Suy Niệm Tin Mừng Lể Chúa Ba Ngôi ABC Bài 151-200 MầuNhiệmTìnhYêu

Thứ hai - 21/05/2018 09:51
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Chúa Ba Ngôi ABC Bài 151-200: Mầu Nhiệm Tình Yêu
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Chúa Ba Ngôi ABC Bài 151-200: Mầu Nhiệm Tình Yêu
Suy Niệm Tin Mừng Lể Chúa Ba Ngôi ABC Bài 151-200 Mầu Nhiệm Tình Yêu
BaNgôi-151: BA NGÔI THIÊN CHÚA: CỘNG ĐỒNG TÌNH YÊU.. 2
BaNgôi-152: QUÀ TẶNG THIÊN CHÚA BAN.. 4
BaNgôi-153: THIÊN CHÚA - NGUỒN BÌNH AN VÀ TÌNH YÊU.. 7
BaNgôi-154:  Ba Ngôi cực thánh - Arthur Tone. 8
BaNgôi-155:  Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi - Noel Quesson. 10
BaNgôi-156: Một định mệnh làm choáng váng mặt mày. 11
BaNgôi-157: Vinh danh Ba Ngôi. 13
BaNgôi-158: HIỆP NHẤT TRONG YÊU THƯƠNG.. 15
BaNgôi-159: VINH QUANG CỦA LỜI HỨA CUỐI CÙNG.. 17
BaNgôi-160: Mười một môn đệ đi tới miền Galilê. 18
BaNgôi-161: HÃY RỬA TỘI CHO HỌ.. 21
BaNgôi-162: CHÚA GIÊSU GẶP GỠ VÀ SAI PHÁI CÁC MÔN ĐỆ NGÀI 26
BaNgôi-163: SỨ MẠNG PHỔ QUÁT - Lm PX Vũ Phan Long, ofm.. 29
BaNgôi-164: LỄ KÍNH THIÊN CHÚA BA NGÔI - Lm Carôlô Hồ Băc Xái 40
BaNgôi-165: LỄ CHÚA BA NGÔI - Lm. Augustine, SJ. 49
BaNgôi-166: THIÊN CHÚA BA NGÔI - Lm Phạm Thanh Liêm, SJ. 53
BaNgôi-167: LỄ CHÚA BA NGÔI - Lm. Ignatiô Hồ Thông. 55
BaNgôi-168: HIỆP NHẤT TRONG YÊU THƯƠNG.. 62
BaNgôi-169: LỄ CHÚA BA NGÔI - Lm. Anphong Trần Đức Phương. 69
BaNgôi-170: BA NGÔI LÀ M ỘT - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR.. 70
BaNgôi-171: BA NGÔI THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU.. 72
BaNgôi-172:  MẦU NHIỆM CHÚA BA NGÔI TRONG ĐỜI TA.. 74
BaNgôi-173: HUYỀN NHIỆM CỦA SỰ GẮN BÓ – Lm An Phong, OP. 76
BaNgôi-174: THỪA KẾ - Lm. Giuse Đỗ Văn Lực, OP. 77
BaNgôi-175: HÃY NÓI CHO MUÔN DÂN.. 80
BaNgôi-176: NHÂN DANH CHÚA CHA, VÀ CHÚA CON.. 82
BaNgôi-177:  BA NGÔI ĐỀU CHỈ HÀNH ĐỘNG CHO TA.. 84
BaNgôi-178: THIÊN CHÚA BA NGÔI 88
BaNgôi-179: HIỆP NHẤT NHƯ BA NGÔI 90
BaNgôi-180:  KHÁM PHÁ TÌNH YÊU BA NGÔI 96
BaNgôi-181: Chúa Ba Ngôi trong cuộc đời chúng ta. 98
BaNgôi-182: Mầu nhiệm tình yêu - ĐTGM Ngô Quang Kiệt 100
BaNgôi-183: Tình yêu hiệp nhất 102
BaNgôi-184: Nhìn thấy Thiên Chúa - McCarthy. 104
BaNgôi-185: Chú giải của Noel Quesson. 108
BaNgôi-186: Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 112
BaNgôi-187: TÌNH YÊU HIỆP NHẤT.. 115
BaNgôi-188: BA NGÔI HUYỀN NHIỆM TÌNH YÊU Lm Jos Tạ Duy Tuyền. 117
BaNgôi-189: LỄ CHÚA BA NGÔI , NĂM A . 119
BaNgôi-190: CHÚA BA NGÔI: ĐIỀU ĐỨC GIÊ-SU MUỐN NÓI 121
BaNgôi-191: CHÚA NHẬT LỄ ĐỨC CHÚA TRỜI BA NGÔI 123
BaNgôi-192: HIỆP NHẤT.. 125
BaNgôi-193: MẦU NHIỆM TÌNH YÊU.. 126
BaNgôi-194: BA NGÔI YÊU THƯƠNG HIỆP NHẤT.. 128
BaNgôi-195: Những Bảo Ðảm Chắc Chắn. 129
BaNgôi-196: LỄ CHÚA BA NGÔI 2001. 135
BaNgôi-197: Chúa Nhật lễ Chúa Ba Ngôi 136
BaNgôi-198: CHÚA NHẬT IX THƯỜNG NIÊN.. 141
BaNgôi-199: CHÚA BA NGÔI ( CHÚA NHẬT X THƯỜNG NIÊN ) 142
BaNgôi-200: CHÚA NHẬT IX THƯỜNG NIÊN. 144

 

BaNgôi-151: BA NGÔI THIÊN CHÚA: CỘNG ĐỒNG TÌNH YÊU

- Trần Mỹ Duyệt
 

Mỗi lần suy ngắm về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi - một Thiên Chúa có Ba Ngôi - thì câu truyện:BaNgôi-151

Mỗi lần suy ngắm về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi - một Thiên Chúa có Ba Ngôi - thì câu truyện của thánh Augustine, Giáo Phụ lừng danh của Giáo Hội lại xuất hiện như một lời nhắc nhở về cái hữu hạn của trí khôn con người trước mầu nhiệm vô cùng cao cả này.
Lúc đó, Augustine đã muốn đo lường và phân tích Chúa Ba Ngôi. Có lẽ ông cũng muốn mon men đến cửa Thiên Đàng để nhìn vào trong đó, xem coi Chúa Ba Ngôi là ai? Ngôi Cha, Ngôi Con, và Ngôi Thánh Thần như thế nào. Nhưng ý tưởng táo bạo ấy đã bị chận lại. Và Thiên Chúa đã thương giải thoát Augustine khỏi rơi vào sự kiêu ngạo hơn cả Evà xưa khi muốn biết lành và biết dữ. Truyện kể rằng, một thiên thần đã được sai xuống qua hình hài một em nhỏ múc nước biển đổ vào một lỗ cáy bằng chiếc vỏ sò. Một trí khôn tuyệt vời như Augustine khi nhìn thấy hình ảnh này, chắc chắn phải hiểu thế nào về ý nghĩ của ông lúc bấy giờ. Lúc đầu, vì còn đang say sưa với những ý nghĩ táo bạo của mình, ông đã không hiểu. Nhưng may mắn cho ông nhờ sự giải thích của thiên thần, ông đã hiểu điều ông đang tìm kiếm và trí khôn hạn hẹp của mình.
Việc làm của em nhỏ - thiên thần - tuy vô lý, nhưng nếu nhìn bằng con mắt thực tế vẫn có thể chấp nhận được. Vì dù là đại dương mênh mông hay một lỗ cáy nhỏ nhoi, nông cạn thì cả hai cũng là hữu hình, cũng lệ thuộc vào hữu hạn của nó. Nhưng hành động của Augustine thì không thể chấp nhận được, vì giới hạn của trí khôn nhân loại không cho phép con người tri thức được cái vô biên và siêu vượt của Thượng Đế. Một việc làm chỉ có thể chấp nhận được nếu như con người dùng lý trí và trái tim mình nhìn nhận và cảm nghiệm sự hiện diện của tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa mà thôi.
- Thiên Chúa Ngôi Cha - Đấng tạo thành vũ trụ:
Có bao giờ bạn nhìn lên bầu trời vào một buổi tối thanh trong với ánh sáng rạng ngời của vừng trăng, và lấp lánh của muôn vì tinh tú chưa? Và lý trí bạn cảm nhận được gì? Phải chăng là cái mong manh và nhỏ bé của con người giữa cái bao la, hùng vĩ của vũ trụ.
Một cách tương tự, đã có lần nào bạn phóng tầm nhìn của mình vào đại dương mênh mông chưa? Những lúc như vậy, bạn hẳn cũng cảm thấy cái nhỏ bé của con người mình giữa cái vô biên của đất trời và đại dương bao la. Tất cả những cái đó cuối cùng đã cho biết một điều, đó là tình yêu tạo dựng của Thiên Chúa.
Qua tình yêu sung mãn của mình, Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ và con người. Ngài tạo dựng tất cả vì con người và cho con người. Trong ngày đầu của lịch sử tạo dựng, Ngài đã phán bảo con người: “Hãy làm chủ chim trời, cá biển, muông thú và mọi loài bò sát trên đất” (Sáng Thế Ký 1:26). Từ lý trí dẫn tới cảm nhận của con tim.
- Thiên Chúa Ngôi Con - Đấng Cứu Độ con người
Có bao giờ bạn một mình trong một gian phòng nhỏ, hay một nguyện đường yên tĩnh đã để lòng mình lắng dịu vào cái cô đơn, thinh lặng khi một mình đối diện với Chúa Giêsu đang bị treo trên thập tự giá? Trong những lúc như vậy, nếu bạn hỏi Chúa Giêsu tại sao Ngài lại chấp nhận chịu chết như thế, chắc chắn bạn chỉ nhận được câu trả lời qua sự câm nín, và lặng thinh của Ngài.
Nhưng nếu thật lòng bạn muốn hiểu thế nào về cái lý do khiến Ngài phải chịu chết như vậy, lập tức bạn cảm nhận rất đầy đủ về mối tình bao la của Ngài. Vì đó là kết quả của tình yêu cứu chuộc mà Thiên Chúa đã dành cho bạn và thế gian tội tình: “Không ai có tình yêu cao cả hơn kẻ thí mạng sống mình vì bạn hữu mình” (Gioan 15:13).
- Thiên Chúa Ngôi Ba – Thánh Thần Tinh Yêu:
Và có bao giờ bạn để tâm nhìn vào những sinh hoạt của Giáo Hội, của các tâm hồn thánh thiện. Thí dụ, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, hay Chân Phước Têrêsa Calcutta, những con người được sinh ra và lớn lên như mọi người, nhưng thật sự đã sống và đã hoạt động một cách phi thường. Sức chinh phục và thu hút của những con người này đến từ kết quả của tác động của Thánh Thần - Tình Yêu của Thiên Chúa - hay còn gọi là Thiên Chúa Tình Yêu. Mà không chỉ riêng Gioan Phaolô II, Têrêsa Calcutta, mà còn hàng hàng, lớp lớp những tâm hồn thiện chí đang hăng say dấn thân nhằm giới thiệu Chúa Giêsu với thế giới quanh mình. Và đó là tình yêu thánh hóa của Thiên Chúa hằng tuôn đổi trên Giáo Hội và các tâm hồn thiện chí.
Những dấu hiệu trên cho thấy Thiên Chúa Ba Ngôi thực sự đang hiện diện, đang có mặt trong lịch sử từng người, lịch sử thế giới, và lịch sử Giáo Hội. Và những kết quả ấy đã cho chúng ta một cảm nhận rõ ràng rằng thế giới này, nhân loại này, và từng người chúng ta không ngừng đón nhận tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa qua công trình sáng tạo, đền bù, và thánh hóa của Ngài.
 
 

BaNgôi-152: QUÀ TẶNG THIÊN CHÚA BAN

(Lễ Cha Ba Ngơi – Ga 3, 16-18)
 

Đọc đi đọc lại, rồi suy gẫm bài Tin Mừng ngắn gọn nhưng hàm chứa sâu xa của Gioan thánh sử:BaNgôi-152

Đọc đi đọc lại, rồi suy gẫm bài Tin Mừng ngắn gọn nhưng hàm chứa sâu xa của Gioan thánh sử, trong Lễ Chúa Ba Ngôi, tôi thích thú và cảm nhận mình được yêu, như thánh Phaolô đã trải nghiệm:
“Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Kitô đã chết vì chúng ta.” (Rm 5, 6)
Điều này được minh chứng hùng hồn và minh bạch khi Đức Giêsu mặc khải: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một...” (Ga 3, 16) mà trong thế gian, có Phaolô và có cả bản thân tôi nữa, một “hạng người vô đạo”. Như vậy, tình yêu phổ quát và tuyệt diệu này không thể vì Thiên Chúa là độc nhất, là đơn độc chỉ để nhìn vào chính mình, chiêm ngắm chính mình và bắt các thụ tạo của Ngài phải ca tụng, tán dương, chiêm ngắm và thờ phượng. Mà là tình yêu, qua mặc khải của Chúa Giêsu, cho chúng ta cảm nhận rằng cuộc sống của Thiên Chúa là một sự hiệp thông thâm sâu trong tình mến, và rằng Ngài yêu thương mọi người trong thế gian bằng hành động trao ban Quà Tặng của Ngài là chính Con Một để, với niềm tin vào Con của Ngài bởi tác động của Chúa Thánh Thần mà chúng ta được sống muôn đời trong tình mến thâm hậu giữa tình yêu Cha Con trong Thánh Thần.
Chúa Giêsu sau khi sinh ra làm người đã “giữ trọn đức công chính” là vâng phục thánh ý Cha như Người đã nói: “Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10, 9) bằng vào việc “xin Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho mình”. Và trong biến cố hạ mình đến như thế mà “Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và kìa có tiếng từ trời phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” (Mt 3, 13-17)
Sống thâm sâu trong tình mến dạt dào Cha Con trong Thánh Thần mà Chúa Giêsu đã nói với ông Nicôđêmô với cả một mầu nhiệm huyền diệu rằng:
“Thiên Chúa yêu thế gian
đến nỗi đã ban Con Một
để ai tin vào Con của Người
thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16)
Đồng thời, qua đó, Thiên Chúa đã ban cho con người sự tự do chọn lựa; nên tin hoặc không tin vào Danh của Con Thiên Chúa là quyền của họ. Quả thật, từ lời huyền nhiệm này mà thánh Phaolô đã quảng diễn tuyệt vời khi ngài đúc kết trong thánh thi tiên khởi gửi giáo đoàn Philipphê:
“Vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người
và tặng ban danh hiệu,
          trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.
Như vậy, khi vừa nghe Danh Thánh Giêsu
cả trên trời dưới đất
và trong nơi âm phủ
muôn vật phải bái quỳ.
Và để tôn vinh Chúa Cha
mọi người phải mở miệng tuyên xưng rằng:
“Đức Giêsu Kitô là Chúa.” (Pl 2, 9-11)
Từ đây, niềm vui trong tôi càng bừng cháy thêm hơn, bởi Tình Yêu của Thiên Chúa đối với thế gian không chỉ là một tình cảm mà là một Ngôi Vị, Chúa Thánh Thần, “Đấng đã làm cho Ngôi Hai từ cõi chết sống lại” (Rm 1, 4) và Tình Yêu Mầu Nhiệm này được thể hiện trong hành động vô song là thí ban Con Một của Ngài. Đức Giêsu là hiện thân của Tình Yêu Thiên Chúa nơi thế gian. Ai gặp và đón nhận Người là đón nhận chính Thiên Chúa và Tình Yêu của Ngài, mà Thập Giá là bằng chứng hiển nhiên, “vì thế, Thiên Chúa là Cha đã siêu tôn Người.”
Do đó, để đáp lại Tình Yêu Ba Ngôi Thiên Chúa Cao Cả Khôn Ví này, và để xứng đáng làm con cái của Thiên Chúa là Cha Yêu Thương, tôi cần phải sống với tâm tình của con thảo như thánh Phaolô đã chỉ ra cho tôi con đường “Đức Mến” tuyệt hảo, nhưng cũng thật vô vàn khó thực hành nếu như chưa cảm nếm được tình yêu Mầu Nhiệm Ba Ngôi. Ngài chỉ cho con đường trổi vượt hơn cả:
“Giá như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí,
hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt,
mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.
Đức mến thì nhẫn nhục hiền hậu....
Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả,
Hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.
Đức mến không bao giờ mất được.” (1Cr 13, 3-8)
Con đường đức mến mời gọi tôi yêu mến tha nhân như Tình Yêu Thiên Chúa Ba Ngôi, như Thiên Chúa luôn tước bỏ chính mình, như Thiên Chúa không tự chiếm hữu, như Thiên Chúa không tự chiêm ngắm mà là Thiên Chúa nghèo hèn tự hủy như thánh Phanxicô Assisi đã nhận ra và đã diễn tả một cách sống động sâu sắc Tình Yêu Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô, vốn là sự sống đời đời. Thế nhưng Người đã vâng lời tự hiến mình bằng cách “bị giương cao” trên Thập Giá để nên nguồn ơn cứu độ cho những người tin vào Người.
Quả là thấm thía khi Bussche, nhà chú giải, đã mạnh mẽ khẳng định:
“Dieu est l’amour qui se saigne à mort” tức “Thiên Chúa là Tình Yêu chảy máu đến chết.”
Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con,
Chúa đã sai Con Một là Lời Chân Lý và sai Thánh Thần, Đấng thánh hóa muôn loài đến trần gian mặc khải cho chúng con biết mầu nhiệm cao vời của Chúa.
Xin cho chúng con hằng tuyên xưng đức tin chân thật là nhận biết và tôn thờ một Thiên Chúa Ba Ngôi uy quyền vinh hiển bằng đời sống hiến dâng và hiệp thông tình mến như Quà Tặng mà Chúa đã ban cho chúng con là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.
Phêrô Vũ văn Quí CVK64
Email: peterquivu@gmail.com                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                        
 
 

BaNgôi-153: THIÊN CHÚA - NGUỒN BÌNH AN VÀ TÌNH YÊU

Trích từ trang Web của Joseph Phạm Thanh Lim, S.J.
 

Nhờ biến cố đức Yêsu Phục Sinh và tác động của Thánh Thần, các tông đồ nhận ra Ịức Yêsu:BaNgôi-153

          Nhờ biến cố đức Yêsu Phục Sinh và tác động của Thánh Thần, các tông đồ nhận ra Đức Yêsu là Thiên Chúa, và sau đó các ngài cũng nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa!
Xin Thiên Chúa xóa mọi gian ác và tội lỗi chúng tôi
          Thiên Chúa là ai? Thiên Chúa là Đấng tạo dựng mọi loài (St.1, 1tt), Đấng kêu gọi Abraham (St.12, 1tt), là Đấng giải phóng con dân Dothái ra khỏi nô lệ bên Aicập, là Đấng giầu lòng thương xót, là Đấng mà Môsê đã xin xóa tội cho dân và xin cùng đi với dân (Xh.34, 9).
          Thiên Chúa là Cha của Đức Yêsu Kitô (Eph.1, 3), và cũng là Cha của tất cả chúng ta như Đức Yêsu đã dạy (Mt.6, 9), là nguồn bình an và tình yêu (2Cr.13, 11), là Đấng mà Đức Yêsu khẩn thiết cầu nguyện nài van (Mc.14, 36.39).
          Thiên Chúa là tình yêu (1Ga.4, 8.16)! Chính vì yêu mà Thiên Chúa làm mọi sự, và làm tất cả đều tốt lành! Vì yêu thương mà Thiên Chúa tha thứ tội lỗi cho con người.
Thiên Chúa đã yêu thế gian đến độ ban Con của Người cho thế gian
          Đức Yêsu là ai? Đức Yêsu là Con Thiên Chúa (Ga.3, 16), là ngôi hai nhập thể, là Đấng đồng nhất với Cha “Ta và Cha là một” (Ga.10, 30), là Đấng ngang hàng với Thiên Chúa Cha (Mc.14, 62; Ga.10, 33).
          Ngài có quyền tha tội (Mc.2, 5). Mọi quyền hành trên trời dưới đất đã được ban cho Ngài (Mt.28, 16). Ngài được ban cho con người để cứu độ con người (Ga.3, 16).
          Thời Cựu Ước, người ta chưa biết Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị, người ta mới chỉ biết Thiên Chúa là Đấng duy nhất “nghe đây hỡi Israel, Đức Chúa là Thiên Chúa duy nhất, hãy yêu kính Thiên Chúa hết lòng ngươi hết sức lực ngươi” (Tl.6, 4-5). Chỉ sau biến cố Đức Yêsu Phục Sinh, các tông đồ mới nhận biết Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị.
Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị nhưng là một Thiên Chúa duy nhất, vì Ba Ngôi Thiên Chúa luôn thông hiệp với nhau, đến độ tất cả chỉ là một!
          Thiên Chúa là tình yêu. Vì yêu nên Thiên Chúa đã ban Con Ngài cho thế gian. Và cũng chính vì yêu mà Đức Yêsu đã phải chết trên thập giá, để làm chứng cho con người biết Thiên Chúa yêu thương con người đến độ nào!
Hãy hôn chào nhau bằng cái hôn thánh thiện
          Thiên Chúa là tình yêu (1Ga.4, 8.16). Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị nhưng luôn luôn thông hiệp với nhau đến độ là một (Ga.10, 30); theo gương mẫu Thiên Chúa Ba Ngôi chúng ta cũng phải yêu thương nhau và thông hiệp với nhau, và có thể diễn tả tình yêu thương và sự thông hiệp bằng những dấu chỉ bên ngoài, như những lời chào, những nụ hôn thánh thiện, sự giúp đỡ thông cảm nâng đỡ nhau.
          Con người là hình ảnh Thiên Chúa (St.1, 26-27). Chính trong tình yêu, mà con người là hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi một cách rõ ràng hơn.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Bạn hiểu thế nào khi nói “Một Thiên Chúa Ba Ngôi Vị”?
2. Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng, không thân xác như chúng ta! Theo bạn, khi nói con người là hình ảnh của Thiên Chúa, phải hiểu như thế nào?
 
 

BaNgôi-154:  Ba Ngôi cực thánh - Arthur Tone

Hơn năm mươi năm trước đây, ở Chicago, một phụ nữ Tin Lành da đen tên là Maria Weaver. Chị: BaNgôi-154

Hơn năm mươi năm trước đây, ở Chicago, một phụ nữ Tin Lành da đen tên là Maria Weaver. Chị là một tín đồ Baptist, Methodist – Kitô hữu khoa học và Holly Roller. Chị chỉ tin: “Duy nhất một Đức Kitô”. Một ngày nọ, chị nghe lén bài giáo lý Công giáo ở nhà một người bạn. Đây là dịp để chị biết người Công giáo tin điều chi, làm điều gì. Rồi chị thấy tức cười. Chị bắt đầu đọc, đọc lần lần từ ghét đến tò mò, đến ngỡ ngàng, rồi đến ước muốn học hỏi. Chị thổ lộ: “Nếu đây là những điều Giáo Hội Công giáo dạy thì tôi muốn làm một người Công giáo”. Maria Weaver đã được rửa tội tại nhà thờ thánh Elisabeth ngày 11 tháng 12 năm 1938.
Bây giờ, chị hoạt động mạnh mẽ giúp Giáo Hội Công giáo như trước kia chị đã hoạt động để chống lại.
Một người bạn của chị thuộc phái Holly Roller đã bày tỏ xúc động trước sự trở lại của chị như sau: “Ôi, Maria chị làm gì với: Duy một mình Đức Kitô?”. Maria Weaver trả lời: “Tôi vẫn còn Ngài. Bây giờ tôi tin nhận Chúa Cha và Chúa Thánh Thần nữa”.
Khi Maria Weaver tin nhận Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, có nghĩa là chị đã tin Chúa Ba Ngôi. Cũng thế, bạn và tôi trong ngày lễ Chúa Ba Ngôi: Tin nhận Ba Ngôi bằng việc tin, ca tụng, cảm tạ và yêu mến Thiên Chúa.
Chúng ta, những người trong Giáo Hội Đức Kitô sáng lập, được gia nhập Giáo Hội bằng nghi lễ gọi là Bí tích Rửa tội, trong đó sử dụng những lời Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng hôm nay: “Ta rửa con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.
Chúng ta biết Chúa Ba Ngôi, vì Đức Giêsu đã nói với chúng ta nhiều lần. Làm sao lại có thể Ba Ngôi trong một Chúa? Chúng ta không hiểu. Đây là một mầu nhiệm thâm sâu nhất trong đạo chúng ta. Chúng ta hy vọng một ngày kia chúng ta sẽ hiểu rõ hơn chân lý sâu thẳm này.
Hôm nay, chúng ta tập trung vào lời cảm tạ Chúa Ba Ngôi, vì những gì Chúa Ba Ngôi đã làm cho chúng ta. Chúng ta cảm tạ Chúa Cha vì yêu thương, đã tạo dựng nên chúng ta một con người có lý trí và làm cho chúng ta trở nên con cái của Người. Chúng ta cảm tạ Chúa Con, Đấng đã làm người, sống, lao động, dạy dỗ, chết và sống lại để chúng ta được phục hồi trong tình thân mật với Chúa Cha. Đấng đã thành lập Giáo Hội để đem phúc lành thời đại của Người đến với thời đại chúng ta.
Chúng ta cảm ơn Chúa Thánh Thần; Đấng hằng hiện diện trong Giáo Hội và trong tâm hồn mỗi người chúng ta để giúp chúng ta yêu mến Chúa Ba Ngôi, dẫn chúng ta đến hạnh phúc bất diệt.
Chúng ta tôn kính Ba Ngôi Thiên Chúa trong mỗi Thánh Lễ bằng khởi đầu và kết thúc với dấu thánh giá. Chúng ta dâng Mình và Máu Thánh Chúa Kitô trong, với và qua Chúa Ba Ngôi. Chúng ta cầu nguyện với Chúa Ba Ngôi luôn mãi. Lát nữa đây chúng ta sẽ tuyên xưng đức tin – cùng với nhau, lớn tiếng và mạnh mẽ – trong tất cả Ba Ngôi.
Vâng, Thiên Chúa Ba Ngôi đã tiếp nhận chúng ta, đã làm cho chúng ta nên một trong Người. Cũng như Maria Weaver, tới lượt chúng ta, chúng ta tin nhận Chúa Ba Ngôi trong Đức tin, trong đời sống.
Xin Chúa chúc lành bạn.
Xin Chuùa chuùc laønh baïn.
 
 

BaNgôi-155:  Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi - Noel Quesson

Trên chuyến xe lửa Lyon-Paris, một thanh niên sang trọng ngồi bên một ông già ăn mặc thô: BaNgôi-155

Trên chuyến xe lửa Lyon-Paris, một thanh niên sang trọng ngồi bên một ông già ăn mặc thô sơ, có vẻ quê mùa. Thấy cụ già cầm xâu chuỗi, miệng lẩm bẩm đọc kinh, chàng thanh niên gợi chuyện:
- Tôi thấy ông vẫn còn tin tưởng ở tập quán thời trung cổ. Chắc ông cũng tin Đức Mẹ Đồng Trinh và những chuyện ghi trong sách Thánh, được nhai đi nhai lại trong các nhà thờ chứ gì?
Ông già trả lời:
- Đúng vậy đó cậu ạ. Còn cậu thì sao?
Chàng thanh niên cười rộ:
- Tôi mà lại tin theo những chuyện vớ vẩn ấy à? Tôi đã tìm được sự thật đầy đủ ơ trường Đại học. Ông cũng nên từ bỏ xâu chuỗi, để có giờ mà đọc các sách khoa học tân tiến.
- Tôi cũng muốn thế, nhưng sợ không hiểu nổi khoa học.
- Được rồi, tôi sẽ gửi biếu ông một số sách. Ông có biết đọc không?
- Cám ơn cậu, tôi có biết đọc.
- Thế thì tốt rồi, nhưng xin ông cho địa chỉ để tôi gửi sách.
Ông già rút trong túi ra một tấm danh thiếp, và cậu thanh niên tròn đôi mắt đọc thấy trên đó ghi: Louis Pasteur –Viện nghiên cứu khoa học–Paris. Đó là người đã viết nhiều sách khoa học mà người thanh niên say mê nghiền gẫm.
Trong đạo Công giáo có nhiều mầu nhiệm, cao sâu trên hết là mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Đã là mầu nhiệm thì trí khôn con người khó mà thấu hiểu được. Nhưng nếu khiêm tốn cầu nguyện và tìm hiểu, ta vẫn có thể tiếp thu những mầu nhiệm đó mà không thấy nghịch lý chút nào. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi đã được chính Chúa Giêsu, một trong Ba Ngôi diễn tả và dạy dỗ chúng ta bằng những lời lẽ minh bạch. Vì thế mầu nhiệm này đã được mọi người, kể cả những nhà bác học, những người coi trong lý trí phải suy nghĩ, và tin nhận.
Trong lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay, Giáo Hội cho ta đọc lại năm câu cuối cùng của Tin Mừng theo Thánh Matthêu, đây là những lời kết thúc và tóm gọn toàn bộ giáo lý của Thánh Matthêu. Thấy Chúa tới, các môn đệ đã sụp lạy suy tôn Người. Đó là thái độ trước nhan Thiên Chúa, thái độ của những người nhận ra Thiên tính của Đức Giêsu (Mt 14,33; 2,11; 15,25). Tuy vậy vẫn có một số còn hoài nghi. Giáo Hội Chúa luôn là tập đoàn tội nhân. Niềm tin các tông đồ cũng như niềm tin của mọi người chúng ta luôn pha trộn nghi ngờ, hoang mang, một niềm tin trên đường đi tới. Giáo Hội tiếp đón Chúa, luôn là Giáo Hội “những người chỉ mới có chút ít đức tin” (Mt 14,31).
Tuy nhiên Chúa Giêsu vẫn không ngần ngại tiến lại gần họ, như Chúa đã lại đến bên họ sau cuộc biến hình trên núi (Mt 17,7). Cũng như Chúa vẫn tiến lại gần những người chưa có thể hoặc chưa muốn tuyên xưng một đức tin toàn vẹn, rõ ràng.
Khi đã lại gần bên ta, Chúa trao cho ta nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng của Người. Nhiệm vụ đó là biến đổi toàn nhân loại thành môn đệ Chúa để mọi người đều tuyên xưng cùng một niềm tin. Tin vào Chúa là Cha vì đã tự bỏ mình và trao tặng tất cả cho Chúa Con. Tin Chúa Con đã tự hủy bỏ và hiến dâng tất cả cho Chúa Cha; Tin Thánh Thần là tình yêu chuyển thông giữa Chúa Cha và Chúa Con.
Điều Chúa muốn là“tập hợp mọi người trong một tình yêu”. Thiên Chúa là một cộng đồng tình yêu hiệp nhất. Phải tìm bản tính của Giáo Hội nơi bản tính Thiên Chúa Ba Ngôi.
Kính lạy Chúa Ba Ngôi cực Thánh, xin kết hiệp chúng con trong tình yêu của Chúa để chúng con lấy hành động đức tin và cuộc sống bác ái yêu thương, minh chứng mầu nhiệm Tình Yêu hiệp nhất của Ngài.
 
 

BaNgôi-156: Một định mệnh làm choáng váng mặt mày.

Đức Giêsu tự giới thiệu cho người ta như là Ngôi Con, trên Ngài Chúa Thánh Thần đậu xuống: BaNgôi-156

Đức Giêsu tự giới thiệu cho người ta như là Ngôi Con, trên Ngài Chúa Thánh Thần đậu xuống. Với tư cách là Ngôi Con, Ngài không ngừng quy về Chúa Cha hành động của Ngài. Ngài là Ngôi Con mạc khải Ngôi Cha trong quyền năng của Chúa Thánh Thần.
Tin vào Đức Giêsu Kitô là dấn thân chấp nhận mầu nhiệm căn bản này. Không phải chỉ là một sự chấp nhận về tinh thần thôi. Nhưng là một sự tự hiến toàn thể con người ta vào trong hiệp thông sống động với Thiên Chúa hằng sống, Đấng, với tư cách là Cha, sẽ làm cho ta trở nên con cái Người, với tư cách là Thánh Thần sẽ thông báo cho ta sự sống Thiên Chúa.
Niềm tin này sẽ được thành toàn nhờ phép Rửa tội. Chính phép Rửa tội làm cho con người đạt tới tình trạng làm con Thiên Chúa –làm anh em với Đức Kitô, là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần. Nhờ niềm tin, con người đáp lại lời mời gọi của Chúa, lời mời gọi này được truyền đạt nhờ lời rao giảng của Giáo Hội. Nhờ phép Rửa tội, Thiên Chúa tiếp nhận bước tiến của con người và làm cho con người đi vào mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.
Như thế, có hai yếu tố chứa đựng trong Lời Đức Giêsu nói: “Hãy đi thâu nạp môn đệ khắp muôn dân, rửa tội cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Ta có thể hiểu chữ “môn đệ” bằng hai cách:
a/ việc chấp nhận lời rao giảng của Đức Giêsu, và
b/ việc đi vào hiệp thông với Thiên Chúa nhờ bí tích Rửa tội.
Như thế, xuyên qua lời rao giảng của Đức Giêsu và nhờ phép Rửa tội, rõ ràng là con người tiến đến một định mệnh làm choáng váng mặt mày: con người được tham dự vào chính đời sống của Thiên Chúa được mạc khải như là Cha, Con, Thánh Thần.
Đâu là những hiệu quả thực tế của phép rửa chúng ta? Ở đây, chúng ta nêu lên 2 điểm:
1) Hậu quả thứ nhất được chỉ rõ qua công thức: “Phép rửa nhân danh Đức Giêsu”. Thật vậy, nhiều đoạn Tân Ước nói về phép rửa nhân danh Đức Giêsu. Có gì khác với phép rửa nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi không? Trong bài diễn từ thứ nhất, thánh Phêrô nói: “Mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha thứ tội lỗi, và các người sẽ được lĩnh ơn Thánh Thần” (Tđcv 2,38). Không thấy nói đến một phép rửa được trao ban mà không móc nối với Chúa Cha, Con và Thánh Thần. Như thánh Phaolô thường dạy: Phép rửa nhân danh Đức Giêsu chỉ rõ hậu quả này: kẻ chịu phép rửa thuộc về Đức Kitô, được liên kết với Đức Kitô nhờ được tham dự cùng một đời sống và được liên kết với các người chịu phép rửa khác nhờ được cùng liên kết với Đức Kitô. Thánh Phaolô cũng nói: “Kẻ chịu Phép Rửa trở nên anh em với Đức Kitô” (Rm 8,29), “Đền Thờ của Chúa Thánh Thần” (1Cr 6,19), “nghĩa tử của Chúa Cha” (Gal 4,6).
2) Tiếp đến là nhờ Phép Rửa tội, người tín hữu đi vào trong một quá trình đồng hoá với Đức Kitô. Đức Giêsu đã chủ tâm muốn hoàn toàn trở nên Người Con ở giữa chúng ta. Ngài mời gọi chúng ta chỉ mơ ước một điều duy nhất: đến lượt chúng ta cũng hãy cố gắng trở nên con cái Thiên Chúa. “Được rửa tội trong Đức Kitô” (Gal 3,27). Đối với thánh Phaolô, mặc lấy Đức Kitô là để cho mình biến hoá thành Đức Kitô. Và đó là công việc của Chúa Thánh Thần. Có được thế mới là thành công trong vấn đề ơn kêu gọi làm Con Thiên Chúa. Nhưng điều này không thể thực hiện được mà không có sự cộng tác của chúng ta. Một cách đơn sơ. Vấn đề đối với chúng ta chẳng phải là: cố gắng bước chân theo gót Đức Kitô sao?
 
 

BaNgôi-157: Vinh danh Ba Ngôi.

Biến cố lớn đã được khơi động trong Giáo Hội là mừng năm sinh thứ 2000 của Chúa Giêsu. Như: BaNgôi-157

Biến cố lớn đã được khơi động trong Giáo Hội là mừng năm sinh thứ 2000 của Chúa Giêsu. Như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã khẳng định trong Tông Thư “Tiến đến Thiên niên kỷ thứ ba”. Chủ đề học hỏi của ba năm chuẩn bị là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Năm 1997 dành cho suy tư về Đức Kitô, Ngôi Lời của Chúa Cha, làm người do hoạt động của Chúa Thánh Thần (số 40). Năm 1998 dành cho Chúa Thánh Thần… Đấng đồng bản tính với Chúa Cha và Chúa Con, trong mầu nhiệm tuyệt đối của Thiên Chúa vừa là một vừa là ba, là Ngôi vị tình yêu, tặng phẩm vĩnh hằng, nguồn mạch vĩnh cửu của mọi ân huệ Chúa ban… (số 44). Năm 1999, năm thứ ba và là năm cuối cùng, hướng đến Cha trên trời, Đấng đã sai Đức Kitô và là Đấng mà Ngài đã trở về (x. Ga 16,28. Số 49).
Trong các Thánh Lễ Chúa Nhật, chúng ta đều tuyên xưng: “Tôi tin kính một Thiên Chúa duy nhất là Chúa Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất. Tôi tin kính một Chúa duy nhất là Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, được Chúa Cha sinh ra trước muôn thuở muôn đời. Tôi tin kính Chúa Thánh Thần, Người là Chúa và là Đấng ban sự sống, Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con”. Đó là lời tuyên xưng đức tin trong Kinh Tin Kính, một công thức thần học súc tích, mang nặng tính chất lý luận dài dòng và khó hiểu.
Thế nhưng, đây là một mầu nhiệm tuyệt đối nhất trong các mầu nhiệm: Mầu nhiệm hiệp thông sự sống và tình yêu.
Thiên Chúa là tình yêu, nghĩa là Ngài không đơn độc một mình. Nếu như Ngài đơn độc một mình thì Ngài sẽ yêu một mình Ngài một cách ích kỷ vô cùng. Nhưng Ngài là ba: Cha, Con và Thánh Thần. Là ba, nhưng cả ba hoàn toàn yêu thương nhau, hiến tặng sự sống cho nhau, hoàn toàn tương quan, hiệp nhất với nhau: Cha hoàn toàn là của Con, Con hoàn toàn là của Cha và mối tương quan tình yêu và sự sống này giữa Cha và Con là chính Chúa Thánh Thần.
Tình yêu Thiên Chúa không khép kín lại nơi cộng đồng Ba Ngôi, nhưng lan toả ra ngoài trên khắp vũ trụ và đến nhân loại: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban cho thế gian quà tặng quí giá nhất là Người Con chí ái của Ngài, nghĩa là chính sự sống của Thiên Chúa”. Rồi đến lượt Người Con ấy cũng lại trao ban Thánh Thần, nghĩa là chính sự sống của Ngài cho thế gian. Chính nơi người Con ấy, nơi bản thân, cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu mà chúng ta nhận ra được Thiên Chúa là tình yêu và thế nào là sống như con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa: “Ai không yêu thương anh em là không biết Thiên Chúa” (1Ga 4,8), còn ai đã biết Thiên Chúa thì phải yêu thương anh em như Ngài đã yêu thương, “vì Thiên Chúa là Tình yêu”.
Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi còn là mầu nhiệm của sự hiệp nhất. Ước vọng hiệp nhất và nên một của những người yêu nhau sẽ được thực hiện nơi người con họ cho nhau. Nó là của chàng và cũng là của nàng. Nó là chúng ta, là tình yêu chung mà họ có thể thấy được. Tình yêu giữa hai người đã triển nở thành tình yêu chung trong một ngôi vi thứ ba: Họ trở thành tình yêu chung trong môt ngôi vị thứ ba: Họ trở thành một gia đình. Hình ảnh gia đình ấy có thể giúp chúng ta tiếp cận phần nào với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi-gọi là phần nào, bởi vì mọi hình ảnh đều bất toàn không thể diễn đạt tương xứng được sự khác biệt nhưng lại duy nhất vô biên nơi Thiên Chúa. Có thể nói Thiên Chúa là một gia đình: Cha, Con và Thánh Thần. Yêu thương chính là bản tính thần linh chung của Ba Ngôi, là lời lý giải cho mầu nhiệm cao cả mà chúng ta tuyên xưng.
Mầu nhiệm đức tin không bao giờ là một trò chơi và thách đố trí tuệ, nhưng luôn hàm chứa lời mời gọi sự sống Thiên Chúa Ba Ngôi là một thực tại sống động trong đời sống người kitô hữu. Thật vậy, đời sống kitô hữu được khai sinh nhờ bí tích Thánh Tẩy “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Lời cầu nguyện luôn luôn là lời nguyện “với Chúa Cha, nhờ Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần”. Thánh Lễ, trọng tâm của đời sống kitô hữu, cũng được khai mở và kết thúc trong Danh Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi đang sống trong lòng mỗi người, đời sống Ba Ngôi đang diễn ra trong mỗi tâm hồn. Từng giây từng phút, người Kitô hữu được liên kết chặt chẽ với Chúa Con, đến độ khi được tràn đầy Thánh Thần của Ngài, người kitô hữu trở thành con của Cha trên trời. Vì vậy, phúc lành vĩ đại nhất cho kẻ tin là “được tràn đầy ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Chúa Cha và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần” (1Cv 13,13). Do đó, sự nhận biết Thiên Chúa là tình yêu và là tình yêu cứu độ phải là sức đẩy cho chúng ta yêu thương mọi người anh em như Thiên Chúa yêu thương.
Như nơi Thiên Chúa, khởi điểm của tình yêu là mở ra, thông ban, chia sẻ. Thái độ mở ra, thông ban, chia sẻ nầy đòi hỏi phải ra khỏi bản thân và đi đến với người khác. Thái độ nầy đòi hỏi rũ bỏ não trạng ích kỷ vốn tiềm tàng ngay trong suy nghĩ, ước mơ, và tính toán để thực sự biết quan tâm đến ích lợi và hạnh phúc của người khác, biết nhìn nhận người khác ngay trong cái khác biệt của họ.
Liệu mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi có là nền tảng cho sự hiệp thông trong cộng đoàn chúng ta không? Mỗi người trong cộng đoàn- từ cộng đoàn họ đạo đến khu phố, gia đình – có cảm thấy mình “yêu và được yêu” không? Có biết cho và nhận cách khiếm tốn không? Dấu Thánh Giá được ghi trên người “nhân Danh Chúa Ba Ngôi” có tác động gì trong đời sống chúng ta không? Có là tấm gương cho chúng ta soi bóng tình yêu hiến dâng của mình trong quan hệ với tha nhân không?
Tuy nhiên, không chỉ là tôi mở ra hướng về anh và anh hướng về tôi, để rồi lại tạo nên một thứ “tôi và chúng ta” khép kín. Tinh thần bè phái và phe nhóm lại chẳng có mặt trong cuộc sống của chúng ta đó sao? Nơi Thiên Chúa Ba Ngôi thì không như thế. Tinh yêu đã chẳng tự khép kín trong gia đình Ba Ngôi, nhưng trào vọt và chan hoà trong vũ trụ bao la, tuôn đổ trong lòng mọi người. Cũng vậy, niềm tin thúc bách tình yêu đi tới, phá đổ mọi bức tường ngăn cản của màu da, chủng tộc, tôn giáo, ý thức hệ, để tình yêu lan toả khắp nơi. Và tình yêu làm nên hơi thở của sự sống. Cứu độ là ở đó. Nước Trời cũng là ở đó.
Chúng ta hãy cầu xin tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi cho chúng ta từ bỏ thái độ cô độc khép kín, cùng nhau xây dựng một thế giới anh em bốn bể một nhà, cho nhân loại nhận biết Chúa Cha là Thiên Chúa chúng ta như Ngài đã tỏ hiện cho chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Ngài hiển trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần muôn đời.
 
 

BaNgôi-158: HIỆP NHẤT TRONG YÊU THƯƠNG

- Lm. Inhaxiô Trần Ngà
 

 Từ ngày cắp sách vào lớp một, mỗi học sinh đều được học bài toán: 1+1+1 = 3 và nếu làm đúng: BaNgôi-158

Từ ngày cắp sách vào lớp một, mỗi học sinh đều được học bài toán: 1+1+1 = 3 và nếu làm đúng như vậy thì lúc nào cũng được điểm tối đa. Trái lại, nếu có em nào làm phép tính: 1 + 1 + 1 = 1 thì sẽ bị cô giáo cho điểm O và bị phê là ngu xuẩn.
Thế nhưng trong một gia đình đầm ấm yêu thương thì 1 + 1 + 1 không còn là 3, mà chỉ là 1.
Hiệp thông trong gia đình
Trước đây, anh A ở Hà-nội, chị B ở Sai-gòn, hai người ở hai phương trời cách biệt. Anh và chị là hai “ngôi vị” hoàn toàn xa lạ với nhau.
Về sau, hai người cùng vào làm trong cùng một công ty nên có nhiều cơ hội gặp gỡ và đôi bên cảm thấy ý hợp tâm đầu. Tình yêu của anh chị lớn lên từng ngày và với thời gian, anh chị yêu thương nhau sâu đậm đến nỗi người nầy không thể sống hạnh phúc nếu thiếu vắng người kia.
Do tình yêu thúc đẩy, anh chị tiến đến hôn nhân. Lúc nầy hơn bao giờ hết, anh chị cảm thấy mình hoàn toàn thuộc về nhau: cùng chung một tổ ấm, chung một tình yêu, chung niềm vui nỗi buồn, chung một ước mơ và một niềm hy vọng… Họ không còn là hai mà là một đúng như nhà thơ Tản Đà nhận định: “mình với ta tuy hai mà một; ta với mình tuy một mà hai”.
Chính Chúa Giê-su cũng nhìn nhận rằng họ chỉ còn là một mà thôi: “Người nam sẽ lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt.” (Matthêu 19, 5-6)
Rồi tình yêu của anh chị đơm bông kết trái: một đứa con yêu quý chào đời!
Giờ đây tuy trong nhà có ba người hay ba “ngôi” (=ba vị), nhưng tình yêu thương thắm thiết đã nối kết cả ba nên một. Họ cảm thấy hoàn toàn thuộc về nhau. Họ cảm thấy mình không còn là ba nhưng chỉ là một: hạnh phúc của người nầy cũng là hạnh phúc của người kia; khổ đau của mỗi người cũng là nỗi đau chung của cả gia đình.
Mặt khác, tình yêu và mức độ hiệp thông có tỉ lệ thuận với nhau: khi càng yêu thương nhau hơn thì mức độ hiệp thông càng bền chặt hơn và ngược lại, khi ghét bỏ nhau, người ta cảm thấy hoàn toàn xa cách dù sống chung dưới một mái nhà. Lúc ấy, vợ, chồng và con cái trong nhà không còn là một mà là ba.
Như thế tình yêu là phép mầu nối kết nhiều người nên một. Những người yêu thương nhau được liên kết nên một với nhau nhưng vẫn không đánh mất bản ngã của mình.
Hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa
Hình ảnh một gia đình đầm ấm yêu thương hiệp nhất thường được Giáo Hội sử dụng để diễn tả mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa. Trong thư mục vụ gửi cộng đoàn dân Chúa năm 2002, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhắc nhở các tín hữu rằng: “Chính sự hiệp thông mật thiết trong gia đình Kitô giáo là hình ảnh hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa” (số 6)
Khi nhìn vào một gia đình có “ngôi cha”, “ngôi mẹ” và “ngôi con” hiệp thông với nhau cách mật thiết, chúng ta hiểu được phần nào sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Tuy nhiên, vì tình yêu giữa Ngôi Cha, Ngôi Con và Thánh Thần mênh mông như đại dương, trong khi tình yêu của các ngôi vị trong gia đình chỉ bằng giọt nước; và vì mức độ hiệp thông tỉ lệ thuận với mức độ yêu thương, nên sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa là vô cùng mật thiết so với sự hiệp thông còn quá mong manh giữa các thành viên trong gia đình.
Chúa Giê-su mời gọi sống hiệp thông theo mô hình Ba Ngôi: Được hiệp thông nên một trong yêu thương là một hạnh phúc tuyệt vời nên Chúa Giê-su muốn các môn đệ của Người chung chia hạnh phúc ấy. Vì thế, hôm xưa trong bữa tiệc ly, Người thành khẩn cầu xin cho các môn đệ: “Lạy Cha, xin cho tất cả chúng nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha…. để họ được nên một như Chúng Ta là một. Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hoàn toàn nên một”. (Ga 17, 20-23)
Và hôm nay, Chúa Giê-su hướng nhìn về mỗi thành viên trong gia đình chúng ta và cầu xin với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin cho người cha, người mẹ và đứa con nầy nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha”. Rồi Người cũng hướng về mỗi tín hữu trong Hội Thánh và tha thiết khẩn cầu: “Lạy Cha, xin cho các tín hữu nầy được gắn bó nên một trong yêu thương như Chúng Ta là một.”.
Lạy Chúa Giê-su,
Xin cho chúng con cảm nhận rằng bí quyết để được hạnh phúc tuyệt vời là cùng nhau sống yêu thương gắn bó nên một như Ba Ngôi Thiên Chúa, nhờ đó mỗi thành viên trong gia đình và cộng đoàn sẵn sàng xoá bỏ những bất hoà chia rẽ để tiến tới đời sống yêu thương hiệp nhất theo mô hình Ba Ngôi.
Xin cho tình yêu của Ba Ngôi liên kết chúng con nên một, để đời sống gia đình và cộng đoàn chúng con trở thành hình ảnh sống động của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Lm. Inhaxiô Trần Ngà
 
 

BaNgôi-159: VINH QUANG CỦA LỜI HỨA CUỐI CÙNG

Chú giải của William Barclay
 

Chúng ta đi đến phần kết thúc câu chuyện Phúc Âm và ở đây chúng ta lắng nghe những lời: BaNgôi-159

Chúng ta đi đến phần kết thúc câu chuyện Phúc Âm và ở đây chúng ta lắng nghe những lời sau cùng của Chúa phán với môn đệ Ngài. Trong cuộc gặp gỡ sau cùng này, Chúa Giêsu làm ba điều:
1) Ngài bảo đảm cho họ về quyền năng của Ngài. Chắc chắn không có điều gì vượt ngoài quyền năng của Đấng đã chết và chiến thắng sự chết. Giờ đây họ là những người của một Đấng có quyền bính khắp cả trên trời lẫn dưới đất.
2) Ngài giao cho họ một sứ mạng. Ngài sai họ đi, làm cho thế gian trở nên môn đệ Ngài. Sứ mạng Chúa giao phó cho chúng ta là đi chinh phục mọi người về cho Ngài.
3) Ngài hứa sẽ ở với họ. Việc Chúa sai mười một người Galilê hiền lành ra đi chinh phục thế giới là một điều không tưởng. Họ chắc thất vọng khi nghe điều đó. Nhưng sau mệnh lệnh đó là một lời hứa kèm theo. Họ cũng như chúng ta được sai đi khắp thế gian với một công tác trọng đại nhất lịch sử, và có Đấng vĩ đại nhất cùng đi với họ giữa trần gian này.
 
 

BaNgôi-160: Mười một môn đệ đi tới miền Galilê

Chú giải của Noel Quesson
 

Riêng câu này cũng đủ nói cho chúng ta biết “Giáo Hội là ai”. Đó là Hội Thánh của những: BaNgôi-160

Riêng câu này cũng đủ nói cho chúng ta biết “Giáo Hội là ai”. Đó là Hội Thánh của những quốc gia ngoại giáo. Những môn đệ được chính Chúa Giêsu mời gọi rời bỏ Giêrusalem (Mt 28,7), cho đến lúc bấy giờ vẫn là trung tâm địa lý của Đức Tin, nơi Thiên Chúa hiện diện. Theo Thánh Matthêu, không có sự hiện ra “chính thức” với các tông đồ tại Giêrusalem. Chúa trao phó sứ mạng cho các phụ nữ một cách riêng tư, Người triệu tập các tông đồ đến “miền Galilê của chư quốc”, một tỉnh có nhiều dân tứ xứ vãng lai – Hội thánh bắt đầu tại Galilê, vùng này thay thế cho Giêrusalem và trở thành trung tâm phát triển của cộng đoàn mới. Trong những chương đầu, Matthêu cho thấy tính cách bí nhiệm của các “Đạo sĩ phương Đông”, họ đến từ những vùng ngoại giáo, sấp mình thờ lạy Giêsu Hài Nhi, trong khi đó, Giêrusalem lại không đón tiếp Người.
Phải chăng tôi có quan niệm như thế về Giáo Hội?
Một Giáo Hội mở rộng loan báo Tin Mừng cho toàn thế giới, chứ không đóng kín trong những bức tường.
Đến những ngọn núi Chúa Giêsu đã hẹn với các ông
Chữ “Eklésia”(Giáo Hội) trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “tập họp những người được triệu tập”. Kitô hữu là những người được Đức Giêsu Phục Sinh triệu tập. Mỗi Chúa Nhật khi đến với Bí tích Thánh Thể, tôi có ý thức rằng, không phải tôi có sáng kiến này, mà Đức Giêsu đã triệu tập tôi. Tôi đáp lại lời mời trước tiên, đức tin của tôi không phải là một mớ kiến thức, mà là sự đáp trảvới đấng đã kêu gọi tôi “trên núi”.
 Trong Tin Mừng của Matthêu, người ta không bao giờ nói núi đó là núi nào. Nhưng trái lại, phải chăng là tình cờ, núi là địa điểm tốt nhất cho sự mạc khải của Thiên Chúa. Chính ở trên “núi cao”, Đức Giêsu đã tuyên bố diễn văn khai mạc tức là “Bài giảng trên núi”(Mt 5,1–8,1). Người cũng đã cầu nguyện, hoá bánh ra nhiều và biến hình trước mặt các tông đồ của người ở trên núi cao.
 Tôi để biểu tượng này in sâu trong tôi.
 Tôi để cho Đức Giêsu triệu tập tôi trên núi cao.
 Tôi chấp nhận mở rộng nhãn giới của tôi. Phong cảnh Đức Giêsu mời gọi tôi thật hùng vĩ.
Người ta thoải mái hít thở không khí ở trên đỉnh cao.
Khi thấy Người các ông sụp lạy
Đó là cử điệu Phụng vụ mà những người trẻ sẽ thực hiện lại, và dân chúng phương Đông thường làm một cách tự phát: Nằm dài trên mặt đất hay ít nhất là cúi rạp, trán chạm đất. Đây là cử chỉ tôn thờ long trọng. Cử điệu cao quí nhất mà con người có thể làm hiện được. Trong tin mừng Thánh Matthêu, sự sụp lạy này cũng được các tông đồ thực hiện trong chiếc thuyền, khi thuyền đã được cứu khỏi cơn phong ba bão táp (Mt 14, 33). Đó cũng là cử điệu của ba nhà Đạo sĩ ngoại giáo (2,11), của người bệnh phong (8,12), và của một phụ nữ Canaan, một người ngoại đạo khác (15,25).
 Tôi có bao giờ thờ lạy như thế không? Nghĩa là thầm lặng suy niệm về sự oai nghi của đấng đang ở trước mặt tôi chăng?
Nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Đức Giêsu đến gần
 Giáo Hội dâng lễ tế để tôn thờ Thiên Chúa vẫn còn là một Giáo Hội của những người tội lỗi. Đức tin của những con người. Đức tin của những tông đồ đầu tiên (cũng như đức tin của chúng ta) vẫn còn là một đức tin pha trộn hoài nghi và nước đôi, đó là một đức tin còn đang di hành. Giáo hội đón tiếp Đức Giêsu vẫn là một Giáo Hội của những người “yếu đức tin” (Mt 14,31), bị hư mất một người, chỉ còn 11 trong số 12 người đã được chọn. Đức Giêsu không ngạc nhiên về điều này. Người đến gần họ như ngày người đã biến hình (Mt 17,7). Lạy Chúa xin hãy đến. Xin Chúa hãy đến gần hơn. “Maranatha”. Lạy Chúa xin thương xót chúng con và tất cả những người đã không tuyên xưng Đức tin một cách hoàn toàn và rõ ràng. Xin Chúa thương xót biết bao bạn trẻ, biết bao con người thời nay “không đạt đến đức tin”. Xin Chúa thương xót con, vì đôi khi đức tin của con cũng hoài nghi.
Người nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi đến muôn dân và kết nạp môn đệ … Dậy họ tuân giữ những điều răn… Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.
 Lời của Đức Giêsu phục sinh nói trên đây oai nghi biết bao!
 Sau cuộc sống khiêm nhường thành Nagiarét, giờ đây sự thật đã tỏ lộ. Bên ngoài, đây có vẻ như là tramg cuối của một câu truyện, giai đoạn kết thúc của cuộc sống một con người, nhưng thực ra đây là khởi đầu của một cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất trong các thời đại, không thể giải thích được bằng những tiêu chuẩn bình thường của lịch sử.
 Chúng ta nên lưu ý đến tầm quan trọng của tất cả tĩnh từ “tất cả, toàn thể” đã được lập lại tới bốn lần. Nhắc lại bốn lần từ “toàn thể”, nhắc lại bốn lần từ “trọn vẹn” là để biểu lộ hành động của Đức Giêsu. Đó là tính trọn vẹn – toàn diện trong hành động của Thiên Chúa, Đấng đã chấp nhận thân xác trong toàn diện hành động của con người, theo suốt dòng thời gian trôi chảy! Nên đọc lại tư tưởng của Cha Teihard de Chardin. Dưới đây là là một trích đoạn: “xét về mặt vật lý, Đức Kitô là Đấng choán phủ tất cả: Không có một yếu tố nào trong vũ trụ, vào bất cứ một giây phút nào của trần gian, chuyển hành mà lại không di chuyển, và không bao giờ được vận hành ngoài tầm hướng dẫn của Người cả. Không gian và thời gian đã ngập đầy sự hiện diện của Người. Cũng xét về mặt thể lý, Đức Kitô là Đấng “tiêu thụ” tất cả: trọn vẹn vũ trụ chỉ được hoàn tất trong một tổng hợp cuối cùng, mà ở đó có một ý thức siêu việt sẽ biểu lộ trên mọi yếu tố phức tạp cho dù đã được cấu tạo một cách tuyệt vời. Mọi con người sẽ hội tụ và cùng kết nối lại với nhau trong Người. Chính Đức Kitô sẽ tạo cho toàn bộ công trình vật chất và tinh thần độ bền vững mãi.
Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
 Chúa Cha chỉ là “Cha”, vì Người quên mình hoàn toàn, để chuyển trọn vẹn sang Ngôi Con. Chúa Con chỉ là “Con” vì Người quên mình để trọn vẹn “tự hiến dâng” cho Chúa Cha – Chúa Thánh Thần sẽ không là gì cả nếu Người không phải là tình yêu hỗ tương của Chúa Cha và Chúa Con, Thiên Chúa là Tình yêu.
 Chương trình lớn lao của Thiên Chúa, mà Đức Giêsu đã giao cho các tông đồ, cho Giáo Hội, nhằm “nhận dìm” (đấy là nghĩa chữ Hy Lạp baptizô) nhân loại trong tương quan tình yêu liên kết Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. “Dấu” rửa tội đúng là dấu Thánh Giá; đó là “cuộc sống cho tha nhân”. Chúng ta được rửa tội nhân danh tình yêu. Chúng ta được “nhận dìm” trong nguồn tình yêu đó – Đấy là “chương trình” của Giáo Hội.
 Đôi khi người ta tự hỏi Đức Giêsu đã muốn sáng lập Giáo Hội nào? Chắc chắn, Đức Kitô đã không nghĩ đến nước Vatican, đến các vị Giám mục đội mão, đến những văn phòng hành chánh, những kiến trúc tôn giáo hay những nghi lễ trọng thể của Giáo Hội, giống như những triều đình vua chúa ngày xưa.
 Nói điều này để chúng ta đừng đóng khung Giáo Hội sống động trong những bộ mặt trần thế mà Giáo Hội đã có trong một số thời đại. Điều Đức Kitô muốn đó là “Tập hợp tất cả mọi người trong tình yêu” – Chúa là tình yêu – Chúa là cộng đồng những người thương yêu nhau tronh hiệp nhất của Chúa Thánh Thần – phải tìm điều cốt yếu của Giáo hội trong bản tính của Chúa Ba Ngôi.
 Những người thấy tôi sốt sắng, tôi được “nhận dìm”, “được rửa tội” trong Chúa Ba Ngôi tình yêu, những người quan sát những nhóm mà tôi đang sống: Gia đình, nhóm làm việc với tôi, họ có thể cảm thấy “tôi đã được rửa tội nhân danh ai”?
Anh em hãy dạy bảo họ giữ những điều Thầy đã dạy cho anh em.
 Đức Giêsu đã truyền dạy những điều răn nào? Đó là giới răn tình thương. “Người ta sẽ nhận các con là môn đệ của Thầy, ở điều này, nếu các con yêu thương nhau”. Không phải cứ được rửa tội là đủ – phải tỏ ra là “môn đệ” của Đức Giêsu bằng mọi hành động trong cuộc sống. Đối với Đức Giêsu, giáo lý không phải là một bài phải học mà là một tập luyện sống “theo tình thương”
Và đây; Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.
 Lời hứa “Thầy ở cùng” trên đây rất mạnh nghĩa. Cũng như trong Tin Mừng Thánh Gioan, ta đoán nhận ra trong lời phát biểu đó, cung cách của “Giavê”trong Cựu ước. Hơn nữa, theo lối hành văn của người Sêmít, ở đây ta nhận thấy, để kết thúc Tin mừng của mình, Matthêu đã lập lại tư tưởng đã đề cập ở đầu sách: “Emmanuel: Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Khi báo tin cho Thánh Giuse (Mt 1,23), Thiên sứ đã nói con trẻ sẽ được gọi là Emmanuel, vậy mà Thánh Giuse đã đặt tên Chúa là Giêsu: Nhưng trong dòng cuối của Tin Mừng, Thánh Matthêu đã giải thích bí mật này: Đức Giêsu Phục sinh, chính là “Chúa ở cùng chúng ta”.
“Lạy Chúa Giêsu, tạ ơn Chúa”.
 
 

BaNgôi-161: HÃY RỬA TỘI CHO HỌ

NHÂN DANH CHÚA CHA, VÀ CHÚA CON, VÀ CHÚA THÁNH THẦN
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
Chú giải của Fiches Dominicales
1. Đoạn kết Tin Mừng trả lời cho đoạn mở đầu:
 

Đây là đoạn kết thúc Tin Mừng Matthêu: một kết thúc dưới dạng mở ra. Đây là đoạn kết:  BaNgôi-161

Đây là đoạn kết thúc Tin Mừng Matthêu: một kết thúc dưới dạng mở ra.
Thực vậy, trong Tin Mừng về thời thơ ấu, Matthêu mời ta chiêm ngắm trong cuộc hạ sinh của Đức Giêsu tại Bêlem, thành của Đavid, sự ứng nghiệm lời tiên tri về "Emmanuel”, "Thiên Chúa với ta" (Is 7) và miêu tả trong các vị đạo sĩ đến từ Phương Đông hình ảnh của những người dân ngoại tiên phong đã tin vào Đức Kitô và họ sấp mình thờ lạy người”.
Trong đoạn kết thúc, rõ ràng Tin Mừng nhắc lại nguyên văn những kiểu nói trên để thuật lại cuộc gặp gỡ cuối cùng tại Galilê của Đấng Phục sinh với các môn đệ: "Khi họ thấy Người, họ sấp mình thờ lạy”. Đức Giêsu liền sai họ đi truyền giáo cho "tất cả các dân tộc", và người long trọng tuyên bố với họ: "Thầy sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế”.
J. Radermakers chú giải: "Đoạn kết Tin Mừng trả lời cho đọan mở đầu; đó là một bao hàm vĩ đại, con người Đức Giêsu mở một chiều kích phổ quát trên toàn thể lịch sử nhân loại, mà vẫn không quên nguồn gốc xác thân của Người đâm rễ trong thời gian và không gian" (Au fil de l'évangile selon saint Matthieu, lnstitut d'etudes Théologiques, Bruxelles, 1974, trang 362).
2. Một đoạn kết dưới hình thức mở ra.
Sau phục sinh, Đức Giêsu đã chọn điểm hẹn với các môn đệ không phải ở Giêrusalem, thủ đô, thành thánh, như trong Tin Mừng Luca, nhưng là "Galilê" bị khinh miệt, "nơi qui tụ các dân”. (Mt 4,12-23), biểu tượng của thế giới dân ngoại.
"Cũng thế Giáo Hội phải rời Giêrusalem, hồi đó vẫn được coi là trung tâm địa lý của đức tin, để lên đường đi tới "Galilê của dân ngoại”. Một Giáo Hội được định nghĩa là Giáo Hội cho trần gian": đó chính là sứ mệnh của Giáo Hội như Đức Giêsu sẽ định rõ sau này" ("Cahiers-evangile" số 9, trang 6).
Nơi mà Đức Giêsu truyền họ đi tới, đó là "ngọn núi”, nơi dành riêng cho các mạc khải thần linh. Hơn nữa, ở đây cũng như dọc dài suốt Tin Mừng của Ngài, thánh Matthêu luôn trình bày Đức Giêsu như Môsê mới ban Lề Luật cho dân mới của Thiên Chúa.
Claude Tassin chú thích: "Như những hình ảnh trong phim nối tiếp nhau, ta thấy lại ngọn núi nơi ma quỉ chỉ cho Đức Giêsu các vương quốc trần gian, ngọn núi Tám mối phúc nơi vị Tôn sư công bố hiến chương Nước Trời ngọn núi biến hình nơi vinh quang Con Người được hiển lộ, và sừng sững uy nghi phủ trên tất cả là bóng ngọn Nêbô cao vời (Tl 34) nơi Môsê nói lời giã từ khi dân chúng tiến về Đất Hứa" (Tin Mừng theo thánh Mátthêu, Centurion, trang 303).
- Khi thấy Đức Giêsu, các môn đệ “sấp mình thờ lạy”. Đó là một cử chỉ tỏ lòng kính trọng mang màu sắc tôn giáo và phụng vụ như khi các đạo sĩ thấy con trẻ và Maria, mẹ Người (2,2-8.1 1), như khi các môn đệ ở trên thuyền, lúc sóng gió nổi lên (14,33); như người đàn bà xứ Canaan (15,25).
Tuy thờ lạy nhưng họ vẫn còn "hoài nghi', niềm hoài nghi, theo Jean Radermakers, "là bạn đồng hành bất khả phân ly với niềm tin biến động".
- Đấng tỏ mình ra cho các môn đệ ("Đức Giêsu đến gần và các môn đệ sấp mình thờ lạy chính là Đức Chúa vinh hiển được tôn vinh, được trao quyền tối thượng xét xử toàn thế giới (Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Ta"), từ đó Người có thể sai các môn đệ đi khắp thế giới làm cho uy quyền này trở thành hiện thực.
Những lời Người nói với họ ghi dấu sự mở ra một giai đoạn trong sứ mệnh của người; một sứ mệnh từ nay Người tiếp tục Giáo Hội.
+ "Hãy đi...! Làm cho mọi dân tộc trở thành môn đệ Thầy”. Trong suốt thời hoạt động công khai, Đức Giêsu đã giới hạn các hoạt động vào các "chiên lạc nhà Israel". Từ nay, Người phá huỷ biên cương phân chia không gian và thời gian: Đức Giêsu đã có thể hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh người Tôi Tớ Thiên Chúa như Matthêu loan báo khi nhắc lại lời sấm của Isaia (42,1-4): dân ngoại sẽ đặt niềm hy vọng vào danh người" (Mt 12, 18 -21). Dân ngoại, đã hiện diện ngay ở những trang đầu của sách Tin Mừng trong hình ảnh các vị đạo sĩ, lại thấy xuất hiện ở đoạn kết, Tin Mừng như đối tượng mà Tin Mừng nhắm tới. Và Đức Giêsu trao phó sứ mệnh phổ quát ấy cho Giáo Hội của Người.
Claude Tassin nhận xét: "Điều quan trọng không phải là “đi” cũng không phải là một sứ mệnh chinh phục đất đai, nhưng là một cởi mở đón nhận mọi nhóm người, không phân biệt. Vì Đức Giêsu có "mọi quyền năng", nên mọi người được mời gọi đặt hiện hữu cuộc đời dưới uy quyền của người. Sứ mệnh, theo Mátthêu, là gì? Các môn đệ hãy chiêu mộ thêm các môn đệ khác; nhũng ai cảm thấy giáo huấn của Đức Giêsu biến đổi cuộc đời mình. Hãy chia sẻ kinh nghiệm ấy với người khác, "dạy cho họ tuân giữ mọi giới răn" của Đức Giêsu gồm tóm trong luật duy nhất: tình yêu" (O.C., trang 304).
+ "Hãy rửa tội cho họ, nhân danh Chúa Cha: và Chúa Con, và Chúa Thánh Thần”. Sứ mệnh không phải là quảng bá một ý thức hệ, dù rất cao siêu; sứ mệnh không ngừng đề nghị thiết lập một cộng đoàn: cộng đoàn những người, nhờ bí tích rửa tội, muốn những mối liên hệ hỗ tương của họ đâm rễ sâu vào một gắn bó chung "nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con, và Chúa Thánh Thần”. Tạp chí "Célébrer" số 269 nói: ."Công thức nhân danh Ba Ngôi này chỉ có trong Tân ước. Những bản văn khác nói về phép rửa "nhân danh Đức Giêsu" hoặc phép rửa “nhờ Chúa Thánh Thần". Tuy không có ngay từ buổi ban đầu, nhưng công thức này không xuất hiện quá trễ. Có lẽ công thức ấy được vay mượn từ truyền thống phụng vụ của cộng đoàn nơi thánh Matthêu phụ trách. Công thức rửa tội ấy diễn tả mối kết hiệp chặt chẽ giữa người lãnh bí tích Rửa tội với Ba Ngôi Thiên Chúa:
+ "Hãy dạy họ tuân giữ mọi điều răn Thầy đã truyền cho anh em”. Đừng giản lược sứ mệnh truyền giáo vào việc cải đạo không có tương lai. Giáo Hội phải giúp những người đã lãnh bí tích rửa tội sống mỗi ngày mỗi phù hợp với nếp sống mới mà họ đã bước vào. J. Radermakers nhận xét: "Như thế toàn thể Tin Mừng khi trở nên lời giáo huấn bằng đời sống cho các môn đệ, về phương diện bí tích sẽ rất có ý nghĩa trong bí tích Rửa tội và về phương diện nhân loại sẽ trương rộng ra trong đời sống hằng ngày; trong cộng đoàn Kitô hữu, đời sống luân lý không gì khác hơn là Tin Mừng biến thành hành động" (Sđd, trang 365).
+ “Và Thầy, Thầy sẽ ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Đó là chóp đỉnh của lời Đức Giêsu tuyên bố: bảo đảm một hiện diện tích cực, hiệu quả, không giới hạn ở đoạn kết Tin Mừng, Matthêu đã công bố rằng lời thiên thần hứa với Giuse đã hoàn toàn ứng nghiệm nơi Đức Giêsu: "Tên người là Emmanuel nghĩa là Thiên Chúa ở với chúng ta”.
J. Potel kết luận: "Đức Giêsu không lìa xa Giáo Hội của Người. Dù Người vô hình, Người vẫn hiện diện ở mọi nơi Giáo Hội ở mọi nơi, cho đến tận cùng thời gian. Theo thánh Matthêu, Người không biến mất trên trời cao. Trái lại, lời cuối cùng của Người cũng là câu cuối cùng của Tin Mừng đã hứa: "Thầy sẽ ở với anh mọi ngày cho đến tận thế”. Chính Người đã nói: khi có hai ba người tụ họp nhân danh Thầy, Thầy sẽ ờ giữa họ, (Mt 18,20). Phục Sinh không ở lại trên núi Galilê. Người đồng hành với các môn đệ trên mọi nẻo đường trần gian" ("Đức Giêsu, lịch sử đích thực", Centúrion, 1994, trang 516).

BÀI ĐỌC THÊM
1. Ba khía cạnh trong sứ mệnh của Giáo Hội
(Mgr. L.Daloz, "Nước Thiên Chúa đã đến gần", Centurion-duculot, tr. 385).
Hình thức của sứ mệnh đã được chỉ dẫn rõ ràng: "Hãy làm cho mọi dân tộc nên môn đệ của Thầy, rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con, và Chúa Thánh Thần, dạy họ tuân giữ tất cả những điều Thầy đã truyền cho anh em”. Ta thấy có ba khía cạnh: Loan báo Tin Mừng là động lực thôi thúc các môn đệ; tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua nhờ bí tích Rửa tội và các bí tích; cuộc sống mới thực hành những lời Đức Giêsu đã truyền dạy. Tất cả những điều đó làm thành sứ mệnh của Giáo Hội. Không có ba yếu tố đó sứ mệnh không hoàn hảo, và không có yếu tố nào trong ba có thể tự mình thực hiện được sứ mệnh truyền giáo. Điều quan trọng là tất cả các dân nước được thừa hưởng cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu, là họ đón nhận Đức Giêsu để được đổi mới. Như thế, họ đi vào mầu nhiệm sự sống của Thiên Chúa: nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con, và Chúa Thánh Thần”. Qua sứ mệnh của các Tông đồ, Đức Giêsu tiếp tục nhiệm vụ mà Người đã khởi đầu trong lễ Vượt Qua: "Còn Thầy, Thầy sẽ ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Ta còn sợ gì nếu Đức Giêsu Phục Sinh luôn ở với ta".
2. Trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa cho ta biết Người ở “với ta”.
(Báo Fêtes et Saisons số 496, "Ba Ngôi Thánh", trang 31).
Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn khác, tự đầy đủ ở nơi chính mình, nhưng Người đã cởi mở đón nhận một tạo vật do tay Người sáng tạo, hay đúng hơn từ ngữ loài người giới hạn khó mà diễn tả được một mầu nhiệm như thế - Chúa Cha, nguồn cội và sự duy nhất của Ba Ngôi, đã đưa dẫn thế giới mà người tạo dựng vào hiệp thông với Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Khi gợi lại sự Nhập Thể của Chúa Con và Ân Ban của Chúa Thánh Thần, ta khẳng định Thiên Chúa Hoàn Toàn Khác đã trở nên Hoàn Toàn Gần Gũi. Thực vậy, trong viễn tượng Ba Ngôi, nói cho đúng chính Thiên Chúa đã đem ta lại gần Người vì, thực ra, Người đã tác tạo nên ta trong Người. Sự gần gũi thân mật lạ lùng của Thiên Chúa là thế. Nhưng để xúc động sâu xa về điều đó lại cần phải linh cảm được Thiên Chúa vô vàn khác biệt và siêu việt dường nào.
Nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa tỏ cho ta biết Người ở "với ta". Nhờ Chúa Thánh Thần, Người là Thiên Chúa ở trong ta, nhưng chính là để ta được ở với Người và trong Người. Ở đây không có ý nói rằng, để yêu mến Thiên Chúa, con người phải xa ta trần gian. Như cuộc đời Đức Kitô là bằng chứng, cuộc hiệp thông với Thiên Chúa thực hiện trong trần gian và với anh em ta; hình ngay từ cõi đời trần tục này, bên cạnh và cùng với những người anh em này mà Thiên Chúa gọi ta đến với Người.
3. Được mời gọi đến khám phá Thiên Chúa hàng sống và chân thật.
(Thư các Đức Giám Mục gởi người Công giáo Pháp, Cerf trang 50-52).
Niềm tin vào Đức Giêsu bao gồm lòng can đảm chấp nhận chính sự sống của Thiên Chúa trong cuộc sống nhân loại chúng ta. Nếu ta có đặt Lời Chúa và các bí tích, đức tin đối nghịch với con người, cũng chỉ nhằm mục đích hiểu biết niềm vui được sống được yêu như những người con của Thiên Chúa, theo gương Chúa Con, trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần.
Chính qua ân ban của Chúa Thánh Thần từ biến cố Hiện Xuống mà Chúa Cha nối kết con người vào đời sống của Người Con riêng của Người.
Như thế mầu nhiệm phục sinh mà Đức Giêsu đã trải qua ghi đậm dấu ấn vào cuộc sống chúng ta: mầu nhiệm ấy được thông ban cho ta để ta sống sự sống và cái chết của ta trong tinh thần năng động của ân ban mà Chúa Thánh Thần đã khơi lên và linh hoạt. Về sự năng động mới phải lan toả ra toàn thể lịch sử và tạo vật “còn đang rên la trong cơn đau sinh con" (Rm 8,22), nhưng vẫn "giữ vững niềm hy vọng sẽ được giải thoát khỏi tình trạng nô lệ sự hư nát" (Rm 8,20-21).
Chúa Thánh Thần đến từ Cha trên trời, qua Đức Giêsu, được gởi đến để hoán cải tâm hồn ta theo Tình Yêu Thiên Chúa và tha nhân, nhưng cũng để giữa lòng nhân loại phát sinh một tạo vật mới, được giải thoát khỏi sự dừ và sự chết (x. Rm 8, 22-23) .
Ta đừng phân cách hai hoạt động ấy của Chúa Thánh Thần. Người muốn tạo ra một sự hạ sinh mới vừa trong thâm sâu các tâm hồn và các lương tâm, vừa trong sự phức tạp của thế giới và của lịch sử. Cảm nghiệm của người Kitô hữu về Chúa Thánh Thần luôn có hai chiều kích: cá nhân và lịch sử, sâu xa trong tâm hồn con người và trong dòng toàn bộ lịch sử cứu đó .
Đứng trước mạc khải về chiều sâu của Ba Ngôi và của nhân tính Thiên Chúa, hiển nhiên ta cần một cuộc khai tâm thường xuyên. Chỉ dạy cho các tân tòng và các thanh niên xin được rửa tội và thêm sức nhưng yếu tố cơ bản của kinh “Credo" là không đủ. Tất cả chúng ta đều được mời gọi đi đến khám phá Thiên Chúa hằng sống và chân thật, tìm kiếm Người, nhận biết Người và cầu khẩn Người như Người đã tỏ mình ra qua Đức Kitô.
Dấu chỉ đó cho thấy tất cả chúng ta đều cần đến Giáo Hội nhu cầu nơi để đọc chăm lo bú mớm, nơi cảm nghĩ đức tin bén rễ. Thực vậy, Giáo Hội không ở ngoài mầu nhiệm mà Giáo Hội loan báo. Giáo Hội không chỉ là một nhóm các bạn hữu Đức Kitô hoặc hiệp hội nhưng người tưởng nhớ đến Người.
Theo Công Đồng Vatican II, Giáo Hội là "bí tích trong Đức Kitô. Nghĩa là vừa là dấu chỉ, vừa là phương tiện giúp kết hiệp thân mật với Thiên Chúa và sự hiệp nhất của toàn thể nhân loại" (Lumen Gentium 1).
Chính trong và nhờ Giáo Hội mà nhân tính của Thiên Chúa, hôm nay và cho đến ngày tận thế, có thể được trao ban để được nhận biết trong thế giới. Giáo Hội thân thể Đức Kitô và Đền thờ Chúa Thánh Thần, phải làm vang vọng lên nơi nhân loại lời mời gọi mà Thiên Chúa muốn ngỏ với họ.
 
 

BaNgôi-162: CHÚA GIÊSU GẶP GỠ VÀ SAI PHÁI CÁC MÔN ĐỆ NGÀI

 Chú giải mục vụ của Claude Tassin
 

Các phụ nữ đã chuyển giao hoàn thành xong sứ điệp bởi vì hiện giờ các môn đệ đang tụ họp cho: BaNgôi-162

Các phụ nữ đã chuyển giao hoàn thành xong sứ điệp bởi vì hiện giờ các môn đệ đang tụ họp cho cuộc gặp gỡ tối hậu đầy trang trọng. Chúng ta hãy cố gắng hiểu cho được tình cảnh của Matthêu khi ông đặt bút soạn thảo chương kết này. Các truyền thống mà Matthêu cậy dựa đều phù hợp với nhau về sự kiện Đức Giêsu đã hiện ra ở Galilê; tuy nhiên không một truyền thống nào đã bảo tồn các trình thuật về những cuộc hiện ra ở Galilê này. Bỏ qua một bên mọi tưởng tượng, tác giả Phúc Âm phải xây dựng sứ điệp mình dựa trên các mô hình Kinh Thánh về việc soạn thảo (a) và trên các chất liệu được Giáo Hội ông nhận biết (b).
1) Ở đây Matthêu sử dụng nhiều mô hình, tuy nhiên lược đồ nền tảng là lược đồ các sắc chỉ vương triều được xây dựng như sau:
Ta đã nhận lãnh quyền hành như thế.
Vậy Ta truyền…
Như vậy các lời nói của Đấng Phục Sinh được soạn lại như sau:
a) “Mọi quyền hành đã được ban cho Ta” (c.18)
b) Vậy, các con hãy đi… (c.19-20a)
Sự lựa chọn này không phải là ngẫu nhiên: Kinh Thánh Hy Bá Lai mà tác giả Phúc Âm sử dụng đã kết thúc chính xác (2Sb 36,23) bằng một sắc chỉ vương triều giống thế, sắc chỉ của vua Cyrus. Hình bóng của Đấng Mêsia trong truyền thống Do thái thời xưa (x. Is 45,1). Như thế, Matthêu đã mở đầu tác phẩm của mình bằng cách nói về “Sách Sáng Thế” (1,1) và kết thúc bằng lời ám chỉ đến câu cuối cùng trong Cựu Ước: Lịch sử Chúa Giêsu hoàn tất tất cả lịch sử Thánh Kinh.
2) Về mặt chất liệu, hầu như ở mỗi lời trong 5 câu này, đều thấy có can dự đến một bản mục lục gồm những chủ đề lớn được Matthêu khơi động dọc suốt Phúc Âm của ông. Nhưng không phải chỉ có thế. Trong một Giáo Hội đầy sợ hãi, nơi mà các thành viên gốc Do Thái vẫn còn nghĩ rằng phải tập trung chú tâm mình “các con chiên lạc nhà Israel”, có thể là các Kitô hữu khác, dày dạn hơn, tự nuôi sống mình bằng khẩu hiệu này “kêu gọi dân ngoại (bất cứ ai) trở thành môn đệ; tháp nhập họ (ngay cả nhóm người của Gioan Tẩy Giả) bằng phép Rửa tội Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, chia sẻ cho họ tất cả những gì Chúa Giêsu đã dạy cho chúng ta” (c. 19-20). Đây chính là chương trình của Giáo Hội! Trong đoạn kết, Nhân Danh Chúa Kitô, Matthêu đã đưa ra lý do bênh vực cho sự bảo trợ chí nguyện này và hun đúc lại lòng can đảm của những kẻ đang co rúm lại. Tuy nhiên, để kết thúc, cần phải nhớ lại chính bản văn của tác giả Phúc Âm, bản văn ấy còn sung mãn hơn cả những nỗ lực làm sáng tỏ này.
Các câu 16-17 cung cấp bức khung những lời cuối cùng của Đấng Phục Sinh. Như Luca thì hẳn đã diễn tả rằng nhóm tông đồ bây giờ là nhóm Mười Một (tông đồ). Đang khi đó, trung thành với chính mình, Matthêu lại nói đến mười một môn đệ: vào lúc được Chúa sai phái, họ vẫn luôn luôn là các “học trò”, đây quả là một ý tưởng quan trọng đối với các khái niệm thừa sai của tác giả Phúc Âm.
Galilê biểu tượng thế giới dân ngoại, mặc lấy trọn vẹn ý nghĩa của nó qua việc Chúa sai phái các môn đệ đi toàn thế giới, điều này sắp sửa dội vang. Tuy nhiên, chính xác hơn cuộc gặp gỡ đã xảy ra ở “trên núi”. Tựa như một chuỗi nối tiếp quyện vào nhau, người ta thấy lại ngọn núi nơi trước đây ma quỷ đã phô bày cho Chúa Giêsu mọi vương quốc của trái đất, ngọn núi “Bát Phúc” nơi Chúa Giêsu đã công bố Hiến Chương Nước Trời và ngọn núi “biến hình” nơi vinh quang của Con Người từng toả sáng, và trên tất cả những thứ đó là bóng hình ngọn núi Nêbô (Đnl 34) nơi Môsê nói lời vĩnh biệt khi dân tộc ông sắp bước vào miền đất hứa.
Quang cảnh cuối cùng trước đây các môn đệ để lại là quang cảnh họ bỏ trốn chạy (26,56); còn giờ đây họ đang phủ phục trước Chúa Giêsu; “Tuy nhiên, vài người vẫn còn hồ nghi” nên vẫn chưa thực hiện được hành trình đức tin dẫn họ đến niềm vui không pha tạp (x. 28,8). Mô hình ngờ vực là một yếu tố truyền thống thường thấy trong các trình thuật Chúa Phục Sinh hiện ra, yếu tố này lẽ ra buộc Đấng Phục Sinh phải giúp các môn đệ nhận ra Ngài cũng như Ngài phải trấn an họ, tuy nhiên ở đây Chúa Giêsu đã không hề làm như thế. Ngày xưa Ngài đã từng nói với Phêrô “Hỡi kẻ kém lòng tin, tại sao ngươi lại nghi ngờ?” (14,31). Đức tin vẫn mãi mãi đòi ta phải liều và chính trong ‘hành động’ thừa sai (c.19-20) các môn đệ mới có thể chiến thắng nổi những ngờ vực của họ.
Ở câu 18, người ta nhớ lại vào cuối Kinh Thánh Hy Bá Lai, vua Cyrus đã tuyên bố: “Chúa là Thiên Chúa, Ngài đã ban cho tôi tất cả vương quốc trên mặt đất” (2Sb 36,23). Và lớn lao hơn chính quyền năng trên trời được thông ban cho Con Người mầu nhiệm trong sách Daniel: “Người được Thiên Chúa ban cho mọi quyền hành… mọi dân tộc sẽ phụng sự Người… quyền hành muôn thuở” (Dn 7,14). Ở đây không hề thấy một quang cảnh hùng vĩ, tuy nhiên qua bức tranh cuộc phán xét cuối cùng (25,31) được gợi lại Chúa Giêsu quả quyết rằng kể từ nay Thiên Chúa đã trao ban cho Ngài vương quyền hoàn vũ này.
“Vậy” (c.19) “các ngươi hãy đi chiêu mộ môn đồ từ mọi dân tộc”. Chúa Giêsu không nhấn mạnh đến từ “Đi” cũng không nhấn mạnh đến sứ mệnh chinh phục mặt địa lý mà nhấn mạnh đến việc mở lòng đón nhận tất cả mọi nhóm người không phân biệt. Bởi vì Chúa Giêsu nắm trọn quyền hành, cho nên mọi người đều được mời gọi sống dưới quyền hành của Người. Đối với Matthêu, sứ mệnh là gì? Là các môn đệ đi chiêu mộ kẻ khác trở thành môn đệ, là mọi người nam cũng như nữ sau khi cảm nghiệm rằng lời giáo huấn của Chúa Giêsu đã biến đổi cuộc hiện sinh của họ sẽ đem chia sẻ kinh nghiệm đó với kẻ khác “dạy cho họ giữ tất cả mọi huấn lệnh của Chúa Giêsu” được tóm gọn lại trong chỉ một lề luật yêu thương.
Tuy nhiên sứ mệnh đó không phải là sự triển khai một ý thức hệ, dù rằng cao đẹp mấy đi nữa. Nó không ngừng đòi hỏi phải tạo ra một cộng đoàn, gồm những người; qua nghi thức Rửa Tội, muốn ghim chặt mối dây liên đới với nhau trong một tuỳ thuộc chung: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (c.19). Đây là công thức mầu nhiệm Ba Ngôi duy nhất trong Tân Ước nói về phép Rửa Tội “Nhân danh Chúa Giêsu” hay “Trong Thánh Linh”. Danh xưng Ba Ngôi ở câu 19 chắc chắn phát xuất từ Phụng Vụ Thánh Tẩy đang thịnh hành trong Giáo Hội của Matthêu. Tác giả Phúc Âm sẵn sàng chấp nhận danh xưng này và qua đó ông đưa độc giả mình về lại với tất cả những gì họ đã học biết về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh suốt những trang Phúc Âm của ông.
Trong một cách thức nào đó, Đấng Phục Sinh đã kết luận như sau: “Các ngươi còn ngờ vực”, vậy hãy liều thân đi phục vụ mọi người. Khi thấy họ quay về với đức tin bấy giờ các ngươi sẽ khám phá rằng thực sự “mọi quyền hành đã được ban cho Ta” và nhất là các ngươi sẽ khám phá ra rằng chính Ta, Ta luôn ở cùng các ngươi mọi ngày cho đến tận thế (c.20). Suốt dòng lịch sử, Đấng Phục Sinh vẫn luôn mãi là Đấng Emmanuel “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (1,23): Như thế phần đầu và phần cuối Phúc Âm đã phúc đáp cho nhau, ngoài ra dòng Phúc Âm đầu tiên (1,1) ghi nhận: “Các nguồn gốc”; sự khởi nguyên còn dòng Phúc Âm cuối cùng nhắc đến “Thế mạt” (28,20): Bản thân Chúa Giêsu thâu tóm toàn lịch sử nhân loại; Tuy nhiên kể từ “ngày đầu tiên trong tuần” (28,1) tức buổi sáng Phục Sinh, lịch sử này đã tháp nhập vào đó sự dấn thân và chứng ngôn của Kitô hữu.
 
 

BaNgôi-163: SỨ MẠNG PHỔ QUÁT - Lm PX Vũ Phan Long, ofm

Mtthu 28,16-20   
I. NgỮ cẢnh
 

Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến ngữ cảnh trực tiếp, đó là mộ trống với hai sứ điệp, một tích: BaNgôi-163

Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến ngữ cảnh trực tiếp, đó là mộ trống với hai sứ điệp, một tích cực, một tiêu cực:
a) Sứ điệp tích cực
Sứ điệp tích cực được gửi đến trong hai thì:
    bởi sứ thần khi ngài giao phó cho các phụ nữ hai sứ mạng là làm chứng về sự Phục Sinh của Đức Giêsu và loan báo cho các môn đệ lệnh triệu tập của Đức Giêsu (28,1-8). Đây là kinh nghiệm tiêu cực về sự Phục Sinh.
    bởi chính Đức Giêsu Phục Sinh (28,9-10): Người cho các phụ nữ sống một kinh nghiệm thực hữu về sự Phục Sinh của Người và giao cho họ cùng một sứ mạng, là triệu tập các môn đệ về Galilê.
Đoạn văn 28,16-20 cho hiểu rằng các phụ nữ đã chu toàn hai sứ mạng được giao: khi quy tụ về quả núi đã được chỉ định tại Galilê, các môn đệ chứng tỏ các ông đã tin vào chứng tá của các phụ nữ liên hệ đến cuộc Phục Sinh để cũng có thể tin vào lệnh triệu tập được các bà chuyển cho.
b) Sứ điệp tiêu cực
Sứ điệp tiêu cực là truyện sai lạc về Đức Giêsu, được toán lính tung ra theo trò bịp bợm của các thủ lãnh Do-thái.
Đoạn văn này nêu bật sự tương phản (c. 16: de) giữa các thủ lãnh Do-thái và toán lính một bên, và bên kia, là Đức Giêsu và các môn đệ Người, giữa sứ điệp do người Do-thái tung ra và thực tế; vậy đoạn văn này chính là một lời phi bác tin đồn thất thiệt đã được phổ biến. Đối với người Do-thái, Đức Giêsu là một xác chết, còn các môn đệ Người là những tên trộm cắp và dối trá; trong thực tế, Đức Giêsu đã chiến thắng cái chết, đã sống lại, được ban cho toàn quyền của Thiên Chúa và đảm bảo bằng sự hiện diện đầy uy lực của Người; các môn đệ Người không tìm cách đánh cắp thi hài, nhưng đã đi về Galilê, đi xa ngôi mộ, để gặp Đức Giêsu Phục Sinh. Tin Mừng sẽ đi đến với “mọi dân tộc”, chứ không như tin đồn thất thiệt kia, chỉ được loan truyền “giữa người Do-thái” mà thôi. Giáo huấn phổ quát (didaskontes) mà các môn đệ của Đức Giêsu, vị Tôn Sư tuyệt đối (didaskalos, 23,8), sẽ cống hiến cho mọi dân tộc sẽ hoàn toàn vượt xa những gì toán lính phổ biến, vì họ đã làm theo lời “các thượng tế dạy” (edidachthêsan, 28,15). Các môn đệ sẽ được che chở và nâng đỡ “cho đến tận thế”, không phải bởi một quyền bính nhân loại như quyền bính của các thượng tế, nhưng bởi uy quyền của Đấng Phục Sinh, Chúa tể vũ hoàn.

II. BỐ CỤC
Bản văn có thể chia thành hai phần:
    Cuộc diện kiến của Nhóm Mười Một với Đức Giêsu (28,16-17);
    Các lời nói của Đức Giêsu (28,18-20):
   a) Mạc khải về quyền năng (18),
   b) Lệnh truyền giáo (19-20a),
   c) Hứa hiện diện hỗ trợ (20b).

III. Vài điểm chú giải
- Về phần mười một môn đệ (16): Ở đầu c. 16 này, có tiêu từ de (“và”, “rồi”; “nhưng”; “về phần”ø) hẳn là để nêu lên sự tương phản giữa báo cáo sai lạc của toán lính với sự thật về cuộc hiện ra của Đức Giêsu với mười một môn đệ.
- Mười một môn đệ (16): Trong Mt, Đức Giêsu có một nhóm các “môn đệ” (mathêtês: Mt 73 lần, Mc 46 lần, Lc 37 lần, Ga 78 lần. Có 65 trong Mt ở số phức) luôn luôn được xác định bằng quán từ (article) hoi (x. 5,1; 8,21; 9,10; 12,1; 13,10; 14,15; 15,2; 16,5; 28,7). Điều này khẳng định rằng họ được biết rõ trong tư cách đó và họ không phải là nhóm “bảy mươi hai” của Lc (vả lại, Lc không gán cho nhóm “bảy mươi hai” cái tên “môn đệ”, mà là “bảy mươi hai người khác”, x. Lc 10,1). Các ông là những người sống hiệp thông với Thầy mình (“einai meta” [“ở với”]), tháp tùng Thầy trong sứ vụ của Người (9,19), cùng làm việc với Người để phục vụ các đám đông (9,36-37), được nêu ra làm gương cho các đám đông và được giới thiệu như là gia đình đích thực của Đức Giêsu (12,46-50). Mt xác định rằng các ông là “mười hai môn đệ” ( 10,1; 11,1; hay là “Nhóm Mười Hai”: 20,17; 26,20; ở c. 10,2, các ông cũng được gọi là “mười hai tông đồ” cùng với tên của các ông).
Con số “mười một” nhắc đến sự vắng mặt thê thảm của Giuđa, “một trong Nhóm Mười Hai” (26,14.47; x. 10,2.4): sự hư hỏng đã xảy ra ngay trong nhóm, tức là đây không phải là một nhóm toàn vẹn; với lại, tất cả các ông khác đều đã té ngã (x. hoi mathêtai: 26,56b; Phêrô: 26,69-75). Nhưng sứ điệp mà Đức Giêsu ban cho các ông nhờ trung gian các phụ nữ đã là một dấu cho thấy Người tha thứ và hòa giải; Người gọi các ông là “anh em của Thầy” (28,10). Bây giờ, cuộc hành trình của các ông tiến về với Đức Giêsu và sự hiện diện của các ông tại nơi Người đã chỉ định là một dấu chứng tỏ các ông đón nhận sự tha thứ và hòa giải.
- ngọn núi (16): To oros (danh từ với quán từ) khẳng định rằng chính là trên một quả núi mà Đức Giêsu và các môn đệ đã biết, nhưng không cung cấp một xác định nào khác.
- Bái lạy (17): Mt chỉ dùng động từ proskyneô (Mt 13 lần; Mc 2 lần; Lc 2 lần) cho những ai đã nhìn nhận phẩm giá của Đức Giêsu và diễn tả sự nhìn nhận đó ra bằng hành vi này (x. các hiền sĩ: 2,2.8.11; người phong cùi: 8,2; ông trưởng hội đường: 9,18;  các môn đệ trên thuyền: 14,33; bà Canaan: 15,25; mẹ các con ông Dêbêđê: 20,20; các phụ nữ tại mồ: 28,9).
- Nhưng có mấy ông lại hoài nghi (17): Trong Tân Ước, động từ distazein chỉ xuất hiện ở 14,31 (Phêrô đi trên mặt nước) và ở đây. Động từ này nhắc đến những gì Tin Mừng đã nói biết bao lần về phẩm chất của đức tin của các môn đệ: ở 6,30; 8,26-27; 14,31; 16,8; 17,20 (x. câu 17). Mt là tác giả duy nhất ghi nhận “đức tin lớn (megalê hê pistis)” của bà Canaan (15,28). Cùng với đề tài đức tin, Mt trình bày đề tài sự hiểu biết (synienai) và không hiểu biết: ở 15,16; x. 16,12; 17,13.
- Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất (18): Động từ edothê ở thì aorist thái bị động trần thuật (passive indicative): Thì aorist nhắm đến một sự kiện đã hoàn tất, chứ không phải là một lời hứa hay một niềm hy vọng; hẳn là ta có thể nghĩ đến một quan hệ mặc nhiên với sự phục sinh. Thái bị động đây là một thái bị động thay tên minh nhiên của Thiên Chúa. Hơn nữa, cách thức khẳng định cách tuyệt đối như thế gợi ý rằng Thiên Chúa là tác giả (so sánh c. 18b với 11,25).
Đề tài exousia cũng là một đề tài quan trọng của Mt (9 lần: 7,29; 8,9; 9,6; 9,8; 10,1; 21,23; 21,24; 21,27; 28,18). Từ ngữ có nghĩa là “quyền hành”, “uy quyềùn”, “quyền lợi”, “khả năng”, là những đặc tính của giáo huấn và cách hành động của Đức Giêsu: phân đoạn 5,1–7,29 (Bài Giảng trên núi) giới thiệu Đức Giêsu như là “Đấng Mêsia có uy quyền trong lời nói” (x. 7,28), còn phân đoạn 8,1–9,38 giới thiệu Người như là “Đấng Mêsia có uy quyền trong hành động” (x. 11,2) (Đức Giêsu khẳng định rằng Người có exousia này: 9,6; dân chúng: 7,29; viên sĩ quan: 8,9; khi thấy người bại liệt được chữa lành, dân chúng tôn vinh Thiên Chúa: 9,8; Đức Giêsu nói về quyền của Người và từ chối cho biết nguồn gốc của quyền ấy: 21,24.27). Câu 28,18 là như tổng hợp về đề tài này và là một câu trả lời cho nhà chức trách tôn giáo: Đức Giêsu không phải là một người mất trí hay một kẻ tiếm quyền; Người đã nhận được quyền bính này trọn vẹn, trên toàn vũ trụ,  từ Thiên Chúa (chứ không phải từ tay ma quỉ, x. 9,34). Ở đây, điều được khẳng định là quyền (exousia) đã được Thiên Chúa ban.
- hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ (19): Trong các Tin Mừng, động từ mathêteuein chỉ được sử dụng ở Mt (13,52; 27,57; 28,19) với hai nghĩa: 1) nghĩa ngoại động (intransitive): trở thành môn đệ (13,52; 27,57); 2) nghĩa nội động (transitive): làm thành môn đệ; làm cho ai thành môn đệ (28,19; x. Cv 14,21). Đây không phải là chỉ trình bày, cống hiến sứ điệp, loan báo Tin Mừng, nhưng là kiến tạo một quan hệ chặt chẽ và riêng tư. Kiểu mẫu của quan hệ này chính là quan hệ của Đức Giêsu lịch sử với các môn đệ đã được Người kêu gọi (môn đệ đi theo [akolouthein, x. 4,20.22; 8,23; 19,27.28], Thầy đi trước [proagein, x. 26,32; 28,7]).
- nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần (19): Công thức “nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần” một công thức phép rửa. Qua công thức này, ta găïp thực tại chúng ta có trong các Tin Mừng Nhất Lãm: đó là quan hệ chặt chẽ giữa đời sống và công trình của Đức Giêsu với Cha Người trong Chúa Thánh Thần. Cựu Ước biết đến vị Thiên Chúa tạo thành trời đất, đây là vị Thiên Chúa mà họ đến trình diện trong tư cách là các thọ tạo hoàn toàn khác với Ngài và không có quyền đi vào đối thoại với Ngài. Đức Giêsu loan báo vị Thiên Chúa có một người đối thoại trong bình diện thần linh. Chúa Con ở trước mặt Chúa Cha, và hai Đấng được liên kết với nhau, biết nhau, hiểu nhau và yêu thương nhau trọn vẹn và hoàn hảo nhờ Chúa Thánh Thần. Bí tích Rửa tội nhận chìm chúng ta vào trong vùng quyền lực của vị Thiên Chúa này.
- Này đây Thầy (20): Mt chuộng thức mệnh lệnh idou này. Nên ghi nhận là công thức long trọng idou egô luôn luôn có quan hệ với ý tưởng sứ mạng: 10,16; 23,34 et 28,20.
- Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (20): Khi nói minh nhiên pasas tas hêmeras (tất cả các ngày), Đức Giêsu khẳng định Người sẽ ở thường trực và trọn vẹn với các môn đệ. Heôs tês synteleias tou aiônos (cho đến tận thế) có nghĩa mục tiêu, nơi đến: nhắm đến tận thế. Từ ngữ synteleia (hoàn tất; kết cục) luôn được sử dụng với aiôn có nghĩa là “thời gian hiện tại”, “tình trạng hiện nay của tạo thành” (x. 13,22; 12,31). Synteleia tou aiônos có nghĩa là “khi kết thúc thời gian của thế giới này”. Người ta chờ đợi một kết thúc thời gian này với việc Đức Giêsu ngự đến (x. 24,3).

IV. Ý nghĩa cỦa bẢn văn
* Cuộc diện kiến của Nhóm Mười Một với Đức Giêsu (16 -17)
Phần thứ nhất kể lại các hành vi của các môn đệ trong quá khứ (aorist) (đi tới, c. 16; bái lạy, c. 17; hoài nghi, c. 17). Bản văn cũng ghi nhận một hành vi của Đức Giêsu, “đã truyền” (etaxato, c. 16), nhưng chắc chắn đây là một hành vi Đức Giêsu đã làm trước các hoạt động của các môn đệ được kể lại trong đoạn văn này; hành vi này lại chỉ là một mệnh lệnh, một hành vi nói. Ngược lại, trong các bản văn khác về hiện ra, Đức Giêsu hành động cùng nhịp với những người có mặt, chẳng hạn, ở Mt 28,9, Đức Giêsu đến gặp (hypêntêsen) các bà. Phải chờ đến c. 18 để gặp được một hành vi của Đức Giêsu, nhưng cả hành vi này cũng chỉ là một hành vi nói (elalêsen).    
Các nhân vật chính của phần thứ nhất là hoi hendêka methêtai, “mười một môn đệ”. Con số này nhắc đến sự phản bội của cả nhóm. Nhưng sứ điệp mà Đức Giêsu ban cho các ông nhờ trung gian các phụ nữ đã là một dấu cho thấy Người tha thứ và hòa giải; Người gọi các ông là “anh em của Thầy” (28,10). Bây giờ, cuộc hành trình của các ông tiến về với Đức Giêsu và sự hiện diện của các ông tại nơi Người đã chỉ định là một dấu chứng tỏ các ông đón nhận sự tha thứ và hòa giải. Các môn đệ tiến về một nơi đã được Đức Giêsu xác định trước và theo thông tin của các phụ nữ (lệnh của sứ thần (28,7) và lệnh của Đức Giêsu ban cho các phụ nữ).
Trong Mt, ta không thấy có một lệnh minh nhiên của Đức Giêsu là đi đến một ngọn núi được xác định, nhưng có những chi tiết liên hệ đến Galilê. Tất cả các chi tiết này, khi được đặt vào trong bối cảnh là cuộc Thương Khó và Phục Sinh, thì giống như những tia chớp hy vọng được ban cho các môn đệ (tại núi Ô-liu, Đức Giêsu đã nói đến Galilê: 26,32; tại mộ, vị thiên thần đã nhắc đến Galilê: 28,7; Đức Giêsu xác nhận sứ điệp: 28,10). Chuyến đi đưa các ông về nơi Đức Giêsu đã chỉ định cho thấy rằng họ vừa thi hành lệnh Đức Giêsu truyền, họ vừa ý thức rằng họ đang được trở vào trong tình bằng hữu với Người, tình bằng hữu mà Người đã mời họ đến khi gọi họ là “anh em của Thầy” (28,10).
Như thế, câu truyện sẽ kết thúc ngay tại nơi mà sứ vụ của Đức Giêsu đã bắt đầu: tại “Galilê, miền đất của dân ngoại”, đã xuất hiện ánh sáng có sức thắng vượt bóng tối của tử thần (4,15-16) và giúp cho có thể bắt đầu việc rao giảng cho muôn dân (28,19). Ở đây tầm quan trọng của Galilê đặc biệt có tính thần học: Đấng Phục Sinh gặp lại các môn đệ Người tại nơi chính của hoạt động trần thế Người (nhất là theo Mc và Mt); điều này giả thiết có một sự tiếp nối giữa Đức Giêsu trần thế và Đức Kitô Phục Sinh, một sự tiếp nối mà c. 20a sẽ nêu bật minh nhiên (“[bằng cách] dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”). Do chính sự kiện này, Người xác nhận việc loan báo đầu tiên của Người, hoặc đơn giản hơn, xác nhận trọn vẹn sứ mạng của Người và giới thiệu sứ mạng ấy như mẫu mực cho các môn đệ. 
Lời Đức Giêsu nói với các phụ nữ (28,10), “họ phải đi đến Galilê”, là một mệnh lệnh, còn “họ sẽ được thấy Thầy ở đó” là một lời hứa. Vậy bản văn của chúng ta là sự hoàn tất mệnh lệnh ấy và sự thực hiện lời hứa ấy.
“Ngọn núi” không phải là một nơi mà người ta hẳn là có thể xác định theo địa lý; đây là nơi tiêu biểu cho mạc khải (5,1: “Bài Giảng trên núi”; 15,29: mạc khải của Đấng cứu thế, Đấng nuôi dưỡng dân Người như ông Môsê xưa kia trong hoang địa; 28,16: “ngọn núi” xuất hiện lần thứ ba, để cũng nêu bật tầm quan trọng của mạc khải như thế).
Sự kiện các môn đệ “thấy” Đức Giêsu được kín đáo giới thiệu bằng một vị tính từ  (participle), lệ thuộc động từ chính: “các ông bái lạy”. Việc “thấy Đức Giêsu” chỉ được nhắc đến ngắn ngủi ở đây, khác với các bài tường thuật khác về hiện ra, nhưng nó chẳng còn giá trị gì khi nói về niềm tin Phục Sinh. Sự kiện quan trọng đối với Mt là “các ông bái lạy” (prosekynêsan), đây là cách tôn kính mang tính tôn giáo và thậm chí phụng vụ. Thái độ này diễn tả trước những gì sẽ được lời tuyên bố ở c. 18b loan báo về quyền của Đức Giêsu. “Nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (c. 17). Ở đây, nỗi ngờ vực đã xảy đến idontes, “khi thấy Người” như là Đấng Phục Sinh. Chúng ta phải ngạc nhiên khi thấy phát sinh nỗi ngờ vực, nghĩa là một tình trạng ngần ngại, lưỡng lự, trong bối cảnh lại quá đậm đặc và tiêu biểu này.  Phản ứng này xuất hiện nhiều lần trong các bài tường thuật khác về hiện ra. Nỗi hoài nghi được thắng vượt mỗi lần một cách: Đấng Phục Sinh xin các ông cho ăn (Lc 24,41tt); Đức Giêsu hiện ra một lần nữa với các môn đệ lúc đầu không tin (Mc 16,14tt); Tôma có thể chạm tới các vết thương của Đức Giêsu (Ga 20,24-29). Ta không thấy có gì tương tự ở đây cả. Có lẽ sự hoài nghi này liên hệ đến một thời đại muộn màng hơn: cộng đoàn hôm nay không còn thấy Đức Giêsu bằng mắt thịt nữa, họ có thể rơi vào hoài nghi; họ phải thắng vượt khó khăn này nhờ dựa vào lời của Đấng Phục Sinh. Các lời nói của Đức Kitô Phục Sinh và sự vâng phục của các môn đệ với lời Người là cách thế duy nhất giúp vượt qua nỗi hoài nghi.
* Các lời nói của Đức Giêsu (18-20)
Đứng trước đức tin xen lẫn hoài nghi của các môn đệ, lời Đức Giêsu nói cung cấp câu trả lời. Đấng Phục Sinh không trách các ông về sự bất trung hoặc về nỗi hoài nghi; thậm chí Người cũng không xua tan nỗi hoài nghi bằng một cử chỉ hoặc một chứng từ bổ sung. Người đến gần các ông và nói. Người từ xa đến với những người là các môn đệ Người, vâng phục Người và đang cung kính bái lạy Người. Chỉ mình Người có thể vượt qua khoảng cách bằng cách đi đến với các ông. Proserchomai là một động từ được Mt ưa chuộng (Mt 52 lần; Mc 5 lần; Lc 10 lần; Ga 1 lần), nhưng chỉ có hai lần ông diễn tả một hành vi chủ động của Đức Giêsu (ở đây và ở 17,6-7: hai đoạn riêng của Mt): trong trường hợp này, Đức Giêsu đến gần là để nâng đỡ những người đang hoài nghi hoặc đang sợ.
Vấn đề ở đây là một lời nói, vấn đề ở đây là nghe chứ không phải là thấy. Chính lời nói của Đức Giêsu tạo được sự trấn an diễn tả ra bằng hành vi đến gần: Người tự tỏ mình ra trong lời Người nói như là Đấng được đặt để trong quyền bính và nói với uy quyền. Trong tư cách đó, Người hiện diện trong thời gian của thế giới, trong Giáo Hội cho đến tận thế.
Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất (18b). Được đặt ở đầu bài diễn từ, mạc khải này đỡ nâng các khẳng định tiếp sau: lệnh truyền và lời hứa. Đức Giêsu khẳng định quan hệ của Người với Thiên Chúa và vị trí hiện nay của Người: chính Thiên Chúa, Cha của Đức Giêsu (so sánh với 9,6.8; 11,27 và Đn 7,14), đã ban cho Người tất cả các quyền hành trên trời dưới đất.
Theo lời rao giảng tiên khởi (kêrygma) của các tông đồ, do Phục Sinh, Người đã được đặt làm Đức Chúa (Kyrios) trên vũ trụ và làm Thẩm phán vào lúc tận thế. Trong thực tế, bản văn không nói cho biết là Người đã được Chúa Cha đặt để như thế khi nào, nhưng nhấn mạnh rằng quyền lực tối thượng này của Đấng Phục Sinh là vô biên (pasa) tự nó trong sự viên mãn và trong cường độ của nó: trong không gian, Đấng Phục Sinh hiển trị trên vũ hoàn (trời và đất), như trong Cựu Ước, Thiên Chúa được nhìn nhận là Chúa tể trời đất, nghĩa là Đấng Tạo hóa và Bảo toàn tất cả vũ trụ; và trong thời gian, Người hiển trị bây giờ và cho đến tận thế.
Bây giờ, trong tư cách là Đấng đại diện toàn quyền của Thiên Chúa, Đức Giêsu là Đấng mạc khải cánh chung cho biết ý muốn của Thiên Chúa và là Đấng thực hiện dự phóng cứu độ của Người. Các môn đệ có thể hoàn toàn chắc chắn rằng họ được ban cho quyền này.
Từ oun, “vậy”, gợi ý là lệnh truyền này là hậu quả của tuyên bố về quyền vũ hoàn của Đức Giêsu, là sứ mạng của Nhóm Mười Một phát xuất từ quyền bính của Đức Kitô. Tuy nhiên, lệnh truyền được ban cho toàn nhóm, điều này cho thấy rằng bổn phận truyền giáo là một nhiệm vụ của toàn thể cộng đoàn chứ không của một vài cá nhân. Uy quyền (c. 18) và sự hiện diện của Đức Giêsu (c. 20) sẽ cho các ông đủ tư cách và uy tín mà chu toàn bổn phận này.
Khi đi rao giảng, các môn đệ không chỉ trình bày, chỉ cống hiến sứ điệp, loan báo Tin Mừng (keryssein), nhưng là kiến tạo một cộng đoàn có quan hệ chặt chẽ và riêng tư. Tương quan của các môn đệ với Đức Giêsu là kiểu mẫu cho sự hiệp thông với Người mà mọi dân tộc đang được đưa dẫn tới. Kể từ nay, kiểu mẫu này là chuẩn mực cho mọi Kitô hữu: “môn đệ” có thể nói là định nghĩa ngắn nhất của Kitô hữu. Được giao sứ mạng “làm ra các môn đệ”, Nhóm Mười Một đang hiện diện ở đây sẽ có thể rút ra từ đó biết bao hệ luận: một đàng, kinh nghiệm sống với Đức Giêsu phải luôn luôn là điểm qui chiếu cho họ trong hoạt động; đàng khác, tư cách môn đệ không phải là của riêng thuộc về những bạn đồng hành lịch sử của Đức Giêsu trần thế, trái lại đây là tư cách mà kể từ nay mỗi người được mời gọi đi vào. Tất cả đều được mời gọi trở thành”môn đệ Đức Giêsu”, vị Thầy duy nhất (x. 23,8.10).
Chiều hướng phổ quát đã được báo trước trong lời nhắc đến Abraham (1,1), trong truyện các đạo sĩ (2,1-12), vị sĩ quan Caphácnaum (8,5-13), bà Canaan (15,21-28), viên sĩ quan canh giữ Đức Giêsu trên đồi Sọ (27,54). Đi đến với các dân tộc đã là chọn lựa của Đức Giêsu, cho dù trong diễn từ truyền giáo (ch. 10), Người đã truyền các môn đệ là chỉ đi đến với các chiên lạc Israel thôi. Tính phổ quát truyền giáo này còn được báo trước ở 24,4 và 26,13, và bây giờ được khẳng định như là ý muốn chính xác của Đức Giêsu. Điều bị cấm trước đây ở 10,5 (anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại) bây giờ được khuyến cáo thi hành (hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ): như đại đa số các lần xuất hiện, từ ethnê trong Mt có nghĩa chữ là Dân ngoại, lệnh này chỉ liên hệ đến Dân ngoại. Nhưng nếu Israel không còn là đối tượng của một sứ mạng đặc biệt, điều này không có nghĩa là Israel bị loại ra khỏi chân trời Phục Sinh. Rất có thể vào thời của cộng đoàn Mt, đã có một sự đoạn tuyệt giữa Giáo Hội và Hội đường; nhưng người Do-thái tiếp tục là một thực tại của cộng đoàn Mt. Nếu Israel bị kết án, mỗi người Do-thái vẫn có thể đến với cộng đoàn các môn đệ. Sẽ xuất hiện một cộng đoàn phổ quát trong đó mỗi người có một quan hệ trực tiếp và thân tình vừa với Đức Giêsu vừa với những người khác. Hoạt động của các môn đệ là một sự tiếp nối hoạt động của Đức Giêsu (4,23; 9,35; 11,1).
Để làm cho muôn dân thành môn đệ, hai việc các môn đệ phải làm là “làm phép rửa” nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi và “giảng dạy”. Căn tính mới của Thiên Chúa là căn tính Cha, Con và Thánh Thần, mà người môn đệ bắt đầu quan hệ với qua bí tích thánh tẩy. Lệnh truyền giảng dạy đã được đặt vào cuối Tin Mừng, có thể là vì Mt coi nhiệm vụ giảng dạy như là nhiệm vụ cao nhất trong Hội Thánh. Nhóm Mười Một không được phép mở trường, nhưng tiếp tục học ở “trường” Đức Giêsu: các ông phải giảng dạy, như chính Đức Giêsu đã giảng dạy. Cho dù các ông đã nhận lãnh bổn phận giảng dạy, các ông sẽ phải mãi mãi duy trì chân tính môn đệ, bằng cách nhìn nhận và chấp nhận uy quyền của Đức Giêsu, bằng cách bây giờ tin vào Đức Giêsu như tin vào chính Thiên Chúa.
Đề tài giảng dạy đã có sẵn: các lệnh truyền của Đức Giêsu. TM Mt chứa biết bao lời giảng dạy của Đức Giêsu (trong năm diễn từ), nhưng nhất là giáo huấn của Bài giảng trên núi đáng được xét đến. Trong lệnh truyền giáo, Đấng Phục Sinh đã nói với các môn đệ là “dạy bảo họ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (c. 20). Câu này chắc chắn qui về tất cả mọi lời nhắn nhủ, tất cả giáo huấn của Đức Giêsu trong TM Mt, nhưng đặc biệt qui về các lời nhắn nhủ trong Bài Giảng trên núi bởi vì Bài Giảng này chứa phần lớn những gì Đức Giêsu đã dạy các môn đệ và có một giọng thôi thúc người ta thực hiện các lời nhắn nhủ này (x. 7,13-27).
Tuy nhiên, Đấng nói đây không còn là vị Thầy trần thế nữa, nhưng là Đức Chúa Phục Sinh, “Đấng đã được ban cho toàn quyền trên trời dưới đất”. Bây giờ, với uy quyền của Đấng là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” trong mức viên mãn của sự Phục Sinh, Đức-Giêsu-đang-sống lấy lại giáo huấn của Bài Giảng trên núi và nhắc lại cho các thế hệ tương lai.
Mục tiêu không còn phải là chu toàn Lề Luật hoặc các Ngôn sứ, nhưng tuân giữ  “tất cả những gì Thầy đã truyền cho anh em”. Như thế, chính Đức Giêsu đặt mình vào vị trí của “Lề Luật hoặc các Ngôn sứ” (x. ngay ở 5,21-48 với các công thức “Anh em đã nghe [Luật] dạy người xưa / Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết”), Người là Đấng lập pháp tối cao, diễn tả trọn vẹn ý muốn của Thiên Chúa. Thái độ này khi đó và lệnh truyền hiện nay gửi trở lại với các công thức khác nhau của Cựu Ước trong đó chính Yhwh truyền lệnh cho dân Người là tuân giữ điều răn của Ngài (x. 2 Sb 33,8; Xh 34,32; Đnl 4,2; 12,14). Bây giờ Đức Giêsu thay thế Yhwh khi khẳng định ý muốn của Người. Và chắc chắn ý muốn thần linh này được tập trung nơi điều răn yêu thương, đỉnh cao và sự hoàn tất của Kinh Thánh (“Lề Luật hoặc các Ngôn sứ”: x. 22,40).
Tuy nhiên, hẳn là ta có thể nới rộng ý nghĩa của “tất cả những gì Thầy đã truyền cho anh em” cho cả bốn bài diễn từ khác, bởi vì tác giả đã xác định rằng chúng cũng là những “chỉ thị/dụ ngôn/những điều” của Đức Giêsu (x. công thức kết luận mỗi bài diễn từ: 11,1; 13,53; 19,1; 26,1; x. 7,28-29). Vấn đề ở đây là các giáo huấn của Thầy về các điều kiện và bản chất của đời sống đích thực của người môn đệ và về nẻo đường thánh ý chân thực của Thiên Chúa, “nẻo đường công chính” (21,32).
Khi nói “tất cả những gì Thầy đã truyền cho anh em”, Đức Giêsu xác định giáo huấn của Người là như một lệnh truyền, như một đòi hỏi cấp bách (trong một ngữ cảnh tương tự, Mc nói đến “tin mừng”: 13,10; 14,9; Lc thì nói đến “hoán cải và tha thứ tội lỗi”: 24,47). Đấng Phục Sinh biến lời của Đức Giêsu trần thế thành chuẩn mực cho Hội Thánh mọi thời và “cho đến tận thế”. Sứ điệp của Đấng Phục Sinh được coi là đồng nhất với sứ điệp của Đức Giêsu trần thế.
Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (20b). Egô meth’ hymôn eimi. Giới từ meta + thuộc cách có nghĩa là “với” nhằm diễn tả sự hiệp thông, sự hiệp nhất (cơ bản là riêng tư cá nhân), sự cộng tác, khi đó là tương quan của Đức Giêsu với những người khác: Đặc biệt 28,20 đáp lại khởi đầu Tin Mừng, khi mà Đức Giêsu được giới thiệu lúc chào đời như là Đấng mà “người ta sẽ gọi tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở - cùng - chúng-ta” (1,23). Ở đây chúng ta có một thể đóng khung rất lớn bung mở ra chiều kích vũ hoàn của bản thân Đức Giêsu trên toàn thể lịch sử nhân loại, đồng thời vẫn nêu bật sự bám rễ của Người về phương diện xác thịt trong thời gian và không gian. Thực tại Emmanuel này được diễn tả xuyên qua toàn thể Tin Mừng: Vào lúc chào đời của Đức Giêsu (1,23); trong  khi hoạt động, Người hiện diện giữa nhóm môn đệ (9,15; 26,18.20.36.38.40; x. “Đức Giêsu dẹp yên biển động”, 8,23-27; egô eimi, 14,27); những lần Người tiếp xúc với người tội lỗi (9,11) và qua cái chết ban ơn cứu chuộc (26,28; x. 1,21; 17,17 so với Mc 9,19). Mt 28,20 hẳn là câu trả lời chung cuộc cho câu hỏi ấy. Bây giờ Người hứa ở với họ mãi mãi.
Trong Cựu Ước, bằng những thuật ngữ tương tự Ta sẽ ở với các ngươi mãi mãi, Yhwh thường đảm bảo với một tín hữu, một ngôn sứ, một thủ lãnh, toàn dân, nhất là trong bối cảnh một cuộc sai phái, là Người sẽ hiện diện, nghĩa là giúp đỡ tận tình, với lòng từ bi thương xót, để cứu độ.  Đấng Kyrios ban cho các môn đệ cũng một đảm bảo như Yhwh đã ban cho dân Ngài trong Cựu Ước. Người không thế chỗ cho các môn đệ, nhưng sẽ hiện diện với họ để nâng đỡ họ bằng sức mạnh, không do các đức tính hay các thành tích của các môn đệ, nhưng do sự trung tín hữu hiệu của Đấng đã đưa các lời hứa trong Kinh Thánh đến chỗ hoàn tất. Khi nói “tất cả các ngày”, Đức Giêsu khẳng định Người sẽ ở thường trực và trọn vẹn với các môn đệ, và nhắm đến tận thế, “lúc kết thúc thời gian của thế giới này”.
+ Kết luận
Trên núi Galilê (28,16; x. 5,1), Đức Kitô Phục Sinh, đại diện toàn quyền của Thiên Chúa, tỏ mình ra như là Đấng mạc khải tối hậu của Thiên Chúa và Đấng lập pháp vĩnh viễn, nay cử các môn đệ đi đến với mọi dân tộc. Trong Cựu Ước, núi Sinai xuất hiện ra như là quả núi của mạc khải và của Giao ước, trên đó Thiên Chúa tự tỏ mình ra và thông ban các điều răn của Ngài (Xh 19,1– 24,11). Từ Sinai, dân Israel bắt đầu cuộc hành trình tiến về Đất hứa; trên núi Galilê, Đức Giêsu đích thân, trong tư cách Đấng Phục Sinh, tức đã đi vào trong đời sống Thiên Chúa, cho thấy đâu là mục tiêu của mỗi người trong “tất cả các dân tộc”.
Các lời kết thúc của Đức Giêsu đã đón nhận lấy các nội dung chính của Tin Mừng Mt về sứ vụ không biên giới của các môn đệ. Điều này còn cho thấy một lần nữa chiều hướng tổng hợp hướng về sứ vụ phổ quát như là nét tiêu biểu của Tin Mừng này.

V. GỢi ý suy niỆm
1. Nhóm môn đệ có một vết thương, gây ra do sự phản bội và sự biến mất của Giuđa. Họ không còn là mười hai, là là mười một. Vết thương này nhắc nhớ rằng tất cả đã bất trung với Đức Giêsu. Khi Người bắt đầu chuyến đi vào Thương Khó, các ông đã cắt đứt việc đi theo Người hoặc bằng cách chạy trốn (26,56) hoặc bằng cách giữ khoảng cách trong ba lần chối (26,69-75). Tuy nhiên, Đức Giêsu đã chữa lành vết đứt này. Người không gọi những môn đệ mới, nhưng gọi chính những người đã thất bại trong thử thách Khổ Nạn. Khi các môn đệ đến nơi hẹn, Đức Giêsu không hề thốt ra một lời trách móc, mà lại còn giao sứ vụ, là sứ vụ của chính Người.
2. Nhận biết và hoài nghi là hai thái độ có thể đi với nhau, như lời xin của cha đứa bé trong Tin Mừng Máccô: “Tôi tin! Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi” (Mc 9,24). Do đó, cần phải nhìn lại tất cả hoạt động công khai của Đức Giêsu dưới ánh sáng của biến cố Phục Sinh. Bây giờ Đức Giêsu mạc khải cho các môn đệ biết Người có toàn quyền, Người là Chúa tể không giới hạn, do quyền Chúa Cha ban cho Người. Người đã gọi các ông, các ông đã đi theo Người, đã nghe lời Người giảng dạy; Người đã chết trên thập giá, nhưng nay Người đang sống trước mắt các ông và là Chúa tể tuyệt đối, các ông hãy tin trọn vẹn vào Người.
3. Các môn đệ của Đức Giêsu phải ra đi để làm cho muôn dân “trở thành môn đệ” Người, chứ không phải trở thành môn đệ của chính mình. Các môn đệ mới sẽ cùng các ông bước theo Đức Giêsu, nghĩa là liên kết với Đức Giêsu, hiệp thông cuộc sống với Người, chấp nhận Người chỉ cho mình lộ trình phải theo, xác định hình thái và chiều hướng sống, ký thác trọn vẹn nơi Người.
4. Những người được nhận lời hứa hiện diện thường trực cho đến tận thế, không chỉ là các môn đệ ở trên núi Galilê ấy mà thôi. Chân trời mở rất rộng: Đấng Kyrios không hiện diện giữa dân Người như trong mầu nhiệm nội tại và trong thực tại thần bí của Người, nhưng đúng ra, tại mọi thời và trong mọi tình huống, Người ở bên cạnh dân để trợ giúp và an ủi họ, để khích lệ và kêu gọi họ, và Người luôn luôn tháp tùng hoạt động của các sứ giả Người. Mt không nhắc đến Thăng thiên để không đưa Đức Giêsu đi xa cộng đoàn của Người: Người tháp tùng họ trong cuộc hành hương trần thế “cho đến tận thế”.
5. Bài Tin Mừng này nêu bật quan hệ chặt chẽ giữa đời sống và công trình của Đức Giêsu với Cha Người trong Chúa Thánh Thần. Hơn Cựu Ước, Đức Giêsu loan báo vị Thiên Chúa có một người đối thoại trong bình diện thần linh: Chúa Con ở trước mặt Chúa Cha, và hai Đấng được liên kết với nhau, biết nhau, hiểu nhau và yêu thương nhau trọn vẹn và hoàn hảo nhờ Chúa Thánh Thần. Bí tích Rửa tội đưa chúng ta đi sâu vào trong vùng quyền lực của vị Thiên Chúa này.
Lm PX Vũ Phan Long, ofm
 
 

BaNgôi-164: LỄ KÍNH THIÊN CHÚA BA NGÔI - Lm Carôlô Hồ Băc Xái

Chủ Ðề: Thin Cha l tình yu
I. DẪn vào Thánh lỄ
Anh chị em thn mến
 

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là một trong ba mầu nhiệm căn bản của đức tin chúng ta, căn: BaNgoâi-164

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là một trong ba mầu nhiệm căn bản của đức tin chúng ta, căn bản vì có ảnh hưởng quan trọng trên cách sống đức tin của chúng ta. Nhưng hình như từ trước tới nay chúng ta chưa ý thức bao nhiều về tầm quan trọng ấy.
Trong Thánh lễ này, chúng ta xin cho Lời Chúa soi sáng cho chúng ta hiểu được tầm quan trọng ấy, và xin ơn Chúa giúp chúng ta sống đức tin của mình một cách tích cực hơn.

II. GỢi ý sám hỐi
     Thiên Chúa là Cha yêu thương. Nhưng chúng ta chưa mấy tin tưởng phó thác vào tình yêu Chúa.
    Chúa Con đã chịu chết để Thiên Chúa tha thứ tội lỗi chúng ta. Nhưng chúng ta không biết tha thứ cho nhau.
    Chúa Thánh Thần muốn mọi người sống yêu thương nhau như anh em cùng một Cha trên trời. Nhưng chúng ta thường nhìn người chung quanh như những kẻ xa lạ, thậm chí là những kẻ thù.

III. LỜi Chúa
1. Bài đọc I Ðnl 4, 32-34. 39-40
Ðây là phần kết diễn từ thứ nhất "của Môsê" nói với dân Do Thái trước khi họ vào Ðất Hứa.
Trước tiên Môsê lưu ý dân về sự uy quyền và lòng yêu thương của Thiên Chúa mà họ đã chọn tôn thờ: "Có dân nào đã nghe tiếng Thiên Chúa phán bảo từ giữa hỏa hào như các ngươi được nghe?... Có Thiên Chúa nào tìm lấy cho mình một nước giữa các nước khác bằng những dấu lạ, điềm thiêng... như mọi sự Yavê Thiên Chúa các ngươi đã làm cho các ngươi?..."
Rồi Môsê khuyên dân hãy trung thành tuân giữ những lệnh truyền của Thiên Chúa vừa uy quyền vừa yêu thương ấy.
2. Ðáp ca     Tv 32
Tv này được soạn sau thời lưu đày, ca tụng Thiên Chúa là Ðấng chủ tể của vũ trụ và lịch sử loài người, hằng yêu thương những kẻ kính sợ Ngài.
3. Bài đọc II  Rm 8, 14-17
Ðoạn thư này cho thấy vai trò của Ba Ngôi Thiên Chúa trong đời sống kitô hữu:
Kitô hữu là người được Chúa Thánh Thần hướng dẫn
Nhờ đó họ có thể sống thân phận làm Con như Ðức Giêsu
Họ có thể gọi Thiên Chúa là Cha "Abba"

IV. Gợi ý giảng
4. Tin Mừng Mt 28, 16-20
Ðoạn Tin Mừng này được chọn đọc trong thánh lễ hôm nay vì câu 19 "Làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần".
Trong lần gặp gỡ cuối cùng với các môn đệ trước khi về trời, Ðức Giêsu đã long trọng sai họ đi truyền giáo khắp nơi:
Kẻ sai họ đi là Ðức Giêsu phục sinh, Ðấng đã "được trao toàn quyền trên trời dưới đất"
Ngài còn hứa sẽ "ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".
Mục tiêu truyền giáo là làm phép rửa cho muôn dân "nhân danh Cha và Con và Thánh Thần" và dạy người ta tuân giữ những lệnh truyền của Ðức Giêsu.
* 1. "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế"
Ðôi khi ta không thể làm gì hơn cho một người đang đau khổ ngoài việc ở bên cạnh họ. Nhưng việc này thật quý giá, vì người đau khổ ấy cảm thấy được an ủi rất nhiều bởi tình bằng hữu của ta. Nếu biết có ai đang ở với mình để an ủi mình thì cuộc đời sẽ khác đi rất nhiều do không còn cảm thấy cô đơn nữa.
Ðức Giêsu bảo các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân và Ngài hứa sẽ ở cùng họ luôn mãi. Ngài chỉ hứa có bấy nhiêu, không có sự bảo đảm nào khác. Nhưng đó chính là sự bảo đảm quan trọng nhất Ngài có thể ban cho họ. Mặc dù Ngài không bảo đảm cho họ có một cuộc sống khỏi mọi ưu phiền, thậm chí Ngài cũng không bảo đảm là họ sẽ thành công, tuy nhiên họ ý thức rằng bao lâu Ngài còn ở với họ thì họ sẽ có can đảm và sức mạnh để có thể đương đầu với bất cứ khó khăn nào trước mặt.
Ý thức có Chúa ở cùng chúng ta không thay đổi được thế giới của chúng ta nhưng có thể cho chúng ta can đảm để đối diện thế giới ấy. Chúng ta không xin Chúa thay đổi thế giới hầu làm cho thế giới dễ chịu hơn. Chúng ta chỉ xin Ngài bảo đảm rằng Ngài sẽ luôn ở với chúng ta khi chúng ta phải đương đầu với những khó khăn. Việc Ngài luôn ở với chúng ta sẽ che chở chúng ta khỏi cảm giác cô đơn và thất vọng.
Chúa luôn ờ cùng chúng ta, nhưng chúng ta không luôn ở cùng Chúa. Những bận rộn trong cuộc sống đã cắt đứt liên hệ của chúng ta với Ngài, và khi liên hệ của chúng ta với Ngài bị cắt thì chúng ta phải mất mát thiệt thòi rất nhiều.
Vì thế, chúng ta cần bồi dưỡng ý thức có Chúa luôn ở cùng chúng ta, bồi dưỡng bằng cầu nguyện. (Viết theo Flor McCarthy)
* 2. Tin tưởng vào Chúa
Lời cầu nguyện dưới đây ghi trên một mảnh giấy được tìm thấy trong thi thể một người lính trẻ tử trận trong thế chiến thứ I:
"Chúa ơi, trước đây con chưa bao giờ thưa chuyện với Ngài, nhưng bây giờ con xin chào Ngài. Họ từng nói với con rằng Ngài không hiện hữu, và như một thằng điên, con đã tin họ. Nhưng đêm hôm qua, con đã nhìn lên trời từ một lỗ nhỏ trong hầm trú. Con đã thấy vẻ đẹp của những vì sao và con nghĩ rằng vũ trụ bao la biết chừng nào. Khi đó con biết rằng họ đã nói dối. Con không biết Ngài sẽ bắt tay con không khi Ngài và con gặp nhau. Dù sao, con cảm nghĩ rằng Ngài sẽ hiểu cho tất cả những sa ngã của con. Thật lạ lùng sao con phải đến nơi khủng khiếp này mới có thể biết được Ngài. Trước đây còn đã làm gì? Con chẳng biết nói gì hơn, nhưng con đoan chắc rằng con rất hạnh phúc khi hôm nay được biết Ngài. Con cảm thấy giờ zero sắp đến. Sắp có một trận đánh khủng khiếp. Biết đâu ngay đêm nay con có thể đến nhà Ngài. Con đang khóc! Lạ quá con đang khóc, vì trước đây chưa bao giờ con khóc như thế. Bây giờ con phải đi. Nhưng vì con đi để gặp Ngài nên con không sợ chết nữa. "
Tiếc là người lính trẻ này biết Chúa quá muộn. Nhưng muộn còn hơn không. Khi chúng ta tự cho phép mình tách lìa khỏi Chúa thì chúng ta phải chịu nhiều mất mát to lớn. Mà việc chúng ta tách lìa khỏi Thiên Chúa không phải là do lỗi của Ngài. Bài đọc I hôm nay cho thấy Thiên Chúa đã chủ động đến với con người để được gần gũi với con người như thế nào. Còn bài đọc II thì cho thấy mối liên hệ giữa Thiên Chúa với con người thân thiết đến mức nào. Chúng ta không chỉ là thành viên của dân Chúa mà còn là con cái Ngài. Nếu chúng ta liên kết với Ngài thì chúng ta trở nên những kẻ đồng thừa tự với Chúa Con trong Nước Trời. (Viết theo Flor McCarthy)
* 3. "Dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền"
Những số liệu về kết quả truyền giáo khiến chúng ta rất bi quan. Với tất cả mọi cố gắng và mọi phương tiện, mỗi năm có được khoảng nửa triệu người lớn gia nhập đạo Công giáo; nếu cộng thêm vào đó số trẻ em rửa tội nhờ cha mẹ là người công giáo khoảng 3 triệu rưỡi nữa, thì tổng cộng mỗi năm có thêm chừng 4 triệu người rửa tội. Trong khi đó chỉ ở nước Trung Hoa thôi mỗi năm có thêm 12 triệu dân, nghĩa là số dân Trung Hoa sinh ra trong một năm đã gấp 3 lần số người công giáo tăng thêm trên toàn thế giới. Năm 1960 số người công giáo toàn thế giới là 500 triệu, dân số Trung Hoa khoảng một tỉ rưởi, nghĩa là gấp 3 lần người công giáo trên toàn thế giới, năm 2000, số giáo dân hoàn cầu khoảng 600 triệu, còn dân Trung Hoa khoảng 2 tỉ rưỡi, nghĩa là giáo dân toàn cầu chỉ còn bằng 1/5 số dân của chỉ riêng một nước Trung Hoa. Ðó là ta đem tổng số giáo dân của toàn thế giới so sánh với dân số của chỉ một nước Trung Hoa thôi, chứ nếu so với tổng số nhân loại thì còn thể thảm hơn nữa. Cứ cái đà này thì giáo dân hiện này đã là một thiểu số trong nhân loại, mà càng về sau thì cái thiểu số đó càng nhỏ đi, tỉ lệ càng nhỏ đi hơn nữa. Như thế, có thể nói việc truyền giáo là một thất bại!
Nhưng đó là chúng ta tính trên những con số người được rửa tội, những con số rất bi quan. Còn nếu chúng ta nhìn vấn đề dưới một khía cạnh khác thì lại lạc quan. Chẳng hạn như mỗi khi một nơi nào đó trên thế giới gặp thiên tai như động đất, lũ lụt v. v. thì rất nhiều nước trên thế giới không phân biệt lập trường chính trị hay ý thức hệ lập tức gởi tiền bạc, lương thực, thuốc men, quần áo và nhân viên đến cứu trợ. Tinh thần bác ái xã hội của nhân loại càng ngày càng lớn thêm. Nhân loại cũng càng ngày càng biết tôn trọng phẩm giá con người hơn, càng ngày càng tôn trọng nhân phẩm của người phụ nữ hơn, càng ngày càng tôn trọng trẻ con hơn, càng ngày tôn trọng nhân quyền hơn... Do đâu mà có những sự tiến bộ đó? Chắc hẳn là do ảnh hưởng của tinh thần Tin mừng Kitô giáo. Nói như vậy không phải là dành công cho Kitô giáo một cách hồ đồ, mà có bằng chứng rõ ràng: trước khi Kitô giáo được truyền bá loài người đã sống như thế nào? Khi đó, đa thê là tình trạng đương nhiên: Một người đàn ông có quyền có nhiều vợ và muốn bỏ vợ lúc nào tuỳ ý. Khi đó người cha cũng có toàn quyền sinh sát trên con cái: sinh con ra nếu nó không phải là con trai, hay nếu nó tàn tật thì người cha có quyền giết chết nó đi không ai coi là tội. Khi đó chế độ nô lệ cũng là tình trạng đương nhiên: Người giàu có quyền mua những người nghèo về làm nô lệ phục dịch mình, người nô lệ ấy nếu còn mạnh khoẻ thì còn được nuôi dưỡng, còn nếu đã già yếu hay bệnh tật thì chủ có quyền giết đi hay đem bán cho người khác, người nô lệ được xem cũng như con trân con bò... Thế rồi Kitô giáo xuất hiện, giáo hội mở trường dạy học cho giới bình dân, Giáo Hội rao giảng vợ chồng nhất phu nhất phụ, GH lên án tục giết trẻ con, Giáo Hội vận động huỷ bỏ chế độ nô lệ, GH dạy những người chủ phải yêu thương các tôi tớ, GH dạy người giàu phải kính trọng những người nghèo... Vì tất cả đều là người, tất cả đều là con của Chúa và là anh em bình đẳng với nhau. Và dần dần, chế độ đa thê, chế độ nô lệ, tục lệ giết trẻ em biến mất... Dần dần người ta đề cao hơn tình huynh đệ, tình liên đới xã hội v. v... Những giá trị tinh thần của Kitô giáo ấy, ngày nay người ta coi là đương nhiên, kể cả những người không phải là Kitô giáo cũng đương nhiên sống theo những giá trị tinh thần ấy. Người hữu thần và người vô thần đều coi sống như thế là đúng, là phải, là đạo đức.
Những điều kể ra nảy giờ có ý nghĩa gì đối với ngay lời Ðức Giêsu nói trong bài Tin mừng hôm nay "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ"? Những điều trình bày phía trên muốn cho thấy rằng: nếu quan niệm truyền giáo chỉ là rửa tội cho người ta gia nhập cơ cấu hữu hình của GH thì truyền giáo quả là một thất bại lớn. Nhưng nếu quan niệm truyền giáo chính là truyền bá và làm thấm nhuần những giá trị Tin mừng vào môi trường mình sống thì truyền giáo vẫn còn là một thành công. Cả hai cách truyền giáo đều cần và bổ sung cho nhau. Nghĩa là GH ngày nay vẫn còn phải tiếp tục đón nhận những ai đến xin lãnh nhận bí tích Rửa tội và gia nhập vào cơ cấu hữu hình của GH, nhưng GH không nên tự mãn với việc Rửa tội, mà quan trọng hơn là làm cho tinh thần Tin mừng thấm nhiễm vào thế giới. Thiết nghĩ, ngày nay phải nhấn mạnh hơn vào cách thứ 2 này, bởi vì:
Việc dạy giáo lý, việc Rửa tội hầu như chỉ thích hợp hơn cho các linh mục tu sĩ. Vậy thì giáo dân khỏi phải truyền giáo ư? Không, giáo dân vẫn truyền giáo được bằng nếp sống tỏa chiếu tinh thần Tin mừng cho mọi người chung quanh mình.
Rồi có những hoàn cảnh không tiện nói về đạo, về Chúa, về Giáo Hội. Dù không tiện như thế nhưng ta vẫn có thể truyền giáo được bằng nếp sống của ta.
Và cũng có thể có những người không chịu Phép Rửa tôi được, không đi đến nhà thờ được, nhưng họ vẫn sống theo những giá trị tinh thần tốt đẹp của Tin mừng. Làm sao cho có được những người như thế cũng là một điều đáng mừng rồi. Thần học gia Karl Rahner đã gọi những người đó là những "Kitô hữu ẩn danh", nghĩa là tuy họ không có danh hiệu là Kitô hữu, nhưng thực chất họ sống y như một người Kitô hữu.
Có lẽ ngay từ ngày xưa Ðức Giêsu đã nghĩ tới cách truyền giáo đó và đề cao các đó khi Ngài giảng những dụ ngôn về Nước Trời: Nước Trời giống như men vùi trong thúng bột. Tuy men âm thầm không ai thấy nhưng nó dần dần làm cho cả thúng bột dậy men. Nước Trời giống như một cái hạt gieo xuống lòng đất, cho dù chủ có biết hay không, cho dù chủ đất thức hay ngủ, hạt giống ấy cứ ngày đêm đâm chồi mọc lên và cuối cùng thành một cây to lớn.
Công đồng Vaticanô để kêu gọi "Truyền giáo là bổn phận của mọi Kitô hữu". Với hoàn cảnh, khả năng và phương tiện của một người giáo dân, chúng ta có thể đáp lời kêu gọi của công đồng để truyền giáo bằng cách sống như một hạt men như một hạt giống giữa những người khác, nghĩa là bằng cuộc sống của mình, Chúng ta cho người ta thấy được sự tốt đẹp của tinh thần Tin mừng và người ta ham thích sống theo đó, dù ý thức hay vô ý thức cũng tốt. Cụ thể, chúng ta hãy sống như những lời kinh Hoà Bình mà thỉnh thoảng chúng ta vẫn đọc:
Ðem yêu thương vào nơi oán thù.
Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục.
Ðem an hoà vào nơi tranh chấp.
Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm.
Ðem niềm tin vào nơi nghi ngờ.
Ðem cậy trông vào nơi tuyệt vọng.
Ðem ánh sáng vào chốn tối tăm.
Ðem niềm vui vào nơi sầu thảm.
* 4. Thiên Chúa là Tình yêu
Thánh Gioan đã định nghĩa "Thiên Chúa là Tình Yêu".
Thiên Chúa là Tình yêu nghĩa là Thiên Chúa chính là nguồn gốc của mọi tình yêu, Thiên Chúa là mẫu mực cho mọi Tình yêu.
Thiên Chúa là Tình yêu có nghĩa là không có nơi nào Tình yêu được trọn vẹn hoàn hảo cho bằng Tình yêu nơi Thiên Chúa. Vì thế suy gẫm về Tình yêu Thiên Chúa có thể giúp ta rút ra được những gương mẫu cho Tình yêu loài người.
Vậy hôm nay, dịp lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta hãy suy gẫm về Tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa có những đặc điểm gì?
a/ Ðặc điểm thứ nhất là Tình yêu của Thiên Chúa không cô độc.
TC không phải chỉ có một Ngôi tự yêu thương mình, nhưng TC có Ba Ngôi yêu thương nhau.
Ðiều đó cho thấy Yêu thương phải có đối tượng. Yêu thương thì là phải yêu thương ai khác mình, ngoài mình. Yêu thương không có đối tượng là yêu thương chính mình, đó là ích kỷ, nếu không muốn nói là bệnh hoạn. Ngày xưa có một anh chàng tên là Narcisse không yêu thương ai hết ngoài chính bản thân anh ta, anh yêu mình đến nỗi một hôm nhìn thấy bóng dáng mình phản chiếu trên mặt nước một cái giếng, anh xúc động quá nhảy tùm xuống giếng để ôm lấy hình ảnh của mình và phải chết đuối. Về sau người ta đặt tên chứng bệnh tự yêu thương mình là chứng bệnh Narcisse.
Nhưng tại sao yêu thương cần phải có đối tượng? Thưa cần có đối tượng để mà chăm sóc, phục vụ, âu yếm, ban phát... nói tóm lại để mà cho đi. Yêu thương là cho đi. Khi ta yêu thương ai, ta thích cho người đó hoặc cái này hoặc cái nọ: khi thì cho một món quà, khi thì cho một sự chăm sóc, khi thì cho một cử chỉ âu yếm, yêu thương cao độ nhất là cho người ấy chính bản thân mình. Cho đi thì hạnh phúc hơn là lãnh nhận. Vì thế ai yêu thương thật thì thích cho đi, trái lại kẻ nào thích lãnh nhận hơn thì là dấu kẻ đó còn ích kỷ chưa yêu thương thật.
b/ Ðặc điểm thứ hai của Tình yêu Thiên Chúa là vừa có sự khác biệt vừa có sự hợp nhất.
Chỉ có một TC nhưng lại có Ba Ngôi. Tuy có 3 Ngôi nhưng chỉ là một TC.
Có câu thơ "Mình với ta tuy 2 mà 1, ta với mình tuy 1 mà 2".
Áp dụng vào Tình yêu Thiên Chúa thì câu này có thể đổi lại là: Mình với ta tuy 3 mà một", hơi gượng ép một chút nhưng cũng đồng một ý nghĩa.
Ý nghĩa đó là: TC có Ba Ngôi hoàn toàn riêng biệt nhau: Ngôi Cha là đấng tạo dựng vũ trụ, Ngôi Con là Ðấng cứu chuộc loài người và Ngôi Thánh Thần là Ðấng Thánh hóa loài người. Nhưng dù khác biệt nhau mà 3 Ngôi không đối nghịch nhau, trái lại hoàn toàn hợp nhất với nhau đến nỗi cả 3 chỉ là một TC.
Ðiều đó có ý nghĩa là: Yêu thương thì phải chấp nhận và tôn trọng những khác biệt của nhau. Tuy nhiên những kẻ yêu thương nhau thì cho dù khác biệt nhưng không được đối nghịch xung khắc với nhau, mà phải hoà hợp với nhau.
Xin tóm lại những gì đã phân tích được từ Tình yêu của TC Ba Ngôi:
Yêu thương là cho đi.
Yêu thương là chấp nhận và tôn trọng những khác biệt của nhau.
Yêu thương là dù có khác biệt nhưng vẫn hoà hợp với nhau.
* 5. Tình yêu hiệp nhất
Trong cuộc đời của nghị viên Rémaud có một giai thoại lý thú sau đây: Lần đầu tiên từ Pyrénées đến Paris với tư cách là nghị viên, ông Rémaud thuê phòng trong một khách sạn và trả tiền trước một tháng: 150 quan Pháp. Chủ khách sạn hỏi:
- Ông có cần biên nhận không?
- Không, không cần thiết. Thiên Chúa nhìn thấy hết chúng ta.
- Ngài tin vào Thiên Chúa ư?
- Lẽ dĩ nhiên! Ông cũng thế chứ?
- Tôi thì không, thưa ngài.
- A! Vậy xin ông cho tôi ngay một tờ biên nhận!
Người ta thường nói: "Tin đạo chứ đừng tin người có đạo". Quả thật, khi gặp người có đạo chúng ta thấy tin tưởng hơn, yên tâm hơn. Nhưng thực tế, không hẳn là như vậy! Ở đây, chúng ta muốn nói đến niềm tin vào Thiên Chúa, tin các mầu nhiệm trong đạo. Ðã tin là có liều lĩnh, mạo hiểm. Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm cao sâu, trí khôn con người khó mà hiểu thấu.
Chúng ta thường dùng một vài hình ảnh loại suy để hiểu một phần nào mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Ðó là hình ảnh của nước. Nước có thể hiện hữu dưới ba dạng: thể hơi, thể rắn, và thể lỏng. Hoặc ba nốt nhạc tạo nên một hợp âm duy nhất. Tuy nhiên tất cả những so sánh ấy không tránh khỏi thiếu sót, vụng về khi nói về Thiên Chúa. Chỉ có Ðấng ở trong cung lòng Thiên Chúa, Ðức Giêsu Kitô đã vén mở cho chúng ta biết có một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị: là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi khác nhau nhưng cùng một Thiên Chúa.
Câu Kinh Thánh nổi tiếng về Ba Ngôi chính là "Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép Rửa cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần" (Mt. 28, 19). Và hình ảnh đặc trưng nhất về Ba Ngôi được mạc khải khi Ðức Giêsu chịu phép rửa: Một hình chim bồ câu bay lượn trên mình Người, và một tiếng từ trời phán: "Con là Con Ta yêu dấu" (Mc. 1, 11). Ðó là hình ảnh sống động về chân dung của Chúa Ba Ngôi. Theo thánh Tôma Aquinô thì trong cuộc Hiển Dung, tất cả Ba Ngôi đã xuất hiện: "Chúa Cha trong tiếng nói, Chúa Con trong Con người, Chúa Thánh Thần trong ánh mây sáng chói".
Thánh Luca nhìn lịch sử cứu độ như một viễn cảnh mang chiều kích Ba Ngôi: Thời Cựu Ước là kỷ nguyên của Chúa Cha, thời loan báo Tin mừng là kỷ nguyên của Chúa Con, và thời hậu Tin mừng mà Công vụ Tông đồ ghi lại là kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần. Kinh Tin Kính duy trì mẫu tuyên xưng này: Chúa Cha sáng tạo, Chúa Con cứu chuộc, và Chúa Thánh Thần ban nguồn sống.
Tin vào mầu nhiệm Ba Ngôi là chúng ta dựa vào thế giá của Ðức Giêsu, Người là sự thật (x. Ga. 8, 32) nên Người chẳng lừa dối ai.
Tin vào mầu nhiệm Ba Ngôi là chúng ta sống hiệp thông, chia sẻ và yêu thương. Vì "Ai ở trong Tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy" (1Ga. 4, 16).
Tin vào mầu nhiệm Ba Ngôi là chúng ta làm dấu thánh giá trên thân xác, là in dấu Chúa Ba Ngôi trên cuộc đời mình, là họa lại hình ảnh Ba Ngôi trong tâm hồn tha nhân.
Lạy Ba Ngôi chí thánh, Thiên Chúa là một cộng đồng Tình yêu Hiệp nhất. Xin cho Giáo hội tìm thấy bản tính của mình trong bản tính của Chúa Ba Ngôi. Xin cho chúng con hiệp nhất trong tình yêu, để minh chứng cho Tình yêu Hiệp nhất của Chúa. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

V. LỜi nguyỆn cho mỌi ngưỜi
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm của tình yêu, một tình yêu sáng tạo cứu độ và thánh hóa chúng ta; một tình yêu muốn hiệp thông với tất cả mọi người. Chúng ta hãy dâng lên Ba Ngôi lời cầu xin của chúng ta:
1. Hiệp thông được phát xuất từ Thiên Chúa Ba Ngôi, và Hội thánh phải qui hướng về Thiên Chúa Ba Ngôi / Chúng ta hãy cầu nguyện cho Hội thánh luôn là dấu chỉ và dụng cụ của tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi.
2. Thế giới và vũ trụ cũng phát xuất từ tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi / Chúng ta hãy cầu xin cho các nhà cầm quyền cũng như mọi dân tộc / biết nhìn nhận Thiên Chúa là nguồn gốc và là cùng đích của mọi người mọi vật.
3. Trong xã hội còn đầy dẫy những chia rẽ, bè phái, kỳ thị, hận thù, giết hại nhau / Chúng ta hãy cầu xin cho mọi người sớm nhận biết rằng / người trong bốn bể đều là anh em con Một Chúa trên trời.
4. Hội thánh có sứ vụ đem mọi người về hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi / Chúng ta hãy cầu xin cho cộng đồng xứ đạo chúng ta luôn sống hiệp thông với Chúa và với nhau / để có thể đem mọi người chung quanh về hiệp thông trong gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi.
Chủ tế: Lạy Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần Ba Ngôi chí thánh luôn hiệp thông với nhau; xin cho mỗi người chúng con biết dẹp bỏ mọi chia sẻ, kỳ thị, hận thù; để chúng con luôn sống hiệp thông với nhau, như anh em trong một gia đình Thiên Chúa. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
Lm Carôlô Hồ Bặc Xái
 
 

BaNgôi-165: LỄ CHÚA BA NGÔI - Lm. Augustine, SJ

Ðặt mình trước Ba Ngôi Thiên Chúa để được hoán cải.
 

Tất cả chúng ta hãy còn nhớ, biến cố lớn nhất đang được khơi động trong Giáo Hội là đón: BaNgôi-165

Tất cả chng ta hy cịn nhớ, biến cố lớn nhất đang được khơi động trong Giáo Hội là đón mừng sinh nhật 2000 năm Chúa Giêsu sinh ra để cứu độ trần gian. Như Ðức Gioan Phaolơ II khẳng định trong Tông Thư Tiến Tới Thiên Niên Kỷ Thứ Ba "Cơ cấu chủ đề của ba năm này tập trung vào Ðức Kitơ, Con Thin Cha lm người, chỉ có thể mang tính thần học Ba Ngôi" (số 39):
Năm thứ nhất, 1997 dành cho suy tư về Ðức Kytơ, Ngơi Lời của Cha Cha, lm người do hoạt động của Chúa Thánh Thần (số 40).
Năm 1998, năm thứ hai của giai đoạn chuẩn bị, đặc biệt dành cho Chúa Thánh Thần? Ðấng đồng bản tính với Chúa Cha và Chúa Con, trong mầu nhiệm tuyệt đối của Thiên Chúa vừa là một vừa là ba, là Ngôi vị tình yu, tặng phẩm vĩnh hằng, nguồn mạch vĩnh cửu của mọi n huệ Cha ban trong trật tự sng tạo, nguyn lý trực tiếp v theo một nghĩa no đó, là chủ thể của sự thông truyền mà Thiên Chúa tự mình thực hiện trong trật tự của n sủng (số 44).
Năm 1999, năm thứ ba và là năm cuối cùng, được dùng để mở rộng các chân trời cho các tính hữu theo tầm nhìn của chính Ðức Kitơ: hướng đến Cha trên trời? bởi Ngài Ðức Kitơ đ được phái đến và trở về cùng Ngài. (x. Ga 16,28 - số 49)
 Trong Năm Toàn Xá 2000, chúng cũng đ cĩ cơ hội nghe qua hoặc tham dự qua những Ði Truyền Thanh Truyền Hình, Ðức Thnh Cha Gioan Phaolơ Ðệ Nhị l vị Gio Hồng đầu tiên đ đích thân chủ sự Nghi Lễ Mở Cửa Thánh tại cả Bốn Ðền Thờ Cả ở Roma: ÐTC đ mở Cửa Thnh tại Ðền Thờ Thnh Phrơ trước Thánh lễ Nửa Ðm Ging Sinh 24 thng 12 năm 1999, Ðền Thờ Thnh Gioan Lateranô vào chiều Ngày Lễ Giáng Sinh 25 tháng 12 năm 1999, và Ðền Thờ Ðức B Cả vo ngy mng 1 thng Ging năm 2000. Vào lúc 11 giờ trưa ngày 18 tháng Giêng 2000, ngày bắt đầu tuần lễ Cầu Nguyện cho Sự Hiệp Nhất Kitô, ÐTC Gioan Phaolơ II đ chủ sự nghi lễ Ðại Kết, mở Cửa Thnh tại Ðền Thờ Thnh Phaolơ Ngoại Thnh. Tất cả những Gio Hội Kitơ, hay những Cộng Ðồn Gio Hội Kitơ, khơng Cơng Gio, đều đ được mời gởi đại diện tham dự nghi thức nầy. Hng Tin Cơng Gio Thụy Sĩ (Apic), hơm thứ Hai, mng 10 thng Giêng 2000, đ loan bo trước rằng Hầu Như Tất Cả các Giáo Hội Kitô, hay cộng đồng giáo hội Kitô, đều gởi đại diện tới tham dự.
Ð 2000 năm nay, Tại sao Ðức Kitơ được phái đến với loài người và Người đến để làm gì? Ðức Gioan Phaolơ trả lời như sau:
"Ở đây chúng ta đụng chạm đến điểm chính yếu làm cho Kitô giáo khác hẳn với các tôn giáo khác, trong đó có diễn tả ngay từ đầu việc con người tìm kiếm Thin Cha. Nơi Kitô giáo điểm khởi đầu đó là sự nhập thể của Ngôi Lời. Ở đây, không chỉ có việc con người tìm kiếm Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa đích thân đến nói với con người về chính Ngài và chỉ cho con người con đường cho phép con người đi tới Ngài? Do đó, Ngôi Lời Nhập Thể là việc thực hiện khát vọng có nơi tất cả các tôn giáo của nhân loại: sự thực hiện này là công việc của Thiên Chúa và nó vượt lên trên mọi mong đợi của con người. Ðy l một mầu nhiệm n sủng" (số 6)
Mục tiêu hàng đầu của Năm Thánh 2000, theo Ðức Gio Hồng Gioan Phaolơ II, l củng cố đức tin và chứng tá của các Kitô hữu. Do đó cần phải tạo ra nơi tất cả các tín hữu niềm ước ao nên thánh thực sự, lịng ước muốn mạnh mẽ hoán cải và đổi mới bản thân, trong một bầu khí cầu nguyện chăm chỉ hơn và liên đới trong việc tiếp đón người khác, đặc biệt những người nghèo khó nhất (số 42). Hy nghe một giáo dân là Mai Trúc (Maria Treu, người Phi Luật Tân) chia sẻ kinh nghiệm hoán cải của chị như sau
Gương người giáo dân hoán cải
"Tôi may mắn có được tất cả những điều tôi ước ao để được hạnh phúc: gia đình hồ thuận yu thương, nhiều bạn, nhiều sinh hoạt, nhiều cơ hội đi đó đây, tham gia đủ môn thể dục thể thao, tham dự những buổi hoà tấu, dạ hội, và cịn tích cực hoạt động giữa những nhóm sinh viên. Với tôi, Thiên Chúa có đó nhưng chỉ khi nào cần tôi mới chạy đến với Ngài, bình thường tôi quên Ngài để lo chuyện ring tơi.
 Thế rồi, một hôm tôi được một bạn thân rủ đi dự cuộc họp của phong trào hiệp nhất thế giới của giáo dân. Chính ở đó tôi khám phá ra Thiên Chúa là Tình Yu. Ngi thương tôi trong tình trạng hiện cĩ của tơi. Chính tơi cĩ thể yu thương đồng loại bằng tình thương của Ngài. Thế là cuộc mạo hiểm mới bắt đầu để sống Tin Mừng, khởi sự với những người trong gia đình tơi.
Lần đầu tiên tôi gặp ông nội tôi khi tôi 18 tuổi. Lý do vì ơng nội tơi đ bỏ rơi bà tôi trong cảnh tay xách nách mang, gồm tất cả 5 người con mà bố tôi là con lớn nhất. Gia đình tơi chẳng bao giờ nhắc đến nội, tôi hiểu đó là để tránh gợi lại nỗi đau xót cho gia đình.
Nhưng càng sống Tin Mừng, tôi càng cảm thấy phải tỏ lịng yu thương nội. Tôi thực bị sốc khi tới thăm nhà nội mà chỉ thấy nội có nơi tủ chè một đĩa, một xiên và một muỗng. Tức là nội một mình như bị chôn vùi trong nhà dưỡng lo! Tơi thực khơng hiểu được tại sao gia đình tơi cơng gio m lại xử đối với nội như vậy. Nhưng tôi không dám nghĩ thêm để khỏi phê phán một ai. Tơi tiếp tục một mình thăm nội, một mình ra sức an ủi nội trong cảnh cơ đơn, bóc trái cam như nội thích, cắt miếng thịt cho vừa miệng, thỉnh thoảng mua cho nội chai rượu nho, dắt nội dọc theo hành lang và mang đồ về nhà giặt cho nội.
Từ từ cố gắng về phía tơi trở nn hồn nhin v trở thnh ngơn ngữ của tình cảm của tơi đối với nội. Hai ông cháu hiểu nhau và chia sẻ cho nhau từ thâm sâu. Ít lâu sau tôi cảm thấy tình cảm ấy lan rộng ra trong gia đình tơi.
 Khi nội chết, tôi không có ở nhà nhưng nội không ra đi đơn độc vì cc con của nội đều tới thăm viếng và đặc biệt một người nhiều năm đ muốn bỏ nội luơn thì đ ở lại với nội tới pht cuối cng.
Ring tơi cịn cĩ những biến cố khc nữa đẩy tôi vào sâu hơn trong cuộc mạo hiểm cho Tin Mừng. Hôm đó, tôi đang ngồi học thì thình lình xảy đến một cơn động đất dữ dội. Tất cả vùng đất tôi đang ở đều rơi vào cảnh hoang tàn. Cả một loạt phố phường, đồi núi bị sập, trong đó ngôi nhà tôi đang ở cùng chung một số phận. Tôi thoát chết nhưng người em gái sinh đôi của tơi số phận ra sao?
Ngày hôm sau cơn động đất, tôi đ uổng cơng đi tìm em tơi dọc theo hnh lang nh thương nơi những người bị thương nằm la liệt.
Em tôi không có ở đó nhưng đang nằm ở giữa những người đ chết. Hai chị em từng sống gắn bĩ với nhau từ ngy cịn trong dạ mẹ. Nay em tơi khơng cịn nữa, sao tơi cĩ thể đứng vững được! Tôi chỉ cịn cĩ thể cậy dựa vo Cha v tình yu của Ngi m thơi. Vậy tơi đ xin Cha đừng để trái tim tôi đập một cách uổng công vô ích, không đáp lại tình yu Ngi. Do đó tôi đ đến ở Li-băng từ chín năm nay, để làm chứng cho tình yu Thin Cha giữa một thế giới cịn đầy hằn thù. Thiên Chúa đ yu thế gian đến nỗi đ ban Con Một Ngi (Ga 3,16). Chỉ cĩ nơi tình yu bền vững đó, tôi tìm được ơn bình an để làm chứng cho Chúa."
Hốn cải để trở thành môn đệ Ðức Gisu Phục Sinh
Lời chia sẻ trên giúp làm sáng tỏ mục tiêu hàng đầu của Năm Thánh 2000, theo Ðức Thnh Cha Gioan Phaolơ II, l củng cố đức tin và chứng tá của các Kitô hữu. Ta đọc được nơi chị giáo dân Mai Trúc ước muốn mạnh mẽ để hoán cải và đổi mới bản thân. Theo hướng nào? Theo cũng con đường tình yu m Ðức Gisu đ đi với chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo, khởi sự từ ông nội bị bỏ rơi đến nạn nhân của chiến tranh tại Li-băng.
Bài Tin Mừng hôm nay chủ yếu cũng nói về ơn hoán cải đó với kiểu nói tế nhị là "Hy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Ðức Gisu" (Mt 28,19)
Ðức Gisu Phục Sinh hiện ra trn một ngọn ni ở Galil, đó là màn hiện ra quan trọng đối với toàn bộ kế hoạch của Tin Mừng Mátthêu. Núi (xem Mt 5,1; 17,1) và Galilê (xem Mt 4,12-16) từng là địa điểm nổi bật của ơn Mạc Khải. Mục đích của cuộc hiện ra chót này không chỉ để nhắc lại mọi điều Ðức Gisu đ dạy, nhưng để truyền thông những điều đó cho muôn dân trên thế giới. Ðến lượt muôn dân cũng phải dấn thân vào cuộc biến đổi đón nhận ơn hoán cải để trở thành môn đệ (c.19) của Ðức Gisu Phục Sinh.
Chưa hết, cuộc dấn thân này cịn phải được đẩy tới cùng và muôn dân phải được đưa vào sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần (c.19). Nhờ vậy chính họ cũng sẽ được bảo đảm sống sự sống của chính Ðức Gisu Phục Sinh như Ðấng Thin Cha ở cng chng ta (xem Mt 28,20 v 1,23).
Một số cu hỏi gợi ý
    Qua lời chia sẻ của chị giáo dân Mai Trúc người Phi Luật Tân, bạn nghĩ gì về cuộc mạo hiểm để sống Tin Mừng của chị ? Về ơn hoán cải lây lan ra giữa các thành phần của gia đình chị ? Về chọn lựa của chị l đi đến với dân Li-băng để bày tỏ tình yu Thin Cha?
    Bạn nghĩ gì về mục tiu hng đầu của năm thánh 2000, theo Ðức Thnh Cha Gioan Phaolô II, là củng cố đức tin và chứng tá của các Kitô hữu ? Là tạo nên nơi tất cả các tín hữu niềm ước ao nên thánh thực sự, lịng ước muốn mạnh mẽ hoán cải và đổi mới bản thân ? Là chăm chỉ cầu nguyện và liên đới trong việc đón tiếp người khác, đặc biệt những người nghèo khó nhất?
    Bạn nghĩ mục tiêu nói trên như Ðức Thnh Cha đề nghị, có liên quan gì với bi Tin Mừng hơm nay chăng ? Bài Tin Mừng cho thấy Ðức Gisu Phục Sinh phi cc mơn đệ lên đường sứ vụ, để làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Người. Bạn nghĩ làm thế nào để trở thành môn đệ Ðức Gisu?
Lm. Augustine, SJ
 
 

BaNgôi-166: THIÊN CHÚA BA NGÔI - Lm Phạm Thanh Liêm, SJ

Dnl.4, 32-34.39-40; Rm.8, 14-17; Mt.28, 16-20
 

Chúa Nhật ngay sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Giáo Hội hoàn vũ mừng lễ Thiên: BaNgôi-166

Chúa Nhật ngay sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Giáo Hội hoàn vũ mừng lễ Thiên Chúa Ba Ngôi. Đức Giêsu là Đấng mặc khải Thiên Chúa và con người. Chính nhờ Đức Giêsu, mà con người biết Thiên Chúa Ba Ngôi Vị.
1. Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Thiên Chúa Duy Nhất
Trong sách Đệ Nhị Luật, người Do Thái đã nhận biết Thiên Chúa là Đấng duy nhất: “Nghe đây hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đấng duy nhất. Hãy yêu mến Thiên Chúa hết linh hồn hết trí khôn hết sức lực ngươi” (Dnl.6, 4-5). Chính Thiên Chúa là Đấng đã dẫn dân Do Thái ra khỏi Aicập qua Môsê. Thiên Chúa đã đồng hành với dân Do Thái qua cột mây lửa trong sa mạc. Trên núi Sinai, Thiên Chúa đã ký kết giao ước với dân và đã ban thập giới như điều kiện giao ước. Thiên Chúa tỏ lộ Ngài cao cả siêu việt và là Đấng yêu thương dân Do Thái vô cùng.
Trong Tân Ước, khi người ký lục hỏi Đức Giêsu về giới răn trọng nhất, Đức Giêsu đã trích dẫn Ngũ Kinh để trả lời cho ông và các bạn của ông ta. “Giới răn trọng nhất là: Hỡi Israel hãy nghe đây. Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đấng duy nhất, hãy yêu mến Thiên Chúa hết linh hồn hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Giới răn thứ hai là: hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi” (Mc.12, 29-31). Đức Giêsu đã dạy cùng một điều mà người Do Thái đã được dạy dỗ và đã biết. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, Đấng trổi vượt trên tất cả. Thiên Chúa là Đấng sáng tạo nên tất cả, là Cha của tất cả. Ngài là Thiên Chúa của tất cả mọi dân tộc, không gì có mà lại không do Thiên Chúa mà có. Thiên Chúa là Đấng Quan Phòng, Ngài tạo dựng và làm cho tất cả tiếp tục tồn hữu. Thiên Chúa làm mưa xuống cho người công chính cũng như kẻ bất lương. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người.
2. Đức Giêsu Mạc Khải về Thiên Chúa
Khi hài nhi Giêsu được sinh ra tại Bêlem, không ai biết Ngài là Thiên Chúa, không ai biết Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Ngay khi Đức Giêsu đi rao giảng, cả các tông đồ là những môn đệ thân tín của Ngài, cũng chưa nhận biết Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Họ có cùng ý nghĩ với dân chúng, Đức Giêsu là một tiên tri, và một cách đặc biệt hơn, Ngài là Đấng Kitô (Mt.16, 16). Khi Đức Giêsu chết trần trụi ô nhục trên thập giá, các tông đồ chán nản sợ sệt, thậm chí có môn đồ đã bỏ về quê (hai môn đệ trên đường Emmau). Những người giết Đức Giêsu cũng không biết Ngài là Thiên Chúa nhập thể, vì nếu họ biết đâu họ có giết Ngài. Chính Đức Giêsu trên thập giá cũng nghĩ rằng người ta không biết về Ngài một cách thực sự nên đã xin với Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết” (Lc.23, ). Mầu nhiệm nhập thể là mầu nhiệm quá cao vời mà lý trí con người không thể suy biết được trước khi Đức Giêsu sống lại từ cõi chết.
Khi Đức Giêsu phục sinh từ cõi chết, các tông đồ nhận ra Ngài là Đấng rất đặc biệt. Ngài đến từ Thiên Chúa, Ngài là Đấng Kitô, Đấng Thiên Sai, và có lẽ còn là Đấng có gì đặc biệt hơn nữa. Nhờ Chúa Thánh Thần, các tông đồ nhớ lại những gì Đức Giêsu đã nói, đã dạy dỗ khi còn ở với các ông trên trần thế, về quyền tha tội (Mc.2, 7), về trước khi có Abraham đã có Ngài (Ga.8, 58), về việc Ngài và Cha là một (Ga.10, 30), về việc Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa (Mc.14, 62). Các tông đồ nhận ra Đức Giêsu là người rất đặc biệt của Thiên Chúa, là Đấng thuộc hoàn toàn về Thiên Chúa, đến độ có thể nói, Ngài là Đấng ngang hàng với Thiên Chúa.
Con người đứng trước mầu nhiệm Đức Giêsu, đã cố gắng tìm những từ ngữ để diễn tả thực tại này, chẳng hạn như nói: Đức Giêsu là Lời Thiên Chúa nhập thể, Đức Giêsu là Con Một Thiên Chúa. Công đồng chung Nicea (325) dạy: Đức Giêsu là Đấng “đồng bản tính” với Thiên Chúa. Nói bằng một ngôn từ khác, Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, Đức Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể. Những thánh công đồng chung tiếp theo sau đã tiếp tục dạy về thực tại Đức Giêsu. Đức Giêsu là Đấng đồng nhất với Thiên Chúa, là một với Thiên Chúa. Không phải Đức Giêsu là Thiên Chúa “khác” độc lập với Thiên Chúa, nhưng Ngài kết hiệp với Thiên Chúa đến độ chỉ là một Thiên Chúa. Từ ngữ ngôi vị (persona) của ngày hôm nay làm cho người ta tưởng rằng Đức Giêsu là một thực tại hiện hữu độc lập bên cạnh Thiên Chúa, như thể nhiều người khác biệt nhau nhưng đều có cùng bản tính người. Người ta không được hiểu như vậy về Thiên Chúa. Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là một Thiên Chúa nhưng không là ba thực tại hiện hữu độc lập khác nhau. Khi nói Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là Ba Ngôi Vị Thiên Chúa, là chúng ta đang diễn tả nét khác nhau giữa Thiên Chúa Cha và Đức Giêsu, giữa Thiên Chúa Cha và Thánh Thần, và giữa Đức Giêsu và Thánh Thần.
3. Thánh Thần là Thiên Chúa
Chỉ nhờ Đức Giêsu mà người ta nhận ra Thánh Thần là một ngôi vị Thiên Chúa. Đức Giêsu nói về Thánh Thần như một ngôi vị. Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ, Đấng Bầu Chữa, Đấng đến từ Thiên Chúa Cha, Đấng được Cha và chính Đức Giêsu sai gởi tới (Ga.14, 16.26; 15, 26; 16, 13-16).
Ngay khi còn tại thế, Đức Giêsu đã giảng dạy về Thánh Thần như vậy, nhưng các tông đồ chưa hiểu được, phải chờ đến khi Đức Giêsu phục sinh và với tác động của Thánh Thần, các tông đồ mới nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể; và một khi nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, các tông đồ mới nhận ra Thánh Thần là Ngôi Vị Thiên Chúa. Chính nhờ Đức Giêsu và nhờ Thánh Thần, mà con người mới hiểu biết hơn về Thiên Chúa, mới biết Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị.
Thiên Chúa sáng tạo mọi loài, tạo dựng mỗi người qua cha mẹ mỗi người. Thiên Chúa nhập thể làm người để mặc khải cho con người biết hơn về Thiên Chúa, để chỉ cho con người biết sống như thế nào để hạnh phúc thật, để trở nên con cái đích thực của Thiên Chúa. Thánh Thần được sai đến để ở với con người, để thánh hóa con người, để làm con người thuộc về Thiên Chúa. Thiên Chúa, Đức Giêsu và Thánh Thần là Ba Ngôi Vị khác biệt nhau, nhưng vẫn luôn là một Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng duy nhất trong ba ngôi vị.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
    Bạn có cảm thấy Thiên Chúa gần gũi với bạn không? Xin chia sẻ kinh nghiệm.
    Bạn có cảm nhận gì về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi?
    Bạn thường cầu nguyện với ngôi vị nào hơn cả? Bạn có biết tại sao?
Lm Phạm Thanh Liêm, SJ
 
 

BaNgôi-167: LỄ CHÚA BA NGÔI - Lm. Ignatiô Hồ Thông

Mặc khải Một Chúa Ba Ngôi không thuộc phạm vi của Cựu ước. Cựu Ước bận lòng gìn giữ sự : BaNgôi-167

Mặc khải Một Chúa Ba Ngôi không thuộc phạm vi của Cựu ước. Cựu Ước bận lòng gìn giữ sự tinh tuyền độc thần giáo không ngừng bị đe dọa bởi ảnh hưởng của các tôn giáo chung quanh.
Tuy nhiên, các bản văn Kinh Thánh để lộ ra vài tiên cảm về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi nầy. Tầm quan trọng được ban cho Thần Khí Thiên Chúa, ngôi vị hóa dần dần của Ngôi Lời, đoạn của Đức Khôn Ngoan, nhất là trong những tác phẩm muộn thời, đặt trên lộ trình mặc khải về một Chúa với Ba Ngôi vị.
Ngôi Lời Nhập Thể mặc khải Chúa Cha và Chúa Thánh Thần và sự hiệp nhất của hai Ngôi Vị nầy với Chúa Con trong một sự hiệp thông của tình yêu, một sự tuôn tràn liên tục, một sự đổi trao thường hằng, vì thế bản tính của Thiên Chúa là sự trao ban. Chính nhờ tình yêu tự hiến của Chúa Con và sự sai phái của Chúa Thánh Thần mà sự trao ban nầy giúp nhân loại được tham đự vào cuộc sống Ba Ngôi nầy.
Như vậy mặc khải Chúa Ba Ngôi là một dữ kiện đặc biệt của Ki tô giáo, phân biệt với hai tôn giáo độc thần khác, Do thái giáo và Hồi giáo.
Từ ngữ “Một Chúa Ba Ngôi” xuất hiện lần đầu tiên tại một văn sĩ thuộc thế kỷ thứ hai, Théophile d’ Antioche.
Chúa Nhật thứ nhất sau lễ Ngũ Tuần được liên kết khá sớm với việc cử hành Thiên Chúa Ba Ngôi. Lễ nhớ tôn kính Thiên Chúa Ba Ngôi được cử hành vào thế kỷ thứ bảy. Được ấn định trong lịch Phụng Vụ, việc cử hành nầy dần dần được xem như một ngày lễ đặc biệt. Từ thế kỷ thứ mười, lễ nầy được cử hành long trọng trong nhiều giáo hội địa phương. Vào năm 1334, Đức Thánh Cha Gioan XXII chấp nhận cách dùng nầy cho thành đô Rô-ma. Từ đó, lễ nầy được phổ biến khắp Giáo Hội hoàn vũ.
Vào ngày lễ Chúa Ba Ngôi nầy, ba bài đọc làm nổi bật dần dần Ba Ngôi Thiên Chúa.
Đnl 4: 32-34, 39-40
Bài đọc I, trích từ sách Đệ Nhị Luật, ca ngợi sự cao vời khôn sánh của Đức Chúa, Thiên Chúa duy nhất, siêu việt và hoàn vũ. Đây là dung mạo của Chúa Cha.
Rm 8: 14-17
Trong bài đọc II được trích từ thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô cho thấy tác động biến đổi của Chúa Thánh Thần trên cuộc sống của người Ki tô hữu.
 Mt 28: 16-20
Bài đọc III là phần kết thúc Tin Mừng Mát-thêu: Chúa Con Phục Sinh công bố mình là chúa tể hoàn vũ, nguyên lý ơn cứu độ cho muôn dân muôn nước và thường hằng phù trợ Giáo Hội của Ngài.
 BÀI ĐỌC I (Đnl 4: 32-40)
Bài đọc I được trích từ sách cuối cùng của bộ Ngũ Thư, được gọi là sách Đệ Nhị Luật, hay đơn giản là sách “Luật thứ hai”. Tuy nhiên, sách không lập lại Luật được diễn tả trong các sách trước đó (sách Xuất Hành, sách Dân Số, sách Lê-vi); sách nầy đánh dấu những phát triển mới để thích ứng luật vào hoàn cảnh của một dân đang định cư và thậm chí đã an cư lập nghiệp đến nỗi có nguy cơ quên ơn gọi của mình.
Bản hiến chương được làm mới lại nầy, được hư cấu trên môi miệng của ông Mô-sê, muốn nói lên rằng nó chỉ là khai triển luật của ông Mô-sê. Ông Mô-sê được cho là đang ngỏ lời với dân Ít-ra-en trước khi dân tiến vào Đất Hứa, nhưng thật ra đây là những thế hệ sau nầy được mời gọi trung thành với Đức Chúa của mình.
 Sách Đệ Nhị Luật có chủ ý nhấn mạnh trên những nền tảng lịch sử và thần học của Luật.
 Đoạn trích mà chúng ta đọc hôm nay thật là có ý nghĩa về phương diện nầy.
 1. Nền tảng lịch sử của Luật 4: 32-34)
Bản văn rất nổi tiếng, được soạn thảo theo văn phong đầy cảm xúc, ca ngợi việc Chúa chọn dân Ít-ra-en với cung điệu nồng nàn. Việc tuyển chọn nầy đem lại ý nghĩa cho những đòi hỏi của Luật.
 Sự kiện vài ngàn người lưu vong thoát khỏi đất Ai-cập xem ra chẳng có nghĩa lý gì trong lịch sử chung của thế giới; nhưng thật ra, đây là một biến cố độc nhất vô nhị, việc Thiên Chúa can thiệp minh nhiên đầu tiên vào lịch sử thánh kể từ ngày khai thiên lập địa đến nay, vì Thiên Chúa đã chọn cho mình một dân giữa muôn dân: “Anh em cứ hỏi những thời xa xưa, thời có trước anh em, từ ngày Thiên Chúa dựng nên con người trên mặt đất; cứ hỏi từ chân trời nầy đến chân trời kia: có bao giờ đã xảy ra chuyện vĩ đại như thế, hay có ai đã nghe điều giống như vậy chăng?”.
Lúc đó, bằng những ám chỉ, tác giả gợi lên những diễn biến của lịch sử đầy kinh ngạc nầy. Trước hết, tác giả nhắc nhớ biến cố chủ chốt: Thiên Chúa đã tỏ mình ra trên núi Xi-nai; mọi người đều được nghe tiếng Ngài mà không phải chết.
 Chúng ta lưu ý trong diễn từ nầy, ông Mô-sê không nói lên kinh nghiệm của riêng mình về Thiên Chúa nhưng chỉ kinh nghiệm của dân chúng về Thiên Chúa. Quả thật, đó là một viễn cảnh rất hiển nhiên trong sách Đệ Nhị Luật: dân Ít-ra-en được xem như một cá nhân, một chủ thể duy nhất, đồng nhất với chính mình qua muôn thế hệ.
 Tiếp đó, người kể chuyện còn đi ngược dòng thời gian đến cuộc xuất hành khỏi đất Ai-cập: “Hoặc có vị thần nào đã ra công đi chọn lấy cho mình một dân tộc từ giữa một dân tộc khác, đã dùng bao thử thách, dấu lạ, điềm thiêng và chinh chiến, đã dùng cách tay mạnh mẽ uy quyền, gây kinh hồn táng đỡm, như Đức Chúa của anh em, đã làm cho anh em tại Ai-cập, trước mắt anh em không?” Chúng ta có thể nói Thiên Chúa đã “bứng” dân Do thái khỏi đất Ai-cập để làm thành dân riêng của Ngài.
 - “dùng bao thử thách” ám chỉ đến những gian truân vất vả trong sa mạc: đói khát, mệt mõi, lang bạc rày đây mai đó, vân vân
 - “những dấu chỉ, điềm thiêng”: nào là nước phun vọt ra từ tảng đá, bánh man-na rơi xuống từ trời, chim cút rơi trên mặt đất, vân vân.
 - “những chinh chiến”. Tác giả dành một chỗ lớn cho những cuộc chiến; ông vừa mới kể dong dài cuộc chinh phục đầy gian khổ ở bên kia sông Gio-đan; ông bày tỏ lý tưởng quốc gia chinh chiến, mà ông biết làm cho nó đồng hiện diện với lời dạy về một tôn giáo nội tâm.
- “đã dùng cánh tay mạnh mẽ uy quyền”. Đây là kiểu nói “thần nhân đồng hình”: kiểu nói nầy diễn tả vừa tính chất siêu việt của Thiên Chúa Ít-ra-en: Đấng hoàn toàn khác, vừa tính cách rất mực gần gũi của Ngài: Đấng làm cho mình trở nên gần với nhân loại hơn, trở nên sống động với dân Ngài hơn. Đây cũng là cách thức nhấn mạnh sự bất lực và bất tất của các thần linh ngoại giáo.
 Sau cùng, tác giả ngược dòng thời gian xa hơn nữa khi ám chỉ đến những chiến công gây kinh hồn táng đỡm mà Thiên Chúa đã làm tại Ai-cập, nghĩa là những tai ương giáng xuống trên dân Ai-cập để buộc Pha-ra-on phải để cho dân Do thái ra đi.
 Sau khi Thiên Chúa đã bày tỏ biết bao ân cần của Ngài đối với dân, làm thế nào dân Chúa chọn có thể tỏ mình bất trung với Ngài được? Đoạn văn cuối cùng suy ra những hậu quả thần học từ ơn tuyển chọn của dân Ít-ra-en.
 2. Nền tảng thần học của Lề Luật (4: 39-40).
“Hôm nay đây, anh em phải biết và để tâm suy niệm điều nầy”. Những lời nầy hình thành nên lời khuyên bảo giáo lý đầu tiên rất đặc trưng trong toàn bộ sách. Tôn giáo mà sách Đệ Nhị Luật dạy không quy chiếu đến việc tuân giữ Lề Luật chi li, nó kêu gọi đến những tư thế sẳn sàng nội tâm và đến tình yêu đối với Thiên Chúa.
 Vị Thiên Chúa nầy, hiện diện trong lịch sử, chính là Đấng Sáng Tạo, Ngài ngự trị “trên cõi trời cũng như dưới mặt đất, chính Đức Chúa là Thiên Chúa duy nhất, chứ không có Thiên Chúa nào khác”.
Lời nhắc nhở đến độc thần giáo tuyệt đối chắc chắn là cần thiết vào lúc nầy. Một phần sách Đệ Nhị Luật xem ra đã được các thầy Lê-vi thuộc vương quốc phương Bắc soạn thảo kể từ thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên, vào thời kỳ bội giáo của vương quốc nầy; nhưng rồi vào thế kỷ tiếp sau đó, vương quốc phương Nam, đến phiên mình, phạm tội thờ ngẫu tượng. Lời khẳng định về Thiên Chúa chân thật, duy nhất và siêu việt, Thiên Chúa của dân Ít-ra-en đòi hỏi phải vâng lời và yêu mến Ngài, chính là lời nhắc nhở thần học căn bản, đối mặt với những toan tính cúng tế của dân Ca-na-an.
 “Vậy, các giới răn và mệnh lệnh của Người, mà hôm nay tôi truyền đạt cho anh em, anh em phải tuân hành”. Từ “hôm nay” của sách Đệ Nhị Luật nhấn mạnh giá trị thường hằng của những huấn lệnh Thiên Chúa. Tuân hành chúng là nguồn mạch của những phúc lộc ở dưới thế nầy: “hạnh phúc và trường thọ”. Vào thời nầy, trong Kinh Thánh chưa có những viễn cảnh về những ân thưởng bên kia nấm mồ.
BÀI ĐỌC II (Rm 8: 14-17)
Thánh Phao-lô viết thư nầy từ Cô-rin-tô, vào mùa xuân 57-58, để chuẩn bị cho cuộc hành trình đến Rô-ma. Tuy nhiên, dự định đã không thành vì thánh nhân bị bắt vào mùa xuân năm sau ở Giê-ru-sa-lem. Chính trong cảnh giam cầm mà thánh nhân bị giải đến thủ đô của Đế Quốc vào đầu năm 61.
Trong những thư của thánh Phao-lô, thư gởi các tín hữu Rô-ma là thư dài nhất và quan trọng nhất về phương diện đạo lý.
Sau bức tranh ảm đạm về nhân loại bị giam hãm trong tội lỗi, thánh nhân phác họa một bức tranh đầy an ủi về nhân loại được ơn tái sinh và sống theo Thần Khí. Đây là chủ đề của chương 8 nầy.
1. Ơn nghĩa tử:
Thánh nhân ngỏ lời với những người chịu phép rửa, nhờ phép rửa, họ trở thành con cái Thiên Chúa. Thánh nhân khích lệ họ sống cho thích đáng với phẩm chất nầy và mời gọi họ sống cuộc sống nội tâm, một cuộc sống cho phép họ lắng nghe Thần Khí, vì Thần Khí sở hữu quyền năng biến đổi.
Như vậy, Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử chứ không trở thành nô lệ. Vào thời đại nầy, sự sánh ví nầy rất hùng hồn. Người nô lệ là người không có quyền lợi gì, không sở hữu bất cứ điều gì, sợ hãi ông chủ của mình. Người con là người thân thưa với cha mình “Cha ơi!” với một tấm lòng yêu thương và tin tưởng.
2. Đồng thừa kế với Đức Ki tô.
Người con không chỉ chắc chắn hưởng được lòng trìu mến thương yêu của Cha, nhưng còn có quyền thừa kế nữa.
Người Ki tô hữu là nghĩa tử nhờ Đức Ki tô, và với Đức Ki tô họ trở nên đồng thừa kế những thiện hảo của Nước Trời. Một viễn cảnh như thế thì trái với pháp lý Do thái, nhưng hợp với luật Hy-lạp và Rô-ma, người con nuôi được hưởng quyền thừa kế như người con ruột. Như vậy, thánh nhân nhấn mạnh ơn ban nghĩa tử trong Chúa Thánh Thần.
Nhưng nếu ơn nghĩa tử nầy làm cho người Ki tô hữu nên anh chị em của Đức Ki tô, nó kéo họ vào trong những gian truân và cái chết, trước khi cho họ được dự phần vào vinh quang của Ngài. Thánh nhân không làm dịu đi sứ điệu của mình.
TIN MỪNG (Mt 28: 16-20)
Chính trên hoạt cảnh uy nghi và hùng vĩ nầy mà sách Tin Mừng Mát-thêu hoàn tất: trên một ngọn núi thuộc miền Ga-li-lê, Đức Ki tô phục sinh xuất hiện cho nhóm Mười Một, họ phủ phục dưới chân Ngài. Ngài mặc khải quyền chủ tể hoàn vũ của Ngài và truyền lệnh cho họ truyền giáo khắp thiên hạ, bằng cách đảm bảo với họ ơn phù trợ của Ngài.
Thánh Mát-thêu không tường thuật bất cứ lần hiện ra nào của Đức Giê-su với nhóm Mười Một nầy sau khi Ngài sống lại ngoại trừ lần hiện ra nầy; thánh ký tập trung chứng từ về cuộc sống của Đấng Phục Sinh và những lời căn dặn sau cùng của Ngài vào cuộc gặp gỡ duy nhất nầy. Như vậy biến cố nầy mang lấy một chiều kích đặc biệt.
1. Miền Ga-li-lê.
Sự kiện xảy ra ở miền Ga-li-lê. Chính ở đó mà Đức Giê-su đã ba lần hẹn gặp các Tông Đồ của Ngài. Lần thứ nhất, Ngài đã báo trước cho họ thánh Phê-rô sẽ chối Ngài và các ông sẽ vấp ngã vì Ngài: “Nhưng sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em” (26: 32). Lần thứ hai vào buổi sáng Phục Sinh, sứ thần đã nói với các người phụ nữ: “Các bà…mau về nói với môn đệ Người như thế nầy: Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Ga-li-lê trước các ông” (29: 7). Lần thứ ba, Đức Giê-su đã lập lại cùng một sứ điệp: “Chị em đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó” (28: 10). Thánh Mát-thêu là thánh ký duy nhất nhắc lại ba lần cuộc hẹn gặp ở Ga-li-lê nầy, trong khi thánh Lu-ca đặt cuộc gặp gỡ sau cùng của Đức Giê-su với các Tông Đồ của Ngài ở Giê-ru-sa-lem. Thánh Mát-thêu không thích thành đô Giê-ru-sa-lem vì nó đã phản bội sứ mạng của mình, vì thế thánh ký dành cho miền Ga-li-lê sứ điệp tối thượng của Đức Giê-su.
Cuộc gặp gỡ được định vị trên một ngọn núi; ngọn núi nào chẳng quan trọng gì: ngọn núi chỉ là biểu tượng. Không phải lời dạy về các mối phúc được vang lên trên núi sao?
2. Họ phủ phục.
“Khi thấy Người, các ông phủ phục, nhưng có mấy ông lại hoài nghi”.
 Dường như chúng ta có ở đây một hoạt cảnh sóng đôi với những hoạt cảnh mà ở đó thánh Mác-cô và thánh Lu-ca mô tả những hoài nghi như thế được gợi lên: “Sau cùng, Người tỏ mình ra cho chính nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng” (Mc 16: 14). Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: “Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em ngờ vực…” (Lc 24: 36).
Đức Giê-su tiến lại gần họ để họ nhận ra Ngài rõ hơn. Sau khi đã trấn an họ, Ngài cho họ dự phần vào vinh quang của Ngài và trao phó cho họ sứ mạng tối hậu của Ngài.
3. “Thầy đã được trao quyền trên trời dưới đất”.
Quyền thống trị hoàn vũ nầy đã được ngôn sứ Đa-ni-en loan báo về một nhân vật mầu nhiệm với tược vị Con Người rồi: “Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong” (Đn 7: 14).
Tiếp đó, Đức Giê-su trao cho các Tông Đồ sứ mạng loan báo Tin Mừng: “Vậy anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.
Đây là một trong những ghi chú về Chúa Ba Ngôi rõ nét nhất trong toàn bộ Tin Mừng Mát-thêu. Quả thật, phép rửa của Chúa Giê-su đã là bày tỏ Ba Ngôi Thiên Chúa: “Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”(Mt 3: 16-17).
Chính ở dưới dấu hiệu của Ba Ngôi Thiên Chúa nầy mà phép rửa Ki tô giáo được ban cho. Công thức mà thánh Mát-thêu trích dẫn là công thức Thánh Tẩy được Giáo Hội dùng rất sớm. Chúng ta đọc thấy trong chứng liệu rất cổ xưa thuộc cuối thế kỷ thứ nhất, sách “Didaché” (hay “Đạo lý của Mười Hai Tông Đồ”), sưu tập giáo lý và phụng vụ, những hàng nầy: “Khi phép rửa bởi việc dìm vào trong nước không thể, phải rửa trong nước thông thường bằng cách đổ nước ba lần trên đầu nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Didaché 7, 3). Công thức của thánh Mát-thêu càng quý hơn nữa nếu chúng ta so sánh với công thức của thánh Phao-lô: “Anh em đã chịu phép rửa trong Đức Giê-su Ki tô” (Rm 6: 3; Gl 3: 27), hoặc “Chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí” (1Cr 12: 13), hay với sách Công Vụ: “Họ đã chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su” (Cv 8: 16; 19: 5).
4. “Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em”
Chúng ta nên lưu ý rằng trong diễn từ nầy Đức Giê-su nói với cùng uy quyền và hầu như trong cùng những từ ngữ như Đức Chúa của sách Đệ Nhị Luật mà ông Mô-sê nhắc lại sự cao vời khôn ví của Ngài và truyền đạt sứ điệp của Ngài: “Trên cõi trời cũng như dưới mặt đất, chính Đức Chúa là Thiên Chúa, chứ không có Thiên Chúa nào khác. Vậy, các giới răn và mệnh lệnh của Người, mà hôm nay tôi truyền đạt cho anh em, anh em phải tuân hành…”.
5. “Còn Thầy, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.
Chúa Giê-su không nói như một lời hứa: “Thầy sẽ ở cùng anh em”, nhưng như một lời khẳng định: “Thầy ở cùng anh em”. Đây là một lời khẳng định tuyệt vời nhất về sự hiện diện của Thiên Chúa: “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Chính nhờ sự hiện diện của Thiên Chúa trong suốt chiều dài lịch sử mà dân Ít-ra-en đã được hình thành và được phù trợ. Đó cũng lời khẳng định hình thành nên dân Thiên Chúa mới, tức Giáo Hội, được đảm bảo ơn phù trợ của Đức Ki tô mọi ngày cho đến tận thế.
Cuối cùng chúng ta ghi nhận rằng, thánh ký, rất nhạy bén trước chiều kích phổ quát của ơn cứu độ, hoàn tất tác phẩm của mình trên viễn cảnh mênh mông về cuộc hoán cải của muôn dân.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
 
 

BaNgôi-168: HIỆP NHẤT TRONG YÊU THƯƠNG

 - Lm Giuse Đinh lập Liễm
I. MẠC KHẢI VỀ CHA BA NGƠI
 

Hôm nay chúng ta đi vào mầu nhiệm cao cả nhất trong đạo, là mầu nhiệm trung tâm của: BaNgôi-168

Hôm nay chúng ta đi vào mầu nhiệm cao cả nhất trong đạo, là mầu nhiệm trung tâm của đức tin Kitô giáo. Đây là một mầu nhiệm thâm sâu nhất, cao cả nhất mà lý trí con người không thể nào có thể hiểu hay hình dung được.  Trong Cựu ước, dân Do thái chỉ được mạc khải cho biết là chỉ có một Thiên Chúa Giavê độc nhất và chỉ được tôn thờ một mình Ngài :”Hôm nay, các ngươi hãy nhận biết và suy niệm trong lòng rằng trên trời dưới đất, chính Chúa là Thiên Chúa chớ không có Chúa nào khác”(Đnl 4,39).
 Vậy ai đã cho chúng ta biết mầu nhiệm này ? Chính Đức Giêsu đã mạc khải cho chúng ta.  Theo bài Tin mừng hôm nay, trước khi về trời, Đức Giêsu đã tập họp các môn đệ lại ở trên núi để dặn dò  một điều sau cùng:”Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần,  dạy bảo họ tuân giữ  mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”(Mt 28,18-20).
 Đức Giêsu chỉ mạc khải cho chúng ta biết có một Thiên Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần, còn tìm hiểu về Chúa Ba Ngôi thế nào thì Ngài dành cho Chúa Thánh Thần, Đấng là hồn sống của Hội thánh sẽ soi sáng  và giữ gìn kho tàng đức tin. Bởi vì thánh Luca nhìn lịch sử cứu độ như một viễn cảnh mang chiều kích Ba Ngôi : Thời Cựu ước là kỷ nguyên của Chúa Cha, thời loan báo Tin mừng là kỷ nguyên của Chúa Con, và thời hậu Tin mừng Công vụ Tông đồ ghi lại là kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần.
 II. MẦu nhiỆm Chúa Ba Ngôi.
Cựu ước chưa có mạc khải về Chúa Ba Ngôi. Cựu ước chỉ nhấn  mạnh về một đức tin độc thần : Chỉ duy Đức Chúa mới là Thiên Chúa độc nhất hiện hữu và ban ơn cứu độ. Mười điều răn được ban cho dân Israel thì điều răn quan trọng nhất là “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự”(x. Xh 20,3).
 Trong Thánh lễ hôm nay, Tin mừng Matthêu ghi lại lệnh truyền của Chúa Phục sinh, mạc khải rõ ràng về mầu nhiệm này :”Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”(Mt 28,19).
 Sách Công vụ Tông đồ của Luca ghi lại bài giảng của Tông đồ Phêrô có câu:”Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng Người lên trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống.  Đó là điều anh em đang thấy đang nghe”(Cv 2,33).
 Tin mừng Gioan đã nhiều lần đề cập đến mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi:”Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”(Ga 14,16).
 Còn thánh Phaolô diễn tả mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi trong thư gửi cho tín hữu Côrintô ở phần chào thăm:”Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em”(2Cr 13,13).
 Chúng ta chỉ có thể biết được mạc khải về Chúa Ba Ngôi trong những đoạn Kinh thánh nêu trên. Theo đó, Đức Giêsu cho chúng ta biết : Chúa Cha là Thiên Chúa, còn Ngài là Con Một của Chúa Cha.  Ngài và Chúa Cha là một. Ngài ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Ngài, nghĩa là Ngài cùng bản tính với Chúa Cha, Ngài cũng là Thiên Chúa, và Ngài với Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa. Ngài cũng cho biết Chúa Thánh Thần là Đấng  Ngài và Chúa Cha sai đến cũng là Thiên Chúa. Như vậy, chỉ là một Thiên Chúa duy nhất nhưng có Ba Ngôi vị riêng biệt chứ không phải là Ba Thiên Chúa. Vì Ba Ngôi cùng chung một bản tính và cùng một quyền năng nên Ba Ngôi bằng nhau, không Ngôi nào lớn hơn. Trong các  kinh cầu đều có câu :”Tam vị nhất thể Thiên Chúa giả” : Ba Ngôi cũng là một Đức Chúa Trời.
 Về công việc của mỗi Ngôi vị, chúng ta được biết khi sáng tạo vũ trụ vạn vật và loài người, Thiên Chúa xuất hiện như một người Cha. Ngài dùng Lời quyền năng làm cho vạn vật từ không xuất hiện (x. St 1,3). Ngài còn tiếp tục quan phòng để các tạo vật tồn tại và ngày một tiến hoá. Khi nguyên tổ loài người phạm tội, Thiên Chúa đã sai Con Một xuống thế làm Đấng Thiên Sai là Đức Giêsu, để thiết lập Nước Trời. Cuối cùng Ngài đã chịu chết trên thập giá để đền tội thay cho loài người. Khi Chúa Giêsu về trời, Chúa Cha lại sai Thánh Thần đến tiếp tục chương trình cứu độ, bằng việc ban ơn thánh hoá để giúp loài người nên con Thiên Chúa và nhận được ơn cứu độ của Đức Giêsu (Lm Đan Vinh).
 Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm và mãi mãi vẫn là mầu  nhiệm. Thánh Augustinô là một bậc tài trí cũng không thể hiểu được mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Cầm một vỏ hến mà tát cạn đại dương còn dễ hơn là thấu hiểu được mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Cứ tin, cứ yêu  đi rồi sẽ hiểu  . Dĩ nhiên chĩ hiểu được một phần rất nhỏ theo kiểu loại suy thôi.

 Truyện : Cứ nếm thử mà xem.
Sau khi chấm dứt buổi diễn thuyết chống lại Chúa và các công trình của Ngài, diễn giả mời cử toạ lên diễn đàn, để đặt câu hỏi.
Một người bước lên. Anh này là một người nghiện rượu, vừa mới được cải hóa. Đứng trước thính giả, anh ta lấy từ trong túi ra một trái cam và chậm rải lột vỏ. Chờ mãi, ông diễn giả bực mình bảo anh ta hãy đặt câu hỏi đi. Nhưng,  anh ta cứ từ từ làm tiếp cái công việc lột vỏ cam, và không trả lời. Lột vỏ xong, anh ta từ từ ăn cam. Ăn xong,  anh ta mới quay về phía diễn giả và hỏi :
          - Ông thấy trái cam có ngọt không ?
Diễn giả gầm lên :
          - Đồ khùng ! Làm sao tôi biết được là ngọt hay chua, vì tôi có nếm đâu ?
Lúc ấy, anh chàng thính giả mới nói :
          - Thế thì làm sao ông có niềm tin vào Chúa, nếu ông không bao giờ nếm thử Ngài.(Gm Arthur  J. Tonne, Stories for Sermons, tập 13)

 III. NHỮNG HÌNH ẢNH VỀ CHÚA BA NGÔI.
Nhằm giúp các tín hữu hiểu biết một phần nào về Chúa Ba Ngôi, các nhà thần học đã dùng những hình ảnh để diễn tả, dĩ nhiên những hình ảnh này chỉ diễn tả được một phần nào về Chúa Ba Ngôi, còn mầu nhiệm thì vẫn còn là mầu nhiệm, không thể hiểu được.
 Thánh Patrick dùng hình ảnh lá cây “Tam diệp thảo”, tuy chỉ có một lá  nhưng do ba lá nhỏ dính vào nhau.
Thánh Ignace de Loyola thường dùng hình ảnh ba nốt nhạc trong một hợp âm. Tuy ba nốt nhạc khác nhau nhưng cùng làm nên một hợp âm nghe du dương.
Hoặc chúng ta có thể dùng hình ảnh nước để diễn tả : nước có thể ở thể hơi, thể lỏng và thể đặc. Tuy chỉ là nước mà có thể ở được những dạng khác nhau.
Hình tam giác đều tuy chỉ là một hình, nhưng có ba góc, ba cạnh đều nhau.
Thời gian có thể lá quá khứ, hiện tại và tương lai.
Và còn rất nhiều hình ảnh khác mà chúng ta không cần kể ra hết.

 IV. CHÚA BA NGÔI TRONG ĐỜI TA.
1. Một dịp nhắc nhở.
Lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay là một dịp để chúng ta nhắc lại bí tích Rửa tội. Nhờ phép Rửa, chúng ta được tẩy sạch tội nguyên tổ và tội riêng đã phạm, được ơn thánh hoá, được nhận làm con Chúa, được thông phần vào sự sống của Thiên Chúa và được thừa hưởng Nước Trời nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.  Ngày lễ nhắc nhở chúng ta hãy trung thành với Chúa, thi hành những điều đã hứa khi chịu phép rửa tội là từ bỏ ma qủi và những việc làm của chúng; đồng thời nhờ Chúa Thánh Thần hướng dẫn để ta luôn sống trong tình con thảo đối với Chúa để lúc nào cũng có thể thưa với Ngài :”Abba, Cha ơi”.
 Năm 500, vua Clovis và rất nhiều binh sĩ xin được rửa tội qua bàn tay của thánh Rémi tại thành Reims. Trước khi ban phép Rửa tội, thánh nhân tuyên bố với nhà vua của bộ lạc Franc:”Từ đây ông sẽ thờ Đấng mà ông đốt và đốt những cái mà ông thờ”. Và nước phép rửa tội đã chảy trên trán của Clovis và ba ngàn binh sĩ, nhờ công ơn và lời cầu nguyện của bà thành Clotilde, hoàng hậu.
 2. Hạnh phúc được làm con Chúa Ba Ngôi.
Nhờ phép Rửa và nhờ tác động của Chúa Thánh Thần chúng ta được nhận làm con Chúa. Đã là con thì chúng ta được thừa hưởng mọi quyền lợi của kẻ làm con Chúa, nhất là chúng ta được tham dự vào sự sống thần linh của Chúa. Đấy là một vinh dự lớn lao mà Thiên Chúa dành cho con người chúng ta vì Đức Chúa Cha bởi yêu thương đã dựng nên loài người và tôn lên làm con Ngài để có quyền thừa kế Nước Trời.
 Các loài ta thấy trên đời, nếu chúng biết nói, chắc chúng sẽ nói lên sự phen bì với ta, vì Chúa đã biệt  đãi loài người phạm tội ; chúng thì không phạm tội, lại luôn theo ý Chúa mà không được Chúa thương bằng con người.
 Ông vua kia nuôi một con chim hót rất hay, ông vua yêu nó lắm, mua những thức ăn nó thích nhất, sắm cái lồng vàng. Một ngày kia nghe nó hót líu lô, ông vua say mê, và vì yêu nó quá, nên nghĩ rằng : thôi, ta nhận nó làm con, để ăn gia tài của ta. Ông vua nghĩ thế,  người ta cho là yêu đến phát điên. Thực ra, Chúa đã yêu ta đến thế : Thiên Chúa mà nhận con người làm con ! Thật là hạnh phúc quá (Trần văn Khả, Phúc âm Chúa nhật B, t.2, tr 124).
 3. Chúa Ba Ngôi hành động trong ta.
Khi đã trở thành người con Chúa chúng ta được tham dự vào đời sống của Chúa Ba Ngôi. Chúng ta có Chúa ngự trong mình vì Chúa đã nói:”Ai yêu mến Thầy và tuân giữ các lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến nó, chúng ta sẽ đến ở trong nó và chúng ta sẽ lập cư trong nhà nó”(Ga 14,23).
Thánh Phaolô cũng xác quyết:”Anh em lại không biết anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần của Thiên Chúa ở trong anh em sao”?(1Cr 3,16-17 ; 6,19).
 Các thánh đã sống mầu nhiệm này một cách hết sức ân cần và thân mật. Việc Chúa Ba Ngôi ở trong tâm hồn đã ghi sâu vào tâm trí các ngài và làm cho các ngài không bao giờ cảm thấy cô đơn lẻ loi. Thánh Têrêsa Hài đồng đã nói:”Lạy Chúa Ba Ngôi chí thánh, Chúa trở nên tù nhân bị giam hãm trong hồn con”.
                   Truyện : Ba Ngôi hành động nơi ta.
Một cuộc thảo luận của nhóm thanh niên diễn ra rất sôi nổi về đề tài Chúa Ba Ngôi mà chúng ta mừng lễ hôm nay. Họ đã xem lại giáo huấn căn bản : Trong Thiên Chúa Ba Ngôi, có Ba Ngôi vị, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, chỉ có một Thiên Chúa duy nhất. Rồi họ bàn bạc thêm về vấn nạn Ba Ngôi cùng hành động thế nào, nhưng vấn đề sâu xa, vượt quá hiểu biết của họ, và mấy người hướng về Cha sở đang ngồi ở phía ngoài :
     Thưa cha, cha có thể soi sáng cho chúng con về vấn đề này ?
Cha sở  đáp :
     Có lẽ tôi có thể đưa ra chút ánh sáng cho vấn đề. Rồi ngài quay sang một tham dự viên và hỏi :
    Bill, bạn có biết chơi Guitar không ?
Bill nhìn nhận :
     Con chơi được lắm.
Và cha sở tiếp :
     Cây đàn guitar gây ra tiếng nhạc thế nào ? Có ba sự việc liên đới với nhau. Nghệ thuật âm nhạc hay là tâm trí bảo ta điều phải làm, bàn tay thì gảy – dây tạo ra tiếng đàn. Tâm trí không tạo ra tiếng đàn, bàn tay không tạo ra tiếng đàn, nhưng cả hai việc cùng với dây tạo ra tiếng đàn. Cả ba việc cùng làm, dầu rằng việc riêng biệt của dây là tạo ra tiếng đàn. Thiên Chúa Ba Ngôi hành động giống như thế !
Cả nhóm đồng ý rằng : hình ảnh mà cha sở trình  bầy đã giúp họ hiểu hơn.(Gm Arthur Tonne, Bài Giảng TM CN, năm A, tr 75)

 4. Thái độ của ta đối với Chúa Ba Ngôi.
Thánh Gioan nói:”Thiên Chúa là Tình yêu”. Ngài là nguồn gốc mọi tình yêu. Ngài san sẻ cho chúng ta tình yêu của Ngài để chúng ta yêu Ngài và yêu thương nhau. Điều răn mến Chúa yêu người phải được thực hiện song song, mà muốn yêu Chúa thì phải yêu người.
 a) Yêu thương nhau :
Khi nói đến yêu thì phải nói yêu ai chứ không chỉ nói yêu suông. Mà nếu không yêu ai thì chỉ là yêu mình, một tình yêu vị kỷ bệnh hoạn, giống như tình yêu của anh chàng Narcisse trong thần thoại Hy lạp.  Ngày xưa có một anh chàng tên là Narcisse không yêu thương ai hết ngoài chính bản thân anh ta, anh yêu mình đến nỗi một hôm nhìn thấy bóng dáng mình  phản chiếu trên mặt nước một cái giếng, anh xúc động quá nhảy tùm xuống giếng để ôm lấy hình ảnh  của mình và phải chết đuối. Về sau người ta đặt tên cho chứng bệnh tự yêu thương mình là chứng bệnh Narcisse.
Yêu thương là phải biết hy sinh, phục vụ người khác. Yêu thương là phải biết cho đi, phải biết trao cái mình có nhất là chính bản thân mình vì cho đi thì hạnh phúc hơn là nhận.
 b) Tôn trọng sự hiệp nhất :
Thiên Chúa Ba Ngôi là hình ảnh tuyệt vời của sự hiệp nhất. Chúa Cha yêu thương đã sinh ra Chúa Con và tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con đã làm phát sinh ra Chúa Thánh Thần.  Tuy Ba Ngôi nhưng chỉ là một Thiên Chúa duy nhất, trong sự yêu thương và hiệp nhất. Cuộc sống của cộng đoàn cũng cần phải có sự hiệp nhất theo gương Chúa Ba Ngôi để lúc nào cũng vang lên câu Thánh vịnh :
Anh em xum họp một nhà
Bao là tốt đẹp bao là thú vui.
c) Tôn thờ Chúa Ba Ngôi :
Để tỏ lòng yêu mến tôn sùng Chúa Ba Ngôi, ta phải có thái độ trân trọng khi xưng danh Chúa Ba Ngôi như khi đọc kinh Sáng danh hay lúc làm dấu Thánh giá. Chính trong đó ta đang tuyên xưng danh Chúa Ba Ngôi rất thánh.  Ngoài ra chúng nên nghĩ ra những cách thích hợp để nhắc ta năng nhớ đên Chúa Ba Ngôi trong cuộc sống.

                                      Truyện : Phòng ngủ ba cửa sổ.
Thánh Barbara sống vào thế kỷ thứ 3, thời kỳ mà theo đạo tức là ngầm hiểu là bằng lòng tử đạo. Mặc dù thế, bà thánh này đã giữ vững đức tin, để nhiều giờ ăn chay cầu nguyện. Cha của bà tên là Dioscorus, là một người ngoại đạo. Trước khi đi chu du, ông phác họa một đồ án để xây căn nhà mới. Trong  phòng Barbara, theo đồ án thì có hai cửa sổ, nhưng vì Barbara có lòng tôn sùng Chúa Ba Ngôi cả trong việc xây nhà, bà nghĩ vì Chúa Ba Ngôi nên tốt hơn phòng bà có ba cửa sổ.
          Khi chu du trở về, cha bà thấy có sự thay đổi trong việc xây cất không đúng như đồ án của ông, ông đoán có lý do gì đây. Thánh Barbara thú nhận rằng bà đã theo đạo từ lâu. Cha bà bực tức. Ông không muốn cho vua ngoại đạo làm lôi thôi, nên ông đã đem con đi xử. Bà bị kết án chém đầu. Để tự cứu mạng mình và để chứng tỏ cho vua thấy mình trung thành với nhà vua thế nào, chính ông Dioscorus mang bản án đi. Thiên Chúa thịnh nộ vì hành động bất nhân ấy đã cho sét đánh chết Dioscorus tức thì.
 Ngày nay, trên những bức ảnh thánh Barbara, chúng ta còn thấy bà cầm cành lá thắng trận tử đạo và ba cửa sổ ở phía sau bà, có ánh sáng mặt trời chiếu qua chói lọi.
(W. Diamond, Đồng cỏ non, tr 96-97).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
 
 

BaNgôi-169: LỄ CHÚA BA NGÔI - Lm. Anphong Trần Đức Phương

Thiên Chúa Ba Ngôi là một Mầu Nhiệm, nghĩa là một Tín Ịiều mà chúng ta không thể nào: BaNgôi-169

Thiên Chúa Ba Ngôi là một Mầu Nhiệm, nghĩa là một Tín Điều mà chúng ta không thể nào cắt nghĩa được bằng lý trí; nhưng chúng ta tin và lãnh nhận do Chúa Giêsu đã giảng dạy, và nhờ ơn Chúa Thánh Thần soi sáng (Gioan 16:12) để nhận biết: Chỉ có một Thiên Chúa mà Ngài có Ba Ngôi: Ngôi Nhất là Cha, Ngôi Hai là Con, Ngôi Ba là Thánh Thần; Ba Ngôi cùng một bản thể, cùng là một Thiên Chúa duy nhất.
Người ta nói khi Thánh Patrick giảng dạy về Thiên Chúa Ba Ngôi, Ngài đã dùng một lá có ba nhánh để làm thí dụ. Giáo sư Tiến sĩ Phan Văn Ngọc, sau khi tìm hiểu Thánh Kinh kỹ càng và được ơn Chúa soi sáng, đã tin nhận Thiên Chúa và chịu phép Thánh Tẩy. Khi tìm hiểu giáo lý, ông cảm thấy điều khó hiểu nhất là về Thiên Chúa Ba Ngôi; nhưng sau cùng, ông suy nghĩ: dù chỉ là nước, nhưng vẫn có thể ở thể lỏng, thể rắn (nước đá) hay thể hơi (hơi nước).
Tuy nhiên, tất cả những so sánh, những biểu tượng bề ngoài chỉ để tạm thời giải thích Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi; vì ‘Mầu Nhiệm’ là điều vượt quá mọi sự suy nghĩ của lý trí con người. Con người dù thông minh thế nào, cũng không thể hiểu hết được những ‘bí ẩn’ trong vũ trụ, huống chi làm sao hiểu được hết mọi điều siêu việt của Thiên Chúa. Thánh Augustinô (354-430) là một nhà Thần Học và Triết Gia, Ngài luôn muốn cắt nghĩa mọi sự theo lý trí, kể cả Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Một ngày kia, Ngài đi đi lại lại trên bờ biển để vừa cầu nguyện vừa cố suy nghĩ trong tâm trí xem có cách nào để hiểu và cắt nghĩa được tường tận mọi điều về Thiên Chúa Ba Ngôi. Đang lúc vừa đi đi, lại lại trên bờ biển, vừa suy nghĩ mung lung, chợt ông thấy có một em bé trông rất khôi ngô và thông minh, đang dùng một vỏ sò múc nước biển đổ vào một lỗ nhỏ trên bờ biển. Thánh Augustinô liền dừng lại hỏi em đang muốn làm gì vậy. Em bé mỉm cười trả lời: “Cháu đang muốn múc hết nước đại dương để đổ vào cái lỗ nhỏ này.” Thánh Augustinô liền cười và nói: “Sao cháu làm một việc vô ích như vậy… Làm sao cháu có thể múc nước cả đại dương này để đổ hết được vào cái lỗ nhỏ như thế?” Em bé liền cười nói: “Việc của cháu đang làm có vẻ khờ dại thật, nhưng việc bác đang suy nghĩ còn khờ dại hơn…”
Thiên Chúa là cả một đại đương mênh mông, tâm trí con người chỉ là một giới hạn nhỏ bé, làm sao có thể thông hiểu tường tận hết mọi điều về Thiên Chúa. Chỉ với đức tin và tâm hồn khiêm nhường và sự kết hiệp với Chúa qua lời cầu nguyện, chúng ta mới có thể được Ơn Chúa soi sáng và tin nhận được các Mầu Nhiệm về Thiên Chúa, nhất là Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, chứ không phải qua suy nghĩ của lý trí hạn hẹp của chúng ta.
Như vậy, Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là một điều ‘huyền nhiệm’ chỉ các nhà Thần Học mới hiểu được. Một nhà Thần Học thế kỷ 19, ông Thomas Hancock nói: “Một người đàn ông hay một người phụ nữ dù quê mùa không thể lý luận về Thịên Chúa Ba Ngôi, nhưng vẫn có thể nhận thức được về Thiên Chúa Ba Ngôi một cách hoàn hảo hơn một nhà Thần Học uyên bác, thông hiểu các tác phẩm của Thánh Athanasius hay Thánh Augustinô và tất cả những tranh luận của sáu thế kỷ đầu của Giáo Hội!” (trích trong Preaching the Lectionary, Reginald H. Fuller). Thánh Phaolô cũng nói với chúng ta: “Đức tin của chúng ta không dựa vào những lý lẽ khôn ngoan của con người…nhưng nhờ mạc khải của Thiên Chúa qua sự soi sáng của Chúa Thánh Thần (Xin xem 1 Corintô, chương 2; hoặc Gioan 14: 26). Trong một lần cầu nguyện, Chúa Giêsu đã nói: “Con cảm tạ Cha vì Cha đã không soi sáng cho những kẻ khôn ngoan thế gian biết những điều ấy, nhưng cho những người đơn sơ, hèn mọn!”
(Luca 10: 21; Matthêu 11: 25). Chính vì vậy, Pascal, một nhà tư tưởng lớn trong thế kỷ 17, đã luôn cầu xin cho mình được có một Đức Tin mạnh mẽ của một bà nhà quê ở xứ Bretagne!
Chúng ta tuyên xưng Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi khi đọc kinh Tin Kính. Mỗi khi chúng ta đọc kinh: “Sáng Danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần”, chúng ta cúi đầu để tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi. Mỗi khi làm Dấu Thánh Giá là chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa Ba ngôi: “Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.” Chúng ta được chịu phép Thánh Tẩy để gia nhập Gia Đình Hội Thánh Chúa nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi trong công thức: “Cha rửa con, nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.”
Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta long trọng kính mừng Lễ Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta hãy cầu xin cho chúng ta luôn được ơn Chúa soi sáng để chúng ta có thể có một đức tin sáng suốt và mạnh mẽ, không phải chỉ dựa vào lý trí, nhưng bằng chính đời sống thực hành đức tin hàng ngày của chúng ta qua đức Bác Ái.
Với lời cầu nguyện của Thánh Phaolô, chúng ta hãy cùng “nguyện xin Ân Sủng của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Tình Yêu của Chúa Cha, và Ơn Thông Hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng mỗi người, mỗi gia đình chúng ta!” (2 Corinto 13:13).
Lm. Anphong Trần Đức Phương
 
 

BaNgôi-170: BA NGÔI LÀ M ỘT - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

Mt 28, 16-20
 

Lúc nhỏ tôi vẫn luôn thắc mắc tại sao Thiên Chúa lại có Ba Ngôi và Ba Ngôi lại là một Chúa: BaNgôi-170

Lúc nhỏ tôi vẫn luôn thắc mắc tại sao Thiên Chúa lại có Ba Ngôi và Ba Ngôi lại là một Chúa. Các Sơ, các Thầy và các Giáo lý viên không giải đáp thỏa đáng thắc mắc của tôi. Thú thực, thời đó, các bài giảng của các Cha xứ cũng chưa làm tôi hiểu về Chúa Na Ngôi lắm. Nhưng càng lớn lên, càng được học hành và càng chìm sâu vào chiêm niệm, cầu nguyện, tôi càng hiểu rõ hơn mầu nhiệm vô cùng cao sâu của Đạo. Tôi chỉ biết cảm tạ Thiên Chúa vì tình thương của Ngài và hạnh phúc sống trong mầu nhiệm tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa.
MỘT CÁCH GIẢI THÍCH :
Câu giải thích người ta thường dùng để cắt nghĩa Ba Ngôi Thiên Chúa là một ngón tay có ba đốt, ba đốt chỉ là một ngón tay hay một cái trứng có vỏ, có tròng trắng, tròng đỏ nhưng cũng chỉ là một cái trứng mà thôi.Hoặc nước có thể hiện diện dưới ba dạng: thể hơi, thể rắn, thể lỏng. Ba nốt nhạc tạo nên một hợp âm duy nhất vv…Dùng cách loại suy này cũng chỉ hiểu một phần nào về mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi mà thôi.Thực tế những hình ảnh này không tránh khỏi vụng về, thiếu sót khi trình bầy về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Vâng, những cách giải thích, những hình ảnh dùng để diễn tả về một mầu nhiệm chẳng khác chi như thánh Augustinô đã nói giống như lấy vỏ sò múc nước biển đổ vào lỗ cát.
CHÚA MẠC KHẢI MẦU NHIỆM MỘT CHÚA BA NGÔI:
Câu Kinh Thánh danh tiếng, rõ nhất nói về Chúa Ba Ngôi: " Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ, nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần " ( Mt 28, 19 ). Cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi cũng đã tuyên xưng về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi thật đơn giản, thật xác tín: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần để ra đi loan báo Tin Mừng và Rửa tội cho muôn dân. Thánh Gioan định nghĩa:” Thiên Chúa là tình yêu”. Thánh Augustinô nói: ” Mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa là mầu nhiệm Tình Yêu “. Do đó, chúng ta chỉ có thể cảm nhận sâu xa về Ba Ngôi Thiên Chúa khi chúng ta sống quan hệ yêu thương. Hình ảnh rõ nét và ấn tượng nhất về mầu nhiệm Ba Ngôi trong Kinh Thánh là lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa bởi tay Gioan Tẩy Giả ở sông Giorđăng: Một hình chim bồ câu bay lượn trên mình Người, và trên trời có tiếng phán: "Con là Con Ta yêu dấu" ( Mt 1, 11 ). Đây là hình ảnh rất sống động về Chúa Ba Ngôi. Thánh Tôma Aquinô nói trong cuộc Hiển Dung Ba Ngôi cùng xuất hiện: “ Chúa Cha trong tiếng nói, Chúa Con trong con người, Chúa Thánh Thần trong áng mây sáng chói “. Chúa Giêsu cũng đã xác nhận:” Ta và Cha là một “ ( Ga 14, 10 ).” Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta “ và “ Mọi sự của Cha có đều là của Ta “ ( Ga 16, 15 ) hoặc “ Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và Chúng Ta sẽ đến và cư ngụ nơi người ấy “ (Ga 14, 23 ). “ Cha sẽ ban cho các ngươi một Đấng Phù Trợ khác để Ngài ở với các ngươi luôn mãi “ ( Ga 14, 16 ).
ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ :
Hằng ngày chúng ta đã nhiều lần làm dấu thánh giá: ” Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần “ hoặc chúng ta đọc kinh tin kính, kinh sáng danh là chúng ta tuyên xưng một Chúa Ba Ngôi.
Chúng ta sống mầu nhiệm Ba Ngôi là sống yêu thương, chia sẻ, hiệp thông: ” Ai ở trong Tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy “ ( 1 Ga 4, 16 ).
Chúng ta hãy siêng năng cầu nguyện bởi vì nhờ cầu nguyện mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi mới hoạt động tích cực trong đời sống thường nhật của mỗi người chúng ta.
Lạy Chúa Ba Ngôi, xin cho chúng con hiệp nhất trong tình yêu, để chúng con chứng minh cho sự hiệp nhất của Chúa. Amen.
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR
 
 

BaNgôi-171: BA NGÔI THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU

- Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
 

Có lẽ ai trong chúng ta cũng thuộc nằm lòng câu giáo lý về Một Chúa Ba Ngôi trong sách bổn: BaNgôi-171

Có lẽ ai trong chúng ta cũng thuộc nằm lòng câu giáo lý về Một Chúa Ba Ngôi trong sách bổn đồng ấu ngày xưa. Hỏi Đức Chúa Trời có mấy ngôi? Thưa Đức Chúa Trời có Ba Ngôi. Ngôi thứ nhất là Cha, Ngôi thứ Hai là Con, Ngôi thứ Ba là Thánh Thần.
Một câu giáo lý quen thuộc mà hết thế hệ này đến thế hệ khác đều học thuộc lòng một cách đầy đủ và chính xác từng lời và từng dấu chấm, dấu phẩy. Điểm đặc biệt là không ai thắc mắc tại sao Một Chúa mà lại Ba Ngôi? Có lẽ chúng ta không thắc mắc, không phải vì chúng ta đã hiểu mà vì cha mẹ chúng ta tin, và vì Hội thánh dạy chúng ta như thế. Thực vậy đức tin của chúng ta được trao ban từ Hội thánh và qua cha mẹ cùng người đỡ đầu tiếp tục bảo vệ, vun trồng đức tin của chúng ta.
Rồi dần dà theo thời gian, đức tin của chúng ta thêm kiên vững và được củng cố nhờ những ngày tháng học giáo lý và học hỏi lời Chúa. Chúng ta tin Một Chúa Ba Ngôi không do trí óc tưởng tượng của con người mà dựa trên thế giá lời chứng của Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu nói cho chúng ta biết. Chính Chúa Giêsu là lời mạc khải tròn đầy về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Ngài cho chúng ta biết, Ngài từ Chúa Cha mà đến. Ngài đến trần gian để thi hành thánh ý Chúa Cha, và khi hoàn tất công trình Chúa Cha trao phó, Ngài đã về trời và ban Thánh Thần đến thánh hóa thế gian trong ân sủng và tình yêu của Chúa.
Có một bà cụ đi xe lửa lần đầu tiên nên rất bỡ ngỡ sợ lầm tàu và lạc đường. Bà quay sang hỏi một hành khách ngồi bên cạnh:
    Thưa ông, tàu này có phải là tàu đi Roma không?
Ông ấy trả lời ngay:
    Vâng, đây là tàu đi Roma. Bà đừng lo, vì Roma là nhà của tôi, tôi phải về đó.
Nhưng bà ấy vẫn chưa thỏa lòng, cứ miên man nghĩ ngợi: Nhỡ ông kia cũng lầm tàu thì sao? Làm sao mà mình biết được? Vừa lúc ấy người tài công bước vào, bà hỏi:
Bác tài công ơi, tàu này là tàu đi Roma phải không?
Người tài công trả lời:
     Vâng, đây chính là tàu đi Roma. Tàu sẽ chạy trong vài phút nữa. Bà cứ việc ngồi thoải mái đừng lo lắng gì cả, sẽ tới Roma an toàn.
Tới lúc ấy bà mới yên tâm, vì bà đã hỏi người có thẩm quyền trên tàu. Bà ấy đã nhận được câu trả lời từ một người có thẩm quyền nên không còn lo sợ nữa.
Mỗi người chúng ta cũng đang đi trên hành trình đời sống, một hành trình vào cõi vĩnh hằng. Có rất nhiều tôn giáo. Có rất nhiều con đường của người này kẻ kia chỉ chúng ta con đường về trời. Nhưng chỉ có một người đáng chúng ta tin cậy, vì Ngài là Thiên Chúa. Ngài có đủ thẩm quyền để chúng ta tin lời Ngài là chân lý, là sự thật. Đó chính là Chúa Giêsu.
Thực vậy, chúng ta tin về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi và các mầu nhiệm khác trong đạo đều dựa vào lời chứng của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Thiên Chúa nên lời chứng của Ngài đáng để chúng ta tin. Chính Ngài đã làm nhiều phép lạ để chứng minh Ngài là Thiên Chúa và phép lạ lớn nhất đó là tự mình sống lại sau ba ngày chôn cất nơi huyệt mộ. Chính Ngài không chỉ nói về Chúa Cha mà cả cuộc sống của Ngài là để tôn vinh Chúa Cha và Ngài hằng sống đẹp lòng Chúa Cha.
Bên cạnh đó, với phương pháp loại suy chúng ta cũng có thể hiểu phần nào về mầu nhiệm Một Chúa ba Ngôi. Tựa như bóng đèn điện: có dòng điện, có ánh sáng và có hơi nóng. Hoặc như cùng một dòng nước chảy nhưng có thể hiện hữu dưới ba hình thái: thể hơi, thế rắn và thể lỏng, nghĩa là dạng hơi nước, dạng băng và dạng mưa.
Nhìn vào Thánh Kinh và lịch sử cứu độ, chúng ta thấy Thiên Chúa đã tỏ bày tình yêu của mình qua ba cách khác nhau: Chúa Cha đã tỏ mình ra qua việc tạo dựng vũ trụ vạn vật và con người. Cho dù con người có bất trung phản loạn Chúa vẫn yêu thương, yêu thương đến nỗi ban chính Con Một của mình là Đức Giêsu Kytô làm Đấng cứu chuộc trần gian. Cứu là giải thoát. Chuộc là cái gì của mình đã mất nay phải chuộc lại. Ngôi Hai Thiên Chúa đã giải thoát chúng ta khỏi nô lệ tội lỗi và sự chết, và chuộc lại chúng ta trở về làm cho cái Thiên Chúa bằng giá máu trên đồi Golgotha. Chúa Thánh Linh là Ngôi Ba Thiên Chúa đã thánh hóa chúng ta thành con cái Thiên Chúa và trở thành đền thờ của Ba Ngôi Thiên Chúa ngự trị.
Mừng lễ Chúa Ba Ngôi, là dịp để chúng ta tạ ơn tình thương của Chúa vẫn luôn bao phủ trên cuộc đời chúng ta. Chúa cho chúng ta được sinh ra làm người và làm con cái Thiên Chúa. Chúa là người cha nhân ái, chậm bất bình và rất mực khoan nhân. Chúa có giận thì giận trong giây lát, nhưng yêu thương thì yêu thương tới cùng. Cho dù chúng ta có yếu đuối bất toàn, Chúa vẫn yêu thương. Chúa không đoán phạt chúng ta theo như chúng ta đáng tội. Chúa như người cha luôn ngong ngóng chờ đợi đứa con tội lỗi trở về để được ôm con vào lòng và lại ban muôn ân huệ dư tràn. Xin Chúa giúp chúng ta luôn sống xứng đáng với tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa bằng đời sống sám hối và canh tân cho xứng đáng là con cái Chúa và xứng đáng là Đền Thờ cho Ba Ngôi Thiên Chúa ngự trị. Amen.
Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
 
 

BaNgôi-172:  MẦU NHIỆM CHÚA BA NGÔI TRONG ĐỜI TA

 -  Gioan L Quang Vinh
 

Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm cao cả nhất và khó giải thích nhất đối với : BaNgôi-172

Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm cao cả nhất và khó giải thích nhất đối với người Kytô hữu. Để lý giải mầu nhiệm, các cha giảng lễ và các giáo lý viên thường làm hai việc, một là kể lại câu chuyện quen thuộc: Thánh Augustinô được một em bé (là thiên thần) bảo rằng đừng nhọc công suy nghĩ về mầu nhiệm vượt quá trí khôn con người. Hai là cố gắng dùng những hình ảnh: tam giác, ngọn nến… để cắt nghĩa cho cộng đoàn. Nhưng dường như chuyện kể thì đã quá quen thuộc và hình ảnh thì nghèo nàn so với tính cách linh thánh và cao cả của mầu nhiệm ấy. Do đó, để nói về Thiên Chúa Ba Ngôi, có lẽ không gì hay hơn là nói như chính Chúa Giêsu, Ngôi Lời Nhập thể đã rao giảng.
1. Chúa Ba Ngôi như Lời Kinh Thánh.
Ngay từ thuở ban đầu, Chúa Cha đã dùng Lời phán ra mà tạo thành trời đất muôn loài, và Thần Khí Chúa bay là là trên mặt nước. Mầu nhiệm sáng tạo kỳ diệu như thế, đến nỗi tuy công trình sáng tạo là của Chúa Cha, vẫn có sự cộng tác mật thiết của Ngôi Lời và Ngôi Ba Thiên Chúa. Trong mầu nhiệm nhập thể, hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi vẫn xuất hiện rõ nét khi chúng ta đọc lại lời sứ thần nói với Đức Trinh Nữ đầy ơn phúc: “Thánh Linh sẽ rợp bóng trên Bà, và Đấng Bà sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa”. Những đoạn Tin Mừng kể lại việc Chúa Giêsu chịu cám dỗ, Chúa chịu phép rửa hay việc Chúa biến hình, đều có sự hiện diện nhiệm mầu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Mạc khải vĩ đại như thế, qua những đoạn Kinh Thánh bỗng trở nên rõ ràng hiển nhiên, đến nỗi khi suy ngắm những biến cố ấy, người ta không cần nhọc công hỏi tại sao Ba Ngôi Một Chúa, mà chỉ còn hỏi tại sao Chúa Ba Ngôi yêu chúng ta và sẵn sàng đến “cắm lều” ở giữa chúng ta. Và như thế, chúng ta hiểu được mầu nhiệm nhờ cảm được Tình Yêu.
2. Chúa Ba Ngôi là Tình Yêu.
Và khi cảm được Tình Yêu của Chúa Ba Ngôi, đến lượt mình chúng ta lại để mình hoá thân vào sống cho tình yêu. Cha xứ yêu thương dân Chúa, biết rõ từng con chiên và hy sinh cho đàn chiên, chứ không đóng vai kẻ chăn chiên thuê, thì dĩ nhiên bài giảng về Chúa Ba Ngôi của ngài sẽ tuyệt diệu biết bao. Anh chị giáo lý viên yêu thương các em, không la mắng hay đánh các em, và luôn để các em thấy được sự chăm sóc nhiệt thành, và nhờ vậy các em lại yêu thương nhau. Lúc đó, cộng đoàn là hình ảnh thật sự của Chúa Ba Ngôi, và ai lại phải mất giờ đi tìm những lý giải thần học cao siêu nữa? Có mấy nhà thờ nọ, nhưng cha xứ thì bận đi làm việc cho cái ỷ ban đàn két, thường hay tuyên bố những điều khiến giáo dân phải tán loạn lên. Nhiều năm nay nhà thờ hoang phế, người đi lễ cũng thờ ơ, giáo dân chán nản… Làm sao cha xứ ấy có thể giảng về Chúa Ba Ngôi cho dân Chúa được? Chắc chắn là không thể.
3. Chúa Ba Ngôi là niềm hạnh phúc của đời ta.
Thánh Vịnh 16 (9-11) và Thánh Vịnh 43 (4) diễn tả tâm tình hân hoan vì Chúa là nguồn vui, là niềm hạnh phúc của cuộc đời chúng ta. Cách đây hai mươi năm, tôi nghe một bài giảng về Chúa Ba Ngôi mà mãi cho đến bây giờ vẫn không quên được ý chính của bài giảng ấy. Cha giảng lễ là Cha già Thọ DCCT đã biểu lộ tất cả tâm hồn vui sướng của ngài khiến cộng đoàn vui lây niềm vui, niềm hạnh phúc vì được chia sẻ và sống trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Khi người ta có thể quên đi những nỗi buồn và những nỗi đau của thế gian, và hoà nhịp với hạnh phúc của Thiên Chúa, lập tức người ta cảm được mầu nhiệm mà không đòi phải giải thích dài dòng. Bé Sammy của chúng tôi mới bốn tuổi, nhưng lúc nào bé cũng nói “con yêu bố, con yêu mẹ”, và không ít lần bé nói “con yêu Giêsu”. Hình ảnh ấy, niềm vui ấy gia đình nào cũng có, và khi cảm thấy hạnh phúc như thế, chúng ta nói cho con trẻ về Chúa Ba Ngôi từ chính cảm nghiệm đó, và như vậy mầu nhiệm thánh đã đi vào chính cuộc đời mình.
Mừng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi chính là dịp chúng ta tuyên xưng niềm tin và loan truyền niềm vui hồng phúc của mình. Mừng Chúa Ba Ngôi cũng là mừng mầu nhiệm Sáng Tạo, Cứu Chuộc và Thánh Hoá. Giáo Hội bắt đầu mùa phụng vụ thường niên bằng đại lễ Chúa Ba Ngôi, để dân thánh hiểu rằng dù ở trong mùa phụng vụ đặc biệt hay suốt “quanh năm”, Tình Yêu Chúa vẫn bao phủ con cái Ngài trọn vẹn. Xin Đức Trinh Nữ Maria chúc lành cho chúng con, để chúng con sống mật thiết với Đấng Siêu Việt nhưng lại rất gần chúng con vì Ngài đã nâng chúng con lên, mang phẩm giá và hình ảnh của chính Ngài.
Gioan Lê Quang Vinh
 
 

BaNgôi-173: HUYỀN NHIỆM CỦA SỰ GẮN BÓ – Lm An Phong, OP

Hôm nay, Hội thánh long trọng tuyên xưng Thiên Chúa là Cha, là Con và là Thánh Thần: BaNgôi-173

Hôm nay, Hội thánh long trọng tuyên xưng Thiên Chúa là Cha, là Con và là Thánh Thần, một Thiên Chúa nhưng có Ba Ngôi. Hơn nữa, nhân danh Thiên Chúa ba Ngôi, Hội thánh có sứ mạng đến với muôn dân, làm cho họ trở nên môn đệ Ðức Giêsu và lãnh nhận bí tích Thanh tẩy.
Chúa Ba Ngôi được biểu thị bằng một vòng tròn, trong đó có một tam giác đều. Biểu tượng này diễn tả sự bằng nhau, sự duy nhất : Ba nhưng là Một, Một mà lại là Ba. Bất cứ điểm nào nơi vòng tròn cũng đều là khởi điểm và là tận điểm của đường tròn. Hình tam giác, được nhìn dưới mọi góc cạnh, vẫn đều y nguyên, không có gì thay đổi hay khác nhau. Cha, Con và Thánh Thần đều bằng nhau, đều duy nhất, gắn bó mật thiết với nhau.
Quả là khả năng của con người rất giới hạn khi muốn hiểu và diễn tả mầu nhiệm Ba Ngôi. Dường như trong ngôn ngữ chúng ta, Cha thì hơn Con; dường như chúng ta không thể tưởng tượng ra thế nào là "một" mà lại "ba"… Nhưng dù thế nào đi nữa, điều chính yếu của mầu nhiệm Thiên Chúa ba Ngôi vẫn chỉ là mầu nhiệm Tình yêu.
Trong một Thiên Chúa, Cha - Con - Thánh Thần gắn bó yêu thương (hướng nội). Và Thiên Chúa yêu thương nhân loại, nên đã tạo dựng vũ trụ và con người (hướng ngoại). Ðó là hai chiều kích của tình yêu mà chỉ nơi Thiên Chúa mới có.
Con người chỉ có hành vi hướng ngoại, là yêu thương ai khác mình; còn nếu hướng nội thì lại là ích kỷ (yêu mình). Như thế, Kitô giáo luôn kêu gọi sống và đáp trả tình yêu Thiên Chúa bằng cách yêu thương đồng loại.
Hơn thế nữa, lời mời gọi đến với muôn dân, làm cho họ trở nên môn đệ của Ðức Giêsu, đó là lời mời gọi thực thi tình yêu Kitô giáo nhân danh Chúa Ba Ngôi. Con người là hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, nên luôn khát vọng được sống trong tình yêu. Mọi người cần được chìm ngập trong mầu nhệm Tình Yêu, lãnh nhận phép Rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, phép Rửa Tình yêu.
Ngày lễ Chúa ba Ngôi là dịp để chúng ta suy nghĩ lại về phép Rửa Tình yêu đã được lãnh nhận. Phép rửa đó chẳng phải là sức mạnh biến đổi đời sống người kitô hữu trong tình mến Chúa yêu người đó sao ?
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã làm người như chúng con,
để chúng con được làm con Thiên Chúa.
Nhờ Mình Thánh Chúa nuôi dưỡng,
xin cho chúng con biết góp phần xây dựng đời sống
theo hình ảnh cộng đồng yêu thương
của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Lm. An Phong, OP
 
 

BaNgôi-174: THỪA KẾ - Lm. Giuse Đỗ Văn Lực, OP

Sống trong một thế giới đầy thất vọng và sợ hãi, con người tìm đâu chỗ dựa vững chắc cho: BaNgôi-174:

Sống trong một thế giới đầy thất vọng và sợ hãi, con người tìm đâu chỗ dựa vững chắc cho hiện tại và tương lai ? Mầu nhiệm Ba Ngôi có thể mạc khải tất cả sự thật và soi sáng cho con người vượt qua bóng tối trần gian.

MẦU NHIỆM LỚN NHẤT
Ðức Giêsu đã mạc khải về mầu nhiệm Ba Ngôi khi kêu gọi các môn đệ : làm phép rửa cho muôn dân "nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần." (Mt 28:19) Ðây là một mầu nhiệm cao cả nhất được mạc khải rõ ràng nhất trong một công thức vắn tắt nhất. Một chấm chót đã tóm lược toàn bộ mạc khải về Thiên Chúa và con người. Thiên Chúa là Mầu nhiệm Tuyệt đối đã tự mạc khải và giao tiếp với loài người nhờ Thánh Linh và qua lịch sử cứu độ. Nhờ ân sủng, Thiên Chúa hiện diện và đi vào tận thâm cung lòng người. Khi hiện diện trong lịch sử cứu độ, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi trở thành nhiệm cục Thiên Chúa cứu độ. Vĩnh hằng hóa thành thời gian. Nhờ Thánh Linh, mạc khải trở thành biến cố hiện tại. Ðức Giêsu thành hiện thực cho cuộc sống hôm nay.
Chính vì thế, Ðức Giêsu mới sai các môn đệ đến với muôn dân và hứa "ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 16:20) để thực hiện công cuộc cứu độ đó. Nhờ Thánh Linh, Người hiện diện và hành động với tất cả sức mạnh vô biên, vì "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất." (Mt 28:18) Với sức mạnh đó, Giáo hội có thể hoàn thành sứ mệnh cứu độ một cách vẻ vang. Không gì có thể cản trở bước chân người môn đệ đến với muôn dân. Vì chính Người hành động trong họ, khi họ "nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (Mt 28:19) uốn nắn muôn dân "tuân giữ mọi điều Thày đã truyền." (Mt 28:20) Trước bao quyến dũ trần gian, Kitô hữu không dễ dứt bỏ quyền lợi mà nghe theo Lời Chúa. Phải có sức mạnh kinh hồn mới lôi họ ra khỏi những đam mê tầm thường và dai dẳng. Sức mạnh đó chính là Thánh Linh.
Nhưng như thế không có nghĩa họ phải dứt bỏ những bận tâm hằng ngày và những thăng trầm trong cuộc sống trần gian để đạt tới một tình trạng đạo đức cần thiết cho sứ mạng tông đồ, mặc dầu "Kitô hữu được kêu gọi nên thánh. Ơn gọi này bắt nguồn từ bí tích thanh tẩy và canh tân bằng các bí tích khác, nhất là bằng bí tích Thánh Thể." (ÐGH Gioan Phaolô II: Zenit 08/06/2003) Sự thánh thiện tùy thuộc Kitô hữu có nhờ Thánh Linh mà sống trong Ðức Kitô hay không. Sự thánh thiện này vô cùng cần thiết cho sứ mạng cứu độ. Lý do vì chỉ trong Ðức Kitô, họ mới có thể đi vào cuộc hiệp thông thân mật với Thiên Chúa và với những ai đón nhận ơn cứu độ nhờ cái chết của Ðức Kitô. Chỉ trong cuộc hiệp thông này, người ta mới có thể tìm được một ngôn ngữ diễn tả mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa cứu độ. Nói khác, sứ mệnh cứu độ được hoàn thành trong cuộc hiệp thông lớn lao đó.
Sứ mệnh đó nhắm tới "muôn dân". Chiều kích phổ quát này bao trùm mọi dân tộc và văn hóa. Sứ mệnh đó phát xuất từ lời Thày chí thánh mời gọi: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ." (Mt 28:19) Phải "đi" ra khỏi nơi lối mòn và tới tứ phương thiên hạ rao giảng Tin Mừng. Không ra khỏi lối mòn đó, không thể thấy chiều kích lớn lao của sứ mệnh cứu độ. Thật vậy, sứ mệnh này bắt nguồn từ tương quan Ba Ngôi. Chúa Con đã được sai đến trần gian để hòa giải nhân loại với Thiên Chúa và hiệp nhất mọi người với nhau. Chúa Thánh Linh cũng được sai đến qui tụ các tín hữu thành một thân thể để hiệp thông và thi hành sứ mệnh cứu độ như Ðức Giêsu. Bởi đấy, Giáo hội luôn hoạt động để làm cho mọi người tham dự vào mầu nhiệm cứu độ của Ðức Giêsu. Bản chất Giáo hội là truyền giáo, nghĩa là mời gọi mọi người vào gia đình Ba Ngôi, để từ đó họ cảm nhận và sống tình yêu Thiên Chúa và chia sẻ với mọi người tình yêu huynh đệ.
Ðể hoàn thành sứ mệnh đó, các môn đệ phải nỗ lực "dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thày đã truyền cho anh em," (Mt 28:20) tức là giới răn tình yêu. Khi công bố Tin mừng, họ gieo vào lòng nhân loại hạt giống "tự do và tiến bộ … tình huynh đệ, hiệp nhất và hòa bình." (A.G. 8) Theo Thượng Hội Ðồng Giám Mục Thế Giới 1971, "sứ mệnh dân Chúa là thăng tiến công lý trên thế giới." Bởi đấy, Giáo hội cổ võ và xây dựng hòa bình.

TIN MỪNG : MỘT GIA TÀI VÔ GIÁ
Chính Thánh Linh làm cho Tin Mừng thấm sâu vào các cơ cấu xã hội và văn hóa. Tin Mừng trở thành sức mạnh giải thoát lớn lao cho toàn thể nhân loại. Giáo hội góp phần đem lại tự do như một giá trị lớn nhất cho nhân loại. Thật vậy, Kitô giáo "đã góp phần tạo nên bản chất Âu châu. Chỉ cần đi thăm bất cứ thành phố nào trên lục địa này, vào bất cứ bảo tàng viện nào, đọc bất cứ văn chương quốc gia nào cũng thấy" sự đóng góp của Kitô giáo trong lịch sử (Giorgio Salina : Zenit 11.06.2003).
Thực tế, người ta đang muốn loại bỏ ảnh hưởng Kitô giáo bản dự thảo Hiến pháp Âu châu. Salina lưu ý, ngay trong lời mở đầu, bản dự thảo khẳng quyết "Hiến pháp theo tinh thần dân chủ vì quyền lực không nằm trong tay thiểu số nhưng toàn dân." (Zenit 11.06.2003) Thực ra họ không muốn nhắc đến Thiên Chúa, chứ không phải nguồn gốc Kitô giáo mà thôi." (Giorgio Salina : Zenit 11.06.2003)
Ngay cả nước Pháp theo tinh thần tục hóa cũng lên tiếng phản đối việc loại bỏ Kitô giáo ra khỏi lời mở đầu bản dự thảo Hiến pháp Âu châu tương lai. Một nhà bình luận chính trị, ông Bernard Guetta viết : "Khi bàn về nguồn gốc Kitô giáo Âu châu, tôi nhận thấy Kitô giáo bị bỏ quên. Ðó là một xỉ nhục đối với trí thông minh. Với tư cách một người vô thần kiên định, tôi cương quyết phản đối. Không nhắc tới gia tài Kitô giáo tại Âu châu tức là chối bỏ chứng cứ lịch sử." (Zenit 12.06.2003) Mất gốc, Âu châu không thể đứng vững và vươn lên được.
Muốn lấy lại bản sắc và vị thế của mình, Âu châu phải "tái khám phá và làm chứng cho mọi người thấy căn tính Kitô giáo để cổ động những giá trị làm nền tảng cho hòa bình giữa các dân tộc, công bình xã hội và tình liên đới quốc tế. Nếu Âu châu muốn liên kết con người và các dân tộc để sống hòa hợp trong sự kính trọng sâu xa và bao dung với nhau, lục địa này phải lấy Chúa Kitô làm nguồn hứng khởi." (ÐGH Gioan Phaolô II: Zenit 11.06.2003) Chỉ có Ðức Kitô mới là con đường dẫn đến hòa bình và tự do đích thực. Chỉ Người mới là chân lý giải thoát và là sự sống sung mãn cho toàn thể nhân loại. Chỉ Người mới có thể khẳng quyết cho Âu châu biết rõ "chính Ðức Chúa là Thiên Chúa, chứ không có thần nào khác nữa." (Ðnl 4:39)
Âu châu muốn xa lìa nguồn gốc Kitô giáo vì phong trào tục hóa ảnh hưởng vào toàn bộ cuộc sống. Ðây là dấu chỉ mãnh liệt về một nhu cầu phải gấp rút tái Phúc âm hóa Âu châu. Muốn thế, cần phải thận trọng phân tích hoàn cảnh văn hóa cụ thể đã ảnh hưởng tới Âu châu như thế nào. Hiện nay đang có một nhu cầu sâu xa đòi phải nhập thể toàn diện trong các lãnh vực thần học, linh đạo và phụng vụ. Muốn thỏa mãn nhu cầu đó, người ta phải tôn trọng toàn bộ truyền thống Tin mừng cũng như những cách biểu lộ khác nhau của truyền thống ấy.
"Khi rao giảng Tin mừng, cử hành bí tích Thánh Thể, làm chứng tá Phúc âm, cam kết cải hóa đời sống xã hội và chính trị, Giáo hội vừa là bí tích vừa là người đầy tớ phục vụ Vương Quốc Thiên Chúa." (The New Dictionary of Theology 1989:667) Cần nhiều nỗ lực hơn nữa mới có thể phục hồi Âu châu và toàn thế giới theo khuôn mẫu Vương Quốc Thiên Chúa, nơi chúng ta sẽ "đồng thừa kế với Ðức Kitô" (Rm 8:17) để hưởng "sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần." (Rm 14:17)
Lm. Giuse Đổ vân Lực, OP
 
 

BaNgôi-175: HÃY NÓI CHO MUÔN DÂN

 - Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP
Mầu nhiệm sống động
 

Cựu Ước chưa có mạc khải rõ ràng về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Điều này cũng dễ hiểu: BaNgôi-175

Do đó, làm phép rửa tức là làm trào vọt lên sự sống, chứ không phải là tập họp con người dưới cùng một quyền bính. Làm phép rửa chính là làm cho mặc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi vang vọng giữa những vực sâu khác biệt của con người và của muôn dân.
Tiến lên phía trước
Tin Mừng Mát-thêu chấm dứt với cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa Ðức Giê-su và các môn đệ. Theo tác giả sách Tin Mừng, vào thời điểm quan trọng này, các tông đồ sụp lạy Ðức Giê-su, nhưng vẫn có mấy ông hoài nghi.
Trong cuộc gặp gỡ này Ðức Giê-su truyền cho các môn đệ : "Vậy anh em hãy đi…". Bây giờ không phải là lúc đứng tại chỗ để đặt ra những câu hỏi chung quanh ngôi mộ trống. Các môn đệ cần phải hiểu rằng phục sinh không phải là đích điểm, nhưng là một khởi đầu. Tất cả những điều Ðức Giê-su nói và làm, có thể nói, chỉ có ý nghĩa như một cuộc chuẩn bị cho cuộc phiêu lưu mới này của các tông đồ, trong đó phục sinh mới chỉ là bình minh, còn cả một ngày ở phía trước. Cuộc phiêu lưu mới này, không phải chỉ là của người Do-thái, những người đã ký kết giao ước với Thiên Chúa, nhưng là tất cả mọi người : muôn dân.
Ngày nay, đôi khi chúng ta tự nhận mình là sở hữu chủ của lời mặc khải, những người nắm giữ "các giới răn". Ðức Ki-tô không kêu mời chúng ta trở thành những người thông thạo giáo lý, nhưng là trở thành môn đệ, tức là những người giúp cho người khác gặp gỡ Ðức Giê-su Ki-tô như chúng ta đã gặp gỡ.
Ðàng khác, Ðức Ki-tô không sai chúng ta đi thu nạp, nhưng là để làm phép rửa. Và làm phép rửa trong Thánh Thần chứ không phải chỉ trong nước. Nhờ phép rửa này mỗi người được Thiên Chúa nhận làm con, mỗi người nhận được tên của mình. Hội Thánh bắt đầu sứ mạng ra đi của mình từ cuộc gặp gỡ giữa Ðức Giê-su Phục Sinh với các môn đệ ở Ga-li-lê. Cuộc ra đi này chỉ có thể thực hiện và đạt kết quả tốt đẹp trong Thánh Thần.
Chỉ Thánh Thần mới có sức mạnh để giật con người ra khỏi những nghi ngờ và thói quen. Chỉ mình Người ban hơi thở cho chúng ta có sinh khí để công bố Tin Mừng cả vào lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện. Chỉ mình Người là sức sống mới trong phép rửa do Ðức Ki-tô chịu khổ nạn và phục sinh thiết lập.
Cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều có mặt trong sinh hoạt của Hội Thánh: Thánh Thần hướng dẫn mọi công cuộc truyền giáo, Chúa Con hiện diện trong thế giới và mở ra con đường hướng về Chúa Cha. Như thế, trong mỗi mùa phụng vụ - Giáng Sinh, Phục Sinh, Hiện Xuống, Thường Niên - chúng ta đều gặp gỡ Thiên Chúa rồi ra đi loan báo Tin Mừng : sự chết đã bị đánh tan, Ðức Ki-tô đã phục sinh.
Hãy nói cho muôn dân
lời mà gió thì thầm với tảng đá
và biển cả nói với núi non.
Hãy nói cho muôn dân biết
về tấm lòng bao la vẫn thấm nhập cả vũ trụ.
Hãy nói cho muôn dân biết
Thiên Chúa không chỉ là Ðấng người ta tin,
nhưng Người còn là chén rượu,
là bữa ăn mọi người được chia sẻ,
trong đó mọi người lãnh nhận và trao ban.
Hãy nói cho muôn dân biết
Người là kẻ thổi sáo lúc giữa trưa :
tiếng nhạc vang lên khúc xa gần.

Hãy nói cho muôn dân biết
Thiên Chúa không chỉ là điều bạn nói ra
và bạn vẫn chưa biết rõ về Người.(theo phụng vụ Pháp)
Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP
 
 

BaNgôi-176: NHÂN DANH CHÚA CHA, VÀ CHÚA CON

, VÀ CHÚA THÁNH THẦN - Manna
* LỜi Chúa: Mt 28,16-20
Hôm ấy, 16 Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Ðức Giêsu đã truyền cho các ông đến. 17 Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. 18 Ðức Giêsu đến gần, nói với các ông: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. 19 Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 20 dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".
 * Suy Niệm
"Nếu bạn đi khắp cùng trời cuối đất, bạn sẽ gặp những dấu vết của Thiên Chúa. Nếu bạn đi thẳng vào cung lòng bạn, bạn sẽ gặp chính Thiên Chúa."
 

Nhiều người đã gặp thấy Ngài nhờ chiêm niệm suy tư. Nhưng con người không thể biết hết về BaNgôi-176

Nhiều người đã gặp thấy Ngài nhờ chiêm niệm suy tư. Nhưng con người không thể biết hết về Thiên Chúa, cũng không thể mô tả cho đủ về Ngài. Có những thiếu sót, vụng về và đôi khi sai lạc. Ai có thể giúp ta thấy được khuôn mặt thực của Thiên Chúa? Ai sẽ chỉ cho ta con đường để gặp gỡ Ngài? Phải là Ðấng ở nơi cung lòng Thiên Chúa, Ðấng ấy là Ðức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể. Nhờ Ðức Giêsu mà mầu nhiệm Thiên Chúa được vén mở, nhờ Ngài mà chúng ta biết có một Thiên Chúa duy nhất trong ba Ngôi Vị là Cha, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi khác nhau nhưng là cùng một Thiên Chúa. Thiên Chúa là Tình Yêu, Ngài duy nhất nhưng không đơn độc. "Ta và Cha là một" (Ga 14,10). "Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta" (Ga 16,15). Tình yêu khăng khít giữa Cha và Con là Thánh Thần. Trong niềm hạnh phúc sung mãn,
Ba Ngôi đã dựng nên con người giống hình ảnh mình
và muốn đưa con người đi vào hiệp thông với Thiên Chúa.
"Ðến với Chúa Cha, nhờ Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần":đó là hành trình thiêng liêng của mọi Kitô hữu.
Chúng ta cần ý thức về sự hiện diện của Ba Ngôi ở trong ta. "Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và Chúng Ta sẽ đến và cư ngụ nơi người ấy" (Ga 14,23). "Cha sẽ ban cho các anh một Ðấng Phù Trợ khác để Ngài ở với các anh luôn mãi" (Ga 14,16).
Chúng ta cần có tương quan riêng với từng Ngôi! Chúa Cha, Ðấng hằng làm việc để duy trì vũ trụ, con người. Chúa Con, Ðấng cứu chuộc nhân loại bằng hy sinh mạng sống. Chúa Thánh Thần, Ðấng thánh hoá và dẫn dắt Giáo Hội.
Sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là sống hiệp thông và chia sẻ, là ở lại trong Tình Yêu vì "ai ở trong Tình Yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy" (1Ga 4,16).
Mỗi ngày chúng ta làm dấu nhiều lần trên thân xác "Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần." Ước gì chúng ta cũng biết in dấu Chúa Ba Ngôi trên cuộc đời ta, trên thế giới chúng ta đang sống. Chúng ta đã được chịu Phép Rửa nhân danh Chúa Ba Ngôi, nhưng làm Phép Rửa cho muôn dân vẫn còn là ước mơ Ðức Giêsu chờ ta thực hiện.

* GỢi Ý Chia SẺ
     Khi cầu nguyện, Ðức Giêsu gọi Thiên Chúa là Abba, Cha ơi! Có khi nào trong đời, bạn thấy Thiên Chúa thật là người Cha nhân từ không? Có khi nào bạn gặp khủng hoảng đến nỗi mất niềm tin rằng Cha yêu mình không?
    Một thi sĩ Pháp - Jacques Prévert - đã viết hai câu thơ ngắn: "Lạy Cha chúng con ở trên trời, xin Cha cứ ở yên trên ấy!" Theo bạn, Thiên Chúa có phải là kẻ làm phiền con người không?

 * Cầu Nguyện
Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận, xin dạy con biết phục vụ âm thầm.
Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt, xin dạy con biết yêu thương tự hiến.
Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ, xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.
Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị, xin dạy con biết coi mọi người như anh em.
Lạy Chúa Ba Ngôi,
Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng, xin cho các Kitô hữu chúng con trở thành tình yêu cho trái tim khô cằn của thế giới.
Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh.
Lạy Ba Ngôi chí thánh, xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa ở sâu thẳm lòng chúng con, và trong lòng từng con người bé nhỏ.
Manna
 
 

BaNgôi-177:  BA NGÔI ĐỀU CHỈ HÀNH ĐỘNG CHO TA

 VÀ CHỈ MUỐN YÊU TA - . Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm
Đnl 4,32-34.39-40; Rm 8,14-17; Mt 28,16-20
Phúc Âm: Mt 28, 16-20
"Làm phép rửa cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần".
Khi ấy, mười một môn đệ đi về Galilêa, đến núi Chúa Giêsu chỉ trước. Khi thấy Người, các ông thờ lạy Người, nhưng có ít kẻ còn hoài nghi. Chúa Giêsu tiến lại nói với các ông rằng: "Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy. Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần; giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế".
Suy NiỆm:
 

Chúa nhật trước, chúng ta mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống. Hôm nay, chúng ta mừng: BaNgôi-177

Chúa nhật trước, chúng ta mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống. Hôm nay, chúng ta mừng lễ Thiên Chúa Ba Ngôi. Liên lạc, tương quan giữa hai ngày lễ có thể tìm thấy ngay trong bài đọc II hôm nay. Thánh Phaolô quả quyết: chúng ta đã nhận được tinh thần nghĩa tử và trong tinh thần ấy chúng ta kêu lên rằng Abba, lạy Cha. Vì chính Thánh Thần làm chứng cho tâm trí chúng ta rằng: chúng ta là con cái Thiên Chúa.
Như vậy theo thánh Phaolô, chính Thánh Thần khi ngự xuống lòng ta, đốt lửa mến Chúa lên trong lòng ta khiến ta tự nhiên gọi Thiên Chúa là Cha. Rồi trong một đoạn thư khác, thánh Phaolô lại viết: cũng như trong con người chúng ta, chỉ có một tinh thần chúng ta mới hiểu biết được những sự thâm sâu ở trong mình; thì cũng vậy, chỉ có Thánh Thần mới hiểu biết được mầu nhiệm sâu xa nơi Thiên Chúa. Thế mà Thánh Thần đã hiện xuống trên chúng ta, hành động nơi tâm hồn chúng ta, nên sau lê Chúa Thánh Thần Hiện xuống, chúng ta mừng lễ Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi thật là phải lẽ. Chính Chúa Yêsu cũng đã tuyên bố: khi Thánh Thần đến Người sẽ dạy dỗ chúng ta tất cả sự thật và nhắc nhở, soi sáng để chúng ta hiểu lại mọi điều Chúa Yêsu đã nói với chúng ta. Thế mà sứ mạng giáng trần của Chúa Yêsu cũng là mạc khải danh Chúa Cha cho loài người, tức là làm cho loài người hiểu biết về Thiên Chúa. Do đó sau Chúa nhật lãnh nhận Thánh Thần, hôm nay chúng ta được hiểu biết về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi để mến yêu nhiều hơn và được hạnh phúc.
Như hôm lễ Hiện xuống, chúng ta đã thấy sau khi nhận được Thánh Thần, các tông đồ trở nên sốt mến, nói lên những lời ca tụng các kỳ công của Thiên Chúa. Ðó là các tác động đầu tiên của ơn Thánh Thần. Không phải vô lý mà Người đã lấy hình lưỡi lửa để hiện xuống. Lửa vừa soi sáng vừa sưởi nóng. Thánh Thần soi sáng để chúng ta biết Chúa và sốt sắng yêu mến Chúa. Người là tình yêu. Tình yêu tràn ngập lòng ai sẽ làm cho người đó kêu lên những lời ân ái. Mà lời ân ái chúng ta tự nhiên kêu lên Thiên Chúa khi hiểu tình thương của Người là "Abba, lạy Cha".
Thiên Chúa thật là Cha chúng ta và là Cha của mọi tạo vật. Chính Người đã dựng nên trời đất và sinh ra tất cả mọi loài. Người yêu thương loài người hơn hết, nên đã dựng nên họ sau hết mọi loài, để vừa sinh ra con người đã có đủ mọi sự cần dùng. Người còn yêu thương ta đến nỗi đã dựng nên chúng ta giống hình ảnh Người và sinh ra loài người có nam có nữ để ngay từ đầu con người đã biết sống bằng tình thương. Sách thánh còn kể Thiên Chúa dựng nên địa đàng cho Adong Evà. Và nếu chúng ta biết nhìn thì sông kia núi nọ chim trời cá nước, tất cả đều nói lên sự phong phú hùng vĩ tươi đẹp của thiên nhiên, chứng tỏ khả năng tạo dựng sinh sản kỳ diệu của Ðấng hóa công. Ai nhìn thấy giang san gấm vóc và các cảnh núi non hùng vĩ mà không gọi trời là Cha?
Nhưng Thánh Thần ở trong lòng ta không phải chỉ muốn kêu lên chữ "Cha" tự nhiên ấy... Người cũng đã ở trong lòng và nơi môi miệng Môsê để ông còn nhắc đi nhắc lại trong bài đọc I hôm nay: Thiên Chúa là Cha của dân. Người đã coi dân như con cái, không phải chỉ giải phóng dân khỏi ách đô hộ, ban đất chảy sữa và mật cho dân, nhưng nhất là làm cho dân những kỳ công mà ai nhìn vào cũng thấy ngay. Người cưng dân như cha như mẹ. Có lần Người tuyên bố rõ hơn: Người đã ghi tên dân vào lòng bàn tay đến nỗi dù có người mẹ nào quên được con cái thì Người cũng chẳng bao giờ quên dân. Môsê bảo người Dothái đừng bao giờ quên điều đó. Hạnh phúc cho họ nếu họ luôn luôn nhớ rằng, không những Chúa là Cha của họ vì đã sinh ra họ, nhưng nhất là vì Chúa đã chọn họ giữa muôn ngàn dân để yêu chiều họ như con cưng trìu mến.
Người Kitô hữu còn có lý do sâu xa hơn nữa để kính thờ Thiên Chúa là Cha. Bởi vì sang thời Tân Ước Thiên Chúa đã yêu thương loài người đến nỗi sai Con Một yêu quý Người xuống thế để làm cho tất cả những ai tin vào Con yêu quý Người, trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa Cha. Mà quả vậy, từ ngày tin Chúa Yêsu, chúng ta đã được cầu xin Thiên Chúa rằng: lạy Cha chúng con ở trên trời. Chúa Yêsu đã sát nhập chúng ta vào trong cơ thể Người, để ở trong Người, chúng ta được xưng Cha - con với Thiên Chúa. Việc xưng hô này sâu xa khác hẳn khi lương dân gọi trời là Cha và khi người Dothái kêu Ðức Yavê là Cha. Chúng ta kêu Thiên Chúa là Cha khi chúng ta ở trong cơ thể Ðức Kitô là Con Một yêu dấu của Thiên Chúa. Như lời Thánh Thư hôm nay nói: chúng ta là con Chúa một cách đặc biệt, nên chúng ta là người thừa tự tất cả những gì mà Thiên Chúa có và đã làm ra, như con cái trong nhà sẽ được lãnh nhận tất cả gia sản mà cha mẹ đã tạo dựng. Thiên Chúa đã tạo dựng trời đất. Thiên Chúa đã làm những kỳ công trong lịch sử. Tất cả bây giờ thành sản nghiệp của chúng ta vì chúng ta đã là con cái Chúa trong Ðức Yêsu cứu thế.
Như vậy, ngày lễ Thiên Chúa Ba Ngôi hôm nay trước hết chúng ta hãy thờ lạy, kính yêu cảm tạ Thiên Chúa Cha. Người thật là Cha vì hằng nuôi dưỡng chúng ta và nhất là vì Người không ngừng ban ơn nghĩa tử để chúng ta được làm con Người ở trong Ðức Kitô. Và chúng ta chỉ có thể hiểu được tình Cha của Người khi nhìn vào tương quan giữa Người với Ðức Kitô.
Phúc Âm cho ta thấy Ðức Kitô không phải chỉ là một nhà tiên tri xuất chúng, một vị sáng lập ra một tôn giáo mới. Từ khi đầu thai tới khi vượt qua về trời, để gửi Thánh Thần xuống, tất cả cuộc đời của Người nói lên Người chỉ là Chúa Con lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa Cha. Chính Người đã nói: Người không có gì riêng cả. Mọi sự ở nơi Người, cho đến sự sống và sự chết, giáo lý cũng như việc làm hết thảy đều của Chúa Cha ban cho và trao cho. Thấy Chúa Cha sống làm sao, Người làm y hệt như vậy, đến nỗi Người nói với Philipphê: "Ai thấy Thầy cũng thấy Cha Thầy", vì thật ra Người chỉ là hình ảnh Chúa Cha. Người với Chúa Cha là một. Người xuống trần gian đâu có phải để làm việc riêng. Ý của Chúa Cha là lương thực nuôi dưỡng Người hằng ngày và Người chỉ sống để mạc khải Danh Chúa Cha, để hoàn tất mọi điều Chúa Cha đã viết về Người. Cuối cùng Người đã phải chết nhục nhã khổ sở cũng chỉ vì Người dám quyết mình với Chúa Cha là một. Người với Chúa Cha là một, bởi vì giữa Chúa Cha và Chúa Con, giữa hai ngôi vị ấy, tương quan mật thiết sâu xa duy nhất đến nỗi ai thấy Chúa Con cũng như thấy Chúa Cha, vì Chúa Con không tự mình có gì cả nhưng Chúa Cha đã ban tất cả những cái gì Chúa Cha có cho Chúa Con. Thành ra chúng ta chỉ thật sự được làm con cái Thiên Chúa nếu chúng ta được ở trong cơ thể Chúa Con. Và đó là điều chúng ta đã được từ ngày rửa tội. Và mỗi khi đến với Mình Thánh, chúng ta lại được đồng hóa hơn với Chúa Con, để khi hợp nhất với Chúa Con, chúng ta được thật là con cái Chúa Cha.
Và như vậy để làm gì?
Như thánh Phaolô đã nói trong bài thư hôm nay, để chúng ta được đồng thừa tự với Ðức Kitô. Và muốn biết Ðức Kitô đã được thừa tự gì, chúng ta hãy xem ngày Người sống lại và lên trời. Người đã được đầy Thánh Thần đến nỗi thân thể của Người đã trở nên sáng láng vinh quang y như vinh quang của Thiên Chúa Cha. Và Người đã sai Thánh Thần đó xuống cho các môn đệ trong ngày Hiện xuống. Chúng ta chỉ cần nhìn vào đó mà hiểu biết Chúa Thánh Thần. Người vô hình nhưng hành động mãnh liệt. Người hành động như Chúa Cha vì Chúa Cha sinh ra muôn vật thế nào, bây giờ Người đổi mới vũ trụ như vậy. Tất cả đã được tạo dựng lại trong ngày Người hiện xuống. Người cũng hoàn thành công việc của Chúa Con vì tất cả những gì Chúa Con muốn làm cho trần gian, bây giờ Người củng cố, đẩy mạnh và hoàn tất. Người với Chúa Cha và Chúa Con cũng chỉ là một. Và cả ba đều hành động theo một mục tiêu duy nhất: làm cho tất cả con cái loài người cùng toàn thể vũ trụ được chia sẻ sự sống đời đời và hạnh phúc bất tận của chính các Người là Ba Ngôi Thiên Chúa.
Ngày lễ Chúa Ba Ngôi muốn chúng ta suy niệm chương trình cứu độ đầy tình thương đó. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi không được viết trong sách toán, nhưng trong sách Thánh là sách mạc khải các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Câu tóm tắt sách Thánh, cô đọng mọi mạc khải đã được Phúc Âm hôm nay gợi lên khi viết: chúng con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, để hiến dâng họ cho Thiên Chúa Ba Ngôi.
Như vậy, từ nay chúng ta hãy quý dấu Thánh giá, hãy làm dấu đó để hiến dâng mình đi vào sự sống phúc lộc của Thiên Chúa Ba Ngôi. Và mỗi lần muốn hiểu thêm về mầu nhiệm này, đọc tất cả sách Thánh một lúc không được, nhưng nếu cứ ngẫm suy mọi điều trong kinh Tin Kính, chúng ta sẽ lần lượt hiểu rõ tình thương của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, khiến chúng ta sẽ thấy đời thật ý nghĩa. Tôi mời anh chị em đứng lên sốt sắng đọc kinh ấy, để hiểu thêm về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, để thấy rõ ràng Ba Ngôi đều chỉ hành động cho ta và chỉ muốn yêu ta.
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm
 
 

BaNgôi-178: THIÊN CHÚA BA NGÔI

Có một vị ẩn sĩ, vào sa mạc tìm đời sống cầu nguyện và kết hợp với Chúa. Nhưng sau một thời: BaNgôi-178

Có một vị ẩn sĩ, vào sa mạc tìm đời sống cầu nguyện và kết hợp với Chúa. Nhưng sau một thời gian dài, ông cảm thấy dường như Chúa không còn yêu thương mình nữa, vì ông thấy mình buồn chán thất vọng.
Qua bao nhiêu cố gắng nhưng không thể nào tìm được sự an bình thư thái. Ông ngỡ rằng Chúa đã rời xa mình nên ông mới gặp tình trạng như thế. Ông lang thang buồn chán.  Bỗng có tiếng gọi, ông biết đó là tiếng của Chúa, ông lên tiếng gắt gỏng trả lời: "Chúa đã bỏ con, tại sao còn gọi con làm gì?". Chúa nhỏ nhẹ trả lời :"Ta đâu có bỏ con, con hãy nhìn lại đoạn đường con đã đi, con thấy được điều gì?". Ông vội nhìn lại phía sau và nhìn thấy, không phải chỉ có hai dấu chân của ông in trên cát, nhưng bên cạnh còn có những dấu chân của một người khác, đi theo từng bước chân của ông.  Chúa bảo ông: "Đấy là những dấu chân của Ta luôn theo sát bên con. " Ông vui mừng bước đi với tâm hồn phấn khởi.
Đến trưa, mặt trời chiếu những tia nắng nóng như thiêu đốt, ông mệt lã người, ông vội nhìn ra sau, thì hỡi ôi ! chỉ còn có những bước chân mệt mỏi của ông kéo lê lết trên đường. Ông vội la lên: "Đó Ngài lại bỏ con nữa rồi, nên con mới mệt lã như thế nầy". Chúa lên tiếng vỗ về và giải thích cho ông: "Ta đâu có bỏ con, con hãy nhìn kỹ xem, những dấu chân đó là những dấu chân của Ta chứ đâu phải của con, vì Ta đã bế con trên đôi tay của Ta".
Vị ẩn sĩ nhìn lại, quỳ gối xuống và tạ ơn Chúa. Ông tiếp tục cuộc hành trình của mình, và từ đó không còn kêu trách Chúa nữa. Ông đã nhận ra rằng: Thiên Chúa luôn ở bên cạnh ông từng giây từng phút và luôn nâng đỡ từng bước chân của ông. Và ông nhớ lại lời hứa của Chúa: “Ta sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế." (Mt. 28:20)
***
Bạn thân mến! Lời hứa của Chúa trên đây được ghi lại trong đoạn cuối của bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.  Đó là lời hứa của Người Thầy kính yêu đối với các môn sinh của mình. Trong suốt hành trình rao giảng và làm chứng về Tin Mừng, các Tông Đồ đã cảm nhận được những gì mà Thầy đã hứa. Trong lúc thi hành sứ mạng được trao phó, khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn, các Ngài luôn thấy Người Thầy kính yêu của mình vẫn hiện diện và không bao giờ rời xa. Lời hứa của Thầy năm xưa không đi vào dĩ vãng, nhưng vẫn còn sống động và vang vọng cho đến ngày nay.  Bạn và tôi, chúng ta có cảm nhận được lời hứa của Ngài không ?
Nếu bạn đi khắp cùng trời đất, bạn sẽ gặp những dấu vết của Thiên Chúa.  Nếu bạn đi thẳng vào cung lòng của mình, bạn sẽ gặp chính Thiên Chúa.
Nhiều người đã gặp thấy Ngài nhờ chiêm niệm suy tư.  Nhưng con người không thể biết hết về Thiên Chúa, cũng không thể mô tả cho đủ về Ngài. Có những thiếu sót, vụng về và đôi khi sai lạc. Ai có thể giúp ta thấy được khuôn mặt thật của Thiên Chúa? Ai sẽ chỉ cho ta con đường để gặp gỡ Ngài? Phải là Ðấng ở nơi cung lòng Thiên Chúa, Ðấng ấy chính là Ðức Giêsu, là Ngôi Lời nhập thể.  Nhờ Ðức Giêsu mà mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được vén mở, nhờ Ngài mà chúng ta biết có một Thiên Chúa duy nhất trong ba Ngôi Vị là Cha, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi khác nhau nhưng là cùng một Thiên Chúa.
Thiên Chúa là Tình Yêu, Ngài duy nhất nhưng không đơn độc. "Ta và Cha là một" (Ga.14:10). "Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta" (Ga.16:15). Tình yêu khăng khít giữa Cha và Con là Thánh Thần. Trong niềm hạnh phúc sung mãn, Ba Ngôi đã dựng nên con người giống hình ảnh mình và muốn đưa con người đi vào hiệp thông với Thiên Chúa. "Ðến với Chúa Cha, nhờ Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần": đó là hành trình thiêng liêng của mọi Kitô hữu.
Chúng ta cần ý thức về sự hiện diện của Ba Ngôi ở trong ta. "Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và Chúng Ta sẽ đến và cư ngụ nơi người ấy" (Ga.14:23). "Cha sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác để Ngài ở với các con luôn mãi" (Ga.14:16).
Chúng ta cần hiểu rõ mối tương quan của từng Ngôi: Chúa Cha, Ðấng hằng làm việc để duy trì vũ trụ và con người. Chúa Con, Ðấng cứu chuộc nhân loại bằng hy sinh mạng sống của chính mình. Chúa Thánh Thần, Ðấng thánh hoá và dẫn dắt Giáo Hội.
Sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là sống hiệp thông và chia sẻ, là ở lại trong Tình Yêu vì "Ai ở trong Tình Yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy" (1Ga.4:16).
Sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là mỗi ngày chúng ta làm dấu Thánh Giá nhiều lần trên thân xác "Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần."
Ước gì chúng ta cũng biết in dấu Chúa Ba Ngôi trên cuộc đời ta, trên thế giới chúng ta đang sống. Chúng ta đã được chịu Phép Rửa nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng làm Phép Rửa cho người anh em thân cận với ta vẫn còn là ước mơ mà Ðức Giêsu đã và đang chờ đợi ta thực hiện.
 
 

BaNgôi-179: HIỆP NHẤT NHƯ BA NGÔI

Tác giả: Cố Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, op.
 (Ga 16:12-15)
Viết ngày: 03.06.2007
 

Huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ để lại trong lòng người Việt nhiều hoang mang về nguồn BaNgôi-179

Huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ để lại trong lòng người Việt nhiều hoang mang về nguồn gốc thiêng liêng của mình.  Tại sao ngay từ đầu đã có cảnh năm mươi con theo mẹ lên núi, năm mươi con theo bố xuống biển ?  Tại sao không có một hình ảnh đẹp hơn về giai đoạn khôi nguyên đó của dân tộc ?   Có nhiều người bực bội đến nỗi muốn cầm bút viết lại lịch sử Việt nam theo hướng đoàn tụ chứ không ly tán như thế.
Nhưng lịch sử là lịch sử.  Dù là dã sử cũng không thể bôi xóa được.  Nỗ lực đi tới không phải là xóa bỏ lịch sử, nhưng tìm một ý nghĩa và hướng đi mới cho dân tộc. Hướng đi đó có thể tìm được trong mạc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi hôm nay.
MẦU NHIỆM BA NGÔI
Khác hẳn cảnh ly biệt trong dã sử Việt Nam, mạc khải Kitô giáo trình bày một cuộc đoàn tụ chưa từng thấy trong lịch sử.  Thiên Chúa vẫn là một, nhưng lại có Ba Ngôi.  Ba Ngôi khác nhau hoàn toàn, nhưng chỉ có một bản tính duy nhất.  Ðây là huyền nhiệm  nằm ngay tại trung tâm niềm tin Kitô.  Nhưng không vì thế mà Ba Ngôi trở thành một ý niệm trừu tượng và không dính líu tới thực tế.
Nếu không được Chúa Giêsu mạc khải, chúng ta không thể nào biết Một Thiên Chúa có Ba Ngôi.  Dầu thế, chúng ta không thể nào quán triệt bản chất nội tại của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Chúng ta chỉ biết tin Thiên Chúa là Chúa Cha, Ðấng đã sai Chúa Con là Ðức Giêsu Kitô đến với chúng ta, và Chúa Thánh Linh đến dạy dỗ và hướng dẫn chúng ta. Nghĩa là, chúng ta chỉ biết về Chúa Ba Ngôi qua những việc Người đã làm.  Nhờ đó chúng ta biết các ngài là ai và có tương quan gì với chúng ta. 
Thiên Chúa đích thân đến với chúng ta theo ba cách khác nhau.  Ba “vai trò” của Thiên Chúa rõ ràng được mô tả trong Kinh thánh Do thái và Kitô.  Ba bài đọc hôm nay minh nhiên làm chứng điều đó.
Chúng ta nhìn nhận Thiên Chúa là Cha và là Mẹ, là khởi nguyên và sáng tạo mọi sinh linh và hữu thể.  Ngôi Cha vừa là nguồn gốc và cùng đích, là Anpha và Omega của mọi loài.  Ngôi Cha là nguồn phát sinh mọi Chân Lý và Tình Yêu.  Ngôi Cha đầy lòng Thương xót và Cảm thông, là nguồn mạch mọi ơn Khôn ngoan. 
Nhờ Ngôi Con là Ðức Giêsu Kitô, chúng ta biết Thiên Chúa yêu thương ta tới mức nào.  Thiên Chúa là Ngôi Con trong Ðức Giêsu.  Người mạc khải và tỏ bày tình yêu và lòng cảm thông của Thiên Chúa đối với toàn thể nhân loại qua những biểu hiện và hành động con người.  Tình yêu Người lên tới tột độ khi Ðức Giêsu chịu đau khổ, cái chết và phục sinh.  Ôi những biến cố phi thường !
Nhờ Ðức Giêsu, chúng ta có thể hiểu biết phần nào về bản chất đích thực, siêu việt và không thể hiểu thấu của Thiên Chúa.  Ðức Giêsu bắc nhịp cầu nối nhân loại với Thiên Chúa.  Tứ đó, tình yêu Thiên Chúa mang bộ mặt nhân loại và hữu hình, có thể hiểu biết và dễ dàng theo đuổi cũng như noi gương.  Vì khi Ðức Giêsu đạt tới nhân tính siêu việt nhất là lúc chúng ta tiếp cận gần nhất với Thiên tính nơi Người. 
Sau cùng, nhờ Ngôi Ba là Chúa Thánh Linh, chúng ta được huấn luyện, dạy dỗ, hoạt động, an ủi và mạnh sức.  Nhờ Thánh Linh hành động trong và qua chúng ta cũng như tha nhân, chúng ta thấy Thiên Chúa .  Người luôn sáng tạo và tái tạo, đổi mới vạn vật.  Ðôi khi Thánh Linh được gọi là “linh hồn của Giáo hội.”  Không có “linh hồn” đó, Giáo hội chỉ là một cơ chế nhân loại.  “Linh hồn” đó đã khiến Giáo hội thành nhiệm thể Ðức Kitô và làm cho Giáo hội nên tảng đá vững chắc trước sức tấn công vũ bão của Satan.  Không có “linh hồn” đó, làm sao Giáo hội có thể hiệp nhất và được dạy dỗ chân lý toàn vẹn về Thiên Chúa và con người ?

GIA ÐÌNH TÌNH YÊU
Thiên Chúa là một gia đình tình yêu gương mẫu cho gia đình nhân loại.  Cần đi sâu vào mối liên hệ với Ba Ngôi mới có thể được Thiên Chúa mạc khải về bản chất gia đình Ba Ngôi.  Nhưng ai sẽ giúp ta tìm mối liên hệ đó ?  Chính Thánh Linh sẽ là đầu dây mối nhợ đưa ta vào sinh hoạt của gia đình Ba Ngôi.  Người  mở lòng khai trí chúng ta khám phá mầu nhiệm Ba Ngôi.  Người giúp ta thăm dò và thưởng thức hương vị của huyền nhiệm sự sống nơi Ba Ngôi.  Người rên siết tận đáy lòng ta và mạc khải cho ta biết Thiên Chúa Cha (Gl 4:6).  Người củng cố đức tin và tỏ bày cho chúng ta dung nhan của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta (1 Cr 12:3) Tóm lại, “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” (Rm 5:5)  Qua con đường tình yêu, chúng ta sẽ khám phá được Thiên Chúa và tìm được con đường giải thoát cho gia đình nhân loại hôm nay.
Tình yêu làm nên tất cả sự sống.  Tự bản chất, sự sống Thiên Chúa là chia sẻ.  Ba Ngôi liên hệ trao đổi sự sống cho nhau.  Từ đó, có thể nói chúng ta được kêu gọi để sống chia sẻ với Ba Ngôi Thiên Chúa, với tha nhân và toàn thể môi trường thiên nhiên.  Chúng ta được kêu gọi để tìm sự hiệp nhất và hòa hợp giữa những đa dạng biến đổi không ngừng.  Muốn thế, chúng ta phải quay về với gia đình gương mẫu là cộng đoàn Ba Ngôi Thiên Chúa, một cộng đoàn lý tưởng luôn biết chia sẻ và sống bình đẳng.  Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Người và được kêu gọi trở nên giống hình ảnh ấy không ngừng.  Ðó là lời kêu gọi tạo lập một thế giới hòa thuận, hòa bình và tràn đầy niềm vui.
Sở dĩ có thể làm khuôn mẫu cho các gia đình, vì Thiên Chúa Ba Ngôi là tình yêu (1 Ga 4:8).  Tình yêu không khép kín.  Tình yêu đòi phải hướng về tha nhân. Tha nhân đây chính là Giáo hội, một thực tại huyền nhiệm đang quy tụ các con cái Thiên Chúa tản mác khắp nơi về với mình.  Thiên Chúa Ba Ngôi trao ban chính mình cho Giáo hội và Giáo hội hiến mình cho Thiên Chúa trong lòng cảm tạ và chúc tụng.  Ba Ngôi và Giáo hội liên kết trong tình yêu.  Bởi đó, có thể nói về Giáo hội như thánh Gioan nói về Thiên Chúa : Giáo hội là tình yêu và tình yêu là Giáo hội.  Thiên Chúa phân biệt chứ không tách biệt khỏi Giáo hội.  Giáo hội cùng hiệp thông với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Ba Ngôi đặt trọn vẹn tình yêu của mình trong Giáo Hội.   Là con cái Giáo hội, chúng ta được kêu gọi để sống tình yêu Ba Ngôi ngày càng mãnh liệt hơn.  Vì chính khi tăng cường tình yêu Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong ta, chúng ta càng góp phần làm cho Giáo hội Chúa Kitô triển nở và tràn đầy niềm hy vọng. 
Hơn nữa, một nhà thần học Chính thống từng nói : “Học thuyết xã hội ngày nay, chính là Ba Ngôi.”  Nghĩa là, chỉ bắt đầu từ Thiên Chúa, nhờ Người và trong Người, chúng ta mới có thể tìm thấy và hơn nữa nhận được toàn thể giải đáp cho toàn bộ vấn đề lớn lao của cuộc sống.  Làm sao có thể coi mình là anh em, nếu không cùng nhìn nhận một Cha ?  Làm sao nói mình là con Thiên Chúa nếu không tham dự sự sống của Người Con duy nhất của Chúa ?  Làm sao  sống với nhau như bạn hữu, nếu không khám phá thấy cùng một Thần Khí đang sống và hít thở trong ta ?
Thiên Chúa là gì mà người ta có thể hy sinh tất cả vì Người ? Có phải vì Người giá trị hơn tất cả không ?  Có thể phú dâng Thiên Chúa mọi sự cho tới chết vì Người là Thiên Chúa của sự sống vĩnh hằng và tình yêu  không ?   Ðó là Thiên Chúa của chúng ta.  Người đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Người sẽ không phải chết, nhưng được sống vĩnh cửu trong Thánh Linh.  Người là Ðấng tạo dựng trời đất, cứu chuộc loài người, thánh hóa cuộc sống chúng ta.  Người là Một, đồng thời là Ba.
Nhưng làm cách nào và tại sao Thiên Chúa phải là Ba trong khi Người là Một ?  Sao Người là Một trong khi là Ba ?  Phải hiểu tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi phát xuất từ tín điều về tình yêu.  Quả thật, nếu Thiên Chúa là Thiên Chúa, Người là tình yêu.  Trong mức độ trọn lành, toàn vẹn, sung mãn của mình, tình yêu cho đi và nhận lãnh hoàn toàn.  Bởi thế, tình yêu không đơn độc, cô lập, co mình lại.  Một Thiên Chúa như thế sẽ buồn biết chừng nào !  Nhưng nếu Thiên Chúa là Thiên Chúa, Người cũng là và nhất thiết là duy nhất.  Trong Thiên Chúa, tình yêu vận hành, đối thoại và thông hiệp, chia sẻ và quy tụ.  Tình yêu tỏa rạng và tập trung.  Tóm lại, tình yêu vui sống.  Vì Thiên Chúa phải là tình yêu và phải duy nhất, nên thật là chính đáng, hợp tình hợp lý khi chúng ta tuyên xưng Một Chúa duy nhất và đồng thời có Ba Ngôi.
Thực tế, duy nhất không phải là “khối đơn độc,” nhưng là một sự hiệp thông các thực tại khác nhau.  Trái lại, không có những đa dạng phong phú và tốt đẹp nếu không được quy tụ trong sự duy nhất chắc chắn.  Các đa dạng tốt đẹp đều chấp nhận nhau vì bổ sung cho nhau.  Như công đồng Toledo (675) nói : “Chúa Con không phải là Chúa Cha.  Chúa Cha không phải là Chúa Con. Chúa Thánh Thần không phải là Chúa Cha và Chúa Con.”  Nhưng trong tất cả Ba Ngôi, chỉ có một Thiên Chúa độc nhất.  “Chúa độc nhất trong Ba Ngôi và duy nhất trong bản tính.” (Kinh Tiền Tụng)
Bây giờ chúng ta phải làm gì, là gì và sống ra sao để yêu thương trong chân lý ? T