Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 TN-C Bài 51-100

Thứ tư - 16/01/2019 05:32
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 TN-C Bài 51-100: Tiệc cưới Cana
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 TN-C Bài 51-100: Tiệc cưới Cana
TN 2-C Phần II Bài 51-100: Tiệc cưới Cana
TN2-C51.  Tiệc cưới 2
TN2-C52. Giao ước mới của sự phong phú phong nhiêu. 3
TN2-C53. Chú giải của Noel Quesson. 5
TN2-C54. TIỆC CƯỚI Ở CANA.. 9
TN2-C55. CỨU MỘT BÀN THUA TRÔNG THẤY.. 15
TN2-C56. TÌNH NOÀNG.. 17
TN2-C57.  CUỘC HÔN PHỐI KỲ DIỆU.. 20
TN2-C58. TIỆC CƯỚI CANA.. 24
TN2-C59. HÔN ƯỚC GIỮA THIÊN CHÚA VÀ LOÀI NGƯỜI 42
TN2-C60. DẤU LẠ ĐẦU TIÊN.. 50
TN2-C61. CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN.. 52
TN2-C62. NIỀM VUI DÂNG TRÀO.. 60
TN2-C63. HƠN NHÂN KJHO6NG CÓ HÔN THÚ.. 62
TN2-C64. CÓ MẸ ĐỒNG HÀNH.. 67
TN2-C65. NGÀY YHU71 BA.. 70
TN2-C66. TỪ GÓC BÀN TIỆC THẾ GIỚI 73
TN2-C67. PHÉP LẠ ĐẦU TIÊN.. 74
TN2-C68. TIỆC CƯỚI CANA.. 76
TN2-C69. ĐỜI THÔI HẾT LẬN ĐẬN.. 85
TN2-C70. DẤU CHỈ TIỆC CƯỚI CANA.. 88
TN2-C71. ĐỨC GIÊSU TỎ MÌNH TRONG TIỆC CƯỚI CANA.. 91
TN2-C72. BIẾN ĐỔI KỲ DIỆU.. 97
TN2-C73. ĐỨC GIÊSU, ĐẤNG ĐEM LẠI NIỀM VUI CHO DÂN NGƯỜI 99
TN2-C74. GIÊSU, NIỀM VUI MỚI 101
TN2-C75. KÝ THÁC.. 103
TN2-C76.  CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN.. 105
TN2-C77. BIẾN ĐỔI 107
TN2-C78. HÔN PHU GIÁO HỘI 108
TN2-C79. THIÊN CHÚA SẼ LẤP ĐẤY.. 110
TN2-C80. THIÊN CHÚA CẢM THÔNG VÀ YÊU MẾN.. 111
TN2-C81. RƯỢU ÂN SỦNG.. 113
TN2-C82. THIÊN CHÚA ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA CON NGƯỜI 115
TN2-C83. CHÚA NHẬT II TN C.. 116
TN2-C84. CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN (14-1-2001) 118
TN2-C85. SỰ NHẠY BÉN CỦA MẸ MARIA.. 119
TN2-C86. NIỀM VUI TRỌN VẸN. 121
TN2-C87. Chúa Nhật 2 Thường niên, C.. 123
TN2-C88. Chúa Nhật 2 quanh năm, C.. 127
TN2-C89. CHÚA NHẬT 2 QUANH NĂM, C (2004) 131
TN2-C90. ĐI ĂN CƯỚI 134
TN2-C91. Dấu Lạ Đầu Tiên. 137
TN2-C92. Chúa Nhật 2 Thường niên. 140
TN2-C93: ÂN SỦNG.. 141
TN2-C94. GIỜ CỦA CHÚA.. 144
TN2-C96. HÃY MỞ CỬA ĐÓN CHÚA ĐẾN NHÀ.. 151
TN2-C97. NƯỚC HẰNG SỐNG.. 154
TN2-C98. CHÚA GIÊSU XUẤT HIỆN TRONG TIỆC CƯỚI 156
TN2-C99. RƯỢU HẾT - RƯỢU ĐẦY.. 158
TN2-C100. CHÚA GIÊ SU LÀ LỜI THIÊN CHÚA.. 162

 

TN2-C51.  Tiệc cưới

Có nhiều người cho rằng: niềm vui không thể đi đôi với niềm tin. Chỉ có ăn chay hãm mình: TN2-C51

Có nhiều người cho rằng: niềm vui không thể đi đôi với niềm tin. Chỉ có ăn chay hãm mình mới là sống đạo. Chỉ khi nào chấp nhận những hy sinh gian khổ thì mới có công phúc. Còn vui tươi hớn hở không phải là thái độ trọng kính đối với Thiên Chúa. Quan niệm sai lầm này khiến họ sống đạo một cách khô khan, nhăn nhó và phục vụ Chúa với nét mặt sầu thảm.
Thế nhưng, qua đoạn Tin Mừng hôm nay chúng ta thấy hoàn toàn khác hẳn. Dấu chỉ tiệc cưới Cana cho hay Thiên Chúa muốn chúng ta sống vui tươi, hồn nhiên và trong sáng, bởi VÌ cái tin mà Ngài đem đến không phải là tin buồn, tin sầu, nhưng là một tin vui, tin mừng. Và nếu chúng ta thực sự sống niềm tin ấy, thì khuôn mặt chúng ta sẽ rạng lên nét vui mừng. Đúng như một câu danh ngôn đã bảo:
- Un saint triste, triste saint. Một ông thánh buồn, là một ông thánh đáng buồn vậy.
Dấu chỉ tiệc cưới Cana dạy cho chúng ta biết rằng để gặp gỡ Đức Kitô chúng ta không cần phải là người thoát tục, trở nên như các thiên thần, nhưng chỉ cần hiểu rõ và trở thành loài người hơn, sống trọn vẹn ơn gọi làm người của chúng ta theo gương Chúa Giêsu nhập thể.
Và để có thể thực hiện ơn gọi làm người, thì cần phải tập và sống các nhân đức nhân bản mỗi ngày. Càng biết sống sâu đậm các nhân đức tự nhiên ấy, chúng ta càng trở nên giống Chúa Giêsu làm người.
Đó là nền tảng vững chắc đầu tiên của ơn gọi Kitô hữu, bởi vì nếu thiếu các nhân đức nhân bản này, người tín hữu sẽ mất quân bình, dễ trở thành cuồng tín và lệch lạc. Trước khi trở thành người Kitô hữu, thì chúng ta phải là người, theo đúng ý nghĩa của nó.
Ngoài ra dấu chỉ của tiệc cưới Cana còn cho chúng ta biết rằng của cải trần gian và các tiện nghi vật chất chúng không có gì là xấu xa và nguy hại. Chúng chỉ xấu xa và nguy hại khi làm cho chúng ta đánh mất chất người, biến chúng ta trở thành ích kỷ độc ác và bất công.
Thật ra chỉ có con người là đáng chê trách, chứ không phải là của cải. Chính vì thế, thánh Phaolô đã khuyên nhủ mọi người phải biết sử dụng đúng đắn tất cả những ơn sủng Thiên Chúa ban cho. Kẻ ít người nhiều, ai cũng nhận được một số ơn sủng tuỳ theo sự khôn ngoan quan phòng của Thiên Chúa. Cần phải tận dụng tất cả các ơn sủng đó, để làm vinh danh Chúa và mưu ích cho tha nhân. Chính các ơn sủng này làm thành sự phong phú của cộng đoàn dân Chúa.
Tóm lại ý thức được những ơn Chúa ban, chúng ta hãy biết tận dụng để phục vụ Thiên Chúa trong anh em, theo mẫu gương của Đức Kitô.

 

TN2-C52. Giao ước mới của sự phong phú phong nhiêu

(Suy niệm của Charles E. Miller)
 

Hai người bạn trẻ cử hành đám cưới tại Cana, họ là những người vô danh nhưng đã trở nên bất tử: TN2-C52

Hai người bạn trẻ cử hành đám cưới tại Cana, họ là những người vô danh nhưng đã trở nên bất tử trong Phúc Âm bởi vì Chúa Giêsu là khác trong đám cưới của họ. Bất cứ cặp hôn phối nào cũng ghen tỵ với họ. Câu chuyện này được kể bởi thánh Gioan đã được tuyên bố với chúng ta trong lễ nghi phụng vụ, có một ý nghĩa rộng lớn hơn là sự hợp nhất của một người nam và một người nữ Do Thái vào hai mươi thế kỷ trước.
Bài đọc thứ I ngày hôm nay của tiên tri Isaia đã dọn sẵn cho chúng ta ý nghĩa rộng lớn hơn này. Bài đó được đặt nền tảng trên hình ảnh yêu thích của Thiên Chúa trong Cựu Ước như là vị hôn phu của dân Người. Vị tiên tri nói: “Như một thanh niên kết hôn với một trinh nữ, Đấng sáng tạo ngươi sẽ kết hôn với ngươi, như là một chú rể vui hưởng nơi cô dâu thì Thiên Chúa của các ngươi sẽ vui hưởng nơi các ngươi”. Câu chuyện Cana đã nhắc lại hình ảnh này là biểu tượng tỏ hiện Giao Ước mới và đời đời giữa Chúa và dân của Người.
Hôn nhân của xã hội ngày hôm nay được xem như là một hợp đồng mà nó được trói buộc bởi luật. Theo cái nhìn của Thiên Chúa, hôn nhân là một Giao Ước mà nó được trói buộc bởi tình yêu, sắp xếp của Phúc Âm ngày hôm nay làm cho chúng ta nghĩ rằng Giao Ước của Thiên Chúa với chúng ta là một Giao Ước của tình yêu trung thành giống như của những đôi vợ chồng dâng hiến cho nhau.
Chi tiết của câu chuyện Phúc Âm tỏ lộ cho chúng ta tình yêu của Thiên Chúa thì quảng đại và phong nhiêu. Gần đó có sáu chum đá, mỗi chum chứa được mười lăm đến hai mươi lăm thùng nước khoảng sáu trăm lít. Chúa Giêsu đã hướng dẫn cho những người giúp việc đổ nước đầy tới miệng. Cana là một thành phố nhỏ, có lẽ đó chỉ có khoảng năm mươi khách bao gồm cả môn đệ của Chúa Giêsu. Khi Chúa Giêsu biến nước thành rượu, những người khách không những đã có đủ uống mà còn dư thừa, vì tới gần sáu trăm lít rượu. Tình yêu của Thiên Chúa thì phong nhiêu giống như thế. Theo Thần học, Cana có quan hệ với lễ Hiển Linh. Ý nghĩa của lễ Hiển Linh là dân ngoại cũng như dân Do Thái đều được kêu gọi để trở nên môn đệ của Chúa Giêsu. Tình yêu của Thiên Chúa thì phong nhiêu đủ để bao gồm tất cả mọi người trong Giao Ước mới của Người.
Rượu mới ở Cana không chỉ phong nhiêu mà nó còn tuyệt hảo nữa. Người quản tiệc sau khi nếm rượu đã nói với chú rể: “Anh đã giữ rượu ngon cho tới giờ này?” Thiên Chúa cũng sẽ giữ rượu ngon cho chúng ta trong kỷ nguyện Kitô giáo một loại rượu ngon và phong phú trong Giao Ước mới của Người.
Sự hiệp nhất thật sự của Thiên Chúa và dân Người đã chờ đợi khoảnh khắc ở bên kia tiệc cưới Cana. Do lời khẩn cầu của Mẹ Maria khiến Chúa Giêsu bắt tay vào những biến cố đời sống công khai của Ngài, giờ của mầu nhiệm Vượt Qua và cái chết cùng sự Phục Sinh của Ngài. Chúa Giêsu đã mở rộng vòng tay của Ngài trên thánh giá để âu yếm chúng ta bằng một tình yêu phong phú và quảng đại, tình yêu ấy lớn đủ để bao gồm toàn thể nhân loại. Đó là khoảnh khắc sự hiệp nhất của chúng ta.
Chúng ta đổi mới quan hệ tình yêu của chúng ta khi cử hành Thánh Thể. Tại Cana Chúa Giêsu chuyển đổi nước thành rượu. Trong khi cử hành Thánh Lễ Người đã biến bánh và rượu thành Thịt và Máu Người như để tưởng nhớ lại sự chết và sự Phục Sinh của Người. Trong tiếng đọc của Linh mục chúng ta nghe những lời của Đức Kitô: “Đây là chén Máu Ta, Máu Giao Ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và nhiều người…”.
Kể từ ngày đẹp trời ấy tại Cana, mỗi tiệc cưới sẽ nhắc nhở chúng ta về tình yêu phong nhiêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Và mỗi đôi hôn phối sẽ làm cho chúng ta nghĩ đến sự trung thành của Thiên Chúa. Trên hết, chúng ta sẽ nhớ rằng bí tích Thánh Thể mà chúng ta cử hành là một Giao Ước mới, là sự hiệp nhất của chúng ta với Chúa và những người khác trong Giáo Hội.

 

TN2-C53. Chú giải của Noel Quesson

Bài trình thuật tiệc cưới ở Cana được Gioan, một nhân chứng trực tiếp, kể lại. Điều đó bảo đảm: TN2-C53

Bài trình thuật tiệc cưới ở Cana được Gioan, một nhân chứng trực tiếp, kể lại. Điều đó bảo đảm sử tính của câu chuyện. Nhưng Gioan, cũng như các thánh sử khác trước hết không có ý định mô tả cho chúng ta một đám cưới làng quê vào thời kỳ ấy. Sự kiện lịch sử ấy được suy gẫm lâu dài trong năm, sáu mươi năm trở thành một cơ hội cho Gioan dạy giáo lý với tư cách một nhà thần học. Chúng ta cũng thế, chúng ta phải cố vượt qua tính chất giai thoại của câu chuyện bước vào cách giải thích “tượng trưng" sâu xa: Sự kiện ấy là một “dấu chỉ”. Nó có một “ý nghĩ" ẩn giấu.
Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Cana miền Galilê.
Khi Gioan viết những từ "ngày thứ ba" ấy thì trong ngôn ngữ của các Kitô hữu tiên khởi, đó là một lối diễn tả gần như là thuật ngữ và lập tức gợi lại "ngày vinh quang" của Đức Gỉêsu: Ngày sống lại (Mt 16,21 - 17,23 - 20,19; Lc 9,2-18 - 33-24, 7; Cv 10,40).
Trong tiệc cưới có thân mẫu Đức Giêsu. Đức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự.
Trong phần đầu Tin Mừng của mình, Gioan chỉ nhắc đến Đức Maria trong trình thuật tiệc cưới ở Cana này và ở phần cuối Tin Mừng lúc Mẹ đứng dưới chân thánh giá...mà không cho biết tên Maria của Mẹ, nhưng chỉ xác định Mẹ trong mối quan hệ với Đức Giêsu... đó là "Mẹ Người "!
Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giêsu nói với Người: "Họ hết rượu rồi." Đức Giêsu đáp: "Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến"
Giờ của Đức Giêsu cũng là một cách diễn tả về cuộc khổ nạn (Ga 7,30 - 8,20 - 13,1 - 16,25 - 16,32). Đây là giờ độc nhất, một cách chính xác, đó là giờ Người được vinh quang: "Lạy Cha, giờ đã đến! Xin Cha tôn vinh con bên Cha, xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian" (Ga 17,l-5). Giờ vinh quang của Đức Giêsu diễn ra trong ba giai đoạn: Đó là thập giá, Người được "nâng lên" về mặt thể xác và một cách tưởng tượng... đó là sự sống lại, Người được "nâng lên" bên hữu Chúa Cha... và đó là sự tuôn đổ của Thánh Linh cho các tín hữu... (Ga 3,14 - 8,28 - 12,32 - 17,11 - 17;13 - 17,39). Như thế, người thợ mộc ở Nadarét được mời tham dự tiệc cưới trong một ngôi làng nhỏ lân cận, cho chúng ta khám phá "hữu thể" sâu xa của Người, xuyên qua các lời nói và cử chỉ: Vinh quang của Thiên Chúa ở trên Người. Người nói rằng "Giờ của Người" chưa đến. Nhưng giờ ấy sẽ đến! Khi người ta mời ông Giêsu này đến dự tiệc cưới thì họ đã mời chính Thiên Chúa Tạo Hóa của tình yêu! Một mầu nhiệm ẩn giấu trong lòng của tình yêu đôi lứa.
Thân mẫu Người nói với gia nhân: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo."
Bề ngoài kiểu nói ấy xem ra tầm thường. Vả lại, đó chính là một trích dẫn từ Kinh Thành. “Toàn xứ Ai Cập bị đói và dân chúng kêu lên Pharaô xin bánh ăn. Pharaô nói với mọi người Ai Cập: "Cứ đến với ông Giuse, ông bảo gì, các ông hãy làm theo" (St 41,55). Vua Pharaô nhận biết Giuse có sự khôn ngoan của Thần Khí Thiên Chúa nên đã nhún mình trước mặt Giuse và đã chỉ cho những người nghèo khổ đói khát đến với Giuse như đến với một người có thể lấp đầy sự khốn khổ của họ.
Giờ đây, chính Đức Maria nhún mình trước con bà và chỉ định Người như nhân vật chính: "Người bảo gì các anh cứ việc làm theo". Ở đó, đang thiếu rượu... và có lẽ, nào ai biết được, "tình yêu' cũng thiếu... Cuộc vượt qua là sự ra khỏi nước Ai Cập. Nhưng cũng là sự giải phóng khỏi sự nô lệ của tội lỗi và sự chết: "Rượu thiếu tượng trưng cho mọi thiếu sót sâu xa của chúng ta. Có rất nhiều hoàn cảnh của con người, ở đó chúng ta "không thể còn làm được gì mọi sự đều thiếu sót, không còn giải pháp trong hoàn cảnh của chúng ta lúc đó... Thế thì phải trông cậy vào một người khác vào Đấng Hoàn Toàn Khác, Đấng duy nhất có thể cứu: “Người bảo gì các bạn cứ việc làm theo".
Ở đó có đặt sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do Thái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước. Đức Giêsu bảo họ: "Các anh đổ đầy nước vào chum đi!" Và họ đổ đầy tới miệng. Rồi Người nói với họ: "Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc." Họ liền đem cho ông. Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hoá thành rượu (mà không biết rượu từ đâu ra, còn gia nhân đã múc nước thì biết)
Không một chi tiết nào ở đây là bởi sự ngẫu nhiên.
Chúng ta thử hiểu một nửa chữ thôi...
"Sáu chum đá... Người xưa thường thích ý nghĩa tượng trưng của các con số. Bảy là con số của sự hoàn hảo. Bảy kém một là hình ảnh của sự bất toàn.
“Dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do Thái nước dùng để tắm rửa trong việc phụng tự. Những chum đá ấy là dấu chỉ một tình trạng lạc hậu lỗi thời của các tập tục tôn giáo giờ đây đã bị vượt qua. Đức Giêsu đến thay đổi, hoàn tất tôn giáo của người Do Thái. Nước trở thành rượu!
"Họ đổ đầy tới miệng...". Dấu chỉ dư dật, phong phú, tràn đầy mọi ơn lành của Đấng Mêsia mà Đức Giêsu khởi đầu trong "dấu chỉ" đầu tiên này, quả thật là điên rồ và thái quá 600 lít rượu nho! Cả làng sẽ uống say sưa!
“Rượu”... Một biểu tượng xưa của Kinh Thánh (Tl 9,13; Thánh Vịnh 104,15.v...) Trái nho là một sản phẩm rất được ưa chuộng của đất đai: nó làm cho lan tỏa niềm vui và sự sảng khoái, nó làm cho phấn khởi lòng người". Các thời đại của Đấng Mêsia được loan báo bằng các hình ảnh bữa tiệc ở đó rượu chảy thừa mứa: "Đức Chúa sẽ mở tiệc cho mọi dân tộc, một bữa tiệc với thịt béo và rượu nồng"(Isaia 25,6; A-mốt 9,14.; Ôsê 2,16-15,5; Giôen 4,18; Giê-rê-mi-a 3 1., 12; Diễm ca 2,4 v.v...)
Vả lại chúng ta chớ bao giờ quên rằng Gioan viết Tin Mừng của Người khoảng năm mươi hoặc sáu mười năm sau biến cố Cana, vào một thời kỳ mà cộng đoàn Kitô hữu đã hội họp từ nhiều năm rối để dùng bữa ở đó một thứ "rượu'” mầu nhiệm được róc ra. Làm thế nào mà bữa ăn đầu tiên này của Đức Giêsu ở Cana lại không nhắc họ nhớ đến bữa ăn cuối cùng khi Đức Kitô đã biến rượu thành máu của Người... trong sự chờ đợi bữa tiệc quyết định mà Đức Giêsu đã loan báo: "Từ nay Thầy không còn uống thứ rượu nho này cho tới ngày Thầy sẽ uống rượu mới trong Vương quốc của Cha Thầy”.
Phúc thay cho những người được mời đến bàn tiệc của Thiên Chúa.
Mỗi lần bạn uống được rượu ngon, bạn hãy nghĩ về Thiên Chúa đã dùng rượu làm một "dấu chỉ" về Người. Thiên Chúa muốn mềm vui. Thiên Chúa không muốn chúng ta thiếu niềm vui, thiếu tình yêu, mỗi thánh lễ là một dấu chỉ về Người, một bí tích. Mỗi thánh lễ là máu của Đức Giêsu, dấu chỉ của tình yêu Người.
Ông mới gọi tân lang lại và nói: "Ai ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ”.
Sự lầm lẫn này có ý nghĩa biết bao: Khi lẫn lộn tân lang với Đức Giêsu, người quản tiệc đã lầm! Trong một vài dòng của Tin Mừng, Gioan Thánh sử sẽ nói rõ ràng rằng "tân lang" đích thực, chính là Đức Giêsu (Ga 3,29).
Chúng ta thấy ở đây điểm then chốt đem lại lời giải thích chủ yếu cho dấu chỉ Cana...". Đây là rượu của tiệc cưới mới, đây là chén của Giao ước mới trong máu ta". Những lời ấy chúng ta biết rõ thường lướt quá nhanh trong trí óc đã quen thuộc của chúng ta. Thánh lễ, mầu nhiệm của tình yêu!
Một truyền thống lâu dài và khả kính của Cựu ước đã giới thiệu Thiên Chúa như tân lang của nhân loại. Isaia trong bài đọc một của chúa nhật này vừa nói với chúng ta "sự ngỏ lời tình yêu” nóng bỏng như một đam mê của người si tình: "Người ta sẽ không còn gọi em "cô gái bị bỏ rơi" nhưng người ta sẽ gọi em là "cô gái được yêu thích", người ta sẽ gọi xứ sở của em là "Tân nương của Ta"... Như một thanh niên cưới một thiếu nữ làm vợ, Đấng đã xây dựng em, sẽ cưới em làm vợ. Như người vợ trẻ là niềm vui của chồng mình cũng thế, em sẽ là niềm vui của Thiên Chúa em" (Isaia 62,1-5; ô8ê 2?21; êdêkien 16,8). Toàn bộ Tân ước đã lấy lại hình ảnh vợ chồng ấy (2 Cr 11,2; Ep 5,25; Kh 21,2 - 22,17 v.v...).
Vả lại như bạn đã nhận thấy, ở tiệc cưới Cana, cô dâu không được kể ra. Không kỳ lạ sao! Chúng ta không gặp một đám cưới bình thường. Nếu Đức Giêsu là Tân Lang thật sư tân nương thật sự là người "phụ nữ" mà Người đã gọi bằng một từ ngữ mang tính tượng trưng sâu sắc: 'Thưa Bà!". Tân nương của Thiên Chúa, chính là Israel chờ đợi "giao ước mới" khi thừa nhận mình không.,còn rượu nữa. Israel ấy, dân tộc được Thiên Chúa cưới trong giao ước mới, rồi đây sẽ là Giáo Hội. Và Đức Maria đại diện cho cả hai: bà là "con gái của Israel" và khuôn mặt của Giáo Hội". Như thế, Tân nương không được nói tên trong tiệc cưới đó chính là chúng ta: Thiên Chúa yêu thương bạn... Thiên Chúa đã cưới nhân loại trong Đức Giêsu Kitô... trong khi vui cũng như trong lúc buồn!
Chúng ta sống trong một thời đại mà khủng hoảng của tình yêu vợ chồng trở nên bi đát: Tình yêu dường như bị mất phương hướng, người ta ca tụng sự kết hôn tự do, người ta sống chung mà không muốn làm lễ cưới, không muốn mở tiệc mừng tình yêu, không muốn nhận trách nhiệm đối với người khác, đối với con cái sẽ được sinh ra... Biết bao cặp vợ chồng mau chóng lìa tan, lúc mới bắt đầu cũng vui vẻ đấy, nhưng rồi trở nên nhạt nhẽo, tầm thường như nước ốc! Nhưng trong bối cảnh ấy, những cặp vợ chồng vững chắc nhất cũng không tránh khỏi nhận xét bi đát: Họ không còn rượu nữa!". Chính tình yêu đang thiếu thốn. Chỉ Đức Giêsu mới có thể ban lại tình yêu cho chúng ta. Hãy hiệp thông vào chén của Đức Giêsu, uống rượu của Người, chính là uống nơi suối nguồn yêu thương, đã hiến dâng tất cả và yêu thương cho đến cùng" (Ga 13,1).
Trong nhiều thế kỷ, các nhà thần học băn khoăn tìm hiểu cuộc sống nào cao cả hơn, cuộc sống "hôn nhân" hay cuộc sống "độc thân". Tuy nhiên chúng ta chớ nên quên ngôn ngữ của Kinh Thánh nói về một Thiên Chúa - Tình Quân. Chúng ta hãy để cho sự dịu dàng của Thiên Chúa tràn ngập chúng ta. Nếu bạn đã kết hôn, vợ chồng bạn là "dấu chỉ", nghĩa là "bí tích", "sự biểu lộ" của Tình Yêu Thiên Chúa. Nếu bạn sống độc thân. không phải bạn "không có tình yêu”, bạn cũng đã được cưới bởi một tình yêu cao cả nhất phải có! Nhưng bạn sống đời sống hôn nhân, hoặc đời sống độc thân của bạn như thế nào? Vấn đề ở đây không phải là sự thiết lập bí tích hôn nhân trong Tin Mừng. Nhưng đối với những ai hiểu được "dấu chỉ" của tiệc cưới Cana, điều đó chẳng cần thiết hay sao?
Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người.
Bên ngoài tính giai thoại, ở đây chính Gioan thánh sử cho chúng ta lời giải thích về câu chuyện của ngài: Đức Giêsu bày tỏ căn tính của Người... các môn đệ đã bắt đầu bước vào đức tin... "Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người".(Ga 1,14).

 

TN2-C54. TIỆC CƯỚI Ở CANA

Chú giải của Fiches Dominicales
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Từ một tiệc cưới làng quê… đến những tiệc cưới của Thiên Chúa với dân Người.
 

Chúa nhật trước chúng ta đã chú ý đến bài tường thuật của Mátthêu về ba nhà đạo sĩ, một bài rất: TN2-C54

Chúa nhật trước chúng ta đã chú ý đến bài tường thuật của Mátthêu về ba nhà đạo sĩ, một bài rất giàu ý nghĩa biểu tượng. Bài tường thuật của Tin Mừng Gioan về tiệc cưới ở cana mở đầu cho "Cuốn sách về các Dấu chỉ" cũng giống như vậy. Và như A. Marchadour cảnh giác, chắc chắn rằng qua câu chuyện được kết cấu như thế, "tốt hơn ta nên, từ bỏ ý nghĩ muốn biết đích xác sự việc xảy ra như thế nào. Thánh Gioan là người vốn thích nhìn từ một sự việc cụ thể đích thực để nhận ra ý nghĩa thần học tiềm ẩn, cột làm cho lịch sử có được nét sáng giá hơn" (L’Evangile de Jean, Centurien, 1992, tr. 55).
Việc giới thiệu các nhân vật và quan hệ hỗ tương của họ là chìa khoá thứ nhất dẫn vào lối đọc ý nghĩa biểu tượng của trình thuật này.
+ Thực vậy, các nhân vật mà người kể chuyện nói đến là "Đức Giêsu", "thân mẫu Đức Giêsu", các "môn đệ" Người, rồi ở phần tiếp của đoạn văn có người "quản tiệc" và "tân lang".
+ Theo A. Marchadour nhận xét, tất cả những nhân vật này, đều được giới thiệu quy chiếu về Đức Giêsu: thân mẫu Người, các môn đệ Người. Các môn đệ sẽ không có vai trò chủ động nào, nhưng lại quan trọng, đồng thời là chứng nhân của cảnh tượng và là những con người được biến đổi: cuối chuyện các ông trở thành những con người có lòng tin (Sđd.)
+ Còn chính tân nương sẽ không có vấn đề gì hết.
- Một chìa khóa khác đó là sự lặp đi lặp lại từ "tiệc cưới" ở đầu bản văn (c.1.2) rõ ràng là có ý làm nổi bật ý nghĩa biểu tượng của câu chuyện, tiệc cưới chỉ là cái khung để lồng những biểu tượng ấy.
Qua khắp cả Kinh Thánh, từ sách tiên tri Ô-xê cho đến sách Nhã Ca, Thiên Chúa luôn được trình bày như tân lang của dân Người là Israel. Giao ước giữa Giavê Thiên Chúa và Israel là một giao ước hôn nhân, nghĩa là bền chặt, không thể tiêu huỷ được; giao ước ấy dựa trên nền tảng là tình yêu trọn vẹn và hỗ tương. Chính Tân Ước cũng thường xuyên sử dụng chủ đề này.
Chính chủ đề này được quảng diễn ở đây, trong bài tường thuật của thánh Gioan. Bên kia buổi lễ cưới của những cặp vợ chồng trẻ ở cana, thánh sử muốn hướng tầm nhìn của ta vào cảnh khai trương một cuộc lễ khác, cho những tiệc cưới khác: Lễ cưới của Thiên Chúa với dân Người trong Đức Giêsu Kitô Con Người, mà các ngôn sứ đã loan báo.


2. Từ nước của luật cũ... đến rượu nho của giao ước mới.
Càng chú ý đọc bài tường thuật này, người ta càng thấy rõ góc độ biểu tượng này.
- Gioan đã đặt biến cố vào "ngày thứ ba". Có phải coi biểu xác định thời gian vắn vỏi được nói ở đây, theo J.B. Michaud hiểu, là muốn đưa về mạc khải mà Gioan có ý nói đến ở 1, 51 chăng? Nói cho đúng, theo như X. Léon-Dufour, há người ta chẳng đọc thấy ở đây ý hướng của người kể chuyện là rnuốn cho câu chuyện này có liên hệ với những biến cố vĩ đại của lịch sử thánh cũng xảy ra vào "ngày thứ ba" như: hiến tế Isaac, trong St 22,4, Chúa hiện ra trên núi Sinai trong Xh 19, 11 đấy sao? Việc "xác định ngày tháng" này có lẽ muốn loan báo "một khúc quanh quyết định trong lịch sử của Giao ước" (Lecture de l'Evangile selon Jean, cuốn 1, tr. 222). Sau cùng, như A. Marchadour gợi ý, phải chăng việc ghi chú "ngày thứ ba" như thế muốn gợi nhớ lại biến cố Phục sinh, ngày thứ ba lúc Chúa Giêsu tỏ bày vinh quang, và lúc ấy các môn đệ đã tin.
- “Họ hết rượu rồi”, lời nói này của "thân mẫu Đức Giêsu" bỗng dưng khiến người ta phải chú ý.
+ Ta đừng quên rằng rượu nho là đồ uống trong ngày lễ, nhất là lễ cưới thường kéo dài nhiều ngày nên phải lo dự trữ sao cho đủ rượu nho cũng là biểu tượng các tiệc cưới mang tính thiên sai giữa Thiên Chúa với dân Israel mà các ngôn sứ hằng ca ngợi và trông đợi.
+ Sự cố thiếu rượu là điểm khởi đầu câu chuyện. Tác giả không quan tâm đến lý do của sự thiếu rượu cho bằng ý nghĩa biểu tượng của sự kiện đó: nỗi khốn khó và lòng dân Israel trông đợi ân huệ Chúa ban.
+ Chính Đức Maria "thân mẫu Chlía Giêsu" - Gioan luôn dùng từ này để gọi Đức Maria - có sáng kiến báo cho Đức Giêsu biết nhà đám thiếu rượu.
- "Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà và con". Câu trả lời là khá bí ẩn.
+ Trước hết Đức Giêsu xưng hô với mẹ Người không phải bằng tiếng "má" (imma), tương đương với tiếng "ba” (abba), mà lại dùng tiếng "Bà".
Ta đừng coi đây như một lời lẽ thiếu kính trọng nào đó, cũng đừng coi đó là một lúc bực mình bột phát. Kiểu gọi Đức Mẹ như thế ở đầu Tin Mừng Gioan và một lần nữa ở cuối Tin Mừng, khi ở trên Núi Sọ thiết tưởng nên được đặt ở một bình diện tương quan khác với bình diện của đời thường và của gia đình.
+ Rồi phần tiếp theo của câu trả lời càng củng cố điều ta vừa nói ở trên: "Chuyện đó can gì đến Bà và con". Đó là một kiểu nói Do Thái nhằm từ chối một sự can thiệp chưa hợp thời, chưa đúng lúc, đồng thời cho thấy có sự hiểu lầm giữa người nói và người nghe. Các dịch giả và các nhà chú giải Kinh Thánh thì cố gắng lựa lời để làm dịu đi vẻ cứng cỏi của kiểu nói này. Như A. Marchadour gợi ý, cách trả lời của Đức Giêsu, phải chăng là "tạo một khoảng cách: Chúa muốn thúc giục thân mẫu Người đi xa hơn, vượt lên chức năng làm mẹ theo huyết nhục, để sinh ra làm người môn đệ nữa" (Sđd, tr. 56).
- "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo", Đức Maria nói ngay với những gia nhân. Hưởng ứng lời kêu gọi của con, Đức Maria đã vượt khoảng cách để trở thành người môn đệ đầu tiên.
Mấy lời trên đây mà bài tường thuật đặt vào môi miệng Đức Maria chứa chất biết bao ký ức xa xăm về Kinh Thánh:
+ Nó gợi nhớ lời vua Pharaô nói với dân Ai Cập đến xin lương thực: "Hãy đến cùng Giuse, Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo" (St. 41,55). Hình ảnh Đức Maria mờ nhạt đi trước Đấng đang làm ứng nghiệm những lời tiên tri loan báo, một Giuse mới đang cho dân ăn, đưa dân từ thiếu thốn đến sung túc.
+ Nó gợi nhớ lời đáp lại của dân Chúa trước đề nghị của Giao Ước khi tụ họp ở núi Sinai: "Mọi điều Đức Chúa phán bảo, chúng tôi xin làm theo" (Xh. 19.8). Ở đây, ngay lúc khởi đầu Giao ước mới, thánh sừ đặt vào môi miệng Đức Maria lời tuyên xưng đức tin của dân đượlc tuyển chọn. Thánh sử giới thiệu Ngài là hình ảnh của Israel mới.
Bài tường thuật tiếp tục "Ở đó, có đặt sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do thái". Thật là kỳ lạ, thay vì những vò đất nung hay những bình da người ta dùng đựng rượu trong tiệc cưới Cana, và những bình ấy chắc hẳn đã cạn hết rượu rồi, thì Đức Giêsu lại bảo những người giúp việc đổ đầy nước vào các chum đá vốn không đựng rượu, mà đựng nước dùng vào việc "thanh tẩy theo thói tục người Do Thái". Và chính từ những cái chum đá đổ đầy nước "tới miệng" này (chừng 700 lít) mà các gia nhân sẽ múc rượu ngon ra, thứ rượu ngon hơn rượu đãi lúc đầu, "người quản tiệc" xác nhận như vậy.
Việc nước hóa thành rượu trong bữa tiệc cưới ở làng quê tượng trưng cho Luật cũ chuyển qua Luật mới. Rượu nho của thời đại cứu thế thay thế cho nước của giao ước đầu tiên.


3. Từ khởi đầu các dấu lạ … đến “Giờ" thực hiện.
- Bài tường thuật về tiệc cưới Cana mở đầu "Sách các dấu lạ" sẽ kết thúc ở 12,50, để từ đó sẽ khởi đầu "Sách về Giờ của Đức Giêsu".
+ Thánh sử lưu ý: chúng ta đang ở vào thời kỳ "khởi đầu các dấu lạ". Khi làm "dấu lạ" đầu tiên này, Đức Giêsu bắt đầu tỏ cho các người thân của mình biết thân thế và sứ mệnh của Người. Cana đánh dấu bước thứ nhất trên con đường đức tin của các môn đệ: "Các môn đệ đã tin vào Người".
Nhiều "dấu lạ" khác sẽ theo sau: hóa bánh ra nhiều (Ga 6), chữa người mù bẩm sinh (Ga 9), cho Ladarô sống lại (Ga 11) sẽ triển khai mạc khải ban đầu kia và góp phần làm nên những chặng đường trong hành trình đức tin của các môn đệ. + Nhưng "Giờ Người chưa đến", Đức Giêsu tuyên bố như thế. Giờ nhiệm mầu ấy sẽ đan xen cả giờ khổ nạn, giờ được tôn vinh, lẫn giờ tràn đầy ơn ban của Chúa Thánh Thần. Để rồi trong ánh sáng rạng ngời của mầu nhiệm Vượt qua, mọi ý nghĩa đều được sáng tỏ và các môn đệ sẽ trở thành những con người gắn bó hoàn toàn với Đức Giêsu, nhìn nhận Người là Đấng Mêsia, là Con Thiên Chúa.
+ Về phần "thân mẫu Chúa Giêsu", Người "ở đó" để chứng kiến dấu lạ khai mào Giao ước mới: "Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà và con?", cũng như Người sẽ "ở đó, gần thập giá” (19,25) lúc "Giờ" đóng ấn Giao ước mới trong máu, sẽ điểm, lúc ấy, Đức Giêsu sẽ nói với thân mẫu Người rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà". Thân mẫu Đức Giêsu có mặt lúc "khởi đầu" thì Người sẽ có mặt khi "hoàn tất" (cf. 19,30: “Thế là đã hoàn tất").
- Bài tường thuật này được viết sau biến cố Phục sinh.
A. Marchadour kết luận: "Phép lạ ở Cana, được viết cho các tín hữu đọc, vì họ là những người đã có kinh nghiệm về niềm tin Chúa phục sinh là đã đoạn tuyệt với Do Thái giáo. Kết cấu câu chuyện cho ta thấy rõ điều đó. Mở đầu và kết luận đặt người đọc trong bối cảnh phục sinh... Toàn bộ bài tường thuật mô tả việc chuyển từ Do thái giáo sang Kitô giáo được thực hiện như thế nào trong Đức Giêsu.
Thân mẫu Đức Giêsu có mặt ở đó có nghĩa là nhờ Người mà lễ hội giao duyên giữa Thiên Chúa và loài người trở thành khả dĩ. Người dẫn đưa Israel mới (mà các gia nhân ở đây là biểu tượng) đến cùng Đức Giêsu. Nhưng khi nói với gia nhân: Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo", thì chính Người lại đóng vai người phụ nữ, hình ảnh Israel mới phải phục tùng con mình. Rượu vừa nhiều vừa ngon ám chỉ rằng thời đại Đấng Cứu Thế vui như ngày hội đã bắt đầu và từ nay rượu sẽ không bao giờ thiếu. Một giáo phụ tự hỏi: "Người ta đã uống cạn chăng? Không, vì hiện giờ chúng ta vẫn còn uống" (Sđd, tr. 58).


BÀI ĐỌC THÊM
1. “Rượu nho mới"
(G. Bessière, trong “Dieu si proche. Năm C", DDB, trg 83-84).
Đức Giêsu có mặt trong tiệc cưới mừng cho tình yêu của cặp trai gái làng Cana. Người sắp làm phép lạ đầu tiên trong tiệc vui này. Bài tường thuật của thánh Gioan về tiệc cưới ấy dọi một tia sáng vào quá khứ của Israel, vào tương lai của Đấng Chúa sai đến và vào đời sống của Giáo Hội.
Thời Môsê, Êlia, Êlisê, Thiên Chúa đã làm những dấu lạ để củng cố sứ mệnh của các vị ấy thế nào, thì Người cũng sắp chứng thực sứ mệnh của Đức Giêsu như vậy khi cho Người thực hiện những tiệc lạ lùng: đó chính là những "dấu chỉ". Trong Kinh Thánh, rượu nho thường là biểu tượng ơn khôn ngoan do Lời Chúa ban cho. Rồi đây Đức Giêsu sẽ là Người được ban tặng ơn ấy một cách dồi dào và triệt để.
Đức Giêsu hóa nước thành rượu trong sáu chum đá dùng cho nghi thức thanh tẩy mà người Do Thái vốn tuân giữ rất cặn kẽ; chi tiết này ám chỉ rằng Đức Giêsu sắp mang đến một sự canh tân cho Do Thái giáo. Lúc ấy, ở đó có sáu cái chum: số sáu được coi như con số không hoàn toàn muốn chỉ tỏ rằng quá khứ phải nhường chỗ cho một tương lai mới.
Sách các Ngôn sứ thường ví dân được tuyển chọn như một hôn thê bất trung, bội tín. Nên với sự hiện diện của Đức Giêsu, bây giờ là lúc những tiệc cưới giữa Thiên Chúa và nhân loại đã dứt khoát bắt đầu. Đây là những tiệc cưới mà "Giờ" chưa đến: tiệc của rượu nho trong bữa Tiệc ly và của máu trên thập giá, tiệc Thánh Thể, trung tâm đời sống của Giáo Hội vẫn tiếp tục ca tụng thứ rượu nho của những tiệc cưới đời đời.
Đức Giêsu chính là rượu nho được Thiên Chúa ban một cách hào phóng là là giao ước luôn luôn mới.


2. Vương quốc mới được khai trương
Ta phải vượt lên Cana là buổi lễ ở làng quê hôm đó để có thể nắm bắt được những luồng tư tưởng lớn của các ngôn sứ vẫn xuyên suốt lịch sử Thánh. Phải tìm lại những dấu chỉ của giao ước là tất nhiên là những tiệc cưới giữa Thiên Chúa với dân Người.
Việc Đức Giêsu khởi sự làm những dấu lạ, rõ ràng loan báo vương quốc mới, triều đại của Đấng Mêsia. Ngày ấy được ngôn sứ Isaia mô tả là ngày mà Chúa toàn năng sẽ khoản đãi một bữa tiệc thịnh soạn đầy thịt cùng các món hảo hạng với rượu ngon nổi tiếng... Ngày ấy người ta sẽ nói: Đây là Thiên Chúa chúng ta. Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng trông đợi" (Is 25, 9).
Vương quốc mới được khai trương Đấng cứu độ được loan báo và được hứa cuối cùng thì cũng đã có mặt đây rồi. Đã hết rồi những lề luật khắc khe, những nghi thức thanh tẩy được tượng trưng bằng sáu cái chum, một con số nói lên sự bất toàn. Từ nay những cái đó không còn giá trị nửa. Phải nhường chỗ cho một giao ước tình yêu; với giao ước đó; Thiên Chúa trở nên rất gần gũi, gần gũi đến độ trở nên một người ở giữa chúng ta. Phải nhường chỗ cho những niềm vui của tiệc cưới và cho thứ rượu nho mới của Thần Khí Thiên Chúa, Đấng đến làm đảo lộn những tập quán, phá bỏ những truyền thống và không quan tâm đến những thói vụ luật.

 

TN2-C55. CỨU MỘT BÀN THUA TRÔNG THẤY

TIN MỪNG CHÚA NHẬT II TN (Năm C) : Ga 2, 1-11
 

Phương Tây có thành ngữ thật hay : “sauver la face” (save face) mà hai cách dịch tiếng Việt: TN2-C55

Phương Tây có thành ngữ thật hay : “sauver la face” (save face) mà hai cách dịch tiếng Việt “giữ thể diện”,“gỡ thể diện” đều không chính xác. Cứu và giữ, gỡ hay đi đôi với nhau,nhưng cứu vẫn khác. Thuật ngữ trong môn bóng đá diễn tả đúng nhất động tác và kết quả của phản xạ cản được đường bay mười mươi vào thẳng lưới của trái bóng : cứu một bàn thua trông thấy! Không có sự can thiệp, thì chắc chắn đã bị mất thể diện . Cho nên “cứu” (để ‘giữ”) thể diện, mới là thích hợp.Còn khi đã thua, việc có thể “gỡ” được hay không,lại là vấn đề khác.
 “…Và dân chúng kêu lên Pharaô xin bánh ăn. Pharaô nói với mọi người Ai Cập : Cứ đến vơi ông Giuse. Ông bảo gì,các ngưoi hãy làm theo” (St 41,55). Bàn thua khủng khiếp có thể đẩy nền văn minh Ai Cập lùi hàng trăm năm, đã được Giuse gỡ cho một cách ngoạn mục, vì đó là ý muốn và chương trình của Thiên Chúa.
 “ Khi thấy thiếu rượu,…thân mẫu người nói với gia nhân : Người bảo gì,các anh hãy làm theo” (Ga 2,5). Bàn thua trông thấy có thể biến hôn lễ Cana thành trang tóc,buồn phiền, nếu Đức Maria đã không ra tay cứu giúp.
Trong cuộc họp báo chiều 08.01.2010, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cho biết, người lao động nhận lương kỷ lục năm 2009 là 216 triệu đồng một tháng (# 144.000 usd/năm). Thưởng Tết Canh Dần cao nhất 389 triệu đồng, thấp nhất chỉ 30.000 đồng (Người Lao Động 09.01.2010). Ăn nên làm ra,lương ao,thưởng cao đã đành, mà những công ty vốn nhà nước lỗ hàng ngàn tỷ đồng, cũng lãnh lương cao, tiền thưởng ngất trời. Đây hẳn một kỷ lục Guinness. Người ta giật mình khi so sánh mức lương đó,với lương của tổng thống Pháp (114.000 USD/năm) và tổng thống Nga  (84.000 USD/năm). Bàn thua chẳng những không ai muốn cứu, mà còn chủ tâm bán độ, cấu kết với nhau,với cái tâm đen tối hiểm ác,để làm cho đất nước tan hoang và nhờ đó mà an tâm “đục nước béo cò”. Và người ta chống chế, tìm cách bịt những lỗ hỗng khổng lồ ấy,bằng việc bịt miệng những kẻ nói sự thật, những kẻ muốn đưa cả bàn tay và con tim chận những bàn thua trông thấy. Một cách chữa thẹn hiểm ác, là gây ra những tội phạm thượng tày trời,như ở Đồng Chiêm. Hãng Huyndai-Vinashin chưa biết xử lý cả triệu tấn xỉ đồng (hạt nix) gây ô nhiễm không khí,nguồn nước và môi trường sống của hàng chục ngàn người dân Khánh Hoà, bị kịch liệt chỉ trích bao lâu nay, đã được cứu khỏi bàn thua trông thấy, khi có nguyên cả bộ trưởng môi trường vào tận nơi giải quyết. Kết quả là chỉ mấy ngày sau, công ty đóng tàu nầy ngang nhiên nhập về 20 ngàn tấn hạt nix độc hại nữa. Dân chúng ngậm bồ hòn! Câm nín trước sự ác, bất cứ vì nguyên do gì, hoặc bao che tội ác, đều là đồng loã và khuyến khích tội ác,sự dữ.
Ở đất nước Việt Nam, hằng ngày,hằng giờ diễn ra một cuộc chạy đua quyết liệt, mà ‘vận động viên” là người nghèo, còn đích vô tận là giá cả tất cả mọi mặt hàng. Người nghèo chạy đứt hơi theo người giàu : sữa tăng giá, trẻ nhà giàu uống mỗi tháng bạc triệu, con nhà nghèo nhịn được (vì phải nhịn, bởi giá một hộp sữa bằng cả tháng công lao động của cha mẹ chúng); nhưng thuốc thì không thể không mua khi ốm đau và điều nghịch lý là người giàu ăn no uống đủ vệ sinh tốt, rất ít khi đau ốm,trong khi người nghèo đói suy dinh dưỡng, vệ sinh kém, lại ốm đau liên miên. Sữa tăng giá, thuốc men tăng giá, xăng dầu tăng giá, vì vàng tăng giá. Nói chi thịt cá, mà ngay nắm rau, bó hành cũng tăng giá. Người giàu không thèm trả giá. Họ muốn thoát nỗi ám ảnh cha mẹ họ một thời xếp hàng năn nỉ cả ngày trời, để mua được cây kim,sợi chỉ, cân gạo. Liên tiếp những bàn thua cho người nghèo. Ai thèm quen tâm việc người khác sống chết thế nào. Mặc cho nỗi cơ cực cay đắng của người nghèo, mà phương tiện sinh sống ngày càng bị hạn chế, bó hẹp lại, chỉ để mát mặt người giàu. Bên cạnh những chiếc xe hàng trăm ngàn,hàng triệu “đô”, những chiếc “cần câu cơm” cũ kỹ, xấu xí sẽ rất phản cảm,vì thế chúng hãy biến đi. Rượu người nghèo chỉ có thế và nay đang cạn, sẽ hết. Họ đang thua trông thấy. Tội ác đủ loại,đủ lứa tuổi, ngày càng dã man, vô đạo và cuộc sống xô bồ,dâm ô, gương mù gương xấu đang dìm những thế hệ trẻ xuống bùn nhơ. Những bàn thua cố tình, vì xã hội càng tha hoá trụy lạc,thì những tay hoạt đầu càng có cơ vơ vét, tham ô.  Ai sẽ đưa ánh mắt, chìa bàn tay, cứu giúp người nghèo, kẻ bị áp bức?
 Đức Maria,bằng tiếng thưa “xin vâng”, đã cứu nhân loại khỏi một bàn thua trông thấy, bàn thua nầy nữa sẽ kéo nhân loại tiếp tục chìm trong đêm đen tội lỗi và sự chết. Bằng cuộc sống nhân đức của Mẹ, Đức Trinh Nữ Maria đã dạy cho nhân loại giữ sạch mành lưới, không để cho Satan và mưu ma chước qủy công phá và ghi bàn. H. Engelmann,một linh mục Công giáo người Đức thuật lại: một ngày nọ, ngài hìn thấy một bức hoạ Đức Trinh Nữ Maria treo ở một chỗ danh dự trong văn phòng của Field Marsal Hindenburg,một tín đồ Tin Lành phái Luther. Thấy vị linh mục không dấu nổi sự ngạc nhiên, Hindenburg nói :” Tôi nhìn thấy nơi Đức Trinh Nữ sự hiện thân của những nhân đức con người cần thiết cho cuộc sống của tôi”. Có thể mơ tới một định nghĩa tốt đẹp hơn về những gì Đức Maria mang đến cho thế giới nầy chăng? Với một thế giới hoàn toàn bị bỏ mặc cho kiêu căng ích kỷ, Đức Maria sự khiêm hạ của máng cỏ Bê-lem. Với một thế giới bị tiền tài và tham lam ngự trị,Mẹ nhắc lại sự khó nghèo ở Nazaret. Với một thế giới bị méo mó xuyên tạc, bất lương, Đức maria mang đến chân lý và sụ đơn sơ thẳng thắn. Với một thế giới ngày càng chai sạn vì hận thù mỗi ngày, Mẹ lập lại những bài học dịu dàng hoà nhã của Mẹ. Với một thế giới ô uế và hão huyền, Mẹ đã đưa ra chứng từ về đức trinh khiết của Mẹ. Với một thế giới già nua, Đức Maria mang đến sự tươi trẻ vĩnh viễn của Mẹ (trích “I Lost The Faith”, - Tôi đã mất đức tin - H.Engelmann, trg.91).
 Bảy năm được mùa bội thu của Ai Cập cũng là những năm ân huệ dồi dào Chúa ban cho chúng ta trong cuộc đời. Nếu không biết lợi dụng để tích trử cho đầy kho lẫm linh hồn, thì khi đói kém xảy ra, với những cám dỗ thử thách không chỉ xảy đến,kéo dài trong chốc lát hay trong thời gian ngắn,mà liên tục và kéo dài chí ít cũng không thua thời gian nhận ơn sủng, chúng ta sẽ tàn vong. Những lúc ấy hãy nhớ : “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5:20). Những lúc ấy chỉ còn cách duy nhất là kêu cầu Mẹ Maria, để Mẹ giúp cứu cho không chỉ một bàn thua trông thấy,mà cả sự sống đời đời. Muốn vậy, phải luôn nuôi dưỡng lòng sùng kính Mẹ, để có Mẹ làm người thủ thành, thì chúng ta tin tưởng vững vàng sẽ chiến thắng Satan và tội ác. Hơn thế nữa, chúng ta góp phần vào chiến thắng của Giáo Hội.của Nước Trời.
 Chúng ta vẫn muốn lập lại cho nhau câu nói của Padre Piô :” Đây là di chúc và tài sản ta để lại : HÃY YÊU MẾN ĐỨC TRINH NỮ VÀ HÃY LÀM CHO MỌI NGƯỜI YÊU MẾN MẸ. Hãy luôn lần chuỗi Mai Khôi” (Di chúc thiêng liêng của Thánh Pio Pieltrelcina). Với Mẹ,không còn lo gì thiếu rượu nồng cho cuộc sống Kitô hữu!

 

TN2-C56. TÌNH NOÀNG

Tác giả: Cố Lm. Đỗ Vân Lực, op.
 (Ga 2:1-11)
 

Ngày nay hiện tượng “ăn cơm trước kẻng” khá phổ biến trong dân gian, nhất là bên Âu Mỹ: TN2-C56

Ngày nay hiện tượng “ăn cơm trước kẻng” khá phổ biến trong dân gian, nhất là bên Âu Mỹ.  Người ta không còn tin tưởng vào nghi thức cưới hỏi nữa.  Ðúng hơn, họ quá tin tưởng khoái lạc sẽ đem lại hạnh phúc cho con người.  Nếu đúng thế, tại sao ngày nay ly dị đạt tới mức độ kỷ lục như vậy ?
Ðứng trước tình hình hiện nay, có lẽ cũng không nên quy trách hoàn toàn cho giới trẻ.  Ðúng hơn, phải nhận nghi thức hay luật lệ phần nào đã đánh mất nội dung và ý nghĩa đích thực.  Tất cả chỉ còn là nước lã.   Cuộc sống hôn nhân tẻ ngắt và buồn chán, không còn hấp dẫn nổi giới trẻ nữa.  Cần phải có một cuộc canh tân thực sự mới đem lại cho hôn nhân một sức sống mới.  Nhờ đó, gia đình mới hạnh phúc. 
Nếu Chúa đã biến nước thành rượu trong tiệc cưới Cana, Chúa cũng có thể canh tân và biến đổi cuộc sống hôn nhân hôm nay.   Cuộc canh tân đó dựa trên nền tảng tình yêu, một thực tại bắt nguồn từ Thiên Chúa.   Tình yêu là động lực phát xuất niềm vui và hạnh phúc thực sự.  Nhờ đó hôn nhân có sức mạnh vượt trên mọi thử thách.
Còn cuộc vui nào lớn hơn tiệc cưới Cana ?  Tiệc cưới rất trang trọng và diễm lệ, vì được đón chào cả Chúa Giêsu, Mẹ Maria, anh em họ hàng và các môn đệ, nhưng không kém vẻ thân mật gia đình.  Các ngài đến chung vui với đôi hôn phối tới phút chót.  Hiện diện như thế, các ngài đã chia sẻ tận tình niềm vui lớn lao đó.  Niềm vui càng tăng lên khi biến nước thành rượu ngon “khi khách đã ngà ngà.” (Ga 2:10)
Phép lạ đã vượt qua giới hạn một tiệc cưới.  Không phải chỉ vì cứu vãn danh dự của cô dâu chú rể hay chủ tiệc, nhưng còn để “bày tỏ vinh quang của Người.” (Ga 2:11) Tất cả ý nghĩa của “dấu lạ đầu tiên” (Ga 2:11) nằm ở chỗ đó.  Không phải nhu cầu đám cưới đã thúc bách Ðức Giêsu hành động, nhưng là đức tin của Mẹ Maria, Thân mẫu Người.  Mẹ chỉ vỏn vẹn loan báo một sự kiện, chứ không xin gì cho chính mình. 
Dĩ nhiên, chưa đến “giờ” Chúa Giêsu hành động.  Mẹ biết, nhưng không hề đáp lại, chỉ lẳng lặng nói với gia nhân : “Người bảo gì các anh cứ việc làm theo.”(Ga 2:5)  Câu nói cuối cùng của Mẹ lại được đặt trong khung cảnh tiệc cưới, một cuộc vui lớn nhất và sâu xa nhất của con người.  Thái độ trầm tĩnh qua những lời đó đã đủ để Ðức Giêsu hành động.  Ðức Mẹ biết chắc chắn những gì sẽ xảy ra sau lời chứa chất đầy tin yêu đó.
Ở đây, Ðức Mẹ đã hành động ngược hẳn với thái độ của những kẻ thách thức Chúa Giêsu dưới cây thánh giá.  Họ đòi Chúa bước xuống khỏi thánh giá như một dấu chỉ cho họ tin.  Bình thường ai cũng cần dấu lạ mới tin.  Trái lại, Mẹ Maria cho thấy đức tin làm nảy sinh dấu lạ.  Ðức tin đòi chúng ta  phó thác hoàn toàn nơi quyền năng đầy tình thương của Chúa.  Ðức tin không đòi con người phải hành động mù quáng hay làm những việc anh hùng.  Trái lại, đức tin luôn chứng tỏ qua thái độ tín thác khiêm cung.  Ngược lại, một thái độ kiêu ngạo luôn làm con người tưởng mình có thể hành động thay thế Thiên Chúa.  Phép lạ hay dấu chỉ là công việc đặc biệt thuộc về Thiên Chúa mà thôi.
Ðức Maria và các môn đệ đã tin như thế.  Chỉ những ai tin mới có thể nhìn thấy chính con người Ðức Giêsu Kitô đã làm được những phép lạ, chứ không phải một thứ thần thông hay ma thuật nào.  Nhưng Người đã không thi hành quyền năng ấy một cách ồn ào hay biểu hiện một cách phi thường ngoạn mục.  Trái lại, Người kín đáo thi thố quyền năng, đến nỗi người quản tiệc cũng không biết rượu từ đâu ra.  Chỉ có các gia nhân mới thấu hiểu ngọn nguồn.  Bởi đâu họ được diễm phúc ấy ?   Có lẽ chính địa vị thấp kém và hoàn cảnh nghèo hèn đã khiến họ có cơ hội gần Chúa và tham dự vào những việc Chúa làm để tạo nên dấu chỉ hôm nay.
Nhưng hơn tất cả mọi người, nhờ niềm tin, Ðức Maria biết Con Mẹ có khả năng làm phép lạ.  Niềm tin đó mạnh đến nỗi, dù Chúa có “tỉnh bơ” trước lời cầu xin của Mẹ.  Nghe Con trả lời, đáng lẽ Mẹ phải cảm thấy xa lạ, vô duyên và bực bội như “búa tạ” giáng trên đầu.  Thực ra, trong cuộc sống bên nhau hơn ba chục năm trời, Mẹ biết đó chỉ là một cách diễn tả thân mật giữa Mẹ Con.  Tiếng nói sâu xa của hai con tim đã tạo nên sự đồng cảm sâu xa.  Người ngoài làm sao hiểu nổi ?  Bằng chứng, sau khi nghe những lời cứng rắn đó, Mẹ vẫn nói như Mẹ và Con đã hiểu thấu đáo ý nhau : “Người bảo gì, các anh cứ làm.” (Ga 2:5)  Kết quả đúng như Mẹ mong ước.
Sở dĩ có kết quả như thế, không phải vì Mẹ giỏi tâm lý, nhưng vì Chúa Thánh Linh lên tiếng trong Mẹ.  Chúa Giêsu đã nhận ra điều đó, nên thi hành ngay, mặc dù  giờ thi hành sứ mệnh cứu độ chưa đến.  Thế là, nhờ Chúa Thánh Thần, Mẹ đã được vinh dự đón nhận dấu lạ đầu tiên trong cuộc đời công khai của Con.  Còn gì sung sướng hơn khi biết dấu lạ đó đã làm cho các môn đệ tin vào Chúa.  Nếu Mẹ không tin, làm sao họ có thể thấy được dấu lạ mà tin.  Niềm tin đã sinh ra niềm tin.
Nếu có niềm tin như Mẹ, chúng ta cũng sẽ thấy Chúa Giêsu đang chuẩn bị một đại tiệc trong Nước Chúa.  Bằng chứng, những dấu lạ lớn nhỏ đang xảy ra hằng ngày.  Quan trọng là có đủ niềm tin để đọc thấy ý nghĩa của những dấu chỉ đó hay không.  Nếu có đủ, chúng ta có thể bước theo Chúa, cùng Mẹ và các môn đệ để khám phá những điều lớn lao hơn trong Giao ước đã được ký kết trong Máu Người.  Người kêu gọi chúng ta khám phá cuộc sống hằng ngày để nhận thấy những dấu chỉ sự hiện diện của Người.  Tham dự một hôn lễ, Chúa Giêsu muốn chuẩn bị một hôn lễ khác – hôn lễ kết hiệp Thiên Chúa với nhân loại.(x. Lời Chúa Cho Mọi Người, 2005:420)
Muốn canh tân thế giới, chúng ta phải bắt đầu từ niềm tin.  Không có niềm tin, không thể hy vọng Thiên Chúa biểu lộ quyền năng ban sự sống của Người.  Có lúc nào thế giới cần được tái sinh và canh tân như hôm nay ?  Vậy mà, niềm tin đang phai mờ và tàn lụi trong tâm hồn nhân loại !  Muốn tìm một sức mạnh canh tân và tái sinh nhân loại, trước hết phải nỗ lực cầu xin Thiên Chúa ban Thần Khí, vì “Thần Khí như một thứ rượu nồng sẽ khiến chúng ta quên đi những quy tắc sáo mòn và những tín điều hẹp hòi của chúng ta.” (Lời Chúa Cho Mọi Người, 2005:420)  Chúa Giêsu không dùng nước bình thường, nhưng là thứ nước đã đổ vào sáu chum theo thói tục Do thái dùng vào việc thanh tẩy.  Chúa muốn canh tân não trạng của những người đã sống lâu năm trong nghi thức đạo đức vô hiệu lực và đầy giả tạo đó. 
Tôn giáo đích thực không bao giờ đồng hóa với những nghi thức như thế.  Người Do thái lo lắng thanh tẩy khỏi những điều ô uế.  Họ đặt tất cả niềm hy vọng canh tân nơi các nghi thức.  Nhưng họ đã thất bại.  Chính Thần Khí chủ động trong việc canh tân, chứ không phải nghi thức.  Nghi thức chỉ là phương tiện.  Nhưng muốn Thần Khí khởi động việc canh tân vô cùng cần thiết đó, cần phải tin vào quyền năng Thiên Chúa nơi Ðức Giêsu Kitô.  Không có Người, không thể có Thần Khí.
Lạy Chúa, xin Chúa hãy hiện diện trong cuộc sống hôn nhân của chúng con hôm nay.  Xin hãy ban sức mạnh Thánh Thần để tình yêu chúng con luôn được đổi mới và sinh hoa trái tốt đẹp là hạnh phúc cho chúng con và gia đình.  Amen.
đỗ  lực, 14.01.2007

 

TN2-C57.  CUỘC HÔN PHỐI KỲ DIỆU

Pm. Cao Huy Hoàng
 

Con người là một tuyệt phẩm của Thiên Chúa sáng tạo. Nhưng con người đã dùng tự do đánh mất: TN2-C57

Con người là một tuyệt phẩm của Thiên Chúa sáng tạo. Nhưng con người đã dùng tự do đánh mất vẻ đẹp nguyên tuyền thưở ấy, thưở E-đen, nơi Thiên Chúa thích đùa vui với con người . Những tưởng Thiên Chúa bỏ đi công trình của Ngài, nhưng không, Ngài không “ruồng bỏ”, nhưng Ngài “tái lập một giao ước mới vững bền”, vì lòng thương của Ngài  ngàn thu…
Tiên tri Isaia khẳng định một niềm hy vọng cho con người tội lỗi:
“Chẳng ai còn réo tên ngươi: "Đồ bị ruồng bỏ!"
Xứ sở ngươi hết bị tiếng là "Phận bạc duyên đơn."
Xứ sở ngươi nức tiếng là "Duyên thắm chỉ hồng."
Vì ngươi sẽ được ĐỨC CHÚA đem lòng sủng ái,
và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở ngươi.
5 Như tài trai sánh duyên cùng thục nữ,
Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về.
Như cô dâu là niềm vui cho chú rể”.(x. Is 62, 1- 5)
“Như tài trai sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới người về”. Con người được Chúa đem lòng sủng ái, và thiết lập hôn ước”. Ôi còn hạnh phúc nào hơn! Thân phận bụi tro trong xác hay chết của con người, được Thiên Chúa dủ lòng xót thương, được Ngài đoái mắt tới, và biến đổi thành “hiền thê” của Ngài -“như cô dâu là niềm vui cho chú rể”.
Nhớ lại biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa trên sông Jordan, và toàn cảnh hôm ấy, không ai quên được có một Thiên-Chúa-làm-người đang cúi đầu nhận phép rửa của Gioan, và trời mở ra Thiên Chúa Cha phán: “Đây là con ta yêu dấu, rất đẹp lòng ta”.(Lc.3,22)
Và nhớ lại phép rửa tội của mỗi người, chúng ta cũng có thể tin một toàn cảnh tương tự, và tin là “Thiên Chúa  đang hôn phối với chính đương sự”. Cuộc hôn phối kỳ diệu giữa Thiên Chúa chí thánh chí thiện và một con người phàm hèn, tưởng đơn giản chỉ với một khế ước “tôi từ bỏ ma quỷ và các việc của nó, Tôi tin Thiên Chúa, tin Chúa Giêsu, tin Chúa Thánh thần, tin Giáo Hội …”, nhưng lại là một giao ước vững bền tới ngàn thu. Ấy vậy, cũng  có thể nói “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mt 19,6).  Quả thật, giáo lý dạy rằng, chúng ta chỉ được lãnh nhận bí tích rửa tội có một lần, mà hiệu quả cả đời. Suy tư nầy, nhắc nhớ mỗi người chúng ta rằng, chúng ta đã được Thiên Chúa sủng ái, và đã cưới chúng ta về, qua bí tích rửa tội, nhờ máu thánh Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta trở nên con yêu dấu của Cha, trong một nghĩa nào đó, chúng ta trở nên hiền thê chung thủy của Thiên Chúa. Ôi! Vinh dự lắm thay!
Mỗi lần tham dự Lễ Cưới, xin hãy nhớ đến cuộc hôn nhân kỳ diệu của chính mình: Thiên Chúa đã cưới tôi! Tôi là hiền thê của Ngài. Tôi phải chung thủy với Ngài. Vì “sự gì Thiên Chúa dã liên kết, loài người không được phân ly”.
Thư Thánh Phaolô lại nhắc đến một cuộc hôn phối kỳ diệu thứ hai: Hôn Phối của Chúa Kitô và Hội Thánh, trong Chúa Thánh Thần. Nếu mỗi người cùng được Thiên Chúa hôn Phối qua bí tích rửa tội, thì cùng là anh em trong một nhiệm thể Chúa Kitô. Vì chính Đức Giêsu cũng bằng lòng nhận phép rửa như một tội nhân trong nhân loại. Và hơn thế nữa, Chúa Giêsu như “tân lang” của Thiên Chúa Cha gửi đến để cùng với “tân giai nhân” vĩnh thệ một hôn ước mới, và hôn ước ấy được ký bằng chính Máu thánh của Ngài. Tân giai nhân, người đã kết hiệp với Chúa Giêsu, cũng trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài trong mọi sự và nhất là đồng tế lễ đời mình với lễ tế thập giá của người mình yêu mến trên thập giá của mình mỗi ngày. Việc tế lễ ấy, mỗi người một cách theo như phân định của Thánh Thần theo ơn gọi của Thiên Chúa Cha. Vì thế  “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (1 Cr 12, 4-7).
Vâng “chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người”. Chính Chúa là căn tính duy nhất, là mối dây duy nhất mở đường cho lòng  thủy chung của một hôn ước thánh thiện giữa Chúa Kitô và Hội Thánh Người, giữa mỗi thành phần, mỗi nhiệm thể, trong cùng một nhiêm thể.
Bài Tin Mừng đề cập đến cuộc hôn nhân kỳ diệu thứ ba: cuộc hôn nhân của nam nữ. Chúa Giêsu hiện diện trong bữa tiệc cưới tại Cana. Và chính trong tiệc cưới nầy mạc khải cho chúng ta nhiều điều quí giá:
-Sự hiện diện của Chúa làm cho hôn nhân tự nhiên nâng lên hàng bí tích.  Vì hôn nhân công giáo không được phép dừng lại ở cấp độ tự nhiên, nhưng phải được Chúa chúc phúc, chúa ban ân sủng thì hôn nhân tự nhiên ấy mới duy nhất, bền vững- theo nghĩa đơn hôn và vĩnh hôn của giáo lý dạy. Ân sủng Chúa  ban là việc Chúa biến nước lã thành rượu ngon, Chúa biến những ngày nhạt nhẻo thành nồng ấm, Chúa biến những âu lo thành nỗi vui mừng, Chúa biến những chán chường thất vọng thành hoan lạc hy vọng… Có Chúa trong đời sống hôn nhân công giáo, có thể nói là có bình an và hạnh phúc. Vì thế, hãy giữ Chúa Giêsu luôn tham dự tiệc cưới của mình, bữa tiệc cả đời người.
-Nước lã thành Rượu ngon trong hôn phối của Chúa Kitô và Hội Thánh Người là chính chén rượu nho trở thành Máu Thánh Chúa Giêsu. Kết hiệp với Chúa Giêsu qua việc rước lấy Mình Thánh, Máu Thánh Ngài, làm cho cuộc hôn nhân của Chúa Kitô và Hội Thánh Ngài luôn luôn tràn đầy sức sống, và cũng là sức sống riêng cho mỗi tâm hồn.
-Luôn có sự hiện diện của Mẹ Maria trong cuộc hôn phối của mỗi người với Thiên Chúa, với Hội Thánh và với đời sống gia đình. Mẹ luôn quan tâm, nhạy cảm đến đời sống tâm linh cũng như vật chất của mỗi người, và  nơi nào, lúc nào mẹ cũng nhắc nhở chúng ta tuân giữ lời Chúa dạy “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. (Ga 2,5)
-Ơn Chúa làm cho tất cả các cuộc hôn phối đều sống chung thủy với lời kết ước. Chung thủy với Bí tích rửa tội, chung thủy với Hội Thánh và chung thủy trong đời sống vợ chồng. Việc chung thủy ấy bao gồm cả việc lớn nhỏ, trong không gian, thời gian.
Đem bài học Lời Chúa hôm nay vào cuộc sống, tôi nhớ câu chuyện nhỏ:
Một cháu bé hỏi bà:
-Bà ơi, sao suốt đời bà chỉ là một gánh chè thuộc lòng những đường dài lối tắt, những ngỏ hẻm hang cùng…. 
-Bà đã hôn phối với gánh chè nầy rồi con ạ. Thấy nhỏ bé thế đấy, mà nhờ chung thủy với nó, nó đã giúp bà chung thủy với chồng con,với giang sơn nhà chồng đấy con ạ.
Vâng tình yêu hôn phối của chúng ta đối với tình yêu Thiên Chúa, tình yêu Chúa Giêsu, tình yêu Hội Thánh, tình yêu hôn nhân vợ chồng cũng đòi buộc chúng ta ‘trung tín trong từng việc nhỏ như vậy”.
Thảo nào, có người thích nói đùa, “tôi đã hôn phối với vợ tôi, hôn phối luôn với chiếc răng khểnh của nàng”.
Nếu hiểu hôn phối là chung thủy, theo