Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 401-450 Chúa lên Trời - Ngày quốc tế truyền thông

Thứ hai - 03/06/2019 05:03
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 401-450 Chúa lên Trời - Ngày quốc tế truyền thông
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 401-450 Chúa lên Trời - Ngày quốc tế truyền thông

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Thăng Thiên ABC 401-450 Chúa lên Trời - Ngày quốc tế truyền thông

-----------------------
LênTrời-401: NHÌN VỀ TRỜI RỒI NHÌN VÀO TRÁI ĐẤT.. 2
LênTrời-402: CHỨNG NHÂN CỦA THẦY.. 6
LênTrời-403: Sao các ông còn đứng nhìn lên trời 8
LênTrời-404: Chúa nhật Lễ Thăng Thiên B ( Mc 16, 15-20 ) 11
LênTrời -405: Lòng hướng về trời cao - Huệ Minh. 12
LênTrời-406: Lần gặp gỡ cuối cùng. 15
LênTrời-407: Suy niệm của Lm Phêrô Trần Đình. 19
LênTrời-408: Ái mộ những sự trên trời 21
LênTrời-409: Lễ Thăng Thiên. 24
LênTrời-410: LÀM CHỨNG CHO ĐỨC KITÔ.. 26
LênTrời-411: Ái mộ những sự trên trời 27
LênTrời-412: Luyện được con mắt thứ ba. 31
LênTrời-413: Hướng lòng lên trời 34
LênTrời-414: Hướng lòng lên trời! 38
LênTrời-415: Hướng lòng về trời cao. 43
LênTrời-416: Chứng nhân của Đức Kitô. 46
LênTrời-417: Sống mầu nhiệm Chúa lên trời 48
LênTrời-418: Liên kết trong Chúa. 50
LênTrời-419: Kiên vững với thời gian. 52
LênTrời-420: Trời ở quanh ta. 53
LênTrời-421: Lễ Chúa Thăng Thiên. 55
LênTrời-422: Chúa lên Trời - Ta và đời 58
LênTrời-423: Chúa về trời, con vào đời 61
LênTrời-424: Đường lên trời 65
LênTrời-425: Khởi điểm cho một kỷ nguyên mới 68
LênTrời-426: Lên trời – ViKiNi 77
LênTrời-427: Hướng về trời cao - Lm. Ignatiô Trần Ngà. 79
LênTrời-428: Chúa Giêsu được siêu tôn. 81
LênTrời-429: Chúa Giêsu hoàn thành sứ mạng và về trời 83
LênTrời-430: Thà chết chứ không phạm tội 85
LênTrời-431: Suy niệm của Lm. Trầm Phúc. 86
LênTrời-432: Suy niệm của Lm. Fx Nguyễn Hùng Oánh. 90
LênTrời-433: Hạnh phúc lớn lao - Lm. Nguyễn Hữu An. 93
LênTrời-434: Loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo. 95
LênTrời-435: Sứ mệnh truyền giáo. 100
LênTrời-436: Thế gian chỉ là quán trọ. 102
LênTrời-437: Suy niệm của Lm. Fx Nguyễn Hùng Oánh. 104
LênTrời-438: Hạnh phúc lớn lao - Lm. Nguyễn Hữu An. 107
LênTrời-439: Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái 109
LênTrời-440: Loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo. 119
LênTrời-441: HẸN NGÀY SUM HỌP. 123
LênTrời-442: THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?. 125
LênTrời-443: MỞ MẮT.. 127
LênTrời-444: CHUYỂN GIAO THÔNG ĐIỆP CỨU ĐỘ.. 128
LênTrời-445: CHÚA SỐNG TRONG CON.. 130
LênTrời-446: CHÚA LÊN TRỜI, NGÀI ĐỂ LẠI “CHÚC THƯ” GÌ CHO CHÚNG TA?  132
LênTrời-447: HẦY Ở CÙNG ANH EM MỌI NGÀY.. 135
LênTrời-448: CÕI VĨNH HẰNG.. 136
LênTrời-449: HƯỚNG VỀ QUÊ HƯƠNG VĨNH CỬU TRÊN TRỜI 141
LênTrời-450: LỆNH TRUYỀN.. 143

--------------------------



 

nTrời-401: NHÌN VỀ TRỜI RỒI NHÌN VÀO TRÁI ĐẤT


JM. Lam Thy

 

Vào buổi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng trưa Chúa Nhật Chúa Thăng Thiên (13/5/2018), tại LênTrời-401


Vào buổi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng trưa Chúa Nhật Chúa Thăng Thiên (13/5/2018), tại cửa sổ dinh Tông Tòa Rô-ma, trước hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương, ĐTC Phan-xi-cô đã ban huấn dụ. Mở đầu bài huấn dụ, ngài nói: “Hôm nay tại Italia cũng như mọi nước khác là lễ trọng mừng Chúa lên Trời. Lễ này bao gồm hai yếu tố: Một đàng nó hướng cái nhìn của chúng ta về Trời, nơi Chúa Giê-su vinh hiển ngự bên hữu Thiên Chúa Cha (x. Mc 16, 19). Đàng khác, nó nhắc nhớ chúng ta việc khởi đầu sứ mệnh của Giáo Hội. Tại sao? Bởi vì Chúa Giê-su Phục sinh và lên Trời gửi các môn đệ ra đi loan báo Tin Mừng trên toàn thế giới. Vì thế lễ Thăng Thiên khích lệ chúng ta hướng nhìn về Trời để rồi lập tức nhìn vào trái đất và thực thi các nhiệm vụ Chúa Phục Sinh tín thác cho chúng ta.” (Wikipedia)

Lễ Thăng Thiên đánh dấu việc Chúa Giê-su trở về “nơi” mà Người đã hiện hữu trước khi nhập thể (Ga 3, 13). Sự kiện này nói lên việc nhân tính của Đức Ki-tô tiến vào trong vinh quang của Thiên Chúa một cách vĩnh viễn (Ga 16, 28; 17, 5), đánh dấu sự kết thúc sứ mệnh hữu hình của Người ở trần gian; đồng thời khởi đầu sứ mệnh của Giáo hội. Vào chính ngày Phục Sinh, thân xác vinh quang của Chúa Giê-su được tôn vinh, được siêu thăng và “ngự bên hữu Chúa Cha”. Tuy nhiên, theo trình thuật của Thánh Lu-ca, sau khi phục sinh, Chúa Giê-su còn hiện ra nhiều lần với các môn đệ trong khoảng thời gian 40 ngày. Đây là thời gian Chúa Giê-su dùng để khẳng định sự Phục Sinh của Người, hoàn tất việc giảng dạy các môn đệ, củng cố niềm tin và sai các ông đi rao giảng Tin Mừng. Với biến cố thăng thiên, Chúa Giê-su không còn hiện diện trong thân xác hữu hình như trước kia, nhưng Người vẫn hiện diện với Giáo hội cho đến ngày tận thế (Mt 28, 20) theo phương cách mới (theo quyền năng của Chúa Thánh Thần) với tư cách là Chúa của vũ trụ (Pl 2, 10-11).

Suy niệm bài Tin Mừng tuần trước (CN VI/PS-C – Ga 14, 23-29) trình thuật việc Đức Giê-su cáo biệt các môn đệ, chính thức bước vào cuộc khổ nạn. Trong những lời cáo biệt đó, có một câu khó hiểu: “Thầy ra đi và đến cùng anh em”. Đang ở cùng các môn đệ, Đức Giê-su ra đi tức là rời khỏi các môn đệ để đến một nơi khác, vậy thì làm sao mà “đên cùng anh chị em”? Hôm nay (CN VII/PS-C), cả 3 bài đọc đều chung một chủ đề: Chúa lên trời. Với “Những lời chỉ bảo sau hết cho các Tông Đồ” (Lc 24, 44-49), lại một lần nữa Đức Giê-su nói một cách khó hiểu. Vừa mới nói “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”, thì ngay lập tức “Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa”. Cái mâu thuẫn của hiện tượng này khiến các Tông đồ cứ mải miết “đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi”.

Hành động “đăm đăm nhìn lên trời” của các môn đệ biểu lộ một tâm trạng hoang mang lo sợ, vì chưa hiểu rõ việc Chúa về trời. Sở dĩ vậy, vì cho đến giờ phút này các môn đệ vẫn còn bán tín bán nghi (“Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” – Mt 28, 17) đối với Người Thầy luôn có những Lời dạy khó hiểu. Thực thế, nếu chỉ với đầu óc bất toàn của con người thì làm sao có thể hiểu ngay được những Lời Người dạy, chẳng hạn như: “Một môn đệ khác thưa với Người: ‘Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã’. Đức Giê-su bảo: ‘Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ.” (Mt 8, 21-22), “Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của mình chính là người nhà.” (Mt 10, 34-36).

Trước đó không lâu, trong bữa Tiệc Ly, Đức Giê-su đã từng báo trước biến cố Chúa Lên Trời cho các môn đệ: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh  em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14, 1-3). Vậy mà khi nghe Thầy nói “Và Thầy đi đâu thì anh  em biết đường rồi” (Ga 13, 3) thì Phê-rô, Tô-ma, Phi-lip-phê, Giu-đa (không phải Giu-đa It-ca-ri-ốt) đã thi nhau nêu thắc mắc về con đường Chúa sẽ đi, về Chúa Cha, kể cả việc “tỏ mình ra” của Thầy (Ga 14, 4-10).

Tâm lý thông thường của con người là vậy, luôn sống bằng và sống với giác quan: Phải nhìn thấy tỏ tường (thị giác), nghe thấy rõ ràng (thính giác), sờ mó cầm nắm được (xúc giác), biết được mặn nhạt (vị giác), ngửi được mùi hương (khứu giác). Điều này cũng chẳng có gì đáng trách. Do đó, Thầy vừa nói Thầy sẽ ở với mình luôn mãi, thì ngay sau đó Thầy lại đi mất hút, bảo sao khỏi ngỡ ngàng, hụt hẫng, nếu không muốn nói là đau đớn, buồn rầu, hoang mang lo sợ. Chính vì thế nên các môn đệ chỉ lo nhìn lên theo bóng Thầy, với tâm trạng vừa hoài nghi, vừa chán nản, chẳng còn tin tưởng vào đâu đựoc nữa. Niềm tin lại một lần nữa bị thử thách, khiến các ngài quên mất những điều Thầy vừa truyền dạy. Cũng vì biết rõ con người là thế, nên Thiên Chúa đã phải sai thiên sứ đến cảnh tỉnh: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” (Cv 1, 11).

Từ đó, các Tông đồ mới bình tâm trở lại và nhờ Đức Ki-tô “mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh” (Lc 24, 45) nên hiểu ra: Chúa Giê-su lên trời không có nghĩa là Người đã kết thúc sứ mệnh, mà chỉ là chuyển đổi sang một giai đoạn mới – giai đoạn cần sự tiếp tay cộng tác của các môn đệ – và vì thế Người mới dạy: “Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14, 3), “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20). Thời gian Chúa Giê-su hoạt động với tư cách Thiên-Chúa-làm-người đã mãn, để bắt đầu từ bây giờ Người sẽ hoạt động bằng Thần Khí của Thiên Chúa. Sứ mệnh tại thế của Chúa Giê-su là Nhập Thể, rao giảng Tin Mừng, “phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại”. Biến cố Lên Trời mở ra một giai đoạn mới, tiếp tục những gì Người đã thực hiện trong những năm tháng “trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14).

Trong giai đoạn mới này, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ cộng tác. Sứ mệnh Người trao cho họ gồm hai việc: *a)- Rao giảng cho thế giới biết Tin Mừng Cứu Độ Người đã thực hiện cho nhân loại (“Người nói: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội.” – Lc 24, 46-47); *b)- Làm chứng nhân cho Người và cho những giá trị Tin Mừng (“Chính anh em là chứng nhân về những điều này” – Lc 24, 48). Để thi hành sứ vụ cao quý này, các môn đệ được Chúa sai đi cần phải có hành trang. Chúa Giê-su đã được Chúa Cha sai đến với nhân loại và hành trang của Người là Thần Khí Tình Yêu. Giờ đây, Người sai môn đệ đi và hành trang của họ cũng phải là Ngọn Lửa Yêu Thương của Thần Khí Sự Thật. Người bảo họ cứ ở lại Giê-ru-sa-lem một thời gian ngắn và họ sẽ được lãnh nhận Thánh Thần làm hành trang cho hành trình thi hành sứ vụ.

Về vấn đề trước khi về trời, Đức Giê-su trao phó sứ vụ của Người cho các môn đệ, Thánh Au-gus-ti-nô đã nói một câu chí lý: “Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Ngài”. Thật thế, khi Đức Giê-su Thiên Chúa vâng lệnh Chúa Cha xuống thế làm người, nếu chỉ một mình Người “đơn thương độc mã” thi hành sứ vụ thì chắc chắn không có kết quả hoặc nếu có thì cũng chẳng là bao. Vẫn biết với quyền năng vô hạn, Người chỉ phán một lời là loài người được cứu rỗi; nhưng như thế thì nhân loại vẫn chìm trong u tối vì chưa được “vén tấm màn lên” (mạc khải), chẳng hiểu được công trình cứu độ của Thiên Chúa dành cho con người. Thiên Chúa rất cần sự cộng tác đắc lực của những “kẻ tin” mà tiên khởi là các vị Tông đồ vậy.

Đến như việc làm chứng nhân cho Người cũng là một yếu tố hết sức quan trọng, bởi với loài người thì bất cứ một công việc, một sự kiện gì cũng đòi phải được thực mục sở thị, được đụng vào hay cầm nắm, hoặc ít ra cũng phải được nghe một nhân chứng sống đáng tin cậy thì mới chịu tin. Cái kiểu đòi trông thấy nhãn tiền “dấu đinh ở tay Người”, được “xỏ ngón tay vào lỗ đinh” và “đặt bàn tay vào cạnh sườn Người” như Tô-ma, thì nhan nhản khắp nơi. Thấu hiểu tận chân tơ kẽ tóc lòng dạ con người là như vậy, nên Đức Giê-su mới đòi các môn đệ và rộng ra là các Ki-tô hữu không chỉ rao giảng mà còn phải làm chứng cho Tin Mừng. Vâng, “người thời nay sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn là những thầy dạy, và nếu họ có nghe theo thầy dạy là vì các thầy dạy ấy cũng là những chứng nhân.” (Thông điệp Loan Báo Tin Mừng “Evangelii Nuntiandi”, số 41).

Công cuộc rao giảng và làm chứng nhân cho Tin Mừng Cứu Độ cũng ví như “muối cho đời” và “ánh sáng cho trần gian” (“Chính anh em là muối cho đời… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.” – Mt 5, 13-14). Tuy nhiên “muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi… Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” – Mt 5, 13-16). Rõ ràng việc “rao giảng” và “làm chứng” tuy hai mà một, việc rao giảng chỉ đạt hiệu quả khi có chứng liệu cụ thể, mà chứng liệu thuyết phục nhất cũng chính là bản thân người rao giảng. Nói cách cụ thể, người rao giảng phải “lời nói đi đôi với việc làm”, tất cả cuộc sống phải làm chứng cho lời mình rao giảng.

Tóm lại, một lần nữa Thiên Chúa lại mạc khải cho các môn đệ, và nói chung là cho loài người hiểu được mầu nhiệm cứu chuộc thông qua những hiện tượng trong biến cố Lên Trời của Đức Giê-su Ki-tô. Đồng thời, để mời gọi con người cộng tác bằng cách “dùng sự bất toàn của con người để công bố Lời Toàn năng, dùng miệng lưỡi nhơ uế của con người để nói Lời Chí thánh”. Ấy cĩng bởi vì “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy, lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người. Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ.” (Dt 4, 12-13).

Người Ki-tô hữu ngày hôm nay đừng “đăm đăm nhìn lên trời” nữa, mà hãy nhìn xuống bản thân mình để thấy được “Tư tưởng của anh không phải tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mc 8, 33), từ đó cầu xin Chúa Thánh Thần dạy dỗ và hướng dẫn, ngõ hầu có đủ hiểu biết và can đảm dấn thân trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng và làm chứng nhân cho Nước Trời vĩnh cửu. Không “đăm đăm nhìn lên trời” như các Tông đồ thủa xưa; nhưng hãy “hướng nhìn về Trời để rồi lập tức nhìn vào trái đất và thực thi các nhiệm vụ Chúa Phục Sinh tín thác cho chúng ta.” như lời dạy của Đức Giáo hoàng (-nt-). Ước được như vậy.

Ôi! “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho cộng đoàn chúng con biết hoan hỷ vui mừng mà dâng lời cảm tạ, vì hôm nay, Con Một Chúa đã lên trời vinh hiển. Là Thủ Lãnh, Người đã đi trước mở đường dẫn chúng con vào Nước Chúa khiến chúng con là những chi thể của Người nắm chắc phần hy vọng sẽ cùng Người hưởng phúc vinh quang. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ Thăng Thiên).

--------------------------

 

nTrời-402: CHỨNG NHÂN CỦA THẦY


Suy niệm Tin Mừng (Lc 24,46-53)

 

Tin mừng chúng ta vừa nghe được đọc trong thánh lễ Chúa Thăng Thiên. Biến cố Đức Giêsu được LênTrời-402


Tin mừng chúng ta vừa nghe được đọc trong thánh lễ Chúa Thăng Thiên. Biến cố Đức Giêsu được rước lên trời trước sự chứng kiến của các môn đệ. Biến cố thăng thiên như một điểm kết thúc cuộc đời dương thế của Đức Giêsu nhưng lại khởi đầu thời gian mới, một lịch sử mới, lịch sử của Giáo Hội mà Người hứa là sẽ ở cùng mọi ngày cho đến tận thế. Chúa Giêsu phục sinh được đem lên trời cũng là để ứng nghiệm những gì đã được loan báo về Người: “Có lời chép rằng: Đấng Kitô phải chịu đau khổ, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ hối cải để được ơn tha tội.” (Lc 24,46-47)

Đức Giêsu lên trời trao lại cho các môn đệ tiếp tục sứ mạng loan báo tin mừng cho muôn dân. Sứ điệp trước tiên chính là làm chứng về cuộc khổ nạn và phục sinh của Ngài. Các môn đệ là người đã ở với Đức Giêsu, đã chứng kiến sự việc ngay từ đầu và trở thành chứng nhân cho Ngài. Biến cố thương khó đã làm các môn đệ thất vọng, lo lắng và sợ sệt trong một thời gian ngắn nhưng giờ đây, chứng kiến Đức Giêsu phục sinh, các ông được bình an, sức mạnh và nhiệt huyết để sống và tuyên xưng xác tín của mình bằng cả cuộc sống. Đức Giêsu rời xa các môn đệ nhưng các ông không đơn côi mà được Thánh Thần trợ giúp và an ủi, làm cho các ông thêm can đảm trong tư cách chứng nhân cho Thầy Giêsu.

Trở thành người chứng cũng là sứ mạng của từng người Kitô hữu chúng ta hôm nay. Lời mời gọi và nhắn nhủ của Chúa Giêsu cho chúng ta vẫn còn gần gũi và mới mẻ như ngày nào: làm chứng cho Chúa trong đời sống và việc làm thường ngày. Người vĩ đại làm được những thành tựu to lớn, nhưng làm những việc tầm thường với lòng yêu mến lớn lao biến chúng ta trở thành người phi thường. Kiên nhẫn và trung thành với lựa chọn và hành động theo Chúa ngay trong những điều nhỏ nhặt thường ngày đòi hỏi sự khiêm nhường và lòng yêu mến chân thành.

Chúng ta hẳn có kinh nghiệm đối mặt với thách đố khi muốn và dám chọn Chúa. Tuy vậy, khó khăn giúp cho lựa chọn của ta thêm ý nghĩa và lòng mến của ta thêm toàn hảo. Trong ánh sáng và niềm vui Chúa Phục Sinh, chúng ta được thêm tin tưởng để mạnh dạn bước theo Chúa vì biết rằng niềm tin ấy không phải hão huyền và rằng vì Chúa Giêsu đã chiến thắng Sự Dữ, qua đau khổ để đi tới vinh quang.

Ước gì Lời Chúa chúng ta vừa nghe cho chúng ta niềm hoan hỷ như các tông đồ xưa, muốn ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa vì những kỳ công Ngài thực hiện. Khám phá ra những điều Chúa làm trên cuộc đời chúng ta, cho người ta thương mến, chắc chắn chúng ta cũng có cùng tâm tình ca tụng và tạ ơn Chúa như người môn đệ đích thực. Xin Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha thông ban cho chúng ta những ơn lành cần thiết để mỗi người, khi bước đi trong hành trình thiêng liêng của mình, khám pha ra sứ điệp của yêu thương và bình an của Chúa, và qua đó trở nên người chứng nhân cho Chúa cách sống động giữa thế giới hôm nay.

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa đã chịu chết và sống lại, xin dạy chúng con biết chiến đấu trong cuộc chiến mỗi ngày để được sống dồi dào hơn. Chúa đã khiêm tốn và kiên trì nhận lấy những thất bại trong cuộc đời cũng như mọi đau khổ của thập giá, xin biến mọi đau khổ cũng như mọi thử thách chúng con phải gánh chịu mỗi ngày, thành cơ hội giúp chúng con thăng tiến và trở nên giống Chúa hơn.

Xin dạy chúng con biết rằng chúng con không thể nên hoàn thiện nếu như không biết từ bỏ chính mình và những ước muốn ích kỷ. Ước chi từ nay, không gì có thể làm cho chúng con khổ đau và khóc lóc chỉ vì quên đi niềm vui ngày Chúa phục sinh. Chúa là mặt trời tỏa sáng Tình Yêu Chúa Cha, là hy vọng hạnh phúc bất diệt, là ngọn lửa tình yêu nồng nàn; xin lấy niềm vui của Người mà làm cho chúng con nên mạnh mẽ  và trở thành mối dây yêu thương, bình an và hiệp nhất giữa chúng con. Amen.

--------------------------

 

nTrời-403: Sao các ông còn đứng nhìn lên trời

 

Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng ...". Đó là lời của Thiên sứ nói với các Tông đồ trong LênTrời-403


"Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời? Ðức Giêsu, Ðấng vừa lìa các ông mà lên trời, sẽ đến cùng một thể thức như các ông đã thấy Người lên trời". Đó là lời của Thiên sứ nói với các Tông đồ trong lúc các ông còn mãi mê nhìn Thầy Chí Thánh của mình được đưa về trời. Và hôm nay, toàn thể Giáo hội Công giáo long trọng mừng lễ Chúa Thăng Thiên, một biến cố đặc biệt trong lịch sử cứu độ của Chúa Cha.

 Sau khi Đức Giêsu sống lại, Ngài đã lên ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang của Ngài. Đó là nơi Ngài đã vâng lời Chúa Cha, từ bỏ ngai vàng, xuống làm người, cứu chuộc nhân loại. trong các bản văn của thánh sử Luca thì ngài trình bày Chúa Giêsu còn ở lại với các môn đệ, các cộng đoàn giáo hội sơ khai thêm một thời gian nữa là 40 ngày, để an ủi, khích lệ, và hướng dẫn họ thực thi trách vụ loan báo tin mừng cho thế giới. Sách Tông Đồ Công Vụ kể lại khi Ngài căn dặn các ông hãy lên đường đến với muôn dân và loan báo tin mừng cho họ với phép rửa kèm theo. Các ông đã đón nhận sứ vụ đó và đồng hành với Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba Thiên Chúa, Ngài sẽ hướng dẫn các ông thực hiện trọng trách mới. lời loan báo tin mừng đó không dừng lại nơi những lý thuyết nhưng khởi đi từ niềm tin xác tín của chính các môn đồ. Tai đã được nghe Thầy nói, mắt đã chứng kiến Thầy sống bên cạnh và những dấu lạ Thầy đã thực hiện, hơn nữa, hôm nay còn được chứng kiến Thầy được nâng lên cõi trời cao, đó là phần thưởng cho người khiêm tốn thực hiện thánh ý Chúa Cha.

 Biến cố Đức Giêsu lên trời đưa con người bước vào một hành trình đức tin mới. Ngài đã từ trời xuống mở cánh cửa cho con người được về trời, bởi sau khi nguyên tổ phạm tội, cánh cửa hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người đã bị đóng lại, từ đây, con người không chỉ đứng ngước mắt về trời nhưng phải trở lại cuộc sống, để giới thiệu cho nhân loại biết về một Đức Giêsu đã đến thế gian, Ngài đã thực hiện chương trình cứu độ con người của Chúa Cha trong tình yêu thương. “xin Thiên Chúa của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Cha vinh hiển, ban cho anh em thần trí khôn ngoan và mạc khải, để nhận biết Người, xin cho mắt tâm hồn anh em được sáng suốt, để anh em biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi, thế nào là sự phong phú gia nghiệp vinh quang nơi các thánh, và thế nào là quyền năng vô cùng lớn lao của Người đối với chúng ta, là những kẻ tin, chiếu theo hành động của sức mạnh quyền năng Người, công việc mà Chúa đã thực hiện trong Ðức Kitô, tức là làm cho Ngài từ cõi chết sống lại, và đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời”. lời nhắc của thánh Phaolo trong thư gởi giáo đoàn Êphêsô như là một sự cố gắng của các tông đồ, để gia tăng niềm tin và hy vọng cho những ai tin vào một Đức Giêsu, đấng đã được Chúa Cha đặt bên hữu vì đã thực hiện thánh ý của Chúa Cha vẹn toàn. Thánh nhân còn mong mọi người có đôi mắt sáng, có thần trí khôn ngoan để nhận ra sứ vụ của mình, nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong hành trình sứ vụ.

 Chứng kiến Thầy về trời, các tông đồ vừa vui mừng, vừa hạnh phúc, nhưng cũng không thiếu cảm giác tiếc thương và lo buồn. Cảm giác vui buồn lẫn lộn đó làm cho các ông quên đi mình đang làm gì, đang đứng ở đâu, vì vậy, các thiên thần đã nhắc các ông hãy quay trở lại với cuộc sống, quay trở lại với công việc và trách vụ của mình. Trách vụ của các ông lúc này không là đứng nhìn trời mà hãy nhìn xuống, nhìn về sứ mạng của mình, nhìn về tương lai của Giáo hội, tương lai của các cộng đoàn. Trách vụ của mỗi người môn đệ là hãy mở những con đường từ tâm hồn mỗi anh chị em, dù đó là Do thái hay dân ngoại, là Hy lạp hay tòng giáo, đều có thể nhận biết con đường về trời với Thiên Chúa qua lời chứng của các môn đệ, nhất là chúng ta hôm nay.

Trong cuộc sống hôm nay, con người bận rộn với bao nhiêu thứ, nào là công ăn việc làm, nào là tương lai, sự nghiệp, nào là hạnh phúc gia đình, giáo dục con cái, tất cả hầu như chiếm hết thời gian trong ngày, nên lắm lúc con người bị vong thân, đánh mất giá trị con người của mình. Bên cạnh đó là áp lực cuộc sống từ xã hội, địa vị, quyền lực, sĩ diện cá nhân, của cải vật chất và tương lai, đã tác động trực tiếp lên đời sống tâm linh của con người, vì thế, họ khó có thể ý thức về căn tính Kitô hữu của mình, ý thức về trách vụ của người môn đệ là hãy nhìn xuống, nhìn vào thế giới để giúp đỡ thế giới, giúp đỡ con người thoát khỏi những yếu tố thực tại, để họ thay đổi con người, thay đổi suy nghĩ, thay đổi ý thức hệ và thay đổi luôn cả những thói quen hàng ngày. Chính sự cố gắng thay đổi đó đã biến cuộc đời mình như là con đường dẫn đưa bản thân lên trời, và cũng là dịp thuận tiện giới thiệu cho tha nhân con đường ngắn nhất, nhanh nhất về trời.

 Cuộc sống nơi gia đình cũng không thoát khỏi những áp lực đó, mỗi thành viên trong các gia đình luôn bị tác động rất lớn từ xã hội, từ trách vụ và từ cá nhân chủ nghĩa, nên họ chỉ coi đời sống tâm linh như một nhu cầu chưa tới trong cuộc đời, trong gia đình của mình. Chỉ sống cầm chừng và giữ lấy những nền tảng căn bản chứ chưa thực sự là cố gắng đi tìm nước trời như tìm viên ngọc quý về tinh thần cho mình. Với những tác động như thế, đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc giáo dục con cái, xây dựng tổ ấm gia đình. Con cái được hướng dẫn với mục tiêu thành đạt trong xã hội, có địa vị, có tương lai và có chổ ẩn náu an toàn, còn đời sống tâm linh chỉ là một nhu cầu thứ yếu mà thôi. Đến một lúc nào đó, con cái trong các gia đình đó, chỉ tìm về với giáo hội, với Thiên Chúa khi thất bại trong công ăn việc làm, khi thua thiệt trong ganh đua với xã hội. Vậy, tôn giáo chỉ là một dịch vụ cung cấp những gì cần thiết cho con người thành đạt thôi sao ? Thiên Chúa chỉ là một giám đốc công ty cung cấp những sản phẩm đem lại lợi ích cho con người hôm nay thôi sao, còn cuộc sống đời sau, liệu còn cần thiết cho con người trong xã hội công nghệ cao này nữa không ?

 Tưởng cũng nên đi qua những giá trị tinh thần được đề cao đó là đời sống chung cộng đoàn. Hướng về trời, chọn sự bình an, tìm chỗ nhất trong gia đình cộng đoàn có tồn tại trong ý thức hệ và trong đời sống chung của mỗi thành viên cộng đoàn không ? từ những sinh hoạt tầm thường trong cộng đoàn mỗi ngày, cho đến định hướng phát triển của mỗi cộng đoàn, thì con đường để giúp nhau nhìn về trời có phải là kim chỉ nam giúp mỗi thành viên hoàn thiện ơn gọi môn đệ của Thầy Chí Thánh không ? hay chỉ còn là một kho lý thuyết đầy sơn hào hải vị, nhưng trong tâm hồn và cuộc sống của mỗi thành viên chỉ còn đấu tranh, chỉ còn nịnh hót, chỉ còn chạy đua quyền lực và chỉ còn là những ảo tưởng của thế gian. Cái nhìn về trời của các môn đệ xưa đâu kéo dài mãi, nhưng các ông được mời quay trở lại với cuộc sống, với thế giới đầy đau thương và còn nhiều vết thương lòng, để giúp đỡ họ, để đồng hành với họ như Thầy Chí Thánh đã chia sẻ và đồng hành với họ trong thời gian còn tại thế. Vậy nơi các gia đình, các cộng đoàn, có cần thiết trở lại với chính mỗi thành viên trong gia đình, trong cộng đoàn, để thấy những ước muốn chân thành, thấy được những khát vọng nước trời trong họ, để giúp đỡ, chia sẻ và đồng hành với họ, giúp họ, giúp mình sám hối, thay đổi cuộc đời và hoàn thiện ơn gọi đã được lãnh nhận.

 Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa đã được Chúa Cha trọng thưởng qua biến cố thăng thiên, xin cho mỗi người chúng con luôn cố gắng vâng nghe lời Con Thiên Chúa dạy bảo, để mai sau được trọng thưởng trên thiên quốc. Chúa đã hy sinh tất cả cho người mình yêu là con người, xin cho chúng con học bài học yêu thương của Chúa, để chúng con sống với nhau chân thành hơn, không hình thức, không màu mè, để họ nhận ra nơi chúng con một dấu hiệu nhỏ của con đường về trời. Chúa đang ngự bên hữu Chúa Cha để cầu bầu cho chúng con, xin cho mỗi người mạnh dạn đến với tha nhân trong sự tôn trọng và yêu thương, để xây dựng một nước trời ngay hôm nay, hầu mai sau được sum họp trong gia đình của Chúa. Amen.

--------------------------

 

nTrời-404: Chúa nhật Lễ Thăng Thiên B ( Mc 16, 15-20 )

 

Thăng Thiên, lễ mừng biến cố Chúa Giêsu trở về cùng Thiên Chúa Cha. Ngài được đưa về trời, LênTrời-404


Thăng Thiên, lễ mừng biến cố Chúa Giêsu trở về cùng Thiên Chúa Cha. Ngài được đưa về trời, không phải do những phương tiện riêng của ngài hay do sức riêng của ngài. Nhưng chính là Cha ngài, Đấng đã sai ngài đến với chúng ta, giờ đây đưa ngài trở về chốn vinh quang. Qua biến cố đó, Thiên Chúa Cha tỏ cho thấy, Chúa Con đã hoàn thành trọn vẹn công trình được ủy thác.

Như thế, lễ Thăng Thiên biểu dương chiến thắng vinh quang của Đức Kitô, biểu dương sự đăng quang của ngài trong vương quốc Thiên Chúa Cha. Lễ này không chỉ liên quan đến Đức Kitô mà thôi, nhưng còn liên hệ đến số phận con người chúng ta nữa. Khi lên cùng Thiên Chúa Cha, Chúa Con lôi cuốn chúng ta đến với ngài. Bởi vì ngài là Đấng Cứu Độ của thế giới; bởi vì ơn cứu độ đã được chuyển thông cho chúng ta; bởi vì chúng ta tin tưởng nơi ngài; bởi vì chúng ta là những chi thể của ngài; bời vì sự sống của ngài đang lưu chuyển trong từng thớ thịt, mạch máu của chúng ta; bởi vì chúng ta là môn đệ của ngài.

Cuộc đời chúng ta trên trần gian không phải là bị kết án ngày qua ngày trong tối tăm và chết chóc. Thực ra nó đã được khơi mào trong ánh sáng phục sinh. Một ngày nào đó, chúng ta cũng sẽ được đưa lên trời, như Đức Kitô. Không phải là sự tan rã và cái chết sẽ dành cho chúng ta, mà chính là một cuộc sống sung mãn và rực rỡ với Đức Kitô, bên cạnh Thiên Chúa Cha. Đó chính là sứ điệp của lễ Thăng Thiên.

Một điểm cần lưu ý là, đang khi ngước nhìn Thầy mình được đưa lên trời, các tông đồ cứ mải mê đắm chìm trong nỗi nhung nhớ. Các ông nghĩ rằng, nếu được cùng đi với ngài thì hay biết mấy. Còn gì bằng nếu cùng được đưa lên với ngài.

Thế nhưng, hai thiên thần đã đến đưa các ông trở về thực tại. Một ngày kia, các ông sẽ ở bên cạnh Đức Kitô. Nhưng không phải hôm nay. Ngày hôm nay, công việc đang chờ đợi các ông. Các ông phải làm chứng cho Đấng Phục sinh, khắp nơi trên thế giới, như lời Thầy truyền dạy: “ Anh em hãy loan báo Tin Mừng cho toàn thể tạo vật”.

Sứ mạng này không phải chỉ trao ban cho những môn đệ đầu tiên, là những người đã từng biết rõ Chúa Giêsu, đã từng ăn uống với ngài. Đó là nhiệm vụ chung cho tất cả những ai nối tiếp các ông. Nó được ủy thác cho toàn thể Hội Thánh. Đó là trách nhiệm của mỗi người tín hữu chúng ta.

Những cách thế để làm chứng cho Đức Kitô thì rất đa dạng. Mỗi người có một nhiệm vụ đặc biệt, mỗi người có một vai trò riêng. Trong Giáo Hội, phải có những tông đồ, những tiên tri, những nhà truyền giáo, những mục tử… làm chứng cho Đức Kitô. Nhưng cũng cần có những thầy dạy, người công nhân, những chuyên viên, những người cha, người mẹ trong gia đình, những thanh niên, giới trẻ phải làm chứng nhân.

Có rất nhiều cách thức làm chứng. Nhưng cách tốt nhất, quan trọng nhất, cần thiết, không thể thiếu, hệ tại ở việc sống trong tình yêu. Ai không biết thương yêu, thì không thể làm chứng nhân của Đức Kitô. Ai yêu mến thực sự, ai sống trong chân lý của tình yêu, thì nhất thiết phải là chứng nhân. Chính cuộc sống yêu thương làm cho chúng ta thành chứng nhân.

Lễ Thăng Thiên mời gọi chúng ta lớn lên trong tình yêu, để có thể làm chứng tốt đẹp hơn. Chính vì đã yêu thương, chính vì đã yêu thương nhiều mà một ngày kia, như Đức Kitô, chúng ta sẽ được đưa lên trời, nơi mà chúng ta sẽ được tận hưởng niềm vui và bình an một cách trọn vẹn, sung mãn, tròn đầy.

--------------------------

 

nTrời -405: Lòng hướng về trời cao - Huệ Minh

 

Ngày hôm nay, Giáo hội mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Chúa Giêsu trở về nhà Cha sau khi Ngài LênTrời -405


Ngày hôm nay, Giáo hội mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Chúa Giêsu trở về nhà Cha sau khi Ngài đã hoàn tất sứ vụ Chúa Cha trao phó. Sau thời gian 33 năm xa nhà, Chúa Giêsu hồi hương trong vinh quang phục sinh và được đưa về trời ngự bên hữu Thiên Chúa.

Chúa về trời vì chính Người đã từ trời xuống thế: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng đã từ trời xuống” (Ga 3,13). Người đến nhân gian để nói với nhân loại về Nước Trời, mặc khải cho con người biết Thiên Chúa. Người giúp họ thay đổi quan niệm về Thiên Chúa cũng như quan niệm về con người.

Trang Tin Mừng hôm nay tường thuật lại việc Chúa Giêsu lên trời, đây là một minh chứng cho thấy rằng có thiên đàng, có sự sống đời sau. Nhưng lên trời không phải là một di chuyển từ nơi chốn này đến nơi chốn khác. Trời ở đây không phải là nơi chốn có thể đụng chạm, sờ mó được nhưng sâu xa hơn đó là một trạng thái. Chúa Giêsu lên trời có nghĩa là Ngài về cùng với Thiên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần là nơi Ngài đã xuất phát. Trời ở đây có nghĩa là sống trong tình yêu tròn đầy của Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì thế, việc Chúa Giêsu lên trời không phải giã từ thế giới đi vào cõi xa vắng mịt mù, nhưng Ngài đi về thế giới của Thiên Chúa Ba Ngôi, sống với Thiên Chúa Ba Ngôi.

Trước khi Chúa Giêsu lên trời Ngài đã nhắn nhủ các môn đệ rằng “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo". Đây là lệnh truyền của Chúa Giêsu và trở thành căn tính của mỗi người kitô hữu chúng ta , đó là làm chứng nhân tin mừng phục sinh, niềm vui của Chúa Giêsu cho tất cả mọi người không phân biệt màu da, sắc tộc, tôn giáo. Mỗi người chúng ta có trách nhiệm mang Đức Kitô đến với thế giới hôm nay đang sống trong đau khổ, chiến tranh, bất an, tội lỗi.... để xoa dịu hết tất cả những vết thương của họ.

Chúa Giêsu lên trời không có nghĩa là Ngài không còn hiện diện với chúng ta nữa, trái lại Ngài sẽ ở lại cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Để có thể lên trời như Chúa Giêsu mỗi người chúng ta cần phải hoàn thành hành trình dưới thế của mình như chính Ngài. Dù phải sống ở trần thế này với muôn ngàn thánh giá, thử thách, khó khăn... nhưng chúng ta không quên mục đích tối hậu của chúng ta đó là về quê trời, nơi ấy chúng ta sẽ sống trong tình yêu viên mãn của Chúa Ba Ngôi. Nếu như cuộc đời của người kitô hữu chúng ta thiếu đi cùng đích của đời mình là hướng về sự sống đời sau thì chắc chắn những nỗ lực, cố gắng của chúng ta sẽ trở nên vô nghĩa. Chúa Thăng Thiên cũng cố đức tin của mỗi người chúng ta vào niềm hy vọng tràn trề trong đó mỗi người chúng ta sẽ nếm cảm hạnh phúc thiên đàng sau này.

Chúa về trời, một cuộc tạm biệt chứ không ly biệt. Chia tay để rồi sẽ gặp lại nhau trong một tương quan mới.Chúa về trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng. Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào. Nơi thiên cung, mọi đau khổ, bệnh tật, chiến tranh, khủng bố không còn nữa. Ở đó chỉ có thanh bình, công bằng, và hạnh phúc viên mãn, nhân phẩm và nhân vị con người hoàn toàn được phục hồi trong ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô.

Chúa về trời mở ra sứ vụ mới cho các Tông đồ. Đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu với lệnh truyền của Chúa: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo”. Nội dung của việc truyền giáo được chỉ định rõ ràng: “Làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy. Làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em”. Bảo chứng cho sứ vụ truyền giáo là: “Có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các Tông đồ, qua các Tông đồ rồi đến các môn đệ, Chúa Giêsu trở thành người sống đương thời với chúng ta “và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.

Chúa Giêsu trao cho Giáo Hội sứ mạng tiếp nối sự hiện diện của Người, Người cũng đòi chúng ta phải có một sự chọn lựa dứt khoá như Người. Chính vì thế, rất có thể đã xảy ra là tại một nơi nào đó, có sự hiện diện của người Kitô hữu, của Giáo Hội, nhưng lại không có sự hiện diện đích thực của Đức Kitô. Sở dĩ như vậy là vì sự chọn lựa của chúng ta đã đi ngược lại với sự chọn lựa của Chúa Giêsu. Chẳng hạn như khi chúng ta có những hành động bất công, bóc lột kẻ khác, thì chính bản thân chúng ta đã bôi nhọ và xoá bỏ sự hiện diện của Đức Kitô.

Người Kitô hữu chân đạp đất nhưng lòng vẫn hướng về trời cao. Niềm hy vọng đó giải thoát ta khỏi nô lệ vào mặt đất nhờ đã biết rõ vật chất chỉ là phương tiện sẽ mau chóng qua đi. Niềm hy vọng đó nâng cuộc sống con người lên vì từ nay ta hiểu rằng định mệnh loài người không phải như loài súc vật, nhưng ngang hàng với thần linh. Niềm hy vọng đó đó làm cho cuộc sống của ta có ý nghĩa, vì Chúa tạo dựng nên con người không phải để con người tàn lụi đi theo quy luật của vật chất mà để con người phát triển, tồn tại đến vô biên, không phải bị kết án vào những đau khổ vất vả trần gian, nhưng đã được tiền định hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng. Niềm hy vọng đó cho ta thêm động lực phục vụ tha nhân tận tâm hơn vì đó chính là sứ mang Chúa trao phó. Niềm hy vọng đó khuyến khích ta tích cực xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, vì đó chính là điều kiện cho ta được vào Nước Trời.

Chúa Giêsu lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha. Chính Chúa Cha đã sai Ngài đến trần gian. Ngài đã tiến nhận cái chết một cách bi thương và đã được quyền năng Chúa Cha làm cho sống lại. Cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là bằng chứng chắc chắn về ơn cứu độ và sự tha thứ tội lỗi (Dt 10, 22-24). Đây là căn nguyên niềm vui nơi các môn đệ cũng như nơi chúng ta.

Mừng lễ Chúa lên trời, chúng ta không phải chỉ biết ngước mắt nhìn lên cao, mà điều quan trọng đó chính là chu toàn sứ mạng rao giảng Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Rao giảng không chỉ bằng lời nói, mà bằng cả việc làm và đời sống, nhất là bằng sự dấn thân, để thực hiện một sự lựa chọn rõ rệt. Con Thiên Chúa khi làm người và ở giữa chúng ta, đã thể hiện một sự lựa chọn rõ rệt, Ngài không hiện diện một cách chung chung, và vô thưởng vô phạt, nhưng đã hiện diện như một Tin Mừng cứu độ cho nhiều người, đồng thời như một hòn đá vấp ngã đối với một số người khác.

Mừng Lễ Chúa Thăng Thiên hôm nay, Chúa muốn nhắn gởi cho chúng ta một sứ điệp nữa đó là hãy xây dựng thiên đàng tại trần thế này, khi tất cả chúng ta đều xem nhau như là anh em cùng một Cha trên trời. Khi mỗi người chúng ta biết sống từ bỏ, hy sinh và phục vụ nhau.

--------------------------

 

nTrời-406: Lần gặp gỡ cuối cùng


(Trích dẫn từ tập sách “Giải Nghĩa Lời Chúa” - của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

A. Lần Gặp Gỡ Cuối Cùng

 

Cả bốn sách Tin Mừng đều thuật lại nhiều lần Chúa Phục sinh hiện ra với các môn đệ. Nhưng chỉ LênTrời-406


Cả bốn sách Tin Mừng đều thuật lại nhiều lần Chúa Phục sinh hiện ra với các môn đệ. Nhưng chỉ hai thánh sử Marcô và Luca có những lời kết thúc mọi lần gặp gỡ ấy. Marcô viết: sống lại lúc tảng sáng, ngày thứ nhất trong tuần, trước tiên Ngài hiện ra cho Maria Magđala... Sau đó Ngài tỏ mình ra cho hai người trong nhóm họ ở trên đàng... Sau cùng Ngài đến với chính nhóm Mười Một đang khi họ dùng bữa... Và sau khi đã nói cùng họ xong, Chúa Giêsu được nhắc về trời và lên ngự bên hữu Thiên Chúa (16,9-19).

Marcô cho ta có cảm tưởng mọi lần Chúa Phục sinh hiện đến đều xảy ra vào ngày thứ nhất trong tuần và Người đã lên trời cũng trong chính ngày ấy. Như vậy rõ ràng Marcô không đồng ý với Luca trong bài sách Công vụ hôm nay, vì tác giả này viết: Chúa Giêsu chỉ về trời 40 ngày sau khi sống lại và đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ.

Nhưng chính Luca cũng lại mâu thuẫn với mình nữa. Trong sách Công vụ thì ngài viết như thế, còn trong sách Tin Mừng thì ngài lại viết hầu giống như Marcô. Ngài cũng thuật rằng: Ngày thứ nhất trong tuần Chúa Phục sinh tỏ mình ra cho hai môn đệ đi Emmau vào lúc sau khi ngày đã xế chiều. Ngay giờ đó họ đã chỗi dậy trở về Giêrusalem và gặp thấy các bạn đang sum họp cùng nhau... Họ đang còn nói thì Ngài đã đứng giữa họ... Rồi Ngài dẫn họ đến tận Bêthania: đoạn giơ tay, Ngài chúc lành cho họ. Và xảy ra là đang khi Ngài chúc lành cho họ, thì Ngài tách lìa họ và được nhắc lên trời (24,13-51).

Luca có thể quên những điều ngài vừa viết khi soạn sách Công vụ các Tông đồ không? Và ngài có ý gì khi khẳng định việc Chúa Lên Trời khác nhau như vậy?
Ðọc kỹ các sách Kinh thánh, chúng ta có thể thấy rằng, trong sách Tin Mừng, Luca đã theo Marcô. Và cả hai đều muốn tô đẹp ngày Chúa nhật Phục sinh. Ðối với cả hai, đó là ngày Chúa sống lại hiện ra với các môn đệ. Chắc chắn các ngài đã không muốn thuật lại hết mọi lần Chúa hiện ra. Các ngài đã lựa chọn kể lại một vài lần hiện ra đặc sắc. Và câu các ngài viết để thuật lại việc Chúa Lên trời thực ra nhằm mục đích kết thúc mọi lần Chúa sống lại hiện ra hơn là muốn khẳng định Chúa đã lên trời trong chính ngày Chúa nhật Phục sinh.

Nhất là trong Tin Mừng Luca, chúng ta thấy hai môn đệ đã phải trở về Giêrusalem vào lúc tối. Ðến nơi, họ gặp các Tông đồ, rồi được Chúa hiện ra chung cho mọi người và sau đó tất cả được Người dẫn đến Bêthania để chứng kiến việc Người lên trời. Như vậy, Người lên trời vào lúc đêm tối ư?

Không, lối hành văn của hai bản Tin Mừng Marcô và Luca trên đây không ghi lại lịch sử theo chi tiết thời gian. Hai tác giả muốn loan truyền Tin Mừng cứu độ: Ðức Kitô đã sống lại ngày thứ nhất trong tuần; Người đã hiện ra dạy dỗ các môn đệ nhiều lần; và lần cuối cùng Người đã cho họ thấy Người lên trời. Còn "lần cuối cùng" này xảy ra vào ngày nào, lúc nào, thì không tác giả nào muốn xác định theo lịch sử thời gian. Hai thánh Marcô và Luca, "bề ngoài" có vẻ như muốn quả quyết là vào cuối ngày thứ nhất trong tuần, nhưng thật sự như chúng ta đã thấy, cả hai chỉ muốn dùng việc lên trời để kết thúc mọi lần hiện ra; và các lần hiện ra này lại được xếp cả vào ngày thứ nhất trong tuần để tô điểm cho ngày Chúa sống lại. Ta có thể nói hai bản văn Tin Mừng Marcô và Luca là hai bài thần học về ngày Chúa Nhật: đó là ngày Chúa sống lại hiện đến với các môn đệ. Ðồng thời cũng là những bài thần học về mầu nhiệm Chúa Phục sinh. Mầu nhiệm này bao gồm việc Người sống lại, hiện ra với các môn đệ và lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa.

Theo Luca, chúng ta có thể nghĩ Chúa sống lại như mặt trời lúc rạng đông và Người về trời như vừng ô lúc lặn; còn cả ngày, thì ánh sáng Người chiếu soi cho các môn đệ. Luca kể chuyện Chúa đã liên tiếp hiện ra trong một ngày. Nếu chúng ta gom mọi lần hiện ra đó vào một và coi như chỉ là những diện khác nhau của việc Chúa sống lại tỏ mình ra cho các môn đệ, thì khi Người hiện đến họ biết Người đã sống lại và lúc Người biến đi họ biết Người đã về trời. Không vậy thì phải hỏi Người ở đâu? Nhưng họ đã không hỏi vì đã tin quyền năng Thiên Chúa đã phục sinh Ðức Giêsu từ nơi kẻ chết, thì mặc nhiên họ đã nhận ra rằng Người đã được nhắc lên trong vinh quang Thiên Chúa. Hai người trong nhóm họ đã viết lại việc Người lên trời cách hữu hình chẳng qua để muốn nói rằng từ nay Chúa sống lại không hiện ra nữa.

Nhưng tại sao Luca trong sách Công vụ lại nói đến con số 40 ngày như là thời gian để Chúa Phục sinh hiện ra dạy dỗ các môn đệ? Có thể lần hiện ra cuối cùng đã xảy ra vào ngày thứ 40 sau khi Chúa sống lại. Nhưng có thể hơn là Luca có một ẩy ý gì đây khi nêu ra con số này.

Chúng ta biết Môsê đã ở trên núi 40 ngày; dân được chọn đã đi trong sa mạc 40 năm; Êlya đã đến núi Horeb 40 ngày và nhất là chính Ðức Kitô đã chay tịnh 40 ngày trong sa mạc. Con số 40 ngày trở thành biểu tượng thời gian kết hợp với Thiên Chúa và được Thiên Chúa dạy dỗ. Có lẽ Luca muốn nói lên hạnh phúc và địa vị ưu việt của các Tông đồ. Các ngài là những người được Chúa sống lại hiện đến dạy dỗ trong 40 ngày. Như vậy các ngài đã có giáo lý đầy đủ của Chúa phục sinh và chúng ta phải kính nể, tin yêu giáo lý ấy.

Bởi vì chính đoạn sách Công vụ các Tông đồ hôm nay không có ý trình bày việc Chúa lên trời, đó là những lời mở đầu cho cả một cuốn sách. Tác giả nói đến nhiều ý tưởng mà tựu trung là để chuyển từ cuộc sống trần gian của Ðức Kitô sang thời đại hoạt động của các Tông đồ. Nên vai chính trong đoạn văn này là Phêrô và các bạn ông. Họ là những người được Ngài tuyển lựa dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, được tiếp xúc với Chúa Phục sinh trong 40 ngày là thời gian đầy đủ và lý tưởng, được Ngài dạy dỗ cặn kẽ về hoạt động tương lai và cuối cùng được thấy Ngài về trời để biết rõ nay đã đến thời đại của họ. Chính vì vậy mà bài sách Công vụ hôm nay kết thúc bằng câu: "Ðấng vừa bỏ các ông mà siêu thăng, sẽ đến cùng một thể như các ông đã thấy Ngài đi lên trời", để hàm ý nói rằng: các ông phải đi làm việc cho đến ngày Ngài lại đến.

Như vậy chúng ta không còn lý do nào nữa để cứ nhìn lên trời mãi. Hãy đi thi hành mệnh lệnh Chúa để lại mà cả hai bài sách Công vụ lẫn bài Tin Mừng đều tường thuật.

B. Lệnh Chúa Truyền

Bài sách Công vụ cho ta thấy: suốt 40 ngày Chúa Giêsu đã hiện ra cho các môn đệ mà nói về Nước Thiên Chúa. Rồi đang lúc đồng bàn với họ, Ngài truyền cho họ chớ rời xa Giêrusalem... nhưng hãy đợi chịu lấy quyền năng của Thánh Thần... rồi sẽ là chứng tá cho Ngài đến tận cùng trái đất.

Cụ thể, các Tông đồ phải ở lại Giêrusalem chờ lãnh ơn Thánh Thần rồi ra đi làm chứng cho Chúa Giêsu. Lệnh truyền có vẻ đơn sơ, nhưng nhiều ý nghĩa và hậu quả. Sau ngày Chúa thực hiện những hành vi quyết định để cứu thế qua việc chịu chết và sống lại, Giêrusalem trở thành nơi phát xuất ơn cứu độ. Chúa Thánh Thần sẽ xuống trên các Tông đồ ở Giêrusalem để tung họ đi vào thế giới. Họ sẽ phải làm chứng về Chúa Giêsu nhưng nhờ sức mạnh của Thánh Thần. Thời đại của Giáo hội vì thế là thời đại của Chúa Thánh Thần làm việc với các Tông đồ, mà đối tượng là làm chứng cho Chúa Giêsu.

