Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 401-410 Chúa lên Trời - Ngày quốc tế truyền thông

Thứ hai - 03/06/2019 05:03
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 401-410 Chúa lên Trời - Ngày quốc tế truyền thông
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 401-410 Chúa lên Trời - Ngày quốc tế truyền thông

Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 401-410 Chúa lên Trời - Ngày quốc tế truyền thông

----------------------------
LênTrời-401: NHÌN VỀ TRỜI RỒI NHÌN VÀO TRÁI ĐẤT.. 1
LênTrời-402: CHỨNG NHÂN CỦA THẦY.. 5
LênTrời-403: Sao các ông còn đứng nhìn lên trời 7
LênTrời-404: Chúa nhật Lễ Thăng Thiên B ( Mc 16, 15-20 ) 10
LênTrời -405: Lòng hướng về trời cao - Huệ Minh. 11
LênTrời-406: Lần gặp gỡ cuối cùng. 14
LênTrời-407: Suy niệm của Lm Phêrô Trần Đình. 18
LênTrời-408: Ái mộ những sự trên trời 20
LênTrời-409: Lễ Thăng Thiên. 23
LênTrời-410: LÀM CHỨNG CHO ĐỨC KITÔ.. 25

--------------------------
 

nTrời-401: NHÌN VỀ TRỜI RỒI NHÌN VÀO TRÁI ĐẤT


JM. Lam Thy
 

Vào buổi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng trưa Chúa Nhật Chúa Thăng Thiên (13/5/2018), tại LênTrời-401


Vào buổi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng trưa Chúa Nhật Chúa Thăng Thiên (13/5/2018), tại cửa sổ dinh Tông Tòa Rô-ma, trước hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương, ĐTC Phan-xi-cô đã ban huấn dụ. Mở đầu bài huấn dụ, ngài nói: “Hôm nay tại Italia cũng như mọi nước khác là lễ trọng mừng Chúa lên Trời. Lễ này bao gồm hai yếu tố: Một đàng nó hướng cái nhìn của chúng ta về Trời, nơi Chúa Giê-su vinh hiển ngự bên hữu Thiên Chúa Cha (x. Mc 16, 19). Đàng khác, nó nhắc nhớ chúng ta việc khởi đầu sứ mệnh của Giáo Hội. Tại sao? Bởi vì Chúa Giê-su Phục sinh và lên Trời gửi các môn đệ ra đi loan báo Tin Mừng trên toàn thế giới. Vì thế lễ Thăng Thiên khích lệ chúng ta hướng nhìn về Trời để rồi lập tức nhìn vào trái đất và thực thi các nhiệm vụ Chúa Phục Sinh tín thác cho chúng ta.” (Wikipedia)

Lễ Thăng Thiên đánh dấu việc Chúa Giê-su trở về “nơi” mà Người đã hiện hữu trước khi nhập thể (Ga 3, 13). Sự kiện này nói lên việc nhân tính của Đức Ki-tô tiến vào trong vinh quang của Thiên Chúa một cách vĩnh viễn (Ga 16, 28; 17, 5), đánh dấu sự kết thúc sứ mệnh hữu hình của Người ở trần gian; đồng thời khởi đầu sứ mệnh của Giáo hội. Vào chính ngày Phục Sinh, thân xác vinh quang của Chúa Giê-su được tôn vinh, được siêu thăng và “ngự bên hữu Chúa Cha”. Tuy nhiên, theo trình thuật của Thánh Lu-ca, sau khi phục sinh, Chúa Giê-su còn hiện ra nhiều lần với các môn đệ trong khoảng thời gian 40 ngày. Đây là thời gian Chúa Giê-su dùng để khẳng định sự Phục Sinh của Người, hoàn tất việc giảng dạy các môn đệ, củng cố niềm tin và sai các ông đi rao giảng Tin Mừng. Với biến cố thăng thiên, Chúa Giê-su không còn hiện diện trong thân xác hữu hình như trước kia, nhưng Người vẫn hiện diện với Giáo hội cho đến ngày tận thế (Mt 28, 20) theo phương cách mới (theo quyền năng của Chúa Thánh Thần) với tư cách là Chúa của vũ trụ (Pl 2, 10-11).

Suy niệm bài Tin Mừng tuần trước (CN VI/PS-C – Ga 14, 23-29) trình thuật việc Đức Giê-su cáo biệt các môn đệ, chính thức bước vào cuộc khổ nạn. Trong những lời cáo biệt đó, có một câu khó hiểu: “Thầy ra đi và đến cùng anh em”. Đang ở cùng các môn đệ, Đức Giê-su ra đi tức là rời khỏi các môn đệ để đến một nơi khác, vậy thì làm sao mà “đên cùng anh chị em”? Hôm nay (CN VII/PS-C), cả 3 bài đọc đều chung một chủ đề: Chúa lên trời. Với “Những lời chỉ bảo sau hết cho các Tông Đồ” (Lc 24, 44-49), lại một lần nữa Đức Giê-su nói một cách khó hiểu. Vừa mới nói “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”, thì ngay lập tức “Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa”. Cái mâu thuẫn của hiện tượng này khiến các Tông đồ cứ mải miết “đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi”.

Hành động “đăm đăm nhìn lên trời” của các môn đệ biểu lộ một tâm trạng hoang mang lo sợ, vì chưa hiểu rõ việc Chúa về trời. Sở dĩ vậy, vì cho đến giờ phút này các môn đệ vẫn còn bán tín bán nghi (“Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” – Mt 28, 17) đối với Người Thầy luôn có những Lời dạy khó hiểu. Thực thế, nếu chỉ với đầu óc bất toàn của con người thì làm sao có thể hiểu ngay được những Lời Người dạy, chẳng hạn như: “Một môn đệ khác thưa với Người: ‘Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã’. Đức Giê-su bảo: ‘Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ.” (Mt 8, 21-22), “Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của mình chính là người nhà.” (Mt 10, 34-36).

Trước đó không lâu, trong bữa Tiệc Ly, Đức Giê-su đã từng báo trước biến cố Chúa Lên Trời cho các môn đệ: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh  em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14, 1-3). Vậy mà khi nghe Thầy nói “Và Thầy đi đâu thì anh  em biết đường rồi” (Ga 13, 3) thì Phê-rô, Tô-ma, Phi-lip-phê, Giu-đa (không phải Giu-đa It-ca-ri-ốt) đã thi nhau nêu thắc mắc về con đường Chúa sẽ đi, về Chúa Cha, kể cả việc “tỏ mình ra” của Thầy (Ga 14, 4-10).

Tâm lý thông thường của con người là vậy, luôn sống bằng và sống với giác quan: Phải nhìn thấy tỏ tường (thị giác), nghe thấy rõ ràng (thính giác), sờ mó cầm nắm được (xúc giác), biết được mặn nhạt (vị giác), ngửi được mùi hương (khứu giác). Điều này cũng chẳng có gì đáng trách. Do đó, Thầy vừa nói Thầy sẽ ở với mình luôn mãi, thì ngay sau đó Thầy lại đi mất hút, bảo sao khỏi ngỡ ngàng, hụt hẫng, nếu không muốn nói là đau đớn, buồn rầu, hoang mang lo sợ. Chính vì thế nên các môn đệ chỉ lo nhìn lên theo bóng Thầy, với tâm trạng vừa hoài nghi, vừa chán nản, chẳng còn tin tưởng vào đâu đựoc nữa. Niềm tin lại một lần nữa bị thử thách, khiến các ngài quên mất những điều Thầy vừa truyền dạy. Cũng vì biết rõ con người là thế, nên Thiên Chúa đã phải sai thiên sứ đến cảnh tỉnh: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” (Cv 1, 11).

Từ đó, các Tông đồ mới bình tâm trở lại và nhờ Đức Ki-tô “mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh” (Lc 24, 45) nên hiểu ra: Chúa Giê-su lên trời không có nghĩa là Người đã kết thúc sứ mệnh, mà chỉ là chuyển đổi sang một giai đoạn mới – giai đoạn cần sự tiếp tay cộng tác của các môn đệ – và vì thế Người mới dạy: “Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14, 3), “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20). Thời gian Chúa Giê-su hoạt động với tư cách Thiên-Chúa-làm-người đã mãn, để bắt đầu từ bây giờ Người sẽ hoạt động bằng Thần Khí của Thiên Chúa. Sứ mệnh tại thế của Chúa Giê-su là Nhập Thể, rao giảng Tin Mừng, “phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại”. Biến cố Lên Trời mở ra một giai đoạn mới, tiếp tục những gì Người đã thực hiện trong những năm tháng “trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14).

Trong giai đoạn mới này, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ cộng tác. Sứ mệnh Người trao cho họ gồm hai việc: *a)- Rao giảng cho thế giới biết Tin Mừng Cứu Độ Người đã thực hiện cho nhân loại (“Người nói: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội.” – Lc 24, 46-47); *b)- Làm chứng nhân cho Người và cho những giá trị Tin Mừng (“Chính anh em là chứng nhân về những điều này” – Lc 24, 48). Để thi hành sứ vụ cao quý này, các môn đệ được Chúa sai đi cần phải có hành trang. Chúa Giê-su đã được Chúa Cha sai đến với nhân loại và hành trang của Người là Thần Khí Tình Yêu. Giờ đây, Người sai môn đệ đi và hành trang của họ cũng phải là Ngọn Lửa Yêu Thương của Thần Khí Sự Thật. Người bảo họ cứ ở lại Giê-ru-sa-lem một thời gian ngắn và họ sẽ được lãnh nhận Thánh Thần làm hành trang cho hành trình thi hành sứ vụ.

Về vấn đề trước khi về trời, Đức Giê-su trao phó sứ vụ của Người cho các môn đệ, Thánh Au-gus-ti-nô đã nói một câu chí lý: “Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Ngài”. Thật thế, khi Đức Giê-su Thiên Chúa vâng lệnh Chúa Cha xuống thế làm người, nếu chỉ một mình Người “đơn thương độc mã” thi hành sứ vụ thì chắc chắn không có kết quả hoặc nếu có thì cũng chẳng là bao. Vẫn biết với quyền năng vô hạn, Người chỉ phán một lời là loài người được cứu rỗi; nhưng như thế thì nhân loại vẫn chìm trong u tối vì chưa được “vén tấm màn lên” (mạc khải), chẳng hiểu được công trình cứu độ của Thiên Chúa dành cho con người. Thiên Chúa rất cần sự cộng tác đắc lực của những “kẻ tin” mà tiên khởi là các vị Tông đồ vậy.

Đến như việc làm chứng nhân cho Người cũng là một yếu tố hết sức quan trọng, bởi với loài người thì bất cứ một công việc, một sự kiện gì cũng đòi phải được thực mục sở thị, được đụng vào hay cầm nắm, hoặc ít ra cũng phải được nghe một nhân chứng sống đáng tin cậy thì mới chịu tin. Cái kiểu đòi trông thấy nhãn tiền “dấu đinh ở tay Người”, được “xỏ ngón tay vào lỗ đinh” và “đặt bàn tay vào cạnh sườn Người” như Tô-ma, thì nhan nhản khắp nơi. Thấu hiểu tận chân tơ kẽ tóc lòng dạ con người là như vậy, nên Đức Giê-su mới đòi các môn đệ và rộng ra là các Ki-tô hữu không chỉ rao giảng mà còn phải làm chứng cho Tin Mừng. Vâng, “người thời nay sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn là những thầy dạy, và nếu họ có nghe theo thầy dạy là vì các thầy dạy ấy cũng là những chứng nhân.” (Thông điệp Loan Báo Tin Mừng “Evangelii Nuntiandi”, số 41).

Công cuộc rao giảng và làm chứng nhân cho Tin Mừng Cứu Độ cũng ví như “muối cho đời” và “ánh sáng cho trần gian” (“Chính anh em là muối cho đời… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.” – Mt 5, 13-14). Tuy nhiên “muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi… Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” – Mt 5, 13-16). Rõ ràng việc “rao giảng” và “làm chứng” tuy hai mà một, việc rao giảng chỉ đạt hiệu quả khi có chứng liệu cụ thể, mà chứng liệu thuyết phục nhất cũng chính là bản thân người rao giảng. Nói cách cụ thể, người rao giảng phải “lời nói đi đôi với việc làm”, tất cả cuộc sống phải làm chứng cho lời mình rao giảng.

Tóm lại, một lần nữa Thiên Chúa lại mạc khải cho các môn đệ, và nói chung là cho loài người hiểu được mầu nhiệm cứu chuộc thông qua những hiện tượng trong biến cố Lên Trời của Đức Giê-su Ki-tô. Đồng thời, để mời gọi con người cộng tác bằng cách “dùng sự bất toàn của con người để công bố Lời Toàn năng, dùng miệng lưỡi nhơ uế của con người để nói Lời Chí thánh”. Ấy cĩng bởi vì “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy, lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người. Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ.” (Dt 4, 12-13).

Người Ki-tô hữu ngày hôm nay đừng “đăm đăm nhìn lên trời” nữa, mà hãy nhìn xuống bản thân mình để thấy được “Tư tưởng của anh không phải tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mc 8, 33), từ đó cầu xin Chúa Thánh Thần dạy dỗ và hướng dẫn, ngõ hầu có đủ hiểu biết và can đảm dấn thân trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng và làm chứng nhân cho Nước Trời vĩnh cửu. Không “đăm đăm nhìn lên trời” như các Tông đồ thủa xưa; nhưng hãy “hướng nhìn về Trời để rồi lập tức nhìn vào trái đất và thực thi các nhiệm vụ Chúa Phục Sinh tín thác cho chúng ta.” như lời dạy của Đức Giáo hoàng (-nt-). Ước được như vậy.

Ôi! “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho cộng đoàn chúng con biết hoan hỷ vui mừng mà dâng lời cảm tạ, vì hôm nay, Con Một Chúa đã lên trời vinh hiển. Là Thủ Lãnh, Người đã đi trước mở đường dẫn chúng con vào Nước Chúa khiến chúng con là những chi thể của Người nắm chắc phần hy vọng sẽ cùng Người hưởng phúc vinh quang. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ Thăng Thiên).

--------------------------
 

nTrời-402: CHỨNG NHÂN CỦA THẦY


Suy niệm Tin Mừng (Lc 24,46-53)
 

Tin mừng chúng ta vừa nghe được đọc trong thánh lễ Chúa Thăng Thiên. Biến cố Đức Giêsu được LênTrời-402


Tin mừng chúng ta vừa nghe được đọc trong thánh lễ Chúa Thăng Thiên. Biến cố Đức Giêsu được rước lên trời trước sự chứng kiến của các môn đệ. Biến cố thăng thiên như một điểm kết thúc cuộc đời dương thế của Đức Giêsu nhưng lại khởi đầu thời gian mới, một lịch sử mới, lịch sử của Giáo Hội mà Người hứa là sẽ ở cùng mọi ngày cho đến tận thế. Chúa Giêsu phục sinh được đem lên trời cũng là để ứng nghiệm những gì đã được loan báo về Người: “Có lời chép rằng: Đấng Kitô phải chịu đau khổ, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ hối cải để được ơn tha tội.” (Lc 24,46-47)

Đức Giêsu lên trời trao lại cho các môn đệ tiếp tục sứ mạng loan báo tin mừng cho muôn dân. Sứ điệp trước tiên chính là làm chứng về cuộc khổ nạn và phục sinh của Ngài. Các môn đệ là người đã ở với Đức Giêsu, đã chứng kiến sự việc ngay từ đầu và trở thành chứng nhân cho Ngài. Biến cố thương khó đã làm các môn đệ thất vọng, lo lắng và sợ sệt trong một thời gian ngắn nhưng giờ đây, chứng kiến Đức Giêsu phục sinh, các ông được bình an, sức mạnh và nhiệt huyết để sống và tuyên xưng xác tín của mình bằng cả cuộc sống. Đức Giêsu rời xa các môn đệ nhưng các ông không đơn côi mà được Thánh Thần trợ giúp và an ủi, làm cho các ông thêm can đảm trong tư cách chứng nhân cho Thầy Giêsu.

Trở thành người chứng cũng là sứ mạng của từng người Kitô hữu chúng ta hôm nay. Lời mời gọi và nhắn nhủ của Chúa Giêsu cho chúng ta vẫn còn gần gũi và mới mẻ như ngày nào: làm chứng cho Chúa trong đời sống và việc làm thường ngày. Người vĩ đại làm được những thành tựu to lớn, nhưng làm những việc tầm thường với lòng yêu mến lớn lao biến chúng ta trở thành người phi thường. Kiên nhẫn và trung thành với lựa chọn và hành động theo Chúa ngay trong những điều nhỏ nhặt thường ngày đòi hỏi sự khiêm nhường và lòng yêu mến chân thành.

Chúng ta hẳn có kinh nghiệm đối mặt với thách đố khi muốn và dám chọn Chúa. Tuy vậy, khó khăn giúp cho lựa chọn của ta thêm ý nghĩa và lòng mến của ta thêm toàn hảo. Trong ánh sáng và niềm vui Chúa Phục Sinh, chúng ta được thêm tin tưởng để mạnh dạn bước theo Chúa vì biết rằng niềm tin ấy không phải hão huyền và rằng vì Chúa Giêsu đã chiến thắng Sự Dữ, qua đau khổ để đi tới vinh quang.

Ước gì Lời Chúa chúng ta vừa nghe cho chúng ta niềm hoan hỷ như các tông đồ xưa, muốn ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa vì những kỳ công Ngài thực hiện. Khám phá ra những điều Chúa làm trên cuộc đời chúng ta, cho người ta thương mến, chắc chắn chúng ta cũng có cùng tâm tình ca tụng và tạ ơn Chúa như người môn đệ đích thực. Xin Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha thông ban cho chúng ta những ơn lành cần thiết để mỗi người, khi bước đi trong hành trình thiêng liêng của mình, khám pha ra sứ điệp của yêu thương và bình an của Chúa, và qua đó trở nên người chứng nhân cho Chúa cách sống động giữa thế giới hôm nay.

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa đã chịu chết và sống lại, xin dạy chúng con biết chiến đấu trong cuộc chiến mỗi ngày để được sống dồi dào hơn. Chúa đã khiêm tốn và kiên trì nhận lấy những thất bại trong cuộc đời cũng như mọi đau khổ của thập giá, xin biến mọi đau khổ cũng như mọi thử thách chúng con phải gánh chịu mỗi ngày, thành cơ hội giúp chúng con thăng tiến và trở nên giống Chúa hơn.

Xin dạy chúng con biết rằng chúng con không thể nên hoàn thiện nếu như không biết từ bỏ chính mình và những ước muốn ích kỷ. Ước chi từ nay, không gì có thể làm cho chúng con khổ đau và khóc lóc chỉ vì quên đi niềm vui ngày Chúa phục sinh. Chúa là mặt trời tỏa sáng Tình Yêu Chúa Cha, là hy vọng hạnh phúc bất diệt, là ngọn lửa tình yêu nồng nàn; xin lấy niềm vui của Người mà làm cho chúng con nên mạnh mẽ  và trở thành mối dây yêu thương, bình an và hiệp nhất giữa chúng con. Amen.

--------------------------
 

nTrời-403: Sao các ông còn đứng nhìn lên trời

 

Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng ...". Đó là lời của Thiên sứ nói với các Tông đồ trong LênTrời-403


"Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời? Ðức Giêsu, Ðấng vừa lìa các ông mà lên trời, sẽ đến cùng một thể thức như các ông đã thấy Người lên trời". Đó là lời của Thiên sứ nói với các Tông đồ trong lúc các ông còn mãi mê nhìn Thầy Chí Thánh của mình được đưa về trời. Và hôm nay, toàn thể Giáo hội Công giáo long trọng mừng lễ Chúa Thăng Thiên, một biến cố đặc biệt trong lịch sử cứu độ của Chúa Cha.

 Sau khi Đức Giêsu sống lại, Ngài đã lên ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang của Ngài. Đó là nơi Ngài đã vâng lời Chúa Cha, từ bỏ ngai vàng, xuống làm người, cứu chuộc nhân loại. trong các bản văn của thánh sử Luca thì ngài trình bày Chúa Giêsu còn ở lại với các môn đệ, các cộng đoàn giáo hội sơ khai thêm một thời gian nữa là 40 ngày, để an ủi, khích lệ, và hướng dẫn họ thực thi trách vụ loan báo tin mừng cho thế giới. Sách Tông Đồ Công Vụ kể lại khi Ngài căn dặn các ông hãy lên đường đến với muôn dân và loan báo tin mừng cho họ với phép rửa kèm theo. Các ông đã đón nhận sứ vụ đó và đồng hành với Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba Thiên Chúa, Ngài sẽ hướng dẫn các ông thực hiện trọng trách mới. lời loan báo tin mừng đó không dừng lại nơi những lý thuyết nhưng khởi đi từ niềm tin xác tín của chính các môn đồ. Tai đã được nghe Thầy nói, mắt đã chứng kiến Thầy sống bên cạnh và những dấu lạ Thầy đã thực hiện, hơn nữa, hôm nay còn được chứng kiến Thầy được nâng lên cõi trời cao, đó là phần thưởng cho người khiêm tốn thực hiện thánh ý Chúa Cha.

 Biến cố Đức Giêsu lên trời đưa con người bước vào một hành trình đức tin mới. Ngài đã từ trời xuống mở cánh cửa cho con người được về trời, bởi sau khi nguyên tổ phạm tội, cánh cửa hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người đã bị đóng lại, từ đây, con người không chỉ đứng ngước mắt về trời nhưng phải trở lại cuộc sống, để giới thiệu cho nhân loại biết về một Đức Giêsu đã đến thế gian, Ngài đã thực hiện chương trình cứu độ con người của Chúa Cha trong tình yêu thương. “xin Thiên Chúa của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Cha vinh hiển, ban cho anh em thần trí khôn ngoan và mạc khải, để nhận biết Người, xin cho mắt tâm hồn anh em được sáng suốt, để anh em biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi, thế nào là sự phong phú gia nghiệp vinh quang nơi các thánh, và thế nào là quyền năng vô cùng lớn lao của Người đối với chúng ta, là những kẻ tin, chiếu theo hành động của sức mạnh quyền năng Người, công việc mà Chúa đã thực hiện trong Ðức Kitô, tức là làm cho Ngài từ cõi chết sống lại, và đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời”. lời nhắc của thánh Phaolo trong thư gởi giáo đoàn Êphêsô như là một sự cố gắng của các tông đồ, để gia tăng niềm tin và hy vọng cho những ai tin vào một Đức Giêsu, đấng đã được Chúa Cha đặt bên hữu vì đã thực hiện thánh ý của Chúa Cha vẹn toàn. Thánh nhân còn mong mọi người có đôi mắt sáng, có thần trí khôn ngoan để nhận ra sứ vụ của mình, nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong hành trình sứ vụ.

 Chứng kiến Thầy về trời, các tông đồ vừa vui mừng, vừa hạnh phúc, nhưng cũng không thiếu cảm giác tiếc thương và lo buồn. Cảm giác vui buồn lẫn lộn đó làm cho các ông quên đi mình đang làm gì, đang đứng ở đâu, vì vậy, các thiên thần đã nhắc các ông hãy quay trở lại với cuộc sống, quay trở lại với công việc và trách vụ của mình. Trách vụ của các ông lúc này không là đứng nhìn trời mà hãy nhìn xuống, nhìn về sứ mạng của mình, nhìn về tương lai của Giáo hội, tương lai của các cộng đoàn. Trách vụ của mỗi người môn đệ là hãy mở những con đường từ tâm hồn mỗi anh chị em, dù đó là Do thái hay dân ngoại, là Hy lạp hay tòng giáo, đều có thể nhận biết con đường về trời với Thiên Chúa qua lời chứng của các môn đệ, nhất là chúng ta hôm nay.

Trong cuộc sống hôm nay, con người bận rộn với bao nhiêu thứ, nào là công ăn việc làm, nào là tương lai, sự nghiệp, nào là hạnh phúc gia đình, giáo dục con cái, tất cả hầu như chiếm hết thời gian trong ngày, nên lắm lúc con người bị vong thân, đánh mất giá trị con người của mình. Bên cạnh đó là áp lực cuộc sống từ xã hội, địa vị, quyền lực, sĩ diện cá nhân, của cải vật chất và tương lai, đã tác động trực tiếp lên đời sống tâm linh của con người, vì thế, họ khó có thể ý thức về căn tính Kitô hữu của mình, ý thức về trách vụ của người môn đệ là hãy nhìn xuống, nhìn vào thế giới để giúp đỡ thế giới, giúp đỡ con người thoát khỏi những yếu tố thực tại, để họ thay đổi con người, thay đổi suy nghĩ, thay đổi ý thức hệ và thay đổi luôn cả những thói quen hàng ngày. Chính sự cố gắng thay đổi đó đã biến cuộc đời mình như là con đường dẫn đưa bản thân lên trời, và cũng là dịp thuận tiện giới thiệu cho tha nhân con đường ngắn nhất, nhanh nhất về trời.

 Cuộc sống nơi gia đình cũng không thoát khỏi những áp lực đó, mỗi thành viên trong các gia đình luôn bị tác động rất lớn từ xã hội, từ trách vụ và từ cá nhân chủ nghĩa, nên họ chỉ coi đời sống tâm linh như một nhu cầu chưa tới trong cuộc đời, trong gia đình của mình. Chỉ sống cầm chừng và giữ lấy những nền tảng căn bản chứ chưa thực sự là cố gắng đi tìm nước trời như tìm viên ngọc quý về tinh thần cho mình. Với những tác động như thế, đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc giáo dục con cái, xây dựng tổ ấm gia đình. Con cái được hướng dẫn với mục tiêu thành đạt trong xã hội, có địa vị, có tương lai và có chổ ẩn náu an toàn, còn đời sống tâm linh chỉ là một nhu cầu thứ yếu mà thôi. Đến một lúc nào đó, con cái trong các gia đình đó, chỉ tìm về với giáo hội, với Thiên Chúa khi thất bại trong công ăn việc làm, khi thua thiệt trong ganh đua với xã hội. Vậy, tôn giáo chỉ là một dịch vụ cung cấp những gì cần thiết cho con người thành đạt thôi sao ? Thiên Chúa chỉ là một giám đốc công ty cung cấp những sản phẩm đem lại lợi ích cho con người hôm nay thôi sao, còn cuộc sống đời sau, liệu còn cần thiết cho con người trong xã hội công nghệ cao này nữa không ?

 Tưởng cũng nên đi qua những giá trị tinh thần được đề cao đó là đời sống chung cộng đoàn. Hướng về trời, chọn sự bình an, tìm chỗ nhất trong gia đình cộng đoàn có tồn tại trong ý thức hệ và trong đời sống chung của mỗi thành viên cộng đoàn không ? từ những sinh hoạt tầm thường trong cộng đoàn mỗi ngày, cho đến định hướng phát triển của mỗi cộng đoàn, thì con đường để giúp nhau nhìn về trời có phải là kim chỉ nam giúp mỗi thành viên hoàn thiện ơn gọi môn đệ của Thầy Chí Thánh không ? hay chỉ còn là một kho lý thuyết đầy sơn hào hải vị, nhưng trong tâm hồn và cuộc sống của mỗi thành viên chỉ còn đấu tranh, chỉ còn nịnh hót, chỉ còn chạy đua quyền lực và chỉ còn là những ảo tưởng của thế gian. Cái nhìn về trời của các môn đệ xưa đâu kéo dài mãi, nhưng các ông được mời quay trở lại với cuộc sống, với thế giới đầy đau thương và còn nhiều vết thương lòng, để giúp đỡ họ, để đồng hành với họ như Thầy Chí Thánh đã chia sẻ và đồng hành với họ trong thời gian còn tại thế. Vậy nơi các gia đình, các cộng đoàn, có cần thiết trở lại với chính mỗi thành viên trong gia đình, trong cộng đoàn, để thấy những ước muốn chân thành, thấy được những khát vọng nước trời trong họ, để giúp đỡ, chia sẻ và đồng hành với họ, giúp họ, giúp mình sám hối, thay đổi cuộc đời và hoàn thiện ơn gọi đã được lãnh nhận.

 Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa đã được Chúa Cha trọng thưởng qua biến cố thăng thiên, xin cho mỗi người chúng con luôn cố gắng vâng nghe lời Con Thiên Chúa dạy bảo, để mai sau được trọng thưởng trên thiên quốc. Chúa đã hy sinh tất cả cho người mình yêu là con người, xin cho chúng con học bài học yêu thương của Chúa, để chúng con sống với nhau chân thành hơn, không hình thức, không màu mè, để họ nhận ra nơi chúng con một dấu hiệu nhỏ của con đường về trời. Chúa đang ngự bên hữu Chúa Cha để cầu bầu cho chúng con, xin cho mỗi người mạnh dạn đến với tha nhân trong sự tôn trọng và yêu thương, để xây dựng một nước trời ngay hôm nay, hầu mai sau được sum họp trong gia đình của Chúa. Amen.

--------------------------
 

nTrời-404: Chúa nhật Lễ Thăng Thiên B ( Mc 16, 15-20 )

 

Thăng Thiên, lễ mừng biến cố Chúa Giêsu trở về cùng Thiên Chúa Cha. Ngài được đưa về trời, LênTrời-404


Thăng Thiên, lễ mừng biến cố Chúa Giêsu trở về cùng Thiên Chúa Cha. Ngài được đưa về trời, không phải do những phương tiện riêng của ngài hay do sức riêng của ngài. Nhưng chính là Cha ngài, Đấng đã sai ngài đến với chúng ta, giờ đây đưa ngài trở về chốn vinh quang. Qua biến cố đó, Thiên Chúa Cha tỏ cho thấy, Chúa Con đã hoàn thành trọn vẹn công trình được ủy thác.

Như thế, lễ Thăng Thiên biểu dương chiến thắng vinh quang của Đức Kitô, biểu dương sự đăng quang của ngài trong vương quốc Thiên Chúa Cha. Lễ này không chỉ liên quan đến Đức Kitô mà thôi, nhưng còn liên hệ đến số phận con người chúng ta nữa. Khi lên cùng Thiên Chúa Cha, Chúa Con lôi cuốn chúng ta đến với ngài. Bởi vì ngài là Đấng Cứu Độ của thế giới; bởi vì ơn cứu độ đã được chuyển thông cho chúng ta; bởi vì chúng ta tin tưởng nơi ngài; bởi vì chúng ta là những chi thể của ngài; bời vì sự sống của ngài đang lưu chuyển trong từng thớ thịt, mạch máu của chúng ta; bởi vì chúng ta là môn đệ của ngài.

Cuộc đời chúng ta trên trần gian không phải là bị kết án ngày qua ngày trong tối tăm và chết chóc. Thực ra nó đã được khơi mào trong ánh sáng phục sinh. Một ngày nào đó, chúng ta cũng sẽ được đưa lên trời, như Đức Kitô. Không phải là sự tan rã và cái chết sẽ dành cho chúng ta, mà chính là một cuộc sống sung mãn và rực rỡ với Đức Kitô, bên cạnh Thiên Chúa Cha. Đó chính là sứ điệp của lễ Thăng Thiên.

Một điểm cần lưu ý là, đang khi ngước nhìn Thầy mình được đưa lên trời, các tông đồ cứ mải mê đắm chìm trong nỗi nhung nhớ. Các ông nghĩ rằng, nếu được cùng đi với ngài thì hay biết mấy. Còn gì bằng nếu cùng được đưa lên với ngài.

Thế nhưng, hai thiên thần đã đến đưa các ông trở về thực tại. Một ngày kia, các ông sẽ ở bên cạnh Đức Kitô. Nhưng không phải hôm nay. Ngày hôm nay, công việc đang chờ đợi các ông. Các ông phải làm chứng cho Đấng Phục sinh, khắp nơi trên thế giới, như lời Thầy truyền dạy: “ Anh em hãy loan báo Tin Mừng cho toàn thể tạo vật”.

Sứ mạng này không phải chỉ trao ban cho những môn đệ đầu tiên, là những người đã từng biết rõ Chúa Giêsu, đã từng ăn uống với ngài. Đó là nhiệm vụ chung cho tất cả những ai nối tiếp các ông. Nó được ủy thác cho toàn thể Hội Thánh. Đó là trách nhiệm của mỗi người tín hữu chúng ta.

Những cách thế để làm chứng cho Đức Kitô thì rất đa dạng. Mỗi người có một nhiệm vụ đặc biệt, mỗi người có một vai trò riêng. Trong Giáo Hội, phải có những tông đồ, những tiên tri, những nhà truyền giáo, những mục tử… làm chứng cho Đức Kitô. Nhưng cũng cần có những thầy dạy, người công nhân, những chuyên viên, những người cha, người mẹ trong gia đình, những thanh niên, giới trẻ phải làm chứng nhân.

Có rất nhiều cách thức làm chứng. Nhưng cách tốt nhất, quan trọng nhất, cần thiết, không thể thiếu, hệ tại ở việc sống trong tình yêu. Ai không biết thương yêu, thì không thể làm chứng nhân của Đức Kitô. Ai yêu mến thực sự, ai sống trong chân lý của tình yêu, thì nhất thiết phải là chứng nhân. Chính cuộc sống yêu thương làm cho chúng ta thành chứng nhân.

Lễ Thăng Thiên mời gọi chúng ta lớn lên trong tình yêu, để có thể làm chứng tốt đẹp hơn. Chính vì đã yêu thương, chính vì đã yêu thương nhiều mà một ngày kia, như Đức Kitô, chúng ta sẽ được đưa lên trời, nơi mà chúng ta sẽ được tận hưởng niềm vui và bình an một cách trọn vẹn, sung mãn, tròn đầy.

--------------------------
 

nTrời -405: Lòng hướng về trời cao - Huệ Minh

 

Ngày hôm nay, Giáo hội mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Chúa Giêsu trở về nhà Cha sau khi Ngài LênTrời -405


Ngày hôm nay, Giáo hội mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Chúa Giêsu trở về nhà Cha sau khi Ngài đã hoàn tất sứ vụ Chúa Cha trao phó. Sau thời gian 33 năm xa nhà, Chúa Giêsu hồi hương trong vinh quang phục sinh và được đưa về trời ngự bên hữu Thiên Chúa.

Chúa về trời vì chính Người đã từ trời xuống thế: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng đã từ trời xuống” (Ga 3,13). Người đến nhân gian để nói với nhân loại về Nước Trời, mặc khải cho con người biết Thiên Chúa. Người giúp họ thay đổi quan niệm về Thiên Chúa cũng như quan niệm về con người.

Trang Tin Mừng hôm nay tường thuật lại việc Chúa Giêsu lên trời, đây là một minh chứng cho thấy rằng có thiên đàng, có sự sống đời sau. Nhưng lên trời không phải là một di chuyển từ nơi chốn này đến nơi chốn khác. Trời ở đây không phải là nơi chốn có thể đụng chạm, sờ mó được nhưng sâu xa hơn đó là một trạng thái. Chúa Giêsu lên trời có nghĩa là Ngài về cùng với Thiên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần là nơi Ngài đã xuất phát. Trời ở đây có nghĩa là sống trong tình yêu tròn đầy của Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì thế, việc Chúa Giêsu lên trời không phải giã từ thế giới đi vào cõi xa vắng mịt mù, nhưng Ngài đi về thế giới của Thiên Chúa Ba Ngôi, sống với Thiên Chúa Ba Ngôi.

Trước khi Chúa Giêsu lên trời Ngài đã nhắn nhủ các môn đệ rằng “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo". Đây là lệnh truyền của Chúa Giêsu và trở thành căn tính của mỗi người kitô hữu chúng ta , đó là làm chứng nhân tin mừng phục sinh, niềm vui của Chúa Giêsu cho tất cả mọi người không phân biệt màu da, sắc tộc, tôn giáo. Mỗi người chúng ta có trách nhiệm mang Đức Kitô đến với thế giới hôm nay đang sống trong đau khổ, chiến tranh, bất an, tội lỗi.... để xoa dịu hết tất cả những vết thương của họ.

Chúa Giêsu lên trời không có nghĩa là Ngài không còn hiện diện với chúng ta nữa, trái lại Ngài sẽ ở lại cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Để có thể lên trời như Chúa Giêsu mỗi người chúng ta cần phải hoàn thành hành trình dưới thế của mình như chính Ngài. Dù phải sống ở trần thế này với muôn ngàn thánh giá, thử thách, khó khăn... nhưng chúng ta không quên mục đích tối hậu của chúng ta đó là về quê trời, nơi ấy chúng ta sẽ sống trong tình yêu viên mãn của Chúa Ba Ngôi. Nếu như cuộc đời của người kitô hữu chúng ta thiếu đi cùng đích của đời mình là hướng về sự sống đời sau thì chắc chắn những nỗ lực, cố gắng của chúng ta sẽ trở nên vô nghĩa. Chúa Thăng Thiên cũng cố đức tin của mỗi người chúng ta vào niềm hy vọng tràn trề trong đó mỗi người chúng ta sẽ nếm cảm hạnh phúc thiên đàng sau này.

Chúa về trời, một cuộc tạm biệt chứ không ly biệt. Chia tay để rồi sẽ gặp lại nhau trong một tương quan mới.Chúa về trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng. Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào. Nơi thiên cung, mọi đau khổ, bệnh tật, chiến tranh, khủng bố không còn nữa. Ở đó chỉ có thanh bình, công bằng, và hạnh phúc viên mãn, nhân phẩm và nhân vị con người hoàn toàn được phục hồi trong ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô.

Chúa về trời mở ra sứ vụ mới cho các Tông đồ. Đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu với lệnh truyền của Chúa: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo”. Nội dung của việc truyền giáo được chỉ định rõ ràng: “Làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy. Làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em”. Bảo chứng cho sứ vụ truyền giáo là: “Có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các Tông đồ, qua các Tông đồ rồi đến các môn đệ, Chúa Giêsu trở thành người sống đương thời với chúng ta “và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.

Chúa Giêsu trao cho Giáo Hội sứ mạng tiếp nối sự hiện diện của Người, Người cũng đòi chúng ta phải có một sự chọn lựa dứt khoá như Người. Chính vì thế, rất có thể đã xảy ra là tại một nơi nào đó, có sự hiện diện của người Kitô hữu, của Giáo Hội, nhưng lại không có sự hiện diện đích thực của Đức Kitô. Sở dĩ như vậy là vì sự chọn lựa của chúng ta đã đi ngược lại với sự chọn lựa của Chúa Giêsu. Chẳng hạn như khi chúng ta có những hành động bất công, bóc lột kẻ khác, thì chính bản thân chúng ta đã bôi nhọ và xoá bỏ sự hiện diện của Đức Kitô.

Người Kitô hữu chân đạp đất nhưng lòng vẫn hướng về trời cao. Niềm hy vọng đó giải thoát ta khỏi nô lệ vào mặt đất nhờ đã biết rõ vật chất chỉ là phương tiện sẽ mau chóng qua đi. Niềm hy vọng đó nâng cuộc sống con người lên vì từ nay ta hiểu rằng định mệnh loài người không phải như loài súc vật, nhưng ngang hàng với thần linh. Niềm hy vọng đó đó làm cho cuộc sống của ta có ý nghĩa, vì Chúa tạo dựng nên con người không phải để con người tàn lụi đi theo quy luật của vật chất mà để con người phát triển, tồn tại đến vô biên, không phải bị kết án vào những đau khổ vất vả trần gian, nhưng đã được tiền định hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng. Niềm hy vọng đó cho ta thêm động lực phục vụ tha nhân tận tâm hơn vì đó chính là sứ mang Chúa trao phó. Niềm hy vọng đó khuyến khích ta tích cực xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, vì đó chính là điều kiện cho ta được vào Nước Trời.

Chúa Giêsu lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha. Chính Chúa Cha đã sai Ngài đến trần gian. Ngài đã tiến nhận cái chết một cách bi thương và đã được quyền năng Chúa Cha làm cho sống lại. Cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là bằng chứng chắc chắn về ơn cứu độ và sự tha thứ tội lỗi (Dt 10, 22-24). Đây là căn nguyên niềm vui nơi các môn đệ cũng như nơi chúng ta.

Mừng lễ Chúa lên trời, chúng ta không phải chỉ biết ngước mắt nhìn lên cao, mà điều quan trọng đó chính là chu toàn sứ mạng rao giảng Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Rao giảng không chỉ bằng lời nói, mà bằng cả việc làm và đời sống, nhất là bằng sự dấn thân, để thực hiện một sự lựa chọn rõ rệt. Con Thiên Chúa khi làm người và ở giữa chúng ta, đã thể hiện một sự lựa chọn rõ rệt, Ngài không hiện diện một cách chung chung, và vô thưởng vô phạt, nhưng đã hiện diện như một Tin Mừng cứu độ cho nhiều người, đồng thời như một hòn đá vấp ngã đối với một số người khác.

Mừng Lễ Chúa Thăng Thiên hôm nay, Chúa muốn nhắn gởi cho chúng ta một sứ điệp nữa đó là hãy xây dựng thiên đàng tại trần thế này, khi tất cả chúng ta đều xem nhau như là anh em cùng một Cha trên trời. Khi mỗi người chúng ta biết sống từ bỏ, hy sinh và phục vụ nhau.

--------------------------
 

nTrời-406: Lần gặp gỡ cuối cùng


(Trích dẫn từ tập sách “Giải Nghĩa Lời Chúa” - của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

A. Lần Gặp Gỡ Cuối Cùng
 

Cả bốn sách Tin Mừng đều thuật lại nhiều lần Chúa Phục sinh hiện ra với các môn đệ. Nhưng chỉ LênTrời-406


Cả bốn sách Tin Mừng đều thuật lại nhiều lần Chúa Phục sinh hiện ra với các môn đệ. Nhưng chỉ hai thánh sử Marcô và Luca có những lời kết thúc mọi lần gặp gỡ ấy. Marcô viết: sống lại lúc tảng sáng, ngày thứ nhất trong tuần, trước tiên Ngài hiện ra cho Maria Magđala... Sau đó Ngài tỏ mình ra cho hai người trong nhóm họ ở trên đàng... Sau cùng Ngài đến với chính nhóm Mười Một đang khi họ dùng bữa... Và sau khi đã nói cùng họ xong, Chúa Giêsu được nhắc về trời và lên ngự bên hữu Thiên Chúa (16,9-19).

Marcô cho ta có cảm tưởng mọi lần Chúa Phục sinh hiện đến đều xảy ra vào ngày thứ nhất trong tuần và Người đã lên trời cũng trong chính ngày ấy. Như vậy rõ ràng Marcô không đồng ý với Luca trong bài sách Công vụ hôm nay, vì tác giả này viết: Chúa Giêsu chỉ về trời 40 ngày sau khi sống lại và đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ.

Nhưng chính Luca cũng lại mâu thuẫn với mình nữa. Trong sách Công vụ thì ngài viết như thế, còn trong sách Tin Mừng thì ngài lại viết hầu giống như Marcô. Ngài cũng thuật rằng: Ngày thứ nhất trong tuần Chúa Phục sinh tỏ mình ra cho hai môn đệ đi Emmau vào lúc sau khi ngày đã xế chiều. Ngay giờ đó họ đã chỗi dậy trở về Giêrusalem và gặp thấy các bạn đang sum họp cùng nhau... Họ đang còn nói thì Ngài đã đứng giữa họ... Rồi Ngài dẫn họ đến tận Bêthania: đoạn giơ tay, Ngài chúc lành cho họ. Và xảy ra là đang khi Ngài chúc lành cho họ, thì Ngài tách lìa họ và được nhắc lên trời (24,13-51).

Luca có thể quên những điều ngài vừa viết khi soạn sách Công vụ các Tông đồ không? Và ngài có ý gì khi khẳng định việc Chúa Lên Trời khác nhau như vậy?
Ðọc kỹ các sách Kinh thánh, chúng ta có thể thấy rằng, trong sách Tin Mừng, Luca đã theo Marcô. Và cả hai đều muốn tô đẹp ngày Chúa nhật Phục sinh. Ðối với cả hai, đó là ngày Chúa sống lại hiện ra với các môn đệ. Chắc chắn các ngài đã không muốn thuật lại hết mọi lần Chúa hiện ra. Các ngài đã lựa chọn kể lại một vài lần hiện ra đặc sắc. Và câu các ngài viết để thuật lại việc Chúa Lên trời thực ra nhằm mục đích kết thúc mọi lần Chúa sống lại hiện ra hơn là muốn khẳng định Chúa đã lên trời trong chính ngày Chúa nhật Phục sinh.

Nhất là trong Tin Mừng Luca, chúng ta thấy hai môn đệ đã phải trở về Giêrusalem vào lúc tối. Ðến nơi, họ gặp các Tông đồ, rồi được Chúa hiện ra chung cho mọi người và sau đó tất cả được Người dẫn đến Bêthania để chứng kiến việc Người lên trời. Như vậy, Người lên trời vào lúc đêm tối ư?

Không, lối hành văn của hai bản Tin Mừng Marcô và Luca trên đây không ghi lại lịch sử theo chi tiết thời gian. Hai tác giả muốn loan truyền Tin Mừng cứu độ: Ðức Kitô đã sống lại ngày thứ nhất trong tuần; Người đã hiện ra dạy dỗ các môn đệ nhiều lần; và lần cuối cùng Người đã cho họ thấy Người lên trời. Còn "lần cuối cùng" này xảy ra vào ngày nào, lúc nào, thì không tác giả nào muốn xác định theo lịch sử thời gian. Hai thánh Marcô và Luca, "bề ngoài" có vẻ như muốn quả quyết là vào cuối ngày thứ nhất trong tuần, nhưng thật sự như chúng ta đã thấy, cả hai chỉ muốn dùng việc lên trời để kết thúc mọi lần hiện ra; và các lần hiện ra này lại được xếp cả vào ngày thứ nhất trong tuần để tô điểm cho ngày Chúa sống lại. Ta có thể nói hai bản văn Tin Mừng Marcô và Luca là hai bài thần học về ngày Chúa Nhật: đó là ngày Chúa sống lại hiện đến với các môn đệ. Ðồng thời cũng là những bài thần học về mầu nhiệm Chúa Phục sinh. Mầu nhiệm này bao gồm việc Người sống lại, hiện ra với các môn đệ và lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa.

Theo Luca, chúng ta có thể nghĩ Chúa sống lại như mặt trời lúc rạng đông và Người về trời như vừng ô lúc lặn; còn cả ngày, thì ánh sáng Người chiếu soi cho các môn đệ. Luca kể chuyện Chúa đã liên tiếp hiện ra trong một ngày. Nếu chúng ta gom mọi lần hiện ra đó vào một và coi như chỉ là những diện khác nhau của việc Chúa sống lại tỏ mình ra cho các môn đệ, thì khi Người hiện đến họ biết Người đã sống lại và lúc Người biến đi họ biết Người đã về trời. Không vậy thì phải hỏi Người ở đâu? Nhưng họ đã không hỏi vì đã tin quyền năng Thiên Chúa đã phục sinh Ðức Giêsu từ nơi kẻ chết, thì mặc nhiên họ đã nhận ra rằng Người đã được nhắc lên trong vinh quang Thiên Chúa. Hai người trong nhóm họ đã viết lại việc Người lên trời cách hữu hình chẳng qua để muốn nói rằng từ nay Chúa sống lại không hiện ra nữa.

Nhưng tại sao Luca trong sách Công vụ lại nói đến con số 40 ngày như là thời gian để Chúa Phục sinh hiện ra dạy dỗ các môn đệ? Có thể lần hiện ra cuối cùng đã xảy ra vào ngày thứ 40 sau khi Chúa sống lại. Nhưng có thể hơn là Luca có một ẩy ý gì đây khi nêu ra con số này.

Chúng ta biết Môsê đã ở trên núi 40 ngày; dân được chọn đã đi trong sa mạc 40 năm; Êlya đã đến núi Horeb 40 ngày và nhất là chính Ðức Kitô đã chay tịnh 40 ngày trong sa mạc. Con số 40 ngày trở thành biểu tượng thời gian kết hợp với Thiên Chúa và được Thiên Chúa dạy dỗ. Có lẽ Luca muốn nói lên hạnh phúc và địa vị ưu việt của các Tông đồ. Các ngài là những người được Chúa sống lại hiện đến dạy dỗ trong 40 ngày. Như vậy các ngài đã có giáo lý đầy đủ của Chúa phục sinh và chúng ta phải kính nể, tin yêu giáo lý ấy.

Bởi vì chính đoạn sách Công vụ các Tông đồ hôm nay không có ý trình bày việc Chúa lên trời, đó là những lời mở đầu cho cả một cuốn sách. Tác giả nói đến nhiều ý tưởng mà tựu trung là để chuyển từ cuộc sống trần gian của Ðức Kitô sang thời đại hoạt động của các Tông đồ. Nên vai chính trong đoạn văn này là Phêrô và các bạn ông. Họ là những người được Ngài tuyển lựa dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, được tiếp xúc với Chúa Phục sinh trong 40 ngày là thời gian đầy đủ và lý tưởng, được Ngài dạy dỗ cặn kẽ về hoạt động tương lai và cuối cùng được thấy Ngài về trời để biết rõ nay đã đến thời đại của họ. Chính vì vậy mà bài sách Công vụ hôm nay kết thúc bằng câu: "Ðấng vừa bỏ các ông mà siêu thăng, sẽ đến cùng một thể như các ông đã thấy Ngài đi lên trời", để hàm ý nói rằng: các ông phải đi làm việc cho đến ngày Ngài lại đến.

Như vậy chúng ta không còn lý do nào nữa để cứ nhìn lên trời mãi. Hãy đi thi hành mệnh lệnh Chúa để lại mà cả hai bài sách Công vụ lẫn bài Tin Mừng đều tường thuật.

B. Lệnh Chúa Truyền

Bài sách Công vụ cho ta thấy: suốt 40 ngày Chúa Giêsu đã hiện ra cho các môn đệ mà nói về Nước Thiên Chúa. Rồi đang lúc đồng bàn với họ, Ngài truyền cho họ chớ rời xa Giêrusalem... nhưng hãy đợi chịu lấy quyền năng của Thánh Thần... rồi sẽ là chứng tá cho Ngài đến tận cùng trái đất.

Cụ thể, các Tông đồ phải ở lại Giêrusalem chờ lãnh ơn Thánh Thần rồi ra đi làm chứng cho Chúa Giêsu. Lệnh truyền có vẻ đơn sơ, nhưng nhiều ý nghĩa và hậu quả. Sau ngày Chúa thực hiện những hành vi quyết định để cứu thế qua việc chịu chết và sống lại, Giêrusalem trở thành nơi phát xuất ơn cứu độ. Chúa Thánh Thần sẽ xuống trên các Tông đồ ở Giêrusalem để tung họ đi vào thế giới. Họ sẽ phải làm chứng về Chúa Giêsu nhưng nhờ sức mạnh của Thánh Thần. Thời đại của Giáo hội vì thế là thời đại của Chúa Thánh Thần làm việc với các Tông đồ, mà đối tượng là làm chứng cho Chúa Giêsu.

Thánh Matthêô trong bài Tin Mừng hôm nay không dùng những từ ngữ như thế, nhưng ngài cũng không nói khác Luca. Ngài đã tả Chúa sống lại hiện ra lần cuối cùng ở trên núi. Núi nào, ngài không nói rõ, dường như để chúng ta nhớ lại những lần Ðức Giêsu đã chay tịnh trên núi, đã giảng dạy trên núi và đã biến hình trên núi. Và tất cả những kỷ niệm đó đều có thể tăng thêm ý nghĩa cho việc Người đứng trên núi hôm nay với các môn đệ.

Việc Người được các Tông đồ thờ lạy và tuyên bố được Chúa Cha ban cho mọi quyền trên trời dưới đất, phải chăng không muốn gợi lại câu chuyện Satan cám dỗ Người hãy thờ lạy nó để được tất cả trời đất làm vương quốc? Và hôm nay Người đã sống lại vinh quang mà đứng trên núi, làm sao không khiến Phêrô nhớ lại hôm Người biến hình. Và nếu Người đã có lần ngồi trên núi giảng về Tám mối phúc thật, thì hôm nay Người cũng đang lệnh cho các Tông đồ: hãy ra đi làm cho mọi dân tộc trở thành môn đệ, rửa tội cho người ta nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy dỗ họ giữ mọi lệnh truyền. Và nay, Ta ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế.

Thánh Matthêô đã diễn tả lệnh truyền qua nếp sống của Hội Thánh. Ngài dùng các công thức Rửa tội của Hội Thánh. Ngài nói đến sự hiện diện của Chúa ở với Hội Thánh cho đến tận thế như là bảo chứng việc Chúa phù trợ Hội Thánh nhờ Thánh Thần. Nghĩa là đối với thánh Matthêô, thời đại của Hội Thánh cũng là thời đại của các Tông đồ làm việc với sự cộng tác và nâng đỡ của Chúa Thánh Thần. Và đối tượng sinh hoạt của Hội Thánh cũng là làm cho mọi dân tộc trở thành môn đệ Chúa Giêsu qua việc rao giảng Người cho họ và rửa tội cho họ nhân Danh Ba Ngôi.

Do đó với những lời lẽ khác nhau, bài sách Công vụ và bài Tin Mừng hôm nay đều ghi lại lệnh Chúa truyền cho các môn đệ trước khi Người về trời. Họ phải đón nhận Thánh Thần và ra đi làm chứng về Chúa Giêsu để thiên hạ trở thành môn đệ Người. Lệnh truyền này được ban bố sau khi Chúa sống lại để tập họp nhóm Mười Một qua các lần hiện ra để họ tin mầu nhiệm Phục sinh và được dạy dỗ về Nước Trời.

Ngày lễ Chúa Lên Trời, Phụng vụ muốn cho chúng ta thấy nhóm Mười Một ấy đã thực sự trở thành chứng nhân của Chúa Phục sinh. Họ còn phải chờ đón ơn Thánh Thần mới có thể ra đi tuyên chứng. Nhưng việc họ đã được huấn luyện xong nói lên thời gian của Chúa Giêsu ở trần gian đã kết thúc. Người lui khỏi họ mà về trời để thời đại của Hội Thánh khởi sự. Lễ Chúa Lên Trời vì thế có ý nói lên sự kiện mới trong đời sống của Hội Thánh và của chúng ta hơn là một biến cố nữa trong cuộc đời của Chúa Giêsu. Bởi vì như lời Kinh Tin Kính chúng ta sắp đọc: chính vì chúng ta mà Người đã sinh ra làm người v.v... Và hôm nay Người về trời cũng là vì chúng ta. Nên chúng ta phải suy nghĩ về cuộc đời của mình nhân việc Người lên trời để ngày lễ hôm nay đạt được kết quả.

C. Thi Hành Lệnh Chúa

Trong 40 ngày chúng ta đã cử hành mầu nhiệm Phục sinh, chúng ta đã suy nghĩ về những lần Chúa sống lại hiện ra với các môn đệ. Và nhất là chúng ta có thể nói được như Phêrô rằng: chúng tôi là những người được chọn để ăn uống với Người sau khi Người đã sống lại, vì từ ngày đó chúng ta vẫn tham dự Thánh lễ và Tiệc Thánh. Chúng ta phải coi mình như các môn đệ 40 ngày sau khi Người Phục sinh: sẵn sàng lãnh lấy trách nhiệm tiếp nối sứ mạng của Người ở trần gian. Phải ra đi khỏi nơi Bàn tiệc này như núi thánh, để gặp mọi người và làm chứng cho họ về Nước Thiên Chúa. Việc Chúa Giêsu về trời nói lên rằng: thời đại của Hội Thánh và của chúng ta đã khởi đầu. Công cuộc cứu thế từ nay chuyển sang chúng ta.

Dĩ nhiên chúng ta không đơn độc. Còn Thánh Thần nữa. Và phải có Thánh Thần chúng ta mới thi hành được sứ vụ. Từ hôm nay Giáo hội khuyên ta hợp ý cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Và như cộng đoàn các môn đệ xưa, Giáo hội chờ đợi Thánh Thần với Ðức Mẹ. Nay cũng là tháng Năm, tháng hoa của Mẹ chúng ta. Con cái Mẹ hãy sốt sắng vây quanh Người để cầu xin ơn Thánh Thần xuống dồi dào trên Giáo hội và trong các tâm hồn.

Tuy nhiên, những ngày tới không phải chỉ là những ngày cầu nguyện. Phêrô và các Tông đồ đã làm việc đang khi chờ đợi ơn Thánh Thần. Các ngài chọn người thay chỗ Giuđa. Và phải là người có tư cách để làm chứng, tức là không những đã ở trong hàng ngũ môn đệ và biết Chúa Giêsu, nhưng nhất là phải tin Người đã sống lại để đem sức sống mới vào thế gian. Vì sứ mệnh của Giáo Hội tựu trung là đem vào đời sống của con người mầm mống của sự phục sinh sau này, tức là sự sống trường cửu của chính Thiên Chúa.

Sự sống này giờ đây Chúa sẽ ban thêm cho chúng ta trong Thánh lễ này để hôm nay và hằng ngày, chúng ta đem tăng cường cho sự sống của mọi người, khi chúng ta phấn đấu cho đời sống loài người mỗi ngày một đẹp hơn, tốt hơn và hạnh phúc hơn.

--------------------------
 

nTrời-407: Suy niệm của Lm Phêrô Trần Đình


Lễ Chúa Giêsu lên trời nói với chúng ta thật nhiều điều.
 

Trước tiên, con người chỉ có thể sống khi cuộc sống có ý nghĩa đối với họ. Họ phải biết sống để LênTrời-407


1/ Trước tiên, con người chỉ có thể sống khi cuộc sống có ý nghĩa đối với họ. Họ phải biết sống để làm gì?.Chết rồi thì đi đâu?. Con đường chúng ta đang đi sẽ dẫn chúng ta đến chỗ nào.

Người ta thống kê rằng cứ mỗi ngày trên thế giới có 5000 người trẻ tự vẫn. Đó là những người có cuộc sống đầy đủ, không cần phải phấn đấu, nhưng họ tìm đến cái chết (như lái xe với tốc độ cao…) vì không biết sống để làm gì, không tìm thấy ý nghĩa cuộc sống.

Lễ Chúa lên trời dạy chúng ta rằng cuộc sống có một ý nghĩa, đường ta đi sẽ dẫn chúng ta đến đâu. Chúa Giêsu lên trời có nghĩa là về với Chúa Cha. Chúa Cha là quê hương của Đức Giêsu, là nơi Người phát xuất và cũng là nơi Người trở về. Chúa Giêsu về trời trước rồi Người sẽ trở lại đón chúng ta, để Người ở đâu chúng ta cũng sẽ ở đó.

2/ Chúa lên trời không phải để xa cách chúng ta, cho bằng là để gần kề chúng ta hơn mỗi khi chúng ta kêu cầu Người. Khi còn sống ở dương gian, Chúa Giêsu bị hạn chế về mặt không gian và thời gian. Nếu Chúa ở chỗ này, thì Người không thể ở chỗ kia. Còn bây giờ khi đã lên trời, Chúa không còn bị giới hạn về mặt không gian và thời gian nữa.

3/ Chúa lên trời để ngự bên hữu Chúa Cha, nghĩa là Người sẽ trở thành Đấng cầu bầu đắc lực cho chúng ta trước mặt Chúa Cha (x. Kinh tiền tụng ngày lễ).

4/ Chúa lên trời để Giáo Hội trưởng thành hơn. Giờ đây, Giáo Hội sẽ tiếp tục công cuộc rao giảng của Người: “Anh em hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin mừng cho mọi loài thụ tạo”. Thời kỳ của Giáo Hội bắt đầu từ đây.

Các môn đệ của Chúa rất ý thức điều đó. Họ đã tuân lệnh Chúa “ra đi rao giảng khắp nơi”, làm cho người ta trở thành môn đệ của Chúa, nghĩa là tin vào Chúa.

5/ Chúa lên trời còn để dọn chỗ cho chúng ta như chính Người đã nói. Mỗi lần sau truyền phép chúng ta đều tuyên xưng: “Trong vinh quang mai Người sẽ đến, đón chúng con lên trời về với Chúa Cha”. Người kitô hữu ý thức rằng quê hương đích thực của chúng ta là ở với Chúa trên trời. Nhưng việc chúng ta có được vào chốn đó hay không, còn tuỳ thuộc vào cuộc sống của chúng ta hôm nay.

Để kết thúc tôi xin kể một câu chuyện. Có một bà chủ nhà kia rất mực giàu có. Bà nuôi một gia nhân để dọn dẹp nhà cửa cũng như chăm sóc vườn hoa. Người này rất chăm chỉ lao động, nhưng bà chủ ác độc la mắng anh ta đủ điều, dầu vậy anh ta vẫn phải ngậm tăm

Thế rồi bà chủ đã chết và được quỉ đưa ngay xuống địa ngục, chốn khóc lóc và nghiến răng. Quỉ chỉ cho bà một túp lều rách nát và bảo rằng đó sẽ là nơi cư ngụ của bà từ đây. Bà chẳng còn biết làm sao nữa, cho bằng răm rắp tuân lệnh.

Một thời gian sau, người nô bộc của bà cũng chết và được thiên thần rước ngay lên trời, chỉ cho anh ta một ngôi nhà sang trọng và nói đó sẽ là nơi cư ngụ vĩnh viễn của anh.

Từ đàng xa, bà chủ thấy anh và lập tức nhận ra đó là người nô bộc của mình. Bà không vui khi thấy anh này được ở trong ngôi nhà xinh xắn. Bà đề nghị đổi túp lều của mình để lấy ngôi nhà sang trọng kia, nhưng thiên thần bảo: “Không được đâu bà. Sở dĩ người kia được ở trong ngôi nhà xinh xắn sang trọng, là bởi vì từ trần gian anh ta không ngừng gởi cho chúng tôi những vật liệu quí giá. Chúng tôi chỉ có việc xây nhà từ những vật liệu anh ta gởi lên mà thôi’. Còn bà, bà chỉ gởi cho chúng tôi những vật liệu tồi tàn và ma quỉ cũng đã dùng chính những vật liệu bà đã gởi xuống, để dựng cho bà một cái chòi rách nát mà thôi”. Bà đừng ghen tị mất công. Số phận của mỗi người tuỳ thuộc khi còn sống người ta đã gởi những vật liệu nào về đời sau.

--------------------------
 

nTrời-408: Ái mộ những sự trên trời


(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Hữu An)
 

Thủ lãnh của một bộ tộc nằm hấp hối trên giường. Ông cho gọi ba người thân cận đến và nói LênTrời-408


Thủ lãnh của một bộ tộc nằm hấp hối trên giường. Ông cho gọi ba người thân cận đến và nói: Ta phải chọn một người kế tục. Các ngươi hãy leo lên đỉnh núi thiêng liêng của chúng ta và mang về đây cho bộ tộc một món quà quý giá nhất.

Người thứ nhất mang về một thỏi vàng lớn. Người thứ hai mang về một viên ngọc quý. Người thứ ba trở về tay không.

Ngạc nhiên, vị tù trưởng hỏi: món quà quý giá của ngươi đâu?

Anh điềm tỉnh trả lời: khi tôi lên tới đỉnh núi, tôi thấy ở phía bên kia một vùng đất phì nhiêu màu mỡ, tại đó dân chúng có thể có một cuộc sống sung túc tốt đẹp.

Thủ lãnh nói: Ngươi sẽ nối nghiệp ta vì ngươi đã mang về món quà quý gía nhất là một viễn tượng tương lai tốt đẹp.

Chúa Giêsu về trời mở ra một viễn tượng tương lai tốt đẹp là hạnh phúc thiên đàng. Người đi trước mở đường và dẫn chúng ta lên theo Người.

Tin Mừng thuật lại hai sự kiện song hành: Chúa Giêsu lên trời và lệnh truyền rao giảng Tin Mừng. Sự kiện Chúa Giêsu lên trời, Tin Mừng thánh Marcô ghi lại rất vắn tắt: Chúa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Tin mừng Matthêu nói đến lệnh truyền: Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, là phép rửa cho họnhân danh Chúa Cha Chúa Con và Chúa Thánh Thần.Còn theo sách Công vụ Tông đồ, Chúa Giêsu lên trời sau khi sống lại được 40 ngày, và nơi lên trời là núi Cây dầu. Thực ra khi Chúa Giêsu sống lại, Người đã lên trời rồi theo kiểu nói của Kinh Thánh, nghĩa là Người bước vào cõi vinh quang của Chúa Cha, Người ngự bên hữu Chúa Cha,mặc lấy vinh quang và quyền năng của Chúa Cha. Trong 40 ngày sau sống lại, Chúa Giêsu hiện ra nhiều lần để dạy dỗ và cũng cố đức tin của các Tông Đồ. Giáo hội đã được thiết lập nay được cũng cố để được sai đi. Như vậy sự kiện lên trời mà phụng vụ Giáo Hội kính nhớ hôm nay có ý nghĩa sâu xa. Nó chấm dứt thời gian Chúa hiện diện giữa nhân loại bằng thân xác, chấm dứt thời gian huấn luyện các Tông Đồ.

Một thời điểm có tính cách quyết định của lịch sử cứu độ là Chúa Giêsu ban những giáo huấn cuối cùng,trao những chức vụ phải thi hành trong Giáo hội, chuẩn bị cho các Tông đồ thi hành sứ mạng chứng nhân của Đấng phục sinh trong thế giới. Từ nay trở đi, Người sẽ hiện diện với chúng ta một cách vô hình. Với quyền năng của Chúa Thánh Thần, thân xác Chúa Giêsu đã được thần khí hoá và đi vào cõi vĩnh hằng của Chúa Cha. Sự hiện diện này thâm sâu hơn và hiệu năng hơn. Khi còn ở trong thân xác, Chúa Giêsu chỉ ở bên cạnh một số người thôi. Từ nay, với quyền năng Thánh Thần, Người sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người. Chúa Giêsu lên trời. Điều đó dạy ta biết ngoài cõi đời này còn có một nơi chốn khác.

Ngoài cuộc sống này còn có một cuộc sống khác. Ngoài những giá trị đời này còn có những giá trị khác. Trời là nơi hạnh phúc không còn khổ đau. Trời là nơi cuộc sống vĩnh viễn không bị tiêu diệt. Trời là nơi tất cả mọi giá trị đạt đến mức tuyệt đối. Trời là nơi con người trở thành thần thánh, sống chung với thần thánh. Như thế trời là niềm hy vọng của con người. Con người không còn bị trói chặt vào trần gian. Định mệnh của con người không phải chỉ là đớn đau sầu khổ. Số phận con người không phải sinh ra để rồi tàn lụi. Trời cho con người một lối thoát. Trời mở ra cho con người một chân trời hạnh phúc. Trời cho con người cơ hội triển nở đến vô biên.Trời nâng cao địa vị con người. Có trời, con người không còn bị xếp ngang hàng với loài vật. Loài vật sinh ra để tàn lụi. Con người sinh ra để triển nở, để vượt qua số phận, để đạt tới địa vị con Thiên Chúa. Có trời, con người sẽ được nâng lên ngang hàng thần thánh.

Tuy nhiên, trời không phải xây dựng trong mây trong gió, nhưng được xây dựng trong cuộc sống trần gian. Trời không phải là cõi mơ mộng viển vông, nhưng đã bắt đầu ngay trong thực tế cuộc đời hiện tại. Chính vì thế mà hai thiên thần áo trắng đã bảo các môn đệ đừng đứng nhìn trời mãi làm chi, nhưng phải trở về mà lo chu toàn nhiệm vụ. Chính vì thế mà trước khi lên trời, Chúa căn dặn các môn đệ hãy đi làm việc cho Nước Chúa. Sống và làm việc ở trần gian, đó là một nhiệm vụ phải chu toàn. Hoàn thành nhiệm vụ ở trần gian, đó là điều kiện để đạt tới hạnh phúc nước trời. Chính Chúa Giêsu cũng đã chu toàn nhiệm vụ ở trần gian rồi mới lên trời. Nhiệm vụ đó là đi gieo Tin Mừng khắp nơi. Đi đến đâu là thi ân giáng phúc đến đó. Đi đến đâu là làm cho hạt yêu thương nảy mầm lên màu xanh sự sống đến đó.

Người môn đệ của Chúa sống giữa trần gian, yêu mến trần gian, xây dựng trần gian. Vì trần gian là nơi Chúa sai ta đến làm việc.Tuy nhiên ta làm việc ở trần gian mà lòng vẫn hướng lên quê trời. Yêu mến trần gian vì nước trời. Yêu mến trần gian để biến trần gian thành nước trời. Sống giữa thế gian, chúng ta “ái mộ những sự trên trời” như lời kinh hạt: “Thứ năm thì ngắm, Đức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”. Nhưng vẻ đẹp trên trời là vẻ đẹp của tâm hồn, tình yêu Thiên Chúa và tha nhân, vẻ đẹp nghèo khó Phúc Âm, khiêm nhường, đơn sơ, thanh tịnh. Đây là vẻ đẹp và sự quyến rũ của nhân đức, một vẻ đẹp hoàn toàn khác với những vẻ đẹp và sự quyến rũ thuộc trái đất. Nhiều người đã bỏ ra hằng trăm, hàng ngàn, hàng vạn Mỹ kim để làm đẹp, để khoa trương sự giàu có và để được người khác ca tụng. Nhiều người không sợ trải qua những cuộc giải phẫu nguy hiểm, đau đớn cốt sao để thấy mình đẹp, mình hơn người là thoải mái, và hạnh phúc. Nhiều người đã sẵn sàng chấp nhận những thách đố lớn lao để chạy đua vào những chiếc ghế quyền lực. Nhưng ít ai bỏ ra một giờ, một ngày, một tuần, một tháng, hoặc một năm để lo tu sửa và chỉnh trang lại vẻ đẹp của tâm hồn.

Trên thực tế, tình yêu Thiên Chúa, tình yêu tha nhân, đức nghèo khó, đức đơn sơ, và đức trong sạch là những đòi hỏi rất cần thiết để đem lại hạnh phúc cho mỗi người, mỗi cộng đoàn, mỗi dân nước. Đó là những gì cụ thể có thể giúp con người chiếm hữu được vĩnh hằng. Rất tiếc, đó cũng là những gì mà nhiều người từ khước, bởi vì chúng không phù hợp với nhãn quan và suy tư của con người.

Giáo Hội đã thôi thúc và khuyến khích mỗi Kitô hữu hãy tìm kiếm và yêu mến những sự trên trời. Cầu xin cho được ơn ái mộ là cầu xin Thánh Linh khai mở tâm hồn và trí tuệ để chúng ta có thể nhìn, và có thể hiểu được vẻ cao quí của những giá trị tinh thần ấy. Nhận thức về thế giới tâm linh là một nhận thức ngoài tầm hiểu biết của trí tuệ tự nhiên con người. Những gì thuộc về thần linh là thần linh. Con người cần được soi dọi và khai mở bởi sức mạnh huyền nhiệm của Thánh Thần. Chỉ khi nào trí óc ta, trái tim ta được Ngài khai mở, lúc ấy ta mới nhận ra, mới hiểu thấu thế nào là sự cao xa, dài rộng của vẻ đẹp tinh thần, của những giá trị đạo đức.

Chúa về trời, không phải chỉ để dọn chỗ mà còn là mở ra một viễn tượng hạnh phúc của trời cao. “Xin cho chúng con ái mộ những sự trên trời”, để chúng con không bị chôn bám vào thế gian chóng qua và phù du này. Và để chúng con biết tìm kiếm những giá trị cao quí của tinh thần, và để chúng con yêu mến và sống với cuộc sống ấy. Vì đó là những gì mà chúng con có thể tìm kiếm, mua sắm và đem vào được nơi vĩnh hằng. Nơi mà chúng con sẽ gặp được Chúa là nguồn mạch sự sống, hoan lạc, và hạnh phúc viên mãn của chúng con. Amen.

--------------------------
 

nTrời-409: Lễ Thăng Thiên

 

Mt 28,16-21 không nói gì tới Thăng Thiên. Vì nói xuống thế lên trời là theo cách nói bình thường LênTrời-409


Mt 28,16-21 không nói gì tới Thăng Thiên. Vì nói xuống thế lên trời là theo cách nói bình thường. Trên trời cao dưới đất thấp (bản dịch PVCGK) là viết văn không phải là thần học. Dưới đất đối lại với trên trời. Đất là không gian vật chất, có giới hạn vào một nơi chốn cụ thể: ở đây bây giờ. Trời là chỉ sự hiện hữu khác với vật chất, thiêng liêng. Là những hữu thể hiện hữu theo cách riêng, thiêng liêng. Không nói nơi chốn mà nói hữu thể hiện hữu. Trời là Thiên Chúa. Thiên Chúa ở đâu thì ở đó là trời. Nên cũng gọi là Chúa Trời. Đất và trời không xa cách nhau như cách nghĩ thông thường. Đất là vật chất trời là thiêng liêng vô hình. Á Đông nói "Thần vô phương": thần không ở phương nào cả mà ở khắp tứ phương. Hay "bàng lưu bất trú dạ" đi khắp mà không nghĩ đêm vì nghĩ thì dừng lại ở "quán trọ".

Đức Giêsu chấm dứt sự hiện diện bằng thân xác vật chất chuyển sang sự hiện hữu thần linh "thần thì vô phương" không trụ ở một nơi nào mà ở khắp tứ phương.

Người vẫn sống, đang hiện diện và hoạt động bằng Thần Khí, chỉ những người nào cảm nghiệm được thì mới tin vững. Nên còn những người "hoài nghi".

Các Phúc Âm khác có nói lên trời nhưng phải hiểu là cách nói thông thường.
CHÚ GIẢI

Mười một môn đệ: Mất Giuda.

Đi tới miền Galilê: Không thấy có thời gian nào để các ông trở về Galile.

Đức Giêsu Galilê bây giờ xem ra chỉ còn là ký ức của quá khứ. Các ông đang ở với Đức Giêsu Phục Sinh vinh quang. Các ông đang say sưa với vinh quang Phục Sinh. Nhưng tất cả những gì Đức Giêsu làm và dạy là ở Galile, gọi là Đức Giêsu Galile. Đức Giêsu Phục Sinh không dạy, không làm gì thêm. Thần Khí chỉ nhắc cho nhớ và làm cho hiểu những gì Đức Giêsu đã nói đã làm. Thần Khí cũng không thêm gì. Trở về Galile là trở về với Đức Giêsu Galile.

Đến ngọn núi mà Đức Giêsu hẹn các ông: Tất cả những gì quan trọng dều được công bố trên núi (nhắc lại việc Thiên Chúa ban lề luật cho Mose lần đầu tiên trên núi Sinai). Hoặc "đẹp thay bước chân người loan tin trên núi".

Khi thấy Người các ông bái lạy: Cử chỉ tôn thờ chỉ dành cho Thiên Chúa. Họ tin Đức Giêsu là Thiên Chúa nên mới bái lạy.

Nhưng có mấy ông còn hoài nghi: Các ông chỉ cảm nghiệm "cá nhân" Đức Giêsu vẫn sống, đang hiện diện, đang hoạt động bằng Thần Khí của Ngươi và đang biến đổi các ông và do đó mà các ông tin. Sự cảm nghiệm cá nhân nầy khác nhau, nhiều ít ở riêng mỗi người. Người ít thì chưa tin lắm nên còn hoài nghi.

Đức Giêsu tiến đến gần, nói với các ông: Cho gần gũi. cho thân mật và cho nghe rõ điều Người nói.

Mọi quyền hành trên trời dưới đất đã được trao cho Thầy: Mạc khải việc Đức Giêsu được tôn vinh ngự bên hữu Chúa Cha được phong làm Chúa và Đấng Cứu Thế. Đức Giêsu là Thiên Chúa vì sẽ hành quyền thay thế Thiên Chúa.

Vậy anh em hãy đi: Là mệnh lênh chính thức và chính yếu của Chúa Phục Sinh và của đoạn Phúc Âm nầy. Đức Giêsu sai đi. Các bài viết về Phục Sinh đều nhằm mục đích "sai đi".

Làm cho muôn dân trở thánh môn đệ: Nhiều hơn là rao giảng dù là rao giảng Tin Mừng. Môn đệ là những người có "nhập môn" bằng phép rửa "theo cách của thời đó" và học theo trường của thầy, sống theo giáo lý của thầy, giống Thầy.

Làm phép rửa cho họ: là nghi thức nhập môn của các môn phái thời ấy. Bắt đầu đời sống mới theo giáo thuyết của môn phái.

Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần: là công thức phép rửa của Giáo Hội. Phúc Âm được viết khi phép rửa đã có công thức hẳn hoi. Là gia nhập cộng đoàn của Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần như Giáo Hội đã tin và đã rao giảng.

Dạy họ giữ mọi điều Thầy đã truyền dạy cho anh em: Là điều kiện hoàn tất mệnh lệnh cuối cùng: Làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa, dạy họ giữ những điều thầy dạy.

Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế: Hứa sự trợ giúp. Có Chúa ở cùng thì được quyền năng Chúa phù trợ. Là câu đóng "Thầy ở cùng mọi ngày" đối lại Emmanuel mở đấu Matthêu.

KẾT

Thiên Chúa sai Lời đến thế gian trong Đức Giêsu. Hoàn thành sứ vụ Người trở về. Công việc của Người phải được tiếp tục. Người đã huấn luyện mười hai tông dồ. Người truyền mệnh lệnh "sai" các ông tiếp tục công việc của Người trước khi Người lìa các ông. Những lần Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra được kể lại dều nhằm mục đích "sai đi", giao nhiệm vụ.

Sứ vụ được "sai đi" gồm truớc hết là "làm cho muôn dân (phổ quát) trở thành môn đệ". Ai "tin" đón nhận lời rao giảng thì làm phép rửa cho họ "thâu nhận họ vào cộng đoàn mới, cộng đoàn của Cha và Con và Thán Thần". Cuối cùng là "dạy" cho họ giáo lý của cộng đoàn do Đức Giêsu truyền lại để họ biết và giữ mọi điều Thầy đã truyền thì mới hoàn thành "môn đệ".

Đó là nhiệm vụ được giao cho Giáo Hội thực hiện cho tới ngày nay. Các tông đồ, những người kế vị, những người tham gia ở nhiều cấp bậc khác nhau đã cùng nhau xây dựng Giáo Hội, nước Chúa ở trần gian. Lễ hôm nay nhắc nhở mỗi người chúng ta đừng quên vai trò của mình trong sứ vụ mà Đức Giêsu trao phó cho Giáo Hội trước khi Người chấm dứt "hiện diện hữu hình" chỉ còn hoạt động bằng Thánh Thần Bảo Trợ. Xin Thánh Thần giúp chúng ta ý thức sứ vụ "được sai đi" và hăng hái góp phần để sứ vụ của Chúa Giêsu được hoàn thành viên mãn.

--------------------------
 

nTrời-410: LÀM CHỨNG CHO ĐỨC KITÔ

 

Trong ngày Chúa Nhật Lễ Lá, các môn đệ của Đức Giêsu đã hoàn toàn nhận ra được lòng tin LênTrời-410


Trong ngày Chúa Nhật Lễ Lá, các môn đệ của Đức Giêsu đã hoàn toàn nhận ra được lòng tin của họ nơi Người và lòng trung thành đối với Người. Điều làm cho việc bày tỏ sự ủng hộ của họ càng trở nên đáng khen hơn, đó là vì hành động này được thực hiện trong sự nghiến răng cay đắng chống đối của người Pharisêu. Khi một số người Pharisêu đến phản đối Đức Giêsu, Người phán rằng: “Họ mà làm thinh, thì chính những viên sỏi đá cũng sẽ kêu lên”.

Có những cơ hội đòi hỏi một sự minh chứng công khai. Đây là một trong những trường hợp này. Đây là trường hợp duy nhất, mà Đức Giêsu chấp nhận một điều gì đó tương tự cảnh được dân chúng sùng bái như một vị anh hùng. Người biết rằng các môn đệ của Người có quyền và có nhu cầu được công khai diễn tả lòng tin của họ nơi Người. Nhưng người ta lại nghi ngờ về lời cam kết của các môn đệ. Không phải là người ta nghi ngờ về sự chân thành của họ, nhưng đó là một sự đáp ứng của công chúng, và khi dân chúng hùa theo như vậy, thì thường có tính cách ồn ào hơn là có chiều sâu.

Thật dễ dàng trong việc làm chứng cho Đức Giêsu ở nơi đây, trong nhà thờ. Chúng ta đang ở giữa những người cùng vây cánh với chúng ta. Nhưng không phải là chuyện dễ dàng, để làm chứng cho Người trong một thế giới hững hờ và đôi khi còn thù địch nữa.

Có những lúc chúng ta cần phải tuyên xưng lòng tin của mình nơi Đức Giêsu một cách công khai. Và có những khi hoàn cảnh đòi buộc chúng ta phải làm như vậy.
Những viên đá sẽ không biết nói ra. Chỉ có con người mới có thể làm được điều đó. Chúng ta đừng nên giữ im lặng nữa, khi có một tiếng kêu đòi hỏi chúng ta phải nói ra: lời nói ủng hộ, để bảo vệ một người nào đó, mà sự đóng góp của họ đang bị quên lãng; hoặc lời nói lên sự thật, ở nơi nào mà người ta cố tình nói dối. Nhưng nói ra không phải là điều dễ dàng. Giữ im lặng thì dễ dàng hơn và an toàn hơn nhiều.

Như vậy, chúng ta hãy cẩn thận, trong khi tuyên xưng lòng tin của mình vào Đức Kitô ở nơi đây, trong nhà thờ, sao cho chúng ta không phớt lờ hoặc chối từ Người tại nơi công cộng. Đức Giêsu nói với chúng ta “Bất cứ kẻ nào tuyên xưng về Ta trước mặt những người khác, thì Ta cũng sẽ nhìn nhận người đó trước mặt Cha Ta, Đấng ngự trên trời”.

Chúng ta có thể rút ra được nguồn cảm hứng từ các môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu. Trong Tin Mừng, họ được biết đến như là những người không e ngại trong việc thừa nhận những hoài nghi, nhu cầu và sự thiếu lòng tin của mình. Tuy nhiên, trong ngày Chúa Nhật Lễ Lá đầu tiên, họ đã mạnh mẽ và gan dạ trong việc làm chứng cho Đức Giêsu.

Xin Chúa rủ lòng thương xót trên chúng ta, là những người môn đệ nhút nhát và đầy sợ hãi của Người, và ban cho chúng ta lòng can đảm, để cuộc sống của chúng ta có thể mang lời chứng về lòng tin mà chúng ta tuyên xưng.

----------------------------------
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây