Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 TN-C Bài 1-50

Thứ tư - 30/01/2019 10:18
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 TN-C Bài 1-50: Ngôn Sứ không được chấp nhận nơi quê hương
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 TN-C Bài 1-50: Ngôn Sứ không được chấp nhận nơi quê hương
TN 4-C Phần I Bài 1-50: Ngôn Sứ không được chấp nhận nơi quê hương
TN4-C1. CON CÁI TRONG NHÀ.. 2
TN4-C2. PV/376- NÓI TỐT.. 3
TN4-C3. PV/378- LOẠI BỎ.. 5
TN4-C4. PV/380- ĐỨC MẾN.. 6
TN4-C5. NTGT/55- SỨ VỤ.. 8
TN4-C6. CSTM/52- ÂN HUE.. 10
TN4-C7. HRK/48- THÀNH KIẾN.. 12
TN4-C8. SCĐ/463- KIÊN VỮNG VÀ DỊU HIỀN.. 13
TN4-C9. SCĐ/468- TIN YÊU.. 14
TN4-C10. NGƯỜI TỐT THÌ KHÓ TÌM... 15
TN4-C11. Không được chấp nhận. 17
TN4-C12. CHI TIẾT HAY Nhóm Đồng Hành. 19
TN4-C13. Đồng hương chối từ - Lm. Đan Vinh. 20
TN4-C14. Ngôn sứ thời nay - Phaolô Ngô Suốt 23
TN4-C15. LÀM NGÔN SỨ LÀ LUÔN PHẢI CHỊU PHẦN THIỆT.. 25
TN4-C16. NGƯỜI ĐẾN NHÀ MÌNH, 27
TN4-C17. CÓ BAO GIỜ CHÍNH NGƯỜI KITÔ HỮU.. 29
TN4-C18. Tiên tri không được đón tiếp tại quê nhà - Lm Trần Bình Trọng. 32
TN4-C19.  SUY NIỆM - Anrê Nguyễn hữu Nghĩa. 33
TN4-C20. GHEN TỊ - Br. Phillip Bình Khả, CMC.. 36
TN4-C21. SUY NIỆM - Lm Augustine Nguyễn Huy Tưởng. 39
TN4-C22. LÒNG NGƯỜI THAY TRẮNG ĐỔI ĐEN - Lm Damien OFM... 40
TN4-C23. THỜI ĐIỂM ĐIỆU VŨ CỦA MAI -  Lm Trần Cao Tường. 42
TN4-C24. ĐỨC MẾN - Lm. Linh Tiến Khải 45
TN4-C25. TIÊN TRI - Lm. Giuse Nguyễn Thanh Sơn, DCCT.. 48
TN4-C26. ĐƯỢC KÊU GỌI LÀM NHỮNG VÌ SAO - Mark Link S.J. 49
TN4-C27. BÁC ÁI THÌ NHÂN HẬU.. 51
TN4-C28. Vai trò tiên tri - Pt. Huyền Đồng. 52
TN4-C29. Tin mừng cho mọi người - Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn. 55
TN4-C30. Đồng hương chối từ - Lm. Đan Vinh. 58
TN4-C31. Làm ngôn sứ là luôn phải chịu phần thiệt về mình. 65
TN4-C32. TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG.. 69
TN4-C33. CẢI THIỆN VÀ ĐỔI ĐỜI 71
TN4-C34. TIN HAY KHÔNG TIN.. 73
TN4-C35. ĐỨC GIÊSU - LỜI THIÊN CHÚA.. 76
TN4-C36. Đức Giêsu, con bác Giuse thợ mộc bị chối từ. 78
TN4-C37. Khiêm nhường để khám phá sự thật 80
TN4-C38. Khiêm nhường và yêu thương. 83
TN4-C39. Vượt trên mọi chia rẽ và thử thách. 87
TN4-C40. RAO GIẢNG TẠI NAZARET THẤT BẠI 92
TN4-C41. Chúa nhựt 4. 99
TN4-C42. CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN.. 101
TN4-C43. PHẢN ỨNG CỦA HỘI ĐƯỜNG.. 104
TN4-C44. Cánh cửa khép kín. 109
TN4-C45. Mở rộng tâm trí 110
TN4-C46. Loại trừ Chúa Giêsu chăng?. 111
TN4-C47. SỐ PHẬN CỦA NGÔN SỨ.. 113
TN4-C48. Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt. 114
TN4-C49. Mở rộng tâm trí 115
TN4-C50. Để yêu như Đức Kitô yêu - Charles E. Miller 116

 

TN4-C1. CON CÁI TRONG NHÀ

Đọc lại Kinh thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa đã xác quyết : - Tư tưởng và đường nẻo của Ta TN4-C1

Đọc lại Kinh thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa đã xác quyết :
- Tư tưởng và đường nẻo của Ta không giống với tư tưởng và đường nẻo của các ngươi. Như trời cao hơn đất bao nhiêu, thì tư tưởng và đường nẻo của Ta cũng cao hơn tư tưởng và đường nẻo của các ngươi bấy nhiêu.
Thực vậy, trong cuộc sống chúng ta thường yêu thương những người thân cận và đặc biệt là con cái trong nhà. Còn Thiên Chúa thì chưa hẳn đã là như vậy, bởi vì Ngài vừa là Đấng giàu lòng thương xót, lại vừa là Đấng rất mực công bằng và ngay thẳng.
Qua đoạn Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa ra hai trường hợp để chứng minh sự thật trên.
Trường hợp thứ nhất, đó là là khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng dưới thời tiên tri Elia khiến cho các dân nước lâm vào cảnh đói kém. Lúc bấy giờ trong Israel không thiếu gì những bà góa, thế nhưng Thiên Chúa không sai tiên tri Elia đến giúp cho một bà góa nào cả, mà chỉ sai đến giúp cho bà góa tại Sarepta mà thôi.
Trường hợp thứ hai đó là dưới thời tiên tri Elisê, trong dân Israel không thiếu gì những người phong cùi, thế nhưng chẳng một ai trong bọn họ được tiên tri Elisê chữa lành, mà chỉ có một mình tướng Naaman, người Syria mà thôi.
Từ đó, chúng ta có thể kết luận :
- Không phải cứ là người Do Thái, không phải cứ là người thuộc về dân riêng của Chúa thì sẽ được Chúa yêu thương và chúc phúc.
Sự thật này còn được chứng tỏ rất nhiều lần trong Phúc âm. Thực vậy, rất nhiều lần Chúa đã lên tiếng khen ngợi lòng tin của những người ngoại giáo và Ngài còn xác quyết mạnh mẽ hơn nữa khi nói :
- Những kẻ tội lỗi, thu thuế và gái điếm sẽ được vào Nước Trời, còn con cái trong nhà thì sẽ bị đuổi ra ngoài.
Đoạn Tin mừng hôm nay cũng cho thấy : Chúa Giêsu đã không làm một phép lạ nào cho dân làng Nagiarét, những người thân cận và đồng hương với Ngài, như đã từng làm ở những nơi khác, chỉ vì họ cứng lòng tin.
Vì thế, không phải cứ là bà con họ hàng với Chúa mà dành được từ những ưu đãi này đến những ưu đãi khác. Chính Chúa Giêsu có lần cũng đã nói :
- Thiên Chúa có thể biến những hòn đá này trở nên con cháu Abraham.
Lần khác Ngài cũng đã xác quyết :
- Mẹ Ta và anh em Ta chính là những người biết lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.
Với chúng ta cũng vậy. Chúng ta vốn tự hào vì mình là người đạo dòng, đạo gốc. Chúng ta vốn hãnh diện vì mình đã được lãnh nhận bí tích Rửa tội cũng như đã tin vào Chúa từ hồi còn tấm bé. Và chúng ta yên trí rằng : chắc chắn mình sẽ được cứu rỗi.
Nếu quả thực đã nghĩ như vậy, thì chúng ta đã lầm to. Có tên trong sổ sách của giáo xứ, có giấy chứng nhận đã chịu phép Rửa tội mà thôi cũng chưa chắc là sẽ chiếm lấy được phần thưởng Nước Trời, bởi vì trong ngày sau hết rất có thể con cái trong nhà sẽ bị loại ra ngoài.
Bởi đó, cách thức bảo đảm nhất để chiếm lấy niềm hạnh phúc vĩnh cửu, đó là hãy tuân giữ lời Chúa, hãy thực thi những điều Ngài truyền dạy, nhất là giới luật yêu thương, như Ngài đã từng nói :
 
  • Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thày, là các con yêu thương nhau.
  •  

TN4-C2. PV/376- NÓI TỐT

Khi Đức Giêsu trở lại quê hương Nagiarét ; người ta đã mời Ngài giảng dạy ở hội đường. Phản: TN4-C2

Khi Đức Giêsu trở lại quê hương Nagiarét ; người ta đã mời Ngài giảng dạy ở hội đường. Phản ứng đầu tiên của họ đối với Ngài hết sức thuận lợi. Họ ngạc nhiên về những lời nhân từ của Ngài. Tuy nhiên, sự thán phục của họ chẳng bao lâu đã đổi thành nghi ngờ và kế đó là thù hận. Có lầm lẫn nào đã xảy ra.
Họ vẫn còn coi Ngài chỉ là con ông Giuse. Và họ cảm thấy rằng nếu Ngài có điều gì ban phát thì những người đồng hương như họ phải được hưởng trước tiên. Không hề bày tỏ một niềm tin chân thật vào Ngài, họ yêu cầu Ngài thực hiện ở Nagiarét một số phép lạ mà họ thấy Ngài đã làm ở nơi khác – dù sao, bác ái phải bắt đầu ở tại nhà mình. Họ cảm thấy họ có quyền thiêng liêng được hưởng những ơn của Ngài trước tiên.
Nhưng Ngài đã nói bất kể anh em là ai, điều quan trọng là anh em có đức tin hay không. Không có chỗ trong vương quốc của Thiên Chúa cho những kẻ có đặc quyền. Bác ái của Thiên Chúa bắt đầu ở bất cứ nơi nào mà con người đang cần, và đức tin là điều kiện để nhận lãnh nó. Đức Giêsu đã cho hai ví dụ – cứu chữa cho bà góa ở Xadépta và cho ông Naaman, và cả hai người này đều là dân ngoại. Khi nghe những ơn huệ mà họ đã từ khước (vì thiếu niềm tin vào Đức Giêsu) sẽ được ban cho dân ngoại, người dân Nagiarét đã phẫn nộ. Là những người Do thái, họ là dân Thiên Chúa. Những người khác đều là những kẻ bên lề và tội lỗi. Làm sao Đức Giêsu lại dám cho rằng dân ngoại sẽ được ưa thích hơn họ. Trong sự bùng phát nhiệt tình của chủ nghĩa dân tộc, họ quay lưng với Ngài. Họ đưa Ngài ra khỏi hội đường, và tìm cách thủ tiêu Ngài. Tại sao họ đã quay ra phẫn nộ với Ngài như thế ? Bởi vì những điều Ngài đã nói. Đó là lý do đầu tiên. Nhưng có một lý do sâu xa hơn. Đó là vì Ngài đã nói ra những điều xấu xa nằm ẩn kín trong lòng họ. Nếu bạn khuấy nước ao tù lên một lớp bùn sẽ nổi lên trên mặt nước. Điều đáng tiếc là đôi khi tôn giáo làm lộ rõ điều xấu nhất trong lòng người. Điều này làm cho họ trở nên hẹp hòi hơn, mù quáng hơn và có khả năng thù ghét và giết chóc hơn. Chúng ta thấy một gương xấu của điều đó trong những người dân Nagiarét. Nhưng những sự việc như thế vẫn còn xảy ra. Tôn giáo có thể bị bóp méo và trở thành một điều ghê tởm như cuồng tín và mù quáng. Tôn giáo trở thành đồng nghĩa với tâm lý hẹp hòi, nhỏ nhen và không dung thứ.
Nhưng tôn giáo cũng có thể nói lên điều tốt nhất trong con người. Nó làm cho họ trở nên bao dung và có lòng yêu thương hơn. Tôn giáo chân thật giải phóng tâm hồn và trí tuệ con người, và nuôi dưỡng những mối quan hệ hài hòa với những người khác. Tôn giáo có như thế mới tốt đẹp. Mỗi người trong chúng ta phải tự hỏi : “Tôn giáo thể hiện điều gì nơi tôi ?” Có một dây liên kết chủ yếu giữa đức tin và tình yêu, hay đức mến. Thánh Phaolô nói : “Đức tin, đức cậy, đức mến cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến”. (Bài đọc 2) Có đức tin và đức cậy để làm gì nếu chúng ta thiếu lòng yêu mến ?

 

TN4-C3. PV/378- LOẠI BỎ

Sau nhiều năm rời bỏ ngôi làng nơi ông đã chào đời ở Transkei, Nelson Mandela đã trở về: TN4-C3

Sau nhiều năm rời bỏ ngôi làng nơi ông đã chào đời ở Transkei, Nelson Mandela đã trở về thăm quê hương. Lúc bấy giờ ông đã là một luật sư và sống ở Johannesburg. Sau này ông đã viết về cuộc thăm viếng đó : “Không có gì giống như khi ta trở về một nơi vẫn không thay đổi để tìm lại những con đường trong đó chính bạn đã đổi thay. Chốn cũ tiếp tục như trước đây, không đổi khác với khi tôi lớn lên ở đó. Nhưng tôi nhận ra rằng quan điểm của tôi và thế giới quan của tôi đã tiến triển”. Thật vậy, ông đã nói điều đó đúng lúc ông trở về quê hương, ông không thể sống ở đó nữa – nó trở nên quá nhỏ đối với ông.
Đức Giêsu đã trở lại Nagiarét và với dân làng. Ngài đã lớn lên ở giữa họ. Người cũng muốn đem lại cho họ những  ơn ích của Người. Họ là những người biết rõ Người. Hẳn bạn nghĩ rằng họ sẽ đánh giá Người cao nhất. Đáng buồn là họ không tin Người.
Quang cảnh mà bạn có về một nhà thờ lớn thì một khoảng cách rất khác với quang cảnh khi bạn ở thật gần. Từ một khoảng cách, ngôi nhà thờ đứng rực rỡ trong khung cảnh xung quanh. Bạn có thể nhìn thấy những đường nét, hình thể và vẻ đẹp của nó. Nhưng khi ở thật gần, bạn thấy toàn là bụi bẩn và rạn nứt.
Một điều tương tự xảy ra với người ta. Một người không bao giờ là một anh hùng với những người thân. Một thiên tài dường như không được chính bạn bè mình khám phá. Những người ở gần phải chịu đựng vì các khuyết điểm và giới hạn quá rõ ràng. Những người ở xa, trái lại, được sự quí trọng cổ vũ vì chỉ những đức hạnh của người ấy được thấy rõ.
Nhưng điều đã xảy ra với Đức Giêsu ở Nagiarét còn sâu xa hơn thế. Không phải chỉ vì họ không đánh giá đúng Đức Giêsu. Họ khước từ Người. Tại sao ? Bởi vì Người đã chỉ ra sự thiếu đức tin của họ và nói với họ rằng dân ngoại còn cởi mở với Thiên Chúa hơn họ. Những ơn ích từ lời hứa trong giao ước không có ý nghĩa là tất cả.
Đức Giêsu đã chịu đựng số phận của mọi ngôn sứ – bị dân của Người khước từ. Lời ngôn sứ không phải để làm vui lòng người ta, nhưng để nói lên sự thật mà người ta không muốn nghe, sự thật mà người ta thường che đậy. Nhưng động lực khiến Đức Giêsu nói lên sự thật là lòng thương xót của Người.
Người phải làm gì ? Hẳn Người có thể nói : “Tôi đã chán họ! Tôi đã chán mọi người. Vì vậy tôi sẽ rút lui vào một cái lều trong rừng và để cho cỏ dại mọc quanh trên mặt đất”.
Hoặc Người có thể nói : “Họ muốn gì nào ?” Và khi đã tìm ra điều họ muốn, Người có thể xúc tiến cho họ điều đó. Nhưng trong trường hợp này, ơn đặc biệt mà Người muốn cho họ và họ hết sức cần sẽ bị bỏ mất.
Sau cùng, Người có thể cố gắng tìm ra một số ít người sẵn sàng đón nhận điều Người muốn cho họ. Nếu Người tìm được ít người đó, Người có thể cho họ điều đó tùy theo khả năng họ đón nhận. Đó là điều Người đã chọn để thực hiện.
Bị những người thân quen của mình khước từ là một việc tổn thương sâu sắc. Đức Giêsu đã đau buồn bởi những điều xảy đến với Người ở Nagiarét, nhưng Người đã không trở nên cay cú và chôn vùi những ân huệ của Người. Người làm điều Người có thể làm cho những kẻ đã tin Người ở Nagiarét, và rồi Người mang những ân huệ của Người đi nơi khác.

