Chắc chắn có sự song hành và cả đối nghịch trong bài Tin Mừng hôm nay. Cả bài đọc Isaiah và Tin Mừng Luca đều nói về nỗi vui mừng của dân Israel khi trở về Jerusalem sau cuộc lưu đầy và của các môn đệ sau một sứ mạng thành công. Trong Tin Mừng Luca, Chúa Giêsu, cũng như dân Israel, đều làm cuộc hành trình trở về Jerusalem. Lúc đầu Chúa được dân chúng đón tiếp, tung hô nồng nhiệt, nhưng sau đó lại bị từ chối. Chính tại thị trấn Jerusalem này, Chúa Giêsu sẽ khánh thành tân vương quốc của Thiên Chúa bằng cuộc khổ nạn và cái chết của Người trên thập giá.

SỨ MẠNG CỦA BẢY MƯƠI HAI VỊ THEO CHÚA

Chỉ trong Tin Mừng Luca mới có hai giai đoạn chúa Giesu sai những người theo Chúa đi thi hành sứ mạng: Giai đoạn đầu (Lc 10:1-6) Luca dựa vào Marcô (Mc 6:6b-13) kể lại việc Chúa sai 12 Tông đồ đi làm nhiệm vụ. Rồi, khi thuật lại câu chuyện, Luca (10:1-12) lại dựa vào “Q” [*] và trở thành 72 người đi làm công tác truyền giáo. Giai đoạn này tiếp tục chủ đề Chúa Giêsu sửa soạn nhân chứng cho Chúa và cho sứ vụ của Chúa. Những nhân chứng này không phải chỉ có 12 vị Tông đồ tiên khởi mà là 72 vị là những người có thể đại diện cho sứ mạng Kitô giáo vào ngày đó của Luca. Những chỉ dẫn đưa ra cho 12 Tông đồ và 72 vị thì giống nhau. Những điều dặn dò 72 vị trong Luca 10:4 cũng được nói cho 12 vị trong Luca 22:35.

Chúa Giêsu dặn mọi người khi đi thi hành sứ vụ đừng mang theo tiền bạc, đừng chào hỏi ai dọc đường (Lc 10:4) là Người có ý nhấn mạnh đến sự cấp bách của sứ mạng và điều kiện đòi hỏi của người truyền giáo là tâm trí phải thanh thoát, không vướng bận bất cứ chuyện gì ngoài việc chủ tâm chu toàn bổn phận Chúa trao. Vướng bận tiền bạc, của cải vật chất, tình cảm cá nhân cần phải tránh vì nó làm nhao lãng bổn phận của người tông đồ theo Chúa.

RAO GIẢNG TIN MỪNG VÀ CHỮA LÀNH BỆNH

Luca liên đới việc rao giảng Tin Mừng và chữa lành bệnh được Chúa Giêsu ủy thác cho 12 Tông đồ. Chúa kêu gọi các Tông đồ và sai các ông đi làm công tác mục vụ chữa lành bệnh thể xác và tinh thần cho từng cá nhân, gia đình và cộng đồng. Chúa Giêsu cũng sai 72 người là những vị tiền nhiệm của chúng ta với lời dặn: “Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón thì cứ ăn những gì người ta dọn cho mình, hãy chữa những người đau yếu và nói với họ ‘Vương quốc Thiên Chúa đã đến gần các ông’.”

Khi gửi 72 vị đi, Chúa Giêsu quả quyết qua các môn đệ và những người tin và theo Chúa là bằng an của Chúa và tin lành “Vương quốc Thiên Chúa đang đền gần họ” cũng sẽ được công bố cho toàn thế giới. Khi họ trở về trong hân hoan, dù có lúc bị thiên hạ từ chối, Chúa Giêsu cũng vui mừng vì sự thành công của họ đã nhân danh Chúa khuất phục được ma quỉ. Sứ điệp không bao giờ ngừng, không bao giờ bị bỏ dở. Tuy nhiên lời kêu gọi thống hối cũng là một phần của lời tuyên bố về vương quốc Thiên Chúa sẽ mang đến phán xét nặng nề cho những ai được nghe lời đó mà từ chối. Khi vương quốc Thiên Chúa được từ từ thiết lập thì ác quỉ dưới mọi hình thức sẽ bị đánh tan và sự thống trị của satan trên loài người cũng sẽ kết thúc.

TUYÊN BỐ LỜI CHỮA LÀNH BỆNH

Đối với Chúa Giêsu, chữa lành bệnh không chỉ là chữa bệnh thể xác mà còn chữa lành cả bệnh tâm hồn. Nó không chỉ làm cho thân xác con người được khỏe mạnh hơn mà còn toàn thể tâm hồn, tội lỗi được tha thứ và thế giới được chữa lành. Chính sự tuyên bố về Lời có nghĩa là chữa lành và nó không thể tách rời khỏi nỗi ưu tư về những người anh em huynh đệ láng giềng. Khi chúng ta chia sẻ bữa ăn với người xa lạ, như 72 vị Tông đồ tiền nhiệm của chúng ta đã làm, là chúng ta đã thiết lập tình liên đới với tha nhân, mối ưu tư của chúng ta về sức khỏe và hạnh phúc của mọi người sẽ trở nên xâu xa thắm thiết hơn. Khi chúng ta từ bỏ lợi ích cá nhân của mình và chú ý đến những nhu cầu chữa lành của tha nhân là chúng ta tái tạo giao ước của Chúa nơi những người đã từ chối cơ hội chữa lành bệnh.

Chữa lành luôn luôn bao hàm ý nghĩa ưu tư đặc biệt và tiếp tục hoạt động của Giáo Hội. Sự liên đới giữa hòa giải, chữa lành và cứu chuộc là những đề tài thường được lặp đi lặp lại trong Luca. Chúa Giêsu đã kêu gọi những người theo Chúa phải thống hối và cải đổi tận gốc rễ những thái độ và cách sống cũ thành nếp sống mới về tình liên đới và thái độ tốt lành thánh đức.

VUI MỪNG TRONG CHÚA THÁNH THẦN

Luận giải về bài Phúc Âm hôm nay, Đức Gioan Phaolô II, trong tông thư 1986 Dominum et Vivificantem (về Chúa Thánh Thần trong đời sống của Giáo Hội và Thế Giới) đã viết ở đoạn #20: “Vậy thánh sử Luca là người đã trình bày Chúa Giêsu như ‘tổng thể Chúa Thánh Thần’ và ‘được Chúa Thánh Thần dẫn… vào hoang địa’ đã nói với chúng ta là, sau khi 72 môn đệ làm xong công tác Thầy mình trao phó trở về, trong lúc các ông vui mừng kể lại những thành tích của công việc mình làm, thì đồng thời Chúa Giêsu cũng hân hoan vui mừng trong Chúa Thánh Thần và nói: “Thưa Cha là Thiên Chúa trên trời dưới đất, con cảm tạ Cha, Cha đã che dấu những việc này với những người khôn ngoan hiểu biết, nhưng lại biểu lộ cho những trẻ thơ nhỏ bé. Thưa Cha, đó quả là vì ơn ý chí của Cha.’” Chúa Giêsu vui mừng tình cha con của Thiên Chúa. Người vui mừng vì đã khám phá ra được tình cha con này. Sau cùng, Người vui mừng vì tình cha con của Thiên Chúa đã đổ tràn đầy trên những kẻ ‘nhỏ bé’. Thánh sử đã diễn tả tất cả những điều này như là ‘niềm vui mừng trong Chúa Thánh Thần.’”

TIẾP TỤC SUY NIỆM VỀ ĐẤT THÁNH

Sau Công đồng Nicea năm 325, Palestine bắt đầu phát triển với những thánh đường của Constantine, đặc biệt ở ba địa danh rất đáng kính là Nhà Mồ Thánh và đồi Calvary / Núi Sọ ở Jerusalem, địa danh truyền thống, nơi Chúa Giêsu từng giảng thuyết ở đồi Olives (còn gọi là Vương Cung Thánh Đường Eleona) và Hang Đá nơi Chúa Giáng Sinh ở Bethlehem. Một số công trình này đã được trông nom săn sóc bởi chính từ mẫu Helena.

Đối với những người hành hương về Palestine vào thế kỷ IV, những địa danh này đã là những trung tâm được họ ưa thích nhất. Những thánh địa này đã trở nên quá phổ thông và được mọi người ưa thích đến độ Jerusalem, nhất là đồi Golgotha, một trong những thánh địa truyền thống Kitô giáo, đã trở thành trung tâm của thế giới. Điều này thấy rõ ràng trên nhiều bản đồ cổ xưa về Đất Thánh từ thời kỳ đó. Năm 333, một Kitô hữu đã thực hiện một cuộc hành hương từ Bordeaux đi Jerusalem bằng đường bộ. Để nhớ lại, và có lẽ vì lợi ích cho những người hành hương trong tương lai nhiều hơn, ông ta đã thu thập mọi chi tiết về những trạm dừng chân và chiều dài đường đi và đường về rồi ghi lại trong một tập tài liệu quan trọng của ông ta gọi là Lộ Trình Hành Hương Bordeaux.

BÊN TRONG THỊ TRẤN JERUSALEM

Thánh Cyril, giám mục Jerusalem (349-384 A.D.) đã được một đặc ân độc đáo là đứng đầu hội thánh ở Jerusalem ngay sau khi hoàn thành tòa nhà mới đã được khởi công xây cất từ thời Constantine. Địa vị của Cyril lúc đó đã là một thèm muốn / ước mơ của tất cả các giám mục, mục tử, linh mục, hội đồng hàng xứ, hội đồng tài chánh, thừa tác viên mục vụ. Hãy thử tưởng tượng cảm giác bạn sẽ thế nào khi bước vào một tòa nhà rộng lớn, đẹp đẽ huy hoàng tráng lệ tuyệt vời vừa mới xây xong mà không có vốn cũng không phải vận động xin tiền! Cyril đã giảng một bài tuyệt hảo ngay tại nơi Chúa Kitô chịu chết và sống lại. Ngài nói về Calvary: “Những người khác chỉ nghe nói, nhưng chúng ta vừa nhìn thấy lại sờ vào được nữa.” Cyril viết: “Ở đây, trong thị trấn Jerusalem này, Thần Linh Chúa đã đổ tràn đầy ơn xuống cho giáo hội; ở đây, Chúa Kitô đã bị đóng đinh trên thập giá; ở đây, quí vị thấy biết bao nhiêu là nhân chứng hiển hiện ngay trước mặt quí vị, địa danh nơi Chúa phục sinh và ngọn đồi Olives về hướng Đông nơi Chúa lên trời.”

Trong nhật ký, bà Egeria (Etheria), một phụ nữ giầu có người Y Pha Nho đã ghi lại những diễn biến cuộc hành hương của bà đi về Đất Thánh khoảng giữa những năm 381-384. Lộ trình hành hương gồm có Sinai, Ai Cập, thung lũng Jordan và xuyên suốt cả vùng Jordan. Chúng ta đọc thấy không chỉ những cảm tưởng sống động bà ta ghi lại về những địa danh kinh hánh còn nguyên vẹn, mà cả những quan sát sống động của bà về những nghi thức phụng vụ được thi hành ở các đền thánh. Bà đã tả rất chi tiết những buổi lễ Chúa Nhật và ngày thường qua suốt cả năm phụng vụ, đặc biệt bà chú trọng đến những lời kinh trong Tuần Thánh mà chính bà đã tham dự tại Jerusalem. Qua bản lộ trình hành hương của bà, chúng ta cũng được biết bà đã tận hưởng các cuộc tiếp đãi rất nồng hậu và thân ái của những Kitô hữu địa phương. Họ giúp bà tất cả mọi nhu cầu cần thiết cho một người hành hương, chỉ cho biết những chỗ có liên hệ đến kinh thánh, hướng dẫn những cử chỉ thờ lạy thích hợp ở từng nơi, đi theo bà, tiếp đãi, giúp đở và cố vấn bà những điều cần thiết. Những kinh nghiệm tích cực của bà Egeria có thể là những kinh nghiệm rất quí được chia sẻ bởi đa số những người hành hương vào cuối thế kỷ IV và của những người hành hương thời nay đã có may mắn được tiếp xúc với người dân địa phương nơi Đất Thánh.

NHỮNG NGƯỜI MUỐN ĐỊNH CƯ TẠI ĐẤT THÁNH

Chúng ta cũng nhận thấy có một cử chỉ thực hành đạo đức liên quan đến những cuộc hành hương nơi Đất Thánh. Một số khách hành hương đã quyết định đi về Đất Kinh Thánh đề sống, hoặc trong thời gian lưu lại đó đã đổi ý nhất định ở lại. Đây là trường hợp thánh Jerome và những người bạn gái của ông. Sau khi đã đến Palestine vào năm 386, ông đã thiết lập một cộng đồng tại Bethlehem. Jerome đã kêu lên trong bài viết của ông: “Ở đây, Người đã được bọc trong tấm vải thô; ở đây, những kẻ chăn chiên đã được nhìn thấy Người; ở đây, Người đã được tỏ lộ ra qua các vì sao; ở đây, Người đã được ba vua thờ lạy.” Jerome sau này đã viết cho Paula, bạn ông ở Rome, thúc dục bà hãy về Đất Thánh mà sống. Thánh nhân viết: “Tất cả màu nhiệm niềm tin của chúng ta đều được sinh ra ở xứ sở này và nơi thị trấn này.”

Thực không có gì khác ngoài kinh nghiệm Kitô giáo có thể khiến thánh nhân thốt ra những lời như vậy. Không cần biết đã bao nhiêu thế kỷ qua đi, không cần biết Kito Giáo đã được lan truyền sâu rộng thế nào, người Kitô hữu quả đã kết hợp với Đất Thánh là nơi nảy sinh ra Chúa Kito và Kitô Giáo.

Bs. Nguyễn Tiến Cảnh

--------------------------------------

[*] “Q” là tên tập tài liệu góp nhặt lại những lời được coi là Chúa Giesu nói đã được lưu truyền ở thế kỷ I và được Luca và Mathieu dùng. Giả thuyết Q đầu tiên được khai triển bởi những học giả người Đức như một thành tố của một lý thuyết có 2 nguồn gốc ở thế kỷ XIX, giải thích cho vấn đề của các phúc âm nhất lãm, trong đó Marcô là Phúc Âm đầu tiên (và có lẽ là đáng tin cậy nhất khi diễn tả mục vụ của Chúa Giêsu) và Q  là nguồn những lời Chúa nói  lúc sơ khởi. Tên Q là từ tiếng Đức Quelle có nghĩa là “nguồn”. Giả thuyết Q cắt nghĩa:

1/Đồng ý có rất nhiều giảng huấn của Chúa Giêsu thấy trong cả Mathieu lẩn Luca, nhưng không thấy trong Marcô (do đó đôi khi người ta gọi Q là “truyền thống nước đôi”).

2/Tại sao sự tiếp nối của lời Chúa trong Mátthêu phần lớn lại đi theo Luca, và

3/Tại sao Máthêu đặc biệt lại có những lời nói 2 mặt td cùng một lời nói mà một thì lấy từ Marco, một từ Q. Cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu về Q, nhưng cắt nghĩa thì có vẻ vẫn chưa đồng ý với nhau lắm, nhất là từ cuối thập niên 1960 khi có phong trào phê bình chỉ trích và khám phá ra Phúc Âm của Thomas vào năm 1947…

--------------------------------
 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Báo công giáo
http://www.giaoxugiaohovietnam.com/
Giáo phận long xuyên
Chuyen ke cho cac gia dinh
Chuyện kể cho các gia đình
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây