Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Kính Mình Máu Chúa Kitô ABC Bài 151-200 Dấu Chỉ của Tình Yêu

Thứ tư - 30/05/2018 11:56
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Kính Mình Máu Chúa Kitô ABC Bài 151-200 Dấu Chỉ của Tình Yêu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Kính Mình Máu Chúa Kitô ABC Bài 151-200 Dấu Chỉ của Tình Yêu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Kính Mình Máu Chúa Kitô ABC Bài 151-200 Dấu Chỉ của Tình Yêu

-----------------------
THÁNHTHỂ-151: SỰ SỐNG PHÁT XUẤT TỪ VIỆC TRAO BAN SỰ SỐNG.. 2
THÁNHTHỂ-152: Ta Không Kết Án Con - Msgr. Peter Nguyễn Văn Tài 7
THÁNHTHỂ-153: CHỦ NHẬT LỄ MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KI-TÔ.. 8
THÁNHTHỂ-154: CHUÂN BỊ TIỆC VƯỢT QUA VÀ KHAI MẠC.. 10
THÁNHTHỂ-155: MÌNH VÀ MÁU ĐỨC GIÊSU ĐÓNG DẤU GIAO ƯỚC.. 16
THÁNHTHỂ-156: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ.. 23
THÁNHTHỂ-157: MẦU NHIỆM ĐỨC TIN.. 27
THÁNHTHỂ-158: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KI TÔ.. 31
THÁNHTHỂ-159: TRAO BAN ĐẾN TẬN CÙNG - Lm. Ignatiô Trần Ngà. 38
THÁNHTHỂ-160: TÌNH YÊU TUYỆT VỜI 40
THÁNHTHỂ-161: MÁU GIAO ƯỚC - Lm LG Đặng Quang Tiến. 42
THÁNHTHỂ-162: LỄ MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA, NĂM B.. 44
THÁNHTHỂ-163: THÁNH THỂ, BẢO CHỨNG TÌNH YÊU.. 46
THÁNHTHỂ-164: MÁU GIAO ƯỚC - Lm. Giuse Đổ Văn Lực, OP. 53
THÁNHTHỂ-165: GIAO ƯỚC TRONG MÁU.. 55
THÁNHTHỂ-166: MẦU NHIỆM HÀM CỨA TRONG BÍ TÍCH TÌNH YÊU.. 58
THÁNHTHỂ-167: KỲ CỤC HAY KỲ DIỆU.. 62
THÁNHTHỂ-168: Tình yêu và sự sống. 64
THÁNHTHỂ-169: MÌNH MÁU THÁNH CHÚA.. 65
THÁNHTHỂ-170:  Kết hiệp với Đức Kitô và với nhau. 67
THÁNHTHỂ-171: Đây là đất thánh - Arthur Tone. 68
THÁNHTHỂ-172:  Chú giải của William Barclay. 70
THÁNHTHỂ-173: Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux. 75
THÁNHTHỂ-174:  Chú giải của Noel Quesson. 79
THÁNHTHỂ-175: Chú giải của Fiches Dominicales. 83
THÁNHTHỂ-176:  Gợi ý bài giảng của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 87
THÁNHTHỂ-177:  NÀY LÀ MÁU TA.. 88
THÁNHTHỂ-178: THÁNH LỄ TRONG NHÀ THỜ VÀ THÁNH LỄ NGOÀI 90
THÁNHTHỂ-179: THÁNH THỂ DẤU CHỈ TÌNH YÊU.. 93
THÁNHTHỂ-180: CHÍNH ANH EM HÃY CHO HỌ ĂN”. 95
THÁNHTHỂ-181: CHẠNH LÒNG THƯƠNG.. 98
THÁNHTHỂ-182: HÓA BÁNH RA NHIỀU.. 101
THÁNHTHỂ-183: CHÚA NHẬT MÌNH MÁU CHÚA KITÔ.. 102
THÁNHTHỂ-184: BỮA TIỆC TÌNH YÊU.. 104
THÁNHTHỂ-185: BỮA TIỆC THẦN THIÊNG.. 106
THÁNHTHỂ-186: BÍ TÍCH TÌNH YÊU.. 107
THÁNHTHỂ-187:  Thánh Thể – Lm. John Nguyễn. 109
THÁNHTHỂ-188: Từ bàn tiệc của Chúa đến bàn ăn của anh em.. 111
THÁNHTHỂ-189: Lương thực hằng ngày – McCarthy. 113
THÁNHTHỂ-190: Chú giải của William Barclay. 114
THÁNHTHỂ-191: Chú giải mục vụ của Hugues Cousin. 116
THÁNHTHỂ-192: Chú giải của Noel Quesson. 118
THÁNHTHỂ-193: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA 2001. 122
THÁNHTHỂ-194: Chúa Nhật lễ Mình Máu Thánh. 123
THÁNHTHỂ-195: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA.. 127
THÁNHTHỂ-196: LỄ KÍNH MÌNH MÁU THÁNH CHÚA.. 130
THÁNHTHỂ-197: BỊ THÔI THÚC LÊN CƠN.. 133
THÁNHTHỂ-198: Ăn «bánh trường sinh» là gì? bằng cách nào?. 136
THÁNHTHỂ-199: THÁNH THỂ, BÍ TÍCH TÌNH YÊU.. 140
THÁNHTHỂ-200: Bánh Sự Sống phải chăng là Lương Thực Hằng Ngày?. 143

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-151: SỰ SỐNG PHÁT XUẤT TỪ VIỆC TRAO BAN SỰ SỐNG


 (Gioan 6,51-58 – Mình Máu Thánh - A; CN XX TN - B)

Lm PX Vũ Phan Long, ofm

1.- Ngữ cảnh

 

Đoạn văn này nằm trong Phần I của Tin Mừng Gioan (“Sách các Dấu lạ”, ch. 2-12) nói về “Bánh:THÁNHTHỂ-151


Đoạn văn này nằm trong Phần I của Tin Mừng Gioan (“Sách các Dấu lạ”, ch. 2–12) nói về “Bánh trường sinh” (6,1-71).

Nói chính xác, bài diễn từ “Bánh trường sinh” bắt đầu từ c. 25 và được kết cấu thành năm vòng tròn, mỗi vòng bắt đầu bằng một câu nói của Đức Giêsu và một vấn nạn của người Do-thái: a) 6,25; b) 6,28; c) 6,34; d) 6,41; e) 6,52. Cứ một câu hỏi của người Do-thái lại đưa Đức Giêsu đến một mạc khải mới về mầu nhiệm bản thân Người; mạc khải này càng gây thắc mắc cho người Do-thái hơn. Năm vòng tròn này chuyển theo hình trôn ốc, đưa đến chọn lựa cuối cùng: bỏ Đức Giêsu (6,66) hoặc tiếp tục gắn bó với Người (6,69).

2.- Bố cục

Bản văn có thể được chia thành bốn đơn vị:

1) Đề tài được xác định lần ba (x. cc. 35 và 48): “Tôi là bánh hằng sống” (6;51);
2) Thắc mắc của người Do-thái (6,52);
3) Triển khai đề tài (6,53-56);
4) Nền tảng của đề tài (6,57-58. Câu 58a nhắc lại c. 51a).

3.- Vài điểm chú giải

- từ trời xuống (51): hàm ý mầu nhiệm Nhập Thể.
- bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây (51): Chúng ta có thể tự hỏi vì sao tác giả Gioan không dùng từ ngữ “thân thể” (sôma) mà lại dùng từ “thịt” (sarx), nhất là khi mà từ sôma đã trở thành từ quen thuộc trong văn chương Tân Ước để gọi Bí Tích Thánh Thể (x. Mc 14,22; Mt 26,26; Lc 22,19; 1 Cr 11,24). Đồng ý là trong bữa tiệc cuối cùng, hẳn là Đức Giêsu đã sử dụng từ a-ram besar (híp-ri bâsâr), và từ này, cho dù chỉ “thân thể”, vẫn được ưu tiên dịch ra bằng sarx, “thịt”, trong bản dịch LXX. Nhưng thông thường, Ga cũng không mấy để ý đến từ Hy-lạp chính xác. Ở đây hẳn phải có lý do khác.

Sarx đúng là từ để dịch besar. Nhưng sarx không chỉ có nghĩa là “thịt” là còn có nghĩa là “toàn thân thể”; “toàn thể con người [theo nghĩa là có quan hệ với người chung quanh; x. 1,14]”. Để diễn tả các sắc thái này, ngôn ngữ Hy-lạp có khả năng tinh tế hơn tiếng A-ram.  Nhưng trong Do-thái giáo sau này, người ta đã chọn dịch bâsâr là sôma, cho dù trong Tân Ước, đôi khi người ta dùng cả hai từ. Nhưng để nói về Bí Tích Thánh Thể, từ sôma đã được chọn, ngoại trừ một vài bản văn sau thời các tông đồ, được viết dưới ảnh hưởng của Ga 6, đã dùng từ sarx (vd: thánh Inhaxiô Antiôkhia, thánh Giúttinô…). Như thế, dù trong Họi Thánh tiên khởi, đã có một từ nhất định để gọi Bí Tích Thánh Thể, nếu Ga vẫn giữ lại từ sarx, là vì sarx-thịt có trong ngôn ngữ A-ram một ý nghĩa rộng hơn sôma-thân thể. Đàng khác, trong Ga, sôma được dùng để gọi một xác chết: làm thế nào một xác chết có thể ban sự sống? Ngược lại, “thịt” vừa có nghĩa là toàn thể con người vừa có nghĩa là thân thể, và “hai nghĩa trong một” này rất lý tưởng để gợi ra một trật cái chết trên thập giá và Bí Tích Thánh Thể. Bởi vì ý nghĩa căn bản và tại nguồn của “thịt mà Con Người sẽ ban” không phải là Bí Tích Thánh Thể, mà là “chính bản thân” Người trong cái chết trên thập giá. Vậy, khi Đức Giêsu nói về “thịt của Người để cho thế gian được sống”, Người muốn nói đến “bản thân Người” (chịu sát tế) để cho thế gian được sống”.  

- làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt (52): Đại danh từ Hy-lạp “ông này” hàm ý khinh bỉ (x. c. 42). Trong Kinh Thánh, “ăn thịt ai” là một công thức bóng bảy để diễn tả sự thù nghịch (x. Tv 27,2; Dcr 11,9). Còn việc uống máu bị coi như một việc ghê tởm bị luật Thiên Chúa cấm (St 9,4; Lv 3,17; Đnl 12,23; Cv 15,20).

- ăn ... uống (53): Hai động từ Hy-lạp này (esthiein và pinein) là những hành vi rất cụ thể để nuôi dưỡng thân xác.

- thịt ... máu (53): Thành ngữ Híp-ri “thịt và máu” có nghĩa là toàn thể con người. Vào thời phong trào Cải Cách (tk. xvi), người ta đã tranh luận là có cần nhận Thánh Thể dưới hai hình không. Tất cả những gì có thể rút ra từ bản văn này là: cần phải nhận trọn vẹn Đức Kitô.

- Ai ăn (54 và 57): Động từ “ăn” ở đây là trôgein (bản văn tiếng Anh dịch là feed) chứ không phải là esthiein như ở trên, để diễn tả một hành động rất cụ thể: “nhai bằng răng”. Động từ này nêu bật tính hiện thực của Bí Tích Thánh Thể.

- ở lại (56): Đọng từ menein (remain; rester) là một động từ quan trọng của Tin Mừng Ga (x. chương 15: “Cây nho thật”; động từ này được dùng trong TMNL: 12 lần; Ga: 40 lần; 1-3 Ga: 27 lần; Kh: 1 lần). Tác giả Ga thích dùng động từ này để diễn tả quan hệ trường tồn giữa Chúa Cha và Chúa Con và giữa Chúa Con và các Kitô hữu. Ở trong Cựu Ước, “trường tồn” là một đặc điểm của Thiên Chúa và của những thứ thuộc về Thiên Chúa (x. Đn 6,26; Kn 7,27; 1 Pr 1,25), đối lại với đặc tính tạm bợ, chóng qua của con người. Tuy nhiên, TM Ga còn dùng một công thức là “ở trong” (menein en) để nói về tính nội tại liên kết Chúa Cha, Chúa Con và các Kitô hữu lại với nhau: như Con ở trong Cha, và Cha ở trong Con (14,10-11), thì Con cũng ở trong loài người, và loài người phải ở trong Cha và trong Con (17,21.23).

- kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống (57): Bí Tích Thánh Thể thông ban cho các tín hữu sự sống mà Chúa Con nhận từ nơi Chúa Cha.
- chết (58): Đây là cái chết thể lý đối lại với sự sống thiêng liêng.

4.- Ý nghĩa của bản văn

Trong tư cách là Con Thiên Chúa được Chúa Cha sai đến, Đức Giêsu kêu gọi chúng ta hiệp thông vào sự sống với Người. Nếu chúng ta tin vào Người, chúng ta được đi vào trong sự sống với Người, trong sự sống vĩnh cửu. Ở đây Người giải thích cặn kẽ Người là bánh ban sự sống cho chúng ta như thế nào: Trong cái chết trên thập giá, Người hiến mình cho thế gian được sống và Người ban cho chúng ta thịt và máu Người làm của ăn của uống.

* Xác định đề tài (51)

Đề tài đã được xác định ở cc. 35 và 48, nay lại được nhắc lại, nhưng mang ý nghĩa phong phú hơn, bởi vì đã được triển khai hai đợt (cc. 35-47 và cc. 48-50). Khi nói “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (c. 51a), Đức Giêsu tóm ý nghĩa của dấu chỉ hóa bánh ra nhiều. Chính bản thân Người là sức sống thiên quốc và thần linh, tuyệt đối không thể cạn kiệt. Ai đi vào tương quan đúng đắn với Người thì được thông phần vào sự sống muôn đời. Trong câu “Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (51b) chứa đựng những yếu tố sẽ được triển khai sau này. Cho đến nay, các lời Đức Giêsu nói chỉ giới thiệu tổng quát rằng Người là bánh ban sự sống; nhưng bây giờ Người nói rằng trong tương lai, Người sẽ ban bánh. Bánh ấy chính là thịt Người, hoặc là chính bản thân Người với trọn vẹn cuộc sống con người. Người đã đưa nhân tính của Người ra mà phục vụ sự sống của thế giới, của tất cả mọi người không loại trừ ai.

* Thắc mắc của người Do-thái (52)

Người Do-thái bị vấp phạm nặng nề vì lời khẳng định của Đức Giêsu: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”. Với mức độ Đức Giêsu mạc khải rõ ràng hơn, sự đối kháng cũng tăng theo. Lúc đầu, còn là những xầm xì, nay đã trở thành tranh luận. Nếu ráng ép, thì cũng có thể hiểu lời khẳng định của Đức Giêsu theo nghĩa ẩn dụ: ăn và uống đây chính là học hỏi Lề Luật. Nhưng dựa theo giọng điệu của Đức Giêsu, những lời Người nói, người Do-thái đã hiểu rằng phải hiểu mọi sự theo nghĩa chữ. Và theo họ, như thế là phi lý.  

* Triển khai đề tài (53-56)

Đức Giêsu đã dùng ngôn ngữ hiện thực, thậm chí sống sượng (“ăn”, trôgein) để diễn tả tính hiện thực của Bí tích Thánh Thể. Để được thông phần vào sự sống muôn đời, cần phải ăn thịt Con Người và uống máu Người. Cùng với thịt, bây giờ còn có máu nữa: Đức Giêsu nhắc đến chính cái chết thảm khốc của Người trên thập giá, được tượng trưng bàng từ ngữ “máu”. Trong bánh, là thịt Người, và trong rượu, là máu Người, Người sẽ ban tặng chính bản thân Người như Đấng đã trao ban mạng sống trên thập giá. Các tặng phẩm Thánh Thể có nền tảng là chính cái chết của Đức Giêsu trên thập giá, trong hành vi Người hiến tặng mạng sống để cho thế gian được sống, như bằng chứng tối cao về tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người. Đức Giêsu, Đấng hiến mạng sống trên thập giá, cũng ban thịt Người như là của ăn và máu Người như là của uống. Thịt và máu này là một bằng chứng tối hậu về tình yêu của Người và là bảo chứng về tình yêu mà Người chứng tỏ khi hy sinh mạng sống.

Ai lấy đức tin mà đón nhận quà tặng này, thì cũng tuyên xưng Đấng Chịu đóng đinh với tình yêu của Người là nguồn mạch ban sự sống, và sẽ được thông phần vào sự sống của Người, cũng là hiêp thông với Người: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (6,54). Một lần nữa, Đức Giêsu lại khẳng định rõ ràng rằng sự sống đời đời và hiệp thông cá nhân với Người chỉ là một. Với người ăn thịt và uống máu Người, Đức Giêsu hứa: “[Người ấy] được sống muôn đời (c. 54)” và “người ấy … ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (c. 56). Ở lại trong nhau có nghĩa là trao đổi hỗ tương trọn vẹn và kết hợp với nhau chặt chẽ nhất. Dụ ngôn cây nho và các cành sẽ làm sáng tỏ thêm nữa ý nghĩa này (x. 15,1-17).    

* Nền tảng của đề tài (57-58)

Chúa Cha chính là nguồn phát xuất ra mọi sự: Ngài gửi Chúa Con đến với loài người như là “bánh ban sự sống” (6,32.44), nhưng cũng dẫn đưa loài người đến với Đức Giêsu trong tư cách là “bánh ban sự sống” (6,37.44.65). Thiên Chúa là Cha “hằng sống”, là chính sự sống, là sức sống viên mãn không bao giờ cạn kiệt, là Thiên Chúa hằng sống. Đức Giêsu được sai phái đi bởi Chúa Cha và có sự sống bởi Chúa Cha; Người cũng có thể thông ban sự sống thần linh. Bánh ban sự sống đến từ Chúa Cha hằng sống và nhận từ Chúa Cha tất cả sức mạnh ban sự sống. Bởi vì Người phát xuất từ Chúa Cha hằng sống, Đức Giêsu là bánh ban sự sống, là bánh từ trời xuống.

+ Kết luận

          Đức Giêsu đã đến để cứu độ thế gian (3,17), Người là Đấng “Cứu độ trần gian” (4,42). Người đã hy sinh chính mạng sống, để đưa lại sự sống cho thế gian. Do đó, không ai bị loại trừ cả.

          Bí Tích Thánh Thể là bữa tiệc Thiên Chúa đặt để thết đãi loài người. Bàn thờ dâng lễ cũng chính là bàn tiệc, nơi thịt và máu Đức Kitô được chuyển đến cho các thực khách làm thức ăn thức uống. Mọi người đều được mời gọi đến bàn tiệc này. Lương thực là chính Đức Giêsu, mà Người ban cho chúng ta, không được dùng để duy trì sự sống trần gian hoặc ngăn cản cái chết thể lý. Chính Đức Giêsu cũng đã chết, khi trao hiến thịt và máu trên thập giá. Nhưng cũng chính Người, là bánh ban sự sống, sẽ ban sự sống muôn đời, sự sống này không mai mọt đi trong cái chết và sẽ được viên mãn trong ngày sống lại.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Nhận lấy Mình Máu thánh Đức Kitô, trước tiên là nhận biết Chúa Cha là nguồn ban cho chúng ta ơn cao trọng ấy. Đức Giêsu đã nhiều lần nói với chúng ta về Chúa Cha như về Đấng ban cho chúng ta tất cả mọi sự. Chúa Cha sai Con đến với loài người như là “bánh ban sự sống” (6,32.44), nhưng Chúa Cha cũng dẫn đưa loài người đến với Đức Giêsu, “bánh ban sự sống” (6,37.44.65). Đức Giêsu cũng nói về Chúa Cha: “Ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (6,40). Người cũng nói rằng tất cả những gì Người ban như là ân huệ riêng, thì có nền tảng là chính Chúa Cha (6,57). Thiên Chúa là Cha hằng sống, là chính sự sống, là sinh lực viên mãn. Như thế, khi đến với Tiệc Thánh Thể, chúng ta cần nhớ rằng chính Chúa Cha đang dẫn chúng ta đến để ban cho chúng ta lương thực là chính Con Một của Ngài.

2. Nếu chúng ta ăn thịt và uống máu Đức Giêsu, chúng ta đón nhận các quà tặng của chính Người và tuyên xưng niềm tin rằng Người hiện diện trong bánh và rượu đã được truyền phép và chỉ nhờ Người, Đấng được giương cao và chịu đóng đinh, chúng ta mới có sự sống đời đời. Khi đó, chúng ta cũng được mời gọi nhận ra rằng Thịt và Máu Người chính là bằng chứng cao cả nhất về tình yêu của Chúa Cha và của chính Người đối với nhân loại, đồng thời cũng là bảo chứng về sự sống đời mà Người muốn ban cho chúng ta.

3. Ăn Thịt Đức Giêsu, hoặc ăn chính Đức Giêsu, trong Bí Tích Thánh Thể, là cách thức duy nhất giúp tránh được tình trạng suy nhược thiêng liêng và cái chết. Ăn Đức Kitô, chính là sống nhờ Đức Kitô. Nếu chúng ta hiệp thông đều đặn vào sự sống của Người, chúng ta đã được đặt để trong tình trạng ơn nghĩa, và tình trạng này sẽ triển nở thành vinh quang trong cuộc sống vĩnh cửu.

4. Đã hiệp thông vào Thịt và Máu Đức Kitô, chúng ta trở thành “Đức Kitô toàn thể”. Do đó, chúng ta cũng phải trở thành “lương thực” nuôi dưỡng anh chị em chúng ta. Mãi mãi chúng ta sẽ thấy mình bất xứng, muốn co lại, khép kín trên chính mình, nên cứ phải để cho Đức Giêsu giúp biết hy sinh hầu phục vụ sự sống của anh chị em mình. “Hồng ân Chúa Kitô và Thánh Thần của Người mà chúng ta lãnh nhận trong việc hiệp lễ hoàn tất cách sung mãn tuyệt vời những ước muốn hiệp nhất huynh đệ đang ngự trị trong tâm hồn con người, đồng thời nâng cao kinh nghiệm về tình huynh đệ trong việc tham dự chung vào cùng một bàn tiệc Thánh Thể đến một mức độ vượt hẳn kinh nghiệm đồng bàn đơn thường của con người” (Thông điệp Giáo Hội từ Bí Tích Thánh Thể, 24).
(www.kinhthanhvn.org)

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-152: Ta Không Kết Án Con - Msgr. Peter Nguyễn Văn Tài

 

Tại nhà thờ chánh tòa Wurzburg trong miền Baviere, Tây Đức, có một tượng thánh giá rất:THÁNHTHỂ-152


Tại nhà thờ chánh tòa Wurzburg trong miền Baviere, Tây Ðức, có một tượng thánh giá rất nổi tiếng được chạm trổ vào khoảng thế kỷ 14.  Trên những tượng thánh giá, thông thường đôi tay Chúa Giêsu giang ra và bị đóng vào gỗ giá.  Riêng đôi tay của Chúa Giêsu trên tượng thánh giá tại nhà thờ chánh tòa Wurzburg thì khác hẳn: thay vào bị giang ra và bị đóng vào gỗ giá, hai cánh tay của Chúa lại khoanh trước trái tim như thể đang ôm vào lòng một người nào đó.

Người dân địa phương truyền tụng rằng trong cuộc chiến tranh tôn giáo giữa tin lành và công giáo vào giữa thế kỷ 17, một người lính chống công giáo đã vào nhà thờ này. Nhìn thấy trên đầu Thiên Chúa có một triều thiên bằng vàng, anh sinh lòng tham, bắc thang leo lên để đánh cắp. Khi anh vừa đưa tay tháo gỡ triều thiên thì đôi cánh tay của Chúa Giêsu bỗng được tháo gỡ. Chúa Giêsu giang tay ôm trọn lấy anh vào lòng, với tất cả trìu mến. Người lính chết lịm trong vòng tay âu yếm của Chúa Giêsu.

Người ta tìm thấy xác của anh dưới chân thánh giá!

Kể từ ngày đó, hai cánh tay của Chúa Giêsu không còn giang ra và bị đóng vào lỗ đinh nữa, nhưng được khoanh trước trái tim trong tư thế đang ôm chầm lấy một người nào đó.

Du khách nhìn lên thập giá đều có cảm tưởng như ánh mắt của Chúa Giêsu nhìn mình và nghe có tiếng thì thầm: "Ta không hề kết án con".

"Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài", đó là chân lý cơ bản nhất trong Kitô giáo. Tất cả cuộc đời của Chúa Giêsu, cái chết của Ngài trên thập giá: đó là ngôn ngữ qua đó muốn nói với chúng ta rằng Ngài yêu thương chúng ta, yêu thương đến nỗi sẵn sàng để cho Người Con Một của Ngài chết thay cho chúng ta.

Thiên Chúa yêu thương con người: điều đó không có nghĩa là Ngài yêu thương con người một cách trìu tượng, yêu thương con người như một đám đông hay như một con số. Thiên Chúa yêu thương con người bằng một tình yêu cá biệt, nghĩa là mỗi người chúng ta đối với Ngài như thể là người duy nhất hiện hữu trên trần gian này. Mỗi người là một lịch sử, mỗi người chiếm trọn tình yêu của Chúa.

Thiên Chúa yêu thương tôi, nghĩa là Ngài chỉ muốn điều thiện cho tôi. Ðiều thiện ấy có thể vượt khỏi suy tính, đo lường của tôi. Do đó, cho dẫu có gặp trăm nghìn đớn đau, vất vả, chúng ta cũng hãy tin rằng Thiên Chúa đang yêu thương chúng ta. Ngài yêu thương tôi đến độ làm mọi cách để cho mọi sự đều quy về điều thiện hảo cho tôi. Một cơn bệnh, một sự thất bại, một cái chết, một sự mất mát và ngay cả tội lỗi: tất cả đều là những cơ may để Ngài ban cho tôi một ơn phúc cao cả hơn.

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-153: CHỦ NHẬT LỄ MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KI-TÔ


Tin mừng: Ga 6, 51-58.

“Thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống”.

Bạn thân mến,

 

Nếu có một ai đó tuyên bố: ai ăn thịt của tôi thì được sống đời đời, chắc chắn bạn sẽ nói họ là:THÁNHTHỂ-153


Nếu có một ai đó tuyên bố: ai ăn thịt của tôi thì được sống đời đời, chắc chắn bạn sẽ nói họ là những người điên, và rồi bỏ đi. Chúa Giê-su cũng đã bị nhiều người Do Thái bỏ đi, khi Ngài tuyên bố: “Thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống”, trong số những người bỏ đi ấy cũng có những người là môn đệ của Ngài.

Có lúc nào bạn nói với người yêu bạn: em đẹp và dễ thương quá, yêu em quá, thương em quá muốn ăn muốn cắn em cho đỡ nhớ đỡ thương; hoặc có lúc nào bạn thấy người ta nựng em bé không, họ hôn họ cắn, họ nhéo em bé, đó chính là yêu thương đó bạn ạ. Tình yêu luôn mong muốn được trao ban và đón nhận, luôn mong muốn được hòa tan với người mình yêu, đó chính là tình yêu tận hiến, và Chúa Giê-su đã làm như thế khi Ngài lấy chính máu thịt của mình làm của ăn của uống để nuôi linh hồn chúng ta, để chúng ta được sự sống đời đời.

Khi tuyên bố: “thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống”, thì Chúa Giê-su thật sự đã trở thành tâm điểm cho mọi chống đối của thế gian, bởi vì không một hy sinh nào mà không phải trả giá đắt, không một tình yêu nào mà không có hy sinh.

Bạn thân mến,

Mỗi lần tham dự thánh lễ là bạn và tôi đều cảm nghiệm được tình yêu mà Chúa Giê-su đã dành cho Giáo Hội, cho thế gian qua bí tích Thánh Thể nhiệm mầu, đó chính là bí tích yêu thương, hy sinh và nuôi dưỡng. Chính qua bí tích này mà Chúa Giê-su luôn ở với Giáo Hội và nhân loại cho đến ngày tận thế.

- Vì bí tích Thánh Thể là bí tích yêu thương, nên bạn và tôi cũng tập tành bắt chước yêu thương tha nhân, như Chúa Giê-su đã yêu thương chúng ta.

- Vì bí tích Thánh Thể là dấu chỉ của hy sinh, nên bạn và tôi cũng cố gắng học tập hy sinh cho tha nhân, như Chúa Giê-su đã hy sinh mạng sống vì chúng ta.

- Vì bí tích Thánh Thể là bí tích nuôi dưỡng, nên bạn và tôi cũng tập tành chia sẻ vật chất lẫn tinh thần với tha nhân, như Chúa Giê-su đã lấy thịt máu của mình để nuôi dưỡng linh hồn chúng ta.

- Và vì bí tích Thánh Thể là bởi tấm bánh tinh tuyền và rượu nho thanh khiết tạo thành, cho nên bạn và tôi cũng sẽ luôn cố gắng trở thành tấm bánh cho anh chị em và tha nhân hưởng dùng...

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

----------------------------
http://www.vietcatholic.net/nhantai
http://360.yahoo.com/jmtaiby
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-154: CHUÂN BỊ TIỆC VƯỢT QUA VÀ KHAI MẠC


GIAO ƯỚC - Lm Vũ Phan Long, ofm

Máccô 14,12-16.22-26 ­

I. NgỮ cẢnh

 

Phụng vụ hôm nay đưa chúng ta đến bữa ăn cuối cùng Đức Giêsu chia sẻ với các môn đệ. Đây là: THÁNHTHỂ-154


Phụng vụ hôm nay đưa chúng ta đến bữa ăn cuối cùng Đức Giêsu chia sẻ với các môn đệ. Đây là một trong nhiều sự cố đã xảy ra kể từ khi Đức Giêsu đến Giêrusalem (x. 11,1). Tuy nhiên, bữa ăn này có một giá trị đặc biệt, vì đây là một bữa tiệc Vượt Qua, trong đó Đức Giêsu sẽ ký kết giao ước mới trước khi đi vào cuộc Thương Khó.  

II. BỐ cỤc

Bản văn có thể chia thành hai phần:

      1) Chuẩn bị tiệc Vượt Qua (14,12-16);
      2) Khai mạc giao ước (14,22-26). 

III. Vài điỂm chú giẢi

- Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua (12): Theo truyền thống Kinh Thánh, lễ Vượt Qua (Pesach) được cử hành vào chiều ngày 14 Nisan (“Nisan” là tháng thứ nhất của năm) và chính ngày lễ là 15 Nisan, còn lễ Bánh Không Men (lễ Matzoth), kéo dài thành bảy ngày, lại bắt đầu vào đúng ngày 15 Nisan. Vì hai đại lễ này quá gần nhau, chẳng mấy chốc lễ Bánh Không Men đã được gọi là lễ Vượt Qua, và kéo dài trong bảy ngày và bắt đầu với đêm lễ Vượt Qua, và phụng vụ cũng gọi đêm lễ Vượt Qua ấy là “lễ Bánh Không Men”. Chiên và bánh không men là lương thực biểu tượng của lễ mùa xuân. Cả hai thứ này nói lên sự tái sinh và đời sống mới.

Truyền thống kinh sư quy định việc sát tế chiên bắt đầu sau khi đã dâng hy lễ chiều ngày vọng, nghĩa là vào khoảng 14g30, tức trước khi ngày thứ nhất bắt đầu vào lúc mặt trời lặn. Nếu lễ Vượt Qua rơi vào ngày thứ bảy, thì bắt đầu sát tế chiên sớm hơn 1 giờ. Nhưng tác giả Mc quan tâm đến độc giả gốc ngoại giáo, ông cho bắt đầu ngày bằng ban sáng (14,17: “chiều đến”, các ngài dùng bữa), “ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men”, tức là đúng ngay ngày 15 Nisan.

Nhận định tổng hợp là: Bản văn Mc xác định Bữa Tiệc cuối cùng chính là bữa tiệc Vượt Qua, tức đúng ngày 15 Nisan; các tác giả Nhất Lãm khác cũng theo thời gian biểu của Mc. Còn Ga 19,14 lại đặt cái chết của Đức Giêsu vào chiều ngày 14 Nisan và như thế làm cho bữa ăn tối cuối cùng trở thành một bữa ăn tiền-Vượt Qua. Thời gian biểu của Gioan có lẽ đúng hơn, bởi vì khó mà cho rằng các thượng tế và các kinh sư lại hành động như ta đã biết vào ngày thứ nhất của lễ Vượt Qua. Khi biến bữa Ăn tối cuối cùng thành một bữa tiệc Vượt Qua, Mc nhắm kéo cái chết của Đức Giêsu vào gần hơn nữa với các đề tài lớn của lễ Vượt Qua là hiến tế và giải phóng. 

- dọn cho Thầy ăn lễ (12): Có nhiều việc phải làm: tìm một nơi thích hợp, giết chiên, chuẩn bị bánh không men, sắm các đồ dùng vào bữa tiệc. Các dân cư Giêrusalem rất sẵn sàng giúp cho các khách hành hương có chỗ mà ăn lễ. Nhưng ở đây, Mc không muốn nói tới điểm này, ngài muốn nêu ra một chuyện lạ lùng.

- một người mang vò nước (13): Các môn đệ được cho một dấu chỉ để có thể chu toàn nhiệm vụ, nhưng đây lại là một dấu chỉ của đời thường: một người mang vò nước thì ta có thể gặp bất cứ lúc nào trong Giêrusalem. Tuy nhiên dấu chỉ này cho hiểu rằng hành trình đưa Đức Giêsu đến cuộc Thương Khó được tiên liệu đến từng chi tiết. 

- một phòng rộng rãi trên lầu (15): Khi cử hành lễ Vượt Qua, ít ra có khoảng mười người họp lại với nhau, nên sách Mishna quy định là phải có một không gian 10x10 “khuỷu tay” (tức khoảng 23m2). Khi ăn tiệc, người ta nằm dài để diễn tả là dân chúng đã ra khỏi kiếp nô lệ Ai-cập và đã được tự do; ngay cả người nghèo nhất cũng ăn tiệc Vượt Qua trong tư thế này.

- dâng lời chúc tụng (22): Với cách hành động này, ta có thể nói đây là bữa tiệc Vượt Qua hay bữc tiệc bằng hữu cũng được. Trong bữa tiệc Vượt Qua, phải có trước tiên lời chúc tụng về ngày lễ, rồi chén rượu đầu tiên, các món khai vị là rau đắng và trái cây, suy niệm về lễ Vượt Qua, rồi chén rượu thứ hai. Phần chính của bữa ăn bắt đầu với lời chúc tụng trên bánh không men. “Cầm lấy, dâng lời chúc tụng, bẻ ra” là những từ ngữ chuyên môn của lời kinh người Do-thái đọc trước khi ăn. Rất có thể người Do-thái nghĩ rằng miếng bánh được trao cho họ, do ông chủ bẻ ra từ tấm bánh lớn, đưa lại phúc lành cho mình.

- đây là mình Thầy… Đây là máu Thầy (22.24): Vì từ ngữ “mình” (sôma) là một từ nói quanh để chỉ bản thân con người, câu này có thể diễn lại là: “Đây là chính Thầy”. Những ai ăn tiệc thì được hiệp thông cách mới mẻ với Đức Giêsu. Dựa vào c. 24 nói về chén rượu, ta hiểu là đây là sự hiệp thông với Đấng đang đi tới cái chết. Từ ngữ sôma, vì ở trong thế song đối với “máu đổ ra”, có nghĩa là thân thể dâng làm hy lễ.

- Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn (23): Trong tiệc Vượt Qua, giữa lời chúc tụng trên bánh và lời chúc tụng trên rượu, có việc ăn thịt chiên. Theo sách nghi thức, đây là chén rượu thứ ba. Ta lưu ý là Mc đã chuyển đi từ “dâng lời chúc tụng (eulogein)” sang “dâng lời tạ ơn (eucharistein)”, trong khi trong bữa tiệc Do-thái, cả hai lần đều là “lời chúc tụng”. Có thể công thức này đã được chọn vì người ta đã nghĩ tối kết thúc bữa ăn. Nhưng rất có thể tác giả muốn gợi tới bữa tiệc Thánh Thể (eucharistia).

- tất cả đều uống (23): Chi tiết này đến quá sớm, vì sau đó Đức Giêsu còn giải thích ý nghĩa của rượu. Trong một ngữ cảnh rộng hơn, từ “tất cả” đây nhìn tới trước tình cảnh “tất cả” sẽ vấp ngã (14,27.50). Việc tham dự vào bữa tiệc không giữ cho người ta khỏi vấp ngã vào giờ quyết định.

- máu giao ước, đổ ra vì muôn người (24): “Máu giao ước” nhắc đến Xh 24,8. Trong đoạn văn này, sau khi dân đã cam kết giữ luật và sau hy lễ, Môsê rảy máu các tế vật lên dân và nói: “Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này”. Ngay sau đó ông dùng một bữa tiệc huynh đệ với các vị kỳ mục của dân (Xh 24,11). Nhờ cái chết của Đức Giêsu, một giao ước mới được thiết lập, thay thế giao ước thứ nhất. Máu Đức Giêsu đi vào thế đối lập tiên trưng với máu giao ước cũ. Theo Dcr 9,11, các tù nhân được phóng thích “nhờ máu của giao ước này”. Việc khai trương giao ước đưa lại sự cứu chuộc và cứu độ. “Máu đổ ra” đồng nghĩa với “bị giết”, bởi vì theo một quan niệm của Kinh Thánh, máu được coi là mang sự sống và sức sống. Từ đó ta hiểu rằng chén được dâng đảm bảo có sự hiệp thông với Chúa, Đấng hiến mình trong cái chết. “Đổ ra”, ekchêô, được dùng thường xuyên để nói về máu con vật được đổ ra (Lv 4,7.18.25.30.34…) và việc rưới rượu (Is 57,6).

Câu “đổ ra vì muôn người” (dịch sát là “đổ ra vì nhiều người”) nhắc đến Is 53,12 và đưa lại cho hành vi một chiều kích hy tế. Hai đoạn văn Cựu Ước này được dùng để diễn tả cái chết của Đức Giêsu như là một hy lễ vì những người khác. Cụm từ hyper pollôn, “vì nhiều người”, dựa trên kiểu nói sê-mít đặc biệt của Is 53,12 (rab), có nghĩa là “tất cả” / đoàn người đông đảo”, chứ không chỉ là “một số người”; đây là toàn thể thế giới ngoại giáo (x. Người Tôi Trung được gọi là “ánh sáng cho các dân” [x. Is 42,6; 49,7t]). Như vậy, “nhiều” đây không đối lập với “tất cả”, nhưng có nghĩa là “tất cả là nhiều”.  

- chẳng bao giờ Thầy còn uống … trong Nước Thiên Chúa (25): Câu kết thúc này đặt Bữa Tiệc Ly trong khung cảnh là bữa tiệc thiên sai (x. 6,35-44; 8,1-10). Thay vì coi bữa tiệc cuối cùng này (và Tiệc Thánh Thể) là một biến cố cô lập, cần phải liên kết nó với các bữa ăn Đức Giêsu đã chia sẻ trước đây với những người thu thuế và tội lỗi (x. 2,16) và với bữa tiệc cánh chung tương lai.
- Hát thánh vịnh xong (26): Đây là khối Tv 113–118, thường được gọi là Tập Hallel nhỏ. Tập Hallel này này có một vị trí đặc biệt trong ba đại lễ Vượt Qua, Ngũ Tuần và Lều. 

IV. Ý nghĩa cỦa bẢn văn

* Chuẩn bị tiệc Vượt Qua (12-16)

Bữa tiệc có một tầm quan trọng lớn lao trong Tin Mừng. Tác giả Mc thường xuyên cho thấy Đức Giêsu ngồi vào bàn ăn với các môn đệ, với những người tội lỗi và với dân chúng. Biến cố cuối cùng trước Thương Khó cũng vẫn là một bữa tiệc: Đức Giêsu cùng với Nhóm Mười Hai cử hành tiệc Vượt Qua. Trong sự hiệp thông đức tin và đạo giáo Israel, các ngài cử hành lễ trọng nhất của dân tộc mình. Bằng bữa tiệc Vượt Qua, dân Israel nhắc lại cách Thiên Chúa đối xử với các tổ phụ và được canh tân trong niềm tin đầy tri ân, vui tươi và vững vàng đặt nơi Thiên Chúa.

Các môn đệ được phái đi chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ cuối cùng của Đức Giêsu với các môn đệ trên bối cảnh là bữa tiệc và nội dung của đại lễ Vượt Qua như thế.

Các môn đệ đã đi vào thành và gặp một người mang vò nước đón mình. Các ông đã chuyển giao sứ điệp: “Thầy nhắn: «Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?»”. Đây là lần duy nhất danh xưng “Thầy” (didaskalos) được Đức Giêsu dùng để nói về mình, vừa với nghĩa là “vị thầy truyền đạt kiến thức”, vừa theo nghĩa là “bậc đáng kính”; điều này còn được khẳng định bởi cụm từ “các môn đệ của tôi” chỉ được dùng duy nhất ở đây. Tuy nhiên, chi tiết “người mang vò nước” lại chứng tỏ rằng hành trình đưa Đức Giêsu đến cuộc Thương Khó đã được tiên liệu trong từng chi tiết: Người biết và Người vâng phục (x. 11,1t). Như thế, bên cạnh sự cao cả của Người, là sự hạ mình khiêm nhường của Người. Ông chủ nhà sẽ dành cho các môn đệ một phòng lớn trên lầu trên (thường đây là phòng rộng nhất của căn nhà). Các môn đệ thấy mọi sự đúng y như Đức Giêsu đã nói trước. 

* Khai mạc giao ước (22-26)

Tại bữa tiệc, trong bánh và rượu, Đức Giêsu ban cho các môn đệ thân mình và máu của Người. Đây là bữa tiệc từ biệt. Đức Giêsu sẽ bị giao nộp và bị giết, Người sẽ không đi đi lại lại trong xứ cùng với các ông, cũng không ăn tiệc với các ông như lâu nay nữa. Tuy nhiên, Người sẽ ở giữa các ông trong bánh và rượu; trong tương lai, đây sẽ là cách thức hiện diện của Người. Đức Giêsu từ biệt, tuy vậy, Người vẫn ở lại đó.

Máu mà Đức Giêsu hiến dâng trong chén rượu là máu của giao ước, được đổ ra vì muôn người. Tiếp nối vào cuộc giải phóng khỏi đất Ai-cập, được nhắc lại trong tiệc Vượt Qua, là việc ký giao ước tại núi Sinai. Đây không phải là một giao ước giữa các partner ngang nhau. Trước tiên giao ước này có đặc điểm là Thiên Chúa tự ràng buộc và tự cam kết là Thiên Chúa nhân ái của dân (x. Xh 20,1); và giao ước này hàm chứa cam kết của dân là tuân giữ các điều răn (x. Xh 20,3-17). Giao ước được đóng ấn, khi Môsê rảy máu tế vật lên bàn thờ và dân chúng (Xh 24,6-8). Với máu của Đức Giêsu, giao ước mới và vĩnh viễn được đóng ấn. Trong máu Người, trong hành vi hiến tặng mạng sống của Người, tình yêu của Thiên Chúa đối với thế gian được tỏ bày (x. Ga 3,16); nhờ máu Người đổ ra, “một đoàn lũ đông đảo” được giải thoát khỏi tội lỗi. Đức Giêsu không chỉ ở lại với các môn đệ, mà còn đặt nền tảng và đóng ấn cho sự hiệp thông của họ với Thiên Chúa.

Đức Giêsu tặng ban cho họ mình và máu Người. Mình và máu là toàn thể bản thân một người. Việc Người tặng ban mình và máu phải mãi mãi nhắc nhớ đến việc Người hiến tặng mạng sống, cái chết của Người trên thập giá. Đàng khác, bánh là lương thực hằng ngày nuôi sống con người, còn rượu chính là tiệc mừng trong niềm vui. Để sống được, loài người chúng ta cần lương thực. Khi ban tặng chính mình trong bánh và rượu, Đức Giêsu cho ta thấy rằng nhờ sự hiện diện của Người giữa chúng ta và nhờ sự hiệp thông của chúng ta với Người, chúng ta có sự sống ở mức viên mãn và trong niềm vui.

Trong những lời kết thúc (c. 25), Đức Giêsu lại nhấn mạnh rằng sự hiệp thông mà Người đã sống cho đến lúc này với các môn đệ đã đến lúc kết thúc: Người sẽ không uống thứ rượu trong tiệc mừng với họ như lâu nay Người vẫn làm nữa. Đồng thời, Đức Giêsu nói đến sự hoàn tất của sự hiệp thông này trong Nuớc Thiên Chúa, khi Thiên Chúa sẽ thiết lập và tỏ bày vĩnh viễn quyền chúa tể của Ngài ra. 

+ Kết luận

Khi tường thuật truyện Đức Giêsu mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ, Mc đã cho thấy Đức Giêsu đã trung thành đi theo ý muốn của Thiên Chúa trong từng chi tiết. Do đó, bài tường thuật không chỉ để ghi nhận các sự kiện, nhưng mang tính tín lý. Tác giả đã liên kết Thương Khó với tiệc cuối cùng; với bữa tiệc này, cuộc Thương Khó đã bắt đầu vào lễ Vượt Qua. Lễ Vượt Qua của Đức Giêsu được ghi dấu ấn là cuộc Thương Khó của Người. Rất có thể từ ngữ pascha khiến Mc nghĩ đến ý nghĩa của từ Hy-lạp paschô (“đau khổ”); dĩ nhiên về từ nguyên thì không đúng, nhưng về thực tại thì có lý.

Đức Giêsu cũng bày tỏ sự trung thành với các môn đệ cho đến cùng, qua việc hiến tặng mình và máu Người trong bánh và rượu. Sự trung thành của Đức Giêsu, được tỏ hiện trong tất cả mọi hình thức hiện diện của Người, là điểm vững chắc duy nhất trong tương quan hỗ tương giữa Người với các môn đệ. Đức Giêsu luôn ở cùng chúng ta và cho chúng ta được hiệp thông của Người như cho một quà tặng.     

V. GỢi ý suy niỆm

1. Đến cuối thời gian hoạt động, Đức Giêsu lại chia sẻ bữa tiệc Vượt Qua này với các môn đệ: bữa tiệc này nhắc lại lịch sử của quan hệ của Thiên Chúa với Israel và đưa tới chỗ hoàn tất. Đức Giêsu lại ăn tiệc với các môn đệ, như cách hiệp thông riêng tư với các ông. Tại đây mọi sự được quay hướng về các hình thái khác của sự hiện diện của Người giữa các môn đệ, về sự hiệp thông không cùng của họ với Người. Tuy nhiên, các môn đệ không thể tự ru ngủ mình trong sự an toàn; chính họ đã thấy định mệnh của Đức Giêsu là một chướng kỳ; chính họ đã không đủ sức liên kết với Người.

2. Trên thập giá, Đức Giêsu đã đổ máu ra; bằng cái chết của Người, Người đã thiết lập giao ước mới, tạo điều kiện cho có sự hiệp thông vĩnh viễn của Thiên Chúa với loài người. Đức Giêsu sẽ mãi mãi ở với họ và sẽ là Đấng Chịu đóng đinh đã hiến tặng mạng sống cho họ. Cho đến nay, Người đã ở giữa họ theo cách thấy được rõ ràng bằng mắt thường, kể từ nay, Người sẽ ở giữa họ trong bánh và rượu, trong tư cách Đấng Chịu đóng đinh, trong tư cách dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa và sự sống. Tất cả những điều này sẽ tới mức viên mãn khi Nước Thiên Chúa được tỏ hiện.

3. Hôm nay chúng ta đã quen coi truyền thống về bữa tiệc ly như là một thành phần thuộc cuộc Thương Khó. Điều này chính Mc đã nhắm: bữa tiệc này được quy hướng về thập giá và Phục Sinh. Bữa tiệc này kết thúc các bữa tiệc Đức Giêsu dùng với các người tội lỗi (2,15tt) và với dân chúng (6,35tt; 8,1tt) và đưa các môn đệ vào cuộc Thương Khó. Người Kitô hữu khi tham dự vào bữa tiệc Thánh Thể thì cũng đã được đặt trên cùng một nẻo đường.   

Lm Vũ Phan Long, ofm

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-155: MÌNH VÀ MÁU ĐỨC GIÊSU ĐÓNG DẤU GIAO ƯỚC


 MỚI - Lm Carôlô Hồ Băc Xái

I. DẪn vào Thánh lỄ
Anh chị em thân mến
 

Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa cao cả vô cùng, thế mà Ngài đã nhiều lần hạ mình: THÁNHTHỂ-155


Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa cao cả vô cùng, thế mà Ngài đã nhiều lần hạ mình ký kết giao ước với loài người chúng ta: Giao ước cũ ngày xưa ký kết ở núi Sinai được đóng dấu bằng máu chiên bò, và Giao ước mới ngày xưa được đóng dấu bằng máu của chính Ðức Giêsu.

Mỗi lần cử hành Thánh Lễ là chúng ta lặp lại Giao ước mới đó. Chúng ta hãy cử hành Thánh lễ này trong tâm tình yêu mến và tạ ơn Thiên Chúa.

II. GỢi ý sám hỐi

Chúng ta ít nhớ đến tình thương vô cùng của Thiên Chúa đã ký kết giao ước với loài người chúng ta.
Khi đã kết giao ước với nhau, cả hai bên đều phải giữ trọn những điều cam kết. Phần Thiên Chúa thì luôn trung thành giữ giao ước, nhưng phần chúng ta thì luôn bất trung, lỗi phạm.
Ðức Giêsu đã đổ máu ra vì chúng ta. Phần chúng ta thì không can đảm hy sinh vì Ngài.

III. LỜi Chúa

1. Bài đọc I Xh 24, 3-8
Tường thuật nghi lễ ký kết giao ước giữa Thiên Chúa với dân Do Thái:

Trước tiên, Môsê lặp lại cho dân những lệnh truyền của Thiên Chúa, và dân đồng ý tuân giữ.

Tiếp đến, Môsê viết lại những lệnh truyền ấy của Thiên Chúa để lưu giữ mãi về sau.

Sau cùng là nghi lễ kết giao ước: Môsê cho giết một số bò, lấy máu của chúng rảy một phần lên bàn thờ tượng trưng cho Thiên Chúa, và phần kia lên dân. Máu là tượng trưng cho sự sống, vì thế ý nghĩa của việc rảy máu là từ nay hai bên kết ước (Thiên Chúa và dân Do Thái) cùng một sự sống với nhau.

2. Ðáp ca Tv 115
Tv này là một phần của Kinh Hallel (gồm các Tv 112-117) mà người Do Thái thường hát trong những dịp lễ lớn, nhất là trong bữa ăn vượt qua.
Ngày nay Phụng vụ dùng Tv này để bày tỏ tâm tình tạ ơn Thiên Chúa, nhất là trong Thánh lễ tưởng niệm hồng ân Thánh Thể.

3. Bài đọc II Dt 9, 11-15
Ðức Giêsu là Thượng tế của Giao ước mới, thánh hóa loài người bằng chính máu của Ngài.

4. Tin Mừng Mc 14, 12-16. 22-26
Tường thuật bữa tiệc Vượt qua cuối cùng của Ðức Giêsu:

Ðức Giêsu rất coi trọng bữa tiệc Vượt qua này nên đích thân thu xếp mọi chi tiết tổ chức (các câu 12-16)

Trong bữa tiệc Vượt qua đó, Ngài đã lập Bí tích Thánh Thể (các câu 22-25).

Ðặc biệt Ngài coi việc này là Giao ước mới. Giao ước cũ (bài đọc I) được đóng dấu bằng máu sức vật, còn Giao ước mới được đóng dấu bằng máu của chính Ðức Giêsu "Ðây là máu Thầy, máu giao ước đổ ra vì muôn người"

IV. GỢi ý giẢng

* 1. Giao ước mới
Cả 3 bài đọc trong Thánh lễ hôm nay đều nói tới Giao Ước.

Giao ước không chỉ là mối liên hệ giữa hai bên mua bán chỉ nhắm tới những công việc làm ăn. Giao ước giống mối liên hệ vợ chồng hơn. Chính vì thế mà nhiều ngôn sứ đã so sánh Thiên Chúa là chồng và loài người là vợ. Trong giao ước này Thiên Chúa luôn trung thành, tuy nhiên loài người chúng ta thì thường bất trung.

Ðể yêu và được yêu, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta quyền tự do lựa chọn. Giao ước giữa Thiên Chúa với loài người không phải chỉ là vấn đề quyền uy Thiên Chúa nằm trong Lề Luật của Ngài, bởi vì nếu thế thì chúng ta chỉ biết vâng giữ lề luật chứ không yêu thương. Ðó phải là một thỏa thuận tự do giữa hai bên có tự do.

Trong bài đọc I hôm nay, chúng ta thấy ông Môsê cử hành lễ kết Giao ước trước mặt dân Do Thái trước khi họ vào Ðất Hứa. Thế nhưng dân đã chẳng tuân giữ Giao ước này, họ đã chạy theo các ngẫu thần. Dù vậy Thiên Chúa cũng không bỏ dân Ngài. Ngài vẫn tiếp tục hết lần nầy tới lần khác đề nghị kết giao ước với họ; và qua các ngôn sứ, Ngài dạy họ hy vọng ơn cứu độ.

Và khi thời giờ đã mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình xuống thế gian làm Ðấng Cứu Ðộ chúng ta. Qua Ðức Giêsu, Thiên Chúa ký kết một Giao ước mới với loài người chúng ta, và Ðức Giêsu đóng dấu Giao ước mới bằng chính máu của Ngài. Ðức Giêsu trở thành đầu của Dân mới. Ðất Hứa mà Ðức Giêsu dẫn chúng ta tiến vào không phải chỉ là một lãnh thổ mà là quê hương của cuộc sống vĩnh cửu. Chúng ta không chỉ là dân của Thiên Chúa mà còn là con cái của Ngài.

Trong Ðức Kitô và nhờ Ðức Kitô, Thiên Chúa đã ký kết một hợp đồng, một hợp đồng sẽ không bao giờ bị phá huỷ, đó chính là hợp đồng mà chúng ta cử hành trong Thánh lễ. Thật vậy, mỗi lần chúng ta cử hành Thánh lễ là chúng ta lập lại hợp đồng đã ký kết giữa Thiên Chúa với loài người chúng ta nhờ máu cứu chuộc của Ðức Giêsu đổ ra trên Thánh giá.

Tóm lại, chúng ta đang sống trong Giao ước mới với một Thiên Chúa vốn luôn trung thành. Vì thế chúng ta được mời gọi phải sống thế nào cho phù hợp với mối liên hệ đặc biệt của Giao ước mới này. (Viết theo Flor McCarthy)

* 2. Tấm lòng của Chúa

Vào tháng 12 năm 1987 một cơn động đất lớn đã xảy ra ở xứ Armênia thuộc Liên Xô cũ giết chết hằng ngàn người. Trong số những người bị chôn dưới đống gạch vụn có 2 mẹ con bà Suzanna. Hai mẹ con may mắn nằm lọt vào trong một khoảng trống nhỏ. Tất cả lương thực họ có chỉ là một hủ mứt nhỏ. Nhưng chẳng bao lâu hũ mứt cũng hết sạch. Lúc đó đứa con 4 tuổi kêu lên: "Mẹ ơi con khát quá". Bà Suzanna không biết tìm đâu ra nước cho con. Nhưng tình mẫu tử đã gợi cho bà một sáng kiến táo bạo: bà dùng một miếng kính vỡ cắt đầu ngón tay mình cho máu chảy ra và đưa vào miệng đứa con cho nó mút. Một lúc sau nữa nó lại kêu khát, bà lại cắt một đầu ngón tay nữa. Cứ như thế cho đến cuối cùng người ta cứu 2 mẹ con ra. Sau khi ra ngoài, bà mẹ cho biết rằng: "Lúc đó tôi biết thế nào tôi cũng chết. Nhưng tôi muốn con tôi sống"

a/ Câu chuyện trên thật cảm động. Nhưng vẫn không cảm động bằng việc Ðức Giêsu tự hiến dâng thịt máu mình cho chúng ta. Bà Suzanna đã lấy máu của mình nuôi con khi bà biết rằng chắc chắn bà sẽ chết. Thay vì chết cách vô ích. Bà đã hy sinh dòng máu của mình để cho đứa con được sống. Ðó là sự hy sinh trong một tình thế bó buộc. Còn Ðức Giêsu thì không có gì bắt buộc cả: Ngài đến trần gian để chết cho loài người. Càng ngày Ngài càng tiến gần đến cái chết. Tuy nhiên bất cứ lúc nào Ngài cũng có thể thoát khỏi cái chết ấy. Dù vậy Ngài vẫn cương quyết đi đến cái chết và cương quyết lấy thịt Máu mình làm lương thực nuôi sống loài người chúng ta. Thật đúng là "không có tình yêu nào cao trọng cho bằng tình của người dám chết cho người mình yêu thương". Ðiểm thứ hai khác biệt giữa bà Suzanna với Ðức Giêsu là: việc bà Suzanna hy sinh máu mình cho đứa con chỉ xảy ra một lần; còn việc Ðức Giêsu ban thịt máu Ngài cho chúng ta xảy ra hằng ngày, như lời Ngài đã truyền dạy "Chúng con hãy làm việc này để nhớ đến Ta". Mỗi lần Giáo Hội dâng Thánh Lễ là mỗi lần việc hy sinh của Ðức Giêsu được lập lại, lập lại không chỉ như một tưởng niệm mà lập lại với tất cả hiệu quả của nó. Hiệu quả ấy là như lời Ðức Giêsu đã nói: "Ai ăn Thịt Ta và uống máu Ta thì sẽ được sống muôn đời".

b/ Một điều đáng buồn là lòng chúng ta đã thành chai đá trước tấm lòng của Chúa mà lẽ ra phải khiến chúng ta hết sức cảm động. Ngày nay ở phương Tây, số giáo dân tham dự Thánh Lễ đã giảm sút rất nhiều. Ðiển hình tại Pháp, chỉ còn có 10 % giáo dân dự lễ Chúa Nhật. Còn bên VN chúng ta, số người bỏ lễ CN cũng càng ngày càng nhiều. Trong số những kẻ còn đi lễ thì nhiều người đứng ngoài Nhà thờ, vừa dự lễ vừa trò chuyện và hút thuốc. Hình như rất nhiều người đi lễ chỉ vì sợ phạm tội trọng.

c/ Khi Nữ Tu Têrêxa Calcutta sang Liên Xô xin mở trụ sở bác ái, Bà đã gặp các vị lãnh đạo chính quyền và đã được đồng ý nhanh chóng. Tuy nhiên khi bà xin cho có Linh mục tại những trụ sở đó thì các vị ấy đã ngần ngại. Lúc Mẹ Têrêxa giải thích: nguồn sức mạnh của các Nữ Tu chúng tôi là do Mình Thánh Chúa. Nhờ mỗi ngày được rước MTC nên các Nữ Tu chúng tôi có sức hy sinh quên mình để phục vụ những người nghèo khổ. Do đó cần phải có Linh mục để mỗi ngày dâng Thánh Lễ và cho chúng tôi rước lễ. Mẹ Têrêxa và các nữ tu của Bà là những người đã cảm nghiệm được Lời Chúa phán khi lập phép MTC "Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì sẽ được sống muôn đời".

Hôm nay lễ Mình và Máu Thánh CG. Chúng ta ôn lại tình yêu bao la của Ðức Giêsu khiến Ngài chịu chết vì chúng ta và trước khi chết đã ban Mình và Máu Ngài làm thương thực nuôi linh hồn chúng ta.

Nhưng chúng ta cũng nhận thấy sự giảm sút lòng sốt sống của chúng ta đối với việc dự lễ và rước lễ. Chúng ta thờ ơ với một thứ lương thực quý giá mà Chúa đã ban. Chúng ta bỏ mất biết bao ơn ích do việc rước lễ mà nhiều người đạo đức đã rất quý chuộng.

Giờ đây chắc chúng ta biết mình phải làm gì:

a/ Trước hết, là những người làm cha mẹ, làm ông bà, chúng ta hãy nhắc nhở và khuyến khích con cháu mình thường xuyên tham dự Thánh Lễ và Rước lễ sốt sắng.

b/ Phần chúng ta, mỗi khi dự lễ và Rước Lễ, chúng ta hãy cố gắng sốt sắng. Ðừng làm một cách máy móc theo thói quen, nhưng hãy đặt hết tâm tình vào đó.
Ðể kết thúc, xin trích đọc sau đây tâm tình của một người đã biết cách dự lễ và rước lễ sốt sắng: "Mỗi Thánh Lễ, tôi lại cảm thấy có điều gì đó cần thống hối cách đặc biệt. Mỗi Thánh Lễ, tôi lại thấy mình muốn đặt lên đĩa thánh một chút cố gắng riêng tư, đau khổ, mơ ước, thao thức... Tôi không di dự Thánh Lễ với 2 bàn tay trắng, nhưng với lễ vật là chính cuộc đời tôi. Trong mỗi Thánh Lễ, Lời Chúa lại tác động lên tôi, những lời nói đã nghe nhiều lần nhưng vẫn luôn mới mẻ. Mỗi lần rước Chúa là một lần tôi nhớ rằng Ngài đã trở nên tấm bánh bẻ ra cho tôi, và tôi cũng phải trở nên tấm bán bẻ ra cho anh chị em tôi"

* 3. Mầu nhiệm Tình yêu

Du khách đến Huế không thể quên được Nam Giao, cũng như đến Bắc Kinh không thể bỏ qua Ðiện Trời. Chính tại nơi đây, hàng năm nhà vua sẽ tế Trời thay cho toàn dân.

Tại Huế, Ðiện Thái Hòa, cửa Ngọ Môn và đàn Nam Giao cũng nằm ngay trên một đường thẳng. Ðiện Thái Hòa là nơi vua quan lo việc triều chính. Cửa Ngọ Môn quay về hướng nam. Khi mặt trời lên tới đỉnh đầu, lúc 12 giờ trưa, tức là giờ Ngọ, thì hình và bóng sẽ trở nên đồng nhất.

Từ Ðiện Thái Hòa, vua sẽ qua cửa Ngọ Môn, tiến về phương nam để lên đàn Nam Giao thay dân tế Trời. Sau khi ăn chay nằm đất, vua sẽ bước lên tế đàn hình vuông tượng trưng cho đất, rồi mới tiến lên tế đàn hình tròn, tượng trưng cho Trời. Chính tại nơi đó, vua sẽ long trọng thay mặt toàn thể con dân tế Trời.

***

Vua trần gian thay dân tế Trời bằng những của lễ vật chất. Vua vũ trụ, Ðức Giêsu Kitô dùng chính thân xác và linh hồn của Người để tế lễ cho Thiên Chúa.

Vua trần gian thay dân tế Trời rồi lại trở về với công việc triều chính. Vua Giêsu khi tế lễ cho Thiên Chúa lại dùng chính thân xác mình làm của ăn của uống nuôi toàn dân.

"Này là Mình Ta, các con hãy cầm lấy mà ăn... Này là Máu Ta các con hãy cầm lấy mà uống" (Mc. 14, 22-25). Tiệc Thánh Thể này đã được chính Ðức Giêsu tiên báo trong tiệc cưới Cana, đã được Người hứa ban cho dân ở Caphanaum, đã được Người thiết lập ở Giêrusalem trước khi bước vào cuộc khổ nạn, và đã được chính Người cử hành đầu tiên tại làng quê hẻo lánh Emmau. Bốn khung cảnh này hòa quyện, đan kết với nhau tuyệt đẹp trong ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa.

Thánh Thể chính là trung tâm đời sống người tín hữu Kitô.
Thánh Thể chính là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa với con người, và giữa con người với nhau.
Thánh thể chính là món quà Thiên Chúa trao tặng cho nhân loại.
Thánh thể chính là lương thực thiêng liêng cho cuộc sống người tín hữu.
Thánh thể chính là bảo đảm cho hạnh phúc trường cửu của chúng ta.

Mầu nhiệm tình yêu này vượt quá tầm trí mọn của con người. Ðức Giêsu đã tự hiến trọn vẹn cho chúng ta, đến nỗi Người không thể cho chúng ta điều gì hơn thế nữa.
Thánh Thể chính là sáng kiến táo bạo nhất của Thiên Chúa đang yêu. Trước khi giã từ cõi thế. Người không còn gì quí hơn để ban tặng cho con người. Người đã trao ban cả thân xác, để thấm nhập vào xác thân con người. Yêu là cho đi, là cho hết, cho cả cuộc đời.

***

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã cho chúng con được tham dự vào đời sống thánh thiện của Chúa, được hiệp nhất với Chúa và với nhau. Xin cho chúng con luôn yêu mến Thánh Thể và siêng năng đón nhận Bánh Trường Sinh, như một bảo đảm cho hạnh phúc muôn đời. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

* 4. Lời cầu nguyện trước Thánh Thể

Chúa ơi,
Bên ngoài nhà thờ, xe cộ ồn ào, người ta chạy tới chạy lui lăng xăng. Nhưng cái thế giới náo nhiệt ấy, con xin bỏ lại sau lưng, để đến đây ở trước mặt Chúa. Con không bỏ lại những anh chị em của con, nhưng con cũng mang họ theo con, vì con biết rằng Chúa cũng rất quý mến họ. Thực ra con chẳng có gì, nhưng con biết rằng vì con có Chúa nên con có tất cả. Con khép trí óc lại và mở tâm hồn ra, và thế là con được an bình. Ở đây, con cảm nghiệm được giá trị thật của con. Giá trị ấy không phải là những gì con sở hữu được hay hoàn thành được, mà là biết rằng con được Chúa yêu thương. (Flor McCarthy)

* 5. Máu giao ước

"Ðây là máu Thầy, máu giao ước"

Dân Do Thái, cũng như một số dân khác, thường dùng máu trong giao ước. Có thể là máu của một con vật, và cũng có thể là máu của chính những người kết giao ước với nhau. Giao ước cũ trên núi Sinai dùng máu của con vật. Giao ước mới mà Ðức Giêsu thiết lập dùng máu của chính Ngài. Mà máu là biểu hiện của sự sống, cho nên lấy máu để đóng dấu giao ước ngụ ý rằng từ nay những người kết ước sẽ sống thân thiết với nhau như chỉ có cùng một mạng sống, đồng thời họ cam kết sẽ bảo vệ giao ước ấy cho dù phải đổ máu mình ra.

Giao ước có khi là đơn phương: một bên tự ý cam kết sẽ làm điều gì đó cho bên kia nhưng không buộc bên kia cam kết lại. Nhưng thường thì song phương: hai bên cam kết với nhau, bên nào vi phạm thì phải chịu những hình phạt.

Mỗi Thánh Lễ là một lần lặp lại giao ước. Nhưng tôi thường không để ý tới ý nghĩa quan trọng này.

Ðức Giêsu muốn Ngài và tôi chia xẻ cùng một sự sống. Tôi có muốn như thế không?

Ngài cam kết gắn bó với tôi. Tôi có cam kết lại như thế không?

Ngài đã hiến máu, hiến mạng sống cho tôi. Tôi có gì để dâng hiến cho Ngài không?

6. Chuyện minh họa

Một bé trai tám tuổi lâm chứng bệnh nguy hiểm. Cả tháng trời em vật lộn với thần chết. Khi các bác sĩ cho biết cuối cùng em đã thoát khỏi lưỡi hái tử thần thì em và gia đình đều mừng rỡ.

Nhưng đến lượt em gái của bé trai này lâm phải chứng bệnh như anh nó. Cả gia đình lại rơi vào cảnh âu lo. Các bác sĩ cho biết cách duy nhất để cứu sống bé gái là sử dụng máu của anh mới khỏi bệnh.

Không thể tránh né vấn đề, người ta phải hỏi ý kiến bé trai. Thoạt đầu em tỏ ra lo lắng, nhưng trong chốc lát, em đã cương quyết trả lời: Vâng, con sẵn sàng hiến máu cho em con.

Quả thật, nhờ sử dụng máu của anh mới được khỏi, tiếp cho em đang mê man, các bác sĩ đã cứu sống bé gái. Có điều, bé trai đã làm cho các bác sĩ ngẩn người ra khi nêu câu hỏi: Vậy ra, con vẫn còn sống à? Bé cứ tưởng mình sẽ tắt thở ngay sau khi tiếp máu cho em.

Nơi cậu bé tám tuổi ta chiêm ngưỡng một tình yêu lớn: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15, 13). Mặc dầu không chết như em tưởng, nhưng sự sẵn sàng chết vì tình ruột thịt đã khiến cho tình thương của em trở nên cao cả.

V. LỜi nguyỆn cho mỌi ngưỜi

Chủ tế: Anh chị em thân mến, Ðức Giêsu đã dùng Mình và Máu Thánh Người, như lương thực nuôi dưỡng đòi sống tin cậy mến của chúng ta. Với tâm tình tạ ơn, chúng ta dâng lên Chúa lời cầu nguyện sau đây:

1. Chúng ta cầu xin Chúa cho các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân trong Hội thánh / luôn cử hành và tham dự bí tích Thánh Thể cách tích cực và linh động / để được sức sống của Ðức Giêsu bồi dưỡng.

2. Chúng ta cầu xin Chúa cho các nhà cầm quyền và mọi người trên thế giới / biết noi gương Ðức Giêsu Kitô / để chia sẻ và phân phối của cải vật chất cho công bằng / nhất là chia sẻ cho những dân tộc đang đói nghèo.

3. Chúng ta cầu xin Chúa cho những người đang đau khổ và nhiều cơm ăn áo mặc / thiếu công ăn việc làm / thiếu tự do và tình thương / được nhiều người là con cái Chúa biết quan tâm và nâng đỡ.

Chúng ta cầu xin Chúa cho anh chị em trong cộng đồng giáo xứ chúng ta / biết noi gương Ðức Giêsu Kitô / hiến dâng thời giờ, sức lực và của cải / để giúp cho những người chung quanh được nhận biết tình thương của Chúa.

Chủ tế: Lạy Ðức Giêsu, Chúa đã ban cho chúng con bí tích Thánh Thể là dấu chỉ tình thương của Chúa. Xin cho chúng con luôn được nuôi dưỡng bằng tình thương của Chúa, để chúng con sẵn sàng chia sẻ cho mọi người chung quanh. Chúa là Ðấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-156: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ


– Lm Augustine, SJ

Cậu bé hiến máu cho em

 

Một bé trai tám tuổi lâm chứng bệnh nguy hiểm. Cả tháng trời em vật lộn với thần chết. Khi: THÁNHTHỂ-156


Một bé trai tám tuổi lâm chứng bệnh nguy hiểm. Cả tháng trời em vật lộn với thần chết. Khi các bác sĩ cho biết cuối cùng em đã thoát khỏi lưỡi hái tử thần thì em và gia đình đều mừng rỡ.

Nhưng đến lượt em gái của bé trai này lâm phải chứng bệnh như anh nó. Cả gia đình lại rơi vào cảnh âu lo. Các bác sĩ cho biết cách duy nhất để cứu sống bé gái là sử dụng máu của anh mới khỏi bệnh.

Không thể tránh né vấn đề, người ta phải hỏi ý kiến bé trai. Thoạt đầu em tỏ ra lo lắng, nhưng trong chốc lát, em đã cương quyết trả lời: Vâng, con sẵn sàng hiến máu cho em con.

Quả thật, nhờ sử dụng máu của anh mới được khỏi, tiếp cho em đang mê man, các bác sĩ đã cứu sống bé gái. Có điều, bé trai đã làm cho các bác sĩ ngẩn người ra khi nêu câu hỏi: Vậy ra, con vẫn còn sống à? Bé cứ tưởng mình sẽ tắt thở ngay sau khi tiếp máu cho em.

Nơi cậu bé tám tuổi ta chiêm ngưỡng một tình yêu lớn: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15,13). Mặc dầu không chết như em tưởng, nhưng sự sẵn sàng chết vì tình ruột thịt đã khiến cho tình thương của em trở nên cao cả.

Ðức Giêsu hiến mạng sống cho ta.

Nhưng tình thương của bé trai này làm sao sánh được với tình thương của chính Chúa Giêsu! Chúa không những hy sinh máu đào đổ ra vì muôn người mà còn tiếp tục hiến trọn cuộc đời mình như con đường để ai nấy bước đi hầu trở về cùng Cha. Mình và Máu Chúa nói lên cuộc hiến dâng trọn vẹn cho loài người được sống một cách vĩnh viễn.

Toàn bộ Tin Mừng Máccô là để cho thấy Ðức Giêsu Con Thiên Chúa đến để thiết lập Nước Thiên Chúa nơi bản thân Người. Nước ấy được thiết lập nhờ tình yêu cao cả do việc Người hy sinh mạng sống mình (Mc 14,24). Ba chương cuối cùng của Tin Mừng Máccô (14,15 và 16) với trình thuật đã trở nên quen thuộc với cuộc tử nạn và phục sinh của Ðức Giêsu, chính là tột đỉnh của tấn kịch phức tạp cho thấy tính chất của Nước Thiên Chúa.

Nước đó không dựa vào sự trung tín của nhóm Mười Hai môn đệ được Ðức Giêsu mời gọi, tuyển chọn và huấn luyện. Quả thật, cả nhóm đã tan tác khi một người trong nhóm phản bội và nộp Ðức Giêsu cho người ta đem đi giết (Mc 14,43-52).

Mặc dầu nhan đề của Tin Mừng Máccô giới thiệu Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa (Mc 1,1), nhưng lời tuyên xưng "Quả thật người này là Con Thiên Chúa" (Mc 15,39), không phát ra từ miệng bất cứ người môn đệ nào của Ðức Giêsu. Lời đó do viên đại đội trưởng Roma phát biểu sau khi đã thi hành án tử cho Người! Người đúng là Người Tôi Tớ chịu đau khổ để đền tội cho dân như ngôn sứ Isai đã loan báo (52,13-53,12) và Người thực hiện điều đó với tư cách là Con Thiên Chúa đúng theo kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa mà cuộc Vượt Qua của Israel xưa chỉ là hình bóng.

Xưa trong Cựu Ước dân Do Thái từng cử hành bữa ăn Vượt Qua để kỷ niệm cuộc giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập: "Ðức Chúa sẽ rảo khắp Ai Cập để đánh phạt, và khi thấy máu trên khung cửa, Ðức Chúa sẽ vượt qua trước cửa và không để cho thần tru diệt vào nhà anh em mà đánh phạt." (Xh 12,23): Máu bôi trên khung cửa chính là máu của Chiên Vượt Qua.

Thánh Lễ chính là Lễ Vượt Qua mới.

Nay trong Tân Ước chính Ðức Giêsu là chiên của lễ Vượt Qua mới. Sự chết và sự phục sinh của Người là cách thức mới và hoàn hảo theo đó Thiên Chúa cứu mọi người khỏi ách nô lệ. Nói theo Công Ðồng Vatican II: "Ðấng Cứu Ðộ chúng ta, trong bữa tiệc sau cùng đêm Ngài bị trao nộp, đã thiết lập hy tế Thánh Thể bằng Mình và Máu Ngài để lưu truyền hy tế thập giá suốt dòng thế kỷ cho đến khi Ngài tới và để trao cho Giáo Hội, hiền thê yêu dấu của Ngài, cuộc tưởng niệm nỗi chết và phục sinh của Ngài. Ðó là bí tích tình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, dây liên kết đức ái, bữa tiệc Vượt Qua, trong đó ta lãnh nhận Ðức Kitô làm lương thực nuôi dưỡng, lãnh nhận tràn đầy ơn thánh trong tâm hồn và lãnh bảo chứng vinh quang tương lai" (SC 47).

Lời loan báo đầu tiên về Thánh Thể đã phân rẽ các môn đệ cũng như lời loan báo về cuộc tử nạn đã khiến họ vấp ngã: "Lời này quá nặng, ai nghe nổi?" (Ga 6,60). Thánh Thể và Thập giá là những viên đá vấp, điều đó cũng huyền nhiệm và không ngừng thành cơ hội phân rẽ. Ðó là lúc Ðức Giêsu nêu câu hỏi giúp nhóm Mười Hai khẳng định về niềm tin của mình: "Còn anh em, anh em cũng muốn bỏ đi sao?" (Ga 6,67). Thực ra, câu hỏi đó luôn vang dội qua các thế hệ, mời gọi người tín hữu Kitô yêu mến Ngài, để khám phá chính Ngài vì "mình Ngài có lời ban sự sống đời đời" (Ga 6,68). Họ được mời tiếp nhận ơn ban Thánh Thể trong niềm tin là tiếp nhận chính Ngài.

Bài Tin Mừng hôm nay cùng với bài Tin Mừng tương đương trong Mátthêu, Luca (Mt 26,26-29; Lc 22,19-20) và thư Phaolô (1Co 11,23-25) để lại cho Giáo Hội trình thuật về thiết lập Thánh Thể. Còn Tin Mừng Gioan chương 6 thuật lại bài giảng của Ðức Giêsu trong hội đường Caphanaum là bài giảng chuẩn bị việc thiết lập bí tích Thánh Thể.

Ta lưu ý điều tông đồ Phaolô nhấn mạnh là chính ngài đã lãnh nhận từ nơi Chúa điều ngài truyền lại: "Trong đêm bị nộp Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: "Ðây là Mình Thầy hiến tế vì anh em, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ Thầy? Ðây là Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." (1Co 11,23-25).

Ðiều được Ðức Giêsu nhắc đi nhắc lại là "Hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." Do đó mới có thánh lễ. Ðặc biệt, "ngày thứ nhất trong tuần", ngày Chúa Nhật, ngày phục sinh của Ðức Giêsu, các tín hữu tụ họp "bẻ bánh" (Cv 20,7). Việc cử hành Thánh Thể lưu truyền từ đó đến nay, tới mức ngày nay ta thấy bí tích Thánh Thể được cử hành khắp nơi trong Giáo Hội với cùng một cấu trúc nền tảng. Thánh lễ thực sự là trung tâm cuộc sống Giáo Hội. Thánh Lễ gồm hai phần chính:
Thánh Lễ gồm hai phần chính:

Tụ họp nhau, phụng vụ Lời Chúa với những bài đọc Kinh Thánh, bài giảng và lời cầu nguyện cho mọi người.

Phụng vụ Thánh Thể với việc dâng bánh rượu tạ ơn hiến thánh và rước lễ.


Phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể cùng tạo nên, theo Công Ðồng Vatican II "một hành vi tôn thờ duy nhất" (SC 56): bàn tiệc bày dọn cho ta nơi Thánh Thể vừa là Lời Thiên Chúa, vừa là Thân Mình Chúa.

Cuộc cử hành diễn ra như sau:

Mọi người tụ họp. Các tín hữu tuốn đến nơi cử hành Thánh Thể. Ðứng đầu là Ðức Kitô, nhân vật chính của bí tích Thánh Thể. Ngài là Thượng Tế của Tân Ước. Chính Ngài chủ toạ cách vô hình toàn bộ cuộc cử hành Thánh Thể. Ðể đại diện Ngài, giám mục hay linh mục (hành động nơi bản thân Ðức Kitô là Ðầu) chủ toạ cuộc họp, diễn giải sau các bài đọc, tiếp nhận lễ dâng, và đọc kinh nguyện Thánh Thể. Mọi người đều có vai trò tích cực trong cử hành, mỗi người mỗi cách: đọc sách, mang lễ dâng, trao mình Chúa và toàn thể dân Chúa đáp Amen biểu lộ hành vi tham dự.

Phụng vụ Lời Chúa gồm những bản văn các ngôn sứ, nói khác, Cựu Ước và "các hồi ký tông đồ"; các thư và Tin Mừng. Bài giảng khuyến khích mọi người tiếp nhận Lời đúng như Chúa dạy và đem ra thực hành. Sau bài giảng là những lời cầu cho mọi người.

Dâng lễ vật: mang hoặc rước bánh và rượu lên bàn thờ. Bánh rượu sẽ là của lễ được linh mục dâng lên nhân danh Ðức Kitô trong hy lễ Thánh Thể để trở thành Mình và Máu Ðức Kitô.

Từ thuở đầu cùng với bánh rượu để trở nên Thánh Thể, các tín hữu còn mang quà tặng để chia sẻ với những ai thiếu thốn. Thói quen quyên góp này luôn hiện thực theo mẫu gương Ðức Kitô, Ðấng đã nên nghèo để chúng ta nên giàu (GLGHCG 1348-1351).

  Một số câu hỏi gợi ý

Bạn tâm đắc gì về cậu bé tám tuổi sẵn sàng hy sinh mạng sống mình để cứu em khỏi chết ? Bạn nhận ra những khác biệt nào giữa cậu bé ấy và Chúa Giêsu Ðấng đã hy sinh mạng sống để cứu chuộc bạn và cả nhân loại?

Bạn đọc lại phần cuối tờ chia sẻ này để nhận ra vai trò tham dự Thánh Thể của những nhân vật sau đây: Ðức Kitô ? Giám Mục hoặc Linh Mục chủ tế ? Chính bạn hoặc con em bạn có thể đóng vai trò nào khi tham dự Thánh Lễ?

Lm. Augustine, SJ

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-157: MẦU NHIỆM ĐỨC TIN


- Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long

 

Trong mỗi Thánh Lễ, sau khi linh mục truyền phép: bánh và rượu trở thành Mình Máu Thánh: THÁNHTHỂ-157


Trong mỗi Thánh Lễ, sau khi linh mục truyền phép: bánh và rượu trở thành Mình Máu Thánh Chúa Giêsu, ông giới thiệu cùng cộng đoàn dân Chúa: Đây là Mầu nhiệm đức tin.

Phải hiểu mầu nhiệm đức tin như thế nào đây?

1.Bữa tiệc với những người tội lỗi

Linh mục Sieger Koeder, một họa sĩ về nghệ thuật thánh, đã vẽ bức tranh „bữa tiệc với những người tội lỗi“ dựa theo tường thuật trong Phúc âm Thánh Marcô 2, 15-17). Bức tranh vẽ diễn tả những người ngồi quanh bàn bữa tiệc gồm đủ mọi thành phần, và hầu như họ không có chút gì liên quan hay biết về Bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu.

Đó là lớp người trí thức học cao suy nghĩ nhiều về khoa học thực dụng hơn là về mầu nhiệm Thánh Thể trừu tượng. Đó là lớp người sống hoài nghi luôn luôn đặt thắc mắc về những điều mắt thấy tai nghe. Đó là một cô gái điếm, mà cả phố đều nghe biết về đời sống lang thang bê bối tội lỗi. Đó là một người theo Do Thái giáo luôn luôn còn hằng mong chờ Đấng Cứu Thế đến. Đó là lớp người đến từ Phi Châu vẫn còn mang nặng tâm hồn đời sống với niềm tin tôn giáo địa phương bộ tộc của mình...

Trên bàn ăn là bánh mì và chén rượu, dấu chỉ Bí tích Thánh Thể. Ngoài ra hình ảnh Chúa Giêsu không nhìn thấy ở đây. Nhưng ở đầu bàn ăn là hình hai bàn tay đang dang mở ra hướng về phía mọi người ngồi quanh bàn.

Nhìn qua thì như vậy. Nhưng nhà họa sĩ muốn trình bày điều căn bản của bức tranh, mà hầu như người xem không mấy để ý tới: Bí tích Thánh Thể trình bày trong bức vẽ đây không là phần thưởng cho người đạo đức. Nhưng muốn mang đến cho người yếu hèn bé nhỏ sự củng cố tâm hồn, giúp họ vượt qua những thử thách trong đời sống. Tất cả mọi người muốn tham dự bữa tiệc, đều được đón tiếp. Không ai bị loại khỏi bàn tiệc. Chúa Giêsu, người chủ nhà của Bí tích Thánh Thể, mời mọi người đến dự tiệc. Bí tích Thánh Thể không đặt ra ranh giới chu vi nào. Nhưng ranh giới được nới mở rộng cho hết mọi người.

Ngắm nhìn bức tranh trong suy tư chúng ta đặt thắc mắc: ai là người xứng đáng gặp gỡ Chúa. Cùng trong Thánh Lễ chúng ta đã từng cầu nguyện“ Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con“.

Nhưng có lẽ không nên qúa chú trọng đến câu hỏi: Ai xứng đáng hay tôi có xứng đáng tiếp nhận Tấm Bánh chén rượu Bí tích Thánh Thể, mà chú ý hơn đến thắc mắc điều gì đã diễn ra trong bàn tiệc Bí tích Thánh Thể trong bức tranh này.

Đôi bàn tay giang mở ra hưóng về mọi người trong bức tranh vẽ có thể là một chỉ dẫn tìm ra câu trả lời cho thắc mắc đó.

2. Hình ảnh ẩn hiện trong đôi mắt

Với con mắt và trí hiểu thông thường của con người, mầu nhiệm Bí tích Thánh Thể vượt qúa tầm nhìn cùng suy hiểu của trí khôn.

Chúng ta không thể hiểu nổi tại sao, Chúa Giêsu lại có thể ẩn mình trong một miếng tấm bánh mì hay trong một chén rượu nho được? Tại sao Chúa Giêsu lại có thể biến đổi tấm miếng bánh mì, chén rượu nho thành thân xác và máu của Ngài, và để làm gì vậy?

Một ví dụ. Linh mục Giuse Nguyễn trọng Tước trong buổi giảng ở Đại hội Công Giáo bên Đức ngày 31.05.2009, khi nói về Bí tích Thánh Thể, đã dùng hình ảnh tấm bánh của một người mẹ mang về cho con mình, cắt nghĩa về Tấm bánh Thánh Thể.

“Một bà mẹ biết con thích ăn bánh, nên hằng tuần vào ngày thứ ba khoảng ba bốn giờ chiều, sau khi hội họp với các bà mẹ Công Gíao trong xứ đạo, bà đều mang theo về một gói qùa cho con đang chơi ngoài hàng hiên trước nhà. Nhận được gói qùa có chiếc bánh ngọt, em vui mừng ăn ngon lành. Mẹ em cũng vui mừng hãnh diện. Mẹ con cười nói kể cho nhau nghe những mẩu chuyện về con gà, con chó, luống rau ngoài vườn…

Nhưng dần dà em bé bỗng nảy sinh thắc mắc, làm sao mẹ mình hằng tuần vào ngày thứ ba khoảng ba bốn giờ chiều đi chợ về luôn có gói qùa với tấm bánh như mọi khi mang về cho mình ăn, ở đâu mẹ có như vậy??? Em thắc mắc và càng thắc mắc. Thắc mắc nhưng em vẫn nhận từ nơi mẹ em món qùa tấm bánh ăn ngon miệng.

Bỗng một hôm em nảy ra ý nghĩ xem mẹ đi đâu mà mua bánh như vậy. Vào đúng ngày thứ ba, Mẹ em đi rồi. Em nấp đàng sau bụi cây hàng dậu trước nhà xem mẹ đi tới đâu. Em khám phá ra, mẹ em đi đến phòng họp nhà xứ hội họp với các bà mẹ khác. Em hồi họp đi theo xa xa, và cúi mình nấp ở đàng sau nhà hội, cố đưa mắt nhìn xem như thế nào…

Sau những màn chào hỏi, đến mục uống nước ăn bánh. Khi đĩa bánh chuyền tới mẹ em, mẹ em một mặt cứ cười nói, một tay khéo léo kín đáo gạt miếng bánh xuống bên dưới lòng mình dưới ghế ngồi. Xong xuôi bà lại cẩn thận lấy miếng giấy sạch gói miếng bánh lại, và lại kín đáo bỏ vào túi mang về.

Tận mắt nhìn thấy cảnh tượng như thế, em vụt chạy về nhà trước. Em lại ra sân ngoài hiên chơi như mọi khi chờ mẹ về. Khi thấy mẹ về, em chạy ra ôm mẹ. Mẹ em lại cho em gói qùa như lần trước. Em vui mừng cám ơn mẹ. Sau đó em chạy ra đàng sau nhà ẩn khuất sau bức tường mở gói qùa ra ăn, nhưng em thắc mắc, tại sao mẹ lại không ăn mà lại kín đáo gói mang về cho em?

Việc cứ tiếp tục xảy ra như thế. Khi đã biết được như vậy, em nhận tấm bánh của mẹ và ăn bánh mẹ em trao cho với lòng nghẹn ngào biết ơn mẹ mình đã hy sinh nhịn ăn để có bánh mang về cho con ở nhà thích ăn bánh. Xưa kia em ăn bánh mẹ cho với lòng vui tươi của trẻ thơ ngon miệng. Nay em ăn bánh với lòng thổn thức, cảm động, nước mắt chảy thành dòng trên gò má. Em cảm thấy ngon miệng và no không phải vì bánh có mùi thơm ngon của bột của đường như lúc trứơc nữa, nhưng bây giờ chất chứa tràn đầy lòng hy sinh cùng tình yêu của mẹ em trong đó.

Em cầm tấm bánh mẹ cho trên đôi bàn tay như báu vật. Em ăn bánh với tâm tình thương nhớ mẹ. Lòng biết ơn của em kết tụ lại thành những giọt nước mắt cảm động lăn trên đôi gò má của trẻ thơ... “

Trong Bí tích Thánh Thể, qua hình tượng tấm Bánh và chén Rượu, Chúa Giêsu chỉ cho con người hình ảnh cùng cách sống lòng yêu mến và khiêm nhượng sâu thẳm. Qua hình ảnh tấm Bánh Bí tích Thánh Thể, Thiên Chúa muốn chỉ cho con người nhìn ra, Ngài đã yêu mến con người như thế nào, nên đã hạ mình ẩn hiện trong tấm bánh trong giọt rượu.

Chúng ta được phép tiếp nhận tấm Bánh Thánh Thể, trong đó ẩn chứa hình ảnh Thiên Chúa. Và tình yêu của Ngài được mở ra cho con người qua đó, như Thánh Gioan trong sâu thẳm của đức tin đã viết để lại: Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,16)

3. Thiên Chúa ở đâu

Từ xưa nay, hầu như con người chúng ta đều suy nghĩ rằng Thiên Chúa và trần gian con người xa nhau diệu vợi. Thiên Chúa, Đấng ở trên trời cao thẳm, còn dưới đất trần thế này là chỗ cư ngụ của con người. Thiên Chúa ở bên phía bờ bên kia, con người ở bên bờ bên này.

Nhưng càng như đẩy xa Thiên Chúa lên tít trời cao thẳm, con người chúng ta lại càng quay trở về mình. Càng quay trở về mình, khát vọng hướng về sức mạnh và sự tự lập lại càng nảy sinh thêm nơi con người. Lằn ranh ngăn chia cách không có bình an hạnh phúc như thế giữa với Thiên Chúa với con người làm phát sinh nơi con người ước vọng thống trị. Chính điều này gây nên cùng gieo rắc đầy dẫy những bất hạnh cho trần gian.

Trái lại, Bí tích Thánh Thể nói với con người chúng ta: Thiên Chúa không ở xa con người. Ngài không ở bờ phía bên kia, không ở trên chốn trời cao thẳm, nhưng Ngài ở sát gần con người. Gần sát hơn nữa, chúng ta không thể cắt nghĩa sự gần gũi của Thiên Chúa qua lương thực tấm bánh Bí tích Thánh Thể, mà chúng ta tiếp nhận.
Thiên Chúa luôn hằng ở sát bên con người, cả trong thời gian khủng hoảng, thời điểm sống trong nghi hoặc, sợ hãi lo âu, thời kỳ gặp đau khổ. Khi gặp thập gía đau khổ chăng ngang lối cuộc đời, con người chúng ta đâu cần phải cậy vào sức lực riêng của mình, nhưng sức mạnh của Thiên Chúa trong đời sống giúp tinh thần vững mạnh vượt qua lúc khốn khó đau khổ.

Bí tích Thánh Thể kêu mời con người chúng ta tin tưởng vào sự gần gũi sát gần của Thiên Chúa.

***

Meister Eckhard nói lên kinh nghiệm đời sống tinh thần: “Nơi nào có đổ nát hoang tàn, nơi đó ẩn chứa niềm hy vọng vươn lên như một kho tàng qúy gía. Tại sao lại không đi tìm kiếm kho tàng tình yêu Thiên Chúa trong trái tim khô cứng hoàng tàn nơi chính trái tim lòng mình?”

Bức tranh “ Bữa tiệc với những người tội lỗi” của Sieger Koeder cắt nghĩa phần nào: Thiên Chúa cũng đi vào tận trái tim tâm hồn đổ nát hoang tàn. Khung cảnh sinh ra nơi hang chuồng súc vật Bethlehem của Chúa Giêsu nói lên Chúa đã làm người giữa trần gian như thế nào!

Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-158: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KI TÔ


- Lm. Ignatiô Hồ Thông

 

Lễ Mình Máu Thánh Chúa Ki tô đã được thiết định vào thế kỷ thứ mười ba. Lễ nầy phát: THÁNHTHỂ-158


Lễ Mình Máu Thánh Chúa Ki tô đã được thiết định vào thế kỷ thứ mười ba. Lễ nầy phát xuất từ giáo phận Liège, vào năm 1246. Vào năm 1264, được Đức Thánh Cha Urbano IV phổ biến cho toàn thể Giáo Hội, và vào năm 1312 được Đức Thánh Cha Clément V khẳng định. 

Kinh nguyện, các bài đọc cũng như phụng tự được gán cho Thánh Tô-ma A-qui-nô. Những cuộc rước kiệu Mình Thánh Chúa qua các ngã đường xưa kia đem lại cho ngày lễ nầy một sự rực rỡ lớn lao.  

 Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay nêu bật giá trị của giao ước được đóng ấn bởi máu của tế vật. 

Xh 24: 3-8 
Sách Xuất Hành giới thiệu nghi thức Giao Ước được ký kết giữa Đức Chúa và dân Do thái. Giao Ước được đóng ấn bởi máu của tế vật, máu nầy được rảy trên hai phía ký kết: Đức Chúa, được biểu tượng bởi bàn thờ, và mười hai bộ tộc quy tụ ở chân núi Xi-nai, đối diện với bàn thờ. 

Dt 9: 11-15 
Thư gởi tín hữu Do thái cho thấy sự cao vời của hy tế Đức Ki tô trên các hy tế Cựu Ước, vì Đức Ki tô đã hiến dâng máu của chính mình. 

 Mc 14: 12-16, 22-26 
Đoạn Tin Mừng Mác-cô tường thuật việc Đức Giê-su thiết lập bí tích Thánh Thể, hy tế Giao Ước mới.

BÀI ĐỌC I Xh 24: 3-8

Sách Xuất Hành tường thuật không chỉ cuộc “xuất hành ra khỏi” đất Ai-cập, nhưng còn kinh nghiệm tôn giáo mà dân Do thái đã kinh qua trong sa mạc. Kinh nghiệm không thể chối cãi nầy xác minh kinh nghiệm mà các tổ phụ xưa kia của họ đã được hưởng. 

Chính khởi đi từ giây phút nầy mà dân Do thái đã không còn cảm thấy mình là một dân mất gốc, nhưng ý thức mình là dân được Thiên Chúa đích thân che chỡ phù trợ. Tất cả những ai, sau khi có một mặc khải huyền nhiệm, sống mặc khải nầy trọn cuộc đời của mình như thế nào, dân Ít-ra-en đã luôn luôn quy chiếu đến những biến cố Xuất Hành để hiểu lịch sử của mình và những mối liên hệ ưu tiên của mình với Thiên Chúa như vậy. 

 Họ đã ghi lại những mối liên hệ nầy bằng những thuật ngữ giao ước, theo cách thức mà nhân loại ký kết ở giữa họ: Thiên Chúa đề nghị che chỡ bảo vệ họ và đòi hỏi họ vài điều kiện của Ngài (những đòi hỏi của Thiên Chúa cốt yếu được chứa đựng trong Thập Giới). Phía họ phải cam kết tôn trọng những điều kiện nầy. 
 Tất cả mọi truyền thống liên quan đến Giao Ước Xi-nai đều định vị Giao Ước trong khung cảnh uy nghi và trình bày Giao Ước như một phụng vụ. 

 Đoạn văn chúng ta đọc hôm nay tường thuật việc ký kết Giao Ước long trọng, theo một dị bản phát triển nhất trong số những dị bản. Đây là dị bản mà Đức Giê-su sẽ quy chiếu khi thiết lập hy tế Giao Ước mới. Dị bản nầy, thuộc chứng liệu Ê-lô-hít (thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên), được tường thuật ở Xh 24: 3-8. Một truyền thống khác thuộc chứng liệu Gia-vít (thế kỷ thứ mười và thứ chín trước Công Nguyên), được tường thuật ở Xh 24: 1-2 và 9-11. Trong khi truyền thống Gia-vít gợi lên việc ký kết Giao Ước qua một bữa ăn thánh trên núi Xi-nai trước sự hiện diện của Đức Chúa cùng với ông Mô-sê, ông A-ha-ron, các con trai của ông A-ha-ron và bảy mươi kỳ mục của dân Ít-ra-en, thì truyền thống Ê-lô-hít được trích dẫn hôm nay nhấn mạnh nghi thức rẩy máu trên bàn thờ và trên dân. Diễn tiến của nghi thức nầy rất đáng chú ý: nó loan báo sơ đồ sẽ được chấp nhận để cử hành Thánh Thể: trước tiên, phụng vụ Lời Chúa, đoạn, phụng vụ hy tế. 

 1. Phụng vụ Lời Chúa: 

Khi từ trên núi xuống, ông Mô-sê, xướng ngôn viên của Đức Chúa, tường thuật cho toàn thể cộng đồng quy tụ ở dưới núi “mọi lời của Chúa và mọi giới luật”. Dân chúng đồng thanh cam kết: “Mọi lời Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành”. Vì thế, “ông Mô-sê chép lại mọi lời của Chúa”. 

 “Mọi lời của Chúa” phải được hiểu là “Mười Lời” hay “Thập Giới”. Còn “mọi giới luật” chắc chắn quy chiếu đến các luật luân lý, xã hội và tế tự được trình bày trong các chương 20-23, được gọi dưới tên “Bộ Luật Giao Ước”, nhưng bộ luật nầy rõ ràng không được soạn thảo trong sa mạc; nó thuộc về thời kỳ đầu tiên định cư ở đất Ca-na-an; nó được tháp nhập sau nầy vào Thập Giới và cho Thập Giới những áp dụng thực tiễn. 

 Như chúng ta đã biết rồi, ông Mô-sê đã lớn lên trong cung của Pha-ra-on và đã được đào tạo thành các thư lại. Ấy vậy, một trong những chức năng của các thư lại là ghi chép những bản hiệp ước. Một cách nào đó, ông Mô-sê làm như vậy khi xác định bằng văn bản những khoản Giao Ước mà dân Ít-ra-en sẽ phải tôn trọng. Mọi hiệp ước ở Đông Phương xưa đều được viết bằng văn bản và phải được đọc theo định kỳ. 

 2. Phụng vụ hy tế: 

Sáng hôm sau diễn ra hy lễ đóng ấn Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân Chúa chọn. 

Hai bên ký kết diện đối diện với nhau: bàn thờ đại diện Đức Chúa. Dân Ít-ra-en, quy tụ lại, hiện diện vừa hữu hình vừa biểu tượng bởi mười hai thạch trụ đại diện mười hai chi tộc Ít-ra-en. 

 Như vậy, những thạch trụ nầy sẽ là những chứng nhân bất khả hủy về lời cam kết của dân Ít-ra-en. Cũng vậy, ở đại hội Si-khem, sau khi dân vào Đất Hứa, khi mà Giao Ước được long trọng làm mới lại, ông Giô-su-ê sẽ dựng một tảng đá lớn ghi nhớ muôn đời lời thề hứa trung thành của toàn thể con cái Ít-ra-en (Gs 24: 26-27). 

 “Rồi ông Mô-sê sai các thanh niên trong dân Ít-ra-en tiến dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò tơ làm lễ hiệp thông tế Chúa”. Vào thời ký nầy, chưa tổ chức chức vụ tư tế (ở Ít-ra-en, tư tế là chức vụ chứ không ơn gọi). Trong thời kỳ tiền quân chủ, người ta tự ý chọn các thanh niên thi hành chức vụ mà sau nầy sẽ dành riêng cho các tư tế Lê-vi (cf. Xh 33: 11; Tl 17: 5; 1Sm 3: 3; 7: 1). 

 Các thanh niên mà ông Mô-sê chỉ định thực hiện hai loại hy lễ: 

Trước hết “hy lễ toàn thiêu”. Như từ chỉ ra, tế vật được hoàn toàn hỏa thiêu. Đây là hình thức hy tế xưa nhất ở Ít-ra-en, tự nguồn gốc, mang đặc tính tạ ơn. Sau nầy, hy tế nầy trở nên thông thường; sẽ có lễ toàn thiêu hằng ngày ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. 
Tiếp đó, “hy lễ hiệp thông” theo đó hai bò tơ được sát tế. Nét đặc trưng của hy lễ hiệp thông là một bữa ăn giữa những người tham dự trước thánh nhan Thiên Chúa. Loại hy tế nầy nhằm thiết lập lại những mối quan hệ tốt đẹp giữa Thiên Chúa và các tín hữu của Ngài.
 
3. Nghi thức rảy máu: 

Nghi thức được mô tả tiếp theo là duy nhất trong toàn bộ Cựu Ước. 

 Những súc vật bị cắt cổ cho máu hoàn toàn chảy ra hết. Điều nầy rất phù hợp với phong tục đặc biệt của dân Ít-ra-en. Nhưng máu nầy, thay vì được dành riêng cho chỉ mình Thiên Chúa như trong tất cả những hy tế khác, lại được tách riêng thành hai phần, được rảy trên hai bên ký kết giao ước. Trước hết, ông Mô-sê rảy phần nữa máu trên bàn thờ đại diện Đức Chúa; phần còn lại ông rảy trên dân chúng, sau khi đã lập lại lời hứa cam kết trung thành của họ: “Đây là máu giao ước Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời nầy”. 

 Việc đóng ấn sự thỏa thuận bằng máu, chỗ của sự sống, và chung chung được dành riêng cho chỉ mình Thiên Chúa, chính là đem lại cho sự thỏa thuận này hình thức trang trọng nhất, cực thánh nhất mà người ta có thể tưởng tượng được. 
 
Cử chỉ của Đức Giê-su ban máu của chính Ngài để đóng ấn Giao Ước mới mặc lấy một sự trang trọng còn lớn lao hơn nhiều, vì Đức Ki tô không chỉ là Đấng Trung Gian như ông Mô-sê, Ngài đồng thời là tế vật nữa. Không thể nào có một sự cam kết tận căn về phía Thiên Chúa đối với nhân loại đến như thế, không lời hứa nào, không một nghi thức hiệp thông nào giữa Thiên Chúa và nhân loại, lớn lao hơn nghi thức của Giao Ước Mới được thực hiện trong bí tích Thánh Thể. 


 BÀI ĐỌC II  Dt 9: 11-15

Thư gởi tín hữu Do thái là bản văn Tân Ước duy nhất giới thiệu Đức Ki tô là Thượng Tế đích thật. 

 Ngài là Thượng Tế nhưng cũng là tế vật. Vào ngày lễ Mình và Máu Chúa Ki tô nầy, phụng vụ dâng hiến cho chúng ta một đoạn trích thư gởi tín hữu Do thái ở đó tác giả cho thấy máu của Đức Ki tô cao vời khôn sánh so với máu của súc vật bị sát tế dưới Giao Ước Cũ. Nhưng còn hơn nữa, tác giả nhấn mạnh rằng hy tế của Đức Ki tô thuộc bản chất khác: một của lễ tiến dâng tự nguyện thuộc trật tự tinh thần và tính hiệu lực tinh thần của nó. 

 Chúng ta không biết tác giả lẫn người nhận. Ông chắc chắn là một môn đệ hay người bạn đồng hành của thánh Phao-lô; người nhận là những Ki tô hữu gốc Do thái, kỳ cựu trong đức tin, nhưng mất can đảm bởi những bách hại mà họ là đối tượng. Dường như họ vẫn ôm ấp nỗi nhớ về những nghi lễ uy nghi và trang trọng trong Đền Thờ. Đối với họ, nghi lễ Thánh Thể chắc chắn xem ra quá đơn giản. 

 1. Đức Ki tô, vị Thượng Tế của Giao Ước Mới: 

Tác giả đối chiếu chức tư tế của vị Thượng Tế Cựu Ước và chức tư tế của Đức Ki tô. Những điểm so sánh của ông cốt yếu được vay mượn ở nơi nghi lễ của đại lễ Toàn Xá xảy ra một năm một lần. Vào ngày duy nhất nầy, vị Thượng Tế bước vào nơi cực thánh của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và với máu của tế vật ông tiến hành các nghi thức xá tội để xin tha thứ tội lỗi của chính ông và của toàn dân. 

 So sánh với sứ vụ của vị Thượng Tế nầy, sứ vụ của Đức Ki tô thì cao vời khôn sánh, vì Đức Ki tô là “vị Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai”. 

 Tác giả sắp mô tả và cho thấy những phúc lộc của thế giới tương lai nầy mà Đức Ki tô đã đạt được là thế nào: đó là những phúc lộc muôn đời bền vững, đã được hứa ban và từ nay đã đạt được một lần thay cho tất cả; những phúc lộc thần thiêng chứ không vật chất và bên ngoài.

Sự cao cả của sứ vụ của Đức Ki tô xem ra ngay từ đầu do bởi sự cao cả của cung thánh. Trái với vị Thượng Tế Cựu Ước, để gặp gỡ Thiên Chúa, Đức Ki tô không đi qua một đền thờ “do bàn tay con người làm nên, nghĩa là không thuộc về thế giới thọ tạo nầy”. 

 Dường như tác giả nhắm đến thân thể của Đức Ki tô được tôn vinh. Việc gặp gỡ Thiên Chúa như vậy là dứt khoát, không cần lập đi lập lại mỗi năm một lần. Đức Ki tô đã mở ra một lần thay cho tất cả một con đường dẫn đến Chúa Cha. Tác giả viết sau nầy: “Chúng ta được thánh hóa nhờ Đức Giê-su Ki tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ” (Dt 10: 10). 

 Vị Thượng Tế Cựu Ước rảy máu trên bàn thờ, đó không phải máu của chính ông nhưng máu của những tế vật thụ động. Trái lại, Đức Ki tô đã dâng hiến chính máu của mình trong hiến lễ có ý thức và tự nguyện. Vị Thượng Tế Cựu Ước chỉ đạt được ơn tha thứ tội lỗi tạm thời; Đức Ki tô đạt được sự giải thoát dứt khoát. 

 Những tế vật phải là vô tì vết. Đức Ki tô là tế vật vẹn toàn, tuyệt mức thanh sạch và thánh thiện; vì thế, hy tế của Ngài cũng tác sinh tính hiệu lực tuyệt mức. Việc rảy máu súc vật đem lại sự thanh sạch nghi thức trong khi máu của Đức Ki tô đem lại sự thanh sạch nội tâm. 

 2. Tính hiệu lực của hy tế Đức Ki tô. 

Tại sao hy tế của Đức Ki tô lại cao vời như vậy? Tại sao hy tế của Ngài đem lại tính hiệu lực như vậy? Vì ở nơi Đức Ki tô có Chúa Thánh Thần. Tác giả nói “Thánh Thần hằng hữu” để làm nổi bật sự tương phản đáng kinh ngạc: cái chết của Đức Giê-su đạt được những phúc lộc vĩnh viễn. 

Với tư cách là hiến lễ thần linh, hiến lễ tinh thần, hy tế của Đức Giê-su tái sinh nền tảng ngay cả của lương tâm. Những ai đã được thanh tẩy như thế mới có thể dâng lên Thiên Chúa lễ tế xứng với Ngài. 

 Nên đọc lại toàn bộ thư gởi tín hữu Do thái, vì hiến lễ của Đức Ki tô được gợi lên ở đây không chỉ là hiến lễ đẩm máu của Thập Giá, nhưng là hiến lễ của toàn bộ cuộc sống trần thế của Đức Giê-su từ khi Ngài nhập thể. Tác giả áp dụng cho Đức Giê-su những câu Thánh Vịnh 40: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa nầy con đây, con đến đẻ thực thi ý Ngài” (Dt 10: 5-7). 

 Tác giả thư gởi tín hữu Do thái gợi lên những nghi lễ Đền Thờ hiện nay, như một phụng vụ vẫn còn sống động (điều nầy khiến nghĩ rằng ông viết thư nầy trước năm 70, năm đánh dấu Đền Thờ bị phá hủy); ông ngỏ lời với các Ki tô hữu gốc Do thái, và muốn cho họ thấy rằng những nghi thức của Giao Ước Cũ chỉ là tiên trưng; chúng chỉ có giá trị tương đối. Thực tế, chính hy tế của Đức Ki tô đã xóa hết “tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ”. 

Từ đây, những ai đã nhận lời hứa phúc lộc đời đời đã đạt được nhờ Giao Ước Mới. 

 TIN MỪNG Mc 14: 12-16, 22-26 

Đoạn Tin Mừng Mác-cô nầy được trích từ bài Thương Khó vào Chúa Nhật lễ Lá và Khổ Nạn. Chúng tôi quy chiếu đến bài chú giải nầy. 

 1. Chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua (14: 12-16): 
"Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày giết chiên mừng lễ Vượt Qua". Hai ngày đại lễ nầy từ lâu được cử hành cùng một cặp song đôi với nhau: vào lễ Vượt Qua, lễ của những người chăn nuôi, họ giết một con chiên tơ, và lễ Bánh Không Men, lễ của những người trồng trọt, họ dâng hiến những sản phẩm đầu mùa và làm bánh không men với những hạt lúa mạch đầu tiên. Việc hiệp nhất hai lễ nầy đã trở nên dể dàng hơn vì bữa ăn lễ Vượt Qua cũng bao gồm bánh không men. 

 Lễ Vượt Qua buộc phải được cử hành ở Giê-ru-sa-lem; bữa ăn con chiên bị sát tế trong khuôn viên Đền Thờ, "phải được ăn ở trong thành". Điều nầy khiến các môn đệ bận tâm. Đức Giê-su là một tôn sư lưu động không nơi cố định; thêm nữa, Ngài là người Ga-li-lê. Vì thế, họ hỏi Ngài: "Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?". 

 Hoạt cảnh theo sau giống đến kỳ lạ với hoạt cảnh trước đó khi Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mê-si-a: Đức Giê-su sai hai môn đệ đi trước, họ sẽ gặp thấy mọi việc như Ngài đã mô tả cho họ. Trong trường hợp thứ nhất: một con lừa con đang cột sẳn ở đó; còn ở đây, một người mang vò nước đến gặp hai ông. Cả hai lần, những biến cố xảy ra đúng như Chúa Giê-su mong muốn: người ta để cho hai ông dắt con lừa đi; người mang vò nước dẫn hai môn đệ vào nhà và chỉ cho hai ông một phòng đã được chuẩn bị sẳn sàng cho Ngài với các môn đệ cử hành lễ Vượt Qua. Thánh ký muốn nói rằng Đức Giê-su đã dự liệu tất cả, chính Ngài tổ chức lễ Vượt Qua sau cùng nầy như trước đây Ngài đã tổ chức cuộc khải hoàn tiến vào thành Giê-ru-sa-lem. 

 2. Thiết lập Bàn Tiệc Thánh Thể (14: 22-26):  

Lễ Vượt Qua Do thái, mà Đức Giê-su cử hành với các môn đệ thành bữa Tiệc Ly, biến thành lễ Vượt Qua Ki tô giáo bởi việc thiết lập Bàn Tiệc Thánh Thể: vừa nối tiếp vừa đoạn tuyệt: song đối sâu xa và mới mẻ tận căn. 

 Lễ Vượt Qua Do thái tưởng niệm cuộc giải phóng dân Ít-ra-en khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập, nhờ vào máu con chiên được bôi trên cửa nhà của người Do-thái. Nhờ dấu hiệu nầy, Thiên Chúa đã nhận ra dân của Ngài nên đã tha chết cho họ.  

 Đức Giê-su loan báo cuộc giải phóng khỏi cảnh đời nô lệ tội lỗi nhờ máu Ngài "đổ ra vì muôn người". Về phương diện lịch sử, cuộc giải phóng khỏi Ai-cập đã hình thành nên dân Ít-ra-en như dân Chúa chọn và cuộc tuyển chọn nầy đã được hiến thánh trên núi thánh Xi-nai, bởi Giao Ước Cũ. 

 Nhờ ân ban thân thể của Ngài và máu của Ngài, được chia sẻ ở giữa mọi người, Đức Giê-su thiết lập một dân Chúa chọn mới; Giao Ước Mới được đóng dấu trong máu của Ngài. Ở nơi bàn tiệc Thánh Thể, Đức Giê-su tham dự trước vừa cuộc Tử Nạn của Ngài vừa cuộc Phục Sinh của Ngài.  

 Nếu khung cảnh lễ Vượt Qua soi sáng sự biến đổi kỳ diệu của việc cử hành xưa như vậy, thì bữa ăn nầy cũng là bữa tiệc ly, mặc khải tất cả khía cạnh thống thiết của nó: Đức Giê-su sắp từ biệt các môn đệ của mình, những người mà Ngài yêu thương, những người mà Ngài trao phó truyền đạt sứ điệp của Ngài; Ngài không muốn để họ lại một mình; Ngài gặp thấy phương tiện để ở lại với họ, bằng cách thiết lập quà tặng kỳ diệu này, quà tặng của chính bản thân mình, nhờ đó các Tông Đồ cũng như những người kế nghiệp các ngài có thể lưu truyền mãi mãi. Chỉ duy một mình Thiên Chúa mới có thể vừa ra đi vừa ở lại. 

 Thánh Mác-cô cũng nhấn mạnh "giá trị cánh chung" của "bàn tiệc Thánh Thể". Bàn tiệc này là một sự tiếp cận, một sự tham dự trước bàn tiệc Thiên Quốc: "Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa". 

 Cuộc sống tương lai thường thường được biểu thị như bàn tiệc; và rượu nho như một trong những dấu chỉ của "niềm vui thời Mê-si-a" và niềm vui muôn đời của thế giới sắp đến. Đây đã là một trong những ý nghĩa của dấu lạ tiệc cưới Ca-na, tự nó là khúc dạo đầu của phép lạ bàn tiệc Thánh Thể. Nước biến thành rượu đáp ứng với rược biến thành máu. 

 Đoạn văn này chứa đựng một chi tiết quý báu: "Hát Thánh vịnh xong…" Đây chính là thánh thi tạ ơn được gọi "Hallel", mà người ta hát sau bữa ăn Vượt Qua. Bài thánh thi tạ ơn này được trích từ các thánh vịnh 113-118 (một trong những Thánh vịnh nầy đã được trích dẫn rồi trong bữa ăn); như vậy, bữa Tiệc Ly của Đức Giê-su đích thực là bữa ăn Vượt Qua, ít ra theo các Tin Mừng Nhất Lãm. 

Lm. Ignatiô Hồ Thông

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-159: TRAO BAN ĐẾN TẬN CÙNG - Lm. Ignatiô Trần Ngà

 

Tình thương là động cơ chính thúc đẩy người ta ban tặng cho nhau. Vì tình yêu thương có nhiều: THÁNHTHỂ-159


Tình thương là động cơ chính thúc đẩy người ta ban tặng cho nhau. Vì tình yêu thương có nhiều cấp độ hơn kém khác nhau nên việc trao ban cũng có nhiều mức độ nhiều ít khác nhau.

Trao ban những thứ dư thừa

Khi gặp một người ăn xin xa lạ trên đường phố chìa tay tìm sự giúp đỡ, khách bộ hành dừng lại, tần ngần mở ví, tìm đồng tiền nhỏ nhất trao cho người ấy.

Khi gặp người lỡ bước không chỗ tạm trú qua đêm, người chủ của căn nhà sang trọng chỉ nhường cho người đó một xó nhỏ ngoài hành lang nhà mình.

Khi có nạn nhân những vùng bị lũ quét cuốn trôi hết gia tài sản nghiệp, người dư ăn dư mặc chỉ chia sẻ cho họ những bộ áo quần cũ kỹ, mặc không vừa ý…

Vì tình thương đối với những người hoạn nạn ấy rất nhỏ nhoi nên người ta chỉ trao tặng họ những của dư thừa.

Trao ban những điều cần thiết

Khi tình yêu dành cho người khác lớn hơn, người ta sẽ ban tặng cho họ những thứ cần thiết hơn. Hai người bạn tù thương mến nhau đang sống trong cảnh tù đày thiếu đói, người nầy sẵn sàng bẻ đôi miếng bánh đang ăn để chia sớt cho người kia cùng chịu cảnh tù tội đói khát với mình.

3. Trao ban cả bản than

Cao cả hơn hết là trao ban chính bản thân mình. Đó là khi người có đôi mắt tinh tường sẵn sàng hiến một con mắt của mình cho người bị nạn hỏng cả hai mắt; người có hai quả thận hoạt động tốt, hiến cho người bị hư thận hoàn toàn một quả; người có hai lá phổi lành lặn, hiến cho người bị ung thư hai buồng phổi một lá; người có hai cánh tay khoẻ mạnh tình nguyện hiến nguyên cả một cánh tay của mình cho người bị tai nạn nghề nghiệp đứt lìa hai chi trên.

Chỉ khi nào người ta yêu mến nạn nhân hết lòng hết sức, yêu nạn nhân còn hơn cả bản thân mình, người ta mới hiến tặng những chi thể trong thân mình cho họ. Vì thế, những nghĩa cử cao đẹp đó rất hiếm hoi trên cõi đời ô trọc nầy.

Chỉ có Chúa Giê-su mới trao ban cả thân xác và mạng sống của Người cho chúng ta.

Người đời nghèo thiếu tình yêu nên cũng rất bủn xỉn trong việc trao ban. Chúa Giê-su yêu thương chúng ta hết lòng, hết sức, trên hết mọi sự nên Người trao ban cho chúng ta tất cả không tiếc nuối điều gì, thậm chí còn ban cả bản thân và mạng sống của Người cho chúng ta.

Khi nhân loại ngụp lặn trong đại dương chết chóc mong ước có một “Tấm Phao” thần diệu cứu họ khỏi đắm chìm trong biển chết hãi hùng, Chúa Giê-su từ trời gieo mình xuống và trở nên “Phao Cứu Sinh” cho họ.

Khi nhân loại khao khát thứ bánh thần thiêng mang lại sự sống đời đời, Chúa Giê-su hiến ban Thân Mình Người làm bánh trường sinh mang lại sự sống vĩnh cửu cho thế nhân.

Khi loài người cần máu của Con Thiên Chúa đổ ra tẩy rửa tội lỗi ngút ngàn của họ, Chúa Giê-su sẵn sàng trút máu mình ra không tiếc nuối.

Khi con người cần sinh mạng của Ngôi Hai Thiên Chúa để đổi mạng cho mình, Chúa Giê-su vui lòng dâng hiến mạng sống mình chết thay cho muôn dân…

Chúa Giê-su luôn đáp ứng tất cả những nhu cầu sâu xa nhất, bức thiết nhất của chúng ta cho dù Người phải thiệt mất mạng sống.

Chúa Giê-su trao ban hết tất cả những gì Người có và ban chính bản thân Người vì yêu thương chúng ta.

“Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình” (Gioan 15,13)

Lạy Chúa Giê-su,
Không ai trên cõi đời nầy yêu thương chúng con bằng Chúa.
Dù chúng con có phản bội, có thờ ơ hờ hững với Chúa thì Chúa vẫn trọn đời yêu quý chúng con.


Vậy mà tiếc thay, nhiều người trong chúng con không nhận ra tình yêu cao vời ấy.

Xin đừng để chúng con trở nên người bội bạc vong ân vì không cảm nhận được tình yêu của Chúa và không biết đáp đền tình yêu trời bể Chúa dành cho chúng con.
Lm. Ignatiô Trần Ngà

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-160: TÌNH YÊU TUYỆT VỜI


 - Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

Mc 14,12-16.22-26

 

Chúa Giêsu đã nói một câu tuyệt diệu bằng chính cả cuộc đời của Ngài: " Không có tình yêu nào: THÁNHTHỂ-160


Chúa Giêsu đã nói một câu tuyệt diệu bằng chính cả cuộc đời của Ngài: " Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ). Chúa Giêsu đã đi tới cái tận cùng của việc hiến dâng là cái chết. Tình yêu hoàn toàn tự hiến của Ngài đã nói lên sự quảng đại vô bờ của Ngài: ” chết mới diễn tả mọi sự, chết mới thốt lên lời”. Chúa chết để cứu chuộc loài người, cứu độ con người. Ngài chết nhưng Ngài vẫn sống, Ngài chết để trao ban chính Thịt Máu của Ngài để nuôi sống nhân loại.

ĂN LỄ VƯỢT QUA LẦN CUỐI:

Trong lễ Vượt Qua lần cuối này, thực sự các môn đệ, những người thân cận của Chúa đã không ngờ được Thầy của họ đã làm một cử chỉ không bao giờ họ có thể ngờ và chưa hiểu ngay được.Chúa Giêsu đã tiên liệu nơi ăn lễ Vượt Qua: một phòng rộng rãi trên lầu của một gia đình mà Phêrô và Gioan đã vâng lời Chúa mượn được.Các môn đệ chỉ phải lo lễ vật để dùng trong bữa tiệc: bánh không men, rượu, chiên và rau diếp đắng. Các mộn đệ không hề biết Chúa sẽ làm gì trong bữa tiệc ly này. Nhưng chỉ mình Chúa biết việc gì Ngài sẽ làm trong lễ Vượt qua này. Bởi vì các môn đệ cũng đã từng ăn lễ Vượt Qua với Chúa. Tuy nhiên bánh và rượu những lần trước chỉ là bánh rượu bình thường. Còn trong bữa tiệc hôm nay, các môn đệ không thể ngờ và không bao giờ ngờ khi Chúa cầm lấy bánh tạ ơn Thiên Chúa Cha, bẻ ra vào trao cho các ông và nói: ” Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy “.

Ngài còn trao rượu cho các ông mà nói: ” Đây là Máu thầy, Máu giao ước mới, đổ ra vì nhiều người “. Như thế, chính giờ phút này, chính lúc nói lời này: bánh và rượu đã được biến đổi tận căn để trở thành Mình và Máu Chúa Giêsu. Các môn đệ ăn bánh và uống rượu để thông hiệp, trở nên một với cái chết của Thầy trên thập giá. Và cũng ngay ngày hôm sau, trên núi Sọ, máu của Chúa đã đổ ra, và thân xác của Chúa bị tàn tạ, nát tan. Ngài bị đóng đinh trên thập giá giữa giữa hai tên trộm cướp. Hy lễ núi Canvê chỉ diễn ra một lần nhưng bao trùm mãi mãi dòng lịch sử nhân loại, và bữa tiệc cuối cùng của Chúa chỉ diễn ra một lần nhưng Ngài muốn nó được lập đi lập lại mọi ngày cho tới tận thế: ” Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy “ ( Lc 22, 19 ).

HY TẾ TẠ ƠN VẪN TỒN TẠI MÃI CHO ĐẾN TẬN THẾ:

Từ giây phút ăn lễ Vượt Qua cuối cùng với các môn đệ, Chúa đã thiết lập Bí tích linh mục thừa tác và thiết lập Bí tích Thánh Thể. Do đó, mỗi thánh lễ là cuộc tái diễn lại bữa tiệc ly và mỗi thánh lễ là một hy tế thập giá. Cái chết của Chúa trên thập giá khi xưa để cứu độ con người nay thành hiện tại để đem lại sự sống mới cho con người mọi nơi mọi lúc. Mỗi lần chúng ta lãnh nhận Mình Máu Chúa là chúng ta gặp gỡ chính Đấng đã hy sinh chịu chết vì chúng ta, là chúng ta được kết hợp với Đấng đã yêu thương chúng ta đến cùng.Rước Chúa có nghĩa là chúng ta được mời gọi chia sẻ, thông phần, bẻ ra và hiến trao như Đấng chúng ta lãnh nhận. Chính vì thế, chúng ta không còn khép kín, ích kỷ chỉ nghĩ đến ta mà phải sống như Đấng đã hy sinh vì chúng ta. Bao lâu chưa đến ngày cùng tận, bấy lâu thánh lễ vẫn còn nối tiếp trong dòng đời, trong lịch sử nhân loại.

BÍ TÍCH THÁNH THỂ LÀ BÍ TÍCH TÌNH YÊU:

Để lại cho nhân loại chính Mình và Máu Chúa, Chúa Giêsu muốn nói lên tình yêu vô biên của mình đối với nhân loại, đối với mọi người, đối với từng người. Thánh Thể là Bí tích tình yêu, là trung tâm đời sống của Kitô hữu, là lương thực thiêng liêng nuôi sống người tín hữu, là món quà tuyệt vời Thiên Chúa trao tặng cho nhân loại, ban cho từng người. Đây là Bí tích bảo đảm sự sống trường sinh cho con người, là quà tặng không tiền khoáng hậu Thiên Chúa ban cho thế giới. Bí Tích Thánh Thể vượt quá trí khôn, trí hiểu của con người. Chúa Giêsu trước khi chết đã vì yêu con người nên đã cho đi, cho cả sinh mạng, cuộc sống của Ngài cho nhân loại, cho mỗi người.

ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ:

Khi lãnh nhận Mình Máu Chúa Kitô, chúng ta hãy ý thức sâu xa: đây chính là Đức Kitô đã sinh ra nơi Bêlem, đã lớn lên và sinh sống ở Nagiarét, đã rao giảng khắp nơi. Đây là Đức Kitô đã bị kết án, đã bị treo trên thập giá và đã phục sinh, đã lên trời và đã cho Chúa Thánh Thần xuống. Chúng ta sẽ không thể nào tưởng tượng nổi điều kỳ diệu ấy nhưng nhờ đức tin chúng ta hiểu đúng là như thế.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con luôn yêu mến Thánh Thể và siêng năng rước Chúa vào lòng như bảo đảm cho sự sống đời đời của chúng con. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-161: MÁU GIAO ƯỚC - Lm LG Đặng Quang Tiến

 

Mc 14:12-16: 12 Ngày thứ nhất của lễ Bánh Không Men, khi người ta thường sát tế chiên: THÁNHTHỂ-161


Mc 14:12-16: 12 Ngày thứ nhất của lễ Bánh Không Men, khi người ta thường sát tế chiên Vượt Qua, các môn đệ nói với Người: “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?” 13 Người sai hai môn đệ đi, và nói với họ: “Các anh hãy đi vào thành, và một người mang vò nước sẽ đón gặp các anh. Hãy đi theo người đó. 14 Người đó vào nhà nào, các anh hãy nói với chủ nhà là Thầy nói: “Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?” 15 Và người ấy sẽ chỉ cho các anh một phòng lớn bên trên, được trang bị đầy đủ và đã sẵn sàng. Các anh hãy chuẩn bị ở đó cho chúng ta.” 16 Các môn đệ ra đi và vào trong thành, và các ông tìm thấy như Người đã nói với họ, và các ông đã chuẩn bị lễ Vượt Qua. 

14: 22-26: 22 Trong khi họ đang ăn, cầm lấy bánh Người chúc tụng, bẻ ra, và trao cho họ và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy.” 23 Và cầm chén, Người dâng lời tạ ơn, trao cho họ, và tất cả đều uống từ chén này. 24 Và Người nói với các ông: “Đây là máu Thầy, máu giao ước đổ ra cho nhiều người. 25 Thật Thầy nói với anh em: Thầy không uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống rượu mới trong Nước Thiên Chúa.” 26 Hát thánh vịnh xong, họ đi ra đến núi Cây Dầu. 

Hai đoạn kinh thánh của chúa nhật nầy không liên tục nhau; giữa chúng là đoạn Chúa Giêsu tiên báo một người trong Nhóm Mười Hai sẽ nộp Người (14:17-21). Bối cảnh chung của hai đoạn là dịp lễ Bánh Không Men của người do thái, Chúa Giêsu gởi hai môn đệ đi chuẩn bị lễ Vượt Qua cho Người và các môn đệ của Người (14:12-16); sau đó Người đến đó với nhóm Mười Hai để cử hành lễ Vượt Qua của Người (14:22-26). Ở đây, chúng ta chỉ bàn đến đoạn 14:22-26. Kết cấu của đoạn nầy gồm ba phần: 1- Trao ban thân thể: lời và hành động liên quan đến bánh (c. 22); 2- Trao ban máu: lời và hành động liên quan đến rượu (cc. 23-24); 3- Kết luận và lời tiên báo về bữa tiệc trong Nước Thiên Chúa (c. 25).  

Lễ Vượt Qua là dịp nhắc lại sự can thiệp quyền năng và mạnh mẽ của Thiên Chúa giải thoát dân Israel khỏi kiếp nô lệ Ai cập. Khi cử hành lễ nầy, Chúa Giêsu hướng đến Thiên Chúa và để Thiên Chúa thực hiện nơi Người một lễ Vượt Qua mới. Do đó, Người không cử hành lễ Vượt Qua theo truyền thống của người do thái, mà của chính Người. Lời và hành động liên quan đến bánh và rượu trong đoạn nầy được trình bày tương tự nhau, gồm những tác động cầm, chúc tụng, trao ban, và lời xác nhận bản tính của bánh và rượu. Chúc tụng Thiên Chúa là một phần quan trọng trong bữa ăn, vì mọi ơn lành đều do bởi Thiên Chúa. Khi làm việc nầy, Chúa Giêsu ý thức mình và máu của Người sẽ được trao ban do Thiên Chúa mà đến.  

Khi trao tấm bánh đã bẻ ra, Chúa Giêsu nói: “Nầy là Mình Thầy” (c. 22). Thân thể chỉ con người trọn vẹn. Cũng một cách thế tương tự: “Nầy là máu Thầy” (c. 23) Máu là chính sự sống (x. Lv 17:11.14; Dnl 12:23). Như thế, khi ban mình và máu, Chúa Giêsu ban cả con người và sự sống của Người. 

Lời trên rượu dài hơn lời trên bánh. Máu nầy được gọi là “máu giao ước”. Cách nói nầy nhắc lại việc Môsê đã rảy máu súc vật trước tiên trên bàn thờ, rồi trên dân chúng và nói: “Đây là máu giao ước mà Thiên Chúa đã ký kết với anh em” (Xh 24:8). Máu ấy đã ghi ấn sự cam kết đôi bên. Tuy nhiên, trong giao ước không luôn luôn phải có hai bên như thế. Ký kết giao ước trước tiên là sáng kiến của Thiên Chúa. Ngài làm giao ước khi Ngài muốn và Ngài đặt ra những quy định cho giao ước ấy (x. Stk 9:1-17; 15:8; 17:10-11). Việc Chúa Giêsu đổ máu ra là do Thiên Chúa quyết định (x. Gio 18:11). Ngài cũng quyết định luôn cách thế đổ máu ấy ra và mục đích cứu chuộc của việc đổ máu ấy (c. 24); không có một cam kết nào về phía con người ngoài việc sẵn sàng lãnh nhận máu ấy để được tha tội và cứu độ. Như Người Tôi Tớ Đau Khổ, Chúa Giêsu đổ máu ra thay cho nhiều người (x. Is 53:12); nhờ đó chẳng ai bị loại khỏi hoa trái được tha tội bởi cái chết của Người (x.10:45; Mt 1:21; 20:28; Dt 9:22). 

Sau cùng, lời tiên báo về việc uống rượu mới trong Nước Thiên Chúa cho biết Chúa Giêsu sẽ bước sang giai đoạn vinh quang sau khi đã hoàn tất việc uống chén đắng (c. 25; x. 10:35-45). Rượu mới biểu trưng sự sống và niềm vui. Rượu mới Người sẽ uống trong Nước Thiên Chúa chính là sự hiệp thông trọn vẹn và sự sống viên mãn mà Người sẽ chia sẻ với Cha Người. 

Trong khi hiến dâng mình và máu cho công cuộc cứu độ của Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã cứu độ nhiều người và đưa họ vào dự tiệc hoan lạc trong nước của Cha Người. 

Lm LG Đặng Quang Tiến


 

THÁNHTHỂ-162: LỄ MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA, NĂM B 


- Lm. An Phong Trần Đức Phương 

 

Lễ Mình và Máu Thánh Chúa được mừng vào Thứ Năm sau Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi: THÁNHTHỂ-162


Lễ Mình và Máu Thánh Chúa được mừng vào Thứ Năm sau Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi, nhưng thường được cử hành trọng thể vào Chúa Nhật tiếp theo. Các Bài Đọc theo chu kỳ Năm B: Bài Đọc I (Xuất Hành 24: 3-8) nhắc đến Giao Ước trong Cựu Ước: Ông Moisê lấy máu con vật (chiên, bò) vẩy lên dân chúng và nói: “Đây là máu Giao Ước mà Thiên Chúa đã ký kết với anh em theo đúng những lời Ngài đã nói!” Bài Đọc II (Do Thái 9: 11-15): Thánh Phaolô nhắc đến Giao Ước Cũ do máu chiên, bò; nhưng Giáo Ước Mới, Giao Ước vĩnh cửu đã được Chúa Giêsu là Vị Thượng Tế hoàn hảo đổ máu ra để ký kết: “Chúa Giêsu là trung gian của Giao Ước Mới” (Do Thái 9: 15). Bài Phúc Âm (Matcô 14: 12-16, 22-26) ghi lại Bữa Tiệc Ly, và trong Bữa Tiệc Tình Thương đó, Chúa Giêsu đã lập Bí Tích Mình và Máu Thánh Chúa.

Thánh Lễ hôm nay nhắc chúng ta nhớ đến Thánh Lễ chiều ngày Thứ Năm Tuần Thánh: kỷ niệm Chúa Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể và chức Linh Mục để Thánh Lễ được tiếp tục mãi mãi cho đến ngày tận thế ở khắp nơi Tin Mừng được rao giảng mà nhớ đến Chúa Giêsu đã chịu nạn chịu chết để cứu chuộc nhân loại (1 Corinto 11:24-26).

Vì tình yêu thật sâu thẳm đối với nhân loại, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người để chia sẻ thân phận đau khổ của con người như chúng ta, rao giảng Tin Mừng cứu độ, chịu nạn chịu chết khổ đau trên Thánh Giá để đền vì tội lỗi chúng ta. Như thế chưa lấy làm đủ, Ngài còn muốn ở lại với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (Matthêu 28:20) qua Giáo Hội và qua sự hiện diện thật sự trong Bí Tích Thánh Thể.

Trong Giáo Hội, Chúa Giêsu vẫn là vị “Chủ Chăn Nhân Lành” chăn dắt đoàn chiên Chúa qua con người của Đức Giáo Hoàng và các chủ chăn hữu hình hiện diện ở các nơi.

Trong Bí Tích Thánh Thể, Chúa Giêsu hiện diện để làm Của lễ hy tế, làm của nuôi linh hồn chúng ta, ban ơn thánh hóa và bảo đảm sự sống đời đời cho chúng ta (Gioan 6:33-34). Chính trên bàn thờ Thập giá, Chúa Giêsu đã hiến dâng một Thánh Lễ hoàn hảo để đền tội cho cả thế giới. Các Thánh Lễ dâng qua mọi thời gian, ở khắp nơi trên thế giới đều là tham dự vào của lễ hoàn hảo Chúa Giêsu đã dâng trên bàn thờ Thập giá: “Chúa Giêsu vừa là Chủ Tế vừa là Của Lễ hiến dâng.”

Trong Thánh Lễ, sau lời truyền phép, Chúa Giêsu đến ngự thật (chứ không phải chỉ là tượng trưng) trong hình Bánh và hình Rượu, và chúng ta đều cúi đầu thờ lậy. Việc Chúa Giêsu hiện diện thật sự trong Hình Bánh và Hình Rượu đã được xác quyết trong nhiều đoạn Thánh Kinh. Trong Phúc Âm Gioan (6: 50-58), Chúa Giêsu đã xác quyết: “Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống, ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta sẽ được sự sống đời đời…” Nghe như vậy ai cũng thấy ‘chói tai’ (nhất là đối với người Do Thái), và mọi người đều xầm xì tỏ vẻ rất khó chịu. Chính các môn đệ của Chúa cũng rất khó chịu, nên bảo nhau: “Lời nói này chói tai quá ai mà nghe được!”, và “Từ đó nhiều môn đệ rút lui, không theo Chúa Giêsu nữa… (Gioan 6: 66). Nhưng lời Chúa Giêsu nói là sự thật, nên Chúa Giêsu đã không rút lại, mà vẫn xác quyết như vậy, và Ngài còn hỏi các Tông Đồ: “Còn anh em, anh em có muốn bỏ đi không?” Thánh Phêrô đã thay mặt anh em để trả lời: “Bỏ Thày, chúng con biết theo ai, vì Thày mới có những lời đem lại sự sống đời đời!” (Gioan 6: 68).

Đây là mầu Nhiệm tình yêu sâu thẳm của Thiên Chúa mà chỉ có Ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, chúng ta mới có thể lãnh nhận đuợc (Gioan: 6: 63). Trong lời truyền phép Thánh Thể trong bữa tiệc ly, khi cầm lấy Bánh, đọc lời tạ ơn theo nghi thức Do Thái, Chúa Giêsu không nói: Đây là Bánh Thánh, chúng ta hãy tạ ơn Chúa rồi ăn… Nhưng Ngài nói: Này là Mình Thày…” Và khi cầm lấy Chén rượu, đọc lời tạ ơn, Chúa Giêsu cũng không nói: “Đây là chén rượu, chúng ta hãy tạ ơn Chúa và uống…” Nhưng Ngài nói: “Đây là chén Máu Thày…” Đọc Phúc Âm (Mathhêu 26:26-27; Matcô 14: 22-24; Luca 22: 19-20), chúng ta đều thấy ghi rõ như vậy. Sau này, Thánh Phaolô cũng nhắc lại những lời y như vậy trong Thư I gởi Tín Hữu Corintô (11: 23-26), và nhấn mạnh điều quan trọng này: Khi chúng ta ‘Rước Lễ’ là chúng ta rước lấy chính “Thân thể Chúa” (1 Corintô 11: 29), và vì thế, “bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng thì xúc phạm đến Mình và Máu Thánh Chúa.” (1 Corintô 11: 27). “Vì thế, mỗi người chúng ta phải tự xét mình xem có xứng đáng không trước khi rước Mình và Máu Thánh Chúa.” (1Corintô 11: 28-29).

Việc tôn thờ Chúa Giêsu ngự thật trong Bí Tích Thánh Thể luôn được thực hành trong Giáo Hội: ngoài các Thánh Lễ được dâng khắp nơi và hầu như mọi lúc (Vì thời giờ chênh lệch khác nhau trên thế giới), còn có việc chầu Thánh Thể thay phiên nhau ở các xứ đạo, thường gọi là “Chầu lượt”; rước kiệu Thánh Thể, nhất là vào Ngày Lễ Mình và Máu Thánh Chúa; việc siêng năng viếng Mình Thánh Chúa. Hiện nay, tại Hoa Kỳ có nhiều nhà thờ đặt Mình Thánh Chúa và giáo dân thay nhau đến thờ lạy suốt ngày đêm.

Hôm nay, hợp cùng toàn thể Giáo Hội, chúng ta cùng dâng Thánh Lễ sốt sáng và cầu xin cho chúng ta được lòng tin kính và sùng mộ Chúa Giêsu trong Bí Tích Mình và Máu Thánh Chúa. Xin Chúa thánh hoá và gìn giữ chúng ta trong ơn nghĩa Chúa luôn, để chúng ta xứng đáng rước lấy Chúa Giêsu mỗi khi chúng ta đi dâng Thánh Lễ cuối tuần hoặc ngày thường

Lm. An Phong Trần Đức Phương

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-163: THÁNH THỂ, BẢO CHỨNG TÌNH YÊU


 - Lm Giuse Đinh lập Liễm

 

Vào năm 1263, có một linh mục người Đức đang cử hành Thánh lễ tại một nhà thờ kính thánh: THÁNHTHỂ-163


Vào năm 1263, có một linh mục người Đức đang cử hành Thánh lễ tại một nhà thờ kính thánh Christiana, lúc bẻ bánh trước khi rước lễ, vị linh mục này đã trông thấy Mình thánh hình bánh đã biến thành Thân Xác Đức Giêsu tử nạn. Trên thân mình Chúa, máu đang rịn ra qua các vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người. Máu chảy ra làm ướt tấm khăn thánh và mấy lớp khăn phủ bàn thờ. Vị linh mục vội gấp các tấm khăn kia lại. Nhưng gấp tới đâu thì máu lại thấm ra tới đó. Cuối cùng máu thấm qua tới 25 lần vải khăn. Vừa cảm động lại vừa sợ hãi đến nỗi vị linh mục không thể tiếp tục dâng hết thánh lễ được.

 Sau đó, ngài đến xin yết kiến Đức Giáo hoàng Urbanô và tường trình sự kiện lạ lùng ấy. Đức Giáo hoàng liền sai một phái đoàn, đứng đầu là một Giám mục đến điều tra thực hư. Sau khi xác định là phép lạ, vị Giám mục đã cho rước Mình Thánh Chúa cùng các khăn bàn thờ đã thấm Máu Thánh kia về Rôma và đặt tại một nhà thờ dâng kính phép Thánh Thể, và mời gọi giáo dân đến chầu Mình Thánh liên tục. Sau đó, vào ngày mồng 8 thánh 9 năm 1264, Đức Giáo hoàng Urbanô đã ra sắc dụ truyền thiết lập lễ kính Mình Máu thánh Chúa Giêsu và truyền mừng lễ trong toàn thể Hôi thánh.

 I. NHỮNG CHUẨN BỊ TỪ XA.

Hằng năm, người Do thái mừng lễ Vượt Qua rất trọng thể, cuộc lễ kéo dài tới bảy ngày. Khách thập phương trẩy đến Giêrusalem mừng lễ rất đông. Có những người ở xa ước được về Giêrusalem mừng lễ ít là một lần trong đời, giống như người Hồi giáo ngày nay tuốn về La Mecque để mừng lễ của họ.

 Người Do thái gọi lễ Vượt Qua này là lễ Quốc khánh của toàn dân để kỷ niệm hai biến cố oai hùng vĩ đại nhất của dân tộc. Hai biến cố ấy là :

 1. Giải phóng dân tộc.

Thiên Chúa giải phóng dân tộc thoát ách nô lệ Ai cập. Ngày đó, Thiên Chúa đã truyền cho ông Maisen và tổ tiên họ : giết con chiên một tuổi, sung sức nhất, trong sạch nhất, lấy máu nó bôi lên cửa nhà dân Do thái để được cứu sống. Còn cửa nhà dân Ai cập, không có máu chiên thì các con đầu lòng bị giết. Sau đó họ ăn thịt chiên với bánh không men lấy sức mạnh vượt ra khỏi Ai cập để về đất mà Thiên Chúa đã hứa ban cho tổ tiên họ.

 2. Lập Giao ước Sinai.

Thiên  Chúa muốn chọn cho mình một dân riêng làm sở hữu, nên Ngài đã lập giao ước với toàn dân ở núi Sinai. Thiên Chúa đã truyền cho ông Maisen xuống núi thuật lại lời giao uớc và giời luật  của Chúa : Toàn dân đồng thanh đáp : “Mọi lời Chúa phán, chúng tôi sẽ thi hành”. Rồi họ ngả chiên bò làm lễ toàn thiêu và lễ hiệp thông.

 Họ dâng lễ toàn thiêu bằng thiêu đốt tất cả lễ vật dâng lên trước nhan Chúa để tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và làm chủ mọi loài. Ngài đã ban sự sống cho họ, vì thế, họ hoàn toàn phó thác mạng sống mình và dân tộc mình cho Thiên Chúa. Ông Maisen đã ký kết với Thiên Chúa bằng cách lấy máu chiên bò : một nửa số máu được rảy trên bàn thờ, tượng trưng phía Thiên Chúa; một nửa kia được rảy trên toàn dân và Maisen lớn tiếng tuyên bố :”Đây là máu giao ước Chúa lập với anh em”. Sau đó, họ ăn thịt chiên hy tế trước tôn nhan Thiên Chúa để hiệp thông sự sống của Thiên Chúa (Xh 24,3-8).

 II. ĐỨC GIÊSU LẬP PHÉP THÁNH THỂ

1. Tại bữa Tiệc ly.

Đức Giêsu yêu thương các môn đệ, không để họ sống bơ bơ trên trần thế nên hứa sẽ ở lại với họ mãi mãi :”Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”(Mt 28,20). Ngài muốn ở cùng các môn đệ mãi mãi bằng cách ban cho họ một tặng phẩm, tặng phẩm thần linh.
 
Người đời trước khi đi xa thường để lại cho người thân thích một món đồ nào đó để ghi nhớ như một cuốn sách, tấm hình, cái bút, cái khăn tay hay bất cứ một đồ vật gì.

 Cách đây không lâu, đám thợ lặn đã tìm ra một chiếc tầu Tây ban nha  được chế tạo đã 400 năm nay bị chôn vùi dưới nước ngoài khơi Bắc Ái nhĩ  lan. Trong số báu vật tìm được trong tầu, người ta thấy một chiếc nhẫn đàn ông bằng vàng, trên nhẫn có chạm hình một cánh tay đang nắm một trái tim  với những dòng chữ chư sau:
”Anh không thể cho em điều gì hơn thế nữa”.

Đức Giêsu cũng hành động như vậy, Ngài muốn để lại cho họ một kỷ vật có một không hai, không phải là món đồ vật nào mà chính là bản thân Ngài.  Đây chính là lời Đức Giêsu nói với chúng ta : Thầy đã trao ban chính mình Thầy cho các con trọn vẹn đến mức Thầy không còn thể nào cho các con điều gì hơn thế nữa.

 Ngài đã thực hiện trong bữa tiệc này mà thánh Marcô đã ghi lại:”Đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các ông mà nói:”Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy”. Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông và tất cả đều uống chén này, đổ ra vì muôn người”(Mc 14,22-24).

Với những lời ấy, Đức Giêsu đã lập phép Thánh Thể. Rồi Ngài còn truyền cho các môn đệ :”Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” tức là Ngài ban quyền cho các môn đệ được làm việc cao qúi này để tưởng nhớ đến Ngài.

 2. Ý nghĩa bí tích Thánh Thể.

Trong bữa Tiệc ly và cũng là Thánh lễ đầu tiên do Đức Giêsu cử hành, Ngài đã thiết lập bí tích Thánh Thể và ban quyền chức Linh mục cho các tông đồ. Từ đó trở đi, cho tới ngày nay, và cho đến tận thế, trong Thánh lễ, khi Linh mục trịnh trọng  lặp lại những lời Đức Giêsu :”Này là mình Thầy, “Này là Máu Thầy”, tức thì bánh không còn là bánh, rượu không còn là rượu nữa mà đã trở thành Mình Máu Chúa Kitô.

 Lễ Chúa dâng tại bữa Tiệc ly, trên thánh giá và lễ các Linh mục dâng bây giờ cũng là một vì “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” chỉ khác nhau ở cách thức dâng lễ thôi, nghĩa là trên thánh giá có đổ máu, còn bây giờ thì không.

 Như vậy, Đức Giêsu đã tìm ra phương thế để ở lại với các môn đệ; và qua mọi thời gian, ở lại với tất cả những ai tin vào Ngài. Vì thế, Thánh Thể được gọi là bí tích của sự hiện diện. Dưới hình bánh rượu, Đức Giêsu hiện diện luôn mãi với loài người nơi trần gian. Đây là một chân lý cao siêu vượt quá sự hiểu biết của trí khôn loài người. Vì vậy, sau truyền phép, Linh mục xướng lên :”Đây là mầu nhiệm đức tin”. Mọi người đều thưa lên:”Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho đến khi Chúa đến”.

 Trong bài ca Tiếp liên của Thánh lễ hôm nay, Thánh Tôma tiến sĩ đã ca tụng mầu nhiệm Thánh Thể như sau:”Đây là tín điều dạy người Kitô hữu, rằng Bánh  trở nên Thịt Chúa và Rượu trở nên Máu Chúa. Thịt Chúa là của ăn, Máu Ngài là thức uống, nhưng Chúa Kitô vẫn còn đầy đủ dưới mỗi sắc hình. Lạy Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, là Bánh thực, xin Ngài thương xót, chăn nuôi và bảo vệ chúng con, xin Ngài ban cho chúng con nhìn thấy những điều thiện hảo trong cõi nhân sinh” (Bài Lauda Sion do thánh Tôma Aquinô soạn tại Orvieto năm 1264).

 III. BÀI HỌC RÚT RA TỪ THÁNH THỂ.

1.    Thánh Thể và hiệp thông.

Bí tích Thánh Thể cũng là một dấu chỉ : dấu chỉ của sự hiệp thông. Hiệp thông có nghĩa là nên một. Nói cách khác, bí tích Thánh Thể là dấu chỉ của sự nên một, của sự hiệp nhất, như Hội thánh luôn tuyên xưng và cầu nguyện rằng:”Chúng con cúi xin Cha cho Thánh Thần liên kết chúng con nên một khi chúng con dự tiệc Mình và máu Đức Kitô”(Kinh Tạ ơn II) Hay :”Và khi chúng con được Mình và Máu Con Cha bổ dưỡng, được đầy tràn Thánh Thần của Người, xin cho chúng con trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô”(Kinh Tạ ơn III).

 Chính Đức Giêsu đã từng nói:”Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy”(Ga 6,56). Động từ “ở trong” mà Chúa nói, diễn tả mạnh mẽ ơn hiệp thông. Có ai trong chúng ta dám khẳng định dứt khoát và mạnh mẽ như Đức Giêsu ?  Dẫu là tình yêu mặn nồng của đôi lứa yêu nhau hay ngay cả vợ chồng đi nữa, có chắc là họ ở trong nhau như Chúa ở trong ta và ta ở trong Chúa ? Chỉ có bí tích Thánh Thể làm nên sự hiệp thông kỳ diệu, sự hiệp thông toàn vẹn : Chúa với ta và ta với Chúa : một thân thể không thể tách lìa.

 Trong bí tích Thánh Thể, ta không chỉ nên một với Chúa mà thôi, nhưng còn với anh chị em của mình nữa. Vì khi cùng chia sẻ một tấm bánh là chính thân mình Chúa Kitô, tất cả mọi người sẽ nên những chi thể của Ngài. Thánh Phaolô đã từng nói : Tất cả chúng ta tuy nhiều nhưng cùng chia sẻ một tấm bánh, vì thế chúng ta làm nên một thân mình. Thân mình mầu nhiệm này sẽ được sống nhờ sức sống của Chúa Kitô là chính Thánh Thần của Chúa Kitô mà Ngài ban cho ta.

 Bởi thế, trong Chúa Kitô, nhờ Thánh Thể của Người, tất cả chúng ta thật xứng đáng gọi Thiên Chúa là Cha, còn ta chỉ là một với nhau , cùng làm con một Cha (Lm Ng. minh Hùng).

 2. Thánh Thể và yêu thương.

Con người ta ai cũng có nhu cầu yêu, nghĩa là nhu cầu yêu và được yêu, mà không yêu là chết. Nhưng khi yêu người ta không dựa trên cơ sở lý luận mà chỉ theo cảm tình. Chính vì thế, Blaise Pascal đã nói:”Con tim có những lý lẽ của nó mà lý trí không thể hiểu được”.  Tình yêu mạnh hơn sự chết.  Với sự thúc đẩy mạnh liệt của tình yêu, người ta có thể làm những việc mà không ai có thể nghĩ tới. Chỉ tình yêu mới có thể cắt nghĩa được những hành động đó.

 Thiên Chúa cũng yêu chúng ta bằng tình yêu như vậy đó. Tình yêu mà Thiên Chúa lắm lúc cũng có vẻ “điên khùng” như thế, vượt qua mọi lý luận của lý trí con người như tình yêu đôi lứa. Thật vậy, nhìn lại mối tương quan giữa Thiên Chúa và loài người, chúng ta sẽ thấy trong mối tương quan này, Ngài không nhận lại bất cứ một điều gì. Chỉ vì yêu loài người chúng ta, Ngài đã làm những việc mà trí khôn con người không thể tưởng tượng được, đó là việc Ngài từ bỏ vinh quang của một vì Thiên Chúa, nhập thể làm một con người nghèo hèn ở giữa chúng ta (x. Pl 2,6-7).
 Cuộc đời Đức Giêsu, dù xét một cách toàn thể hay từng chi tiết, chúng ta thấy Ngài sống hoàn toàn vị tha, nghĩa là vì tình yêu với Chúa Cha và đối với chúng ta. Cụ thể nhất là cái chết thê thảm và nhục nhã trên thập giá của Ngài.  Hơn thế nữa, Ngài còn để lại chính thịt máu Ngài làm của ăn cho từng người chúng ta như Ngài phán:”Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta ban, chính là thịt Ta để cho thế gian được sống”(Ga 6,51). Hành vi này là của Đức Giêsu, quả thật đã vượt quá suy luận của con người đến nỗi ngay các môn đệ  của Ngài cũng phải thốt lên:”Lời chi mà sống sượng thế, ai nào có thể nghe nổi”(Ga 6,60).
 
Thiên Chúa cảm thông và thương yêu chúng ta như vậy, lẽ nào chúng ta không cảm thông và yêu thương nhau ? Tình yêu của Đức Giêsu có hai chiều kích : yêu Chúa Cha và yêu con người. Lẽ nào chúng ta là con người với nhau  lại chỉ quan tâm đến Thiên Chúa mà không quan tâm đến nhau ?

  Là một Thiên Chúa yêu thương, chắc chắn Ngài muốn chúng ta yêu thương nhau, quan tâm đến nhau hơn là quan tâm đến Ngài. Tại sao ? Vì những người chung quanh chúng ta  cần tình yêu và sự quan tâm của chúng ta  hơn Ngài rất nhiều. Ngài là Thiên Chúa – Đấng không thiếu thốn sự gì và cũng không hề ích kỷ - Ngài không cần tình yêu và sự quan tâm của chúng ta  cho bằng những người chung qyanh đang chung sống với chúng ta. Tại sao chúng ta lại quá quan tâm đến Ngài mà bỏ rơi anh chị em mình ? Trong thực tế, chính khi ta yêu thương và quan tâm đến anh chị em mình, là chúng ta yêu mến Chúa. Nếu yêu mến Thiên Chúa thì hãy bắt chước Đức Giêsu : chẳng những chấp nhận chịu khổ để anh chị em mình đỡ khổ, mà còn trở nên “của ăn” cho anh chị em mình nữa.

3. Thánh Thể và chia sẻ.

Với bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu trao ban trọn vẹn và hoàn toàn con người của Ngài cho chúng ta, để nhờ Ngài chúng ta được thông phần  vào sự sống của Thiên Chúa và được sống đời đời như Ngài quả quyết:”Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết”(Ga 6,54). Ngài yêu thương chúng ta đến nỗi đã tự hủy mình đi để trở nên tấm bánh và ao ước được chúng ta ăn, để chúng ta được nên một với Ngài. Vì thế, trong một đoạn Tin mừng ngắn hôm nay, động từ “ăn” được lặp lại tới 9 lần.

 Như vậy, “ăn và uống máu” Đức Giêsu chính là suy niệm Lời và đời sống của Ngài để dần dần thay thế “chất tôi” thành “chất Ngài”, biến “tôi” thành “Ngài”.

  Nói cách khác, đó là được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, nên giống Đức Kitô mọi đàng để có thể nói như thánh Phaolô :”Tôi sống nhưng không phải tôi mà là chính Đức Kitô sống trong tôi”. Giống Đức Giêsu là giống Thiên Chúa, mà “Thiên Chúa là Tình yêu”(1Ga 4,8.16). Tình yêu ở đây là thứ tình yêu hoàn toàn vị tha nghĩa là trở nên “chiếc bánh bị ăn” (pain  mangé) như Đức Giêsu (theo cách nói của cha Antôn Chevrier, tu hội Prado) để rồi mỗi người chúng ta sẽ trở nên “con người bị ăn thịt đi”(homme mangé) để phục vụ những người khác.

 Truyện : Giới Tử Thôi cắt thịt đùi mình.

Trên bước đường lưu vong, trốn ra ngoài nước, công tử Trùng Nhĩ và bọn bề tôi trải qua rất nhiều cam go, lầm than, khổ sở, đói khát.

Không tiền bạc, hết lương thực, bọn người này phải đi ăn xin. Một hôm đói quá, đói đến lả người, cả bọn cơ hồ không đi được nữa. Trùng Nhĩ phải kiếm gốc cây có bóng mát gối đầu vào đùi Hồ Mao mà nằm. Bọn bề tôi bảo nhau đi bứt rau sam về luộc ăn. Trùng Nhĩ nuốt không trôi. Bỗng Giới Tử Thôi mang một bát thịt nóng hổi đến dâng. Trùng Nhĩ ăn ngon lành ! Ăn xong, khoẻ khoắn liền hỏi Giới Tử Thôi :

Nhà ngươi lấy đâu được thịt ngon như thế ?
Giới Tử Thôi chỉ vào đùi mình, thưa :
Ấy là thịt đùi của tôi đó. Tôi nghe rằng : người hiếu tử bỏ thân thờ cha, người trung thần bỏ thân thờ vua. Nay Công tử đói không có gì ăn nên tôi phải cắt thịt đùi dâng cho Công tử.
(Thanh Lan Võ ngọc Thành, Nhân vật Đông châu, 1968, tr  324)

 4. Thánh Thể và Thánh lễ
Đức Giêsu ví Thánh Thể như bàn tiệc thịnh soạn đã dọn sẵn, mời chúng ta đến tham dự, hoàn toàn miễn phí. Nhưng có những người đã từ chối lời mời gọi thân tình này, họ viện ra những lý nọ lẽ kia không chịu đến tham dự (x. Lc 14,16-24). Chúa mời gọi ta đến dự tiệc thánh là có ý tìm lợi ích cho linh hồn chúng ta : phép Thánh Thể Chúa lập ra  là một bảo đảm ơn cứu chuộc như Ngài nói:”Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho sống lại ngày sau hết” (Ga 6,54).

 Chúa thiết tha mời ta tham dự Thánh lễ và rước lễ để được ơn phần rỗi, nhưng ngoài ra Ngài lại con răn đe :”Nếu các ngươi không ăn thịt Con người và uống máu Người, các ngươi không có sự sống nơi mình”(Ga 6,53). Chúa răn đe như vậy không có ý tìm lợi ích cho Ngài vì Ngài không còn thiếu gì nhưng cho chúng ta mà thôi.

 Một lần thánh Phanxicô chầu Thánh Thể, được nghe tiếng Chúa hỏi :”Hỡi Phanxicô sao con mê Cha như điên như cuồng như vậy”? Thánh Phanxicô trả lời:”Lạy Chúa, xét về yêu, thì Chúa còn điên hơn con”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-164: MÁU GIAO ƯỚC - Lm. Giuse Đổ Văn Lực, OP


Mc 14, 12-16

 

Thánh Thể là trung tâm phụng vụ và đời sống Kitô giáo. Chính vì tầm quan trọng đó, nên: THÁNHTHỂ-164


Thánh Thể là trung tâm phụng vụ và đời sống Kitô giáo. Chính vì tầm quan trọng đó, nên Giáo hội đã không ngừng mời gọi tín hữu đến Thánh Thể như cao điểm hiến tế và nguồn mạch hiệp thông với Chúa Kitô và anh em.

Không ai có thể quên đêm cuối cùng Ðức Giêsu chia sẻ với các môn đệ về tất cả những gì Người làm cho Giáo hội. Trong bữa tiệc ly đó, khi cầm chén rượu, Người đã nói một lời chí lý : "Ðây là máu Thày, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người." (Mc 14:24) Rõ ràng trong khung cảnh Chúa sắp bước vào tuần thương khó, không thể nào hiểu những lời đó theo nghĩa tượng trưng hay biểu tượng. Chúa muốn cho các môn đệ thấy cái chết của Thày đã cận kề. Phải nói cho họ thấy tất cả ý nghĩa lớn lao của cuộc hi sinh đó. Bởi vậy, Thày nói đến "máu Giao Ước," một hình ảnh quen thuộc trong Cựu Ước (Xh 24:8; Is 53:12) và gợi lên niềm hi vọng hướng về ngày nhập tiệc Thiên Sai trong Nước Chúa. Ông Môsê đã lấy máu các vật hiến tế rẩy trên dân Israel để đóng ấn giao ước.

Khác hẳn với "Máu Giao Ước" trong quá khứ, Ðức Giêsu sẽ lấy chính máu mình làm hiến tế dâng lên Thiên Chúa. Hơn nữa, "Máu Giao Ước" không chỉ giới hạn cho một dân tộc, dù là dân riêng của Chúa, nhưng sẽ bao trùm cả nhân loại. Nói khác, sẽ "đổ ra vì muôn người." (Mc 14:24) Lời ngôn sứ Is 53:12, một trong những đoạn nói về Người Ðầy Tớ Ðau khổ, cho thấy hành động đó có một chiều kích hiến tế. Nói khác, có thể tìm thấy một chiều kích bao la và một sức mạnh vô song nối kết đất trời trong một hòa điệu tuyệt vời. Ngay trong việc hiến tế, Ðức Giêsu đã muốn cho mọi người thấy cái chết của Người có một sức mạnh cứu độ phổ quát.

Cả hai đoạn Cựu Ước đều cho thấy cái chết của Ðức Giêsu là một cuộc hiến tế cho mọi người, chứ không chỉ cho một số người. Khi cầm lấy "máu Giao Ước," Người khẳng quyết "chẳng bao giờ Thày còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày ấy, ngày Thày được uống thư rượu mới trong Nước Thiên Chúa." (Mc 14:25) "Rượu mới" đó chỉ tìm thấy trong bữa tiệc Thiên Sai (c. 6:35-44; 8:1-10). Không thể coi Tiệc ly như một biến cố tách biệt. Trái lại chỉ có thể hiểu được ý nghĩa của bữa tiệc lịch sử đó khi nối kết với những bữa tiệc trước đây Ðức Giêsu đã từng chia sẻ với những người thu thuế và tội lỗi (x 2:16) và với bữa tiệc cánh chung. Như vậy, công cuộc cứu độ vừa có giá trị hiện tại vừa nhắm về tương lai nhân loại.

Ngay từ bây giờ, các tín hữu đã được uống thứ "rượu mới" đó. Vì Nước Thiên Chúa đang hiện diện giữa họ (x. Lc 17:21). Khi chịu lễ, họ được mời gọi chia sẻ với Ðức Giêsu trong cái chết của Người. Thực vậy, khi trao bánh cho các môn đệ, Người nói: "Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thày." (Mc 14:22) Tương tư, Người "trao cho các ông" (Mc 14:23) chén rượu là chính máu Ngươi (x. Mc 14:24). Người thúc đẩy các ông hành động, chứ không chỉ đón nhận một cách thụ động. Thực vậy, chính Ðức Giêsu đã phục sinh để trở thành "dấu chỉ" Giao Ước. Mỗi lần lặp lại cử chỉ hiến tế trong thánh lễ, người tín hữu dâng lên dấu chỉ Giao Ước là chính Ðức Giêsu, Chúa Cha sẽ lại nhìn thấy, tưởng nhớ và hành động theo Giao Ước đó.

Khi tham dự vào cuộc hiến tế đó, các tín hữu lập lại Giao Ước đã ký kết trong máu Ðức Giêsu. Máu đó không những có sức đưa họ vào cuộc hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa, nhưng còn hiệp nhất họ trong sức mạnh Thánh Linh. Chính Thánh Thể cho họ hưởng ngay từ bây giờ tất cả những gì họ sẽ tìm thấy trong bửa tiệc cánh chung, nơi họ sẽ được hiệp thông trọn vẹn và chung cuộc với Ðức Giêsu và Thiên Chúa. Bởi thế, không có cuộc hiệp thông hôm nay trong Mình và Máu Chúa Kitô, cũng chẳng có cuộc hiệp nhất ngày mai trong Nước Thiên Chúa.

Trong cuộc hiến tế, Mình và Máu Chúa Kitô tách lìa nhau, nhưng lại trở thành đầu mối hiệp nhất và hòa hợp cho muôn dân. Thánh Phaolô đã gọi bữa Tiệc ly là bữa tiệc "hiệp thông" để nói lên một mối liên hệ kép : "Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Ðức Kitô ư ? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao ? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể." (1 Cr 10:16-17) Chén Giao Ước đã hòa hợp và nối kết con người với Thiên Chúa, Ðấng lập Giao Ước. Bánh là thân thể Ðức Kitô, nơi tín hữu tìm được sự hòa hợp và nối kết với Ðức Kitô là đầu và với mọi người là chi thể Người.

Như thế, trong chính Máu và Mình Thánh Chúa, người tín hữu có thể tìm thấy lý do và sức mạnh xây dựng Giáo hội. Thật vậy, từ nơi Thánh Thể, một dân mới sẽ được thành lập để trở nên nhiệm thể Chúa Kitô phục sinh. Chính trong nhiệm thể này, Thiên Chúa sẽ hoàn toàn được tôn vinh và con người được ơn thánh hóa. Chúa hiện diện thực sự trong Thánh Thể để nguồn lương thực nuôi sống và hiệp nhất muôn dân. Hơn thế, thánh Thomas còn nhìn thấy nơi Thánh Thể một "bảo đảm cho ta một ngày mai huy hoàng rực rỡ." Nhờ đó, mỗi lần chịu Mình và Máu Chúa, "chúng con đợi chờ ngày hồng phúc, ngay Ðức Giêsu Kitô, Ðấng cứu độ chúng con ngự đến." (Sách Lễ Rôma)

Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-165: GIAO ƯỚC TRONG MÁU


,Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, op

Mc 14, 12-16

Giao ước mới

 

Có thể nói phụng vụ ngày lễ Mình và Máu Thánh chỉ quan tâm đến phần thứ hai của bản văn: THÁNHTHỂ-165


Có thể nói phụng vụ ngày lễ Mình và Máu Thánh chỉ quan tâm đến phần thứ hai của bản văn, trong đó thánh Mác-cô thuật lại biến cố Ðức Giêsu lập bí tích Thánh Thể. Còn toàn bộ bản văn nhấn mạnh đến ý nghĩa bí tích như dấu chỉ của giao ước và của vương quốc.

* Từ lễ Vượt Qua cũ đến giao ước mới

Tất cả dân tộc Do-thái đều thừa hưởng lời Ðức Chúa truyền khi mừng lễ Vượt Qua. Ðức Giêsu cũng thi hành như thế. Các nghi thức chuẩn bị cũng như trong chính lúc mừng lễ phải được tuân giữ cẩn thận. Khi tuân giữ các nghi thức này, Ðức Giêsu đã thực sự hội nhập vào giao ước được ký kết giữa Thiên Chúa và dân Người.

Trong thực tế, ngoài việc chuẩn bị, Ðức Giêsu đã đảo lộn các thói quen : Người cùng với các môn đệ cử hành lễ Vượt Qua theo một ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn với việc chu toàn một nghi thức.

Quả vậy, người Do-thái ăn mừng lễ Vượt Qua để tưởng niệm biến cố Thiên Chúa đã hành động mà giải thoát họ khỏi đất Ai-cập, đồng thời để nhắc nhớ lại giao ước Thiên Chúa đã ban cho họ tại núi Xi-nai. Giờ đây, Ðức Giêsu mừng lễ trong một chiều hướng mới. Chính Người sẽ dùng cái chết của mình để lập giao ước mới. Giao ước này thay thế tất cả các giao ước cũ, và từ nay giao ước này là giao ước duy nhất, giao ước vĩnh cửu. Chính giao ước này sẽ giải thoát không phải chỉ dân Ít-ra-en, mà là tất cả mọi người, khỏi quyền lực sự dữ và sự chết.

Thánh Máccô nhấn mạnh đến một chi tiết : "một người mang vò nước" - công việc này vốn dành cho các phụ nữ. Dấu chỉ này khởi đầu cho một giai đoạn mới : trong khi các môn đệ chuẩn bị về vật chất, thì Ðức Kitô chuẩn bị lễ Vượt Qua cho chính mình. Còn người mang vò nước là một người được sai đến để chuẩn bị lễ Vượt Qua cho Ðức Kitô.

Qua các lời nói, Ðức Giêsu xác nhận ý nghĩa mới của giao ước. Giao ước sẽ được đóng ấn không phải bằng máu chiên nhưng là máu của chính Người sẽ đổ ra trong cái chết.

* Khai sinh Hội Thánh

Các môn đệ là biểu tượng cho dân Ít-ra-en mới. Ðoàn dân mới này sẽ được máu của Ðức Kitô cứu thoát, và giờ đây, họ được ngồi cùng bàn, được "mời" cử hành lễ Vượt Qua cùng với Ðức Giêsu. Trong lễ Vượt Qua mới của Hội Thánh, tức là mỗi lần cử hành Thánh Thể, Ðức Giêsu không ngừng ban tặng chính mình làm bảo chứng cho giao ước vĩnh cửu.

Vì thế, mỗi lần Hội Thánh tụ họp để cử hành Thánh Thể là một lần mừng lễ Vượt Qua do Ðức Kitô thiết lập, chứ không phải chỉ là lặp lại một nghi thức. Mỗi lần Hội Thánh cử hành Thánh Thể là một lần Hội Thánh được sinh ra trong máu của Ðức Giêsu, trong giao ước vĩnh cửu. Do vậy, mỗi người Kitô hữu tham dự thánh lễ đều được mời dự phần vào mầu nhiệm của một cái chết. Chính cái chết này mở ra con đường dẫn đến vương quốc sự sống.

Trong máu của một con người

Người ta vẫn có thói quen đọc thoáng qua bài Tin Mừng hôm nay, vì những chi tiết trong đó người ta đều thuộc cả. Tuy nhiên, nếu để ý kỹ, bài Tin Mừng vẫn có những ý nghĩa mới.

Trong bài Tin Mừng có 2 từ ngữ quan trọng. Hai từ này được nhắc đến trong cả ba bài đọc của Chúa nhật này : sách Xuất hành, thư gửi tín hữu Do thái, Tin Mừng thánh Luca. Ðó là 2 từ "giao ước" và "máu". Khi được xếp lại gần nhau, chúng có nghĩa là "máu giao ước", và người ta hiểu ngay "máu giao ước" chính là Ðức Kitô.

Thành ngữ "máu giao ước" được lấy lại từ sách Xuất hành. Sau khi từ trên núi đi xuống, ông Mô-sê đã đưa ra cho dân thấy lời của Thiên Chúa được viết trên các bia đá, tức là sách giao ước. Lúc ấy, ông Mô-sê đã lấy máu bò tơ để rảy trên bàn thờ cũng như trên dân chúng và nói : "Ðây là máu giao ước Ðức Chúa đã lập với anh em dựa trên những lời này."

Như thế, giao ước có nghĩa là một cam kết, một giao kèo. Ðức Chúa phán: "Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, nếu ngươi bước theo đường Ta chỉ, ngươi sẽ là dân Ta."

Từ đó, giao ước dần dần chuyển sang một ý nghĩa khác, ít thiên về luật pháp, nhưng gợi lên một thứ kết hiệp, một mối liên hệ trong tình yêu. Càng lúc giao ước cũ này càng cho thấy chiều kích phong phú sẽ được ban tặng trong giao ước mới, và giao ước cũ chỉ là một bước chuẩn bị, một sự loan báo. Giao ước cũ sẽ được giao ước mới biến đổi, nếu không muốn nói là phải nhường chỗ cho giao ước mới.

Thật vậy, giao ước mới này đã hiện thân nơi Ðức Kitô với "tâm hồn mới, tinh thần mới". Xưa kia, giao ước cũ đặt nền tảng trên lề luật ; ngày nay, giao ước mới lấy tình yêu làm căn bản. Giao ước mới này được bày tỏ trong hy tế Mình và Máu Ðức Kitô được trao tặng cho nhân loại được sống. So với giao ước cũ, giao ước mới này thâm sâu hơn nhiều, đồng thời cũng có tính cách quyết liệt hơn, cá vị hơn. Lề luật vẫn còn đó, nhưng không còn giá trị tối thượng : con người được đón nhận các mối phúc và được mời gọi sống trong tương giao dựa trên lòng yêu mến. Máu sẽ không chỉ là biểu tượng của giao ước, nhưng còn là bằng chứng của giao ước .

Chính vì thế, không phải chỉ là thay đổi tên gọi, từ cũ sang mới, nhưng là thay đổi hoàn toàn về ý nghĩa và cách thực hiện, để rồi từ cái chết của Ðức Giêsu, chỉ có một giao ước, giao ước duy nhất và vĩnh cửu.

Thành ngữ "máu giao ước" trong phụng vụ Thánh Thể vừa gợi lên sự dâng hiến của Ðức Giêsu, vừa cho thấy sự canh tân thường xuyên của giao ước để đi vào cuộc sống muôn mặt của nhân loại.

Giao ước của mỗi ngày sống

Trong bữa ăn mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ, cũng là bữa ăn cuối cùng, Ðức Giêsu đã thiết lập giao ước mới qua việc tự nộp mình làm lương thực và làm của lễ. Nhìn bề ngoài, bữa ăn này cũng giống mọi bữa ăn khác; nhưng thật ra, bữa ăn này đã đúc kết toàn bộ lịch sử của dân Ít-ra-en, đồng thời mở ra lịch sử của một dân mới. Cả quá khứ, hiện tại lẫn tương lai đều phải lấy đây làm mốc. Tất cả lịch sử Cựu ước hướng về bữa ăn này, và tất cả tương lai của lịch sử cứu độ cũng phát xuất từ bữa ăn này. Bữa ăn này là một biến cố làm đảo lộn cả lịch sử mọi thời.

Thánh lễ là cuộc tái diễn bữa ăn đặc biệt này, trong đó Ðức Giêsu tiếp tục nhắc lại giao ước với toàn thể nhân loại cũng như với từng người. Khi cử hành và tham dự thánh lễ, nhân loại một lần nữa đi vào giao ước của Thiên Chúa qua cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Ðức Kitô. Giao ước ấy đã được thực hiện một lần trong lịch sử, một lần là đủ, nhưng cần được nhắc lại để nhân loại luôn nhớ đến tình yêu đã cứu chuộc mình, và tình yêu ấy vẫn đang cứu chuộc để đưa nhân loại đến sự sống vĩnh cửu.

Như thế, mỗi lần tham dự thánh lễ là người Kitô hữu tìm được nguồn an ủi cho cuộc sống đầy những biến động của mình. Cuộc sống ấy đã được máu của Ðức Kitô đổ ra để cứu chuộc. Cuộc sống ấy vẫn được tình yêu của Thiên Chúa ấp ủ, nâng đỡ.

Ðồng thời, mỗi lần tham dự thánh lễ cũng là một nhắc nhở về bổn phận họ phải thi hành trong giao ước với Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn luôn trung tín và yêu thương, thì ngược lại, người Kitô hữu cũng phải thực hiện phần của họ trong giao ước, bởi vì giao ước không chỉ có một phía, không chỉ là một chiều. Chính những hoàn cảnh sống khác nhau, với những buồn vui, thành công và thất bại, làm cho giao ước thêm sống động và bày tỏ được trọn vẹn ý nghĩa.

Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, op

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-166: MẦU NHIỆM HÀM CỨA TRONG BÍ TÍCH TÌNH YÊU


 - Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Xh. 24,3-8; Dt. 9,11-15; Mc 14,12-16.22-26
Phúc Âm: Mc 14, 12-16. 22-26

"Này là Mình Ta. Này là Máu Ta".

Ngày thứ nhất trong tuần lễ ăn bánh không men là ngày giết chiên mừng lễ Vượt Qua, các môn đệ thưa Chúa Giêsu rằng: "Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua tại đâu?" Người liền sai hai môn đệ đi và dặn rằng: "Các con hãy vào thành, và nếu gặp một người mang vò nước thì hãy đi theo người đó. Hễ người ấy vào nhà nào thì các con hãy nói với chủ nhà rằng: Thầy sai chúng tôi hỏi: 'Căn phòng Ta sẽ ăn Lễ Vượt Qua với các môn đệ ở đâu?' Và chủ nhà sẽ chỉ cho các con một căn phòng rộng rãi dọn sẵn sàng và các con hãy sửa soạn cho chúng ta ở đó". Hai môn đệ đi vào thành và thấy mọi sự như Người đã bảo và hai ông dọn Lễ Vượt Qua.

Ðang khi họ ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các ông mà phán: "Các con hãy cầm lấy, này là Mình Ta". Rồi Người cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các ông và mọi người đều uống. Và Người bảo các ông: "Này là Máu Ta, Máu tân ước sẽ đổ ra cho nhiều người. Ta bảo thật các con: Ta sẽ chẳng còn uống rượu nho này nữa cho đến ngày Ta sẽ uống rượu mới trong nước Thiên Chúa". Sau khi hát Thánh Vịnh, Thầy trò đi lên núi Cây Dầu.

 Suy NiỆm:

 

Câu kết và cả bài Phúc Âm hôm nay dường như lại muốn đưa chúng ta trở về bầu khí của ngày: THÁNHTHỂ-166


Câu kết và cả bài Phúc Âm hôm nay dường như lại muốn đưa chúng ta trở về bầu khí của ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Mà quả thật, ngày lễ hôm nay bắt nguồn từ ngày đó. Hôm ấy, chúng ta kính nhớ việc Chúa Yêsu lập phép Thánh Thể. Ðó là biến cố đặc biệt và thâm thúy quá, lẽ ra phải để ra nhiều giờ mà suy niệm. Nhưng hôm ấy, Giáo hội phải vội đi theo Chúa Yêsu trong mầu nhiệm cứu thế. Bỏ bàn Tiệc ly Chúa với các môn đệ ra đi lên núi Cây Dầu. Rồi Chúa bị bắt, bị tra, bị đánh, bị đóng đinh vào thánh giá... Biết bao là việc kế tiếp nhau dồn dập! Giáo hội phải âu yếm đi theo Chúa ngay, không thể dừng lại lâu để suy nghĩ về bí tích Thánh Thể mà Chúa vừa thiết lập. Giáo hội hôm đó chỉ chầu Mình Thánh Chúa một lúc thôi. Nên hôm nay, sau khi đã đi hết chu kỳ phụng vụ và tưởng niệm hết các mầu nhiệm chính trong lịch sử cứu độ, Giáo hội dừng chân, lấy lại công việc bỏ dở hôm trước chạy đến với bí tích Thánh Thể một lần nữa để tìm hiểu cho hết ý nghĩa sâu xa của bí tích tình yêu này.

Và Giáo hội thấy đây là một mầu nhiệm cao cả, mầu nhiệm bao trùm, chứa đựng mọi mầu nhiệm khác. Hát ca tung hô mấy cũng không vừa. Vì thế Giáo hội khuyến khích chúng ta cố gắng tối đa để tôn sùng mầu nhiệm ấy. Lễ Mình Thánh Chúa trở thành một lễ lớn làm khuôn vàng thước ngọc cho mọi lễ khác, đến nỗi trong suốt năm, lễ nào cũng chỉ là lễ Thánh Thể tạ ơn. Thế nên, mầu nhiệm lễ này không thể diễn tả một lần. Hy vọng đây chỉ là khởi điểm cho những suy niệm sâu xa hơn.

Ðể bắt đầu, chúng ta hãy nhớ lại bài Phúc Âm. Hôm ấy các môn đệ hỏi ý Chúa Yêsu về việc dọn lễ Vượt qua. Ðó là ngày hội lớn trong dân. Càng những người đạo đức như các tông đồ lại càng háo hức mừng lễ trọng đại này. Vì hôm nay toàn dân sẽ tưởng niệm Ngày hoàn toàn được giải phóng khỏi ách nô lệ, được đưa vào đất chảy sữa và mật. Kỷ niệm ấy lại càng đáng nhắc nhở khi dân Chúa ngày nay đang sống dưới ách ngoại bang. Khơi lại lịch sử cũ và sưởi ấm lòng người để quy hướng về tương lai.

Các tông đồ muốn ăn lễ Vượt qua trong viễn tượng trông chờ ngày cứu độ mà các tiên tri từng nói tới. Chúa Yêsu chia sẻ những cảm tình đó. Người tỏ ra rộng rãi, bảo môn đệ đi dọn một căn phòng trang trọng. Rồi, như Phúc Âm Yoan cho chúng ta biết, Người đã bước vào phòng ăn một cách đặc biệt, bởi vì Người biết đã đến giờ Người hành động, nên Người tuyên bố: Thầy đã từng ước ao ăn lễ Vượt qua này với chúng con. Câu nói hẳn đã làm cho các môn đệ phải lưu ý. Thầy sắp có một hành vi nào đây. Phải chăng Người sắp công bố Công cuộc cứu dân độ thế của Người. Người vẫn xưng mình là đấng phải đến, là Ðấng Thiên Sai cứu thế. Thì đây là lúc thuận tiện nhất để công bố một kế hoạch như vậy. Tâm lý mọi người ngồi ăn đang hướng về tương lai cứu độ.

Có lẽ vì vậy mà vừa ngồi xuống, các môn đệ đã bắt đầu tranh nhau xem ai sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời. Họ như đã được lôi vào bầu khí, tưởng bữa tiệc hôm nay sẽ khai Nước Trời ở trần gian. Ðủ mặt 12 tông đồ đại diện cho 12 chi tộc Israel. Thế nên bữa ăn này như đúc kết tất cả lịch sử dân tộc Dothái. Nó nhắc lại hôm mừng lễ Vượt qua chuẩn bị Xuất hành, từ giã nơi nô lệ lầm than để đi vào đất hứa tự do trù mật. Nó cũng gợi đến bữa ăn giao ước như bài đọc I hôm nay vừa thuật: Môsê cùng dân làm lễ cam kết trung thành với Thiên Chúa. Và nhất là nó nghĩ đến bữa ăn cứu độ mà một Isaia đã loan báo: Thiên Chúa sẽ dọn ra trên đồi Sion cho muôn dân đến no thỏa. Chính Ðức Kitô cũng đã từng ví Nước Trời như một bữa tiệc trọng đại.

Lời nói và thái độ của Chúa Yêsu hôm nay rõ ràng như muốn thực hiện điều đó ở trong bữa ăn này. Thế nên bàn tiệc Thánh Thể quả thật là Nước Trời. Quá khứ, hiện tại, tương lai phải lấy đây làm mốc. Tất cả lịch sử cựu ước hướng về bữa ăn này; và tất cả tương lai của lịch sử cứu độ cũng phát xuất từ đây. Ước gì mỗi khi đến dự bàn tiệc Thánh Thể chúng ta có được tâm trạng của các môn đệ ngày xưa cảm thấy đây là giây phút trọng đại của tất cả lịch sử loài người.

Quả thật, Phúc Âm hôm nay kể tiếp: đang khi ăn, Chúa Yêsu cầm lấy bánh mà đọc: này là Mình Ta sẽ bị nộp vì chúng con. Rồi Người lại cầm lấy chén rượu mà phán: Này là Máu Ta, Máu tân ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho muôn người được khỏi tội. Thật là rõ ràng, Chúa Yêsu đã biến mình trở thành con chiên vượt qua. Bữa ăn này không phải chỉ tưởng niệm lễ Vượt qua của người Dothái nữa, nhưng từ nay muốn thay hẳn lễ vượt qua này. Vì Con Chiên Vượt qua đích thực là đây, nơi con người mà trước kia Yoan đã trỏ vào mà nói: đây là Con Chiên Thiên Chúa gánh tội thiên hạ. Hôm ấy, Anrê đã có mặt... Ông đã nghe rõ lời Yoan. Ông xin Yoan cho đi theo Chúa Yêsu. Hôm nay chắc ông mới hiểu rõ lời của Yoan, vì trong lễ Vượt qua này, rõ ràng Chúa Yêsu đã muốn bỏ quên máu chiên để nói máu mình.

Và bữa ăn hôm nay, với những lời tuyên bố kia, rõ rệt cũng muốn thay thế lễ nghi ký kết giao ước như Môsê đã làm. Hôm ấy như bài đọc I hôm nay kể, ông đã lấy máu bò rảy trên dân để tuyên bố giao ước giữa Chúa và dân. Hôm nay Ðức Kitô đã lấy chính máu mình đưa cho các môn đệ uống và công bố đó là máu giao ước mới và vĩnh cửu. Như vậy cũng đã chấm dứt giao ước cũ và dĩ hậu trong tương lai cũng chẳng còn giao ước nào khác nữa vì đây đã là giao ước mới và vĩnh cửu rồi.

Thành ra các lời tiên tri loan báo Nước Trời, về bữa ăn thịnh soạn sẽ bày ra trên đỉnh đồi Sion để công bố thời đại thiên sai hòa giải nay cũng đã được thực hiện trong bữa ăn giữa Chúa và các môn đệ... Các tiên tri đã loan báo thời đại cứu thế như thời thái hòa: Chúa tha hết tội lỗi cho dân, dân trở thành nơi quy tụ các dân tộc, các dân tộc sống với nhau trong hòa bình và thông cảm. Hôm nay cầm lấy chén rượu, Chúa Yêsu tuyên bố đây là chén máu của giao ước mới và vĩnh cửu, tha tội cho dân và cho mọi người. Chúa Yêsu muốn thực hiện mọi lời tiên tri, khiến bàn tiệc Thánh Thể hôm nay trở thành bàn tiệc Nước Trời và ai muốn được ơn nào bởi trời, phải đến với bàn tiệc Thánh Thể.

Quả vậy, trong bàn tiệc này, không thiếu một ơn trên trời nào. Chúng ta cần trời ban cho những ơn nào? Sức khỏe phần xác và giàu sang phú quý ư? Chắc chắn đó không phải là những ơn đầu tiên chúng ta cần trời ban cho. Những ơn đó quá gần với mặt đất, nên có cầu xin, chúng ta cũng chỉ coi như là những ơn phụ, đi kèm và biểu lộ những ơn phần hồn quan trọng hơn.

Chính Chúa Yêsu cũng có ý như vậy khi dùng bánh rượu vào tiệc bồi dưỡng tâm hồn. Chúa ban Mình Máu Người cho ta dưới hình thức bánh rượu để nói lên ý Chúa muốn nuôi dưỡng tâm hồn ta nhưng cũng không quên đời sống vật chất của mọi người. Những ơn mà ta cần trời ban cho hơn cả chính là tình thương của Thượng đế, ơn tha tội mà chỉ mình Người mới có thể ban được, để chúng ta được hòa giải với Người hầu sống trong tình thương của Người.

Thế mà Thánh Thể lại muốn ban chính ơn ấy cho ta. Chén máu mà chúng ta lãnh nhận là chén máu giao ước tha tội. Và tấm bánh mà chúng ta cầm ăn chính là mình Chúa chịu nộp vì chúng ta. Lãnh nhận Thánh Thể như vậy là lãnh nhận được ơn cao cả nhất mà chúng ta cần được Chúa ban cho. Mọi ơn khác được bao hàm trong ơn cứu độ phong phú này. Tìm đến với Thánh Thể là tìm được điều cần thiết duy nhất và mọi sự khác sẽ được ban thêm cho. Chúng ta chỉ còn việc làm cách nào hầu lãnh nhận được ơn Thánh Thể cho sung mãn.

Chính Chúa Yêsu khi lập Bí tích Thánh Thể đã gợi ý cho ta: chúng con hãy làm việc này để nhớ đến Ta. Và thánh Phaolô đã quảng diễn: mỗi khi ăn bánh và uống chén rượu này, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết cho đến khi Người lại đến. Nghĩa là chúng ta luôn luôn phải cử hành mầu nhiệm Thánh Thể trong bầu khí Chúa chịu chết của ngày thứ Năm Tuần Thánh. Chúng ta phải có tâm tình hơn những người Dothái khi ăn thịt chiên vượt qua, vì Mình Thánh Chúa đây mới thật là thịt chiên vượt qua của đạo mới. Thế mà người Dothái ngày trước khi ăn lễ chiên đã có tâm trạng dứt khoát từ bỏ nếp sống nô lệ để dấn thân vào nếp sống tự do mới mẻ. Chúng ta tham dự phụng vụ Thánh Thể phải có tâm hồn cương quyết hơn nữa muốn dứt bỏ đời sống tội lỗi và xác thịt để sống cho Thiên Chúa. Và như dân Dothái ngày xưa khi làm lễ giao ước đã thề hứa sống liên kết với Chúa và trung thành với Lời Chúa thế nào, thì chúng ta ngày nay càng cần phải có tâm trạng như thế vì trong bàn tiệc Thánh Thể này có máu giao ước thật thay cho máu bò xưa.

Nếu tham dự lễ nghi Thánh Thể trong viễn tượng ấy, chúng ta có thể nhìn vào Mình Máu Thánh Chúa mà nói với tác giả thư Hibá như chúng ta vừa nghe đọc: Chúa Kitô xuất hiện như vị thượng tế... Người hiến tế chính mình làm của lễ trong sạch... Máu Người sẽ tẩy sạch lương tâm chúng ta, khiến chúng ta có thể phụng thờ Thiên Chúa hằng sống... và nhờ sự chết của Người mà những kẻ được kêu gọi đến lãnh gia nghiệp đời đời.Ít là hôm nay chúng ta hãy tham dự thánh lễ với tất cả những ý nghĩa đó. Và mong rằng ngày hôm nay khi tôn sùng Thánh Thể bằng bao nghi thức long trọng bên ngoài, chúng ta hằng suy niệm trong lòng tất cả các mầu nhiệm hàm chứa trong bí tích tình yêu, để ai tin và ăn bánh này sẽ được trường sinh.

Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-167: KỲ CỤC HAY KỲ DIỆU

 

Một hôm, có người thanh niên đến gặp một vị Linh mục, anh ta nói: Thưa cha, con có người: THÁNHTHỂ-167


Một hôm, có người thanh niên đến gặp một vị Linh mục, anh ta nói:

Thưa cha, con có người bạn gái và chúng con đang có chuyện… không hiểu, xin cha giúp cho con.

Linh mục nghĩ thầm:  “Có lẽ là về chuyện tình cảm đây!”   Ông mỉm cười:

Con nói cho cha nghe.

Thưa cha, bạn gái con hỏi con:  “Đạo Thiên Chúa của anh, ai nấy không ăn gì khác mà lại  ăn thịt và uống máu Chúa, sao kỳ cục quá vậy?”  Thưa Cha con biết Mình, Máu Thánh của Chúa là một Bí Tích mầu nhiệm  nhưng khi nghe bạn gái hỏi, con giật mình suy nghĩ...

Người thanh niên ấp úng một chút, rồi nói tiếp:

Và con cũng không biết giải thích như thế nào..

Linh mục nhìn anh, ông không trả lời câu hỏi của anh nhưng ông bắt đầu kể cho anh nghe một câu chuyện.

***

Ở một thành phố  kia, một trận động đất đã gây hư hại, làm sụp nhà cửa, đường phố… và có rất nhiều người bị vùi dập trong trận động đất.  Trong đó, có một bà mẹ cùng với một đứa con tám tháng tuổi, bị kẹt trong đất đá vụn, nhờ có chiếc bàn chắn ngang nên hai mẹ con bà đươc an toàn, nhưng họ không thể thoát ra ngoài.  Họ chỉ có một gói nhỏ trong đó có một ít trái cây và bánh.

Ngày đầu tiên: đứa bé  khóc vì đói, bà mẹ  cho con bú sữa tuy không ăn uống gì nhưng lượng sữa cũng tạm đủ no lòng đứa bé.

Ngày thứ hai… ngày thứ ba  thì lương thực đã cạn, sữa cũng không còn, đứa bé lại khóc đòi ăn.  Bà lo lắng, bà quờ quạng trong bóng tối và tay bà đụng vào một mảnh vụn của cửa kính.  Bà quyết định cắt một đường trên ngón tay và đưa vào miệng con thế sữa của mình.  Cứ như vậy, hễ con đói là tay bà có thêm một vết cắt…
…Cho đến tối ngày thứ tư, những người cứu hộ tìm thấy được một bà mẹ rất xanh xao và đang trong tình trạng nguy hiểm với tư thế đang che chở cho con.  Trên tay bà vẫn ôm chặt đứa con mũm mĩm.

Khi bạn  nghe hay nhìn bằng đôi mắt, hình ảnh một em bé mút máu từ ngón tay của mẹ, có lẽ bạn có chút nào đó cảm thấy ghê sợ và… kỳ cục!

Nhưng với đôi mắt của trái tim, bạn  sẽ thấy điều ngọt ngào và… kỳ diệu biết bao trong Tình Yêu của bà mẹ dành cho con, đến nỗi thí cả mạng sống mình vì người mình yêu thương.

Chúa Cha đã ban cho chúng ta người con duy nhất của Người chính là Chúa Giêsu.  Người đã hiến mạng sống của mình cho người mình yêu, đó là chúng ta.  Và Máu, Thân Người chính là của ăn, của uống Tình yêu cho chúng ta, để chúng ta đươc hòa làm một cùng Thiên Chúa, như giọt máu của người mẹ biến thành dòng sữa ngọt ngào cho con uống để nuôi sống con mình.  “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 56).

Cũng như em bé đươc nuôi dưỡng bằng  máu  của mẹ để sống, chúng ta cũng cần của ăn Tình Yêu nuôi dưỡng đó chính là:  Mình, Máu Thánh của Chúa Giêsu đã đổ ra để cứu chuộc tội lỗi của chúng ta, cho chúng ta dược hưởng cuộc sống đời đời.  “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời” (Ga 6, 54).

Ôi kỳ diệu thay Bí Tích mầu nhiệm của Tình Yêu, bạn hãy đến và nếm thử mà xem Thiên Chúa chính là Tình Yêu của chúng ta  ngọt ngào là dường bao!

***

Lạy Chúa, chúng con là những người tội lỗi và luôn bất tuân với Ngài, nhưng Chúa vẫn yêu thương chúng con vô bờ bến, chúng con hết lòng  tri ân vì Tình Yêu của Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng con.  Xin cho chúng con luôn biết chúc tụng, ngợi khen, cảm tạ Hồng Ân của Thiên Chúa đã trao ban chính là Máu Thân mình, để bồi dưỡng cho chúng con thêm sức trong Tình Yêu của Thiên Chúa.  Cho chúng con  luôn ở trong Tình Yêu của Ngài và chúng con biết yêu thương tha nhân như chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng con.  “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em” ( Ga 15, 12).  Amen!

MT

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-168: Tình yêu và sự sống

 

Đã bao thế kỷ trôi qua, Giáo Hội Công giáo không ngừng đào sâu niềm tin vào sự hiện diện của: THÁNHTHỂ-168


Đã bao thế kỷ trôi qua, Giáo Hội Công giáo không ngừng đào sâu niềm tin vào sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Dẫu có gặp muôn vàn thử thách, dẫu phải đương đầu với bao chỉ trích, người tín hữu vẫn kiên vững trong niềm tin không lay chuyển, bởi chính họ biết rõ Thánh Thể đã đem lại cho họ những gì trong cuộc hành trình thiêng liêng của cuộc đời.

Mỗi thánh lễ là một lễ kính Mình Máu Thánh Chúa. Nhưng ngày lễ trọng được ấn định hàng năm phải là một dịp đặc biệt để chúng ta suy niệm cách sâu sắc hơn về một chân lý vốn được gọi là suối nguồn, là đỉnh cao của đời sống người Kitô hữu, đó là Bí tích Thánh Thể.

Đã hẳn, trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu ở đó để thực hiện lời hứa: Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.

Nhưng trước hết sự hiện diện ấy nhằm tái diễn hy tế thập giá của Ngài. Thực vậy, Bí tích Thánh Thể không phải là một hy tế mới và độc lập, thay thế hay bổ túc cho hy tế thập giá, nhưng là lặp lại hy tế chỉ diễn ra một lần trên thập giá. Cũng một lễ vật, cũng một Đấng đã tự hiến đời mình thuở xưa trên thập giá, còn nay hiến tế qua tác vụ của linh mục trong thánh lễ. Có khác chăng là khác trong cách thức biểu lộ mà thôi.

Như dân Do Thái hằng nhớ lại những kỳ công Thiên Chúa, đặc biệt là hai biến cố: Thiên Chúa giải phóng dân khỏi ách nô lệ Ai Cập và không ngừng ban lương thực của Ngài cho dân suốt dọc theo những nẻo đường sa mạc. Trong thánh lễ, Giáo Hội cũng nhớ lại cuộc vượt qua của Đức Kitô và việc Ngài ban Thánh Thể cho dân mới trên đường lữ hành trần thế.

Thực vậy, tiếp nối Manna trong hoang địa, Thánh Thể trở nên lương thực, trở nên của ăn đàng cho Israel mới là Giáo Hội. Nhưng Manna mới chỉ là hình ảnh tượng trưng, chứ không thể nào sánh ví được với Bí tích Thánh Thể. Bởi vì cũng như bao lương thực trần gian khác, Manna vẫn để con người lại đó với cơn đói và nỗi khát khao vĩnh cửu. Manna chỉ cho người ta sống tạm để khỏi chết chứ không giúp người ta khỏi chết đời đời. Chính thân thể vinh hiển của Đức Kitô mới thực là bánh ban sự sống: Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời.

Chúa Giêsu đã trở nên bánh khi hiến mình làm lễ tế dâng lên Chúa Cha. Chúa Cha đã chấp nhận lễ hy tế ấy bằng cách tôn vinh Chúa Giêsu và đưa vào trong vinh quang của Ngài. Ngài nhận lễ vật mà Chúa Giêsu thay cho loài người dâng tiến, để rồi ban lại cho loài người như của ăn thánh. Từ của ăn thánh ấy, loài người kín múc sự sống để thông hiệp với Thiên Chúa… Và trong bữa tiệc ấy, Thiên Chúa hòa niềm vui của Ngài với tiếng cười của nhân loại. Những ai đón nhận của ăn thánh ấy sẽ được lôi kéo vào trong quỹ đạo của tình yêu Thiên Chúa và lưu lại trong Ngài: Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì sẽ ở lại trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy. Người ăn uống Mình Máu Chúa sẽ thuộc về Chúa từ đời này và mai này thuộc về Ngài mãi mãi.

Như thế, Thánh Thể thực hiện trước bữa tiệc cánh chung trong nước trời, sẽ được cử hành trong niềm vui rượu mới. Và như thế Thánh Thể là dấu chỉ cho đời sống vĩnh cửu đã khởi sự và là bảo chứng cho sự sống lại trong ngày sau hết.

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-169: MÌNH MÁU THÁNH CHÚA


Tổng hợp từ R. Veritas

 

Hôm nay Giáo Hội mừng kính lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Thánh Lễ này nhắc nhở cho ta: THÁNHTHỂ-169


Hôm nay Giáo Hội mừng kính lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Thánh lễ này nhắc nhở cho ta:  Chúa Kitô đã và đang trao ban chính Mình Máu Ngài làm lương thực để ban sự sống cho ta, để  tiếp nhận ta vào sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Tin Mừng hôm nay thuật lại phép lạ Chúa hóa bánh ra nhiều. Phép lạ này không phải từ “không ra có”, nhưng từ năm chiếc bánh và hai con cá là phần đóng góp của con người. Tương tự như vậy, bánh và rượu trở nên Mình Máu Thánh Chúa được hiến dâng trên bàn thờ chính là hoa màu ruộng đất và lao công khó nhọc của con người. Thiên Chúa không muốn làm một mình, nhưng Ngài muốn con người cộng tác với Ngài. Được cộng tác với Ngài chính là hồng ân, là vai trò tuy nhỏ bé nhưng hết sức cao quý được dành riêng cho ta trong mầu nhiệm Thánh Thể.

Trong thư thứ nhất gởi tín hữu Corintô, thánh Phaolô cho chúng ta một chứng từ cổ xưa về bí tích Thánh Thể mà ngài gọi là bữa ăn của Chúa. Bí tích Thánh Thể là một sáng kiến của Ðức Giêsu trong bữa ăn vào đêm Người bị nộp. Tấm bánh thành Mình Thầy: hãy cầm lấy mà ăn. Chén rượu thành Máu Thầy: hãy cầm lấy mà uống.

Đã bao nhiêu thế kỷ qua đi, có biết bao thánh lễ đã được cử hành trên mặt đất. Thánh lễ nào cũng là một bữa ăn do Chúa thết đãi, và cũng là một nghi thức tưởng nhớ cái chết của Chúa. Không thể tách rời thánh lễ với cái chết của Ðức Giêsu. Mình Thầy sẽ bị nộp, Máu Thầy sẽ đổ ra vì anh em. Rước lễ là rước lấy Ðấng đã chết vì loài người, Mỗi lần dự lễ, chúng ta loan truyền Chúa đã chịu chết va đã sống lại. Rước lễ chẳng phải là rước một thi hài người chết, mà là đón lấy Ðấng đang sống và đang ban phát sự sống.

Dự thánh lễ là tham dự một bữa ăn, là tham dự vào hy tế năm xưa trên Núi Sọ. Chính vì thế ta không nên dự lễ với hai bàn tay trắng. Cần đem theo tấm bánh của mình trong những ngày qua. Chúa Giêsu cần tấm bánh của tôi, để Người biến đổi. Thánh Thần cần tấm bánh của tôi, để Người thánh hoá. Chúa Kitô không từ trời cao ngự xuống tấm bánh. Ðúng hơn, Người nâng tấm bánh lên tới Người, và biến tấm bánh thành lương thực thần linh nuôi tôi. Như thế, tấm bánh mong manh nhỏ bé lại là nơi hội tụ của cả Thiên, Ðịa, Nhân. Vũ trụ, con người và Thiên Chúa gặp nhau, hoà quyện vào nhau. Bí tích Thánh Thể góp phần biến đổi cả vũ trụ loài người. Những gì là tự nhiên, nay được thần hoá, được biến đổi tận căn mà vẫn không đánh mất chính mình.  Lễ vật tôi dâng lên Chúa, Chúa trao lại cho tôi. Bánh bởi trời cũng là bánh bởi đất...

Mầu nhiệm Mình Máu Thánh Chúa là Mầu Nhiệm Tình Yêu. Chính vì thế mà Thánh Gio-an đã viết về đêm Người bị trao nộp: "Người đã yêu thương họ đến cùng". Vì yêu thương đến cùng nên Người cũng hiến thân đến cùng. "Này là Mình Thầy, Này là Máu Thầy, các con ăn đi, và hãy làm như thế để tưởng niệm Thầy".

***

Lạy Chúa Giêsu! Có một ngọn đèn dầu gần Nhà Tạm, ngọn đèn đỏ mời con dừng bước chân, và nhắc con về sự hiện diện của Chúa.

Con mong sự hiện diện ấy lan toả khắp nơi, để đâu đâu cũng thấy những ngọn đèn đỏ, nơi xóm nghèo mùa mưa nhớp nháp, nơi lớp học tình thương lúc chiều tà, nơi những trung tâm phục hồi nhân phẩm, nơi bảo sanh viện nâng niu sự sống của trẻ thơ,  nơi khách sạn năm sao, nơi quán bia đầu ngõ, nơi các tiệm cho mướn băng video, nơi tình yêu trong trắng của đôi bạn trẻ...

Nhưng lạy Chúa, trước hết, xin cho đời con là một ngọn đèn, ngọn đèn màu đỏ lung linh sáng, mời gọi tha nhân dừng bước, để trầm tư và gặp được Chúa. Amen

Tổng hợp từ R. Veritas

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-170:  Kết hiệp với Đức Kitô và với nhau

 

Chúng ta biết rằng niềm tin vào Thánh Thể đã khai mào cho nhiều cách hiểu khác nhau về : THÁNHTHỂ-170


Chúng ta biết rằng niềm tin vào Thánh Thể đã khai mào cho nhiều cách hiểu khác nhau về sự hiện diện của Đức Kitô trong bánh và rượu. Các cách hiểu khác nhau này đôi khi đã là nguồn chia rẽ giữa các Giáo Hội. Đó đây, chúng còn là một trong nhiều cản trở mà hướng đại kết phải cố gắng vượt qua. Người ta sẽ thích đọc đoạn văn dưới đây, tuy không có tính cách chính thức, nhưng đã đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong bước hiệp nhất giữa Giáo Hội Công giáo và Anh giáo. Đây là một trích đoạn trong bản tuyên ngôn chung về học thuyết Thánh Thể ban ngày 7-9-1971 do uỷ ban quốc tế Anh giáo-Công giáo La mã.

Sau khi đã nói rằng: “Chúng tôi ao uớc diễn tả trong tài liệu này sự đồng nhất mà chúng tôi đã đạt được”, Uỷ ban nói tiếp:

“Việc hiệp thông với Đức Kitô trong Thánh Thể giả thiết Ngài hiện diện thật sự, được biểu lộ dưới hình thức bánh và rượu. Bánh và rượu này trở nên Mình và Máu Ngài trong mầu nhiệm này. Nhưng sự hiện diện thật sự Mình và Máu Đức Kitô chỉ có thể hiểu được trong bối cảnh công cuộc cứu độ, nhờ đó Ngài tự hiến bản thân Ngài, và cũng nhờ đó Ngài ban cho những kẻ thuộc về Ngài, ơn giao hoà, bình an và sự sống. Một đàng ơn huệ Thánh Thể xuất phát từ Mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, nhờ đó ý định cứu độ của Thiên Chúa đã được thực hiện cách dứt khoát. Đàng khác mục đích của Thánh Thể là thông ban cho thân thể Ngài là Giáo Hội, sự sống của Đức Kitô chịu đóng đinh và sống lại, đến nỗi các chi thể của Ngài luôn được kết hiệp với Đức Kitô và với nhau một cách trọn vẹn hơn nữa.

Những lời của Đức Giêsu nói trong bữa Tiệc ly: “Hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Ta” không cho phép ta tách biệt ơn huệ sự hiện diện với tác động của bữa ăn bí tích. Các yếu tố không hẳn chỉ là những dấu chỉ đơn thuần: Mình và Máu Đức Kitô hiện diện thực sự đấy và cũng được thực sự trao ban là để khi lãnh nhận chúng, các tín hữu được liên kết trong sự hiệp thông với Đức Kitô, Chúa chúng ta.

Theo quy luật phụng vụ cổ truyền, lời nguyện truyền phép dẫn đến việc tín hữu rước lễ. Nhờ lời nguyện tạ ơn này, 1 lời kinh tin tưởng dâng lên Chúa Cha, bánh và rượu nhờ tác động của Chúa Thánh Thần mà trở nên Mình và Máu Đức Kitô, cho nên khi rước lễ, chúng ta ăn thịt và uống máu Đức Kitô.

Vị Thiên Chúa đến gặp gỡ dân Ngài nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, chính là vị Chúa quang vinh. Trong nghi lễ tạ ơn, chúng ta hưởng trước các niềm vui của thế giới sẽ đến. Nhờ tác động biến đổi của Thần linh Thiên Chúa, bánh rượu của trần thế trở nên man-na bởi trời và rượu mới, bữa tiệc cánh chung cho người mới. Các yếu tố của tạo thành thứ nhất trở nên bảo chứng và của đầu mùa cho trời mới đất mới.

Từ đoạn văn khá cô đọng về mặt đạo lý trên, ta hãy ghi nhớ các điều này:

- Mình và Máu Đức Kitô thật sự hiện diện trong bánh và rượu Thánh Thể.
- Việc hiệp lễ Thánh Thể nối kết lại với Đức Kitô và với nhau.
- Việc hiệp lễ Thánh Thể ngay từ bây giờ đã hướng chúng ta vào một định mệnh:

Định mệnh liên kết chúng ta với Thiên Chúa. Việc kết hiệp này bắt đầu từ hôm nay sẽ đạt tới mức viên mãn khi thời gian kết thúc.

--------------------------------

 

THÁNHTHỂ-171: Đây là đất thánh - Arthur Tone

 

Một linh mục Mỹ, cha Frank Ramsberger đi viếng đất thánh. Cha muốn khảo cứu, đặc: THÁNHTHỂ-171


Một linh mục Mỹ, cha Frank Ramsberger đi viếng đất thánh. Cha muốn khảo cứu, đặc biệt những nơi Chúa Giêsu đã sống, đã làm việc, đã chịu nạn, chết và sống lại từ cõi chết. Cha làm thân với một cậu trai tên Yosef, người có bộ mặt nâu của một người chăn cừu Ả-rập. Cậu bé giúp lễ cho cha, dạy cha một vài từ ngữ Ả-rập khó.

Khi vị linh mục sắp sửa từ biệt để đến một vùng khác của đất thánh, ngài nói với Yosef: “Có ít con trai và con gái được đặc ân sống trên mảnh đất Đức Giêsu đã sống. Con biết rằng Con Thiên Chúa đã sống như một cậu con trai, một người đàn ông, đã đi đứng trên những con đường này và đã thở bầu không khí này. Cái đó không giúp con yêu Người hơn sao?

Yosef trả lời một câu đầy ý nghĩa: “Cha chẳng cần phải sống ở đây để yêu Chúa, vì bây giờ Chúa ở khắp nơi trên thế giới. Ngày nay mỗi một nơi đều là đất thánh. Bất cứ nơi nào chúng ta ở, chúng ta ở trên đất của Chúa Giêsu.

Có bao giờ bạn nghĩ như vậy không? Pilsen (thay thế bằng tên họ đạo của cha) là một phần đất thánh. Đức Giêsu ở ngay đây, ngay lúc này.

Đây là ý tưởng về ngày lễ Mình Thánh Chúa. Thân thể Đức Kitô. Chúng ta nhắc lại thứ năm tuần thánh. Lúc đầu tiên Người nói những lời này: “Đây là Mình Ta… đây là Máu Ta”. Hôm nay chúng ta mừng lễ, về việc những lời trên được lặp lại trên khắp thế giới mỗi ngày, về việc Đức Giêsu hiện diện trên mọi bàn thờ khắp thế giới. Đức Kitô ở nơi đây. Đây là đất thánh Pilsen (tên họ đạo thành phố) là đất thánh.

Đây là Betlehem. Đức Giêsu sinh ra tại đây trong mỗi Thánh Lễ. Đây là Nazareth. Đức Giêsu lớn lên ở đây trong đời sống chúng ta. Chúa Giêsu làm phép lạ ở đây, phép lạ thiêng liêng: Người chữa chúng ta khỏi phong cùi tội lỗi. Người chừa những người què thiêng liêng để họ có thể bước đi trên đường lối của Người. Người mở mắt cho những ai không thấy được những sự thiêng liêng. Đức Giêsu tha thứ tội lỗi tại nơi đây trong tòa cáo giải.

Quan trọng nhất, ngôi Thánh đường này là “Căn phòng rộng trên lầu” trong Tin Mừng hôm nay, ở đó Đức Giêsu đã nói lời truyền phép đầu tiên. Không có nơi nào Thánh hơn nơi này.