 

TN4-C4. PV/380- ĐỨC MẾN

Có một dây liên kết giữa đức tin và đức mến. Có một câu chuyện minh họa cho điều ấy nói về: TN4-C4

Có một dây liên kết giữa đức tin và đức mến. Có một câu chuyện minh họa cho điều ấy nói về George Herbert, một thi sĩ Anh quốc, một linh mục và nhạc sĩ nghiệp dư. Một ngày nọ, trên đường đi đến một buổi họp về nhạc với một số bạn bè, ông gặp một người nghèo bị ngã ngựa. Cả hai, người và ngựa lâm vào cảnh hiểm nghèo và cần gấp sự giúp đỡ.
Herbert cởi áo dài tu sĩ và giúp cho người ấy ra khỏi lưng ngựa và đứng dậy trước khi lên ngựa trở lại. Rồi ông cho người nghèo ấy một món tiền để mua nước giải khát cho cả người và ngựa. Sau đó, ông lại tiếp tục cuộc hẹn gặp bạn bè.
Dĩ nhiên, ông đã giữ cho mình rất sạch sẽ và chỉnh tề. Vì thế khi ông quay lại với đôi tay bẩn và áo quần dính đầy đất, các bạn ông kinh ngạc. Nhưng khi ông nói với họ về nguyên nhân của điều đó, một người bạn tỏ ý không tán thành việc ông để mình liên lụy vào một việc dơ bẩn như thế.
Nhưng ông đáp : “Suy nghĩ về điều tôi đã làm sẽ giống như âm nhạc đến với tôi lúc nửa đêm. Nếu bỏ đi nó sẽ tạo ra sự bất hòa trong ý thức của tôi. Bởi vì nếu tôi bắt buộc phải cầu nguyện cho mọi người trong cơn hoạn nạn, thì chắc chắn rằng tôi bắt buộc phải đi xa hơn là thực hành những gì tôi cầu nguyện”. Rồi ông nói tiếp : “Giờ đây, chúng ta so dây đàn đi”.
Trong bài đọc 2 hôm nay, thánh Phaolô cho chúng ta một mô tả đẹp nhất về đức mến từ trước tới nay. Ngày nay tình yêu (đức mến) là từ ngữ được dùng nhiều nhất. Nhưng điều mà nền văn hóa chúng ta gọi là tình yêu trong các bản nhạc và phim ảnh thường không có gì là tình yêu cả, nó là sự đối lập của tình yêu. Nó chỉ là ước muốn làm chủ hoặc chiếm hữu.
Ngày nay có nhiều người hoài nghi về sự hiện hữu của tình yêu chân chính. Họ không tin có lòng nhân ái nào mà không bị hoen ố bởi tư lợi. Một lý do của điều ấy là ngày nay chúng ta có sự hiểu biết tốt hơn về tính chất phức tạp trong bản chất con người và sự pha tạp của nhiều động lực đàng sau mỗi việc chúng ta làm.
Thánh Phaolô hiểu rõ những động lực pha tạp đàng sau những việc người ta làm. Ông hiểu người ta có thể thực hiện những hy sinh to lớn như thế nào, dù rằng những hy sinh không có giá trị bởi vì những động lực để thực hiện chúng đều do tư lợi.
Nhưng thánh nhân vẫn tin vào khả hữu của đức yêu thương và đó là trung tâm điểm của người Kitô hữu. Điều mà ông đề nghị trong sự mô tả đức yêu thương rõ ràng là một lý tưởng. Một lý tưởng giống như một ngôi sao. Dù chúng ta không bao giờ có thể đạt đến, nó vẫn luôn hướng dẫn chúng ta. Nhưng điểm chính yếu mà thánh Phaolô đưa ra là sự ưu tiên của đức yêu thương trong đời sống của một Kitô hữu. Chúng ta phải sẵn sàng cố sức thực hiện. Nhưng chúng ta cũng phải sẵn sàng chấp nhận sự yếu đuối và thất bại của chúng ta mà không tức giận và thất vọng.
Khi được đức yêu thương chiếm hữu, người ta sẽ được tràn đầy quyền năng mà người ta không thể từ chối, đó là quyền năng làm bất cứ việc gì, đương đầu với bất cứ điều gì, chịu đựng bất cứ việc gì cho con người hoặc sự việc mà người ta yêu mến.
Yêu thương, nhân từ, bác ái, làm việc vì người khác – đó là những phẩm chất chủ yếu. Đức yêu thương không bao giờ phai tàn ! Những sự việc khác phai nhạt và qua đi, nhưng đức yêu thương tồn tại mãi. Nếu một người yêu thương thật sự thì người ấy cũng có được mọi nhân đức khác.
Đức tin, đức cậy và đức yêu thương (đức mến) là ba nhân đức lớn. Chúng còn mãi nhưng lớn nhất là đức yêu thương. Mọi sự việc qua đi, nhưng lời nói yêu thương, việc làm yêu thương không bao giờ qua đi.

 

TN4-C5. NTGT/55- SỨ VỤ

Người xưa thường nói : “Vạn sự khởi đầu nan”. Điều này cũng đã xảy ra ngay khi Chúa Giêsu: TN4-C5

Người xưa thường nói : “Vạn sự khởi đầu nan”. Điều này cũng đã xảy ra ngay khi Chúa Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng công khai của Người tại hội đường Nagiarét, nơi sinh trưởng của Người. Thành công vừa mới chớm nở, thì khó khăn, thử thách, không mời đã chợt ập đến, không chịu uốn mình chiều theo những toan tính vị kỷ của những người đồng hương, Chúa Giêsu đã bị chống đối khước từ, thậm chí họ muốn thủ tiêu Người. Dẫu sao, Chúa vẫn dũng mạnh thi hành sứ vụ của Người bằng một trái tim rộng mở, luôn đập những nhịp đập của yêu thương.
Thánh Luca đã ghi lại trong Tin Mừng hôm nay. Sau khi nghe Chúa Giêsu đọc và giải thích đoạn sách của tiên tri Isaia, những người trong hội đường xì xầm với nhau : “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao ? “. Có lẽ, câu nói này không diễn tả một thái độ nghi ngờ, trần tục hóa sự thiêng liêng cao cả của Đức Giêsu, bởi vì họ vừa mới chăm chú lắng nghe và thán phục những lời thốt ra từ miệng Người. Đúng hơn, câu nói đó như diễn tả một sự toan tính đầy ích kỷ, tư lợi của những người đồng hương với Chúa. Họ mang một tâm tính vốn rất thường gặp ở đời : “Một người làm quan cả họ được nhờ”. Nếu người này là con ông Giuse, bây giờ trở thành tiên tri và làm được các phép lạ, vậy tại sao chúng ta lại không lợi dụng địa vị đó để mưu ích cho thôn xóm, bản làng của mình. Câu ngạn ngữ Chúa Giêsu trưng dẫn để nói với họ : “Thầy lang ơi ! Hãy chữa lấy mình” cho thấy, họ muốn Chúa hãy làm cho họ hưởng các phép lạ trước rồi sau đó mới cho người khác được hưởng. Họ muốn đưa ra một tối hậu thư bi đát ép Chúa phải phục vụ họ trước. Vậy Chúa Giêsu đã xử trí thế nào trước thái độ hẹp hòi của họ.
Biết rõ đầu óc cục bộ địa phương, còn nhiều ganh tỵ, mang đậm tính mầu cờ sắc áo Nazareth của những người đồng hương như thế, Chúa Giêsu muốn từ chối ràng buộc ơn cứu độ của Người trong mối liên hệ máu mủ thân quen nên Người đã nói rõ ý định của Người : “Tôi bảo thật các ông, không một tiên tri nào được chấp nhận tại quê hương mình”. Nghĩa là, vị tiên tri không có tình cảm ưu ái với những người đồng hương hơn những người xa lạ. Chúa đã trưng dẫn hai vị tiên tri lớn trong Cựu ước là Elia và Elisa đã có những hoạt động vượt ra ngoài ranh giới tôn giáo cũng như lãnh thổ, để từ chối không ban cho những người Nazareth, mà cả dân tộc Israel độc quyền chiếm hữu ơn cứu độ. Ý thức mình là dân riêng Chúa chọn, nên người Do thái không thể tưởng tượng được một Đấng Cứu thế được Thiên Chúa sai đến lại lưu tâm đến dân ngoại là người tội lỗi, hơn là ghé mắt chiếu cố đến họ. Chính điều này đã khiến họ tức giận. Họ lôi Người ra khỏi thành và xô Người xuống vực. Tuy nhiên, thánh Luca đã ghi lại : “Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi”. Nghĩa là, Chúa vẫn bình tĩnh thi hành sứ vụ trước thái độ “được ăn cả, ngã về không” hay “không ăn được thì đạp đổ” của họ.
Thái độ hẹp hòi của người Nazareth và phản ứng của Chúa Giêsu như thế có giúp chúng ta rút ra bài học gì cho cuộc sống hôm nay không ?
Trong cuộc sống, người tín hữu nếu không tỉnh thức, không xét mình đấm ngực hằng ngày và không thắp lên trong tim ngọn lửa truyền giáo sẽ dễ trượt theo “vết xe đổ” của những người Do thái thời xưa.
Tự hào mình thuộc dòng dõi đạo gốc lâu đời, được rửa tội, được hưởng nền giáo dục và đời sống ơn thánh, dễ làm cho người Công giáo có cảm tưởng, Thiên Chúa thuộc về người Công giáo và phục vụ cho người Công giáo. Và điều này dễ dẫn đến khuynh hướng đóng khung giam hãm Thiên Chúa để độc quyền chiếm hữu Chúa Kitô và ơn cứu độ của Người hơn là chia sẻ cho những anh em chưa được biết Chúa.
Có thể nói khuynh hướng này là “Tội thứ nhất, tội của những người được soi sáng mà không sáng tỏa ra. Họ biết ý nghĩa của cuộc sống, biết hướng đi, biết những điểm có nước, những trạm có xăng dầu nhưng họ không chỉ dẫn cho ai”. Thế nên, thay vì là những rào cản, sẽ tốt hơn, đẹp hơn, ý nghĩa hơn nếu mỗi người trở nên những nhịp cầu dẫn đưa người khác đến với Chúa. Đừng vô tình tự nguyện biến mình thành một trở lực, nhưng hãy cố tình biến đổi thành một trợ lực cho tha nhân.
Một nhà thần học rất nổi tiếng người Đức là cha Karl Rahner có một ý tưởng rất đáng cho chúng ta lưu ý. Ngài nói : “Một cách nào đó, tất cả chúng ta đều là những Kitô hữu ngoại đạo ; trong số những người Công giáo, không phải tất cả đều thực sự là con cái của Nước Trời. Bao nhiêu kẻ xem ra ở bên ngoài thực sự lại ở trong, còn những người bẩm sinh là công dân Nước Trời thì sẽ bị ném vào nơi tối tăm dầy đặc”.
Vì thế, sứ mạng loan báo Tin Mừng đòi hỏi chúng ta phải cố gắng khám phá “những người ngoại có tâm hồn Kitô hữu”. Họ là những người ở gần Thiên Chúa mà không hay biết. Họ bị bóng tối vị kỷ của chúng ta làm che mất ánh sáng. Tuy nhiên, không thể có tâm hồn truyền giáo nếu không có đức ái. Không phải vô tình mà thánh Phaolô đã dùng tới 10 lần chữ “đức ái” trong bài đọc 2 để nhấn mạnh đức ái là nhân đức tuyệt đối cần và quí trọng nhất. Người loan báo Tin Mừng cần phải có và cầu xin hơn cả, vì đây chính là con đường hoàn hảo.
Có lẽ là không quá cường điệu khi nhà bác học Pascal nói rằng : “Tất cả mọi vật chất gộp chung lại, cộng với tất cả mọi tinh thần gộp chung lại, cộng với tất cả mọi sản phẩm của hai thứ đó gộp chung lại, cũng không có giá trị bằng một chút bác ái. Đó là một trật tự khác hẳn, vô cùng cao cả hơn”.
Ước chi “vết đen” của những người Nazareth thời xưa không lập lại và trở thành “phách mạnh” trong đời sống chúng ta, nhưng chớ gì tấm gương đời sống của Chúa hôm nay giúp chúng ta ý thức và mở lòng mình ra trước sứ vụ truyền giáo, dẫu có gặp khó khăn thử thách, thậm chí là chống đối bách hại, vẫn kiên trì và dũng mạnh thi hành sứ vụ bằng một trái tim chan chứa tình yêu như Ngài, trong Ngài và nhờ Ngài.

 

TN4-C6. CSTM/52- ÂN HUE

Đoạn Tin Mừng hôm nay tiếp liền đoạn Tin Mừng Chúa nhật tuần trước, kể lại diễn tiến buổi: TN4-C6

Đoạn Tin Mừng hôm nay tiếp liền đoạn Tin Mừng Chúa nhật tuần trước, kể lại diễn tiến buổi thuyết giảng của Chúa Giêsu trong hội đường Nagiaret. Thánh Luca, tác giả đoạn Tin Mừng này chỉ kể lại việc Chúa Giêsu đọc sách thánh và câu mở đầu bài giảng của Chúa : “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quí vị vừa nghe”. Rồi ngừng lại ở đây, không cho biết thêm Chúa Giêsu đã giảng dạy những gì ngày hôm ấy, để nói về phản ứng của những người nghe : “Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người”. Thái độ này diễn tả một sự cảm phục, sung sướng, đồng thời nhận rằng những điều họ đang nghe vượt khỏi sự chờ đợi, tức là họ không ngờ rằng : Người đang nói với họ thông điệp ân sủng của Thiên Chúa lại chính là người làng của họ, người mà ngôn sứ Isaia loan báo lại chính là con ông Giuse và bà Maria ở làng họ.
Nhưng Chúa Giêsu không muốn cho niềm thích thú bất ngờ này trở thành một thái độ ích kỷ, muốn nhân danh tư cách đồng hương để đòi hỏi, chiếm lãnh cho mình quyền hưởng thụ ân huệ của Đấng Mêsia. Chúa Giêsu phanh phui tâm địa của họ : “Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ : “Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình !”, ý các ông muốn bảo tôi : Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Capharnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào !”. Qua lời phanh phui của Chúa Giêsu cho chúng ta hiểu tâm trạng của dân làng Nagiarét là muốn đòi quyền ưu tiên hưởng những ân huệ Chúa mang đến. Vì thế, Chúa đưa ra hai thí dụ trong Cựu ước  để từ chối không thỏa mãn yêu sách đó. Thí dụ thứ nhất xảy ra thời ngôn sứ Elia, khi trời hạn hán, ông Elia chẳng được Thiên Chúa sai đến với người đàn bà góa nào trong dân Israel, nhưng chỉ được sai đến xứ Xiđôn, đến với một bà góa ở Xarépta. Thí dụ thứ hai xảy ra thời ngôn sứ Elisa, có nhiều người phong hủi tại Israel, nhưng chẳng ai được lành sạch, chỉ có ông Naaman, người xứ Xyri.
Chúa Giêsu nhấn mạnh đến sự tự do của Thiên Chúa khi ban ơn, và vai trò của ngôn sứ là người được Thiên Chúa dùng để ban ơn. Thiên Chúa sai các ngôn sứ Elia và Elisa đem ân huệ của Ngài cho người ngoại giáo. Đối chiếu lại trường hợp Chúa Giêsu, Chúa được sai đến làm phép lạ ở Capharnaum chứ không phải ở Nagiarét. Như thế, qua hai thí dụ rút từ Cựu ước, Chúa Giêsu muốn bảo cho dân làng thấy tính phổ quát của ơn cứu độ. Chúa được sai đến không phải để cứu riêng người Do thái mà là cứu tất cả mọi người. Phản ứng cuối cùng của thính giả là sự công phẫn tột độ. Họ đứng dậy, xô Chúa Giêsu ra ngoài, đẩy Ngài lên đồi, để xô Ngài xuống vực thẳm cho chết đi. Nhưng Chúa Giêsu ngang qua giữa họ mà tiếp tục con đường của Ngài. Con đường của Ngài phải đưa Ngài tới Giêrusalem. Trên con đường ấy Ngài tiếp tục bị người Do thái xô đẩy, và cuối cùng họ xô được Ngài lên thập giá trên đồi Gôngôtha, xô được Ngài xuống mồ. Nhưng Ngài lại chỗi dậy từ trong cõi chết và tiếp tục con đường của Ngài : Ngài đem ơn cứu độ đến cho muôn dân. Ngài sai các môn đệ của Ngài tiếp tục con đường : đi làm chứng cho Ngài đến tận cùng mặt đất.
Từ chối hay đón nhận Chúa là những thái độ hoàn toàn tự do của con người. Người ta có quyền chối bỏ hay có quyền chấp nhận. Thiên Chúa không áp đặt ai hay cố tình đưa họ vào một thế triệt buộc nào đó. Nhưng thời nào cái quyền tự do kia cũng là con dao hai lưỡi khiến phải đề phòng. Kẻ khôn ngoan bao giờ cũng dè dặt. Giả như chúng ta thử đặt mình vào số những người có mặt trong hội đường Nagiarét ấy để nghe Chúa Giêsu, chúng ta sẽ phản ứng thế nào ? Người bên tả, kẻ bên hữu tôi sao vội vàng đến nóng nảy như vậy trước câu Kinh Thánh và những lời chú giải tuyệt mỹ xuất phát từ miệng Chúa. Chúa đã lặp lại lời ngôn sứ Isaia, một vị ngôn sứ được kính trọng nhất của niềm hy vọng Israel, rồi Ngài đã bình giảng những lời đó. Nhưng sau khi nghe, mọi người trong hội đường đều đầy căm phẫn, trục xuất Ngài và muốn giết Ngài. Chứng kiến cảnh tượng ấy chúng ta có quyền trách họ vội nóng, hay tiếc thay cho họ bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng. Nhưng nếu suy nghĩ kỹ, chúng ta sẽ tự trách mình và còn tiếc xót biết bao cơ may trong đời chúng ta đã đánh mất.
Chúa muốn chúng ta trở về với đời sống cụ thể của mình để nhận ra những ơn cao cả Chúa ban cho chúng ta. Phải nhận ra mình được yêu thương, cũng như phải yêu thương đáp trả. Chúng ta hãy nhớ lại biết bao hồng ân đã lãnh nhận để tạ ơn Chúa và cố gắng sống tốt hơn với những hồng ân ấy.

 

TN4-C7. HRK/48- THÀNH KIẾN

Với thành kiến sẵn có đối với những người da đen,bà Anna cho họ là những kẻ lười biếng, trộm: TN4-C7

Với thành kiến sẵn có đối với những người da đen,bà Anna cho họ là những kẻ lười biếng, trộm cắp, nghiện ngập, độc ác và giết người không gớm tay. Bà luôn lưu ý những nơi mình đi qua và mỗi lần thấy bóng dáng một người da đen là bà lánh sang nơi khác. Một hôm bà vừa bước vào thang máy thì một bóng người da đen to lớn cùng bước vào đóng ngay cửa lại làm bà không thể trở lui, bà chết điếng người và té xỉu. Tỉnh dậy nơi nhà thương, bàrất lấy làm hổ thẹn khi biết được rằng chính người da đen cùng đi trong thang máy với bà là một ca sĩ nổi tiếng tên là Vicky. Anh được mọi người mộ mến và chính anh đã đỡ bà khi té xỉu  và đưa đến nhà thương.
Thành kiến làm chúng ta ra mù quáng không thể nhận diện được thực tại về những người chúng ta gặp thường ngày một cách đúng sự thật. Những người làng Nagiarét thời Chúa Giêsu cũng mắc phải khuyết điểm như bà Anna. Sau thời gian rao giảng tại Capharnaum, Chúa Giêsu trở về quê hương Nagiarét và rao giảng tại hội đường. Dân chúng biết rõ nguồn gốc nhân trần của Ngài nên nói : Người này không phải là con ông thợ mộc Giuse hay sao ? Họ đã nghe biết những sự lạ Ngài thực hiện tại Capharnaum, những sự lạ chứng minh nguồn gốc thần linh, Ngài là con Thiên Chúa được Chúa Cha sai xuống trần gian để cứu rỗi con người. Bởi vậy, những thành kiến không cho phép những họ nhìn xa hơn. Họ bị giới hạn trong cảm nghĩ trần tục của họ, muốn Ngài thực hiện những sự lạ để hưởng lợi. Họ không thể vượt qua khía cạnh trần tục, khía cạnh vật chất ích kỷ để có lòng tin vào Chúa. Vì thế họ đã bị Chúa nhắc khéo nhớ lại chuyện xưa đã xảy ra trong cuộc đời của tiên tri  Elia và Elisêô, đó là trường hợp của bà góa tại Sarepta và tướng Naaman người Syria. Lời nhắc  khéo của Chúa làm cho họ bực tức và chống đối. Họ đem Ngài lên nơi cao để xô Ngài xuống vực thẳm cho chết. Quả thật, thành kiến đã làm cho họ mù quáng và dẫn đến những hành động điên rồ như vậy.
Nhưng thử hỏi chúng ta hôm nay thì sao ? Chúng ta tin thờ Đức Kitô nào đây ? Một Đức Kitô chỉ àm phép lạ để thỏa mãn những nhu cầu ích kỷ của riêng mình ? Hay một Đức Kitô Con Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta và mời gọi chúng ta bước theo Ngài ? Làm thế nào để chứng thực trong đời sống là chúng ta đã tin vào một vị Thiên Chúa làm người để cứu rỗi chúng ta ? Không có cách nào khác ngoài con đường bác ái yêu thương trong cuộc sống thường ngày.
Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi những thành kiến ngăn cản chúng ta  nhìn thấy Chúa đến với dung mạo con người nơi những người anh chị em, nơi những biến cố của cuộc sống. Vì thành kiến, chúng ta đã không nhận ra điều tốt nơi những người anh chị em và vì không nhận ra những điều tốt ấy, thì làm sao chúng ta có thể nhận ra Chúa thực sự hiện diện nơi họ được.

 

TN4-C8. SCĐ/463- KIÊN VỮNG VÀ DỊU HIỀN

Thôi Trữ là quyền thần nước Tề, định giết vua Trang Công, bèn hội họp sĩ phu lại cùng nhau: TN4-C8

Thôi Trữ là quyền thần nước Tề, định giết vua Trang Công, bèn hội họp sĩ phu lại cùng nhau thề thốt. Ai nấy đều sợ hãi răm rắp vâng lời. Duy có Án Tử nghiễm nhiên như không, nhất quyết không chịu thề. Thôi Trữ bảo : Nếu ngươi nghe ta, khi lấy được nước, ta sẽ cho một nửa. Bằng không, ta giết ngay lập tức. Án Tử vẫn không biến sắc ung dung nói : lấy lợi nhử người ta, bảo người ta phản bội vua là bất nhân; lấy binh khí hiếp người ta, làm người ta mất chí khí là bất dũng. Giết thì giết, ta đây không theo việc bất nhân của nhà ngươi đâu. Thôi Trữ nghe nói vậy, không dám làm gì. Án Tử đứng dậy, ung dung bước ra.
Qua đoạn Tin mừng hôm nay, những người đồng hương với Chúa Giêsu cảm thấy khó chịu vì họ không thể tin rằng “Thần khí Chúa” lại ngự xuống trên con ông Giuse thợ mộc. Họ cảm thấy nghi ngờ vì không thể chấp nhận một con người nghèo khổ làng Nagiarét lại là tiên tri, lại là Đấng Thiên sai. Họ càng căm phẫn khi con người ấy không chịu thực hiện những phép lạ mà họ yêu cầu. Thế là bạo động nảy sinh, họ muốn tiêu diệt Ngài cho khuất mắt. Đúng như lời Ngài đã nói : Không một tiên tri nào được tiếp đón nơi quê hương mình. Thế mới ứng nghiệm lời ông già Simêon : Trẻ này là dấy hiệu bị người đới chống báng.
Nếu dân làng Nagiarét ép Ngài làm phép lạ để minh chứng Ngài là tiên tri, thì các đầu mục Do Thái cũng đòi Ngài chứng minh giáo lý của Ngài là chính thống. Nếu dân làng Nagiarét tố cáo Ngài là lộng ngôn phạm thượng thì bọn pharisêu cũng kết tội Ngài dựa vào thế gía của quỉ vương. Nếu dân làng Nagiarét cố tìm cách giết Ngài, thì dân thành Giêrusalem cũng quyết tâm đóng đinh Ngài vào thập giá. Mỗi người Kitô hữu đều có thể hiểu được thế nào là bị xua đuổi, bị loại trừ, bị kỳ thị và bị bỏ rơi, vì “nếu thế gian đã ghen ghét các con, thì hãy nhớ rằng họ đã ghét Thầy trước”. Thế nhưng ít có ai cảm nghiệm được tâm trạng của Chúa Giêsu vào những lúc như thế này : Ngài có căn thù những kẻ ruồng rẫy Ngài không ? Ngài có đầu hàng trước nghịch cảnh không ? Nói như Martin Luther King : Tôi vui mừng vì Thiên Chúa chúng ta thờ là Thiên Chúa có tinh thần kiên vững và có con tim dịu hiền.
Nếu Thiên Chúa chỉ là đấng có tinh thần kiên vững, thì Ngài sẽ là một Thiên Chúa xa cách, lạnh lùng, ngự trị một nơi nào đó trên chốn trời cao để ngắm nhìn thế sự thăng trầm. Nhưng nếu Ngài chỉ có con tim dịu hiền, thì Ngài sẽ là một Thiên Chúa ủy mị nhu nhược, không thể hành động khi mọi sự đi lệch hướng. Đứng trước cảnh bị ruồng rẫy hôm nay, con tim của Ngài không hề chai đá và tinh thần của Ngài không chút bạc nhược. Ngài có đủ tinh thần kiên vững để vượt trên thế giới và có con tim đủ dịu hiền để ở giữa con người.
Bài học chúng ta cần rút ra, đó là Thiên Chúa mạnh mẽ vô song, có thể băng qua giữa họ mà đi, nhưng Ngài cũng là Đấng giàu lòng thơng xót. Khi chúng ta ngỗ nghịch xúc phạm đến Ngài, khi chúng ta muốn xô Ngài xuống vực thẳm, thì chúng ta cần biết rằng chính lúc đó Ngài đang yêu thương chúng ta và sẵn sàng cho chúng ta một cơ hội để quay trở về. Thiên Chúa là Đấng có tinh thần kiên vững trong phán quyết công minh, nhưng Ngài cũng là Đấng có tình dịu hiện trong tình thương và ân sủng.

 

TN4-C9. SCĐ/468- TIN YÊU

George Herbert là một linh mục, một thi sĩ và một nhạc sĩ nghiệp dư. Ngày kia, khi ông đang: TN4-C9

George Herbert là một linh mục, một thi sĩ và một nhạc sĩ nghiệp dư. Ngày kia, khi ông đang trên đường đến tham tự một cuộc hòa nhạc, thì gặp một người nghèo bị té ngựa. Ông đã dừng lại, cởi áo choàng, xắn tay áo để đỡ người ấy lên ngựa. Xong xuôi mọi chuyện, ông mới tiếp tục đến phòng hòa nhạc.
Bình thường ông ăn mặc rất sạch sẽ, nhưng hôm nay, tay chân và quần áo của ông đều dính đầy bùn đất. Vì thế bạn bè rất ngạc nhiên. Khi ông kể lại chuyện mình đã làm dọc đường thì một trong các người bạn tỏ ra không đồng ý vì cho rằng việc đó không cần thiết và cũng không phải là trách nhiệm của ông. Nhưng ông đã trả lời như  sau : Tôi thường cầu nguyện cho những người nghèo khổ. Hôm nay tôi có dịp giúp đỡ người nghèo khổ. Nếu tôi không ra tay giúp đỡ, thì tôi không làm đúng như lời mình cầu nguyện. Cũng giống như cây đàn chưa lên dây đúng cung vậy.
Thánh Giacôbê đã nói : đức tin không có việc làm là đức tin chết. Những việc làm biểu lộ đức tin dễ thấy nhất là những việc bác ái. Ngày nay, hai chữ được người ta nói nhiều nhất là “tình yêu”. Nhưng hình như cái mà người ta gọi là tình yêu trong các phim ảnh và bài hát lại chẳng phải là tình yêu gì cả. Đó chỉ là khát vọng, chiếm hữu và chế ngự. Nó ngược hẳn với tình yêu.
Một trong những lý do là ngày nay người ta đã hiểu rõ hơn về tính phức tạp trong bản chất con người. Từ đó, người ta làm gì cũng bị thúc đẩy bời nhiều động cơ. Đằng sau một việc xem ra bất vụ lời, thì cũng đã có động cơ vụ lợi.
Bởi thế, thánh Phaolô khuyến cáo chúng ta coi chừng những động cơ đằng sau những việc tốt chúng ta làm. Thánh nhân nói : đức mến đích thực thì không ghen tương, không vênh vang tự đắc. Thánh nhân còn nói tiếp : Giả như tôi đem hết gia tài, cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.

 

TN4-C10. NGƯỜI TỐT THÌ KHÓ TÌM

Chúng ta đã nghe câu đố: "Con gì buổi sáng thì đi bằng bốn chân, buổi trưa bằng hai chân, và: TN4-C10

Chúng ta đã nghe câu đố: "Con gì buổi sáng thì đi bằng bốn chân, buổi trưa bằng hai chân, và buổi chiều bằng ba chân?" Có người giải thích rằng đó là con người. Khi còn bé, con người đi bằng cả hai tay và hai chân. Đến khi trưởng thành thì con người đi bằng hai chân, tuy nhiên, đến tuổi già thì con người đi bằng ba chân bởi vì đó là cây gậy. Điều thú vị ở trong câu truyện này đó chính là thế hệ của chúng ta đang sống đây cũng phải đương đầu với câu hỏi liên quan đến con người: "Tôi là ai và con người là gì?" Trừ phi chúng ta trả lời được câu hỏi này, nếu không thì cuộc sống của chúng ta sẽ dần dần chấm dứt một cách vô ích. "Tôi là ai?" là một câu hỏi thúc bách trong thời đại chúng ta. Herman Hesse, một tác giả người Thụy Sĩ mà nhiều bạn trẻ rất thích, đã nói rằng "Who I Am?" là một câu hỏi rất quan trọng bởi vì nó là cốt lõi và nền tảng của tất cả những câu hỏi khác, cách xử sự của chúng ta với chính chúng ta, sự giao tế với những người khác, và sự tiếp xúc với thế giới của chúng ta. Đúng thế, một trong những vấn đề mà chúng ta đã phải đương đầu, ở trong xã hội thế giới này, những người không biết họ là ai đang chạy vòng quanh thế giới để nói với chúng ta trở nên những con người như thế nào. Và như thế sự lộn xộn càng thêm lộn xộn. Chúng ta sẽ không tiến lên được một chút nào hết cho tới khi chúng ta trả lời câu hỏi này.
Thiên Chúa nhân từ, người đã dựng nên chúng ta, đã cho chúng ta câu trả lời cho câu hỏi "Tôi là ai?" Ngài đã không trả lời chúng ta cách trừu tượng và chúng ta nên tạ ơn Ngài về điều này. Thường thường những câu hỏi này được đặt ra và chúng ta bị điên đảo với những câu trả lời trừu tượng. Platô, một triết gia nổi tiếng, định nghĩa con người là con vật hai chân và ít lông lá. Diogenes ngay sau đó đã bắt một con gà, nhổ hết lông của nó và giơ lên cho Platô coi và nói, "Này triết gia, đây là con người!" Đây là chuyện xảy ra khi chúng ta dùng triết lý để định nghĩa tôn giáo một cách chung chung. Thiên Chúa đã làm một cách khác. Các bạn hãy suy nghĩ một phút, hãy suy nghĩ xem coi nếu chúng ta nhìn thấy một tấm gương tốt của một người thì điều đó có nghĩa là gì. Không phải là nguyên lý hoặc chung chung, nhưng là điều mà khoa học thường nói rất nhiều ngày nay: một thần tượng, một mẫu người tốt. Tuy nhiên người tốt thì thật là khó tìm!
"Anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu" (Pl 2:5), chính là điều mà Thánh Phaolô đã viết. Tất cả khoa thần học đều dựa trên câu nói này. "Hãy lấy Chúa Kitô làm biểu tượng." Chúng ta vẫn thường nghe câu nói này trong cuộc sống của mình. Hết nhà giảng thuyết này đến nhà giảng thuyết khác cũng đều lập đi lập lại câu nói này, "Hãy lấy Chúa Kitô là khuôn mẫu cho cuộc sống." Thế nhưng vấn đề mà nhiều người chúng ta gặp đó là chúng ta chỉ nghe và biết câu nói này một cách hời hợt bên ngoài mà không biết đem vào thực hành trong cuộc sống để thân thể, tinh thần, lý trí của chúng ta trở nên giống Chúa Kitô. Đây là điều mà Thánh Phaolô đề cập đến. Ngài van nài chúng ta hãy hiểu điều vĩ đại mà Thiên Chúa đang làm cho chúng ta; hãy hiểu Thiên Chúa đang chỉ cho chúng ta một Thần Tượng, một Con Người tốt, Ngài sẽ nói cho chúng ta cách làm người.
Nếu Chúa Kitô là thần tượng, thì chúng ta cần phải hiểu biết Ngài. Tuy nhiên, đó là chỗ mà chúng ta sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn. Có rất nhiều người mang danh là Kitô hữu, đi nhà thờ đều đặn, nhưng không biết một tí chút gì về đời sống và sứ mạng của Chúa Kitô. Đó thật là một điều phi lý khi chúng ta gọi mình là Kitô hữu, mà chúng ta không biết Chúa Giêsu Kitô. Một cách ngẫu nhiên, đó là điều mà nhiều người trên thế giới đang nói với chúng ta. Có lẽ đang có những điều xảy ra trong giây phút chúng ta tụ họp nơi đây, tuy nhiên có thể có một điều gì đó đặc biệt sẽ xảy ra. Chúng ta nên dành thêm thời giờ để học hiểu về Chúa Giêsu. Chúng ta nên quyết định, ngay bây giờ, sẽ tìm giờ để đọc Thánh Kinh theo chiều sâu của nó. Chúng ta sẽ được biến đổi thành người tốt như Chúa Giêsu.
Trong câu truyện "Cry the Beloved Country" của tác giả Alan Paton, một người thanh niên trẻ được sinh ra khi cả hai bố mẹ anh đã đứng tuổi. Khi lớn lên, anh đã bỏ nhà và đi đến thành phố để kiếm sống. Anh đã không có liên lạc gì với gia đình cả. Sau cùng, người cha già đã quyết định vào thành phố để thăm người con. Bởi vì ông không quen thành thị, nên ông đã gặp nhiều vất vả không biết phải bắt đầu từ con đường nào để tìm con ông. Sau đó, ông bắt gặp được một vị mục sư và được vị này giúp đỡ để đi tìm con của ông. Khi sự việc được tiến triển tốt đẹp, người cha già đã cố gắng để tìm những lời lẽ đẹp đẽ để cám ơn vị ân nhân của mình, nhưng ông không biết phải nói làm sao, chỉ biết nói câu, "Mục sư là một người tốt!" Vị mục sư trả lời, "Tôi không phải là một người tốt. Tôi là một kẻ tội lỗi và ích kỷ. Thế nhưng nhờ Chúa Giêsu đã đặt tay Ngài trên tôi, chỉ có vậy thôi."
Một người tốt thì thật là khó tìm, nhưng Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một người rất tốt, đó chính là Con Một Ngài, Đức Giêsu để chúng ta có thể noi theo mà không sợ bị lừa dối.

 

TN4-C11. Không được chấp nhận

Tin là thái độ căn bản trong cuộc sống. Chẳng ai có thể sống mà không tin. Không tin người: TN4-C11

Tin là thái độ căn bản trong cuộc sống. Chẳng ai có thể sống mà không tin. Không tin người này nhưng lại tin người kia. Không tin lý thuyết này nhưng lại tin giả thuyết nọ. Thành ra ai cũng phải chọn một niềm tin. Không phải chọn một cách vu vơ, mù quáng, nhưng một cách sáng suốt và tự do.
Điều khó là giữ cho lòng mình được tự do thanh thoát, không bị những định kiến ràng buộc hay tư lợi chi phối, nhờ đó chúng ta dám chọn sự thật, dù sự thật đó làm đổ nhào mọi điều ta nghĩ, và xoay lại hướng đi của cả đời ta.
Có lẽ dân làng Nadarét ít có thứ tự do này.
Khi Đức Giêsu giảng trong hội đường Nadarét thân quen, họ đã ngỡ ngàng thán phục trước lời Ngài nói. Hãnh diện biết mấy khi một thành viên trong làng nay được tiếng tăm lẫy lừng khắp miền Galilê! Nhưng tin Đức Giêsu là một ngôn sứ lại là điều họ không làm được.
"Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?"
Ký ức của họ vẫn còn giữ nguyên những hình ảnh của Đức Giêsu  sống tại đây hơn ba mươi năm qua. Một cuộc sống quá đỗi bình thường! Một ông thợ mộc, con một ông thợ mộc khác. Gốc gác, họ hàng của Đức Giêsu, họ đều nắm rõ. Tiếc là họ đã không thể đi xa hơn.
Cái hiểu biết trước đây khiến họ mãn nguyện, tự hào, và tưởng mình chẳng còn gì để biết thêm về Giêsu.
"Những gì ông đã làm ở Caphácnaum, hãy làm ở đây xem."
Người làng Nadarét không tin Đức Giêsu là ngôn sứ. Họ muốn Ngài chứng minh bằng phép lạ. Họ muốn thấy tận mắt, chứ không chỉ nghe nói thôi. Nhưng Đức Giêsu không làm phép lạ để ép người ta tin.
Chính lòng tin đưa đến phép lạ, mà Ngài lại chẳng gặp lòng tin nào nơi người đồng hương. Lòng chai đá cứng cỏi của họ chuyển thành sự phẫn nộ, khi Đức Giêsu kể chuyện hai ngôn sứ Êlia và Êlisa được Thiên Chúa sai đến thi ân cho dân ngoại.
Dân làng không giữ được Đức Giêsu cho riêng mình. Khi thấy mình chẳng còn chút đặc quyền, đặc lợi, thì họ tìm cách thủ tiêu Ngài.
Tin Đức Giêsu là ngôn sứ, là Mêsia, là Con Thiên Chúa, điều đó chẳng dễ dàng chút nào. Người không tin cũng có thể đưa ra bao lập luận.
Điều cần thiết là phải tìm kiếm chân lý với cả tâm hồn.
Chúa Thánh Thần vẫn soi sáng cho người thành tâm thiện chí.
Hôm nay, chúng ta đã biết, tin và gần gũi Đức Giêsu, nhưng chúng ta vẫn có nguy cơ tương tự như người Nadarét: tưởng mình đã múc cạn được mầu nhiệm hay muốn độc quyền giữ Đức Giêsu cho mình.
Gợi Ý Chia Sẻ
Theo ý bạn, dựa vào đâu để bạn tin người khác? Dựa vào đâu để bạn biết người đó thành thật?
Người dân làng Nadarét gặp khó khăn khi phải tin Đức Giêsu. Con người hôm nay gặp khó khăn nào khi tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, dân làng Nadarét đã không tin Chúa vì Chúa chỉ là một ông thợ thủ công.
Các môn đệ đã không tin Chúa khi thấy Chúa chịu treo trên thập tự. Nhiều kẻ đã không tin Chúa là Thiên Chúa chỉ vì Chúa sống như một con người.
Cũng có lúc chúng con không tin Chúa hiện diện dưới hình bánh mong manh, nơi một linh mục yếu đuối, trong một Hội Thánh còn nhiều bất toàn.
Dường như Chúa thính ẩn mình nơi những gì thế gian chê bỏ, để chúng con tập nhận ra Ngài bằng con mắt đức tin.
Xin thêm đức tin cho chúng con để khiêm tốn thấy Ngài tỏ mình thật bình thường giữa lòng cuộc sống.

 

TN4-C12. CHI TIẾT HAY Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay

Theo phong tục xã hội Do Thái thời đó, người con tiếp tục nghề nghiệp của cha ông mình. Không: TN4-C12

Theo phong tục xã hội Do Thái thời đó, người con tiếp tục nghề nghiệp của cha ông mình. Không ai được làm những việc gì trội hơn. Đây là quan niệm căn bản về danh dự của họ. Vì vậy khi Đức Giêsu vượt ra ngoài giới hạn đó Ngài đã bị dị nghị và mang tiếng xấu.
"Đây không phải là con ông Giuse sao?" Thánh Luca đã dùng lời của đám đông để nói lên quan niệm của họ theo đó Đức Giêsu đã không tiếp tục công việc của Giuse là đã làm mất danh dự của gia đình.
Một quan niệm khác nữa của người Do Thái là "gia đình là trên hết". Khi Đức Giêsu chữa lành cho một người không phải trong làng hoặc gia đình, một lần nữa Ngài đã đi ngược lại tập tục.
Việc Êlia và Êlisa làm phép lạ cho người ngoại giáo cho thấy rằng không phải chỉ có người Do Thái mới được cứu chuộc.
Trong khi phản ứng phẫn nộ của đám đông tiên báo trước sự khổ nạn và sự chết của Đức Kitô, thì sự tránh đi của Ngài để tiếp tục rao giảng tiên báo về sự phục sinh khải hoàn và Lời Chúa được rao truyền khắp nơi.
Đoạn này nói đến việc Đức Giêsu bị chống báng - điều mà ông Simêon đã tiên đoán (2:34). Đức Giêsu bị dân của Ngài chối bỏ nhưng đã được các dân ngoại đón nhận. Các điểm để so sánh rất đơn giản và rõ ràng:
Đức Giêsu = một vị ngôn sứ
Na-da-rét = Do Thái
Ca-phác-naum = Dân ngoại
Một Điểm Chính
Đức Giêsu xác nhận Ngài là Đấng được sai đến, là Đấng Cứu Thế.
Suy Niệm
Chúa luôn luôn tỏ sự yêu thương của Ngài qua hành động. Tôi đã tỏ sự yêu thương của Ngài với anh chị em tôi ra sao ?
Tôi đã nghe hoặc phản ứng thế nào đối với người tôi không thích mặc dù họ có ý ngay lành?
Thật là khó để có thể hiểu được Chúa Giêsu đã chịu đau khổ đến mức nào vì yêu thương. Xin bạn hãy suy niệm về tình yêu thương vô biên của Ngài dành cho mỗi người chúng ta.

 

TN4-C13. Đồng hương chối từ - Lm. Đan Vinh

Ý chính : Cuộc xung đột giữa người đồng hương với Đức Giêsu :
Học sống Lời Chúa
1) Chủ đề 1 : Chúa Giêsu bị người đồng hương xua đuổi :
- Lời Chúa : “Bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1,5).
- Câu chuyện 1 : Đứa con bị từ chối :
 

Đệ nhị thế chiến vừa kết thúc, một người lính trẻ đã viết một lá thư về nhà để báo tin anh còn: TN4-C13

Đệ nhị thế chiến vừa kết thúc, một người lính trẻ đã viết một lá thư về nhà để báo tin anh còn sống và sắp trở về đoàn tụ với gia đình. Trong thư có đoạn viết như sau : “ Thưa ba má, con muốn đưa một anh bạn thân cùng một đơn vị, đã từng chiến đấu bên con. Nhưng anh đã bị cụt một giò trong cuộc chiến vừa qua”. Người cha viết thư trả lời như sau : “Con cứ mời bạn con về ở với gia đình ta. Xưởng cưa của ba có thể thâu nhận những người tàn tật như thế vào làm việc”. Trong lá thư tiếp theo, anh lính trẻ lại cho biết thêm một chi tiết nữa. Anh viết : “Thưa ba má, anh bạn của con không những bị cụt chân mà còn cụt cả một bàn tay nữa!”. Người cha liền hồi âm trả lời như sau : “Con ơi, ba không thể thu nhận vào xưởng của ba một con người vừa cụt tay cụt chân như anh bạn của con được. Một người như thế thì còn làm được gì hữu ích cho xã hội nữa!”. Nhận được bức thư với những lời như vậy, anh lính trẻ ngưng viết thư và quyết định không trở về đoàn tụ với cha mẹ nữa. Vì anh và người bạn tàn phế trong bức thư kia chỉ là một!
- Câu chuyện 2 : Thành kiến biến con người thành mù quáng:
Bà Anna là một người có thành kiến rất tệ hại về người da đen. Bà cho rằng : người da đen hôm nay là con cháu của bọn nô lệ ngày xưa. Họ là những kẻ lười biếng, gian dối, trộm cướp, nghiền ma tuý, say xỉn, độc ác, hãm hiếp phụ nữ và giết người không gớm tay…Với thành kiến như vậy, bà Anna luôn đề cao cảnh giác và tránh tiếp xúc với bất cứ người da đen nào. Nhưng rồi một hôm khi bà vừa bước vào một chiếc thang máy thì một bóng người da đen cao lớn cũng bước theo sau và đứng ngay sau lưng bà. Bà chưa kịp thối lui ra ngoài thì cửa thang máy đã tự động khép lại. Bà chết điếng người và bị ngất xỉu không còn biết gì nữa. Tỉnh dậy tại phòng cấp cứu, bà cảm thấy xấu hổ khi biết được rằng : người da đen to lớn kia chính là ca sĩ Lê-o-nát Vi-xi (Leonard Vichy), là một ca sĩ nổi tiếng và được nhiều người mộ mến. Cũng chính anh ta đã đưa tay đỡ khi bà bị ngất xỉu trong thang máy và sau đó chính anh đã đưa bà đến nhà thương cấp cứu.
- Suy niệm :
+ Thành kiến làm cho người ta mù quáng, đến nỗi không thể nhận ra đâu là sự thật, và khó lòng có được nhận xét đúng đắn về người khác. Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Đức Giêsu trở về thăm quê nhà Nadarét. Những người đồng hương tuy thán phục lời giảng của Người, nhưng vì có thành kiến về gia đình tầm thường của Người, nên đã không chấp nhận sứ mệnh Thiên Sai của Người. Họ muốn thấy Người làm phép lạ để chứng minh sứ mệnh ấy. Khi không được thoả mãn, và nhất là sau khi nghe Người không phân biệt dân Do Thái với dân ngoại, dân thành ngoại giáo Ca-phác-na-um hay dân Nadarét đồng hương…thì họ đã nổi giận và tìm cách giết hại Người.
+ Qua 2000 năm từ thời Đức Giêsu đến nay, Đức Giêsu vẫn tiếp tục bị người đời chối bỏ khước từ nơi những kẻ nghèo hèn bệnh tật và bị bỏ rơi. Chính khi chúng ta từ chối giúp đỡ một người đói rách đau khổ, là ta từ chối và xua đuổi chính Đức Giêsu giống như dân Nadarét xưa (x. Mt 25,45). Mỗi người chúng ta được mời gọi đón nhận Thiên Chúa, tin Đức Giêsu và làm chứng nhân cho Người. Ta chỉ có thể chu toàn sứ mệnh làm chứng cho Chúa khi ta thực hành yêu thương tha nhân.
- Thảo luận : Thành kiến là gì ? dân làng Nadarét đòi điều kiện nào khi tin Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai ? con người hôm nay đòi hỏi những gì để tin theo Chúa ?
2) Chủ đề 2 : Sức mạnh của sự thật.
- Lời Chúa : “Người băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4,30).
- Câu chuyện : Sức mạnh của sự thật.
Thôi Trữ là một quyền thần nước tề, định giết vua Trang Công để đoạt ngôi báu. Ông ta cho mời các quan chức triều đình đến tư dinh để cùng nhau bàn mưu tính kế và uống máu ăn thề. Sau khi nghe Thôi Trữ tuyên bố làm phản chống lại nhà vua, các quan chức triều đình hiện diện đều khiếp nhược trước uy thế của Thôi Trữ và răm rắp nghe theo. Duy chỉ có An Tử là vẫn điềm nhiên tự tại và không chịu thề thốt gì cả. Bấy giờ Thôi Trữ bảo với án Tử rằng : “Nếu người nghe theo ta, thì sau khi ta thâu đoạt được ngai vàng, ta sẽ chia một nửa nước cho. Còn nếu không nghe ta thì ngươi sẽ bị tiêu diệt ngay !”. Trước khí thế của quân phản loạn, nhưng An Tử vẫn luôn bình tĩnh. Ông trả lời rằng : “Lấy cái lợi để nhử và bắt người ta chống lại quân vương là bất trung. Lấy binh khí để hiếp đáp làm người ta sợ hãi phải nghe theo là thất đức. Giết thì giết ! ta đây quyết tâm không theo một việc bất trung thất đức của ngươi đâu !”. Nói xong An Tử đứng dậy ung dung ra về, thế mà Thôi Trữ cũng không dám ra lệnh cho quân lính ngăn cản giết hại An Tử.
- Suy niệm :
+ Thôi Trữ quyền hành là thế mà chỉ cần một câu nói, Án Tử đã làm cho chùn bước. Thế mới biết : sự thật có sức mạnh còn hơn cả thế lực quyền uy !
+ Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại một câu chuyện xảy ra tương tự về Đức Giêsu. Sau khi từ chối không làm dấu lạ như yêu cầu của dân làng, vì họ cứng lòng tin, thì “Mọi người trong hội đường đều đầy phẩn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4,28-30). Đức Giêsu chính là sự thật, nên từ nơi Người toát ra một sức mạnh phi thường, khiến đám người bạo động kia không thể làm gì hại được Người.
+ Mỗi người tín hữu chúng ta cũng cùng chung số phận bị ngược đãi giống như Đức Giêsu như Người đã tiên báo : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó ghét Thầy trước…Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em” (Ga 15,18.20. Nhưng khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì. Thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em (x. Mt 10,20).
- Thảo luận : Chúa Giêsu luôn quan tâm, ưu ái và đề cao dân ngoại khi có dịp tiếp xúc với họ. Vậy tôi phải đối xử thế nào đối với những anh em khác tôn giáo mà tôi tiếp xúc hằng ngày để đem Chúa đến cho họ ?
Hiệp sống nguyện cầu
1) Lạy Chúa Giêsu, dân làng Nadarét không tin Chúa vì theo họ biết : Chúa chỉ là một anh thợ mộc và cha mẹ của Chúa cũng chỉ là những người dân quê bình thường giống như họ. Môn đệ không tin Chúa nên đã bỏ Thầy mà chạy trốn khi kẻ thù đến bắt.
Lạy Chúa, cũng có những lúc chúng con không tin Chúa hiện diện nơi một tấm bánh nhỏ bé tầm thường, nơi một vị chủ chăn bất toàn, trong một Hội Thánh còn có nhiều thiếu sót tội lỗi. Dường như Chúa thích ẩn mình nơi những gì thế gian chê bỏ, để chúng con nhận ra Chúa bằng con mắt đức tin. Xin thêm đức tin cho chúng con, để chúng con luôn nhìn thấy Chúa đang hiện thân nơi những người nhỏ bé và đau khổ giữa lòng xã hội hôm nay.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
2) Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu cùng Chúa giúp chúng con có được tình yêu của Chúa, vì nhiều khi chúng con bị cám dỗ trả thù những kẻ có ác cảm, thù ghét và làm hại chúng con. Xin giúp chúng con có sức mạnh của Thánh Thần để không ngã lòng khi gặp các tai ương hoạn nạn liên tiếp đổ xuống cuộc đời chúng con. Xin ban cho chúng con lòng dũng cảm để không đầu hàng trước những khó khăn và trách nhiệm luôn đè nặng trên chúng con. Xin giúp chúng con trở thành muối mặn để ướp mọi người khỏi hư hỏng, trở thành ngọn đèn cháy ánh sáng tin yêu, xin cho chúng con trở nên những vì sao luôn chiếu tỏa ánh sáng như lời Chúa dạy : “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời”.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con

 

TN4-C14. Ngôn sứ thời nay - Phaolô Ngô Suốt

Hiện nay trên thế giới, người ta chia tôn giáo ra làm hai loại: một loại gọi là tôn giáo dạng tiên: TN4-C14

Hiện nay trên thế giới, người ta chia tôn giáo ra làm hai loại: một loại gọi là tôn giáo dạng tiên tri gồm Kitô giáo, Do Thái giáo; và Hồi giáo. Loại thứ hai gọi là tôn giáo dạng giải thoát gồm Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo và các tôn giáo còn lại. Tôn giáo của chúng ta đúng là phát xuất từ Thần Linh, được loan truyền, dạy dỗ qua các tiên tri thời Cựu Ước, chuyển sang thời Tân Ước được các Tông Đồ của Hội Thánh kế tục.
Trong cả bốn cuốn Tin Mừng đều có nói đến việc Chúa Kitô được thiên hạ gọi là ngôn sứ, riêng các Thánh sử không bao giờ cho rằng Ngài là ngôn sứ. Còn Chúa Kitô thì Ngài không hề phủ nhận cũng như xác nhận mình là ngôn sứ. Điều này cho chúng ta thấy Ngài vừa là Thiên Chúa, vừa là Vị Ngôn Sứ hoàn hảo nhất (Ngôn sứ danh từ gốc Hy Lạp có nghĩa là nói nhân danh người khác, chính Chúa Kitô đã nhiều lần nói về Thiên Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài). Trong bài Tin Mừng hôm nay chúng ta được nghe Vị Ngôn Sứ tối cao nói thẳng, nói thật với dân chúng. “Trực ngôn” lúc nào cũng “nghịch nhĩ”, bởi vậy người ta tìm cách giết chết Ngài. Phải chăng đây là cái giá, kết quả đang chờ đón các ngôn sứ của Thiên Chúa !
Giêrêmia là một trong bốn đại tiên tri thời Cựu Ước, đã được Thiên Chúa cho biết :” Trưóc khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân”. Đúng là Thiên Chúa đã chuẩn bị, Ngài chọn Giêrêmia từ xa xưa, sai ông đi “để nhổ và lật đổ, để hủy và để phá”. Tiếc thay, sứ vụ của ông quả đã thất bại, chính ông cũng chết tại Ai cập, nhưng dung mạo của ông không ngừng lớn lên sau khi ông chết. Ông là một người có tâm hồn dịu hiền, sinh ra để được yêu mến, luôn luôn nêu cao những liên lạc thân mật tâm hồn phải có đối với Thiên Chúa, ông đã quên mình, chịu đau khổ để phục vụ Thiên Chúa, nên ông trở thành một dung mạo của Chúa Kitô.
Người Kitô hữu chúng ta hôm nay cũng được kêu mời sống, làm ngôn sứ cho Chúa Kitô, trở thành một dung mạo của Ngài. Các bạn nhớ cho chỉ có Chúa mới ban đức tin cho ta, đây là một ơn nhưng không. Chính Ngài đã có kế hoạch riêng cho từng người, còn kết quả thành hay bại là do từng người chúng ta quyết định. Biết bao lần ta được nghe Ngài, hay Giáo hội của Ngài nhắc nhở, thế nhưng chúng ta vẫn sợ thiên hạ hơn sợ các giáo huấn của Ngài, đến nỗi nhiều người không dám làm một việc tuyên xưng đức tin dù đơn giản. Thí dụ có mấy người dám làm dấu trước bữa ăn trong sở làm ? Có mấy người dám khước từ để không đến những nơi gây dịp tội như sòng bài, quán rượu; hy sinh những buổi xem thể thao, để đưa con em mình đi học Giáo lý ? Có mấy người tôn trọng những phương pháp ngừa thai tự nhiên, phù hợp với mong muốn của Giáo hội !
Thần học gia lớn của Giáo hội Công giáo trong thế kỷ 20, Karl Rahner viết : "… Chính bản thân Giáo hội là sự hiện diện vĩnh viễn của lời ngôn sứ, Đức Giêsu Kitô.” Bởi thế Giáo hội phải tiếp tục nhiệm vụ ngôn sứ, nói lên tiếng nói của Thiên Chúa. Điều này luôn luôn là một thách đố lớn lao trong mọi thời đại, cho từng người Kitô hữu. Giáo Hội thật khôn ngoan khi sắp xếp bài đọc của Thánh Phaolô, vị Tông đồ dân ngoại muốn dạy chúng ta về đức “Ái”, dạy chúng ta đừng cay đắng, cáu kỉnh khi người khác không đồng ý với niềm tin của mình. Ngược lại Giáo hội dạy chúng ta tiếp tục can đảm làm nhân chứng, làm ngôn sứ qua việc làm và lời nói.
Tóm lại, vai trò ngàn đời của Giáo hội Công giáo là làm ngôn sứ cho Chúa Kitô trong vũ trụ này, bạn và tôi những chi thể của Thân Thể Mầu Nhiệm đó. Những khó khăn ngày xưa, ngôn sứ Giêrêmia và Chúa Kitô phải đối đầu, hôm nay chúng ta cũng sẽ gặp. Ngày xưa Giêrêmia bất đắc dĩ phải vâng lời làm ngôn sứ cho Chúa. Hôm nay người Kitô hữu có bổn phận “xin vâng”, tiếp bước người xưa. Chúng ta sẽ gặp vô vàn thách đố, nhưng hãy vững tin, ngày xưa Giêrêmia được Giavê Thiên Chúa ban cho sức mạnh, can đảm, để hoàn thành nhiệm vụ, hôm nay chúng ta cũng được Ngài ban ơn trợ sức như vậy, và hơn cả ngày xưa, người ngôn sứ thời nay đòi hỏi phải có -dĩ nhiên Chúa sẽ ban cho- cả ba nhân đức : vâng phục, can đảm và bác ái, hầu chúng ta có thể can trường, làm được như Ngài trong bài Tin Mừng hôm nay, khi Ngài nói sự thật, bị người ta trục xuất, đưa ra đồi cao, tìm cách xô Ngài xuống vực sâu, nhưng Ngài đã rẽ qua mặt họ mà đi. Bởi vì vinh quang chỉ thuộc về những ai chịu đau khổ với Ngài.

 

TN4-C15. LÀM NGÔN SỨ LÀ LUÔN PHẢI CHỊU PHẦN THIỆT

VỀ MÌNH - Gier. Nguyễn Văn Nội
SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA
1. Đức Giêsu chịu “phần thiệt” của Vị Ngôn sứ của Thiên Chúa.
 

Đi sâu vào nguyên nhân khiến những người Nadarét đã hắt hủi và loại trừ Đức Giêsu: TN4-C15

(a) Đi sâu vào nguyên nhân khiến những người Nadarét đã hắt hủi và loại trừ Đức Giêsu, chúng ta sẽ thấy rằng: chỉ vì Đức Giêsu đã không làm chọn Na-darét làm trung tâm hoạt động rao giảng Tin Mừng và đã không làm ở đó những phép lạ như ở Caphácnaum mà lại còn lên tiếng cảnh tỉnh người đồng hương bằng cách nhắc lại những sự tích trong lịch sử… Còn nguyên nhân sâu xa khiến Đức Giêsu đã không làm được nhiều phép lạ ở nơi quê hương đất mẹ là vì những người dân Nadarét không tin vào Người.
(b) Sở dĩ sự việc xẩy ra như thế vì mỗi bên có quan điểm riêng của mình. Người dân làng Nadarét thì muốn Đức Giêsu phục vụ lợi ích “cục bộ” của họ, trong khi Đức Giêsu phải phục vụ chương trình và kế hoạch Cứu độ phổ quát của Thiên Chúa. Lợi ích cục bộ của người dân Nadarét là Nadarét phải được Đức Giêsu chọn làm trung tâm truyền giáo chứ không phải Caphácnaum, và Đức Giêsu phải làm ở đây những phép lạ mà Người đã làm ở Caphácnaum. Còn chương trình và kế hoạch Cứu độ phổ quát của Thiên Chúa là: chẳng những Ơn Cứu độ phải được loan báo và được dành hết mọi người Do Thái (chứ không chỉ những người Do Thái đạo đức) mà còn phải được loan báo và dành cho hết mọi người trong thế gian này, bất phân biệt người đó là Do Thái, Hy Lạp hay dân ngoại. Còn đứng về phía mình thì Đức Giêsu mong đợi và đòi hỏi người dân làng Nadarét tin vào Người là Đấng Mêsia, là Vị Ngôn sứ của Thiên Chúa mà người dân Nadarét thì không thể vượt qua nổi những thành kiến tầm thường và cái nhìn hẹp hòi của con người, nên họ không thể nào tin được rằng con bác thợ mộc Giuse và bà Maria lại có thể là một Ngôn sứ của Thiên Chúa.
(c) Chúng ta có thể suy nghĩ sâu hơn bằng cách tự hỏi: Thế tại sao Đức Giêsu không chịu chiều lòng dân làng Nadarét? Cách hành động của Đức Giêsu có quá cứng nhắc, quá nguyên tắc, không thức thời và không phù hợp với hoàn cảnh và con người cụ thể không? Nếu chúng ta ở vào trường tương tự, chắc chúng ta sẽ tìm cách “thỏa hiệp” với người xung quanh để “hai bên cùng có lợi”, chắc chúng ta sẽ tìm cách lấy lòng, thậm chí mua chuộc người ta để có thuận lợi cho công việc của mình. Vả lại người Việt Nam vẫn chẳng coi “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” là ba yếu tố quyết định thành công đó sao? Vậy tại sao Đức Giêsu lại không tạo “địa lợi nhân hòa” với người cùng quê? Tại sao Đức Giêsu đã không chiều lòng những người Nadarét mà thỏa mãn các mãn nguyện vọng “xem ra cũng chính đáng” của họ? Câu trả lời chỉ có thể là Đức Giêsu đã muốn và phải giữ cho mình sự tự do tuyệt đối trong việc chọn lựa cách thi hành sứ vụ mà Chúa Cha giao phó. Người không thể lệ thuộc, quỵ luỵ một ai, kể cả những người thân trong dòng tộc họ hàng. Một cách trả lời khác, là: Tin Mừng và Đấng Cứu thế không phải là để phục vụ lợi ích riêng tư của một nhóm người nào mà là phục vụ hạnh phúc thật và vĩnh cửu của hết mọi người. Điều hết sức quan trọng là trong cuộc xung đột với người làng Nadarét nói riêng và người Do Thái nói chung, Đức Giêsu đã chấp nhận “phần thiệt” về mình là bị dân làng Nadarét xô xuống vực và bị người Do Thái treo trên Cây Thập Tự Giá.
2. Cá nhân hóa (personnalization) sứ điệp Lời Chúa.
(a) Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy biết “cá nhân hóa” sứ điệp Lời Chúa bằng cách tự hỏi: chúng ta có dám chấp nhận “phần thiệt” như Đức Giêsu, để làm chứng cho Tin Mừng không? Thường thì con người bao giờ cũng thích và tìm mọi cách để được lợi, được hơn, chứ ai chẳng dại gì mà chịu phần thua, phần kém, phần thiệt về mình. Nhưng để làm ngôn sứ tức làm chứng cho Tin Mừng, thì dường như bao giờ cũng phải chịu “phần thiệt” như đã được minh chứng cách hùng hồn bằng cuộc đời của các ngôn sứ, nhất là của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.
(b) Vậy chúng ta phải làm gì đây? - Thiết tưởng chúng ta cần có một ý thức sâu sắc về ơn gọi, vai trò và thân phận ngôn sứ của mình như Giêrêmia và Đức Giêsu (bài đọc 1) và đồng thời cần có một đức tin, cậy mến - nhất là đức mến - mạnh mẽ và kiên cường (bài đọc 2). Ngoài ra còn có một khát vọng cháy bỏng nên giống Chúa Giêsu là Đấng tự hạ, tự hủy, như Charles de Foucauld đã khao khát từ khi trở lại với Chúa. Cầu xin Thiên Chúa và rèn luyện tâm linh sẽ giúp chúng ta có được tất cả những điều cần thiết trên.

 

TN4-C16. NGƯỜI ĐẾN NHÀ MÌNH,

NHƯNG NGƯỜI NHÀ KHÔNG ĐÓN RƯỚC -  Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn
 

Chúng ta đang ở trong Hội đường Nazarét và đang theo dõi những lời giảng dạy của Chúa: TN4-C16

Chúng ta đang ở trong Hội đường Nazarét và đang theo dõi những lời giảng dạy của Chúa Giêsu cũng như thái độ của những người đồng hương đối với Chúa.
Thánh sử Luca cho thấy, ngay sau khi người dân Nazarét thán phục về những “lời hay ý đẹp” trong giáo huấn của Chúa thì liền sau đó là thái độ tỏ rõ sự xem thường về nguồn gốc của Chúa. Họ xem thường Chúa Giêsu vì hai lẽ. Trước hết vì họ quá biết rõ gia thế của Chúa Giêsu là con Bác thợ mộc không hơn không kém. Và vì thái độ này nên họ cố đòi cho bằng được phép lạ như Chúa đã làm tại Caphácnaum để thử xem “tài” của Chúa đến đâu.
Đứng trước thái độ khinh khi đó, Chúa Giêsu đã cho người dân Nazarét thấy rằng các Ngôn sứ không bao giờ được tôn trọng trên chính quê hương mình. Xét về mặt tâm lý, điều này thật chính xác. Bởi sự thường cho dù một người có tài năng, giúp ích và phục vụ rất hiệu quả cho nhiều người, nhiều nơi nhưng khi trở về gia đình, trở về nơi sinh trưởng của mình thì lại bị những người bà con xóm giềng chỉ xem ở mức độ “thường thường bậc trung”, do ảnh hưởng điều mà chúng ta vẫn thường nói “gần chùa gọi Bụt bằng anh!”. Chúa Giêsu cũng không nằm ngoài sự thường này. Người làng Nazarét sở dĩ xem Chúa Giêsu chỉ là một anh chàng “thường thường” thôi là bởi vì ngay trong ngôi làng này, ai mà không biết gia đình của anh ta. Từ nhỏ tới lớn chỉ sống với bố mẹ. Bố thì làm nghề mộc, mẹ thì nội trợ, còn anh ta thì cùng lắm chỉ là người kế tục nghề mộc được truyền từ người bố, chứ có gì đặc biệt đâu! Thế nên, dù có công nhận những lời lẽ thốt ra từ miệng con bác thợ mộc là “lời vàng, lời ngọc” thì họ cũng không sao vượt qua được một thứ định kiến đã ăn sâu vào nếp nghĩ của họ.
Chính vì thế, bằng hai câu chuyện từ Cựu ước, Chúa Giêsu không chỉ cho thấy chân lý xuất phát từ câu tục ngữ “Bụt nhà không thiêng” mà cao hơn, đó còn là sự diễn tả một cách nhìn, một sự tiên báo cho công cuộc và sứ mệnh rao giảng của Người sẽ được mở ra cho muôn dân- tính phổ quát của ơn cứu độ- một khi lời rao giảng đó không được những người trong nhà đón tiếp mà cụ thể mà dân làng Nazarét nói riêng và dân Israel nói chung.
Trong câu chuyện của Ngôn sứ Êlia, khi đất nước Dothái bị hạn hán trong khoảng ba năm ròng rã, ấy thế mà Thiên Chúa không sai “người nhà” của mình là Êlia đến để cứu đói dân Israel đang lâm nguy mà lại sai đến với một bà goá dân ngoại ở thành Xarépta thuộc Xiđon. Tại đây, Êlia đã hoá bánh và dầu ăn để nuôi sống bà goá này. Cũng giống như thầy mình, Ngôn sứ Êlisa đã chữa lành bệnh phong cùi cho một vị tướng người Syria tên là Naaman khi ông từ miền đất dân ngoại đến gặp Êlisa ngay trên đất nước Israel. Điều này cho hay thiếu phụ thành Xarépta miền Xiđon và vị tướng của Syria đại diện cho một tầng lớp đông đảo những người có nguồn gốc từ dân ngoại sẽ được giải phóng, sẽ được lãnh nhận tin mừng như lời loan báo của Ngôn sứ Isaia xưa nay trở thành hiện thực vào thới đại của Chúa Giêsu.
Người dân Nazarét càng giận dữ Chúa Giêsu hơn vì hơn ai hết, họ hiểu rõ câu chuyện trong Cựu ước mà Chúa Giêsu gợi lên để nhắm vào chính thái độ cứng tin của họ. Cơn giận dữ lên đến cực điểm khi họ cùng nhau đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành, kéo Người lên đỉnh núi để định xô xuống vực. Tuy xét về địa lý vùng Nazarét, chúng ta thấy không đúng nhưng chủ ý của Luca không nằm ở vấn đề địa dư mà chính là nhằm loan báo một thực tại sẽ diễn ra trong tương lai, rằng chính dân Israel chứ không phải dân nào khác sẽ lên án Chúa (trong thành) và đem Chúa đi (khỏi thành) để kết án Chúa trên đồi Canvê. Đó cũng còn là một lời loan báo cho hết những ai theo Chúa mà đặc biệt cho sứ vụ rao giảng của các môn đệ Chúa sau này được Luca ghi lại trong sách Công vụ tông đồ về trường hợp của Thầy Phó tế Têphanô.
Những gì xảy ra trong hội đường Nazarét hôm nay như là sự loan báo cho những bi kịch mà Chúa Giêsu sẽ phải chịu trong cuối sứ vụ rao giảng của Người. Một sứ vụ sẽ dẫn Người đến với cái chết nhục nhã trên Thập giá do bởi chính những người cùng mầu da, huyết thống, cùng tổ quốc với Người lên án, đúng như Thánh sử Gioan đã từng viết trong tin mừng: “Người đến giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Ngươi. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con cái Thiên Chúa” (Ga 1, 10-12)

 

TN4-C17. CÓ BAO GIỜ CHÍNH NGƯỜI KITÔ HỮU

CHỐI BỎ ĐỨC KITÔ KHÔNG - JKN
Câu hỏi gợi ý:
 

Tại sao Đức Giêsu lại bị từ chối tại chính làng của mình? tại chính đất nước Do Thái? Còn: TN4-C17

1. Tại sao Đức Giêsu lại bị từ chối tại chính làng của mình? tại chính đất nước Do Thái? còn dân ngoại thì lại đón nhận Ngài để cuối cùng trở nên Dân Ngài? Liệu lịch sử có thể tái diễn tương tự như thế đối với Kitô giáo không?
2. Đức Giêsu có muốn dành ưu tiên cho quê hương hay dân tộc mình không? Ngài có thành công trong việc dành ưu tiên ấy cho quê hương hay dân tộc mình không? Tại sao?
3. Điều đã xảy ra với Do Thái có thể xảy ra tương tự với Kitô giáo không? Chúng ta phải làm gì để tránh vết xe đã đổ?
CHIA SẺ
1. Các ngôn sứ thường bị từ chối tại chính quê hương mình
Đoạn Tin Mừng hôm nay và những đoạn khác tương tự trong các sách Tin Mừng khác cho thấy: những người cùng quê cùng làng với Đức Giêsu có vẻ coi thường Ngài và không tin ở Ngài cho lắm. Vì đối với họ, Đức Giêsu chỉ là con của một bác thợ mộc nghèo hèn, và của một phụ nữ không danh giá gì trong làng. Nếu chúng ta ở vào địa vị của dân chúng làng Nadarét, chưa chắc chúng ta đã suy nghĩ và đánh giá về Ngài khác hơn họ. Và nếu có một ngôn sứ nào xuất hiện ở thời đại này, tại thành phố hay tỉnh ta đang sống, chưa chắc ta đã nhận ra và đánh giá vị ấy một cách đúng đắn.
Thông thường, người ta thường đánh giá một người tùy theo những gì thấy được ở bên ngoài, chứ không thấy được giá trị thâm sâu ở bên trong. Và càng là người thân quen với vị ngôn sứ, thì càng khó đánh giá đúng đắn vị ngôn sứ ấy, vì các ngôn sứ thường mặc lấy những dáng vẻ bên ngoài rất bình thường, và cũng thường có quan niệm rất khác với người đương thời. Chính vì thế, các ngôn sứ ít được người đồng thời và đồng hương biết được giá trị con người mình, thậm chí còn bị coi thường, khi rẻ, kết án. Vì thế, Đức Giêsu nói: «Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình».
2. Các ngôn sứ có muốn ưu đãi quê hương mình cũng không được
Vì thường bị người đồng thời, đồng hương hay đồng đạo coi thường và không tin, nên các ngôn sứ thường không thể hoạt động hữu hiệu hay có kết quả tốt đẹp tại quê hương hay thời đại mình. Chẳng hạn Đức Giêsu không thể làm được nhiều phép lạ tại Nadarét, vì họ cứng lòng tin (x. Mt 13,58); đồng bào và đồng đạo của Ngài chẳng những không tin Ngài mà còn tìm cách giết Ngài nữa. Thái độ của những người đồng hương, đồng đạo hoặc đồng thời với Ngài như thế, khiến họ không được lợi lộc gì vì được làm người đồng hương, đồng đạo hay đồng thời với vị ngôn sứ cả.
Đức Giêsu đã kể ra những trường hợp cụ thể minh chứng điều ấy, chẳng hạn trường hợp của hai ngôn sứ Êlia và Êlisa. Thời Êlia, khi Israel bị đói, ông chẳng giúp một bà góa khốn khổ nào trong nước cả, mà lại giúp một bà góa ở tận đâu đâu, vì bà này tỏ ra yêu quí, tin tưởng và trọng vọng ông một cách đặc biệt. Thời Êlisa, biết bao người Israel bị phong hủi thì ông chẳng chữa cho ai, mà lại chữa cho một người từ ngoại quốc đến.
3. Thực tế ấy đã xảy ra trên nhiều bình diện khác nhau
Do tình cảm tự nhiên, ngôn sứ nào cũng đều muốn dành ưu tiên quyền lợi cho quê hương mình, nhưng nhiều khi vì thái độ khinh thường và cố chấp của người đồng hương, nên quê hương của các vị không hưởng được cái quyền ưu tiên mà các vị muốn đặc biệt dành cho. Để rồi cuối cùng sự ưu đãi đó lại được dành cho những người hay dân tộc xa lạ ở đâu đâu nhưng lại xứng đáng với sự ưu đãi đó hơn.
Thật vậy, Đức Giêsu luôn luôn muốn dành ơn cứu độ ưu tiên cho người Do Thái (x. Ga 4,22; Mt 10,6; 15,24). Nhưng Người Do Thái lại từ chối sự ưu tiên đó, nên ơn cứu độ lại được đem đến cho các dân tộc khác. Nhiều dụ ngôn của Đức Giêsu nói lên thực trạng đó. Chẳng hạn dụ ngôn những tá điền sát nhân (x. Mt 21,33-46; Mc 12,1-12; Lc 20,9-19), dụ ngôn tiệc cưới (x. Mt 22,1-14; Lc 14,15-24).
Bài Tin Mừng lễ Hiển Linh cho thấy các kinh sư Do Thái - đại diện cho dân tộc được Thiên Chúa ưu tiên dành cho mọi quyền lợi thiêng liêng - mặc dù có Kinh Thánh trong tay và biết được chính xác Đức Giêsu sinh ra ở đâu, nhưng họ lại không thèm tìm đến Ngài, mà lại còn muốn làm hại Ngài. Còn các đạo sĩ - đại diện cho dân ngoại, dân không được ưu tiên - từ mãi đâu đâu tới và phải nhờ tới các kinh sư Do Thái mới biết được Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, thì lại quyết tâm tìm kiếm Ngài và họ đã tìm thấy.
Sự việc ấy là hình bóng của thực tế xảy ra sau đó: Mặc dù Đức Giêsu sinh ra tại Do Thái, và dân Do Thái là dân được ưu tiên hưởng ơn cứu độ, thì thực tế là cho tới nay, dân Do Thái vẫn chưa nhìn nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Tinh Nhân Loại, mà vẫn còn tiếp tục chờ đợi. Còn những dân tộc đang tin vào Đức Giêsu hiện nay thì lại là những dân tộc bị dân Do Thái xưa khinh thị và gọi là dân ngoại. Thế là ứng nghiệm điều Đức Giêsu tiên báo trong hai dụ ngôn vừa nêu trên.
4. Nói người lại nghĩ đến ta
Lịch sử thường hay tái diễn lại theo kiểu tương tự. Điều đó khiến ta phải suy nghĩ vì nó có thể xảy ra cho chính chúng ta. Hiện nay, Kitô giáo luôn tự hào mình là tôn giáo do chính Thiên Chúa thiết lập, được chính Thiên Chúa mặc khải những chân lý thâm diệu nhất, và là con đường chính thống nhất dẫn đến ơn cứu độ. Kitô giáo với các tôn giáo khác cũng phần nào tương tự như Do Thái giáo với dân ngoại xưa. Liệu điều đã đúng với Do Thái giáo có đúng một cách tương tự với Kitô giáo không?
Dân Do Thái xưa lúc nào cũng tự hào về tôn giáo của mình là tôn giáo duy nhất đúng đắn vì là tôn giáo duy nhất được Thiên Chúa mặc khải. Còn các dân tộc khác thì thờ thần tượng, đi trong sai lạc. Nhưng kết cục ra sao? Dân Do Thái không chỉ phủ nhận Đức Giêsu mà còn giết Ngài nữa. Họ từ chối ơn cứu độ, và ơn cứu độ đã được trao cho dân ngoại. Dân ngoại lại đón nhận ơn cứu độ và gia nhập Giáo Hội. Thế thì xét cho cùng, đối với dân Do Thái, việc có tôn giáo duy nhất đúng đắn, việc nắm được nhiều chân lý hơn các dân tộc khác có ích lợi gì?
Như thế, xem ra điều quan trọng không phải là có tôn giáo chân chính cho bằng sống đúng những gì tôn giáo mình đòi hỏi, sống đúng theo lương tâm của mình. Hãy nghe thánh Phaolô nói: «Người ta được Thiên Chúa coi là công chính, không phải vì nghe biết Lề Luật, nhưng là vì tuân giữ Lề Luật» (Rm 2,13). Vì thế, nếu «bạn tự hào vì có Lề Luật, mà bạn lại vi phạm Lề Luật, thì như vậy bạn làm nhục Thiên Chúa!» (Rm 2,23). Tương tự, nếu chúng ta có tôn giáo chân chính mà lại không thèm sống đúng theo tôn giáo ấy, thì ta cũng làm nhục Thiên Chúa, Đấng thiết lập tôn giáo ấy. Lúc ấy chúng ta rất xứng đáng với lời kết án của thánh Phaolô: «Thật đúng như lời chép: Chính vì các người mà danh Thiên Chúa bị phỉ báng giữa chư dân» (Rm 2,24). Lúc ấy, tôn giáo chân chính có ích lợi gì cho ta, hay đó chính là lý do để Thiên Chúa kết án chúng ta?
Bài Tin Mừng hôm nay chính là lời cảnh tỉnh chúng ta: Đừng để tinh thần yêu thương của Kitô giáo lại bị chính các Kitô hữu như chúng ta coi thường, không thèm sống, mà người sống tinh thần ấy lại là những người thuộc các tôn giáo khác. Vậy tốt nhất, chúng ta hãy đem tinh thần yêu thương của Đức Giêsu ra áp dụng thật sự vào đời sống. Đừng để trường hợp của Do Thái giáo lại tái diễn một cách tương tự với Kitô giáo, trong đó người chủ động tái diễn trường hợp ấy lại chính là chúng ta!
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã gián tiếp cảnh giác chúng con: chính quê hương, đất nước, dân tộc và đồng đạo của Ngài - là những người mà Ngài muốn dành ưu tiên hưởng ơn cứu độ Ngài đem lại - lại từ chối Ngài. Hiện nay, rất có thể chúng con đang đi vào vết xe đã đổ ấy: ngoài miệng chúng con luôn tuyên xưng mạnh mẽ niềm tin vào Đức Giêsu, nhưng đời sống của chúng con thì lại đi ngược lại những điều Ngài dạy. Chúng con tuyên xưng hay biểu lộ đức tin mạnh mẽ ra ngoài để che lấp thực tế phủ nhận đức tin ấy ở bên trong. Xin giúp chúng con ý thức rằng thái độ giả hình ấy vô cùng có hại cho chúng con. Xin Cha cứu chữa chúng con khỏi thái độ ấy.

 

TN4-C18. Tiên tri không được đón tiếp tại quê nhà - Lm Trần Bình Trọng

Một trong những điều khó nói ra hay nói ra làm mất lòng là khi phải nói cho ai biết cái điều: TN4-C18

Một trong những điều khó nói ra hay nói ra làm mất lòng là khi phải nói cho ai biết cái điều mà họ không thích nghe hay không muốn nghe. Đọc Thánh kinh cựu ước, ta thấy thế nào là một vị tiên tri. Tiên tri hay ngôn sứ là người phát ngôn viên của Thiên Chúa, được gọi để nhắc nhở cho dân chúng biết họ là ai và phải sống thế nào để xứng đáng với tước hiệu dân được chọn. Bài trích sách Giê-rê-mi-a hôm nay ghi lại, khi Giê-rê-mi-a được Chúa sai đến để nói cho dân về sự thật, thì bị dân chúng chống đối, không chấp nhận sứ điệp của ông.
Đó là lý do tại sao Chúa Giê-su trong Phúc âm hôm nay nhắc nhở cho dân chúng là các tiên tri trong Cựu ước thường được sai đến với dân ngoại hơn là dân bản xứ. Và họ cũng thường không làm phép lạ cho dân của họ, nhưng cho dân ngoại bang. Chúa bảo họ tiên tri Ê-li-a được sai đến với bà goá ngoại quốc xứ Sy-ri-a để hứa với bà rằng hũ bột của bà sẽ không hề cạn, bởi vì bà đã tỏ ra hiếu khách với ngưòi của Thiên Chúa. Bà chỉ còn một rúm bột cho bà và con bà, nhưng nghe lời người của Thiên Chúa, bà đã dùng làm bánh cho Ê-li-a rồi cho mẹ con bà phần còn lại. Còn tiên tri Ê-li-sa đươc sai đến chữa lành viên sĩ quan ngoại quốc, tư lệnh quân đội Sy-ri-a tên là Na-man cho khỏi bệnh phong cùi, bởi vì ông tỏ ra có lòng tin mạnh. Khi Chúa Giê-su ám chỉ cái sứ mệnh của Người là đến với dân ngoại, thì họ bực tức và căm phẫn, và tìm cách tẩy chay Người.
Sở dĩ có sự tẩy chay là vì những lời giảng dạy của Chúa, đường lối sống của Người, không thích hợp với tư tưởng và lối sống của họ, nên làm tâm trí họ bị xáo trộn. Và từ cái trạng thái xáo trộn của tâm trí, người ta nảy sinh ra hai phản ứng khác nhau. Thứ nhất là người ta phản đối, không chấp nhận lời giảng dạy của Chúa. Đó là cái phản ứng của những người trong Phúc âm hôm nay và cũng là phản ứng của người Biệt phái. Cái phản ứng thứ hai là khi tâm trí bị xáo trộn bởi những lời giảng dạy của Chúa, là việc chấp nhận sứ điệp Phúc âm, và thay đổi cách sống cho phù hợp với sứ điệp Phúc âm.
Khi Chúa Giê-su nhận định: Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình (Lc 2: 24), Chúa muốn đồng hoá với hàng ngũ các tiên tri trong Cựu ước, cũng cùng chung một số phận bị tẩy chay. Như vậy vị tiên tri nào nhắc nhở cho dân chúng về những điều họ không muốn nghe, thường không được dân chúng chấp nhận. Vị tiên tri nào cứ phê bình dân chúng về sự gỉa dối, việc làm vô luân và bất chính của họ, về việc họ bất trung phản nghịch với Thiên Chúa, thì thường bị dân chúng tẩy chay. Tuy nhiên đó là điều khác biệt giữa tiên tri thật và tiên tri giả. Tiên tri giả là người không có xác tín về điều họ nói, không có kinh nghiệm sống những điều họ giảng dạy. Do đó họ thường nói hiêu nói vượn, nói nịnh nói bợ để nhắm làm vừa lòng người nghe.
Tiên tri thật là ngưòi nói thẳng ra sự thật, là người mang theo một sứ điệp và là sứ điệp của Thiên Chúa, chứ không phải của loài người. Theo nghĩa này thì Chúa Giê-su là một vị đại tiên tri. Người có một sứ điệp để ban bố. Người giảng lời Chúa và nói lời Chúa. Và hơn thế nữa, Người còn là lời Chúa, Ngôi lời nhập thể. Lời Người là lời Chúa, lời hằng sống. Việc chấp nhận hay từ chối là tuỳ thuộc vào sự tự do của loài người.

 

TN4-C19.  SUY NIỆM - Anrê Nguyễn hữu Nghĩa

Câu hỏi gợi ý:
 

Lý do nào khiến Đức Giêsu không làm nhiều phép lạ tại quê hương của Ngài như ở những: TN4-C19

1. Lý do nào khiến Đức Giêsu không làm nhiều phép lạ tại quê hương của Ngài như ở những nơi khác? Có phải Ngài chủ trương bạc đãi quê hương Ngài không?
2. Có phải mình là đạo gốc, là người theo chính đạo, thì mình sẽ chắc chắn được cứu rỗi hơn người ngoại giáo không? Mình có những thuận lợi hơn họ để được cứu rỗi ở chỗ nào?
Suy tư gợi ý:
1. Chú giải về đoạn Tin Mừng
Đoạn Kinh Thánh này chúng ta thấy câu Đức Giêsu nói: «Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được biệt đãi tại quê hương mình» (với động từ ở thể thụ động) có vẻ không phù hợp với ngữ cảnh của toàn đoạn văn. Nếu đổi động từ sang thể chủ động thì ý nghĩa của câu sẽ phù hợp hơn với đoạn trước đó và đoạn sau đó: «Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào biệt đãi quê hương mình».
Thật vậy, khi Đức Giêsu về thăm quê hương, những người đồng hương yêu cầu Ngài hãy làm những phép lạ tại quê hương của Ngài, như Ngài đã từng làm ở những nơi khác. Họ muốn yêu cầu Ngài hãy biệt đãi quê hương mình một chút, và có vẻ như muốn trách Ngài là đã bỏ quên quê hương mình.
Đức Giêsu đáp lại bằng cách kể hai câu chuyện của hai ngôn sứ Ê-li-a và Ê-li-sa trong Cựu Ước. Vào những năm đói kém dữ dội, Ê-li-a chẳng cứu giúp bà góa nào ở quê hương ông, mà lại giúp cho một bà góa ở Si-đôn. Mà Si-đôn lại là một vùng thuộc dân ngoại thờ ngẫu tượng, tính tình hung dữ, là một địa danh mà Cựu Ước coi là xấu xa (xem Is 23,2), được Đức Giêsu nói đến cùng với vùng Ty-rô như những vùng tội lỗi (xem Mt 11, 21-22). Còn Ê-li-sa thì đang khi tại Í-ra-en có biết bao người phong cùi tôi ông chẳng chữa cho ai, mà lại chỉ chữa cho Na-a-man, một vị quan người Si-ri, cũng là một dân thờ ngẫu tượng (xem 2V 5,1-19). Đức Giêsu muốn minh chứng rằng các ngôn sứ xưa không ưu đãi quê hương riêng của mình, nên Ngài cũng vậy. Chính vì thế, dân thành Na-gia-rét mới bực tức và muốn hãm hại Ngài.
Tuy nhiên, nếu hiểu câu nói trên của Chúa Giêsu theo nghĩa thụ động thì cũng vẫn đúng, vì nói chung, không mấy ngôn sứ được quê hương của mình, tức những người đồng hương, bạn bè mình chấp nhận và nể phục (xem Mt 13,54). Điều này cũng đúng cho Đức Giêsu tại quê hương Ngài.
2. Lý do khiến Đức Giêsu không thi ân giáng phúc tại quê hương
Đoạn Tin Mừng này không nói lý do tại sao Đức Giêsu lại không làm phép lạ ở Na-gia-rét giống như Ngài đã làm ở những nơi khác. Nhưng Tin Mừng Mát-thêu nói rõ: «Họ xúc phạm đến Người» (Mt 13,57), và «Người không làm nhiều phép lạ tại đó vì họ không tin» (Mt 13,58).
Đúng ra, ngôn sứ nào cũng có quê hương, và chắc hẳn theo tình cảm tự nhiên thì cũng muốn ưu đãi quê hương mình. Nhưng sự đời lắm chuyện chéo ngoe: nơi mình muốn ưu đãi thì nhiều khi lại không xứng đáng với sự ưu đãi ấy. Ê-li-a cứu bà góa thành Sa-rép-ta, vì bà ấy rất xứng đáng được cứu giúp (xem 1V 17,9tt). Năm đó vùng ấy bị hạn hán, nhà bà chỉ còn một chút bột để làm bánh. Bà định làm bánh nốt số bột đó để bà cùng các con ăn xong rồi chết. Nhưng khi ngôn sứ Ê-li-a xin ăn, thì bà sẵn sàng nhường chiếc bánh đầu tiên làm được cho ông ăn. Vì thế, để thưởng lòng quảng đại yêu thương của bà ta, Chúa đã làm phép lạ cho hũ bột của bà không bao giờ cạn hết, nhờ vậy mà bà và gia đình sống qua nạn đói. Bà được cứu giúp vì bà xứng đáng được cứu giúp.
Đức Giêsu không làm được phép lạ nào ở Na-gia-rét vì người đồng hương của Ngài xúc phạm đến Ngài, và vì họ cứng lòng tin. Nguyên do nằm ở nơi họ, chứ không phải ở nơi Ngài.
3. Đừng tự hào mình là Kitô hữu, hay là người đạo gốc
Chúng ta có thể rút ra bài học gì từ đoạn Tin Mừng này?
Ta thấy cách xét đoán và xử sự của những ngôn sứ và của chính Đức Giêsu không giống như cách ta thường nghĩ. Các Ngài dường như lúc nào cũng dành ưu tiên cho dân tộc của mình, cho dân riêng của mình, rồi mới tới dân ngoại. Thật vậy, khi sai các tông đồ đi loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu nói: «Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của dân Sa-ma-ri. Tốt hơn, hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en» (Mt 10,5-6), hay «Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi» (Mt 15,24). Nhưng khốn nỗi những người được Ngài dành ưu tiên  tức Dân Ngài, những người mang danh là đạo đức trong Dân Ngài  thì lại tự kiêu và không thèm tin Ngài cũng như không chịu thực hành những điều Ngài dạy là sống yêu thương. Trái lại, chính những người tội lỗi (gái điếm, thu thuế) và lương dân lại tin theo và thực hành lời của Ngài (xem Mt 21,31-32; Cv 8,5; 13,5). Ngài đã bất bình với chính Dân của Ngài và nghiêng chiều về phía dân ngoại. Ngài nói: «Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din, khốn cho ngươi, hỡi Bết-sai-đa, vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Ty-rô và Si-đôn, thì họ đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu để tỏ lòng sám hối. Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay: đến ngày phán xét, thành Ty-rô và Si-đôn sẽ được xử khoan hồng hơn các ngươi» (Mt 11,21-22).
Vấn đề quan trọng trong ngày phán xét không phải chuyện chúng ta là đạo Công giáo hay là người ngoại, là đạo gốc hay đạo mới, đạo theo, mà là chúng ta có tin thật sự vào Thiên Chúa, vào Đức Giêsu, và sống có tình có nghĩa với mọi người chung quanh hay không. Trong bài đọc 2, thánh Phaolô cho chúng ta thấy «con đường trổi vượt hơn cả» là sống đúng theo những đòi hỏi của yêu thương. Ngài xác định hết sức rõ ràng và lập đi lập lại rằng nếu không có tình yêu đích thực ở trong lòng, thì dù có tài năng siêu quần bạt chúng, dù có đức tin chuyển núi dời non, dù có làm được những việc tốt lành vĩ đại, thì tất cả chỉ là những con số không to tướng, chẳng có giá trị gì trước Thiên Chúa cả. Và Ngài cũng phân biệt giữa yêu thương đích thực và có vẻ yêu thương: bố thí hết gia tài để được khen là người đạo đức, là người biết yêu thương, thì chỉ là có vẻ yêu thương, chứ không phải yêu thương đích thực. Biết bao người trong chúng ta làm những việc bác ái chẳng phải do thương người, mà là để được khen!
Chúng ta là người Kitô hữu, nên chúng ta là đối tượng ưu tiên của Nước Trời, chúng ta được dạy dỗ và ban ơn để sống tốt lành nhiều hơn người ngoại. Nhưng thật vô phúc cho chúng ta, nếu chúng ta lại sống ích kỷ, lỗi công bằng, bác ái hơn người ngoại. Biết bao người ngoại nếu được dạy dỗ như chúng ta, có điều kiện học hỏi về Chúa như chúng ta, thì họ đã tốt hơn chúng ta nhiều. Họ đáng được Thiên Chúa ân thưởng hơn chúng ta đấy!
CẦU NGUYỆN:
Lạy Cha, xin cho con biết sống theo ý Chúa, sống tinh thần của Chúa là tinh thần yêu thương. Cho con xác tín rằng tình yêu chân thân đối với mọi người chính là điều cần thiết nhất để nên thánh, nên trọn lành, và cũng là điều Chúa yêu quí nhất. Lạy Cha, xin tăng triển tình yêu trong lòng chúng con. Amen.

 

 TN4-C20. GHEN TỊ - Br. Phillip Bình Khả, CMC

Lc 4:21-30
 

Hai đệ tử sau nhiều năm luyện tập, được sư phụ cho xuống núi để cứu nhân độ thế. Sau nhiều: TN4-C20

Hai đệ tử sau nhiều năm luyện tập, được sư phụ cho xuống núi để cứu nhân độ thế. Sau nhiều tháng đi khắp nơi cứu giúp dân lành, họ trở về núi để tường trình lại cho sư phụ những việc họ đã thực hiện. Sau khi báo cáo, sư phụ thấy đệ tử A làm khá lắm, và đệ tử B làm khá hơn. Sư phụ cảm thấy rất hài lòng, liền nói:
Hai con làm khá lắm. Ta sẽ ban thưởng cho hai con. Tuy nhiên đệ tử B lập nhiều công trạng hơn. Để cho công bằng, ta cho đệ tử A xin trước. Nếu đệ tử A xin một thì ta sẽ cho đệ tử B hai.
Suy nghĩ giây lát, đệ tử A (trong lòng rất bất mãn) nói:
- Xin sư phụ cho con chột một con mắt.
Trong câu chuyện trên, chúng ta nhận thấy thái độ và hành động ghen tị của đệ tử A đối với đệ tử B cũng là thái độ và hành động ghen tị, thù hiềm của thính giả đối với Chúa Giêsu trong bài Phúc âm hôm nay. Họ không bằng lòng đối với sự thành công của Chúa Giêsu.
Bài Phúc Âm thánh Luca thuật lại rằng sau khi Chúa Giêsu đọc xong thánh thư Isaia, người giảng dậy những người Do thái. Những lời giảng dậy của Chúa Giêsu quá hay làm họ trầm trồ, ca ngợi và thán phục. Tuy nhiên sau mấy phút họ đã thay đổi thái độ- từ thái độ thán phục chuyển sang thái độ ghen tị, hiềm thù, ganh ghét. Thái độ của họ thay đổi khi họ nhìn lại cuộc sống không tên tuổi, địa vị của Chúa Giêsu. Đây là con ông Giuse thợ mộc, nghèo nàn đây mà. Tại sao ông ta nói hay như thế. Đối với nhà lãnh đạo tôn giáo thì họ cảm thấy bị đe dọa khi Chúa Giêsu giảng dậy hay. Chúa Giêsu được đưa lên cao, còn họ bị lép vế. Chiến thuật ghen tị của họ rất là đơn giản: tìm cách hạ Chúa Giêsu xuống để họ được đưa lên cao. Từ thái độ ghen tị, hiềm thù của họ đã dẫn đến hành động đả phá. Họ "chỗi dậy và trục xuất Người khỏi thành. Họ dẫn đưa người lên triền núi... để xô người xuống vực thẳm."
Rút từ bài học của Phúc âm và nhìn vào cuộc sống của mỗi người chúng ta nói riêng và xã hội nói chung, chúng ta phải chân nhận rằng lòng ghen tị của con người len lỏi khắp nơi trong cuộc sống từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Trong gia đình anh chị em ghen tị nhau khi cảm thấy rằng mình không được thương yêu hơn anh chị em khác trong gia đình. Nơi học đường học sinh này ghen tị học sinh khác trong khía cạnh học hành. Nơi xưởng làm nhân công này cảm thấy không bằng lòng với nhân công khác trong vấn đề tiền lương.
Quả thật, sống trong xã hội ngày hôm nay, chúng ta thường dễ đem chính mình so sánh với người khác. Chúng ta so sánh quần áo, xe hơi, nhà cửa, công danh, sự nghiệp. So sánh để rút ra điều hay, điều dở làm cho cuộc sống chính mình và người khác khá hơn là rất tốt. Tuy nhiên so sánh để rồi mang đến thái độ ghen tị, hiềm thù, đả phá, đè bẹp, dèm pha người khác vì người khác thành công hơn mình là điều không tốt. Con người ghen tị sẽ không tìm thấy chính mình và không có hạnh phúc vì họ luôn ao ước và tìm kiếm nơi người khác điều mà không phải là của họ.
Bước vào đầu năm mới của 2001, ước gì mỗi người nhìn vào chính mình để làm sao chúng ta thay đổi con người cũ của chính mình từ thái độ ghen tị, hiềm thù của chúng ta đối với người khác để mặc lấy con người mới yêu thương, bác ái của Chúa Giêsu. Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai - thư gởi cho những người Corintô - đã chỉ cho thấy thái độ và cử chỉ yêu thương, bác ái đuổi lòng ghen tị khỏi tâm hồn chúng ta: "Bái ái là kiên nhẫn, là nhân hậu...là không ích kỷ..., không vui mừng trước sự bất công." Bác ái giải thoát chúng ta khỏi ghen tị để vui mừng trong sự thành công của người khác. Thành công của họ là thành công của tôi. Thành công của họ đem lại lợi ích cho tôi.
Thế vận Hội 2000 trong mùa hè vừa qua cho chúng ta một câu chuyện rất cảm động về yêu thương. Esther Kim and Kay Poe là hai nữ sinh võ thuật Tae Kwon Do được huấn luyện nhiều năm bởi võ sư Jin Won Kim, cha của Esther Kim. Họ cũng là hai bạn thân. Họ cùng có ước mơ đi tham dự cuộc đấu võ thuật Tae Kwon Do ở Thế Vận Hội mùa hè 2000. Trong cuộc thi tuyển chọn người xuất sắc ở Mỹ để đi tham dự Thế Vận Hội tại Úc Châu, cả hai cô, Kay Poe và Esther Kim, được vào bán kết. Tuy nhiên trong cuộc thi đấu trước cô Kay Poe bị thương đầu gối, cần phải đi gặp bác sĩ để được chữa trị và cần thời gian chữa khỏi nhưng cô từ chối nhất định không đi. Cô muốn tiếp tục đấu với cô Esther Kim để được trúng tuyển đi tham dự Thế Vận Hội.
Thấy bạn thân của mình muốn được tham dự Thế Vận Hội, Esther Kim đã xin rút khỏi cuộc giao đấu với Poe để bạn của cô được trúng tuyển đi tham dự Thế Vấn Hội mùa hè tại Úc. Esther thổ lộ rằng: "Không hẳn chỉ có cuộc tranh giải thể thao để giành được huy chương vàng là vô địch nhưng còn có nhiều cách để đạt tới chức vô địch."
Quả thật, Esther Kim đã vô địch lòng người. Esther Kim không những không ghen tị với bạn mà còn muốn cho bạn thành công, muốn giúp bạn đạt được ước nguyện. Cử chỉ yêu thương của Esther quá đẹp và đáng khâm phục. Chắc hẳn mỗi người ai cũng muốn có những hành động như Esther Kim, và không ai thích thái độ và hành động của đệ tử A trong câu chuyện trên cũng như hành động của một số người Do thái trong bài Phúc âm hôm nay vì ghen tị sự thành công người khác mà dẫn đến hành động dèm pha và phá đổ.
Br. Phillip Bình Khả, CMC