Thánh Matthêô trong bài Tin Mừng hôm nay không dùng những từ ngữ như thế, nhưng ngài cũng không nói khác Luca. Ngài đã tả Chúa sống lại hiện ra lần cuối cùng ở trên núi. Núi nào, ngài không nói rõ, dường như để chúng ta nhớ lại những lần Ðức Giêsu đã chay tịnh trên núi, đã giảng dạy trên núi và đã biến hình trên núi. Và tất cả những kỷ niệm đó đều có thể tăng thêm ý nghĩa cho việc Người đứng trên núi hôm nay với các môn đệ.

Việc Người được các Tông đồ thờ lạy và tuyên bố được Chúa Cha ban cho mọi quyền trên trời dưới đất, phải chăng không muốn gợi lại câu chuyện Satan cám dỗ Người hãy thờ lạy nó để được tất cả trời đất làm vương quốc? Và hôm nay Người đã sống lại vinh quang mà đứng trên núi, làm sao không khiến Phêrô nhớ lại hôm Người biến hình. Và nếu Người đã có lần ngồi trên núi giảng về Tám mối phúc thật, thì hôm nay Người cũng đang lệnh cho các Tông đồ: hãy ra đi làm cho mọi dân tộc trở thành môn đệ, rửa tội cho người ta nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy dỗ họ giữ mọi lệnh truyền. Và nay, Ta ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế.

Thánh Matthêô đã diễn tả lệnh truyền qua nếp sống của Hội Thánh. Ngài dùng các công thức Rửa tội của Hội Thánh. Ngài nói đến sự hiện diện của Chúa ở với Hội Thánh cho đến tận thế như là bảo chứng việc Chúa phù trợ Hội Thánh nhờ Thánh Thần. Nghĩa là đối với thánh Matthêô, thời đại của Hội Thánh cũng là thời đại của các Tông đồ làm việc với sự cộng tác và nâng đỡ của Chúa Thánh Thần. Và đối tượng sinh hoạt của Hội Thánh cũng là làm cho mọi dân tộc trở thành môn đệ Chúa Giêsu qua việc rao giảng Người cho họ và rửa tội cho họ nhân Danh Ba Ngôi.

Do đó với những lời lẽ khác nhau, bài sách Công vụ và bài Tin Mừng hôm nay đều ghi lại lệnh Chúa truyền cho các môn đệ trước khi Người về trời. Họ phải đón nhận Thánh Thần và ra đi làm chứng về Chúa Giêsu để thiên hạ trở thành môn đệ Người. Lệnh truyền này được ban bố sau khi Chúa sống lại để tập họp nhóm Mười Một qua các lần hiện ra để họ tin mầu nhiệm Phục sinh và được dạy dỗ về Nước Trời.

Ngày lễ Chúa Lên Trời, Phụng vụ muốn cho chúng ta thấy nhóm Mười Một ấy đã thực sự trở thành chứng nhân của Chúa Phục sinh. Họ còn phải chờ đón ơn Thánh Thần mới có thể ra đi tuyên chứng. Nhưng việc họ đã được huấn luyện xong nói lên thời gian của Chúa Giêsu ở trần gian đã kết thúc. Người lui khỏi họ mà về trời để thời đại của Hội Thánh khởi sự. Lễ Chúa Lên Trời vì thế có ý nói lên sự kiện mới trong đời sống của Hội Thánh và của chúng ta hơn là một biến cố nữa trong cuộc đời của Chúa Giêsu. Bởi vì như lời Kinh Tin Kính chúng ta sắp đọc: chính vì chúng ta mà Người đã sinh ra làm người v.v... Và hôm nay Người về trời cũng là vì chúng ta. Nên chúng ta phải suy nghĩ về cuộc đời của mình nhân việc Người lên trời để ngày lễ hôm nay đạt được kết quả.

C. Thi Hành Lệnh Chúa

Trong 40 ngày chúng ta đã cử hành mầu nhiệm Phục sinh, chúng ta đã suy nghĩ về những lần Chúa sống lại hiện ra với các môn đệ. Và nhất là chúng ta có thể nói được như Phêrô rằng: chúng tôi là những người được chọn để ăn uống với Người sau khi Người đã sống lại, vì từ ngày đó chúng ta vẫn tham dự Thánh lễ và Tiệc Thánh. Chúng ta phải coi mình như các môn đệ 40 ngày sau khi Người Phục sinh: sẵn sàng lãnh lấy trách nhiệm tiếp nối sứ mạng của Người ở trần gian. Phải ra đi khỏi nơi Bàn tiệc này như núi thánh, để gặp mọi người và làm chứng cho họ về Nước Thiên Chúa. Việc Chúa Giêsu về trời nói lên rằng: thời đại của Hội Thánh và của chúng ta đã khởi đầu. Công cuộc cứu thế từ nay chuyển sang chúng ta.

Dĩ nhiên chúng ta không đơn độc. Còn Thánh Thần nữa. Và phải có Thánh Thần chúng ta mới thi hành được sứ vụ. Từ hôm nay Giáo hội khuyên ta hợp ý cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Và như cộng đoàn các môn đệ xưa, Giáo hội chờ đợi Thánh Thần với Ðức Mẹ. Nay cũng là tháng Năm, tháng hoa của Mẹ chúng ta. Con cái Mẹ hãy sốt sắng vây quanh Người để cầu xin ơn Thánh Thần xuống dồi dào trên Giáo hội và trong các tâm hồn.

Tuy nhiên, những ngày tới không phải chỉ là những ngày cầu nguyện. Phêrô và các Tông đồ đã làm việc đang khi chờ đợi ơn Thánh Thần. Các ngài chọn người thay chỗ Giuđa. Và phải là người có tư cách để làm chứng, tức là không những đã ở trong hàng ngũ môn đệ và biết Chúa Giêsu, nhưng nhất là phải tin Người đã sống lại để đem sức sống mới vào thế gian. Vì sứ mệnh của Giáo Hội tựu trung là đem vào đời sống của con người mầm mống của sự phục sinh sau này, tức là sự sống trường cửu của chính Thiên Chúa.

Sự sống này giờ đây Chúa sẽ ban thêm cho chúng ta trong Thánh lễ này để hôm nay và hằng ngày, chúng ta đem tăng cường cho sự sống của mọi người, khi chúng ta phấn đấu cho đời sống loài người mỗi ngày một đẹp hơn, tốt hơn và hạnh phúc hơn.

--------------------------

 

nTrời-407: Suy niệm của Lm Phêrô Trần Đình


Lễ Chúa Giêsu lên trời nói với chúng ta thật nhiều điều.

 

Trước tiên, con người chỉ có thể sống khi cuộc sống có ý nghĩa đối với họ. Họ phải biết sống để LênTrời-407


1/ Trước tiên, con người chỉ có thể sống khi cuộc sống có ý nghĩa đối với họ. Họ phải biết sống để làm gì?.Chết rồi thì đi đâu?. Con đường chúng ta đang đi sẽ dẫn chúng ta đến chỗ nào.

Người ta thống kê rằng cứ mỗi ngày trên thế giới có 5000 người trẻ tự vẫn. Đó là những người có cuộc sống đầy đủ, không cần phải phấn đấu, nhưng họ tìm đến cái chết (như lái xe với tốc độ cao…) vì không biết sống để làm gì, không tìm thấy ý nghĩa cuộc sống.

Lễ Chúa lên trời dạy chúng ta rằng cuộc sống có một ý nghĩa, đường ta đi sẽ dẫn chúng ta đến đâu. Chúa Giêsu lên trời có nghĩa là về với Chúa Cha. Chúa Cha là quê hương của Đức Giêsu, là nơi Người phát xuất và cũng là nơi Người trở về. Chúa Giêsu về trời trước rồi Người sẽ trở lại đón chúng ta, để Người ở đâu chúng ta cũng sẽ ở đó.

2/ Chúa lên trời không phải để xa cách chúng ta, cho bằng là để gần kề chúng ta hơn mỗi khi chúng ta kêu cầu Người. Khi còn sống ở dương gian, Chúa Giêsu bị hạn chế về mặt không gian và thời gian. Nếu Chúa ở chỗ này, thì Người không thể ở chỗ kia. Còn bây giờ khi đã lên trời, Chúa không còn bị giới hạn về mặt không gian và thời gian nữa.

3/ Chúa lên trời để ngự bên hữu Chúa Cha, nghĩa là Người sẽ trở thành Đấng cầu bầu đắc lực cho chúng ta trước mặt Chúa Cha (x. Kinh tiền tụng ngày lễ).

4/ Chúa lên trời để Giáo Hội trưởng thành hơn. Giờ đây, Giáo Hội sẽ tiếp tục công cuộc rao giảng của Người: “Anh em hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin mừng cho mọi loài thụ tạo”. Thời kỳ của Giáo Hội bắt đầu từ đây.

Các môn đệ của Chúa rất ý thức điều đó. Họ đã tuân lệnh Chúa “ra đi rao giảng khắp nơi”, làm cho người ta trở thành môn đệ của Chúa, nghĩa là tin vào Chúa.

5/ Chúa lên trời còn để dọn chỗ cho chúng ta như chính Người đã nói. Mỗi lần sau truyền phép chúng ta đều tuyên xưng: “Trong vinh quang mai Người sẽ đến, đón chúng con lên trời về với Chúa Cha”. Người kitô hữu ý thức rằng quê hương đích thực của chúng ta là ở với Chúa trên trời. Nhưng việc chúng ta có được vào chốn đó hay không, còn tuỳ thuộc vào cuộc sống của chúng ta hôm nay.

Để kết thúc tôi xin kể một câu chuyện. Có một bà chủ nhà kia rất mực giàu có. Bà nuôi một gia nhân để dọn dẹp nhà cửa cũng như chăm sóc vườn hoa. Người này rất chăm chỉ lao động, nhưng bà chủ ác độc la mắng anh ta đủ điều, dầu vậy anh ta vẫn phải ngậm tăm

Thế rồi bà chủ đã chết và được quỉ đưa ngay xuống địa ngục, chốn khóc lóc và nghiến răng. Quỉ chỉ cho bà một túp lều rách nát và bảo rằng đó sẽ là nơi cư ngụ của bà từ đây. Bà chẳng còn biết làm sao nữa, cho bằng răm rắp tuân lệnh.

Một thời gian sau, người nô bộc của bà cũng chết và được thiên thần rước ngay lên trời, chỉ cho anh ta một ngôi nhà sang trọng và nói đó sẽ là nơi cư ngụ vĩnh viễn của anh.

Từ đàng xa, bà chủ thấy anh và lập tức nhận ra đó là người nô bộc của mình. Bà không vui khi thấy anh này được ở trong ngôi nhà xinh xắn. Bà đề nghị đổi túp lều của mình để lấy ngôi nhà sang trọng kia, nhưng thiên thần bảo: “Không được đâu bà. Sở dĩ người kia được ở trong ngôi nhà xinh xắn sang trọng, là bởi vì từ trần gian anh ta không ngừng gởi cho chúng tôi những vật liệu quí giá. Chúng tôi chỉ có việc xây nhà từ những vật liệu anh ta gởi lên mà thôi’. Còn bà, bà chỉ gởi cho chúng tôi những vật liệu tồi tàn và ma quỉ cũng đã dùng chính những vật liệu bà đã gởi xuống, để dựng cho bà một cái chòi rách nát mà thôi”. Bà đừng ghen tị mất công. Số phận của mỗi người tuỳ thuộc khi còn sống người ta đã gởi những vật liệu nào về đời sau.

--------------------------

 

nTrời-408: Ái mộ những sự trên trời


(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Hữu An)

 

Thủ lãnh của một bộ tộc nằm hấp hối trên giường. Ông cho gọi ba người thân cận đến và nói LênTrời-408


Thủ lãnh của một bộ tộc nằm hấp hối trên giường. Ông cho gọi ba người thân cận đến và nói: Ta phải chọn một người kế tục. Các ngươi hãy leo lên đỉnh núi thiêng liêng của chúng ta và mang về đây cho bộ tộc một món quà quý giá nhất.

Người thứ nhất mang về một thỏi vàng lớn. Người thứ hai mang về một viên ngọc quý. Người thứ ba trở về tay không.

Ngạc nhiên, vị tù trưởng hỏi: món quà quý giá của ngươi đâu?

Anh điềm tỉnh trả lời: khi tôi lên tới đỉnh núi, tôi thấy ở phía bên kia một vùng đất phì nhiêu màu mỡ, tại đó dân chúng có thể có một cuộc sống sung túc tốt đẹp.

Thủ lãnh nói: Ngươi sẽ nối nghiệp ta vì ngươi đã mang về món quà quý gía nhất là một viễn tượng tương lai tốt đẹp.

Chúa Giêsu về trời mở ra một viễn tượng tương lai tốt đẹp là hạnh phúc thiên đàng. Người đi trước mở đường và dẫn chúng ta lên theo Người.

Tin Mừng thuật lại hai sự kiện song hành: Chúa Giêsu lên trời và lệnh truyền rao giảng Tin Mừng. Sự kiện Chúa Giêsu lên trời, Tin Mừng thánh Marcô ghi lại rất vắn tắt: Chúa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Tin mừng Matthêu nói đến lệnh truyền: Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, là phép rửa cho họnhân danh Chúa Cha Chúa Con và Chúa Thánh Thần.Còn theo sách Công vụ Tông đồ, Chúa Giêsu lên trời sau khi sống lại được 40 ngày, và nơi lên trời là núi Cây dầu. Thực ra khi Chúa Giêsu sống lại, Người đã lên trời rồi theo kiểu nói của Kinh Thánh, nghĩa là Người bước vào cõi vinh quang của Chúa Cha, Người ngự bên hữu Chúa Cha,mặc lấy vinh quang và quyền năng của Chúa Cha. Trong 40 ngày sau sống lại, Chúa Giêsu hiện ra nhiều lần để dạy dỗ và cũng cố đức tin của các Tông Đồ. Giáo hội đã được thiết lập nay được cũng cố để được sai đi. Như vậy sự kiện lên trời mà phụng vụ Giáo Hội kính nhớ hôm nay có ý nghĩa sâu xa. Nó chấm dứt thời gian Chúa hiện diện giữa nhân loại bằng thân xác, chấm dứt thời gian huấn luyện các Tông Đồ.

Một thời điểm có tính cách quyết định của lịch sử cứu độ là Chúa Giêsu ban những giáo huấn cuối cùng,trao những chức vụ phải thi hành trong Giáo hội, chuẩn bị cho các Tông đồ thi hành sứ mạng chứng nhân của Đấng phục sinh trong thế giới. Từ nay trở đi, Người sẽ hiện diện với chúng ta một cách vô hình. Với quyền năng của Chúa Thánh Thần, thân xác Chúa Giêsu đã được thần khí hoá và đi vào cõi vĩnh hằng của Chúa Cha. Sự hiện diện này thâm sâu hơn và hiệu năng hơn. Khi còn ở trong thân xác, Chúa Giêsu chỉ ở bên cạnh một số người thôi. Từ nay, với quyền năng Thánh Thần, Người sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người. Chúa Giêsu lên trời. Điều đó dạy ta biết ngoài cõi đời này còn có một nơi chốn khác.

Ngoài cuộc sống này còn có một cuộc sống khác. Ngoài những giá trị đời này còn có những giá trị khác. Trời là nơi hạnh phúc không còn khổ đau. Trời là nơi cuộc sống vĩnh viễn không bị tiêu diệt. Trời là nơi tất cả mọi giá trị đạt đến mức tuyệt đối. Trời là nơi con người trở thành thần thánh, sống chung với thần thánh. Như thế trời là niềm hy vọng của con người. Con người không còn bị trói chặt vào trần gian. Định mệnh của con người không phải chỉ là đớn đau sầu khổ. Số phận con người không phải sinh ra để rồi tàn lụi. Trời cho con người một lối thoát. Trời mở ra cho con người một chân trời hạnh phúc. Trời cho con người cơ hội triển nở đến vô biên.Trời nâng cao địa vị con người. Có trời, con người không còn bị xếp ngang hàng với loài vật. Loài vật sinh ra để tàn lụi. Con người sinh ra để triển nở, để vượt qua số phận, để đạt tới địa vị con Thiên Chúa. Có trời, con người sẽ được nâng lên ngang hàng thần thánh.

Tuy nhiên, trời không phải xây dựng trong mây trong gió, nhưng được xây dựng trong cuộc sống trần gian. Trời không phải là cõi mơ mộng viển vông, nhưng đã bắt đầu ngay trong thực tế cuộc đời hiện tại. Chính vì thế mà hai thiên thần áo trắng đã bảo các môn đệ đừng đứng nhìn trời mãi làm chi, nhưng phải trở về mà lo chu toàn nhiệm vụ. Chính vì thế mà trước khi lên trời, Chúa căn dặn các môn đệ hãy đi làm việc cho Nước Chúa. Sống và làm việc ở trần gian, đó là một nhiệm vụ phải chu toàn. Hoàn thành nhiệm vụ ở trần gian, đó là điều kiện để đạt tới hạnh phúc nước trời. Chính Chúa Giêsu cũng đã chu toàn nhiệm vụ ở trần gian rồi mới lên trời. Nhiệm vụ đó là đi gieo Tin Mừng khắp nơi. Đi đến đâu là thi ân giáng phúc đến đó. Đi đến đâu là làm cho hạt yêu thương nảy mầm lên màu xanh sự sống đến đó.

Người môn đệ của Chúa sống giữa trần gian, yêu mến trần gian, xây dựng trần gian. Vì trần gian là nơi Chúa sai ta đến làm việc.Tuy nhiên ta làm việc ở trần gian mà lòng vẫn hướng lên quê trời. Yêu mến trần gian vì nước trời. Yêu mến trần gian để biến trần gian thành nước trời. Sống giữa thế gian, chúng ta “ái mộ những sự trên trời” như lời kinh hạt: “Thứ năm thì ngắm, Đức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”. Nhưng vẻ đẹp trên trời là vẻ đẹp của tâm hồn, tình yêu Thiên Chúa và tha nhân, vẻ đẹp nghèo khó Phúc Âm, khiêm nhường, đơn sơ, thanh tịnh. Đây là vẻ đẹp và sự quyến rũ của nhân đức, một vẻ đẹp hoàn toàn khác với những vẻ đẹp và sự quyến rũ thuộc trái đất. Nhiều người đã bỏ ra hằng trăm, hàng ngàn, hàng vạn Mỹ kim để làm đẹp, để khoa trương sự giàu có và để được người khác ca tụng. Nhiều người không sợ trải qua những cuộc giải phẫu nguy hiểm, đau đớn cốt sao để thấy mình đẹp, mình hơn người là thoải mái, và hạnh phúc. Nhiều người đã sẵn sàng chấp nhận những thách đố lớn lao để chạy đua vào những chiếc ghế quyền lực. Nhưng ít ai bỏ ra một giờ, một ngày, một tuần, một tháng, hoặc một năm để lo tu sửa và chỉnh trang lại vẻ đẹp của tâm hồn.

Trên thực tế, tình yêu Thiên Chúa, tình yêu tha nhân, đức nghèo khó, đức đơn sơ, và đức trong sạch là những đòi hỏi rất cần thiết để đem lại hạnh phúc cho mỗi người, mỗi cộng đoàn, mỗi dân nước. Đó là những gì cụ thể có thể giúp con người chiếm hữu được vĩnh hằng. Rất tiếc, đó cũng là những gì mà nhiều người từ khước, bởi vì chúng không phù hợp với nhãn quan và suy tư của con người.

Giáo Hội đã thôi thúc và khuyến khích mỗi Kitô hữu hãy tìm kiếm và yêu mến những sự trên trời. Cầu xin cho được ơn ái mộ là cầu xin Thánh Linh khai mở tâm hồn và trí tuệ để chúng ta có thể nhìn, và có thể hiểu được vẻ cao quí của những giá trị tinh thần ấy. Nhận thức về thế giới tâm linh là một nhận thức ngoài tầm hiểu biết của trí tuệ tự nhiên con người. Những gì thuộc về thần linh là thần linh. Con người cần được soi dọi và khai mở bởi sức mạnh huyền nhiệm của Thánh Thần. Chỉ khi nào trí óc ta, trái tim ta được Ngài khai mở, lúc ấy ta mới nhận ra, mới hiểu thấu thế nào là sự cao xa, dài rộng của vẻ đẹp tinh thần, của những giá trị đạo đức.

Chúa về trời, không phải chỉ để dọn chỗ mà còn là mở ra một viễn tượng hạnh phúc của trời cao. “Xin cho chúng con ái mộ những sự trên trời”, để chúng con không bị chôn bám vào thế gian chóng qua và phù du này. Và để chúng con biết tìm kiếm những giá trị cao quí của tinh thần, và để chúng con yêu mến và sống với cuộc sống ấy. Vì đó là những gì mà chúng con có thể tìm kiếm, mua sắm và đem vào được nơi vĩnh hằng. Nơi mà chúng con sẽ gặp được Chúa là nguồn mạch sự sống, hoan lạc, và hạnh phúc viên mãn của chúng con. Amen.

--------------------------

 

nTrời-409: Lễ Thăng Thiên

 

Mt 28,16-21 không nói gì tới Thăng Thiên. Vì nói xuống thế lên trời là theo cách nói bình thường LênTrời-409


Mt 28,16-21 không nói gì tới Thăng Thiên. Vì nói xuống thế lên trời là theo cách nói bình thường. Trên trời cao dưới đất thấp (bản dịch PVCGK) là viết văn không phải là thần học. Dưới đất đối lại với trên trời. Đất là không gian vật chất, có giới hạn vào một nơi chốn cụ thể: ở đây bây giờ. Trời là chỉ sự hiện hữu khác với vật chất, thiêng liêng. Là những hữu thể hiện hữu theo cách riêng, thiêng liêng. Không nói nơi chốn mà nói hữu thể hiện hữu. Trời là Thiên Chúa. Thiên Chúa ở đâu thì ở đó là trời. Nên cũng gọi là Chúa Trời. Đất và trời không xa cách nhau như cách nghĩ thông thường. Đất là vật chất trời là thiêng liêng vô hình. Á Đông nói "Thần vô phương": thần không ở phương nào cả mà ở khắp tứ phương. Hay "bàng lưu bất trú dạ" đi khắp mà không nghĩ đêm vì nghĩ thì dừng lại ở "quán trọ".

Đức Giêsu chấm dứt sự hiện diện bằng thân xác vật chất chuyển sang sự hiện hữu thần linh "thần thì vô phương" không trụ ở một nơi nào mà ở khắp tứ phương.

Người vẫn sống, đang hiện diện và hoạt động bằng Thần Khí, chỉ những người nào cảm nghiệm được thì mới tin vững. Nên còn những người "hoài nghi".

Các Phúc Âm khác có nói lên trời nhưng phải hiểu là cách nói thông thường.
CHÚ GIẢI

Mười một môn đệ: Mất Giuda.

Đi tới miền Galilê: Không thấy có thời gian nào để các ông trở về Galile.

Đức Giêsu Galilê bây giờ xem ra chỉ còn là ký ức của quá khứ. Các ông đang ở với Đức Giêsu Phục Sinh vinh quang. Các ông đang say sưa với vinh quang Phục Sinh. Nhưng tất cả những gì Đức Giêsu làm và dạy là ở Galile, gọi là Đức Giêsu Galile. Đức Giêsu Phục Sinh không dạy, không làm gì thêm. Thần Khí chỉ nhắc cho nhớ và làm cho hiểu những gì Đức Giêsu đã nói đã làm. Thần Khí cũng không thêm gì. Trở về Galile là trở về với Đức Giêsu Galile.

Đến ngọn núi mà Đức Giêsu hẹn các ông: Tất cả những gì quan trọng dều được công bố trên núi (nhắc lại việc Thiên Chúa ban lề luật cho Mose lần đầu tiên trên núi Sinai). Hoặc "đẹp thay bước chân người loan tin trên núi".

Khi thấy Người các ông bái lạy: Cử chỉ tôn thờ chỉ dành cho Thiên Chúa. Họ tin Đức Giêsu là Thiên Chúa nên mới bái lạy.

Nhưng có mấy ông còn hoài nghi: Các ông chỉ cảm nghiệm "cá nhân" Đức Giêsu vẫn sống, đang hiện diện, đang hoạt động bằng Thần Khí của Ngươi và đang biến đổi các ông và do đó mà các ông tin. Sự cảm nghiệm cá nhân nầy khác nhau, nhiều ít ở riêng mỗi người. Người ít thì chưa tin lắm nên còn hoài nghi.

Đức Giêsu tiến đến gần, nói với các ông: Cho gần gũi. cho thân mật và cho nghe rõ điều Người nói.

Mọi quyền hành trên trời dưới đất đã được trao cho Thầy: Mạc khải việc Đức Giêsu được tôn vinh ngự bên hữu Chúa Cha được phong làm Chúa và Đấng Cứu Thế. Đức Giêsu là Thiên Chúa vì sẽ hành quyền thay thế Thiên Chúa.

Vậy anh em hãy đi: Là mệnh lênh chính thức và chính yếu của Chúa Phục Sinh và của đoạn Phúc Âm nầy. Đức Giêsu sai đi. Các bài viết về Phục Sinh đều nhằm mục đích "sai đi".

Làm cho muôn dân trở thánh môn đệ: Nhiều hơn là rao giảng dù là rao giảng Tin Mừng. Môn đệ là những người có "nhập môn" bằng phép rửa "theo cách của thời đó" và học theo trường của thầy, sống theo giáo lý của thầy, giống Thầy.

Làm phép rửa cho họ: là nghi thức nhập môn của các môn phái thời ấy. Bắt đầu đời sống mới theo giáo thuyết của môn phái.

Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần: là công thức phép rửa của Giáo Hội. Phúc Âm được viết khi phép rửa đã có công thức hẳn hoi. Là gia nhập cộng đoàn của Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần như Giáo Hội đã tin và đã rao giảng.

Dạy họ giữ mọi điều Thầy đã truyền dạy cho anh em: Là điều kiện hoàn tất mệnh lệnh cuối cùng: Làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa, dạy họ giữ những điều thầy dạy.

Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế: Hứa sự trợ giúp. Có Chúa ở cùng thì được quyền năng Chúa phù trợ. Là câu đóng "Thầy ở cùng mọi ngày" đối lại Emmanuel mở đấu Matthêu.

KẾT

Thiên Chúa sai Lời đến thế gian trong Đức Giêsu. Hoàn thành sứ vụ Người trở về. Công việc của Người phải được tiếp tục. Người đã huấn luyện mười hai tông dồ. Người truyền mệnh lệnh "sai" các ông tiếp tục công việc của Người trước khi Người lìa các ông. Những lần Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra được kể lại dều nhằm mục đích "sai đi", giao nhiệm vụ.

Sứ vụ được "sai đi" gồm truớc hết là "làm cho muôn dân (phổ quát) trở thành môn đệ". Ai "tin" đón nhận lời rao giảng thì làm phép rửa cho họ "thâu nhận họ vào cộng đoàn mới, cộng đoàn của Cha và Con và Thán Thần". Cuối cùng là "dạy" cho họ giáo lý của cộng đoàn do Đức Giêsu truyền lại để họ biết và giữ mọi điều Thầy đã truyền thì mới hoàn thành "môn đệ".

Đó là nhiệm vụ được giao cho Giáo Hội thực hiện cho tới ngày nay. Các tông đồ, những người kế vị, những người tham gia ở nhiều cấp bậc khác nhau đã cùng nhau xây dựng Giáo Hội, nước Chúa ở trần gian. Lễ hôm nay nhắc nhở mỗi người chúng ta đừng quên vai trò của mình trong sứ vụ mà Đức Giêsu trao phó cho Giáo Hội trước khi Người chấm dứt "hiện diện hữu hình" chỉ còn hoạt động bằng Thánh Thần Bảo Trợ. Xin Thánh Thần giúp chúng ta ý thức sứ vụ "được sai đi" và hăng hái góp phần để sứ vụ của Chúa Giêsu được hoàn thành viên mãn.

--------------------------

 

nTrời-410: LÀM CHỨNG CHO ĐỨC KITÔ

 

Trong ngày Chúa Nhật Lễ Lá, các môn đệ của Đức Giêsu đã hoàn toàn nhận ra được lòng tin LênTrời-410


Trong ngày Chúa Nhật Lễ Lá, các môn đệ của Đức Giêsu đã hoàn toàn nhận ra được lòng tin của họ nơi Người và lòng trung thành đối với Người. Điều làm cho việc bày tỏ sự ủng hộ của họ càng trở nên đáng khen hơn, đó là vì hành động này được thực hiện trong sự nghiến răng cay đắng chống đối của người Pharisêu. Khi một số người Pharisêu đến phản đối Đức Giêsu, Người phán rằng: “Họ mà làm thinh, thì chính những viên sỏi đá cũng sẽ kêu lên”.

Có những cơ hội đòi hỏi một sự minh chứng công khai. Đây là một trong những trường hợp này. Đây là trường hợp duy nhất, mà Đức Giêsu chấp nhận một điều gì đó tương tự cảnh được dân chúng sùng bái như một vị anh hùng. Người biết rằng các môn đệ của Người có quyền và có nhu cầu được công khai diễn tả lòng tin của họ nơi Người. Nhưng người ta lại nghi ngờ về lời cam kết của các môn đệ. Không phải là người ta nghi ngờ về sự chân thành của họ, nhưng đó là một sự đáp ứng của công chúng, và khi dân chúng hùa theo như vậy, thì thường có tính cách ồn ào hơn là có chiều sâu.

Thật dễ dàng trong việc làm chứng cho Đức Giêsu ở nơi đây, trong nhà thờ. Chúng ta đang ở giữa những người cùng vây cánh với chúng ta. Nhưng không phải là chuyện dễ dàng, để làm chứng cho Người trong một thế giới hững hờ và đôi khi còn thù địch nữa.

Có những lúc chúng ta cần phải tuyên xưng lòng tin của mình nơi Đức Giêsu một cách công khai. Và có những khi hoàn cảnh đòi buộc chúng ta phải làm như vậy.
Những viên đá sẽ không biết nói ra. Chỉ có con người mới có thể làm được điều đó. Chúng ta đừng nên giữ im lặng nữa, khi có một tiếng kêu đòi hỏi chúng ta phải nói ra: lời nói ủng hộ, để bảo vệ một người nào đó, mà sự đóng góp của họ đang bị quên lãng; hoặc lời nói lên sự thật, ở nơi nào mà người ta cố tình nói dối. Nhưng nói ra không phải là điều dễ dàng. Giữ im lặng thì dễ dàng hơn và an toàn hơn nhiều.

Như vậy, chúng ta hãy cẩn thận, trong khi tuyên xưng lòng tin của mình vào Đức Kitô ở nơi đây, trong nhà thờ, sao cho chúng ta không phớt lờ hoặc chối từ Người tại nơi công cộng. Đức Giêsu nói với chúng ta “Bất cứ kẻ nào tuyên xưng về Ta trước mặt những người khác, thì Ta cũng sẽ nhìn nhận người đó trước mặt Cha Ta, Đấng ngự trên trời”.

Chúng ta có thể rút ra được nguồn cảm hứng từ các môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu. Trong Tin Mừng, họ được biết đến như là những người không e ngại trong việc thừa nhận những hoài nghi, nhu cầu và sự thiếu lòng tin của mình. Tuy nhiên, trong ngày Chúa Nhật Lễ Lá đầu tiên, họ đã mạnh mẽ và gan dạ trong việc làm chứng cho Đức Giêsu.

Xin Chúa rủ lòng thương xót trên chúng ta, là những người môn đệ nhút nhát và đầy sợ hãi của Người, và ban cho chúng ta lòng can đảm, để cuộc sống của chúng ta có thể mang lời chứng về lòng tin mà chúng ta tuyên xưng.

----------------------------------

 

nTrời-411: Ái mộ những sự trên trời


“Thứ Năm thì ngắm Đức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”.

 

Thế giới hôm nay, hơn bao giờ hết tràn đầy những sản phẩm phong phú về chất lượng và tiện ích: LênTrời-411


Thế giới hôm nay, hơn bao giờ hết tràn đầy những sản phẩm phong phú về chất lượng và tiện ích cho nhu cầu cuộc sống. Những thứ này làm cho con người xem như không muốn lìa khỏi trái đất, và một cách nào đó, không còn mộ mến và cũng không muốn kiếm tìm kho tàng vĩnh cửu của đời sau. Nhưng những sự trên trời là gì? Và tại sao chúng ta cần phải tìm kiếm nó?

NHỮNG CÁI THUỘC VỀ TRẦN GIAN

Trước khi tìm kiếm những sự trên trời, chúng ta cũng cần rảo qua những thứ mà con người ngày nay đang khao khát và tìm kiếm ở trái đất. Nói một cách nôm na là “những sự thuộc về trái đất”.

Những điều mà con người ngày nay đang hăm hở tìm kiếm, và chiếm hữu đó là:

1. Sắc đẹp.
2. Tiền của.
3. Tình yêu.
4. Danh vọng.
5. Thành đạt.
6. Thú vui vật dục.

Sắc đẹp là gì? Tiền của là gì? Tình yêu là gì? Danh vọng là gì? Thành đạt là gì? Và Thú vui dục vọng là gì? Tất cả những thứ này ai cũng biết, vì chúng cũng rất dễ hiểu đối với một trí khôn thông mình vừa phải.

Con người với bản năng tự nhiên thật khó để chống lại sức quyến rũ và khuynh loát của những thứ này. Bằng một cái nhìn có tính cách luân lý, chúng ta gọi những thèm khát và ước muốn chiếm hữu ấy là những cơn cám dỗ, hay những chước cám dỗ. Chính Chúa Giêsu cũng bị lôi vào những cám dỗ này: “Tất cả những vinh quang thế gian này là của tôi. Tôi sẽ cho ông nếu ông sấp mình thờ lậy tôi” (Mt 4:9).

Trong thực tế, ngưòi ta tranh nhau, chống đối nhau, thù ghét nhau, và thanh toán nhau về những thứ ấy. Nhiều người đã dám đánh đổi cả linh hồn mình, cả danh dự mình cốt sao chiếm thủ được những thứ ấy. Nhiều anh Hồi Giáo quá khích, ôm bom tự sát cũng không ngoài sự ham thích là trên Thiên Đàng, sẽ được ôm 72 cô trinh nữ.

NHỮNG SỰ TRÊN TRỜI

Nếu trời và đất khác nhau, xa nhau như thế nào, thì những sự thuộc về trời cao và những sự thuộc về trái đất cũng khác nhau và xa nhau như vậy.

Tuy không mấy ai quay lưng lại những điều tốt đẹp và thiện hảo thuộc về trái đất, nhưng đối với những vẻ đẹp và sự thiện hảo thuộc về thế giới tâm linh thì hầu như không mấy ai màng tới.

Thật ra, không phải là con người không quan tâm và ưa thích những giá trị tinh thần, nhưng chỉ vì “vô tri bất mộ”. Và điều này chính là lý do khiến nhiều người đã quên hoặc thờ ơ với những vẻ đẹp và sự quyến rũ ấy. Nhưng vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp trên trời là gì? Đó là:

1. Vẻ đẹp của tâm hồn.
2. Tình yêu Thiên Chúa và tha nhân.
3. Nghèo khó Phúc Âm.
4. Khiêm nhường.
5. Đơn sơ.
6. Thanh tịnh.

Là vẻ đẹp và sự quyến rũ của nhân đức, một vẻ đẹp hoàn toàn khác với những vẻ đẹp và sự quyến rũ của những vẻ đẹp thuộc trái đất. Nhiều người đã bỏ ra hằng trăm, hàng ngàn, hàng vạn Mỹ kim để làm đẹp, để khoa trương sự giầu có và để được người khác ca tụng. Nhiều người không sợ trải qua những cuộc giải phẫu nguy hiểm, đau đớn cốt sao để thấy mình đẹp, mình hơn người là thoải mái, và hạnh phúc. Nhiều người đã sẵn sàng chấp nhận những thách đố lớn lao để chạy đua vào những chiếc ghế quyền lực. Nhưng ít ai bỏ ra một giờ, một ngày, một tuần, một tháng, hoặc một năm để lo tua sửa và chỉnh trang lại vẻ đẹp của tâm hồn.

Trên thực tế, tình yêu Thiên Chúa, tình yêu tha nhân, đức nghèo, đức đơn sơ, và đức trong sạch là những đòi hỏi rất cần thiết để đem lại hạnh phúc cho mỗi người, mỗi cộng đoàn, mỗi dân nước. Đó là những cái có thể giúp con người chiếm hữu được vĩnh hằng. Rất tiếc, đó cũng là những gì mà nhiều người từ khước, bởi vì chúng không phù hợp với nhãn quan và suy tư của con người.

Yêu mến và tìm kiếm. Giáo Hội đã thôi thúc và khuyến khích mỗi Kitô hữu hãy tìm kiếm và yếu mến những sự trên trời. Nếu như tự nhiên chúng ta không yêu mến nổi, không thích thì chúng ta phải cầu xin ơn trên khai mở tâm trí, và cõi lòng mình. Sự mù lòa của con mắt tâm linh và sự tăm tối của trí tuệ khiến nhiều người chối bỏ, hoặc coi thường những giá trị thuộc về thế giới tâm linh. Cầu xin cho được ơn ái mộ, là cầu xin Thánh Linh khai mở tâm hồn và trí tuệ chúng ta, để chúng ta có thể nhìn, và có thể hiểu được vẻ cao quí của những giá trị tinh thần ấy.

NHỮNG GÌ THUỘC VỀ THẦN LINH LÀ THẦN LINH

Nhận thức về thế giới tâm linh là một nhận thức ngoài tầm hiểu biết của trí tuệ tự nhiên con người. Thí dụ, nhận ra vẻ đẹp và giá trị của tinh thần nghèo khó, hoặc nhận ra được giá trị và vẻ đẹp của Đức Ái Kitô Giáo, một đức ái không chỉ dậy chúng ta yêu thương kẻ yêu mình, mà hơn thế, yêu thương cả những kẻ ghét bỏ mình, thù nghịch và hại mình.

Những gì thuộc về thần linh là thần linh. Thật vậy, con nguời tự nhiên dù có muốn kiếm tìm và học hỏi nó, những giá trị tinh thần kia vẫn ở xa hơn tầm hiểu biết và vì thế, cần được soi dọi và khai mở bởi sức mạnh huyền nhiệm mà ta gọi là sự khai mở của Thánh Thần. Chỉ khi nào trí óc ta, trái tim ta được ngài khai mở, lúc ấy chúng ta mới nhận ra, mới hiểu thấu thế nào là sự cao xa, dài rộng của vẻ đẹp tinh thần, của những giá trị đạo đức.

Và cũng chỉ khi nào tai ta, mắt ta, miệng lưỡi ta được khai mở, lúc ấy ta mới nghe rõ, mới nhìn rõ, và mới nói được, truyền thụ được điều mà trí khôn ta cảm nghiệm và trái tim ta yêu mến.

Nhiều khi chúng ta thấy thương cho những người vô thần, những người vật chất khi thấy họ bị trói buộc và xiềng xích bởi hận thù, ghen ghét, hoặc bị chôn bám vào những dục vọng thấp hèn. Chúng ta tự hỏi làm sao những người này có thể hạnh phúc và bình an được với những suy nghĩ và lối sống như thế. Nhưng vì trí khôn họ, trái tim họ, con mắt họ, lỗ tai họ, và miệng lưỡi họ đã bị xích xiềng và khống chế bởi sự mù lòa tâm linh, nên họ vẫn phải làm những điều mà nhiều khi họ không biết mình làm gì, hệt giống như những bệnh nhân tâm thần.

CHÚA VỀ TRỜI

Không phải chỉ để dọn chỗ cho chúng ta, mà còn là một hướng tới mà mỗi người chúng ta phải nhìn lên.

“Xin cho chúng con ái mộ những sự trên trời”, để chúng con không bị chôn bám vào thế gian chóng qua và phù du này. Và để chúng con biết tìm kiếm những giá trị cao quí của tinh thần, và để chúng con yêu mến và sống với cuộc sống ấy. Vì đó là những gì mà chúng con có thể tìm kiếm, mua sắm và đem vào được nơi vĩnh hằng. Nơi mà chúng con sẽ gặp được Chúa là nguồn mạch sự sống, hoan lạc, và hạnh phúc bất diệt của chúng con.

 T.s. Trần Quang Huy Khanh

-------------------------------

 

LênTrời-412: Luyện được con mắt thứ ba

 

Người Ấn Độ thường chấm một điểm trên trán giữa hai con mắt để diễn tả con mắt thứ ba, la: LênTrời-412


Người Ấn Độ thường chấm một điểm trên trán giữa hai con mắt để diễn tả con mắt thứ ba, là thần nhãn, thấy được những gì mà hai con mắt thịt vẫn nhìn mà không thấy.

Hồi còn là sinh viên, trong lớp tôi cũng có mấy anh bạn người Ấn. Có lần tôi đã trót dại đi nhạo báng mấy tên này vì cái trò ăn bằng tay có vẻ mất vệ sinh, nhất là khi ăn cà ri thì nhoe nhoét quá chừng. Tôi khơi mào bằng chuyện “bước tiến hóa tất yếu của lịch sử” văn minh loài người, rằng cứ xem cách ăn thì biết một sắc dân đã văn minh tới cỡ nào. Này nhé: ăn bằng cả mười ngón tay là thuộc thời còn trong hang hốc rừng rú; người da trắng văn minh hơn một tí thì đã biết mặc quần áo và ăn bằng xiên tức là bốn ngón; còn người Việt thì chỉ dùng có hai ngón mà thôi, tức là dùng đũa. Văn minh chưa?

Nghe tôi cười nhạo như vậy mà tên người Ấn không tỏ dấu tức giận gì, nhưng cứ bình tĩnh đợi cho tôi nói cho đã rồi mới từ từ nói lại: “Này bạn, khi ba mình trao cho mình một món quà, thì bạn lấy hai cái gậy mà khều hay lấy bốn cái que mà chọc? Tôi thì tôi chẳng dám thế. Tôi sẽ cung kính giơ hai bàn tay ra mà lãnh nhận với lòng biết ơn. Người Ấn chúng tôi thấy mọi sự đều là ơn Trời ban: từng hơi thở, từng miếng ăn, từng ngụm nước, từng hạt cơm. Ăn cũng là một nghi thức đấy.”
Đang hí hửng đắc thắng, tôi im bặt ngay, thấy thẹn trong người. Phục tên này quá sức. Đúng là họ có con mắt thứ ba vẽ tượng trưng ở trán. Chẳng lạ gì nhiều nhà khảo cứu đã từng nói tới hạch tuyến Pituitary và Pineal ở chính điểm trên.

CÁI THẤY CỦA CON KIẾN

Một con kiến đang bò trên mặt một tờ giấy, ra sức bò từ đầu này sang đầu kia. Một người đứng quan sát nó bò như vậy vừa tới đầu bên kia thì liền nẩy ra ý vui vui là gấp tờ giấy lại cho đầu và cuối trang giấy giáp vào nhau. Con kiến lấy làm lạ là nó bỗng gặp lại chỗ nó đã khởi hành mà không hiểu tại sao.

Đối với con kiến thì thế giới của nó là cái mặt phẳng hai chiều: chiều ngang và chiều dọc. Nó không thể hiểu và thấy được chiều kích thứ ba gọi là hình học không gian: chiều đứng. Đối với nó thì “thế gian” chỉ vỏn vẹn trong tầm mắt trên tờ giấy. Nếu có người bỏ một miếng mỡ nhỏ vào trên mặt giấy thì nó khoái trá mò đến kiếm ăn khen ngon rốt rít, nhưng nó không thể hiểu miếng mỡ từ đâu tới. Đối với nó, việc miếng mỡ “hiện ra” trên mặt giấy là một phép lạ. Hình ảnh này cũng giúp hiểu một điều xem ra rất mâu thuẫn trong đạo là việc tin Chúa ở khắp mọi nơi. Chúa hằng hữu, “Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế” và việc Chúa hiện ra. Chúa vẫn luôn ở đây chứ, nhưng chỉ thấy Chúa “hiện ra” thực khi nhìn với con mắt trong một chiều khích cao hơn mắt con kiến, vẫn được gọi là con mắt thứ ba, con mắt của tâm.

Chúng ta vẫn thường nói: Mặt trời mọc và mặt trời lặn. Sự thật có phải vậy đâu. Nói như thế cũng giống như con ếch ngồi đáy giếng bảo trời đất chỉ bằng cái vòng tròn trên miệng giếng kia. Cho đến thời Isaac Newton bỗng thấy một sự thật khác qua chuyện nhìn trái táo rụng mà “thấy” được, phát minh ra định luật về trọng lực.

Quả thực, Newton và Descartes đã ghi mốc cho một nền văn minh gọi là khoa học kỹ thuật từ Âu Châu tiến đến tột đỉnh ở Mỹ như ngày nay. Sự vật được nhìn như những “thực thể” hoàn toàn vật chất tách rời biệt lập, để được đo lường cân lượng, để trở thành những kết luận, những định luật, định lý.

Cái nhìn và cái thấy mới, được gọi là “văn minh” này, có thể diễn tã đơn giản là con kiến trước đây chỉ biết bò trên mặt phẳng, bây giờ biết bò trong một cái hộp vuông có chiều đứng. Nó bèn vênh mặt lên tự hào đã bá chủ được “vũ trụ.” Cho đến một hôm nó cố gắng mò mẫm bò lên được mặt trăng, chưa kịp gáy để khoe mẽ thì bỗng dưng cụt hứng khi nhìn về trái đất và thấy một sự thất khác: tất cả những đo lường, những dinh thự chọc trời, những bon chen ở dưới kia sao mà nhỏ bé li ti một cách tội nghiệp đến thế! Rồi nhìn ra chung quanh: vũ trụ bao la với triệu thái dương hệ, có những ngôi sao vừa ra đời, có những ngôi sao đang bay vào hố đen thăm thẳm gọi là “black hole.” Con người bằng ấy năm “văn minh” mà sao lệt bệt quá vậy? Cứ tưởng tượng xem: văn minh gì mà cứ phải bò lết trên mặt đường bằng những phương tiện mà loài người gọi là xe hơi, dù là xe láng hay xe sắp ra nghĩa địa. Và mọi đo lường, mọi giá trị vẫn tự hào xưa nay bỗng dưng thay đổi chiều kích.

Mà cả trái đất cũng là một phi thuyền đang bay vào khoảng trống vô biên. Một đời người sống hai chục năm hay tám mươi tuổi nhìn lại cũng chỉ là một koảnh khắc hết sức tương đối. Ôn lại lịch sử con người từ cái ngày còn ở trong hốc đá cho đến khi biết mặc quần jean, mấy ngàn năm tưởng như một nháy mắt. Con người đã bước vào một thiên niên kỷ mới, khởi đầu một vòng xoay của trái đất như một chấm nhỏ li ti trong giải ngân hà, những sinh vật gọi là loài người ngồi tính sổ, rốt cuộc rồi cũng thấy mọi thành quả đỉnh cao, mọi tiến bộ tất yếu chỉ là chuyện nhảm nhí. “Con kiến” mang mặt người như vừa thức tỉnh vượt lên khỏi cảnh “ếch ngồi đấy giếng” với một cái nhìn mới trong một chiều kích mới.

TIN VUI GỬI NGƯỜI ĐANG BỊ QUẨN

Nhiều người vẫn có cảm tưởng mình bị nhốt giam tù túng trong một cái bị thịt, con mắt không sao mà nhìn cao và xa hơn được. Ngay cả về thể lý,con mắt mình chắc chắn là không sáng bằng đôi mắt chim cú, không tinh và đầy quyền năng như con rắn nhìn chú gà con, không đơn thành trong sạch bằng đôi mắt bồ câu, không nhìn xa được bằng mắt chim phượng. Người ta đã từng khám phá ra mắt con ruồi có tới ba ngàn lăng kính, chính xác hơn ống kính nổi tiếng nhất thế giới ngày nay như Zeiss, Leica... Người ta vẫn đổ tội cho ông A-đam và E-và tham ăn tham uống mà con mắt thứ ba là hạch tuyến Pituitary và Pineal bị vít lại, nên hóa ra mù tối mất đi chất trong sáng nguyên thủy. Nhưng thực ra thì những chuyện lắng lo lẩm cẩm hằng ngày của mỗi người bây giờ càng ngày càng che lấp tầm mắt chẳng còn có thể nhìn thấy gì xa hơn nữa. Cộng thêm vào đó là những ham hố, những tham vọng, những bon chen, khiến cho con mắt càng bị che phủ mờ mịt đi. Nhìn lên chỉ thấy ganh tị chưa bằng người; nhìn xuống chỉ thấy những vênh mặt tự đắc tưởng rằng đỉnh cao; nhìn gần chỉ toàn thấy những giấy đòi nợ và những bon chen hơn thiệt triền miên, đau khổ vật vã với những giằng co đi vào đường cùng. Đúng là quẩn quá! Đến một khoảnh khắc sực tỉnh mình bỗng thấy tầm mắt mở rộng, thoát ra khỏi những chặn vít thường ngày:

Con mắt nhìn lên trời cao xanh ngát
Con mắt nhìn xuống biển rộng bao la
Con mắt nhìn gần quên điều nhỏ nhặt
Con mắt nhìn xa chợt thấy quê nhà.
(thơ Nguyễn Khánh Hòa, New Orleans)

PHÚT TỊNH TÂM

Hòa mình vào hình ảnh Chúa Giêsu lên Trời, mỗi người sực nhận ra một chiều kích mới: Con người có thể vượt lên khỏi cái bị thịt vốn giới hạn nhốt giam mình trong không gian và thời gian. Chúa Giêsu đã làm người, đã trở thành một A-đam mới, con người kiểu mẫu mới, và đã vươn tới vô hạn. Người tin đạo nhận được tin vui lớn là nhìn thấy được Ngài ngay bên cạnh đây lúc này. Trong 33 năm làm người ở Do Thái, Ngài cũng từng bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Trong thời gian đó, nếu Ngài đang ở Giêrusalem thì không thể nào lại có thể có mặt tại Nagiarét, phương chi là ở New Orleans hay ở Sài gòn sau gần hai ngàn năm trước. Lên Trời là vượt lên khỏi tất cả những giới hạn đó để có mặt mọi nơi, mọi lúc. Đây đúng là một Tin Vui lớn. Sách Tông Đồ Công Vụ kể rõ: “Ngài được cất lên trước mắt các môn đệ, và một đám mây che phủ Ngài khuất mắt các ông.”

Cũng như trong một quán ăn trên đường Emmaus, Chúa Giêsu cũng biến đi như vậy: “Khi ngồi vào bàn ăn với hai môn đệ, Người cầm lấy bánh, đọc kinh cầu phúc, rồi bẻ bánh trao cho họ. Con mắt họ chợt bừng mở, nhưng khi họ vừa nhận ra Người thì Người đã biến mất dạng không còn thấy đâu nữa.” (Luca 24:30-31).

Mắt đây chính là hai con mắt thịt bị che đi để con mắt thứ ba, con mắt của niềm tin mở ra, thấy được Chúa vẫn luôn ở với mình và trong mình mọi nơi mọi lúc như Ngài đã phán: “Con ở trong chúng và Cha ở trong con. Và con yêu thương chúng như Cha đã yêu thương Con." "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”

Lên Trời hay biến đi không phải là chạy đâu xa, mà là hiển hiện vào trong tâm mỗi người, và chỉ nhìn thấy được bằng con mắt thứ ba. Chính vì thấy được như vậy mà các tông đồ đã trở về Giêrusalem lòng đầy vui mừng, rồi bung đi khắp thế giới loan báo Tin Vui cho thời đại mới.

Xin Chúa cho con cũng thấy được Chúa đang ở ngay đây. Phút giây lắng đọng này chính là lúc con được khai mở con mắt thứ ba mà tâm nguyện với Chúa qua thánh vịnh 139:

Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ,
Biết cả khi con đứng con ngồi.
Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa.
Đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét.
Mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.
Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời,
Thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết.
Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước,
Bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con
Kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm,
Quá cao vời, con chẳng vươn tới.

 Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

------------------------------

 

nTrời-413: Hướng lòng lên trời


(Suy niệm của Huệ Minh)

Tin mừng Mc 16: 15-20 –

 

Mừng Lễ Chúa Giêsu Lên Trời, Giáo Hội trình bày cho chúng ta nhiều điểm giáo lý quan trọng, nhưng LênTrời-413


Mừng Lễ Chúa Giêsu Lên Trời, Giáo Hội trình bày cho chúng ta nhiều điểm giáo lý quan trọng, nhưng đặc biệt, nhắc nhở mỗi chúng ta từ linh mục, tu sĩ đến giáo dân về trách nhiệm sống và loan báo Tin Mừng mà Chúa Giêsu để lại cho mỗi người.

Hôm nay, cùng với Giáo Hội chúng ta chứng kiến việc Chúa về Trời. Chúa về Trời  trước hết diễn tả vinh quang chiến thắng. Qua sự phục sinh, Chúa Giêsu đã chiến thắng tử thần. Người cũng chiến thắng những cám dỗ của thế gian nhằm lôi kéo Người từ bỏ thực thi ý định của Chúa Cha. Chúa Giêsu về trời, đem theo những dấu tích của cuộc khổ nạn (dấu đinh), như bằng chứng của sự hy sinh tự hiến để thánh ý Chúa Cha được nên trọn.

Nhìn lại lịch sử thăng trầm của con người, con người mọi thời đại luôn khát khao bay lên trời. Đi dưới đất, ngược xuôi trên biển trên sông, con người luôn ước vọng, phải làm sao lên được trời cao. Vì thế, ngày 04 tháng 06 năm 1783, lần đầu tiên, hai anh em Mongolfiers, bay lên trời bằng khí cầu được 500 mét trước hàng ngàn người chứng kiến. Ngày 12 tháng 04 năm 1961, Gagarine, phi hành gia đầu tiên bay ra khỏi tầng khí quyển của trái đất trong phi thuyền Vostok I của Liên Xô. Đến ngày 16 tháng 07 năm 1969 hai phi hành gia người Mỹ là Armstrong và Aldrin bay lên tới mặt trăng. Cả thế giới đã hồi hộp theo dõi những phi hành gia bay vào vũ trụ. Và chuyến bay nào rồi cũng phải trở về trái đất.

Việc Chúa Giêsu lên trời và những lời Ngài truyền dạy trước khi từ giã trần gian giúp ta có một cái nhìn đúng đắn hơn đối với trời và đối với đất.

Chúa Giêsu lên trời. Điều đó dạy ta biết ngoài cõi đời này còn có một nơi chốn khác. Ngoài cuộc sống này còn có một cuộc sống khác. Ngoài những giá trị đời này còn có những giá trị khác.

Trời là nơi hạnh phúc không còn khổ đau. Trời là nơi cuộc sống vĩnh viễn không bị tiêu diệt. Trời là nơi tất cả mọi giá trị đạt đến mức tuyệt đối. Trời là nơi con người trở thành thần thánh, sống chung với thần thánh.

Như thế trời là niềm hy vọng của con người. Con người không còn bị trói chặt vào trần gian. Định mệnh của con người không phải chỉ là đớn đau sầu khổ. Số phận con người không phải sinh ra để rồi tàn lụi. Trời cho con người một lối thoát. Trời mở ra cho con người một chân trời hạnh phúc. Trời cho con người cơ hội triển nở đến vô biên.

Chúa Giêsu đã hoàn tất sứ mạng Chúa Cha trao phó, như chính Người đã khẳng định: “Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã trao cho con” (Ga 17,4). Và, như người lính sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về với ngành nguyệt quế chiến thắng, Đức Giêsu được cất lên trời trong vinh quang và giữa tiếng muôn thiên thần tung hô chúc tụng.”Được cất lên”, đó là kiểu nói của Kinh Thánh. Độc giả Do Thái dễ dàng liên tưởng đến trường hợp của ngôn sứ Elia và ông Enốc trong Cựu ước. Hai vị này đã được Chúa cất lên không trung, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ ngôn sứ.

Chúa Phục sinh đang hiện diện, đang có mặt trong cuộc đời chúng ta, không phải chỉ khi chúng ta họp nhau cầu nguyện, không phải chỉ khi chúng ta ở trong nhà thờ, nhưng Người còn hiện diện trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời chúng ta. Khi thì như một người đang làm vườn (Ga 20,11-18), lúc thì như một người đi đàng (Lc 24,13-35), khi thì lại như một người đang cầu nguyện (Lc 24,50-53), lúc lại như một người thuyền chài (Ga 21,4-23). Chúa Phục sinh vẫn luôn đang hiện diện như vậy, không ngừng hiện diện như vậy với Giáo hội. “Lên trời” đấy, “ngự bên hữu Thiên Chúa” đấy; ấy vậy mà Giáo hội vẫn mạnh dạn khẳng định chắc chắn rằng: “Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16,20).

Mừng Lễ Chúa Giêsu Lên Trời, Giáo Hội trình bày cho chúng ta nhiều điểm giáo lý quan trọng, nhưng đặc biệt, nhắc nhở mỗi chúng ta từ linh mục, tu sĩ đến giáo dân về trách nhiệm sống và loan báo Tin Mừng mà Chúa Giêsu để lại cho mỗi người. Sách Công vụ Tông đồ đã thuật lại sự kiện Chúa Giêsu lên trời như là điểm kết thúc sứ mạng của Ngài và mở ra sứ mạng của Giáo Hội dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chúa về trời không phải Ngài thoái thác trách nhiệm, cũng không phải Ngài từ bỏ con người, nhưng Ngài hoàn tất nhiệm vụ Thiên Chúa Cha đã trao phó và trở về với Chúa Cha trong vinh quang của Ngài.

Cử hành lễ Chúa Giêsu lên trời đúng bốn mươi ngày sau lễ Phục sinh, Giáo hội có ý giúp con cái mình sống lại kinh nghiệm của Giáo hội sơ khai, một kinh nghiệm rất hữu ích và phong phú cho đời sống của những người con Chúa. Trong thời gian bốn mươi ngày, Giáo hội sơ khai đã vinh dự được sống những tháng ngày mà Thầy Chí Thánh “chiếu cố” gặp gỡ một cách hữu hình, và ngày thứ bốn mươi là lần cuối cùng họ được diễm phúc gặp gỡ Người một cách trực tiếp. Để rồi từ đây, họ sẽ vui mừng hơn nữa khi đã đủ khả năng để bước vào một kinh nghiệm lớn lao hơn, đó là kinh nghiệm gặp gỡ. sống và hoạt động tông đồ với Người, Đấng từ nay sẽ hiện diện một cách vô hình. Điều này đã được thánh Luca mô tả rất hay. Sau khi đã chứng kiến tận mắt Thầy Chí Thánh “được cất lên” và “có đám mây quyện lấy Người”, để rồi “không còn thấy Người nữa”. “Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giê-ru-sa-lem, lòng đầy hoan hỷ” (Lc 24,53).

Chúa lên trời, không có nghĩa là Ngài không còn hiện diện tại trần gian, nhưng là một sự thay đổi cách thức hiện diện. Ngài không hiện diện bằng xương bằng thịt như trước đây, nhưng vẫn hiện diện bằng quyền năng, bằng Thánh Thần và bằng sự quan phòng. Người được cất lên trước mặt các Tông đồ và có đám mây bao phủ lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Hình ảnh đám mây bao phủ lấy Ngài, Thánh Kinh muốn nói rằng, Ngài vẫn hiện diện ở bên mỗi người, chỉ có điều là mắt chúng ta bị mây che phủ nên không nhận ra Ngài.

Chúa về trời để chỉ cho ta rằng, mục đích của mỗi người và quê hương đích thực của chúng ta là Nước Trời. Chúa về trời là một bảo đảm chắc chắn cho tất cả những ai tin theo Chúa, thực hành những điều Chúa dạy, đi theo con đường của Ngài thì cũng sẽ được về trời với Ngài. Ngài là người mở đường, Ngài đi trước để dẫn lối cho chúng ta theo sau. Vì thế, mỗi người phải luôn nhớ hướng tâm hồn và cả con người mình về quê trời, là nơi Thiên Chúa là Cha yêu thương đang đón đợi chúng ta.

Chúa về trời, một cuộc tạm biệt chứ không ly biệt. Chia tay để rồi sẽ gặp lại nhau trong một tương quan mới.Chúa về trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng. Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào. Nơi thiên cung, mọi đau khổ, bệnh tật, chiến tranh, khủng bố không còn nữa. Ở đó chỉ có thanh bình, công bằng, và hạnh phúc viên mãn, nhân phẩm và nhân vị con người hoàn toàn được phục hồi trong ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô.

Chúa về Trời là lời khẳng định cho chúng ta về một cõi thiên đường. Một thiên đường có Thiên Chúa sẽ làm no thỏa mọi hạnh phúc cho con người. Một quê Trời nơi đó con người sống thanh thoát khỏi những nhu cầu vật chất nên sẽ không còn bon chen, tranh giành, đầy đọa lẫn nhau. Một thiên đường hạnh phúc không phải một ngày mà là hạnh phúc miên trường.

Sống trong hy vọng phải là thái độ không thể thiếu nơi người tín hữu. Chúng ta không thể để những khó khăn hoặc những đe dọa của con người, của xã hội làm chúng ta mất niềm hy vọng. Niềm hy vọng của người tín hữu không ảo tưởng, nhưng được đặt trên lời hứa của Chúa Giêsu. Ngài hứa sẽ ở lại với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế, Ngài sẽ trở lại đem chúng ta về với Ngài và chung hưởng hạnh phúc với Ngài.

Chúng ta chỉ có thể nói về Chúa cho người khác khi chúng ta có Chúa, đồng thời, ta chỉ có thể nói về Chúa một cách không mệt mỏi khi chúng ta hoàn toàn xác tín vào Chúa. Trong khi anh em Tin Lành không hề ngại ngùng nói về Chúa Giêsu, thì dường như người Công Giáo lại rất ngại khi nói về niềm tin của mình. Lý do là vì đời sống của họ quá khác với đời sống của Chúa Kitô và của Tin Mừng. Họ sống đạo một cách hời hợt qua lần, không cầu nguyện, không lãnh nhận Bí tích. Nhất là nhiều người không tự tin về vốn giáo lý của mình, bởi vì họ không học hỏi, không trau dồi nên họ tránh né không dám nói về Chúa, không dám mạnh dạn bênh vực niềm tin của mình.

Thật vậy, để về trời thì con người phải biết dựng xây thiên đường hạ giới bằng một đời sống thực thi Lời Chúa. Lời Chúa chỉ tóm gọn trong hai điều là mến Chúa yêu người. Yêu là cách chúng ta phá bỏ hỏa ngục để xây dựng thiên đường tại thế. Yêu là cách chúng ta đang gửi những viên gạch lên trời để xây dựng ngôi nhà vĩnh viễn trên thiên đường.

Và thầm mong cho mỗi người chúng ta được hưởng hạnh phúc thiên đường tại thế khi người người biết yêu thương nhau. Xin cho chúng ta biết xây dựng thiên đường hạ giới bằng yêu thương và phục vụ tha nhân như Chúa Giê-su đã sống và phục vụ. Đó cũng là phương thế đạt được hạnh phúc miên trường mai sau trong Nước Chúa. Amen.

-----------------------------

 

nTrời-414: Hướng lòng lên trời!


(Suy niệm của Huệ Minh)

 

Chắc có lẽ, Chúng ta không quên cái câu thơ của Hàn Mặc Tử, một cái câu thơ diễn tả cái sự LênTrời-414


Chắc có lẽ, Chúng ta không quên cái câu thơ của Hàn Mặc Tử, một cái câu thơ diễn tả cái sự chia ly của cuộc đời, sự diễn tả tình cảm của một con người khi chia cắt nhau: Người đi một nửa hồn tôi mất. Một nửa hồn kia hóa dại khờ.

Và quả thật trong cái thân phận làm người, con người làm sao mà tránh khỏi những dòng lệ, làm sao tránh khỏi sự đau đớn khi phải chia cách người thân của mình, người thương của mình.

Chúng ta cứ ra ngoài sân bay thì chúng ta thấy, bây giờ thì đỡ rồi. Bởi vì, phương tiện đi đi về về nó không như ngày xưa! chứ như ngày xưa, mỗi lần mà ra sân bay, sục sùi nước mắt. Chỉ là đi định cư thôi, và cũng có thể chỉ là đi du học thôi, vài năm rồi về, nhưng mà ướt đẫm cả sân bay. Bởi vì cảm thấy, một cái niềm nhớ, một cái niềm thương với cái người thương của mình biết bao giờ gặp lại.

Và tâm trạng đó ít nhiều gì chúng ta được chứng kiến đặc biệt nơi các nghi thức nhập quan: BỐ ơi bố! sao bố bỏ con. Từ nay không được nghe tiếng bố nữa! bố không còn dạy con nữa! Con không còn nghe tiếng la của bố, tiếng thương của bố, tiếng nói của bố nữa! Mẹ ơi mẹ, ngày hôm nay con không còn thấy mẹ nữa! Và khóc... quan tài đậy lại những dòng lệ cứ trào dâng.

Và ngày hôm nay chúng ta bắt gặp cái tâm trạng đó nơi các môn đệ: “Hỡi người Xứ Galilê, sao còn đứng đó làm chi? vì Chúa đã được đưa lên trời trước mắt các ông.” Những người Galilê cảm thấy nuối tiếc, cảm thấy vết thương khi tiễn đưa CHÚA về trời và đó là điều hiển nhiên. Nhưng mà chuyện quan trọng rằng: các Môn Đệ có nhận ra những gì mà thầy đã nói khi mà thầy còn sống không?

“Thầy bởi Cha mà ra, bây giờ thầy trở về cùng Cha. Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, nhà Cha thầy có nhiều chỗ ở. Chúa Giêsu trở về với cái cội nguồn của Ngài. Bởi vì vâng lời Chúa Cha, Chúa Giêsu đã bằng lòng đến trong trần gian này, đã sống kiếp người ngoại trừ tội lỗi, để nói với trần gian này: Thiên Chúa yêu thương con người.

Và xong cái nhiệm vụ của mình Chúa Giêsu lại về trời, để rồi Chúa Giêsu dọn chỗ cho những người tin theo Ngài, những ai tin Ngài: “Lạy Cha những gì Cha đã ban cho con. Con muốn rằng con ở đâu thì kẻ đó cũng ở đó với con người”

Kitô Hữu của chúng ta, dẫu rằng sống trong Trần Gian này, nhưng quê hương của chúng ta đích thực ở trên trời. Và trần gian này chỉ là cõi tạm thôi! mạnh giỏi chăng là được 80, phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ.

Cuộc đời thấm thoát chúng con đã khuất rồi! “Lạy Chúa xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống để hầu tâm trí được khôn ngoan.”

Và người Kitô Hữu chúng ta cần có cái sự khôn ngoan kinh khủng lắm, khôn ngoan theo kiểu của Thiên Chúa chứ không phải là khôn ngoan theo kiểu của người đời.

Khôn ngoan theo kiểu người đời: người ta hì hà, hì hục, người ta cố gắng, nhưng mà trong thực tế cuộc đời của mỗi người chúng ta, chúng ta có như người ta vun vén, người ta xây đắp cho người ta một cái quê hương ở trần gian này.

Và tưởng chừng cái quê hương đó không bao giờ hư mất và tưởng chừng họ lột da sống đời để ở lại trần gian này. Nhưng mà trong thực tế cuộc đời của mỗi người chúng ta, chúng ta thấy, dù giàu, dù nghèo, dù sang hay hèn không ai có thể lột da sống đời cả. Và trần gian này chỉ là cõi tạm. Đích đến và cùng đích của cuộc đời chúng ta đó là gì? quê hương của chúng ta đó là: “quê hương của chúng ta là trên trời, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa.” như Thánh Phaolô nói.

Và rồi, chúng ta liệu liệu chúng ta sống như thế nào để chúng ta diễn tả niềm tin của chúng ta. Và đặc biệt, dù sống trong cuộc lữ hành trần gian này, nhưng lòng chúng ta được mời hướng về quê hương trên trời. Nước trời đã được ví như tiệc cưới, nơi đó Thiên Chúa đã mời gọi và Thiên Chúa khoản đãi tất cả mọi người không trừ một ai. Không trừ một người dân tộc nào, không trừ ngôn ngữ nào, không trừ thành phần nào cả.

Và chuyện quan trọng là mặc cho mình chiếc áo cưới và đúng chiếc áo cưới đó thì sẽ được dự vào Nước Trời.

Cái áo cưới đó là gì? Cái áo cưới đó là: lòng từ bi nhân hậu, nhẫn nại chịu đựng, và tha thứ cho nhau. Cái áo cưới đó là: cái áo cưới của tình yêu thương đồng loại. Những người đi vào Nước Trời nếu mà không mặc cái áo cưới yêu thương, không khoác cho mình cái áo của lòng từ bi CHÚA thì chắc chắn sẽ bị đuổi ra ngoài thôi!

Cũng như trong trang Tin Mừng của Ngày Cánh Chung: Ngày ấy THIÊN CHÚA tách riêng ra giữa hai đám người, bên phải là chiên, bên trái là dê. Ngày ấy CHÚA hỏi rằng: Ngày xưa, TA đói các ngươi cho TA ăn, Ta khát các ngươi cho TA uống. Những người đã làm như thế sẽ được đứng bên phải, và được vào hưởng Nước Trời nơi đoàn chiên của Chúa. Còn những người mà Ngày xưa khi TA đói các ngươi không cho TA ăn. TA khát các ngươi không cho TA uống, lại được liệt vào hàng dê, để bị đem đi hủy diệt và chịu lửa đời đời.

Và thế đấy, chúng ta được mời gọi sống Lòng từ bi chúng ta hướng về trời. để ngày hôm nay ngày đang còn sống trong trần gian này chúng ta nhớ những người quản lý bất lương khôn ngoan CHÚA nói chúng ta phải biết tính toán bị lỗi khi chúng ta bị đuổi việc làm đó là khi mà chúng ta về nhà Chúa.

Chúng ta mang theo gì chúng ta? Hành trang của chúng ta mang theo gì? Hành trang của chúng ta mang theo hận thù, hay hành trang của chúng ta mang theo lòng yêu thương, lòng bác ái, lòng vị tha của Chúa.

Có những người tưởng chừng rằng là mình lột da sống đời và cứ mãi mãi nghĩ rằng mình ở trên đó cái quyền lực đó. Mình sát hại anh chị em đồng loại của mình bằng mọi cách.

Và mình nghĩ rằng là mình có tiền, mình có thể mua được cái này cái kia ở trần gian. Có thể mua được chức, có thể mua được quyền để hạ đạp người khác. Và có những người cứ nghĩ rằng mình mãi mãi, mãi mãi là mình, và quê hương của mình ở trần gian. Để rồi cứ phải vun vén và đánh mất đi tình nghĩa.

Và thực tế trong cuộc đời của chúng ta, chúng ta thấy: có nhiều gia đình bi thương lắm! Chỉ vì vài đồng bạc thôi, chỉ vì một vài tấc đất thôi, mà người ta lại cấu xé nhau, người ta chà đạp nhau và người ta đã đánh mất đi cái tình yêu thương. Thì nói tới đây con lại nhớ đến câu chuyện rất là tuyệt vời!

Có một cái vị địa chủ kia, bán đất cho một cái người đàn ông. Người địa chủ bảo rằng: từ sáng cho tới chiều, tôi bán cho ông miếng đất đó 10₫ bạc, miễn làm sao, ông đi từ sáng cho đến lúc mặt trời lặn, ông cứ đi đi! tới đâu, đó là ranh giới của miếng đất mà ông sẽ được hưởng với giá 10₫.

Thế là cái người đàn ông đó hí ha, hí hửng chạy về nhà suy nghĩ một đêm tính ra bây giờ ngày mai mình phải đi như thế nào đó thật nhanh, thật xa, để đất đai của mình được nhiều.

Thế là ông mua 2 ổ bánh mì, kèm theo 2 chai nước. Ông đi và ông đi, ông đi vội vả đến độ nghỉ trưa mệt nhòa. Ông nghĩ rằng: Nếu bây giờ mình nằm ngủ, mình nghỉ trưa thì mình sẽ bị thiệt thòi mất đi những mét đất mà ông chủ bán.

Thế là với 2 ổ bánh mì và 2 chai nước, ông đã ăn và đã vội vàng đi và đi, đi mãi cho đến lúc chiều tà, đến lúc không còn ánh nắng nữa, thì phần đất mà ông chủ hứa đã dành cho ông như đã hứa.

Thế nhưng rồi, tiếc thay với những cái cơn nắng nóng, cơn khát và sức khỏe giới hạn ông đã kiệt sức và không còn sống được nữa, tới khi người ta phát hiện ra ông, ông đã chết. Người ta đào lỗ chôn cho ông với vừa đủ cái thân hình nhỏ bé của ông.

Thế đấy, một cái câu chuyện có thể gọi là câu chuyện tưởng tượng thôi! Nhưng mà nhắc nhớ với mỗi người chúng ta: quê hương của chúng ta không phải ở trần gian, để chúng ta tìm kiếm.

Thứ hai thì ngắm: Chúa Giêsu lên trời, ta hãy xin cho Ái Mộ những sự trên Trời.

Dẫu rằng, chúng ta còn sống trong trần gian này chúng ta phải nặng gánh với cơm áo gạo tiền. Điều đó không ai phủ nhận cả, nhưng chúng ta phải biết quê hương của chúng ta ở đâu? để lòng chúng ta ở đâu thì kho tàng của chúng ta ở đó và Quê Hương của chúng ta ở đó.

Càng cho đi, càng thấy mình hạnh phúc và bình an, càng cho đi, mình càng cảm thấy con người mình nó nhẹ nhàng. Ví dụ như trong một căn phòng của một người nào đó khi chết, càng nhiều đồ thì người ta dọn dẹp càng nhiều. Và rồi khi nhập quan liệm chỉ có được vài bao trà, vài bộ quần áo đem theo thôi! Tất cả đều để lại cho người khác hưởng dùng.

Ấy vậy mà người ta càng trang bị, càng níu kéo. Chúng ta thấy một con diều nó càng vươn cánh bay xa, mà con diều nó nặng nề thì nó không thể nào lên trên cao được bay cao được.

Quê hương của chúng ta ở trên trời, để rồi tất cả những gì mà chúng ta hưởng dùng, chúng ta mua dùng đó, liệu liệu chúng ta dùng! Có những bộ đồ ba năm trời không mặc tới, nhưng nó vẫn còn nằm yên trong kẹt tủ; cho thì tiếc, để thì tội và lúc nào cũng vun vén, vun vén mãi.

Chúng ta nhìn thấy ông già bà lão dễ thương trong những viện dưỡng lão, nhất là các nhà hưu dưỡng. Chúng ta thấy một thời vang bóng có thể là bà này, bà kia, chị phụ trách...chị tổng phụ trách, bề trên nhưng tới khi về tới nhà hưu chỉ còn có một cái gối, một cái giường và một tấm ra thôi! Kế bên đó là bình Oxy mỗi người chúng ta ai cái mà chúng ta phải đối diện với chiếc xe lăn và có thể hành trang của mỗi người chúng ta cuối đời ở với chúng ta là cái bình Oxy và xe lăn.

Chúng ta liệu, chúng ta sống như thế nào đó, cho chúng ta nhẹ nhàng với tất cả những vật chất, với tất cả những gì chúng ta bám víu. Lòng chúng ta nhẹ nhàng, lòng chúng ta càng cất cánh lên cao cùng Chúa, lòng chúng ta không còn vướng bận vào Trần Gian.

Chúng ta thấy mà những người mà mê của cải trần gian khi ra đi họ cảm thấy ấm ức họ cảm thấy tiếc nuối, vì tất cả những gì mà mình vun vén để cho người khác xài. Còn một tâm hồn bình an thanh thản họ cảm thấy rất nhẹ nhàng khi ra đi. Bởi vì họ tín thác vào trong bàn tay của Chúa. Và họ xác tín rằng đây chỉ là cõi tạm, cõi thực mới là cung lòng của Chúa. Sống làm sao để có một chỗ trong cung lòng của Chúa. Sống làm sao để có một chỗ trên thiên đàng mới là chuyện quan trọng. Thì nói tới đây, con lại nhớ đến một cái câu chuyện:

Có một cái người dự lễ tại tâm tức là đi lễ ở nhà, không đến nhà thờ cô ta mới lý luận rằng là ước ao chết thì được lên ở một góc Thiên Đàng thôi thử hỏi coi ở trần gian này cô không bao giờ bước chân tới nhà thờ thì làm gì mà có một chỗ ở trên thiên đàng cho cô.

Ngày hôm nay ở trần gian này, chúng ta không thu xếp thời gian để đến với Chúa, thì làm gì có cơ hội ở với Chúa trên thiên đàng. Xin chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta, để chúng ta hướng lòng về Chúa.

Ngày hôm nay, ngày mừng lễ CHÚA lên trời, để mỗi người chúng ta trong thân phận làm người chúng ta cảm thấy nuối tiếc, chúng ta cảm thấy buồn phiền khi xa cách CHÚA nhưng trong một cung cách nào đó, Chúa lại gần chúng ta hơn. Chúa ở khắp mọi nơi, CHÚA ở hiện diện trong lòng chúng ta để Chúa đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường.

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta, để chúng ta luôn luôn chạy đến với Chúa và kính múc Tin Mừng Phục Sinh của Chúa. Để rồi lòng chúng ta, chúng ta luôn hướng về trời. Và Ngày hôm nay, chúng ta cũng được mời gọi mang cái lời mời của Chúa là: Anh em hãy đi loan báo Tin Mừng cho khắp mọi loài thọ tạo.

Khi chúng ta không có Tin mừng, khi cuộc đời của chúng ta vẫn lê lết thì không thể nào chúng ta có thể loan báo Tin Mừng cho người khác được.

Khi nào lòng chúng ta nhẹ nhàng với vật chất của cải trần gian, khi nào lòng chúng ta thanh thản với tất cảc những bám víu của trần gian.

Và khi nào chúng ta yêu thương đủ thì lúc ấy chúng ta mới có thể làm chứng Tin Mừng cho một Đức Kitô phục sinh.

Và khi ấy chúng ta sẵn sàng đón nhận cái chết và sau khi chết chúng ta sẽ có một chỗ ở trên thiên đàng như Chúa đã hứa với mỗi người chúng ta. Amen.

-----------------------------

 

nTrời-415: Hướng lòng về trời cao


(Suy niệm của Huệ Minh)

 

Mở lại những trang thơ của nhà thơ Hàn Mạc Tử, ta bắt gặp bài thơ : "Những giọt lệ": Trời hỡi, LênTrời-415


Mở lại những trang thơ của nhà thơ Hàn Mạc Tử, ta bắt gặp bài thơ : "Những giọt lệ":

Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi!
Bao giờ tôi hết được yêu vì
Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi cứng tợ si??
Họ đã xa rồi không níu lại
Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa....
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.
Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?
Tâm tình sao mà da diết quá!
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.

Người đi thì mặc kệ người đi chứ có mắc mớ gì đến ta, dính dáng gì đến ta mà hồn ta bỗng dại khờ?

Nói như thế, ắt hẳn không thỏa đáng bởi lẽ là con người, bên cạnh lý trí, con người còn có những cảm xúc, tình cảm hết sức đặc biệt. Nhất là với những người thân quen, những ai đã hơn một lần gặp gỡ, hơn một lần sống chung, làm việc chung. Đặc biệt với người mà mình thương mến, khi xa cách sẽ có một cảm xúc khó tả và thật khôn lường.

Với những lẽ như vậy, ta hiểu được phần nào tâm trạng của các môn đệ khi xa cách Thầy mình. Khi chứng kiến cảnh Thầy lên trời, lòng cứ lâng lâng, cứ bâng khuâng nhìn mãi. Đang lâng lâng, đang bâng khuâng đó thì bỗng có hai người mặc áo trắng đứng gần các ông và nói rằng: "Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời? Ðức Giêsu, Ðấng vừa lìa các ông mà lên trời, sẽ đến cùng một thể thức như các ông đã thấy Người lên trời".

Tiếc thương cũng rồi! Đành thôi đã lên trời! Còn đâu, ước mơ gì cũng thế!

Nếu ta là các môn đệ, ta cũng tiếc nuối, cũng nhớ nhung, cũng bâng khuâng nuối tiếc vì sự ra đi của Thầy Chí Thánh.

Nhìn vào cuộc đời các môn đệ, ta bắt gặp được những tình cảm hết sức tự nhiên, rất thật của con người. Các môn đệ tiếc nuối đó, đau đớn đó nhưng rồi nhờ ơn Chúa Thánh Thần, nhờ Đấng Bảo Trợ mà Chúa Giêsu hứa sẽ gửi đến đã đồng hành, đã cùng hoạt động nơi các ông. Các môn đệ tưởng chừng như mất phương hướng, tưởng chừng như buông xuôi đó nhưng lại mãnh mẽ lên đường để loan tin mừng Phục Sinh cũng như loan tin rằng Chúa đã lên trời để gọi là dọn chỗ cho những ai muốn đi theo Ngài.

Biến cố lên trời thật sự là một biến cố mất mát dưới cái nhìn của trần gian, dưới cái nhìn của tình cảm con người nhưng việc Chúa Giêsu lên Trời "có lợi hơn cho anh em" như Chúa Giêsu đã từng nói với các môn đệ. Hẳn nhiên không ở lại mãi ở dưới đất với các môn đệ được. Và nếu cứ ở mãi dưới cái cõi nhân gian này thì cũng chẳng có gì để bàn, để nói cả.

Đọc và suy mầu nhiệm thứ hai trong mầu nhiệm Mân Côi mùa Mừng như thế này : Thứ hai thì gẫm Đức Chúa Giêsu lên Trời, ta hãy xin ái mộ những sự trên Trời! Lời gẫm, lời xin ấy xem ra đơn giản nhưng thật sự là khó bởi lẽ ái mộ thì ai cũng có thể ái mộ bằng lời nói, bằng cái miệng của mình nhưng để sống mầu nhiệm Nước Trời không phải là chuyện giản đơn.

Thật khó khi ta sống trong cái thân phận làm người mà Chúa lại mời gọi ta hướng lòng về Trời cao mà Trời cao đó chưa ai thấy, chưa ai nếm, chưa ai biết cả. Có chăng chỉ biết qua lời mà Thiên Chúa nói nơi Đức Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa, là Con Một của Thiên Chúa mà thôi.

Lời của Chúa Giêsu, sứ mạng của Chúa Giêsu khép lại ở trần gian nhưng đã mở ra một cửa ngõ khác là cửa ngõ về trời. Như Chúa Giêsu đã hứa là Chúa đi và dọn chỗ cho chúng ta. Chính vì vậy, ta lại hoàn toàn tin tưởng và lại ngong ngóng hướng về Trời cao, nơi Chúa đã dọn sẵn cho mỗi người chúng ta.

Quả thật là khó khi ta sống trong cái thân xác này mà lại đòi hỏi lòng hướng về Trời. Quá khó để sống tâm tình đó vì lẽ trong ta mãi mãi có sự giằng co của sự thiện và sự ác, giằng co của cái bám víu vào thực tại trần gian và cái làm cho ta bay bổng lên cùng Thiên Chúa.

Ta thấy, như cánh diều biếc, càng nhẹ nhõm thì càng dễ vút lên trời. Ngược lại, con diều nặng nề sẽ không dễ dàng hay dù có lên trời đi chăng nữa cũng sẽ chòng chành và sẽ dễ rớt.

Nghĩ về con diều, nhớ về con diều để ta nhìn đến phận người của chúng ta. Cuộc đời của chúng ta cũng như những cánh diều biếc như vậy. Càng nhẹ nhõm, càng thanh thoát thì ta càng dễ đến gần Chúa và ở bên Chúa hơn.

Nhìn vào cuộc sống, đôi khi ta mãi mê thế sự trần gian nhưng ta quên điều chắc chắn của đời người đó chính là ai ai trong chúng ta không thể nào thoát ra khỏi cái chết. Chính cái chết đã bắt buộc ta phải bỏ lại những cái gì mà ta từng trân quý, ta từng ấp ủ trong đời, ngay cả người mà ta gọi là cha, là mẹ, là vợ, là chồng, là con cái... những người thân thương. Yêu lắm, thương lắm, nhớ lắm nhưng buộc lòng ta phải để lại chứ không ai có thể mang theo được. Và, dù người còn lại có yêu ta cỡ nào đi chăng nữa cũng không thể nào đi theo ta hay níu kéo ta được.

Thực tế là ta phải khép cuộc đời ta ở trần gian này tùy theo thánh ý Chúa cho ta sống bao nhiêu năm trên trần gian. Khi ta khép cuộc đời ở trần gian này ta bước qua ngưỡng cửa khác, ngưỡng cửa mới đó chính là ngưỡng cửa Nước Trời.

Nước Trời thật ra cũng dễ vào nhưng cũng rất ư là khó vào bởi lẽ Chúa Giêsu đã hơn một lần nói cho ta biết là phải vào cửa hẹp mới vào được Nước Trời, phải bỏ của cải thế gian, phải làm tôi Thiên Chúa, phải đáp ứng được những đòi hỏi của Nước Trời.

Ngày hôm nay, mừng kỷ niệm biến cố Chúa Giêsu lên Trời, ta không được dừng lại ở cái nhìn của trần gian, của con người xác thịt nhưng ta xin Chúa cho lòng ta hướng lên Trời thật sự. Lòng hướng lên Trời thật sự khi và chỉ khi ta bỏ bớt những đam mê của trần gian, những quyến rũ của trần gian.

Vẫn là con người mong manh mỏng dòn và yếu đuối, chính vì thế ta lại càng cần xin ơn Chúa hơn nữa để ta bỏ đi những gì là dính bén vào đời ta làm cho ta nặng nề và khó siêu thoát. Xin Chúa thêm ơn cho ta để dù sống trong cuộc đời này nhưng lòng ta luôn hướng về Quê Trời nơi quê hương đích thực của mỗi người chúng ta.

---------------------------

 

nTrời-416: Chứng nhân của Đức Kitô


(Suy niệm của AM Trần Bình An)

 

Từ hơn 500 năm trước, ngôn sứ Dacaria đã tiên báo Chúa Giêsu sẽ chia tay các môn đệ tại LênTrời-416


Từ hơn 500 năm trước, ngôn sứ Dacaria đã tiên báo Chúa Giêsu sẽ chia tay các môn đệ tại núi Ôliu. “Ngày ấy, Người sẽ dừng chân trên núi Ôliu, đối diện với Giêrusalem về phía đông.” (Dcr 14,4). Điều đó đã được sách Công Vụ Tông Đồ xác nhận ngay trong phần mở đầu. (Cv 1, 12)

Mặt khác, cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu bắt đầu diễn ra tại vườn Giệtsimani, dưới chân núi Ôliu. Nay Chúa thăng thiên trên núi Ôliu, phản ảnh sự liên tục đầy ý nghĩa, cũng như sự liên kết chặt chẽ giữa đất và trời qua trung gian Chúa Giêsu.

Kinh ngạc trước cảnh tượng Chúa Thăng Thiên vinh hiển và huy hoàng, các tông đồ cứ mãi ngẩn ngơ dõi theo, đến nỗi hai thiên sứ hiện đến nhắc nhủ: Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông thấy Người lên trời. (Cv 1, 11)

Bây giờ, chúng ta cũng chẳng khác các ngài, cũng hay chỉ đơn giản nhìn lên trời, mà than thở, kêu van, kinh kệ, hay ao ước, mong vào cõi phúc vĩnh cửu. Làm như sống đạo chỉ biết đến duy nhất hai chữ “Xin Cho”, y như bắt chước nếp sống thế gian, khi long đong lận đận, chỉ biết xin xỏ lòng hảo tâm.

Tuy nhiên, điểm nổi bật trong bài Tin Mừng theo thánh sử Máccô hôm nay, chính là lời dặn dò cuối cùng của Chúa Giêsu trước khi Người lên trời. “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo tin mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ, còn ai không tin sẽ bị kết án.” (Mc 16, 15)

Sách Công Vụ Tông Đồ còn nhấn mạnh hơn nữa: “Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samaria và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1, 8)

Như thế, tuy hai câu nói cuối cùng của Chúa Giêsu được hai sách thánh ghi lại, không hoàn toàn giống nhau về mặt chữ nghĩa, nhưng lại cùng chung một nội dung truyền giáo, một lời trăn trối, hay đúng hơn là một mệnh lệnh.

Mệnh lệnh truyền giáo đó được thực hiện cụ thể qua hai hành động: Loan báo Tin Mừng và làm Chứng Nhân của Chúa Kitô. Tuy hai, mà lại kết hợp mật thiết làm một, như hai mặt của một đồng tiền. Dẫu vậy, thường chúng ta lại chỉ quen chọn và ưu ái một việc, là thích rao giảng hơn làm chứng nhân.

Trước đây, Chúa Giêsu đã nêu tấm gương sáng, ngôn hành hiệp nhất, qua ba năm giảng dạy và cuộc khổ nạn đau đớn, để minh chứng công khai tính khả thi trọn vẹn của mệnh lệnh đó.

Riêng vai trò chứng nhân được Chúa nhắn nhủ nhiều lần. “Chính anh em là muối cho đời…Chính anh em là ánh sáng cho đời…Ánh sáng của anh em phải chiểu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp của anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh  em, Đấng ngự trên trời.”(Mt 5, 13-16) (Mc 9, 50)( Lc 14, 34-35)

Cảm nghiệm về vai trò chứng nhân, ĐHY Fx. Nguyễn Văn Thuận chia sẻ:”Giáo dân thời sơ khai diễn tả cách nôm na: Tông đồ là người có Chúa Kitô trong lòng, Chúa Kitô trên miệng, Chúa Kitô trên tay, Chúa Kitô trong óc, Chúa Kitô trên vai…Tóm lại, là một người đầy tràn Chúa Kitô và cho kẻ khác Chúa Kitô.”( ĐHV, số 292)

Lạy Chúa Kitô, xin cho con biết nhiệt thành đón nhận sứ mệnh Đi Gieo Tin Mừng, mặc dù gian nan, thử thách và hiểm nguy.

Lạy Mẹ Mân Côi, xin giúp sức con can đảm, trở thành chứng nhân đích thực của Chúa Kitô, giữa xã hội xô bồ đầy mâu thuẫn, đang mải mê chạy theo tà thần và phù vân. Amen.

------------------------------

 

nTrời-417: Sống mầu nhiệm Chúa lên trời


(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

 

Mùa Phục Sinh theo niên lịch Phụng vụ sắp kết thúc. Hội Thánh dẫn đoàn con đến với mầu nhiệm LênTrời-417


Mùa Phục Sinh theo niên lịch Phụng vụ sắp kết thúc. Hội Thánh dẫn đoàn con đến với mầu nhiệm Chúa Thăng Thiên. Dĩ nhiên là Kitô hữu trưởng thành, hẳn chúng ta không còn ngây ngô nhìn lên khoảng không gian trên trời để tìm xem nơi Chúa đã về. Chúa về trời nghĩa là Chúa lấy lại vinh quang của một Thiên Chúa có từ đời đời với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Điều này được Thánh Kinh trình bày khi nói Chúa Kitô về trời ngự bên hữu Chúa Cha (x. Eph.1,20-21). Và chúng ta có thể nói rằng mầu nhiệm Chúa về trời như là một trong những điểm tới của nhiệm cục cứu độ.

1. Mầu nhiệm Chúa về trời khẳng định “thần tính” của Đấng vào đời: Không ai có thể lên trời nếu người đó không từ trời mà xuống (x.Ga 3,13). Đấng từ trên cao xuống là Đấng vượt trên muôn vật muôn loài. Khi tuyên xưng Đức Kitô về trời chúng ta không chỉ tuyên xưng một biến cố mà là tin nhận một quá trình. Đó là “ Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trỗi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Phil 2,6-11).

2. Mầu nhiệm Chúa về trời là nền tảng cho niềm hy vọng của con người: Chúa Kitô bỏ vinh quang danh dự của mình khi vào đời để rồi sau đó lấy lại thì có liên quan gì đến loài người chúng ta cũng như mọi loài thụ tạo? Xin thưa rằng có. Khi về trời, ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang bất diệt thì trong Chúa Kitô đã có tất cả những gì là thuộc nhân tính, thuộc thế trần. Bởi vì những gì thuộc thế trần, thuộc nhân tính đã được Đức Kitô tiếp nhận khi vào trần gian. Chính vì thế, từ đây mọi sự mọi loài, đặc biệt loài người chúng ta có thể đi vào cõi vinh quang vĩnh hằng chính là nhờ, với và trong Đức Kitô. Cái hữu hạn từ đây có thể trở nên thường tồn. Sự chóng qua từ đây có thể trở nên bất diệt. Và điều này đáp ứng nỗi khát mong muôn thưở của con người đó là được sống mãi. Niềm hy vọng của con người về sự trường sinh đã được mở ra với mầu nhiệm Chúa Kitô lên trời. Đức Giáo hoàng Lêô Cả khẳng định rằng khi mừng mầu nhiệm Chúa lên trời là “chúng ta đang tưởng niệm và long trọng cử hành ngày bản tính yếu hèn của chúng ta nơi Đức Kitô được đưa lên cao hơn các đạo binh trên trời, hơn tất cả các phẩm thiên thần, hơn tất cả các quyền thần, để cùng hiển trị với Chúa Cha” (Bài đọc 2 giờ Kinh Sách Thứ Năm tuần VI mùa Phục Sinh).

3. Mầu nhiệm Chúa về trời mời gọi, đúng hơn là thúc bách ta rao truyền tin vui: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,17-20). “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16,15) Tin nhận Chúa Kitô là Thiên Chúa thật, đồng thời tin nhận Người đã đưa các thực tại trần thế vào vinh quang Thiên Chúa với mầu nhiệm Thăng Thiên, không chỉ củng cố niềm hy vọng của chúng ta mà còn thúc bách ta rao giảng Tin Mừng. Nội hàm chủ yếu của Tin Mừng chính là Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ nhân trần mãi đồng hành với nhân loại mọi nơi, mọi thời. Thiên Chúa đã cắm lều giữa trần gian là ở mãi với nhân loại. Người mãi đồng hành với chúng ta, đặc biệt bằng Thánh Thần Người ban tặng, bằng Lời của Người đã trao ban, bằng các Bí tích, bằng Hội Thánh Người đã thiết lập…

4. Mầu nhiệm Chúa về trời đòi hỏi chúng ta làm cho cuộc đời hữu hạn này trở nên thường tồn. “Hởi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời?…” (Cvtđ 1,11). Ái mộ những sự trên trời không có nghĩa là ái mộ những sự gì đó trên cao xanh mà là ái mộ những sự vĩnh hằng, những sự không thể bị kẻ trộm lấy mất hay mối mọt làm hư hoại (x. Mt 6,20). Lòng ái mộ này thúc bách ta không ngừng tìm cách vĩnh cửu hóa các thực tại chóng qua. Mọi sự, dù là bình thường hay tầm thường đều có thể trở thành phi thường trong tình yêu của Đấng Cứu Độ dành cho nhân trần. Tình yêu ấy có thể hiện rõ qua Lời Chúa, qua các Bí tích, qua Hội Thánh. Nhưng tình yêu ấy cũng có thể bàng bạc khắp mọi nơi bằng quyền năng của Thánh Thần, Đấng luôn luôn tự do như “gió muốn thổi đâu thì thổi” (x.Ga 3,8). Cùng với Thánh Thần, Hội Thánh không ngừng làm cho Nước Trời trị đến mọi lúc, mọi nơi, trong mọi thực tại của kiếp người: kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, giải trí, truyền thông…

Chính nhờ, với và trong tình yêu của Đức Kitô thì các thực tại trần gian trở thành vĩnh cửu. Đây là tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa, một tình yêu hướng tha. Và Chúa Kitô đã cụ thể hóa tình yêu ấy bằng sự hiến dâng mạng sống mình cho nhân loại (x.Ga 15,13). Yêu thương mà tự nguyện nhỏ mình đi, ẩn mình đi, tự hủy mình đi để cho người mình yêu được sống, sống dồi dào, được triển nở và tinh tuyền thì đúng là yêu thương cách hoàn toàn vị tha, chỉ vì người mình yêu. “ Thầy ra đi thì có lợi cho anh em …” (Ga 16,8). Có thể nói Chúa Kitô đã khởi đầu sự ra đi ấy với việc bỏ trời xuống làm người, với hiến tế thập giá và kết thúc bằng mầu nhiệm về trời.

Ai ở trong tình yêu thì ở trong Thiên Chúa (x.1Ga 4,7-21). Ai ở trong Thiên Chúa là ở trong Nước Trời. Tuy nhiên, tình yêu ở đây phải là tình yêu một cách nào đó như Chúa Kitô yêu thương chúng ta (x. Ga 13,34-35). Chị Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã thực thi điều này. Dù ở trong đan viện, kín cổng cao tường, chị đã làm cho những việc bé nhỏ, bình thường, và cả tầm thường như quét nhà, giặt giũ…trở nên phi thường bất diệt bằng chính con tim tràn đầy tình mến của chị. Nước trời không ở đâu xa. Nước trời đang ở giữa chúng ta. Chính vì thế, ta có thể nói rằng đừng tìm kiếm hạnh phúc Nước Trời ở một cõi nào đó trên cao, nhiều khi khiến chúng ta đâm ra ảo tưởng, xa rời thực tế, bỏ bê bổn phận, nhưng hãy làm cho hạnh phúc thành hiện thực ngay ở đây, lúc này.

-----------------------

 

nTrời-418: Liên kết trong Chúa


(Suy niệm của Lm. Vũ Đình Tường)

 

Mấy tuần qua Phúc âm nhắc đi nhắc lại lời Đức Kitô mời gọi hãy ở lại trong tình yêu của Ngài LênTrời-418


Mấy tuần qua Phúc âm nhắc đi nhắc lại lời Đức Kitô mời gọi hãy ở lại trong tình yêu của Ngài. Liên kết với Đức Kitô để qua Đức Kitô, Kitô hữu được liên kết với Chúa Cha. Đức Kitô về cùng Chúa Cha, thường được biết đến như là lễ mừng Đức Kitô về trời. Dù Đức Kitô về cùng Chúa Cha, tình liên kết Chúa dành cho Kitô hữu không gặp bất cứ ngăn trở nào. Kitô hữu vẫn có thể liên kết với Đức Kitô qua tình yêu Ngài. Điều này không có chi lạ bởi chính tình yêu Chúa liên kết Kitô hữu nên một. Đức Kitô ở trần gian hay về cùng Chúa Cha, tình yêu Chúa dành cho nhân loại không thay đổi. Liên kết trong tình yêu Chúa để được trổ sinh hoa trái, không phải hoa trái thường, mà là hoa trái có phẩm chất đặc biệt, cùng phẩm chất hoa trái khi Ngài còn ở trần thế bởi hoa trái đó trổ sinh nhờ vào tình yêu Đức kitô.
Thứ hai, liên kết với Đức Kitô để mối giây liên kết liên tục đón nhận ân sủng Chúa, tránh cô đơn khi gặp nguy khó. Ai cũng có người thân và bạn thân, tuy nhiên trong rất nhiều trường hợp người thân đó bó tay, dù ước ao, mong muốn nhưng không đủ khả năng giúp đỡ, hoàn cảnh không cho phép. Đức Kitô Phục Sinh là Đấng duy nhất có khả năng vượt mọi rào cản, cấm đoán hay hàng rào hạn chế bởi Ngài không bị ảnh hưởng bởi điều kiện không gian và thời gian. Vì thế liên kết với Đức Kitô sẽ luôn nhận được ơn Chúa dù trong hoàn cảnh tồi tệ nhất, Ngài cũng hiện diện, kề bên, cùng dìu ta đi.

Thứ ba, liên kết với Đức Kitô sẽ nhận được ơn can đảm và sức mạnh nội tâm để vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Chính Đức Kitô đã trải qua cảm nghiệm cô đơn, môn đệ sợ hãi bỏ chạy, một mình Ngài đối diện với thập giá. Giờ phút kinh hoàng cuối đời của Ngài là giây phút cô đơn. Nó thể hiện trong câu nói 'linh hồn Thầy lo buồn đến nỗi chết'. Nó thể hiện trong lời than: không thể cùng thức với Thầy được một giờ sao? Thức để làm chi? Thức để liên kết với Chúa trong cầu nguyện; liên kết với Chúa để tránh được cơn cám dỗ. Sa ngã vì thiếu kiên tâm cầu nguyện, vì tự tin vào khả năng riêng mình, vì đời sống cầu nguyện nghèo nàn. Môn đệ vì mệt mỏi, nửa tỉnh, nửa mê và đã bỏ chạy khi Thầy bị bắt. Dẫu thế tình yêu Chúa dành cho các ông không thay đổi.

Thứ tư, liên kết với Đức Kitô để cảm nghiệm Đức Kitô luôn giữ trọn lời thề. Lời Ngài hứa chắc chắn sẽ được thực hiện cách tốt đẹp, hoàn hảo. Đức Kitô hứa, Ngài sẽ thực hiện. Làm sao, thời gian nào do Ngài quyết định.

Thứ năm, mục đích cuối cùng và là mục đích chính và là việc cao cả của việc liên kết. Bởi liên kết với Đức Kitô sẽ được liên kết với Chúa Cha. Liên kết một cách vững bền cùng mối liên kết Đức Kitô dành cho Chúa Cha. Điều này được thực hiện bởi nhờ Đức Kitô liên kết với Chúa Cha trong mọi sự. Vì thế qua Đức Kitô mà Kitô hữu được kết liên với Chúa Cha. Chúng ta biết điều này qua lời cầu của Đức Kitô. Đức Kitô cầu xin Chúa Cha liên kết Kitô hữu trong Ngài để tất cả được nên một trong Chúa.

Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, đệ họ nên một như chúng ta. (Ga. 17,11)

Thứ sáu, liên kết cùng Đức Kitô sẽ vượt thắng, tránh được hãm hại của ác thần bởi chính Chúa Cha ban ơn bảo vệ giúp Kitô hữu chống lại ác thần. Ác thần ghét Kitô hữu vì Kitô hữu sống nơi trần thế nhưng không thuộc về trần thế, lòng luôn hướng về quê thật là nước trời. Vì không thuộc về chúng nên chúng tìm cách ám hại. Sa đoạ, hay sa chước cám dỗ bởi đời sống cầu nguyện nghèo nàn, bởi liên kết với Chúa một cách hời hợi, mở cửa cho ác thần lợi dụng, hãm hại.

Cuối cùng liên kết cùng Đức Kitô để cuối cuộc lữ hành trần thế cũng sẽ được liên kết, chung sống trong nhà Chúa. Đức Kitô đi trước mở đường chuẩn bị đón nhận Kitô hữu vào trong nhà Chúa. Kitô hữu được thánh hiến trong sự thật để trở thành chứng nhân đích thực, sống động trong Đức Kitô, loan bố Tin Mừng Phục Sinh của Đức Kitô, Người hiến thân chịu khổ hình chết, ban sự sống trường sinh cho nhân loại. Vì thế châm ngôn của Kitô hữu tóm gọn trong thánh lễ với lời Chúc tụng:
Chính nhờ Người với Người và trong Người mà mọi chúc tụng và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng, trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn thuở, muôn đời.

----------------------------

 

nTrời-419: Kiên vững với thời gian

 

Trước khi về trời, Chúa Giêsu còn muốn giáo huấn các môn đệ lần cuối cùng và trao phó cho LênTrời-419


Trước khi về trời, Chúa Giêsu còn muốn giáo huấn các môn đệ lần cuối cùng và trao phó cho các ông một sứ mạng quan trọng. Ngài nói: Các con hãy đi rao giảng cho muôn dân, rửa tội cho họ và nhắc bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho các con. Như thế việc rao giảng Tin Mừng không còn là một việc mơ hồ viễn vông, nhưng là một việc hết sức cụ thể, dẫn tới thái độ vâng giữ những giới luật của Chúa.

Ngay từ những ngày đầu, các môn đệ đã gặp phải những sự thù oán, bắt bớ và cấm cách, nhưng các ông không hề nao núng sợ hãi bởi vì như lời Chúa đã phán: Này Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế. Đây không phải chỉ là một lời nói đầy an ủi khích lệ mà còn la một sự kiện lịch sử hiển nhiên. Giáo Hội qua dòng thời gian, cũng đã gặp phải biết bao nhiêu sóng gió và thử thách. Giáo Hội vẫn không hề nao núng và sợ hãi bởi vì Chúa luôn hiện diện trong lòng Giáo Hội, hầu nâng đỡ và phù trợ cho Giáo Hội. Nếu chỉ là một tổ chức bình thường, có lẽ Giáo Hội đã bị quét sạch từ lâu.

Khi học về lịch sử, chúng ta thấy biết bao nhiêu đế quốc đã bị xoá tên, biết bao nhiêu thể chế đã bị sụp đổ, nhưng Giáo Hội vẫn kiên vững trong muôn vàn sóng gió. Bởi vì nền móng của Giáo Hội là đá tảng. Vào năm 1952 ĐGM King đã viết cho các sinh viên công giáo tại Thượng Hải như sau: Cây thập giá thì nặng, nhưng nhờ cây thập giá ấy mà con người giữ vững được đức tin, và cuộc đời chúng ta sẽ trổ sinh những bông hoa chiến thắng. Khi nghĩ về một tương lai đen tối tôi bỗng mỉm cười, bởi vì chúng ta vác thập giá, chúng ta đi đường thập giá, chúng ta lai cảm thấy hạnh phúc bởi vì chúng ta đang sống trong một thời điểm đặc biệt. Nếu như Thiên Chúa muốn biến chúng ta trở thành những dụng cụ của Ngài, thì chúng ta phải sẵn sàng.

Trước khi về trời Chúa Giêsu còn nói: Các con sẽ nhận lấy sức mạnh Chúa Thánh Thần sẽ xuống trên các con, để các con trở nên nhân chứng của Thầy ở Giêrusalem, ở Giuđêa, Samaria và cho đến tận cùng bờ cõi trái đất. Cho đến lúc bấy giờ các ông vẫn còn mơ tưởng đến của cải vật chất mà nhắm mắt lại trước những chân lý siêu nhiên. Các ông như bị cột chặt vào mặt đất và không thể bay bổng tới trời cao. Suốt ba năm sống với Chúa, nghe những lời Ngài nói và nhìn xem những việc lạ lùng Ngài làm, thế mà cõi lòng các ông vẫn chai đá, các ông quay lưng lại với ánh sáng.

Chúng ta cũng vậy, để được hướng tới bình diện siêu nhiên, để được sống trong Chúa Thánh Thần, chúng ta phải biết vượt qua lãnh vực vật chất và những níu kéo của trần gian. Có lần Chúa Giêsu đã nói: Thầy đi thì có lợi cho các con hơn, bởi vì nếu Thầy không đi thì Chúa Thánh Thần sẽ chẳng đến với các con. Nhờ Chúa Thánh Thần mà các tông đồ đa mặc lấy con người mới. Chính Ngài cũng sẽ giúp đỡ chúng ta để biết canh tân, để biết nhìn sự việc bằng đôi mắt của Chúa Giêsu.

Bởi đó trước những khó khăn của cuộc sống thường ngày chúng ta hãy kêu cầu Ngài đến với chúng ta. Thế nhưng cho đến ngày hôm nay Chúa Thánh Thần vẫn còn là một vị Thiên Chúa bị quên lãng nhiều nhất. Vậy thì Chúa Thánh Thần hiện đang nắm giữ vai trò nào trong cuộc sống chúng ta?

------------------------------

 

nTrời-420: Trời ở quanh ta


(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)

 

Chúng ta đang sống trong không gian vũ trụ bao la, nên khi nói lên trời chúng ta nghĩ rằng trời LênTrời-420


Chúng ta đang sống trong không gian vũ trụ bao la, nên khi nói lên trời chúng ta nghĩ rằng trời không trong không gian vũ trụ, một nơi bên ngoài trái đất này. Vì thế, khi nói “Chúa Giêsu lên trời” chúng ta cũng dễ hình dung Chúa Giêsu như một “phi hành gia” tự động cất bổng mình lên trời ra ngoài quỹ đạo của trái đất? Vậy thì Chúa Giêsu đi về phương trời nào? Phi hành gia Mỹ New Amstrong đặt chân lên mặt trăng đầu tiên 1930, rồi đến các phi hành gia Liên Xô khi bay ra ngoài vũ trụ đã nói rằng chúng tôi không thấy Thiên Chúa đâu hết.

Chúa Giêsu “được rước lên trời”: đó là một lối nói của Thánh Kinh nhằm diễn tả việc Chúa Phục Sinh từ giã trần gian để về cùng Thiên Chúa Cha. Ngài từ Cha mà đến và nay trở về với Cha. “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng đã-từ-trời xuống” (Ga 3,13). Câu chuyện Chúa lên trời được bài đọc 1 kể lại là một kiểu nói bình dân để diễn tả một mầu nhiệm Chúa Kitô Phục Sinh, tức là nhân tính của Chúa Giêsu được tôn vinh hay nói cách khác, được vào trong vinh quang Chúa Cha, được ngồi bên hữu Chúa Cha. Vì vậy, trong bài đọc 2, Thánh Phaolô quả quyết: “Người đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai”.

Cho nên, lễ Chúa Thăng Thiên không phải là một cuộc chia ly, tiễn đưa Chúa Giêsu vào một phương trời xa lạ và cắt đứt tương quan giữa ta với Ngài. Chúa về trời là có nghĩa rằng ta không còn thấy, đụng chạm, nghe Ngài bằng giác quan tự nhiên. Nhưng chúng ta vẫn có thể gặp gỡ Ngài bằng giác quan siêu nhiên của lòng tin thế nên, Chúa Giêsu nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20) là vậy đó!

Mừng lễ Chúa Thăng Thiên là mừng ngày Đức Giêsu được tôn vinh, hôm nay Ngài được hưởng vinh quang và danh dự của Thiên Chúa. Cho nên, Chúa về trời là bảo chứng rõ ràng nhất cho hy vọng của chúng ta đó là: được lên Thiên Đàng và hưởng vinh quang với Chúa Giêsu. Trời là đích điểm của đời Kitô hữu. Nhưng trời đã bắt đầu từ khi chúng ta bước vào vũ trụ của Chúa Giêsu Kitô, qua đức tin và các bí tích. Qủa thế, cuộc sống này không có gì là đời đời, không có gì là vĩnh viễn mà chỉ sự sống lại, sự sống hạnh phúc bên Chúa trên trời mới là đời đời, muôn năm hay vĩnh viễn mà thôi.

Tuy nhiên, trời không phải xây dựng trong mây trong gió, nhưng được xây dựng trong cuộc sống trần gian. Trời không phải là cõi mơ mộng viển vông, nhưng đã bắt đầu ngay trong thực tế cuộc đời hiện tại. Vì thế, Sứ thần của Chúa hôm nay đã quở trách các môn đệ: “Hỡi người Galilê! Sao cứ đứng đó mà nhìn lên trời?”. Các môn đệ đã hiểu ý. Các ông đã trở về với nhiệm vụ của mình, hoàn thành công việc dang dở của Chúa ở trần gian, làm chứng về tất cả những gì các ông đã được nghe, thấy được. “Các ông đã ra đi khắp nơi, rao giảng Tin Mừng cho mọi người; có Chúa cùng hoạt động với các ông, củng cố lời rao giảng bằng các phép lạ kèm theo” (Mc 16,20).

Rõ ràng, Chúa lên trời trước mặt các môn đệ và thúc giục các ông lập tức bắt tay vào việc xây dựng Nước Trời ngay ở trần gian khi các ông còn ở trần gian này và sẽ đồng hành với các ông mọi ngày cho đến tận thế. |Cũng vậy, đối với chúng ta ngày nay, Chúa lên trời nhắc chúng ta nhớ rằng quê hương chúng ta ở trên trời nên chúng ta hãy tìm kiếm những sự trên trời (Pl 3,20; Cl 3,1). Nói thế không có nghĩa là chúng ta phải “xuất thế”, phải xa lánh trần gian. Trái lại, cần phải nổ lực dấn thân “vào đời”, “nhập cuộc”. Có Chúa cùng hoạt động với chúng ta để “mở một tuyến đường lên trời từ mặt đất này” bằng những công việc xây dựng Nước Trời ngày này qua ngày khác; loại trừ những khổ đau, tội lỗi, tạo cho mọi người được sống ấm no, hiệp nhất, yêu thương nhau, cho mọi người được sống xứng đáng phẩm giá con người. Đó là con đường lên trời của chúng ta. Cho nên, trước khi lên trời, Chúa Giêsu sai mọi người vào đời: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.

Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án. Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ” (Mc 16,15-18). Vì thế, cho đến ngày nay, Giáo Hội cũng đã và đang “vào đời” như thế: Nói về Chúa, sống chứng nhân, sống gương mẫu, làm việc tốt, tha thứ cho người ghét mình, nghĩ tốt về người khác, rao truyền Tình Yêu Chúa, thực thi Lòng Chúa Thương Xót,…
Chúa lên trời, Ngài không bao giời rời bỏ chúng ta nhưng ở với chúng ta mọi ngày, mọi nơi mọi lúc: trong kinh nguyện và hoạt động, trong bí tích và trong anh chị em. Đặc biệt trong bí tích Thánh Thể, Chúa đến ở trong chúng ta, ban nguồn sinh lực giúp chúng ta hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nước Trời ở trần gian này là: yêu thương, tha thứ, sống Phúc âm trong đời sống gia đình, giáo xứ hay xã hội và loan báo Tin Vui cứu độ cho mọi người để một khi Nước Trời được hoàn thành Ngài sẽ trở lại trong vinh quang đón tất cả mọi người chúng ta lên trời về với Chúa Cha. Amen.

---------------------------

 

nTrời-421: Lễ Chúa Thăng Thiên


((Suy niệm của Aug. Trần Cao Khải)

“Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa” (Mc 16,19). “Người được cất lên ngay trước mặt các ông và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa” (Cv 1,9).

 

Biến cố thăng thiên đã được các thánh sử nhắc lại như một khẳng định chắc thực về việc Đức Giê-su LênTrời-421


Biến cố thăng thiên đã được các thánh sử nhắc lại như một khẳng định chắc thực về việc Đức Giê-su đã sống lại và đã ngự trị trong Nước vinh quang của Cha. Biến cố này cũng nhắc nhở rằng Ngài đã được phong là Chúa (Kyrios), là Đấng Kitô (Christos), là Vua (Messia) vinh hiển, vì Ngài đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh thiên sai, như Ngài đã nói trước khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, “Thế là đã hoàn tất” (Gio 19, 20). Chúa đã hoàn tất sứ mệnh cực kỳ gian khổ nhưng đầy vinh quang của Ngài và từ nay sứ mệnh ấy sẽ được trao phó lại cho Cộng đoàn thừa sai mà Ngài đã thiết lập. “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa con và Chúa Thánh Thần...” (Mt 28,19).

Có thể các môn đồ của Đức Giê-su ngỡ ngàng và hụt hẫng trước việc Chúa “ra đi” trong biến cố “thăng thiên” này, nhưng hơn ai hết các ông sẽ hiểu rằng Chúa “ra đi” thì có lợi cho họ, và rằng Ngài “đi” nhưng không rời xa họ, Ngài luôn hiện diện với họ cho đến ngày tận thế (x. Mt 28,20). Sứ vụ của Chúa chỉ kéo dài hơn 30 năm tại thế, nhưng sứ mệnh của Hội thánh thừa sai thì kế tục mãi đến ngày Quang Lâm của Chúa. Chính vì lí do đó mà Chúa rất quan tâm gầy dựng một Cộng đoàn thừa sai hoạt động thật hữu hiệu, thật chuyên cần và thật khẩn thiết.

Từ biến cố thăng thiên của Đức Giê-su, người Ki-tô hữu chúng ta có thể nhận ra 3 vấn đề liên quan sứ mệnh truyền giáo.

* MỖI NGƯỜI TÍN HỮU LÀ MỘT TÔNG ĐỒ.

Tông đồ là người được sai, nghĩa là nhà truyền giáo. “Nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ý định của Thiên Chúa ngày càng lan rộng tới tất cả mọi người ở mọi nơi và mọi thời đại. Vì thế, khắp nơi phải mở đường cho họ tích cực tham gia vào công cuộc cứu độ của Giáo Hội, tùy sức lực của họ và tùy nhu cầu của thời đại ” (Vat. II, LG 33). Vậy đã rõ, người Ki-tô hữu chúng ta không phải chỉ lo “có đạo, giữ đạo” cho riêng mình mà còn có nghĩa vụ và bổn phận “tham gia vào công cuộc cứu độ của Giáo Hội” nữa. Khi tham gia như thế, chúng ta không chỉ “làm tín hữu” mà còn làm người tông đồ, làm sứ giả Tin Mừng Đức Ki-tô...

Tuy nhiên, trước khi bắt tay vào công cuộc truyền giáo cách cụ thể, chúng ta được mời gọi đốt nóng lên nỗi băn khoăn thao thức muốn truyền giáo và sống đời truyền giáo. Quả vậy, chúng ta chưa thực sự truyền giáo nếu chúng ta chưa ước muốn truyền giáo, chưa cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo, chưa hi sinh cho sứ mệnh loan báo Tin Mừng...Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giê-su được tôn phong là “Bổn mạng các xứ truyền giáo” không do những công trình truyền giáo vĩ đại mà là do những thao thức “muốn đi truyền giáo” khắp nơi trên thế giới. Ngài truyền giáo bằng đời sống hi sinh âm thầm, bằng kinh nguyện liên lỉ và bằng ước muốn sâu xa từ trong cõi lòng.

Ước nguyện truyền giáo của chúng ta phải xuất phát từ nhận thức rằng truyền giáo là ơn gọi của mỗi người tín hữu, “Tất cả các phần tử trong Hội Thánh mỗi người mỗi cách đều được sai đi. Ơn gọi Ki-tô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ. Mọi hoạt động của Nhiệm Thể nhằm làm cho Nước Đức Ki-tô mở rộng trên khắp hoàn cầu được gọi là việc tông đồ” (x. GLHTCG số 863).

* TẤM GƯƠNG CỦA NHÀ TRUYỀN GIÁO.

Việc truyền giáo khởi sự từ chính bản thân người truyền giáo. “Ngày nay người ta sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn là những thầy dạy” (ĐGH Phaolô VI), câu nói này thường được nhắc đi nhắc lại nhằm giúp chúng ta khẳng định là “lời nói” không quan trọng bằng “tấm gương sống” của chứng nhân. Chính Chúa Giê-su cũng đã nhắc nhở: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14). Ki-tô hữu là ánh sáng, là muối, là men cho mọi tầng lớp con người chưa nhận biết Tin Mừng. Thế giới ngày nay khát khao những tấm gương chứng tá Tin Mừng cứu rỗi do Chúa loan truyền. Tấm gương về bác ái công bình, về lòng bao dung tha thứ, về sự hi sinh quên mình phục vụ, về nếp sống nghèo khó, tín thác và vâng phục, về thái độ dám nói “không” với đủ mọi loại tội.

Theo dõi tin tức trên báo chí hằng ngày, chúng ta rất dễ dàng thấy rằng con người ngày nay, kể cả lớp trẻ tuổi niên thiếu, đã thực sự đánh mất cảm thức về tội. Tội giết người, tội dâm ô, tội loạn luân, tội lường gạt, tội vô cảm, tội trộm cắp, tội tham ô, tội bạo hành trong gia đình, tội phá thai, tội tôn thờ bản thân và thần thánh hóa ngẫu tượng vv...Thực tế là chúng ta sẽ mãi mãi phải sống chung với tội, như người ta chấp nhận sống chung với lũ, với bão, với ngập lụt, với nạn kẹt xe, với tình trạng ô nhiễm môi trường... Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, một mặt chúng ta không bao che, không đồng lõa với tội vì chúng ta “sống trong thế gian mà không thuộc về thế gian”, một mặt chúng ta phải vươn cao, đứng thẳng hiên ngang làm chứng cho Tin Mừng như ngọn nến sáng trong đêm tối mịt mờ.

Có thể chúng ta sẽ không thể “nói” được nhiều, nhưng nhờ ơn Chúa, bản thân chúng ta sẽ trở thành tấm gương phản chiếu một góc độ nào đó của Tin Mừng Đức Ki-tô. Thực vậy, “Truyền giáo không chủ yếu là chuyển giao một lý thuyết, mà là chia sẻ một sự sống thiêng liêng có sức biến đổi con người nên người hơn và được trở thành con của Thiên Chúa Tình Yêu” (ĐGM GB Bùi Tuần, bài “Ra khơi từ đâu?”, tháng 2-2004). Tất cả chúng ta, một khi đã tin và lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, thì trở thành con cái Thiên Chúa. Nếu chúng ta sống tốt địa vị ấy, chúng ta sẽ là nhà truyền giáo có sức lôi cuốn đặc biệt và gây ngạc nhiên cho nhiều người. Bởi ngày nay, người ta sống thiếu thốn tình thương và hạnh phúc, thiếu vắng bình an và hi vọng. Bản thân và đời sống Ki-tô hữu sẽ trở thành chứng tá sống động của Tin Mừng một khi mỗi người chúng ta tích cực thực thi Lời Chúa: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau ” (Gio 13, 34-35).

Ngược lại, “Trong đời sống thường ngày cũng có câu truyện thương tâm: một cô ngoại giáo lấy ngươì công giáo, láng giềng, bà con thấy cô ta đẹp nết, giục cô ta vào đạo Chúa. Cô ta trả lời: Khi nào cháu thấy đạo Chúa hơn đạo Phật, cháu mới vào. Tìm hiểu, người ta biết được bà mẹ chồng rất siêng năng đọc kinh, dự lễ, đã từng bỏ ra chục triệu cùng với nhiều bà khác giúp cha sở đi Roma xin ơn Đức Giáo hoàng, nhưng bà đã từng sang (nhà) giật nồi, lấy niêu của một bà hàng xóm nghèo chưa có tiền trả nợ cho bà. Cô dâu in trong lòng hình ảnh không tốt về mẹ chồng và về đạo”. (Lm. FX. Nguyễn Hùng Oánh, “Bản chất của GH là truyền giáo”, VietCatholic News 18-10-2008).

* CHÚA LÊN TRỜI, MÔN ĐỆ VÀO ĐỜI.

Vào đời để nối tiếp công trình cứu độ của Chúa Giê-su. Vào đời, đó là mệnh lệnh của Chúa. Vì, như Chúa Cha đã sai Đức Giê-su thế nào, thì Chúa Con cũng sai chúng ta như vậy. Với ơn Chúa mà chúng ta cầu xin hằng ngày, với đức tin mà chúng ta nuôi dưỡng từ tấm bé đến giờ, với lòng mến mà chúng ta luyện tập thường xuyên, chúng ta sẽ mạnh mẽ và vững vàng bước vào cánh đồng truyền giáo bao la mà Chúa đang mong đợi chúng ta đến.

Theo ĐGH Gioan Phaolô II, cánh đồng truyền giáo ấy muôn dạng muôn vẻ, nhưng có thể đúc kết thành 3 nhóm: Nhóm những người chưa biết, chưa tin Đức Giê-su Ki-tô; Nhóm những người đã tin Đức Giê-su Ki-tô và đã lãnh nhận bí tích rửa tội, nhưng đã đánh mất niềm tin, rời bỏ Giáo hội, đang sống như người lương dân; Nhóm những người tin Đức Giê-su Ki-tô và đã được rửa tội (Nguyễn Văn Nội, “Loan báo Tin Mừng”- Hưởng ứng thư Mục Vụ 2003 của HĐGMVN, phần VI “Tông đồ giáo dân”).

Vậy tùy theo hoàn cảnh, điều kiện và môi trường cụ thể, chúng ta sẽ vận dụng sáng kiến và khả năng mình có để làm chứng Đức tin Ki-tô giáo và loan báo Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Dù ở đâu và vào thời điểm nào, chúng ta vẫn cần phải tạo nên bầu khí bác ái cho truyền giáo và chính bản thân chúng ta luôn là dấu chỉ của lòng mến Ki-tô giáo. Sự hiện diện của tông đồ giáo dân ở khắp nơi, trong mọi thời, vừa mang tính chứng tá lại vừa được xem như công cụ giới thiệu Tin Mừng cho nhân loại.

“Trước mặt nhân loại, mỗi giáo dân phải là chứng nhân của sự Phục sinh và sự sống của Chúa Giê-su Ki-tô, đồng thời là dấu hiệu của Thiên Chúa hằng sống. Tất cả và mỗi người góp phần nuôi dưỡng thế giới này bằng những hoa trái thiêng liêng (x. Gl 5,22) và truyền bá cho thế gian tinh thần của những người nghèo khó, hiền lành và hiếu hòa, những người mà Phúc Âm Chúa đã tuyên bố là có phúc (x. Mt 5,3-9). Tóm lại, người Ki-tô hữu hãy làm cho thế giới sống như linh hồn làm cho thân xác sống” (Vat II, LG 38).

---------------------------

 

nTrời-422: Chúa lên Trời - Ta và đời


(Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.)

 

Khi sai Con của mình xuống trần gian, Thiên Chúa Cha đã có một kế hoạch đầy yêu thương dành LênTrời-422


Khi sai Con của mình xuống trần gian, Thiên Chúa Cha đã có một kế hoạch đầy yêu thương dành cho nhân loại. Mục đích của kế hoạch ấy chính là quy tụ muôn người về một mối trong Nước Trời. Vì thế, khi Đức Giêsu đến, Ngài đã loan báo về Nước Trời và triều đại của Thiên Chúa; chiêu mộ và huấn luyện các môn đệ; thiết lập Giáo Hội… ; và cuối cùng, Ngài đã chấp nhận cái chết nhục nhã trên thập giá để hoàn tất kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa Cha. Khi đã kết thúc cuộc sống tại thế, Ngài được Thiên Chúa Cha ân thưởng vinh quang trên Nước Trời.

Nhưng, trước khi về trời, Đức Giêsu đã chuyển trao cùng một sứ vụ ấy cho các môn đệ, để các ông tiếp tục loan báo về Nước Thiên Chúa cho mọi người.

1. Chuyển giao sứ vụ cho các môn đệ

Giờ đã điểm, Đức Giêsu đã hẹn: “Mười một môn đệ đi tới Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã hẹn với các ông” (Mt 28,16).

Khi các môn đệ thấy Đức Giêsu, chẳng ai bảo ai: “Các ông phục lạy Ngài” (Mt 28,17).

Khi phục lạy như thế, các môn đệ muốn bày tỏ sự hiểu biết của mình về Đức Giêsu. Vì khi phục lạy ai thì nơi người ấy phải tôn nhận uy quyền với người mình phục lạy.

Hành vi này chúng ta cũng đã thấy nơi ba nhà Đạo Sĩ khi gặp được hài Nhi Giêsu, các ông đã phục lạy và tôn nhận vương quyền của Ngài (x. Mt 2,11). Hay như những người bị bệnh mà được Đức Giêsu chữa lành, trong số đó phải kể đến người phong hủi được lành sạch (x. Mt 8,2). Hôm nay, đứng trước sự huy hoàng của vinh quang phục sinh nơi Đức Giêsu, và hơn thế nữa, các ông nhận thấy mọi quyền năng, vinh quang và danh dự được trao ban cho Đấng Phục Sinh, vì vậy, các ông đã phục lạy Ngài.

Tiếp theo, Đức Giêsu đã tiến lại gần họ và phán: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân” (Mt 28,18). Qua lệnh truyền này, Đức Giêsu chính thức chuyển trao sứ vụ của Ngài cho các môn đệ là những người sẽ tiếp bước trong tương lai.

Vì thế, sau khi nhận lãnh, các ông có trách nhiệm loan báo Tin Mừng đến tận cùng trái đất, làm phép rửa cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

Như một lời trấn an trước nghĩa vụ quan trọng mà các ông vừa nhận được, ĐỨc Giêsu đã nói:”Này đây, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”(Mt 28,20).

Tuy nhiên, dù về trời, nhưng Đức Giêsu vẫn hiện diện cách vô hình, và sứ vụ của các môn đệ luôn luôn có sự đồng hành của Đức Giêsu. Vì thế, Ngài đã nói: “Này đây, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Điều này đã xác tín mạnh mẽ về sự hiện diện của Đức Giêsu với sứ vụ của các môn đệ. Đây là niềm vui mừng và động lực mạnh mẽ để các ông ra đi thi hành sứ vụ.

Sau những giây phút chứng kiến cảnh huy hoàng cũng như lãnh nhận sứ vụ, các ông hân hoan trở về để cùng nhau xây dựng và phát triển Giáo Hội. Nhất là loan báo triều đại Thiên Chúa đã đến gần, kêu gọi mọi người sám hối và lãnh nhận phép rửa để được cứu độ.

2. Chúa lên trời – ta vào đời

Cùng một sứ vụ mà Đức Giêsu đã trao phó cho các môn đệ, hôm nay, Ngài cũng trao phó cho mỗi người chúng ta.

Lời thiên thần nhắc các môn đệ: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời?” (Cv 1,11) cũng là lời nhắc nhở mỗi người chúng ta.

Chúa lên trời là niềm hy vọng cho chúng ta, vì Ngài đi để dọn chỗ cho chúng ta: “Thầy ra đi để dọn chỗ cho các con, để Thầy ở đâu, các con sẽ ở đó với Thầy”. Thánh Phaolô cũng đã xác tín khi nói: “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21).

Tuy nhiên, chúng ta không chỉ giữ niềm hy vọng ấy cho riêng mình. Chúng ta cũng không chỉ dừng lại ở việc tin vào lời Đức Giêsu đã truyền dạy, nhưng chúng ta cũng phải loan báo cho nhân loại về niềm hy vọng và niềm tin mà chúng ta đã nhận được. Để qua đó: chúng ta hãy đi “và làm cho muôn dân thành môn đệ” (Cv 1,11).

Nhưng, điều quan trọng, đó là chúng ta loan báo Tin Mừng bằng cách nào?
Lời Đức Giêsu hôm nay đã vạch ra cho các môn đệ và cho mỗi người chúng ta kế hoạch truyền giáo để cho có hiệu quả như:

Trước tiên là: “Hãy đi giảng dạy muôn dân”. Lời rao giảng rất cần thiết, vì như thánh Phaolô đã nói: “Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng?” (Rm 10,14). Tuy nhiên, nếu chỉ rao giảng không thôi thì chưa đủ, mà lời rao giảng quan trọng và hùng hồn nhất là bằng đời sống của người loan báo. Chính lời nói và hành động ăn khớp với nhau làm nên sự thống nhất nơi người môn đệ, và như thế, lời loan báo mới khả tín, đáng tin và đem lại niềm hy vọng cho người nghe.

Thứ đến là: “Làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”. Qua lệnh truyền này, Đức Giêsu cho thấy: Ba Ngôi chính là nội dung và cùng đích của lời rao giảng. Mọi hành vi khi thi hành sứ vụ loan báo Lời Chúa phải quy hướng về Ba Ngôi như là nguồn cội. Tách ra khỏi điểm tựa này, chúng ta sẽ bị rơi vào trạng thái vô định mất phương hướng.

Tiếp theo là: “Giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con”. Người môn đệ chỉ là người được sai đi để quy tụ muôn dân về với Đấng đã sai mình. Vì thế, không phải nhân danh cá nhân của mình để phô trương tài cán công lao của bản thân, mà ngược lại, phải trung thành loan báo chính lời của Thầy Giêsu. Chỉ khi nào chúng ta loan báo Lời Chúa cách trung thực, thì bản thân người loan báo mới cảm nhận được hạnh phúc và người nghe mới thấy được niềm hy vọng.

Mặt khác: nội dung của lời rao giảng chính là: “Loan báo về một Vị Thiên Chúa nhân từ, giàu long thương xót với hết mọi người. Ngài đến để yêu họ và yêu đến cùng, nên đã chết thay cho nhân loại để nhân loại được sống và sống dồi dào”. Vì thế, trước, trong và sau khi loan báo, chúng ta hãy: “Yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương anh chị em chúng ta như chính mình”. Làm được điều đó, lời rao giảng của chúng ta mới thành công, nếu không, mọi lời rao giảng chỉ như chiếc phèng la điếc tai thiên hạ mà không có kết quả.

Cuối cùng, trong mọi biến cố của cuộc đời, nhất là mọi thăng trầm của công cuộc loan báo Tin Mừng, chúng ta an vui và vững bước vì có Đức Giêsu luôn ở cùng để bảo vệ, nâng đỡ như lời Ngài đã phán: “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.

Hôm nay cũng là ngày Giáo Hội chọn làm ngày quốc tế truyền thông. Khi chọn như vậy, Giáo Hội đề cao vai trò của truyền thông trong việc chuyển tải sứ điệp Tin Mừng. Vì thế, chúng ta hãy biết tận dụng và chắt lọc khi sử dụng những phương tiện truyền thong như: ti vi, báo đài, điện thoại, Internet và các mạng xã hội toàn cầu để loan báo Lời Hằng Sống cho nhân loại.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa về trời là niềm hy vọng cho chúng con. Xin Chúa ban cho chúng con luôn hướng lòng lên trời, để ái mộ những sự trên trời. Ngõ hầu mai ngày chúng con cũng sẽ được hưởng trọn vẹn niềm vui Nước Trời. Amen.

---------------------------

 

nTrời-423: Chúa về trời, con vào đời


(Suy niệm của Trầm Thiên Thu)

 

Chúa Giêsu vinh hiển về trời, còn chúng ta phải hiên ngang vào đời để làm chứng về Đức-Kitô-chịu LênTrời-423


Chúa Giêsu vinh hiển về trời, còn chúng ta phải hiên ngang vào đời để làm chứng về Đức-Kitô-chịu-chết-và-phục-sinh, về Tình Yêu Vô Biên của Thiên Chúa, về Lòng Thương Xót của Ngài. Chúa Giêsu về trời là bảo chứng chắc chắn chúng ta cũng sẽ được về trời. Với hy vọng đó, chúng ta có thể can đảm và kiên trì vượt biển-đau-khổ-trần-gian để cặp Bến Bình An Thiên Quốc.

Theo sách Công vụ Tông đồ (Cv 1:1-11), Chúa Giêsu đã dạy bảo các Tông đồ mà Ngài đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần. Ngài còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy Ngài vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: Trong 40 ngày, Ngài đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Chúa.

CHÚA VỀ TRỜI

Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông đồ, Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, đó là “ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần”. Bấy giờ những người đang tụ họp ở đó tò mò hỏi: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không?”. Chắc là các ông cũng muốn “thơm lây” gì đó, vì con người vẫn nuôi hy vọng “một người làm quan, cả họ được nhờ”. Nhưng Chúa Giêsu thản nhiên: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:7-8).

Nói xong, Ngài được cất lên ngay trước mắt các ông, khiến các ông chưng hửng và ngơ ngẩn. Lúc đó có đám mây quyện lấy Ngài, khiến các ông không còn thấy Ngài nữa. Bó tay! Đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Ngài đi, bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Ngài lên trời” (Cv 1:11).

Chúa đi rồi chắc hẳn các ông buồn lắm, và cũng có thể “trách yêu” là sao Thầy đi mà không nói trước. Các ông cũng có thể buồn vì từ nay không còn Đại Sư Phụ thì không biết xoay xở thế nào. Con người mà! Đại Sư Phụ biết lắm, thế nên Ngài đã hứa ban Chúa Thánh Thần để đủ tự tin mà hành động vì Chúa: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:8). Tất nhiên, Ngài hứa gì thì luôn thực hiện đúng.

Từ khi phục sinh, Chúa Giêsu không còn nhân tính mà chỉ còn thiên tính. Ngài ẩn hiện thoăn thoắt. Nay Ngài lại về trời, nghĩa là chúng ta cũng chắc chắn sống lại và về trời với Ngài. Vì thế: “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu” (Tv 47:2-3). Đồng thời, chúng ta “hãy đàn ca, đàn ca lên mừng Thiên Chúa, đàn ca lên nào, đàn ca nữa kính Vua ta!” (Tv 47:7). Thật vậy, “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu”, nên chúng ta phải “dâng Ngài khúc đàn ca tuyệt mỹ”. Tất nhiên những gì là tuyệt vời nhất thì phải được dành cho Thiên Chúa, vì “Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân, Thiên Chúa ngự trên toà uy linh cao cả” (Tv 47:9).

Vui mừng là biểu hiện có Chúa trong tâm hồn, nghĩa là chúng ta đang được Chúa Thánh Thần tác động. Chúng ta được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần, đủ can đảm đi giữa bầy sói mà không hề run sợ…

CHÚNG TA VÀO ĐỜI

Thánh Phaolô nói: “Tôi là người đang bị tù vì Chúa” (Ep 4:1a). Tự nhận là “tù nhân của Chúa” nên Thánh Phaolô không ngại nói: “Tôi khuyên nhủ anh chị em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh chị em. Anh chị em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh chị em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau” (Ep 4:1b-3). Ai cũng được Thiên Chúa kêu gọi, mỗi người mỗi trách nhiệm, mỗi người một loại “nén”, vấn đề là dùng những “nén” đó bằng cách nào và với mục đích gì. Không ai có quyền tự cho rằng “nén” của mình “có giá” hơn “nén” của người khác. Trước mặt Chúa, mọi người đều bình đẳng!

Bằng nhau ư? Đúng, vì “Thiên Chúa không thiên vị người nào. Hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Ngài tiếp nhận” (Cv 10:34). Vả lại, như Thánh Phaolô nói: “Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh chị em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng” (Ep 4:4). Đặc biệt là “chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa” (Ep 4:5). Thế thì sao không bình đẳng? Đúng là “chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người”, nhưng “mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tuỳ theo mức độ Đức Kitô ban cho” (Ep 4:7). Đó là điều mầu nhiệm, trí tuệ loài người không thể phân tích hoặc giải nghĩa thấu tình đạt lý.

Thánh Phaolô dẫn chứng rất lạ: “Có lời Kinh Thánh nói: Ngài đã lên cao, dẫn theo một đám tù; Ngài đã ban ân huệ cho loài người” (Ep 4:8). “Đám tù” đó là chúng ta chứ còn ai trồng khoai đất này nữa, vì chúng ta đều là những tử tù được Đức Kitô chịu chết để giải thoát chúng ta khỏi chốn-lao-tù-tội-lỗi-trầm-luân. Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Ngài đã lên nghĩa là gì, nếu không phải là Ngài đã xuống tận các vùng sâu thẳm dưới mặt đất? Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi tầng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn” (Ep 4:9-10). Hai động thái trái ngược là “lên” và “xuống”, nhưng hai động thái đó đều do chính Đấng-đã-chết-và-sống-lại thực hiện.

Ý Chúa quá mầu nhiệm: “Chính Ngài đã ban ơn cho kẻ này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ” (Ep 4:11). Vì thế mà tạo nên xã hội, cộng đoàn. Ai cũng làm giám đốc thì lấy đâu có công nhân? Ai cũng làm tổng thống thì lấy đâu nhân dân? Nếu vậy, ơn gọi “làm nhỏ” có khi còn quan trọng hơn ơn gọi “làm lớn” đấy. Vì Chúa Giêsu đã xác định: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9:35). Ngài luôn bảo người ta “làm nhỏ” chứ không khuyên ai “làm lớn”, nhưng người ta thích làm ngược lại. Đừng khinh suất hoặc ảo tưởng! Thánh Phaolô giải thích: “Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4:12-13). Đó là cả một chu-trình-vào-đời của bất kỳ ai.

Chúa Giêsu sai mọi người vào đời khi Ngài nói: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án” (Mc 16:15-16). Ai thật và ai giả cũng được Ngài nói trước: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ” (Mc 16:17-18).
Thánh Máccô kể: “Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16:19-20). Và cho đến ngày nay, nhiều người cũng đã và đang “vào đời” như thế: Nói về Chúa, sống chứng nhân, sống gương mẫu, làm việc tốt, tha thứ cho người ghét mình, nghĩ tốt về người khác, rao truyền Tình Yêu Chúa, thực thi Lòng Chúa Thương Xót,…

Lạy Chúa, xin thêm cho chúng con ba đức đối thần (tin, cậy, mến) và các đức đối nhân để chúng con làm hành trang vào đời theo lệnh truyền của Đức Giêsu Kitô, Con Một của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Đại Sư Phụ Giêsu, Thiên Chúa Cứu Độ của chúng con. Amen.

---------------------------

 

nTrời-424: Đường lên trời


(Suy niệm của PM. Cao Huy Hoàng)

 

Cây Thánh Giá có hai chiều ngang dọc. Chúa xuống thế theo chiều dọc. Ngài đã đi giữa cuộc đời LênTrời-424


Cây Thánh Giá có hai chiều ngang dọc. Chúa xuống thế theo chiều dọc. Ngài đã đi giữa cuộc đời theo chiều ngang, rồi lại về Trời theo chiều dọc thẳng đứng. Hành trình dương thế của mỗi tín hữu được ghi ấn tín là Thánh Giá Chúa Kitô trên thân mình, trong cuộc đời, hẳn phải bước theo sát dấu chân, theo đúng hành trình Chúa Kitô. Với xác tín ấy, mỗi tín hữu không thể muốn bay lên Trời theo chiều dọc, mà lại không muốn đi ra khỏi lâu đài của mình theo chiều ngang để đến với tha nhân, với cuộc đời.

Chúa Giêsu đã lên Trời, về ngự bên hữu Thiên Chúa Cha trên ngai tòa với vương quyền thống trị cả vũ hoàn, đại đế khắp trên trần gian… ( Tv 46 ). Thế thì, những tưởng nhắc lại chuyện Thánh Giá của Chúa Kitô có phải là chuyện không hợp thời chăng? Hay là nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng cho thân phận Con Thiên Chúa?

Thiết tưởng, trình thuật về biến cố lên Trời của Chúa Giêsu hôm nay qua nét bút của Thánh Marcô, trình bày một bức họa sống động: Bức Họa Thánh Giá.

Có phải thế không? Ô kìa! Chúa Giêsu lên Trời, một chiều thẳng đứng, và các Tông Đồ ra đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng theo chiều ngang. Như thế không phải đã tạo nên một bức họa Thánh Giá tuyệt vời ấy sao? “Vậy sau khi nói với các môn đệ, Chúa Giêsu lên Trời, và ngự bên hữu Thiên Chúa. Phần các ông, các ông đi rao giảng khắp mọi nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố lời rao giảng bằng những phép lạ kèm theo” ( Mc 16, 20 ).

Sẽ không còn là chuyện tưởng tượng hay ảo tưởng, nhưng là một sự thật từ căn tính của biến cố lên Trời: Chúa Giêsu Lên Trời, Chúa không bảo các Tông Đồ “hãy cùng lên Trời với Ta”, nhưng lại bảo các Tông Đồ “hãy ra đi rao giảng Tin Mừng”.

Vậy, muốn bay lên tới tận Trời hãy bay ra khỏi lòng mình mà đi tới với mọi người, mời gọi mọi người và cùng mọi người bay lên tới cõi cao siêu, nơi gặp gỡ Tình Yêu Thiên Chúa. Đó cũng chính là sứ điệp Tin Mừng hôm nay: "Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho muôn thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, thì sẽ được cứu độ; ai không tin, sẽ bị luận phạt.” Đó không phải là thông điệp nhắc tới mầu nhiệm Thánh Giá sao?

Nếu trước đây đời sống đạo đức của Giáo Dân chỉ theo một chiều dọc là hướng lòng lên tới Thiên Chúa, ái mộ những sự trên Trời, và có thể đã xếp lệnh truyền ra đi theo chiều ngang là hàng thứ yếu, thì hôm nay, đã có bao tín hữu thực hiện vừa song toàn vừa cân đối lại vừa đúng thánh ý Chúa hơn: Quan tâm đến cuộc sống đời thường của tha nhân, làm cho cuộc sống ấy nên hoàn thiện hơn, và cùng tha nhân hướng về Quê Trời: cốt lõi của việc Rao Giảng Tin Mừng.

Quan tâm đến đời thường, quan tâm đến tất cả chiều kích làm nên cuộc sống phàm tục của mỗi con người. Cuộc sống ấy có xác có hồn, có tương quan nhân vị và có tương quan siêu nhiên, vô hình. Tạm gọi là đời thường, vì cái nhìn quá xoàng thường dành cho một hành trình dương thế vẫn cụ thể nơi chúng ta, mà quên rằng, giá trị vĩnh cửu bắt nguồn từ cuộc vượt qua những điều xoàng thường ấy. Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội Công Giáo đã mở ra cho mọi người một hướng đi ra với chiều ngang cần thiết cách cấp bách nhất, hướng tới những điều tưởng như rất xoàng thường, nhưng xác tín có sự can thiệp của Thiên Chúa, Đấng khôn ngoan thượng trí, làm cho những điều xoàng thường ấy trở nên bậc thang của đường lên Trời.

Vì thế, việc cần thiết thể hiện sự quan tâm ấy không cho phép chúng ta đứng hay ngồi yên vị một chỗ ở trên cao mà ngó xuống, một chỗ êm ấm trong nhà ngó ra, một chỗ ích kỷ trong lòng mình không thèm ngó ra hay ngó xuống… mà phải thực hiện ngay một cuộc vi hành cần có, vi hành đến tận hang cùng ngõ hẻm, đến tận vực sâu xoàng thường nhất trong thiên hạ, trong cõi nhân sinh. “Các con hãy đi khắp thế gian…”

Muốn đi khắp thế gian hẳn phải ra khỏi vỏ ốc của mình. Trong cái vỏ ốc ấy chứa đựng biết bao là định kiến, kỳ thị, phân cấp, óc thống trị, quyền bính… nhưng cũng chứa đựng cả sự lười lĩnh, nhát đảm, sợ hãi, ngại khó, lòng tham, vô cảm…

Những thứ lỉnh kỉnh trong cái vỏ ốc ấy cứ như những gông cùm, xiềng xích nó trói con người ta lại không cho bước ra, huống chi chuyện cất bước lên đường? Kẻ này nhìn người kia, người kia nhìn kẻ nọ, thấy ai cũng yên vị trong pháo đài, trong lô cốt mà giữ cái đạo chiều dọc của mình, làm phát sinh sự thiếu vắng trầm trọng những gương mẫu chiều ngang cần thiết của việc “Ra Đi Loan Báo Tin Mừng”.

Con số các tín hữu Công Giáo khiêm tốn trên tổng dân số Việt Nam là con số biết nói hai điều: một là chúng ta đã có một thời tự thu mình trong cái vỏ ốc cầu an, hai là đã đến lúc chúng ta phải ra khỏi cái vỏ ốc ấy để đối diện với một toàn cảnh xã hội đang có nguy cơ xóa nhòa ảnh hưởng của Tin Mừng, và khẩn cấp khơi dậy ý thức “Ra Đi” cho đúng nghĩa lệnh truyền Chúa Giêsu. Việc ra khỏi vỏ ốc của mình mà đến với tha nhân, đồng nghĩa với việc thiết lập một Thánh Giá mới trên cuộc đời mình, và đó là bảo chứng cho một niềm hy vọng được lên Trời của chính mình hôm nay và mai sau.

Làm cho cuộc sống của tha nhân nên hoàn thiện đòi hỏi phải chấp nhận không ít những gian lao đau khổ, thậm chí có thể phải hy sinh cả danh dự, hy sinh cả sự nhàn nhã, yên ổn, hy sinh cả quyền cao chức trọng, hy sinh cả tánh mạng… Và đó lại là yêu cầu chính yếu của lệnh truyền: Hãy ra đi loan báo Tin Mừng. Tự việc ra khỏi vỏ ốc lòng mình đã là một chặng đường từ Thập Giá đến Thánh Giá.

- Trước tiên hoàn thiện phẩm vị làm con cái Thiên Chúa. Vâng, có thể thấy: đang có những người chưa tin vào Thiên Chúa. Có người chống lại Thiên Chúa. Có người tin Thiên Chúa nhưng không tin người có đạo. Cũng đang có những người có đạo, nhưng không giữ luật Chúa, giữ luật Giáo Hội như bạn, như tôi và có thể như hết thảy chúng ta.

Sứ điệp ra đi hẳn đang mời mỗi chúng ta phải là người trước tiên giữ luật Chúa, giữ luật Giáo Hội, để tha nhân nhìn thấy cuộc sống của chúng ta mà ngợi khen Cha trên Trời. Bởi người ta không tin hoặc chống lại Thiên Chúa cũng là do một phần cuộc sống của chúng ta cũng không hay ho tốt lành gì, không là họa ảnh xinh đẹp của những người làm con Chúa, không là họa ảnh là anh cả anh hai con lớn của Chúa trong đoàn chiên, không là họa ảnh tốt lành của Thiên Chúa giàu lòng thương xót và công minh chính trực.

Đức Tin Cậy Mến và đời sống chân chính sẽ là gương phản chiếu ánh sáng Tin Mừng vào bóng tối trần gian. Thánh Phaolô nói: “Khốn cho tôi nếu tôi không Rao Giảng Tin Mừng” nhưng thiết nghĩ còn “khốn cho tôi hơn nếu tôi không sống Tin Mừng”. Vì thứ nhất, tôi chẳng được phúc gì cho tôi, và thứ hai chẳng đem được phúc gì cho người, cho đời. Không ai có thể cho cái mình không có.

Ngày nay, nhiều tín hữu đã ý thức hơn về sứ mệnh Loan Báo Tin Mừng. Họ gia nhập đoàn này, hội nọ với mục đích thánh hóa bản thân và loan báo Tin Mừng, tự hoàn thiện chính mình và hoàn thiện tha nhân. Đó là tín hiệu đáng vui mừng cho Giáo Hội. Tuy nhiên họ cũng gặp không ít những cản trở, khi chưa có một sự đồng thuận, nhất tâm chung trong mọi thành phần Dân Chúa.

Hai hội viên Legio hướng đến một người bỏ xưng tội lâu năm chỉ vì bất mãn một cha xứ. Họ cầu nguyện chung, riêng. Họ đi thăm năm lần bảy lượt đến mòn đường chết cỏ. Họ tìm đủ cách khuyên giải để một hối nhân trở về với Thiên Chúa, qua Tòa Cáo Giải. Họ vui mừng vì đương sự đã thành tâm tha thiết trở về. Họ gõ cửa cha xứ xin cho hối nhân xưng tội. Và điều gì đã xảy ra? Có người được xưng tội ngay, bất cứ giờ nào, ra về lòng thanh thản. Có người bị từ chối ngay vì đến không đúng giờ giải tội, quay đi thấy tủi thân, càng bất mãn hơn!

- Và sau đó làm cho hoàn thiện phẩm giá làm người, có nhân vị, có tự do, có chính nghĩa, có luân thường đạo lý, có công lý, có đạo đức… xứng với Tin Mừng Chúa dạy.
Thật đáng tiếc, có quá nhiều minh họa cụ thể trong muôn vàn bức tranh tương phản, bất nhất trong Giáo Hội hôm nay: Thiếu vắng sự “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” giữa Giáo Dân và Giáo Sĩ, thiếu vắng sự hướng dẫn, cỗ vũ, trợ giúp khi Giáo Dân làm Tông Đồ trong thế giới ngày nay giữa muôn vàn làn tên mũi đạn của những bất công gian dối, bạo lực côn đồ, thiếu vắng chỗ dựa vững chắc nơi cây cao bóng cả, lại còn bị cho là “bao đồng” làm mất ảnh hưởng, mất thế giá của hàng Giáo Sĩ, của Giáo Hội. Hoặc kẻ nào hăng say dấn thân bênh vực cho Công Lý của Chúa, hăng hái bước ra và bước đi đến mọi cảnh ngộ gian trần bất kể là ở đó có kẽm gai, có dùi cui, có lựu đạn cay, có hàm oan tù tội… thì lại bị chính anh em cho là kẻ dại dột, thiếu khôn ngoan, liều lĩnh, và thế thì… “sống chết mặc bay”!

Lời Chúa hôm nay củng cố cho mỗi chúng ta một xác tín: chỉ có khi nào thực sự bước đi theo con đường của Chúa là đưòng đến với trần gian và làm cho trần gian nên hoàn thiện mới là con đường đích thực lên Trời.

Con đường của Chúa Giêsu không phải là con đường ẩn mình trong cái vỏ ốc cầu an, nhưng là con đường đi ra với tha nhân và đi lên với Thiên Chúa: Con đường Thánh Giá.

Lạy Chúa Giêsu, lệnh truyền của Chúa đang thôi thúc chúng con thánh hóa bản thân và ra khỏi cái ích kỷ của mình để làm chứng cho mọi người biết rằng: chân lý của Chúa Giêsu phải là chân lý toàn thắng.

Xin cho chúng con biết ngưỡng vọng lên Trời, về cuộc sống vĩnh cửu bằng chính sự quan tâm đến đời thường hôm nay, và nhờ ơn Chúa, hoàn thiện đời thường của mình và của mọi người. Amen.

------------------------------

 

nTrời-425: Khởi điểm cho một kỷ nguyên mới


(Suy niệm của Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

A. DẪN NHẬP

 

Hôm nay Giáo hội long trọng cử hành mầu nhiệm vinh quang Chúa lên trời. Thực sự, Chúa đã LênTrời-425


Hôm nay Giáo hội long trọng cử hành mầu nhiệm vinh quang Chúa lên trời. Thực sự, Chúa đã lên trời vinh quang ngự bên hữu Cha Ngài ngay khi sống lại mà ta không cảm nghiệm được. Ngày lễ hôm nay kết thúc cuộc sống trần gian của Đức Giêsu trước sự chứng kiến của các môn đệ. Đức Giêsu lên trời không có nghĩa là Ngài rời bỏ chúng ta, trái lại, Ngài còn hiện diện hơn lúc nào hết giữa chúng ta ngay từ hôm nay: ”Thầy sẽ ở lại với các con mọi ngày cho đến tận thế”.

Chúa về trời nhưng Ngài muốn Giáo hội – là cánh tay nối dài của Ngài - tiếp nối công cuộc cứu chuộc của Ngài cho đến ngày tận thế. Nếu Chúa nói với các môn đệ ngay vào lúc từ giã họ: ”Các con hãy là những chứng nhân của Thầy cho toàn thế giới”(Cv 1,8) thì ngày nay Giáo hội cũng phải là chứng nhân trung thành của Ngài trong việc rao giảng Tin mừng, đem Chúa đến cho mọi người mọi nơi.

Ngoài ra, Thánh lễ hôm nay cũng nhắc nhở chúng ta hướng lòng về trời là quê hương của chúng ta, nơi mà Đức Giêsu đã dọn sẵn và đang đón chờ chúng ta. Nhưng muốn về trời ta phải cố gắng sống đời chứng nhân cho tốt và chu toàn nhiệm vụ của mình theo thánh Chúa.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: Cv 1.1-11

Thánh Luca mởi đầu sách Công vụ Tông đồ bằng cách tường thuật lại cho ông Thêôphilê việc Đức Giêsu trước khi giã biệt các Tông đồ đã trao ban cho họ những huấn lệnh cuối cùng và trọng trách tiếp nối công cuộc cứu độ của Ngài cho thế giới. Ngài còn hứa sẽ hiện diện với các ông cho đến ngày tận thế.

Ngày Đức Giêsu về trời không phải là kết thúc công việc của Ngài, nhưng việc Ngài về trời là một khúc quặt trong lịch sử cứu độ. Ngày Chúa về trời là một trang sử mới bắt đầu: Lịch sử của hoạt động Đức Giêsu hiện diện trong thế giới và Giáo hội cùng với sự hỗ trợ của Chúa Thánh Thần.

Vâng theo lời căn dặn của Đức Giêsu phục sinh, các Tông đồ họp lại trong nhà Tiệc ly để đón nhận lời Ngài đã hứa: Chúa Thánh Thần hiện xuống. Vì chưa nhận lãnh Chúa Thánh Thần nên các tông đồ chưa hiểu rõ những lời giảng dạy của Chúa, nhưng các ông sẽ hiểu rằng các ông được Chúa Kitô tuyển chọn để trở thành những chứng nhân của Ngài cho đến tận cùng thế giới.

+ Bài đọc 2: Ep 1, 17-23

Thần khí khôn ngoan mà thánh Phaolô cầu xin cho các tín hữu Êphsêsô phải soi lòng mở trí họ “hiểu biết” kế hoạch của Thiên Chúa thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô. Không ai có thể tuyên xưng lời tối thượng của Đức Kitô mà không thán phục quyền năng lạ lùng của Thiên Chúa được biểu dương nơi Đấng chịu đóng đinh. Chính quyền năng ấy từ nay sẽ được thi thố nơi loài người để tạo nên một thân thể có Đức Kitô là Đầu và đạt đến sự viên mãn mà nhân loại hằng tìm kiếm. Tin vào ưu thế tuyệt đối của Đức Kitô, chính là ngay từ bây giờ góp phần vào sứ mạng của Hội thánh, là biết nhìn nhận một ý nghĩa và một nội dung cho niềm hy vọng. Trong viễn tượng này, mầu nhiệm Thăng Thiên làm cho ta hiểu rằng cùng với Đức Kitô, một kỷ nguyên mới đang được mở ra cho nhân loại.

(Jean Frisque, Hướng dẫn gặp gỡ Lời Chúa mỗi ngày, tr 124)

+ Bài Tin Mừng: Mc 16,15-20

Trước khi về trời, Đức Giêsu còn hiện ra với Mười một Tông đồ để dạy dỗ các ông những điều sau cùng. Thánh Luca thuật lại những nét chính yếu về các huấn lệnh và chỉ thị của Đức Giêsu cho các ông. Theo đó, Đức Giêsu nhắc nhở cho các ông hai điều:

a) Ngài sai các ông loan báo Tin mừng: ”Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loại thọ tạo”.

b) Tin cậy giao phó cho các ông sứ mạng này, Đức Giêsu bảo đảm với các ông rằng Ngài sẽ mãi mãi trợ giúp họ, tăng cường lời giảng dạy của họ bằng những đặc sủng: làm phép lạ như trừ qủi, nói tiếng lạ, cầm rắn trong tay, chũa bệnh...

Các Tông đồ vâng lời Thầy, đi khắp nơi loan báo Tin mừng, và những lời hứa đã thành sự thật: ”Có Chúa cùng hành động với các ông, và củng cố lời giảng dạy bằng những phép lạ kèm theo”(Mc 16,20).

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

Sứ mạng loan báo Tin mừng

I. CHÚA GIÊSU VỀ TRỜI

1. Sự kiện:

Sau khi sống lại, Đức Giêsu còn ở lại trần gian 40 ngày, hiện ra với các môn đệ, dạy dỗ các ông nhiều điều mà trước đó Ngài chưa có thời giờ dạy hết. Hôm nay thánh sử Marcô cho chúng ta biết “Sau khi nói với các môn đệ, Chúa Giêsu lên trời, và ngự bên hữu Thiên Chúa”(Mc 16,19).

Bài Tin mừng Thánh lễ hôm nay của thánh Marcô thuật lại việc trước khi chấm dứt sứ mạng ở trần gian để về trời, Đức Giêsu đã trao cho các tông đồ sứ mạng tiếp tục công việc của Ngài là rao giảng Tin mừng cho muôn dân.

2. Ý nghĩa việc lên trời

Việc Đức Giêsu lên trời có hai ý nghĩa hay có hai cách hiểu:

- Khi sống lại Đức Giêsu đã được tôn vinh. Cuộc tôn vinh đó đã được diễn ra chính vào lúc Chúa sống lại, Chúa lên trời ngay, giác quan không thể cảm nghiệm được, chúng ta chỉ có thể nhận thức bằng con mắt đức tin. Và sau đó, Chúa đã hiện ra với các Tông đồ nhiều lần để củng cố niềm tin của họ trong một thời gian mà sách Công vụ tông đồ xác định là 40 ngày.

- Nhưng có một dữ kiện thứ hai có tính cách lịch sử, cảm nghiệm được dựa trên chứng cứ của những người tai nghe mắt thấy, như thánh Luca cho biết: ”Vài tuần sau lễ Vượt Qua, Đức Giêsu đã “được đưa lên trời” trước mặt các môn đệ”.

Mầu nhiệnm lên trời kêu gọi chúng ta nhìn nhận hai khía cạnh liện hệ nhưng riêng biệt nhau: Một bên là Đức Kitô được vinh quang ngay lúc Ngài sống lại; một bên là Đức Kitô ra đi sau một thời gian hiện ra nhiều lần. Đó là cuộc ra đi trở về với Chúa Cha mà các tông đồ được chứng kiến trên núi Cây Dầu. Vì thế, thánh Augustinô đã nói:”Đức Kitô trở về nơi tối cao, nhưng vẫn ơ lại với chúng ta. Và cũng như chúng ta, chúng ta ở dưới đất nhưng chúng ta đã ở bên Ngài”.

3. Trao phó sứ mạng loan báo Tin mừng

Trước khi “lên trời” không còn hiện diện hữu hình với các môn đệ, Đức Giêsu trao sứ mạng cho họ. Đức Giêsu, Đấng chỉ mới loan báo Tin mừng trong giới hạn là nước Israel, nay Ngài ủy thác cho các môn đệ nối tiếp sứ mạng loan báo của Ngài là loan báo Tin mừng khắp cùng trái đất. Vì thực hiện theo mệnh lệnh của Đức Giêsu nay đã ở trong vinh quang của Chúa Cha, các môn đệ sẽ có thể làm những gì mà xưa kia chính Đức Giêsu chưa làm được:”Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn lao hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha”(Ga 14,12). Việc hơn ấy là nay họ sẽ ra đi loan báo Tin mừng khắp thế giới.

Vì thế, việc rao giảng của các Tông đồ phải mang lại cùng hiệu quả giống như việc rao giảng của Đức Giêsu. Ngài ban cho các ông nhiều quyền năng làm phép lạ. Nhưng chúng ta không nên hiểu từng chữ về câu nói rằng “các tông đồ có thể cầm được rắn trong tay và uống thuốc độc mà vẫn không sao”. Theo tâm lý của người Trung đông, lối nói cường điệu được người ta chấp nhận như một cách thức nhấn mạnh đến một điểm – thông qua quyền năng của Đức Giêsu, các môn đệ sẽ chiến thắng được tất cả mọi sự dữ.

II. TA Ở LẠI DƯỚI ĐẤT

1. Chúa muốn ta tiếp tục công cuộc cứu rỗi

Đức Giêsu muốn dùng Hội thánh cũng như chúng ta như đôi tay để tiếp tục công cuộc cứu rỗi của Ngài, nghĩa là Hội thánh như một nối dài của Đức Giêsu. Cách đây hai ngàn năm, Đức Giêsu đã đi lại, đã nói, đã làm nhiều điều tốt đẹp cho người ta. Ngày nay, Ngài cũng muốn cho các hành động của Ngài được tiếp tục qua Giáo hội. Sứ mệnh của Đức Giêsu là một sứ mệnh thiêng liêng. Nhưng sứ mệnh đó cần được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi trao phó sứ mạng đó cho Giáo hội, Đức Giêsu muốn nó được thực thi trong một khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của Giáo hội mà Đức Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống và dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.

2. Chúng ta chia sẻ công cuộc cứu rỗi ấy

Đức Giêsu không bảo các môn đệ là hãy cứ ngồi chờ đó, mọi thọ tạo sẽ đến với các con! Không. Ngài bảo:”Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ. Loan báo Tin mừng cho mọi loại thọ tạo”.

Đức Giêsu nhấn mạnh cho các môn đệ một tư tưởng là: hãy loan báo tin mừng cho “mọi loài thọ tạo”.

- Thọ tạo nghĩa là được Thiên Chúa dựng nên. Mọi loài thọ tạo là tất cả những gì được Thiên Chúa tạo dựng nên. Không phải chỉ là loài người, mà còn là loài động vật, đất đai, sông núi, bầu trời, tinh tú... Tóm lại là tất cả.

- Trong tất cả mọi loài đó, chỉ có loài người là vừa nghe vừa hiểu vừa cảm được. Cho nên loan báo Tin mừng cho loài người là có thể. Còn loan báo Tin mừng cho những loài khác, thì làm sao mà làm được? Tôi nghĩ ra rằng tuy những loài ấy không thể đón nhận Tin mừng theo cách của loài người đón nhận, nhưng chúng cũng có thể hưởng nhờ lợi ích của những giá trị Tin mừng. Chính vì thế mà có những lời hô hào làm đẹp thiên nhiên, bảo vệ sinh vật, giữ sạch bầu khí quyển v.v.

- Rốt cuộc, loan báo Tin mừng mang một chiều kích rất bao la. Loan báo Tin mừng là sống vui bằng niềm tin của mình giữa mọi người khác, giữa thiên nhiên và giữa vũ trụ; đồng thời làm cho tất cả chung quanh mình đều tốt đẹp, vui tươi.

(Lm Carôlô, Sợi chỉ đỏ, năm B, tr 271)

3. Phương cách loan báo Tin mừng

a) Loan báo trực tiếp hay gián tiếp

Có những người trực tiếp đi rao giảng Tin mừng cho người ta, ví dụ các nhà truyền giáo chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, các Linh mục, họ có thể loan báo một cách trực tiếp. Còn hầu hết mọi người chúng ta không có khả năng loan báo trực tiếp mà chỉ bằng cách gián tiếp nhưng rất hữu hiệu như cầu nguyện, tham gia các hội đoàn, nâng đỡ các nhà truyền giáo, đóng góp vào qũy truyền giáo, nhất là bằng gương sáng.

b) Loan báo bằng cách sống đời thường

Chỉ có một cách loan báo Tin mừng thích hợp với mọi người, mọi nơi, mọi lúc, đó là loan báo bằng cách sống đời thường với châm ngôn: ”Các con là ánh sáng thế gian. Các con là muối đất. Các con là men trong bột”. Các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên đã loan báo bằng cách này và đã được một tác giả cổ xưa mô tả và gửi cho ông Thêôphilê như sau:

“Các Kitô hữu không khác người ta về xứ sở, ngôn ngữ và tập quán trong đời sống. Họ không ở trong những thành phố riêng, không dùng ngôn ngữ lạ thường, cũng không sống một đời sống khác biệt. Giáo lý của họ không phải do một sự suy tư nào đó, hay do mối bận tâm của những con người ham tìm hiểu nghĩ ra. Họ không bảo trợ một hệ thống triết lý nào do loài người chủ xướng như một số người kia.

“Họ ở trong các thành phố văn minh cũng như bán khai, tùy theo số phận mỗi người đưa đẩy. Họ theo tập quán của dân địa phương trong cách ăn mặc và trong lối sống, mà vẫn cho thấy một nếp sống lạ lùng và ai cũng phải nhận là khó tin. Họ sống ở quê hương mình mà như người khách kiều cư. Họ có chung mọi thứ như công dân, nhưng phải gánh chịu đủ thứ như khách lữ hành. Miền đất lạ nào cũng là quê hương của họ, nhưng quê hương nào cũng là đất khách đối với họ. Họ lập gia đình và sinh con cái như mọi người, nhưng không phá thai. Họ ăn chung với nhau một bàn, nhưng không chồng chung vợ chạ”.

(Trích Các Bài đọc Kinh sách, tập 2, tr 354)

Truyện: Đọc Thánh kinh hằng ngày

Có một người Kitô hữu tầm thường, thấy bên cạnh mình có một người tự xưng mình là vô thần. Lòng nhiệt thành đã thúc đẩy họ tìm cách giới thiệu Chúa cho họ. Người này đi mua một cuốn Thánh kinh biếu cho người láng giềng ấy, hy vọng họ đọc và sẽ nhận ra Thiên Chúa. Người láng giềng vui vẻ đón nhận và hứa sẽ đọc..

Sau một thời gian, người Kitô hữu sang chơi nhà láng giềng. tình cờ thấy cuốn Thánh Kinh nằm trong sọt rác. Người Kitô hữu ngạc nhiên hỏi người láng giềng:

- Sao ông không đọc Kinh thánh? Nếu đọc, ông sẽ nhận ra Thiên Chúa.

Người láng giềng lạnh nhạt trả lời:

- À suốt trong 10 năm qua, mỗi ngày tôi đều đọc cuộc sống của anh!!!

Câu chuyện kết thúc ở đây. Chúng ta hãy suy nghĩ về câu trả lời của người láng giềng vô thần ấy. Chúng ta hãy suy nghĩ xem, người vô thần ấy muốn nói gì?

Có một bài viết ngắn về điều này:

“Tôi là cuốn sách Kinh thánh đối với người hàng xóm của tôi; người đó đọc tôi mỗi khi gặp tôi.

Hôm nay, anh ta đọc tôi trong ngôi nhà của tôi, ngày mai, anh ta đọc tôi trên đường phố.

Anh ta có thể là một người họ hàng, một người bạn, hoặc chỉ là một người quen biết sơ giao mà thôi.

Thậm chí anh ta có thể không biết tên tôi, tuy nhiên, anh ta vẫn đang đọc Kinh thánh qua cuộc đời của tôi” (Flor McCarthy).

c) Thành công hay thất bại

Trong việc loan báo Tin mừng, thành công hay kết quả đều do ân sủng của Chúa như Chúa đã nói: ”Không có Thầy các con không làm được gì”. Đúng là mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, nhưng Chúa không từ chối thiện chí của con người, Chúa muốn con người cộng tác làm việc, còn Chúa sẽ ban ơn cho. Cho nên, nhiều khi chúng ta thất bại trong việc loan báo Tin mừng vì cách làm chứng của chúng ta còn nghèo nàn quá, không có sức hấp dẫn người ta; có khi thay vì chúng ta là chứng nhân lại trở thành người phản chứng, có khi chúng ta là Kitô hữu lại trở thành phản Kitô. Tốt nhất phải làm gương sáng, vì trăm nghe không bằng một thấy:

Lời nói như gió lung lay,
Gương bày như tay lôi kéo.

III. NHƯNG LÒNG HƯỚNG VỀ TRỜI

Chúa về trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha sau khi đã thi hành trọn vẹn sứ mạng đã được trao phó. Chúng ta còn ở lại dưới đất để tiếp nối chương trình cứu chuộc của Đức Kitô, và sau khi hoàn tất sứ mạng được trao phó chúng ta cũng sẽ được về trời với Ngài vì: ”Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng ở đó”(Ga 12,26). Công việc ở trần gian của chúng ta là mắt nhìn trời, chân đạp đất.

1. Mắt nhìn trời.

Sách Tông đồ công vụ kể rằng sau khi Đức Giêsu từ từ lên trời thì các môn đệ đưa mắt trông theo và cứ ngây ngất đứng nhìn về trời như thế, mãi cho đến khi có hai thiên thần từ đám mây hiện ra nhắc nhở cho các ông thì các ông mới hoàn hồn trở lại. Tại sao các môn đệ ngây ngất như vậy? Chắc chắn là vì cảnh thiên đàng hấp dẫn lắm!

Chắc hẳn như vậy! Trời hay thiên đàng là quê hương của ta, nơi ta đang trông ngóng như lời thánh Phalô đã nói với tín hữu Philipphê: ”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta”(Pl 3,20). Quê hương chúng ta ở trên trời, ở đó chúng ta sẽ được thấy Thiên Chúa nhãn tiền và được hạnh phúc vô cùng. Những người đã được nếm thử cảnh Hạnh phúc Thiên đàng nói lại cho chúng ta điều họ thử nghiệm như sau:

- Các tông đồ ngây ngất nhìn về trời khi Chúa được cất lên khỏi mặt đất, đến nỗi phải có hai thiên thần đến thức tỉnh các ông dậy (Cv 1,9-10).

- Ba tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan đã được thoáng thấy một chút vinh quang thiên đàng khi Đức Giêsu biến hình trên núi. Ba ông đó cũng say sưa ngây ngất đến nỗi xin Chúa cho mình cất lều ở lại mãi mãi trên ngọn núi đó (Mt 17,1tt).

- Thánh Phaolô khi được ngất trí đã thốt lên: ”Người ấy đã được nhấc lên đến tận tầng trời thứ ba. Và tôi biết rằng người ấy – hoặc trong thân xác hoặc ở ngoài thân xác, tôi không biết – đã được nhắc vào Thiên đàng và được nghe những lời khôn tả, người phàm không được phép nói lại”(2Cr 12,2-4).

- Ở Lộ đức, năm 1858 Đức Mẹ đã hiện ra với thánh nữ Bernadette, và ở Fatima, năm 1917. Đức Mẹ lại hiện ra với ba em Lucia, Phanxicô và Giaxinta. Các nhân chứng chỉ biết khen rằng Đức Mẹ đẹp lắm và luôn ao ước tới ngày được lên trời.

Đó là vài tia sáng yếu ớt giúp chúng ta thoáng thấy một phần nào cảnh tượng thiên đàng. Các nhân chứng chỉ thấy một chút hào quang mà đã say sưa ngây ngất, chỉ muốn sớm chết đi để được vào thiên đàng. Nếu thực sự được hưởng thiên đàng trọn vẹn thì hạnh phút ngây ngất đến chừng nào.

2. Chân đạp dất

Khi Đức Giêsu về trời, Ngài hứa sẽ đem chúng ta về với Ngài ở quê hương vĩnh cửu để hưởng phúc vô biên, nhưng không phải vì quê hương vĩnh viễn với hạnh phúc vô biên mà ta chỉ biết ngóng trông quê trời và sao lãng nhiệm vụ trần thế. Chúng ta còn phải xây dựng trần thế theo tinh thần Chúa Kitô.

Thiên đàng là quê hương vĩnh viễn của chúng ta, nhưng trần thế chính là con đường dẫn tới quê hương hạnh phúc đó. Chỉ đứng đó mà ngóng nhìn thiên đàng thì có lẽ không bao giờ ta tới thiên đàng được. Muốn tiến tới thiên đàng, thì trước hết phải đi hết con đường dương thế bằng cách chu toàn nhiệm vụ của mình ở đời này.

Để chuẩn bị về quê trời chúng ta hãy làm hai việc:

a) Loan báo Tin mừng cho muôn dân

Chúng ta hãy nhớ lại lời Chúa dạy: ”Các con đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”(Mt 10,8). Trong ngày lễ Thăng Thiên hôm nay, chúng ta hãy nhắc lại sứ mạng loan báo Tin mừng của chúng ta. Chúa muốn Giáo hội và từng người chúng ta tiếp nối công việc cứu chuộc của Ngài. Chúng ta phải là cánh tay nối dài của Chúa, làm sao cho Tin mừng của Chúa phải được loan truyền cho đến tận cùng trái đất. “Hỡi những người Galilê, sao cứ đứng đó mãi nhìn trời”? Khi các thiên thần nhắc cho các môn đệ trở về với nhiệm vụ hằng ngày, thì cũng là nhắc các ông thi hành nghĩa vụ rao giảng Tin mừng mà Đức Giêsu cũng đã căn dặn một lần nữa cho các môn đệ trước khi Ngài về trời:”Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin mừng cho nhân loại”.

b) Chu toàn nghĩa vụ hằng ngày

Đời là một cuộc hành trình về đời sau, mà cuộc hành trình nào cũng gặp nhiều khó khăn, gian khổ, đòi hy sinh cố gắng không ngừng. Mỗi khi ta phải chiến đấu, phải vất vả hy sinh, hãy nghĩ tới thân phận con người, nghĩ tới cuộc đời chóng qua, nghĩ tới lời Chúa phán: ”Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, Lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi”(Mt 7,21). Muốn thi hành ý muốn của Thiên Chúa, chúng ta càng phải nỗ lực vượt qua sự ươn lười, yếu đuối của ta vì như Chúa nói:”Nước Trời đòi sự cố gắng, ai cố gắng thì mới chiếm được”(Mt 11,12).

Truyện: Chiếc kim may

Trong một tu viện nọ có một tu huynh sắp qua đời. Khi thấy anh em trong nhà quây quần bên mình, thì ngỏ ý:

- Xin anh em đưa cho tôi chìa khoá để vào Thiên đàng.

Nghe vậy, một anh em chạy đi lấy cuốn Kinh thánh trao cho tu huynh, nhưng ông ta lắc đầu.

Một anh em khác trao cho tu huynh cây thánh giá, một anh em nọ lại đem đến tràng hạt Mân côi. Nhưng tu huynh vẫn lắc đầu.

Thế rồi, một anh em kia chợt nhớ ra rằng suốt đời tu huynh ấy đã cặm cụi lo may vá áo dòng cho anh em, bèn chạy đi tìm cây kim may và đem đến cho người anh em sắp ly trần. Vừa trông thấy cây kim may đơn sơ nhỏ bé, vị tu huynh ngồi nhổm dậy, vươn tay ra đón nhận, mân mê cây kim may nhỏ bé, rồi nhẹ nhàng nằm xuống, nhắm mắt lìa trần, nụ cười vẫn lưu lại trên môi.

----------------------------

 

nTrời-426: Lên trời – ViKiNi


(Suy niệm của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

 

Chúa Giêsu lên trời. Trời là chốn linh thiêng mầu nhiệm lạ lùng. Con người luôn luôn khao khát LênTrời-426


Chúa Giêsu lên trời. Trời là chốn linh thiêng mầu nhiệm lạ lùng. Con người luôn luôn khao khát được lên trời. Đi dưới đất, bơi trên sông, con người thấy mình thấp hèn quá! Phải làm sao lên được trời cao, con người mới thỏa mãn được những ước mơ lý tưởng của mình.

Vì thế, ngày 04 tháng 06 năm 1783, lần đầu tiên, hai anh em Mongolfiers, bay lên trời bằng khí cầu được 500 mét trước hàng ngàn người. Ngày 12 tháng 04 năm 1961, Gagarine, phi hành gia đầu tiên bay ra khỏi tầng khí quyển của trái đất trong phi thuyền Vostok I của Liên Xô. Đến ngày 16 tháng 07 năm 1969 hai ông Armstrong và Aldrin bay lên tới mặt trăng.

Loài người đã hồi hộp theo dõi: các cuộc bay lên trời của mấy ông đó và mơ ước có ngày cũng được lên trời, nhưng rốt cuộc chuyến bay nào cũng phải trở về đất, lại phải sống kiếp thân phận bụi đất.

Chỉ có cuộc lên trời của Chúa Giêsu mới giải thoát con người khỏi kiếp sống lầm than, mới ban sức mạnh thần lực cho con người lên trời vinh quang muôn đời.

Cuộc lên trời của Chúa: thật là một cảnh tượng huyền diệu đang diễn ra trước mắt đức tin của chúng ta:

1. Ở trên cao: Các thiên thần và triều đình thiên quốc đang tụ họp tổ chức nghi lễ đón tiếp Đấng Cứu Thế khải hoàn trong niềm ngây ngất, tác giả Thánh vịnh 23 đã chiêm ngưỡng và mô tả cuộc nghinh đón đó bằng ca khúc bất hủ: “Hỡi các khải hoàn môn và các vệ binh thiên quốc, hãy cất cao đầu lên. Hỡi các cửa triều đình vĩnh cửu, hãy mở rộng ra, đe Vua vinh hiển và đoàn tùy tùng tiến vào. Vua vinh hiển là ai? Thưa là Đức Giêsu uy hùng lẫm liệt, là Chúa oai phong chiến thắng. Hỡi các khải hoàn môn, hỡi các cửa triều đình vĩnh cửu hãy cất cao đầu lên, để Vua vinh hien tiến vào, Vua vinh hiển là ai? Chính là Thiên Chúa hùng dũng uy linh”.

2. Ở chung quanh: Đoàn tùy tùng theo Chúa đông vô kể, gồm các thánh thời Cựu Ước, các tổ phụ, các tiên tri, các người công chính, các hiền nhân do Chúa Cứu Thế giải thoát khỏi ngục tối, đang hoan hỉ vui mừng đi theo Chúa. Đặc biệt có tổ phụ Abraham, Giacob, Môisê, thánh Job, thánh vương David, các tiên tri Isaia, Giêrêmia, nhất là hai bên tả hữu là thánh cả Giuse và thanh Gioan tiền hô và cả người trộm lành nữa.

3. Ở dưới đất: Quỳ trên núi Ôlivitê là Hội thánh sơ khai: Đức Mẹ, thánh Phêrô, các tông đồ, hàng trăm môn đệ và các thánh nữ. Trước sự hiện diện và trước những con mắt đang ngây ngất chiêm ngưỡng, Chúa Giêsu lên trời lòng tràn trề rộn rã hân hoan: “Mọi miệng lưỡi trên trời dưới đất cùng cả hỏa ngục đang tung hô rằng Giêsu Kitô là Vua, là Chúa chúng tôi” (Suy Niệm Đời Chúa).

Vì thế, bai Đáp ca Thánh lễ hôm nay đã hô hào khắp muôn dân, khắp hoàn cầu, khắp trời đất: “Hãy vỗ tay, hãy reo mừng Thiên Chúa. Hãy trổi cao kèn sáo đàn ca lên dâng Người khúc ca tuyệt mỹ, Chúa là Vua khắp muôn dân, ngự trên tòa uy linh cao cả (Tv. 47, 2-3, 6-9).

Sống trong nguồn vinh phúc của Chúa Giêsu lên trời, chúng ta phải thực thi hai điểm: Mắt nhìn trời, chân đạp đất.

- Mắt nhìn trời để “cầu xin Chúa Cha vinh hiển ban cho chúng ta thần trí khôn ngoan để nhận biết Đức Kitô chỗi dậy từ cõi chết và đang ngự bên hữu Chúa Cha. Ngài tôn vinh Đức Kitô trên mọi quyền lực thần thiêng trong thế giới hiện tại và cả thế giới tương lai. Xin Người soi trí mở lòng chúng ta thấy rõ gia nghiệp vinh quang phong phú của chúng ta được chia sẻ cùng các thánh, thấy rõ quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta” (Bài đọc 2). Mắt nhìn trời để đón nhận “sức mạnh của Thánh Thần” soi sang, trợ giúp khích lệ ta trong nhiệm vụ làm chứng về Đức Kitô.

- Chân đạp đất là “đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo tin mừng cho tất cả loài người”, “từ Giêrusalem, Giuđê, Samaria và cho đến cùng tận trái đất”. Từ kinh thành văn minh như Hy Lạp, Ai Cập, Roma đến hang cùng ngõ hẻm, rừng thiêng nước độc như Giaray, Kontum, từ bắc cực đến nam cực băng giá, ngày nay đều có thánh giá ngự trị để cho muôn dân được lành mạnh, được cứu độ, thoát khỏi loài rắn quỷ satan, khỏi nọc độc của tử thần.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nói: “Thầy đi dọn chỗ cho các con để Thầy ở đâu, chúng con sẽ được ở đó”. Giờ đây, Thầy đang ngự trên quê hương hạnh phúc nước Trời mà vẫn hằng chăm lo cho chúng con mọi sự. Xin cho chúng con biết luôn luôn nhìn trời để chăm lo đời sống chúng con và đời sống mọi người, mong xứng đáng được về hưởng vinh phúc quê trời với Thầy. Amen.

-----------------------------

 

nTrời-427: Hướng về trời cao - Lm. Ignatiô Trần Ngà

 

Có một số thanh thiếu niên hiện nay không màng đến chuyện học hành, chẳng lo trau dồi đức LênTrời-427


Có một số thanh thiếu niên hiện nay không màng đến chuyện học hành, chẳng lo trau dồi đức hạnh, không chịu rèn luyện để trở thành người có ích… Trái lại, họ đâm ra lêu lỏng chơi bời, quậy phá, đắm mình trong truỵ lạc đê hèn. Nguyên nhân nào đã gây ra thảm trạng đó?

Không có hướng tiến thân sẽ làm con người hư hỏng

Các nhà nghiên cứu xã hội cho rằng mot trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đáng buồn đó là vì một số bạn trẻ cảm thấy không có đường tiến thân cho mình, cánh cửa mở vào tương lai dường như đang khép lại trước mặt họ. Họ chẳng hy vọng có chút địa vị trong xã hội hay có được công ăn việc làm ổn định với đồng lương cao. Họ chẳng còn mục tiêu nào tốt đẹp để phấn đấu vươn lên. Họ cảm thấy tương lai bế tắc, nên đâm ra chơi bời lêu lỏng, làm hư hỏng cả cuộc đời.

Nói chung, khi con người cảm thấy không có tương lai, nhìn về mai sau chỉ thấy ngõ cụt, thấy kết thúc của đời người chỉ là một nấm mồ … thì người ta không còn muốn cố gắng phấn đấu sống đời đạo đức, không còn muốn làm lành lanh dữ, không còn muốn tu thân tích đức… mà chỉ muốn ăn chơi cho qua ngày đoạn tháng, hoặc sống buông thả và làm hỏng đời mình.

Tâm trạng đó được nhà thơ Cao Bá Quát diễn tả như sau:

“Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,
cảnh phu du trông thấy cũng nực cười,
thôi công đâu chuốc lấy sự đời,
tiêu khiển một vài chung lếu láo.”

Vì cảm thấy kiếp người thì ngắn ngủi, mọi sự chỉ là phù du, nên người ta không muốn chuốc lấy sự đời, không muốn kê vai gánh vác trách nhiệm xã hội mà chỉ muốn tìm an nhàn trong chén rượu cho vơi nỗi sầu.

Vì cảm thấy tương lai là ngõ cụt, nên cũng có người chọn sống như những con thiêu thân:

“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối,
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm” (Xuân Diệu).

Đức Giêsu lên trời hướng tâm hồn ta tới một tương lai huy hoàng

Có một đàn chim đông đảo bị giam nhốt trong một chiếc lồng khá lớn. Kiếp sống ngục tù trong cảnh “chim lồng cá chậu” làm cho đa số chim trong lồng không có cơ hội cất cánh bay lên, thế nên đôi cánh của chúng gần như bị tê liệt. Đối với chúng, thế giới chỉ là chiếc lồng chim chật chội và khung cảnh chung quanh mình. Hằng ngày chúng sống chen chúc trong khoảng không gian giới hạn của chiếc lồng, an phận sống kiếp gia cầm chờ ngày bị đem đi xào nấu.

Vào một ngày đẹp trời, một con chim mẹ trổ được một lỗ hổng trên nắp lồng và thoát ra được bên ngoài, tung cánh bay vút lên cao giữa khung trời cao rộng. Thế là từ hôm đó, nhiều con chim trong lồng cố gắng luyện tập cho đôi cánh mạnh mẽ lên để có thể bay cao, thoát ra khỏi chiếc lồng chật chội như ngục tù giam hãm mình, để bay vút lên trời xanh nối đuôi chim me.

Qua biến cố sống lại và lên trời, Chúa Giêsu tỏ cho chúng ta thấy rằng kiếp người không phải chỉ giới hạn trên trái đất chật hẹp này nhưng còn được nối tiếp trong thế giới thiêng lieng và Ngài đã mở ra cho chúng ta một lối thoát, thoát ra khỏi thế giới tạm bợ này để vào thiên quốc.

Sự kiện Chúa Giêsu lên trời hướng tâm hồn chúng ta về trời cao, giúp chúng ta biết cùng đích của đời người không phải là chốn trần gian tạm bợ mà là cõi hạnh phúc thiên đàng. Ngài lên trời mở ra cho chúng ta một chân trời mới, một triển vọng mới.

Vì thế, chúng ta đừng bám chặt vào thế giới phù du tạm bợ này, vì không sớm thì muộn, chúng ta cũng phải từ bỏ nó. Vậy thì đừng trầm mình trong nếp sống ươn hèn tội lỗi, đừng ngụp lặn trong lạc thú mau qua, đừng chỉ biết cúi xuống để sống an phận, mà biết sống siêu thoát và biết hướng tâm hồn lên cao.

Khi đàn chim non thấy chim mẹ bay thoát ra khỏi chiếc lồng giam nhốt mình từ bấy lâu nay thì chúng quyết luyện tập cho đôi cánh được mạnh mẽ để có thể thoát ra khỏi chốn ngục tù, tung cánh bay lên cao như chim mẹ.

Vậy thì chúng ta cũng phải kiên trì luyện tập mỗi ngày, cho đức tin của mình được mạnh mẽ, cho tâm hồn đạo đức được gia tăng, cho lòng mến được dồi dào, nhờ đó, mai đây chúng ta có thể “cất cánh” về với Thiên Chúa là nguồn hoan lạc của chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã xuống trần để vạch đường chỉ lối cho chúng con về thiên quốc. Chúa đã về trời để dọn sẵn chỗ ở cho chúng con trong Ngôi Nhà của Chúa Cha (Ga 14,2). Xin cho chúng con biết rèn luyện “đôi cánh mến Chúa yêu người” cho mạnh mẽ, để đủ sức “bay” về nơi Chúa đã dọn sẵn cho chúng con.

---------------------------

 

nTrời-428: Chúa Giêsu được siêu tôn


(Bài giảng của Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc – Giám mục Giáo phận Mỹ Tho –trong Thánh lễ Chúa Thăng Thiên, kỷ niệm 13 năm Giám mục, ngày 20 tháng 05 năm 2012).

1. Anh chị em rất thân mến,

 

Mầu nhiệm “Chúa Giêsu lên trời” mà chúng ta mừng lễ hôm nay, gắn chặt với mầu nhiệm “Sự Chết LênTrời-428


Mầu nhiệm “Chúa Giêsu lên trời” mà chúng ta mừng lễ hôm nay, gắn chặt với mầu nhiệm “Sự Chết và Sự Sống lại của Chúa”. Chúa Giêsu đã ra đi, rời bỏ các môn đệ còn ở thế gian, mà Người rất thương mến. Người đi lên cùng Chúa Cha, để ngự bên hữu Chúa Cha, được tôn vinh bên cạnh Chúa Cha. Ra đi là “chết”, không phải chỉ là chết trong lòng, mà là chết thực sự, là ra đi vĩnh viễn. Nhưng sự ra đi của Chúa Giêsu, không phải là đi vào cõi hư vô, dẫn đến tiêu diệt, mà là ra đi để được sống, sống dồi dào và vĩnh viễn. Sự chết không cầm giữ được Người, Người đã sống lại và vẫn đang sống. Theo Thánh Luca, tác giả Sách Công vụ các Tông đồ, thì Chúa Giêsu đã dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các Tông đồ thấy là Người vẫn sống, sau khi đã chịu khổ hình: trong 40 ngày Người đã hiện ra để đàm đạo với các Tông đồ về Nước Thiên Chúa (Cv 1,3).

2. Chúa Giêsu không những vẫn “đang sống”, mà còn được tôn vinh bên cạnh Chúa Cha, được hạnh phúc trong Lòng Chúa Cha. Theo ý muốn của Chúa Cha, “Người đã đi xuống”, Nhập Thể trong lòng Trinh nữ Maria, và đã làm Người. Giờ đây Người “đi lên”, lên ngự bên hữu Chúa Cha, để làm “Vua vũ trụ”, làm “Chúa” giống như Thiên Chúa Cha, Đấng làm chủ, không những trái đất, mà toàn thể vũ trụ, vì đã tạo dựng nó. Người làm Chúa, không để thống trị, mà để ban phát Tình Thương, ban phát Sự Sống. Người yêu cầu các Tông đồ đừng rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi “điều Chúa Cha đã hứa”, chờ đợi Chúa Thánh Thần, Đấng là “Chúa và là Đấng ban Sự Sống”, là Thần Khí của Chúa Cha và Chúa Kitô Phục Sinh. Đấng là Sức Mạnh từ trên cao, là Quyền Năng của Thiên Chúa, là Thần Trí và là Ánh Sáng.

3. Các Tông đồ chờ Ngày lễ Ngũ Tuần, để nhận lãnh Chúa Thánh Thần, để “chịu phép rửa trong Chúa Thánh Thần” (Cv 1, 5), theo kiểu nói của Chúa Giêsu. Họ sẽ “làm chứng tá” về Chúa Giêsu Phục Sinh, cho đến tận cùng trái đất (x. Cv 1, 8). Họ sẽ đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng Cứu độ, Tin Mừng về Tình yêu của Thiên Chúa, biểu lộ trọn vẹn nơi “sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu”. Loan báo “Niềm Hy vọng” mà họ đã nhận được, khi được khai ân Thần Khí. “Chúa Giêsu lên trời” vừa là một sự kiện, vừa là một sứ điệp từ trời: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đang thấy Người lên trời” (Cv 1,11).

4. Hiện nay khoa học đã phát triển tột bậc, nhiều phi hành gia, và một ít người giàu có đã được lên trời, trên những phi thuyền không gian. Ước vọng của con người không bao giờ cùng, nhưng có thực sự là ước vọng vươn lên, theo nghĩa hướng thượng, hướng về Thiên Chúa là Chân Thiện Mỹ, hướng về hạnh phúc đích thực, về sự thành toàn nhân cách khi đạt tới mục đích cuối cùng của cuộc đời không? Muốn được như thế, không chỉ có việc ngước mắt nhìn trời, mà còn phải nhận lãnh sức mạnh từ trời. Kinh nghiệm cho thấy rằng: chỉ với sức mạnh tự nhiên, con người dễ sa đà xuống dốc, nhất là từ khi nguyên tổ loài người phạm tội. Trong xã hội hôm nay, con người chỉ tiến bộ về khoa học kỷ thuật, còn về những phương diện khác thì xuống dốc trầm trọng, hình như đang lao xuống vực thẳm của sự dữ và tội ác.

5. Chính vì thế mà ngày hôm nay hơn bao giờ hết Giáo hội phải hăng hái thi hành mệnh lệnh của Chúa Giêsu trước khi Người lên trời: “ Đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15). Loan báo Tin Mừng Chúa Phục Sinh: Sự Sống chiến thắng sự chết, Tình yêu chiến thắng tội ác, chân lý chiến thắng dối trá và sai lầm. Đó là ước mơ của chúng ta, ước mơ của những người Kitô hữu. Không những thế, trong thâm sâu của “vô thức”, đó cũng là ước mơ của mọi người trong nhân loại và của mỗi con người. Tin Mừng về sự Phục Sinh của Chúa Giêsu luôn luôn hợp thời và luôn luôn cần thiết, như chính Chúa Giêsu đã phán dạy: “Ai tin và chịu phép rửa thì sẽ được cứu rỗi; còn ai không tin, sẽ bị kết án” (Mc 16,16). Không phải vì Thiên Chúa độc tài, độc đoán, nhưng vì không tin là không đón nhận “giải đáp đích thực”của Thiên Chúa cho các ước vọng chính đáng của mình, hay là tìm thoả mãn nơi trần thế, và cuối cùng sẽ “qua đi” như bộ mặt trần gian này sẽ qua đi.

------------------------------

 

nTrời-429: Chúa Giêsu hoàn thành sứ mạng và về trời


(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

 

Con người khi đối diện với khó khăn vượt quá sức mình thường tìm đến thần linh. Thần linh như LênTrời-429


Con người khi đối diện với khó khăn vượt quá sức mình thường tìm đến thần linh. Thần linh như một cứu cánh để giúp con người vượt qua phong ba. Thế nên theo dòng lịch sử rất nhiều những câu chuyện huyền thoại được dựng nên kể về những vị thần dạy người ta trồng trọt, chống lại thiên nhiên, chống lại sự dữ, và sau khi hoàn thành sứ mệnh họ bay về trời.

Ở Việt Nam không ai mà không biết đến câu chuyện về Thánh Gióng. Truyện Thánh Gióng được kể rằng: “Cậu bé Gióng được sinh ra do một lần người mẹ nghèo làng Gióng ra đồng, thấy vết chân to lớn lạ thường nên ướm thử, không ngờ về nhà thụ thai. Mười hai tháng sau, bà sinh một bé trai khôi ngô tuấn tú, nhưng thật kỳ lạ là lên ba mà cậu bé vẫn chẳng biết nói, biết cười. Lúc bấy giờ, giặc Ân đang xâm lấn nước ta. Thế giặc mạnh nên vua rất lo, truyền cho sứ giả đi khắp nơi tìm kiếm người tài cứu nước. Cậu bé nghe thấy tiếng loa, liền cất tiếng nhờ mẹ mời sứ giả tới nhà. Gặp sứ giả, cậu bé bảo: “Ông về tâu vua sắm ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt, ta sẽ đánh tan lũ giặc này”. Được lời, sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ vội về bẩm báo với nhà vua.

Chuyện càng lạ hơn nữa khi từ hôm gặp sứ giả, cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn bao nhiêu cũng chẳng no, áo vừa may xong đã căng đứt chỉ. Mẹ cậu bé phải nhờ đến sự giúp đỡ của bà con trong làng thì mới lo đủ cho cậu. Khi giặc Ân đến chân núi Châu Sơn (Tiên Du, Bắc Ninh) thì cũng là lúc sứ giả đem kiếm, áo giáp và ngựa tới cho cậu bé. Cậu bé vươn vai thoắt biến thành một tráng sỹ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Tráng sỹ mặc giáp, cầm kiếm và nhảy lên mình ngựa. Ngựa sắt bỗng chuyển động, miệng hý vang. Tráng sỹ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác. Roi sắt gẫy, tráng sỹ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc.

Sau khi diệt giặt Ân, Gióng bay đến chân núi Sóc Sơn, cởi giáp, bỏ kiếm, rồi cả người và ngựa cùng thăng thiên. Từ đó dân gian mới có câu:

… Làng Phù Đổng có một người
Sinh ra chẳng nói, chẳng cười trơ trơ
Những ngờ oan trái bao giờ
Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân…”.

Hôm nay chúng ta mừng kỷ niệm ngày Chúa Giê-su vinh thăng về Trời sau khi hoàn thành sứ mạng cứu độ trần gian. Đây không phải là một huyền thoại được dựng nên để thỏa mãn lòng người, mà là một sự kiện lịch sử. Một sự kiện xảy ra cách đây hơn 2000 năm đã được biết bao thế hệ tiếp nối nhau làm chứng và loan truyền. Giáo Hội luôn loan tin rằng Chúa Giê-su sau khi hoàn tất việc cứu độ trần gian, Ngài đã được đưa lên trời trước sự chứng giám của các môn đệ. Ngài vinh thăng về trời như một cuộc khải hoàn sau cuộc chiến thắng diệu kỳ là đánh bại sự chết, để từ nay con người không còn chết nữa mà cái chết sẽ mở ra một sự phục sinh trong vinh quang với Đức Giê-su.

Sứ điệp Chúa về Trời là lời khẳng định cho chúng ta về một cõi thiên đường. Một thiên đường có Thiên Chúa sẽ làm no thỏa mọi hạnh phúc cho con người. Một Quê Trời nơi đó con người sống thanh thoát khỏi những nhu cầu vật chất nên sẽ không còn bon chen, tranh giành, đầy đọa lẫn nhau. Một thiên đường hạnh phúc không phải một ngày mà là hạnh phúc miên trường.

Nhưng để về Trời thì con người con người phải biết hoàn thành sứ mạng trần gian là làm chứng cho Chúa. Làm chứng bằng lời nói luôn nói về Chúa và về tin mừng cho anh em. Làm chứng bằng việc dựng xây thiên đường hạ giới ngập tràn tình yêu. Làm chứng bằng đời sống chọn Chúa , chọn giá trị Nước Trời hơn là những vinh hoa phú quý trần. Dẫu chúng ta đang sống trong một xã hội đề cao đồng tiền đến nỗi bán rẻ nhân phẩm của mình, thì người tín hữu phải sống sao cho nhân loại thấy còn một nhu cầu cao quý hơn vật chất chính là tìm kiếm Nước Trời.

Ước mong cho mỗi người chúng ta được hưởng hạnh phúc thiên đường tại thế khi người người biết yêu thương nhau. Xin cho chúng ta biết xây dựng thiên đường hạ giới bằng yêu thương và phục vụ tha nhân như Chúa Giê-su đã sống và phục vụ. Đó cũng là phương thế đạt được hạnh phúc miên trường mai sau trong Nước Chúa. Amen.

-------------------------------

 

nTrời-430: Thà chết chứ không phạm tội


(Suy niệm của Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

 

Có thể nói: tôn giáo là nhu cầu của con người. Là người ai cũng có tôn giáo. Ai cũng tin vào LênTrời-430


Có thể nói: tôn giáo là nhu cầu của con người. Là người ai cũng có tôn giáo. Ai cũng tin vào thần thánh, tin vào ơn trên. Tôn giáo xuất phát từ bản tính tự nhiên của con người luôn quy hướng về Đấng tạo thành. Vì thế, có rất nhiều tôn giáo. Mỗi tôn giáo đều dạy người ta ăn ngay ở lành, đều quy hướng con người về với Đấng tạo hoá để sống thanh thoát với những đam mê trần gian. Điểm chung của các tôn giáo là tin có đời sau. Hay có thể nói là các tôn giáo đều tin có sự sống siêu nhiên, sự sống vô hình. Người ta thường chia cuộc sống con người thành hai thái cực: trần gian và thiên đàng. Trần gian thì tạm bợ. Thiên đàng thì vĩnh cửu. Cuộc sống ở trần gian là đi tìm hạnh phúc. Cuộc sống ở Thiên đàng là ở trong hạnh phúc. Người ở trần gian phải chiến đấu, phải nỗ lực vươn lên. Người ở thiên đàng thì vui thoả những công lao mình đã lập được ở trần gian. Thiên đàng là chung cuộc mà ai cũng mong đạt được sau cuộc sống trần gian. Thiên đàng là vương quốc của yêu thương, của hạnh phúc vô biên. Vì thế, người ta có thể vì hạnh phúc thiên đàng mà hy sinh những lợi ích tầm thường ở trần gian. Người ta không vì những bổng lộc trần gian mà đánh mất thiên đàng mai sau khi vì nó mà sống hèn hạ, sống thất đức...

Người ta kể rằng: Năm 1285, quân Nguyên Mông sang xâm chiếm Đại Việt, Trần Bình Trọng được giao coi giữ Thiên Trường (thuộc tỉnh Nam Định ngày nay). Khi giặc đánh xuống, vì lực lượng yếu, Trần Bình Trọng bị bắt, Lý Hằng sai giải đến cho Thoát Hoan. Thoát Hoan thấy Bình Trọng người cao lớn, dáng đi hùng dũng, nét mặt đường hoàng, không có chút gì là sợ sệt thì biết không phải là tướng thường, nên muốn khuyên dỗ về hàng, liền tiếp đãi rất tử tế, mời ăn uống hẳn hoi. Nhưng Bình Trọng không ăn. Hỏi đến việc nước, Bình Trọng cũng không nói. Sau Thoát Hoan lại hỏi: "Tướng quân có muốn làm vương đất Bắc không?".

Bình Trọng trả lời: "Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Nay ta đã bị bắt thì chỉ có chết là cùng, can gì phải hỏi lôi thôi".

Thoát Hoan không thuyết phục nổi Trần Bình Trọng hàng, nhưng vì có ý mến phục, cũng không nỡ giết, cho giải theo quân. Được mấy hôm, lại sợ Bình Trọng trốn mất, mới sai mang ra chém. Trần Bình Trọng bấy giờ mới 26 tuổi.

Bình Trọng không bán nước cầu vinh. Bình Trọng chọn chết vinh hơn sống nhục. Không vì giầu sang hay chức vụ mà sống hèn hạ, sống lệ thuộc, sống mất tự do. Bình Trọng chọn cái chết để trung thành với quê hương đất nước. Rất đáng được người muôn thế hệ noi theo.

Là người ky-tô hữu chúng ta cũng có một vương quốc để yêu mến, để phụng sự. Đó chính là Nước Trời. Đó chính là quê hương đích thực của đời người chúng ta. Chúa Giê-su Ngài đã về trời sau một cuộc đời phụng sự Chúa Cha. Ngài về trời như một ân thưởng mà Chúa Cha dành cho Ngài về một cuộc đời luôn tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa Cha.

Biết bao các tín hữu từ xưa tới nay đã can đảm từ khước những cám dỗ mời mọc để sống trung thành theo Chúa. Họ thà chết chứ không phạm tội. Họ thà nghèo đói mà tâm hồn thanh thoát còn hơn là giầu có mà đầy lo âu bất an. Họ sẵn sang đánh đổi tính mạng của mình để bảo vệ đức tin, để làm chứng cho tin mừng. Họ không thể làm tôi hai chủ, nhưng luôn chọn Chúa làm gia nghiệp đời mình.

Sứ điệp Chúa về trời luôn nhắc nhở chúng ta hãy làm chứng cho Chúa. Làm chứng bằng cách sống chiến thắng những tham sân si của lòng người. Làm chứng bằng đời sống hy sinh, sống cao thượng trước những cám dỗ của đam mê thấp hèn. Làm chứng cho nhân thế thấy rằng có một cuộc sống thiêng liêng, cuộc sống hạnh phúc vô biên mà chúng ta dám đánh đổi mọi sự để đạt được là Nước Trời. Làm chứng nghĩa là chọn Chúa, là trung thành phụng sự Chúa. Làm chứng nghĩa là không bán rẻ linh hồn mình vì một chút bổng lộc trần gian. Cuộc sống của người ky-tô sống dưới thế gian, nhưng không thuộc về thế gian. Người ky-tô không thể vì một chút bổng lộc trần gian mà đánh mất nước trời mai sau.

Lạy Chúa, Chúa đã lên trời vinh hiển sau một cuộc đời trần gian đầy hy sinh, gian khổ. Xin cho chúng con biết theo gương Chúa mà đón nhận thập giá trong bổn phận hằng ngày. Xin giúp chúng con biết sống thanh thoát khỏi những đam mê thấp hèn ngõ hầu mai sau chúng con cũng được vinh hiển bên Chúa trong Nước Trời. Amen.
 
-----------------------------

 

nTrời-431: Suy niệm của Lm. Trầm Phúc


Chúa Thăng Thiên.
Ngày thế giới Truyền Thông Xã Hội

 

Trong thánh lễ này, Giáo Hội cho chúng ta đọc hai trình thuật về cuộc thăng thiên của Chúa Giêsu LênTrời-431


Trong thánh lễ này, Giáo Hội cho chúng ta đọc hai trình thuật về cuộc thăng thiên của Chúa Giêsu: đoạn mở đầu là sách Công Vụ Tông Đồ của thánh Luca và đoạn kết của sách Tin Mừng theo thánh Maccô. Đoạn này không do thánh sử viết mà do một người khác thêm vào nhưng Giáo Hội vẫn nhận đó là mạc khải.

Đoạn sách Công Vụ Tông Đồ gồm nhiều chi tiết đang lúc đoạn Tin Mừng rất ngắn gọn.

Thánh Luca viết sách Công Vụ Tông Đồ và đề tặng một người tên là Thêôphilô. Thêô, theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là Thiên Chúa; và philô, cũng theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là yêu. Thêôphilô là người yêu mến Thiên Chúa, tức là tất cả chúng ta. Thánh Luca gọi các Tông Đồ là những người mà Chúa Giêsu đã tuyển chọn, nhờ Chúa Thánh Thần. Một chi tiết nhỏ nhưng rất quan trọng. Như thế các ngài được Thánh Thần bảo đảm, nhưng vẫn có một người bị loại đó là Giuđa. Như thế, chúng ta thấy rằng, Thánh Thần tuyển chọn, nhưng vẫn tôn trọng quyền tự do của mọi người. Chúng ta cũng được tuyển chọn vào Giáo Hội, do Chúa Thánh Thần, nhưng trung thành hay không là do quyền quyết định của mỗi người. Thánh Luca cũng nhắc đến sự cứng tin của các Tông Đồ, và Chúa Giêsu phải dùng nhiều cách giúp các ông tiến sâu hơn vào niềm tin, cho các ông thấy Ngài vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình.

Ngài ở lại với các ông 40 ngày. Đây là con số tròn của người Do Thái, chỉ một thời gian dài, không nhất định. Thánh Luca cũng cho chúng ta thấy rằng, Ngài thường dùng bữa với các ông: “khi đang dùng bữa với các ông, Ngài truyền cho các ông đừng rời khỏi Giêrusalem… chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa… là chịu phép rửa trong Thánh Thần” và nhờ Thánh Thần đó các ông sẽ là chứng nhân của Ngài.

Trước khi rời khỏi các Tông Đồ, Ngài đã chuẩn bị tất cả những gì cần thiết cho sứ mệnh Ngài sẽ giao: Ngài nói với các ông về Nước Thiên Chúa, Ngài ban Thánh Thần, và sau đó, Ngài mới sai họ đi: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo…”

Một sứ mệnh cao cả và nặng nề!

Sứ mệnh đó được trao cho mỗi người chúng ta là những kẻ tin, những người được sai đi, những nhân chứng hôm nay của Ngài.

Chúng ta phải loan báo Tin Mừng để mọi người được cứu độ: “Tình yêu Chúa thúc bách chúng ta.”

Sau khi trao sứ mệnh cho các môn đệ, “Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu của Thiên Chúa”. Lên trời đây được hiểu như một sự tôn vinh. Chúa Giêsu đã hoàn thành sứ mệnh Chúa Cha đã trao cho Ngài. Nhiệm vụ trần thế của Ngài xem như chấm dứt, nhưng vẫn được tiếp tục qua các chứng nhân là các Tông Đồ hôm nay là chúng ta. Ngài không còn hiện diện hữu hình với chúng ta, nhưng Ngài vẫn hoạt động  như thánh Maccô nói: “Có Chúa cùng hoạt động với các ông và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”.

Ngài ở lại nhờ Thánh Thần của Ngài như Ngài đã hứa: “Thầy không bỏ anh em mồ côi, Thầy sẽ ở lại với anh em.” Đây chính là một bảo đảm chắc chắn.

Có lẽ nhiều người ngạc nhiên vì Chúa đã hứa sẽ có những dấu lạ kèm theo để xác nhận lời rao giảng, nhưng chúng ta không thấy những dấu lạ đó nơi các nhà truyền giáo hôm nay nữa. Nhưng thời các thánh Tông Đồ, các ngài làm nhiều dấu lạ như Phêrô, đến nỗi người ta mang bệnh nhân đến những nơi ngài sắp đi qua để chỉ cần bóng của Ngài chạm đến họ thì họ sẽ được lành bệnh.

Thánh Phaolô cũng làm nhiều dấu lạ khiến dân chúng tưởng ngài là thần minh và muốn tế lễ cho ngài. Những dấu lạ ấy chỉ còn rải rác nơi một vài Đấng Thánh như thánh Gioan-Maria Vianney, thánh Piô Pietrelcina… Chúng ta không thể mơ mộng trở về thời các Tông Đồ, chúng ta đừng quá ước vọng vào các dấu lạ. Chính chúng ta phải thành dấu lạ của Thiên Chúa: “Anh em là nhân chứng cho Thầy”.

Chúng ta đã lãnh nhận sứ mệnh rao giảng Tin Mừng. Đó là một mệnh lệnh, không chỉ cho các Tông Đồ mà cho toàn thể Giáo Hội, cho từng người đã được ghi ấn tín trong phép rửa tội, được Thánh Thần sai đi.

Nhiều người tưởng rằng công việc truyền giáo đòi hỏi nhiều điều kiện: kiến thức, tài năng… Đó là một sai lầm của đa số người Công giáo, vì thế họ chỉ cố giữ đạo cho chính mình thôi. Vì hiểu lầm, nhiều người  chùn chân trước mệnh lệnh của Chúa, dành việc này cho các linh mục hay tu sĩ, không biết rằng chính mỗi người đều là sứ giả của Tin Mừng.

Mọi người đã được thanh tẩy trong Thánh Thần phải hiên ngang rao giảng Tin Mừng. Rao giảng như thế nào? Vấn đề là: chỉ cần tin. Chúng ta có thể loan báo Tin Mừng bằng niềm tin. Khi chúng ta tin, chúng ta mới có thể nói và có rất nhiều cách để nói. Nói bằng lời, nhưng chúng ta có thể dùng một thứ ngôn ngữ không lời, đó chính là cuộc sống hằng ngày của chúng ta, một cuộc sống khắng khít với Chúa.

Cuộc sống Kitô hữu đòi hỏi chúng ta gắn bó với Chúa và như thế, mọi hành động ngôn từ của chúng ta đều trở thành loan báo. Tất cả những gì là thiện hảo, bác ái, chân thật đều trở thành một loan báo rõ rệt và hữu hiệu hơn cả lời nói: “Anh em là ánh sáng thế gian”. Ánh sáng này tuy không rõ rệt như ánh sáng mặt trời nhưng cũng rất dễ nhận thấy. Đó là một loan báo sống động. Sở dĩ thế giới chưa nhận biết Thiên Chúa, đó là vì lỗi của chúng ta. Công Đồng Vatican II đã nêu rõ như thế. Chúng ta đã được Chúa tuyển chọn, chúng ta chưa là ánh sáng cho trần gian và nhiều người đã trở thành bóng tối che lấp ánh sáng và vẻ đẹp của Chúa.

Chúa bảo chúng ta: “Hãy ra đi”. Chúa không bảo chúng ta dừng chân ở một trạm nào. Cuộc sống là một dòng chảy không ngừng. Việc loan báo Tin Mừng phải như thời gian vẫn tiếp tục tuôn chảy. Mỗi hành động ngôn từ của chúng ta là LOAN BÁO, tốt hay xấu là do chúng ta. Chúa đang ở phía trước và mời gọi chúng ta dấn bước.

Đừng sợ sệt. Đừng mang một mặc cảm nào. Hãy hiên ngang tiến bước trong sự lành, vì chúng ta luôn có Chúa đồng hành với chúng ta: “Có Chúa cùng hoạt động với các ông”. Ông mục sư Wumbrand ở Rumani đã thuật lại mười năm tù của ông. Ông nói: “Tôi giảng đạo và người ta bắt tôi và bảo tôi không được rao giảng như thế nữa. Đó là một lời cảnh báo. Ra về, tôi tiếp tục rao giảng trong các gia đình. Người ta lại bắt tôi và cấm không cho tôi rao giảng và hăm dọa nếu tôi rao giảng thì sẽ có biện pháp. Tôi vẫn tiếp tục rao giảng. Lần này người ta bắt tôi và đánh tôi một trận rồi cảnh cáo một lần nữa. Nhưng khi về, tôi vẫn tiếp tục rao giảng và lần này người ta đánh tôi nặng hơn. Tôi nói với những người đánh tôi: “Tôi ký hợp đồng với các anh thế này: hễ tôi giảng đạo, các anh đánh tôi và hễ các anh đánh tôi rồi thì tôi giảng đạo”. Sau cùng họ cho ông ngồi tù 10 năm…

Chúng ta có can đảm như thế không?

Chúng ta làm được gì nếu Chúa không hoạt động với chúng ta? Nhưng chúng ta có cùng hoạt động với Ngài không? Hay chúng ta chỉ sống cho mình, cho bản thân và mơ mộng những kết quả thấy được?

Chúa bảo chúng ta ra đi…và ra đi là phải bỏ lại sau lưng tất cả mơ mộng trần thế, tiện nghi và cả bản thân: “Sống là sống cho Chúa và chết cũng là chết cho Chúa”. Như thế mới có thể truyền giáo – hôm nay và tiếp tục…

Chúng ta là giòng giống lang thang trên khắp thế giới, (dù chúng ta không đi đâu cả), để loan báo hồng ân cứu độ. Không bám vào một cái gì… Ra đi mỗi ngày trong tự do, dù chúng ta vẫn có thể có gia đình, của cải. Ra đi trong nhiệm vụ hằng ngày. Đó là môi trường truyền giáo của chúng ta, và chúng ta cũng đừng quên mỗi người chúng ta là một xứ truyền giáo vì chính chúng ta cũng chưa biết Chúa đủ.

Chúng ta cứ ra đi, đừng tưởng rằng chúng ta hèn yếu, chẳng ích lợi gì cho Nước Chúa. Mỗi ngày, chúng ta nguyện “Danh Cha cả sáng”, Danh Cha vẫn chưa được bao nhiêu người biết đến, “Nước Cha trị đến”, Nước Cha vẫn chưa đến. Ý Cha cũng chưa được thể hiện…

Con đường còn dài và rất dài. Hãy bước từng bước một, nhỏ thôi, nhưng mỗi bước sẽ đem lại cho Nước Chúa một chiều kích rộng lớn hơn. Chúng ta cũng nhớ lời Chúa Giêsu đã hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.

Ngài đang có mặt nơi đây dưới hình thức tấm bánh, một món ăn, đem lại sinh lực cho mọi người. Hãy ăn lấy Ngài để cùng Ngài loan báo Tin Mừng cứu độ. Chúng ta không cô đơn trên đường. Có Ngài, chúng ta dám dấn thân sống cuộc sống trần thế của chúng ta như một loan báo liên lỉ.

----------------------------

 

nTrời-432: Suy niệm của Lm. Fx Nguyễn Hùng Oánh


CHÚA GIÊSU KYTÔ LÊN TRỜI MÀ VẪN Ở DƯỚI ĐẤT?

1- Quan niệm về "trời đất"

 

Theo vũ trụ quan của người Việt nam: - Trời là một quãng không (impersonnel) ở trên đầu ta LênTrời-432


a- Theo vũ trụ quan của người Việt nam:

- Trời là một quãng không (impersonnel) ở trên đầu ta đối với đất ta đang đứng đây:

Trên trờì có đám mây xanh,
Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng.
Trời quang, mây tạnh, trời u ám, trời nắng, trời mưa.

- Trời là Ông Trời (personnel):

Trời sinh voi, trời sinh cỏ.
Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân. (Kiều, câu 3241)

...

"Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa". (Kiều, câu 3249)

b- Theo Thánh Kinh

Dưới mắt người Do thái, trời là công trình tạo dựng của Thiên Chúa, là một kiến trúc vững chắc có các cột trụ chống giữ (Giop 26,11), có nền móng chắc chắn (2 Sm 22,8), có bể chứa nước, tuyết, băng giá, gió (Giop 38,22; Tv 33,7), có các cửa cống để tuôn các chất đó ra: tháo cống nước làm mưa, tháo cống gió làm gió (Stk 7,11; 2 V 7,2; Mal 3,10).

Trời ở trên, đất ở dưới. Trời là nhà của Thiên Chúa (Is 66,1) và đất là phần Thiên Chúa ban cho loài người (Tv 115, 16). Không ai lên trời được (Gioan 3,13; Cn 30,4; Rm 10,6). Kẻ mơ ước lên trời là người điên (xem Stk 11,4) vì tự xem mình đồng hàng vơi Thiên Chúa (Is 14,13).

2- Chỉ có Chúa Giêsu Kytô đã lên trời vì Ngài từ trời xuống:

"Thầy từ trời mà xuống, không phải làm theo ý Thầy, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai Thầy" (Gioan 6,38). Thầy phát xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến"(nt 8,42).

Và khi Chúa Kytô đã thi hành Thánh Ý Chúa Cha trong mầu nhiệm Vượt qua (chết và sống lại), Ngài trở về với Chúa Cha bằng "con đường thăng thiên":

"Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa" (Marcô 16,19).

" Đang khi chúc lành cho họ, thì Người rời khỏi họ và được đem lên trời" (Luca 24,51)

"Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa "(Công vụ 1,9)

"Thiên Chúa đã biểu dương nơi Đức Kytô, khi làm cho Đức Kytô sống lại từ cõi chết, và đặt ngư bên hữu Người trên trời" (Ephêso 1,20)

"Thiên Chúa ban cho ta một lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu Kytô, Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa sau khi đã lên trời" (I Phêrô 3,21-22).

Đức Tin dạy chúng ta biết Ngôi Hai Thiên Chúa xuống mặc lấy thân xác người phàm như chúng ta ngoại trư tội lỗi, gọi là Đức Chúa Giêsu Kytô. Vậy Chúa Giêsu Kytô là Thiên Chúa thật và là người thật. Là Thiên Chúa Ngôi Hai, Ngài ở khắp mọi nơi bằng bản tính và Ngôi Vị nên không thể nói Ngài "lên trời hoặc xuống trần gian ". Nhưng Ngài mặc lấy xác phàm của chúng ta, như vậy khi sống như con người thì phải hoạt động trong Thân xác có giới hạn trong phạm vi của nó trên bình diện tự nhiên. Khi sống lại, vào trong vinh quang (siêu nhiên), than xác Chúa biến đổi hợp với tính siêu nhiên, nhưng vẫn là thân xác loài người, có những hạn chế, giới hạn. Chúa Kytô lên trời tức là thân xác của Ngài lên trời nghĩa là được đưa lên trời, được vinh thăng trong Nươc Trơi, Ngài làm chủ, làm vua trời đất muôn loài, muôn vật. Và khi Ngài hiện ra, không có nghĩa là Ngài từ trời xuống, nhưng là Ngài ban ơn đặc biệt để các Tông đồ thấy con người của Ngài, nghe tiếng Ngài nói như cũ.

Hiểu như trẻ thơ thế nầy: Chúa sống lại, hiện ra cho các Tông đồ thấy rồi biến đi, trốn vào một nơi bí mật, rồi lại hiện ra. Cứ thế trong vòng bốn mươi ngày, sau đó Chúa mới lên trời. Thật ra, khi sống lại, thân xác Chúa đã ơ cõi siêu nhiên, cõi trời rồi và Ngài hiện ra tức là Ngài ban ơn cho người ta thấy,nghe Ngài nói. Đến ngày thứ bốn mươi, Chúa hiện ra lần chót bằng một "cử chỉ lên trời" đề cho các Tông đồ biết Ngài không còn hiện ra như thế nữa.

Nhưng sự kiện Chúa thăng thiên có một tầm rất quan trọng nên thánh Phaolô đã nói rất mạnh: "Người đã lên nghĩa là gì, nếu không phải Người đã xuống tận các vùng sâu thẩm dưới mặt đất. Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi từng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn"(Eph 4,9-10). Người đã xóa sổ nợ bất lợi cho chúng ta, sổ nợ mà các giới luật đã đưa ra chống lại chúng ta. Người đã hủy bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá. Người đã truất phế các quyền lực thần thiêng, đã công khai bêu xấu chúng, đã điệu chúng đi trong đám rước khải hoàn của Người" (Col 2,14-15). Bản văn nhấn mạnh đến cuộc "đảo chính" (truất phế) vì một nhóm người xem Chúa Kytô ngang hàng với thiên thần nên phải "truất phế, bêu xấu, trói tay" điệu chúng đi trong đám rước chiến thắng của Chúa Kytô.

Về phần tín hữu của Chúa Kytô, vì Chúa lên trời mở đầu cho việc Chúa trở lại trong vinh quang giữa hàng thần thánh, ban ơn cứ độ viên mãn (xác sống lại trong vinh quang), đây là thời gian "trời đất giao hòa" vì Chúa lên trời mà còn ỡ trần gian. Ngay từ bây giờ, dầu chúng ta còn sống trên cõi trần, "Chúa Kytô đã cho chúng ta được cùng sống lại với Người và cùng ngự trị với Người trên cõi trời"(Eph 2, 6), "cũng như chúng ta dã mang hình ảnh người bởi đất mà ra, thì nay chúng ta đang mang hình ảnh Đấng từ trời mà đến (1 Cor 1,49). Tín hữu giống như người thiên quốc, "không thuộc thế gian nhưng không được cất khỏi thế gian" (Ga 17,15-16) và phải hoàn thành sứ mệnh Chúa trao phó trước khi Chúa lên trời nên rất cần sự hiện diện của Chúa tức là Chúâ ở lại cùng Hội Thánh cho đến tận thế. Công đồng Vatcan II đã dạy như thế nầy: Chúa Kytô hiện diện trong Hội Thánh, nhất là trong các hoạt động phụng vụ.

Người hiện diện thực sự trong Hy lễ, không những trong con người của thừa tác viên, vì " như xưa chính Người đã tự dâng mình trên thập giá thì nay chính Người cũng dâng mình nhờ thừa tác vụ của các linh mục", nhất là hiện diện thực sự dưới hai hình thái Thánh Thể. Người hiện diện thiết thực trong các Bí tích nhờ quyền năng của Người; vì thế, ai rửa tội thì chính là Chúa Kytô rửa. Người hiện diện thiết thực trong lời của Người vì chính Người nói khi người ta đọc Thánh Kinh trong Hội Thánh. Sau hết, Người hiện diện khi Hội Thánh cầu nguyện và hát Thánh vịnh, như chính Người đã hứa: "Ở đâu có hai, ba người nhân danh Thầy mà họp lại, Thầy sẽ ở giữa họ" (Mt 18,20) (Hiến chế Phụng vụ, số 7).

----------------------------

 

LênTrời-433: Hạnh phúc lớn lao - Lm. Nguyễn Hữu An.

 

Phi hành qia Gagarin sau khi đã bay nhiều vòng trong vũ trụ khi trở về trái đất đã tuyên bố rằng LênTrời-433


Phi hành qia Gagarin sau khi đã bay nhiều vòng trong vũ trụ khi trở về trái đất đã tuyên bố rằng:tôi chẳng thấy Thiên Chúa đâu cả. Thế nhưng, nhà Bác hoc Newton khi quan sát vũ trụ bằng kính viễn vọng đã thốt lên: tôi thấy Thiên Chúa qua kính viễn vọng của tôi.

Chúng ta là những người tin Chúa Giêsu Phục Sinh và lên trời cả hồn lẫn xác. Vậy chúng ta trả lời cho vấn nạn đó như thế nào? Chúa Giêsu lên trời nghĩa là gì? Nay người ở đâu? Việc Chúa Giêsu lên trời có liên hệ gì tới cuộc sống hiện tại của chúng ta hay không?

Theo quan niệm của người Do Thái cách đây hơn 2000 năm, vũ trụ này chia ra làm ba phần: Phần dưới mặt đất là là âm phủ dành cho người chết;phần trên mặt đất dành cho loài người đang sống và trời là thế giới của Thiên Chúa và các Thánh.

Để thích ứng với quan niệm bình dân ấy, các Giáo Lý Viên ngày xưa đã trình bày mầu nhiệm phục sinh của Đức Giêsu thành hai giai đoạn:

- Giai đoạn I: Sống lại, Đức Giêsu đi từ âm phủ lên mặt đất
- Giai đoạn II: Lên trời, Đức Giêsu bay từ mặt đất lên thế giới của Thiên Chúa.

Trình bày như vậy thì dễ hiểu nhưng không hoàn toàn đúng với thực tế,hậu quả tai hại là người ta dễ hiểu lầm rằng khi lên trời như thế Chúa Giêsu sẽ đi xa trái đất và cuộc sống của loài người, vì trời thì ở trên cao xa tắp, đâu có liên hệ gì tới trái đất. Những chữ lên trời bị chi phối bơi cách suy nghĩ có giới hạn của chúng ta.Theo cách suy nghĩ đó,các biến cố xảy ra luôn luôn được gắn liền với các vị trí trong không gian.Thưc ra trời đây không phải là một nơi và lên không có nghĩa là nơi đó ở trên cao.Lên trời ở đây không hiểu theo nghĩa địa lý vì trời hay thiên đàng là một trạng thái hơn là một nơi chốn.Chúng ta đang sống trong không gian và thời gian nên định vị trí mọi sự theo hai trục đó. Điều cốt yếu mà Thánh kinh muốn dạy về mầu nhiệm Thăng Thiên là Đức Kitô đã ra khỏi thế giới trần thế bị tội lỗi làm nhiễm độc và một ngày kia sẽ tiêu tan để tiến vao một thế giới mới, trong đó Thiên Chúa ngự trị tuyệt đối và vật chất đã biến đổi, đã thấm nhuần tinh thần.

Thực ra khi Chúa Giêsu sống lại Người đã lên trời rồi theo kiểu nói của Kinh Thánh, nghĩa là Ngươì bước vào coi vinh quang của Thiên Chúa Cha, Người ngự bên hữu Chúa Cha,mặc lấy vinh quang và quyền năng của Chúa Cha.

Trong 40 ngày sau sống lại, Chúa Giêsu hiện ra nhiều lần để dạy dỗ và cũng cố đức tin của các Tông Đồ. Giáo hội đã được thiết lập nay được cũng cố để được sai đi. Như vậy sự kiện lên trời mà phụng vụ Giáo Hội kính nhớ hôm nay có ý nghĩa sâu xa. Nó chấm dứt thời gian Chúa hiện diện giữa nhân loại bằng thân xác, chấm dứt thời gian huấn luyện các Tông Đồ. Một thời điểm có tính cách quyết định của lịch sử cứu độ là Đức Kitô ban những giáo huấn cuối cùng,trao những chức vụ phải thi hành trong giáo hội, chuẩn bị cho các Tông đồ thi hành sứ mạng chứng nhân của Đấng phục sinh trong thế giới.

Từ nay trở đi, Người sẽ hiện diện với chúng ta một cách vô hình, với quyền năng của Chúa Thánh Thần, thân xác Đức Giêsu đã được thần khí hoá và đi vào cõi vĩnh hằng của Chúa Cha. Sự hiện diện này thâm sâu hơn và hiệu năng hơn. Khi còn ở trong thân xác, Chúa Giêsu chỉ ở bên cạnh chúng ta thôi, bên cạnh một số người thôi. Từ nay, với quyền năng Chúa Thánh Thần Đức Giêsu sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người.

Khi hai người yêu nhau thì luôn muốn sống bên nhau, nhưng tới một giây phút nào đó họ cảm thấy sống bên nhau vẫn chưa đủ. Xuân Diệu đã diễn tả chân lý ấy cách sâu sắc: Hai người tình ngồi sát bên nhau, ôm lấy nhau mà vẫn còn thấy rất xa xôi. Nnững người yêu nhau muốn sống trong nhau, nhưng điều đó không thể xảy ra giữa loài người được vì dẫu sao thân xác của mỗi người vẫn tạo ra một ngăn cách. Điều con người không thể làm được thì Thiên Chúa đã làm. Đức Giêsu một khi ngự bên hữu Chúa Cha đã hoàn toàn mặc lấy quyền năng Chúa Thánh Thần, Người đến ngự trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Chính Người đã nói “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến nó và chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23). Để chúng ta hiểu hơn về sự hiện diện này Chúa đã dùng dụ ngôn cây nho và cành nho “Thay là cây nho các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều hoa trái vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Thiền sư Suzuki rất tâm đắc với huyền nhiệm này khi viết: Thiên Chúa ở trong con người và con người ở trong Thiên Chúa. Chúa là người và người là Chúa mà Chúa vẫn là Chúa và người vẫn là người. Quả thật, đó là điều kỳ bí nhất của Tôn Giáo, một nghịch lý thâm u nhất của triết học.

Chúa về trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng. Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào.

Bài Tin mừng hôm nay kết thúc phúc âm Maccô nhưng thực ra là một sự khởi đầu, một sự khai mở, đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu. Hình thức của việc truyền giáo được chỉ định rõ ràng: Làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy. Làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các tông đồ, qua các Tông đồ rồi đến các môn đệ Đức Giêsu trở thành người sống đương thời với chúng ta “và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.

Chúa đã dùng giáo hội như đôi tay để tiếp tục công cuoc cứu rỗi của Người. Sứ mệnh của Chúa là sứ mệnh thiêng liêng. Nhưng sứ mệnh đó phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài.Giáo hội thực thi sứ mệnh đó trong khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của giáo hội mà Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống, dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.

Mỗi Kitô hữu là chi thể của giáo hội, thân mình mầu nhiệm Chúa Kitô, mỗi người chúng ta cũng là những cánh tay mở rộng của Chúa Kitô, nhờ đó Người không ngừng trao ban tình thương, ơn cứu độ và hạnh phúc cho mọi người.

---------------------------

 

LênTrời-434: Loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo


(Chú giải của Lm. FX. Vũ Phan Long)

1.- Ngữ cảnh

 

Tin Mừng Máccô kết thúc với câu 16,8. Tuy vậy, một số Kitô hữu thuộc thế kỷ i-ii đã tìm cách LênTrời-434


Tin Mừng Máccô kết thúc với câu 16,8. Tuy vậy, một số Kitô hữu thuộc thế kỷ i-ii đã tìm cách "bổ túc" truyện sách Tin Mừng bằng cách thêm vào những cảnh mà họ nghĩ rằng tác giả Mc hẳn cũng đã thêm vào nếu ngài viết tiếp. Đoạn văn 16,15-20 nằm trong Phần Kết phụ trội thứ nhất gọi là "Phần Kết Dài" hay là "Phần Kết Vô Danh", từ c. 9 đến c. 20 của chương 16. Phần này nói đến những cuộc hiện ra của Đức Giêsu với bà Maria Mácđala và với các môn đệ để thúc giục họ, tức Hội Thánh, đi loan báo Tin Mừng khắp nơi. Các nhà truyền giáo không có gì phải sợ, bởi vì Đức Giêsu Phục Sinh vẫn ở với họ. Các độc giả tinh ý sẽ thấy có một số đề tài trong các câu này không giống gì với những điều họ đã thấy trong TM II. Họ cũng còn có thể nhận ra nơi các đề tài này âm vang của những cảnh quen thuộc ở trong các Tin Mừng khác, được quy tụ lại để làm cho phần kết của Mc (16,8) bớt đột ngột (x. Ga 20,11-18; Lc 24,13-35; Mt 28,16-20).

Bản văn chúng ta đọc hôm nay tập trung vào sứ mạng phổ quát của các tông đồ, và giống như Lc 24,36-53, nó kết thúc với việc Đức Giêsu lên trời mà các ông thấy được. Bài không hề xác định nơi chốn. Tác giả chỉ muốn chúng ta lưu ý đến điều cốt yếu: sứ mạng được giao phó cho các môn đệ.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba đơn vị:

1) Lệnh ra đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo (16,15-18);
2) Lên trời (16,19);
3) Ra đi thi hành sứ mạng (16,20).
3.- Vài điểm chú giải

- Nhóm Mười Một (14): Đây chính là Nhóm Mười Hai trước đây, nhưng nay chỉ còn mười một tông đồ, vì Giuđa không còn nữa. Nhóm mang nơi mình dấu chỉ của sự sa sút. Chính là với Nhóm này mà Đức Giêsu đã hiện ra và giao sứ mạng loan báo Tin Mừng. Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra và giao sứ mạng, điều này có nghĩa là Người đã tha thứ cho họ, và lòng cứng tin của họ đã được thắng vượt.

- Tin Mừng (15): Nội dung của sứ điệp phải loan báo không được giải thích, mà lại được tổng hợp trong khái niệm "Tin Mừng". Do khái niệm này được nối kết với "các thọ tạo", nó gần với Cl 1,23. Công thức này đã được chuẩn bị trong Do Thái giáo, nơi mà Thiên Chua được ca ngợi là vua của toàn thể công trình tạo thành của Ngài (Gđt 9,12), là chúa tể của muôn loài thọ tạo và có lòng yêu thương muôn loài thọ tạo (x. 3 Mcb 2,2.7; 6,2. Sách 3 Mac không thuộc về Kinh Thánh). Vậy Tin Mưng phải loan báo chính là quyền chúa tể của Đức Kitô Phục Sinh trên toàn thể thọ tạo.

- phép rửa (16): Các phản ứng của con người trước sứ điệp Tin Mừng là tin hoặc không tin. Đức tin có kèm theo thái độ sẵn sàng lãnh nhận phép rửa. Phép rửa nhân lãnh trong đức tin đưa tới ơn cứu độ trong cuộc phán xét chung cuộc. Trong Tt 3,5 và 1 Pr 3,21, phép rửa và ơn cứu độ được nối kết với nhau. Sự đối lập giữa cứu độ và kết án khiến ta nhớ đến Ga 3,18. Tuy nhiên, ở đây bản văn hướng đến cuộc phán xét chung.

- những dấu lạ đi theo (17): Khác với những gì xảy ra ở Mc 8,11t, dấu (lạ) được dùng theo nghĩa tích cực. Dấu lạ không đi trước đức tin và cũng không diễn tả một uy quyền chỉ được ban riêng cho các môn đệ (như ở Mc 6,7-13), mà phải được dùng như là cách Thiên Chúa chuẩn nhận cho những ai đã trở thành tín hữu. Dấu lạ cho thấy Đức Kitô là vị Chúa tể mới của tạo thành, Người muon ban ơn cứu độ cho toàn thể tạo thành. Năm loại phép lạ quy chiếu về sách Cv: đuổi quỉ (Cv 16,16-18), nói tiếng lạ (Cv 2,1-11), cầm rắn độc (Cv 28,3-6), chữa bệnh (Cv 31-10; 9,31-35; 14,8-10; 28,8t). Còn thuốc độc có lẽ dựa theo một truyện kể nào đó (chẳng hạn chuyện sử gia Êusêbiô kể về Giúttô Bácsaba; x. Hist. Eccl. 3,39,9). Lc 10,19 có nói đến khả năng đạp trên rắn độc và bọ cạp. Các dấu lạ xảy ra "nhân danh Thầy", tức là với việc cầu khẩn danh Đức Giêsu. Như thế, Đức Giêsu được tôn vinh tiếp tục ở với cộng đoàn của Người và hoạt động.

- Chúa Giêsu được đưa lên trời (19): Danh hiệu "Chúa Giêsu", rất quen thuộc với Phaolô và sách Cv, chỉ xuất hiện ở đay trong các Tin Mừng. Đấng Phục Sinh, Đấng được tôn vinh, chính là Kyrios (chúa tể), là Kosmokrator (chúa tể vũ trụ). Cuộc lên trời của Đức Giêsu giả thiết có hình ảnh của Kinh Thánh về thế giới (= lên trời), được mô tả phỏng theo cuộc lên trời của ngôn sứ Êlia (2 V 2,11; 1 Mcb 2,58).

- Ngự bên hữu Thiên Chúa: Câu này dựa theo Tv 109 (110), 1 muốn nói rằng nay Đức Giêsu có tất cả quyền năng của Thiên Chúa.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Lệnh ra đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo (15-18)

Ta thấy lệnh truyền của Đức Giêsu quá rõ ràng và cấp bách, nhưng trong thực tế, dường như không phải thế: Đức Giêsu không cho biết rõ khoảng thời gian kéo dài từ khi Ngươi sống lại đến khi Người quang lâm; Người không loan báo rằng các Dân ngoại sẽ dần dà đi vào trong Giáo Hội trước khi xảy ra phán xét chung; các tông đồ đã phải mò mẫm tìm kiếm phương hướng hoạt động, với sự giúp đỡ cua Chúa Thánh Thần (x. Cv 10; 11,1-8; 15,7-11...). Dù sao, ở đây, chúng ta thấy sứ mạng của Giáo Hội nơi Dân ngoại đã trở nên rõ ràng, không ai phản đối nữa: các tông đồ phải ra khỏi môi trường Do Thái giáo mà loan báo Tin Mừng cho "mọi loài thọ tạo". Công thức này tương đương với Mc 1,10 và Mt 28,19: "mọi dân tộc"; chỉ loài người mới có thể nghe rao giảng và đáp lại bằng đức tin. Tuy nhiên, cũng có thể, trong chiều hướng của thánh Phaolô (Rm 8,19-22; Cl 1,1-23), tác giả nghĩ đến ảnh hưởng của công cuộc Đấng Cứu thế thực hiện trên toàn vũ trụ.

Tại sao lại "loan báo Tin Mừng cho muôn loài thọ tạo"? Cây cối có thể nghe Tin Mừng? Khi người ta nghe theo sứ điệp của Chúa Kitô, phải chăng tất cả vũ trụ sẽ được biến đổi? Điều này sẽ được thánh Phaolô giải thích trong Thư gửi người Rôma: "Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người... với niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang" (Rm 8,19-21). Khi chúng ta sử dụng các thọ tạo sai cách, chúng ta làm điều dữ. Khi sứ điệp Tin Mừng thay đổi con tim chúng ta, muôn loài thọ tạo cũng sẽ được cứu chuộc; chúng không còn bị sử dụng cho điều xấu nữa, mà được sử dụng đúng mục tiêu của chúng như khi chúng được tạo thành: một phương tiện để yêu thương và sống hạnh phúc. Sứ mạng của các môn đệ là làm việc để cho có một nhân loại mới và một thế giới mới chào đời.

Đức tin chính là lời đáp trả lời rao giảng và được liên kết với phép rửa tội (Cv 2,41; 8,12...).

Còn về các dấu lạ, trong Hội Thánh lúc ấy, không phải bao giờ các dấu lạ cũng được các tông đồ thực hiện; nhiều lần Thánh Thần hành động nơi và qua các thính giả (x. Cv 10,44-46). Các dấu lạ được kể ra như là những ví dụ, và được chứng thực trong sách Cv.

* Lên trời (19)

Tác giả đã liên kết hai thực tại không thuộc về cùng một bình diện, một bên là một cuộc tỏ mình hữu hình của Đức Giêsu Phục Sinh kết thúc những cuộc hiện ra, được diễn tả bằng ngôn ngữ của sách Cv (x. Cv 1,1-11); một bên là một cuộc tôn vinh trên thiên quốc, gắn liền với cuộc Phục Sinh (x. Ep 4,10; 1 Tm 3,16...). Thật ra, tác giả Mc không tường thuật một biến cố xảy ra trước mặt các khán giả. Các độc giả sẽ sai lầm nếu tưởng tượng Thăng Thiên như một "cuộc rời bỏ nhau", "một chuyến ra đi", "một sự biến mất". Đức Giêsu không ở quanh quẩn đâu đó trong vòng bốn mươi này trước khi lên trời. Người đã đi vào vinh quang của Cha Người ngay sau khi chết. Ngày Thăng Thiên không phải là một lễ từ biệt, mà là một lễ mừng sự hiện diện. Điều mà tác giả muốn kể cho chúng ta là Đức Giêsu Nadarét, đã bị lính Rôma giết vào trước lễ Vượt Qua, không hề bỏ rơi các môn đệ Người mãi mãi. Người đã sống lại và tiếp tục sống với họ. Cách thức hiện diện thì khác, nhưng Người không bỏ rơi họ. Trước khi sống lại, Người không thể ở với mọi người tại mọi nơi chốn. Nay đã được tôn vinh, Người có thể hiện diện ở mọi nơi. Người có thể ở với mọi người chúng ta.

* Ra đi thi hành sứ mạng (20)

Tác giả quan tâm khẳng định rằng trong hoạt động truyền giáo, các tông đồ (và sau các ông, là Hội Thánh mọi thời) có thể cậy dựa vào sự hiện diện tuy vô hình nhưng hữu hiệu của Đức Giêsu đang ở trên thiên quốc với tất cả quyền năng Kyrios của Người.

Ngay ngày hôm nay, việc loan báo Tin Mừng cũng phải có kèm theo các dấu lạ, nhưng các dấu lạ này không phải là những mánh lới phù chú ma thuật, nhưng là những dấu chỉ cho thấy thế giới mới như các ngôn sứ và tác giả Mc đã từng lon báo.

+ Kết luận

Bởi vì các nhà chuyên môn cho rằng Kết dài của TM Mc là một huấn giáo về Phục Sinh, chúng ta có thể đối chiếu bản văn với 1 Cr 15,1-11. Cuộc gặp gỡ với một nhóm môn đệ giới hạn trở thành nền tảng cho các biến cố liên hệ đến Đức Giêsu Phục Sinh. Giới hạn về thời gian giữa cuộc Phục Sinh và Lên Trời đảm bảo cho tính hợp pháp của các chứng nhân chọn lọc, nhưng cũng cho thấy cuộc Phục Sinh là như một kiểu trở lại tam thời của Đức Giêsu trong một cuộc sống trần thế. Quan trọng là đi loan báo Tin Mừng "khắp nơi" và chỉ khi loan báo như thế, người môn đệ mới trải nghiệm sự hỗ trợ thường trực của Đức Chúa được tôn vinh vẫn đang ở lại trong cộng đoàn mình.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Nay đã sống lại, đã được tôn vinh, Đức Giêsu có thể hiện diện với từng người trong chúng ta. Có thể gọi Thăng Thiên là lễ nhân ra nhiều sự hiện diện của Đức Giêsu. Đây là ý nghĩa đích thực của Thăng Thiên, nên chúng ta có thể thực sự hạnh phúc và chan hòa niềm vui. Đức Giêsu Phục Sinh là Chúa tể (Kyrios) nhưng vẫn đang "cùng hoạt động" với các môn đệ Người, với mỗi tín hữu đang dấn thân cho sứ vụ Người giao phó.

2. Nhìn vào Nhóm môn đệ, chúng ta nhớ đến tập thể trong đó chúng ta đang hiện diện: gồm những con người bất toàn, có thất trung. Nếu hôm nay, chúng ta còn có thể ra đi loan báo Tin Mừng, là vì Đức Giesu Phục Sinh đã tha thứ và khôi phục tư cách cho chúng ta. Sống đời thừa sai là làm chứng rằng chúng ta đã được ơn tha thứ và chúng ta đã gặp Đấng Phục Sinh.

3. Địa bàn hoạt động của người môn đệ là thế giới, "khắp tứ phương thiên hạ"; đối tượng họ gặp gỡ là mọi người và từng người trên đường họ đi, "mọi loài thọ tạo". Người môn đệ của Đấng Phục Sinh không được để cho những phân biệt về màu da, ngôn ngữ, chủng tộc,... làm cho mình ngần ngại ra đi chia sẻ Tin Mừng cứu độ.
4. Hôm nay chúng ta đang làm các "dấu lạ" nào? Phải chăng chúng ta cứ muốn Thiên Chúa làm các phép lạ, hay là chính chúng ta cũng muốn thực hiện các "dấu lạ"? "Dấu lạ" có phải la chính sự hiện diện khiêm tốn, nhân ái và có khả năng "chữa lành" của chúng ta? Con người hôm nay có cảm thấy rằng Đức Giêsu đã lên trời, vẫn đang ở cùng chúng ta tại đây chăng?

---------------------------

 

LênTrời-435: Sứ mệnh truyền giáo


(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy)

Tin mừng Mc 16: 15-20

 

Chúa đã lên trời, nhưng ngài lại trao chúng ta nhiệm vụ: “Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ LênTrời-435


Chúa đã lên trời, nhưng ngài lại trao chúng ta nhiệm vụ: “Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, rao giảng Tin Mừng cho mọi loài tạo vật”.

Hôm nay Giáo Hội long trọng cử hành lễ Chúa lên trời. Thực sự, Chúa đã lên trời vinh quang ngự bên hữu Chúa Cha ngay khi sống lại. Ngày lễ hôm nay kết thúc cuộc sống trần gian của Đức Giêsu trước sự chứng kiến của các môn đệ. Chúa đã lên trời.

Chúa đã lên trời, nhưng ngài lại trao chúng ta nhiệm vụ: “Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, rao giảng Tin Mừng cho mọi loài tạo vật”.

Đây là một nhiệm vụ cấp thiết như thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Thông Điệp “Sứ Vụ Đấng Cứu Độ” (Redemptoris Missio) đã nói:

 “Chúng ta không thể ngồi yên khi nghĩ tới hàng triệu anh chị em chúng ta đang sống trong tình trạng không biết đến tình yêu của Thiên Chúa, chính họ cũng được cứu chuộc bằng máu Chúa Kitô” (RM 86).

Và Đức Phaolô VI đã khẳng định trong Tông Huấn “Loan báo Tin Mừng” (Evangelii Nuntiandi): “đối với Hội Thánh không phải là một sự cống hiến tuỳ ý, nhưng là một bổn phận Hội Thánh phải thực thi theo lệnh truyền của Chúa Giêsu, để loài người có thể tin và được cứu rỗi. Quả thế, đây là sứ điệp cần thiết. Đây là sứ điệp độc nhất. Sứ điệp không thể thay thế” (EN 5).

Vì vậy không lạ gì khi Công Đồng Vaticanô II và Huấn Quyền sau Công Đồng của Hội Thánh luôn nhấn mạnh một cách đặc biệt về nhiệm vụ truyền giáo mà Đức Kitô đã uỷ thác cho các môn đệ của Người, và là nhiệm vụ mà toàn thể Dân Thiên Chúa: các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ và giáo dân phải dấn thân thực hiện.

Thực vậy, Sứ điệp của Đức Giêsu luôn mang tính thời sự, đi vào giữa lòng lịch sử và có khả năng đáp lại những mối lo lắng thâm sâu nhất của mỗi người. Vì vậy mọi thành phần trong Hội Thánh phải ý thức rằng “các chân trời bao la của sứ mạng Hội Thánh và tình hình phức tạp hiện nay đòi hỏi những phương thức mới để có thể truyền đạt hiệu quả Lời Thiên Chúa”

Chúng ta có thể rao giảng Lời Chúa bằng lời nói, chữ viết hay bất cứ một phương tiện nào, nhưng phương tiện có tính cách thuyết phục nhất là đời sống thực tế của chúng ta. Chính con người chúng ta là dấu ấn của Thiên Chúa để người ta trông thấy chúng ta thì đồng thời cũng nhìn ra Chúa. Trong việc phong thánh cho linh mục Gioan Vianney, cha sở xứ Ars, một nhà điều tra phong thánh có hỏi một người trong giáo xứ ngài về đời sống của ngài, thì người giáo dân ấy chỉ trả lời vỏn vẹn bằng mấy chữ: “Tôi đã trông thấy Thiên Chúa trong một con người”.

- Cách rao giảng của Thánh Phanxicô Assisi

Thánh Phanxicô gọi một thầy dòng cùng đi giảng với ngài. Hai thầy trò cùng đi các đường phố Assise, cách nghiêm trang, suy tưởng về Chúa… Về nhà, thầy dòng hỏi cha thánh:

– Giảng ở đâu?

Cha thánh trả lời:

– Giảng là đem Chúa đến bằng gương sáng, bằng cách sốt sắng mang Chúa trong tâm hồn.

- Cách rao giảng của bác tài xế xe taxi

Một vị linh mục sau chuyến đi du lịch Đài Bắc trở về đã thuật lại một cách thức làm tông đồ truyền giáo của một bác tài xế xe taxi ở đó như sau:

“Ngày nọ, tôi đón taxi từ khách sạn đi trung tâm thành phố Đài Bắc mua sắm quà lưu niệm. Tôi thấy ngạc nhiên khi thấy trong xe có dán một tờ giấy ghi mấy dòng chữ như sau: “Bạn có thể thấy một vài quyển sách về tôn giáo ở hộc bên hông xe. Trong khi xe đang chạy, bạn có thể đọc sách và nếu thích, bạn có thể mang sách theo khi rời khỏi xe mà không phải trả tiền mua sách”. Tôi tò mò tìm hộc sách và thấy một chục cuốn sách mỏng bằng tranh nội dung về cuộc đời Đức Giêsu in trên giấy trắng khá đẹp, một ít sách truyện về các thánh và các danh nhân tôn giáo, một ít cuốn là những câu chuyện về việc sống đức tin giữa đời thường... Ngoài ra, phía trên tấm kính chiếu hậu trước mặt tài xế cũng có một ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nhỏ. Tôi mở lời hỏi tài xế:

- Này bác tài, xin vui lòng cho tôi biết hành khách đi xe có ai quan tâm đến hộc sách đạo của bác không?

- Ồ, có chứ! Có nhiều người đã lấy ra xem, và có người còn mang về nhà nữa.

Tôi hỏi tiếp:

- Bác có cảm tưởng gì khi thấy người ta đọc sách do bác giới thiệu?

- Tôi cảm thấy rất sung sướng anh à! Anh biết không: tôi không có nhiều giờ đi lễ nhà thờ. Vì tôi phải luôn chạy xe để kiếm tiền nuôi sống gia đình. Do đó, đây là cách làm công tác tông đồ của tôi. Tôi rất mừng vì đã có thể làm hai công việc một lúc: vừa lái xe lại vừa rao giảng Tin Mừng mà không phải tốn thêm thời giờ. Tôi nghĩ rằng tôi đang làm một công việc tuyệt vời!

Một số hội đoàn Công Giáo Tiến Hành cũng đã phân phát cho các tài xế xe taxi ở Đài Bắc một tấm thẻ bọc nhựa treo trước mặt tài xế. Trên tấm thẻ ở mặt trước có in hình cây Thánh Giá màu đỏ với dòng chữ: “Chúa đang đồng hành với bạn”. Mặt sau là lời cầu của các tài xế như sau: “Lạy Chúa, khi con lái xe, xin giúp con yêu mến tha nhân như chính bản thân con, để con không làm gì gây thiệt hại cho bất cứ ai. Xin cho con giữ đức công bình để không thu tiền cước quá giá, sẵn sàng trả lại đồ đạc cho khách hàng bỏ quên trên xe. Xin cho đôi mắt con được tinh tường, cho tay chân con được khéo léo để lái xe an toàn và tránh gây ra tai nạn. Xin cho tâm trí con luôn được bình an và thần kinh con luôn ổn định. Xin đừng để con lái xe khi đã uống rượu say vì không đủ tỉnh táo. Xin đừng để con nhiễm thói cạnh tranh bất chính với các bạn đồng nghiệp. Và cuối cùng xin Chúa giúp con luôn THƯỢNG LỘ BÌNH AN”.

----------------------------

 

LênTrời-436: Thế gian chỉ là quán trọ


(Suy niệm của Lm. John Nguyễn Tươi)

 

Một người đàn ông khi còn sống chuyên làm nghề quảng cáo. Khi ông ta chết, ông ta đến gặp LênTrời-436


Một người đàn ông khi còn sống chuyên làm nghề quảng cáo. Khi ông ta chết, ông ta đến gặp diêm vương. Diêm vương ân cần hỏi ông: "Muốn ở thiên đàng hay hỏa ngục." Ông ta ngập ngừng đáp. Tôi chưa thấy thiên đàng hay hỏa ngục như thế nào thì làm sao tôi có thể chọn!. Diêm vương dẫn ông ta đến một nơi và chỉ cho ông ta thấy cảnh thiên đàng. Đó là một nơi mát mẻ, yên lặng, thanh bình, vui chơi..., người ta ăn nói nhẹ nhàng, lịch thiệp. Sau đó, Diêm vương dẫn ông ta đến xem hỏa ngục, thì ông ta thấy vui nhộn, người ta ăn nhậu, vui vẻ, có các cô gái chân dài, trẻ đẹp múa hát. Thế là ông ta thích thú. Khi nhìn thấy thiên đàng và hỏa ngục rồi, ông ta mau mắn trả lời: ở thiêng đàng buồn quá, tôi thích chọn quả ngục vui sướng hơn. Thế là Diêm vương sai hai thằng quỷ đưa ông ta vào hỏa ngục. Vừa đến nơi, ông ta hoảng hốt la hét lên: nóng quá làm sao tôi chịu nổi, ông ta la hét lên: sao không có ăn nhậu hay các cô gái đẹp gì cả, toàn là lũ quỷ đen đang hành hạ các tội nhân. Ông ta tức giận quay lại hỏi Diêm vương. Thế hỏa ngục lúc ông chỉ cho tôi ở đâu? Diêm vương khoái trí cười trả lời: "Đồ ngu, đồ thứ tham lam duc vọng, đó chỉ là quảng cáo thôi." Đời là thế đấy! Và ông cũng làm nghề quảng cáo mà.

Người ta thường nói: "Sinh nghề tử nghiệp". Khi còn sống ông ta cũng đã dùng nhiều cách mánh khóe, gian lận, sảo huyệt để quảng cáo và đánh lừa người khác để làm lợi cho mình. Đến khi chết rồi, ông ta vẫn còn cái tính tham lam, tính toán, nên bị Diêm vương cao tay đánh lừa ông ta. "Gậy ông đập lưng ông". Một cách nào đó, câu chuyện này có thể minh họa cho lối sống thực dụng của con người trong thời đại này. Cuộc sống là một cuộc chay đua để kiếm tìm danh lợi, của cải, vật chất, hưởng thụ và khoái lạc. Mạnh được yếu thua. Do đó, việc quảng cáo là tuyệt chiêu để đánh lừa người khác, đánh bóng tên tuổi và tạo sự hấp dẫn để che lấp sự giả tạo bên trong. Con người nhìn nhau qua lăng kính vẻ bên ngoài hơn là cái giá trị thiêng liêng cao đẹp, lấy lợi trước mắt mà quên tác hại đằng sau, thấy xác quên hồn. Chúng ta vẫn biết sai lầm, nguy hiểm, tội lỗi, nhưng cuộc sống lôi cuốn chúng ta chạy theo cuộc chơi của thế gian, bất chấp tất cả vì nhu cầu cuộc sống, và ta lại bảo: đời là thế.

"Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật
Thế cho nên tất bật bến bây giờ!
Bạn thân ơi! Có bao giờ bạn nghĩ
Cuộc đời này chỉ tạm bợ mà thôi
Anh và tôi giàu sang hay nghèo khổ
Khi trở về cát bụi cũng trắng tay
Cuộc đời ta phù du như cát bụi
Sống hôm nay và đâu biết ngày mai
Dù đời ta có dài hay ngắn ngủi
Rồi cũng về với cát bụi mà thôi
Thì người ơi! Xin đừng ganh đừng ghét
Ðừng hận thù tranh chấp với một ai
Hãy vui sống với tháng ngày ta có
Giữ cho nhau những giây phút tươi vui
Khi ra đi cũng không còn nuối tiếc."

(Trở Về Với Cát Bụi - khuyết danh)

Dù biết rằng, thế gian chỉ là quán trọ dừng chân. Của cải, danh vọng chỉ là phù du và cát bụi, thế mà chúng ta vẫn mãi mê kiếm tìm. Đâu là nơi chốn đích thực, thì hôm nay Chúa Giê-su chỉ cho ta nơi đó là trên Trời. Ngài về Trời trong ánh vinh quang rạng ngời, nơi đó con người tràn ngập niềm vui và hạnh phúc, và không còn tranh giành ganh đua tua thiệt. Mọi người sống trong thanh bình, yêu thương. Nhưng để đạt tới thiên đàng, gặp được thiên nhan Chúa, thì chúng ta cần phải hoàn thành cuộc sống nơi trần gian này.

Nước Trời không phải xây dựng trong mây gió, nhưng là sống và thực hiện tốt trong thực tại trần gian này. Chúa Giê-su căn dặn các tông đồ hãy đi làm việc cho nước Chúa. Hoàn thành bổn phận trách nhiệm người con dân của Chúa ở trần gian, đó là điều kiện để đạt tới hạnh phúc Nước Trời. Nhiệm vụ đó không chỉ là sống tốt, sống công bình bác ái mà còn là nhiệm vụ mang ánh sáng và gieo Tin Mừng cho thế gian. Việc làm tốt ở trần gian là cách xây dựng Nước Trời mai sau. Trần gian này chỉ là quán trọ dừng chân, nó không vĩnh cửu, nhưng là cơ hội cho ta đạt tới hạnh phúc viên mãn Nước Trời.

Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa, Xin hướng dẫn con theo lối bước của Ngài, để hồn con ngập tràn niềm vui, bình an và thanh thoát. Ngài về Trời trong ánh sáng vinh quang, và xin cho con luôn biết khao khát tìm kiếm Nước Trời quê hương vĩnh cữu. Amen.

------------------------------

 

LênTrời-437: Suy niệm của Lm. Fx Nguyễn Hùng Oánh


CHÚA GIÊSU KYTÔ LÊN TRỜI MÀ VẪN Ở DƯỚI ĐẤT?

 

Quan niệm về "trời đất" a- Theo vũ trụ quan của người Việt nam: - Trời là một quãng không (imper LênTrời-437


1- Quan niệm về "trời đất"

a- Theo vũ trụ quan của người Việt nam:

- Trời là một quãng không (impersonnel) ở trên đầu ta đối với đất ta đang đứng đây:

Trên trờì có đám mây xanh,
Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng.
Trời quang, mây tạnh, trời u ám, trời nắng, trời mưa.

- Trời là Ông Trời (personnel):

Trời sinh voi, trời sinh cỏ.
Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân. (Kiều, câu 3241)

...

"Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa". (Kiều, câu 3249)

b- Theo Thánh Kinh

Dưới mắt người Do thái, trời là công trình tạo dựng của Thiên Chúa, là một kiến trúc vững chắc có các cột trụ chống giữ (Giop 26,11), có nền móng chắc chắn (2 Sm 22,8), có bể chứa nước, tuyết, băng giá, gió (Giop 38,22; Tv 33,7), có các cửa cống để tuôn các chất đó ra: tháo cống nước làm mưa, tháo cống gió làm gió (Stk 7,11; 2 V 7,2; Mal 3,10).

Trời ở trên, đất ở dưới. Trời là nhà của Thiên Chúa (Is 66,1) và đất là phần Thiên Chúa ban cho loài người (Tv 115, 16). Không ai lên trời được (Gioan 3,13; Cn 30,4; Rm 10,6). Kẻ mơ ước lên trời là người điên (xem Stk 11,4) vì tự xem mình đồng hàng vơi Thiên Chúa (Is 14,13).

2- Chỉ có Chúa Giêsu Kytô đã lên trời vì Ngài từ trời xuống:

"Thầy từ trời mà xuống, không phải làm theo ý Thầy, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai Thầy" (Gioan 6,38). Thầy phát xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến"(nt 8,42).

Và khi Chúa Kytô đã thi hành Thánh Ý Chúa Cha trong mầu nhiệm Vượt qua (chết và sống lại), Ngài trở về với Chúa Cha bằng "con đường thăng thiên":

"Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa" (Marcô 16,19).

" Đang khi chúc lành cho họ, thì Người rời khỏi họ và được đem lên trời" (Luca 24,51)

"Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa "(Công vụ 1,9)

"Thiên Chúa đã biểu dương nơi Đức Kytô, khi làm cho Đức Kytô sống lại từ cõi chết, và đặt ngư bên hữu Người trên trời" (Ephêso 1,20)

"Thiên Chúa ban cho ta một lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu Kytô, Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa sau khi đã lên trời" (I Phêrô 3,21-22).

Đức Tin dạy chúng ta biết Ngôi Hai Thiên Chúa xuống mặc lấy thân xác người phàm như chúng ta ngoại trư tội lỗi, gọi là Đức Chúa Giêsu Kytô. Vậy Chúa Giêsu Kytô là Thiên Chúa thật và là người thật. Là Thiên Chúa Ngôi Hai, Ngài ở khắp mọi nơi bằng bản tính và Ngôi Vị nên không thể nói Ngài "lên trời hoặc xuống trần gian ". Nhưng Ngài mặc lấy xác phàm của chúng ta, như vậy khi sống như con người thì phải hoạt động trong Thân xác có giới hạn trong phạm vi của nó trên bình diện tự nhiên. Khi sống lại, vào trong vinh quang (siêu nhiên), than xác Chúa biến đổi hợp với tính siêu nhiên, nhưng vẫn là thân xác loài người, có những hạn chế, giới hạn. Chúa Kytô lên trời tức là thân xác của Ngài lên trời nghĩa là được đưa lên trời, được vinh thăng trong Nươc Trơi, Ngài làm chủ, làm vua trời đất muôn loài, muôn vật. Và khi Ngài hiện ra, không có nghĩa là Ngài từ trời xuống, nhưng là Ngài ban ơn đặc biệt để các Tông đồ thấy con người của Ngài, nghe tiếng Ngài nói như cũ.

Hiểu như trẻ thơ thế nầy: Chúa sống lại, hiện ra cho các Tông đồ thấy rồi biến đi, trốn vào một nơi bí mật, rồi lại hiện ra. Cứ thế trong vòng bốn mươi ngày, sau đó Chúa mới lên trời. Thật ra, khi sống lại, thân xác Chúa đã ơ cõi siêu nhiên, cõi trời rồi và Ngài hiện ra tức là Ngài ban ơn cho người ta thấy,nghe Ngài nói. Đến ngày thứ bốn mươi, Chúa hiện ra lần chót bằng một "cử chỉ lên trời" đề cho các Tông đồ biết Ngài không còn hiện ra như thế nữa.

Nhưng sự kiện Chúa thăng thiên có một tầm rất quan trọng nên thánh Phaolô đã nói rất mạnh: "Người đã lên nghĩa là gì, nếu không phải Người đã xuống tận các vùng sâu thẩm dưới mặt đất. Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi từng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn"(Eph 4,9-10). Người đã xóa sổ nợ bất lợi cho chúng ta, sổ nợ mà các giới luật đã đưa ra chống lại chúng ta. Người đã hủy bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá. Người đã truất phế các quyền lực thần thiêng, đã công khai bêu xấu chúng, đã điệu chúng đi trong đám rước khải hoàn của Người" (Col 2,14-15). Bản văn nhấn mạnh đến cuộc "đảo chính" (truất phế) vì một nhóm người xem Chúa Kytô ngang hàng với thiên thần nên phải "truất phế, bêu xấu, trói tay" điệu chúng đi trong đám rước chiến thắng của Chúa Kytô.

Về phần tín hữu của Chúa Kytô, vì Chúa lên trời mở đầu cho việc Chúa trở lại trong vinh quang giữa hàng thần thánh, ban ơn cứ độ viên mãn (xác sống lại trong vinh quang), đây là thời gian "trời đất giao hòa" vì Chúa lên trời mà còn ỡ trần gian. Ngay từ bây giờ, dầu chúng ta còn sống trên cõi trần, "Chúa Kytô đã cho chúng ta được cùng sống lại với Người và cùng ngự trị với Người trên cõi trời"(Eph 2, 6), "cũng như chúng ta dã mang hình ảnh người bởi đất mà ra, thì nay chúng ta đang mang hình ảnh Đấng từ trời mà đến (1 Cor 1,49). Tín hữu giống như người thiên quốc, "không thuộc thế gian nhưng không được cất khỏi thế gian" (Ga 17,15-16) và phải hoàn thành sứ mệnh Chúa trao phó trước khi Chúa lên trời nên rất cần sự hiện diện của Chúa tức là Chúâ ở lại cùng Hội Thánh cho đến tận thế. Công đồng Vatcan II đã dạy như thế nầy: Chúa Kytô hiện diện trong Hội Thánh, nhất là trong các hoạt động phụng vụ. Người hiện diện thực sự trong Hy lễ, không những trong con người của thừa tác viên, vì " như xưa chính Người đã tự dâng mình trên thập giá thì nay chính Người cũng dâng mình nhờ thừa tác vụ của các linh mục", nhất là hiện diện thực sự dưới hai hình thái Thánh Thể. Người hiện diện thiết thực trong các Bí tích nhờ quyền năng của Người; vì thế, ai rửa tội thì chính là Chúa Kytô rửa. Người hiện diện thiết thực trong lời của Người vì chính Người nói khi người ta đọc Thánh Kinh trong Hội Thánh. Sau hết, Người hiện diện khi Hội Thánh cầu nguyện và hát Thánh vịnh, như chính Người đã hứa: "Ở đâu có hai, ba người nhân danh Thầy mà họp lại, Thầy sẽ ở giữa họ" (Mt 18,20) (Hiến chế Phụng vụ, số 7).

-----------------

 

LênTrời-438: Hạnh phúc lớn lao - Lm. Nguyễn Hữu An.

 

Phi hành qia Gagarin sau khi đã bay nhiều vòng trong vũ trụ khi trở về trái đất đã tuyên bố rằng LênTrời-438


Phi hành qia Gagarin sau khi đã bay nhiều vòng trong vũ trụ khi trở về trái đất đã tuyên bố rằng:tôi chẳng thấy Thiên Chúa đâu cả. Thế nhưng, nhà Bác hoc Newton khi quan sát vũ trụ bằng kính viễn vọng đã thốt lên: tôi thấy Thiên Chúa qua kính viễn vọng của tôi.

Chúng ta là những người tin Chúa Giêsu Phục Sinh và lên trời cả hồn lẫn xác. Vậy chúng ta trả lời cho vấn nạn đó như thế nào? Chúa Giêsu lên trời nghĩa là gì? Nay người ở đâu? Việc Chúa Giêsu lên trời có liên hệ gì tới cuộc sống hiện tại của chúng ta hay không?

Theo quan niệm của người Do Thái cách đây hơn 2000 năm, vũ trụ này chia ra làm ba phần: Phần dưới mặt đất là là âm phủ dành cho người chết;phần trên mặt đất dành cho loài người đang sống và trời là thế giới của Thiên Chúa và các Thánh.

Để thích ứng với quan niệm bình dân ấy, các Giáo Lý Viên ngày xưa đã trình bày mầu nhiệm phục sinh của Đức Giêsu thành hai giai đoạn:

- Giai đoạn I: Sống lại, Đức Giêsu đi từ âm phủ lên mặt đất

- Giai đoạn II: Lên trời, Đức Giêsu bay từ mặt đất lên thế giới của Thiên Chúa.

Trình bày như vậy thì dễ hiểu nhưng không hoàn toàn đúng với thực tế,hậu quả tai hại là người ta dễ hiểu lầm rằng khi lên trời như thế Chúa Giêsu sẽ đi xa trái đất và cuộc sống của loài người, vì trời thì ở trên cao xa tắp, đâu có liên hệ gì tới trái đất. Những chữ lên trời bị chi phối bơi cách suy nghĩ có giới hạn của chúng ta.Theo cách suy nghĩ đó,các biến cố xảy ra luôn luôn được gắn liền với các vị trí trong không gian.Thưc ra trời đây không phải là một nơi và lên không có nghĩa là nơi đó ở trên cao.Lên trời ở đây không hiểu theo nghĩa địa lý vì trời hay thiên đ¨¤ng là một trạng thái hơn là một nơi chốn.Chúng ta đang sống trong không gian và thời gian nên định vị trí mọi sự theo hai trục đó. Điều cốt yếu mà Thánh kinh muốn dạy về mầu nhiệm Thăng Thiên là Đức Kitô đã ra khỏi thế giới trần thế bị tội lỗi làm nhiễm độc và một ngày kia sẽ tiêu tan để tiến vao một thế giới mới, trong đó Thiên Chúa ngự trị tuyệt đối và vật chất đã biến đổi, đã thấm nhuần tinh thần.

Thực ra khi Chúa Giêsu sống lại Người đã lên trời rồi theo kiểu nói của Kinh Thánh, nghĩa là Ngươì bước vào coi vinh quang của Thiên Chúa Cha, Người ngự bên hữu Chúa Cha,mặc lấy vinh quang và quyền năng của Chúa Cha.

Trong 40 ngày sau sống lại, Chúa Giêsu hiện ra nhiều lần để dạy dỗ và cũng cố đức tin của các Tông Đồ. Giáo hội đã được thiết lập nay được cũng cố để được sai đi. Như vậy sự kiện lên trời mà phụng vụ Giáo Hội kính nhớ hôm nay có ý nghĩa sâu xa. Nó chấm dứt thời gian Chúa hiện diện giữa nhân loại bằng thân xác, chấm dứt thời gian huấn luyện các Tông Đồ. Một thời điểm có tính cách quyết định của lịch sử cứu độ là Đức Kitô ban những giáo huấn cuối cùng,trao những chức vụ phải thi hành trong giáo hội, chuẩn bị cho các Tông đồ thi hành sứ mạng chứng nhân của Đấng phục sinh trong thế giới.

Từ nay trở đi, Người sẽ hiện diện với chúng ta một cách vô hình, với quyền năng của Chúa Thánh Thần, thân xác Đức Giêsu đã được thần khí hoá và đi vào cõi vĩnh hằng của Chúa Cha. Sự hiện diện này thâm sâu hơn và hiệu năng hơn. Khi còn ở trong thân xác, Chúa Giêsu chỉ ở bên cạnh chúng ta thôi, bên cạnh một số người thôi. Từ nay, với quyền năng Chúa Thánh Thần Đức Giêsu sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người.

Khi hai người yêu nhau thì luôn muốn sống bên nhau, nhưng tới một giây phút nào đó họ cảm thấy sống bên nhau vẫn chưa đủ. Xuân Diệu đã diễn tả chân lý ấy cách sâu sắc: Hai người tình ngồi sát bên nhau, ôm lấy nhau mà vẫn còn thấy rất xa xôi. Nnững người yêu nhau muốn sống trong nhau, nhưng điều đó không thể xảy ra giữa loài người được vì dẫu sao thân xác của mỗi người vẫn tạo ra một ngăn cách. Điều con người không thể làm được thì Thiên Chúa đã làm. Đức Giêsu một khi ngự bên hữu Chúa Cha đã hoàn toàn mặc lấy quyền năng Chúa Thánh Thần, Người đến ngự trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Chính Người đã nói “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến nó và chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23). Để chúng ta hiểu hơn về sự hiện diện này Chúa đã dùng dụ ngôn cây nho và cành nho “Thay là cây nho các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều hoa trái vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Thiền sư Suzuki rất tâm đắc với huyền nhiệm này khi viết: Thiên Chúa ở trong con người và con người ở trong Thiên Chúa. Chúa là người và người là Chúa mà Chúa vẫn là Chúa và người vẫn là người. Quả thật, đó là điều kỳ bí nhất của Tôn Giáo, một nghịch lý thâm u nhất của triết học.

Chúa về trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng. Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào.

Bài Tin mừng hôm nay kết thúc phúc âm Maccô nhưng thực ra là một sự khởi đầu, một sự khai mở, đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu. Hình thức của việc truyền giáo được chỉ định rõ ràng: Làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy. Làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các tông đồ, qua các Tông đồ rồi đến các môn đệ Đức Giêsu trở thành người sống đương thời với chúng ta “và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.

Chúa đã dùng giáo hội như đôi tay để tiếp tục công cuoc cứu rỗi của Người. Sứ mệnh của Chúa là sứ mệnh thiêng liêng. Nhưng sứ mệnh đó phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài.Giáo hội thực thi sứ mệnh đó trong khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của giáo hội mà Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống, dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.

Mỗi Kitô hữu là chi thể của giáo hội, thân mình mầu nhiệm Chúa Kitô, mỗi người chúng ta cũng là những cánh tay mở rộng của Chúa Kitô, nhờ đó Người không ngừng trao ban tình thương, ơn cứu độ và hạnh phúc cho mọi người.

-----------------------

 

LênTrời-439: Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái


Chủ Ðề: Chuyển sang một giai đoạn mới

(Mc 16, 15)

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

 

Việc Ðức Giêsu thăng thiên đánh dấu một bước ngoặc trong việc loan báo Tin Mừng. Trước đây LênTrời-439


Việc Ðức Giêsu thăng thiên đánh dấu một bước ngoặc trong việc loan báo Tin Mừng. Trước đây, loan báo Tin Mừng chủ yếu là việc của Ðức Giêsu. Nhưng từ đây, việc này chủ yếu là của Giáo Hội, với sự hỗ trợ đắc lực của Ðức Giêsu và Chúa Thánh Thần. Bởi đó, khi từ biệt các môn đệ, Ðức Giêsu đã trao sứ mạng "Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần".

Hôm nay, sứ mạng này được trao cho thế hệ chúng ta. Vậy chúng ta hãy cầu xin Chúa hỗ trợ để chúng ta chu toàn sứ mạng Chúa trao.

II. Gợi ý sám hối

Chúng ta có lỗi vì hay quên rằng Ðức Giêsu là Ðấng đang sống và đã được Chúa Cha trao cho toàn quyền. Do lỗi này nên chúng ta dễ chán nản và không cậy dựa vào Ngài.

Chúng ta có lỗi vì chỉ hướng về trời mà quên trách nhiệm xây dựng thế giới của mình.

Chúng ta có lỗi vì ít quan tâm loan báo Tin Mừng.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I: Cv 1, 1-11:

Tường thuật việc Chúa Thánh Thần hiện xuống hôm lễ Ngũ Tuần.

Vâng theo lời căn dặn của Ðức Giêsu phục sinh, các tông đồ tụ họp trong nhà Tiệc Ly để chờ đón nhận điều Ngài đã hứa.

Sáng ngày lễ Ngũ tuần, Ðức Giêsu thực hiện lời hứa ấy: Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa. Lưỡi tượng trưng cho lời nói. Lửa tượng trưng tình yêu và lòng nhiệt thành. Nhờ Chúa Thánh Thần, các tông đồ đã nhiệt thành rao giảng Tin Mừng, làm chứng cho Ðức Giêsu.

2. Ðáp ca (Tv 46)

Ðây là một Tv ca tụng vương quyền của Thiên Chúa. Ðức Giêsu đã chiến thắng cái chết, Ngài xứng đáng đón nhận vương quyền. Và vương quyền này đã mở rộng khắp nơi nhờ công tác loan báo Tin Mừng của Giáo Hội.

3. Tin Mừng (Mc 16, 15-20)

Những lời cuối cùng của Ðức Giêsu với các môn đệ:

Sai các ông đi loan Tin Mừng: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo".

Hứa hỗ trợ đặc biệt cho các ông: "Nhân danh Thầy họ sẽ trừ quỷ, nói các thứ tiếng mới lạ, cầm rắn trong tay, và nếu có uống phải chất độc thì cũng không bị hại; họ đặt tay trên những người bệnh và bệnh nhân sẽ được lành mạnh". Những "dấu lạ" mà Ðức Giêsu hứa có thể mang 2 nghĩa: a/ Nghĩa bóng: Chúa giúp các ông chiến thắng thế lực của sự dữ; b/ Nghĩa đen: các ông sẽ thật sự làm được những phép lạ

Các môn đệ vâng lời Thầy, đi khắp nơi loan Tin Mừng, và những lời Chúa hứa đã thành sự thật: "Có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố lời giảng dạy bằng những phép lạ kèm theo"

4. Bài đọc II (Êp 4, 1-13)

"Thánh tông đồ gợi ý cho chúng ta một cách nhìn về sự kiện Chúa lên trời ngự bên hữu Chúa Cha. Rực rỡ vinh quang Thiên Chúa, sự hiện diện của Ðức Kitô phục sinh từ nay sẽ mang những chiều kích vĩnh hằng và vũ trụ, vượt khỏi khuôn khổ không gian và thời gian, nghĩa là bây giờ và mãi mãi Chúa vẫn hiện diện bên cạnh chúng ta để ban ơn cứu độ cho chúng ta" (CgvDt, số đặc biệt giáng sinh '93)

IV. Gợi ý giảng

* 1. Quê hương thiên đàng và cuộc hành trình dương thế

Sách Tông đồ công vụ kể rằng khi Ðức Giêsu từ từ lên trời thì các môn đệ ngước mắt trông theo, và cứ ngây ngất đứng nhìn về trời như thế, mãi cho đến khi có hai thiên thần từ đám mây hiện ra nhắc cho các ông thì các ông mới hoàn hồn trở lại. Tại sao các môn đệ ngây ngất như vậy? Chắc hẳn là vì cảnh thiên đàng rất là hấp dẫn.

Cũng như một lần kia, 3 tông đồ Phêrô, Gioan và Giacôbê cũng được thoáng thấy một chút vinh quang thiên đàng khi Ðức Giêsu biến hình trên núi. Ba ông đó cũng say sưa ngây ngất đến nỗi xin Chúa cho mình cất lều ở lại mãi trên ngọn núi đó.

Còn Thánh Phaolô sau khi được Chúa cho ngất trí chiêm ngưỡng cảnh thiên đàng trong một khoảng khắc ngắn ngủi, đã mô tả lại kinh nghiệm ấy trong bức thư II gửi tín hữu Côrintô như sau "Mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe... "

Ở Lộ Ðức năm 1858, một người từ trời xuống là Ðức Mẹ Maria đã hiện ra cho thánh nữ Bernadette. Sau đó thánh nữ đi tu. Một lần kia có một em bé đơn sơ hỏi thánh nữ "Thưa Ma sơ, Ma sơ đã được thấy Ðức Mẹ, chắc là Ðức Mẹ đẹp lắm nhỉ?" Thánh nữ trả lời với em bé bằng một lời diễn tả cũng rất đơn sơ "Ðẹp lắm con ạ, đẹp đến nỗi ai đã thấy được một lần thì chỉ mong chết để lại được thấy nữa".

Còn ở Fatima năm 1917, Ðức Mẹ hiện ra cho 3 em Luxia, Phanxicô và Giaxinta. 3 em đó cũng đơn sơ hỏi Ðức mẹ "Thưa Bà, Bà ở đâu đến vậy?" Ðức Mẹ đưa tay lên cao và nói "Từ trời xuống". 3 em liền xin "Vậy xin Bà cho chúng con cũng được lên trời đi". Ðức Mẹ mỉm cười đáp "Phanxicô và Giaxinta thì Ta sẽ cho về trời trong một ngày gần đây; còn Luxia thì hãy chịu khó ở lại trần thế này một khoảng thời gian nữa. Kể từ ngày đó 2 em kia lúc nào cũng mơ ước tới ngày được lên trời. Dù sắp chết 2 em cũng chẳng chút lo sợ, lại còn mừng vì mình sắp được lên trời.

Ðó là một vài tia sáng yếu ớt giúp chúng ta thoáng thấy một phần nào cảnh tượng thiên đàng. Những chứng nhân vừa kể chỉ thoáng thấy một vài tia sáng yếu ớt ấy là đã say sưa ngây ngất, chỉ muốn sớm chết đi để được hưởng thiên đàng, huống chi khi thực sự hưởng thiên đàng và hưởng trọn vẹn còn hạnh phúc ngất ngây đến chừng nào!

Khi về trời, Ðức Giêsu đã hứa rằng Ngài về trời là để dọn chỗ cho chúng ta, thiên đàng hạnh phúc vô biên ấy sẽ là quê hương vĩnh viễn của chúng ta.

Thế nhưng không phải vì quê hương vĩnh viễn ấy của chúng ta hạnh phúc vô biên mà ta chỉ biết ngóng trông quê trời và sao lãng nhiệm vụ ở trần thế. Tất cả những chứng nhân vừa kể trên, sau một thoáng giây chiêm ngưỡng thiên đàng đều được nhắc nhở phải trở lại với nhiệm vụ trần thế:

Hai thiên thần đã hiện ra từ đám mây nhắc nhở các môn đệ "Hỡi những người xứ Galilê sao còn mãi mê đứng đó nhìn trời, hãy trở lại Giêrusalem và bắt đầu nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng mà Chúa đã giao phó... "

Còn 3 ông Phêrô, Gioan và Giacôbê, sau những giây phút say sưa trên núi Tabôrê, đã được Chúa thức tỉnh dẫn xuống núi để tiếp tục nhiệm vụ.

Thánh nữ Bernadette, cũng như Nữ Tu Luxia sau khi được thấy Ðức Mẹ thì được Ðức Mẹ giao nhiệm vụ ở trần gian, Ðức Mẹ còn cho biết trước; chúng con sẽ phải đau khổ nhiều.

Nghĩa là làm sao? Nghĩa là: Thiên đàng là quê hương vĩnh viễn của chúng ta, nhưng trần thế chính là con đường dẫn tới quê hương hạnh phúc đó. Chỉ đứng đó mà ngóng nhìn thiên đàng thì có lẽ không bao giờ ta tới thiên đàng được. Muốn tới được thiên đàng thì trước hết phải đi hết con đường dương thế bằng cách chu toàn những nhiệm vụ của mình ở đời này.

Trong khi chờ đợi tới ngày hưởng phúc Thiên Ðàng, chúng ta vẫn còn phải tiếp tục sống ở trần gian này. Mà trần gian thì vẫn còn biết bao đau khổ: Khổ về vật chất như nghèo đói, bệnh tật; khổ về tinh thần như ganh ghét hận thù đố kỵ nhau. Mà nguồn gốc của tất cả những khổ sở vật chất và tinh thần ấy là vì người ta còn tội lỗi, người ta còn chưa thực hành theo những Lời Chúa dạy. Chuẩn bị đi về quê trời là hết sức cố gắng góp phần xoá đi bớt những đau khổ đó ở trần gian như: chia sớt cho những người túng thiếu, chăm sóc những kẻ bệnh tật, ủi an những người đau khổ, hoà giải những kẻ bất thuận với nhau, giúp cho người ta tránh bớt tội lỗi, làm cho người ta biết Chúa và thực hành những Lời Chúa dạy.

"Hỡi những người xứ Galilê, sao còn cứ đứng đó mãi nhìn trời... " Khi các thiên thần nhắc cho các môn đệ trở về với nhiệm vụ hằng ngày, thì cũng là nhắc các ông làm những việc vừa kể trên. Những việc đó chính là nội dung của việc rao giảng Tin Mừng mà Ðức Giêsu cũng đã căn dặn một lần nữa cho các môn đệ trước khi Người về trời "Chúng con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho nhân loại".

Trong ngày lễ Chúa Thăng Thiên, chúng ta đã để ra ít phút ngước nhìn lên quê trời để nhìn ngắm hạnh phúc vô biên mà Chúa sẽ ban cho chúng ta. Những phút đó thật là quý giá, là niềm vui, là nguồn an ủi, là sự khích lệ cho chúng ta. Nhưng chúng ta sẽ không thụ động mãi mê chiêm ngắm hạnh phúc tương lai ấy. "Hỡi những người xứ Galilê, sao còn đứng mãi nhìn trời... " Chúa nhắc chúng ta hãy quay về với bổn phận của chúng ta trong cuộc hành trình nơi dương thế: Làm cho cuộc đời này bớt đau khổ hơn, giúp cho người đời biết thương nhau hơn, và góp phần cho cuộc sống này tươi đẹp hơn. Ðó chính là bổn phận hiện tại của chúng ta trong khi chờ đến ngày ta được về quê trời hưởng hạnh phúc vô cùng với Chúa.

* 2. "Củng cố lời giảng bằng những dấu lạ kèm theo"

Việc loan Tin Mừng sẽ có sức thuyết phục hơn nếu có những dấu lạ kèm theo. Những dấu lạ này không hẳn là các phép lạ lớn lao, mà còn là cách sống có sức thu hút của chúng ta.

* 3. Con đường về Trời

Thủ lãnh của một bộ tộc kia nằm hấp hối trên giường. Ông cho gọi ba người có thể thay thế ông và nói:

- Ta phải chọn một người kế tục. Các ngươi hãy leo lên đỉnh núi linh thiêng của chúng ta, và mang về cho bộ tộc một món quà quí giá nhất.

Người thứ nhất trở về đem theo một thỏi vàng lớn. Người thứ hai mang về viên ngọc vô giá. Còn người thứ ba trở về với hai bàn tay trắng. Hết sức ngạc nhiên, vị tù trưởng mới hỏi:

- Món quà quí giá của ngươi đâu?

Người này điềm tĩnh trả lời:

- Khi tôi lên tới đỉnh núi, tôi thấy ở phía bên kia một vùng đất phì nhiêu màu mỡ, tại đó dân chúng có thể hưởng một cuộc sống sung túc tốt đẹp.

Người tù trưởng nói:

- Ngươi sẽ nối nghiệp ta. Ngươi đã mang về món quà quí giá nhất: Một viễn tượng tương lai tốt đẹp.

***

Ðó cũng là viễn tượng Ðức Giêsu mời gọi chúng ta đem lại cho thế giới qua bài Tin mừng hôm nay: "Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin mừng cho mọi tạo vật" (Mc. 16, 15)

Chúa về trời là về với Chúa Cha - Cuộc đời chúng ta là một cuộc hành trình, mà đích đến nằm ở phía bên kia. Trời là đích xa xôi nhưng chi phối những bước chân gần gũi. Những bước chân đi đến với anh em, những bước chân đi vào lòng thế giới, những bước chân đi loan báo Tin mừng.

Tin mừng chính là Thiên Chúa yêu thương con người.

Tin mừng chính là ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ.

Tin mừng chính là có Chúa cùng hoạt động với những dấu lạ kèm theo.

Vậy người tín hữu Kitô không chỉ ngước mắt nhìn trời, nhưng hăng say đi loan báo Tin mừng, vì trái đất còn mênh mông những đồng lúa chín vàng.

Chúa về trời, nên Người đã mượn miệng lưỡi chúng ta để rao giảng, mượn đôi tay chúng ta để thi ân, mượn đôi chân chúng ta để đi đến với người cùng khổ.

Chúa về trời nhưng người vẫn hiện diện và hoạt động trong cuộc sống chứng nhân của mỗi người tín hữu.

Chúa về trời, nhưng Người vẫn thực hiện những dấu lạ trong cuộc đời những con người biết sống tận tình cho tha nhân.

Chúa về trời, nhưng Người vẫn canh cánh bên lòng một ước mơ: "Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu thì những người Cha ban cho con cũng sẽ ở đấy với con" (Ga. 17, 24).

Ðã ước mơ thì lúc nào cũng nghĩ tới điều mình mơ ước. Nếu Chúa đã ước mơ ở cùng chúng ta trên trời thì bao lâu chúng ta chưa về trời với Chúa, là bấy lâu trong lòng Chúa còn hình bóng chúng ta.

Ðã ước mơ bao giờ cũng mong đạt được điều mơ ước. Nếu Chúa đã mong chúng ta có mặt nơi Chúa ngự, thì không lẽ gì chúng ta không hiện diện ở đó.

***

Lạy Chúa, con đường lên trời là con đường hẹp, con đường về trời là con đường yêu thương. Xin cho tất cả mọi nẻo đường chúng con đi, đều dẫn chúng con về quê trời. Ước gì qua cuộc sống chúng con, người ta nhận ra Nước Trời đang tỏ hiện. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

* 4. Những cách giảng đạo

Ngày xưa, một đạo sĩ gọi 6 người đệ tử của mình lại và bảo họ hãy đi khắp nơi chiêu mộ môn đệ. Một thời gian sau, tất cả đều trở về.

- Người thứ nhất trở về với 500 môn đệ. Khi được hỏi bằng cách nào anh chiêu mộ được số môn đệ đông như thế, anh trả lời: "Con rảo khắp mọi nơi nghèo nàn và hứa sẽ chu cấp mọi nhu cầu cần thiết cho ai theo đạo của chúng ta"

- Người thứ hai đem về 400 môn đệ. Anh nói: "Con hứa ai theo đạo thì sẽ được phúc thiên đàng".

- Người thứ ba đem về 300 môn đệ. Anh nói: "Con đe dọa rằng nếu ai không theo đạo thì sẽ bị phạt trong hỏa ngục. Thế nhưng người ta không tin lắm. Cho đến một hôm con đã nguyền rủa một con chó điên khiến nó chết liền tại chỗ. Thấy thế những người này đã theo con".

- Người thứ tư đem về 200 môn đệ. Anh nói: "Con tìm đến những người đơn sơ ít học và dùng nhiều lý luận khiến họ say mê và đi theo".

- Người thứ năm đem về 100 môn đệ. Anh nói: "Ðây là những người trẻ. Họ đang chờ một người lãnh đạo họ. Con đã thuyết phục họ đi theo con và họ đã theo. Con nghĩ rằng nếu mình không chiêu mộ họ thì cũng có những messia giả đến chiêu dụ họ mà thôi".

- Người thứ sáu chỉ đem về 12 môn đệ. Anh giải thích: "Con không thể gieo những hạt giống ngay mà phải chờ, vì đang là mùa đông, phải đợi đến lúc tuyết tan thì đất mới mềm và gieo mới được. Thế là con chờ. Ðang lúc chờ như thế, con kết bạn với một số người. Con cố gắng sống cho họ thấy cách sống của đạo chúng ta. Và con cũng chia xẻ cuộc sống của họ. Ðang khi chia xẻ cuộc sống như thế, con khám phá rằng họ rất coi trọng tự do đến nỗi nếu tước mất tự do của họ thì cũng là tước đi phẩm giá của họ. Con cũng học được nơi họ những điều tốt, chẳng hạn họ rất quảng đại và không sợ hy sinh. Con thành thật nói cho họ biết cái giá phải trả nếu muốn theo đạo chúng ta, nhưng con nhấn mạnh rằng nếu họ theo đạo chúng ta thì họ có thể làm được nhiều điếu tốt cho tha nhân và cho Thiên Chúa. Xem ra những điều con nói đã làm họ cảm động. Tuy nhiên khi đến lúc phải quyết định thì chỉ có 12 người này chịu theo con".

Vị đạo sĩ khen người thứ sáu này.

Năm người trước đã giảng đạo bằng cách khai thác sự yếu đuối và sợ hãi của người ta. Những cách đó thật quá dễ, nhưng lại xâm phạm đến tự do nên người ta có theo đạo cũng vì miễn cưỡng. Còn người thứ sáu thì biết kêu gọi thiện chí bằng cách kết bạn với người ta và thuyết phục họ bằng chính gương sống của mình. Cách này tuy chậm và khó nhưng kết quả sẽ vững chắc và lâu bền. (Viết theo Flor McCarthy)

* 5. Chúng ta là dụng cụ Chúa dùng

"Hãy đi rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc", đó là mệnh lệnh của Chúa khi Ngài từ biệt chúng ta.

Bây giờ Ngài không còn có ai trên thế gian ngoài chúng ta.

Ngài không còn tay để nâng người sa ngã ngoài tay của chúng ta.

Ngài không còn chân để đi tìm kẻ hư mất ngoài chân của chúng ta.

Ngài không còn mắt để nhìn những giọt lệ khổ đau âm thầm ngoài mắt của chúng ta.

Ngài không còn lưỡi để an ủi kẻ buồn sầu ngoài lưỡi của chúng ta.

Ngài không còn trái tim để yêu thương những người không được yêu thương ngoài trái tim của chúng ta.

Lạy Chúa xin thương xót chúng con là những môn đệ nhút nhát và sợ sệt của Chúa. Xin ban cho chúng con lòng can đảm để làm chứng cho Chúa giữa thế gian, hầu Tin Mừng được rao giảng và người ta tìm được đường vào Nước của Chúa. (Flor McCarthy)

* 6. Loan Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo

Trong bài Tin Mừng này, có một câu mà nếu đọc kỹ từng lời thì ý nghĩa rất lạ. Ðức Giêsu bảo "Hãy loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo".

- "Thọ tạo" nghĩa là được Thiên Chúa tạo dựng nên. Mọi loài thọ tạo là tất cả những gì đã được Thiên Chúa tạo dựng nên. Không phải chỉ là loài người, mà còn là loài động vật, loài thực vật, đất đai, sông núi, bầu trời, tinh tú... Tóm lại là tất cả.

- Trong tất cả mọi loài đó, chỉ có loài người là vừa nghe vừa hiểu vừa cảm được. Cho nên loan báo Tin Mừng cho loài người thì có thể. Còn loan báo Tin Mừng cho những loài khác, thì làm sao mà làm được? Tôi nghĩ ra rằng tuy những loài ấy không thể đón nhận Tin Mừng theo cách của loài người đón nhận, nhưng chúng cũng có thể hưởng nhờ lợi ích của những giá trị Tin Mừng. Chính vì thế mà có những lời hô hào làm đẹp thiên nhiên, bảo vệ sinh vật, giữ sạch bầu khí quyển v. v.

- Rốt cuộc, loan báo Tin Mừng mang một chiều kích rất bao la. Loan báo Tin Mừng là sống vui bằng niềm tin của mình giữa mọi người khác, giữa thiên nhiên và giữa vũ trụ; đồng thời làm cho tất cả chung quanh mình đều tốt đẹp, vui tươi.

V. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, mầu nhiệm Ðức Giêsu về trời được tôn vinh bên Chúa Cha, luôn luôn là điều khích lệ và nâng đỡ cho mọi Kitô hữu còn đang tại thế. Chúng ta cùng nhau dâng lên Chúa những lời nguyện sau đây:

1. Chúng ta cầu xin Chúa cho mọi người Kitô hữu / biết luôn làm vinh danh Ðức Giêsu Phục sinh / trong khi thi hành những trách nhiệm trần thế nơi gia đình và xã hội.

2. Chúng ta cầu xin Chúa cho nhiều người trên thế giới / đang mất dần ý thức về Thiên Chúa hoặc cố tình dửng dưng với Thiên Chúa / được nhận biết Thiên Chúa là Cha và là nguồn hạnh phúc của họ.

3. Chúng ta cầu xin Chúa cho nhiều anh chị em chung quan chúng ta / đang gặp nhiều khó khăn thử thách trong việc xây dựng đời sống cá nhân, gia đình và xã hội / được luôn kiên trì và hy vọng rằng / Ðức Giêsu Phục sinh và lên trời là bảo đảm cho hạnh phúc thật của họ.

4. Chúng ta cầu xin Chúa cho nhiều anh chị em chung quanh chúng ta / đang gặp nhiều khó khăn thử thách trong việc xây dựng đời sống cá nhân, gia đình và xã hội / được luôn kiên trì và hy vọng rằng / Ðức Giêsu Phục sinh và lên trời là bảo đảm cho hạnh phúc thật của họ.

5. Chúng ta cầu xin Chúa cho cộng đồng xứ đạo chúng ta đã tin Ðức Giêsu Phục sinh về trời / thì cũng luôn sống theo niềm tin đó / để cũng được sống lại và lên trời như Chúa.

Chủ tế: Lạy Chúa là Cha toàn năng, Chúa đã cho Ðức Giêsu Kitô phục sinh và về trời, xin giúp chúng con biết sống theo lối sống của Người, để mai sau cũng được hưởng vinh quang với Người. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Kitô Chúa chúng con.

VI. Trong Thánh lễ

Kinh Tiền Tụng riêng cho lễ Thăng Thiên

Trước kinh Lạy Cha: Ðức Giêsu phục sinh đang ở bên cạnh Chúa Cha để làm trung gian cho chúng ta. Chúng ta hãy nhờ Ngài và với Ngài dâng lên Chúa Cha lời kinh Lạy Cha.

Trước lúc rước lễ: Chúng ta sắp rước Ðức Giêsu vào lòng. Hãy xin Ngài thêm sức giúp chúng ta chu toàn sứ mạng Ngài trối lại cho chúng ta tiếp nối. "Ðây Chiên Thiên Chúa..."

VII. Giải tán

Hôm nay Ðức Giêsu lặp lại với anh chị em lời Ngài đã bảo các môn đệ ngày xưa: "Anh em hãy đi đến với muôn dân...", "Anh em hãy làm chứng cho Thầy". Chúc anh chị em bình an.

--------------------------

 

LênTrời-440: Loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo


(Chú giải của Lm. FX. Vũ Phan Long)

1.- Ngữ cảnh

 

Tin Mừng Máccô kết thúc với câu 16,8. Tuy vậy, một số Kitô hữu thuộc thế kỷ i-ii đã tìm cách LênTrời-440


Tin Mừng Máccô kết thúc với câu 16,8. Tuy vậy, một số Kitô hữu thuộc thế kỷ i-ii đã tìm cách "bổ túc" truyện sách Tin Mừng bằng cách thêm vào những cảnh mà họ nghĩ rằng tác giả Mc hẳn cũng đã thêm vào nếu ngài viết tiếp. Đoạn văn 16,15-20 nằm trong Phần Kết phụ trội thứ nhất gọi là "Phần Kết Dài" hay là "Phần Kết Vô Danh", từ c. 9 đến c. 20 của chương 16. Phần này nói đến những cuộc hiện ra của Đức Giêsu với bà Maria Mácđala và với các môn đệ để thúc giục họ, tức Hội Thánh, đi loan báo Tin Mừng khắp nơi. Các nhà truyền giáo không có gì phải sợ, bởi vì Đức Giêsu Phục Sinh vẫn ở với họ. Các độc giả tinh ý sẽ thấy có một số đề tài trong các câu này không giống gì với những điều họ đã thấy trong TM II. Họ cũng còn có thể nhận ra nơi các đề tài này âm vang của những cảnh quen thuộc ở trong các Tin Mừng khác, được quy tụ lại để làm cho phần kết của Mc (16,8) bớt đột ngột (x. Ga 20,11-18; Lc 24,13-35; Mt 28,16-20).

Bản văn chúng ta đọc hôm nay tập trung vào sứ mạng phổ quát của các tông đồ, và giống như Lc 24,36-53, nó kết thúc với việc Đức Giêsu lên trời mà các ông thấy được. Bài không hề xác định nơi chốn. Tác giả chỉ muốn chúng ta lưu ý đến điều cốt yếu: sứ mạng được giao phó cho các môn đệ.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba đơn vị:

1) Lệnh ra đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo (16,15-18);

2) Lên trời (16,19);

3) Ra đi thi hành sứ mạng (16,20).

3.- Vài điểm chú giải

- Nhóm Mười Một (14): Đây chính là Nhóm Mười Hai trước đây, nhưng nay chỉ còn mười một tông đồ, vì Giuđa không còn nữa. Nhóm mang nơi mình dấu chỉ của sự sa sút. Chính là với Nhóm này mà Đức Giêsu đã hiện ra và giao sứ mạng loan báo Tin Mừng. Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra và giao sứ mạng, điều này có nghĩa là Người đã tha thứ cho họ, và lòng cứng tin của họ đã được thắng vượt.

- Tin Mừng (15): Nội dung của sứ điệp phải loan báo không được giải thích, mà lại được tổng hợp trong khái niệm "Tin Mừng". Do khái niệm này được nối kết với "các thọ tạo", nó gần với Cl 1,23. Công thức này đã được chuẩn bị trong Do Thái giáo, nơi mà Thiên Chua được ca ngợi là vua của toàn thể công trình tạo thành của Ngài (Gđt 9,12), là chúa tể của muôn loài thọ tạo và có lòng yêu thương muôn loài thọ tạo (x. 3 Mcb 2,2.7; 6,2. Sách 3 Mac không thuộc về Kinh Thánh). Vậy Tin Mưng phải loan báo chính là quyền chúa tể của Đức Kitô Phục Sinh trên toàn thể thọ tạo.

- phép rửa (16): Các phản ứng của con người trước sứ điệp Tin Mừng là tin hoặc không tin. Đức tin có kèm theo thái độ sẵn sàng lãnh nhận phép rửa. Phép rửa nhân lãnh trong đức tin đưa tới ơn cứu độ trong cuộc phán xét chung cuộc. Trong Tt 3,5 và 1 Pr 3,21, phép rửa và ơn cứu độ được nối kết với nhau. Sự đối lập giữa cứu độ và kết án khiến ta nhớ đến Ga 3,18. Tuy nhiên, ở đây bản văn hướng đến cuộc phán xét chung.

- những dấu lạ đi theo (17): Khác với những gì xảy ra ở Mc 8,11t, dấu (lạ) được dùng theo nghĩa tích cực. Dấu lạ không đi trước đức tin và cũng không diễn tả một uy quyền chỉ được ban riêng cho các môn đệ (như ở Mc 6,7-13), mà phải được dùng như là cách Thiên Chúa chuẩn nhận cho những ai đã trở thành tín hữu. Dấu lạ cho thấy Đức Kitô là vị Chúa tể mới của tạo thành, Người muon ban ơn cứu độ cho toàn thể tạo thành. Năm loại phép lạ quy chiếu về sách Cv: đuổi quỉ (Cv 16,16-18), nói tiếng lạ (Cv 2,1-11), cầm rắn độc (Cv 28,3-6), chữa bệnh (Cv 31-10; 9,31-35; 14,8-10; 28,8t). Còn thuốc độc có lẽ dựa theo một truyện kể nào đó (chẳng hạn chuyện sử gia Êusêbiô kể về Giúttô Bácsaba; x. Hist. Eccl. 3,39,9). Lc 10,19 có nói đến khả năng đạp trên rắn độc và bọ cạp. Các dấu lạ xảy ra "nhân danh Thầy", tức là với việc cầu khẩn danh Đức Giêsu. Như thế, Đức Giêsu được tôn vinh tiếp tục ở với cộng đoàn của Người và hoạt động.

- Chúa Giêsu được đưa lên trời (19): Danh hiệu "Chúa Giêsu", rất quen thuộc với Phaolô và sách Cv, chỉ xuất hiện ở đay trong các Tin Mừng. Đấng Phục Sinh, Đấng được tôn vinh, chính là Kyrios (chúa tể), là Kosmokrator (chúa tể vũ trụ). Cuộc lên trời của Đức Giêsu giả thiết có hình ảnh của Kinh Thánh về thế giới (= lên trời), được mô tả phỏng theo cuộc lên trời của ngôn sứ Êlia (2 V 2,11; 1 Mcb 2,58).

- Ngự bên hữu Thiên Chúa: Câu này dựa theo Tv 109 (110), 1 muốn nói rằng nay Đức Giêsu có tất cả quyền năng của Thiên Chúa.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Lệnh ra đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo (15-18)

Ta thấy lệnh truyền của Đức Giêsu quá rõ ràng và cấp bách, nhưng trong thực tế, dường như không phải thế: Đức Giêsu không cho biết rõ khoảng thời gian kéo dài từ khi Ngươi sống lại đến khi Người quang lâm; Người không loan báo rằng các Dân ngoại sẽ dần dà đi vào trong Giáo Hội trước khi xảy ra phán xét chung; các tông đồ đã phải mò mẫm tìm kiếm phương hướng hoạt động, với sự giúp đỡ cua Chúa Thánh Thần (x. Cv 10; 11,1-8; 15,7-11...). Dù sao, ở đây, chúng ta thấy sứ mạng của Giáo Hội nơi Dân ngoại đã trở nên rõ ràng, không ai phản đối nữa: các tông đồ phải ra khỏi môi trường Do Thái giáo mà loan báo Tin Mừng cho "mọi loài thọ tạo". Công thức này tương đương với Mc 1,10 và Mt 28,19: "mọi dân tộc"; chỉ loài người mới có thể nghe rao giảng và đáp lại bằng đức tin. Tuy nhiên, cũng có thể, trong chiều hướng của thánh Phaolô (Rm 8,19-22; Cl 1,1-23), tác giả nghĩ đến ảnh hưởng của công cuộc Đấng Cứu thế thực hiện trên toàn vũ trụ.

Tại sao lại "loan báo Tin Mừng cho muôn loài thọ tạo"? Cây cối có thể nghe Tin Mừng? Khi người ta nghe theo sứ điệp của Chúa Kitô, phải chăng tất cả vũ trụ sẽ được biến đổi? Điều này sẽ được thánh Phaolô giải thích trong Thư gửi người Rôma: "Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người... với niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang" (Rm 8,19-21). Khi chúng ta sử dụng các thọ tạo sai cách, chúng ta làm điều dữ. Khi sứ điệp Tin Mừng thay đổi con tim chúng ta, muôn loài thọ tạo cũng sẽ được cứu chuộc; chúng không còn bị sử dụng cho điều xấu nữa, mà được sử dụng đúng mục tiêu của chúng như khi chúng được tạo thành: một phương tiện để yêu thương và sống hạnh phúc. Sứ mạng của các môn đệ là làm việc để cho có một nhân loại mới và một thế giới mới chào đời.

Đức tin chính là lời đáp trả lời rao giảng và được liên kết với phép rửa tội (Cv 2,41; 8,12...).

Còn về các dấu lạ, trong Hội Thánh lúc ấy, không phải bao giờ các dấu lạ cũng được các tông đồ thực hiện; nhiều lần Thánh Thần hành động nơi và qua các thính giả (x. Cv 10,44-46). Các dấu lạ được kể ra như là những ví dụ, và được chứng thực trong sách Cv.


* Lên trời (19)

Tác giả đã liên kết hai thực tại không thuộc về cùng một bình diện, một bên là một cuộc tỏ mình hữu hình của Đức Giêsu Phục Sinh kết thúc những cuộc hiện ra, được diễn tả bằng ngôn ngữ của sách Cv (x. Cv 1,1-11); một bên là một cuộc tôn vinh trên thiên quốc, gắn liền với cuộc Phục Sinh (x. Ep 4,10; 1 Tm 3,16...). Thật ra, tác giả Mc không tường thuật một biến cố xảy ra trước mặt các khán giả. Các độc giả sẽ sai lầm nếu tưởng tượng Thăng Thiên như một "cuộc rời bỏ nhau", "một chuyến ra đi", "một sự biến mất". Đức Giêsu không ở quanh quẩn đâu đó trong vòng bốn mươi này trước khi lên trời. Người đã đi vào vinh quang của Cha Người ngay sau khi chết. Ngày Thăng Thiên không phải là một lễ từ biệt, mà là một lễ mừng sự hiện diện. Điều mà tác giả muốn kể cho chúng ta là Đức Giêsu Nadarét, đã bị lính Rôma giết vào trước lễ Vượt Qua, không hề bỏ rơi các môn đệ Người mãi mãi. Người đã sống lại và tiếp tục sống với họ. Cách thức hiện diện thì khác, nhưng Người không bỏ rơi họ. Trước khi sống lại, Người không thể ở với mọi người tại mọi nơi chốn. Nay đã được tôn vinh, Người có thể hiện diện ở mọi nơi. Người có thể ở với mọi người chúng ta.

* Ra đi thi hành sứ mạng (20)

Tác giả quan tâm khẳng định rằng trong hoạt động truyền giáo, các tông đồ (và sau các ông, là Hội Thánh mọi thời) có thể cậy dựa vào sự hiện diện tuy vô hình nhưng hữu hiệu của Đức Giêsu đang ở trên thiên quốc với tất cả quyền năng Kyrios của Người.

Ngay ngày hôm nay, việc loan báo Tin Mừng cũng phải có kèm theo các dấu lạ, nhưng các dấu lạ này không phải là những mánh lới phù chú ma thuật, nhưng là những dấu chỉ cho thấy thế giới mới như các ngôn sứ và tác giả Mc đã từng lon báo.

+ Kết luận

Bởi vì các nhà chuyên môn cho rằng Kết dài của TM Mc là một huấn giáo về Phục Sinh, chúng ta có thể đối chiếu bản văn với 1 Cr 15,1-11. Cuộc gặp gỡ với một nhóm môn đệ giới hạn trở thành nền tảng cho các biến cố liên hệ đến Đức Giêsu Phục Sinh. Giới hạn về thời gian giữa cuộc Phục Sinh và Lên Trời đảm bảo cho tính hợp pháp của các chứng nhân chọn lọc, nhưng cũng cho thấy cuộc Phục Sinh là như một kiểu trở lại tam thời của Đức Giêsu trong một cuộc sống trần thế. Quan trọng là đi loan báo Tin Mừng "khắp nơi" và chỉ khi loan báo như thế, người môn đệ mới trải nghiệm sự hỗ trợ thường trực của Đức Chúa được tôn vinh vẫn đang ở lại trong cộng đoàn mình.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Nay đã sống lại, đã được tôn vinh, Đức Giêsu có thể hiện diện với từng người trong chúng ta. Có thể gọi Thăng Thiên là lễ nhân ra nhiều sự hiện diện của Đức Giêsu. Đây là ý nghĩa đích thực của Thăng Thiên, nên chúng ta có thể thực sự hạnh phúc và chan hòa niềm vui. Đức Giêsu Phục Sinh là Chúa tể (Kyrios) nhưng vẫn đang "cùng hoạt động" với các môn đệ Người, với mỗi tín hữu đang dấn thân cho sứ vụ Người giao phó.

2. Nhìn vào Nhóm môn đệ, chúng ta nhớ đến tập thể trong đó chúng ta đang hiện diện: gồm những con người bất toàn, có thất trung. Nếu hôm nay, chúng ta còn có thể ra đi loan báo Tin Mừng, là vì Đức Giesu Phục Sinh đã tha thứ và khôi phục tư cách cho chúng ta. Sống đời thừa sai là làm chứng rằng chúng ta đã được ơn tha thứ và chúng ta đã gặp Đấng Phục Sinh.

3. Địa bàn hoạt động của người môn đệ là thế giới, "khắp tứ phương thiên hạ"; đối tượng họ gặp gỡ là mọi người và từng người trên đường họ đi, "mọi loài thọ tạo". Người môn đệ của Đấng Phục Sinh không được để cho những phân biệt về màu da, ngôn ngữ, chủng tộc,... làm cho mình ngần ngại ra đi chia sẻ Tin Mừng cứu độ.

4. Hôm nay chúng ta đang làm các "dấu lạ" nào? Phải chăng chúng ta cứ muốn Thiên Chúa làm các phép lạ, hay là chính chúng ta cũng muốn thực hiện các "dấu lạ"? "Dấu lạ" có phải la chính sự hiện diện khiêm tốn, nhân ái và có khả năng "chữa lành" của chúng ta? Con người hôm nay có cảm thấy rằng Đức Giêsu đã lên trời, vẫn đang ở cùng chúng ta tại đây chăng?

------------------------

 

LênTrời-441: HẸN NGÀY SUM HỌP


Lm. Jos DĐH.

 

Người đi trước, rước người theo sau, câu thành ngữ nhắc đến một điểm dừng, một điểm hẹn, dù LênTrời-441


Người đi trước, rước người theo sau, câu thành ngữ nhắc đến một điểm dừng, một điểm hẹn, dù nơi chốn và cái đích hạnh phúc chẳng lấy gì làm rõ ràng. Bậc sinh thành đi trước ta, anh chị em bạn bè đồng hành cùng ta, ai ai cũng cho ta kiến thức, kinh nghiệm, còn lãnh nhận, thu thập những ý tưởng đẹp, bài học hay từ cuộc sống này, thuộc về tự do của ta. Bậc làm cha mẹ không thể sống mãi với con cháu, nhưng có phải tính thiêng liêng vẫn bất tử: nợ ai một chút chớ quên, ơn ai một chút phải nên đáp đền. Nói về tình, ai cũng cần được thương yêu chăm sóc, lưu tâm đến lý, mọi người đều cần trang bị những kiến thức để sống, để tới điểm hẹn mà tiền nhân hằng chuẩn bị cho ta.

Nếu như ở đời, người ta quan niệm: nơi đâu có tự do ở đó có hạnh phúc, nên ta chẳng lạ gì, khi không ít người coi nước Mỹ là “thiên đường”, rất đáng du lịch, du học, tìm cách định cư. Đức Giêsu năm xưa gián tiếp xem “thiên đường” là tin mừng hạnh phúc: “ai tin và chịu phép rửa, thì sẽ được cứu độ”. Dù được thiên đường hay được nước trời ở đời sau, với tâm trí phàm nhân, hơi xa vời, mọi người vẫn đang thao thức đầu tư công sức để đi tới nơi về tới chốn, được sum họp cùng gia đình dòng tộc ở thiên đường hôm nay và mai sau. Tâm tính tự nhiên, ai chẳng thích rõ ràng cụ thể: thích vui khỏe bình an, thích hạnh phúc bền vững, dù tâm trí và lòng dạ chúng ta chưa hiểu hết “tin và chịu phép rửa” như thế nào, mới đạt tới thiên đường thật ?

Thầy Giêsu hoàn tất sứ mạng Chúa Cha trao phó, Ngài hứa hẹn ngày sum họp đoàn tụ, khi các học trò chu toàn việc loan báo tin mừng: “các con hãy đi khắp nơi rao giảng tin mừng cho mọi loài tạo vật”. Có phải Thầy Giêsu chính là cha là mẹ, là thầy, là anh cả đi trước, đã và đang dẫn đường chỉ lối để các học trò, để từng người trong chúng ta đi đến thành công, bằng việc vâng lệnh thầy truyền. Nếu các bậc tiền bối nói: lòng người hẹp hòi, phúc khó mà tới, lòng người trung hậu, phúc tự tìm về. Vâng, tự sức những ngư phủ sẽ chẳng làm “nên cơm cháo gì”, và rồi, điều kỳ diệu xảy ra ở “niềm tín thác” đầy hứa hẹn: “và đây là những phép lạ đi theo những người đã tin, nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, nói được các thứ tiếng mới lạ….”.

Sum họp ngày lễ tết, gặp gỡ nhau mừng ngày nhận bằng cấp danh hiệu, chúng ta đã có cảm giác. Sum họp ngày ở bên Thầy Giêsu, sum họp với gia đình dòng tộc trên thiên quốc, người tín hữu chỉ cảm nhận bằng niềm tin. Chúng ta tin tổ tiên ông bà cha mẹ, các ngài vừa dạy vừa dỗ, vừa chuyển cầu đắc lực cho ta, hẳn chưa đủ, ngộ lỡ ta sử dụng tự do của mình “vô tội vạ” thì sao ? Mỗi người còn phải sống, phải nghiêm túc thực thi giới luật cơ bản: mến Chúa yêu người, hay tích cực hành động theo thánh ý Chúa với nén bạc riêng mỗi chúng ta đang có. Dù tin nhiều hay tin ít, kitô giáo chúng ta vẫn hướng tới ngày sum họp trên thiên quốc là hứa hẹn, là hy vọng quan trọng. Thực tế nơi cuộc sống hiện tại, nhiều người con vẫn đang âm thầm hy sinh không tiến thân vì nặng ơn cha nghĩa mẹ: lên chùa thấy phật muốn tu, về nhà thấy mẹ công phu chưa đền !

Kitô giáo chúng ta tuyên xưng niềm tin Đức Kitô, Đấng là Thầy là Chúa, Đấng đã chiến thắng thế gian, Ngài đi trước và sẽ rước các học trò và chúng ta cùng Ngài sum họp bên hữu Chúa Cha. Điều cần thiết và trọng tâm là ta đang sống tinh thần người môn đệ thế nào, ta có tin về sum họp thiên đường, chính là về quê hương thật, nơi có Ba Ngôi Thiên Chúa, có tổ tiên dòng tộc, có đại gia đình kitô giáo không ? Đức Giêsu hôm xưa chia tay các học trò, cuộc chia tay không có nước mắt, chắc không phải vì tình thầy trò cứng rắn theo kiểu nói ở đời: nước mắt đàn ông không tuôn thành dòng … Xét về lý, chỉ những ai đủ trưởng thành mới đáng gọi là nam thanh nữ tú, nên hiểu thế nào là tình ? câu trả lời sẽ là tất cả những ai mang trái tim bằng thịt đều “biết yêu và đáng được yêu”. Hẹn ngày sum họp, hẹn ngày tái ngộ, có phải là lời xã giao môi miêng hay không, tùy tự do nơi mỗi người chúng ta hôm nay đang thực hiện.

Có thể chúng ta không hiểu hết lý lẽ về tình yêu thương của Thầy Giêsu dành cho các học trò: “vậy sau khi nói với các học trò, Người lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa Cha”. Nếu đọc tiếp đoạn tin mừng, suy tư thêm: “phần các ông, các ông đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, củng cố lời giảng dạy bằng những phép lạ kèm theo”. Ta có thể nói, Thầy Giêsu đến trần gian, Thầy đã chiến đấu, chiến thắng thế gian, tất nhiên sứ mạng của Thầy sẽ còn tiếp tục quy tụ và hoàn thiện những kẻ tin cho đến ngày sau hết. Sum họp thiên đường mai sau, hay hạnh phúc quê trời hôm nay, không phải là lúc xã hội, hay thế giới sẽ khoác “cẩm bào cho Thầy Giêsu”. Mà là từng người trong mỗi gia đình nhân loại phải góp phần cải thiện bản thân để xứng đáng với niềm tin của mình hầu cùng nhau sum họp Đại gia đình thiên quốc. Amen.

--------------------------

 

LênTrời-442: THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?


Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 

Ai trong chúng ta sẽ có một lúc nào đó chạnh lòng tự hỏi: “Mình là ai, từ đâu đến và sẽ về LênTrời-442


Ai trong chúng ta sẽ có một lúc nào đó chạnh lòng tự hỏi: “Mình là ai, từ đâu đến và sẽ về đâu sau khi chết?”. Tại sao con người lại có mặt trên trần gian để một ngày nào đó phải chết? Chết là chấm dứt, là biến mất khỏi thế gian này, hay còn có một nơi nào đó để trở về?

Người Ai Cập cổ tin rằng kiếp sống sau là có thật. Vì thế trong những ngôi mộ huy hoàng, họ để lương thực, tiền bạc, vật dụng và tư trang theo người chết hy vọng có cái dùng trong kiếp sau. NgườiPhật giáo thì đốt vàng mã là để cho người đã khuất có thể sử dụng cho đời sau.

Đời sau mà con người hướng tới đó là thiên đàng, là nơi hạnh phúc và không còn khổ đau. Theo Kinh Thánh, thiên đàng là một nơi có thật, vượt quá mọi mơ ước, đẹp hơn tất cả những mộng ước đẹp nhất của chúng ta. Chúng ta hãy tưởng tượng một thế giới không có chiến tranh, bệnh tật, buồn lo hay sầu thương chi cả. Chúng ta hãy hình dung một thế giới không có đau khổ, già nua, hay chết chóc. Nơi đó, “Thiên Chúa sẽ lau khô mọi nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhứt đã qua rồi.” (Khải-huyền 21:4). Chúng ta sẽ thấy nơi ấy thật đáng sống, đáng là bến đợi cho cuộc đời chúng ta.

Nơi ấy, hôm nay Chúa Giê-su đã được rước về. Nơi đó chính là quê hương mà Đức Chúa Trời dànhsẵn cho những người tuân giữ giới răn Chúa. Vì chính Chúa Giê-su đã nói: “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với các con rồi; Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó (Ga 14:2-3).

Nhưng nơi đó không phải là một nơi chốn có giới hạn về không gian hay thời gian. Thánh Giáo Hoàng  Gioan Phaolô II đã nói: “Thiên đàng là một trạng thái sống  chứ không phải là một nơi chốn theo nhận thức của ngôn ngữ loài người.” “Thiên đàng là một lối sống, là mối quan hệ giữa cá nhân với Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là cuộc gặp gỡ Chúa Cha, diễn ra trong Chúa Kitô phục sinh, và hiệp thông với Chúa Thánh Thần.”

Như vậy, Thiên đàng hay Quê Trời sẽ là nơi gặp gỡ, là cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu. Điều ấy mang lại cho chúng ta niềm tin tưởng, và gia tăng niềm tín thác. Vì qua cuộc đời khổ ải chóng qua này ta sẽ đến một bến bờ hạnh phúc viên mãn.

Nhưng điều mà Chúa Giê-su hứa ban hạnh phúc cho con người không chỉ là thiên đàng mai sau mà còn là thiên đàng tại thế khi ta sống theo thánh ý Ngài. Thiên Chúa sẵn sàng ban cho chúng ta một cuộc đời bình an và hạnh phúc nếu chúng ta luôn thuộc về Ngài thì ân sủng Thiên Chúa sẽ luôn ở cùng chúng ta.

Nếu hiểu thiên đàng là nơi ta gặp Chúa và ở lại trong Ngài, thì ngay hôm nay, nếu ta chọn Chúa mà tránh xa tội lỗi, chọn Chúa mà từ chối những niềm vui bất chính thì chúng ta đã sống trong hạnh phúc với Chúa.

Xin Chúa ban ơn để mỗi người chúng ta biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa ngõ hầu chúng ta được Chúa ban hạnh phúc đời này và gia nghiệp vĩnh cửu trên thiên đàng mai sau. Amen

---------------------------

 

LênTrời-443: MỞ MẮT


Lm Vũđình Tường

 

Trước ngày về trời Đức Kitô chuẩn bị cho môn đệ ngày Ngài dời họ để về cùng Chúa Cha. Đức LênTrời-443


Trước ngày về trời Đức Kitô chuẩn bị cho môn đệ ngày Ngài dời họ để về cùng Chúa Cha. Đức Kitô chuẩn bị bằng cách giúp họ dù xa cách Ngài họ vẫn có thể trực tiếp liên lạc và cảm thấy Ngày luôn đồng hành với họ. Đức Kitô đề nghị hai cách liên lạc. Thứ nhất là liên kết với Ngài như cành nho liên kết với thân nho để nhận sự sống từ thân nho. Cách thứ hai là thực hành giới luật yêu thương Ngài ban. Khi làm một trong hai công việc đó, môn đệ cảm nhận Đức Kitô kề bên. Sau đó, Đức Kitô còn ban cho các ông ơn nhận biết bằng cách mở mắt các môn đệ. Người đầu tiên nhận ơn đó chính là bà Magdala. Sáng sớm bà ra thăm mộ, gặp Ngài bà tưởng là người làm vườn. Bà nhận ra Đức Kitô khi Ngài gọi tên bà (Gioan 20,16). Kế đến Đức Kitô mở mắt hai môn đệ trên đường về quê. Các ông nhận ra Đức Kitô khi nhìn thấy các Ngài bẻ bánh, sau khi đã dâng lời chúc tụng Thiên Chúa. Thánh Luca (24:30-32) thuật lại:

‘Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. Họ mới bảo nhau: ‘Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh thánh cho chúng ta, lòng chúng ta chẳng bừng cháy lên sao?’

Sau đó Đức Kitô mở mắt cho Thoma khi ông đòi sờ tay vào vết thương nơi tay và cạnh sườn Đức Kitô. Thoma không dám sờ tay vào vết thương khi Đức Kitô hiện ra nhưng mắt đức tin ông mở ra, nhận biết Đức Kitô Phục Sinh và long trọng tuyên xưng; ‘Lậy Chúa, lậy Thiên Chúa của con Gn 20,28’. Ngày Đức Kitô về trời, Ngài cùng môn đệ đến ngoài thành Bethany, nơi đó Ngài từ giã các ông. Kinh Thánh không nhắc đến điều này, nhưng chúng ta có thể mường tượng ra cảnh Đức Kitô được cất lên cao, các môn đệ mắt mở to nhìn thân thể Đức Kitô cứ lên cao mãi, cao mãi, cho đến khi chỉ còn một chấm nhỏ trước khi mất hút vào bầu trời xanh thẳm.

Giã từ Đức Kitô nhưng các môn đệ không giã từ hình ảnh Đức Kitô về trời. Hình ảnh Chúa về trời in sâu trong tâm khảm các tông đồ và hình ảnh đó luôn cùng đồng hành với các ông trong mọi tình huống của cuộc sống. Các ông bắt đầu thực hiện điều Đức Kitô phán bảo:
‘Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo Mc. 16:15’.

Với các tông đồ thế giới các ông lúc đó rất hạn hẹp, có lẽ không ra khỏi những vùng Đức Kitô rao giảng. Và rồi thế giới đó lớn dần, lan toả ra đến những vùng lân cận và Tin Mừng được dân ngoại đón chào. Một lần nữa Thánh Thần Chúa mở mắt các ông. Tin Mừng Chúa không riêng cho một dân tộc nào nhưng cho mọi dân tộc. Như thế mới gọi là rao giảng cho ‘khắp tứ phương thiên hạ’.

Thánh Marcô ghi nhận các tông đồ vui mừng rao giảng khắp nơi. Nơi đâu cũng có kẻ đón chào, và nơi đâu cũng có kẻ chống đối. Nhân Danh Đức Kitô các môn đệ đem Tin Mừng đến cho muôn dân. Các ông trừ ma quỉ, chữa bệnh và chuyển tải đến mọi người ngôn ngữ mới, ngôn ngữ của yêu thương, tha thứ. Nói theo ngôn ngữ của Thánh Gioan Tiền Hô, nhóm chống đối Tin Mừng dùng thủ đoạn gian manh, tâm tư độc hại, miệng lưỡi rắn độc, mong hại Môn Đệ Đức Kitô và những kẻ tin theo Ngài.

‘Loài rắn độc kia, xấu như các người, thì làm sao nói điều tốt được. Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra. Mat 12:33’.

Môn đệ Đức Kitô được ban cho miệng lưỡi (lời) khôn ngoan để bác lại miệng lưỡi ( lời) độc hại, gian ác. Môn đệ Đức Kitô đến mang Tin Mừng, ban ơn lành cho mọi người. Trong hoàn cảnh gặp chống đối kịch liệt các ngài không chủ trương đả kích, gây chiến, nhưng khiêm nhường, âm thầm cầu nguyện nghe theo hướng dẫn của Thánh Thần Chúa.

Đức Kitô về trời, Ngài không còn bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Môn đệ Đức Kitô, với con mắt đức tin, các ông nhận biết, cảm nghiệm Chúa luôn kề bên, cùng đồng hành với các ông. Đức Kitô hoàn thiện sứ mạng Chúa Cha trao phó. Ngài trao sứ mạng đó cho các môn đệ tiếp tục rao giảng về tình yêu Chúa cho muôn dân. Đức Kitô luôn đồng hành cùng các môn đệ, dù các ông không nhìn thấy Ngài bằng xương, bằng thịt nhưng luôn cảm thấy Ngài gần kề. Bất cứ khi nào các ông liên kết với Ngài trong tình yêu các ông nhận biết có Chúa luôn ở cùng. Là môn đệ Đức Kitô, mỗi chúng ta đều được trao ban tránh nhiệm mang Tin Mừng đến cho muôn dân. Chúng ta cùng khuyến khích, nâng đỡ nhau hoàn thành điều Đức Kitô phán bảo.

‘Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo Mc. 16:15’.

--------------------------

 

LênTrời-444: CHUYỂN GIAO THÔNG ĐIỆP CỨU ĐỘ


Lm. Inhaxiô Trần Ngà

 

Đối với chúng ta hôm nay, gửi một lá thư từ Việt Nam đi Âu hay Mỹ là điều dễ như trở bàn tay LênTrời-444


Đối với chúng ta hôm nay, gửi một lá thư từ Việt Nam đi Âu hay Mỹ là điều dễ như trở bàn tay, nhất là đối với thư điện tử, chỉ cần soạn thư vào điện thoại hay máy tính, rồi nhấn vào phím gửi… thế là bức thư sẽ được chuyển đi đến nơi ta muốn, trong một vài giây!

Thế nhưng vào thời trước đây, khi ngành Bưu chính Việt Nam chưa phát triển[1] chuyển một bức thư từ Bắc vào Nam là cả một hành trình đầy gian truân.

Chuyển giao sắc chỉ nhà vua

Hồi ấy, người lính trạm ở hoàng cung (nay gọi là bưu tá), sau khi tiếp nhận sắc chỉ của nhà vua, tức tốc lên ngựa phóng nước đại bất kể ngày đêm mưa nắng, để chuyển giao sớm hết sức có thể cho nhà trạm kế tiếp. Người lính ở nhà trạm nầy, khi vừa tiếp nhận sắc chỉ được mang tới, phải lập tức phóng ngựa lên đường không trì hoãn để chuyển giao cho nhà trạm tiếp theo…

Cứ thế, các lính trạm nối tiếp nhau phóng ngựa như bay, bất chấp nhọc nhằn gian khổ, băng qua nhiều chặng đường gian nan hiểm trở có lắm thú dữ hoành hành, để chuyển giao nhanh chóng sắc chỉ đến tay người nhận, dù phải tốn rất nhiều thời gian và công sức.

Chuyển giao sứ điệp của Chúa Giê-su

Trước khi về trời, Chúa Giê-su long trọng trao cho các Tông đồ sứ mạng loan báo Tin mừng cho toàn thế giới. Ngài nói: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mác-cô 16, 15).

Tin mừng là thông điệp quan trọng bậc nhất vì có liên hệ mật thiết đến phần rỗi, đến số phận đời đời của nhân loại như lời Chúa Giê-su nói: “Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án” (Mác-cô 16, 16).

Tin mừng là một thông điệp vô cùng quý báu vì mang lại hoà bình và hạnh phúc cho toàn thế giới.

Tin mừng cũng là thông điệp khẩn cấp, cần phải loan truyền nhanh chóng và rộng rãi khắp nơi vì e rằng có rất nhiều người chết đi mà chưa kịp đón nhận được sứ điệp mang lại ơn cứu rỗi nầy.

Sau khi tiếp nhận sứ điệp Tin mừng, các tông đồ đã cống hiến toàn bộ cuộc đời còn lại của mình, chấp nhận vô vàn gian lao khổ ải, kể cả ngục tù, xiềng xích và cái chết, để chuyển giao Tin mừng cho người Do-Thái cũng như cho dân ngoại.

Kế đó, các cộng đoàn tín hữu tiên khởi, sau khi đón nhận Tin mừng do các tông đồ truyền lại, đã nỗ lực chuyển giao cho thế hệ tiếp theo dù phải trả bằng giá máu. Nhờ thế, sứ điệp Tin mừng của Chúa Cứu Thế đã được loan báo cho nhiều dân tộc khắp năm châu.

Chuyển giao Tin mừng là sứ mệnh cấp bách

Hôm nay, Chúa Giê-su và Hội thánh đã trao sứ điệp quý báu và quan trọng nầy tận tay chúng ta và thôi thúc chúng ta chuyển đi khắp thế giới: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo.”

Nắm trong tay thông điệp tối khẩn có liên quan đến vận mệnh đời đời của toàn thể nhân loại, ít nữa là vận mệnh của hơn 90 triệu đồng bào Việt Nam chưa biết Chúa đang sống quanh ta, nhưng dường như chúng ta còn uể oải chưa muốn lên đường làm trách nhiệm người “lính trạm” của Chúa Ki-tô.

Lạy Chúa Giê-su,

Hôm nay, nhiều người phải sống bất hạnh vì chưa được đón nhận niềm hạnh phúc do Tin mừng mang đến; nhiều dân tộc phải sống trong thù nghịch, trong cảnh huynh đệ tương tàn, vì không hề biết giải pháp đem lại hoà bình do Tin mừng cung cấp… đang khi Chúa vẫn thôi thúc chúng con truyền rao Tin mừng cho họ mà chúng con vẫn nhắm mắt làm ngơ!

Và nếu chung quanh chúng con có nhiều người chết đi mà chưa kịp đón nhận sứ điệp Tin mừng cứu độ vì sự chểnh mảng, thờ ơ của chúng con là những “người lính trạm” của Chúa… thì đến ngày phán xét, chúng con sẽ trả lời với Chúa sao đây?

----------------------------

 

LênTrời-445: CHÚA SỐNG TRONG CON


Bông hồng nhỏ

 

Chúa Giêsu đã lên trời, Người ngự bên hữu Chúa Cha nhưng Người vẫn ở cùng nhân loại mọi LênTrời-445


Chúa Giêsu đã lên trời, Người ngự bên hữu Chúa Cha nhưng Người vẫn ở cùng nhân loại mọi ngày cho đến tận thế. Người ra đi để dọn chỗ cho ta, một chỗ trong nhà Cha, dành một chỗ cho những ai khao khát được ở lại trong trái tim của Thiên Chúa.

Trước khi được rước lên trời, Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra với nhóm Mười Một và căn dặn: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16, 15). Đó là lệnh truyền của Người. Tin Mừng được rao truyền cho tất cả mọi loài thụ tạo, không loại trừ ai. Tình yêu cứu độ được ban cho tất cả mọi người. Chúa Giêsu cho biết: “Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin thì sẽ bị kết án” (Mc 16, 16). Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, tình yêu của Người lớn lao đến nỗi Người cho họ quyền tự do đón nhận tình yêu ấy, tự do tin vào Người hay là từ chối. Người luôn canh cánh một niềm yêu thương đối với những ai chưa được sống trong tình yêu của Người. Một khi đón nhận Tin Mừng, ta hãy trở nên người môn đệ của Chúa, sống và loan báo Tin Mừng cho mọi người. Đó là sứ mạng Chúa đã trao phó cho ta.

Các Tông đồ đã ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng (x. Mc 16, 20). Ta cũng sẽ thi hành sứ mạng ấy trong Thánh Thần Tình Yêu của Chúa, hãy để Chúa Phục Sinh sống trong tâm hồn ta, hoạt động trong ta. Ta có đủ bén nhạy với tác động của Thánh Thần Tình Yêu không? Hãy luôn xin Chúa ơn được nhạy bén với tác động ân sủng của Chúa Thánh Thần và trung thành với ân sủng Người ban. Có bao lần ta nhận ra lời mời gọi của Chúa nhưng vì lười biếng, vì chỉ lo nghĩ cho lợi ích của chính mình, ta đã giả điếc làm ngơ. Bao việc thiện ta đã bỏ qua vì ta không đủ quảng đại để cho đi. Ta có vui mừng khi nhận ra thánh ý Chúa, lời mời gọi tha thiết của Chúa và mau mắn thi hành hay ta than phiền khi được Chúa mời gọi yêu thương? Ta đã từng chán nản và không muốn thi hành lời mời gọi của Chúa. Có lẽ, Linh mục- nhạc sĩ Thái Nguyên  đã cảm nghiệm sâu xa lời mời gọi của Chúa dành cho mình trong những ca từ sau đây: “Lời mời gọi của Chúa luôn gây xáo trộn đời con. Bao dự định riêng tư dường như mất hút trong đời. Con mong muốn thế này Chúa lại mong muốn thế kia. Con không sao hiểu được nhưng tin vào tình thương của Ngài” (Tâm tình xin vâng – Thái Nguyên). Quả thế, để thi hành ý muốn của Thiên Chúa, ta phải sẵn sàng bỏ đi ý riêng và những dự định của bản thân, biết hoàn toàn tin tưởng phó thác vào tình thương của Người. Bao lâu, ta chỉ sống cho ý riêng, ta chưa sống cho thánh ý Chúa. Ta cũng hãy cầu nguyện và tha thiết xin Chúa ơn cảm nếm được tình yêu Chúa dành cho chính mình. Một người con cảm nhận được bố mẹ thương mình thì nó sẽ đáp trả bằng cách sống thật ngoan. Một người con sau bao ngày quậy phá, một ngày, nó bỗng nhận ra tình thương bố mẹ dành cho mình, nó đã thay đổi từng ngày. Một khi nhận ra mình được Thiên Chúa yêu thương ta mới nhận ra tội lỗi của mình, ta mới bắt đầu thay đổi cuộc sống. Sám hối không gì khác hơn là biết từ bỏ mọi sự mà theo Chúa Kitô như cách các môn đệ xưa đã nêu gương. Còn gì đẹp hơn những lời rao giảng mạnh mẽ của tông đồ Phêrô, của tông đồ Phaolô, và bao người môn đệ khác, vì các ngài cảm nếm tình yêu thương xót mà Chúa dành cho mình. Mỗi lần, ta rao giảng Lời Chúa bằng chính hành động bác ái với người khác, dù đó là một việc làm âm thầm hay công khai, sức mạnh của lời cầu nguyện hợp với việc làm ấy có sức lan tỏa mạnh mẽ.

Lạy Chúa Giêsu! Chúa đã lên trời để dọn chỗ cho con. Để được lên trời với Chúa, con phải thi hành lệnh truyền mà Chúa đã trao: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.” (Mc 16, 15). Xin cho con luôn khắc ghi lời mời gọi của Chúa và biết mở ra trước tác động của Chúa Thánh Thần, để Chúa sống trong con. Amen.

-----------------------------

 

nTrời-446: CHÚA LÊN TRỜI, NGÀI ĐỂ LẠI “CHÚC THƯ” GÌ CHO CHÚNG TA?


Lm. Phaolô Phạm Trọng Phương

1/ Chúa lên Trời, niềm hy vọng chắc chắn?

 

Theo Giáo lý Hội Thánh công giáo, số 665 “Chúa Giê-su Ki-tô, là Đầu của Hội Thánh, đã đi LênTrời-446


Theo Giáo lý Hội Thánh công giáo, số 665 “Chúa Giê-su Ki-tô, là Đầu của Hội Thánh, đã đi trước chúng ta vào Nước vinh hiển của Chúa Cha, để chúng ta, là chi thể của Thân Thể Người, sống trong niềm hy vọng một ngày kia sẽ được vĩnh viễn ở với Người”. Quả thật, việc Đức Giê-su lên trời không phải hôm nay mới lên, mà khi Ngài sống lại đã lên ngự bên hữu Chúa Cha rồi.Nhưng tại sao hôm nay, chúng ta mới mừng biến cố vô cùng quan trọng này? Phải chăng Chúa có phương cách của Ngài là muốn hiện ra và đồng hành với các môn đệ sau khi Ngài chết. Đức Giê-su Phục Sinh đã đến và cùng đi với các Tông Đồ để củng cố đức tin yếu kém của các ông. Việc chưa tin và còn cứng lòng của các Tông Đồ sau biến cổ khổ nạn của Ngài, Đức Giê-su biết rõ hơn ai hết. Vì thế, sau khi Chúa Cha cho Đức Giê-su sống lại để giúp các ông hiểu rõ về chương trình cứu độ của Thiên Chúa qua Đức Giê-su.“Trước ngày ấy, Người đã dạy bảo các Tông Đồ mà Người đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần. Người lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình : trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa.” (Cv 1, 2-3)

Tuy nhiên, mặc dù sự hiện diện của Đức Giê-su sau khi sống lại cũng chưa đủ để thuyết phục cho các Tông đồ và mọi người tin một cách chắc chắn. Cho nên, sau 40 ngày, Đức Giê-su đã thực hiện một điều kỳ lạ trước mặt các Tông Đồ: “Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa.” (Cv 1,9). Đức Giê-su lên Trời là Ngài được ngự bên hữu Chúa Cha. Ngài trở về nơi Ngài đã xuất phát. Ngài lên Trời để chỉ đường cho chúng ta đi theo. Ngài lên Trời để khẳng định và xác tín với mỗi chúng ta rằng: ‘Quê hương thiên đàng’ là có thật, nơi hưởng vui vẻ đời đời với Chúa là có thật. Ngài lên Trời để nhắn gửi với mọi người rằng là Ngài đi để dọn chỗ cho chúng ta.“Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14,2-3).

Quả thật, để chiếm được “chỗ ở” hay thiên đàng mà Đức Giê-su đã chuẩn bị cho chúng ta không phải không có khó khăn và gian nan, nghĩa là chúng ta phải chiến đấu để qua cửa hẹp, là phải biết từ bỏ tính mê nết xấu, là biết làm lành lánh dữ, là yêu thương tha thứ, là công bằng vị tha, là vui tươi dẫu có đau khổ và thử thách,…Do đó, nói như nhạc sĩ Hoàng Vân trong bài ca Hát về Cây Lúa hôm nay: “Ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay.” Thật vậy, cuộc sống Thiên đàng mai sau sẽ được quyết định tuỳ thuộc vào cuộc sống hiện tại của mỗi chúng ta. Do đó, chúng ta cố sao để sống cho tốt, cho xứng đáng là hình ảnh của Thiên Chúa trong mọi nơi và mọi lúc. Khi chúng ta sống tốt và yêu thương là chúng ta đang hưởng phúc thiên đàng nơi trần gian rồi. Câu chuyện sau đây phần nào giúp chúng ta hiểu rõ thế nào là hoả ngục, thế nào là thiên đàng.

Có một hiệp sĩ Samurai kia rất hung bạo. Ông tìm đến một thiền sư hỏi: Xin cho tôi biết thiên đàng, hỏa ngục là gì. Vị thiền sư nhìn thấy con người thô bạo của anh thì nói: Ta không thể dạy cho ngươi biết thiên đàng hỏa ngục là gì, vì ngươi hung bạo quá. Ngươi làm nhục cho hàng ngũ hiệp sĩ của ngươi. Nghe vị thiền sư nói thế, chàng hiệp sĩ bừng bừng sát khí, rút gươm định chém vị thiền sư. Nhưng vị thiền sư đưa tay cản lại mà nói: “Hỏa ngục là đó”. Nhận được bài học thực tế của vị thiền sư, chàng hiệp sĩ dừng tay lại. Sự hối hận và thương cảm trào dâng trong tâm hồn y. Y hiểu rằng vị thiền sư đã dám hy sinh cả mạng sống để dạy cho y bài học về hỏa ngục. Y từ từ xỏ gươm vào vỏ, rồi quỳ gối trước mặt vị thiền sư với tất cả tấm lòng thành và tỏ ý sám hối. Vị thiền sư đưa tay đỡ y dậy, nhìn sâu vào đôi mắt y mà bảo: “Thiên đàng là thế đó”.

2/ Mệnh lệnh hay ‘chúc thư’ của Chúa Giê-su trước khi Ngài lên trời?

Trước khi về Trời, Đức Giê-su đã để lại một “chúc thư” hay sứ vụ quan trọng cho các Tông Đồ nói riêng và mỗi chúng ta nói chung: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.”(Mt 28,18-20). Sứ vụ này chính Đức Giê-su đã thực hiện, Ngài đã nêu gương. Nay trước khi Ngài lìa khỏi các Tông đồ, Ngài cũng muốn truyền lại sứ vụ đặc biệt này cho tất cả mọi người nhằm mở mang Tin Mừng của Nước Trời đến tất mọi hang cùng ngõ hẻm để hết thảy mọi người tin và được hưởng ơn cứu độ. Đây là ý muốn của Thiên Chúa, như Thánh Phaolô Tông Đồ dân ngoại đã nói: “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (Tm 2,4). Thật vậy, sứ vụ Loan Báo Tin Mừng cho muôn dân là trách nhiệm của mỗi ki-tô hữu. Không ai có quyền chối từ sứ vụ đó khi trên mình mang danh là ki-tô hữu. Nói rõ hơn như Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng là những ai đã chịu Bí tích Thánh Tẩy đều có trách nhiệm Loan Báo Tin Mừng hay truyền giáo. Chính Công Đồng Vaticanô II khẳng định rằng: “Hành trình lữ thứ của Giáo Hội tự bản chất là một cuộc truyền giáo” (AG 2)

Là ki-tô hữu, chúng được mời gọi dấn thân đi đến với tha nhân, vì đó là sứ mạng. Chính Thánh Phaolô đã cảm nhận: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng ta” (2 Cr 5,14); hay “Khốn cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng” (1 Cr 9,16). Đúng là khốn, là buồn nếu mỗi ki-tô hữu không chịu Loan Báo Tin Mừng. Tuy nhiên, để sống sứ vụ truyền giáo hay loan báo niềm vui Tin Mừng, mỗi ki-tô hữu tiên vàn là người vui và bình an, là người có Chúa. Mà đã có Chúa thì phải có niềm vui. Nếu không có niềm vui thì sứ vụ loan báo Tin Mừng xem ra phản tác dụng. Đức Thánh Cha đã cảm nhận được điều đó hết sức thực tế như sau: Có những kitô hữu sống như chỉ có Mùa Chay mà không có Phục Sinh. (NVTM, số 6). Ngài nói tiếp: Cho nên, một nhà truyền giáo không thể lúc nào cũng giống như một người vừa đi đưa đám về. Chúng ta hãy phục hồi và gia tăng lòng nhiệt thành,“niềm vui ngọt ngào và an ủi của việc rao giảng Tin Mừng, ngay cả khi chúng ta phải gieo trong nước mắt […] Chớ gì thế giới của thời đại chúng ta, là thế giới đang tìm kiếm, có khi trong lo âu, có khi trong hy vọng, nhận được Tin Mừng không phải từ nhà truyền giáo buồn rầu và chán nản, thiếu kiên nhẫn hoặc lo âu, nhưng từ thừa tác viên của Tin Mừng mà cuộc sống của người ấy tỏa sáng lòng nhiệt thành, là người đã nhận được niềm vui của Đức Kitô trong mình trước”.(NVTM, số 10)

3/ Đức Giê-su lên Trời nhưng Ngài vẫn ở với nhân loại cho đến tận thế, nghĩa là làm sao?

Đức Giê-su lên Trời, nhưng Ngài không bao giờ bỏ rơi các môn đệ nói riêng, và chúng ta nói chung. Điều đó được chứng thực qua lời nói của Ngài: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28,20). Nghĩa là làm sao?

Vì là hình ảnh hữu hình củaThiên Chúa là tình yêu, Đức Giê-su đã không nỡ lòng nào bỏ bê các Tông đồ và nhân loại lầm than. Dấu chỉ đó được cụ thể hoá qua những lời nói của Ngài đối với các môn đệ trước khi rời xa họ. Trước tiên, Đức Giê-su gửi Thánh Thần đến cho các Tông đồ. “Song, Thầy nói thật với anh em : Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em ; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em.” (Ga 16,7) Điều đặc biệt là Đức Giê-su muốn ban Thịt Máu của Ngài cho các môn đệ nói riêng và mỗi chúng ta nói chung.  Chính câu nói “Thầy sẽ ở cùng anh em mỗi ngày cho đến tận thế” là ý muốn nói từ nay Ngài không thể hiện diện bằng xương bằng thịt như anh em đang thấy, nhưng Thầy sẽ hiện diện bằng cách thức khác, đó là Ngài trở nên Bí Tích Thánh Thể để nuôi sống mỗi người. Từ nay tấm bánh trắng và chén rượu nho, sau khi được truyền phép, tấm bánh trở nên Mình của Đức Giê-su, chén rượu trở nên Máu của Đức Giê-su. Từ nay, Ngài ở cùng nhân loại nơi các nhà tạm nơi các nhà thờ được thánh hiến. Nói cách thâm sâu hơn, khi chúng ta rước Mình Máu Người, chúng ta có Người hiện diện trong nhà tạm tâm hồn của chúng ta. Từ nay, chúng ta không còn cô đơn hay mồ côi nữa vì có Chúa Thánh Thần luôn ở cùng ta, đặc biệt, có Đức Giê-su là Bí Tích Thánh Thể ở bên cạnh ta nơi nhà chầu và nhất là ở trong cung lòng của mỗi chúng ta khi chúng ta rước Ngài. Bên cạnh đó, Đức Giê-su còn hiện diện nơi Lời Chúa, nơi những người nghèo, nơi những dấu chỉ yêu thương với anh em đồng loại.

Mầu nhiệm Đức Giê-su lên Trời không chỉ là niềm hy vọng chắc chắn về đời sống vĩnh cửu cho những ai có niềm tin vững chắc, mà mầu nhiệm này còn nhắc nhở chúng ta về bổn phận và trách nhiệm tiếp nối sứ vụ Loan báo Tin Mừng của những ai đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, giúp người khác đi trên con đường Đức Giê-su đã đi. Đó là con đường về Trời.  Đặc biệt, mầu nhiệm Chúa lên Trời không làm cho chúng ta mất Chúa, xa lìa đời đời, nhưng lời hứa của Chúa là “Thầy ở cùng các con mỗi ngày cho đến tận thế” đã làm cho chúng ta vui mừng hơn, có hy vọng tràn trề hơn và nhờ đó, chúng ta có sức mạnh và lòng nhiệt huyết để ra đi loan báo Tin Mừng cho mỗi anh chị em để chỉ đường cho nhiều người cùng về Trời với chúng ta. Amen.

---------------------------

 

nTrời-447: HẦY Ở CÙNG ANH EM MỌI NGÀY


Đỗ Công Minh

 

Cùng với tòan thể Giáo hội, hôm nay chúng con mừng lễ Chúa lên trời . Chúa lên trời không phải LênTrời-447


Cùng với tòan thể Giáo hội, hôm nay chúng con mừng lễ Chúa lên trời .

Chúa lên trời không phải là Ngài từ giã chúng con để đi về một nơi khác. Khái niệm “Trời” dễ làm con có cảm tưởng  một nơi nào đó quá xa, ở đó Chúa dõi theo con người chúng con nơi trần gian. Và cũng trong suy nghĩ đó mà có nhiều người chúng con quên đi thực tại trần thế này, nơi Chúa trao cho con người sống và thống trị nó.

Có những người công kích và bài bác đạo Chúa, họ cho rằng người tín hữu là người sống trong ảo tưởng, chỉ mơ mộng chuyện trên mây trên gió mà không thấy được những việc cụ thể. Sống mà không lo cho hôm nay, chỉ lo tìm hư ảo mai sau. Mà cũng chính từ cách sống của chúng con đây dễ làm cho những người ngòai Kitô giáo ngộ nhận. Con cũng đã có lúc nghĩ như vậy. Con đã từng quên đi lời nhắc nhở của Thiên sứ:“Sao các ông còn đứng nhìn lên trời làm chi vậy ? ”.

Xin cho con trong cuộc sống luôn biết xây dựng nước trời từ chính hiện tại hôm nay, bằng những hành động sống lòng tin cụ thể. Không chỉ hướng về quê trời mà lãng quên bổn phận xây dựng trời mới đất mới ngay tại trần gian này .

Xin cho con luôn biết chuẩn bị cho ngày về trời như Chúa đã chuẩn bị trong suốt cuộc đời Người nơi dương thế. Đó chính là làm tròn bổn phận mình, sống cùng, sống với anh chị em đồng lọai; giúp nhau cùng thăng tiến cuộc sống hôm nay và luôn luôn vững tin rằng: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế “, để đến ngày Chúa gọi, chúng con sẽ cùng dắt tay nhau về trời với Chúa và với anh chị em con. AMEN.

-------------------------------

 

LênTrời-448: CÕI VĨNH HẰNG


Trầm Thiên Thu

 

Con Chúa Thăng Thiên Hiển Vinh Chói Lọi. Chúng Con Lữ Khách Hy Vọng Tràn Đầy. Thiên Chúa LênTrời-448


Con Chúa Thăng Thiên Hiển Vinh Chói Lọi
Chúng Con Lữ Khách Hy Vọng Tràn Đầy

Thiên Chúa – Đấng muôn trùng cao cả, Đấng ngự chốn vĩnh hằng, Đấng mang danh chí thánh – đã phán: “Ta ngự chốn cao vời và thánh thiện, nhưng vẫn ở với tâm hồn khiêm cung tan nát, để ban sức sống cho tâm hồn những kẻ khiêm cung, và ban sinh lực cho những cõi lòng tan nát.” (Is 57:15) Đó là niềm an ủi khôn tả đối với tội nhân chúng ta.

Chúa Giêsu đã từng xác định với ông Nicôđêmô: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống.” (Ga 3:13) Không một phàm nhân nào xuất phát từ trời, chỉ một mình Đức Giêsu Kitô – Con Thiên Chúa, nhưng Ngài hứa cho chúng ta về trời NẾU trung thành tin Ngài và tuân giữ các giáo huấn của Ngài. Đó là diễm phúc cho chúng ta, nhưng chữ “nếu” rất quan trọng vì là điều kiện tuyệt đối.

Thiên Quốc là cõi vĩnh hằng, công dân Nước Chúa phải tinh tuyền, công chính. Là tín nhân, ai cũng khao khát được về trời với Chúa, thế nên ngay bây giờ phải cố gắng “đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác.” (Rm 12:21) Tuy nhiên, Thánh TS Thomas Aquino (1225-1274) xác định: “Chúng ta không có quyền đòi hỏi, nhưng phải nài xin Thiên Chúa ban cho ơn bền đỗ. Nhận ra những ai là người mà chúng ta PHẢI TRÁNH, đó là phương thế quan trọng để cứu lấy linh hồn mình.” Thực sự rất cần ơn phân định để biết những gì phải theo và phải tránh, nói theo khẩu ngôn là “liệu hồn.”

Muốn vào cõi vĩnh hằng – Nước Trời, thì phải vào cõi tạm – sống giữa đời. Phải thực sự can đảm mới đủ sức dấn thân và chiến đấu hết sức – trước tiên là “vật lộn” với chính mình, bởi vì có nhiều trách nhiệm và cũng có lắm đau khổ. Chính Chúa Giêsu cũng đã chịu nhiều đau khổ: sinh nơi hang đá, sống di trú, không có chỗ tựa đầu, cuối cùng là chết thê thảm với nhục hình thập giá.

Bất cứ ai là tin nhận và đi theo Ngài, chắc chắn không thể đi con đường nào khác hoặc đi lối tắt để có thể gặp Ngài nơi cõi vĩnh hằng. Thật vậy, trước khi Chúa Giêsu về trời, Ngài đã căn dặn chúng ta phải cố gắng gieo Hạt Lời Chúa mọi nơi: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16:15) Chúng ta không đơn độc, vì Ngài hứa cùng hành động và đồng hành với chúng ta “mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:20) Và còn hơn thế nữa, Ngài còn sai Đấng Bảo Trợ là Thần Chân Lý đến để dạy chúng ta những điều phải làm. (x. Ga 14:26) Như vậy thì không có gì phải lo sợ giữa cuộc đời này.

Chính Chúa Giêsu đã huấn luyện các tông đồ mà Ngài tuyển chọn qua tác động  của Chúa Thánh Thần. Ngài còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông nhận biết Ngài vẫn sống và hoạt động sau khi đã chịu chết. Một hôm, chính Ngài truyền cho các tông đồ không được rời khỏi Giêrusalem, mà phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà họ đã nghe Ngài nói tới. Điều gì? Đó là: “Ông Gioan làm phép rửa bằng nước, còn họ sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần.” (Cv 1:5) Ngày nay, Chúa Thánh Thần cũng vẫn tiếp tục và không ngừng hoạt động.

Cũng đã từng có những người hỏi Chúa Giêsu rằng có phải đó là lúc Chúa Giêsu khôi phục vương quốc Israel hay không. Nhưng Ngài xác định: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là CHỨNG NHÂN của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1:7-8) Thời đó, người ta cứ tưởng Chúa Giêsu là một chính khách có thể đảo chính để khôi phục quốc gia Israel, nhưng mọi người đều lầm to. Thật vậy, có lần Ngài đã xác định trước mặt tổng trấn Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này.” (Ga 18:36)

Chúa Giêsu không thuộc về thế gian này nên Ngài không thu quân để đảo chính, và Ngài đã để cho người ta đóng đinh vào Thập Giá. Sau 40 ngày sống lại, Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ xong, Ngài lên trời trước mặt họ, và rồi có đám mây quyện lấy Ngài, khiến họ không còn thấy Ngài nữa. Đang lúc các ông còn đăm đăm ngước lên trời, nhìn theo phía Ngài đi, có hai người đàn ông mặc áo trắng xuất hiện và nói với họ: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” (Cv 1:11)

Một hiện tượng vô cùng lạ lùng, chưa thấy bây giờ nên các ông rất ngạc nhiên. Chúa Giêsu về trời và vĩnh viễn ở đó chứ không lên trời một thời gian như đi du lịch, cũng chẳng như Chú Cuội bám gốc đa bay lên cung trăng, hoặc như Táo quân cưỡi cá chép bay lên trời. Đó chỉ là huyền thoại, không có thật. Lại càng không phải như các phi hành gia bay lên cung trăng bằng phi thuyền. Đó chỉ là dạng lên trời không chính thức, họ lên trời nhưng không thể sống được nếu không có bình dưỡng khí. Họ phải trở lại trái đất trước khi hết dưỡng khí.

Ngạc nhiên rồi ngơ ngẩn. Các môn đệ ngạc nhiên khi thấy Thầy Giêsu bay lên trời. Họ cũng đã từng ngơ ngẩn khi thấy Thầy bị người ta giết chết, tưởng thế là hết, nhưng Thầy phục sinh và sống mãi. Hạnh phúc tràn ngập. Nay các ông càng ngơ ngẩn hơn vì Thầy đi rồi, một thoáng buồn thôi. Các tông đồ phải ra đi và vào đời, tất cả tín nhân chúng ta cũng phải vậy – dấn thân, vào đời, và hy vọng ngày về trời, gặp lại Chúa Giêsu.

Thông thường, cuộc chia tay nào cũng có phần lưu luyến, thường buồn hơn vui, nhưng khi cuộc chia tay với Chúa Giêsu lại không buồn mà lại hy vọng tràn trề. Ngài về trời là dấu chỉ chắc chắn chúng ta cũng được về trời. Hoàn toàn vui mừng. Thế nên Thánh Vịnh gia mời gọi: “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu.” (Tv 47:2-3) Alleluia!

Chúa Giêsu thăng thiên là về nơi Ngài đã xuất phát. Thánh Vịnh gia mô tả là “rộn rã tiếng hò reo, vang dội tiếng tù và, đàn ca kính mừng Ngài.” Tuy nhiên, cuộc sống đôi khi không êm đềm như thảm lụa, luôn cần động viên lẫn nhau: “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu, hãy dâng Người khúc đàn ca tuyệt mỹ. Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân, Thiên Chúa ngự trên tòa uy linh cao cả.” (Tv 47:8-9)

Sự khôn ngoan rất cần thiết, cần cho cả đời sống xã hội và tâm linh, trong mọi trường hợp. Sự khôn ngoan đó không như khôn ngoan bình thường, mà chính là Chúa Thánh Thần. Thánh Phaolô cho biết: “Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho anh em THẦN KHÍ KHÔN NGOAN để mặc khải cho anh em nhận biết Người. Xin Người SOI LÒNG MỞ TRÍ cho anh em thấy rõ, đâu là NIỀM HY VỌNG anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là GIA NGHIỆP VINH QUANG phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là SỨC MẠNH TOÀN NĂNG đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Đức Kitô, khi làm cho Đức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời.” (Ep 1:17-20)

Nhờ khôn ngoan, chúng ta đón nhận nhiều điều quý giá khác từ Thiên Chúa. Vô cùng tuyệt vời! Nhưng có điều cần lưu ý: “Đức Khôn Ngoan là thần khí hằng yêu mến con người, nhưng không miễn thứ cho kẻ nói lời phạm thượng.” (Kn 1:6)

Thánh Phaolô kết luận bằng cách giải thích: “Như vậy, Người đã tôn Đức Kitô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.” (Ep 1:21-23) Điều kỳ diệu tuyệt vời!

Trước khi “chia tay” với các môn đệ, Chúa Giêsu căn dặn: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16:15) Đó không chỉ là lời nhắn nhủ của “người ra đi” mà còn là mệnh lệnh – tức là điều phải thực hiện bằng mọi giá. Ngài vừa hứa hẹn vừa cảnh báo: “Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ; còn ai không tin sẽ bị kết án.” (Mc 16:16) Đó không là lời hù dọa là hệ lụy tất yếu mà thôi.

Người ta được công chính hóa nhờ đức tin. Quả thật, đức tin quan trọng, tạo nên sức mạnh vô song, và tạo nên điều kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của loài người. Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác nhận: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh thì những người này sẽ được mạnh khỏe.” (Mc 16:17-18) Đã và đang có những người làm được như vậy, đó là tặng phẩm Thiên Chúa trao cho ai thì người đó phải biết sử dụng hợp lý. Ai cũng có một tặng phẩm – người được tặng phẩm này, kẻ được tặng phẩm khác, có người được vài tặng phẩm. Điều đó giống như kẻ được một nén, ba nén, năm nén, nhưng vấn đề không là được nhiều hay ít, mà là có sử dụng để làm sáng danh Thiên Chúa hay không. Vì thế, đừng ỷ sức mình hoặc tìm tư lợi.

Thánh sử Mác-cô cho biết: “Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các tông đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.” (Mc 16:19-20) Chúa Giêsu chia tay để về cõi vĩnh hằng, các tông đồ phải ra đi và vào đời, làm chứng về Đức Giêsu Kitô, Đấng chịu chết trên Thập Giá, phục sinh vinh thắng và lên trời vinh hiển.

Thánh Phaolô nói về phong cách sống chứng nhân giữa đời: “Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tuỳ theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người. Được ơn làm ngôn sứ thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin. Được ơn phục vụ thì phải phục vụ. Ai dạy bảo thì cứ dạy bảo. Ai khuyên răn thì cứ khuyên răn. Ai phân phát thì phải chân thành. Ai chủ toạ thì phải có nhiệt tâm. Ai làm việc bác ái thì vui vẻ mà làm.” (Rm 12:6-8) Mỗi người mỗi việc, mỗi người mỗi hoàn cảnh, với trình độ khác nhau, mỗi người là một các chi thể khác nhau nhưng vẫn chung một Nhiệm Thể Đức Kitô.

Tất cả các chi thể phải đồng tâm nhất trí, cùng phát triển và liên kết trong Nhiệm Thể Thánh – Giáo Hội: “Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.” (Ep 4:4-6)

Về phong cách, Thánh Phaolô cho biết: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa. Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà.” (Rm 12:9-13) Thật hạnh phúc nếu chúng ta làm được như vậy, đồng thời cũng tôn vinh Thiên Chúa và làm vui lòng Ngài, bởi vì như vậy là chúng ta tuân giữ lời dạy của Ngài.

Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Ngài đã cho chúng con nhận biết Ngài qua Thánh Tử Giêsu và được hứa phần thưởng vĩnh sinh. Xin giúp chúng con sống nhân bản, hoàn thiện mỗi ngày để xứng đáng với tình yêu thương Ngài dành cho chúng con. Xin Thánh Mẫu Thiên Chúa và Dưỡng Phụ Giuse nâng đỡ, chở che và hướng dẫn chúng con không lạc hướng về Quê Hương đích thực, nhất là trong thời buổi nhiễu nhương ngày nay. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

--------------------------

 

nTrời-449: HƯỚNG VỀ QUÊ HƯƠNG VĨNH CỬU TRÊN TRỜI


Lm Trần Bình Trọng

 

Việc Ðức Giêsu lên trời xem ra đã hoàn tất sứ mệnh của Người tại thế: sinh ra, lớn lên, chết đi LênTrời-449


Việc Ðức Giêsu lên trời xem ra đã hoàn tất sứ mệnh của Người tại thế: sinh ra, lớn lên, chết đi và sống lại, nhưng thực ra Người vẫn hiện diện trong Giáo hội qua Thần trí của Người.

Theo Phúc âm thánh Luca, Ðức Giêsu: Ðược lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa (Mk 16:10). Sách Công vụ Tông Ðồ thì ghi: Người được cất lên ngay trước mắt các ông và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa (Cv 1:9). Còn thánh Phaolô thì bảo: Ðức Kitô trỗi dậy từ cõi chết và đặt ngự bên hữu Người (Chúa Cha) trên trời (Ep 1:20). Việc Chúa lên trời dạy ta nhiều bài học. Là người tín hữu, ta biết thế đứng của mình, điều gì mình phải tin, việc gì mình phải làm, tại sao ta được sinh ra ở trần gian này và phải đi về đâu, bởi vì Ðức Giêsu đã đi trước để dọn đường cho ta. Ðó là điều Giáo hội tuyên xưng trong kinh Vinh danh: Chúa ngự bên hữu Chúa Cha, xin thương xót chúng con, và còn tuyên xưng trong kinh Tin kính: Người lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha.

Vậy thì trời là gì? Theo quan niệm của dân gian Việt nam thì trời là bầu trời, khoảng không gian, giống như một vòm vô biên úp trên trái đất. Trời cũng được hiểu là quyền lực siêu nhiên trên trời cao, đóng vai trò tạo dựng, điều hành và thưởng phạt. Khi hiểu theo nghĩa này, thì người mình thường thêm từ ông vào trước và gọi là Ông Trời. Ông Trời đó của dân gian Việt Nam, một phần nào cũng là Thượng Ðế và là Thiên Chúa của người Kitô giáo. Theo Thánk kinh, thì trời vừa là hiện tượng tự nhiên, vừa mang ý niệm thần học. Người Do thái thời bấy giờ coi trời là nơi ngự trị của Thiên Chúa ở bên trên bầu trời. Còn Thiên Chúa giáo coi trời hay thiên đàng hoặc thiên đường là nơi hạnh phúc, chốn an nghỉ hay trạng thái của linh hồn người đã được công chính hoá, hay đã được thanh luyện khỏi tội lỗi. Thi sĩ Nguyễn Du đã đọc hay nghe nói về lẽ đạo của Thiên Chúa giáo hay sao, mà trong  truyện Kiều, có viết: Biết đâu địa ngục, thiên đường là đâu.

Việc Chúa về trời hay về thiên đàng là dấu chỉ cho cùng đích của người tín hữu. Dẫu có luyến tiếc nhà cửa, tài sản và sự nghiệp thế gian, một ngày nào đó, ta sẽ phải rời khỏi trần thế. Mặc dù loài người được coi là trung tâm điểm của vũ trụ, con người vẫn phải tìm cứu cánh cho mình để có thể trở về nguồn gốc và cội rễ của mình. Nếu không thì đời sống con người ở trần gian sẽ mất ý nghĩa và sẽ qua đi như loài vật, cỏ cây và hoa lá.

Hôm nay mỗi người cần tự hỏi: Có bao giờ ta đã hướng lòng trí về trời, về những lí tưởng cao đẹp, vị tha và bác ái chăng? Việc hướng lòng trí về trời sẽ giúp cho lòng trí ta siêu thoát dần dần khỏi những sự vật trần thế, mặc dầu ta vẫn phải sử dụng những sự vật này  hằng ngày. Việc hướng lòng trí về trời sẽ giúp ta nghĩ đến việc sửa soạn thanh toán sổ sách nợ nần với Chúa và tha nhân (Mt 25:19). Việc hướng lòng trí về trời phải giúp ta sửa soạn rời khỏi đời này dần dần về tâm trí để đối diện trước toà phán xét công minh. Ta cũng sửa soạn cho con cháu làm tăng triển mối liên hệ với Chúa và với anh chị em theo tình huynh đệ khi ta đã ra đi vĩnh viễn.

Mỗi tuần ta đã dành cho Nước trời được bao nhiêu thời giờ để đến nhà thờ dâng thánh lễ, đọc kinh, cầu nguyện. Ta đã làm việc cho Nước trời được bao nhiêu thời giờ trong việc phục vụ, việc từ thiện bác ái? Hay ta chỉ mải miết cặm cụi: bảy ngày một tuần với những sự việc trần thế? Có phải ta coi Nước trời là quá cao siêu, xa vời về thời gian cũng như không gian như trời cao đất thấp, cho nên ta đặt cùng đích của cuộc sống vào đời này cho xong chuyện? Trong Phúc âm Chúa nhắn nhủ ta: Trước hết hãy tìm kiếm nước Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những sự khác, Người sẽ ban sau (Mt 6:33).

Khi suy gẫm về Mầu Nhiệm thứ hai trong chuỗi Mân Côi Năm sự Mừng: Thứ Hai thì ngắm Ðức Chúa Giêsu lên trời, Ta xin cho được ái mộ những sự trên trời. Vậy ta có ý thức được điều mình xin hay ta chỉ đọc kinh một cách máy móc? Và nếu ý thức được điều mình xin, ta có thực hành những điều mà ta ái mộ về Nước trời không? Vậy những sự trên trời là gì? Những sự trên trời là những giá trị Phúc âm: chân thật, công chính, thanh liêm, ngay thẳng, vị tha, bác ái.. Những sự trên trời là Tám mối Phúc thật: Phúc cho những ai thế nọ, thế kia .. vì nước Trời là của họ. Khi thánh Mạc-tin thành Tours gần chết trên giường bệnh, ngài nhìn thẳng lên, suy niệm về đường Chúa lên trời, để cho tư tưởng hướng về trời. Việc Chúa lên trời phải là dấu hi vọng cho người tín hữu ở trần thế. Ðó là điều mà thánh Phaolô bảo tín hữu Êphêsô: Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hi vọng anh em đã nhận được (Ep 1: 18).

Ngày lễ Chúa lên trời phải nhắc nhở cho ta về quê hương vĩnh cửu của ta ở trên trời. Trước khi về trời Ðức Giêsu hứa sẽ trở lại đón ta khi Người phán: Thầy đi và dọn chỗ cho chúng con rồi, Thầy lại đến đón chúng con về cùng Thầy, cốt cho Thầy ở đâu, các con cũng được ở đó (Ga 14:2-3). Và Chúa còn cầu nguyện cho ý hướng đó: Lậy Cha, đối với những kẻ Cha đã trao phó cho con, thì con muốn rằng, hễ con ở đâu, họ cũng được ở đó với con, để họ mục kích sự vinh hiển Cha đã ban cho con (Ga 17:24).

Lời cầu nguyện: xin cho được yêu mến những sự trên trời:

Lậy Ðức Giêsu, qua việc lên trời,
Chúa dậy con quê hương vĩnh cửu,
không phải ở tại đời này,
nhưng hệ tại vào đời sau.
Xin khơi dậy trong con một tâm hồn,
biết ái mộ và tìm kiếm những sự trên trời,
để mai sau con được đón vào thiên giới. Amen.

---------------------------------

 

LênTrời-450: LỆNH TRUYỀN


Thiên San

“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15).

 

Đó là lệnh truyền của Đức Giêsu Phục sinh ban cho Nhóm Mười Một trước khi Người lên trời LênTrời-450


Đó là lệnh truyền của Đức Giêsu Phục sinh ban cho Nhóm Mười Một trước khi Người lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa. Theo lời ấy, khởi đầu là Nhóm Mười Một rồi biết bao thế hệ đã ra đi, hăng say rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, có Chúa cùng hoạt động và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ngài rao giảng.

Lược qua dọc dài lịch sử Giáo hội, chúng ta không khỏi ngạc nhiên vì sự lan tràn của dân Thiên Chúa. Từ một nhóm tông đồ nhỏ nhoi nay Giáo hội Chúa có mặt hầu như khắp năm châu. Đức Giêsu thật sự đã phục sinh và lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa. Ngày nay, Người vẫn tiếp tục đồng hành, ở lại với chúng ta qua các Bí tích, đặc biệt là qua Bí tích Thánh Thể như lời Ngài đã hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Người ban tràn đầy Thánh Thần cho những ai lãnh nhận bí tích Rửa tội, cách riêng là những ai được gọi. Qua Bí tích Rửa tội, chúng ta được bước đi trong Giáo hội, được gọi Thiên Chúa là Cha, được trở nên chi thể của Đức Kitô, được chia sẻ các chức vụ của Đức Kitô: tư tế, vương đế, ngôn sứ. Khi chúng ta thi hành các chức vụ trên nhất là chức vụ ngôn sứ, khi ấy, chúng ta đang thi hành lệnh truyền của Đức Kitô, giới thiệu Chúa cho muôn người.

Tiếp nối bước chân của các Tông đồ tiên khởi, cho đến ngày nay, có biết bao lớp người, bao vị tông đồ nhiệt tình, hăng say ra đi, thực thi lệnh truyền của Chúa Kitô. Các ngài là những thừa sai đến từ dòng Phanxicô, dòng Đa Minh, dòng Tên… Đối với Giáo hội Việt Nam, chúng ta hãy cùng nhau tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài đã gửi các vị thừa sai đến gieo hạt giống Tin Mừng trên đất Việt vào khoảng thế kỷ XVI, XVII. Trong số các thừa sai lúc bấy giờ, chúng ta đặc biệt nhớ đến Đức cha Francois Pallu (Đại diện Tông Tòa Địa phận Đàng Ngoài) và Đức cha Pierre Lambert de la Motte (Đại diện Tông Tòa Địa phận Đàng Trong). Các ngài là những thừa sai đến từ Pháp, được Đức Giáo Hoàng Alexandre VII bổ nhiệm làm Đại diện Tông Tòa vùng Viễn Đông vào ngày 08 tháng 06 năm 1658. Qua Đoản sắc Super Cathedram được Đức Giáo Hoàng Alexandre VII ký vào ngày 09 tháng 09 năm 1659, Giáo hội Việt Nam được khai sinh (x. Tiểu sử Đức cha Francois Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte). Nếu có cơ hội tìm hiểu hành trình truyền giáo của các ngài, chúng ta sẽ thấy được bao gian lao, vất vả, hiểu lầm các ngài đã trải qua cũng như tình yêu, lòng nhiệt thành mà các ngài dành cho công cuộc loan báo Tin Mừng.

Điểm qua một vài nét lịch sử của Giáo hội Việt Nam để chúng ta thấy được công việc của Chúa Thánh Thần thực hiện qua các vị thừa sai. Để tri ân công ơn của hai vị Đại diện Tông tòa tiên khởi, trong khóa họp tháng 04 năm 2019, Hội đồng Giám mục VIệt Nam đã chính thức xin mở án phong thánh cho các ngài. Tiếp nối gương sáng của các vị tiền bối, chúng ta, mỗi người qua ơn gọi và bậc sống của mình cũng hãy ra đi, thực thi lệnh truyền của Đức Giêsu Phục sinh, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Đó là lệnh truyền dành cho tất cả chúng ta, những kẻ tin vào Đức Giêsu. Người sẽ đồng hành cùng chúng ta như xưa nay Ngài đã đồng hành với các vị tiền bối, chỉ cần chúng ta can đảm ra đi. Bởi, thánh Phaolô Tông đồ đã quả quyết: Có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ” (Rm 10,10).

------------------------------

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây