Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 15-B Bài 151-158 Hành trang của người tông đồ khi được sai đi

Thứ bảy - 10/07/2021 08:29
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 15-B Bài 151-158 Hành trang của người tông đồ khi được sai đi
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 15-B Bài 151-158 Hành trang của người tông đồ khi được sai đi
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 15-B Bài 151-158 Hành trang của người tông đồ khi được sai đi

------------------------
TN15-B151: HÀNH TRANG CỦA NGƯỜI TÔNG ĐỒ. 1
TN15-B152: TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG.. 4
TN15-B153: ANH EM HÃY ĐI RAO GIẢNG.. 6
TN15-B154: THÁNH THẦN LÀ BẢO CHỨNG.. 7
TN15-B155: HÃY CHO CHÚA TẤT CẢ! 11
TN15-B156: THIÊN CHÚA THÌ KHÁC.. 14
TN15-B157: CHÍNH và PHỤ.. 15
TN15-B158: TRÚT BỎ.. 17

-------------------------------

 

TN15-B151: HÀNH TRANG CỦA NGƯỜI TÔNG ĐỒ.


Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

 

Trong sinh hoạt của giáo phận hoặc các nhà dòng, cứ vào dịp hè, các cha các thầy, các sơ thường TN15-B151


Trong sinh hoạt của giáo phận hoặc các nhà dòng, cứ vào dịp hè, các cha các thầy, các sơ thường quan tâm đến việc bổ nhiệm, thuyên chuyển. Có những người từ thành thị về thôn quê, có người từ vùng sâu ra thành thị, có người mới chuyển được một hai năm nay lại tiếp tục lên đường. Ngược lại, có những người đã làm việc nhiều năm nhưng vẫn chưa được thuyên chuyển. Có những người lên đường trong vui vẻ vâng lời, nhưng cũng không ít người ra đi trong tiếc nuối ngại ngùng; Và, cũng có một vài trường hợp, tìm cách níu kéo, chần chừ, không muốn ra đi.

Thưa quý OBACE, căn cốt người môn đệ là người được tuyển chọn và sứ mạng của người môn đệ là làm theo lệnh sai đi. Vì nếu không làm theo lệnh sai đi, thì việc làm của người đó chỉ là việc làm mang tính cá nhân, thỏa mãn sở thích của mình, không còn phải là việc của Giáo Hội nữa. Vì được gọi và được sai đi, nên dù công việc của người môn đệ thành công hay thất bại đều là việc của Chúa và của Giáo Hội, “thành công không kiêu, thất bại không nản”.

Trong thực tế, người môn đệ khi được sai đến một môi trường mới, không phải lúc nào cũng thành công, trái lại có nhiều lúc thất bại ê chề, nhưng người đó vẫn bằng an vì biết mình đang làm việc của Chúa, làm theo ý Chúa. Cũng có thể trong mắt của người đời, người môn đệ dường như bị thất bại, nhưng đối với Thiên Chúa, Ngài có thể biến sự thất bại của người này thành ích lợi cho người khác.

Lần đầu tiên khi thi hành sứ mệnh được trao, rao giảng, kêu gọi dân Israel sám hối, tiên tri Amos đã không thành công. Ông không chỉ bị từ chối, mà còn bị dân chúng xua đuổi, mỉa mai. Tiên tri Amos là người miền Nam xứ Giuđêa. Ông được Chúa gọi đi làm ngôn sứ, cảnh báo về lối sống sai lệch của người miền bắc là Israel. Vương quốc Israel lúc đó phát triển về xã hội, kinh tế, cuộc sống giàu có xa hoa. Cùng với sự phát triển kinh tế là sự suy thoái về đời sống đạo đức, sống gian dối, làm ăn bất công lươn lẹo, bỏ rơi người nghèo khổ. Người dân đã từ bỏ giới răn lề luật của Thiên Chúa và sống theo những thói tục dân ngoại. Tiên tri Amos được Chúa gọi và sai đến để cảnh tỉnh nhà vua, các tư tế và dân chúng về lối sống sa đọa đó. Dân Israel đã không nghe mà còn tìm cách trục xuất Amos. Họ nói với ông: “Này thầy chiêm ơi, mau chạy về đất Giuđa, quê ông mà kiếm ăn và giảng dạy ở đó. Đừng hòng mà hoạt động ở đất Bêthel này”.Tiên tri Amos đã trả lời: “Tôi không phải là nhà ngôn sứ, gia đình tôi cũng không thuộc nhóm ngôn sứ. Tôi chỉ là người chăn cừu và hái lá sung. Nhưng Chúa bắt lấy tôi và nói với tôi: ‘Hãy đi tuyên sấm cho Israel dân Ta’. Và tôi đã đi. Câu trả lời của Amos cho thấy ông được sai đi là để nói lời của Chúa và ý của Chúa cho dân. Vì thế, ông đi theo lệnh của Chúa và nói là nói những gì Chúa muốn. Chúa dùng ông như một dụng cụ của Chúa và ông chỉ như một đầy tớ hoàn toàn vâng phục ý Chúa. Đó chính là thái độ mà người ngôn sứ phải có, là sẵn sàng để cho Chúa sử dụng môi miệng, cả con người, sức lực và khả năng của mình theo ý Chúa.

Tin Mừng Marcô cho thấy, khi sai các môn đệ đi rao giảng, Chúa Giêsu còn đòi hỏi gắt gao hơn nữa. Chúa sai từng hai người một và dặn các ông: “Không mang gì, trừ cây gậy, không mang lương thực, bao bị, tiền bạc”. Sai từng hai người làm thành một nhóm để cho thấy lời các ông rao giảng là lời đáng tin và việc làm của các ông có người làm chứng là chân thật. Sai từng hai người đi, để cho thấy các ông không ra đi trong lẻ loi đơn độc, nhưng làm việc với những anh em cùng chung sứ mạng. Như thế, cho dù các ông thành công hay thất bại, các ông sẽ không nản lòng cũng không kiêu ngạo, không tìm kiếm thành công hay vinh dự cho cá nhân, mà là của tập thể. Các ông cũng không phải mang lương thực bao bị tiền bạc, không mang hai áo, vì các ông ra đi trong sự quan phòng phó thác cho Chúa. Các ông không phải bận tâm về nhu cầu cuộc sống cá nhân vì Chúa sẽ lo liệu cho các ông. Như thế, Chúa muốn những kẻ được sai đi phải dám sống trong sự tin tưởng phó thác hoàn toàn cho Chúa, không cậy dựa vào các thế lực hay tham lam vật chất, danh vọng trần gian và phải dám sống khó nghèo.

Chúa cũng dặn các ông: “Khi vào nhà nào, anh em hãy ở lại đó cho đến khi ra đi. Nơi nào người ta không đón tiếp anh em, thì hãy ra khỏi đó và giũ bụi chân trả lại cho họ”. Lời dặn này có nghĩa là người tông đồ được sai đến với những con người và với các hoàn cảnh sống của gia đình và xã hội. “Hãy ở lại đó cho đến khi ra đi”, là để có thể thực sự hiểu và chia sẻ với cuộc sống của các gia đình. “Ở lại nơi đó”, còn có nghĩa là vui lòng đón nhận các hoàn cảnh khác nhau của nơi mình được sai đến, không chọn lựa hay tìm kiếm sự thoải mái tiện nghi, không đứng núi này nhìn núi khác. Nơi nào người ta không đón tiếp thì hãy ra khỏi đó và giũ bụi chân trả lại. Như vậy, Chúa cũng muốn nói trước với các tông đồ, khi thi hành sứ mạng không phải lúc nào các ông cũng thành công hoặc được mọi người đón tiếp, trọng kính. Nhưng sẽ có khi các ông gặp thất bại, bị từ chối hoặc chống đối. Trong những trường hợp đó, các ông vẫn giữ được sự bình an và niềm vui trong tâm hồn vì mình đã làm việc của người được sai đi. Tin Mừng cũng cho thấy sự thành công bước đầu của các môn đệ: “Các ông đi rao giảng, kêu gọi mọi người ăn năn sám hối. Các ông trừ nhiều quỷ và xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh”. Câu kết luận này cho thấy, những người được Chúa sai đi đã làm những việc Chúa Giêsu đã làm và kêu gọi những điều Chúa Giêsu kêu gọi. Nói khác hơn, những người được sai đi đã trở thành hiện thân của Chúa Giêsu, là cánh tay nối dài và là trái tim mở rộng của Chúa.

Thưa quý OBACE, qua Bí Tích Rửa Tội và Thêm Sức, chúng ta được Chúa gọi và sai đi như các môn đệ ngày xưa. Chúa muốn chúng ta nhiệt tâm ra đi nói về Chúa cho anh em trong mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh. Chúa cũng muốn chúng ta dám sống tâm tình phó thác cho Chúa, miệt mài với sứ mạng, không tìm kiếm thành công, danh vọng địa vị hay vật chất theo kiểu của thế gian, nhưng mang trong mình niềm tự hào vì được cộng tác với Chúa và là cánh tay nối dài của Chúa. Chúng ta được mời dám sống trong sự tin tưởng vào Chúa dù lúc thuận lợi hoặc khi gặp khó khăn, lúc người ta nghe và đón tiếp hoặc khi bị từ chối, xua đuổi. Chúng ta cũng được mời gọi đón nhận mọi trở ngại với tâm hồn bình an và tin rằng Chúa luôn ở với ta và trợ giúp ta trong sứ mạng lớn lao này.

Chúa đang sai các bậc cha mẹ vào trong các gia đình để yêu thương, rao giảng, kêu gọi mọi thành viên sám hối. Chúa cũng trao cho cha mẹ trách nhiệm xua trừ ma quỷ và sự xấu trong gia đình, đồng thời chữa lành bệnh tật của gia đình và trong tâm hồn các thành viên. Vì thế, chúng ta đừng chỉ mải mê tìm kiếm vật chất cho gia đình, mà hãy chuyên tâm vào việc canh tân biến đổi các thành viên trong gia đình nên tốt hơn, sống đúng với Tin Mừng hơn, làm cho gia đình trở nên yêu thương ấm cúng hơn

Các anh em Tin Lành rất nhiệt thành trong việc giới thiệu về Chúa cho người khác. Họ nói về Chúa ở khắp nơi, khi đi đường, lúc trên xe, lúc ngồi quán, dù bị từ chối hay được đón nhận. Còn những người Công Giáo lại không mạnh dạn nói về Chúa như họ. Phải chăng chúng ta không biết về Chúa Kitô và Tin Mừng của Người hay chúng ta còn bận vướng nhiều thứ khiến không thể nói về Chúa cách xác tín được? Qua Bí Tích Rửa Tội, mỗi người được Chúa sai đi làm chứng nhân cho Chúa. Chúng ta phải loan báo Tin Mừng Tình Yêu, sự tha thứ và ơn giải thoát cho thế giới này. Cho dù được thế giới đón nhận hay từ chối, chúng ta vẫn phải không ngừng nói về Chúa và đem tình yêu thương, lòng bao dung tha thứ vào trong xã hội hôm nay.

Có một người thắp một ngọn đèn và từng bước lên một ngọn tháp cao. Càng lên cao gió càng mạnh, khiến cho ngọn đèn run rẩy. Ngọn đèn thưa với ông chủ: “Thưa ông, ông đem con đi đâu?” Ông chủ đáp: “Ta đem con lên ngọn tháp”. Ngọn đèn đáp: “Thưa ông con bé nhỏ làm sao có thể đương đầu được với gió bão”. Ông chủ đáp: “Việc đó để ta lo”. Ngọn đèn lại năn nỉ: “Mình con làm sao có thể làm gì được?” Ông chủ lại trả lời: “Việc đó để ta lo”. Một lần nữa ngọn đèn lại năn nỉ: “Thưa ông con không thể làm được việc đó”. Ông nói với ngọn đèn: “Chỉ cần ngươi cứ cháy sáng hết mình, còn việc khác để ta lo”. Lên đến đỉnh tháp, ông chủ đặt ngọn đèn vào giữa những tấm kiếng. Kỳ diệu thay, từ một ngọn đèn nhỏ khi được đặt vào giữa những tấm kiếng, nó trở thành một ngọn hải đăng chiếu ánh sáng để dẫn lối cho tàu bè đi lại.

Chúa cũng muốn chúng ta cứ cháy sáng hết mình. Còn các việc khác Chúa sẽ lo liệu. Amen.

------------------------------

 

TN15-B152: TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG


Lm. John Nguyễn.

 

Quê hương mỗi người chỉ một như là chỉ một mẹ thôi. Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không TN15-B152


Quê hương mỗi người chỉ một như là chỉ một mẹ thôi. Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nỗi thành người. ( thơ Đỗ Trung Quân).

Trong trái tim của mỗi con người, tình yêu quê hương là điều thiêng liêng. Khi đi xa quê hương, ta nhớ về lũy tre làng, nhớ dòng sông, cánh đồng, vì nó được gắn liền với tuổi thơ. Khi xa quê hương lòng người càng thêm nhớ thương. Xa quê hương nhớ mẹ hiền, nhớ cha, nhớ anh chị, nhớ mái trường, thời cắp sách đến trường, nhớ tình làng nghĩa xóm. Quê hương được ví như dòng sữa mẹ nuôi ta khôn lớn. Quê hương được khắc ghi trong trái tim mọi người khi đi xa, ta càng nhớ quê hương. Nếu ai không nhớ thì không lớn nỗi thành người.

Theo dòng chảy tình yêu quê hương dạt dào, nó gợi lại cho ta bao nhớ thương quê nhà. Chúa Giêsu cũng có những tâm trạng nhớ thương quê hương của mình, Ngài đã trở lại làng Nazaret nơi Ngài lớn lên. Đó là nỗi niềm của mỗi con người khi xa quê hương. Nhưng lần trở về này, Chúa Giêsu bị thất bại. Ngài bị người anh em đồng hương từ chối. Chúng ta thắc mắc tại sao họ lại khước từ đón tiếp Chúa Giê-su, mặc dù Ngài đã làm nhiều phép lạ cho họ.

Lý do thứ nhất là vì gia thế của Chúa Giêsu. Khi nhìn thấy Chúa Giêsu giảng dạy một cách khôn ngoan, thì dân chúng lại bảo: “ Ông ấy không phải là con ông bác thợ mộc và bà Maria.” Lời họ nói mang tính mỉa mai, coi thường gia thế của Chúa Giê-su. Một gia đình nghèo khó, chẳng có tiếng tăm. Người Việt Nam có câu: “Bụt nhà thông thiêng là vậy.” Họ biết gia thế của Chúa Giê-su nên họ chẳng có gì là ngạc nhiên bởi lời giảng dạy khôn ngoan của Ngài. Chúa Giêsu không có học vị cao như các tiến sĩ luật, các kinh sư, hàng tư tế trong đền thờ.

Chúa Giê-su đã thấu hiểu lòng họ, Ngài nói: “ Quả thật, Ta bảo các ngươi, không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình. Thật là đau lòng, một con người yêu quê hương tha thiết, ấy thế mà Ngài không làm được gì tại quê hương mình. Đáng lẽ họ được hưởng phúc lộc từ các phép lạ nơi Chúa Giê-su. Con mắt thị phi làm cho họ trở nên mù lòa khi đánh giá nhau qua dáng vẻ bên ngoài, qua gia thế và địa vị. Đó là một sự sai lầm mà nhiều mắc phải. Điều sâu xa của sự đánh giá đó, nó nói lên sự kiêu ngạo, xem thường người khác, coi mình trọng hơn người khác. Người ấy có gì hay đâu. Họ tự đề cao chính mình nên họ không đón nhận tài năng của người khác và cũng không muốn người khác hơn mình vì tính ghen tỵ.

Lý do thứ hai họ loại trừ Chúa Giêsu là vì thành kiến. Khi Ngài nói thẳng mặt với các tư tế, kinh sư và dân chúng biết lý do tại sao các phép lạ chỉ xẩy ra cho dân ngoại tại Ca-phác-na-um mà không xẩy ra cho dân It-ra-el. Chúa Giê-su đã vạch trần sự thật điều họ làm trong thời các tiên tri. Bởi vì, họ cố chấp, tự cao tự cho mình là người đạo đức thánh thiện hơn người, đúng hơn là do tội kiêu ngạo. Khi Chúa nói lời này, nó đã đụng chạm đến lòng tự ái dân tộc, họ phẫn nộ, tìm cách trục xuất Chúa Giêsu ra khỏi thành.

Thành kiến đã có sẵn trong họ, họ đã có ác cảm và đối nghịch với Chúa Giêsu về đường lối giảng dạy, về cách giữ đạo. Đó là lý do để họ loại trừ Chúa Giê-su ra khỏi quê hương của họ. Một khi chúng ta dán cho ai vào cái nhãn hiệu, thì ta đóng khung họ trong cái suy nghĩ hạn hẹp của mình. Nó đánh mất đi mối tương quan với người khác, dù họ có làm điều tốt, ta cũng không đón nhận hay đánh giá khách quan về họ. Định kiến là mối nguy hiểm có thể giết chết tài năng của một người nào đó. Vì ta đóng đinh họ vào cách suy nghĩ của mình. Cũng vậy dân chúng có thành kiến với Chúa Giê-su khi Ngài nói lên sự thật. Sự thật thì dễ mất lòng. Từ thành kiến với việc làm của Chúa Giêsu, họ nói rằng: “Ông ta khôn ngoan như vậy nghĩa là sao? Họ chưa hiểu được Chúa Giê-su là ai, đang làm gì cho họ.” Ông ta không phải là người hàng xóm của chúng ta sao?. Người ta thường nói, “Quen quá hóa nhàm” “ Gần Chùa gọi bụt bằng anh” nên Chúa Giêsu bảo họ: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở quê hương của mình.”

Tóm lại, trong cuộc sống trần gian này có nhiều nơi để cho chúng ta đi, nhưng đi đâu rồi chúng ta cũng phải trở về: về với gia đình, về với chính mình, về với căn tính của mình, về với Thiên Chúa của mình. Trở về để biết mình đang đi đâu và về đâu. Mỗi người có thể đi nhiều nơi, nhưng quê hương chỉ có một. Đó là quê hương trên trời, mỗi người chúng ta mong chờ khi kết thúc hành trình cuộc sống tại thế. Thế gian là quán trọ dừng chân, để cho ta bước về quê hương vĩnh cửu. Chỉ có quê hương Chúa Giê-su giới thiệu cho chúng ta mới là quê hương thật. Nếu chúng ta không nhớ, thì sẽ không trở thành người con dân Nước Chúa.

Vậy chúng ta đón tiếp Chúa Giêsu gia đình, nơi tâm hồn chúng ta hay chối từ Ngài. Một chút thinh lặng hồi tâm để ta nhìn lại, chúng ta đang thuộc về ai?.

----------------------------

 

TN15-B153: ANH EM HÃY ĐI RAO GIẢNG


 Fx Đỗ Công Minh.

 

Bài tin mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giêsu “gọi 12 Tông đồ và sai từng người một, Người trao TN15-B153


Bài tin mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giêsu “gọi 12 Tông đồ và sai từng người một, Người trao cho các ông quyền trừ quỉ”  với sứ mạng “ Đi  rao giảng và kêu gọi người ta sám hối”. Đức Giêsu truyền cho các ông: “Không được mang gì đi đường, trừ cây gậy. Không được mang bao, mang bị, mang tiền; thắt lưng. Được đi dép nhưng không được mặc hai áo. . .”’

Ngày hôm nay, Sứ mạng ấy vẫn đang thôi thúc từng người tín hữu và cả Giáo hội Chúa nơi trần gian này. Ngay tại quê hương Việt Nam chúng con, với hơn 90 triệu dân, nhưng những người tin nhận Chúa mới chỉ chiếm trên dưới 7 triệu người. Cả một vùng đất Châu Á rộng lớn trên 2 tỷ người, những người tin vào Đức Kytô chỉ là một con số rất nhỏ. Điều đó cho thấy chúng con phải tiếp tục công việc Chúa đã trao một cách mạnh mẽ hơn, tích cực hơn. Thế nhưng phải loan báo thế nào để có nhiều người tin nhận Chúa là điều không dễ dàng.

Không được mang gì đi đường. . . phải chăng là mỗi người chúng con phải tuyệt đối tin tưởng và cậy dựa vào ơn của Chúa, không thể cậy dựa vào của cải vật chất và những phương tiện thế gian ?

Nếu con chỉ loan báo bằng cách nói về đạo, tổ chức  những buổi nói chuyện, hội thảo, thậm chí tổ chức những ngày lễ thật long trọng, hoành tráng, sầm uất, rồi mời gọi những anh chị em chưa tin vào Chúa đến nghe,  đến tham dự hẳn là chưa đủ để họ nhận biết Thiên Chúa là Cha.

Nếu con chỉ dừng lại ở việc chu tòan lề luật hay sinh họat đạo đức gói gọn trong khuôn khổ đòan thể, xóm đạo, xứ họ thôi, để nhắm “Quảng bá đạo” thì hẳn là chưa thực thi điều Chúa truyền dạy.

Chúa không đòi hỏi con trong tư cách là người giáo dân, đang sống trong ơn gọi gia đình, phải đi đây đi đó loan báo Tin Mừng, hay từ bỏ trách nhiệm, bổn phận Chúa trao cho mỗi người, để đi đến những nơi xa xôi rao giảng. Chúa đã chỉ cho con cách sống tin mừng, qua các vị chủ chăn :“Sống Đức Kitô giữa dân tộc mình”(Đức Giáo Hòang Benedicto XVI)  bằng những lời nói tốt, những giáo lý của Chúa (1); bằng gương sáng, can đảm phục vụ Chúa nơi những người nghèo hèn, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, trung thực, nhân ái (2); bằng việc cầu nguyện liên lỉcho công cuộc loan báo tin mừng(3) và bằng cả việc hy sinh, đóng góp ít nhiều về vật chất cho việc rao giảng của Hội Thánh Chúa nơi trần gian (4)

Xin cho con biết sống lời Chúa dạy, như người Samari trong tin mừng, trở thành người thân cận với những người sống bên con mỗi ngày. Đó chính là con cũng đang thực hiện sứ mạng “Rao giảng “. Con tin vào Lời Chúa “Này đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. AMEN.

-----------------------------

 

TN15-B154: THÁNH THẦN LÀ BẢO CHỨNG


 JM. Lam Thy

 

Thông thường khi một người lãnh đạo sai nhân viên đi công tác có tính tập thể, thì tập trung nhân TN15-B154


Thông thường khi một người lãnh đạo sai nhân viên đi công tác có tính tập thể, thì tập trung nhân viên thành một tốp hoặc một nhóm người, chớ không bao giờ để đi riêng lẻ một hay hai người. Cùng với quyết định ấy, sẽ kèm theo chương trình hành động, phân công phân nhiệm; thậm chí còn lo chu tất cả tiền xe cộ, tiền ăn uống, nơi nghỉ ngơi… Bài Tin Mừng hôm nay (CN XV/TN-B – Mc 6, 7-13) trình thuật việc Đức Giê-su sai 12 Tông đồ đi rao giảng Tin Mừng, có nhiều điểm thật lạ lùng: Đó là “không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng, không được mặc hai áo.” Thêm một điểm lạ nữa là “vào nhà nào thì cứ ở lại nhà đó cho đến lúc ra đi. Nếu ở đó họ không đón tiếp thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.” Ngoài ra, Đức Giê-su không sai tất cả đi thành một nhóm, cũng không sai đi riêng lẻ từng người, mà là “từng hai người một”. Sự kiện này có ý nghĩa gì?

Nếu tập trung tất cả thành một đoàn thì đi được rất ít nơi, số người tiếp xúc bị hạn chế; không những thế, các môn đệ đi chung với nhau dễ bị chia bè phái, phe nhóm (câu chuyện 2 người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an là một ví dụ: Hai ông “xin được ngồi bên tả và bên hữu Đức Giê-su khi Người được vinh quang” đã làm “mười môn đệ kia đâm ra tức tối” (Mt 20, 20-28); thậm chí còn có thể tranh nhau làm lãnh đạo vì không có Thầy cùng đi (“Các môn đệ hỏi Đức Ki-tô xem ai là người lớn nhất trong các môn đệ” – Mt 18, 1-5; Mc 9, 33-37; Lc 9, 40-50). Còn nếu đi riêng lẻ từng người thì chắc chắn các môn đệ sẽ đi được nhiều nơi hơn, tiếp xúc được nhiều người hơn, nhưng hiệu quả sẽ kém hơn, vì đi một mình thì khi gặp khó khăn – chẳng hạn khi bị người khác từ chối không tiếp, hoặc phản bác một vấn đề nào đó – các ông sẽ không biết bàn hỏi với ai, không được ai khích lệ, nên sẽ dễ nản lòng và bỏ cuộc.

Khi sai đi “từng hai người một”, Đức Giê-su muốn các Tông đồ hợp tác và liên đới trách nhiệm với nhau, khích lệ và bàn hỏi nhau khi gặp khó khăn, nhất là biểu lộ tình yêu thương nhau như một dấu chỉ đặc trưng của môn đệ Người (“Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này là anh em có lòng yêu thương nhau.” – Ga 13, 35). Dấu chỉ này là một chứng từ hết sức sống động và lôi cuốn tha nhân. Lời rao giảng luôn đi đôi với hành động và nhất là được biểu lộ rõ ràng trong sinh hoạt đời thường, sẽ mang tính thuyết phục rất cao.

Xét theo tâm lý chung, khi phải rời xa nơi cư trú một thời gian dài – dù là đi công tác, đi du lịch, hay chuyển đổi chỗ ở – con người thường tỏ ra lưu luyến, bịn rịn khung cảnh, nhân vật, sự sinh hoạt nơi chốn cũ, và cũng chính vì tâm trạng ấy, nên nhiều khi cuộc đi xa bị đình chỉ hoặc gặp trở ngại không thực hiện được nữa. Đó là về mặt tinh thần. Ngoài ra, khi ra đi thì ai cũng phải chuẩn bị cho mình những nhu cầu cần thiết (áo quần, tiền bạc, lương thực…); nhưng Đức Giê-su lại “chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo.” (Mc 6, 8-9). Chỉ mới nghe qua đã thấy là mâu thuẫn, vì như thế thì làm sao mà thi hành sứ vụ? Tục ngữ Việt Nam có câu “Có thực mới vực được Đạo”, vậy mà ở đây không có “thực” (có ăn) thì làm sao mà “vực được Đạo” (thực thi sứ vụ rao giảng Tin Mừng)?

Không những chỉ dạy các môn đệ không lưu ý đến vấn đề ăn mặc, tiền bạc, Đức Ki-tô còn khuyên ai muốn đi theo Người thì phải dứt bỏ cả người thân ruột thịt, kể cả mạng sống mình nữa (“Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” – Lc 14, 26-27; “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” – Lc 9, 23). Nếu chỉ hiểu theo nghĩa đen thì sẽ thấy Lời dạy này của Đức Giê-su mâu thuẫn với Lời dạy về “Điều răn quan trọng nhất”, đó là: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi… Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào điều răn ấy.” (Mt 23, 37-40).

Nếu “Dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa” thì sao gọi là “yêu người thân cận như yêu chính mình” được? Vấn đề là phải hiểu theo nghĩa bóng (nghĩa ẩn dụ): “Dứt bỏ” không có nghĩa là tuyệt tình tuyệt nghĩa, mà chỉ là sẵn sàng rời xa cha mẹ, anh em, họ hàng, không lưu luyến, bịn rịn, để lên đường theo Chúa thi hành sứ vụ Người trao. Và nếu hoàn tất được sứ mạng thì “Thầy bảo thật anh  em: chẳng hề có ai bỏ nhà, bỏ vợ, anh em, cha mẹ hay con cái vì Nước Thiên Chúa mà lại không được gấp bội ở đòi này và sự sống vĩnh cửu ở đời sau.” (Lc 18, 29-30). Vâng, “Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.” (Ga 12, 25). Lời chí thánh thật rõ ràng: Nếu yêu chiều xác thịt trần thế, buông theo những dục vọng thấp hèn, sẽ mất tất cả. Còn nếu sẵn sàng coi thường tất cả, xa lánh mọi cám dỗ, sẵn sàng hy sinh mạng sống mình cho lý tưởng đi theo Thầy chí thánh, thì sẽ tìm lại “được gấp bội ở đời này và sự sống vĩnh cửu ở đời sau”.

Chung quy, Đức Ki-tô chỉ muốn những ai đi theo Người không nên lưu luyến những gì thuộc về thế gian, về xác thịt nặng nề, bởi “thân xác dễ hư nát này khiến linh hồn ra nặng, cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống” (Kn 9, 15). Rõ ràng Lời dạy của Người không có gì là mâu thuẫn, khó hiểu cả. Đến như những người xa lạ gặp trên đường đời, Người còn dạy phải coi họ như những người thân cận mà sẵn sàng giúp đỡ (câu chuyện “Người Sa-ma-ri nhân lành” – Lc 10, 29-37), huống hồ là những bậc sinh thành ra mình (cha mẹ), những người có quan hệ huyết thống ruột thịt với mình (anh em), những người cùng “một xương một thịt” (vợ con) với mình. Dứt bỏ hay từ bỏ là đối với những cám dỗ, những mời mọc hấp dẫn của tính xác thịt trần gian, của ma quỷ và sự dữ chúng đem đến mà thôi.

Chưa hết đâu, sẵn sàng từ bỏ tất cả để đi theo Người Thầy Chí Thánh mới chỉ là điều kiện tiên quyết, nhưng tiếp theo còn phải biết can đảm đối diện với những thử thách nghiệt ngã, vì “Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói” (Mt 10, 18). Trở ngại lớn nhất đối với việc đi theo Đức Giê-su chính là cái quyết tâm từ bỏ tất cả mọi sự, rồi còn phải vác thập giá mình (những hy sinh, mất mát, đau khổ…) mà đi theo Người. Cũng không phải chỉ một lần này, mà rất nhiều lần Đức Ki-tô kêu gọi mọi người muốn đi theo Người thì phải từ bỏ tất cả (kể cả chính bản thân mình), từ bỏ một cách dứt khoát (“Ai muốn theo Thầy phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” – Mt 16, 24). Dứt khoát từ bỏ mọi sự đã là một trở lực khó lòng vượt qua; vậy mà còn phải vác thập giá mình nữa thì quả thật vượt quá sức con người, không dễ gì thực hiện nổi.

Và cũng vì thế nên không thiếu những trường hợp tuyên bố rất hùng hồn sẵn sàng từ bỏ tất cả (như trong đêm Vọng Phục Sinh 3 lần được hỏi ”Có từ bỏ ma quỷ không? Có từ bỏ mọi việc của ma quỷ không? Có từ bỏ mọi sự sang trọng của ma quỷ không?” thì cả 3 lần đều hô lớn một cách rất trịnh trọng “Thưa, từ bỏ”); nhưng lúc đối diện với thực tế thì lại quên đi một cách rất ư là… vô tư!  Chính vì thế, muốn có được quyết tâm từ bỏ trần tục và đủ dũng khí chấp nhận thử thách, thì cũng chớ ỷ vào sức mình, mà phải biết cầu nguyện, cậy nhờ sự soi sáng, hướng dẫn và nhất là thêm sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Ấy cũng bởi vì ”Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta, chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa được cứu chuộc, để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa.” (Ep 1, 14).

Tóm lại, khi sai môn đệ đi rao giảng, Đức Ki-tô muốn các Tông đồ phải có một thái độ dứt khoát, không bị ràng buộc bởi những nhu cầu không cần thiết, không lệ thuộc vào những ảnh hưởng ngoại tại (tác động từ bên ngoài), để có thể từ bỏ chúng bất kỳ lúc nào, trong bất kỳ trường hợp nào mà sứ mạng và lương tâm đòi buộc. Người Ki-tô hữu ngày hôm nay khi được tham dự vào 3 chức vụ Tư tế – Ngôn sứ – Vương giả của Đức Giê-su, thì cũng có nghĩa là được sai đi loan báo Tin Mừng. Đó chính là sứ vụ Phúc Âm hóa, mà muốn thi hành sứ vụ cách tốt đẹp thì phải biết Tân Phúc-Âm-hóa như Thư Chung 2013 của Hội đồng Giám mục Việt Nam giải thích:

“Tân Phúc-Âm-hoá” không phải là rao giảng một Phúc Âm mới vì “Đức Giê-su Ki-tô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời.” (Dt 13, 8), nhưng là “mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả”. Mới về lòng nhiệt thành là làm mới lại tương quan giữa bản thân chúng ta với Đức Giê-su Ki-tô, để mối tương quan ấy hướng dẫn toàn bộ đời sống chúng ta. Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợp để đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thời đại về nhiều mặt, văn hoá, xã hội cũng như kỹ thuật. Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lĩnh hội được sứ điệp Phúc Âm.”

Như vậy “Tân Phúc-Âm-hoá” phải là đổi mới phương cách rao giảng Tin Mừng. Cũng đã có phản biện: “Lời hướng dẫn của HĐGMVN chỉ dành riêng cho giáo sĩ và giáo lý viên, còn đại đa số Giáo dân chỉ là tầng  lớp bình dân, đâu có thể đứng trên bục giảng để rao giảng Lời Chúa, như vậy thì làm sao mà “đổi mới phương pháp, đổi mới cách diễn tà”. Mới thoạt nghe thì thấy có vẻ như vậy, nhưng nếu hiểu công cuộc loan báo Tin Mừng không chỉ là “đứng trên bục giảng”, mà quan trọng hơn cả phải là rao giảng bằng phương cách sống, bằng cả đời sống chứng tá. Ấy cũng bởi vì “Người thời nay sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn là thầy dạy và người ta có nghe theo thầy dạy là vì thầy dạy cũng là chứng nhân.” (Thông điệp Loan báo Tin Mừng Evangelii Nuntiandi”, số 41). Vậy thì “đổi mới phương pháp, đổi mới cách diễn tả” tức là đổi mới phương cách sống sao cho luôn thích nghi với thời đại, mà vẫn “đem được Lời Chúa đến cho mọi người, ở mọi nơi, trong mọi lúc”.

Tóm lại, muốn rao giảng Tin Mừng bằng đời sống chứng tá thì đừng bao giờ quên: “Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta” (Ep 1, 14)”. Xin hãy cầu nguyện: Lạy Chúa! Cúi xin Chúa ban Thánh Thần thêm sức mạnh cho con để con có đủ can đảm “không lưu luyến CÁI VỎ BẰNG ĐẤT” (Kn 9, 15) là cái thân xác nặng nề của con với biết bao cám dỗ mê đắm của trần thế. Con không dám cao vọng làm một phát ngôn viên rao giảng Lời Chúa, mà chỉ cầu xin cho con sống một cuộc sống khiêm tốn trong yêu thương để làm chứng nhân cho Tin Mừng Cứu Độ. Ôi! Lạy Chúa! Xin cho con sống những điều con tin và sẵn sàng chia sẻ cho anh em những điều con sống. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.

-------------------------------

 

TN15-B155: HÃY CHO CHÚA TẤT CẢ!

 

Tuần trước, trong lần về thăm cố hương Nadarét, Đức Giêsu đã không nhận được nhiều thuận lợi TN15-B155


Tuần trước, trong lần về thăm cố hương Nadarét, Đức Giêsu đã không nhận được nhiều thuận lợi như tại các nơi khác. Họ chào đón Người bằng môi miệng, nhưng tâm can của họ không hề bị đánh động bởi Lời giảng của Người. Trái lại, họ còn không tin. Đức Giê-su rất đỗi kinh ngạc về thái độ không tin của họ, nhưng thái độ bất cộng tác và không tin của họ không thể ngăn cản Người thực thi sứ mạng.

Hôm nay, Đức Giêsu rời Nadarét, tiếp tục lên đường để hoàn tất nhiệm vụ mà Cha đã trao phó cho Người. Trong lần ra đi này, Đức Giêsu đã làm một việc mà cho đến lúc này Người chưa làm, đó là bắt đầu sai các Tông đồ ra đi làm nhân chứng, thay mặt Người kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Còn phần các ông thì được trao ban cho quyền trừ quỷ và chữa lành bịnh nhân.

Vì đây là chuyến đi đầu tiên của các Tông đồ, cho nên Đức Giêsu đã ban cho các ông những lời hướng dẫn rất cụ thể như không mang gì đi đường, ngoại trừ cây gậy; không mang của ăn thức uống, không mang tiền trong túi; chân được đi dép nhưng không được mang hai áo. Nói chung, chỉ thị của Đức Giêsu ban cho các Tông đồ và các môn đệ sau này là phải sống nghèo, ra đi cũng nghèo; cuộc sống và hành trang của người môn đệ chỉ lệ thuộc vào sự giầu sang và phong phú của Thiên Chúa, Đấng sai các ông ra đi. Muốn được như thế, các môn đệ cần ghi nhớ rằng chúng ta được sai đi để tiếp nối sứ vụ của Chúa, chứ không hẳn là của chúng ta.

Thật vậy, Chúa là Đấng được Chúa Cha sai đến; và chúng ta, giống như các Tông đồ và các môn đệ khi xưa, là những người được sai. Người đuợc sai không thể cao trọng hơn kẻ sai phái, và những ai được sai đi cũng không thể tiếm quyền kẻ sai mình.

Hãy nhìn vào lịch sử cứu độ, trong những ngày đầu tiên và trải dài theo dòng lịch sử, Thiên Chúa đã không ngừng sai các sứ giả của Người đến với chúng ta; và sau cùng qua Mầu Nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa đã mặc lấy thân phận con người mà lưu ngụ giữa chúng ta. Vì thế, chúng ta có thể xác tín rằng Thiên Chúa không hề bỏ rơi con người, dù hành vi và cách ứng xử của chúng ta có như thế nào vẫn không làm lay chuyển lòng thương xót của Người. Và, giống như Đức Giêsu, Đấng đã được Chúa Cha sai đến như thế nào, thì hôm nay Người cũng muốn sai các Tông đồ ra đi như vậy. Vì thế, hiệu quả sứ vụ của các Tông Đồ nói riêng và chúng ta nói chung hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự gắn bó vào Chúa.

Có Chúa trên hành trang là có tất cả, và đó cũng là điều mà Đức Giêsu căn dặn các Tông đồ hôm nay. Để nhẹ nhàng mà lo việc Chúa, các Tông đồ tuy sống vào lòng hiếu khách và rộng rãi của tha nhân, nhưng không được dính bén với bất kỳ môt ai. Các ông cũng không để cho bất kỳ một quyền lực nào ảnh hưởng trên hành trang của người môn đệ. Ngay cả cơm ăn, áo mặc và nơi cư trú là những điều cần thiết cho cuộc sống, nhưng các ông cũng không nên lo lắng thái quá. Mọi sự đó Chúa sẽ ban tặng. Phần các ông, hãy trao hết mọi sự cho Người và chỉ cần ra đi với một lòng tín thác vào Người là đủ.

Nói khác đi, yêu cầu mà Chúa mời gọi các môn đệ hôm nay là biết chấp nhận thân phận nghèo của mình. Nghèo ở đây không chỉ thu tóm vào đời sống vật chất hay tinh thần cho bằng nhấn mạnh đến việc chúng ta phải lệ thuộc vào Chúa như thế nào! Điều này có nghĩa là người được Chúa sai đi luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng, bằng lòng từ bỏ dần dần và trọn vẹn để cho sự giầu có và phong phú của Thiên Chúa được biểu lộ.

Như vậy, sống nghèo là sống dựa vào Chúa chứ không dưạ vào bất cứ một thứ quyền lực nào, cho dù đó là thứ thần quyền của một tổ chức, ngay cả tổ chức đó là Giáo hội. Sống nghèo là mệnh lệnh mà Chúa dành cho ai muốn trở thành môn đệ đích thực của Người. Với lối sống như thế thì lời rao giảng của người môn đệ sẽ trở thành Tin Vui cho mọi người. Đó đích thực là lối rao giảng của Chúa.

Trái với các điều ấy có thể là sự giàu có của Giáo hội; lòng tham lam thích vơ vét của hàng giáo sĩ; sự bủn xỉn, thiếu đại lượng, không đủ bao dung của những ai làm môn đệ… tất cả đều làm cho lời rao giảng trở nên cằn cỗi, nghèo nàn, thiếu sức thuyết phục và không đủ sức để chữa lành các vết hằn hoặc không đủ hấp lực để thu hút tâm hồn người nghe.

Tuy nhiên, có một sự thật mà chúng ta không thể chối cãi đó là thân phận mỏng dòn với muôn ngàn yếu đuối đã là nguyên nhân khiến các môn đệ của Chúa muốn tháo lui. Thật ra thân phận và ơn gọi của chúng ta, xuất phát từ Chúa, cho nên cũng sẽ bị khước từ. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta hãy nhớ lại chính Đức Giêsu đã bị ruồng rẫy trước. Người đã bị khước từ. Nhưng không vì sự khước từ đón nhận của họ lại có thể ngăn cản Người chu toàn sứ mạng. Chúng ta, các môn đệ của Chúa cũng thế, cần được đổi mới và chính tâm tình đổi mới này sẽ là nguồn động lực giúp chúng ta tiếp tục tiến bước vượt qua mọi khó khăn, ngay cả việc chấp nhận thất bại, miễn sao sứ vụ được chu toàn.

Muốn được như vậy, người môn đệ cần sống điều mình sẽ công bố. Đức Kitô phải là tin vui cho người môn đệ trước khi họ giới thiệu và chia sẻ cho người khác. Triều đại Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã rao giảng phải là vương quốc của người môn đệ trước khi họ ra đi loan báo cho người khác.

Đây cũng chẳng phải là điều gì mới lạ, vì chính Đức Giê-su, khi bắt đầu sứ vụ đã kêu gọi các Tông đồ và các môn đệ tham gia vào sứ mạng của Người. Lời mời gọi đó vẫn còn khẩn thiết và có thể đuợc minh hoạ trong câu chuyện sau đây.

Số là, trong cuộc chiến tại Hàn Quốc, có một ngôi làng nhỏ nằm ngay trên làn mưa đạn của các trận pháo kích. Trong làng, có một ngôi nhà thờ. Bên ngoài nhà thờ, có một bức tượng Chúa Giêsu Kitô đuợc đặt trên một cái bệ. Và, sau cuộc chiến, người ta chỉ thấy cảnh tang hoang và đổ nát. Bức tượng cũng không ngoại lệ. Nó nằm chung số phận, bị đổ xuống và vỡ thành từng mảnh vụn tung tóe trên nền nhà thờ.

Xảy ra là có một nhóm lính Mỹ đến thu dọn. Thấy cảnh tượng như thế, một cách thận trọng, họ đã thu thập các mảnh vụn rồi ráp lại thành gần như một pho tượng, chỉ thiếu đôi tay. Họ đề nghị với cha sở của họ đạo đó cho phép họ đem pho tượng về Mỹ để gắn thêm đôi tay vào cho hoàn chỉnh. Nhưng vị linh mục đó đã từ chối. Người nói: Tôi nghĩ chúng ta cứ để nguyên pho tượng thiếu hai tay như thế, rồi ghi dưới bệ của bức tượng hàng chữ “bạn ơi, làm ơn cho Tôi mượn đôi tay của bạn”. Với cách thức đó, pho tượng thiếu đôi tay của Chúa sẽ loan báo cho những ai đi qua nơi này nhớ lại rằng giờ đây Chúa đang cần đôi tay của bạn để nâng dậy những ai bị vấp ngã, những ai đang cần bạn ôm ấp để bớt cô đơn và vơi đi nỗi phiền sầu.

Không chỉ có thế, Chúa còn cần đôi chân bạn để đi tìm những ai bị lạc lối. Chúa lại cần bờ vai của bạn để làm chỗ dựa cho những ai lao đao và vất vả. Chúa cần đôi mắt của bạn để nhìn ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi những con người bé mọn và bị coi thuờng. Chúa cần con tim của bạn để cảm thông nỗi thất vọng của người tội lỗi. Sau cùng, Chúa rất cần mọi chi thể của bạn để nối kết những nguời mà bạn đã gặp và cùng nhau xây dựng Nước Trời, nơi đó chỉ có bình an, hoan lạc, niềm vui và tất cả những gì Chúa muốn dựng xây.

Quả thật, đó là niềm vinh dự dành cho những ai đuợc tham gia vào việc rao giảng của Đức Giê-su, kiến tạo trời mới đất mới! Và, hạnh phúc thay cho ai đã được Thiên Chúa trao ban cho nhiệm vụ cao quí như thế!

Trong tâm tình đó, hãy dâng lời ngợi khen với tâm tình cảm tạ vì lòng tín thác của Đức Giê-su, khi Người trao ban cho chúng ta được phép tham gia vào sứ mạng của Người, dù chúng ta bất xứng. Amen! mục lục

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT
Nguồn: https://legiomariaevn.com/chi-tiet-tin-tuc/1456/suy-niem-chua-nhat-15-thuong-nien-b.html

-----------------------------

 

TN15-B156: THIÊN CHÚA THÌ KHÁC

 

Thiên Chúa thì khác, khi chọn và sai Nhóm Mười - những con người “võ biền, thất học, lao động TN15-B156


Thiên Chúa thì khác, khi chọn và sai Nhóm Mười - những con người “võ biền, thất học, lao động tay chân”, nhưng trao sứ vụ cao quý và nặng nề: “Loan báo Tin Mừng”. Xem ra Ân sủng Thiên Chúa sẽ biến đổi những con người hèn kém, trở nên mạnh mẽ và can đảm cho sứ vụ: “Ân sủng được xây dựng trên tự nhiên”.

Thiên Chúa thì khác, khi chỉ thị cho Nhóm Mười Hai: Hành trang lên đường cần nhẹ nhàng, không cồng kềnh; Tâm hồn cần thanh thoát, tự do, để không gì có thể trói buộc được, đồng thời: Tin tưởng và phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa. Hơn nữa, hai người thì chứng tá mới có giá trị: "Hai người có giá trị hơn một, nếu họ ngã, người này đỡ người kia dậy, nhưng khốn cho kẻ đi một mình" (Gv 4,9; x.Ds 17,6; 19,5).

Thiên Chúa thì khác, khi sai Nhóm Mười Hai đi kêu gọi người ta ăn năn sám hối- một công tác không dễ dàng chút nào. Có nhiều người dễ cảm thấy bị “tổn thương” ít nhiều, hoặc không thích “bị kêu gọi sám hối”, vì họ hài lòng về cuộc sống hiện tại của bản thân họ. Các môn đệ rao giảng sám hối như một Tin Mừng của Thiên Chúa mang lại bình an nội tâm, chứ không làm vừa lòng mọi người và, nhất là, không phải vì lợi ích của các vị: “Nếu tôi còn muốn làm đẹp lòng người đời, thì tôi không phải là tôi tớ của Đức Kitô”. (Gl 1, 10).

Thiên Chúa thì khác, khi kêu gọi mỗi người với những “tự nhiên” - kể cả những giới hạn, thiếu sót và tội lỗi của họ, để cộng tác vào công trình Cứu Độ nhân loại- một công trình “siêu nhiên”, vì Phép Rửa Tội sát nhập họ vào Nhiệm Thể Chúa Kitô, phép Thêm Sức làm cho họ nên mạnh mẽ nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Ðàng khác, đức ái như là linh hồn của tất cả việc tông đồ, được chuyển thông và nuôi dưỡng nhờ các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Việc tông đồ được thực thi nhờ đức tin, Đức Cậy, đức ái vậy!.

Hơn nữa, “Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người. Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô” (Ep 1, 4-5)

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Trong tấm bánh nhỏ, Chúa trở thành “tấm bánh bẻ ra” cho nhân loại. Xin Chúa cho chúng con, khi được đón tiếp Chúa vào trong tâm hồn, thì cũng biết lên đường, đến với những người chung quanh và làm chứng cho tình yêu của Chúa. mục lục

Lm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

---------------------------

 

TN15-B157: CHÍNH và PHỤ

 

Bạn có biết tại sao Chúa Giê-su lại ra chỉ thị, bắt các môn đệ không được mang lương thực, bao TN15-B157


Bạn có biết tại sao Chúa Giê-su lại ra chỉ thị, bắt các môn đệ không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng, không được mặc hai áo, và đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi... không? Tôi nghĩ, có lẽ là vì hai lý do sau đây:

• Thứ nhất, khi mang theo lương thực, tiền bạc, túi bị, áo quần…thì các ông sẽ bị phân tâm, sẽ bị sao nhãng trong sứ vụ mà Ngài trao phó. Thật vậy, nếu các ông đem theo lương thực thì các ông phải lo bảo quản để khỏi bị hư thối, mang theo tiền bạc thì dễ bị nguy hiểm đến tính mạng, bị trộm, bị cướp...Còn mang theo bao bị thì thế nào cũng lo kiếm chác bỏ vào cho đầy. Càng mang theo nhiều thử lỉnh kỉnh bao nhiêu, thì càng khó khăn trong việc di chuyển bấy nhiêu, và chắc chắn các ông sẽ không thể nào chú tâm vào những sứ vụ mà Chúa giao phó.

• Thứ hai, Ngài muốn các ông biết, công việc rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối, việc trừ quỷ, việc chữa lành cho các bệnh nhân làviệc CHÍNH còn những nhu cầu vật chất, về chuyện ăn uống chỉ là chuyện PHỤ mà thôi. Chính Chúa đã dạy các ông rằng: “Tiên vàn hãy đi tìm kiếm nước Thiên Chúa, còn mọi sự khác Ta sẽ ban cho sau!” (Mt 6:33).

Qua bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay, bạn học được gì, riêng tôi, tôi học được hai bài học rất quan trọng này:

Thứ nhất, là môn đệ của Chúa Kitô, đừng dính bén quá nhiều đến của cải vật chất. Càng có nhiều của cải vật chất bao nhiêu, thì tôi càng lo lắng, càng sợ hãi và tâm hồn càng bất an nhiều bấy nhiêu. Tệ hơn nữa, tôi sẽ không thể nào chu toàn những trách nhiệm bổn phận mà Chúa đã giao phó cho tôi, và tôi sẽ không thể nào hướng nhìn lên thượng giới, nơi Đức Giê-su ngự trị được, bởi vì Chúa Giê-su đã cảnh báo: “Kho tàng của anh em ở đâu thì lòng anh em ở đó!” (Lc 12:34)

Thứ hai, tôi phải có khả năng phân biệt được cái gì là CHÍNH, và cái gì là Phụ. Trong thực tế, có nhiều người, kể cả hàng giáo sĩ chúng tôi nữa, không phân biệt được đâu là cái chính và đâu là cái phụ. Ví dụ:

• Đối với những môn đệ được Chúa tuyển chọn, thì VIỆC CHÍNH là đọc kinh Thần Vụ, cầu nguyện, Chầu Thánh Thể, suy niệm lời Chúa, đọc sách thiêng liêng, học hỏi, nghiên cứu Kinh Thánh, soạn bài giảng, giải tội, xức dầu bệnh nhân... Còn tiệc tùng, giải trí, chơi tennis, đánh golf, đi câu, làm MC cho các buổi tiệc gây quỹ, đi chạy show trình diễn văn nghệ, đi làm linh hướng cho các đoàn hành hương…CHỈ LÀ PHỤ thôi!

Đối với cha mẹ Công Giáo, việc CHÍNH là chăm lo cho phần linh hồn của con cái mình được no thỏa, đưa chúng đi dự lễ, học Giáo Lý, lãnh nhận các phép bí tích, sống đạo đức, siêng năng đọc kinh cầu nguyện. Còn những việc như lo cho con cái trở thành ông này bà nọ, có bằng, có cấp, có địa vị cao trong xã hội, trở thành bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, luật sư...chỉ là PHỤ!

• Là những Kitô hữu, thì chu toàn bổn phận tham dự thánh lễ ngày Chúa Nhật là việc CHÍNH. Còn tiệc sinh nhật, tiệc kỷ niệm hôn phối, giỗ chạp, đi camping, di du thuyền, đi du lịch, coi super bowl, world cup, đi câu cá, đi hiking… tất cả chỉ là PHỤ!

Hy vọng bây giờ bạn đã hiểu tại sao Chúa Giê-su lại ra chỉ thị, bắt các môn đệ không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng, không được mặc hai áo, và đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi... rồi! Nếu bạn hiểu, thì xin bạn cầu nguyện thật nhiều cho các môn đệ của Chúa Kitô, nhất là cầu nguyện cho hàng Giáo Phẩm và hàng Giáo Sĩ, những người đã được Chúa tuyển chọn và sai đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối, trừ quỷ, chữa bệnh ...

• Xin cầu nguyện cho chúng tôi, những người được Chúa mời gọi sống đời thánh hiến được ơn trung thành, và xin cho chúng tôi đừng ai đam mê, ham hố tiền tài, danh vọng, chức quyền; không lo tìm kiếm những lời khen tặng & những sự tán dương của người đời, nhưng chỉ đi tìm kiếm lời khen tặng của Thiên Chúa mà thôi.

• Xin cầu nguyện cho các bậc làm cha mẹ, xin Chúa ban cho họ ơn khôn ngoan, để họ có khả năng phân biệt được cái gì chính và cái gì là phụ. Nhờ vậy, họ mới có thể hướng dẫn và giáo dục con cái của họ chú tâm vào những cái chính, những gì có lợi cho phần linh hồn của chúng.

• Cầu nguyện xin Chúa gìn giữ bạn và tôi, cùng tất cả mọi Kitô hữu, để chúng mình không bị của cải, danh vọng, chức quyền và địa vị lôi kéo chúng mình ra khỏi quỹ đạo yêu thương của Thiên Chúa. Nhưng luôn biết chú tâm vào việc CHÍNH, đó là tôn thờ Chúa trên hết mọi sự, và làm mọi cách để cho phần linh hồn của chúng mình được no thỏa ân tình của Chúa.

Xin Chúa ban cho bạn những ơn cần thiết, để bạn biết tin tưởng, phó thác, được thoát khỏi những lo âu trong cuộc sống hằng ngày, biết phân biệt giữa cái chính và phụ, chú tâm lo cho đời sau qua việc siêng năng tham dự thánh lễ, xưng tội, rước Mình Thánh Chúa, quảng đại và hăng hái làm việc bác ái bố thí.

Cầu chúc bạn một tuần lễ mới tràn ngập niềm vui, sự bình an, luôn là môn đệ trung tín của Chúa. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

-------------------------

 

TN15-B158: TRÚT BỎ

 

Đúng nghĩa của cắm trại, nhất là trại huấn luyện, là hòa hợp cùng thiên nhiên, sống hết mình cho TN15-B158


Đúng nghĩa của cắm trại, nhất là trại huấn luyện, là hòa hợp cùng thiên nhiên, sống hết mình cho thụ tạo, thở hơi thở của hoang dã, sống sức sống của ngàn xanh, đi vào lòng tự nhiên khám phá siêu nhiên, đắm mình với tự nhiên để vươn hồn tới siêu nhiên, gọi về lòng biết ơn thụ tạo đã cho nhau sự sống và dâng muôn muôn lời cảm tạ Tạo Hóa ân ban cho muôn loài sự sống…

Cắm trại đồng nghĩa với trút bỏ một cách tự nguyện mọi ràng buộc không cần thiết. Càng trút bỏ bao nhiêu có thể và giữ lại những gì cần thiết đúng mức, người ta càng thanh thoát, nhẹ nhõm, không vướng bận, lo toan điều gì.

Hành trang trại viên càng nhẹ, tinh thần khiêm nhường, nghèo khó càng lớn, ta càng dễ hết mình với phút hiện tại, với không gian, thời gian… Nhất là dễ hòa với tự nhiên, dễ trở về Nguồn Cội Vĩnh Cửu, Đấng tác sinh mọi loài.

Hiểu “trút bỏ” cần cho trại sinh, ta sẽ hiểu hơn mệnh lệnh lên đường Chúa Giêsu trao cho môn đệ. Mệnh lệnh ấy cũng đồng thời với mệnh lệnh trút bỏ.

Còn hơn sự “trút bỏ” của trại sinh, môn đệ của Chúa phải trút bỏ đến trở nên nghèo khó, một cái nghèo đúng mức, nghèo trọn nghĩa: “Ngài truyền cho các ông lên đường, đừng mang gì ngoài cây gậy, không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép và đừng mặc hai áo”.

Tin Mừng của Chúa Giêsu là Tin Mừng cho người nghèo, Tin Mừng của người nghèo. Do đó chỉ có người nghèo mới có thể nên chứng nhân cho Tin Mừng ấy, mới có thể loan báo Tin Mừng ấy hữu hiệu.

Chúa Giêsu không dạy gì mà Chúa đã không sống lời dạy ấy. Cả cuộc đời trần thế của Chúa là bài học lớn cho người môn đệ về sự nghèo khó.

Chúa Giêsu trút bỏ hoàn toàn. Sự trút bỏ đúng nghĩa (nghĩa đen lẫn nghĩa bóng). Chúa không tự dành riêng điều gì: Mang phận Thiên Chúa, nhưng trở nên người phàm, một sự trút bỏ không thể tưởng tượng. Vậy mà Đấng Thiên Chúa làm người lại chấp nhận sống nghèo, nghèo đến không còn gì.

Chúng ta không giàu, nhưng khi sinh ra, chắc không sinh nơi chuồng thú, nằm trên rơm rạ xót xa. Dẫu nghèo, ta vẫn còn mái nhà ấm áp, chiếc nôi xinh… Nếu mai này, ta có chết, chắc cũng chết trong điều kiện tươm tất.

Nhưng Chúa Giêsu, cả một đời, từ lúc bắt đầu sinh ra tới khi trưởng thành, chối từ sự sang giàu đã vậy, đến lúc sinh thì, ngay đến manh áo cuối cùng cũng không có, chết trần treo giữa trời giữa đất, chết chung với kẻ trộm cướp, cùng chịu một hình khổ ngang hàng với kẻ trộm cướp...

Chúa Giêsu trút bỏ hoàn toàn. Trút bỏ cả cuộc đời, trút bỏ cả mạng sống vẫn chưa làm đủ. Đến khi trao hơi thở sau cùng, Chúa lại còn tiếp tục trao dâng cả đến giọt máu cuối cùng.

Trái Tim của Thiên Chúa làm người không đòi cho mình bất cứ điều gì, bây giờ lại thuộc về chúng ta tất cả. Chúa Kitô, nhà truyền giáo đại tài, đã trút bỏ để Tin Mừng Tình yêu lớn lên. Chúa chính là bài học lớn lao cho những ai là môn đệ của Chúa.

“Đừng mang gì ngoài cây gậy, không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép và đừng mặc hai áo”. Hôm nay khi nghe lại lời dạy ấy của Chúa Giêsu, bạn và tôi nghĩ gì?

Chúa cũng đang mời gọi ta trút bỏ những gì cồng kềnh, cản trở, khiến lời rao giảng Tin Mừng thiếu chứng tá, công cuộc rao giảng bị khựng lại.

Như người cắm trại, trút bỏ mọi cái không cần thiết, họ sống hết mình cho ý nghĩa cắm trại. Cũng vậy, người gieo Lời Chúa, để Lời cắm sâu trong lòng người, càng phải trút bỏ mọi vướng bận để việc phục vụ Lời đạt kết quả.

Bởi thế, Chúa sai chúng ta ra đi, nhưng hành trang của người môn đệ không là gì khác ngoài đức tin dâng hiến và lòng phó thác. Dâng hiến đến trút bỏ hoàn toàn. Phó thác đến mức trở nên nghèo khó, đến không còn gì.

Chỉ có thế, người rao giảng Lời mới trở nên chứng tá cho Lời. Vì chứng tá cho Lời quan trọng hơn nói về Lời. Chỉ có một lối đường duy nhất là sự trút bỏ: mặc lấy tinh thần nghèo khó, sống lối sống nghèo của Chúa Kitô, chúng ta mới hy vọng nên chứng tá gieo Lời đạt kết quả.

Thánh Phaolô đã có lần đúc kết bài học trút bỏ của người môn đệ Chúa Kitô bằng những lời rất chân thành và lạc quan: “Bị coi là bịp bợm nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi bị mọi người biết đến; bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống; coi như bị trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết; coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực chúng tôi luôn vui vẻ; coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả” (2Cr 7, 8 – 10).

Nếu đồng cảm với thánh Phaolô, ta cũng sẽ hiểu rằng trút bỏ là đánh mất, nhưng kỳ thực, không hề mất mát bất cứ điều gì. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

----------------------------

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây