Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 15-C Bài 151-197 Người Samaria nhân hậu

Thứ sáu - 08/07/2022 22:33
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 15-C Bài 151-197 Người Samaria nhân hậu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 15-C Bài 151-197 Người Samaria nhân hậu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 15-C Bài 151-197 Người Samaria nhân hậu
---------------------------------------

TN 15-C151: Sự sống đời đời 2
TN 15-C152: Có xót thương mới được cứu độ. 4
TN 15-C153: Cử chỉ đẹp của người môn đệ Chúa. 7
TN 15-C154: NGƯỜI THÂN CẬN.. 11
TN 15-C155: TIN YÊU LÀ THẾ.. 13
TN 15-C156: CON ĐƯỜNG SỐNG HẠNH PHÚC.. 15
TN 15-C157: AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN.. 17
TN 15-C158: CHÚNG TA ĐANG KẾT THÂN VỚI AI?. 19
TN 15-C159: HÃY ĐI VÀ LÀM NHƯ VẬY.. 21
TN 15-C160: HÌNH BÓNG TÔI 23
TN 15-C161: CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN_C. 24
TN 15-C162: YÊU BẰNG VIỆC LÀM... 26
TN 15-C163: CHUYỆN BỐN NGƯỜI 30
TN 15-C164: LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH.. 34
TN 15-C165: TRỞ NÊN NGƯỜI THÂN CẬN.. 36
TN 15-C166: YÊU THƯƠNG MỌI NGƯỜI 38
TN 15-C167: ĐỨC KITÔ LÀ TỘT ĐỈNH VÀ SỰ KIỆN TOÀN LỀ LUẬT.. 40
TN 15-C168: TÌNH YÊU, CỐT LÕI CỦA KITÔ GIÁO.. 42
TN 15-C169: HÀNG XÓM... 44
TN 15-C170: SỐNG ĐỜI 45
TN 15-C171: NGƯỜI TRONG BỐN BỂ THẬT LÀ ANH EM... 47
TN 15-C172: HÃY ĐI VÀ LÀM NHƯ VẬY. 50
TN 15-C173: TÌNH YÊU KHÔNG BIÊN GIỚI 52
TN 15-C174: TRÁI KHOÁN.. 62
TN 15-C175: CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN_C.. 68
TN 15-C176: HÃY ĐI VÀ LÀM NHƯ VẬY.. 70
TN 15-C177: NGỤ NGÔN VỀ TÌNH YÊU.. 72
TN 15-C178: TÔI LÀ ANH EM CỦA AI?. 74
TN 15-C179: CHIÊM NGẮM LÀM SAO, YÊU LÀM VẬY.. 76
TN 15-C180: TRẢ NỢ LÒNG THƯƠNG XÓT.. 78
TN 15-C181: ĐỂ ĐƯỢC SỐNG ĐỜI ĐỜI 82
TN 15-C182: AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN?. 85
TN 15-C183: LÒNG THƯƠNG XÓT PHÁT XUẤT TỪ TRÁI TIM... 89
TN 15-C184: BÀI HỌC YÊU THƯƠNG.. 92
TN 15-C185: CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN_C.. 94
TN 15-C186: NGƯỜI SAMARITANÔ NHÂN HẬU, 96
TN 15-C187: NGƯỜI THÂN CẬN.. 101
TN 15-C188: CÂU CHUYỆN NGƯỜI SAMARITANÔ TỐT LÀNH.. 104
TN 15-C189: “…HÃY ĐI và THỰC THI LÒNG THƯƠNG XÓT!”. 110
TN 15-C190: AI CŨNG LÀ NGƯỜI THÂN CỦA TÔI 111
TN 15-C191: TƯ TẾ, LÊVI LÀ AI?. 115
TN 15-C192: Ai là người Samari nhân hậu?. 118
TN 15-C193: Hãy đi và làm như vậy. 121
TN 15-C194: Lề luật của Đức Kitô. 125
TN 15-C195: Suy niệm của Lm Anfonso. 128
TN 15-C196: Tôi đã để đi qua. 130
TN 15-C197: Hãy đi và làm như vậy. 133

----------------------------

 

TN 15-C151: Sự sống đời đời


(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.)

 

Thiên Chúa đã ban luật cho người Do Thái qua Môsê; Thập giới là quà tặng rất đặc biệt của Thiên TN 15-C151


Thiên Chúa đã ban luật cho người Do Thái qua Môsê; Thập giới là quà tặng rất đặc biệt của Thiên Chúa cho dân Người. Thập giới bảo vệ con người. Thập giới ngăn cản người ta xúc phạm con người: không cho người con bất hiếu xúc phạm cha mẹ sinh thành ra mình, không cho mình dùng thân xác người khác và ngay cả thân xác mình cho những thỏa mãn bất chính. Luật Thiên Chúa giúp con người sống hạnh phúc. Nếu một người không sống theo thập giới, người đó không thể hạnh phúc thực sự, vì người đó không triển nở và tự do thật sự.

Thập giới, là mười lời của Thiên Chúa. Lời Chúa không ở đâu xa. “Mệnh lệnh đó không ở bên kia biển, khiến anh em phải nói: ai sẽ sang bên kia biển lấy về cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành. Thật vậy, lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (Dnl.30, 13-14). Luật Thiên Chúa, bảo vệ quyền căn bản của con người. Vi phạm thập giới, là vi phạm nhân quyền.

Mười điều răn của Thiên Chúa tóm lại trong hai điều: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình” (Lc.10, 27; Dnl.6, 5; Lv.19, 18). Ai là người thân cận tôi? Ai là người tôi phải yêu thương? Dụ ngôn Đức Yêsu nói trả lời người thông luật, cho thấy những người cần tôi là những người thân cận của tôi, là những người cần tôi yêu thương. Tôi phải yêu thương tất cả những người cần tôi yêu thương và giúp đỡ. “Ai yêu thương, là ở trong Thiên Chúa; ai không yêu thương, là không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga.4, 8.16).

Đức Yêsu trước khi chịu khổ hình, Ngài đã nói: “Thầy để lại cho anh em một giới răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau. Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga.13, 34-35). Mỗi người phải yêu thương, không chỉ là yêu thương người khác như chính mình nữa, mà yêu thương tha nhân như Đức Yêsu đã yêu thương con người. Đức Yêsu là mẫu mực sống, Đức Yêsu đã yêu thương con người đến hiến mạng sống cho con người, và chúng ta được mời gọi sống yêu thương như Ngài.

Người thông luật trong tin mừng Luca không hỏi Đức Yêsu về lề luật, nhưng hỏi Ngài về sự sống đời đời: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Đức Yêsu trả lời: “Trong luật viết gì?… Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.” Sống yêu Chúa yêu người, người ta sẽ được sự sống đời đời. Sự sống đời đời không chỉ hệ tại ở đời sau, nhưng còn ngay ở đời này nữa. Khi sống yêu thương, người ta sẽ được sống không chỉ ở đời sau nhưng ngay giây phút hiện tại này. Yêu thương, làm người ta hạnh phúc. Thiên Chúa là tình yêu, Ngài là sự sống.

Đức Yêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể. Thiên Chúa đã trở nên một con người như mỗi người chúng ta. Ngài đã sống nghèo, nên nghèo không là mối họa, không là điều bất hạnh. Có bao nhiêu người giầu bất hạnh và muốn đi tìm cái chết. Điều làm con người hạnh phúc, không phải là tiền bạc. Đức Yêsu bị người ta hiểu lầm, bị người ta coi thường, nhưng Ngài vẫn an bình thanh thoát, vì Ngài không đặt việc được người ta coi trọng là một giá trị tuyệt đối. Ngài luôn sống thật với chính mình, vì Thiên Chúa là trên hết đối với Ngài, nên Ngài tự do với tất cả. Ngài chỉ tìm ý Thiên Chúa để thực thi, vì Ngài biết Thiên Chúa luôn muốn điều tốt cho Ngài.

Con người thường hiểu sai, cho rằng tiền bạc, danh vọng chức quyền, làm người ta hạnh phúc, nên người ta đã miệt mài đi tìm tiền bạc danh vọng chức quyền. Chính khi đi tìm những điều đó, người ta coi thường nhau, chà đạp lên nhau, tước đoạt quyền lợi của nhau, đôi khi hủy diệt cả mạng sống của nhau. Những điều này làm con người bất hạnh. Đức Yêsu tới như một giá trị, và cuộc sống của Ngài cũng là một giá trị vì nó là mẫu cho tất cả mọi người. Ngài dạy con người biết rằng nghèo là một mối phúc, sự bị coi thường và ngay cả sự xỉ nhục, cũng có thể giúp người ta nhận thức rõ hơn về chân tướng của mình, để rồi con người khiêm tốn, và được bình an. Đức Yêsu bình an thanh thoát trong mọi trường hợp, Ngài luôn kết hiệp với Thiên Chúa trong cầu nguyện, trong hành động, trong khao khát.

Sống trên đời, thường gặp bao trái ý, thường phải đương đầu với bao cạnh tranh, chà đạp nhân phẩm, làm sao con người sống hạnh phúc? Đức Yêsu đã gặp tất cả những điều đó, Ngài đã sống tất cả những điều đó trong tâm tình khiêm tốn, phó thác tất cả cho Thiên Chúa, tin rằng Thiên Chúa yêu thương mình. Ngài chỉ biết yêu thương, Ngài thương cảm trước nỗi khổ của con người, động lòng thương ngay cả khi con người phạm tội. Ngài sẵn sàng tha thứ cho tội nhân, Ngài là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa cho con người.

Đức Yêsu có sự sống đời đời ngay trên dương thế này. “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.” Đức Yêsu là tình yêu và lời mời gọi của Thiên Chúa cho tất cả và từng người. Hãy bắt chước Đức Yêsu, hãy sống theo Đức Yêsu. Khi sống theo gương mẫu Đức Yêsu, người ta được bình an hạnh phúc từng ngày, và người ta sẽ được sự sống đời đời. Sự sống đời đời, hạnh phúc đời đời, đang được khởi đầu ngày hôm nay và ngay bây giờ.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Luật Thiên Chúa, cụ thể là thập giới, bảo vệ con người hay làm con người trở nên nô lệ? Xin cho biết tại sao bạn suy nghĩ và có lập trường như vậy?
2. Bạn có ao ước sự sống đời đời không? Đây có là ao ước hàng đầu của bạn không? Tại sao?
3. Theo Đức Yêsu, làm gì thì được sự sống đời đời làm gia nghiệp?

--------------------------------

 

TN 15-C152: Có xót thương mới được cứu độ


(Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển)

"Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?" (Lc 10, 25).

 

Đây là câu hỏi của nhà thông luật trong bài Tin Mừng hôm nay và cũng là tiếng vọng được vang TN 15-C152


Đây là câu hỏi của nhà thông luật trong bài Tin Mừng hôm nay và cũng là tiếng vọng được vang lên từ trong sâu thẳm của con người ở mọi nơi và mọi thời. Tuy nhiên, muốn có sự sống đời đời cần phải có ý ngay lành và phải thực thi đức ái trong lòng mến thì mới hy vọng đạt được.

Hôm nay, Đức Giêsu đã vạch ra con đường đưa tới sự sống ấy qua dụ ngôn người Samari nhân hậu. Qua đó, Ngài cũng mời gọi mỗi người hãy xót thương như thế thì sẽ được sự sống đời đời làm gia nghiệp.

1. Bối cảnh câu chuyện

Khởi đi từ câu chuyện giữa Đức Giêsu và người thông luật: ông này lên tiếng hỏi: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?" (Lc 10, 25). Dựa trên những hiềm khích sẵn có, nên câu hỏi này không phải xuất phát từ ý hướng ngay lành, nhưng nó là một sự gài bẫy để như một cái cớ nhằm cơ hội đánh bại Đức Giêsu nếu Ngài bị lỡ lời! Điều mà ông ta mong mỏi, đó là hy vọng Đức Giêsu sẽ đưa ra một mớ lý thuyết, một lô nghi lễ và dày đặc những nguyên tắc để trả lời!!! Tuy nhiên, Đức Giêsu đã tước lấy vũ khí ngay trong tay đối phương khi Ngài hỏi ngược lại vấn đề: "Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?" (Lc 10, 26). Người thông luật đã trả lời cách chính xác: “Yêu mến Thiên Chúa và yêu người thân cận như chính mình” (x. Lc 10,27). Nghe xong, Đức Giêsu đã dạy cho ông ta một bài học sống động ngay trên chính câu trả lời của ông, Ngài nói: "Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống" (Lc 10, 28).

Chính câu hồi đáp này đã làm cho người thông luật chưng hửng và thất bại. Bởi lẽ, câu hỏi của Đức Giêsu đã làm đảo lộn tình thế. Từ chỗ Ngài là đối tượng để gài bẫy, đến chỗ chính cái bẫy ấy đã tố cáo và vạch trần những điều ám muội bởi lương tâm đê tiện của nhóm thông luật mà ông là người đại diện.

Thấy được lối sống hình thức của nhà thông luật, nên Đức Giêsu mới kể cho ông nghe dụ ngôn về người Samari nhân hậu.

Câu chuyện ấy là: một người đi từ Giêrusalem xuống Giêrikhô. Bất ngờ anh bị bọn cướp tấn công. Khiến anh ta nửa sống nửa chết. Có một thầy Lêvi đi qua, ông trông thấy rồi bỏ đi. Một Tư tế cũng lựa chọn như vậy. Nhưng người Samari trông thấy, ông đã chạnh lòng thương và ra tay cứu giúp.

Tưởng cũng nên biết thêm: Giêrusalem cao cách mặt nước biển 766 mét. Trong khoảng 32 km, con đường này đã đổ dốc tới 1.200 mét. Từ Giêrusalem xuống Giêrikhô có rất nhiều đèo và đường xá chật hẹp, quanh co, khúc khửu. Đây là điều kiện thuận lợi cho bọn cướp hoành hành. Vì thế, người ta thường gọi đoạn đường này là “con đường máu”, ai muốn được an toàn khi đi trên con đường này thì hoặc là đi thành từng đoàn hay phải tính giờ để về nhà lúc mặt trời chưa lặn.

2. Ý nghĩa câu chuyện

Khi kể cho nhà thông luật câu chuyện trên, Đức Giêsu muốn vận dụng nó vào trong bối cảnh cụ thể, nhằm dạy cho ông ta một bài học sống động về việc thi hành luật.

Để hiểu sâu sắc ý nghĩa của nó, chúng ta cùng phân tích ý nghĩa của từng nhân vật.

Trước tiên là khách bộ hành: vị khách này không được Đức Giêsu nói rõ là ai, hình dạng ra sao hay thuộc dân tộc nào, mà chỉ nói là người lữ khách lâm nạn. Nhưng cứ theo sự thường thì có lẽ là người Dothái và ông ta phải là một người rất liều lĩnh. Bởi vì chỉ đi có một mình mà lại mang nhiều tư trang hành lý. Vì thế, ông ta bị cướp và bị đánh đập là lẽ đương nhiên trên con đường đầy nguy hiểm này.

Tuy nhiên, điều đáng nói là hình ảnh của những người đi đường khi trông thấy người lâm nạn.

Trước tiên là thầy Tư tế: ông ta trông thấy nạn nhân nằm quằn quại bên lề đường. Nhanh tay, nhanh mắt, thầy Tư tế đã tránh sang một bên và bỏ qua. Có lẽ vị tư tế này không dám đụng vào nạn nhân vì sợ bị ô uế bởi Luật. Vì trong Luật có chép rằng: nếu ai đụng vào người đã chết thì bị ô uế đến 7 ngày (x. Ds 19,11). Vì thế, có thể ông ta suy diễn: nếu giúp đỡ người bị nạn, ông sẽ không còn thanh sạch để xứng đáng tế lễ, và đương nhiên ông bị mất phiên phục vụ trong đền thờ! Như vậy, thầy Tư tế này đã có lựa chọn: ông ta đặt lễ nghi trên tình thương. Đền thờ và nghi lễ đã làm cho lòng trắc ẩn của ông bị đóng khung bởi luật.

Thứ đến là thầy Lêvi: cũng cùng một lựa chọn như thầy Tư tế, nên ông đã ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi khổ đau của người gặp nạn. Tuy chỉ là người giúp việc cho thầy Tư tế. Bổn phận của ông cũng theo đó mà nhẹ nhàng hơn. Thế nhưng, ông không dám đụng vì sợ liên lụy, nên đã “đào vi thượng sách” cho an thân.

Cuối cùng là người Samari: ông cũng thấy người gặp nạn như thầy Tư tế và Lêvi. Nhưng, thay vì tránh né, phủi tay, ông đã chạnh lòng thương và đến để cứu giúp người lâm nạn.

Kết thúc câu chuyện, Đức Giêsu lên tiếng hỏi: “Ai là người thân cận của người gặp nạn?” (x. Lc 10, 36). Nhà thông luật trả lời: "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy". Đức Giêsu bảo ông ta: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy" (Lc 10, 37).

3. Sứ điệp Lời Chúa

Có lẽ khi đọc qua câu chuyện trên, nhiều người trong chúng ta không khỏi bức xúc và buông những lời chỉ trích nặng nề đến những người đã vô tâm và lạnh lùng không giúp đỡ người lâm nạn. Đồng thời không ngớt trầm trồ khen ngợi người Samari nhân hậu.

Tuy nhiên, nếu suy niệm dưới ánh sáng đức tin và dưới cái nhìn liên đới, hẳn chúng ta thật bỡ ngỡ vì những hình ảnh và lựa chọn của thầy Tư tế và Lêvi trong câu chuyện trên lại đang tiếp diễn nơi những hành vi và lựa chọn của chúng ta. Còn tấm lòng và nghĩa cử nhân ái của người Samari lại quá xa vời trong đời sống đạo của mỗi người!

Vì thế, không lạ gì khi chúng ta vẫn thấy đây đó sự dửng dưng, vô cảm và thiếu vắng lòng thương xót ngay tại những trung tâm tôn giáo với nhiều lễ nghi tối ngày... Hay vẫn còn đó biết bao người đói khát, rét mướt, không nhà cửa ngay tại những trung tâm thành phố sầm uất, tráng lệ. Hoặc biết bao trẻ em mồ côi, người già neo đơn không nơi nương tựa đang ngày đên cầu cứu tại các chợ trời, gầm cầu!!!

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta: dù là ai, làm việc gì, trong đạo hay ngoài đời, ngôn hành phải đồng nhất. Nếu chỉ tập trung lo tổ chức lễ nghi hay sự kiện nhằm mục đích “võ sĩ dương oai” mà quên đi việc thăng tiến con người, nhất là người nghèo, khổ đau, bị gạt ra bên lề xã hội, thì tất cả mọi chuyện chúng ta làm chẳng khác gì một tay hề trên sân khấu tôn giáo! Điều đáng nói, đó là: chúng ta sẽ phải trả lời trước Vị Thẩm Phán chí công, giàu lòng thương xót trong ngày chung thẩm về đức ái mà mình có với tha nhân chứ không phải là những thành công nơi những công trình hay lễ nghi bề ngoài. Mặt khác, nếu vì kiêu ngạo mà bám víu vào một mớ kiến thức rồi đưa ra những khái niệm, định nghĩa để phân tích phải - trái, nhưng không hề có lòng xót thương như người Samari, thì chắc chắn ơn cứu độ sẽ vuột mất ngay trong tay chúng ta. Hãy nhớ lại lối sống giả nhân giả nghĩa và kết cục bi đát của Giuđa để làm bài học cho chính mình!

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho cho chúng con có được tấm lòng thương xót như người Samari, để khuôn mặt xót thương của Thiên Chúa được hiện tại hóa nơi hình ảnh và hành vi của mỗi chúng con. Được như thế, chúng con mới hy vọng có được sự sống đời đời. Amen.

-----------------------------

 

TN 15-C153: Cử chỉ đẹp của người môn đệ Chúa


(Suy niệm của Huệ Minh)

 

Ngày mỗi ngày trên và qua các phương tiện truyền thông xã hội, chúng ta đọc được nhiều bản tin TN 15-C153


Ngày mỗi ngày trên và qua các phương tiện truyền thông xã hội, chúng ta đọc được nhiều bản tin. Nhiều bản tin chúng ta vừa xem và vừa tức như hai chữ “tin tức” ghép lại. Nhiều khi tức vì chẳng hiểu sao con người này hôm nay tỏ ra vô cảm trước những khổ đau, hoạn nạn của người khác đến như vậy.

Dụ ngôn người Samari nhân lành trong Tin Mừng hôm nay (Lc 10,25-37) chúng ta thấy thầy Tư tế và thầy Lêvi tuy là những người đạo đức của đạo Dothái nhưng lại là những người vô cảm trước người bị cướp đánh dọc đường.

Chúa Giêsu muốn cảnh báo chúng ta đừng bắt chước hai con người ấy, mà hãy làm như người Samari nhân lành, tuy là người ngoại đạo nhưng lại cứu giúp người gặp hoạn nạn trên đường. Người Samari nhân lành lành chính là mô hình mẫu của mọi Kitô hữu.

Thật vậy, với tất cả tâm tình đó, Tin Mừng hôm nay chỉ muốn làm nổi bật cái tư cách dễ thương của người Samari nhân hậu.

Ta thấy hình ảnh rất đẹp khi ông ta xuống ngựa và đến cúi xuống trên con người đang nằm quằn quại trên vệ đường. Ông chẳng để ý xem kẻ bất hạnh đây là ai? Là người Giuđa hay Samaria. Hai dân này vẫn coi nhau như cừu địch. Ông chỉ thấy đây là một kẻ bất hạnh, một con người như mình mà lại không được như mình. Và ông thấy bổn phận phải yêu thương người ấy như chính mình. Thế nên ông đổ dầu, đổ rượu vào các vết thương, băng bó mau lẹ, vực người ấy lên ngựa, phóng mau đến quán trọ gần nhất. Sau khi thuốc thang cho người ấy đỡ, ông giao lại cho chủ quán săn sóc và dặn rằng khi trở về ông sẽ trang trải mọi phí tổn.

Như vậy ai là kẻ cận thân, gần gũi với người bị nạn, nếu không phải là người Samaria nhân hậu này, mặc dù ông ta không cùng nòi giống và tôn giáo với người kia? Ðang khi hai thầy tư tế và Lêvi vừa là người Do Thái vừa là bậc dạy đạo đức lại coi kẻ đồng đạo, đồng bào là kẻ xa lạ… Chính những hành vi bác ái làm chứng ai thật là kẻ có lòng nhân? Ai là người nhân hậu? Ai mang bản tính nhân loại trong mình? Ai là người thật vì đã cư xử xứng đáng với nhân phẩm? Thế nên Chúa Giêsu kết luận: hãy đi và làm như vậy. Và tác giả Luca còn ngầm nói rằng: và như vậy rõ ràng Chúa không ưa lễ dâng, nhưng tìm lòng thương xót; và chính tình thương sẽ xóa bỏ được hận thù để làm cho những kẻ trước đây xa lạ trở nên cận thân và gần gũi.

Giáo huấn của Chúa Giêsu không khác Luật của Cựu Ước… và luật của mọi tôn giáo lớn. Sứ điệp của Đức Giêsu nhân bản một cách sâu xa. Yêu thương là luật nền tảng của con người.

Nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu cho câu hỏi: “Ai là người thân của của tôi?” sẽ hướng chúng ta về cái mới mẻ thật sự có tính cách mạng của Tin Mừng. Đây là một tình yêu phổ quát, yêu thương cả “kẻ thù” mình.

Tác giả làm cho cuộc đối thoại nên phức tạp hơn, vì không đặt trực tiếp câu trả lời trên môi Chúa Giêsu, nhưng lại để Người trả lời bằng hai câu hỏi, với mục đích kéo người đối thoại vào trong cuộc. Cách đối thoại này diễn tả rất tốt khung cảnh của một dụ ngôn, là nhắm giúp triển khai tiệm tiến cuộc đối thoại và đào sâu việc giải thích điều răn.

Vị thông luật không hỏi để biết điều mà hẳn là ông không biết, nhưng hỏi để kiểm tra ý kiến của Chúa Giêsu. Thế nhưng vị Thầy lại chuyển trả lại câu hỏi, đưa ông ấy đến chỗ phải diễn tả rõ ra tư tưởng của ông. Ông liền trích dẫn hai đoạn Lề Luật, tức là Ngũ Thư. Đoạn thứ nhất, là Đnl 6,5, thuộc về lời kinh Do Thái cổ điển được coi như một lời tuyên xưng đức tin căn bản (“Nghe đây, Israel”: Đnl 6,4-9); trái lại, bản văn thứ hai, lấy từ Lv 19,18, dẫn xuất từ một hợp tuyển các điều răn bên trong “Bộ Luật tư tế về sự thánh thiện” (Lv 17–26).

Đặt hai điều răn này bên nhau (Mt 22,38-39 nhấn mạnh thêm) là do truyền thống Kitô giáo, nhưng tác giả Lc đặt ngay trên môi vị thầy Do Thái với ý cho thấy ông rất chuyên về lý thuyết. Phản ứng của Đức Giêsu là một lời bình tích cực, chuẩn nhận cách “đọc” bản văn Kinh Thánh như thế, nhưng Người thêm một lệnh thực tiễn: “Cứ làm như vậy là sẽ được sống” (c. 28). Để được thừa hưởng sự sống đời đời, biết lý thuyết mà thôi thì không đủ; điều cần thiết là bền chí thực hành lý thuyết ấy mãi mãi.

Chúa Giêsu đã cố tình chọn một người Samari làm kiểu mẫu. Hạng người lạc đạo ấy, không hể có kiến thức của nhà luật học, cũng không có phẩm cách của vị tư tế hay thầy Lêvi, lại tỏ ra hết sức nhân ái và đạo đức. Ông đã thực hành hai điều răn lớn của Cựu Ước về dức mến. Do đó, chính ông mới đáng được gọi là người Israel chân chính.

Chúa Giêsu cho thấy rằng trong vấn đề yêu thương, không thể vạch ra một giới hạn chính xác. Người không nêu ra những tiêu chí, xác định một con số giới hạn gồm những kẻ mà ta phải yêu thương. Như trong những trường hợp khác, Người thay đổi hướng nhìn, mở rộng chân trời. Vị thông luật hỏi: “Ai là người thân cận của tôi, kẻ mà tôi phải yêu thương?”. Đức Giêsu đảo ngược câu hỏi: “Ai đã tỏ ra là [ai đã trở thành] người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?”. Như thế, Người đã thay đổi tầm nhìn. Dụ ngôn và câu hỏi cuối cùng của Đức Giêsu hoàn toàn trả lời cho câu hỏi đầu tiên của vị thông luật: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (c. 25).

Những lời cuối cùng của Chúa Giêsu gặp lại lời “Cứ làm như vậy là sẽ được sống” (c. 28) và tóm tắt sứ điệp của Người: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (c. 37). Hãy trở thành người thân cận đối với kẻ đang có nhu cầu và bạn sẽ “được sự sống đời đời làm gia nghiệp” (c. 25).

Tất cả các lề luật đều quy về giới luật yêu thương. Luật yêu thương là căn cốt của tất cả cuộc sống. Sống để yêu và yêu để sống. Luật đó đã được in ghi sâu tận tâm can của mọi loài thụ tạo. Luật ở tại tâm: “Thật vậy, lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành.” (Đnl 30,14).

Chúng ta không phải tìm kiếm đâu xa, tâm yêu thương ở sẵn trong lòng ta. Hạt giống yêu thương đã được Thiên Chúa gieo trong lòng mỗi người. Chúng ta có bổn phận tưới gội, chăm sóc và làm cho hạt giống sinh xôi nảy nở. Trái tim yêu thương cần mở rộng để cho đi và đón nhận. Yêu như dòng nước luôn chảy, có ra có vào và có lên có xuống. Tình yêu như dòng nước nếu bị đóng khung khép kín, tình yêu sẽ cô đơn, lẻ loi và giá lạnh.

Thánh Gioan đã tuyên xưng: “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa vì Thiên Chúa là Tình Yêu.” (1 Ga 4,8). Vì muốn chia sẻ tình yêu, Thiên Chúa tạo dựng mọi kỳ công trong vũ trụ. Mọi vật và mọi loài được hiện hữu trong tình yêu của Thiên Chúa. Dấu ấn tình yêu được lan tỏa khắp cùng vũ trụ. Thiên Chúa đã quan phòng mọi sự theo thánh ý. Tình yêu có những cách thể hiện khác nhau giữa muôn loài. Cảm súc tình yêu được bày tỏ qua sự sống. Từ những loài có sự sống đơn sơ đến phức tạp đều được ngụp lặn trong biển tình của Thiên Chúa. Sống để yêu và được yêu. Kinh Thánh đã nói 686 lần về tình yêu ‘Love, loved, loving, loves, lover’, yêu Chúa và yêu người.

Trong lãnh vực yêu thương người thân cận, người ta không được nghĩ từ bản thân, nhưng phải khởi đi từ nhu cầu thực tế của bất cứ người nào ta gặp trên đường ta đi. Chỉ khi đó, đời sống ta mới trở thành con đường đưa tới cuộc sống vĩnh cửu. Vị thông luật tưởng có thể giữ cuộc tranh luận trên bình diện lý thuyết, nào ngờ Đức Giêsu đã đưa được ông về bình diện những thực tại sống động và đặt ông trước một chọn lựa: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (c. 37). Ông không bao giờ ngờ được rằng đời thường có thể đặt ông trước những chọn lựa éo le không sao tránh né được!

Câu chuyện hôm nay đẹp. Bài học này cần được suy nghĩ. Nhưng cẩn thận, nếu chúng ta chỉ dừng lại trong lãnh vực tư tưởng thì sẽ không đạt được ý của tác giả. Thánh Luca muốn chúng ta phải sống đạo chứ không phải chỉ hiểu đạo; phải thi hành lòng thương xót, chứ không phải chỉ biết đạo dạy mến Chúa yêu người.

---------------------------------

 

TN 15-C154: NGƯỜI THÂN CẬN


Tgm. Vũ Văn Thiên

 

Khi nói đến Thiên Chúa hoặc Thượng Đế, người ta liên tưởng tới vị Thần Linh thống trị và TN 15-C154


Khi nói đến Thiên Chúa hoặc Thượng Đế, người ta liên tưởng tới vị Thần Linh thống trị và cách biệt hoàn toàn thế giới loài người. Kinh Thánh nói với chúng ta: nếu Thiên Chúa cao cả và chí thánh, thì Ngài lại rất gần gũi và yêu thương con người. Giáo huấn của Ngài bao gồm những điều cụ thể, giúp con người dễ dàng đón nhận và thực thi. Tác giả sách Đệ nhị Luật (Bài đọc I) khẳng định: “Luật của Chúa rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành”. Thiên Chúa là Đấng giàu lòng nhân hậu. Ngài cảm thương nỗi khốn khổ cơ hàn của con người. Do tội lỗi, nhân loại ở bên bờ vực thẳm của sự chết. Thiên Chúa đã ra tay cứu vớt con người và giúp họ phục hồi.

Sự gần gũi yêu thương của Thiên Chúa được diễn tả trong câu chuyện Người Samari nhân hậu. Người Samari là hình ảnh của Đức Giêsu. Người bị đánh bầm dập nửa sống nửa chết là hình ảnh của nhân loại đáng thương do tội lỗi. Người Samari đã săn sóc người bị nạn đưa anh vào quán trọ, dặn dò chủ quán chu đáo. Tất cả những cử chỉ đó đều diễn tả sứ mạng của Đấng Cứu thế nơi trần gian. Người mang trên thân mình mọi tội lỗi nhân loại để nhân loại được tự do. Thánh Phaolô đã diễn tả với chúng ta trong Bài đọc II: “Đức Giêsu là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo…. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời”.

Câu chuyện người Samari nhân hậu hàm chứa những bài học sâu sắc đối với chúng ta.

Nhân vật mở đầu câu chuyện là một người tiến sĩ luật. Ông đại diện cho giới trí thức và thượng lưu. Cuộc đối đáp giữa ông và Chúa Giêsu chứng tỏ ông chỉ hỏi để thử Chúa Giêsu. Chính tác giả cũng xác định điều này, khi ông viết: “Có người thông luật kia muốn thử Đức Giêsu, mới đứng lên hỏi Người rằng…”.  Với nghệ thuật trình bày rất hấp dẫn, câu chuyện cho chúng ta thấy sự hoán đổi của những vấn đáp rất tài tình, để rồi người hỏi lại là người trả lời:

“Thưa Thày, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”. Đây là câu hỏi của vị tiến sĩ Luật. Sau đó, chính ông ta là người đưa ra những gợi ý để trả lời cho câu hỏi của mình: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình”. Trong phần này, người tiến sĩ Luật đã trích dẫn sách Đệ nhị Luật (6,5) và sách Lêvi (19,18). Đây là giáo huấn cốt lõi của Lề Luật. Sau này Chúa Giêsu cũng nhắc lại để trả lời một vị kinh sư, khi ông này hỏi: “Thưa Thày, trong mọi điều, điều răn nào đứng đầu?” (Mc 12,28). Vị tiến sĩ Luật đã đặt câu hỏi, rồi chính ông ta lại trả lời.

“Nhưng ai là người thân cận của tôi?” – vị tiến sĩ Luật đã đặt câu hỏi. Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp câu hỏi, mà Người kể một câu chuyện về người Samari nhân hậu. Cuối câu chuyện này, Người hỏi lại vị tiến sĩ: “Vậy, theo ông nghĩ, trong ba người đó (tư tế, Lêvi và người Samari) ai đã tỏ ra là người thân cận với người bị rơi vào tay kẻ cướp? Và, vị tiến sĩ đã câu trả lời: “Chính là kẻ đã thực lòng thương xót đối với người ấy”. Trong câu trả lời này, những danh xưng, chức vụ và dòng dõi xem ra đã trở thành vô nghĩa, mà điều quan trọng là sự cảm thương, lòng nhân hậu. Chỉ có lòng nhân hậu mới đáng kể. Lòng nhân hậu vượt lên tất cả mọi danh xưng và chức vụ. Hai người đi qua, thày tư tế và Lêvi, chỉ quan tâm đến lý thuyết, mà họ quên thực hành. Họ dửng dưng trước nỗi đau của người bị nạn. Câu hỏi được vị tiến sĩ đặt ra là: “Ai là người thân cận của tôi?” đã được đảo ngược thành: “Tôi là người thân cận của ai? Giá trị giáo huấn là ở chỗ đó. Đối với người Samari, ông chỉ thấy trước mắt ông là một con người bị nạn. Ông không bận tâm xem người đó thuộc dòng tộc nào. Ông cũng không tìm cách khoe khoang việc mình làm. Hành động của ông âm thầm khiêm tốn và đậm tình người.

“Ông hãy đi và làm như vậy” – Vị tiến sĩ vừa khoe khoang sự hiểu biết và lòng đạo đức của mình ở trên kia, giờ đây được Chúa giáo huấn: ông mới chỉ thông thạo về lý thuyết thôi. Ông cần phải thực hành những gì ông hiểu biết. Ông hãy cố gắng để trở nên người thân cận với người khác, như thế ông mới thực sự đạt tới sự hoàn thiện.

“Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”. Tác giả Luca bỏ lửng câu chuyện ở đây để độc giả tiếp tục suy tư và cảm nhận mình có thể là nhân vật vị tiến sĩ Luật trong câu chuyện. “Hãy làm như vậy”, tức là có tâm tình bao dung quảng đại như người Samari. Chúng ta biết, giữa người Do Thái và người Samari có mối thù truyền kiếp. Người Do Thái thường coi người Samari là người ngoại đạo. Khi tranh luận với Chúa Giêsu, những người Do Thái nói một cách khinh miệt: “Chúng tôi bảo ông là người Samari và là người bị quỷ ám thì chẳng đúng lắm sao” (Ga 8,48). Vậy mà dưới cái nhìn của Chúa Giêsu, người Samari lại có tâm hồn nhân hậu, hơn cả tư tế và Lêvi, vì ông này đã dừng chân cứu giúp người bị nạn.

“Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” – Câu kết rất đơn giản, cũng là câu trả lời cho câu hỏi ở đầu trình thuật: “Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp” (câu 25). Đó cũng là thông điệp mà Phụng vụ muốn gửi đến mỗi người chúng ta.

-------------------------------

 

TN 15-C155: TIN YÊU LÀ THẾ


Lm. Jos DĐH.

 

Không ai thực sự vui vẻ, nếu không sống yêu thương. (Thomas Aquinas). Kinh nghiệm cho thấy TN 15-C155


Không ai thực sự vui vẻ, nếu không sống yêu thương. (Thomas Aquinas). Kinh nghiệm cho thấy: những gì thầy cô viết lên tấm bảng cuộc đời của mình, hẳn không ai xoá được ! Có phải người thông luật còn thiếu điều gì, ngôn ngữ hôm nay gọi là “lăn tăn” trong việc hiểu và sống, rất may, anh ta biết tìm đến Thầy Giêsu ? Đúng, một người thầy giỏi là người thầy biết giải thích, một người thầy xuất chúng là người thầy biết minh hoạ, một người thầy vĩ đại là người thầy truyền được cảm hứng cho học trò. Tiếp xúc với người thông luật, Đức Giêsu đã cho thấy nét cơ bản giữa tình người là “sống yêu thương”, và có thể khẳng định: một người thầy tuyệt vời trước hết là người thầy biết lắng nghe học trò của mình. Vâng, tôi phải làm gì để có sự sống đời đời, nếu không phải là khôn ngoan, làm sao biết đặt vấn đề đó ? Nếu thực sự đã sống yêu thương, niềm vui, bình an, đâu còn phải là điều ta chờ đợi, tìm kiếm ?

Trước khi trả lời khúc mắc cho người thông luật, Đức Giêsu gián tiếp hỏi chúng ta, bạn đang sử dụng con tim khối óc như thế nào: “trong lề luật đã chép gì, và bạn đã đọc được điều gì trong đó” ? Đọc, hiểu, biết, và sống, lưu ý người ta phải thức thời, nhạy bén hơn, gọi là khôn ngoan. Không bậc sinh thành nào hài lòng với con cháu khi chúng: khôn nhà dại chợ ! Chẳng đứa con cháu nào hạnh phúc khi chúng chứng kiến bố mẹ “đánh chửi nhau”, anh chị em cấu xé, tranh giành quyền lợi, mâu thuẫn, bất hoà với nhau ! Câu ca dao rất quen: công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, không khó. Đáp đền công đức sinh thành, sống chữ thảo chữ hiếu, người thông luật đã thực thi, ấy vậy mà anh ta không thể hiểu “ai là anh chị em của tôi” ?

Thuộc các kinh dài kinh ngắn, nói được trọng tâm của việc sống “mến Chúa yêu người”, biết sự vất của cha mẹ, nhưng chu toàn bổn phận không phải đơn giản chỉ dừng lại ở lý thuyết. Tất cả chúng đang cùng nhau sánh bước trên đường đời, nhưng ăn uống, nạp năng lượng, tự mỗi người phải thực hiện cho mình. Mọi người đều có thể và đang đồng hành với bạn, nhưng không ai có thể bước đi thay bạn. Đức Giêsu khai mở cho người thông luật biết “ai là anh chị em của bạn”, và việc thực thi giới luật yêu thương, tự bạn phải sống một cách nghiêm túc hơn với cái biết của mình. Tìm kiếm và học hỏi nơi người tài đức khôn khoan, học hỏi kinh nghiệm nơi người có tâm hồn bình an hạnh phúc, sau hết bạn có đem sự hiểu biết và không chậm trễ thực hành điều hay lẽ phải, đó mới là quan trọng.

Tin Đức Giêsu là Vị Thầy tài giỏi, đã là tuyệt vời, nhưng người thông luật còn được mời gọi đi xa hơn: Thầy Giêsu chính là Thiên Chúa cứu độ. Tiếng nói sâu thẳm trong ta mách bảo hãy làm việc lành, xa tránh điều xấu, xã hội thực dụng chỉ dạy rất khúc triết: khôn cho người ta vái, dại cho người ta thương. Người thông luật trong cuộc gặp gỡ đối thoại với Thầy Giêsu, anh ta đã hiểu được vấn đề, chỉ những ai khôn ngoan mới tìm hỏi: “tôi phải làm gì để có sự sống đời đời” ? Đâu phải cứ xinh đẹp thì có danh hiệu hoa hậu, người mẫu, không phải cứ nghèo khổ là lý trí họ thấp kém, không phải cứ thánh thiện, chuyên chăm làm việc bác ái, thì gọi họ là linh mục tu sĩ ? Tin và yêu, chẳng nói lên điều gì, nếu không được gắn liền với những hành động cụ thể của ta. “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí khôn người, và hãy yêu thương anh em như chính mình người”.

Tin yêu là gì ? Chúng ta vẫn nói là tin Đức Giêsu là Thầy, là Thiên Chúa cứu độ, là thực hành việc mến Chúa yêu người, đúng là chuẩn không cần chỉnh. Tin yêu mà Đức Giêsu muốn nói tới là không giới hạn ở mầu da, sắc tộc, tôn giáo, vì tự nhiên chúng ta đã hiểu: tứ hải giai huynh đệ. Dụ ngôn người Samaria nhân hậu phản ánh một thực tế: đường đi đến sự sống đời đời, tất cả chúng ta đang đi, nhưng để tới đích hạnh phúc, ai cũng phải sử dụng tự do của mình để trả lời việc mến Chúa yêu người. Tất cả đều phải vượt qua sự giới hạn của mình bằng sức mạnh của niềm tin và hiệp thông. Thiên Chúa không phải chỉ hiện diện ở nhà thờ, người thân nghĩa thiết không phải chỉ là bố mẹ anh chị em ruột, mà là những tâm hồn khao khát được hạnh phúc, được sự sống đời đời.

Người xưa có câu: qua sông mới phải luỵ đò, những như đường liền ai phải luỵ ai ? Nếu cuộc sống tuỳ thuộc lý của kẻ mạnh, hẳn người thông luật cũng không phải mất công tốn sức cậy nhờ Đức Giêsu. Tin Đức Giêsu là Thầy, là Chúa, không phải chỉ thuộc về những ai đạo gốc đạo dòng, cũng không phải vì tôi là linh mục tu sĩ. Thực hành giới luật yêu thương không hệ tại là giầu có, đủ tình nghĩa hiệp như người Samaria, mà già trẻ, sang hèn, tất cả đều phải biết yêu vì đã được yêu. “Ai là người thân cận của tôi”, quả là vô duyên, vì chưng, người tin Chúa, yêu Chúa, hằng ngày vẫn đang liên đới cầu nguyện và sống thánh ý Chúa.  Cổ nhân nói rằng: đừng khóc vì những khó khăn đã trôi qua, đừng than van vì những khổ đau trong quá khứ, đừng đổ lỗi vì quên không nhớ anh chị em ta đang mang hình ảnh của Chúa. Hãy thật lòng sống đức ái bằng con tim và khối óc của mình. “Hãy đi làm như vậy” để hiểu rõ hơn thế nào là tin là yêu, là ta sống nén bạc Chúa trao cách trọn vẹn nhất. Amen.

----------------------------------

 

TN 15-C156: CON ĐƯỜNG SỐNG HẠNH PHÚC


Jorathe Nắng Tím

 

Chắc chắn một điều là ai cũng muốn sống hạnh phúc, nên không ai tìm con đường dẫn đến sự TN 15-C156


Chắc chắn một điều là ai cũng muốn sống hạnh phúc, nên không ai tìm con đường dẫn đến sự chết đời đời  là nỗi bất hạnh kinh khủng nhất của đời người, nhưng tất cả đều tìm cho mình con đường sống hạnh phúc. Về phần Thiên Chúa, vì dựng nên con người giống hình ảnh mình là Nguồn Hạnh Phúc, nên Thiên Chúa cũng chỉ ước mong con người hạnh phúc như Ngài, và Tin Mừng đã chứng minh điều này.

Cựu Ước khẳng định: “Đức Chúa sẽ lấy làm vui vì hạnh phúc của anh (em), cũng như Người đã lấy làm vui vì hạnh phúc của cha ông anh (em)” (Đnl 30,9). Và để đạt được hạnh phúc đó, Thiên Chúa muốn con người “nghe tiếng Đức Chúa, mà giữ những mệnh lệnh và thánh chỉ của Người hết lòng hết dạ” (Đnl 30,10).

Đây là con đường sống hạnh phúc được Thiên Chúa đề nghị với con người: con đường nối kết trái tim Thiên Chúa với trái tim mỗi người, vì thế, con đường ở ngay trước mặt, đúng hơn là ở ngay trong chúng ta được làm nên bằng Lời Thiên Chúa, mà sách Đệ Nhị Luật đã  qủa quyết: “Lời đó ở rất gần anh (em), ngay trong miệng, trong lòng anh (em) để anh (em) đem ra thực hành” (Đnl 30, 14).

Đến thời Tân Ước, cũng trong ý muốn cho mọi loài thụ tạo được hạnh phúc,  “Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Đức Giêsu, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1, 19-20). Nói cách khác, Đức Giêsu, Con Một của Thiên Chúa đã trở nên Đường Sống Hạnh Phúc cho mọi người, vì chính Ngài là “Đường, Sự Thật và Sự Sống” (Ga 14,6) cho tất cả những ai tin vào Ngài. Và con đường hạnh phúc ấy cũng vẫn là con đường từ trái tim Thiên Chúa đến trái tim mỗi người; là con đường tình yêu đưa  con người đến với Thiên Chúa.

Khi trả lời câu hỏi của thầy thông luật: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Lc 10,25), Đức Giêsu đã mặc khải dung mạo Chúa Cha giầu lòng thương xót, và rộng lòng ban phần thưởng lớn lao là “sống  hạnh phúc đời đời” cho những ai có lòng xót thương anh em mình; đồng thời cho thấy con đường hạnh phúc Thiên Chúa vạch ra cho toàn thể nhân loại là con đường rất gần, con đường “không vượt qúa sức lực hay ngoài tầm tay” (Đnl 30,11), cũng không cao tít tắp trên các tầng trời hay xa xôi ở bên kia biển (x. Đnl 30,12-13) nhưng gần gũi như người thân cận, sát bên cạnh như những người sống chung quanh trong sinh hoạt thường ngày.

Đó là  con đường bác ái mà người Samari nhân hậu đã thưc hiện với tất cả trái tim chạnh lòng thương xót, và quảng đại hy sinh khi “lại gần, lấy rượu lấy dầu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy lên lưng lừa của mình, đưa về qúan trọ mà saăn sóc. Hôm sau, ông còn lấy ra hai quan tiền trao cho chủ qúan và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, tôi sẽ hoàn lại bác” (Lc 10, 34-35).

Nạn nhân bị bọn cướp trấn lột, đánh nhừ tử,  rồi bỏ mặc bên lề đường nửa sống nửa chết được quan tâm, săn sóc ấy tuy không quen biết, nhưng là người thân cận đích thực của người Samari có tấm lòng; tuy xa lạ nhưng là con đường rất gần của trái tim người Samari biết chạnh lòng thương xót, và sau khi kể dụ ngôn Con Đường Bác Ái mà  người Samari đã thực hiện, trong khi hai thầy tư tế và Lêvi đã dửng dưng, vô cảm “tránh qua bên kia mà đi” (x. Lc 10, 31-32),Đức Giêsu đã hỏi lại  người thông luật: “Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận vói người đã bị rơi vào tay kẻ cướp? Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10, 36-37).

Chỉ cho người thông luật con đường người Samari nhân hậu đã đi chính là con đường ông phải đi để có hạnh phúc vĩnh cửu, có “sự sống đời đời làm gia nghiệp”, Đức Giêsu cũng thì thầm với trái tim mỗi người chúng ta: Con đường yêu thương ấy cũng chính là đường con phải đi với Thầy để hưởng hạnh phúc của Thầy trong Vương Quốc Thiên Chúa, và để niềm vui của con ngay ở đời này được nên trọn vẹn.

-----------------------------

 

TN 15-C157: AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN


Lm. Thái Nguyên

Suy niệm

 

Yêu mến Thiên Chúa hết tình và yêu người thân cận như chính mình là điều kiện để đạt tới sự TN 15-C157


Yêu mến Thiên Chúa hết tình và yêu người thân cận như chính mình là điều kiện để đạt tới sự sống đời đời. Nhưng câu hỏi được nêu lên: “Ai là người thân cận của tôi ?”. Người Do Thái vẫn hiểu đó là đồng bào, đồng đạo, thuộc dân Thiên Chúa. Phải chăng vị luật sĩ muốn tìm một câu định nghĩa toàn bích hơn về “người thân cận”? Nhưng đối với Đức Giêsu, định nghĩa về “người thân cận” không quan trọng bằng thực thi bác ái với người thân cận. Thay vì tìm hiểu ai là người thân cận, tốt hơn nên tỏ ra mình là người thân cận đối với những kẻ đang cần mình giúp đỡ. Với ý hướng đó mà Đức Giêsu đã đưa ra một dụ ngôn vừa cụ thể vừa sâu sắc, vừa éo le vừa lạ lùng.

Éo le là vì đứng trước tình cảnh một người đang bị trọng thương trên đường, mà thầy Tư tế và Lê vi lại làm ngơ như không thấy, và tránh qua bên kia đường mà đi. Lạ lùng là người Samari ngoại giáo vừa trông thấy nạn nhân, đã đến cứu giúp tận tình, mà có thể nạn nhân đó là người Do Thái, kẻ thù của dân tộc mình. Người Samari đã sống luật yêu thương một cách trọn vẹn, không chỉ là lòng thương cảm mà “yêu bằng việc làm”, và làm với hết khả năng của mình. Những việc làm cụ thể thường hùng hồn hơn những lời nói suông. Con đường dài nhất là con đường từ trái tim đến đôi tay. Chúa Giêsu muốn chúng ta đi hết con đường đó: “Hãy đi và làm như vậy”.

Sở dĩ người ta không dám làm một cái gì đó cho những người anh em, là vì họ không có can đảm vượt qua nỗi sợ. Sở dĩ thầy Tư tế và thầy Lê vi “tránh qua bên kia mà đi” là vì các thầy sợ ô uế khi đụng vào xác chết, sợ bọn cướp còn ẩn nấp đâu đây, sợ rắc rối phiền hà xảy ra cho mình. Những nỗi sợ xem ra rất khôn ngoan và hợp lý, chỉ có điều chẳng có chút tình yêu nào. Sở dĩ chúng ta không dám làm một cái gì đó cho người cần giúp đỡ, là vì chúng ta sợ phải thiệt thòi, sợ tốn công tốn sức, tốn thời giờ, sợ phải trả giá, sợ đụng đến sự an toàn hay tiện nghi của mình. Chúng ta muốn được yên thân! Yên thân là bất động, là dòng sông sự sống bị tắt nghẽn, không còn được chuyển thông.

Đứng trước nạn nhân, có lẽ câu hỏi mà hai vị giáo sĩ đặt ra là:“Nếu tôi dừng lại giúp đỡ người này, chuyện gì sẽ xảy ra cho tôi?”. Nhưng xem ra người Samari đảo ngược lại câu hỏi:“Nếu tôi không dừng lại giúp đỡ người này, chuyện gì sẽ xảy ra cho anh ta?”. Hai câu hỏi với hai hướng khác nhau, nên cách thái hành động cũng khác nhau. Một câu hỏi hướng về sự an toàn của bản thân, còn một câu hỏi hướng đến lợi ích của tha nhân. Cách đặt câu hỏi hay cách đặt vấn đề cũng là một cách xác định tâm hồn và tính cách của một con người.

Ở cuối dụ ngôn, Đức Giêsu cũng đảo chiều câu hỏi: “Ai là người thân cận của tôi?” thành câu: “Ai là người thân cận của kẻ bị cướp?” Với lối đặt câu hỏi này, mọi hàng rào ngăn cách và quan niệm lâu đời của người Do Thái bị phá đổ. Tôi không chỉ phục vụ cho người thân cận của tôi, mà tôi trở thành người thân cận với người tôi phục vụ, và người ấy trở thành người thân cận của tôi. Như thế ai cũng có thể thành người thân cận của tôi, và tôi cũng có thể trở thành người thân cận của bất cứ ai, khi tôi dám yêu họ như chính mình.

Yêu thương không phải là cho đi một cái gì, nhưng là cho đi chính bản thân. Kahlil Gibran có một câu nói chí tình: “Bạn cho đi quá ít khi chỉ cho đi của cải. Chỉ khi nào cho đi chính mình, bạn mới thực sự cho đi”. Mẹ Têrêsa Calcutta cũng xác định: “Kitô hữu là người trao ban chính bản thân”. Đó là ý nghĩa thật nhiệm mầu trong Bí tích Thánh Thể. Tham dự thánh lễ chẳng có ý nghĩa gì khi tôi không sống lòng nhân ái. Càng đi tìm bản thân, tôi càng đánh mất chính mình. Càng co cụm trong vỏ ốc của mình, tôi càng chết dần mòn trong nỗi cô đơn. Càng muốn được yên thân, tôi càng vong thân.

Nỗi khát khao hạnh phúc của tôi chỉ có thể được lấp đầy khi tôi biết coi trọng hạnh phúc của tha nhân. Người tín hữu Kitô chỉ thực sự là con Chúa khi họ dám tiêu hao vì người khác. Muốn vậy, tôi hãy yêu rồi làm. Khi đã yêu rồi tôi mới biết phải làm gì cho người anh em, nhất là những người nghèo hèn đau khổ. Khi đã yêu rồi, tôi mới biết cách làm cho kẻ xa lạ nên người thân cận, kẻ thù địch nên người bạn tốt, chỉ cần tôi dám dừng lại, đến gần và cúi xuống trước anh em.

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu!
Đường về quê hương sự sống đời đời,
là đường Chúa đã gọi mời con đi,
nhưng đi với trái tim mới tới đích,
bằng không sẽ dang dở cuộc hành trình.

Thầy Tư tế và Lêvi rẽ sang hướng khác,
vì không mang theo mình một trái tim,
chỉ mang theo của lễ ở bên ngoài,
nhưng Chúa chỉ đoái hoài lòng nhân hậu.

Người Sa-ma-ri lên đường không của lễ,
nhưng anh có trái tim để hiến dâng,
với tấm lòng yêu thương người lân cận,
nên anh cảm thấu được nỗi khổ đau,
của những ai đang gặp phải cơ cầu,
và cúi xuống để tận tình hầu hạ.

Con đường đến quê hương sự sống mới,
không khó không dài như phải lên non,
nhưng đường dài khó nhất đối với con,
là đường từ trái tim đến bàn tay.

Xin Chúa đặt trái tim trên bàn tay,
để thu ngắn lại cho con đường dài,
nên con không sợ gì những trở ngại,
mọi cái sẽ dễ lại trước khó khăn.

Xin cho con lên đường với trái tim:
suy nghĩ và nhìn đời với trái tim,
lắng nghe và hành động với trái tim,
một trái tim được nung nấu mỗi ngày,
để tình yêu trong con luôn rực cháy
thành lửa thiêng niềm vui sống dâng đầy. Amen.

------------------------------

 

TN 15-C158: CHÚNG TA ĐANG KẾT THÂN VỚI AI?


Lm. Jos Tạ duy Tuyền

 

Người Việt Nam hình như rất thích khoe gia thế của mình. Gần đây tôi có dịp ra Hà Nội nên hay TN 15-C158


Người Việt Nam hình như rất thích khoe gia thế của mình. Gần đây tôi có dịp ra Hà Nội nên hay được nghe giới thiệu về gia thế của họ là cháu ông này, em ông kia. . . Thậm chí có anh lái taxi cũng khoe mình là cận vệ của các bác ở trung ương. Anh ấy còn đưa 1 tấm hình đang chụp chung với lãnh đạo và hỏi: anh biết ông này là ai không? Tôi bảo: hình như không. Anh ta nói : lạ nhỉ, tuổi như anh mà không biết lãnh đạo à? Tôi cười cười và bảo mình chỉ bận tâm kiếm tiền và những ai giúp đỡ mình thôi.

Phải chăng đây là nguyên do phát sinh câu: “có biết bố mày là ai không?” .

Trang báo tuổi trẻ cười có viết câu chuyện rằng:Bữa nọ, hết tiền, Chí Phèo lục tục đi kiếm cây ATM để rút ăn xài. Trúng ngày phát lương, nên người đi rút tiền xếp hàng dài mấy thước. Mặc kệ, thiên hạ này là cái thá gì, xếp hàng là thứ không có trong từ điển Chí Phèo. Phèo ta ngang nhiên chen vào trụ ATM để được rút tiền đầu tiên. Thấy bộ dạng côn đồ của Phèo, ai nấy đều dạt ra cho yên chuyện. Trừ một chị, chắc xưa nay chưa giao tiếp với giang hồ bao giờ, mới thỏ thẻ lên tiếng: “Anh gì ơi! Làm ơn xếp hàng trật tự dùm em với!”. Nghe câu ấy, Phèo ta giật bắn người như bị điện cao thế giật, liền quắc mắt quay sang người phụ nữ: “Câm mồm! Mày có biết bố mày là ai không?”. Người phụ nữ đáng thương thật thà trả lời như lần đầu đi phỏng vấn tuyển dụng: “Chỉ có con hoang mới không biết bố mình là ai thôi anh ạ”. Thế là Chí Phèo nổi điên lên, xông vào đánh chị kia lên bờ xuống ruộng…

Công an đến tóm cổ hắn về đồn và hỏi hắn: vậy bố mày là ai ? Chí Phèo mới buồn bã nói: thực tình cháu không biết bố cháu là ai , nên cứ đi tìm mãi, mà cái chị kia dám nói tới nỗi đau của cháu là thằng con hoang nên cháu không kềm được liền đánh cho chị ấy một trận.

Chuyện vui thôi nhưng cũng phản ánh hiện thực xã hội. Con người thích kết giao với kẻ giầu có. Thích núp bóng kẻ quyền thế. Thích kết nghĩa anh em với người có tiền, có địa vị trong xã hội. Khi có quyền, có tiền thì ở trong hang, trong rừng vẫn có người lui tới. Khi không có tiền thì dầu ở giữa phố thị cũng chẳng ai thèm thân.

Lời Chúa hôm nay đang hỏi chính chúng ta vậy ai là người thân của bạn? hay có thể nói rõ hơn là: bạn đang thân cận, kết giao với ai? Ai là kẻ bạn đang tìm đến để kết thân? Hình ảnh Thầy Tư tế và Lê vi dửng dưng với kẻ bị nạn phản ánh cách sống của họ luôn xa lánh kẻ hèn yếu. Không dám kết thân với người bất hạnh. Bởi vì kết thân với kẻ yếu, kẻ bất hạnh thì chẳng được lợi có khi còn phải tốn kém của cải. Đây cũng là điều mà nhiều giáo dân than phiền vì cha xứ chỉ kết thân với người giầu, giao du với người quyền thế nhưng lại thờ ơ trước những đau khổ, bất hạnh của tín hữu trong xứ đạo.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng viết rằng “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không. Để gió cuốn đi”, là bài hát như nhắc nhở mỗi người chúng ta cần phải biết mởtâm hồn để gió cuốn đi những nghĩa cử yêu thương, những việc làm phúc đức, hãy gieo yêu thương đến với mọi người thì niềm vui mới đến với chúng ta.

Người Samaria đã tìm được niềm vui của cuộc đời phục vụ. Ông đã dừng lại để xoa dịu nỗi đau của kẻ bất hạnh. Cuộc đời ông hạnh phúc biết bao khi ông băng bó nỗi đau của đồng loại. Khi ánh mắt của kẻ chịu ơn đang nhìn ông một cách trìu mến thân thương. Niềm vui của ông càng được nhân lên khi người mà ông giúp đỡ đã coi ông như anh em. Từ một người xa lạ nay trở thành kẻ thân thích. Ông đã biết dùng của cải đời này để mua bạn hữu đời này và cả đời sau. Đó chính là mẫu người mà Chúa đang mời gọi chúng ta hãy làm theo như vậy.

Xin Chúa là Đấng đã hết lòng yêu thương và phục vụ con người cho đến nỗi bằng lòng chịu chết vì chúng ta, giúp cho chúng ta cũng biết sống yêu thương như Chúa đã yêu thương chúng ta. Amen

-------------------------------------

 

TN 15-C159: HÃY ĐI VÀ LÀM NHƯ VẬY


Bông hồng nhỏ

 

Sống trên đời, ta có rất nhiều câu hỏi cần được trả lời. Đâu là câu hỏi quan trọng và cần ưu tiên TN 15-C159


Sống trên đời, ta có rất nhiều câu hỏi cần được trả lời. Đâu là câu hỏi quan trọng và cần ưu tiên để tìm kiếm câu trả lời? Ngày xưa, có người thông luật kia vì muốn thử Thầy Giêsu nên đã đứng lên hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Lc 10, 25). Thầy Giêsu đã để người thông luật ấy tự đưa ra câu trả lời cho chính mình dựa vào sự hiểu biết Luật của ông. Câu trả lời của ông rất chính xác: mến Chúa và yêu người. Thầy Giêsu khen ngợi ông: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống” (Lc 10, 28). Không chỉ có người thông luật mà tất cả những ai muốn có được sự sống đời đời làm gia nghiệp thì chỉ cần làm như lời Thầy Giêsu dạy. Thế nhưng, dường như ai cũng gặp khó khăn trong việc trở thành người thân cận cho người khác và thường băn khoăn tự hỏi: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?”

Cổ nhân thường nói “vô tri bất mộ”, không hiểu biết thì không yêu mến. Không chịu tìm hiểu về giáo lý, về Lời Chúa dạy, làm sao ta có thể sống đúng với tinh thần của Tin Mừng? Có nhiều người khi đọc Tin Mừng thường cảm thấy những lời ấy quen thuộc, vừa quen vừa thuộc lòng, bởi họ nghe nhiều, từ năm này qua năm khác. Dù hiểu được Chúa dạy phải mến Chúa và yêu người nhưng nhìn lại những tháng ngày đã qua, ta nhận ra được những phản ứng quen thuộc của chính mình. Đó là từ chối trở thành người thân cận cho người khác và không biết ai mới là người thân cận của chính mình. Lắng nghe câu chuyện mà Thầy Giêsu vừa kể, ta nhìn thấy chính mình. Câu chuyện Thầy kể rất đơn sơ, giản dị, không có nhiều tình tiết bất ngờ nhưng lại khiến cho người nghe rơi vào khoảng lặng của lòng mình.

 Có người kia đi từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay bọn cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy, trông thấy nạn nhân, ông tránh qua bên kia mà đi. Một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy và tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Samari kia đi đường, ngang qua chỗ người ấy, cũng thấy và chạnh lòng thương. Cả ba người đều gặp cùng một tình huống nhưng cách phản ứng của họ lại hoàn toàn trái ngược nhau. Hai người trước đi qua chỗ người bị nạn, trông thấy người ấy, họ đều tránh qua bên kia mà đi. Trong ba người lại có đến hai người chọn cùng một cách phản ứng: xa tránh để không phải liên lụy. Có lẽ cả hai đều quá bận rộn, đang vội đi đến Đền Thờ chăng! Tôi không quen biết người ta, họ chẳng liên can gì tới tôi cả. Đó cũng là cách phản ứng của số đông trong xã hội. Những người nhận biết và thờ phượng Chúa lại có cách phản ứng xa tránh. Trái tim họ không có chỗ cho những người anh em xa lạ này thì liệu họ có đang thờ phượng Chúa và yêu mến Người không?

Một người Samari kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy và chạnh lòng thương. Cả ba người đều nhìn thấy người bị nạn nhưng chỉ có trái tim người Samari này là chạnh lòng. Khi trái tim chạnh lòng thì liền muốn cưu mang và nâng đỡ. Ông không ngần ngại tiến lại gần người ấy, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Chắc chắn người bị nạn chẳng quen biết gì người Samari kia nhưng ông vẫn nhận được sự quan tâm, chăm sóc ân cần của người ấy. Người Samari đã tự nguyện trở nên người thân cận, thực thi lòng thương xót đối với người ấy. Ông tự nhận trách nhiệm chăm sóc và chi trả những khoản tiền cần thiết để người bị nạn kia sớm phục hồi sức khỏe. Mở lòng yêu thương và cưa mang những người khác, nhất là những người đang gặp khó khăn đòi hỏi ta phải quên đi chính mình, chịu thiệt về mình như thế.

Quả thực, có nhiều lần ta cũng chỉ lo nghĩ đến mình, không thực sự quan tâm đến những anh chị em bên cạnh. Họ sống rất gần ta nhưng lại bị coi như người xa lạ chỉ vì trái tim cứng cỏi của ta không biết chạnh lòng. Ta tìm cách tránh né vì không muốn phiền phức hay rước họa vào thân. Đó đâu phải là cách phản ứng mà Chúa Giêsu muốn nơi ta! Trở thành người thân cận cho người khác là cách để ta có thể trả lời được câu hỏi: “Ai là người thân cận của tôi?” Mỗi ngày, ta hãy để cho Lời Chúa chất vấn, để nhận được câu trả lời từ Chúa, và xin Người gia tăng sức mạnh để ta biết quên mình mà sống cho người khác. Điều quan trọng là sau khi đã nhận được câu trả lời, ta hãy đi và làm như Chúa dạy.

-----------------------------

 

TN 15-C160: HÌNH BÓNG TÔI


Lm Vũđình Tường

 

Vị luật sư hỏi Đức Kitô anh cần làm gì để được hưởng nước trời? Bởi anh là luật sư nên Đức Kitô TN 15-C160


Vị luật sư hỏi Đức Kitô anh cần làm gì để được hưởng nước trời? Bởi anh là luật sư nên Đức Kitô nói với anh. Sách luật dậy thế nào? Anh trả lời theo luật trong sách Xuất hành 20 và Lêvi 19, dậy: mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và thương yêu tha nhân như chính mình. Đức Kitô khen kiến thức luật của anh. Ngài nói với anh: ‘Cứ làm như vậy sẽ được sống’ C.28. Vị luật sư rành rẽ về luật, nhưng gặp trở ngại trong việc áp dụng luật vào thực tế trong cuộc sống. Khó khăn lớn nhất của anh là việc hiểu chính xác nghĩa tha nhân. Anh hỏi Đức Kitô: Tha nhân là ai? Anh mong Ngài giải thích cho. Đức Kitô không trả lời thẳng vào câu hỏi nhưng kể cho anh dụ ngôn người Samaritanô.

Chuyện xảy ra như sau. Một người đi đường bị cướp. Bọn cướp đã lấy hết của còn đánh anh cách tàn nhẫn. Để anh nằm bên vệ đường, nửa sống, nửa chết. Sau đó ít lâu có Thầy Tư Tế và rồi thầy Lêvi cả hai đều đi qua đoạn đường đó. Cả hai trông thấy anh nhưng không ai ra tay cứu giúp. Cả hai, mỗi người tránh sang lối khác mà đi. Kế đến một thương gia đi ngang, trông thấy nạn nhân, ông xuống ngựa đến cứu chữa nạn nhân. Đức Kitô hỏi người luật sư. Theo anh, trong ba người đó, ai là tha nhân của người bị cướp đánh. Vị luật sư đáp: Người thương gia. Đức Kitô nói với anh. ‘Anh hãy đi và cũng làm như vậy’ c.37.

Người thương gia không thông luật bằng vị Tư Tế và Lêvi. Bởi ông là thương gia nên rành vềluật thương mại, buôn bán. Ông lại là người ngoại đạo nên rất có thể ông không rành rẽ về luật mến Chúa hết tâm hồn và yêu tha nhân như chính mình. Người thương gia trông thấy nạn nhân, ông hành xử theo tính nhân bản. Thấy người đau khổ cần giúp thì ông giúp với khả năng của mình. Điều này cho biết luật yêu thương đồng loại được ghi sẵn trong tâm hồn mỗi người. Khi sanh ra đời, ai cũng biết luật yêu thương đồng loại. Luật yêu thương trở thành luật tự nhiên. Thứ hai, biết luật và giữ luật là hai việc khác nhau. Không phải ai biết luật cũng thi hành luật, giữ trọn lề luật. Thứ ba, biết luật không làm cho luật nên trọn. Thực hành luật mến Chúa, yêu tha nhân mới làm trọn lề luật.

Người luật sư đã đúng khi ông tin sự sống trường sinh là quà đặc biệt Chúa ban. Tự sức con người không thể lấy được mà cần nhận từ Thiên Chúa. Để nhận sự sống đời đời con người cần phải mến Chúa và thương người đồng loại. Ông luật sư không gặp trở ngại trong việc mến Chúa, nhưng yêu mến đồng loại như chính mình là vấn đề ông gặp khó khăn. Hầu hết tranh tụng, cãi vã đến từ tha nhân. Hàng xóm tranh tụng cãi vã vì con gà sang bới vườn rau, vì con chó sủa nguyên đêm, vì giây leo hàng rào, vì tiếng ồn vang nhà hàng xóm, vì mùi hôi chuồng heo bay sang. Toàn những chuyện lặt vặt biến sang chuyện lớn tiếng, lớn đến độ kiện tụng nhau.

Yêu người như yêu ta. Ai là tha nhân là vấn đề người luật sư cần làm sáng tỏ. Nói chung, chúng ta thường hiểu tha nhân là người chúng ta biết ít nhiều về họ. Họ sống gần ta, làm cùng sở, xóm giềng. Dụ ngôn người Samaritanô cho biết tha nhân được hiểu là tất cả mọi người. Tha nhân bao gồm mọi sắc tộc, mầu da, ngôn ngữ và ngay cả khác niềm tin tôn giáo, hoặc không tin gì hết. Nạn nhân thuộc tôn giáo gì không rõ nhưng người thương gia rõ ràng là dân ngoại. Dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu chính là dụ ngôn nói về tình yêu không biên giới. Tình yêu này không phân biệt bất cứ ai, giúp được trong khả năng mình thì cứ giúp, và như thế là làm trọn lề luật. Khi giúp nạn nhân người thương gia chấp nhận hiểm nguy có thể xảy ra cho chính ông. Ông không rõ bọn cướp đã đi xa hay còn ẩn trốn đâu đó chờ cướp kẻ khác. Khi ra đi việc thương mại là chính yếu. Bây giờ ông đặt việc thương mại của ông sang hàng thứ yếu, cứu người là ưu tiên số một. Ông cũng tin vào người chủ khách trọ, tin người chủ đó không lường gạt, hoặc đòi giá cắt cổ. Ông chăm sóc cho nạn nhân và còn lo cho chu đáo đến lúc lành bệnh. Ông không trông mong nạn nhận bồi thường, trả lại phí tổn ông chăm sóc cho nạn nhân. Ta có thể nói ông chăm sóc cho nạn nhân như chăm sóc cho chính mình.

Đức Kitô nói với anh luật sư, anh dãy đi và làm như vậy. Đức Kitô cũng nói với mỗi người chúng ta, hãy đi làm như người thương buôn Samaritanô tốt lành.

--------------------------------

 

TN 15-C161: CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN_C.


Lm GB Phạm Hồng Thái

 

Chúa Giêsu đồng ý với phát biểu của ông luật sĩ về giới răn Mến Chúa Yêu Người, và Chúa cho TN 15-C161


Chúa Giêsu đồng ý với phát biểu của ông luật sĩ về giới răn Mến Chúa Yêu Người, và Chúa cho biết thực hành trọn vẹn giới răn nầy là đủ để chúng ta được sự sống đời đời, nhưng đi vào thực tế, phải thể hiện lòng Yêu Người như thế nào thì Chúa Giêsu đã kể cho chúng ta dụ ngôn người Samari nhân hậu như là mẫu gương để ta trở nên người anh em của người chẳng may bị tai nạn.

Đường đi từ Giêrusalem xuống Giêricô: Giêrusalem ở độ cao khoảng 800m, còn Giêricô có độ thấp 275m so với mực nước biển. Quãng đường chỉ dài có 25km nhưng gần bên có những khe núi và hốc đá. Bọn trộm cắp thường lợi dụng để làm sào huyệt.

Dụ ngôn có những nhân vật như sau:

– Trước hết là một người chẳng may lọt vào tay bọn trộm cướp. Người này không những bị lột hết tiền của mà còn bị chúng đánh nhừ tử, nửa sống nửa chết bỏ nằm ở dọc đường. Thật là tội nghiệp và không may mắn, tất nhiên nạn nhân này đang rất cần được sự săn sóc, bằng không thì cầm chắc cái chết!

– Bọn trộm cướp không biết là mấy tên chúng sống ngoài pháp luật chỉ biết gây tai họa cho tha nhân để cướp tiền cướp của. Những người này hiển nhiên là không để ý gì tới luật mến Chúa yêu người.

– Một tư tế và thầy Lê vi đi qua con đường thấy nạn nhân thì tránh sang một bên và tiếp tục hành trình của mình. Hai vị này mới ở đền thờ Giêrusalem thi hành chức vụ của mình xong và trở về nhà. Có thể nói hai vị này tỏ ra có lòng mến Chúa nơi đền thờ nhưng lại thiếu lòng yêu người trong đời sống vì không giúp gì cho nạn nhân; lí do vì sao? Chúa Giêsu không nói, có thể vì họ sợ phiền toái, mất thời giờ hay sợ bọn cướp rình rập, và cũng có thể vì lí do sợ nhiễm ô uế vì theo sách Lêvi đụng tới xác chết là nhiễm ô uế (Lev 21,16). Nhưng nói gì thì nói, họ đã tỏ ra vô cảm đối với người bị nạn.

– Người Samari nhân hậu cũng đi con đường như hai vị tư tế và Lêvi, nhưng khi thấy nạn nhân, ông động lòng thương, tới gần băng bó vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân lên lừa mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau lấy ra hai quan tiền, ông trao cho chủ quán mà bảo rằng: “Ông hãy săn sóc cho người ấy và ngoài ra, còn tốn phí hơn bao nhiêu, khi trở về, tôi sẽ trả lại ông”. Chúng ta thấy người Samari này tỏ ra tận tâm săn sóc hết lòng và tới nơi tới chốn, không quản ngại mất thời giờ, tốn phí tiền bạc miễn là cứu vãn dược mạng sống cho người bị nạn.

Ông không cần biết người này có phải là đồng bào với ông không, cũng không phân biệt tôn giáo, chính trị hay gì gì đi nữa, nhưng ông đã hành động ngay theo lòng thương cảm của ông: điều này khác với quan niệm của người Do thái khi đó chỉ coi người thân cận là anh em đồng bào của mình thôi còn người nước ngoài không phải là người thân cận, có khi còn có thái độ khinh bỉ nữa.

Vậy người Samari nhân hậu này là ai?

Các thánh giáo phụ và nhất là thánh Augustinô nói đó là hình ảnh về Chúa Giêsu, còn người bị nạn là nhân loại, Chúa Giêsu từ Giêrusalem tức là từ trên trời xuống Giêricô là trần gian. Chúa dùng Dầu rượu để xức các vết thương tức là Chúa lập nên các bí tích để chữa lành vết thương do tội lỗi gây nên, Chúa đưa vào quán trọ để nạn nhân được tiếp tục chăm sóc tức là Chúa đưa chúng ta vào Giáo Hội để chờ ngày Chúa trở lại trần gian.

Thế nhưng theo văn mạch, qua người Samari nhân hậu, Chúa có ý chỉ mỗi người chúng ta phải như làm như thế, nên Chúa bảo ông luật sĩ: “Ông hãy đi và làm như vậy”.

Trên đường đời khi gặp anh em đau khổ khó khăn, chúng ta thể hiện tình thương bằng sự giúp đỡ thiết thực, bằng sự chăm sóc tận tình, bằng lời an ủi khích lệ, bằng cử chỉ thân thiện… như lời thánh Phaolô: “Hãy vui với người vui, khóc với người khóc (Rm 12,15)”.

Câu chuyện : Ngày 13/1/1982, khi lái xe tới cầu sông Potomac, anh Larry Skutnik bị kẹt lại vì cầu có lớp tuyết quá dầy, bỗng anh thấy một chiếc máy bay Boeing chở hành khánh gặp nạn lao xuống sông, được biết chiếc máy bay chở tới 79 người. Bước ra khỏi xe, anh thấy có 3 người bám vào đuôi máy bay đang chìm xuống nước. Trực thăng bay tới cứu họ, nhưng chỉ có hai người lên được trực thăng, còn một phụ nữ vuột tay rơi xuống nước. Larry vội nhảy ngay xuống dòng sông giá lạnh và cứu được người phụ nữ đó lên an toàn. Hôm sau phóng viên nhà báo tới phỏng vấn anh: “Do đâu mà anh có được hành động anh hùng như vậy?” Anh trả lời: “Tôi xấu hổ vì chữ anh hùng. Thực ra đó chỉ là phản xạ tự nhiên của tôi thôi”.

Nếu chúng ta có lòng yêu người ăn sâu vào tâm hồn mình thì chúng ta sẽ thể hiện cách thực tình và chu đáo như người Samari nhân hậu và như anh Larry Skutnik trong câu chuyện trên. Xin Chúa cho chúng con biết mến Chúa yêu người như Chúa dạy để chúng con đáng được sống và được sự sống đời đời làm gia nhiệp. Amen.

-------------------------------

 

TN 15-C162: YÊU BẰNG VIỆC LÀM


Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay là câu chuyện đẹp về tình yêu thương. Người Samaritanô nhân TN 15-C162


Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay là câu chuyện đẹp về tình yêu thương. Người Samaritanô nhân hậu đã sống đức yêu thương cách tuyệt vời, đó là “yêu bằng việc làm”.

“Ai là anh em tôi?”. Khi đặt câu hỏi như thế, vị tiến sĩ luật hy vọng rằng, Vị Thầy sẽ đưa ra cho ông một phẩm trật giữa những người gần gũi phải giúp đỡ và những người xa lạ, không cần quan tâm, không cần để ý đến. Câu trả lời của Chúa Giêsu đã quay ngược hoàn toàn câu hỏi. Người anh em, chính là người có lòng thương cảm, ra tay nâng đỡ, cứu giúp những ai đang gặp khó khăn, thử thách, đau khổ, thất vọng. Chúa nói với vị luật sĩ: “Ông hãy đi và làm như vậy”; Ông cứ quảng đại nhân hậu và chạnh thương với mọi người, ông sẽ trở thành người thân của mọi người và mọi người sẽ là người thân của ông.Tấm gương người Samaritanô nhân hậu đã được Đức Thánh Cha Phanxicô đề cao trong Năm Thánh Lòng Thương Xót.

Vô cảm và quan tâm

Chúa Giêsu kể dụ ngôn: một người ở Giêrusalem xuống Giêricô, giữa đường bị bọn cướp trấn lột, đánh cho nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Thầy Tư Tế đi qua, thấy vậy liền lãng tránh. Thầy Lêvi đi tới cũng chẳng ngó ngàng, bỏ mặc nạn nhân. Họ “tránh qua” một bên để đi, thật lạnh lùng, thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của đồng loại, họ vẫn tự cho mình là những người đạo đức, không dám sờ chạm đến người bị nạn vì sợ bị nhiễm uế.

Một người ngoại đạo Samari đi ngang, thấy người lâm nạn nên đã quan tâm, liền cúi xuống băng bó, đặt lên lưng lừa đưa về quán trọ, nhờ chủ quán săn sóc rồi trả hết mọi phí tổn. Người Samari “tới gần” nạn nhân nửa sống nửa chết. Ông “chạnh lòng thương” nên đã đi vào nếm cảm cảnh khốn cùng “bị tước đoạt, bị cướp bóc” như nạn nhân; chạnh lòng thương là cùng đớn đau nỗi khổ ải bất lực “nửa sống nửa chết” của người ấy. Đây chính là điều bất ngờ và làm thành ý nghĩa độc đáo của dụ ngôn. Người Samari đã sống luật yêu thương một cách trọn vẹn, không chỉ là lòng thương cảm mà “yêu bằng việc làm”, và làm với hết khả năng của mình.

Đạo của Chúa Giêsu là Đạo Thiên Chúa làm người, rất gần gũi với con người. Vì con người là con đường của Giáo hội (Thánh Gioan Phaolô II). Người Đông Phương lấy chữ nhân mà định nghĩa con người: nhân là người, nhân là nhân ái là lòng thương người.

Tình yêu và lề luật.

Qua dụ ngôn Chúa Giêsu kể, tôi thấy rằng, cái khác biệt sâu xa giữa Kitô giáo và Do thái giáo, đó là: một bên là đạo của tình yêu, một bên là đạo của lề luật. Tư Tế và Lêvi tượng trưng cho tinh thần vị luật của Cựu Ước. Người Samari tượng trưng cho những người sống tình yêu. Những người tốt thì sống theo sự đòi hỏi của lương tâm hơn là của lề luật thành văn. Thấy người bị nạn, người Samari tốt lành đã động lòng xót thương. Lương tâm và tình thương đồng loại thúc đẩy anh cứu giúp người bị nạn đến nơi đến chốn bất chấp nạn nhân là người Do Thái thuộc dòng tộc có hiềm khích với dòng tộc của anh. Cung cách hành xử đầy tình thương này mới làm đẹp lòng Thiên Chúa.

Nhìn từ lăng kính luật pháp Do thái, hai ông Tư Tế và Lêvi đã không sai. Luật Cựu Ước dạy rằng, Tư Tế không được đụng vào thây người chết vì sợ bị ô uế. Nếu ô uế thì không được phục vụ trong đền thờ. Nạn nhân dở sống, dở chết, tức là có thể chết. Hai người Tư Tế và Lêvi không dám chạm đến người có thể chết. Họ lựa chọn lề luật. Sách luật (Lv 21) ghi rõ điều khoản luật này khi nhắc đến Tư Tế và người chết.

Người Samari lựa chọn bác ái. Ông không ngại chạm đến người dở sống dở chết này. Ông chăm sóc, lo lắng cho bệnh nhân như người thân và đã vượt quá giới hạn lề luật để sống theo bác ái. Khi phải lựa chọn giữa lề luật và bác ái, người nhân hậu lựa chọn bác ái dù biết các ràng buộc của lề luật. Người ấy không bỏ qua lề luật, không đả phá lề luật nhưng vượt trên lề luật nên đã làm trọn lề luật.

Chúa Giêsu hỏi người thông luật: “Ai là người thân cận của nạn nhân đã sa vào tay kẻ cướp?”. Người ấy đáp: “Người đã đem lòng từ bi thương nạn nhân”. Chúa Giêsu đã khéo léo lái vấn đề từ câu hỏi người thông luật: ai là người thân cận của tôi? sang gợi ý tuyệt vời của Ngài: tôi là người thân cận của ai? Trả lời câu hỏi này có lẽ phải đi từ cuộc sống cụ thể của mình. Khi tôi đến gần ai để phục vụ với tình yêu thì tôi trở thành người thân cận với kẻ ấy, và kẻ ấy thành người thân cận với tôi. Ai cũng có thể trở thành người thân cận của tôi nếu tôi yêu thương họ bằng tình yêu mà Chúa đã thương yêu tôi. Chúa Giêsu nói với người thông luật: “Ông hãy đi và hãy làm như vậy”. Ông cứ quảng đại nhân hậu và chạnh thương với mọi người, ông sẽ trở thành người thân của mọi người và mọi người sẽ là người thân của ông.

Luật bác ái vượt trên mọi lề luật khác.Mến Chúa và yêu người là cốt lõi của Kitô giáo. Chúa Giêsu dạy rằng: “Ai yêu mến Thầy sẽ giữ Lời Thầy”. Đạo của Thầy Giêsu là Đạo Tình Yêu. Yêu Chúa, Yêu Người là hai mặt của một tình yêu duy nhất. Yêu Chúa đích thực thì phải yêu người. Thánh Gioan viết: “Ai nói mình yêu Chúa mà không yêu người thì là kẻ nói dối”. Đối với Thánh Phaolô: “Yêu thương là giữ trọn lề luật”. Lề luật không phải được lập nên cho người có tình yêu mà cho người không có tình yêu. Nếu không có tình yêu thì việc làm theo lề luật có tốt đến đâu cũng vô giá trị: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến thì cũng chẳng ích gì cho tôi”. Thánh Augustinô khuyên nhủ: cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm. Tình yêu sẽ cho biết ta phải làm gì.

Luật “Good Samaritan”

Theo tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc (Úc) : “Dưới ảnh hưởng của Phúc Âm Luca, chữ “Samaritan” trở thành biểu tượng của sự từ ái nói chung. Và từ thế kỷ 17, nó nhập vào kho từ vựng tiếng Anh, với nghĩa là người có thiện tâm, biết đồng cảm với nỗi đau của người khác và không ngại cứu giúp người khác. Không phải chỉ giới hạn trong văn chương. Nó còn biến thành luật. Trong thuật ngữ luật pháp, có chữ luật “Good Samaritan” rất phổ biến, với ý nghĩa là “một người nào đó sẵn sàng cứu giúp một kẻ khác đang bị thương hoặc có nguy cơ bị thương chỉ vì thiện chí và không hề tính toán đến chuyện được đền đáp hay bất cứ một phần thưởng nào khác”.

Nội dung khái niệm luật “Good Samaritan” thay đổi theo từng nước. (Xem bài: “The Good Samaritan Law Across Europe” của The Dan Legal network trên https://www.daneurope.org). Ở một số nơi, luật ấy chỉ quy định miễn thuế trên số tiền người dân cống hiến cho các quỹ từ thiện cũng như miễn tội cho những thiệt hại hay những sai phạm có tính kỹ thuật mà những người muốn cứu giúp người khác có thể mắc phải trong lúc khẩn cấp. Ở một số nước, như Pháp hay Đức, luật “Good Samaritan” còn buộc tội bất cứ ai thấy người gặp nạn cần cứu giúp mà không cứu giúp, từ những người gây ra tai nạn (ví dụ tài xế), đến thân nhân nạn nhân (bố mẹ, anh em trước những nguy hiểm của người thân trong nhà) đến cả những người đi qua đường.

Tại Úc, luật “Good Samaritan” chỉ giới hạn trong việc miễn truy tố những thiệt hại do người có thiện chí cứu giúp người khác gây ra (nếu có) nhưng lại không kết tội những kẻ bàng quan vô cảm (trừ đối với những kẻ gây ra tai nạn). Gần đây, đối diện với hiện tượng dửng dưng trước những người gặp tai nạn cần được cứu giúp, nhiều người, đứng đầu là Giáo hội Công giáo tại Úc, đề nghị thêm vào luật “Good Samaritan” một điều khoản mới, về bổn phận giúp đỡ người khác (duty to aid). Nội dung của điều khoản này là: việc cứu giúp người bị nạn không phải chỉ là một vấn đề đạo đức mà còn là một vấn đề pháp lý; không phải chỉ là chuyện thuộc lương tâm mà còn là bổn phận của mọi công dân. Theo luật này, ai thấy người khác đang gặp nạn mà không ra tay cứu giúp có thể bị truy tố và phạt tội. Dĩ nhiên, cái gọi là “cứu giúp” ở đây còn tùy thuộc vào điều kiện và khả năng của từng người. Nhưng ít nhất, có một điều tối thiểu mà ai cũng làm được: kêu cứu (gọi người chung quanh, báo cho cảnh sát hoặc sở cấp cứu). (x. https://en.wikipedia.org/wiki/Good_Samaritan_law).

Trong Thánh Lễ vào sáng sớm thứ Hai tại nguyện đường Thánh Mácta, Đức Thánh Cha Phanxicô đã giảng về dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu. Đoạn kết, ngài nói: Một số nhà Thần Học cổ đại nói rằng, dụ ngôn người Samariatanô nhân hậu chứa đựng “toàn bộ Tin Mừng”. Mỗi người trong chúng ta đều là một người bị thương nằm ở đó và người Samariatanô chính là Chúa Giêsu. Ngài đến gần chúng ta. Ngài chăm lo cho chúng ta. Ngài thanh toán phí tổn cho chúng ta. Ngài chữa lành những vết thương của chúng ta. Và Ngài nói với Giáo hội của Ngài rằng: “Nếu cần nhiều hơn, thì xin bạn cứ ứng ra dùm, khi nào tôi trở lại thì tôi sẽ trả cho bạn. Anh chị em hãy suy nghĩ cho thật kỹ nhé: Toàn bộ Tin Mừng đều nằm trong đoạn này”. (Theo Vatican News – gs – 08.10.2018).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con là những người Samaritanô của thời đại này, biết “yêu bằng việc làm” để chúng con trở nên dấu chỉ hữu hiệu cho Tin Mừng Tình Yêu của Chúa. Amen.

---------------------------------

 

TN 15-C163: CHUYỆN BỐN NGƯỜI


Trầm Thiên Thu

 

Dụ ngôn “Người Samari Tốt Lành” (Lc 10:25-37) đề cập “điều răn lớn” và cũng là điều răn quan TN 15-C163


Dụ ngôn “Người Samari Tốt Lành” (Lc 10:25-37) đề cập “điều răn lớn” và cũng là điều răn quan trọng về lòng thương xót – sống đạo thực sự chứ không giữ đạo theo nguyên tắc, tích cực chứ không tiêu cực, chủ động chứ không thụ động.

Thánh Luca kể tình huống này: Một hôm, có người thông luật muốn THỬ Chúa Giêsu nên hỏi Ngài về CÁCH SỐNG TỐT NHẤT để được sống đời đời. Chúa Giêsu không trả lời thẳng mà hỏi ngược lại: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” Là người thông luật nên ông ta nói đâu ra đấy: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” Chúa Giêsu khen ông ta và xác định: “Ông trả lời đúng lắm. CỨ LÀM NHƯ VẬY thì sẽ được sống.”

Nếu được hỏi, chắc hẳn chúng ta cũng có thể trả lời ngay, không cần suy nghĩ lâu. Nhưng đó mới chỉ là lời nói suông. Từ miệng lưỡi tới bàn tay là khoảng cách rất ngắn nhưng cũng là con đường hun hút rất dài, ngỡ như vô tận, bởi vì nói được chứ chưa chắc làm được.

Chúa Giêsu nói rõ ràng, thẳng thắn, nhưng ông ta muốn chứng tỏ là mình có lý nên hỏi vặn lại: “Nhưng ai là NGƯỜI THÂN CẬN của tôi?” Chúa Giêsu ôn tồn kể dụ ngôn: Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có THẦY TƯ TẾ cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một THẦY LÊVI đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một NGƯỜI SAMARI kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông đưa tiền cho chủ quán và nhờ săn sóc nạn nhân, tốn kém thêm bao nhiêu rồi ông sẽ hoàn lại sòng phẳng.

Rồi Ngài hỏi người thông luật: “Vậy theo ông, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là NGƯỜI THÂN CẬN với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” Người thông luật cũng mau mắn trả lời: “Chính là kẻ đã THỰC THI LÒNG THƯƠNG XÓT đối với người ấy.” Chúa Giêsu bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng HÃY LÀM NHƯ VẬY.” Hai lần Ngài bảo người thông luật “hãy làm như vậy.” Liệu ông ta có thi hành? Không ai biết, nhưng rất có thể là “không,” vì điều đó có lẽ quá khó đối với ông.

Và hôm nay, Chúa Giêsu cũng bảo chúng ta y như thế. Làm hay không là quyền tự do của mỗi người, Chúa không muốn ai miễn cưỡng mà làm bất cứ việc gì. Câu nói “hãy làm như vậy” rất đơn giản mà lại phức tạp, dễ mà khó. Ai “làm như vậy” là thanh toán món nợ lòng thương xót đối với nhau – và Thiên Chúa coi như là làm cho chính Ngài. (x. Mt 25:31-46) Bất cứ ai “làm như vậy” thì “tên được ghi trên trời,” (Lc 10:20) và chắc chắn sẽ được lãnh nhận sự sống đời đời như Chúa Giêsu đã xác nhận.

Mỗi khi nghe dụ ngôn này lại thấy “nhột” lắm. Là thầy này thầy nọ, ông nọ bà kia, chức cao phẩm lớn, nhưng viện đủ lý do để làm ngơ người khác: lấy cớ bận việc, không có thời gian, vội vì có việc gấp, không muốn khó đến mình,… Đó là tự biện hộ cho sự vô cảm xấu xa của mình. Còn người mà chúng ta nhìn bằng nửa con mắt lại là NGƯỜI TỐT, thực sự nhân hậu, không so đo chi cả.

Trong dụ ngôn này có bốn người: Nạn nhân, thầy tư tế, thầy Lêvi, và người Samari. Nạn nhân là người “bị động” vì không thể làm gì được. Chúng ta cũng có những lúc đành thúc thủ như vậy, nhưng nhờ đó mà chúng ta nhận ra ai là người bạn đích thực, đa số chỉ là “bè” mà thôi.

Hai người kia là thầy tư tế và thầy Lêvi, những người được tôn trọng vì chức tước, những người dạy người ta sống đúng đắn và làm điều hay lẽ phải, thế nhưng họ chỉ nói năng hay, giảng thuyết giỏi, khuyên răn đúng, chứ chính họ không làm. Rõ ràng họ thấy nạn nhân khốn khổ mà họ làm ngơ, viện đủ cớ để thoái thác.

Còn người Samari? Ông này là người ngoại đạo, không biết luật tôn giáo, không nói hay, không chỉ bảo ai, nhưng ông thực sự có trái tim của Chúa, biết chạnh lòng thương xót nạn nhân mà ông bất ngờ gặp trên đường. Chắc là ông cũng bận việc, nhưng ông gác lại việc riêng để làm điều phải làm ngay: cứu người gấp. Ông không chỉ làm những gì cần thiết – sơ cứu, mà ông còn tận tụy đưa nạn nhân đi cấp cứu và thậm chí còn thanh toán mọi chi phí cho nạn nhân, chứ không đòi hỏi gì hoặc sợ bị thua thiệt. Ông ngoại giáo này sống đạo chứ không chỉ giữ đạo như những người có đạo, ông không nề khó khăn, cũng chẳng sợ bị phiền toái, sẵn sàng “vác tù và hàng tổng” mà không sợ người khác chê bôi.

Người Samari không mắc nọ nạn nhân nhưng ông vẫn thanh toán món nợ không vay: Nợ Yêu Thương. Ông là người thật tuyệt vời! Lạ thay, Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái.” (Rm 13:8a) Món nợ này rất kỳ diệu, bởi vì “ai yêu người thì đã chu toàn lề luật.” (Rm 13:8b) Yêu người là yêu Chúa, miệng nói kính mến Chúa mà không yêu thương tha nhân thì chỉ là nói xạo, phét lác. (x. 1 Ga 4:7-21)

Nhưng Chúa Giêsu còn “nghiêm khắc” hơn về món nợ này. Ngài bắt buộc mọi người đều phải “trả hết đồng xu cuối cùng.” (x. Mt 5:26) Đó cũng chính là mệnh lệnh yêu thương. Mệnh lệnh có nghĩa là phải thực hiện, không thể không làm.

Thời Cựu Ước, ông Môsê nói với dân: “Nếu anh em nghe tiếng Chúa, Thiên Chúa của anh em, hãy giữ những mệnh lệnh và thánh chỉ Người, ghi trong sách Luật này, miễn là anh em trở về với Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ. Quả thế, mệnh lệnh tôi truyền cho anh em hôm nay đây, không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh em.” (Ðnl 30:10-11) Ông cho biết thêm rằng mệnh lệnh đó không ở trên trời, cũng không ở bên kia biển, mà ở rất gần chúng ta, ngay trong miệng, ngay trong lòng chúng ta, để chúng ta đem ra thực hành. (Ðnl 30:12-14)

Hồng Ân Thiên Chúa luôn dạt dào, bao la, tuôn trào vô tận. Cảm nhận sâu sắc nên Thánh Vịnh gia đã thốt lên: “Lạy Chúa, phần con xin dâng Ngài lời nguyện, lạy Chúa Trời, đây giờ phút thi ân. Xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày, vì Chúa vẫn trung thành ban ơn cứu độ.” (Tv 69:14) Nhưng không phải vì thế mà ỷ lại, ảo tưởng. TIN Thiên Chúa yêu thương mình thì không là kiêu ngạo, nhưng TƯỞNG Thiên Chúa yêu thương mình thì là kiêu ngạo. Làn ranh giữa TIN và TƯỞNG rất mong manh. Là tín nhân thì phải thành tâm cầu xin: “Lạy Chúa, xin lấy lòng nhân hậu mà đáp lại lời con; xin mở lượng hải hà mà đoái thương nhìn đến.” (Tv 69:17)

Có vô số lý do để chúng ta cầu xin, đơn giản nhất là nhận biết mình yếu đuối: “Phần con đây, thật khốn cùng đau khổ, lạy Chúa Trời, xin cứu vớt đỡ nâng.” (Tv 69:30) Cầu nguyện không chỉ là cầu xin, mà trước tiên phải là tạ ơn và chúc tụng: “Tôi sẽ hát bài ca chúc mừng Danh Thánh, sẽ dâng lời cảm tạ tán dương Người.” (Tv 69:31)

Đối với đứa con yếu đuối, cha mẹ yêu thương đặc biệt hơn. Đó chính là hình bóng của Lòng Chúa Thương Xót, vì Ngài rất yêu thương và quan tâm những người mọn hèn – cả nghĩa đen và nghĩa bóng, như Thánh Phaolô xác nhận: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội.” (Rm 5:20) Thế thì thật may mắn cho chúng ta – những tội nhân xấu xa. Nhưng như vậy cũng có nghĩa là chúng ta “mắc nợ” Thiên Chúa. Vì thế, Thánh Vịnh gia động viên: “Những ai nghèo hèn, xem đấy mà vui lên, người tìm Thiên Chúa, hãy nức lòng phấn khởi. Vì Chúa nhậm lời kẻ nghèo khó, CHẲNG COI KHINH thân hữu bị giam cầm.” (Tv 69:33-34)

Thánh Phaolô xác nhận rằng “Đức Kitô đứng hàng đầu,” vì Ngài là Vua các vua, Chúa các chúa, và có toàn quyền. Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác định: “Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã BAN CHO NGƯỜI CON MỌI QUYỀN XÉT XỬ, để ai nấy đều tôn kính người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con.” (Ga 5:22-23) Thánh Phaolô phân tích: “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, TẤT CẢ ĐỀU DO THIÊN CHÚA TẠO DỰNG NHỜ NGƯỜI và CHO NGƯỜI.” (Cl 1:15-16)

Thiên Chúa duy nhất, không có bất cứ thần linh nào khác. Thật hạnh phúc vì chúng ta được ơn nhận biết và tôn thờ Ngài. Nói về Ngài, Thánh Phaolô nói: “Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người. Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự, Người đứng hàng đầu.” (Cl 1:17-18) Vậy là quá rõ ràng, chúng ta là các chi thể, nghĩa là chúng ta không thể là một “phần rời” mà là “phần dính,” nghĩa là có tính liên đới về mọi sự – cả hữu hình và vô hình, cả tâm linh và đời thường. Ai tự tách rời là tự hủy diệt, vì cành nho không thể tách khỏi thân cây nho.

Tại sao? Thánh Phaolô cho biết nguyên nhân: “Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật ĐƯỢC HÒA GIẢI với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại BÌNH AN CHO MỌI LOÀI dưới đất và muôn vật trên trời.” (Cl 1:19-20)

Là tình yêu nên Thiên Chúa rất nhân từ và đại lượng. Mặc dù chúng ta ngang ngược, hoàn toàn bất xứng, nhưng chúng ta vẫn được tha thứ, được nâng như trứng mỏng, vậy mà chúng ta lại quá hẹp hòi, ngôn hành đối lập, nói một đàng, làm một nẻo. Vì ích kỷ và vô tâm nên không thực thi đức ái hoặc lòng thương xót. Có bị phạt cũng chẳng oan ức chi!

Kinh Thánh cho biết: “Người thương xót bao nhiêu thì cũng hạch tội bấy nhiêu: Người xét xử ai nấy tuỳ theo việc họ làm. Kẻ tội lỗi không thoát nổi với của gian đã cướp, và người đạo hạnh kiên nhẫn đợi chờ sẽ chẳng luống công.” (Hc 16:12-13) Kinh Thánh cũng xác định: “Áp bức người yếu thế là sỉ nhục Đấng tạo thành nên họ, thương xót kẻ khó nghèo là tôn kính Đấng dựng nên người đó.” (Cn 14:31)

Có bốn người nhưng có hai vấn đề: Tốt và Xấu. Người nào cũng dạy cho chúng ta bài học sống vô giá: Người xấu giúp chúng ta tránh đi vào vết chân của họ, còn người tốt thúc giục chúng ta phải đi theo dấu chân của họ.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con nhận biết mình là “nạn nhân” giữa đời này và chấp nhận mọi sự, nhờ đó có thể sống khiêm tốn; xin giúp chúng con biết quan tâm và sẵn sàng giúp đỡ tha nhân; và xin giúp chúng con tránh thói ỷ lại, hợm mình mà vô cảm trước nỗi đau của người khác. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

--------------------------------

 

TN 15-C164: LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH


Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

 

Cách đây vài ngày, ngày 25-6-2019, báo chỉ đưa tin và hình ảnh Camera ghi lại một chiếc taxi hãng TN 15-C164


Cách đây vài ngày, ngày 25-6-2019, báo chỉ đưa tin và hình ảnh Camera ghi lại một chiếc taxi hãng Vinasun tông xe vào một đôi nam nữ đang chạy xe gắn máy trên đường tại Sàigòn khiến hai người bất tỉnh. Người tài xế dừng xe, bước xuống quan sát và khi không thấy ai ngoài hai nạn nhân, anh ta lạnh lùng lên xe và tẩu thoát. Ngày 8-7-2019, một thông tin khác cho hay tại Gia Lâm (Hà Nội) một chiếc xe hơi đã tông thẳng vào người phụ nữ lao công đang làm việc, khiến chị bị văng bên lề đường và tử vong. Người tài xế “máu lạnh” này cũng bỏ chạy, để mặc nạn nhân. Những thông tin này cho thấy con người càng ngày càng vô trách nhiệm và vô cảm đối với tha nhân, nhất là đối với những nạn nhân do chính họ gây nên.

Truyền thống văn hoá Việt Nam của chúng ta có biết bao lời giáo huấn về tình liên đới, ca ngợi những nét đẹp thể hiện qua sự đùm bọc cứu giúp lẫn nhau: “Lá lành đùm lá rách”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng…”, “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”. Trong thời buổi hiện đại này, những nét đẹp truyền thống ấy có nguy cơ bị quên lãng do sự ích kỷ của con người.

Đối với một số tín hữu Công giáo, việc đón nhận giáo huấn của Chúa và của Giáo Hội chỉ dừng lại ở lý thuyết và không có thực hành. Đó là lý do tại sao vẫn tồn tại những tranh chấp nơi các cộng đoàn. Đây đó vẫn có những người nhận mình là Kitô hữu mà sống ngược lại với giáo huấn của Chúa. Người tín hữu đích thực là người lắng nghe và thực hành Lời Chúa, để rồi Lời Chúa là kim chỉ nam hướng dẫn và soi rọi mọi hành vi cử chỉ và lời nói của mình. Thiếu thực hành, đời sống đức tin có nguy cơ biến thành một truyền thống văn hoá hoặc những chỉ dẫn luân lý thuần tuý trần gian. Đó là điểm nhấn trong giáo huấn của Lời Chúa hôm nay.

Thiên Chúa không chỉ là Đấng ngự trên chín tầng cao xanh. Tác giả Đệ nhị Luật đã khẳng định điều đó. Xuyên suốt lịch sử dân Do Thái, Thiên Chúa luôn phù trợ đồng hành và che chở. Ngài đã mặc khải cho ông Môisen: “Ta là Thiên Chúa của Abraham, của Isaac và của Giacóp. Điều này có nghĩa, Ngài là Thiên Chúa gần gũi với con người và luôn cứu giúp con người. Vì vậy, luật của Chúa cũng không phải điều gì xa xôi, mà gần gũi với con người, để rồi ai cũng có thể thực hành được, tuỳ hợp với khả năng và bậc sống của mình.

Nếu trong Cựu ước, Thiên Chúa được trình bày như một Đấng che chở đồng hành với Dân được tuyển lựa, thì đến thời của Tân ước, Chúa sai Con của Ngài nhập thể để ở cùng nhân loại, đồng cam cộng khổ với con người, để chia sẻ kiếp sống nhân sinh đầy thử thách gian nan và đau khổ. Qua Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa vô hình đã trở nên hữu hình. Đấng vĩnh cửu đã bước vào thời gian. Thánh Phaolô đã khẳng định: “Đức Giêsu là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình”. Điều đó có nghĩa, nếu con người không thể nhìn thấy Thiên Chúa, thì họ có thể gặp ngài qua Người Con, là Ngôi Lời nhập thể (Bài đọc II). Người Samaritanô nhân hậu chính là hình ảnh của Chúa Giêsu. Người đã cứu vớt và chữa lành cả nhân loại đã bị tổn thương do tội lỗi. Người đã mang lấy nỗi đau và bệnh tật của con người, để cho họ được hạnh phúc và bình an. Kitô giáo là Đạo nhập thể, là tôn giáo khẳng định “Thiên Chúa đã làm người và ở giữa chúng ta”.

Nếu Thiên Chúa đã cúi mình xuống để cưu mang và cứu độ con người, thì con người lại dửng dưng đối với nhau. Trong dụ ngôn “Người Samaritanô nhân hậu”, Chúa Giêsu đã nhắc tới hai người được đào tạo và có chức vị trong Do Thái giáo, đó là một tư tế và một trợ tế. Họ là những người “cầm cân nẩy mực” để đánh giá và duy trì những chuẩn mực luân lý và mức độ đạo đức của người dân. Khi thấy người bị nạn, bầm dập vết thương và bị bỏ rơi nửa sống nửa chết bên vệ đường, hai người này đã dửng dưng bỏ đi. Họ được giáo dục về lòng yêu mến tha nhân, nhưng lòng yêu mến đó chỉ dừng lại ở sách vở và lý thuyết, còn những con người đau khổ cụ thể thì họ lại bỏ qua. Trong khi đó, người Samaritanô, một người “dân ngoại” và vô danh, lại mang một trái tim nhân hậu. Những chi tiết được nhắc tới trong dụ ngôn cho thấy anh là một người chu đáo tận tâm. Anh chấp nhận những hệ luỵ và mọi tốn kém để cứu giúp người bị nạn. Anh còn chu đáo dặn người chủ quan: “Nhờ anh chăm sóc giúp người này, tốn phí bao nhiêu, tôi sẽ thanh toán khi trở về”. Anh đã coi người bị nạn như người thân cận của mình, và hơn nữa, như chính bản thân mình vậy.

Lời Chúa hôm nay vừa dạy chúng ta cảm thương cứu giúp những người bị nạn, vừa thay đổi những thành kiến về những người xung quanh. Như đã nói ở trên, trong quan niệm của người Do Thái nói chung thời bấy giờ, những người Samaritanô là người bị coi thường và đáng khinh bỉ. Đây là những hệ luỵ vừa mang tính lịch sử vừa mang tính tôn giáo. Khi diễn tả người Samaritanô cảm thương cứu giúp người bị nạn, Chúa Giêsu muốn lên án sự kỳ thị chia rẽ và phân biệt. Đừng coi thường những người không cùng chủng tộc và tôn giáo với mình, vì họ mang trái tim nhân hậu, trong khi những người xưng mình là công chính chưa chắc đã tốt như họ.

“Lạy Thày, tôi phải làm gì để được sống đời đời?”. Chúa Giêsu đã trả lời bằng cả một câu chuyện đong đầy ý nghĩa sâu sắc. Người Samaritanô vốn bị khinh bỉ coi thường, bỗng trở thành mẫu gương cho mọi người: “Hãy đi và làm như vậy!”. Đây vừa là câu trả lời dành cho người thông luật, vừa là mệnh lệnh Chúa gửi đến chúng ta. Quả vậy, Lời Chúa không chỉ là những lý thuyết suông, nhưng phải được thực hành cụ thể trong đời sống. Vâng, chúng ta hãy đi vào cuộc sống. Hãy có lòng nhân hậu đối với tha nhân. Hãy có trái tim nhân hậu và lòng nhân từ như Cha trên trời.

------------------------------

 

TN 15-C165: TRỞ NÊN NGƯỜI THÂN CẬN


Bông hồng nhỏ

 

Cuộc sống luôn mang đến cho ta những bài học làm người. Nếu chỉ dừng lại trên những kiến thức TN 15-C165


Cuộc sống luôn mang đến cho ta những bài học làm người. Nếu chỉ dừng lại trên những kiến thức ta lĩnh hội được, việc làm người sẽ không trọn vẹn, điều cần thiết hơn cả là những hành động yêu thương cụ thể. Đã hơn một lần ta kinh nghiệm rằng, làm một hành động yêu thương thì khó hơn là nói một lời yêu thương.

Hôm nay, có một người thông luật đã đến hỏi Thầy Giêsu: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Lc 10, 25). Thầy Giêsu đã để ông tự trả lời khi gợi mở: “Trong Lề luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” (Lc 10, 26). Ông nói rõ ràng từng điều một, rất chính xác: “Ngươi phải  yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình” (Lc 10, 27). Thầy Giêsu cũng mời gọi ta như mời gọi người thông luật: “Cứ làm như vậy là sẽ được sống”. Người ta có thể đánh lừa người khác bằng sự thánh thiện bề ngoài khi siêng năng “giữ đạo”, nhưng Thiên Chúa, Đấng thấu suốt lòng người đã luôn đòi hỏi mỗi người Kitô hữu phải “sống đạo”. Khi lòng ta thực lòng yêu mến Thiên Chúa thì chính Người sẽ ban cho ta khả năng yêu mến người khác. Một người yêu mến và kính sợ Thiên Chúa sẽ không ngừng thực thi lòng thương xót đối với người khác. Để yêu thương thật tâm, với sức riêng ta không thể làm được. Bởi chính khi chỉ cậy dựa vào sức mình, ta cũng yêu thương người khác, nhưng tình yêu ấy đã chỉ dừng lại trên ý muốn  của ta, ta chưa yêu như Thầy Giêsu đã yêu. Tình yêu của ta hoàn toàn vị kỷ. Bằng cách ở lại bên Chúa Giêsu Thánh Thể, ta sẽ được Người dạy cho biết yêu thương đến cũng và vô vị lợi.

Ai là người thân cận của tôi? Đó cũng là câu hỏi làm ta băn khoăn, trăn trở. Thầy Giêsu đã kể một dụ ngôn về người Samari nhân hậu. Người này đã thực thi lòng thương xót đối với người bị rơi vào tay kẻ cướp khi dừng lại, cúi xuống để xức dầu và rượu, băng bó vết thương cho người anh em của mình. Lời Chúa hôm nay mời gọi ta “hãy đi” để rời khỏi vị trí của mình, nơi mà ta đã chỉ lo lắng cho sự an toàn của bản thân, chỉ dừng lại để nghĩ tốt cho mình; “hãy đi” để ra khỏi cái nhìn hạn hẹp, ích kỷ, để nhìn sang, nhìn xuống và nhìn đến người đang ở bên cạnh ta. Họ là những người  nghèo của Chúa, những người Chúa muốn ta “trở nên người thân cận” của họ. Để khi đã đi ra khỏi mình, ta mới có thể bắt tay vào việc trở nên người thân cận của tất cả mọi người, “tất cả” bắt đầu từ những người cụ thể. “Cứ làm như vậy”, đó là lời mời gọi rất khẩn thiết mà mỗi ngày Thầy Giêsu vẫn không ngừng nói trong tâm hồn ta.

Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu! Xin mở rộng trái tim con mỗi ngày để tình yêu Chúa thấm vào lòng con. Xin đốt lòng con yêu mến Chúa và xin giúp con biết mở ra trước sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần và hết lòng yêu mến Chúa, để chính Người sẽ dạy con biết trở nên người thân cận của anh em mình. Những gì Chúa đã ban cho con, con xin dâng lại cho Chúa để danh Chúa được cả sáng hơn. Amen.

------------------------------

 

TN 15-C166: YÊU THƯƠNG MỌI NGƯỜI


Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

 

Sống  trên đời nếu ai đó không sống, không cảm nghiệm tình yêu thì khó lòng có thể hiểu tình TN 15-C166


Sống  trên đời nếu ai đó không sống, không cảm nghiệm tình yêu thì khó lòng có thể hiểu tình yêu là gì ! Thường người ta thích, cảm tình với người yêu mình, với người thiện cảm hay quan tâm tới mình.Tuy nhiên đối với người môn đệ của Chúa, người Kitô hữu, Chúa đòi hỏi con người chúng ta phải đi xa hơn nữa.Chúa bảo chúng ta phải yêu hết mọi người, chính bản thân mình.yêu thương ngay cả thù địch.Đức Giêsu nói :” Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn…”, đối với người lân cận, chúng ta hãy xem Chúa đưa ra dụ ngôn về người Samaritanô nhân hậu để trả lời vị thông luật cũng như cho mọi người qua muôn thế hệ là “ hãy yêu mến người thân cận như chính bản thân mình “ ! Đúng là một đòi hỏi đầy tình nghĩa, một sự đáp trả đầy tình thương, đầy tình người…

Dụ ngôn về người Samaria nhân hậu mang ý nghĩa cao vời,nhân văn sâu xa và đầy tình yêu thương, bác ái. “ Vậy ai là người thân cận của kẻ bị cướp đánh ?”- Chúa đặt câu hỏi với người thông luật và ông đã mau mắn thưa lại với Chúa Giêsu:” Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót “. Chúa Giêsu bảo ông :”…Hãy đi, và cũng hãy làm như vậy “ ( Lc 10,37 ).Người Samaritanô nhân hậu đã không chỉ nói trên đầu môi chóp lưỡi, nói mà không làm. Ông đã thi hành đức ái và tình thương tuyệt vời đối với người bị cướp đánh dở sống dở chết. Ông đã nói và hành đông. Ngôn hành đi đôi.Người Pharisêu, người Do Thái đã qui định tình yêu thương đối với người khác. Họ bóp méo giới luật yêu thương của Thiên Chúa. Đối với họ, họ đã bóp méo luật bác ái, yêu thương, họ đã quá tỉ mỉ, cố bóp méo tình yêu thương. Họ chỉ yêu phe họ, những  người yêu họ, thiện cảm với họ. Chúa Giêsu qua dụ ngôn này đã phá đổ rào cản mà các Kinh sư, Luật sĩ, Pharisêu núp bóng để tránh thực thi luật bác ái yêu thương.Trong đoạn Tin Mừng này cho chúng ta thấy cái trớ trêu của các thầy Tư tế và Lêvi, những thầy dạy sống yêu thương lại tránh lối khác mà đi khi đối diện với người bị nạn. Sở dĩ các thầy Tư tế và Lêvi tránh người bị nạn ví họ chỉ nói mà không làm, họ sợ bị lây nhiễm, phiền hà, sợ đụng vào xác chết, sợ bọn cướp và nhất là chỉ nói ngoài môi miệng, sống giả hình vv…Còn người Samaritanô dù là người ngoại giáo, không phải là chức sắc, chức việc , nhưng ông đã biết dừng lại để làm cái  điều mà tiếng lương tâm đòi buộc là thực thi tình nhân loại, đức thương người.Hành động của người Samaritanô thật cao quý biết bao, vì ông đã vượt qua giới hạn mà các thầy Tư tế và Lêvi phải làm nhưng đã không làm. Vâng, người Samaritanô đã trở nên bạn với người bị nạn. Bởi vì, người ta có thể trở nên huynh đệ, anh em với nhau khi con người biết cảm thông, quảng đại, tha thứ …Vì yêu thương không có nghĩa là cho tha nhân tiền của, vật chất nhưng là sống bác ái với nhau. Thầy Tư tế và Lêvi đã sống hoàn toàn xa lạ đối với người đồng loại, họ đã làm ngơ với người bị nan khi hằng ngày họ vẫn rao giảng sống bác ái yêu thương. Ngôn hành của họ thực bất nhất. Họ nói mà không làm đúng như lời Chúa nói.

 Chính vì thế, có sống yêu thương, con người mới hiểu được hai chữ yêu thương. Người Samaritanô nhân hậu chính là hình ảnh của Chúa Giêsu.Vì yêu thương nhân loại, Người đã hóa kiếp làm người để sống vì, sống cho nhân loại, sống cho con người. Người đã hủy mình ra không, sống khó nghèo, làm tất cả mọi sự, thậm chí làm những việc vượt quá sự mong đợi của con người miễn sao con người được hạnh phúc.Chúa Giêsu chính là quà tặng tình yêu vô giá Thiên Chúa trao tặng cho nhân loại, cho con người.Tình yêu của Chúa chính là sự tự hiến chết cho ngươi mình yêu :” Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu “ ( Ga 15,13 ).

Đạo Công giáo là Đạo tình yêu. Người Kitô hữu phải thể hiện Đạo Tình Yêu bằng chính đời sống bác ái yêu thương của mình theo gương Đức Giêsu. Mỗi Kitô hữu phải sống tình yêu thương bác ái bằng những việc làm cụ thể, bằng những hành động tỏa sáng. Nếu không, họ chỉ là Kitô hữu giả hiệu như thầy Tư tế và Lêvi đã rao giảng tình thương nhưng không sống tình thương. Yêu thương là tự hiến, hy sinh chết đi cho người yêu được sống.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã làm gương cho chúng con bằng chính sự hy sinh tự nguyện, dám chết cho nhân loại, cho chúng con để cho tất cả người Chúa yêu được sống. Xin cho mỗi người chúng con cũng biết sống như Chúa để mọi người khi gặp chúng con họ cũng nhận ra Chúa đang hiện diện trong chúng con.Amen.

GỢI Ý  ĐỂ CHIA SẺ :

1.Người Samaritanô nhân hậu là ai ?
2.Tại sao Thầy Tư Tế và Lêvi lại tránh người bị nạn mà đi đường khác ?
3.Yêu thương đối với Chúa Giêsu là gì ?
4.Tại sao không cảm nghiệm yêu thì lại không hiểu được thế nào là yêu ?
5.Đạo Công Giáo là Đạo gì ?

-----------------------------------

 

TN 15-C167: ĐỨC KITÔ LÀ TỘT ĐỈNH VÀ SỰ KIỆN TOÀN LỀ LUẬT


Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Đnl 30:10-14;  Cl 1:15-20;  Lc 10:25-37)

 

Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện qua việc Người muốn luôn luôn cải thiện mối TN 15-C167


Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện qua việc Người muốn luôn luôn cải thiện mối tương quan giao ước với nhân loại.  Ôn lại lịch sử cứu độ, chúng ta biết sự cải thiện ấy đã xảy ra nhiều lần:  nào là biểu tượng cầu vồng sau cơn lụt đại hồng thủy, nào là phép cắt bì khi Thiên Chúa kêu gọi Áp-ra-ham, rồi tới Mười Điều răn Người ban cho dân Ít-ra-en qua ông Mô-sê.  Sau đó là các ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến để nhắc nhở dân Người hãy trung thành với Người.  Bước cuối cùng để cải thiện mối tương quan với nhân loại là sự kiện Thiên Chúa sai Con Một đến làm dấu hiệu sống động bày tỏ tình yêu Người yêu thương chúng ta.  Lề Luật là những lời trên bia đá hoặc sách vở.  Còn Chúa Ki-tô là bộ luật bằng xương bằng thịt sống giữa nhân loại như người con đích thực của Thiên Chúa.  Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nói với chúng ta về người con ấy.

          Trước hết chúng ta hãy nghe chính miệng ông Mô-sê giải thích về Lề Luật Chúa như thế nào.  Ở đây khi nói với dân Ít-ra-en, ông Mô-sê nhấn mạnh đến tính cách thực dụng của Lề Luật.  Thứ nhất, ông Mô-sê minh định:  “Mệnh lệnh (Luật Thiên Chúa) tôi truyền cho anh em hôm nay đây không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh em”.  Lề Luật là mệnh lệnh và thánh chỉ của Thiên Chúa giúp chúng ta thể hiện tốt đẹp mối tương quan với Người.  Nhưng nếu đó là những “gánh nặng” đặt trên vai chúng ta (Mt 23:4), hoặc là những điều không thích hợp với khả năng của ta, thì Lề Luật ấy chẳng ích lợi gì cả và cũng chẳng làm cho mối tương quan của ta với Chúa được phát triển chút nào. Thứ hai, ông Mô-sê giải thích rằng Lề Luật ấy là do Thiên Chúa ban và Người đặt Lề Luật ấy “ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành”.  Quả là thực tiễn.  Luật Chúa không chỉ là lời nói ngoài miệng, mà phải là những gì chúng ta tâm niệm trong lòng, để thúc đẩy và hướng dẫn ta hành động theo ý Chúa.  Đây cũng chính là điều Chúa Giê-su đã từng lập đi lập lại để giúp các môn đệ Người không những đón nghe lời Chúa, mà còn đem ra thực hành nữa.

          Thiên Chúa đã ban cho dân Người các Điều răn được khắc trên bia đá và đặt chúng ngay trong lòng họ, cốt để giúp họ sống xứng đáng là dân được Người tuyển chọn.  Tuy nhiên Thiên Chúa còn muốn ban cho toàn thể nhân loại một bộ luật sống bằng xương bằng thịt, đó là Chúa Ki-tô được chiêm ngưỡng trong đoạn thư Cô-lô-xê chúng ta nghe hôm nay.  Thánh Phao-lô giới thiệu Chúa Ki-tô như “trưởng tử” của nhân loại, hoặc nói theo ý nghĩa thần học, Chúa Ki-tô là khuôn mẫu tạo dựng mà Thiên Chúa muốn tất cả chúng ta phải theo.  Chúa dựng nên chúng ta, nhưng chúng ta đừng hiểu việc tạo dựng ấy chỉ đơn thuần là việc chúng ta được thụ thai trong lòng mẹ, rồi lớn lên và cuối cùng là chết.  Chúng ta được dựng nên, đó phải là một tiến trình phát triển theo khuôn mẫu Chúa Giê-su, Đấng “ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa” (Lc 2:40, 52).  Chúng ta được dựng nên có nghĩa là chúng ta không những lớn lên về thể xác, mà tinh thần và đạo đức cũng phải đạt tới “tầm vóc viên mãn” của Chúa Ki-tô nữa (Ep 4:13).

          Chúng ta đã nghe ông Mô-sê nói về tính thực tiễn của Lề Luật.  Rồi thánh Phao-lô cống hiến chúng ta hình ảnh Chúa Giê-su là Lề Luật giúp ta sống đời sống mới trong sự thánh hóa của Chúa Thánh Thần và trở nên giống Chúa Ki-tô.  Nhưng đặc biệt nhất là bài Tin Mừng Lu-ca đã diễn tả Chúa Giê-su vừa là Đấng ban Lề Luật vừa là mẫu gương thực hành Lề Luật.  Khi trả lời câu hỏi của Chúa “Trong Luật đã viết gì?  Ông đọc thế nào?”, người thông luật đã liên kết chặt chẽ hai điều răn mến Chúa cùng yêu tha nhân và được Chúa tán dương.  Nhưng đó mới chỉ là nói về Lề Luật trên lý thuyết thôi!  Ông là nhà thông luật thì Luật “viết” gì mà ông chẳng đọc chẳng biết!  Nhưng từ cái biết đến thực hành là con đường dài, nên Chúa Giê-su đã bổ túc câu trả lời của ông ta bằng cách đưa ra phương pháp sống những điều mình biết.  Chúa kể dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu cho ông nghe, rồi Người kết luận:  “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”.  Đây cũng là lời nhắn nhủ dành cho nhóm Pha-ri-sêu nói riêng và cho tất cả chúng ta nói chung.

Sống sứ điệp Lời Chúa

          Lời Chúa hôm nay trình bày vấn đề thật sâu sắc.  Cũng như người thông luật trong bài Tin Mừng, chúng ta đều hỏi Chúa:  Thưa Thầy, con phải làm gì để được sống đời đời?  Có lẽ Chúa không cần khảo bài giáo lý chúng ta, nhưng Người sẽ tùy theo cá tính hoặc tình trạng đời sống thiêng liêng của ta để kể cho ta nghe một câu chuyện đã xảy ra trong đời sống của ta.  Chúa sẽ nói cho ta biết cách hành xử của ta nên có trong câu chuyện ấy, giống như Người đã chỉ cho nhà thông luật cách tỏ lòng thương xót đối với anh chị em như thế nào.  Đợi cho chúng ta thấm bài học, Chúa sẽ dịu dàng bảo chúng ta:  Con hãy đi và cũng hãy làm như vậy.  Chúa Giê-su là Mô-sê Mới, nên các Điều răn Người ban cho chúng ta cũng là những Điều răn mới.  Mới không có nghĩa là khác với cũ, nhưng là mới trong cách sống và thực hành các những điều răn ấy.  Tột đỉnh và sự kiện toàn của Lề Luật chính là Chúa Giê-su và cách Người thực hành Lề Luật.  Người dạy ta yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân, rồi Người chết trên thập giá để kiện toàn Lề Luật!

----------------------------

 

TN 15-C168: TÌNH YÊU, CỐT LÕI CỦA KITÔ GIÁO


Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

 

Trong tác phẩm Quo Vadis của nhà văn Henry Sienkiewicz kể lại rằng: Một này nọ, một người ngoại TN 15-C168


Trong tác phẩm Quo Vadis của nhà văn Henry Sienkiewicz kể lại rằng: Một này nọ, một người ngoại giáo đến hỏi Thánh Phêrô khi ngài vừa tới Rôma: “Người Hy Lạp đem đến cho chúng tôi sự khôn ngoan, người La Mã chúng tôi có lề luật và quyền lực, còn tôn giáo của ông đem lại điều gì?” Thánh Phêrô không ngần ngại trả lời: “Tình yêu! Kitô giáo mang đến cho thế giới tình yêu.”

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật XV giới thiệu với chúng ta một chủ đề đáng suy nghĩ, đó là: “Mến Chúa và yêu người.” Đây là luật mới và là cốt lõi của đời sống người Kitô hữu.

1. Mến Chúa trên hết mọi sự

Trong bài đọc I, trích từ sách Đệ Nhị Luật, qua môi miệng của Môsê, Thiên Chúa mời gọi dân Chúa hãy tuân giữ các giới răn và huấn lệnh của Người. Luật này không phải ở đâu xa xôi, nhưng là ở bên cạnh các ngươi, trên môi miệng và khắc ghi trong lòng các ngươi. Luật này đạt tới sự viên mãn nhờ và trong Đức Kitô (bài đọc II).

Cốt lõi của lề luật được tìm thấy trong bài Tin Mừng hôm nay: “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn người, và hãy yêu thương anh em như chính mình” (Lc 10,27). Chúa Giêsu xác nhận đó là con đường dẫn tới sự sống đời đời.

Vậy, “yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi” có nghĩa là gì? Xin thưa: có nghĩa là chúng ta phải đặt Thiên Chúa ở chỗ nhất trong bậc thang giá trị của cuộc sống. Theo đó, Thiên Chúa là ưu tiên số một, là quan trọng nhất trong mỗi suy nghĩ, phán đoán và hành động của đời ta, còn những thứ khác là thứ yếu. Và mỗi ngày ta sống theo chọn lựa đó, trong khi có những người bên cạnh có thể chọn tiền bạc, danh dự, quyền lực, hưởng lạc là chỗ nhất cho cuộc đời của họ.

2. Yêu người như chính mình

Nhưng chỉ mến Chúa thôi thì chưa đủ, mới chỉ được một nửa, chúng ta còn phải “yêu thương anh em như chính mình.” Ở đây, chúng ta để ý chữ “như chính mình” trở thành chuẩn mực: Đơn giản là chúng ta hãy xem mình đối xử với chính mình như thế nào thì cũng phải đối xử với người khác như vậy. Đức Khổng Tử dạy: “Đừng làm cho người khác những gì mà bạn không muốn làm cho mình.” Đức Giêsu còn đi xa hơn: “Hãy làm cho người khác những gì mà bạn muốn làm cho mình,” nhất là đối với những người đang cần đến sự giúp đỡ của chúng ta. Vì thế, theo tinh thần của Tin Mừng, chúng ta không được phép tìm mọi cách để đạp đổ và hạ bệ những người khác khi họ thành công, cũng không được phép vui mừng khi thấy họ gặp thất bại. Trái lại, chúng ta phải vui với người vui, khóc với người khóc!

Cũng cần chú giải thêm dụ ngôn: Vị tư tế và Lêvi đã không giúp đỡ người gặp nạn trên đường. Tại sao? Xét theo luật của Cựu Ước, thì họ không sai, họ đang giữ luật. Vì theo luật Do Thái, khi lên Đền Thờ thì mọi người, nhất là tư tế, luật sỹ phải giữ mình khỏi ô uế và phải sạch. Nên họ không được đụng đến máu, xác chết, không được vào nhà gặp gỡ người ngoại. Vì vậy khi làm như thế, hai vị này đang trung thành tuân giữ lề luật của Do Thái Giáo. Nhưng ở đây, Chúa Giêsu mang đến cho chúng ta một sự mới mẻ. Đó là luật bác ái vượt trên mọi lề luật khác. Ai yêu thương là chu toàn lề luật. Và mến Chúa và yêu người là cốt lõi của Kitô giáo.

3. Hãy đi và làm như vậy

Như thế, chúng ta tìm thấy câu trả lời cho Kark Marx, ông tổ của học thuyết cộng sản vô thần, khi ông nói rằng tôn giáo của chúng ta chỉ lo cho sự sống mai hậu nhưng lại sao nhãng bổn phận xây dựng cuộc sống trần thế. Có thể Marx đã có lý trên bình diện thực tiễn, khi ông không thấy có những Kitô hữu thực sự sống Tin Mừng vào thời ông, hay nói như triết gia Jacques Maritain rằng “nỗi đau của thế kỷ XIX là không phải có Marx, mà là không có những Kitô hữu giống như Marx.” Bởi lẽ, cốt lõi của Kitô giáo dạy chúng ta là yêu mến Thiên Chúa và từ đó hướng tới tha nhân, không phân biệt ai, hướng tới xây dựng xã hội bình đẳng, công bình và bác ái. Việc đến nhà thờ là để giúp chúng ta sống tốt hơn trong gia đình, nơi công sở, trong công việc chúng ta. Việc đọc kinh xem lễ không phải là để ẩn náu, thoát đời một cách ích kỷ, nhưng là để tìm kiếm sự bình an cho tâm hồn mình, từ đó chúng ta mang bình an về trong gia đình và lan tỏa bình an đó ngoài xã hội.

“Hãy đi và làm như vậy!” (Lc 10,37). Lời đó Chúa nói với người thông luật và hôm nay Người cũng nói với mỗi người chúng ta. Như người Samaritanô nhân hậu đã ưu tiên chọn bác ái là trên hết, tất cả chúng ta cũng được mời gọi thực hành luật bác ái bằng việc làm cụ thể cho tha nhân. Bằng cách đó, chúng ta đang yêu mến Chúa, đang giữ luật và đang xây dựng thế giới này theo nền văn minh tình thương do Chúa Giêsu gợi hứng cho chúng ta hôm nay. Amen!

--------------------------------

 

TN 15-C169: HÀNG XÓM


Lm Vũđình Tường

 

Nói đến hàng xóm, ai cũng có câu chuyện kể về hàng xóm. Người may mắn là người có hàng TN 15-C169


Nói đến hàng xóm, ai cũng có câu chuyện kể về hàng xóm. Người may mắn là người có hàng xóm tốt bụng. Hàng xóm tốt coi sóc nhà hàng xóm như của chính mình. Hàng xóm tốt giả hình là người ngày đêm rình rập nhà người với mục đích riêng. Sau năm 1975 có nhiều chuyện kể về người hàng xóm. Sống nơi xóm làng chuyện đôi co giữa hàng xóm nhỏ bằng con gà, lớn hơn là con lợn và đôi khi to bằng con trâu. Gà nhà bà sang vườn nhà tôi. Lợn nhà bác ủi sạch luống rau sau nhà. Trâu nhà bác ăn lúa nhà tôi. Tất cả đều là những chuyện nhỏ được nuôi dưỡng trở thành chuyện lớn.

Hàng xóm cũng là người đầu tiên đến giúp đỡ, ủi an khi gia đình gặp tai biến. Hàng xóm cũng là người khiêng người thân mình ra nghĩa trang. Thông thường chúng ta coi hàng xóm là những người sống gần nhà mình, cùng trong xóm ngõ. Theo đó í nghĩa hàng xóm giới hạn đến độ người chung chuyến xe với mình từ quê ra tỉnh không phải là hàng xóm, người ngồi đợi đến lượt hớt tóc không phải là hàng xóm. Dụ ngôn người Samaritanô cho biết Đức Kitô muốn thay đổi quan niệm giới hạn về hàng xóm. Theo Ngài, mọi người đều là hàng xóm. Đã là con người, dù xấu tốt, cùng lí tưởng hay khác chính kiến, người đó cũng là hàng xóm. Đức Kitô dậy: ‘Yêu Chúa hết sức mình… và yêu tha nhân như chính mình’ Lc 10,27. Nghe thế có người luật gia hỏi Đức Kitô, xin Ngài nói rõ hơn ‘Ai là người hàng xóm? c.29’.

Đức Kitô kể dụ ngôn một người đi đường bị cướp, còn bị đánh đập gần chết, để nằm dọc đường. Thầy Tư Tế đi qua lối đó, ông tránh sang một bên. Thầy Lêvi cũng trông thấy nhưng cũng tránh sang một bên. Cả hai đều không giúp nạn nhân. Người thương buôn thành Samaritanô trông thấy, ông ta xuống băng bó và gởi vào nhà trọ gần bên. Ông trả tiền cho chủ nhà trọ và hứa khi xong việc nếu còn thiếu ông sẽ trả thêm. Đức Kitô hỏi người luật gia, trong ba người ấy ai là người hàng xóm? (c.37). Người luật gia đáp người Samaritanô. Đức Kitô bảo ông. Đúng thế anh hãy đi và làm như vậy. Dụ ngôn cho biết người Samaritanô lần đầu tiên gặp nạn nhân và ông động lòng thương ra tay giúp đỡ, coi người đó như hàng xóm, bất kể người đó xấu tốt ra sao. Lòng nhân ái, thương người của ông vượt qua ngôn ngữ, màu da, phái tính và ngay cả quá khứ của nạn nhân. Câu chuyện cho biết tất cả đều là hàng xóm. Thầy Tư Tế, thầy Lêvi, và ngay cả bọn cướp đều là người hàng xóm. Thầy Tư Tế và thầy Lêvi là những người hàng xóm coi trọng luật, Họ cố gắng giữ mình khỏi bị ô uế khi chạm vào bệnh nhân mình mẩy bê bết máu. Vì lí do đó mà cả hai đều tránh sang một bên không giúp đỡ nạn nhân. Bọn cướp là hàng xóm rình rập, chỉ biết đến lợi nhuận, coi tiền bạc trọng hơn mạng sống người khác. Người Samaritanô là người có lòng thương tha nhân như chính mình và ông ta là mẫu người hàng xóm mà Đức Kitô kêu gọi mọi người sống theo hành động bác ái đó. ‘Yêu người như yêu ta’.

Dụ ngôn người Samaritanô còn dậy khôn về cách xử dụng tiền bạc, của cải. Không đủ tiền để sống chính mình là nạn nhân; khi tiền bạc dư giả người khác là nạn nhân. Nhan nhản trong xã hội khi thành công gia đình tan rã, ăn chơi, lên mặt dậy đời, ra lệnh cho người này, sai bảo kẻ nọ làm điều sai trái. Dùng tiền bạc hối lộ xuyên tạc sự thật, dùng quyền thế bao che hành vị tội ác. Người Samaritanô hành xử hoàn toàn khác, ông dùng tiền bạc của mình để cứu người. Ông không mong nạn nhân trả lại. Ông không mong chủ nhà trọ giảm giá. Ông ước mong nạn nhân được chăm sóc chu đáo vì thế ông hứa khi xong việc nếu cần phải trả thêm phí tổn ông sẵn sàng. Điều này chứng tỏ ông coi mạng sống con người trọng hơn tiền bạc. Ông dùng tiền một cách khôn ngoan, dùng tiền bảo vệ sự sống. Chúng ta xin ơn khôn ngoan biết cách xử dụng của cải Chúa ban cách khôn ngoan.

Trên phương diện lớn hơn, phương diện quốc gia. Nếu lãnh tụ các quốc gia trên thế giới học được bài học này, sống theo phong cách của người thành Samaritanô, chắc chắn sẽ không có chiến tranh biên giới, sẽ không có tranh chấp Biển Đông, sẽ không có đặc khu kinh tế, sẽ không có chạy đua vũ khí. Như thế tiền thay vì dùng vào việc chế tạo, chạy đua vũ khí, hoả tiễn đầu đạn nguyên tử, tầu ngầm, máy bay tàng hình, được chuyển vào quĩ giáo dục, bệnh viện và cứu đói sẽ dồi dào, do đó đời sống dân nghèo sẽ thoải mái, thảnh thơi hơn cuộc sống hiện tại.

------------------------------

 

TN 15-C170: SỐNG ĐỜI


Lm. Giuse Trần Việt Hùng

 

Làm gì được sống đời đời? Một thầy thông luật, ngỏ lời xin thưa. Chúa rằng yêu mến luật xưa, TN 15-C170


Làm gì được sống đời đời?
Một thầy thông luật, ngỏ lời xin thưa.
Chúa rằng yêu mến luật xưa,
Hết lòng mến Chúa, cả vừa trí khôn.
Linh hồn hết sức kính tôn,
Anh em thương mến, đồng môn như mình.
Trả lời chính xác đồng tình,
Thi hành trọn vẹn, phúc vinh sống đời.
Ai là bạn hữu trên đời?
Dụ ngôn Chúa dậy, tuyệt vời lắm thay.
Một người bị cướp không may,
Dập vùi đánh đấm, nằm ngay vệ đường.
Không ai giúp đỡ dủ thương,
Tình cờ tư tế, đường trường vượt qua.
Nạn nhân khổ nạn kêu la,
Tiếp theo trợ tế, đi qua không nhìn.
Nằm yên một chỗ van xin,
Có người ngoại giáo, niềm tin không ngờ.
Giúp cho người lạ đang chờ,
Anh em của Chúa, bến bờ yêu thương.

Chúa Giêsu đã kể câu truyện về một người rơi vào tay bọn cướp bị đánh nhừ tử và đã được một người ngoại giáo thương giúp đỡ. Hành vi bác ái của người ngoại giáo là bài học tình liên đới con người với nhau. Qua việc bác ái yêu thương, mọi người trở thành anh chị em với nhau. Chúng ta là đồng loại. Một người ngoại giáo được nêu gương soi cho mọi người về việc bác ái yêu thương.

Anh chị em của tôi là ai? Có thể là những người trong gia đình, họ hàng, cùng quê hương xứ sở, cùng màu da, tiếng nói, dân tộc và cùng tôn giáo. Chúa Giêsu đi vượt qua tất cả các giới hạn đó. Chúa đi vào lòng con người, tình anh chị em được thể hiện qua chính sự yêu thương chia xẻ. Chúng ta cùng có một Cha trên trời, Đấng tạo dựng muôn loài muôn vật. Chúa cho mưa nắng thuận hòa trên hết mọi người. Chúng ta cùng nhận lãnh nguồn sống từ Thiên Chúa. Chúng ta đều mắc nợ nhau, mắc nợ tình yêu mến.

Trong cuộc sống xã hội, con người đã tự đặt ra nhiều ngăn cách với nhau. Họ phân chia lãnh thổ, tạo ra biên giới và xây tường ngăn cách. Các quốc gia dân tộc cũng thế, họ giới hạn bờ cõi, quốc tịch, quyền công dân và các đặc quyền riêng từng nước. Các tôn giáo cũng bị ảnh hưởng trong các tổ chức trần thế, có các tín điều, nghi thức, thủ tục, luật lệ và truyền thống. Con người xã hội còn rất nhiều những phân biệt về văn hóa, niềm tin, tục lệ và thêm sự kỳ thị chủng tộc, mầu da và ngôn ngữ…Tất cả những rào cản đó làm con người tự xa lạ với nhau.

Chúa Giêsu muốn nối kết tất cả mọi người trở thành một gia đình nhân loại. Chúa dậy rằng: Ai nghe và thực hành lời Chúa, người đó là anh chị em và là mẹ của Chúa. Hôm nay Chúa Giêsu mở thêm cánh cửa để mọi người kết thành anh chị em với nhau. Đó chính là việc thực hành bác ái yêu thương. Bác ái không phân biệt kẻ sang và người hèn, kẻ giầu và người nghèo. Bác ái bao trùm tất cả. Chúng ta sống chung và đồng hành với người khác. Đời của chúng ta là một chuỗi mang ơn. Đã có những lần chúng ta sa cơ lỡ bước, những lần chúng ta rơi vào cảnh không nhà, không cửa, đã có những lần chúng ta bơ vơ giữa chợ đời và đã có những bàn tay nhân ái đưa ra phụ giúp chúng ta.

Chúng ta đã lãnh nhận nhưng không, hãy cho nhưng không. Hãy rộng tay giúp đỡ những kẻ kém may mắn hơn chúng ta là những trẻ mồ côi, người khuyết tật, kẻ phong cùi, người già nua góa bụa và những người không có nơi ăn chốn ở… Những người này là anh chị em của chúng ta. Chính họ đang giúp chúng ta trên đường về nước Chúa.

-------------------------------

 

TN 15-C171: NGƯỜI TRONG BỐN BỂ THẬT LÀ ANH EM


JM. Lam Thy

 

Các bài đọc hôm nay (CN XV/TN-C) nói đến luật Bác Ái là kính mến Chúa và yêu thương phục vụ TN 15-C171


Các bài đọc hôm nay (CN XV/TN-C) nói đến luật Bác Ái là kính mến Chúa và yêu thương phục vụ tha nhân, đặc biệt trong việc giúp đỡ những người lâm cảnh khó khăn. Bài Đọc I (Đnl 30, 10-14) phân giải: Lề luật của Chúa đã được ghi khắc vào lòng chúng ta (lương tâm) để hướng dẫn chúng ta sống cho xứng đáng những con người đã được Chúa dựng nên theo hình ảnh Chúa, chúng ta cần đem ra thực hành trong cuộc sống hằng ngày. Bài đọc II (Cl 1, 15-20) khẳng định: Chúa Giê-su cũng chính là Thiên Chúa thật, Người mặc lấy thân xác con người, đổ máu ra trên Thánh Giá để cứu chuộc nhân loại và trở nên “trưởng tử mọi loài thọ sinh và là Đầu Giáo Hội.” Bài Tin Mừng (Lc 10, 25-37) kêu gọi người tín hữu phải thực hành Đức Bác Ái để được sống đời đời. Đó là yêu mến Chúa hết lòng và yêu thương phục vụ tha nhân. Người Sa-ma-ri tốt lành là hình ảnh của những người biết thương cảm và hy sinh giúp đỡ mọi người, nhất là những người gặp hoạn nạn, dù người đó là ai.

Bài Tin Mừng (Lc 10, 25-37) trình thuật câu chuyện một người thông luật “hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Lại thêm một trường hợp những luật sĩ, kinh sư Pha-ri-sêu đến “thử” Đức Giê-su. Thay vì trả lời, Đức Giê-su lại hỏi ngược lại để xem thử ông ta “thông luật” đến cỡ nào: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” Ông ta đành tự trả lời câu hỏi của mình: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” (Lc 10, 28). Tới đó, Đức Giê-su mới trả lời thẳng váo thắc mắc lúc đầu của “nhà thông luật”: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.”

Cứ tưởng như thế thì “nhà thông luật” sẽ câm miệng, không ngờ ông ta lại “muốn chứng tỏ là mình có lý” để tiếp tục “thử” Đức Giê-su: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” Hỏi câu này, ông ta đã dựa theo lẽ thường tình thế sự vẫn quan niệm “người thân cận” là những người gần gũi, thân thiết như cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, họ hàng, bạn bè … (như trong từ “thân” vẫn thường dùng; vd : “thân nhân: người thân”, “thân phụ: cha”, “thân mẫu: mẹ”, “thân thích: họ hàng nội ngoại” v.v…). Và vì thế, Đức Giê-su phải kể một dụ ngôn “Người Sa-ma-ri tốt lành” và từ dụ ngôn ấy, Người lại đặt câu hỏi để chính người thông luật tự tìm ra định nghĩa trả lời cho câu hỏi của mình.

Như vậy, “người thân cận” trong dụ ngôn của Đức Ki-tô không phải là họ hàng máu mủ ruột thịt, mà lại là một người xa lạ, một người bất chợt gặp trên đường đời. Nghe ra có vẻ nghịch lý, bất bình thường (một người chưa hề quen biết, bất chợt gặp trên đường mà lại được coi là “thân cận” ư?). Tuy nhiên, nếu suy cho cùng, thì sẽ thấy là mặc dù sống gần gũi nhau nhưng chưa chắc cha mẹ, anh em bè bạn đã thật sự thân thiết với nhau, nếu chưa thật sự yêu thương nhau. Đến ngay như vợ chồng đầu gối tay ấp, cũng không thiếu những trường hợp “đồng sàng, dị mộng” (chung giường, khác mộng), huống hồ. Chính Đức Giê-su cũng nói : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình và trong gia đình mình mà thôi.” (Mt 13, 57 ), “Kẻ thù của mình chính là người nhà” (Mt 10, 36).

Đức Ki-tô rất hay dùng cách nói mà ngày nay thường coi là biện pháp nghệ thuật đắc dụng, đó là biện pháp “tương phản” (nói trái với ý chính để làm nổi bật ý chính – vd : “Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của mình chính là người nhà.” – Mt 10, 34-36); hoặc “ám tỉ” (so sánh ngầm, vd: “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men.” – Mt 12, 33) ; hoặc “ẩn dụ” (ví ngầm, vd : “Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được.” – Mt 13, 31-32).

Và trong dụ ngôn “Người Sa-ma-ri tốt lành” cũng vậy, Đức Ki-tô đã dùng biện pháp “tương phản”: Sự gần gũi (thân cận), nếu xét theo quan niệm “tĩnh”, thì thầy Tư tế và thầy Lê-vi là người đồng hương (cùng ở Giê-ru-sa-lem) và đồng đạo (Do Thái giáo) với người bị nạn, hẳn nhiên phải gần gũi hơn người Sa-ma-ri (là một dân ngoại) chỉ tình cờ đi ngang qua chỗ người bị nạn. Gần gũi như vậy nhưng thấy người bị nạn “nửa sống nửa chết” thì “lánh qua một bên mà đi”. Còn người xa lạ Sa-ma-ri thoạt trông thấy đã “chạnh lòng thương” và ở lại hết lòng cứu chữa người bị nạn. Vậy thì phải hiểu như thế nào về từ “thân cận”? Rõ ràng ở đây phải hiểu theo quan niệm “động”: nghĩa là thân cận hay không thân cận là do cách đối xử yêu thương hay không yêu thương đối với nhau. Tình yêu làm con người trở nên gần gũi nhau, còn sự thờ ơ, lãnh đạm tạo nên khoảng cách là điều tất yếu vậy.

Cũng chính vì người đời quan niệm chỉ có cha mẹ, anh em, họ hàng mới là người thân cận, nên Đức Giê-su Ki-tô mới dạy: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” (Mt 12, 48-50). Thi hành ý muốn của Chúa Cha là ý muốn gì? Không cần hỏi thì cũng đã sẵn câu trả lời: Đó là ý muốn “Đem Tin Mừng Cứu  Độ đến cho mọi người – nhất là những người nghèo khó, bệnh tật, tù tội… – bằng tình yêu, như Thiên Chúa Tình Yêu đã thực hiện cho nhân loại, thông qua chính Con Một của Người là Đức Giê-su Ki-tô.” Người Sa-ma-ri trong dụ ngôn tuy không thông luật, nhưng đã “làm theo ý muốn của Chúa Cha, Đấng ngự trên trời” vậy. Và người thông luật cuối cùng cũng đã thông hiểu vấn đề, nên Đức Ki-tô liền bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10, 37).

Lời Đức Giê-su nói với người thông luật cũng tương tự như lệnh truyền cho 72 môn đệ đi rao giảng: “Anh em hãy ra đi” (Lc 10, 3). Chính ở điểm này cho thấy câu chuyện người thông luật cùng với dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành có liên hệ với việc các môn đệ được Đức Giê-su sai đi rao giảng Tin Mừng. Người bảo người thông luật hãy ra đi và làm như người Sa-ma-ri (yêu thuơng tất cả mọi người, coi họ như người thân cận của mình). Khi sai các môn đệ đi rao giảng, Người cũng truyền: “Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà It-ra-en. Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Anh  em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ. Anh  em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.” (Mt 10, 6-8)

Người Ki-tô hữu chính là những môn đệ đã hơn một lần được Thầy Chí Thánh Giê-su truyền: “Anh em hãy ra đi và cũng hãy làm như vậy”. Khi được sai đi như thế, điều tiên quyết là phải từ bỏ chính mình và coi tất cả mọi người trên khắp năm châu bốn biển đều là người thân cận như anh em trong một gia đình (“tứ hải giai huynh đệ”). Một cách cụ thể: “Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa… Hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa: vui với người vui, khóc với người khóc… Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hoà thuận với mọi người.” (Rm 12, 9-18).

Tóm lại, “Ki-tô hữu có thể nhìn bằng con mắt của Chúa Giê-su và chia sẻ tâm trí của Người, thiên hướng con thảo của Người, vì họ chia sẻ tình yêu của Người, vốn là Thần Khí của Người.” (Thông điệp “ÁNH SÁNG ĐỨC TIN – LUMEN FIDEI”, số 21). Vâng, hãy nhìn bằng “con mắt của Chúa Giê-su” – Con-Mắt-Tình-Yêu – như trong dụ ngôn “Người Sa-ma-ri tốt lành”, mọi việc sẽ sáng tỏ. Đúng vậy, “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8). Ấy cũng bởi vì “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình.” (1Ga 4, 20-21). Ước được như vậy. Amen.

-----------------------------

 

TN 15-C172: HÃY ĐI VÀ LÀM NHƯ VẬY.


Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

Thưa anh chị em,

 

Sống ở đời chúng ta đều mang một ước mơ là mong sao cho mình được bình an hạnh phúc, trường TN 15-C172


Sống ở đời chúng ta đều mang một ước mơ là mong sao cho mình được bình an hạnh phúc, trường sinh bất tử. Nhà luật sĩ cũng nằm trong khát vọng đó nên tìm đến với Đức Giêsu để nói lên ước vọng của mình: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?”. Đức Giêsu hỏi lại: “Ông đọc thấy trong sách luật có viết điều gì?”. Nhà luật sĩ trả lời ngay: “Hãy yêu mến Chúa hết lòng….. và yêu tha nhân như chính mình”. Đức Giêsu khen ông trả lời chính xác, và Ngài bảo: “Ông hãy đi, và làm như vậy”.

 Thế nhưng, xem ra ông chưa hài lòng nên thưa lại với Đức Giêsu: ” ai là thân cận để tôi yêu?”. Đức Giêsu không trực tiếp trả lời nhưng Ngài kể cho ông nghe câu chuyện người Samaria nhân hậu.

Đọc trong Tin mừng, chúng ta thấy có những người không có đạo, nhưng họ lại sống tinh thần đạo. Chẳng hạn như: Người vác đỡ thập giá cho Chúa trên đường lên núi Sọ là ông Ximong ngoại đạo. Người tỏ lòng biết ơn khi được Chúa chữa lành bệnh phong cùi là người ngoại đạo. Người tin nhận “Đúng ông này là Con Thiên Chúa”, là anh lính Rôma, ngoại đạo. Người có lòng thương cảm đối với nạn nhân trong dụ ngôn hôm nay cũng là người ngoại đạo. Trong khi đó Thầy Tư Tế, Thầy Lêvi là những người có đạo, những người rao giảng về đạo, nhưng lại không thi hành cốt lõi của đạo thánh Chúa.

Anh chị em thân mến,

Khi sống giữa nhân loại, Đức Giêsu đã không ngần ngại nhận chúng ta là anh em. Ngài là người Samaria nhân hậu đến trần gian để băng bó và chữa lành vết thương bầm dập vì tội lỗi, giúp con người trở về tình trạng thánh thiện nguyên thuỷ. Nhờ máu Người đổ ra trên Thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an và ơn giải thoát cho con người.

Từ câu chuyện dụ ngôn trên, Đức Giêsu muốn dạy chúng ta con đường dẫn đến sự sống đời đời là tình yêu. Tình yêu không đóng khung trong lề luật như thầy tư tế, như thầy Lêvi, nhưng tình yêu phải trải rộng ra không phân biệt màu da chủng tộc, giai cấp, tôn giáo. Tình yêu không dừng lại ở cảm xúc, nhưng ở hành động cụ thể như người Samaria đã làm trong Tin mừng hôm nay.

Nhìn vào cung cách sống của người xứ Samaria, chúng ta cần xem lại đời sống đạo của mình. Nếu chúng ta dự lễ đọc kinh hằng ngày như thầy Tư tế, như thầy Lêvi, mà chúng làm ngơ trước nỗi khổ của tha nhân… thì chúng ta mắc tội thiếu sót, đây là một trong bốn tội mà trước mỗi thánh lễ chúng ta đều thưa lên: “Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói việc làm và những điều thiếu sót”. Tội thiếu sót này Chúa nói rõ trong dụ ngôn nhà Phú hộ đối với Lazarô nghèo khó.

Bởi lẽ, có Lời Chúa dạy: “Ai yêu mến Thầy sẽ giữ Lời Thầy”. Đạo của Chúa là đạo tình yêu. Yêu Chúa, yêu người là hai mặt của một tình yêu duy nhất. Yêu Chúa đích thực thì phải yêu người. Thánh Gioan viết: “Ai nói mình yêu Chúa mà không yêu người thì là kẻ nói dối”. Còn đối với thánh Phaolô: “Yêu thương là giữ trọn lề luật”. Bởi vì, nếu không có tình yêu thì việc làm dù có tốt đến đâu cũng vô giá trị: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến thì cũng chẳng ích gì cho tôi”.

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói rằng: ” Chúng ta không thể an vui hạnh phúc, nếu ở đâu đó người hành khất Lazarô vẫn còn đứng chờ trước cửa nhà chúng ta”.

Người Samaria nhân hậu đã sống đức yêu thương cách tuyệt vời, đó là “yêu bằng việc làm”. Anh đã cho đi mà không tính toán, không chờ đợi một lời cảm ơn nào, Đức Giêsu mời gọi chúng ta sống và thực thi yêu thương: “Hãy đi và làm như vậy”.

Trên thế giới ngày nay có quá nhiều người đau khổ cùng cực đủ mọi hoàn cảnh khác nhau. Chúa cần bàn tay chúng ta nâng đỡ những người đau khổ trên đường phố.

Chúa cần đôi chân chúng ta đi đến thăm viếng những người bệnh tật, những người bị con cháu bỏ rơi.

Ước gì mỗi người chúng ta hãy là những Samaria nhân hậu; hãy là Gioan Thiên Chúa; hãy là Mẹ Têrêsa Cacutta…. biết chạnh lòng thương trước nỗi khổ của tha nhân. Hãy đem những mãnh đời đau thương dập nát về quán trọ của lòng mình, bằng  ánh mắt quan tâm, với đôi tay rộng mở.

Vậy, sau khi chúng ta được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và Thánh Thể, có Chúa ở với chúng ta. Xin cho chúng ta biết thể hiện niềm tin của mình bằng hành vi yêu thương người thân cận. Người thân cận được hiểu là người ta đang sống, đang gặp gỡ, đang mời gọi chúng ta cảm thông, nâng đỡ và yêu thương họ. Amen.

--------------------------------

 

TN 15-C173: TÌNH YÊU KHÔNG BIÊN GIỚI


Lm Giuse Đinh lập Liễm

A. DẪN NHẬP.

 

Ông Maisen, trước khi từ biệt dân Do thái để đi về đời sau, đã khuyên nhủ họ hãy quyết tâm theo TN 15-C173


Ông Maisen, trước khi từ biệt dân Do thái để đi về đời sau, đã khuyên nhủ họ hãy quyết tâm theo Chúa bằng việc tuân giữ các giới răn của Ngài. Theo họ, luật Chúa ở bên ngoài họ và vượt trên sức họ, nhưng ông Maisen cho họ biết giới răn ấy không ở đâu xa mà ở ngay trong lòng họ (bài đọc 1). Đức Giêsu đã giản lược các giới răn ấy lại còn hai giới răn là “Mến Chúa và yêu người” (Tin mừng).

Đối với luật sĩ và biệt phái thì luật mến Chúa là quá rõ, ai cũng biết vì nó có ở trong kinh Schema mà người Do thái đọc hằng ngày; nhưng còn luật yêu người thì họ còn mù mờ : “Thế nào là yêu người thân cận như chính mình ? Người thân cận là ai” ? Chính vì vậy mà một người thông luật đến chất vấn Đức Giêsu xem người thân cận là ai ? Đức Giêsu không trả lời bằng lý thuyết xuông có thể gây tranh luận, Ngài dùng dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu để nói cho người thông luật biết rằng : người thân cận không phải chỉ là người Do thái, mà là bất cứ ai không phân biệt giai cấp, mầu da, chủng tộc hoặc tín ngưỡng, đang cần sự giúp đỡ của chúng ta.

Một khi đã công nhận “Tứ hải giai huynh đệ” : bốn bể là anh em thì mọi người phải thương yêu nhau, giúp đỡ nhau, phải thực hành bác ái bằng những việc làm cụ thể chứ không phải chỉ ở trên đầu môi chót lưỡi. Mọi việc làm phải có tính cách vô vị lợi, không tính toán, bởi vì những gì chúng ta làm cho tha nhân là làm cho chính Chúa và Ngài sẽ trả công cho xứng đáng và còn dư dật nữa.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

          +  Bài đọc 1 : Đnl 30,10-14.

          Lề Luật của Thiên Chúa được ghi trong Thánh Kinh. Lề Luật được truyền qua ông Maisen và Luật ấy không vượt quá sức con người, không cần tìm ở trên trời hay ngoài biển khơi mà ở sát bên con người, nơi miệng con người và ở ngay trong con người.

          Luật Maisen là phương tiện giúp dân Israel xây dựng một tình huynh đệ chân thành. Luật ấy không dựa trên những nguyên tắc trừu tượng, nhưng được khắc ghi trong lòng con người đến nỗi ai cũng biết, nên mọi người phải ra sức thi hành với lòng yêu mến.

          +  Bài đọc 2 : Cl 1,15-20.

          Tín hữu Côlôssê tuy đã tin vào Đức Giêsu Kitô, nhưng còn làm những việc trái với lòng tin đó. Vì thếù, thánh Phaolô đã khẳng định sự ưu việt của Đức Giêsu Kitô. Trước hết trong trật tự tự nhiên : Ngài siêu việt hơn các tạo vật, vì chính Ngài là đầu hết và chung cuộc của công trình sáng tạo.

          Còn trong trật tự cứu độ : Ngài là khởi nguyên mọi ơn cứu độ, vì Ngài giao hoà tạo vật với Thiên Chúa. Như vậy, địa vị của Đức Kitô là địa vị trung tâm, là Đấng trung gian duy nhất.

          Bởi vậy, muốn được cứu độ thì chỉ cần tin vào một mình Đức Giêsu Kitô, không cần nhờ bất cứ một tôn giáo hay thần thánh nào khác.

          +  Bài Tin mừng : Lc 10,25-37.

          Sách Luật gồm có 613 khoản. Người ta chưa đồng ý với nhau về câu hỏi : điều khoản nào trọng nhất. Vì thế, một thầy thông luật đã đặt ra cho Đức Giêsu một câu hỏi hết sức căn bản :”Điều răn nào trọng nhất” ? Đức Giêsu hỏi lại, và ông đã đáp trúng, đó là mến Chúa yêu người (Đnl 6,5; Lv 19,18). Nhưng vấn đề ông đặt ra là  “Tha nhân hay nguời thân cận là ai” ? Phải chăng, người thân cận chỉ là những đồng bào Do thái của mình ?

          Đức Giêsu trả lời bằng một dụ ngôn về một người Samaritanô nhân hậu đối với một người bị nạn, để Ngài có ý nói rằng người thân cận là bất cứ ai, không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, quan điểm…

          Thay vì tìm hiểu ai là người thân cận, tốt hơn nên tỏ mình ra là người thân cận đối với những người đang cần mình giúp đỡ (câu 36).

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

I. GIỚI LUẬT YÊU THƯƠNG.

Một câu hỏi.
Những người luật sĩ và biệt phái có ác cảm với Đức Giêsu, họ lợi dụng mọi dịp để bắt bẻ Ngài, cốt làm giảm uy tín. Dựa vào sự hiểu biết Kinh Thánh của mình, một luật sĩ đến chất vấn Ngài trong câu hỏi :”Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời”? Chắc ông tưởng rằng Ngài sẽ kể ra một lô những nghi lễ, những qui tắc mới lạ và sẽ làm giảm giá trị của Luật pháp. Nhưng ông ta giật mình nghe Ngài hỏi ngược lại :”Trong Luật đã viết gì ? Ông đọc thế nào” ? Câu trả lời dưới hình thức hỏi lại đã tước mất khí giới của đối tượng. Tuy ông ta cũng khôn khéo trả lời rằng Luật pháp gồm tóm trong đòi hỏi kính Chúa yêu người. Ngài bảo :”Ông trả lời đúng. Cứ làm như vậy là sẽ được sự sống đời đời”.

Một lời đáp.
          Người luật sĩ này đã quá hiểu về luật mến Chúa trên hết mọi sự vì đã có trong kinh Schema, trích ra từ Đệ nhị luật 6,5 mà người Do thái đọc mỗi ngày hai lần. Còn câu “hãy yêu thương thân cận như chính mình” thì không có trong kinh Schema, nhưng lấy ở sách Lêvi (10,18). Theo câu trả lời này, chứng tỏ luật sĩ này đã nhiều lần nghe Đức Giêsu giảng dạy về tính cách bác ái huynh đệ, nên khi trả lời  Ngài về luật yêu thương, ông đã tạm thời theo quan niệm của Ngài.

         Tuy thế, ông muốn gây lúng túng cho Đức Giêsu khi đặt cho Ngài câu hỏi :”Thân cận là ai” ? Bởi vì đối với mọi người Do thái “Thân cậm hay tha nhân” được hiểu là người đồng hương con cháu Abraham, còn những người khác mà mình tiếp xúc với người ta phải nghĩ thế nào ? Thay vì trả lời một cách lý thuyết hay gây tranh luận, Đức Giêsu đã đưa ra một dụ ngôn để đưa đến một kết luận dễ dàng.

          Một người đi từ Giêrusalem đến Giêricô, một lữ khách không biết rõ quốc tịch bị cướp bóc lột và đánh nhừ tử nằm bên vệ đường. Tình cờ một tư tế đi qua trông thấy, ông tránh né và đi tiếp. Sau đó lại một thầy Lêvi đi qua trông thấy cũng tránh né. Sau cùng có một người dân ngoại Samaritanô đi qua trông thấy, dừng lại, băng bó, xức thuốc thơm và trao nạn nhân cho người chủ quán săn sóc, hết bao nhiêu tiền người ấy sẽ trả.

          Đến đây, Đức Giêsu hỏi người luật sĩ :”Theo ông nghĩ ai trong ba người là thân cận của người bị gặp tai nạn” ? Luật sĩ đã trả lời ngay :”Kẻ đã tỏ lòng thương xót đối với người ấy”. Luật sĩ đã có nhận thức đúng về bác ái và ông cho rằng người Samaritanô là người duy nhất đã cảm thông và tỏ ra  mình là người thân cận của kẻ xấu số.

          Đức Giêsu đã kết thúc cuộc đối thoại ấy bằng một câu vắn tắt :”Ông hãy đi và làm như vậy”. Đức Giêsu muốn nói rằng khi giúp đỡ một kẻ vô danh như vậy, người Samaritanô đã trở thành kiểu mẫu  của tình bác ái đích thực. và vì vậy, Ngài đã khuyên nhủ luật sĩ  hãy thực thi tinh thần bác ái theo kiểu mẫu đó thì sẽ được sự sống đời đời.

II. AI LÀ THÂN CẬN CỦA TÔI ?

Tương giao giữa người Do thái và người Samaria.
          Người Samaria cũng là người gốc Do thái, nhưng chia lìa từ năm 935 vì lý do nam bắc (do vua Omri). Họ sống chung với dân ngoại và bị lây nhiễm. Khi Nehemias dẫn họ về quê hương thì dân Do thái cựu đã khinh bỉ và không cho phép họ  góp phần xây dựng Đền thờ. Họ tức giận bèn xây đền thờ tại Garisim. Người Samaria cũng thờ một Thiên Chúa, và tin Ngũ Kinh mà thôi. Giữõa người Do thái và Samaria luôn có sự kỳ thị và kình chống nhau.

          Và một sự kiện xẩy ra, cách đấy 20 năm, giữa mùa Lễ Chiên, một nhóm người Samaria này đã cả dám xông vào đền thờ Giêrusalem, đem xương người vung vẫy làm ô uế nơi thánh. Từ đó, hai dân tộc trở nên thù ghét xung khắc nhau như nước và lửa.

          Và hôm nay, Đức Giêsu lại đem người Samaria ra làm ví dụ đối đầu với hai vị Tư tế và Lêvi Do thái. Ngài đến phá vỡ những vòng vây bao quanh đạo giáo, tập quán xã hội làm quên lãng giá trị con người và tình nhân loại.

Thái độ thầy Tư  tế và Lêvi.
          “Tình cờ có thầy Tư tế thấy nạn nhân đã tránh né và thầy Lêvi đi qua trông thấy cũng tránh đi”. Phải chăng hai vị này còn nhớ đến đoạn Kinh thánh :”Nếu ngươi thấy anh em có con lừa  hay thấy con bò nằm té ở dọc đường, ngươi đừng đi qua, ngươi hãy lo giúp cho nó đứng dậy”(Đnl 22,4). Huống chi con người ?  Tại sao họ lại bỏ đi qua ?

          Chúng ta phải cho rằng vị Tư tế thánh thiện và thầy Lêvi nhiệt thành là những người có trách nhiệm phục vụ để Thiên Chúa được tôn vinh và phụng thờ trên hết mọi sự. Hai người tôi tớ trung thành ấy có lý do chính đáng để giữ sự trong sạch theo luật định, bơiû vì “ai chạm vào xác chết (…), hoặc một người bị ám sát, một người chết (…) sẽ mắc dơ trong 7 ngày”(Ds 19,11-13.16). Trong trường hợp đó vị Tư tế hoặc thầy Lêvi  không được làm việc phụng tự.

          Những người giữ luật như vậy lầm rồi. Vì khi giữ luật, họ lại phản bội luật. Khi tưởng rằng họ đang tôn kính Thiên Chúa, họ lại xúc phạm đến Ngài. Thiên Chúa ở đó kìa, Ngài ẩn mình dưới dạng một người bị thương nửa sống nửa chết trong cái hố bên đường. Hai vị này chắc chắn không phải là người không biết tới luật yêu người (Đnl 6,5t), nhưng họ đã viện dẫn lý do để không thực hành (Fiches dominicales).

Thái độ của người Samaritanô.
          “Người Samaritanô thấy vậy… thì chạnh lòng thương”(Lc 10,33).

Thấy nạn nhân nằm bên vệ đường, thầy Tư tế và Lêvi dửng dưng bỏ đi qua. Trái lại, người Samaritanô không thể bỏ qua trước cảnh tượng thương tâm này. Người này đã đến gần nạn nhân, trông thấy và chạnh lòng thương”. “Đến gần” tức là đi vào trong hoàn cảnh của người bị nạn. Chữ “Chạnh lòng thương” do tiếng La tinh là Compassio, ghép bởi hai chữ cum= cùng với, passio = đau khổ. Như vậy, “chạnh lòng thương” có nghĩa là cùng chịu đau khổ với, chia sẻ đau khổ với người khác.

          Theo thần học gia Gustavo Gutierrez , chữ “Chạnh lòng thương” trong tiếng Hy lạp có thể được dịch là “vì con tim của ông ta đã chảy ra”. Bằng việc tiến đến gần người lâm nạn, người Samaritanô đã trở nên người hàng xóm, người thân cận của người ấy. Trong quan điểm này, Gutierrez đã nói :”Người hàng xóm không phải là một người tôi tìm thấy trên đường đi của tôi, nhưng là một người  mà tôi tự đặt mình vào trong đường đi của người ấy, là người mà tôi đến gần và tích cực tìm kiếm” .

          Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu đã muốn biến người Samaritanô thành vị anh hùng của lòng nhân ái. Ngài muốn dạy cho người Do thái một tình yêu không biên giới. một tình yêu tìm đến mọi kẻ đang gặp khó khăn, tình yêu không bỏ đi, không dửng dưng, mà là dừng lại  để giúp đỡ, để “dây dưa” vào kẻ đang gặp khốn khó, bất kể đó là ai.

Truyện : Đi tìm chén thánh.

          Có một câu chuyện huyền thoại về “một người Samaritanô tốt lành” có tên là Sir Launfal, một hiệp sĩ trẻ hào hùng. Một ngày nọ chàng hiệp sĩ lên đường đi truy tìm chiếc chén thánh  mà Chúa Giêsu đã sử dụng trong bữa Tiệc ly. Khi chàng bắt đầu rời khỏi thành phố ra đi thì gặp ngay một người cùi đang ngồi ăn xin bên vệ đường. Chạnh lòng thương, chàng đã giúp cho người cùi một đồng, rồi ra đi. Chàng tìm mãi chẳng thấy chén thánh đâu ! Thất bại,  chàng hiệp sĩ bèn lên ngựa quay trở về nhà.  Lúc này chàng đã già hơn xưa sau cuộc hành trình tìm kiếm thật gian khổ. Còn người cùi vẫn ngồi ăn xin ở chỗ cũ. Chàng hiệp sĩ chẳng còn tiền bạc gì nữa để cho,  anh chia sẻ với người cùi mảnh bánh vụn còn lại trong cuộc đời. Ăn xong, họ chẳng có gì để uống. Chàng hiệp sĩ bèn lấy cái tô của người cùi đi tìm nước cho người cùi uống. Khi chàng bưng tô nước  quay trở lại đưa cho người cùi thì người cùi đã biến thành Chúa Giêsu và tô nước hoá nên chén thánh mà chàng đang đi tìm kiếm.

Mọi người là thân cận.
          Ngày nay chúng ta hay nói :”Tứ hải giai huynh đệ” : bốn bể là anh em, nhưng người Do thái không chấp nhận quan niệm này. Luật của người Do thái đã giới hạn sự giao tiếp giữa người Do thái  với những người không phải là Do thái. Theo luật của họ, người thân cận được định nghĩa là “những người con trai của riêng xứ sở bạn”. Do đấy, chỉ có những người Do thái mới là hàng xóm, là thân cận của mình.

          Đức Giêsu chủ trương ngược lại : người anh em của tôi, người thân cận của tôi là bất cứ ai tôi chọn để trở nên người anh em, người thân cận. Như vậy, không biết ai là người anh em của mình nữa, mà điều quan trọng là  tìm cách để trở nên người anh em, người gần gũi với bất cứ ai đang cần giúp đỡ.

Cousin giải thích : “Hỏi ai là người anh em của mình, vị luật sĩ tự  đặt mình làm trung tâm thế giới, và nhìn mọi người như những vệ tinh quay chung quanh mình.. Đức Giêsu đảo ngược vấn đề : người anh em là người thực thi lòng thương xót, chứ không phải người hưởng thụ lòng thương xót”.

III. YÊU THƯƠNG NGƯỜI THÂN CẬN.

Luật bác ái và phụng tự.
          Thầy Tư tế và thầy Lêvi là những chuyên viên lo việc phụng tự trong Đền thờ. Họ phải tỉ mỉ giữ đúng các lễ nghi, các luật lệ, đó là một điều tốt. Nhưng Thiên Chúa muốn gắn cho sự “thực hành” bác ái và phục vụ tha nhân trong đời sống hằng ngày bằng một tầm quan trọng to lớn hơn  việc thực hành phụng tự và cầu nguyện của chúng ta. Việc đạo đức và lòng sùng kính  chỉ là những phương tiện non yếu và tạm thời,  phải nhường cho đức bác ái là cái tuyệt đối nhất định. Đức ái được bầy tỏ ra  trong tình yêu thương người thân cận là bằng chứng cụ thể  tình yêu chân thành của ta đối với Chúa.

          Hiểu Luật theo cách của Đức Giêsu, không cần phải tìm ai là người thân cận, nhưng đúng là làm thế nào  để “trở nên thân cận của ai đó”, là biết “chạnh lòng thương”, biết gạt bỏ mọi thành kiến  về giai cấp và chủng tộc, về địa vị và tôn giáo…

Yêu thương trong việc làm.
        Mọi người chúng ta đã học thuộc lòng luật mến Chúa yêu người. Nhưng yêu có năm bảy đường yêu, yêu trong lý thuyết và trong thực hành. Nhưng thế nào là yêu, là tình yêu?

Ông Robert Ingerson định nghĩa Tình yêu như sau : “Tình yêu là Ngôi Sao Mai, Sao Hôm. Nó chiếu rọi trên vành nôi em bé, và toả ánh huy hoàng trên ngôi mộ vắng. Đó là nghệ thuật làm mẹ, bài thơ của thi sĩ. Nó bao trùm không gian với tiếng nhạc, vì nhạc là âm thanh của Tình yêu. Tình yêu là người diễn viên văn nghệ biến đổi những điều buồn tẻ trở thành niềm vui. Đó là hương thơm của trái tim – một loài hoa tuyệt vời – và nếu không có sự say mê thiêng liêng đó, chúng ta thua kém cả loài vật; nhưng với nó, trần gian là Thiên đàng”.

          Định nghĩa Tình yêu như thế thì thật là hoa mỹ và bay bướm. Nếu chỉ nghe biết hay nói rất hay về tình yêu thì chưa đủ, mà điều quan trọng là phải làm, phải thực hiện, phải hành động trong yêu thương, bởi vì như thánh Giacôbê nói :”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Khi nói đến bác ái yêu thương, không phải chỉ nói bi bô ngoài miệng, viết những bài kêu gọi rất xôm, rồi không làm gì cả. Mà bác ái là miệng nói tay làm, là giúp đỡ người ta thật sự theo sức mình. Nếu không thì người ta nói mỉa mai :

                                      Thương miệng thương môi
                                      Thương miếng xôi miếng thịt.

         Đọc bài dụ ngôn hôm nay, ta nhận thấy thầy Tư  tế và Lêvi là những con người vị ngã, lấy mình làm trung tâm. Khi có sự cố xẩy ra, họ đặt họ lên trước. Trái lại, Người Samaritanô là một người vị tha, ông đặt người khác lên trước.

          Thực ra, thầy Tư tế và Lêvi không phạm tội một cách tích cực nhưng đã phạm một tội không mấy người để ý đến, đó là tội thiếu sót :”Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót”(Kinh Cáo mình). Tội thiếu sót có lẽ là tội xấu nhất của chúng ta, tuy nhiên chúng ta nghĩ rằng mình chưa làm hại ai là mình tốt rồi. Nhưng phải chăng chúng ta đã từng thấy có người bị làm cho tổn thương mà vẫn không can thiệp để giúp đỡ người ấy ? Có người vẫn giữ mình sạch sẽ bằng cách đứng xa một người gặp cảnh không may.

Truyện : Đã đến giờ rồi đấy.

       Một ẩn sĩ sống trong một khu rừng luôn bị một cô gái làng chơi đến cám dỗ. Ngạc nhiên trước sự thanh thản của vị tu hành, nhưng đồng thời cũng nghi ngờ về sự bất bình thường của người đàn ông, cô liền hỏi một câu chế nhạo :

          – Thầy không biết yêu sao ?

          Vị ẩn sĩ trả lời :

–          Chưa đến giờ đó thôi.

          Câu chuyện bỏ lửng tại đó. Một lần kia, trong lúc đi khất thực, vị tu hành phát hiện  người con gái hay đến phá phách mình đó bị bọn cướp trấn lột và đánh cho thừa sống thiếu chết bên lề đường. Ông bèn dừng chân lại săn sóc cô ta, chữa các vết thương và đưa cô về thành phố điều trị.

          Cô gái sững sờ nhìn vị ân nhân  mà chưa biết mở lời ra sao, thì vị ẩn sĩ mỉm cười nói :

          – Đã đến giờ rồi đấy, giờ của lòng thương xót !

          Vị ẩn sĩ trong câu chuyện trên đây và người Samaritanô nhân hậu đã sống luật yêu thương một cách tuyệt vời, đó là “yêu bằng việc làm”. Yêu không phải chỉ trên đầu môi chót lưỡi, rồi phủi tay không làm gì, mà yêu chính là “miệng nói tay làm”, làm thực sự với hết khả năng của mình.

Tình yêu không tính toán.
          Hành động bác ái không được xây dựng trên sự tính toán, mà phải do lòng quảng đại tự phát. Tình trạng cao nhất mà chúng ta có thể đạt đến là khi lòng nhân từ trở thành một dòng nước ân sủng một cách dễ dàng, tự nhiên và không tính toán.

          Trường hợp người Samaritanô cũng thế. Rõ ràng lòng nhân từ của người Samaritanô trở thành thói quen, tự phát, một bản tính thứ hai. Điều tốt đẹp mà người ấy làm cho người khác thì người ấy không coi là một việc gì đặc biệt. Đối với một số người, lòng quảng đại nằm trong những hành động lác đác, lẻ loi; đối với những người khác, đó là một cách sống (McCarthy).

          Làm thế nào để có lòng tốt tự phát như người Samaritanô ? Việc này không phải muốn là được, không phải chỉ cố gắng tập một lần mà có, mà là kết quả của việc thực thi những việc tốt nho nhỏ cách đều đặn và kiên trì. Một hành động tốt cao cả là thành quả của nhiều hành động nho nhỏ đã quen làm trước đó. Phần thưởng đích thực của một hành động tốt là nó giúp ta  có thể làm thêm những hành động khác một cách dễ dàng hơn.

        Khi đọc kinh Hoà bình của thánh Phanxicô Assisi với câu “Vì chính khi hiến thân là lúc được nhận lãnh”. Lúc mới nghe câu này thì có người cho là không hợp lý, không bình thường, nhưng nếu xét cho kỹ, không những trong đời sống thiêng liêng, mà ngay trong cuộc sống hằng ngày, chân lý đó vẫn còn đứng vững : Cho đi là lãnh nhận ! Trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu đã nói :”Phúc cho ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”(Mt 5,7). Muốn được Thiên Chúa xót thương thì chúng ta phải thương xót người khác đã, vì chúng ta đong cho người khác bằng đấu nào thì Thiên Chúa cũng đong lại cho ta bằng đấu ấy, mà còn dư dật nữa.

Truyện : Lòng tốt được đền đáp.

          Chuyện xẩy ra tại một làng đánh cá ven bờ biển. Phía sau làng là dẫy núi cao. Cách đây 20 năm, nơi này có một cụ già xa lạ đến cư ngụ và đã bỏ tiền ra làm một ngôi nhà lớn bằng gỗ quí. Dân làng thấy cụ già đơn độc thường lên thăm và đều nhận xét cụ già rất tự hào và quí căn nhà lắm, xem nó như một vật cần thiết trên đời. Thế rồi, một bữa kia biển động mạnh dữ dội. Bỗng đang đêm, dân làng đều thức dậy vì thấy đám cháy lớn trên sườn núi, ngay căn nhà quí của cụ già. Vừa tò mò vừa thương cụ già đơn chiếc, toàn dân làng già trẻ, trai gái rủ nhau mỗi người mang một thau nước, gắng sức trèo lên dốc chữa cháy. Xẩy ra là khi mọi người đã lên núi khá cao, thình lình một cơn sóng thần vĩ đại tràn lên bờ và cuốn trôi mọi thứ trong làng.  Vì bận chữa cháy nên rất ít người bị sóng thần cuốn đi.

          Ban đầu ai cũng tưởng rằng họ bỏ công leo lên núi để cứu giúp cụ già, nhưng thực tế cụ già đã cứu giúp họ. Bởi vì, một phần nhờ kinh nghiệm và phần khác ở trên cao nên cụ già thấy trước ngọn sóng thần từ xa đang tiến vào bờ, song đang đêm khuya không biết làm sao  báo tin để cứu dân làng cả. Chỉ còn một cách : hy sinh đốt căn nhà yêu quí nhất mới mong dân làng thấy mà chạy lên chữa cháy chăng.

          Có lẽ do quá chủ quan hay quá hẹp hòi nông cạn nên nhiều khi phần đông chúng ta  cứ tưởng mình bố thí ít tiền bạc, đồ vật, hy sinh chút công sức, thời giờ để giúp đỡ kẻ khác là chuyện nhưng không, hoàn toàn vô vị lợi, song thực ra, khi mình hy sinh cho đi như thế không những giúp kẻ khác, mà còn làm lợi cho chính bản thân mình nữa. Ngay cả những việc đạo đức mà chúng ta cố gắng thực hiện như nhẫn nhục chịu khổ, trung thành tuân thủ các giới răn, hãm mình ép xác, siêng năng xưng tội rước lễ, lần hạt… chúng ta cứ tưởng là làm cho Chúa vui lòng, nhưng kỳ thực là làm lợi cho chính chúng ta, vì khi sống ngay lành, thánh thiện sẽ là một bảo đảm cho phần rỗi đời đời của mình (Quê Ngọc).

TÂM NGUYỆN :

Người Samaritanô nhân hậu

                             Cúi xuống
                             Ôm lấy nỗi đau của anh em mình,
                             Ôi tấm lòng nhân ái bao dung…
                              Nhân loại hôm nay
                             Vẫn còn đầy đau thương và nước mắt
                             Cay đắng cơ hàn
                             Đói lương thực, đói tinh thần và đói cả tình thương !

                             Lạy Chúa
                             Xin cho con noi bước Ngài xưa
                             Như người Samaritanô nhân ái
                             Yêu kính những thương đau
                             Vì đó là chính Ngài, Lạy Chúa.

( Trích Lời hằng sống)

--------------------------------------

 

TN 15-C174: TRÁI KHOÁN


Trầm Thiên Thu

 

Trái khoán là trái phiếu, tức là “giấy ghi nợ”. Món nợ là thứ đáng quan ngại, chẳng ai ham, dù TN 15-C174


Trái khoán là trái phiếu, tức là “giấy ghi nợ”. Món nợ là thứ đáng quan ngại, chẳng ai ham, dù nó to hay nhỏ, vì phiền toái lắm, đôi khi vì nó mà mối quan hệ bị sứt mẻ. Thật vậy, mặc dù món nợ nhỏ mà mối lo vẫn to. Có vay ắt có trả!

Ngày xưa, cứ bảy năm thì lại có năm sabát, và các khoản nợ đều được tha: “Bảy năm một lần, anh em hãy tha nợ. Đây là cách thức tha nợ: mỗi chủ nợ sẽ tha món nợ đã cho người đồng loại vay mượn, không thúc người đồng loại và người anh em trả nợ, vì người ta đã công bố việc tha nợ để kính Đức Chúa” (Đnl 15:1-2; Lv 25:1-7).

Đời thường thật phiền phức với trái khoán. Nhưng về tâm linh, trái khoán không hề trái khoáy, không là thứ trái ngược, mà là thứ xuôi xắn, tốt lành, vì đó là món “nợ tình” – nợ yêu thương. Nợ to mà không lo, nợ lớn mà không ớn, không hề kỳ cục mà lại kỳ diệu. Không thể định nghĩa chính xác và giải thích ý nghĩa đầy đủ nhất về tình yêu, nhưng chắc chắn ai cũng hiểu và biết phải làm gì cho phù hợp. Thế nhưng không dễ để có đủ can đảm mà thực hiện cho đúng mức và trọn vẹn.

Nói đơn giản, người có lòng yêu thương là người biết chạnh lòng thương xót, biết động lòng trắc ẩn, biết cảm thông, biết chia sẻ,… như Chúa Giêsu đã hành động, và Ngài cũng muốn mọi người làm như Ngài. Nhưng yêu thương không thể chỉ là lời nói suông, mà phải được thể hiện bằng hành động cụ thể, vì Thánh Giacôbê đã so sánh: “Đức Tin không có việc làm là Đức Tin chết” (Gc 2:17 và 26). Rất rõ ràng và cụ thể. Chuyện yêu thương thật đơn giản, thế mà lại thực sự khá nhiêu khê!

Yêu thương tưởng chừng là “chuyện dĩ nhiên”, nhưng thực ra đó là món nợ mà ai cũng mắc – như phần cài đặt mặc định, mặc dù có thể không hề vay, và là món nợ lớn nhất mà cả đời chúng ta cũng chẳng ai trả hết. Bất cứ món nợ gì cũng không nên mắc, dù vật chất hoặc tinh thần, nhưng món nợ yêu thương thì nên “vay” lắm, như Thánh Phaolô khuyên: “Đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13:8). Đó là ý tốt lành của Thiên Chúa để chúng ta khả dĩ “nên hoàn thiện như Cha trên trời” (Mt 5:48).

Rất chí lý với lời khuyên của Thánh Phanxicô Xaviê: “Cần đốt lên lửa yêu thương, bởi vì có yêu thương thì tự nhiên sẽ đối đãi tốt với mọi người, luôn nói những lời yêu thương, và tâm hồn sẽ tự nhiên thu hoạch được rất nhiều kết quả”. Một chuỗi liên kết rất lô-gích.

SUỐT KIẾP MẮC NỢ

Văn hào Victor Hugo nhận định: “Ai cho kẻ khốn cùng là đã cho Thượng đế vay. Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa; chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Đã đành mỗi chúng ta đều mắc nợ yêu thương đối với Thiên Chúa, nhưng chúng ta còn mắc món nợ đó với tha nhân – bất cứ ai ở xung quanh chúng ta, dù người đó không hề quen tên, quen mặt. Điều đó hoàn toàn là chuyện bình thường chứ không hề bị “triệt buộc” hoặc “chơi ép” gì cả. Của cho không bằng cách cho: “Ân huệ không bởi việc cho thật nhiều mà là cho đúng lúc” (La Bruyère).

Kinh Thánh cho biết rằng sau cuộc lưu đày Babilon, dân chúng được Thiên Chúa xót thương cho hồi hương. Đó là món nợ tình quá lớn. Tuy nhiên, Ngài cũng đưa ra điều kiện, nhưng đó là mệnh lệnh không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay của họ. Lại một món nợ tình nữa. Mệnh lệnh đó không ở trên trời, nên dân chúng không cần đặt vấn đề rằng: “Ai sẽ lên trời lấy xuống cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành?” (Ðnl 30:12). Mệnh lệnh đó cũng không ở bên kia biển, khiến dân chúng phải thắc mắc: “Ai sẽ sang bên kia biển lấy về cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành?” (Ðnl 30:13). Và rồi chính Thiên Chúa xác định: “Lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (Ðnl 30:14). Không cần tìm đâu xa, không cần loanh quanh bất cứ nơi nào. Lời đó sống động trong mọi người.

Chắc chắn rằng khi mắc nợ thì phải biết ơn – đặc biệt là món nợ thương xót, chứ không thể nghĩ đó chỉ là sự công bằng, cứ có vay thì có trả. Vì thế, bắt chước Thánh Vịnh gia là điều cần thiết: “Lạy Chúa, phần con xin dâng Ngài lời nguyện, lạy Chúa Trời, đây giờ phút thi ân. Xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày, vì Chúa vẫn trung thành ban ơn cứu độ. Lạy Chúa, xin lấy lòng nhân hậu mà đáp lại lời con; xin mở lượng hải hà mà đoái thương nhìn đến. Phần con đây, thật khốn cùng đau khổ, lạy Chúa Trời, xin cứu vớt đỡ nâng” (Tv 69:14, 17 và 30). Kinh Thánh đã nhiều lần xác định: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (1 Sb 16:34 và 41; 2 Sb 5:13; 2 Sb 7:3 và 6; Er 3:11; Tv 100:5; Tv 106:1; Tv 107:1; Tv 118:1-4 và 29; Tv 136:1-26).

Thiên Chúa là Đấng trọn lành, và chỉ có Ngài là Đấng nhân lành. Ngài không muốn bất cứ điều xấu nào xảy ra, dù là điều nhỏ nhoi. Ngài là Đấng chí minh, chí công, và chí thiện, luôn đặc biệt quan tâm những kẻ khốn cùng: “Những ai nghèo hèn, xem đấy mà vui lên, người tìm Thiên Chúa, hãy nức lòng phấn khởi. Vì Chúa nhận lời kẻ nghèo khó, chẳng coi khinh thân hữu bị giam cầm” (Tv 69:33-34). Từ xưa, sự công bình đã được khuyến cáo: “Hãy mở miệng xét xử thật công minh, biện hộ cho những kẻ nghèo nàn khốn khổ” (Cn 31:9). Thế nhưng ngày nay những kẻ có chức quyền lại biến dân nghèo thành dân oan ức, kêu chẳng ai nghe!

Thiên Chúa chí thánh, Luật Chúa hoàn thiện, nhưng đơn giản và ngắn gọn – gọi là “yêu thương”, có thể rút gọn chỉ còn một chữ YÊU theo Việt ngữ. Nói về Luật Chúa, Thánh Gioan tông đồ nói: “Điều răn của Người có nặng nề gì đâu” (1 Ga 5:3). Vậy mà chúng ta vẫn chẳng thi hành đúng ý Chúa. Luật Ngài rất đặc biệt, khác hẳn luật của phàm nhân: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn. Huấn lệnh Chúa hoàn toàn ngay thẳng, làm hoan hỷ cõi lòng. Mệnh lệnh Chúa xiết bao minh bạch, cho đôi mắt rạng ngời” (Tv 19:8-9).

Như hai vế cân bằng chứ không đối lập: thế này thì thế kia – và ngược lại. Thật vậy, ai thực sự thuộc về Chúa thì mới thực sự yêu mến Thánh Luật và thực sự quyết tâm thi hành Thánh Luật. Trạng từ “thực sự” ở đây rất quan trọng. Vì nếu không “thật lòng” thì chỉ là giả hình, là cái “mác” hoặc cái vỏ bên ngoài, nói hay mà làm dở. Những người thực sự yêu mến Chúa thì cũng có thể nhận định như Thánh Vịnh gia: “Lòng kính sợ Chúa luôn trong trắng, tồn tại đến muôn đời. Quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh, thật quý báu hơn vàng, hơn vàng y muôn lượng, ngọt ngào hơn mật ong, hơn mật ong nguyên chất” (Tv 19:10-11). Phàm ngôn chỉ có thể so sánh như vậy, không còn cách nào hơn.

Giải thích về Đức Giêsu Kitô, “chủ nợ” của chúng ta, Thánh Phaolô cho biết: “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người” (Cl 1:15-16). Phàm nhân chỉ là “số không” to lớn, rỗng tuếch, chẳng có gì mà tự mãn. Thế nên không thể có bất cứ lý do gì mà dám kiêu căng, tự đắc, hoặc tự mãn. Hợm mình mà chê trách người khác thì tồi tệ thật. Vậy mà đôi khi chúng ta vẫn tìm mọi cách để biện hộ cho những hành vi bỉ ổi của mình. Thế thì khốn nạn vô cùng!

Cũng chẳng hề oan trái gì đâu, vì chúng ta là “người một nhà” mà. Thánh Phaolô cho biết: “Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người. Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu” (Cl 1:17-18). Tất cả chúng ta đều bình đẳng trước mặt Thiên Chúa, đều là những “con nợ” không thể nào thanh toán hết số nợ chúng ta đã mắc, nếu không được “chủ nợ” Giêsu trả dùm và thậm chí còn xóa nợ hoặc tha bổng. Vì thế, tất cả phàm nhân chúng ta đều là những “kẻ ăn mày”. Thật vậy ư? Đúng vậy, mỗi khi chúng ta xưng tội là chúng ta hạ mình xuống để ăn mày Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

Tại sao Chúa Giêsu là người đứng đầu? Thánh Phaolô giải thích: “Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1:19-20). Chúng ta mắc nợ Chúa Giêsu không phải là món nợ bình thường mà là NỢ MÁU. Trái khoán này quá lớn. Biết thân biết phận và nài xin Ngài thương xót thì được tha, nếu không thì “không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng” (Mt 5:26). Làn ranh quá mong manh giữa sự sống và sự chết. Ôi, rất đáng quan ngại! Nhưng đó là sự thật bất biến: “Mọi xác phàm như chiếc áo, thảy đều mòn hao, vì quy luật muôn đời là: chắc chắn con sẽ phải chết” (Hc 14:17).

Không chỉ lo mà còn sợ, vì biết sợ mà lo trả nợ. Và phải nhớ điều quan trọng này: “Thiên Chúa không thiên vị ai” (Gl 2:6; Cv 10:34). Không thể lấy lý do này hoặc viện cớ nọ. Trái khoán nào cũng cần phải thanh toán cho xong, món nợ nào cũng cần được tha, như chiếc áo bẩn phải giặt sạch – giặt bằng Bửu Huyết Cứu Độ của Đức Kitô.

CẢ ĐỜI PHẢI TRẢ

Liên quan Luật Chúa không chỉ có hành động, mà mọi lời nói cũng “phải quy về Luật của Đấng Tối Cao” (Hc 9:15). Nói về Chúa cũng là một phần trong quá trình trả nợ tình – đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân.

Trình thuật Lc 10:25-37 đề cập “điều răn lớn” liên quan sự sống đời đời: AI LÀ ANH EM? Thánh sử Luca cho biết: Một hôm, có người thông luật kia hỏi Đức Giêsu để thử Người: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?”. Đây cũng là dạng chúng ta vẫn thường thấy có những người “chảnh”, tỏ ra mình hơn người, không muốn người khác hơn mình nên tìm cách “gài bẫy” và “trù dập” người khác bằng nhiều chiêu thức ranh mãnh rất tinh vi. Có lẽ họ không biết, không nhớ hoặc không muốn nhớ lời cảnh báo của Chúa: “Ta sẽ huỷ diệt sự khôn ngoan của kẻ khôn ngoan, và sẽ vứt bỏ sự thông thái của người thông thái” (1 Cr 1:19). Trèo cao thì lao sâu, té đau. Vỏ quýt dày sẽ có móng tay nhọn.

Sau khi nghe nhà thông luật hỏi vậy, Chúa Giêsu không trả lời thẳng, mà dùng cách hỏi lại ông ta: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?”. Ông ấy thản nhiên: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình”. Đúng là nhà thông luật có khác, trả lời ngay và rất hay. Thế nên Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống”. Ôi chao, cái vụ này “hơi bị căng” chứ chẳng chơi! Tuy nhiên, ông ấy muốn chứng tỏ mình có lý, nên ngang nhiên hỏi vặn lại Đức Giêsu: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?”. Lý sự quá, “chảnh” quá, ra vẻ “ta đây” quá. Đó là kiểu của những kẻ hợm mình, tưởng thế gian có ba bồ chữ thì bụng mình chứa hai bồ rồi. Thấy gớm!

Có lẽ lúc đó Chúa Giêsu “cười thầm”, và rồi Ngài trả lời ông ta bằng một câu chuyện rất thực tế đời thường: Có người đi từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị cướp, bị đánh nhừ tử. Chúng bỏ mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Ông ta thấy nạn nhân nhưng tránh qua bên kia mà đi. Sau đó, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy cũng thấy và cũng bỏ đi. Nhưng một người Samari đi tới và thấy nạn nhân thì chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, sơ cứu và băng bó vết thương cho nạn nhân, rồi đặt nạn nhân lên lưng lừa đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”. Thật đáng khâm phục!

Rồi Chúa Giêsu ôn tồn: “Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?”. Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Lại trả lời đúng và hay lắm. Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng HÃY LÀM như vậy”. Đó cũng chính là lời Chúa Giêsu vẫn “nhắc nhở” mỗi chúng ta không ngừng. Trong Nhật Ký, Thánh Faustina ghi lại lời Chúa Giêsu: “Linh hồn nào truyền bá Lòng Thương Xót của Ta sẽ được Ta bảo bọc suốt đời” (số 1075). Nhưng nếu chỉ “truyền bá” mà không thể hiện thì liệu có “ổn” không? Chắc ai cũng tự trả lời được. Liên quan vấn đề đức ái – từ thiện, thiết tưởng nên lưu ý điều này: làm thì ngại mà khoái được khen!

Tình huynh nghĩa đệ là gì? Ai là người lân cận? Thầy tư tế và thầy Lêvi là ai? Liệu chúng ta có dám “nói thẳng” và có dám “đấm ngực” hay là cứ “vỗ ngực” đây? Dạy và khuyên người khác yêu thương mà mình lại vô cảm, bảo người ta thương xót mà mình lại chẳng xót thương ai – thậm chí còn mưu mô thâm độc! Về dạng người này, Chúa Giêsu thẳng thắn nói thế này: “Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế” (Mt 23:27). Lời Chúa làm đau nhói và nhức buốt quá! Người Việt chúng ta gọi loại người như vậy là “nói phét” (xạo là dạng còn nhẹ). Chúa Giêsu rất thẳng thắn, không hề úp mở, cũng chẳng rào trước đón sau hoặc tránh né. ĐGH Phanxicô làm được điều này khi dám thẳng thắn công kích những thói hư tật xấu của hàng giáo sĩ. Vậy mà một số người (cả giáo sĩ và giáo dân) vẫn cố ý “giả đò ngó lơ”, thậm chí còn cho rằng Chúa nói người khác chứ không hề chỉ trích mình. Có đáng “tội nghiệp” hay không?

Không ái dám cả gan “bới bèo ra bọ” hoặc “vạch lá tìm sâu”, nhưng nếu chỉ đề cập cái tốt thì đôi khi có thể tạo ảo giác, cũng phải dám nhìn thẳng vào sự thật, dám đấu tranh với cái tiêu cực để giúp nhau thăng tiến và hoàn thiện, như vậy mới thực sự can đảm – dám chấp nhận là dám từ bỏ mình. Xưa nay ít người dám xin lỗi trước thiên hạ về những sai lầm của Giáo Hội trước đó, thế mà lúc sinh thời, Thánh GH Gioan Phaolô II đã dám công khai xin lỗi thế giới thì quả là tuyệt vời, can đảm, thảo nào ngay khi mới nhận sứ vụ kế vị Thánh Phêrô, ngài đã xác định: “Đừng sợ!”. Mắc sai lầm là mắc nợ, dám xin lỗi là trả nợ. Thiên Chúa rất vui lòng tha thứ, và loài người cũng sẵn sàng bỏ qua. Hẹp hòi thì được gì? Chẳng được gì. Không tha thứ là tự đày đọa mình mà thôi.

Cái gì cũng có mức độ riêng. Bố thí, công bình và bác ái là ba mức độ khác nhau nhưng cùng thể hiện lòng yêu thương: Bố thí là “cho” để tránh bị làm phiền, công bình là chia sẻ vì có dư, bác ái mới thực sự là yêu thương – vì người khác chứ không vì thứ gì khác. Thánh TS Thomas Aquino (1225-1274) nói: “Nếu KHÔNG có đức ái thì KHÔNG có bất kỳ đức hạnh nào, giống như nếu KHÔNG có mặt trời thì cũng KHÔNG có một tinh tú nào cả”. Một cách so sánh thú vị và cụ thể, rất dễ hiểu. Theo thánh nhân, có ba loại công bằng: công bằng giao hoán (có vay có trả, có qua có lại), công bằng phân phối (người lãnh đạo có trách nhiệm phân phối cho thuộc hạ những gì cần thiết để sống), công bằng pháp lý (trách nhiệm chung của mọi người là lo cho công ích, phúc lợi xã hội).

Đối với xã hội ngày nay, rất có thể có người cho rằng những người tốt như người Samari nhân hậu kia là những người rảnh rỗi, vô công rỗi nghề, lăng xăng bao đồng, thích “vác tù và hàng tổng”. Mà thật, có những người thấy người khác bị tai nạn rồi đưa nạn nhân vô bệnh viện, cuối cùng lại bị bắt oan, thậm chí có trường hợp còn bị đánh đập tàn nhẫn.

Tuy nhiên, chính những người đó lại là những người được Chúa yêu quý vì họ sống theo “luật yêu thương” mà Ngài đã truyền, và Ngài luôn khuyến khích mọi người phải cố gắng thể hiện trong cuộc sống hằng ngày. Thiên Chúa không thiên vị ai, ai làm đúng thì thành môn đệ của Ngài, là con cái của Ngài, và được Ngài chúc lành – dù họ không được người khác chấp nhận, dù họ là người ngoại, người khố rách áo ôm, người cùng đinh, người bị xã hội ruồng bỏ, người không theo phe mình, người không đồng đạo với mình,…

Có lẽ chúng ta cần nghiêm túc xem lại chính mình để có thể học cách cầu nguyện, ăn chay, bố thí nơi người theo Hồi giáo; học suy niệm và chiêm niệm nơi người theo Ấn giáo; học từ bỏ của cải và quý trọng sự sống nơi người theo Phật giáo; học động thái thảo hiếu, tôn lão kính trưởng nơi người theo Khổng giáo; học sự đơn sơ và khiêm tốn nơi người theo Lão giáo. Cái gì dở của mình thì dứt bỏ, cái gì hay của người khác thì học hỏi, đừng câu nệ bất cứ điều chi!

Lạy Chúa Cha nhân lành và thương xót, xin giúp các tín nhân biết noi gương Thánh Phanxicô Assisi để có thể “mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”. Lạy Chúa Kitô, Ngài đã làm vui lòng Chúa Cha bằng cách sống hòa đồng, chia sẻ phận người với chúng con, xin giúp mọi người biết sống tình huynh đệ tương thân tương ái, cùng giúp nhau sống tốt và cùng nhau xây dựng Giáo Hội hiệp nhất và yêu thương. Xin ban cho con trí thông minh tâm linh để con có thể quyết định đúng đắn, nói điều cần nói, và làm việc nên làm cho đúng ý Ngài. Con xin tín thác vào Ngài, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

-------------------------------

 

TN 15-C175: CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN_C


Lm. Antôn

 

Trong cuộc sống, chúng ta thường đối xử với nhau theo tình cảm, thí dụ như nếu ai yêu thương chúng TN 15-C175


Trong cuộc sống, chúng ta thường đối xử với nhau theo tình cảm, thí dụ như nếu ai yêu thương chúng ta thì chúng ta yêu thương người đó, hay yêu thương những người thân thuộc, bạn bè. Còn ai thù ghét hay làm hại chúng ta, thì chúng ta lánh xa hay tìm cách trả thù.

Đối với người Kitô hữu thì khác. Chúa dạy chúng ta yêu mến Chúa như một người Cha, và yêu thương tha nhân như anh chị em. Tuy nhiên, câu hỏi là: tình yêu đối với tha nhân cần phải đi xa tới đâu, cần phải trải rộng tới đâu?  Người thông luật trong Tin Mừng hôm nay hỏi Chúa Giêsu: “Ai là anh em của tôi?” Chúng ta thấy Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp câu hỏi của ông, nhưng Chúa kể dụ ngôn người Samaria nhân hậu để trả lời cho ông, và dạy chúng ta là những người tin vào Chúa rằng: tình thương phải trải rộng đến tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, mầu da, ngôn ngữ, kể cả những người thù ghét chúng ta nữa.

Dụ ngôn trong bài Tin mừng cho chúng ta thấy ba nhân vật, lần lượt là thầy tư tế, rồi đến một thầy trợ tế, cuối cùng là một người Samaria. Cả ba, kẻ trước người sau, đều đi trên một lộ trình từ “Giêrusalem xuống Giêricô.” Cả ba đều nhìn thấy cảnh đáng thương của một người lữ khách “bị rơi vào tay kẻ cướp, bị lột sạch, bị đánh nhừ tử và bị quẳng xuống bên vệ đường nằm rên rỉ. Dù trông thấy người lữ khách đang nằm “nửa sống nửa chết”, nhưng cả thầy tư tế lẫn thầy trợ tế đều “tránh qua bên kia mà đi.”  Còn người Samaria thấy cảnh đó và động lòng thương.”  Sự động lòng thương của người Samaria không dừng ở đôi mắt, không dừng ở tấm lòng, mà được thể hiện qua hành động cụ thể của đôi chân và đôi tay.

Vào thời đó, người Do thái và Samaria có những sự thù nghịch với nhau.  Người Do thái khinh thường và coi người Samaria là kẻ thù.  Nhưng thái độ của người Samaria đối với người Do thái bị nạn, nửa sống nửa chết, hoàn toàn khác với thái độ “tránh qua mà đi”, dửng dưng và vô cảm của người tư tế và trợ tế đối với người cùng chủng tộc, cùng cộng đoàn.

Sau câu chuyện, Chúa Giêsu đã hỏi người thông luật:  “Vậy ai là anh em của người bị rơi vào tay bọn cướp?” Người thông luật trả lời: “Kẻ đã tỏ lòng thương xót với người ấy.”  Chúa Giêsu bảo ông và dạy chúng ta: “Ông hãy đi, và làm như vậy.”

Ngày 30.09.1978, một chuyến xe lửa đi Colombia bị trật đường rầy. Tai nạn là 10 người bị chết và nhiều người bị thương. Trong số hành khách có một linh mục bị gãy chân, một phần ruột lòi khỏi bụng. Nhận ra ngài, các y tá chạy đến ân cần săn sóc, nhưng cha ra hiệu bảo họ đi săn sóc các hành khách khác và ngài lấy khăn băng phần ruột. Nói xong, cha xin người ta đưa đến những nạn nhân bị thương nặng đang hấp hối để giải tội cho những ai muốn xưng tội. Làm xong công tác mục vụ, cha nói với các y tá: “Cám ơn Chúa đã cho tôi thi hành chức linh mục đến giây phút cuối cùng, giờ đây có thể mang xác tôi đi”. Người ta chở vội cha đến nhà thương, nhưng chỉ vài giờ sau, cha đã trút hơi thở cuối cùng khi tuổi đời chưa tròn 36.

Yêu thương không phải là chỉ cho đi một cái gì hay một chút tiền, nhưng còn là hành động hy sinh, tha thứ và quên mình phục vụ tha nhân. Chính Chúa Giê-su đã làm gương hy sinh, từ bỏ, hiến thân cho nhân loại. Trong Tin mừng thánh Gioan, Chúa đã cho chúng ta biết:  “Không có tình yêu nào cao quí bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu.”( Ga 15, 13 ). Như vậy, người Ki-tô hữu chúng ta phải yêu thương bằng lòng quảng đại và sự hy sinh phục vụ thì mới đúng ý nghĩa, có giá trị và đúng với bản chất.

Nói tóm lại, bài Tin mừng hôm nay đề cập đến ba điểm quan trọng là lề luật, tình yêu thương và cuộc sống vĩnh cửu. Điểm chính yếu nhất là tình yêu thương bởi vì tình yêu thương có thể giúp chúng ta đạt được hạnh phúc vĩnh cửu.  Nếu chúng ta có lòng yêu mến Chúa với tất cả tâm hồn và thể xác, thì chúng ta sẽ thành tâm thực hành lời Chúa, đức tin của chúng ta sẽ sống động, sinh nhiều hoa quả tốt đẹp. Tình yêu mến Chúa sẽ là động lực giúp chúng ta sống bác ái, quảng đại, hy sinh giúp đỡ tha nhân trong niềm vui mừng.  Ngược lại, nếu không có lòng yêu mến Chúa chân thành thì luật lệ, lời Chúa và quảng đại chỉ là một cái ách đè nặng con người. Chúng ta thi hành luật và sống lời Chúa một cách miễn cưỡng và bề ngoài. Và chúng ta sẽ không thể tìm thấy bình an thật sự, niềm hy vọng và sự sống đời đời.

Chúng ta cũng phải ý thức yêu mến Chúa và nhân hậu với tha nhân là những yếu tố rất cần thiết cho đời sống Ki-tô hữu của chúng ta. Vì thế, người Ki-tô phải sống đức bác ái, thực hành tình yêu thương qua những việc làm cụ thể, qua lòng bác ái, hy sinh và quảng đại với mọi người, kể cả kẻ thù thì mới có bình an và hạnh phúc đời này và đời sau.

---------------------------------

 

TN 15-C176: HÃY ĐI VÀ LÀM NHƯ VẬY


Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

 

Hình ảnh người Samari nhân hậu được chú trọng cách đặc biệt trong Năm Thánh Lòng Thương Xót TN 15-C176


Hình ảnh người Samari nhân hậu được chú trọng cách đặc biệt trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, như một thông điệp được gửi đến cho mọi người, tín hữu cũng như lương dân. Bởi lẽ, trong xã hội của chúng ta, con người càng ngày càng dửng dưng vô trách nhiệm với nhau. Những thông tin đau lòng ở mọi lãnh vực chúng ta nhận được hằng ngày qua các phương tiện truyền thông là hậu quả của chứng vô trách nhiệm ấy.
 
Một căn bệnh nữa không kém phần nguy hiểm, đó là căn bệnh lý thuyết. Nơi nhiều người, lời nói khác xa với thực tế. Trong ngôn từ thì lớn lao, nhưng hiệu quả thì nhỏ xíu.
 
“Yêu là quan tâm đến người khác và mong muốn những điều tốt lành đến với người đó”. Đây là một trong những định nghĩa của tình yêu. Vì quan tâm đến người khác, nên người ta sẵn sàng chịu thiệt thòi và hứng chịu những phiền toái vì người mình quý mến. Bạn chỉ muốn điều tốt cho mình, mà dửng dưng trước những người mình quý mến, trong lúc họ gặp khó khăn, thì tình yêu nơi bạn chỉ là đầu môi chót lưỡi.
 
Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta thế nào là tình bác ái đích thực. Thánh Luca kể lại, trước tình trạng một nạn nhân bị đánh “nửa sống nửa chết” và bỏ rơi bên vệ đường, hai người đi ngang qua. Họ là những bậc vị vọng: một thày tư tế và một thày Lêvi. Hai vị này là những bậc đáng kính trong cộng đoàn phụng vụ Do Thái giáo và có chỗ ưu tiên trong Hội đường. Họ thường giảng dạy về đức bái ái và tỉ mỉ tuân giữa luật Môisen. Họ cũng được coi là những người trọn lành, hoàn hảo. Ấy vậy mà hai ông này “tránh qua bên kia mà đi”. Việc né tránh khi gặp người bị nạn là biểu hiện của chứng vô cảm, và cũng là hậu quả của bệnh lý thuyết mà không thực hành.
 
Nhân vật thứ ba là người Samari, tức là một người ngoại và đáng khinh. Dù không quen biết, không mối liên hệ, nhưng ông đã dừng lại chăm sóc cứu chữa nạn nhân một cách chu đáo. Ông đã chủ động nhận người bị nạn là người thân của mình. Ông không nhân danh một phong trào tổ chức hay tôn giáo nào, mà ông đại diện cho lòng nhân đạo, cho tình người.
 
Bài giảng của Chúa Giêsu đã làm cho cử tọa xôn xao. Những người vị vọng thì xấu hổ. Những người “thấp cổ bé họng” thì hân hoan. Bởi lẽ qua dụ ngôn này, Chúa đảo ngược quan niệm thông thường về người thánh thiện và người tội lỗi. Chúa xóa bỏ cái nhìn kỳ thị của người Do Thái đối với người ngoại giáo. Theo giáo huấn của Chúa qua dụ ngôn này, người biết quan tâm đến người bị nạn là người có tình yêu đích thực, bất kỳ họ mang nhãn hiệu nào.
 
Trong cuộc sống hiện tại, vẫn tồn tại một khuynh hướng chú trọng quá nhiều đến danh xưng. Có những danh xưng được mua bằng tiền bạc hay thủ đắc bằng dây dợ vây cánh. Tuy vậy, xã hội hôm nay đánh giá một con người không dựa trên chức vị hoặc danh xưng, mà  dựa trên khả năng và tài đức của người đó đối với những người xung quanh. Những chức vị không đi kèm với tài đức sẽ biến người mang chức vị đó thành một nhà tài phiệt. Những hình thức đạo đức mà thiếu nhân tâm, hay những lời có cánh mà thiếu tấm lòng sẽ nhanh chóng bị tróc đi như lớp sơn kém chất lượng phủ phết bên ngoài một bức tường.
 
Không phải vô cớ mà thánh Luca nhấn mạnh, người đặt câu hỏi cho Chúa là một “nhà thông luật”. Thánh sử cũng cho biết ông ta muốn thử Chúa. Xem ra phép thử của ông đã thất bại, vì qua câu chuyện dụ ngôn, Chúa Giêsu đã buộc ông phải đưa ra câu kết luận cuối cùng. Thay vì đặt câu hỏi: Ai là người thân cận của tôi? Người thông luật được mời gọi đặt câu hỏi: Tôi là người thân cận của ai. Qua sự kiện một người thông luật đặt câu hỏi: “Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?” Thánh sử Luca muốn khẳng định ông này chỉ lý thuyết sách vở. Biết đâu, hình ảnh người tư tế hay Lêvi trong dụ ngôn lại là chính vị thông luật đang tỏ ra khôn ngoan về lý thuyết nhưng dại khờ về thực tế!
 
Bác ái yêu người là cốt lõi của Đạo Chúa. Ông Môisen nhắc lại cho dân Israen điều luật căn bản này, đồng thời khuyên họ hãy đem ra thực hành. Luật Chúa chẳng phải đâu xa, cũng không hệ tại ở những bài thuyết trình tràng giang đại hải. Luật ấy cũng chẳng vượt quá sức con người, nhưng rất gần gũi và giúp con người hướng thiện. Cách nói của ông Môisen đã diễn tả điều đó: “Lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em để anh em đem ra thực hành”. Nói cách khác, ngay thẳng trong ngôn hành, trung thực trong cách sống, chính là thực hành Luật của Chúa và đón nhận Lời Ngài.
 
Bác ái yêu thương cũng là giới răn mà Chúa Giêsu truyền dạy. Chúa Giêsu, Đấng là Thiên Chúa cao sang, đã không ngần ngại nhận chúng ta làm anh em. Người là người Samari nhân hậu đến trần gian để chăm sóc một nhân loại bầm dập vì tội lỗi, để phục con người, giúp họ trở về tình trạng thánh thiện nguyên thuỷ. Nhờ máu Người, mối giao hoà giữa Thiên Chúa và con người được tái thiết lập (Bài đọc II).
 
“Ông hãy đi và cũng làm như vậy”. Không rõ người thông luật phản ứng ra sao trước lời khuyên này, nhưng chắc chắn một điều, ông không còn dám khoe khoang sự thông thái của mình nữa.
 
“Ông hãy đi và cũng làm như vậy”. Đây là một một gợi ý cụ thể Chúa đang ngỏ với cộng đoàn phụng vụ của chúng ta hôm nay. Sau khi được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và Thánh Thể, chúng ta lên đường, có Chúa ở với chúng ta. Hãy sống với nhau bằng tấm lòng để trở thành thân cận của anh chị em mình.

---------------------------------

 

TN 15-C177: NGỤ NGÔN VỀ TÌNH YÊU


Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

 

Chuyện kể rằng ngày xưa, có một hòn đảo – nơi có tất cả mọi cảm xúc sinh sống : Hạnh phúc, Giàu TN 15-C177


Chuyện kể rằng ngày xưa, có một hòn đảo – nơi có tất cả mọi cảm xúc sinh sống : Hạnh phúc, Giàu có , Nỗi buồn , Tri thức và những cái khác bao gồm cả Tình yêu.

Một ngày kia , các cảm xúc được thông báo rằng hòn đảo sẽ chìm. Vì vậy tất cả đều đóng thuyền và rời đi ngoại trừ Tình yêu. Tình yêu là người duy nhất ở lại.

Tình yêu muốn chống chọi đến giây phút cuối cùng. Khi hòn đảo sắp chìm, Tình yêu mới quyết định nhờ giúp đỡ. Sự giàu có đi ngang qua trên 1 chiếc thuyền rất lớn, Tình yêu nói : ” Giàu có ơi , có thể đưa tôi đi cùng không ? ” Giàu có trả lời : ” tôi không thể, trong thuyền có rất nhiều vàng bạc, đây không có chỗ cho anh đâu ” . Tình yêu bèn quyết định nhờ Phù hoa , người cũng đi qua trên một con tàu rất đẹp . ” Phù hoa ơi , hãy giúp tôi !”. “Tôi không thể giúp anh Tình yêu ạ ! Anh quá ẩm ướt và có thể sẽ làm hỏng tàu tôi” Phù hoa trả lời.

Nỗi buồn đang ở gần đó, Tình yêu nói: “Nỗi buồn ơi! Hãy cho mình đi với cậu”. “Ôi Tình yêu, mình buồn quá, mình chỉ muốn được ở một mình”. Bỗng nhiên có 1 tiếng gọi: “Lại đây Tình yêu. Ta sẽ đưa cháu đi”, đó là 1 người lớn tuổi. Quá vui mừng và sung sướng, Tình yêu quên cả hỏi xem họ đi đâu. Khi đến 1 miền đất khô ráo, người lớn tuổi ấy lại tiếp tục đi con đường của mình.

Tình yêu hỏi Tri thức – một người lớn tuổi khác.

– Ai vừa giúp cháu vậy ?

– Đó là Thời gian – Tri thức trả lời.

– Thời gian ư ? – Tình yêu hỏi – Nhưng tại sao lại giúp cháu.

Tri thức mỉm cười khôn ngoan rồi nói: “Bởi lẽ chỉ có Thời gian mới hiểu được giá trị của Tình yêu”.

Người ta nói rằng: “Bạn chưa cần đến 3 giây để nói “I love you”, chưa đến 3 phút để giải thích câu nói ấy, chưa đến 3 ngày để cảm nhận được ý nghĩa của nó, nhưng để chứng minh câu nói đơn giản ấy thì cả cuộc đời vẫn là chưa đủ”.

Thực vậy, đâu dễ để nói “I Love you” với người xa lạ, càng đâu dễ để thổ lộ với người thù ghét chúng ta. Xem ra con người còn cần nhiều thời gian để thấy giá trị của tình yêu, để có thể sống cho tình yêu. Con người còn cần nhiều thời gian để học yêu thương và thực hành yêu thương. Con người phải học cách yêu thương ngay cả với những con người còn khiếm khuyết, còn bất toàn, đôi khi còn phải yêu thương ngay cả những kẻ xa lạ và thù nghịch với chúng ta.

Hôm nay Chúa mời gọi ta hãy có tình yêu thương với mọi phận người. Tình yêu sẽ làm cho từ xa lạ trở nên thân cận với nhau. Tình yêu sẽ phá vỡ mọi ngăn cách, kỳ thị bởi chính trị, tôn giáo, màu da sắc tộc. Tình yêu sẽ làm cho con người thêm gần gũi nhau và hợp nhất với nhau. Tình yêu mời gọi chúng ta dấn thân phục vụ nhau. Không phân biệt giai cấp. Không phân biệt tôn giáo như người Samaria năm xưa đã làm. Tình yêu giúp người ta dễ dàng cúi xuống phục vụ mà không so đo tính toán thiệt hơn.

Ky-tô giáo là đạo của yêu thương. Xin cho chúng ta luôn biết thể hiện niềm tin của mình bằng hành vi yêu thương người thân cận. Người thân cận được hiểu là người ta đang sống, đang gặp gỡ, đang mời gọi chúng ta cảm thông, nâng đỡ, yêu thương. Xin cho chúng ta đừng bao giờ tự khép mình trong lớp vỏ chắc chắn để cố giữ sự nguyên vẹn vô nghĩa của bản thân mà hãy can đảm bước đi, âm thầm chịu nát tan để góp cho cánh đồng cuộc đời một cây lúa nhỏ nặng trĩu bông lúa vàng yêu thương. Amen.

-------------------------------

 

TN 15-C178: TÔI LÀ ANH EM CỦA AI?


Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

Mở đầu đoạn Tin Mừng hôm nay là một thắc mắc do nhà thông luật đặt ra cho Chúa Giêsu: “Thưa TN 15-C178


Mở đầu đoạn Tin Mừng hôm nay là một thắc mắc do nhà thông luật đặt ra cho Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?” (Lc 10,25). Biết ông ta là nhà thông luật nên Chúa Giêsu yêu cầu ông hãy tự tìm lời giải đáp. Ông đã tìm thầy và trả lời rất chính xác khi tóm lược hai Giới răn chính : “Mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí khôn, và thương mến anh em như chính mình” (Lc 10,27). Chúa khen ông trả lời đúng, nhưng để biện minh, ông hỏi thêm: “Nhưng ai là người anh em của tôi?” (Lc 10,29). Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để trả lời ông. “Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêricô…” khi đọc lên mọi người biết ngay: đó là dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu !

Quan niệm của người Do thái về người thân cận

“Ai là anh em của tôi ?” Trong Do thái Giáo thời bấy giờ có sự bàn cãi về người anh em của người Israel. Vì theo họ, phạm trù “người anh em” bao gồm tất cả những người đồng hương với mình và những người dân ngoại bí mật theo Do Thái giáo. Khi chọn nhân vật (một người Samaritanô đến giúp đỡ một người Do thái!) Chúa Giêsu muốn khẳng định rằng, phạm trù người anh em là phổ quát. Chân trời của nó là nhân loại chứ không phải gia đình, chủng tộc, hay tôn giáo. Người thù chúng ta cũng là một người anh em! Tin Mừng theo Thánh Gioan dẫn chứng những người Do thái trên thực tế không có tương quan tốt với những người Samaritanô (x. Ga 4,9).

Mọi người là anh em với nhau

Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng tình yêu người thân cận không những phải phổ quát mà con phải cụ thể và tiên phong thực hiện. Người Samaritanô cư xử thế nào trong dụ ngôn? Nếu người Samaritanô chấp nhận nói với người bị hại đang nằm đó trong vũng máu rằng, kẻ vô phúc! Sao xảy ra như vậy? Hãy vui lên! Hay một điều tương tự, rồi tiếp tục lên đường, thì tất cả những sự kiện đó không phải là mỉa mai sao? Trái lại, ông đã làm một nghĩa cử cho người bị hại : “Ông ta lại gần, băng bó những vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân lên lừa mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, lấy ra hai quan tiền, ông trao cho chủ quán mà bảo rằng: “Ông hãy săn sóc người ấy và ngoài ra, còn tốn phí hơn bao nhiêu, khi trở về, tôi sẽ trả lại ông.” (Lc 10,34-35). Cuối dụ ngôn Chúa Giêsu hỏi người thông luật : “Theo ông nghĩ, ai trong ba người đó [thầy Lêvi, thầy tư tế, người Samaritanô] là anh em của người bị rơi vào tay bọn cướp?” (Lc 10,36)

Điều mới lạ trong dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu không phải là Chúa Giêsu đòi hỏi một tình yêu cụ thể, phổ quát. Nhưng mới lạ ở tại một cái gì khác, mà Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI : Chúa Giêsu đem đến một sự đảo ngược bất ngờ trong quan niệm truyền thống về người anh em. Người Samaritanô là anh em chứ không phải là người bị thương tích, như chúng ta vẫn quan niệm. Điều này có nghĩa là chúng ta không phải đợi cho tới khi người anh em chúng ta xuất hiện trên đường đi của chúng ta, có lẽ là quá thê thảm. Chúng ta phải sẵn sàng nhận ra họ, gặp họ. Tất cả chúng ta được kêu gọi nên người anh em! Vấn đề của người thông luật bị đảo ngược. Từ một vấn đề trừu tượng và lý thuyết, trở thành một vấn đề cụ thể và sống động. Câu hỏi không phải là : “Ai là người anh em của tôi? ” Nhưng “ở đây và bây giờ tôi có thể là anh em của ai? (x Chương 7 sách “Đức Giêsu thành Nagiarét”).

Tôi là anh em của ai?

Giả thiết, nếu Chúa Giêsu đến với dân Israel hôm nay và một người thông luật lại hỏi Người, “Ai là người anh em của tôi? ” Người sẽ thay đổi một chút bài dụ ngôn và thay vì người Samaritanô, Người sẽ đặt một người Palestin! Nếu một người Palestin hỏi Người cũng một câu hỏi, thì trong chỗ người Samaritanô chúng ta sẽ gặp một người Israel!

Chúng ta không áp dụng cho Trung Đông nữa. Nếu có ai trong chúng ta đang ngồi đây hỏi Chúa Giêsu : Ai là người anh em của con, thì Người sẽ trả lời sao? Chắc chắn Người sẽ nhắc chúng ta rằng người anh em chúng ta không những là người đồng hương Việt Nam máu đỏ da vàng với chúng ta, nhưng cũng là những kẻ ngoài cộng đồng chúng ta, không những là những người Kitô hữu mà còn những người Phật Giáo, không những là những người Công Giáo mà cũng là những người Tin Lành, không những là người cùng tín ngưỡng mà cả những người vô thần nữa. Nhưng Người sẽ nói thêm liền là  điều này không phải là quan trọng nhất. Điều quan trọng nhất  không phải biết ai là người anh em của tôi nhưng là thấy ở đây và bây giờ tôi có thể là anh em của những ai, tôi có thể làm người Samaritanô nhân hậu cho ai.

Hôm nay, Chúa nói với chúng ta : “Hãy đi và làm y như vậy” (Lc 10,37), làm như người Samaritanô đã làm. Tất cả chúng ta phải tiếp tục nhiệm vụ của người Samaritanô nhân hậu bên cạnh những người chúng ta gặp và chân thành giúp đỡ, băng bó các vết thương thể xác và tinh thần cho họ, những vết thương lòng, nghèo đói, ốm đau, bệnh tật, cô đơn và chết chóc… Đừng ngồi đặt vấn đề: Ai là anh em tôi? Nhưng hãy đi và tỏ ra mình là anh em của mọi người. Amen.

--------------------------------

 

TN 15-C179: CHIÊM NGẮM LÀM SAO, YÊU LÀM VẬY


Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

 

Ông thầy thông luật là một người Do Thái chính hiệu, thường xuyên suy niệm về luật pháp của TN 15-C179


Ông thầy thông luật là một người Do Thái chính hiệu, thường xuyên suy niệm về luật pháp của Cựu Ước, chắc hẳn ông thừa hiểu rằng: yêu người là một luật điều mà mọi người Do Thái đều phải tuân giữ, dựa trên giao ước đã ký kết với Đức Chúa Gia-vê. Chính việc giữ các giới luật này sẽ tạo nên sự công chính thánh thiện, có sức mang lại sự sống đời đời, trong khi yêu người được ông hiểu là yêu người cận thân, còn kẻ thù thì đương nhiên phải ghét bỏ (xem Đnl 19:18-21); và điều này thật là hợp lý và rất thường tình, người cận thân trở thành người thân cận có đi có lại với mình; thậm chí ngay cả Đức Chúa Gia-vê trong lịch sử giải phóng cũng đã có đi có lại rất sòng phẳng với dân riêng của Ngài. Cũng chính vì quan niệm về Đức Chúa được luật pháp trình bày như thế, nên thầy thông luật đã có thể biện minh cho khái niệm ‘yêu đồng loại và ghét kẻ thù’ của mình là hợp lý.

Đức Giê-su cũng đặt ‘yêu người’ thành ‘luật’ nền tảng của Giao Ước Mới; đối với Người, yêu người cũng vẫn là yêu người cận thân, yêu đồng loại, tuy nhiên nội dung của hạn từ ‘cận thân’ này hình như đã được mở rộng tới chân trời vô tận, rộng tới độ, nó hầu như đã mang lấy một ý nghĩa hoàn toàn mới, một cái mới vô tiền khoáng hậu. Đức Giê-su giải thích, bắt đầu bằng việc kể câu chuyện dụ ngôn về ‘người Sa-ma-ri tốt lành’, rồi ứng dụng bằng chính cái chết của Người trên thập giá, như một minh chứng cụ thể. Người muốn xác quyết rằng: chính Thiên Chúa là người đầu tiên thực hành cái ‘luật yêu người’ rất mới mẻ này. Quả vậy các Ki-tô hữu chúng ta, qua hình ảnh người Sa-ma-ri nhân hậu, luôn chiêm ngắm một Thiên Chúa yêu thương cứu vớt, một Thiên Chúa luôn chủ động đi bước trước, hiện thân cách cụ thể trong một Giê-su Ki-tô tự hiến và trao ban cách tự nguyện trên thập giá. Nhờ thế mà sự hiểu biết và thực thi ‘yêu người cận thân’ của các Ki-tô hữu cũng sẽ được biến cải hoàn toàn, tùy theo mức độ họ chiêm ngắm ‘Người Sa-ma-ri Tốt Lành’ đó ra sao.

Thiên Chúa mà Ki-tô hữu ký kết giao ước với, sẽ không còn là một Thiên Chúa chỉ yêu kẻ lành thánh và ghét bỏ kẻ tội lỗi, ân thưởng người lành và trừng phạt kẻ gian ác, như quan niệm thông thường của nhiều tôn giáo và ngay cả của Cựu ước. Khi bắt gặp một người sa ngã, Người đâu có như các thày tư tế và Lê-vi ‘tránh qua bên kia mà đi’. Thậm chí nhiều lần Người đã so sánh mình với thầy thuốc đến vì người bệnh chứ đâu vì người khỏe mạnh, với người mục tử bỏ cả đàn lại để ra đi tìm con chiên lạc. Người không những không xa tránh người bị phong hủi ghê tởm, mà còn chạm tới và chữa lành anh ta; không xua đuổi mà còn để cho người đàn bà tội lỗi ôm hôn chân mình… Ki-tô hữu phải biết rằng: mình đã ký kết Giao Ước Mới với một Thiên Chúa như thế. Mà làm sao họ không biết cho được, khi mà ngay từ khởi đầu ơn gọi Ki-tô hữu, chính họ đã lãnh nhận Phép Rửa thứ tha, và liên tục trong suốt đời sống không ngừng nhận đi lãnh lại bí tích Hòa Giải với lòng thống hối ăn năn? Đối với họ, hình ảnh người Sa-ma-ri tốt lành vẫn còn là quá mờ nhạt, so với ánh sáng nhân ái chói chang mà Đức Ki-tô Giê-su đã thực hiện trên thập giá, cho cá nhân họ và cho toàn nhân loại!

Ấy thế mà hình như vẫn còn điều gì chưa ổn: nếu trong tư cách Ki-tô hữu, chúng ta thật sự thường xuyên chiêm ngắm (chưa nói tới kết hợp mật thiết) một Giê-su – Thiên Chúa như thế; nếu ta liên tục làm dấu Thánh Giá và cử hành hiến tế Thập Giá… thì tại sao ta vẫn chưa thể yêu người cận thân, thậm chí ngay trong suy tưởng chứ chưa nói tới hành động? Cho tới giờ vẫn chẳng thấy gì chuyển biến cả; ta vẫn cứ đòi cho bằng được người ta phải yêu mình trước, để rồi mình yêu lại sau… Yêu người của chúng ta – Ki-tô hữu đâu có gì khác với yêu tha nhân của dân ngoại’ sống chung quanh, vẫn tính toán hơn thua, vẫn ‘hòn đất ném đi hòn chì ném lại’, vẫn chẳng mấy lộ rõ nét ‘tự hiến’ (cho dầu nhiều người, nhất là các linh mục tu sĩ, vẫn tự mãn đề cao và áp dụng hạn từ đó cho mình). Lý do có thể là: vẫn còn tồn tại một thiếu sót trầm trọng nào đó trong việc chiên ngắm ‘Người Sa-ma-ri Thập Giá’ của các Ki-tô hữu chúng ta; “Ông hãy đi, và cũng làm như vậy”, lời Đức Giê-su nói với ông thầy thông luật, lẽ ra phải là cả một chương trình chiêm ngắm và hành động của mỗi Ki-tô hữu chúng ta qua các thời đại.

Ồi, nếu tôi đã biết chiêm ngắm nhiều hơn nữa một Thiên Chúa “đã thực thi lòng thương xót đối với…” chính tôi; một Thiên Chúa đã coi tôi là một cận thân, ngay cả khi tôi thù hằn và đối nghịch với Người, đã “chạnh lòng thương… lại gần, lấy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho tôi, băng bó lại… rồi vực lên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc…”! Tôi thiết nghĩ: toàn bộ chương trình sống của Ki-tô hữu chúng ta chỉ hệ tại ở việc ‘chiêm ngắm’ lòng thương xót Chúa đã dành cho mình, rồi ra đi… và cũng làm như vậy.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta chiêm ngắm một Giê-su Thập Giá mà ‘người Sa-ma-ri tốt lành’ trong bài dụ ngôn chỉ là một phác thảo mờ nhạt; và câu kết của câu chuyện cũng là một lời mời gọi tôi: ‘hãy ra đi, và hành động như Người’.

Lạy Chúa Giê-su, để xây dựng và củng cố niềm tin và đời sống Ki-tô hữu của con, con sẽ không xin Chúa giúp con điều gì khác ngoài việc biết say sưa chiêm ngắm tình yêu thương xót Chúa biểu hiện nơi Thập Giá, cách riêng mỗi lần cử hành cách sinh động Thánh Lễ, là mầu nhiệm tự hiến Chúa dành cho chính con. Làm sao để, càng chiêm ngưỡng và cử hành Đức Ki-tô – ‘Người Sa-ma-ri Thập Giá nhân hậu’, con càng biết sống và thực thi tình yêu cận thân cách chân thành và quảng đại hơn nữa. A-men.

-------------------------------

 

TN 15-C180: TRẢ NỢ LÒNG THƯƠNG XÓT


Trầm Thiên Thu

 

Chính khách Benjamin Franklin (1706-1790, Hoa Kỳ) so sánh một thực tế đơn giản mà thâm thúy TN 15-C180


Chính khách Benjamin Franklin (1706-1790, Hoa Kỳ) so sánh một thực tế đơn giản mà thâm thúy: “Thà lên giường ngủ mà không ăn tối còn hơn thức dậy vẫn mang nợ nần”. Nghèo mà không nợ ai, thế là an tâm, thế là hạnh phúc rồi.

Có nhiều dạng nợ, thực tế đời thường là nợ về tiền bạc, vật chất. Có lẽ không ai lại không đã từng hơn một lần là con nợ của người khác, chí ít cũng là vài chục ngàn đồng (theo giá trị tiền Việt Nam ngày nay).

Số tiền nợ càng nhiều thì mức khổ càng nhiều. Vì nghèo mà mắc “cái eo”, chẳng đặng đừng mà phải chịu mang nợ, chứ chẳng ai muốn. Đó là nói những con người làm ăn lương thiện, còn những người “bóc ngắn, cắn dài”, “vung tay quá trán” hoặc “sĩ diện” mà phải mang nợ thì… miễn bàn.

Con nợ khổ thật. Chính cụ Nguyễn Công Trứ (1778-1858) đã “Than Nghèo” thế này: “Chửa chán ru mà quấy mãi đây, Nợ nần dan díu mấy năm nay, Mang danh tài sắc cho nên nợ, Quen thói phong lưu hóa phải vay”. Ngày nay gọi đó là… “chảnh”.

Có những món nợ vì vay mượn – tất nhiên là phải trả, nhưng có những món nợ không vay mượn mà vẫn phải trả: nợ yêu thương, nợ thương xót. Nói là “không vay” chứ thật ra người ta vay mượn nhau một cách mặc nhiên, ngầm hiểu mà thôi.

Hãy nghe Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13:8a). Món nợ này rất kỳ diệu, bởi vì “ai yêu người thì đã chu toàn lề luật” (Rm 13:8b). Yêu người là yêu Chúa, miệng nói kính mến Thiên Chúa mà không yêu thương tha nhân thì chỉ là nói xạo (x. 1 Ga 4:7-21). Tuy nhiên, Chúa Giêsu còn “nghiêm khắc” hơn về món nợ này, Ngài bắt buộc mỗi người trong chúng ta đều phải “trả hết đồng xu cuối cùng” (Mt 5:26).

Đó cũng là mệnh lệnh. Thời Cựu Ước, ông Môsê nói với dân chúng: “Nếu anh em nghe tiếng Chúa, Thiên Chúa của anh em, hãy giữ những mệnh lệnh và thánh chỉ Người, ghi trong sách Luật này, miễn là anh em trở về với Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ. Quả thế, mệnh lệnh tôi truyền cho anh em hôm nay đây, không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh em” (Ðnl 30:10-11). Ông cho biết thêm rằng mệnh lệnh đó không ở trên trời, cũng không ở bên kia biển, mà ở rất gần chúng ta, ngay trong miệng, ngay trong lòng chúng ta, để chúng ta đem ra thực hành (Ðnl 30:12-14).

Thật vậy, có lẽ chúng ta sống trên mây nên thích mơ mộng xa vời, hão huyền, chuyện gần không lo mà cứ ngóng chuyện đâu đâu. Nói theo kiểu bình dân là “lo bò trắng răng”. Phép lạ hằng ngày xảy ra xung quanh chúng ta, cụ thể là xảy ra cho mỗi chúng ta, thế mà nghe nói ở đâu có “sự lạ” là đã xôn xao rồi. Kể cũng kỳ cục thật đấy!

Vâng, Hồng Ân Thiên Chúa luôn dạt dào, bao la, cao vời khôn ví. Tác giả Thánh Vịnh đã cảm nhận sâu sắc nên đã thốt lên: “Lạy Chúa, phần con xin dâng Ngài lời nguyện, lạy Chúa Trời, đây giờ phút thi ân. Xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày, vì Chúa vẫn trung thành ban ơn cứu độ” (Tv 69:14).

Tuy nhiên, không phải vì thế mà ỷ lại, ảo tưởng. TIN Thiên Chúa yêu thương mình thì không là kiêu ngạo, nhưng TƯỞNG Thiên Chúa yêu thương mình thì là kiêu ngạo. Làn ranh giữa TIN và TƯỞNG rất mong manh, phải hết sức cẩn thận, đồng thời phải thành tâm cầu xin: “Lạy Chúa, xin lấy lòng nhân hậu mà đáp lại lời con; xin mở lượng hải hà mà đoái thương nhìn đến” (Tv 69:17).

Có nhiều lý do để chúng ta cầu xin, đơn giản nhất là nhận biết mình yếu đuối: “Phần con đây, thật khốn cùng đau khổ, lạy Chúa Trời, xin cứu vớt đỡ nâng” (Tv 69:30). Cầu nguyện không chỉ là cầu xin, mà trước tiên phải là tạ ơn và chúc tụng: “Tôi sẽ hát bài ca chúc mừng Danh Thánh, sẽ dâng lời cảm tạ tán dương Người” (Tv 69:31). Được như vậy thì Thiên Chúa sẽ vui mừng chúc lành cho chúng ta.

Với đứa con yếu đuối, cha mẹ yêu thương đặc biệt. Đó là hình bóng của Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, vì Ngài rất yêu thương và quan tâm những người mọn hèn – cả nghĩa đen và nghĩa bóng, như Thánh Phaolô xác nhận: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5:20).

Thế thì thật may mắn cho những tội nhân chúng ta! Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta “mắc nợ” Ngài. Vì thế, tác giả Thánh Vịnh mời gọi và động viên: “Những ai nghèo hèn, xem đấy mà vui lên, người tìm Thiên Chúa, hãy nức lòng phấn khởi. Vì Chúa nhậm lời kẻ nghèo khó, chẳng coi khinh thân hữu bị giam cầm” (Tv 69:33-34).

Thánh Phaolô xác nhận rằng “Đức Kitô đứng hàng đầu”, vì Ngài là Vua của các vua và Chúa của các chúa, mọi quyền hành. Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã nói rõ: “Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử, để ai nấy đều tôn kính người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con” (Ga 5:22-23).

Thánh Phaolô phân tích: “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người” (Cl 1:15-16).

Thật hạnh phúc vì chúng ta được ơn nhận biết Đấng mà chúng ta tôn thờ là Thiên Chúa duy nhất, chứ không có bất cứ thần linh nào khác. Điều này thật hay không, và Đấng đó là ai? Thánh Phaolô cho biết: “Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người. Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự, Người đứng hàng đầu” (Cl 1:17-18). Như vậy là quá rõ ràng, chúng ta đều là các chi thể, nghĩa là chúng ta không thể là một “phần rời”, mà là “phần dính” thì có tính liên đới về mọi sự – cả hữu hình và vô hình, cả tâm linh và xã hội. Ai tự tách rời là tự hủy diệt.

Quả thật, Thánh Phaolô cho biết nguyên nhân rạch ròi: “Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1:19-20).

Thiên Chúa đại lượng, dù chúng ta hoàn toàn bất xứng, thế nhưng được nhận lãnh mọi thứ rồi chúng ta lại quá hẹp hòi, ngôn hành không song song về việc thực thi đức ái hoặc lòng thương xót, không chỉ với nhau mà đôi khi chúng ta còn so đo với chính Đấng đã đại lượng với mình. Tệ thật đấy!

Trình thuật Lc 10:25-37 nói về lòng thương xót. Thật vậy, yêu thương là “điều răn lớn” hơn hết.

Một hôm, có người thông luật muốn thử Chúa Giêsu nên hỏi Ngài về cách sống tốt nhất để được sự sống đời đời. Đức Giêsu trả lời bằng cách hỏi ngược lại ông ta: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?”. Là người thông luật nên ông ta nói trôi chảy: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình”. Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy thì sẽ được sống”.

Một tấc lên tới trời. Nếu được hỏi, chắc hẳn chúng ta cũng có thể trả lời ngay, không cần suy nghĩ lâu. Nhưng đó mới chỉ là lời nói suông. Từ miệng tới tay là con đường rất ngằn nhưng cũng rất dài, giống như vô tận vậy.

Đức Giêsu nói vậy quá đúng, nhưng ông ta muốn chứng tỏ là mình có lý, nên hỏi vặn: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?”. Đức Giêsu cười và ôn tồn kể dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành:

Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có THẦY TƯ TẾ cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một THẦY LÊ-VI đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một NGƯỜI SA-MA-RI kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông đưa tiền cho chủ quán và nhờ săn sóc nạn nhân, tốn kém thêm bao nhiêu rồi ông sẽ hoàn lại sòng phẳng.

Nghe dụ ngôn này thấy “nhột” quá. Là thầy này thầy nọ, ông nọ bà kia, chức cao phẩm lớn, nhưng viện đủ lý do để làm ngơ người khác: lấy cớ bận việc, không có thời gian, vội vì có việc gấp, không muốn khó đến mình,… Đó là tự biện hộ cho sự vô cảm xấu xa của mình. Còn người mà chúng ta nhìn bằng nửa con mắt lại là NGƯỜI TỐT.

Đức Giêsu hỏi người thông luật: “Vậy theo ông, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?”. Người thông luật cũng mau mắn trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”.

Hai lần Chúa Giêsu bảo người thông luật “làm như vậy”. Liệu ông ta có làm như vậy? Không ai biết, nhưng rất có thể là “không”, vì điều đó khó quá. Và Chúa Giêsu cũng bảo chúng ta y như thế. Làm hay không là quyền tự do của mỗi người, Chúa Giêsu không ép buộc ai!

“Làm như vậy” đơn giản mà phức tạp, dễ mà khó. Ai “làm như vậy” là thanh toán món nợ lòng thương xót đối với nhau – và Thiên Chúa coi như là làm cho chính Ngài (x. Mt 25:31-46), tất nhiên ai “làm như vậy” thì “tên được ghi trên trời” (Lc 10:20), và chắc chắn sẽ được lãnh nhận sự sống đời đời như Chúa Giêsu đã xác nhận.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con nhận biết mình là “con nợ” của Ngài và của tha nhân, để nhờ vậy mà con thực sự biết sống khiêm nhường và biết sống cho tha nhân. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

---------------------------------

 

TN 15-C181: ĐỂ ĐƯỢC SỐNG ĐỜI ĐỜI


Lm. Inhaxiô Trần Ngà

 

Giữa hai công việc, một là thờ phượng Thiên Chúa trong đền thờ, hai là phục vụ người đau yếu TN 15-C181


Giữa hai công việc, một là thờ phượng Thiên Chúa trong đền thờ, hai là phục vụ người đau yếu, nghèo khổ… trong xã hội, ta nên chú trọng đến việc nào hơn?  Làm việc nào trong hai việc đó thì sẽ được sống đời đời?

Thầy Tư tế và thầy Lê-vi trong bài Tin mừng hôm nay là người tiêu biểu cho những người chọn việc thờ phượng Thiên Chúa là việc cần phải làm để được sống đời đời, còn việc phục vụ người hoạn nạn, khốn khổ thì để người khác lo.

Chính vì thế, khi thấy một nạn nhân nằm thoi thóp bên đường, mình đầy thương tích máu me, đang rên la cần sự trợ giúp, thì các thầy lánh sang một bên, vội vã tiến về nhà cho kịp giờ cầu nguyện hay dâng lễ vật lên Thiên Chúa; còn chuyện cứu khổ cứu nạn, thì đừng dại dột giây mình vào làm chi cho phiền hà rắc rối, để người khác lo.

Còn người Sa-ma-ri là tiêu biểu cho những người chọn phục vụ người hoạn nạn khốn khổ là việc cần làm để được sống đời đời, nên khi thấy nạn nhân nằm thoi thóp bên đường, mình đầy máu me, ông liền cho lừa dừng lại, bước xuống cúi mình trên nạn nhân, cảm thương thân phận người xấu số. Ông mở hành trang lấy rượu rửa sạch vết thương, lấy dầu xoa bóp những nơi bầm tím, rồi vực nạn nhân lên lừa của mình, quay trở về quán trọ để chăm sóc chu đáo. Sáng hôm sau, trước khi ra đi, ông trao tiền cho chủ quán và dặn dò: “Xin ông lo chăm sóc người nầy giùm tôi cho chu đáo, còn tốn phí thêm bao nhiêu, khi trở về tôi sẽ hoàn lại cho ông.”

Về phần chúng ta, chúng ta chọn lựa làm theo bên nào, theo cách hành xử của thầy tư tế và Lê-vi hay theo cung cách phục vụ của người Sa-ma-ri?

Tốt nhất, chúng ta hãy học cách hành xử đúng như Chúa Giê-su muốn, dựa theo bài Tin mừng hôm nay.

Khi có người thông luật hỏi Chúa Giê-su: “Tôi phải làm gì để được sống đời đời?”

Chúa Giê-su giúp anh tìm ra câu đáp chính xác, đó là mến Chúa và yêu người.

“Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn ngươi và yêu mến người thân cận như chính mình.” 

Như thế là phải chọn cả hai, vừa yêu mến Thiên Chúa hết lòng hết sức, vừa yêu thương người thân cận như chính mình. Cả hai việc này đều phải được ưu tiên như nhau, nếu chúng ta thiếu một trong hai thì không thể được hưởng phúc thiên đàng.

Tại sao thế?

Đức Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô 16 cho ta biết lý do:

Ta phải chọn cả hai, vừa yêu mến Thiên Chúa, vừa phải yêu thương tha nhân là vì:

-Chúa Giê-su đã nên một với mọi người quanh ta;

-Yêu người cũng là yêu Chúa vì Chúa và con người chỉ là một.

Nguyên văn ngài viết như sau :

“Chúa Giê-su đồng hóa mình với những người cùng quẫn, những người đói khát, những khách lạ, những kẻ trần truồng, đau yếu và những người đang trong vòng lao lý. “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25, 40). Mến Chúa và yêu người đã trở thành một: trong những người anh em bé nhỏ nhất, chúng ta tìm thấy chính Chúa Giêsu, và trong Chúa Giêsu chúng ta gặp được Thiên Chúa.” (Thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” số 15 của Đức Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô)

Và chính vì thế, ngài dạy:

-Việc bác ái cũng như việc ban phát bí tích và rao giảng Lời Chúa đều là hoạt động cốt yếu của Hội thánh;

-Yêu thương những người bất hạnh cũng như ban phát bí tích và rao giảng Lời Chúa đều thiết yếu đối với Hội thánh;

Do đó,

-Hội thánh không thể lơ là việc phục vụ bác ái cũng như không thể lơ là việc ban bí tích và rao giảng Tin mừng. (Thông điệp “Thiên Chúa Là Tình Yêu” số 22 của Đức Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô)

Chính vì Chúa Giê-su là một với những người quanh ta, nên chúng ta không chỉ thờ phượng Ngài trong nhà thờ mà còn phải ân cần phục vụ Ngài nơi những người bất hạnh. Chúng ta hãy nghe lời nhắn nhủ của thánh Gioan kim khẩu như sau về bổn phận này như sau:

“Bạn muốn tôn kính thân thể Đức Ki-tô ư? Thì chớ khinh chê thân thể ấy khi thân thể ấy trần trụi: đừng có thái độ nầy là trong nhà thờ thì tôn kính, cho thân thể Ngài mang những y phục lụa là gấm vóc, nhưng ở ngoài lại coi thường, để cho thân thể ấy phải giá lạnh và trần trụi.…

Thân thể Chúa ở đây (trong nhà thờ) không cần y phục, nhưng cần tâm hồn trong trắng; còn thân thể Chúa ngoài kia thì cần được chăm lo tận tình.” (thánh Gioan Kim Khẩu)

Lạy Chúa Giê-su,

Xin ban thêm cho chúng con đức tin và lòng yêu mến để chúng con tin Chúa hiện diện nơi mọi người, đặc biệt là nơi những người đau khổ và đem hết khả năng để phục vụ và yêu mến họ. Có như thế, chúng con mới được hưởng phúc thiên đàng.

-----------------------------

 

TN 15-C182: AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN?


Lam Thy ĐVD.

 

Bài Tin Mừng hôm nay (CN XV/TN-C – Lc 10, 25-37) trình thuật câu chuyện một người thông luật TN 15-C182


Bài Tin Mừng hôm nay (CN XV/TN-C – Lc 10, 25-37) trình thuật câu chuyện một người thông luật hỏi thử Đức Giê-su xem điều răn nào trọng nhất trong Luật Mô-sê? Thay vì trả lời, Đức Giê-su lại hỏi ngược lại để chính người thông luật tự trả lời: “Ông ấy thưa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” (Lc 10, 28). Người thông luật đã nối kết một câu trong sách Ðệ Nhị Luật (“Hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng, hết dạ, hết sức anh (em)” – Đnl 6, 5) với một câu trong sách Lê-vi (“Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” – Lv 19,18). Ông ta muốn chứng tỏ mình là người thông hiểu lề luật và biết tổng hợp để có những nguyên tắc sống đạo đầy đủ, khiến Ðức Giê-su tỏ ý khen ngợi và khuyến khích ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.” (Lc 10, 28).

Nhà thông luật ở đây chính là những kinh sư Pha-ri-sêu chuyên môn “thử” Đức Giê-su để tìm cách hại Người. Cứ tưởng được Đức Giê-su khen như thế thì “nhà thông luật” sẽ thôi không còn “thử hay gài bẫy” nữa, nhưng không ngờ ông ta lại “muốn chứng tỏ là mình có lý” để tiếp tục “thử” Đức Giê-su: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” Hỏi câu này, ông ta đã dựa theo lẽ thường tình thế sự vẫn quan niệm “người thân cận” là những người gần gũi, thân thiết như cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, họ hàng, bạn bè … (như trong từ “thân nhân”, “thân thích”, “thân bằng quyến thuộc”… vẫn thường dùng). Ngầm ý của ông ta là ông đã sửa câu trích trong sách Lê-vi (“Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” – Lv 19,18) thành câu “yêu mến người thân cận như chính mình” (Lc 10, 28) để cố ý gài bẫy Đức Giê-su; nhưng ý đồ đó vẫn không che giấu được trước Đấng thấu suốt mọi sự; vì thế Đức Giê-su phải kể dụ ngôn “Người Sa-ma-ri tốt lành” và từ dụ ngôn ấy, Người lại đặt câu hỏi để chính người thông luật tự tìm ra định nghĩa trả lời cho câu hỏi của mình.

Với du ngôn “Người Sa-ma-ri tốt lành” (Lc 10, 29-37) Đức Giê-su đã đưa vào câu chuyện 3 nhân vật: Hai người đầu (một vị Tư tế, một thày Lê-vi) là hai nhân vật thuộc nhóm “người thông luật”, tức là những người liên quan đến những hoạt động trong Đền Thờ. Nhân vật thứ ba (một người Sa-ma-ri) là một người Do-thái ly giáo, bị coi là ngoại bang, một thứ dân ngoại dơ bẩn, tội lỗi. Dụ ngôn trình thuật: Một người kia,  trên con đường từ Giê-ru-sa-lem đến Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết nằm bên vệ đường. Vị Tư tế và thày Lê-vi trông thấy người này, nhưng đều “tránh qua bên kia mà đi” (Lc 10, 31-32). Nếu nói thầy Lê-vi, vị Tư tế, là những người luôn có mặt trong Đền Thờ, thì tất nhiên phải nắm vững Lề Luật, mà Lề Luật của Đức Chúa đều đã qui định trách nhiệm cần phải giúp đỡ nạn nhân; nhưng cả hai đều không dừng bước mà băng ngang qua đó với thái độ dửng dưng, lạnh lùng. Điều này cho thấy không phải những ai lui tới với Nhà Chúa, thông hiểu Lề Luật và biết được lòng thương xót của Chúa mà có thể yêu thương tha nhân.

Tuy nhiên, với người Sa-ma-ri – một con người bị khinh bỉ, coi là phường tội lỗi – khi trông thấy kẻ bị thưong tích đã không bỏ đi như hai người thông luật trước đó, mà “đã chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc.” (Lc 10, 33-34). Ông “đã chạnh lòng thương”, chứng tỏ tâm can của ông đã thương cảm; trái tim của ông đã rung động! Như vậy là trái tim của người Sa-ma-ri đã đập cùng một nhịp với chính con tim của Thiên Chúa (Mt 9, 36; 14, 14; 15, 32; Mc 6, 34). Thật vậy, phải có “lòng cảm thương” bao la nhân hậu mới “chạnh lòng thương” trước những nạn nhân của áp bức, nghèo khổ, cơ cực, lầm than, đói khát… “Lòng cảm thương” là đặc tính thiết yếu của Lòng Chúa Thương Xót. Nơi những cử chỉ và hành động của người Sa-ma-ri bộc lộ rõ ràng tác động từ bi nhân hậu của Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót trong suốt dòng lịch sử cứu độ.

Như vậy, “người thân cận” trong dụ ngôn của Đức Ki-tô không phải là họ hàng máu mủ ruột thịt, mà lại là một người xa lạ, một người bất chợt gặp trên đường đời. Nghe ra có vẻ nghịch lý, bất bình thường (một người chưa hề quen biết, bất chợt gặp trên đường mà lại được coi là “thân cận” ư?). Tuy nhiên, nếu suy cho cùng, thì sẽ thấy là mặc dù sống gần gũi nhau nhưng chưa chắc cha mẹ, vợ chồng, anh em bè bạn đã thật sự thân thiết với nhau, nếu chưa thật sự yêu thương nhau. Đến ngay như vợ chồng đầu gối tay ấp, cũng không thiếu những trường hợp “đồng sàng, dị mộng” (chung giường, khác mộng), huống hồ! Chính Chúa Giê-su cũng nói : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình và trong gia đình mình mà thôi.” (Mt 13, 57 ), “Kẻ thù của mình chính là người nhà.” (Mt 10, 36); và khi nói về cha mẹ, anh em, họ hàng, thì Người dạy: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” (Mt 12, 48-50).

Đức Ki-tô rất hay dùng cách nói “tương phản” (nói trái với ý chính để làm nổi bật ý chính – Vd: “Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của mình chính là người nhà.” – Mt 10, 34-36) ; “ám tỉ” (so sánh ngầm – Vd: “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men.” – Mt 12, 33) ; “ẩn dụ” (ví ngầm – Vd: “Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được.” – Mt 13, 31-32). Và trong dụ ngôn “Người Sa-ma-ri tốt lành” cũng vậy, Đức Ki-tô muốn cho người nghe hiểu được chỉ có những người sống trong Tình Yêu mới thật sự là người thân cận với nhau. Nhiều lắm những Lời dạy chí tình chí nghĩa của Người Thầy chí thánh minh hoạ cho chân lý Tình Yêu.

Đông phương học xưa cũng từng truyền tụng “Tứ hải giai huynh đệ“  (Người trong bốn bể thật là anh em), “Ái nhân như ái thân“ (Yêu người như yêu chính bản thân mình). Vâng, chính Thánh Phao-lô cũng đã khẳng đinh trong thư gửi tín hữu Ga-lat: “hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.“ (Gl 5, 13-14). Như vậy, để được coi là thân cận, yêu thương, gần gũi, gắn bó với nhau, phải là những người sống với nhau bằng tình bác ái. Làm công việc tông đồ bác ái là làm những việc thể hiện được tình yêu bao la của Thiên Chúa, thể hiện được chính Đức Vua Tình Yêu – hiện thân của Lòng Thương Xót – đã hy sinh cả tính mạng cho người mình yêu. Đối tượng để thực thi bác ái không giới hạn trong phạm vi gia đình hay quốc gia, mà là tất cả những người cùng khổ, hoạn nạn, bệnh tật, nghèo đói trên thế giới.

Nói “hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” thì rất cần phải lưu ý: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa. Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà. Hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa: vui với người vui, khóc với người khóc. Hãy đồng tâm nhất trí với nhau, đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn. Anh em đừng cho mình là khôn ngoan, đừng lấy ác báo ác, hãy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt. Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hoà thuận với mọi người.” (Rm 12, 9-18).

Khi giảng Giáo Lý về Lòng Thương Xót trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, ĐTC Phan-xi-cô đã dạy: “Dụ ngôn “Người Sa-ma-ri Nhân Lành” là một tặng ân kỳ diệu cho tất cả chúng ta, và đồng thời cũng là một thứ dấn thân! Chúa Giê-su lập lại với từng người chúng ta những gì Ngài đã nói với Vị Tiến Sĩ Luật: “Hãy đi mà làm như thế” (câu 37). Tất cả chúng ta đều được kêu gọi theo đường lối của Người Samaritanô Nhân Lành, vị là hình ảnh của Chúa Ki-tô, ở chỗ, Chúa Giê-su đã cúi xuống trên chúng ta, biến Mình thành tôi tớ của chúng ta, nhờ đó Người đã cứu chúng ta, để chúng ta cũng có thể kính mến Người như Người đã yêu thương chúng ta cùng một cách thức như vậy.” (Bài Giáo lý 12: Về Dụ ngôn “Người Sa-ma-ri Nhân Lành”).

Tóm lại, người Ki-tô hữu có thể trở thành người thân cận của bất cứ ai gặp gỡ trong đời đang cần giúp đỡ, và tất nhiên sẽ là người thân cận như người Sa-ma-ri nhân lành nếu có lòng cảm thương nơi tâm can, luôn biết “chạnh lòng thương” với nỗi đau của tha nhân, tức là có khả năng chịu khổ với người khác. Để được như vậy thì cần phải biết “nhìn bằng con mắt của Chúa Giê-su và chia sẻ tâm trí của Người, thiên hướng con thảo của Người, vì họ chia sẻ tình yêu của Người, vốn là Thần Khí của Người.” (Thông điệp Ánh Sáng Đức Tin “Lumen Fidei”, số 21). Vâng, hãy nhìn bằng “con mắt của Chúa Giê-su” – Con Mắt Tình Yêu, Con Mắt của Lòng Thương Xót – như trong dụ ngôn “Người Sa-ma-ri tốt lành”, mọi việc sẽ sáng tỏ.

Đúng vậy, “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8). Ấy cũng bởi vì “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình.” (1Ga 4, 20-21). Ước được như vậy. Amen.

------------------------------

 

TN 15-C183: LÒNG THƯƠNG XÓT PHÁT XUẤT TỪ TRÁI TIM


Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

 

Một trong những chương trình gần đây của VTV bị dư luận phê phán kịch liệt đó là chường trình 60 phút TN 15-C183


Một trong những chương trình gần đây của VTV bị dư luận phê phán kịch liệt đó là chường trình 60 phút mở, do biên tập viên nữ nổi tiếng của đài thực hiện. Trong kỳ phát sóng vừa qua, cô đã đặt vấn đề : Làm từ thiện để làm gì ? Khi nêu những ví dụ về các nhóm làm từ thiện, cô muốn xoáy sâu để đào bới các động lực chính trị nơi những người làm từ thiện. Có người mang danh tiến sĩ đã phát biểu : Làm từ thiện khiến cho người ta mất đi bản sắc văn hóa dân tộc. Ngay lập tức, chương trình bị dân chúng phản ứng và cho rằng, chương trình thiếu lương tâm, vô nhân đạo và những con người phát biểu cách lạnh lùng như cô biên tập viên hoặc như ông tiến sĩ kia là những con người vô cảm. Họ chỉ là hạng người có cái đầu nhưng không có óc, có cái xác nhưng không có trái tim. Nhiều người bày tỏ quan điểm rằng, họ làm từ thiện là do thúc đẩy của sự cảm thông và chạnh thương. Những người khác cho rằng, họ làm từ thiện để cho tâm hồn được thanh thản.

Đối với Kitô giáo, việc làm từ thiện không dừng lại như một công tác xã hội, người làm bác ái không như một chuyên viên, nhưng vì sự thúc đẩy của trái tim chạnh thương. Hơn nữa, việc bác ái của Kitô hữu còn là việc làm thể hiện lòng thương xót của Thiên Chúa, nhận ra hình ảnh Thiên Chúa nơi anh chị em chung quanh. Vì thế, việc bác ái Kitô giáo không chỉ là tặng quà, không chỉ là cho đi những của cải dư thừa, mà là dám chia sẻ cả những cái mình đang cần, đang dùng, và cả những cái mình đang thiếu. Nhưng trên hết, việc bác ái của người Kitô hữu là việc làm phát xuất từ lòng yêu mến Thiên Chúa.

Câu chuyện Tin Mừng hôm nay thuật lại, khi Chúa Giêsu nói với ông luật sĩ về hai giới răn quan trọng nhất là Mến Chúa- Yêu Người. Ông luật sĩ đã đặt vấn đề với Chúa : Nhưng ai là người thân cận của tôi ? Ngay câu hỏi này đã cho thấy, người thông luật muốn quy về bản thân mình, lấy mình làm trung tâm. Chúa Giêsu đã kể câu chuyện về người Samaritanô nhân hậu như một mẫu gương cho người luật sĩ. Qua câu chuyên này, Chúa muốn đổi hướng nhìn của người luật sĩ và muốn ông nhìn đến người khác hơn, khi Ngài đặt cho ông câu hỏi : Ai là người thân cận của người bị bỏ rơi ?

 Do lịch sử để lại khiến người Do Thái và người Samaria trở nên thù nghịch với nhau. Người Do Thái coi người Samaria là những người mất gốc, là con lai và rối đạo. Vì thế, họ không giao du tiếp xúc với nhau, mặc dù cùng sống trên một quốc gia. Trong mắt người Do Thái, những người Samaria là những người bị suy thoái trong đời sống đạo, vậy mà Chúa Giêsu lại lấy người Samaritanô làm tấm gương cho người Do Thái.

Câu chuyện được Chúa Giêsu kể mang rất nhiều ý nghĩa : Một người đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp, chúng trấn lột và đánh anh ta nhừ tử, dở sống dở chết rồi bỏ đi. Tình cờ, một thầy Tư tế, một thầy Lêvi đi ngang qua, thấy nạn nhân, họ đã tránh qua chỗ khác mà đi. Chi tiết này cho thấy mặt trái trong đời sống của những người có thế giá, chức vị. Đáng lẽ các thầy tư tế phải là những người có lòng chạnh thương và phải ra tay cứu giúp người bị nạn, nhưng ông đã không làm, ông nhắm mắt làm ngơ như không nhìn thấy nạn nhân. Có thể thầy thượng tế này nại vào lý do lề luật quy định, khi người nào đụng chạm đến nạn nhân dính máu, thì bị ô uế, không thể tham dự các nghi thức tế tự trong đền thờ. Cũng vậy, các thầy Lêvi là những người giúp việc đền thờ, họ cũng phải giữ luật thanh sạch như vậy.

Trong câu chuyện được kể, Chúa Giêsu cho thấy rằng, không có một thứ lề luật nào có thể ngăn cản con người thể hiện theo sự nhắc bảo của trái tim. Thầy thượng tế và Lêvi đã để cho công việc chức vụ của mình lấn át sự mách bảo của trái tim, nói cách khác, trái tim của những người này tuy còn đập nhưng đã chết trước nỗi đau khổ và nguy cập của anh em. Trái với vẻ đạo mạo của các Tư tế và Lêvi là một người Samatitano, người mà trong mắt người Do Thái chỉ là kẻ tầm thường, không địa vị, không danh vọng, nhưng ông lại có một tâm hồn cao thượng, một trái tim hết sức nhân hậu, biết chạnh thương.

Khi nhìn thấy nạn nhân nằm bên đường, người Samaritanô này không cần quan tâm kẻ ấy là ai, trong mắt ông, anh ta là một nạn nhân đang cần sự giúp đỡ. Câu chuyện kể lại thái độ hết sức ân cần của ông, ông chăm sóc cho nạn nhân như chăm sóc người ruột thịt : Ông lại gần, lấy dầu và rượu xức vết thương, băng bó lại, đặt người đó trên lưng lừa của mình và đưa về quán trọ săn sóc. Điều này chứng tỏ rằng ông trực tiếp chăm lo cho nạn nhân, ông còn cho nạn nhân thời giờ, công sức của ông, mặc dù ông đang trên đường đi công việc.

Người Samaritanô còn tỏ ra quảng đại và có trách nhiệm đối với nạn nhân : Sáng hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói : Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, khi trở về, tôi sẽ hoàn lại. Việc làm này lại càng cho thấy sự quảng đại và tinh thần trách nhiệm của ông. Ông làm việc bác ái không chỉ bằng tiền mà còn bằng chính đôi tay, công sức, tinh thần trách nhiệm và tình thương của ông dành cho người bị nạn.

Kể đến đây, Chúa Giêsu đã hướng cái nhìn và sự quan tâm của người luật sĩ về phía tha nhân, thay vì hướng về mình, Ngài hỏi ông : Theo ông, trong ba người đó, ai tỏ ra là người thân cận với người bị nạn ? Người thông luật trả lời : Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót với người ấy. Như thế, khi chúng ta thực thi lòng thương xót với mọi người, thì ta sẽ là người thân cận của mọi người. Chúa Giêsu đã nói với ông : Ông hãy đi và làm như vậy. Có nghĩa là, ông cứ quảng đại nhân hậu và chạnh thương với mọi người, ông sẽ trở thành người thân của mọi người và mọi người sẽ là người thân của ông.

Tấm gương người Samaritanô nhân hậu cũng được Đức Thánh Cha nhấn mạnh cho mỗi chúng ta trong Năm thánh Lòng Thương Xót này. Chúng ta được mời gọi để đem lòng thương xót của Chúa đến cho anh em, chia sẻ tình yêu thương cho mọi người như chúng ta đã được Chúa yêu. Hãy đi và làm như vậy : Chúa muốn chúng ta thực thi lòng thương xót bằng cả trái tim nhân hậu, không điều kiện, không giới hạn và không đặt bất cứ rào cản nào, vì Chúa cũng đã yêu thương chúng ta không giới hạn, không tính toán thiệt hơn.

Xã hội phát triển có thể kéo chúng ta lại gần nhau về khoảng cách, nhưng nó không thể làm cho tâm hồn chúng ta lại gần nhau được. Sự tiến bộ của khoa học có thể làm cho trái tim chúng ta đập đúng nhịp, nhưng không thể làm cho trái tim chúng ta trở nên nhân hậu bao dung, nếu chính mỗi người không tự mở lòng mình ra. Công nghệ thông tin khiến cho người ta dễ dàng nói chuyện giao tiếp với nhau, nhưng dường như nó cũng khiến cho con người lạnh lùng vô cảm với nhau nhiều hơn. Sự vô cảm dửng dưng đang xảy ra khắp nơi : các nhà lãnh đạo vô cảm với dân, cha mẹ, vợ chồng vô cảm với con cái, con người trong xã hội vô cảm với nhau. Trong gia đình, dù ngồi chung với nhau nơi bàn ăn nhưng cả nhà dán mắt vào cái tivi, mỗi người quan tâm đến những việc khác nhau mà không quan tâm đến người ngồi bên cạnh mình. Các bạn trẻ ngồi với nhau trong cùng bàn café, nhưng mỗi người một hearphone, điện thoại và một thế giới riêng.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta điều chỉnh lại ánh mắt, trái tim để chúng ta có thể nhìn thấy chung quanh còn rất nhiều người đang cần đến sự quan tâm giúp đỡ của chúng ta. Hãy mạnh dạn tắt tivi, cúp điện thoại, bỏ hearphone, gác lại công việc, để chúng ta có thể nhìn thấy người bên cạnh, nghe được tiếng kêu của họ và ra tay giúp đỡ họ. Cuộc sống bận rộn khiến nhiều người không còn thời giờ cho gia đình và cho nhau, khiến các tương quan ngày càng lỏng lẻo. Có những người dành rất nhiều giờ cho đối tác làm ăn, mất nhiều giờ cho những bữa nhậu, nhưng lại rất tiết kiệm thời gian với cha mẹ, vợ con và người thân. Người thân và con cái trong gia đình cần có thời gian để bên nhau, cần được yêu thương hơn tiền bạc, vì thế, món quà thời gian chính là món qùa mà người thân đang chờ đợi nơi chúng ta.

Xin Chúa cho chúng ta cũng biết học theo gương của người Samaritanô hôm nay, qua lòng nhân hậu và xót thương, chúng ta sẽ biến mọi người chung quanh thành người thân của chúng ta và biến chúng ta thành người thân của họ. Amen.

---------------------------------

 

TN 15-C184: BÀI HỌC YÊU THƯƠNG


Lm. Jos. DĐH.

 

Người thông thái đi đến đâu cũng được nể phục, người hiền lành, cởi mở, sống ở đâu cũng có TN 15-C184


Người thông thái đi đến đâu cũng được nể phục, người hiền lành, cởi mở, sống ở đâu cũng có bạn, còn người thành công trong các lãnh vực cuộc sống, chính là người biết áp dụng bài học yêu thương. Nhu cầu để hiểu biết, khao khát được yêu thương, đó là ước mơ chung, nhưng đâu là bí quyết để người ta dám xả thân thực hiện bài học yêu thương, bao giờ cũng khó. Xã hội thời nào cũng xem thường những kẻ nói mà không làm, biết mà không sống. Ấy vậy, ai cũng trân trọng, nể phục, kẻ nói ít làm nhiều, đúng như câu thành ngữ : tấm ngẩm tầm ngầm mà đánh chết voi.

Biết lắng nghe và đem ra thực hành, làm nhiều nói ít, yêu thương giúp đở nhau bằng việc làm, hẳn phải là người khôn ngoan thật sự. Cứ theo quy luật tự nhiên, nghiêm túc với chính mình, biết ý thức sống đạo luật làm người đã là khá lắm rồi, người thông luật trong Tin mừng hôm nay, quả anh phải có “nội công thâm hậu” lắm mới biết tìm hỏi “tôi phải làm gì để có sự sống đời đời”. Thời nào cũng thế, dù cố ý hay vô tình, con người vẫn bị xoáy theo quy luật : cọp chết để da, người chết để tiếng. Thật, không phải tự nhiên mà người ta biết làm điều lành và xa tránh điều xấu, không phải tự sức mình trở thành anh hùng, trở nên người nổi tiếng.

Xã hội thực dụng triết lý rằng : khôn cho người ta vái, dại cho người ta thương. Suy nghĩ của người thông luật trong Tin mừng, nơi Đức Giêsu khôn ngoan tài giỏi, Ngài có thể chỉ cho biết đâu là con đường dẫn tới sự sống đời đời. Tuy nhiên, theo Đức Giêsu, căn bản sống của người khôn ngoan, người muốn có sự sống đời đời không hệ tại là tài giỏi, kinh nghiệm, mưu lược, mà là mến Chúa yêu người. Ý tưởng đó còn chứng thực : không phải người xinh đẹp là do họ giầu, không phải người nghèo nên họ xấu xí. Không phải người thánh thiện vì là giáo sĩ, tu sĩ, cũng không phải những người thông luật đều biết sự sống đời đời chỉ có nơi Đức Giêsu.

Từ giới răn căn bản : mến Chúa yêu người, Đức Giêsu giúp người thông luật và chúng ta hôm nay hãy vượt lên cái nhìn hạn hẹp của mình. Thiên Chúa không phải chỉ hiện diện ở nhà thờ, người thân cận đâu phải chỉ là cha mẹ anh em ruột thịt, người thân cận chính là người thân quen, người chúng ta gặp gỡ hàng ngày, người cùng chí hướng, ước muốn nên hoàn thiện. Người thân cận phải là người đang sống chung quanh ta, dù là người ta không ưa thích, không cùng mầu da, không cùng tôn giáo, không cùng lập trường chính trị.

Câu hỏi “ai là người thân cận của tôi…” xem ra thật là vô duyên, nên chăng ta thay đổi : tôi phải là người thân cận của mọi người như thế nào mới cụ thể và hợp lý ? Người Samaria biết chạnh lòng yêu thương tha nhân, anh ta không dừng lại ở tình cảm suông : băng bó, đưa người bị nạn về quán trọ, anh còn hứa tốn phí thế nào, anh sẽ quay trở lại hoàn trả cho người bị nạn. Chính những hành động bác ái cụ thể mới chứng thực ai thật là người có đạo, là người có tâm, chính trái tim nóng bỏng vì tình, giải nghĩa được mọi lý lẽ yêu thương.

Người Kitô hữu chúng ta, nếu chỉ yêu mến Chúa trong nhà thờ, chưa đủ, nếu chỉ yêu mến Chúa trên đường đi, và trong anh chị em đồng loại, hẳn cũng chỉ là tình yêu lý thuyết. Kinh nghiệm của người nông dân là kinh nghiệm thực tế : nắng tốt dưa, mưa tốt lúa, với họ, chỉ thế thôi là đủ. Quan niệm của các chuyên gia nông nghiệp, để có hiệu quả, người ta cần có bằng cấp, có kiến thức, gieo trồng phải có kỹ thuật khoa học. Tiếng nói của người có năng lực, địa vị xã hội, vẫn bị coi là những chuyên viên lý sự, lập trường vững chắc của những người ít học, lại thường bị gán cho rằng, lý cùn. Không lẽ cuộc sống này lại bi quan như thế chăng ?

Theo kinh nghiệm của tiền nhân, của Tin mừng hôm nay thì : một trăm cái lý, không bằng một tí cái tình, nghĩa là lý sự hay lý cùn, cũng chỉ là bài học lý thuyết. Bài học yêu thương mà Chúa Giêsu muốn chia sẻ và gởi đến chúng ta là gì ? Đó phải chăng là thực tế, là tình yêu vượt lên sự cứng ngắc của lề luật, là tình yêu vượt qua khỏi sự giới hạn máu mủ ruột thịt, tình yêu được dàn trải trên mọi đối tượng bằng hiểu biết và chia sẻ. Sống đạo, sống bài học yêu thương, không ai được dửng dưng trước những đau khổ của anh chị em mình, để kịp thời nhận biết và sống thực hành giới luật mến Chúa yêu người.

Bài học yêu thương mà Chúa Giêsu để lại, luôn cần mỗi chúng ta có một sự mạo hiểm, vì khi đã thấm nhuần tình yêu của Chúa, người ta không sợ phải ô uế, không sợ phải liên lụy khi đối diện với người bị nạn, bị cướp bóc. Tấm lòng người Samaria không lạnh lùng hay vô cảm trước nỗi đau của đồng loại. Chúa Giêsu đề cao giá trị tình yêu của người Samaria, anh ta đã biết đụng chạm đến vết thương ngoài da thịt và vết thương tâm hồn, cứu chữa, và chia sẻ đức yêu thương đến với khổ đau. Mỗi chúng ta đều phải nghiêm túc thực hành lời nhắn gởi của Chúa Giêsu, nếu muốn có sự sống đời đời, “bạn hãy đi và làm như vậy”. Amen.

------------------------------------

 

TN 15-C185: CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN_C


Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến.

 

Các bài Kinh thánh Chúa Nhật tuần này chú trọng đến chân lý, giới luật Bác Ái, kính mến Chúa TN 15-C185


Các bài Kinh thánh Chúa Nhật tuần này chú trọng đến chân lý, giới luật Bác Ái, kính mến Chúa và yêu thương tha nhân, đặc biệt những người lâm cảnh khó khăn. Bài đọc 1 nhắc nhở chúng ta lề luật của Chúa được ghi khắc vào tâm hồn của chúng ta, hướng dẫn chúng ta sống xứng đáng là những người đã được Chúa dựng nên theo hình ảnh của Ngài, và khuyên nhủ chúng ta đem ra thực hành trong cuộc sống hằng ngày.   Bài Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết một người thông thái đến hỏi Chúa Giê-su “Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?” Chúa đã bảo ông hãy sống đức bác ái như Kinh thánh đã dạy: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí khôn ngươi, và hãy thương mến anh em như chính mình.” Nhưng vì người thông thái này muốn biết anh em của mình là ai, cho nên Chúa đã kể câu truyện người Samarita nhân hậu để cho ông biết anh em là ai và phải đối xử với họ thế nào.

Đến đây tôi phải thú nhận với ông bà anh chị em 2 điều.  Điều thứ nhất không liên quan đến ý nghĩa của những bài Kinh thánh hôm nay, nhưng tôi nghĩ ông bà anh chị em có thể cảm thấy vui vui. Số là trưa Thứ Năm tuần vừa qua khi soạn bài giảng, tôi thú nhận đã đọc những bài giảng cũ mấy năm trước đây, và những bài giảng này đã làm cho tôi gần ngủ gật.  Nếu ai gật đầu đồng ý thì sẽ không làm cho tôi buồn hay tự ái!  Điều thứ hai tôi muốn thú nhận là vào những năm khi tôi mới chịu chức linh mục, thật tình tôi không muốn đọc hay nghe câu truyện người Samarita nhân hậu này, vì tôi cảm thấy câu truyện gán cho linh mục những điều xấu không tốt.  Thông thường linh mục là những người tốt, lo lắng quan tâm và sẳn sàng giúp đỡ mọi người.  Nhưng như tất cả mọi người đều biết, thực tế thì không hoàn toàn hoàn như vậy.  Tôi phải thú nhận, đôi khi tôi cảm thấy mình như người tư tế hay trợ tế trong câu truyện, từ chối giúp đỡ những người đang cần sự giúp đỡ, vì ngại ngùng, vì nghi ngờ hay không muốn mang họa vào thân.  Tôi thường đặt nặng vào sự kiện hay những người mà tôi tin chắc chắn cần đến sự giúp đỡ và an toàn, cho nên vì tính toán tôi đã bỏ qua những cơ hội giúp đỡ những hoàn cảnh hay những người có vẻ nghi ngờ. Nhưng càng thêm tuổi, tôi cảm thấy sự tin chắc của tôi càng bớt đi, vì yêu thương đích thực không phải chỉ vươn tay giúp đỡ người khác, mà còn là sự sẵn sàng nhận chịu những thiệt thòi, đau khổ, bị đánh lửa hay bị lợi dụng.  Và đó, tôi nghĩ, là một bài học rất quan trọng của bài Tin mừng hay thực tế hơn là ý nghĩa của câu truyện về người Samarita mà Chúa Giê-su kể cho chúng ta nghe hôm nay.

Ông bà anh chị em hảy tưởng tượng, người Do thái nạn nhân bị đánh cướp có thể đã chết.  Nếu như vậy và nếu đến giúp người chết, thì theo luật tôn giáo thời đó, vị tư tế và trợ tế sẽ bị loại trừ không được cử hành nghi lễ tại đền thờ vì ô uế. Ngược lại, nếu nạn nhân không chết, nhưng giả vờ chết nằm bên lề đường để đánh lừa người khác dừng lại, rồi đồng bọn nấp ở bụi bên cạnh xấn đến cướp của, hành hung và hạ sát. Vì vậy chúng ta thấy trở thành một người Samaritan nhân hậu là một sự mạo hiểm, rủi ro và liều mạng. Và đó, thưa ông bà anh chị em, chính là ý nghĩa của yêu thương.  Chúa Giê-su, Thầy Chí Thánh của chúng ta, cho chúng ta biết và dạy chúng ta qua bài Tin mừng hôm nay yêu thương đòi hỏi chúng ta phải mở rộng tâm hồn, trái tim và sẵn sàng lãnh nhận những sự rủi ro, thiệt thòi hay bị lợi dụng.

Chúng ta biết vào thời Chúa Giê-su, có sự thù nghịch giữa người Do thái và Samaritan, do đó khi Chúa đưa người Samaritan vào câu truyện, Chúa muốn nói với chúng ta anh em là mọi người, kể cả những người chúng ta không ưa thích và những người thù ghét chúng ta.  Chúng ta thấy người thông thái đã hỏi Chúa Giê-su “Ai là anh em tôi?” nhưng tôi nghĩ rằng có một câu hỏi quan trọng hơn đáng lẽ người thông thái nên hỏi Chúa tiếp theo là: “Vậy, thưa Thầy yêu thương là gì?”  Chúng ta thấy trong xã hội ngày nay, yêu thương là một khái niệm rất phức tạp, và có thể nói rằng trong tâm trí mọi người yêu thương là làm hay giúp đỡ qua những cảm giác thoải mái, có lợi, được cám ơn và đền đáp. Thí dụ như cầu nguyện mà tôi cảm thấy thoải mái và được ơn thì tôi yêu mến Chúa; còn nếu tôi cầu nguyện mà tôi không cảm thấy gì hay được gì, thì tốn thì giờ vô ích.  Nếu tôi đi nhà thờ xem lễ mà tôi không cảm thấy gì, không cảm thấy thoải mái, không “feel good” hay không “getting anything out of it”, thì phí thời giờ vô ích hay tại sao phải đi.  Hay như: nếu tôi làm điều gì cho người nào mà tôi cảm thấy thoải mái, đưa đến lợi lộc, nhận được sự cám ơn và đền đáp là biết thương người. Còn nếu họ không cám ơn, không nhận biết hay coi thường, không đáp trả, thì tôi không ưa thích, không bằng lòng và không đáng làm.  Xã hội tân tiến hôm nay dạy chúng ta đo lường hành động yêu thương bằng những sự tính toán, những cảm giác thoải mái, ưa thích, lợi lộc, cám ơn và đáp trả.  Có những lúc chúng ta cảm thấy thoải mái khi cầu nguyện, ưa thích khi làm điều tốt hay giúp đỡ người khác, nhưng cũng có nhiều lúc không.  Thật sự, hành động yêu thương được đo lường bằng sự cho đi, bằng sự hy sinh, bằng sự dâng hiến không tính toán, và nhưng không, và không mưu ích lợi lộc đáp trả, như trong những việc thờ phượng Chúa, cầu nguyện, hay những việc giúp đỡ quảng đại cho tha nhân.  Người Samaritan nhân hậu có thể cảm thấy thoải mái, sung sướng vì làm việc tốt, bác ái và quảng đại cho người khác, anh không nghi ngờ, tính toán, sợ thiệt thòi hay lo lắng cho sự an toàn.  Anh cũng có thể cảm thấy là một gánh nặng, là một sự hy sinh vì những áp lực, khó khăn mà anh tự tạo cho chính mình.  Chúa Giê-su không cho chúng ta biết cảm giác của người Samaritan nhận hậu, mà chỉ cho chúng ta biết hành động tốt lành, thương yêu và quảng đại không tính toán và nhưng không của anh mà thôi.

Ông bà anh chị em thân mến. Bài đọc 2 xác định cho chúng ta biết Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật.  Vì yêu thương và để cứu độ chúng ta, nên Ngài đã vâng phục và khiêm nhường nhập thể, mặc lấy thân xác hèn mọn con người, chịu nhiều sự đau khổ, bị khinh bỉ, chế nhạo, bị đánh đòn, bị đóng đanh và chết trên thập giá.  Ngài chính là Người Samaritan Nhân Hậu đã đến với chúng ta là những con người đau thương cần giúp đỡ.  Chúa đã giang tay trên thập giá sẵn sàng đón nhận tất cả, chấp nhận tất cả và vui mừng trao ban cho chúng ta tất cả, chỉ vì yêu thương chúng ta. Xin Chúa giúp chúng ta trở thành những nhân chứng và khí cụ tình yêu của Chúa trong một xã hội đầy kỳ thị, hận thù và gian dối hôm nay.  Và là sứ giả lòng thương xót Chúa cho mọi người.

-------------------------------

 

TN 15-C186: NGƯỜI SAMARITANÔ NHÂN HẬU,


MỘT DỤ NGÔN VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT

 

Sứ mệnh của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, là nói với chúng ta về sự dịu dàng và nhân hậu, chậm TN 15-C186


Sứ mệnh của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, là nói với chúng ta về sự dịu dàng và nhân hậu, chậm giận, đầy tình yêu và chân lý của Cha Ngài: “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi” (Xh 34,6-7)

và: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu,
Người chậm giận và giàu tình thương.
Chúa nhân ái đối với mọi người,
tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên”
(Tv 144,8-9).

Để biết Chúa Giêsu, để xem sứ mệnh của Ngài mở ra như thế nào, chúng ta hãy dõi theo Ngài.

Trong Tin Mừng Luca, còn được gọi là Tin Mừng của Lòng Thương Xót, Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Luca 6,36).

Dụ ngôn về người Samaritanô nhân hậu được tìm thấy trong Tin Mừng này, mời gọi chúng ta trả lời câu hỏi: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?”

Bối cảnh

Đoạn văn này nằm ở đâu trong Tin Mừng Luca?

Chúa Giêsu bắt đầu lên Giêrusalem: “Khi đã tới ngày Chúa Giêsu được rước lên trời, Ngài nhất quyết đi lên Giêrusalem” (Luca 9:51).

Ngài gặp một tiến sĩ Luật, người này tìm cách thử Ngài bằng những câu hỏi được tranh luận nhiều nhất trong thời đại của anh ta: “Phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Luca 10:25)

Chúa Giêsu sẽ trả lời bằng cách kể dụ ngôn này về Người Samaritanô nhân hậu.

Dụ ngôn là gì?

Một câu chuyện dụ ngôn là một câu chuyện ngắn để truyền đạt những điều quan trọng cho những người lắng nghe nó. Chúa Giêsu sử dụng nhiều dụ ngôn. Chúng ta khám phá ra ở đó một hành động của Thiên Chúa và một thái độ của con người. Ngài mời gọi chúng ta lắng nghe, quan sát và suy ngẫm để hiểu chúng ta được kêu gọi thực hiện sự hoán cải nào.

Bình luận về câu chuyện dụ ngôn

Như trong hầu hết các câu chuyện dụ ngôn, các nhân vật đều vô danh: một người kia, một thầy tư tế, một thầy Lêvi, một người Samaritanô.

Thế rồi, Chúa Giêsu tập trung sự chú ý vào bản sắc tôn giáo và dân tộc của họ.

“Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêricô” (Luca 10,30)

Giêrusalem cao gần 800m so với mực nước biển và thành Giêricô thấp hơn mực nước biển 400m, đường dài khoảng 27 km, đi bộ một ngày; do đó, sự chênh lệch chiều cao là đáng kể.

“Dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết” (Luca 10,30)

Con đường này có tiếng là nguy hiểm vì rất hiểm trở và băng qua sa mạc Giuđa. Đó thực sự là một cú cắt cổ.

Ba người đi ngang qua: một thầy tư tế, một thầy Lêvi và một người Samaritanô. Cả ba người đều liên quan đến vấn đề phụng tự.

Các thầy tư tế và thầy Lêvi buộc phải tuân thủ các quy tắc nghiêm ngặt về sự thanh sạch trong phụng tự để tránh trở nên ô uế, điều này ngăn cản họ không được chạm vào máu hoặc một người đã chết.

Người Samaritanô là những kẻ ngoại giáo đối với người Do Thái. Họ tôn thờ Chúa không phải ở Giêrusalem mà trên Núi Gerizim: “Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa” (Ga 4,20). Đền thờ của người Samari đã bị người Do Thái phá hủy vào năm 129 trước Công nguyên.

Cả ba người đều nhìn thấy người đàn ông bị thương. Thầy tư tế và thầy Lêvi bỏ qua và tiếp tục đi con đường của họ

Chính người Samaritanô, người khách lạ, đã lấy lòng thương xót: “Nhưng một người Samari kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương” (Lc 10,33) và chăm sóc người bị thương: “Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác” (Lc 10,33-35).

Người đàn ông sống dở chết dở được một người lạ giúp đỡ!

Dụ ngôn cho thấy người yêu Chúa vẫn có thể bỏ qua người thân cận.

Bước ngoặt của dụ ngôn là vào lúc người Samaritanô “chạnh lòng thương” (Luca 10,33)

Người Samaritanô không bằng lòng chỉ nhìn thấy người hấp hối, từ nơi sâu kín nhất của lòng mình ông cảm thấy mình có liên quan; chính lòng trắc ẩn từ ruột gan đã thúc đẩy ông thực hiện mọi thứ có thể để cứu người đàn ông kia.

Lòng trắc ẩn thực sự không phải là một cảm giác mà là một hành động dẫn đua người ta đến chỗ chăm sóc người khác.

Từ đầu đến cuối, người ta không nói gì về người đàn ông sống dở chết dở. Mọi sự chú ý đều đổ dồn vào người chăm sóc ông ta, đến độ ráng sức gánh chịu mọi chi phí.

Trước hết, nếu người ta trả lời câu hỏi của vị Tiến sĩ Luật: “Ai là người thân cận của tôi?” (Luca 10,29) thì chính người đàn ông sống dở chết dở sẽ là người thân cận

Nếu chúng ta trả lời câu hỏi của Chúa Giêsu: “Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” (Luca10,36), chính là người Samaritanô, người đã có lòng trắc ẩn với người bị thương.

Chúa Giêsu mời gọi vị tiến sĩ Luật đi vào lôgic của dụ ngôn, như độc giả trong câu chuyện: hành động như người Samaritanô, trở thành người thân cận của người khác, vì lòng trắc ẩn đối với người khác, dù họ là ai.

Một số Giáo phụ của Giáo hội, bao gồm cả Thánh Grêgôriô thành Nyssa - thế kỷ thứ 4 - đã nhìn ra chính Chúa Giêsu là người Samaritanô nhân hậu và người đàn ông rơi vào tay kẻ thù là nhân loại bị lạc lối và bị thương vì tội lỗi của họ.

Thánh Grêgôriô mời gọi chúng ta đón nhận dụ ngôn này với một cấp độ đọc khác. Đối với ngài, toàn bộ lịch sử thánh thiện của Lòng Thương Xót đang mở ra.

Câu chuyện kể về sự xuống dốc của con người khi rời xa Thiên Chúa, sự rình chờ của thần Dữ, những vết thương của tội lỗi.

Cả Lề Luật và của lễ hy tế, được đại diện bởi vị Tiến sĩ Luật và thầy Lêvi, đều không đủ để có thể cứu con người khỏi tội lỗi.

Chỉ có Đức Kitô, tự mình gánh lấy tội lỗi của Con người, qua hy sinh của Ngài trên Thập giá, chữa lành tất cả nhân loại khỏi mọi vết thương, khỏi mọi tội lỗi của họ. Ngài làm cho Lòng Thương Xót của mình thành một quán trọ, là Giáo Hội, nơi những người vất vả và oằn mình dưới gánh nặng sẽ được nghỉ ngơi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mátthêu 11,28)

Dầu có thể được xem như là dầu để xức trong các bí tích: rửa tội, thêm sức, truyền chức và bí tích xức dầu bệnh nhân), rượu, thuốc chữa bệnh thời ấy, được xem như bí tích Thánh Thể.

Khoảng thời gian trước khi Người Samaritanô nhân hậu trở lại khiến chúng ta nghĩ đến khoảng thời gian từ khi Chúa Kitô Thăng Thiên đến khi Ngài trở lại như Ngài đã hứa: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mátthêu 28,20). “Chúng tôi trông  đợi Chúa  lại đến trong vinh quang”, chúng ta vẫn tuyên xưng như thế trong mỗi Thánh Lễ sau khi truyền phép bánh và rượu.

Thông điệp nào cho người tin Chúa?

Lòng trắc ẩn của người Samaritanô đối với người bị thương quả thực là nét đặc thù của Chúa Kitô, Đấng ban phát lòng trắc ẩn và sự chữa lành, không tính toán.

Điều này cũng có giá trị cho Kitô hữu, là chi thể của Thân mình Chúa Kitô là Hội thánh: “Vậy anh em, anh em là thân thể Chúa Kitô, và mỗi người là một bộ phận” (1 Côrintô 12,27)

Người Kitô hữu, vì được kết hợp với Chúa Kitô, nên trở thành trung gian dẫn đưa tình yêu của Chúa Kitô tới cho Nhân loại.

Những nhân vật vĩ đại của Giáo Hội đã thực hành Lòng Thương Xót bằng cách giúp đỡ những người nghèo, những người bệnh tật, những người bị thương trong cuộc sống, chẳng hạn như Raoul Follereau, Mẹ Têrêsa Calcutta, cha sở xứ Ars, Thánh Vinsơn Phaolô, Thánh Jeanne Jugan, người sáng lập dòng “Những chị em nghèo khó”….

Mọi người đều có thể tìm thấy một vị thánh mà họ quen thuộc.

Tất cả đều được làm cho sống động bởi niềm vui đến từ Chúa và điều này ám chỉ đến Mối Phúc: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mátthêu 5:7).

Đó là lời kêu gọi dành cho mọi Kitô hữu. Tình yêu Thiên Chúa không thể tách rời tình yêu tha nhân vốn được sống qua mọi cử chỉ nhỏ nhặt của cuộc sống hằng ngày.

Càng được gắn kết với tình yêu của Thiên Chúa, thì càng có nhiều khả năng để yêu. “Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1 Gioan 4:19).

Do đó, thật quan trọng chúng ta cần được “gắn kết” với Chúa Kitô, như cành với cây, qua việc cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa, lãnh nhận các bí tích để kín múc lấy tình yêu của Ngài trong thử thách cũng như trong niềm vui.

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ
theo https://www.paris.catholique.fr

--------------------------------------

 

TN 15-C187: NGƯỜI THÂN CẬN

 

Tạp chí Glamour (Mỹ) số tháng 12-1991 đăng một bài xã luận như sau: “Có một phụ nữ lái TN 15-C187


Tạp chí Glamour (Mỹ) số tháng 12-1991 đăng một bài xã luận như sau: “Có một phụ nữ lái chiếc xe màu đỏ đến trạm thu lệ phí của cầu Bay Bridge (bang Michigan), đưa cho nhân viên bảy vé rồi nói: “Tôi trả cho sáu chiếc xe sau tôi”. Khi mỗi xe dừng lại, người tài xế liền được bảo: “Bà lái chiếc xe đỏ đã trả lệ phí cho anh rồi. Chúc anh một ngày vui vẻ!” Người phụ nữ đã được thúc đẩy bởi câu nói của Anne Herbert: “Hãy thực hiện những việc tốt tình cờ và những cử chỉ đẹp nho nhỏ”. Anne tin rằng “việc tốt tình cờ” có thể gây nên cả một cơn sóng cồn, y như “bạo lực tình cờ” vậy. Có lẽ vì thế mà câu nói dễ thương của Anne bắt đầu xuất hiện ở nhiều chỗ. Nó đánh thức một cái gì sâu kín trong trái tim con người”. Và tạp chí Glamour kết luận: “Như một cuộc cách mạng, lòng tốt kiểu du kích bắt đầu cách từ từ, với chỉ một hành vi duy nhất. Ước mong đó là hành vi của bạn”.   

 1. Ai là người thân cận của tôi?

Trong dụ ngôn ta sẽ nghe hôm nay, cũng có một lòng tốt tình cờ, và nó đã góp phần gây nên cả một cơn sóng cồn tình yêu vĩ đại còn tiếp tục cho đến thời đại chúng ta. Nhưng lý do khiến nó đã được Đức Giê-su thốt lên chính là câu hỏi của một người thông luật; “Khi ấy, có người thông Luật kia muốn thử Đức Giê-su, mới đứng lên hỏi Người rằng: Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Vào thời Đức Giê-su, đây không phải là câu hỏi đương nhiên đối với mọi người Do-thái. Phái Pha-ri-sêu tin vào sự sống đời sau và vào việc kẻ chết sống lại. Nhưng phái Xa-đốc thì chẳng tin. Ngày nay, loài người chung quanh chúng ta tiếp tục có những lập trường đối nghịch nhau về vấn đề này. Thành thử điều đó không mới. Dù trả lời khẳng định hay phủ định, vấn đề sự sống vĩnh cửu là một trong những vấn đề trầm trọng nhất mà loài người đã có thể đặt ra, vấn đề nghiêm túc nhất, vấn đề có cái “được mất” liều lĩnh nhất. Chính đứng trước câu hỏi ấy mà Pascal, qua bản văn thời danh mang tên “đánh cuộc” (x. Tư tưởng 343 hay 418) đã cố mang lại một câu trả lời: “Thiên Chúa hiện hữu hay không hiện hữu. Chúng ta nghiêng về phía nào? Phải đánh cuộc! Ừ thì cho rằng bạn không tin vào Thiên Chúa là có lý đi, nhưng sẽ rất bất lợi cho bạn. Giả sử bạn không tin có Thiên Chúa, có linh hồn, có đời sau; nếu thực sự không có, thì bạn đúng, nhưng bạn cũng chẳng được lợi gì. Bằng như ngược lại nếu Thiên Chúa có, linh hồn có, đời sau có, thì bạn sẽ mất hết. Nhưng nếu bạn tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa, vào quyền lực của Người để mà cậy trông; thì dù thực sự không có Thiên Chúa, bạn cũng chẳng mất mát gì, mà bạn vẫn sống tốt, sống có niềm vui do tin tưởng vào Người. Còn như thực sự có Thiên Chúa, bạn sẽ được tất cả. Thế thì tin vẫn luôn luôn có lợi hơn”. Mọi thời, trong mọi nền văn minh, loài người đều hy vọng vào một “sự sống khác”. Đức Giê-su đã luôn nói đến sự sống này. Người thậm chí còn bảo “sự sống vĩnh cửu” ấy (sự sống của Đấng Vĩnh Cửu) đã khởi sự. Đối với ai tin, nó đã có rồi, được sống rồi, mặc dầu chưa hoàn tất, dĩ nhiên. Nhưng sự sống này hệ tại cái gì? Và phải làm gì để có được nó? Đó là câu hỏi của thầy thông luật. Đó cũng là câu hỏi của ta.

Nhưng Đức Giê-su đã hỏi ngược lại: “Trong Luật đã viết gì?” Vị tiến sĩ Luật trước hết trích dẫn lời cầu nguyện thường ngày của người Do-thái, kinh Shema Israel/Yisrael, rút từ Đệ Nhị Luật (6,5) mà Đức Giê-su cũng từng đọc nhiều lần trong ngày. Nhưng ông thêm một đoạn rút từ sách Lê-vi 19,18: “Phải yêu người thân cận như chính mình”. Để sống vĩnh cửu, thành thử phải yêu mến! Câu hỏi và đáp này đã tìm thấy trong hai Tin Mừng Nhất Lãm khác (Mt 22,34-40; Mc 12,28-31). Nhưng Lu-ca thì không phân biệt điều răn “thứ nhất” với điều răn “thứ hai”. Lòng mến Thiên Chúa và yêu tha nhân đâu có tách rời nhau. Phải chăng trong đời tôi cũng vậy?

Cho đến đây, chúng ta chẳng có gì độc đáo cả. Giáo huấn của Đức Giê-su không khác Lề Luật Cựu Ước… lẫn Lề luật của mọi tôn giáo lớn. Sứ điệp của Người mang tính nhân bản một cách sâu xa. Tình yêu là luật chủ yếu của con người. Nhưng cách Đức Giê-su trả lời câu hỏi: “Ai là người thân cận của tôi?” sắp ném chúng ta vào trong sự mới mẻ mang tính cách mạng thực sự của Tin Mừng. Đây là một tình yêu phổ quát, lan đến tận “kẻ thù” nữa.

2. Tôi là người thân cận của ai?

Và Người bắt đầu câu chuyện một kẻ bị đánh cướp với ba khách lữ hành đi ngang qua. Đầu tiên là một “thầy tư tế” rồi một “thầy Lê-vi”, hai chuyên gia về phụng tự, hai thừa tác viên của Đền thờ, ưu tư giữ Lề luật và các lễ nghi chu đáo. Đức Giê-su lấy hai hạng người này để cho ta một ví dụ về cái chẳng nên làm! Gắn bó việc phụng sự Thiên Chúa, hai con người này đã có một thái độ hết sức tồi tệ về mặt nhân loại. Các tòa án thời nay, dẫu không Ki-tô, cũng sẽ kết án họ là “chẳng cứu giúp người gặp nguy hiểm”. Tuy nhiên, từ quan điểm của riêng họ, họ có lý: trong não trạng và lề luật Do-thái, họ vẫn nghĩ rằng bổn phận của mình là chớ nên “động đến máu” để vẫn ở trong tình trạng thanh sạch theo nghi thức hầu có thể bảo đảm việc phục vụ tại Đền thờ. Qua việc cố ý chọn hai gương mặt này, Đức Giê-su nói lại với chúng ta một chân lý Kinh thánh chủ yếu (Hs 6,6) mà Người sử dụng hai lần để tự biện hộ việc bất tuân một luật phụng tự vì một luật chủ yếu hơn là luật yêu thương (Mt 9,13; 12,7; 23,23). Việc lặp lại này, việc nhấn mạnh này rất có ý nghĩa. Thiên Chúa cho chuyện chúng ta “thực hành” bác ái và phục vụ tha nhân trong cuộc sống thường ngày quan trọng hơn là “thực hành” phụng tự và cầu nguyện. Ta không phụng sự Thiên Chúa trong đền thờ nếu trước hết không phụng sự Người trên đường sá!

“Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới chỗ nạn nhân, thấy vậy thì động lòng thương…”. Lu-ca, vị thánh sử của lòng nhân lành, xót thương, của việc truyền giáo cho dân ngoại, là kẻ duy nhất trong các thánh sử kể lại cho chúng ta dụ ngôn tuyệt diệu này. Bạn hãy nhìn kỹ sáu cử chỉ nhân lành được mô tả tỉ mỉ ở đây nhằm cho thấy đâu là Nước Thiên Chúa, là phụng tự đích thật mới, là sự chỗi dậy của một nhân loại mới vốn sẽ biến đổi lịch sử cho phù hợp với ý Chúa Cha. Người Sa-ma-ri này là một tay lạc giáo, ly giáo, thù địch của những tín hữu Do-thái trung thành, một anh em giả, một con người đáng ghét vì “không thực hành” tôn giáo đích thực, một đứa “nhơ bẩn” đã chẳng bao giờ đặt chân vào Đền thánh, một kẻ cấm mời vào bàn, cần phải tránh xa… một trong những tên Sa-ma-ri mà chỉ cách đó mấy ngày, Gia-cô-bê và Gio-an đã muốn khiến lửa từ trời xuống tiêu diệt (Lc 9,52-55). Chính một con người như thế được Đức Giê-su đưa ra làm gương mẫu!

“Ông động lòng thương…”. Động từ Hy-lạp này chứa đựng một hình ảnh: “splanchna: lòng ruột”. Thành thử có thể dịch: “Ông thắt ruột”. Và tiếng Hip-ri hay A-ram mà Đức Giê-su chắc đã dùng chứa đựng cùng ý nghĩa đó: “rahamim”: âu yếm, nhân hậu, thương cảm sâu xa. Thế mà trong toàn bộ Tân Ước, từ “động lòng thương” này chỉ được dùng để diễn tả tâm tình của Đức Giê-su trước đám đông bơ vơ, các bệnh nhân khốn khổ, những kẻ sầu não đủ loại (Mt 9,36; 14,14;15,32; Mc 6,34; 8,2; 9,22; Lc 7,13; 15,20).

Gần với các phương pháp tư tưởng cổ hơn chúng ta, các Giáo phụ đã hầu như nhất trí áp dụng dụ ngôn này cho Đức Giê-su Ki-tô. Tin Mừng trước hết chẳng phải là một khảo luận “luân lý”, nhưng là lời “tuyên bố”, “mạc khải” tình yêu Thiên Chúa ngay cả nơi trang này: người Sa-ma-ri nhân lành trước hết là Đức Giê-su… khách bộ hành bị trọng thương gần chết là nhân loại bị sự dữ quật ngã… quán trọ là Giáo Hội nơi Đức Giê-su đưa loài người đến để cứu họ. Quả thiệt hại biết bao nếu ta biến trang Tin Mừng tuyệt diệu này nên như bài học luân lý đơn giản, đang khi nó nói cho ta biết “việc Thiên Chúa đã làm cho nhân loại”. Đức Giê-su đã là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình”, hiện thân lòng xót thương từ mẫu của Thiên Chúa, và chúng ta, chúng ta cũng phải san sẻ với “người thân cận” lòng xót thương phát xuất tự Thiên Chúa này! Nhưng dẫu Tin Mừng trước hết chẳng phải là một nền “luân lý”, điều đó không có nghĩa nó chẳng chứa đựng những đòi hỏi đạo đức… hết sức sâu xa và mạnh mẽ.

Hãy yêu thương! Hãy liên đới! Đấy là “phụng tự” đích thật! Vì sao? Vì đó là Thiên Chúa. “Thiên Chúa là tình yêu, và ai không yêu thì chẳng biết Người!” (1Ga 4,8). Hỡi thầy tư tế, hỡi thầy Lê-vi, hãy coi chừng việc thờ phượng của quý vị! Thiên Chúa chẳng thích các nghi lễ của quý vị đâu. Người đợi quý vị bên ngoài, khi quý vị ra khỏi thánh lễ, đứng trước người thân cận.

Và với kết luận: “Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai là thân cận với người bị rơi vào tay kẻ cướp?” Đức Giê-su đảo lộn hoàn toàn khái niệm người thân cận. Nhà thông luật đã hỏi: “Ai là người thân cận của tôi” (nghĩa thụ động)… theo nghĩa này, chính “những kẻ khác” là người thân cận của tôi. Đức Giê-su hỏi lại: “Ông muốn tỏ ra là người thân cận của ai?” (nghĩa chủ động)… theo nghĩa này, chính chúng ta là hay không là “thân cận” của những kẻ khác. “Người thân cận”, nghịch lý tài tình của Đức Giê-su, đó là “tôi” khi tôi đến gần những kẻ khác với lòng yêu mến. Người ta thậm chí chẳng còn tự hỏi “ai” là người thận cận của tôi… nhưng là “tôi sẽ nên thân cận của mọi người hết thảy, chẳng có phân biệt, như thế nào?” Đúng là mạc khải của Thiên Chúa.

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

------------------------------

 

TN 15-C188: CÂU CHUYỆN NGƯỜI SAMARITANÔ TỐT LÀNH

 

Câu chuyện người Samaritanô trong bài Tin Mừng hôm nay (Lc 10:25-37) là chuyện một người TN 15-C188


Câu chuyện người Samaritanô trong bài Tin Mừng hôm nay (Lc 10:25-37) là chuyện một người bị nạn trên đoạn đường đi từ Jerusalem về Jericho. Câu chuyện nói về tình yêu và thế nào là người láng giềng.

Chuyện rất thực, rất cảm động và rất nồng nhiệt, giống như Việt Nam ta có câu nói: “Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo!” chứng tỏ tình yêu quả là mãnh liệt. Tình yêu có thể xẻ núi lấp sông, vượt núi qua đèo, có thể chết vì người mình yêu. Cái đặc biệt của câu chuyện là sự chuyển đổi lòng tin và văn hóa của mình, vốn hoàn toàn xa lạ trở thành thân thích như một người hàng xóm thân thương. Chuyện có vẻ cá nhân, vì được diễn tả bằng những cảm súc tự nhiên của con người, nhưng có tác dụng chuyển đổi những cấm kỵ của nền văn hóa xã hội đương thời khi con người biết cảm thương gắn bó với những đau khổ của người khác. Đây là một ngụ ngôn mục vụ. Nó tràn ngập những bí quyết săn sóc và ưu tư do những gì tốt đẹp nhất phát xuất từ đáy lòng con người, một ngụ ngôn rất thực dụng vì nó thúc đẩy chúng ta vượt qua mọi cấm kỵ của văn hóa và màu sắc dân tộc, xã hội riêng rẽ và khép kín, bước vào một xã hội, với tinh thần cộng đồng chung, mọi người yêu thương nhau và làm việc thiện hoàn toàn vì việc thiện. Đúng tinh thần Chúa Giêsu dạy: Mến Chúa Yêu Người.

AI LÀ ANH EM TÔI?

Một chuyên viên luật đã hỏi ngược lại Chúa Giêsu: “Nhưng ai là anh em tôi?” Phải chăng vì muốn tự bào chữa mình ông luật gia đang tìm cách để chứng minh câu nói của mình có giá trị? Thực ra, ông này muốn chứng tỏ mình hiểu và áp dụng đúng nghĩa câu nói “yêu mến người hàng xóm”. Để trả lời câu hỏi của một chuyên viên luât Do Thái về việc thừa hưởng cuộc sống đời đời, chúa Giesu đã làm nổi bật tính siêu việt của loại tình yêu này vượt lên trên cả luật pháp bằng câu chuyện ngụ ngôn người Samaritanô.

Thầy cả tư tế và thầy Lêvi (c. 31-32) là những đại diện và biểu tượng của Do Thái giáo, dĩ nhiên họ là những “người hàng xóm” mẫu mực của nạn nhân đang nằm bê bết bên lề đường. Những Lêvi, những tư tế này theo luật là phải xả thân giúp người bị nạn, hơn nữa họ lại là “người láng giềng” của nạn nhân, mà lại làm lơ trước đau thương của người khác để rồi một người xa lạ, kẻ thù của Do Thái là người Samaritanô động lòng thương ra tay cứu giúp. Cuối cùng, nhà luật sĩ đã không thể nói gì hơn và trả lời Chúa Giêsu: “Người Samaritanô là kẻ có lòng thương xót người ấy. Ông ta đã săn sóc người ấy với lòng trắc ẩn, coi người xa lạ như anh em bà con láng giềng với mình”.

VÔ CẢM VÀ LÒNG TRẮC ẨN

Có lòng trắc ẩn là biết đau cái đau của người, biết khổ với nỗi khổ của người, biết sầu

buồn với nỗi buồn sầu của người; nếu người hấp hối thì mình cũng cảm thấy như chính mình đang hấp hối vậy. Đó phải chăng là cảm thông, là sống với tâm tư của tha nhân vui cũng như buồn vậy. Trắc ẩn không để cho chúng ta dửng dưng vô cảm trước cái đau của tha nhân nhưng mời gọi sự hòa hợp kết đoàn với nỗi khổ của người. Chúa Giêsu, người Samaritanô đã diễn tả, đã sống lòng trắc ẩn một cách tuyệt vời. Đôi khi chúng ta cũng giống như những thầy tư tế, những Lêvi thấy người bị nạn, đói khổ nhưng làm lơ coi như không nhìn thấy hoặc nhìn thấy nhưng tránh qua một bên sợ bị liên lụy, bị bẩn tay lấm áo quần, không muốn chuốc thêm phiền toái vào cho mình…

Trắc ẩn đòi hỏi chúng ta phải vong thân, nghĩa là thoát ra khỏi con người của mình để đến với người cần được an ủi vỗ về. Điều đó có nghĩa là nếu tay ta bị vấy bẩn, danh dự ta bị ố nhòe cũng không sao. Ta chấp nhận. Dửng dưng vô cảm còn tệ hơn cả thù nghịch. Một người thù nghịch thì ít ra nó cũng nhận thấy sự hiện diện của đối thủ và chiến đấu đánh lộn với người mà nó không ưa. Người vô cảm, trái lại, không muốn biết đến người khác và hành sử như là người đó không hiện hữu, coi những than van uất hận khổ đau của người như không có. Tê hại đến nỗi nếu có ai hỏi về người đau khổ ấy thì anh ta trả lời tỉnh bơ “Tôi không biết người đó là ai”. Đó là thái độ dửng dưng, vô cảm của người tư tế và Levi đã né tránh qua bên kia đường, mặc kệ người bị nạn nằm rên xiết đau khổ đơn độc. “Sống chết mặc bay, cháy nhà hàng xóm ta bình chân như vại” là thế.

Người Samaritanô tốt lành đã chứng tỏ cho ta thế nào là lòng trắc ẩn và cam kết thề hứa. Ông ta có thể tránh qua bên kia đường một cách dễ dàng, nhắm mắt làm lơ như không trông thấy gì cả và từ chối đáp ứng những nhu cầu thiết thực của người bị nạn. Nhưng ông không làm vậy. Ông dừng bước, quì gối, cúi đầu xuống nhìn người xa lạ đang đau khổ rên siết. Lúc đó chính là lúc người láng giềng, tình hàng xóm được sinh ra. Bất cứ ai dừng chân bên cạnh nỗi đau khổ của người khác, dưới bất cứ hình thức nào, thì người đó là một người Samaritanô tốt lành. Sự ngừng bước, cúi xuống, quì gối bên cạnh nỗi đau khổ, không phải vì tò mò, nhưng vì tình yêu thương. Nỗi trắc ẩn của người Samaritanô thôi thúc ông làm tất cả mọi sự để giảm bớt đau khổ của người “láng giềng”. Trước tiên ông băng bó vết thương, đoạn ông mang người bị nạn về quán trọ để dễ dàng chăm tóc hơn, và trước khi đi ông còn đưa cho người chủ quán tiền bạc đủ để săn sóc nạn nhan, lại hứa nếu không đủ khi trở lại ông sẽ đền bù đầy đủ (c. 34-35).

Yêu thương phải có hành động giống như người Samaritano. Chúng ta ai cũng biết chính Chúa Giêsu là người Samaritanô tốt lành nhân hậu tuyệt vời. Mặc dù là Thiên Chúa, Người đã không ngần ngại hạ mình xuống làm người như chúng ta rồi lại hy sinh mạnh sống vì chúng ta. Đã hơn 2,000 năm nay rồi câu chuyện Chúa Giêsu vẫn còn vang động và rung chuyển lòng người sâu đậm vô kể. Nó dạy cho chúng ta thế nào là lòng trắc ẩn thực sự, thế nào là thề hứa và thế nào là hiệp thông hiệp cảm với tha nhân.

QUAN NIỆM VỀ NGƯỜI LÁNG GIỀNG TRONG KITÔ GIÁO

Thông điệpThiên Chúa là Tình Yêu (Deus Caritas est) năm 2005 của ĐGH Biển Đức XVI đã nói về tình yêu Kitô giáo như sau (#15): Dụ ngôn người Samaritanô đã làm sáng tỏ hai vấn đề đặc biệt rất quan trọng. Cho đến thời điểm đó thì quan niệm về người hàng xóm được hiểu là những công dân/người đồng hương và những người ngoại quốc định cư trong lãnh thổ Israel; nói một cách khác là cộng đồng thiết thân của một quốc gia hay một dân tộc. Giới hạn này hiện bị phai mờ rồi. Bất cứ ai cần tôi hay tôi có thể giúp đỡ bất cứ ai, thì người đó là người láng giềng của tôi. Quan niệm về người láng giềng nay đã trở thành phổ quát, rộng lớn, cho dù nó vẫn còn là cái gì cụ thể. Mặc dù được lan rộng ra tới tất cả loài người, nó cũng không bị thu hẹp lại ở từng loại người, giống người diễn tả một tình yêu trừu tượng, nhưng là kêu gọi chính tôi phải thề hứa thực hành cái gì ở đâu đó.

“Giáo Hội có bổn phận hơn bao giờ hết phải cắt nghĩa sự liên đới này giữa gần và xa về phần đời sống hàng ngày hiện nay của những thành viên của mình. Sau cùng, chúng ta phải chú ý đặc biệt đến ngụ ngôn rất quan trọng về ngày phán xét sau cùng (Mt 25:31-46), trong đó tình yêu trở thành tiêu chuẩn để có quyết định tối hậu về đời sống loài người có giá trị hay không về việc đó. Chính Chúa Giêsu đã xác định với những người cần thiết, với những kẻ đói, kẻ khát, kẻ xa lạ, kẻ trần truồng, kẻ bệnh hoạn và kẻ bị cầm tù. “Khi các ngươi làm điều đó cho một trong những kẻ nhỏ bé nhất của người anh em này của ta là ngươi đã làm cho chính ta vậy” (Mt 25:40). Yêu Chúa và yêu người láng giềng đã trở thành một: Nơi người nhỏ bé nhất của anh em, chúng ta tìm thấy chính Chúa Giêsu, và nơi Ngài chúng ta tìm thấy Thiên Chúa.

NGƯỜI HIỆP SĨ NHÂN HẬU

Khi chúng ta suy niệm về ý nghĩa câu chuyện ngụ ngôn này, chúng ta không thể không nghĩ tới đấng khả kính tôi tớ Chúa là Linh mục Michael McGivney và ĐTGM. Philípphê Nguyễn Kim Điền. Linh mục McGivney là một cha xứ sống ở thế kỷ XIX tại Mỹ. Ngài coi sóc đoàn chiên của ngài với lòng trắc ẩn giống y như Đức Kitô. Ngài nhận ra đươc cái nghèo tinh thần và vật chất của rất nhiều thành viên trong cộng đồng Công Giáo của ngài thời ấy, và ngài đã hiểu ra rằng đó là ơn gọi giáo dân để họ tham dự tích cực vào việc giúp đỡ anh chị em của họ, những người cần được giúp đỡ. Ngài biết rằng không phải chỉ có linh mục và tu sĩ mới có ơn gọi, nhưng tất cả mọi Kito hữu đều được Chúa Kitô mời gọi để hoàn thành sứ mệnh đặc biệt của mình trong Giáo Hội. Ngài đã để ra tất cả di tặng để xây dựng và lập ra Đoàn Hiệp Sĩ Colombus, một tổ chức những người anh em giáo dân Công Giáo mà hiện nay đã có gần 1.8 triệu thành viên trên khắp thế giới (www.kofc.org). Cha McGivey, một linh mục thuộc giáo phận Hartford, USA đã qua đời ngày 14-08-1890 khi ngài còn rất trẻ, mới 38 tuổi.

Đoàn Hiệp Sĩ Colombus không là gì cả ngoài việc tiếp tục câu chuyện ngụ ngôn người Samaritanô nhân hậu trong lịch sử. Hội Đoàn huynh đệ này chuyên chú chuẩn bị những người Samaritanô nhân hậu khác cho thời đại chúng ta. Giống như người Samaritanô nhân hậu, sự chăm sóc những người nghèo khó và đau khổ của Chúa Kitô đã là nguồn cảm hứng cho cha McGivney, một linh mục đã tận tụy tìm cách để là dấu chỉ sống động của Chúa Kitô nơi những người mà cha phục vụ.

Cha McGivney và những người anh em hiệp sĩ của cha xuyên suốt dòng lịch sử đã băng bó những vết thương của những người mà họ thấy đang nằm lây lất bên lề đường lịch sử, giúp họ bình phục lấy lại sức khỏe. Khi hành động như vậy, họ đã bắt chước Chúa Giêsu Kitô là Đấng đã đến để cho chúng ta có được sự sống dồi dào (x. Ga 10,10).

Hiệp sĩ Tổng quyền Carl Anderson mới đây đã viết: “Không có nơi nào bộ mặt của Giáo Hội lại hấp dẫn, có sức quyến rũ hơn ở nơi chúng ta ôm ấp chăm nom ngững người hàng xóm láng giềng của chúng ta. Mỗi hành động giúp đỡ như vậy cho những người cần được giúp đỡ là cơ hội tạo dựng một nền văn minh tình yêu, đồng thời cũng xây dựng được một con người.”

Về ĐTGM. Philípphê Nguyễn Kim Điền thì có lẽ giáo dân cũng như đa số người dân miền Nam VN, nhất là Tổng giáo phận Huế ai cũng đều biết danh ngài. Khi còn là một linh mục trẻ tài đức, từng làm giáo sư Đại chủng viện, nhưng ngài đã nghe tiếng gọi của Chúa, của người Samaritanô, gia nhập dòng Anh Em Khó Nghèo. Ngài đã từng qua Phi châu tập sống với dân nghèo, khi về VN ngài làm nghề hèn mọn nhất, ban ngày đi đạp xích lô lấy kế sinh nhai, tối về sống trong xóm nghèo lao động nhà tranh đất vách, giữa phố phường phồn vinh của Saigon hoa lệ để có cơ hội sống gần với dân nghèo cùng đinh đau khổ trong xã hội, cảm thông với họ, săn sóc an ủi họ, băng bó những vết thương lòng và thể xác của họ, không như những linh mục khác sống thoải mái với tiện nghi nhà cao cửa rộng. Ngài đã thực sự cảm thông, sống niềm trắc ẩn cái đau khổ cùng cực của những đồng bào nghèo, của những người cần phải được giúp đỡ ủi an. Đến khi được Tòa Thánh chọn gọi làm Giám mục, ngài vâng lời cầm đầu đoàn chiên Chúa trao; rồi thời thế thay đổi, Giáo Hội miền Nam VN nói chung, Tổng giáo phận Huế của ngài nói riêng gặp khó khăn, ngài chấp nhận sống chung, ép mình dưới những bất công cho đến khi không thể chịu đựng được vì trái với niềm tin vào Chúa và của Giáo Hội, ngài thẳng thắn chống đối, đòi hỏi để cho Giáo Hội và giáo dân được sống đúng tinh thần Phúc âm mến Chúa yêu người và công bằng tự do của con người chân chính theo gương Chúa Kitô. Cuối cùng ngài đã hy sinh vì lý tưởng người môn đệ Chúa, người Samaritanô nhân hậu, để lại tấm gương sáng anh hùng rực rỡ, bây giờ và mãi mãi về sau….

LỜI KẾT:  KINH CẦU ĐTGM. PHIPHÍPPHÊ NGUYỄN KIM ĐIỀN VÀ LINH MỤC McGIVNEY

Khi đọc kinh nguyện này, dù không có những hiệp sĩ, những giáo dân Tổng giáo phận Huế hiện diện, nhưng chúng ta cứ tưởng tượng họ có mặt nơi đây và cùng chúng ta đọc kinh này và cám ơn các ngài. Các ngài đã hy sinh máu thịt mình như câu chuyện Phúc Âm kỳ diệu hôm nay. Chúng tôi xin quí vị cầu khẩn cùng Linh mục McGivney và ĐTGM Philípphê, xin các ngài giúp đỡ chúng ta và quí vị trở nên người Samaritanô nhân hậu đối với những người chung quanh quí vị và chúng ta. Cầu xin cho có lòng can đảm vượt qua giới hạn, sự nhút nhát ươn hèn của mình để vươn tới những nơi cần tới, cần giúp đỡ để cho bàn tay bị vấy bẩn khi chúng ta chạm tới những người cô thế bị áp bức, đàn áp, đau khổ…; cầu xin có được ân sủng và sự ủi an để nhận ra được diện mạo chúa Giesu nơi những người mà quí bạn và chúng ta phục vụ.

“Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, Đấng bảo vệ người nghèo khổ, giúp đỡ kẻ góa bụa và mồ côi, Chúa đã gọi ĐTGM Philípphê Nguyễn Kim Điền, linh mục McGivney làm môn đệ đời sống gia đình Kitô giáo và dẫn dắt thế hệ trẻ phục vụ quảng đại những người láng giềng của họ.

“Qua gương sáng về cuộc sống và nhân đức của hai vị, chớ gì chúng con theo được Con Chúa là Đức Giêsu Kitô khít khao hơn hầu hoàn thành giới răn bác ái của Chúa và xây dựng thân thể Chúa là Giáo Hội. Xin hãy để cho niềm cảm hứng của tôi tớ Chúa thúc đẩy chúng con tin tưởng hơn vào tình yêu thương của Chúa để chúng con có thể tiếp tục công việc săn sóc những người cần săn sóc và những kẻ bị bỏ rơi, cô thế bị áp bức bất công.

“Chúng con khẩn cầu Chúa vinh danh những tôi tớ Chúa là ĐTGM. Philípphê Nguyễn Kim Điền và Lm. McGivney trên thế gian này theo như ý dịnh và ước nguyện thánh của Chúa.

“Nhờ sự cầu bầu của Đức Tổng Philípphê và Linh mục McGivney, xin Chúa ban cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam chúng con được tốt đẹp, có đầy đủ tự do và nhiều người về với Chúa, có nhiều người Samaritanô nhân hậu đưa tay giúp đỡ kẻ khốn cùng đau khổ vì bị bỏ rơi và áp bức bất công…..

“Nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.”

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

------------------------------

 

TN 15-C189: “…HÃY ĐI và THỰC THI LÒNG THƯƠNG XÓT!”

 

Thực thi lòng thương xót giống như người Sa-ma-ri - trong dụ ngôn của Chúa Nhật hôm nay có TN 15-C189


Thực thi lòng thương xót giống như người Sa-ma-ri - trong dụ ngôn của Chúa Nhật hôm nay có dễ không? Tôi nói thật, sống trong một xã hội mà ở đó hở ra một chút là bị sue, động một tí là bị đưa ra tòa … thì việc thực thi lòng thương xót giống như người Samari không phải là chuyện đơn giản, nếu không muốn nói là khó khăn!

• Thấy một người già cả, và ngay cả người trẻ đi nữa, bị té ngã bên đường, bạn có dám chạy đến nâng người ấy đứng dậy không? Tôi thì chắc là không dám rồi, lỡ mình đỡ không đúng kiểu, nâng không đúng cách, nạn nhân bị gẫy xương, hay bị té thêm một lần nữa thì coi chừng, tai họa sẽ đổ xuống trên đầu ngay!

• Bạn làm công cho một nhà hàng, hay cả ngay khi bạn là chủ nhà hàng ấy đi chăng nữa, khi thức ăn bán không hết còn dư thừa, bạn có dám đưa cho những người vô gia cư, cho những người đang đói khát ở ngoài đường ăn không? Bố bảo cũng không dám, lỡ họ ăn rồi sau đó họ bị ngộ độc, bị đau bụng…là chết!

• Thấy một người đứng bên vệ đường đưa tay ra xin đi quá giang, bạn dám ngừng xe, cho người ấy lên xe không? Tôi thì chắc không dám đâu, lỡ gặp phải ăn cướp thì sao? Lúc đó là tiêu đời!

Bạn có thấy khó không? Khó lắm đấy chứ lại! Nhưng khó không có nghĩa là chúng mình không thể thực thi lòng thương xót được! Bạn và tôi vẫn còn có nhiều cách để có thể thực hành lời giáo huấn của Chúa Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay. Nói một cách khác, với ơn Chúa nâng đỡ, cộng với sự khôn ngoan của Ngài ban cho, bạn và tôi vẫn có thể thực thi giới răn yêu thương tha nhân được chứ không phải là không. Dĩ nhiên, chúng mình không thể thực thi lòng thương xót theo cái kiểu của người Sa-ma-ri thời xa xưa, nhưng chúng mình có thể thực thi lòng thương xót đối với tha nhân, bắt đầu từ những người trong gia đình mình, ví dụ như:

• Những ngày cuối tuần, những dịp lễ lạc, bạn đưa con cái tới thăm viếng cha mẹ đôi bên, giúp cho các ngài dọn dẹp nhà cửa, cắt cỏ, giặt giũ, nấu nướng, hay đến thăm những người đau yếu, bệnh tật, hoặc đang sống cô đơn hiu quạnh trên giường bệnh, trong các nhà dưỡng lão…

• Khi nhận được thư của các cơ quan thiện nguyện như Caritas, Catholic Charity, Catholic Relief Services, …hoặc ngay trong giáo xứ có những cuộc lạc quyên giúp cho những người homeless, cho các nước nghèo bên Châu Phi, bên Nam Mỹ, hoặc cho nạn nhân của chiến tranh, bão lụt…bạn vui vẻ và mau mắn cộng tác, gửi quần áo, thực phẩm, gift certificates, tiền bạc, ngân phiếu…để giúp đỡ cho họ.

• Khi đi chợ Safeway hay Fred Meyer, hoặc Walmart…bạn và tôi mua thêm một túi đồ ăn để sẵn, khoảng $10-$15 dành để tặng cho những người đang đói khổ, những người vô gia cư…

• Trong những dịp mùa chay, lễ Thanksgiving, Christmas, New Year, quảng đại đóng góp tài chánh giúp cho quỹ bác ái, cho các em Thiếu Nhi Thánh Thể…để chuẩn bị thức ăn tặng cho người nghèo…

Bạn thân mến, thực thi lòng thương xót đối với tha nhân là một việc không dễ, bởi vì theo bản tính tự nhiên, con người của chúng ta thường hay sợ, hay lo ngại và nhất là hay so đo tính toán đủ mọi thứ cả. Thế nhưng, nếu chúng mình cố gắng, và với niềm tin vào sự trợ giúp của Chúa, tôi tin chắc bạn và tôi sẽ thoát ra cái vỏ của ích kỷ, của sợ hãi và sẽ có thể thực thi lòng thương xót đối với tha nhân.

Chúng mình hãy cầu nguyện cho nhau, xin Chúa ban cho bạn và tôi một trái tim nhân ái, một tấm lòng quảng đại và biết thương xót tha nhân, nhờ đó chúng mình mới có thể thực thi được lời giáo huấn của Chúa Giê-su: “Hãy đi và thực thi lòng thương xót với những người chung quanh.

Chúa Giê-su đã hứa: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7), nếu chúng mình thực thi lòng thương xót đối với những anh chị em túng cực nghèo khổ, những người đang trong cơn hoạn nạn, đang gặp bất hạnh, buồn phiền…thì chắc chắn bạn và tôi, khi gặp gian nan khốn khó, khi lâm cảnh túng cực, chúng mình sẽ được người ta xót thương, và nhất là ở đời sau, khi ra trước tòa Chúa phán xét, chúng mình sẽ được Thiên Chúa dủ lòng thương xót.

Cầu chúc bạn một tuần lễ an bình, mạnh khỏe và tràn đầy ơn Chúa. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

----------------------------

 

TN 15-C190: AI CŨNG LÀ NGƯỜI THÂN CỦA TÔI

 

Câu hỏi: “Ai là người thân của tôi?” là chủ đề chính trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúng ta cùng TN 15-C190


Câu hỏi: “Ai là người thân của tôi?” là chủ đề chính trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúng ta cùng nhau tìm câu trả lời và áp dụng vào đời sống.

Có người cho rằng người thân của họ là những người cùng một huyết thống trong gia tộc: ông bà, cha mẹ, vợ chồng con cái, cháu chắt, v.v… Đúng vậy, và nếu người nhà mình mà mình không yêu, không sống tử tế thì làm sao yêu người khác được. Nhưng, với căn tính của người tín hữu, chúng ta được mời gọi sống và vượt lên trên tiêu chuẩn nói trên. Và câu trả lời cho câu hỏi “Ai là người thân của tôi?” đã được Đức Giê-su diễn tả thật sống động qua truyện ngắn mà chúng ta hay gọi là dụ ngôn “Người Sa-ma-ri-a nhân hậu”.

Truyện ấy như thế này: Mọi người cùng thời với Đức Giê-su đều biết rằng con đường từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô là một đoạn đường đầy nguy hiểm, thường xuyên xẩy ra các nạn cướp của và giết người. Xẩy ra là có một người mà chúng ta không hề biết gốc tích, gia thế hay địa vị, nói chung là một người vô danh, không hề có bất cứ một chút quan hệ gì với mỗi người chúng ta. Ông đi ngang qua đó và đã rơi vào tay bọn cướp. Chúng cướp hết tiền bạc, đánh ông nhừ tử, thừa sống thiếu chết rồi quăng ông bên vệ đường. Tình trạng của ông cần được cứu cấp.

Cùng vào thời gian đó, có một ông tư tế mà chúng ta hay gọi là ông cha, cũng đi trên con đường đó. Cha nhìn thấy cảnh tượng của người bị nạn bèn quay mặt làm như không thấy gì rồi đi sang lối bên kia để đi. Lại có một ông luật sĩ, bậc thầy dậy đạo cho dân chúng, cũng đi qua, cũng nhìn thấy rồi cũng ngoảnh mặt làm ngơ và rẽ sang lối khác để đi. Tuy trong bản văn chúng ta không hề hay biết lý do tại sao họ lại làm như thế! Nhưng cũng có một số lý lẽ được đưa ra để bảo vệ cho hai vị trọng vọng nói trên, đó là các ngài có chuyện gấp cần phải đi hay sợ bị trở thành ô uế khi đụng chạm vào nạn nhân. Nói chung, họ làm ngơ trước hoàn cảnh vô cùng thương tâm của đồng loại!

Tình cờ, lại là truyện tình cờ. Nhưng lần tình cờ này đáng cho chúng ta phải suy nghĩ. Số là, cùng vào lúc đó, có một người thuộc dòng giống Sa-ma-ri-a mà người Do Thái coi họ là kẻ thù; vì họ đã dám phế bỏ truyền thồng của tiền nhân, thu nhập các thói tục ngoại giáo và luôn sống trong tình trạng bị ô uế. Anh chị em thử thay cụm từ ‘người Sa-ma-ri-a’ bằng một tên nào đó thuộc nhóm khủng bố IS (Hồi Giáo cực đoan) hay là bất cứ nhân vật nào hay nhóm người nào mà bị anh chị coi họ như kẻ thù thì chắc hẳn chúng ta sẽ đọc trình thuật này với ý nghĩ khác. Và, ngày nay khi nghe thấy chữ ‘Sa-ma-ri-a‘ tức khắc chúng ta sẽ nghĩ đến các cụm từ ‘tốt lành hay nhân hậu’ để gán cho người đó. Nhưng, trong trình thuật, Đức Giê-su chỉ gọi ông là người Sa-ma-ri-a mà thôi.

Giống như vị tư tế và ông kinh sư, người Sa-ma-ri-a cũng đang đi trên đường, ông cũng nhìn thấy nạn nhân đang nằm thoi thóp bên vệ đường, nửa sống nửa chết. Ông cảm thấy như có lưỡi dao đâm vào tim ông. Bỏ hết mọi sự mà ông dự tính thực hiện sang một bên. Ông dừng lại, tiến lại gần, dùng tất cả khả năng và dụng cụ cứu thương sẵn có để cứu giúp nạn nhân. Chưa xong, ông cảm thấy không thể để người bị cướp này nằm ở lề đường. Ông đưa nạn nhân, người mà ông không hề quen biết đến quán trọ và xin chủ quán săn sóc cẩn thận và mọi chi phí sẽ được bồi hòan khi ông trở lại.

Sau đó, thay vì tiếp tục cuộc tranh luận và đưa cho nhà thông luật câu trả lời thì Đức Giê-su đã hỏi ý kiến ông ta rằng: “Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?" Người thông luật trả lời: "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy". Ðức Giêsu bảo ông ta: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy". (Luca 10:30-37)

Thưa anh chị em,

Người thông luật trả lời thật là chí lý. Kẻ thực thi lòng thương xót, thực hiện việc bác ái là người thân cận của kẻ đang sống dở chết dở. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây không phải là chuyện lý lẽ. Lời xác định của Đức Giêsu làm cho chúng ta suy nghĩ. Ông hãy đi và làm như vậy.

Khi nói thế Đức Giêsu muốn cho chúng ta biết ý muốn của Người. Việc xác định ai là người thân của tôi không nằm trong phạm vi tìm kiếm câu trả lời về mặt lý thuyết. Nhưng điểm quan trọng là thái độ và cách sống của chúng ta. Đây không phải là tiêu chuẩn để xác định ai là người thân của mình; nhưng đúng hơn đó là tiêu chuẩn để xác định mình có là người thân của người khác hay không?

Người thân cận là người có lòng thuơng xót, biết động lòng thương, biết rung động trước nhu cầu của người khác. Một khi mà hành trang trong cuộc sống của chúng ta còn thiếu những khí cụ như tình yêu, lòng thương xót, thông cảm và tha thứ cho nhau thì mình vẫn xa lạ với chính mình và chưa là người thân của ai hết.

Việc áp dụng lời mời gọi “hãy đi và làm như vậy” của Đức Giêsu hôm nay không phải là điều dễ thực hiện. Nhất là trong những năm gần đây, các hành động thể hiện sự quan tâm và săn sóc của chúng ta dành cho những người bị nạn cũng có thể bị coi là các hành vi lạm dụng. Cho nên, để phòng hờ, chúng ta lại nghiêng về một thái độ cực đoan khác.

Đó là nếu thấy ai té ngã trên đường mà chúng ta không có bổn phận thì cũng nên thận trọng trong việc giúp đỡ khi cần đụng chạm đến người đó, nhất là người bị nạn là trẻ em, chúng ta dễ dàng bị vu cáo là vi phạm vào các tiêu chuẩn chức nghiệp làm tổn hại đến người khác. Quả thật không biết đường nào để ứng xử. Gần gũi quá cũng bị hiểu lầm. Không gần gũi thì làm sao thể hiện sự quan tâm đây! Đúng là vàng thau lẫn lộn… Tuy chúng ta cần đến sự khôn ngoan để thẩm định. Nhưng xét cho cùng, nếu chúng ta chẳng còn biết tin vào ai thì việc xác định ‘người thân’ lại càng khó khăn hơn.

Anh chị em thân mến,

Trong Nước Thiên Chúa thì tất cả đều bình đẳng, không phân biệt giai cấp và không ai bị lên án. Tất cả đều có chỗ đứng và không ai bị loại ra ngoài. Chúng ta có chung một mẫu số là ‘động lòng thương’. Đó là nền tảng duy trì các mối tương quan và là sợi dây nối kết chúng ta thành cộng đoàn. Đối tượng của mình không hạn hẹp trong mối quan hệ huyết thống, nhưng được mở ra cho tất cả mọi người. Thế giới của những kẻ tin vào Chúa rất rộng, vì đối với họ thì ai cũng là người thân. Mà người thân cận nhất của mình lại là chính bản thân mình. Thay vì sầu não, buồn phiền và cứ bị dằn vặt về những lỗi phạm được xét dựa vào tính khắc kỷ và những tiêu chuẩn khắt khe của lề luật. Chúng ta nên mở ra để đón nhận tình thương yêu của Thiên Chúa để sống vui tươi hơn. Chúa chấp nhận yếu đuối của mình thì không vì lý do gì mà chúng ta lại không thông cảm và tin rằng Chúa luôn yêu thương ta.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn biết rằng yêu thương mình vốn là việc khó làm. Nhưng được làm môn đệ của Chúa là một hồng ân, và sống trong kho tàng của nguồn suối yêu thương của Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi ra khỏi chính mình để yêu thương người khác nữa. Đây chính là mẫu mực Tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi trao đổi lòng mến cho nhau và cho nhân loại. Tình yêu chỉ trở nên sung mãn khi chúng ta dám ra khỏi mình. Và cũng chỉ trong tình trạng sống như thế thì Thiên Chúa mới có cơ hội đổ thêm ân huệ và tình thương của Người vào lòng chúng ta.

Ra khỏi mình để đến với người khác là khởi điểm của hành trình ‘hãy đi và làm như vậy’. Đó là con đường duy nhất để tôi làm chứng cho nhân loại biết tất cả đều là người thân của tôi và với khí cụ của lòng thương xót thì tôi là người thân của tất cả mọi người. Amen!

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

-----------------------------

 

TN 15-C191: TƯ TẾ, LÊVI LÀ AI?

 

Họ không phải là "dân đen" bình thường, không thuộc hàng ngũ của số đông, ít tiếng nói, không TN 15-C191


Họ không phải là "dân đen" bình thường, không thuộc hàng ngũ của số đông, ít tiếng nói, không quyền lực. Họ là thành phần thuộc nhóm thiểu số nhưng có quyền lãnh đạo và quản trị.

Ngày nay, thiểu số ấy là các nhà lãnh đạo trong Hội Thánh Công giáo, những kẻ được mệnh danh là "mục tử". Nói trắng ra, đó là những người tương đương bậc “chân tu” thời đại. Họ là giám mục, linh mục của Chúa.

Vì thế, trong bài này, xin cho tôi được nói về các "tư tế, Lêvi" của Hội Thánh Công giáo hôm nay.

Các mục tử trong Hội Thánh Công giáo luôn được mời gọi phải sống theo hình mẫu thánh thiện của mình là chính Mục tử Giêsu. Nhưng chúng ta phải tự nhìn nhận, đã không ít lần, chúng ta, những mục tử của Chúa đã chẳng sống theo hình mẫu của mình, lại sống theo lối sống khác, khác Chúa Giêsu.

Tôi thiết nghĩ, hình ảnh tư tế, Lêvi trong dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu đáng để các mục tử suy nghĩ mà cãi thiện đời sống, mà ăn năn thống hối, mà chết cho con người cũ, phục sinh con người mới trong ơn phục sinh của Chúa Kitô. Chúng ta hãy hồi tâm để ăn năn tội về những lỗi phạm đến đời thánh hiến, nhất là những lỗi phạm kéo dài trong suốt đời thánh hiến của từng người.

Kể chuyện người Samaritanô nhân hậu, Chúa “lật đổ” thái độ vô cảm của hàng giáo sĩ trong Hội Thánh. Hãy nghe Chúa nói về hàng giáo sĩ của Chúa: “Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêricô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống, nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy nạn nhân, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi một thầy Lêvi tới chỗ ấy, thấy thế, cũng tránh qua một bên mà đi…”.

Hình ảnh tư tế, Lêvi làm ngơ, đã thể hiện sự vô cảm đến độ độc ác trước thực trạng của người bị cướp đánh có nguy cơ mất mạng sống, trở thành một gương mù, một phản chứng lớn vô cùng đối với chính đời dâng hiến của họ.

Mặc dù Chúa không trực tiếp kết tội, nhưng trong mấy từ “tránh qua bên kia mà đi”, cho thấy Chúa không bằng lòng. Tại sao lại tránh?

“Tránh qua bên kia” nghĩa là người bị tấn công đang bất động ngay dưới chân mình, cản bước mình. Ngay dưới chân nên mới phải “tránh” mà đi!

Họ đã bước vào đời hiến dâng, họ dạy người khác phải hy sinh, phải hướng thiện, phải chấp nhận bỏ mình vì tha nhân, sao chính họ lại không hiến thân?

Họ dạy phải nhân từ, phảy yêu thương, sao họ vô cảm trước nỗi đau của đồng loại?

Thôi thì hãy cố tìm lý lẽ tốt để biện minh giúp những người đang bị “kết tội”: Họ sợ hãi! Bởi sợ nên vô tâm. Tư tế và Lêvi vô tâm đối với người bị cướp vì họ sợ nhiễm ô uế.

Luật Do thái quy định, ai đụng chạm vào người ngoại giáo, nhất là đụng chạm vào xác chết sẽ bị nhiễm ô uế.

Cứ cho rằng, người bị cướp có thể là người ngoại, lại còn sắp chết. Vì thế, để khỏi nhiễm ô uế, tư tế và Lêvi trong dụ ngôn đã “tránh qua bên kia mà đi”.

Dù vậy, sự “kết tội” Chúa quy cho những nhà “chân tu” của dụ ngôn, khó có ngôn từ khả dĩ giúp họ có thể “chạy tội”.

Mặt khác, vì lời Chúa dạy: “Các con đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng ra, các con phải sợ Đấng có thể tiêu diệt cả xác lẫn hồn trong hỏa ngục…” (Mt 10,29-30), và các tư tế, Lêvi xưa không được phép sợ mà “tránh sang bên kia”, thì những nhà “chân tu” ngày nay càng không được phép vô cảm.

Thế nhưng, biết đâu vẫn còn những nhà lãnh đạo trong Hội Thánh sống trong sự nơm nớp lo sợ tương tự như thế. Chẳng hạn như sợ không được xây nhà thờ mà đành nhắm mắt làm ngơ trước cảnh bất công của giới cầm quyến.

Hoặc vì quyền lợi tư riêng mà ngậm miệng trước cảnh người nghèo bị áp bức. Hoặc vì để dễ sống, để yên thân sống mà không thèm đếm xỉa gì đến những anh chị em đang bị đố kỵ, bị rẻ rúng, bị chà đạp quyền sống…

Thế giới quanh ta vẫn còn đó, rất nhiều những người bị “cướp” như hình ảnh người bị cướp trong dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu.

Đó là những bào thai không phương thế tự vệ, vẫn bị giết, bị trục xuất ra khỏi lòng mẹ không thương tiếc. Cho đến nay, dù mỗi năm Hội đồng Giám mục Việt Nam họp hai lần, vẫn chưa bao giờ có một tiếng nói chính thức nào phản đối, hay chí ít là kiến nghị về luật cho phép phá thai. Chính do luật này, mà ngày nay Việt Nam đã “được nâng lên” hàng “top” thế giới. Thật mỉa mai! Thật chua xót! Một quốc gia nghèo, lạc hậu, không phải vươn lên hết nghèo, hết lạc hậu, mà lại “vươn lên” hàng đầu về thảm trạng phá thai.

Đó là những trẻ em bị cướp mất tuổi thơ khi người ta buộc các em phải lao động nặng nhọc, phải tham gia vào con đường tội ác, phải đem chính giá trị tuổi thơ của mình phục vụ những kẻ mang hình người nhưng lương tâm thú tính trong các nhà chứa, trong các đường dây tình dục… Và còn biết bao nhiêu mảnh đời trẻ thơ phải chấp nhận sống chui rúc ở bãi rác, gầm cầu, phố chợ…

Đó còn là những mảnh đời ngụp lặn trong dòng đời nhầy nhụa, mất định hướng sống, mất niềm hy vọng sống. Cũng có thể họ là những người sống lương thiện, nhưng bị nghi ngờ, bị hiểu lầm, bị chèn ép, bị bóc lột, bị hiếp đáp…

Đó còn là những cụ già bị bỏ quên trên góc phố, bị mất tất cả sức lao động, nhưng vẫn phải lê thân từng ngày đội nắng, đội mưa bán vé số, lượm ve chai, ngửa tay xin lòng trắc ẩn của mọi người…

Tất cả những người ấy, đều rất cần chúng ta, những bàn tay của người Samaritanô thời đại. Chúng ta hãy dẹp bỏ thái độ vô tâm của tư tế, Lêvi để cúi xuống trên những anh chị em đau khổ của mình. Hãy nhớ rằng, chỉ khi trở thành người Samaritanô, ta mới thật sự là anh em của những người “bị cướp” ấy.

Lẽ ra chúng ta phải mang trong lòng mình, khắc sâu trong nội tâm mình tình yêu của Thiên Chúa, thái độ âu yếm, cảm thông của Thiên Chúa, Lời Thiên Chúa dạy yêu thương để sống nhân ái hơn, quan tâm hơn, gần cận anh chị em của mình hơn…

Trong khi đó, nhiều người không đứng trong hàng ngũ “chân tu” như chúng ta, thậm chí họ chỉ là người ngoại giáo như người Samari ngoại giáo, lại sống đức tin, sống lời của Chúa, sống phù hợp thánh ý Chúa, sống đúng lề luật Chúa.

Thật trớ trêu, thật mâu thuẫn, và đáng xấu hỗ cho những người sống đời thánh hiến có thói vô cảm của tư tế, Lêvi trong dụ ngôn: Bởi họ luôn là biểu tượng của những người sống gần Thiên Chúa, nhưng hình như lòng họ không có Chúa bao nhiêu. Còn những người Samaritanô giữa đời, cứ tưởng nơi lòng họ “chất đời” nhiều hơn “chất Chúa”, thì hành động của họ lại cho thấy lòng họ “đầy Chúa”.

Chúng ta chỉ hãy mang hình ảnh người ngoại giáo Samaritanô hiên ngang sống cho đức tin, hiên ngang lao vào mọi mặt trận của đời sống con người để đánh phá mọi thứ “cướp”, trả lại cho con người cuộc sống yên bình, hạnh phúc.

Bất cứ khi nào ý thức mình là người sống trong đời tu, ý thức mình đã hiến dâng cho Chúa, thì càng can đảm bênh vực sự thật, công lý, tình yêu, con người… Hãy loại trừ hình ảnh tư tế, Lêvi ích kỷ, chỉ tìm vinh thân mà bỏ qua mọi điều tốt phải thực thi, không hề đoái hoài đến những con người bất hạnh, dù họ có ở ngay trước mắt mình.

Càng sống lâu trong đời tu, những người đã thánh hiến cho Chúa càng phải học lấy tinh thần bất khả nhượng của các thánh Tử Đạo Việt Nam, mà đối đầu trước mọi gai chướng, mọi thương đau, mọi cùng cực, mọi bẻ bàng của nhiều anh chị em quanh mình.

Tất cả chúng ta, dù tu sĩ hay linh mục, đã là Kitô hữu, hãy đào tạo lương tâm thành người hữu dụng cho Thiên Chúa, cho Hội Thánh và cho cuộc đời.

Hãy đào tạo mình thành người có tâm, biết chạnh lòng thương, biết nhìn đến nhu cầu của con người, không vô tâm, không sợ hãi bất cứ điều gì. Vì chính khi sống vì hạnh phúc của người khác, ta sẽ bắt gặp hạnh phúc của chính mình.

Chúng ta hãy đinh ninh luôn luôn lời Chúa kết luận cho dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu: “Hãy đi, và làm như vậy” (Lc 10,37), để dấn thân, để can đảm, để ra khỏi chính mình, để sáng danh Chúa, để làm cho không còn tình trạng “cướp”. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

-----------------------

 

TN 15-C192: Ai là người Samari nhân hậu?


Lm Phanxicô Xaviê Lê Văn Nhạc

 

Tin Mừng Lc 10: 25-37 Yêu mến Chúa trong nhà thờ, không đủ, nếu không yêu mến Chúa trên TN 15-C192


Tin Mừng Lc 10: 25-37 Yêu mến Chúa trong nhà thờ, không đủ, nếu không yêu mến Chúa trên đường đi và trong người anh em đồng bào, đồng loại.

Một đạo sĩ Ấn giáo nọ hỏi các đệ tử của ông như sau:

- "Làm thế nào để biết được đêm đã tàn và ngày bắt đầu?"

Sau vài phút suy nghĩ, một đệ tử giơ tay xin trả lời:

- "Tôi biết được khi nào là đêm tàn và ngày bắt đầu, đó là khi ta trông thấy một con thú từ đàng xa mà ta phân biệt được nó là con bò hay là con ngựa".

Câu trả lời đã không làm cho nhà đạo sĩ ưng ý chút nào… Một đệ tử khác lên tiếng:

- "Tôi biết được khi nào là đêm tàn và ngày bắt đầu, đó là khi ta thấy một cây lớn từ đàng xa mà ta phân biệt được đó là cây xoài hay cây mít".

Vị đạo sĩ cũng lắc đầu không đồng ý. Khi các đệ tử nhao nhao muốn biết câu giải đáp, ông mới ôn tồn nói như sau:

- "Khi ta nhìn vào gương mặt của bất cứ người nào mà nhận ra người đó là người anh em của ta thì đó là lúc đêm tàn và ngày mới bắt đầu. Nếu ta không phân biệt được như thế, thì cho dù đêm có tàn, ngày có bắt đầu, tất cả mọi sự không có gì thay đổi".

Thưa anh chị em,

Nhân loại đã chìm ngập trong đêm tối của tội lỗi, đêm tối của trốn chạy khỏi Thiên Chúa và chối bỏ lẫn nhau giữa người với người. Chúa Giêsu đã đến để xóa tan ĐÊM tối và khai mở NGÀY mới, trong đó người nhận ra người là anh em, người trở về với Thiên Chúa.

Như nhà đạo sĩ đã giải đáp: "Khi ta nhìn vào gương mặt của bất cứ người nào mà nhận ra người anh em của ta trong người đó, là lúc đêm tàn và ngày mới bắt đầu". Nhận ra người anh em nơi một người nào, đó chính là nhìn thấy hình ảnh của Thiên Chúa nơi mọi người cũng như phẩm giá vô cùng cao quý của người đó. Nhận ra người anh em nơi một người nào, đó là nhìn thấy niềm vui, nỗi khổ, sự bất hạnh và ngay cả lỗi lầm của người đó như của chính mình.

Nhận ra người anh em nơi một người nào, đó là sẵn sàng tha thứ cho người đó ngay cả khi người đó xúc phạm đến ta và không muốn nhìn mặt ta. Nhận ra người anh em nơi một người nào, đó cũng có nghĩa là không thất vọng về khả năng hướng thiện của người đó. Nhận ra người anh em nơi một người nào, đó cũng có nghĩa là muốn nói với người đó rằng, cách nầy hay cách khác, ta cần người đó để được sống xứng đáng với ơn gọi làm người hơn.

Trái lại, nếu ta không nhận ra người khác là người anh em của mình thì mình vẫn ở trong bóng tối đêm đen, chỉ khi nhận ra được người khác là người anh em của mình, thì mình mới bước vào ánh sáng ban ngày. Người khác đó là bất cứ ai, không phân biệt màu da, chủng tộc, ngôn ngữ, ý thức hệ. Tất cả mọi người là anh em tôi.

Thế nhưng, thưa anh chị em, trong Tin Mừng hôm nay, một luật sĩ đã hỏi Chúa: "Ai là anh em tôi?" Để trả lời, Chúa Giêsu đã kể câu chuyện người Samari nhân hậu. Người Samari nầy đã nhận ra nạn nhân đang nằm lây lất bên đường là người anh em gần gủi của mình, đang khi thầy Tư tế và thầy Lêvi lại không nhận ra nạn nhân nằm bên vệ đường kia là người anh em, mặc dầu nạn nhân ấy cũng là người Do Thái đồng bào và đồng đạo với mình. Nạn nhân đã trở thành kẻ xa lạ, chỉ vì rơi vào hoàn cảnh bất hạnh.

Câu chuyện muốn làm nổi bật thái độ dễ thương của người Samari nhân hậu. Chúng ta thấy ông xuống ngựa và đến cúi xuống trên con người đang quằn quại ở vệ đường. Ông chẳng để ý xem kẻ bất hạnh là ai? Là người Do Thái hay Samari - hai dân nầy vẫn coi nhau như thù địch - Ông chỉ thấy đây là một kẻ bất hạnh, một con người như mình, nhưng lại không được như mình. Thế nên ông đã săn sóc, băng bó vết thương và chở đến quán trọ gần nhất cấp cứu, rồi còn sẵn sàng trang trải mọi phí tổn nữa.

Như vậy, người Samari nhân hậu nầy đã trở nên người anh em thân cận, gần gũi với người bị nạn, mặc dù ông không cùng chủng tộc và tôn giáo, hơn nữa ông còn bị coi như kẻ thù của người Do Thái bị nạn nầy, đang khi hai thầy Tư tế và Lêvi vừa là người Do Thái vừa là bậc thầy dạy đạo, tế lễ, lại coi kẻ đồng đạo, đồng bào là xa lạ. Chính những hành động bác ái thương người cụ thể như thế mới làm chứng ai thật là người có đạo, ai thật là người, vì có lòng nhân ái.

Anh chị em thân mến,

Ngày 11 tháng 2 năm 1984, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ban hành một Tông thư mang tựa đề: "Salvifici doloris" nói về "Ý nghĩa đau khổ của người theo kitô giáo" để toàn thể Giáo Hội suy tư trong Năm Thánh Cứu Độ 1984. Đức Giáo Hoàng đã nhắc lại dụ ngôn "người Samari nhân hậu", không phải chỉ để gởi tới các bệnh nhân, những người phải chịu đau khổ, mà còn gởi tới mọi người. Bởi vì đau khổ vẫn ở ngay bên đường đi của chúng ta, đến nỗi con người rất dễ bị cám dỗ "bỏ đi qua" một cách dửng dưng, sự dửng dưng nầy là một nét đặc trưng của thời đại chúng ta. Chắc chắn rằng dụ ngôn "Người Samari nhân hậu" đã trở nên yếu tố thiết yếu của nền văn hóa đạo đức cũng như nền văn minh phổ quát của nhân loại. Nhưng "khi đến với đau khổ của người khác, không một tổ chức nào, tự nó, có thể thay thế cho trái tim, sự cảm thông, tình yêu và sáng kiến của con người". Và vào ngày phán xét, Chúa sẽ nói với mỗi người chúng ta rằng: "Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy". (x. Tông thư SD. số 28-30).

Chúa Giêsu đã bảo luật sĩ: "Cả ông nữa, hãy đi và làm như vậy". Hôm nay, chính với chúng ta, Chúa Giêsu ban huấn lệnh cấp bách nầy: "Hãy đi và làm y như vậy". Chúng ta hãy đi và làm như người Samari đã làm. Tất cả chúng ta phải tiếp tục nhiệm vụ của người Samari nhân hậu bên cạnh tất cả những ai chúng ta gặp và chân tình giúp đỡ, băng bó các vết thương của họ, những vết thương nghèo đói, đau yếu, bệnh tật, cô đơn, chết chóc… Đừng ngồi đặt vấn đề: "Ai là anh em tôi?", nhưng hãy đi và tỏ ra "mình là anh em của mọi người". Đừng dừng lại tìm xem người đó là ai, có đạo hay không có đạo. Nhưng hãy đi và làm như người Samari kia, nhìn thấy vết thương thì băng bó, nhìn thấy người đau khổ thì cứu giúp. Phải vượt qua quan niệm hẹp hòi của người Do Thái, để đi đến tình huynh đệ phổ quát, đại đồng.

Yêu mến Chúa trong nhà thờ, không đủ, nếu không yêu mến Chúa trên đường đi và trong người anh em đồng bào, đồng loại. Chúng ta phải sống đạo chứ không phải chỉ biết luật dạy mến Chúa yêu người trong sách vở. Thánh Gioan Tông đồ đã nói: "Anh em đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương thực sự bằng việc làm". Ngài còn nói: "Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong bóng tối. Ai yêu thương anh em mình thì sống trong ánh sáng. Nhưng ai ghét anh em mình thì ở trong bóng tối và bước đi trong bóng tối mà chẳng biết mình đi đâu, vì bóng tối đã làm cho người ấy ra mù quáng" (1Ga 2,9-11).

Hãy nhận ra khuôn mặt của tất cả mọi người là người anh em. Chỉ khi đó chúng ta mới ra khỏi bóng tối đang bao trùm chúng ta và được tràn ngập ánh sáng vinh quang của Chúa.

----------------------------

 

TN 15-C193: Hãy đi và làm như vậy


Lm Giuse Đỗ Văn Thụy

 

Tin mừng Lc 10, 25-37: Chúa Giêsu mong muốn mỗi người tín hữu hãy tự xem mình và hành TN 15-C193


Tin mừng Lc 10, 25-37: Chúa Giêsu mong muốn mỗi người tín hữu hãy tự xem mình và hành động như Người Samaritanô Nhân Hậu giúp người lâm nạn giữa đường cũng như cứu vớt những linh hồn lạc lõng.

Qua bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy hai người đầu là hai nhân vật liên quan đến việc tôn thờ trong Đền Thánh; nhân vật thứ ba là một người Do Thái ly giáo, bị coi là ngoại bang, một thứ dân ngoại dơ bẩn, được gọi là người Samaritanô thế, mà người này trông thấy kẻ bị thương đã không bỏ đi như hai người có liên hệ tới Đền Thờ trước đó, mà "đã động lòng thương" (câu 33). Phúc Âm đã thuật lại: "ông đã động lòng thương", tức là, tâm can của ông đã rung cảm. Ông cảm thấy trong lòng rung động! Chúng ta có thấy sự khác biệt ở đây: hai người kia "đã trông thấy" nhưng tâm can của họ vẫn khép kín, vẫn lạnh lùng; trái lại, tâm can của người Samaritanô đã đập cùng một nhịp với chính con tim của Thiên Chúa. Thật vậy, "lòng cảm thương" là đặc tính thiết yếu của lòng thương xót Chúa. Thiên Chúa đã cảm thương chúng ta. Như thế nghĩa là gì? Ngài chịu khổ với chúng ta; Ngài cảm thấy những đau khổ của chúng ta. Lòng cảm thương nghĩa là "cùng chia sẻ". Chữ này nói lên rằng có một điều gì đó tác động trong chúng ta, khiến chúng ta rung động khi thấy sự yếu đau của con người. Nơi những cử chỉ và tác động của Người Samaritanô Nhân Hậu chúng ta nhận thấy lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa trong suốt giòng lịch sử cứu độ.

1. Trông thấy và chạnh lòng thương

Người Samaritanô Nhân Hậu đã cụ thể hóa tình yêu qua bảy hành động: (1) chạnh lòng thương, (2) lại gần, (3) đổ rượu (rửa vết thương) và dầu (sát trùng), (4) băng bó vết thương, (5) đặt lên lưng lừa, (6) đem về quán trọ, (7) tận tình săn sóc.

Hôm sau, tác giả Tin Mừng Luca còn mô tả thêm bảy hành động khác của người Samaritanô: (1) lấy ra hai quan tiền, (2) trao cho chủ quán, (3) nói, (4) chăm sóc, (5) còn thiếu bao nhiêu, (6) khi trở lại, (7) sẽ thanh toán tất cả.

2. Những động từ và những cử chỉ trên cho ta thấy người Samaritanô là một con người tận tụy, chu đáo và nhân hậu

Ông là con người của hành động, hành động vì trông thấy và chạnh lòng thương một con người đang lâm vào cơn quẫn bách khốn cùng và đang cần được giúp đỡ; chứ không như thầy Tư Tế và thầy Lêvi kia, họ cũng trông thấy nhưng tránh qua một bên vì họ sợ bị liên lụy, sợ tốn tiền, sợ mất thời gian… dù rằng thầy Tư Tế và thầy Lêvi đối với người bị nạn là tương quan thân cận, trong khi đó tương quan giữa người Samaritanô với người bị nạn là tương quan kẻ thù, nhưng ông đã làm tất cả (2 lần 7) hoàn hảo trên mức hoàn hảo.

Người Samaritanô đã sống giới răn trọng nhất mà ông không hay biết, hay nói cách khác, ông không cần một định nghĩa: “người thân cận của tôi là ai?” Ông chỉ hành động, hành động vì yêu thương, và tình yêu của ông vượt lên trên mọi ranh giới, rào cản của sự kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, địa vị,… thiết tưởng, chỉ có một tình yêu đích thực và vô vị lợi mới ân cần và chu đáo đến như vậy.

3. Người Samaritanô hành động bằng lòng thương xót thật sự

Ông đã băng bó các vết thương của nạn nhân, đã mang nạn nhân đến quán trọ, đã tự mình chăm sóc cho nạn nhân và trợ giúp nạn nhân. Tất cả những điều ấy dạy chúng ta rằng lòng cảm thương, tình yêu thương, không phải là một thứ cảm giác mơ hồ, mà là việc chăm sóc cho người khác cho dù có đích thân phải trả giá. Nghĩa là dấn thân, thực hiện tất cả những gì có thể để "đến gần người khác, cho đến độ đồng hóa mình với họ", "các người phải yêu thương tha nhân như chính bản thân mình", đó là Giới Răn của Chúa.

Truyền thống Kitô giáo vốn đề cao tấm lòng và ý hướng khi làm việc bác ái. Nhưng với thời đại vốn nhấn mạnh đến tính hiệu quả hôm nay, thì tình yêu đích thực đòi hỏi được diễn tả cách cụ thể: chấp nhận cả tay và người bị dơ bẩn lấm lem, chấp nhận gặp rắc rối, phiền hà, chậm trễ công việc đang thực hiện, thậm chí cả nguy hiểm, vì tình yêu đòi hỏi hiến trọn cả con người. Đây quả là một thách đố, nên cần đón nhận suối nguồn tình yêu là chính Chúa, để có đủ lòng quảng đại mà thi hành điều Chúa truyền “hãy đi và cũng hãy làm như vậy”. Sau đây là câu chuyện minh họa.

4. Tình người miền quê Nam Bộ

Cha Antôn Nguyễn Văn Tiếng kể câu chuyện như sau: vào khoảng đầu thập niên 1980, có một buổi chiều tôi đang làm cỏ rẫy ở đất bồi, cạnh nhà tôi bên dòng sông Tiền.

Trời bỗng chuyển mưa đen kịt và sấm chớp ầm vang. Dòng sông nổi sóng dữ dội.

Bất ngờ một tia chớp lóe sáng và một tiếng nổ kinh hồn. Tất cả đều diễn ra mau chóng.

Một chiếc ghe nhỏ cách bờ không xa, tiến vào bờ theo từng đợt sóng. Khi vào đến bờ, một người phụ nữ tuổi trên 40 từ trên ghe nhảy xuống, trong nước mắt dàn dụa, bà nói không trọn câu: “sét đánh trúng chết chồng tôi và đứa con trai tôi rồi, cô bác ơi, làm ơn giúp tìm kiếm xác chồng con của tôi, cô bác ơi”.

Đêm hôm đó, cả xóm gần như không ai ngủ. Ai có ghe thì đi ghe, ai có xuồng thì đi xuồng, ai không có gì thì đi bộ cặp bờ sông, để tìm xác hai người. Sông lớn, mặc cho sóng to gió lớn, người ta thức trắng đêm để đi tìm. Một số kề cận người đàn bà bất hạnh để an ủi bà. Khi than khóc, có lúc bà đã nói: “phải chi trời thương cất một người đi thôi, còn đàng này đem hai cha con đi cùng một lúc”. Không ai cầm được nước mắt. Mãi tới hơn nửa đêm ngày hôm sau mới tìm được xác hai cha con.

Quê của bà tận ở gần Châu Đốc, cách quê tôi mấy chục cây số đường sông lớn. Vợ chồng và đứa con trai đi mua bán hàng bông, gặp sóng to gió lớn, vội cho ghe chạy vào bờ, thì gặp nạn trên sông.

Đây là một xóm dân nghèo, nhưng bà con xúm lại đóng góp tiền để mua hai chiếc quan tài, xăng dầu và cử người lái ghe đi đưa bà và xác chồng con về quê. Bà còn một đứa con nhỏ ở nhà. Ai cũng thương tình và giúp họ với tất cả khả năng của mình. Mấy ngày sau, dân làng vẫn còn nhắc đến gia đình người đàn bà bất hạnh xa lạ đó. Hãy đi và làm như vậy.

5. Dụ ngôn “Người Samaritanô Nhân Hậu” là một bài học quý giá để chúng ta soi dọi vào cuộc sống Kitô hữu của chúng ta hôm nay

Đọc dụ ngôn “Người Samaritanô Nhân Hậu” có thể khiến người đọc tự đặt mình vào vị trí các nhân vật trong câu chuyện, rồi xét suy cuộc sống của chính mình. Chắc chắn Chúa Giêsu mong muốn mỗi người tín hữu hãy tự xem mình và hành động như Người Samaritanô Nhân Hậu giúp người lâm nạn giữa đường cũng như cứu vớt những linh hồn lạc lõng. Chúa bảo người thông luật Pharisêu: “hãy đi và cứ làm như vậy để được sống đời đời” (Lc 10:37). Bằng cách này, chúng ta cùng tham gia với Chúa để mang lại sự cứu rỗi và cuộc sống vĩnh hằng cho nhân thế.

Những môn đệ theo Chúa, hàng giáo phẩm, các giáo sĩ, cũng có thể nghĩ mình chính là người chủ quán trọ với trách nhiệm chăm sóc để giúp người bị thương tích sớm hồi phục. Hoặc người đọc cũng có thể ví mình như người khách đi đường có nhu cầu cần sự trợ giúp, hay ví mình như các ông tư tế, Lêvi sống vì lề luật và cho lề luật, dửng dưng, làm ngơ trước những khổ đau của người đồng loại. Cũng có thể chúng ta đóng vai kẻ cướp vì đôi khi chúng ta làm phương hại gây tổn thương cho người khác. Nói khác đi, trong suốt cuộc đời của mỗi người tín hữu, lúc này hay lúc khác, chúng ta có thể hành động như các nhân vật trong câu chuyện người Samaritanô Nhân Hậu.

----------------------------------

 

TN 15-C194: Lề luật của Đức Kitô


Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng

 

Tin Mừng Lc 10: 25-37 Với dụ ngôn người Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết TN 15-C194


Tin Mừng Lc 10: 25-37 Với dụ ngôn người Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết thực thi tình yêu thương phục vụ tha nhân. Họ là những người đang ở bên chúng ta, đang hiện diện và đồng hành cùng chúng ta trong cuộc sống này. Họ vẫn đang hiện diện nhưng vì nhiều lý do cá nhân mà đôi mắt chúng ta xem ra đã không thấy họ.

Xem ra trong cuộc sống những gì ở gần nhất thì mình lại thờ ơ và dễ dàng quên lãng. Lời Chúa, lề luật của Thiên Chúa cũng ở ngay trong chính mỗi người không đâu xa, thế nhưng sống và giữ Lời Chúa, lề luật Chúa có lẽ lại là việc khó khăn. Thậm chí có người thờ ơ, quên lãng. Môsê khẳng định với dân chúng rằng Lời Chúa không ở đâu xa, không ở trên trời cũng như dưới biển nhưng ở ngay môi miệng và ngay trong lòng người. Với dụ ngôn người Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết thực thi tình yêu thương phục vụ tha nhân. Họ là những người đang ở bên chúng ta, đang hiện diện và đồng hành cùng chúng ta trong cuộc sống này. Họ vẫn đang hiện diện nhưng vì nhiều lý do cá nhân mà đôi mắt chúng ta xem ra đã không thấy họ.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA: Tin Mừng Lc 10,25-37

Ai là người thân cận?

Giới răn yêu thương đòi hỏi phải yêu mến Thiên Chúa như người Cha và yêu mọi người như chính mình. Thế nhưng, cần phải đi đâu để tìm kiếm người mình phải yêu thương. Dụ ngôn người Samaria nhân hậu sẽ giúp chúng ta hiểu rằng tình yêu phải mở rộng đến mọi người không loại trừ ai và tha nhân chính là những người chúng ta gặp gỡ tiếp xúc hằng ngày.

a. Lề luật của Do Thái giáo đã qui định rõ ràng phải yêu thương tha nhân. Tuy nhiên, những luật sĩ, người giải thích lề luật, lại tìm cách để giới hạn khái niệm về tha nhân là ai. Vấn đề này đã gây nhiều tranh cãi trong giới Rabbi. Theo quan niệm đương thời thì tha nhân là người đồng hương, đồng đạo còn người ngoại đạo là người ô uế, thờ ngẫu tượng thì không được đụng đến vì như thế là sai luật vì sẽ bị ô uế.

b. Người luật sĩ đến hỏi Chúa Giêsu để thử Người nhằm tìm cách bắt bẻ Người: Làm thế nào để được sống đời đời? Ai là người anh em để mình yêu thương? Ông muốn tranh luận về lý thuyết nhưng Chúa Giêsu đã hướng vấn đề theo ý Người. Điều cốt yếu không phải là biết ai là đối tượng của lòng yêu mến mà là có yêu thực sự hay không. Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến hành động vì tình yêu. Chính tình yêu làm cho chúng ta trở nên anh chị em của mọi người; mọi người, không phân biệt một ai, xuất thân từ đâu, đều trở nên anh chị em của mình. "Ai là anh em của tôi?" Câu trả lời không phải là một khái niệm lý thuyết trừu tượng từ sách vở mà là câu trả lời đến từ tình yêu sống động của tấm lòng mỗi người.

c. Người Samaria trong dụ ngôn dù là người ngoại đạo, không biết gì về lề luật như người Luật sĩ, cũng chẳng có tư cách của thầy trợ tế Lêvi hay thầy Tư tế. Thế nhưng, ông đã sống được giới răn quan trọng nhất của Chúa. Với Kitô hữu ngày nay, dụ ngôn giúp chúng ta đặt lại con tim và hành vi bác ái của mình: chúng ta đang yêu như thế nào? Tình yêu có giúp mình trở nên người của mọi người không?

II. GỢI Ý SUY NIỆM

1. Tìm kiếm và sống tình yêu giữa đời thường:

Trong thực tế tìm kiếm và sống đúng đòi hỏi của tình yêu không phải là điều đơn giản. Người luật sĩ chắc chắn am hiểu luật, thế nhưng, khi nhận được câu trả lời của Chúa hãy làm đúng luật yêu thương mà ông đã biết, ông lại tìm cách bào chữa cho mình. Ông bào chữa vì ông không thấy được đâu là đối tượng để ông yêu mến. Anh em tôi là ai? Người thân cận tôi là ai? Trong mắt người Do Thái thì đối tượng là những người tốt, người đồng đạo… nghĩa là có những đối tượng bị loại trừ khỏi con tim yêu thương của họ. Chúa Giêsu thì khác hẳn, một khi đã yêu thì không phân biệt một ai. Qua dụ ngôn người Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu đã khẳng định điều đó, anh em mình chính là những người khổ đau, nghèo đói, bệnh tật… chung quanh chúng ta. Đối tượng để chúng ta yêu mến không ở đâu xa mà ở ngay cạnh mình, trên đường mình đi, ngay nơi mình ở. Tìm kiếm và sống tình yêu ngay giữa đời thường của mình. Yêu đi rồi sẽ biết ai là anh em của mình hay nói cách khác chính tình yêu sẽ biến đổi mọi người thành anh chị em của nhau, thân thiết với nhau.

Với Kitô hữu hôm nay, câu chuyện Tin mừng gợi cho chúng ta cách sống đức tin của mình như thế nào? Nhất là mối tương quan tình yêu với mọi người chung quanh. Yêu mến Thiên Chúa trong nhà thờ không đủ nếu không yêu mến Ngài trên đường đi và trong anh chị em chung quanh. Dâng lễ mà không yêu người, đối với Thiên Chúa là điều không thể chấp nhận được.

2. Sự thờ ơ vô cảm của lòng người bóp chết tình yêu:

Chắc hẳn không phải ngẫu nhiên mà Chúa Giêsu trong dụ ngôn người Samaria nhân hậu đã đưa ra hình ảnh của thầy Trợ tế Lêvi và thầy Tư tế đối lập với người Samaria nhân hậu. Chắc chắn đó là sự kiện thường thấy trong sinh hoạt của người Do Thái lúc bấy giờ. Vì khi dùng dụ ngôn, Chúa Giêsu luôn lấy những hình ảnh đời thường để giúp mọi người hiểu chân lý đức tin. Ở đây không nhằm đi vào phân tích nguyên nhân tại sao họ có thái độ như thế, nhưng chủ ý muốn nói đến thái độ vô cảm thờ ơ của họ trước đau khổ của người khác. Họ là những người có luật, hiểu luật yêu thương thế mà họ lại không thực hiện; trong khi đó, người Samaria không biết luật đó, không biết đối tượng tình yêu của mình thì ông lại biết sống vì yêu.

Ngày nay, sự thờ ơ dửng dưng, thái độ vô cảm trước nỗi đau của anh em đồng loại xem ra là căn bệnh của thời đại, của nhiều người, trong đó có cả người Kitô hữu. Báo đài đã lên tiếng về vấn đề này trong mọi môi trường của cuộc sống. Thái độ ấy đã và đang bóp nghẹt lòng người; đã và đang đẩy biết bao người vào trong đau khổ bất hạnh; đã và đang làm phân hóa xã hội. Kitô hữu chúng ta sống và làm gì trước hiện tượng đó?

3. Tình yêu, con đường của sự sống: "Tôi phải làm gì để được sống đời đời?"

Đó là câu người Luật sĩ đã hỏi Chúa Giêsu, và câu trả lời của Chúa Giêsu thật là kinh điển dựa vào luật yêu thương: Ngươi hãy đi và làm như vậy. Câu trả lời kinh điển không thể khác hơn được, tình yêu đưa tới sự sống đó là chân lý của niềm tin Kitô giáo. Hình ảnh người Samaria trong dụ ngôn cho thấy một cách cụ thể tình yêu đã mang lại sự sống như thế nào. Nạn nhân bị cướp dọc đường nếu như không gặp được người Samaria mà chỉ gặp toàn những người như thầy Tư tế, Trợ tế thì chắn chắn anh ta không thể sống được, nhưng nhờ lòng bác ái mà anh đã được cứu sống. Chúa Giêsu chính là người Samaria nhân hậu đối với chúng ta. Người rời bỏ ngai tòa Thiên Chúa để đến cứu chữa, giải thoát chúng ta khỏi vết thương và sự chết do tội lỗi gây ra. Chúa đã đến vì yêu để cho chúng ta được sống và sống dồi dào. Ngày nay, đến lượt mỗi người Kitô hữu chúng ta phải tiếp tục là người Samaria bên cạnh tất cả những người chúng ta gặp trong cuộc sống mình.

Xã hội và con người bất hạnh khổ đau hôm nay có gặp được người Samaria nhân hậu hay không? Con người hôm nay có tìm được sự sống và hạnh phúc hay không? Câu trả lời cần đến trái tim nhân hậu của mọi người nói chung, và nhất là của Kitô hữu chúng ta. Những ai lâm cảnh thiếu thốn, khổ đau đều có quyền đòi Kitô hữu yêu thương bằng hành động cụ thể.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU

Mở đầu: Anh chị em thân mến, yêu thương là giới luật của Thiên Chúa. Ngài đã trọn tình yêu thương chúng ta. Trong tình yêu Thiên Chúa, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1. Chúa Giêsu đã thiết lạp Giáo hội để tiếp nối Người yêu thương chăm sóc nhân loại khổ đau. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo hội thực sự là nhà, là nơi mọi người tìm thấy được sự yêu thương chăm sóc và ủi an qua sự đón tiếp chân thành của mọi thành phần trong Giáo hội.

2. Ngày nay vì sự thờ ơ, vô cảm của lòng người, vì sự ích kỷ vụ lợi mà nhiều người, nhiều nơi trên thế giới phải rơi vào thảm cảnh của chiến tranh, đói khổ, lạc hậu. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo các quốc gia không chỉ lãnh đạo bằng sự khôn ngoan, tài trí mà còn bằng con tim biết yêu nước thương dân. Nhờ đó, mọi người được hưởng tự do, công lý và hòa bình.

3. Mến Chúa yêu người luôn là một đòi hỏi thúc bách của Chúa đối với Kitô hữu. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn biết sống yêu thương bằng hành động bác ái hy sinh cụ thể dành cho anh chị em. Xin cho mọi người được trở nên những người Samaria nhân hậu cho anh chị em chung quanh.

Lời kết: Lạy Thiên Chúa là tình yêu, Chúa luôn mời gọi chúng con yêu thương nhau. Xin Chúa gia tăng đức ái, giúp chúng con biết quan tâm, mau mắn, giúp đỡ anh chị em khó khăn bên cạnh với tất cả khả năng và tấm lòng của mình. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

-------------------------------

 

TN 15-C195: Suy niệm của Lm Anfonso

 

Tin Mừng Lc 10: 25-37 Điểm tin thời sự tháng 6/2019 vừa qua, đề tài được nhiều lượt xem nhất TN 15-C195


Tin Mừng Lc 10: 25-37 Điểm tin thời sự tháng 6/2019 vừa qua, đề tài được nhiều lượt xem nhất liên quan đến “tình người”. Tuy nhiên, hễ nói tới đề tài xưa nhưng không cũ này, người ta chỉ chú ý đến việc xấu, còn việc tốt thì mấy ai quan tâm...

Suy niệm:

Điểm tin thời sự tháng 6/2019 vừa qua, đề tài được nhiều lượt xem nhất liên quan đến “tình người”. Tuy nhiên, hễ nói tới đề tài xưa nhưng không cũ này, người ta chỉ chú ý đến việc xấu, còn việc tốt thì mấy ai quan tâm.

Cụ thể như vụ tai nạn giao thông tại một giao lộ quận Tân Phú, vào lúc 3h sáng một ngày cuối tháng sáu, chiếc xe máy chở đôi va chạm với chiếc xe con trên con đường vắng. Cú xe máy húc tạt sườn ô tô khiến họ bất tỉnh. Nhức nhối làm sao khi camera an ninh ghi hình lại trong khoảng 11 phút, có 5 chiếc xe con, 1 xe tải, hơn 40 xe máy, 1 xe đạp với gần 60 người đi qua nơi nạn nhân đang nằm nhưng rồi lại dửng dung bỏ đi. Có một thanh niên đi xe máy dừng lại nơi tai nạn, điện thoại gọi cho ai đó, một người đàn ông khác đi bộ đến gần giơ tay cô gái đang nằm sõng soài ra như kiểm tra còn sống hay không, sau đó quay ra nói chuyện với người đang gọi điện thoại. Tiếp tục có thêm 3 người đi bộ đến, nhưng tất cả đứng nhìn 2 nạn nhân nằm co giật. Khi người thanh niên co giật gượng dậy được thì cả nhóm 5 người bỏ đi.

Tại sao người ta không cư xử lá lành đùm lá rách? Cũng giống như người tư tế rồi đến trợ tế từ Giêrusalem đến Giêricô, đi ngang qua chỗ nạn nhân bị đánh và cướp bóc, họ thấy đó nhưng họ thấy nạn mà làm ngơ, đã tránh sang một bên và đi. Có phải chăng một hệ thống luật nặng nề làm cho người ta ngại giúp đỡ lẫn nhau, vì sợ ô uế, sợ liên lụy, sợ làm ơn bị mắc oán? Những điều ấy chỉ là một phần biện hộ, nhưng trên hết, điều cần nói tới đó là sự vô cảm khi người ta luôn sống ích kỷ, chỉ muốn cái gì cũng quy về mình, ngại đến với anh chị em.

Tuy nhiên, điều Chúa Giêsu dạy chúng ta không phải tìm xem ai là anh em của tôi mới giúp đỡ, không phải là đi ngang qua chỗ bị nạn và ngó xem số xe có quen không mới giúp, vì khi ấy là chúng ta đang dần sống quay lưng lại với sự thiện. Sự thiện mời gọi chúng ta dám dấn thân cho sự thật để đạt đến đức ái. Một lương tâm được huấn luyện để sống có tâm giúp chúng ta luôn được bình an dù có phải đánh đổi, dù có bị hiểu lầm đi nữa nhưng ta không hổ thẹn. Vâng, nếu không sự thật và sự thiện, người ta chỉ tìm kiếm và trang bị cho mình nét đẹp bên ngoài mà thiếu đi cái mỹ trong tâm hồn chúng ta luôn muốn vươn tới.

Và vàng có thử lửa thì mới thật là vàng, cùng trong tháng 6/2019 này, âm thầm nhưng tỏa sáng, đó là câu chuyện về bà Ngần có một người con bị tai nạn. Tại bệnh viện 103 ở Hà Nội, bác sĩ nói rằng người con bà bị chết não đến 99%, không còn cơ hội cứu sống. Tin như sét đánh ngang tai khiến người mẹ ngã quỵ. Nhưng rồi tất cả bất ngờ khi người mẹ ấy ký giấy hiến tạng người con mình cho y học. Năm con người xa lạ đã có được sự sống mới nhờ nội tạng của cậu con trai từ tim, hai quả thận đến giác mạc. Mặc cho tiếng thị phi của người đời cho rằng vì bà tham tiền mà bán nội tạng của con, không để con ra đi yên ổn khi được chết toàn thây, làm vậy là bất nhân, là thất đức. Nhưng với quyết định hiến tạng con cứu người của một lương tâm ngay lành, bà có được sự bình an trong tâm hồn khi nghĩ đây là cách duy nhất có thể giúp cho người con sẽ tiếp tục sống. Giờ đây bà có thêm năm người con gọi mẹ để tỏ lòng tri ân công đã tái sinh mình.

Thật vậy, Chúa Giêsu không trả lời cho người đến hỏi Chúa chứ “Ai là anh em của tôi”, mà Người để mỗi chúng ta tự trả lời để đi đến hành động khi nhận ra rằng tất cả những người cần giúp đỡ, họ là anh em của tôi để tôi không được dửng dưng trước người anh em đang cần đến, và đừng đợi người anh em nài nỉ bằng lời. Amen.

----------------------------

 

TN 15-C196: Tôi đã để đi qua


Lm Mark Link

 

Chủ đề: "Không phải mất công nhiều để đến với anh chị em đang đau khổ với lòng trắc ẩn, như TN 15-C196


Chủ đề: "Không phải mất công nhiều để đến với anh chị em đang đau khổ với lòng trắc ẩn, như Đức Giêsu đã làm."

Một bà đứng bên lề đường đang chờ đèn báo để sang đường. Đối diện với bà bên kia đường là một thiếu nữ khoảng 17 tuổi. Cô ta cũng đợi để sang đường. Bà không thể nào không thấy là thiếu nữ này đang khóc. Thật vậy, nỗi buồn của cô quá lớn đến nỗi cô không thèm giấu nó. Trong khoảnh khắc ánh mắt hai người gặp nhau. Dù chỉ là khoảnh khắc nhưng cũng đủ để bà thấy được sự đau khổ lớn lao ngập đầy đôi mắt người thiếu nữ. Cô gái xoay mặt nhìn chỗ khác.

Khi đèn báo bật sáng. Mỗi người bước khỏi lề và khởi sự bước sang đường. Khi thiếu nữ gần đến, người đàn bà có thể thấy cô thật xinh xắn, ngoại trừ nỗi buồn hiện rõ trên khuôn mặt.

Ngay khi hai người sắp sửa gặp nhau, bản năng làm mẹ của bà bỗng nhiên nổi dậy. Mọi thứ trong người bà như muốn đến với cô ta để an ủi cô.

Ao ước đó lại càng gia tăng vì người thiếu nữ này cũng trạc tuổi cô con gái của bà. Nhưng bà đã để cô đi qua. Ngay cả một lời thăm hỏi cũng không. Bà chỉ để cô đi qua mà không nói một lời. Nhiều giờ sau, đôi mắt ngập tràn đau khổ của cô gái vẫn tiếp tục ám ảnh bà. Bà luôn luôn tự hỏi, "Tại sao mình không quay lại hỏi thăm, 'Cưng ơi, tôi có thể giúp gì cho cô không?' Nhưng mình đã không làm vậy. Mình bước đi. Chắc chắc là cô ta có thể khước từ mình và nghĩ mình là người tò mò. Nhưng có sao đâu! "Chỉ mất có vài giây đồng hồ, nhưng vài giây đó cũng đủ cho cô ấy biết được là có ai đó quan tâm đến cô. Nhưng mình đã bỏ đi. Mình đã làm như thể cô ấy không hiện diện."

Câu chuyện có thật đó là một trong các câu chuyện cho thấy điều Đức Giêsu muốn nói trong dụ ngôn thật hay của bài phúc âm hôm nay. Đó là: Không phải mất công nhiều để đến với anh chị em đang đau khổ với lòng trắc ẩn. Để hiểu rõ hơn dụ ngôn của Đức Giêsu, chúng ta cần biết chút đỉnh về hoàn cảnh thời bấy giờ. Con đường trong dụ ngôn của Đức Giêsu không phải trong tưởng tượng. Thật vậy, đó là một con đường rất nổi tiếng. Đó là con đường duy nhất thời xưa đi từ Giêrusalem đến Giêrikhô. Lúc ấy con đường ngoằn ngoèo vì các tảng đá lớn. Hậu quả là con đường trở thành sào huyệt nổi tiếng của bọn cướp.

Một lá thư viết từ năm 171 AD than phiền với nhà chức trách về tội ác xảy ra trên con đường này. Có những hồ sơ lịch sử ghi nhận việc người đi đường phải nộp tiền mãi lộ cho bọn cướp để được yên ổn băng qua. Chính con đường nổi tiếng này đã làm khung cảnh thực tế cho dụ ngôn của Đức Giêsu về người Samari nhân hậu. Trong dụ ngôn, Đức Giêsu vẽ ra ba loại người khác nhau: một người tư tế, một thầy Lêvi, và một người Samari.

Trước hết, người tư tế. Có lẽ ông đang trên đường đến Giêrusalem để tế lễ trong Đền Thờ. Có lẽ ông nghĩ nạn nhân nằm bên vệ đường đã chết nên ông đi qua. Nếu một tư tế chạm đến xác người chết, ông bị nhiễm uế và tạm thời bị cấm không được vào Đền Thờ. Do đó, người tư tế không muốn dính dáng đến.

Kế đó là người Lêvi. Ông ta cũng giống như thầy phó tế ngày nay. Không rõ lý do tại sao ông lại bỏ qua. Có lẽ lý do của ông cũng giống như của người tư tế. Hoặc có lẽ ông sợ nạn nhân này chỉ giả vờ và sẽ tấn công ông nếu ông đến giúp. Do đó, thầy Lêvi cũng không muốn dính líu tới.

Sau cùng, đó là người Samari. Khi đề cao người Samari thành anh hùng trong dụ ngôn, Đức Giêsu chắc đã làm thính giả phải bàng hoàng sửng sốt, vì họ thường tránh xa người Samari như quân phản loạn không đạo đức đàng hoàng. Người Samari bị cấm không được vào Đền Thờ. Tiến lễ của họ bị từ chối, và lời chứng của họ không được chấp nhận ở toà án.

Nhưng Đức Giêsu biết việc Người làm khi đưa người Samari thành anh hùng trong câu chuyện. Người muốn dạy cho lớp thính giả Do Thái thấy rằng tình yêu thì không có biên giới. Tình yêu đến với mọi người đang có nhu cầu. Nó không bỏ qua. Nó dừng lại để giúp đỡ; nó muốn dính líu, bất kể người đó là ai.

Và điều đó đưa chúng ta trở lại câu chuyện của người phụ nữ và cô gái phiền muộn. Đến với cô ta và giúp đỡ cô ta thì thật dễ. Như chính bà đã nói: "Chỉ mất có vài giây đồng hồ, nhưng vài giây đó cũng đủ để cô ta biết là có ai đó lưu tâm đến cô." Và, nhiều khi, đó là điều mà tất cả những gì một người đau buồn muốn được biết.

Thường những gì họ cần thì không phải tốn nhiều sức lực của chúng ta, không phải mất nhiều thời giờ của chúng ta, không phải tốn kém nhiều tiền bạc của chúng ta. Thường tất cả những gì họ cần thì đơn giản là được thấy chúng ta lưu tâm đến họ.

Và dụ ngôn hôm nay mời gọi chúng ta hãy nhìn đến sự tương giao của chúng ta với người khác. Nó mời gọi chúng ta hãy tự hỏi chính mình: Chúng ta đáp ứng thế nào với nhu cầu của người khác? Chúng ta có dừng bước và sẵn sàng giúp đỡ họ không? Hay chúng ta bỏ đi, làm như họ không hiện diện?

Đặc biệt, chúng ta có thi hành điều này đối với các phần tử trong gia đình chúng ta hay không? Một dữ kiện buồn thảm của đời sống là đôi khi chúng ta đối xử với người lạ còn tốt hơn với người thân, như vợ chồng, cha mẹ, hay con cái.

Dụ ngôn hôm nay không mời gọi chúng ta đi ra xa, nguy hiểm đến tính mạng và trở thành anh hùng. Nó mời gọi chúng ta đến với người khác, liều mất sự tự cao tự đại của mình và trở nên nhân bản hơn. Nó mời gọi chúng ta lên tiếng hỏi, "Tôi có thể giúp gì không?" Và nếu lời ngỏ ý của chúng ta bị từ chối thì sao? Như người phụ nữ trong câu chuyện nó, "Thì có sao đâu!" Tối thiểu ai đó biết rằng chúng ta lưu tâm đến hộ. Tối thiểu ai đó biết rằng chúng ta đã ngỏ lời, "Tôi có thể giúp gì không?"

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con cặp mắt để nhìn thấy sự đau khổ trong ánh mắt của người khác, nhất là những người trong chính gia đình chúng con.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con đôi tai để nghe tiếng than khóc của người khác, nhất là những người cùng dòng máu với chúng con.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con lòng trắc ẩn để dám dính dáng đến nhu cầu của người khác, nhất là nhu cầu của những người thân yêu của chúng con.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con sự khiêm tốn đừng bao giờ bỏ qua vì sợ bị khước từ. Nhưng xin ban cho chúng con sự can đảm để đến với họ và hỏi họ, "Tôi có thể giúp gì không?"

-------------------------------

 

TN 15-C197: Hãy đi và làm như vậy


Huệ Minh

 

Tin Mừng Lc 10: 25-37 Trước mắt người Do Thái thì dân Samari thật đáng khinh miệt. Họ bị TN 15-C197


Tin Mừng Lc 10: 25-37 Trước mắt người Do Thái thì dân Samari thật đáng khinh miệt. Họ bị xem là người lai căng vì đã kết hôn với ngoại kiều, làm vẩn đục dòng máu tinh tuyền của tổ tiên Do Thái. Họ bị khinh miệt vì đã tôn thờ các tà thần ngoại lai. Thế nên người Do Thái xem người Samari như những người hạ cấp đáng bị tẩy chay...

Trước mắt người Do Thái thì dân Samari thật đáng khinh miệt. Họ bị xem là người lai căng vì đã kết hôn với ngoại kiều, làm vẩn đục dòng máu tinh tuyền của tổ tiên Do Thái. Họ bị khinh miệt vì đã tôn thờ các tà thần ngoại lai. Thế nên người Do Thái xem người Samari như những người hạ cấp đáng bị tẩy chay.

Thế nhưng hình ảnh của người Samari trong Tin Mừng hôm nay lại đẹp tuyệt vời. Giá trị của người đó gia tăng thật cao.

Câu chuyện rất hấp dẫn: Tại một khúc đường vắng từ Giêrusalem đến Giêricô có một khách bộ hành bị bọn cướp xông ra trấn lột hết tiền bạc của cải, lại còn đánh người ấy trọng thương nằm thoi thóp, nửa sống nửa chết giữa quảng đường hoang vắng.

Thế rồi, một tia hy vọng loé lên trong đầu óc nạn nhân khi anh ta thoáng thấy có một khách bộ hành đang từ xa đi tới. Khi người bộ hành gần đến, niềm hy vọng càng dâng cao vì đây là một vị tư tế, chắc chắn ngài sẽ đoái thương cứu chữa anh. Nhưng rồi vị tư tế cố tình rảo bước cho nhanh, lánh qua một bên rồi đi thẳng, để mặc anh nằm thoi thóp giữa đường.

Một lát sau, có một thầy trợ tế đi qua, niềm hy vọng của nạn nhân lại được bùng lên nhưng rồi vụt tắt, vì thầy trợ tế chỉ đảo mắt nhìn nạn nhân rên siết, rồi cũng vội vàng rảo bước cho nhanh. Có lẽ ông ta sợ rằng bọn cướp còn ẩn náu đâu đây, sẽ trấn lột hết những gì ông ta mang trên mình và sẽ đánh đập ông nhừ tử như người khốn khổ kia...

Cuối cùng, có tiếng lừa lộp cộp từ xa vẳng lại. Người thứ ba xuất hiện, một người dân Samari. Ôi thôi! Chẳng hy vọng gì nơi hạng người nầy, hạng người xưa nay vẫn mang tiếng là lai căng và rối đạo!

Thế nhưng thật bất ngờ, người Samari cho lừa dừng lại, bước xuống, cúi mình trên nạn nhân, cảm thương con người xấu số.

Qua câu chuyện người xứ Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu chỉ cho ta con đường dẫn đến sự sống đời đời.

Ta hãy xem xét khẳng định của Chúa Giêsu: Hãy yêu thương thì ngươi sẽ được sống. Đẳng thức yêu thương bằng được sống đối với chúng ta có hoàn toàn rõ ràng hay không? Nếu có, chúng ta hãy cảm tạ Chúa, giòng máu Tin Mừng đang chảy trong huyết quản của chúng ta. Nhưng đây là điều phải kiểm chứng.

Đôi khi trong cuộc sống chúng ta vẫn vô tâm như vậy. Nhiều người đã được sống hạnh phúc nhưng họ đâu biết rằng hạnh phúc của họ là nhờ sự chắt chiu từng hy sinh âm thầm của biết bao nhiêu người. Có thể đó là sự hy sinh không mệt mỏi của cha, của mẹ từng ngày vất vả trên nương đồng, hay trên công trường. Có thể đó là sự hy sinh nhịn nhục của những người thân chịu thiệt thòi để họ được hạnh phúc. Có thể đó là sự hy sinh nhường nhịn của bạn bè để họ được vui hơn trong cuộc sống. Thế mà, nhiều người vẫn tưởng rằng mình lớn lên không cần ai giúp đỡ. Lối suy nghĩ đó đã dẫn đến một đời sống ích kỷ, hẹp hòi, một lối sống dửng dưng đến xa lạ với đồng loại.

Ở đời vẫn còn đó biết bao người chắt chiu từng hạt gạo, gom góp từng miếng vải để giúp kẻ cơ hàn. Cuộc đời vẫn còn đó biết bao người hy sinh cả cuộc sống mình để phục vụ các bệnh nhân, nhất là các bệnh nhân nan y. Vẫn còn đó cả hàng triệu người đang đổ mồ hôi vật vã trên công trường, trên nương đồng để làm ra của cải và sản phẩm cho hàng tỉ người trên trái đất hưởng dùng.

Vâng, cuộc đời vẫn còn đó biết bao người biết hy sinh vì tha nhân, biết kiến tạo niềm vui trong những giọt mồ hôi lao nhọc để phục vụ tha nhân. Thế nhưng, giòng đời vẫn còn đó những trái tim khô cằn, những tâm hồn lạnh nhạt đến dửng dưng với nỗi đau của đồng loại. Họ đâu biết rằng cuộc đời của họ đang bị cuốn trôi theo một giòng chảy của trần đời. Họ được đón nhận thì cũng phải biết trao ban. Vì chẳng ai có thể giữ mãi cho mình được điều gì mãi mãi. Tất cả những gì mình có rồi một mai cũng bị cuốn trôi theo thời gian.

Khi Chúa Giêsu nói đến yêu thương ở đây, đây không phải là một trong những niềm đam mê, tình yêu hoặc tình bạn, là những thứ đưa chúng ta lên chín tầng mây, mà là tình yêu thương anh em rất có tính cách bó buộc, cụ thể. "Phải làm điều đó!". Và đây không luôn luôn là điều làm thích thú.

Người Samari đã chọn một cuộc sống hao tổn và nồng nhiệt. Trong khi thấy người đàn ông nằm đó, ông có lẽ đã cảm thấy cần phải đi qua cho nhanh, nhưng sức mạnh của cuộc sống của ông chiến thắng những vấn nạn đang đến với ông, Chúa Giêsu nói: ông động lòng thương và ông làm mọi sự cần thiết. Ông không quên gì cả, cho mà không tính toán. Không chờ đợi một lời cảm ơn nào và có lẽ vừa đi vừa hát lâm râm, hạnh phúc vì đã làm một người sẵn sàng phục vụ con người. Hai người kia sẽ tiếp tục sống lay lắt. Còn người Samari, ông đang sống triệt để. Chúa Giêsu nói: "Hãy yêu thương thì ngươi sẽ được sống".

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và nhà thông luật hôm nay phần nào cũng có thể được ta hiểu theo viễn tượng của kinh nghiệm nhỏ của tuổi thơ tôi ngày xưa. Người luật sĩ đến với Chúa Giêsu để tìm câu trả lời cho thắc mắc quan trọng nhất của cuộc đời: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sống đời đời?". Và đây cũng là thắc mắc của mọi người, không ai có thể dập tắt được câu hỏi này trong tâm hồn họ. Tạm thời, họ có thể dẹp qua một bên câu hỏi này, vì những lo toan cho cuộc sống hoặc vì những mê lợi của lợi danh, của quyền lực... Nhưng rồi vào lúc nào đó con người và mỗi người chúng ta cũng sẽ phải đặt ra cho mình câu hỏi này: "Tôi sống đây để làm gì? Và tôi phải làm gì để được sống đời đời?".

Người tín hữu Kitô chỉ thực sự là con Chúa khi họ dám tiêu hao vì người khác. Mẹ Têrêxa Calcutta nói: "Kitô hữu là người trao ban chính bản thân mình".

Yêu rồi làm. Khi đã yêu rồi chúng ta sẽ biết phải làm gì cho người anh em. Khi đã yêu rồi chúng ta sẽ có sáng kiến để xả thân vì mọi người, nhất là những người nghèo hèn đau khổ. Khi đã yêu rồi, chúng ta sẽ biết cách làm cho kẻ xa lạ nên người thân cận, kẻ thù địch nên người bạn tốt, chỉ cần chúng ta dám dừng lại, đến gần và cúi xuống trước anh em.

Chúa Giêsu đã phải dùng dụ ngôn người Samaritanô nhân lành để soi sáng cho nhà thông thái, để rồi rốt cuộc như thể chính ông cũng khám phá ra được chân lý. Chúa Giêsu không đặt vấn đề như nhà thông thái: "Ai là người thân cận của tôi", mà Ngài đã đặt lại vấn đề: "Ai đã trở nên người thân cận của người anh em bị nạn kia", và nhà thông thái đã trả lời đúng: "Thưa là kẻ đã tỏ ra lòng thương đối với người đó".

Tâm hồn cần có tình thương, nhất là cần được đầy tràn tình thương của Chúa thì mới dễ dàng trở thành tâm hồn thân cận của mọi người, trở thành người anh chị em của mọi người, bất luận người đó là ai. Không phải dễ thực hiện sáu chữ của Chúa Giêsu cho nhà thông thái: "Hãy đi và làm như vậy".

Người Samaria là một anh chàng không có đạo, mà không có đạo cũng đồng nghĩa với không thể sống bác ái lương thiện. Quan niệm Do Thái hẹp hòi và thiển cận ấy, như một mẫu mực để những ai muốn có cuộc sống đời đời phải nhìn đó mà noi theo. Người Samaria ngoại đạo đã trổi vượt hơn những người chính thống, đạo đức nhất của xã hội và Giáo Hội lúc bấy giờ là thầy Lêvi và vị tư tế. Trổi vượt trong lãnh vực yêu thương, cứu giúp những người gặp vận nạn hiểm nguy trong cuộc sống. Còn chúng ta thì sao?

Xã hội ngày nay có nhiều kẻ thờ ơ với tha nhân, nhưng những người Samaria hiện đại cũng không thiếu. Họ có khi mang danh hiệu Kitô hữu, có khi mang danh hiệu Phật tử, có khi mang danh hiệu cộng sản và có khi chẳng mang một danh hiệu nào cả. Nhưng họ giống như Đức Kitô đã sống và họ tiếp cận được với Thiên Chúa cũng như với tha nhân. Vậy thì để trở nên những người Samaria thời buổi hôm nay, chúng ta đã thực sự có được một trái tim mở rộng, một thái độ quan tâm đến mọi người, mọi việc kế cận với chúng ta hay chưa?

-----------------------------
 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

http://www.giaoxugiaohovietnam.com/
Giáo phận long xuyên
Chuyen ke cho cac gia dinh
Chuyện kể cho các gia đình
Báo công giáo
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây