Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Chúa Kitô Vua TN 34-ABC Bài 51-100 Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ

Thứ tư - 21/11/2018 05:54
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Chúa Kitô Vua TN 34-ABC Bài 51-100 Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Chúa Kitô Vua TN 34-ABC Bài 51-100 Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Chúa Kitô Vua TN 34-ABC Bài 51-100 Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ
----------------------------

TN 34-ABC51. CHẲNG CÒN GÌ ĐỂ NÓI 2
TN 34-ABC52. CHÚA KITÔ - VUA và  NGÀY PHÁN XÉT CHUNG.. 4
TN 34-ABC53. Vua vĩnh cửu. 6
TN 34-ABC54. Phán xét 7
TN 34-ABC55. Chúa sẽ luận xét chúng ta về điểm nào?. 9
TN 34-ABC56. Chúng ta là một phần của phong trào lớn lao. 11
TN 34-ABC57. Vương quốc tình yêu – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt 13
TN 34-ABC58. Cuộc sống của chúng ta tuỳ thuộc vào Mt 25,40. 14
TN 34-ABC59. Phán xét cùng tận. 15
TN 34-ABC60. Lễ Chúa Kitô Vua – Noel Quesson. 18
TN 34-ABC61. NGÀY PHÁN XÉT.. 22
TN 34-ABC62. PHÁN XÉT CUỐI CÙNG.. 24
TN 34-ABC63. Đức Kitô Vua. 29
TN 34-ABC64. VƯƠNG QUỐC CỦA CHÚA KITÔ.. 30
TN 34-ABC65. ĐỨC KITÔ VUA THẨM PHÁN - Lm Giuse Đinh lập Liễm.. 33
TN 34-ABC66. THIÊN CHÚA ĐÃ TRỞ NÊN GIỐNG NHƯ BẠN VÀ TÔI 39
TN 34-ABC67. TÌNH YÊU LÀ THƯỚC ỊO DUY NHẤT... 40
TN 34-ABC68. ĐỨC KITÔ LÀ VUA TỐI CAO! - Lm Hà Ngọc Đoài 42
TN 34-ABC69. Chúa Giêsu, Vua tình yêu - Lm. An Phong, OP. 43
TN 34-ABC70. SỨC MẠNH GIẢI THOÁT - . Giuse Ịổ Vân Lực, OP. 45
TN 34-ABC71. NIỀM VUI TUYỆT VỜI - Lm. Giuse Ịổ Vân Lực, OP. 48
TN 34-ABC72. ÔNG VUA LÀ NGƯỜI NGHÈO.. 51
TN 34-ABC73. VUA TÌNH YÊU - . Giacôbê Phạm Văn Phượng,OP. 55
TN 34-ABC74. VỊ VUA MỤC TỬ - . Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm.. 58
TN 34-ABC75. Vương quốc của tình yêu. 64
TN 34-ABC76. Tha nhân là thân thể Chúa Giêsu – Lm. Trần Ngà. 66
TN 34-ABC77. VÌ XƯA TA ĐÓI 70
TN 34-ABC78. Số phận chiên và dê. 71
TN 34-ABC79. CHÚA NHẬT LỄ CHÚA KI-TÔ VUA.. 73
TN 34-ABC80. Con Tôi Tuyệt Vời 75
TN 34-ABC81. Khi tình người mất – bạo lực lên ngôi 78
TN 34-ABC82. CHÂN DUNG CHÚA GIÊSU KITÔ VUA.. 80
TN 34-ABC83. Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ. 85
TN 34-ABC84. ĐỨC TIN THỰC HÀNH.. 88
TN 34-ABC85. HỌ NGẠC NHIÊN: “LẠY CHÚA, CÓ BAO GIỜ …?”. 90
TN 34-ABC86. HÃY LÀM BẤT CỨ ĐIỀU GÌ CHO ANH EM... 92
TN 34-ABC87. Đức Kitô – Vua của người song đời phục vụ. 94
TN 34-ABC88. VUA GIÊSU KITÔ.. 98
TN 34-ABC89. MỘT TƯỚC HIỆU DỄ BỊ NGỘ NHẬN.. 99
TN 34-ABC90. VUA LÒNG THƯƠNG XÓT.. 101
TN 34-ABC91. Hãy vào hưởng cùng Ta trong nước hằng sống. 104
TN 34-ABC92. PHỤC VỤ THA NHÂN.. 105
TN 34-ABC93. PHÁN XÉT CUỐI CÙNG.. 108
TN 34-ABC94. VUA MUÔN VUA.. 114
TN 34-ABC95. Phán xét cuỐi cùng. 115
TN 34-ABC96. Những Người Được Chúc Phúc. 121
TN 34-ABC97. Vạn tuế Vua Giê-su! 125
TN 34-ABC98. Thiên Chúa phán xét theo tiêu chuẩn duy nhất: 126
TN 34-ABC99.  CHÚA NHẬT LỄ CHÚA KI-TÔ VUA.. 131
TN 34-ABC100. SỰ PHÁN XÉT.. 135

---------------------------

 

TN 34-ABC51. CHẲNG CÒN GÌ ĐỂ NÓI


CHÚA NHẬT XXXIV : ĐỨC GIÊSU KITÔ, VUA VŨ TRỤ Mt 25, 31 – 46

 

Cụm từ nầy có hai ý nghĩa rất rõ ràng: những gì cần nói, cần làm thì đã nói và đã làm rồi, nay TN 34-ABC51


Cụm từ nầy có hai ý nghĩa rất rõ ràng: những gì cần nói, cần làm thì đã nói và đã làm rồi, nay chỉ còn chờ phán quyết, chứ không còn thay đổi gì được nữa, dù là một chấm một phẩy; thứ đến, sự lì lợm đến lúc nầy vẫn chẳng thay đổi, chứng tỏ sự trơ tráo tột cùng, trong ngôn ngữ bình dân ngày nay gọi là “hết thuốc”, còn trong Anh ngữ thì người ta vắn gọn hơn : “no comment!”. Cả hai ý nghĩa của câu nói nầy thể hiện chính xác và rõ ràng trong bài Tin Mừng phụng vụ ngày hôm nay: Ngày Phán Xét Chung.

Theo định nghĩa của từ điển, “trơ tráo” là trơ lì, ngang ngược,không hề biết hổ thẹn. Ví dụ : đã phạm lỗi mà còn trơ tráo cãi lại. Những người bê trọn nhiều trang sách của người khác vào tác phẩm của mình, những người lấy nguyên cả nhạc và thậm chí cả nhạc và lời của người khác, ghi tên mình là tác giả, và cho ra CD,DVD  với tên tuổi của mình. Tất nhiên cũng bỏ túi toàn bộ tìên thu được. Khi bị phát hiện, lại một mực cho mình là tác giả. “Trơ tráo” đến gây buồn nôn, ấy là trường hợp tay khủng bố đặt bom giết hàng mấy trăm nhân mạng ở Bali: khi bị bắt, khi ra toà, khi nhận án tử, y đều giữ nụ cười bệnh hoạn,  khoái trá và tỏ thái độ không hề hối tiếc. “Trơ tráo” còn phải kể đến một ví dụ mới đây của vị quan chức nhà nước trong vụ sữa có mélamine : hôm trước tuyên bố không hề nhập sữa nước ngoài, hôm sau khi bị đưa ra bằng chứng đã cho nhập số lượng rất lớn, thì mặt mày tỉnh rụi nói là …quên. ”Trơ tráo” cũng để chỉ những quyết định, những hành vi ngang nhiên và trắng trợn của những người không còn sỉ diện, “chịu đấm ăn xôi”, coi luật pháp như trò đùa, muốn cho người vô tội trở thành phạm nhân không khó và làm cho những tội phạm tham ô sa đoạ và bị kết án ( dù án phạt vốn đã rất “tượng trưng) trở thành vô tội (xem báo Dân Trí 28.03.2008) dễ “như trở bàn tay. “Trơ tráo” còn là “ném đá dấu tay”, xúi giục và lợi dụng những bọn côn đồ, say sưa, nghiện ngập để phá rối, bôi nhọ danh dự hoặc gây thiệt hại cho người khác, tập thể hoặc cá nhân. Nó nguy hiểm và bào mòn niềm tin của những người dân lương thiện, vì các hành vi trơ tráo như thế được dàn cảnh, chỉ đạo và bao che từ cấp cao nhất xuống đến cấp thấp nhất.  Thái độ trơ tráo ấy, hôm nay chúng ta gặp lại nơi những người bị xếp vào “đám dê ở bên trái”. Thái độ câng câng và câu đáp trả trơ tráo chỉ có thể tóm gọn trong câu: chẳng còn gì để nói! May thay có một tiêu chuẩn để nhận diện và đáng giá những hạng người nầy: tất cả những kẻ trơ tráo đều là ngừơi xấu và bất lương!

Cảnh tượng Ngày Phán Xét thật đáng kinh ngạc: thứ nhất vì một sự kiện vô cùng trọng đại, liên quan đến sự sống cũng như cái chết muôn đời, phúc vinh hoặc khổ hình muôn kiếp, lại chỉ diễn ra chóng vánh; thứ đến, cuộc sống con người ở thế trần, dù ngắn ngủi đấn đâu, cũng đầy dẫy những lỗi lầm, sa phạm. Kẻ độc ác, tà dâm, vô thần còn bao nhiêu tội, mà chỉ cần nêu ra một trong các tội ấy,cũng đủ để họ “tâm phục khẩu phục” nhận những hình phạt trầm luân muôn đời . Vậy mà “Đấng Xét Xử rất nghiêm nhặt”(x. Dies irae,dies illa, thánh lễ an táng) dường như chẳng đoái hoài, mà chỉ đưa ra một tội duy nhất : đối xử ích kỷ và thiếu tình người với tha nhân! Lý do để những thứ lơ là, sai sót, khinh mạn trong hành xử với những người nghèo đói, cô thân có thế, bị bỏ rơi coi thường “biến” thành tội chịu án phạt ngàn thu, lại hoàn toàn trái với mọi dự đoán, mọi “lô-gic”, khiến cho cả người lành lẫn kẻ dữ đều không kịp trở tay. Không có bộ luật tố tụng nào trên trần gia - kể cả Bộ Giáo Luật nghiêm khắc tỉ mỉ - minh nhiên kết án những “tội” nầy. Những quốc gia giàu có lợi dụng các nước nghèo để tuồn bán vũ khí, kích động chiến tranh đẫm máu và vô nhân đạo khắp nơi, những kẻ ích kỷ, theo chủ nghĩa hưởng thụ và ăn chơi xa xỉ trác táng mà không đếm xỉa hoàn cảnh nghèo đói bệnh tật khốn cùng và bất công của anh em đồng loại còn không bị định tội, thì những thiếu sót “nhỏ như con thỏ” được nêu ra để luận phạt với bản án chung thân trong Ngày Phán Xét Chung liệu có quá bất công chăng? Giả sử luật pháp thế tục của các quốc gia – hay là một điều khoản nào trong Bộ Giáo Luật - có khung hình phạt, dù là án treo rất nhẹ, đối với “tội” xa xỉ của các diễn viên, của các siêu sao bóng đá, của các tay tài phiệt, của những quan chức tham nhũng, v…v…, thì hẳn cuộc diện hôm nay  - Ngày Phán Xét Chung – đã khác hẳn, không trớ trêu và dở khóc dở cười cho cả người lành lẫn kẻ dữ. Hôm nay, trong ngày Phán Xét Chung, Chúa Thẩm Phán thực hiện điều Ngừơi đã nói : “một chấm một phẩy cũng không bỏ qua”(Mt 5,18); hơn thế nữa, lại sùng “cái chấm cái phẩy bị bỏ qua” để luận tội! Nét khôi hài trong Ngày Phán Xét Chung là cả kẻ được thưởng lẫn người bị phạt đều…chối các hành vi của mình. Nhưng cũng “trơ tráo” thay những kẻ bị luận phạt : chúng đã nghe những gì Đấng Xét Xử nói trước đó với “cánh chiên cừu bên tay hữu”, mà vẫn không thể liên kết các sự kiện đơn giản như thế, để rồi vẫn cứ gân cổ cãi cối cãi chày! Nơi đây, lúc nầy, chẳng còn gì để nói!

Tri nhân tri kỷ, không phải để bách chiến bách thắng, mà để thấy rằng trong cuộc sống làm con cái Chúa, xét ra và so ra, chúng ta cũng “trơ tráo” không kém -  nếu không muốn nói là vượt hơn và vượt xa - những người bị xếp vào “cánh dê bên trái” trong Ngày Phán Xét Chung. Hay là chúng ta phủ nhận Tứ Chung, coi đoạn Tin Mừng hôm nay chỉ là lời hù doạ kiểu Ông Ba Bị? Chúng ta nói nhiều, rất nhiều, quá nhiều, về bác ái, yêu người, nhưng làm chẳng bao nhiêu. Không ít tín hữu Công giáo mỉa mai “sư sãi và mục sư Tin Lành thích làm việc từ thiện để lên ti-vi”. Người Công giáo không theo thói giả hình và hám danh ấy! Người Công gíao không hám danh. Người Công giáo - nhiều lắm – chẳng làm gì cho những đối tượng mà Chúa Thẩm Phán nêu ra trong Ngày Phán Xét Chung. Cũng sẽ ”chẳng còn gì để nói”, vì trong một đời người tín hữu Công giáo, ít nhất cũng cả trăm lần nghe, đọc, được giảng dạy, khuyên giục thực hành nội dung bài Tin Mừng hôm nay. ”Giật mình mình lại thương mình xót xa" (Kiều, Nguyễn Du). Chỉ còn lại “xót xa”: Chúa xót xa thay cho chúng ta,  cây vả không sinh hoa trái mà Chúa năn nỉ Chúa Cha gia hạn cho Ngừơi chăm sóc! Những người lành xót xa thay cho chúng ta! Biết bao tín hữu suy gẫm, tìm kiếm, giảng dạy những điều cao siêu trên trời, bay bỗng trên không trung, ở  “ngoài hành tinh”, mà bỏ qua, mà bỏ quên – vô tình thì ít, mà chủ yếu là coi nhẹ - những điều đơn sơ, dễ thấy, dễ gặp và dễ làm nhất : sống tình người và tình con Chúa với những người bất hạnh.

Lạy Chúa Giêsu, nếu được cho phép, thì con sẽ xin gọi tất cả 26 quyển Tân Ước là “lý thuyết” và quyển thứ 27 - Thư Thánh Giacôbê Tông Đồ -  là tóm lược và là  “kim chỉ nam thực hành Lời Chúa”: Chúa Thẩm Phán dùng đề cương “kim chỉ nam” nầy để phán xét! Viễn cảnh Ngày Phán Xét Chung đáng hãi hùng và không ai thoát được là thế, hóa ra lại quá đơn giản và dễ thưc hành. Vì quá đơn giản, mà với nhiều người, nó  đã  thành cái bẫy chết người.  Sẽ chẳng còn gì để nói, chẳng còn lý do gì để tự biện hộ và chẳng còn ai xót thương chúng con lúc bấy giờ nữa, vì chúng con đã chẳng hề biết xót thương ai!

TÌNH CA CHO NGƯỜI ĐƯỢC YÊU 129

---------------------------

 

TN 34-ABC52. CHÚA KITÔ - VUA và  NGÀY PHÁN XÉT CHUNG

 

Chúng ta đang ở chốn đời đời, và ngày phán xét diễn ra sáng nay chỉ kéo dài ít phút. Luật : TN 34-ABC52


Chúng ta đang ở chốn đời đời, và ngày phán xét diễn ra sáng nay chỉ kéo dài ít phút. Luật căn bản là tình thương yêu. Đức Vua Đấng đã chọn sống giữa những người bị loại trừ, đã chỉ  vén bí mật vào ngày trọng đại nầy những gì đã được ẩn dấu : mọi người đã chọn yêu mến một tù nhân,thăm viếng một bệnh nhân, dọn ăn cho một người nghèo hoặc không biết đến các nhu cầu những người bị cô lập và bị kinh ghét cũng như nhu cầu của những kẻ đói khát.

Như vậy thời giờ của Giáo Hội, mà người  ta nói đó là thời gian lâu dài ông chủ vắng mặt vì trẩy đi phương xa, đã bất ngờ trở thành sự hiện diện không thể tin nỗi của Đấng Thiên Sai. Người ở đó trong những kẻ khi còn ở trần gian đã không có được phần hạnh phúc lẽ ra họ phải được. May thay nhiều người đã đọc lại trong những tháng vừa qua, các dụ ngôn về phán xét, cũng như là các dụ ngôn về tỉnh thức trong hai tuần vừa rồi nầy !

Trong tất cả những người bận tâm làm cho Nước Chúa đến nầy, cũng có những người ích kỷ, những người có vị trí tốt trên hành tinh, vốn cho rằng Chúa không nhìn thấy họ. Họ đã ngạc nhiên : « Chúng tôi đã nhìn thấy Chúa bao giờ ? Chúa đã đói khát ư ? ». Nhưng Chúa Kitô-Vua đã không thấy cần thiết phải giải thích dài giòng với họ. Tât cả bọn họ đã hiểu.

Với chúng ta, mọi người đều đã biết, ngay cả khi người ta không phải luôn ý thức. Điều gây sững sốt nhất ấy là sự ngạc nhiên đến từ cả hai phía : như thể chưa có ai đã từng đọc hoặc hiểu một màn gây hoảng hốt dường ấy, màn diễn phán xét chung mênh mông và vĩ đại đến nỗi không có nhà làm phim nào dám tìm cách đưa lên màn ảnh vì thiếu nhân vật. Như vậy dụ ngôn nầy đã chưa đánh động họ thật sự !

Không phải hiển nhiên khi nhìn đông đảo người đến thế như là anh chị emcủa chính mình, hiệp nhất trong cùng kế hoạch gia đình mới của Chúa Kitô. Kế hoạch của  Đấng Tạo Hoá tuy thế là hạnh phúc yêu thương : cho ăn uống, đón tiếp, cho ăn mặc,thăm viếng,chăm nom. Việc lo lắng nhỏ mọn nhất cho người khác mặc lấy giá trị đời đời. Hơn nữa, danh sách các cử chỉ yêu thương do Chúa Kitô – Vua chỉ ra không hề có giới hạn. Đó chỉ là những ví dụ mà mỗi người phải triển khai khi chỉ cần nhìn chung quanh mình.

Nhưng phải mở to mắt, nhìn thấy các nhu cầu, rồi phải phân biệt giữa những cái tạm bợ  và cái trường tồn !

Bernard Lafrenìere,C.S.C

BTGH chuyển ngữ.

---------------------------

 

TN 34-ABC53. Vua vĩnh cửu

 

Đức Kitô là Con Thiên Chúa, đồng bản tính với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Vì thế, Ngài: TN 34-ABC53


Đức Kitô là Con Thiên Chúa, đồng bản tính với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Vì thế, Ngài không phải chỉ là vua vũ trụ, mà còn là vua của thời gian, vua vĩnh cửu.
Thực vậy, trời và đất đều thuộc về Ngài. Thời gan và vĩnh cửu cũng thuộc về Ngài. Mọi sự được dựng nên vì Ngài và cho Ngài. Trên mặt đất này, không một ai được gọi là vua vĩnh cửu và cũng không một người nào được gọi là vua vũ trụ. Bởi vì quyền hành của họ chỉ ảnh hưởng tới một phần đất nhỏ vé và trong một khoảng thời gian ngắn ngủi nào đó mà thôi.

Người ta kể lại hoàng đế Alexandre đã khóc khi nhìn lên bầu trời đầy trăng sao. Ông tức giận và buồn phiền, chỉ vỉ đã không cai trị được khoảng không trung bao la ấy. Ông chiếm cứ các lãnh thổ và mở rộng bờ cõi tới tận Ấn Độ. Người ta tôn kính ông như một vị thần. Nhà hiền triết Kallisthène đã bị chém đầu chỉ vì không chấp nhận điều đó. Nhưng Alexandre vẫn không phải là một vị vua vĩnh cửu bởi vì ông đã chết và chỉ sống được có ba mươi ba năm.

Hoàng đế Napoléon với những chiến thắng làm rung chuyển cả Âu Châu cũng không thoát khỏi số phận bẽ bàng của cái chết.

Tất cả chúng ta đều là con cái của thời gian. Có sáng chói. Thì cũng chỉ trong một khoảng khắc, sau đó cũng sẽ tàn lụi, rồi bị chìm vào đêm tối của quên lãng. Chỉ mình Đức Kitô mới cai trị đời đời. Chỉ mình Ngài mới là vua vĩnh cửu. Ngài là Alpha và Oméga. Là khởi đầu và kết thúc. Ngài đã có trước thời gian và sẽ còn tồn tại không bao giờ ngừng. Ngài cai trị trên mọi biển khơi và vương quốc của Ngài trải dài đến vô cùng.

Chateaubriand, một thi sĩ nổi tiếng người Pháp, đã kêu lên:

- Ôi lạy Chúa, trên trần gian các dân tộc xâu xé, các vua chúa sụp đổ, chỉ có mình Ngài mới trường tồn bất biến. Không một thế lực nào có thể lật đổ ngai tòa của Ngài.

Vậy chúng ta phải làm gì để tung hô vương quyền của Chúa?

Chúng ta có thể chúc tụng Vua chúng ta bằng cách quì gối, làm dấu thánh giá hay chắp tay nguyện cầu? Tốt lắm, bởi vì đó là bổn phận của chúng ta như lời sách Khải Huyền đã viết:

- Con Chiên bị sát tế xứng đáng lãnh nhận quyền năng, khôn ngoan, sức mạnh, vinh dụ và chiếng thắng.

Chúng ta cũng có thể chúc tụng Vua chúng ta bằng một đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương. Một con sâu làm rầu nồi canh. Một người lính hèn nhát sẽ làm cho cả đoàn quân phải tủi hổ. Một Kitô hữu xấu sẽ làm cho cả khuôn mặt Giáo Hội bị hoen ố. Vì thế, đừng lăn xả vào đống bùn nhơ tội lỗi, trái lại hãy thực sự là người môn đệ của Đức Kitô trong ngày Chúa Nhật cũng như trong ngày thường, trong đời sống riêng tư cũng như trong sinh hoạt xã hội.

Chúng ta còn có thể chúc tụng Vua chúng ta bằng cách rao giảng Phúc âm, làm việc tông đồ, và nhất là bằng cách can đảm làm chứng cho đức tin. Thực vậy, giữ đức tin mà thôi chưa đủ, chúng ta còn phải sống đức tin và phải chiến đấu cho đức tin, như lời Ngài đã nói:

- Ai xưng tụng Ta trước mặt người đời, thì Ta cũng sẽ xưng tụng nó trước mặt Cha Ta ở trên trời.

Khi một vị tướng đi duyệt đoàn quân của mình, chúng ta sẽ thấy cái quang cảnh ấy thật long trọng và hoành tráng: nào đồng phục, nào dàn chào, nào kèn trống với những lễ nghi quân cách…

Trong ngày sau hết, Vua Kitô cũng sẽ đến. Ngài nhìn xem tất cả chúng ta đi qua trước tôn nhan Ngài: già cũng như trẻ, tu sĩ cũng như giáo dân. Ngài sẽ tra hỏi mỗi người chúng ta về lòng trung thành, về tình yêu và cuộc sống của chúng ta đối với Ngài.

Vì thế, hãy tuân giữ những điều Ngài truyền dạy và nhất là thực hiện những hành động bác ái yêu thương, để chúng ta sẽ không bị Ngài loại trừ, trái lại sẽ được Ngài đón nhận vào vương quốc vĩnh cửu của Ngài.

---------------------------

 

TN 34-ABC54. Phán xét

 

Vào ngày cuối cùng Chúa Giêsu sẽ hiện đến, uy quyền như một vị vua để phán xét tất cả: TN 34-ABC54


Vào ngày cuối cùng Chúa Giêsu sẽ hiện đến, uy quyền như một vị vua để phán xét tất cả chúng ta. Thế nhưng, đâu là nội dung của cuộc xét xử ấy?

Nội dung của cuộc xét xử ấy thật là bất ngờ. Ngài không xét hỏi về những việc mà người ta có thể đang chờ đợi, chẳng hạn như: có đạo hay không? Có siêng năng đọc kinh xem lễ, có ăn chay hãm mình hay không? Nhưng Ngài chỉ xét hỏi người ta về tình thương. Không phải tình thương chung chung, hay là tình thương trong ý tưởng, trong mơ ước, nhưng là một tình thương cụ thể được chứng tỏ bằng những việc làm thiết thực đối với những con người bằng xương bằng thịt. Cho kẻ đói được ăn, cho kẻ được khát uống, viếng thăm kẻ bệnh tật và tù đày, tiếp rước khách lạ bơ vơ.

Nhưng điều bất ngờ hơn nữa chính là lời Đức Kitô tuyên bố:

- Mỗi lần các ngươi làm những điều ấy cho một kẻ khốn khổ là các ngươi làm cho Ta.

Những người bị xét xử đều nhất loạt thắc mắc, người tốt cũng như kẻ xấu:

- Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói khát, rách rưới, bệnh tật, bị cầm tù hay là khách lạ đâu?

 Nhưng mặc cho người ta thắc mắc, lời Chúa dạy thật rõ ràng: người khốn khổ bất cứ dưới hình thức nào đều là hiện thân của Chúa. Ngài tự đồng hóa mình với họ. Vậy thì rõ ràng mọi việc chúng ta làm vì tình thương đối với đồng loại đều là việc đạo đức hết.

Không phải chỉ có Kitô giáo mới dạy phải yêu người. Những điều đặc sắc trong Kitô giáo là gắn liền lòng thương người vào lòng mến Chúa, coi đó là nhiệm vụ tiêu biểu của người có đạo, tức là mặc cho tình thương người một tính cách tôn giáo và có giá trị cao cả nhất.

Tai hại thay nhiều người chúng ta lại không sống như thế. Nhiều lúc chúng ta chỉ lo qui hướng về Chúa mà quên đi người anh em. Chúng ta chỉ lo sống đạo trong nhà thờ mà không sống đạo giữa lòng cuộc đời. Trong nhà thờ chúng ta sốt sắng đọc kinh, nhưng ngoài xã hội chúng ta lại chửi bới, bất công và ghen ghét nhau ra trò.

Tại Đại hội Thánh Thể năm 1982 ở Lộ Đức, Đức cha Camara đã kể lại một câu chuyện như sau:

Có một số nông dân đến gặp tôi. Họ kể lại rằng một tên ăn trộm đã đột nhập vào nhà thờ, cậy cửa nhà tạm và lấy Mình Thánh mang đi. Hôm sau, họ đã tìm thấy bánh thánh nằm vương vãi trong bùn nhơ. Nói tới đây họ đã bật khóc. Rồi họ xin tôi dâng một lễ tạ ơn.

Dĩ nhiên là tôi vui lòng dâng lễ và trong buổi lễ tôi đã nói với họ đại khái như sau:

- Chúng ta thật mù quáng biết bao. Chúng ta đã sững sờ khi thấy bánh thánh nằm giữa bùn nhơ, nhưng đó lại là một hiện tượng xảy ra hằng ngày. Chúng ta gặp thấy Đức Kitô mỗi ngày trong những căn nhà ổ chuột. Đức Kitô hiện diện thực sự trong Bí tích Thánh Thể và Ngài cũng hiện diện thực sự trong nỗi cùng khổ của con người.

Rõ ràng việc bác ái là thành tích duy nhất được kể đến trong ngày phán xét. Việc bác ái là chúng chỉ duy nhất để được nhận vào số những người được Chúa Cha chúc phúc. Làm việc tôn giáo mà thiếu tình bác ái thì cũng không được Chúa thừa nhận. Đức Kitô vua tình yêu. Vương quốc của Ngài là vương quốc tình yêu. Vì thế, chỉ có một cách để thực sự thuộc về Ngài là yêu thương.

Chúng ta thích mang nhãn hiệu. Nhưng chỉ có một nhãn hiệu đáng kể, đó là lòng bác ái, đó là tình yêu thương. Mọi sự sẽ qua đi, nhưng bác ái yêu thương sẽ tồn tại mãi mãi.

---------------------------

 

TN 34-ABC55. Chúa sẽ luận xét chúng ta về điểm nào?

 

Chúa Giêsu dựng nên một cảnh đầy hình ảnh để noi cho biết nguyên tắc phân xử khi đến ngày: TN 34-ABC55


Chúa Giêsu dựng nên một cảnh đầy hình ảnh để nói cho biết nguyên tắc phân xử khi đến ngày cuối cùng. Qua đó Ngài muốn dạy chúng ta ngày nay phải sống theo nguyên tắc nào. Các yếu tố Ngài dùng để dựng cảnh để minh giải cho giáo huấn đều quen thuộc với người nghe Ngài nói. Nhiều truyện ký Do thái thuộc loại văn gọi là khải huyền trước Chúa Giêsu đã dùng những hình ảnh ít nhiều kinh khủng về ngày tận cùng lịch sử. Chúa Giêsu lấy lại một số không quá đáng và Ngài nhấn mạnh đến điểm Ngài cho là tối quan trọng: các cử chỉ yêu thương đối với người nghèo và người hèn mọn là những kẻ Ngài tự đồng hóa. Cá nhân Ngài không cần ai giúp của ăn, nơi ở, áo mặc, nhưng Ngài muốn được chúng ta phục vụ trong con người những kẻ Ngài tuyên bố là anh em ưu ái của Ngài. Nên lưu ý khi mô tả hình ảnh vị vua ngự trên ngai tòa vinh hiển, Chúa gợi ra quyền hành quân vương và thẩm phán của Ngài nghĩa là quyền quản lãnh toàn thể nhân loại. Một vài điểm để suy gẫm rút ra từ bài học này:

1) Các người lành trả lời: Lạy Chúa, có khi nào chúng tôi thấy Chúa đói khát… Như thế các người lành có hành động yêu thương đối với người nghèo túng cũng không biết rõ tất cả tầm mức các việc mình làm. Có khi nào người ta thấu suốt ý nghĩa một hành vi yêu thương chân chính? Thiên Chúa ẩn mình giữa người ta có thể khiến chúng ta kinh ngạc, nhưng phải chăng chính việc ấy giúp Ngài đến rất gần với chúng ta? Chúng ta không thể nào chịu nổi nếu Ngài tỏ mình trong thực tại quyền năng của Ngài. Ngài để cho chúng ta giao thiệp được nơi đặc điểm thâm sâu nhất mà cũng phù hợp với chúng ta; Ngài là tình yêu hiến tặng cho khả năng yêu thương của chúng ta. Để chúng ta có thể yêu thương Ngài cách rất thiết thực và luôn vừa tầm chúng ta. Ngài tự đồng hóa với người sống bên cạnh mà chúng ta gặp gỡ và có thể đón tiếp vào trong lòng; Ngài tự đồng hóa các đặc biệt với người khốn khổ mà chúng ta có thể và phải giúp đỡ về mặt thể xác lẫn tinh thần. Người Kitô hữu hãy nhờ lại hai lời Chúa dạy. Lời thứ nhất: sẽ luôn còn có người nghèo ở giữa các người. Lời thứ hai: Ta ở với các ngươi cho đến tận thế. Có thể nói Chúa ở voới các môn đệ cho đến tận thế trong con người những kẻ nghèo khổ. Ngày nay chúng ta có thực sự xác tín có những người túng thiếu, trong họ, Chúa chờ đợi tình yêu thương của chúng ta hay không? Đặt mình ở mức độ bản thể thần linh Chúa Giêsu đã phán: Cha với Ta là một. Chúa Cha lại là tình yêu. Tình yêu ấy, khi xuống mức độ nhân tính đã khiến Chúa Giêsu nói: người nghèo với Ta là một. Điều này đo lường tầm quan trọng các hành vị chúng ta đối với người nghèo.

2) Các kẻ bị chúc dữ sẽ nói như người lành: Lạy Chúa, có khi nào chúng tôi thấy Chúa đói khát… Các kẻ bị loại bỏ, các kẻ cứng lòng, các kẻ buông tuồng, ích kỷ cũng không nhận rõ tất cả tầm mức thái độ của mình. Có những trường hợp bỏ qua không hành động cho người nghèo khổ tương đương với việc ấn họ sâu thêm vào cảnh khốn cùng. Hình phạt đáng sợ của thái độ ấy ở chỗ tương đương với việc hất hủi Thiên Chúa. Thế mà nếu Thiên Chúa là tình yêu trọn vẹn, Ngài cũng là công lý hoàn toàn. Công lý ấy tỏ ra ở chỗ Ngài không ép buộc những ai khước từ Ngài. Sự cùng khổ và cô đơn của người đã khước từ Thiên Chúa là một đau đớn vô cùng khổ sở hơn mọi đau đớn trần gian này. Người Kitô hữu được mời gọi phải coi trọng hết sức trách nhiệm của mình đối với những người nhỏ bé, yếu đuối, khốn khổ, để khỏi bị tách biệt xa Thiên Chúa. Để kết thúc nên lưu ý một chi tiết: Chúa phán: mỗi một lần các người làm điều ấy… Trong ngôn ngữ Chúa Giêsu dùng (tiếng aram) động từ “làm” ở đây bao gồm ý nghĩa “phục vụ”. Người ta liên tưởng đến lời Chúa Giêsu: Ta đến để phục vụ. Trước mặt Thiên Chúa có ai nghèo hèn và cực khổ hơn những người tội lỗi là chúng ta tất cả? Chúa Giêsu đã đặt mình phục vụ chúng ta, mưu cầu ơn cứu độ, hạnh phúc và hân hoan cho chúng ta. phúc cho chúng ta nếu bắt tay làm, nghĩa là hành động phục vụ cho sự cứu rỗi và hạnh phúc của những người nghèo nhất trong anh em chúng ta.

---------------------------

 

TN 34-ABC56. Chúng ta là một phần của phong trào lớn lao

 

Ngày đầu tiên của tháng 9 năm 1939, Hitle đã xâm chiếm Ba Lan và đặt một khởi đầu thúc đẩy: TN 34-ABC56

                                                                                                           
Ngày đầu tiên của tháng 9 năm 1939, Hitle đã xâm chiếm Ba Lan và đặt một khởi đầu thúc đẩy chiến tranh thế giới lần thứ hai. Bây giờ chúng ta nhận biết rằng hành động xâm lược thô bạo này là hành động của một kẻ ngông cuồng, nhưng vào lúc đó ông ta đã thuyết phục được nhiều người trong quốc gia của mình, là ông ta sẽ dẫn họ đến sự vĩ đại.

Những bản năng ghê gớm này ngự trị trong trái tim con người. Một trong những bản năng đó sinh ra khát vọng là trở nên phần tử của một hội đoàn lớn lao nào đó, hay có liên quan đến một phong trào nào có thể thay đổi được lịch sử, hay trở thành bất tử thông qua việc chia sẻ một hệ thống kinh doanh lớn lao tầm cỡ thế giới.

Xuyên qua lịch sử của những người vô lương tâm, những người đã sử dụng những bản năng mạnh mẽ này. Adolf Hitler là gương đầu tiên của cái tôi kỳ quặc đã chiếm hữu những gì mà hôm nay được gọi là “thần thánh”, nó có thể thay đổi quốc gia như một chiếc đũa thần trong tay của ông. Từ sự nhận biết trong quá khứ chúng ta phải ngạc nhiên về con người có trách nhiệm và lý trí đã dễ dàng bị lừa bịp, cho nên chúng ta nhận ra rằng sự đói khát đam mê của chúng ta là muốn trở nên một điều gì đó. Bởi vì Hitler đã hiểu đam mê này. Hitler đã đặt căn bản cho những bài hùng biện trên nguyên tắc là nếu nói dối anh hãy nói dối cho đủ mạnh để mọi người tin vào sự nói dối ấy. Quả thật, ông ta đã đòi hỏi dân tộc của mình hãy đứng về phía ông ta để mục đích một nòi giống hùng mạnh có thể đạt được sự hoàn hảo.

Tội lớn nhất của Hitler không phải là hành động dã man khủng khiếp, hành động đó đã mang đến sự hành hình hàng triệu người qua những trại tập trung. Cũng không phải là sự kiện ông ta đã biến thời cuộc thành thế chiến thứ hai, mà tội lớn nhất của ông ta là tội phạm thánh, quả thật ông ta đã ước ao đặt ngai cuả mình trong quả tim con người, một chỗ mà chỉ thuộc về Đức Kitô. Hiler và những kẻ vô lương tâm giống như ông ta thì còn xấu hơn những tiên tri giả nữa. Họ là những kẻ báng bổ phạm thánh hiện diện đứng trước nơi thánh.

Đức Kitô là Vua của chúng ta đã ngự trị trên mọi tạo vật. Chỉ một mình Ngài xứng đáng để lãnh nhận ngai báu trong trái tim của chúng ta. Dù Ngài là quyền năng, Ngài không chiến thắng trên trái tim của mình và trái tim của chúng ta bằng sức mạnh của sự chinh phục.

Đúng hơn, Ngài mời gọi chúng ta trở thành dân của vương quốc đời đời và hoàn vũ của Người. Ngài không áp đặt trên bản năng của chúng ta sẽ trở nên những thành phần lớn lao; Ngài đã làm viên mãn bản năng của chúng ta.

Vương quốc của Ngài là vương quốc không có sự giả trá, lường gạt hay bởi sự phá huỷ, là vương quốc của chân lý và là sự sống. Đó là một vương quốc, không phải của sự xấu và sự lường gạt, nhưng là của sự thánh thiện và ân sủng. Đó là một vương quốc không phải của sự độc tài, chiếm hữu, oán ghét, cưỡng bức, nhưng của sự công chính tình yêu và bình an. Như là một phần tử của Giáo Hội, chúng ta được mời gọi để trở nên một bí tích cho vương quốc này, một dấu hiệu cho thế giới về những gì mà vương quốc thật sự của Thiên Chúa làm.

Vương quốc này đã hiện diện và sẽ ngự đến. Nó hiện diện ở giữa chúng ta trong những hình thức bất toàn, nhưng trong cách chúng ta sống như là những tín hữu sẽ giúp mang đời sống đó đến sự hoàn hảo khi Chúa Kitô đến một lần nữa trong vinh quang.

Chúng ta không cần trở thành một dân tộc quan trọng, cuộc sống của họ sẽ hấp thụ một lối sống đẹp, trong một đời sống tầm thường hay công việc tầm thường dẫn tới việc không thể tránh được là một cái chết vô nghĩa. Đời sống thì không ngớ ngẩn. Đời sống là một sự thông dự vào một phong trào lớn lao trong lịch sử như là một tín hữu trung thành theo Đức Kitô là Vua.

Những nài xin trung thành với Đức Kitô Vua.

Chúa nhật này là một thời gian thích hợp để nài xin sự trung thành với Đức Kitô. Theo mẩu lời kinh được đề nghị sau đây là nền tảng trong lời nguyện đầu lễ trong kinh nguyện Thánh Thể ngày lễ trọng này. Hoặc có thể được dùng trong thánh lễ khi mọi người lập lại những dòng nài xin này sau vị linh mục hoặc thừa tác viên khác.

Chúng con xin trung thành với Đức Kitô Vua.
Chúng con ao ước và âu yếm vũ trụ của Người.
Chúng con nhận biết vương quốc của Ngài là một vương quốc sự thật và sự sống, Của sự thánh thiện và ân sủng.
Chúng con cũng ước ao làm những gì chúng con có thể,

Để qua lời cầu nguyện và hành động có thể mang thế giới này về với vương quốc của Người,

Một vương quốc của bình an, công bình và tình yêu.

---------------------------

 

TN 34-ABC57. Vương quốc tình yêu – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt


I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt 25,31-46.

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ.

 

Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy nhiều sự thật quan trọng về kết cục của con ngươi. Sự thật: TN 34-ABC57


Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy nhiều sự thật quan trọng về kết cục của con người.

Sự thật thứ nhất là: thế giới này sẽ chấm dứt. Không có gì vĩnh cửu ở đời này. Mọi sự sẽ qua đi. Những gì được coi là bền vững lâu dài rồi cũng tan thành cát bụi. Của cải, tài năng, công danh cũng sẽ trở thành hư vô. Cả đến con người cũ cũng không còn. Sau cùng mọi người bằng nhau và phải đến trước tòa Chúa để chịu phán xét.

Sự thật thứ hai là: mọi người sẽ bị xét xử. Tất cả mọi người sẽ tụ tập lại. Tất cả mọi người sẽ phải trả lời về những gì mình đã làm trong cuộc đời. Cuộc xét xử sẽ diễn ra công khai. Những trách nhiệm liên đới sẽ được sáng tỏ. Những liên hệ thầm kín sẽ được phơi bày. Nếu trên trần gian ta phải chứng kiến bất công thì tại phiên xử cuối cùng này sẽ có công bằng tuyệt đối. Chẳng ai có thể mua chuộc vị quan tòa tối cao, quyền uy và công thẳng.

Sự thật thứ ba: sẽ có một vương quốc mới. Tuy nhiên kết thúc thế giới cũ không phải là chấm dứt tất cả. Chúa Giêsu tổng kết thế giới cũ để đưa nhân loại vào một thế giới mới. Thế giới không còn thời gian. Thế giới vĩnh cửu. Thế giới không còn đau khổ. Thế giới hạnh phúc tràn đầy. Vì Chúa sẽ thiết lập một vươn quốc mới: vương quốc tình yêu. Cuộc xét xử chính là một cuộc tuyển lựa những công dân cho vương quốc mới. Vì là vương quốc tình yêu nên chỉ những ai có tình yêu mới được vào. Luật lệ trong vương quốc mới chỉ có một luật duy nhất: luật tình yêu. Việc cai trị cũng chỉ theo một nguyên tắc duy nhất: tình yêu. Chúa Giêsu trở thành Vua Tình Yêu.

Sự thật thứ bốn: đời này là cơ hội duy nhất. Thế giới mới và vương quốc mới không phải bất ngờ mà có, nhưng được xây dựng ngay từ đời này. Đời này tuy chóng qua nhưng là cơ hội để ta xây dựng vương quốc mới. Những ai có lòng yêu thương anh em, đặc biệt những anh em nghèo khổ, bé mọn, sẽ được tuyển chọn vào Nước Trời. Đời này ngắn ngủi nhưng lại là cơ hội duy nhất. Hết đời này sẽ không còn cơ hội nữa. Sẽ đi đến chung cuộc. Vì thế ta phải vội vàng mau mắn thực hành giới luật yêu thương, kẻo không kịp.

Với dụ ngôn ngày phán xét cuối cùng, Chúa Giêsu đã tỏ lộ cho ta hết những bí mật của vận mạng thế giới. Và chỉ vẽ cho ta con đường để được nhận vào Nước Chúa: thực hành yêu thương bằng những việc làm cụ thể. Cho người đói ăn. Cho người khát uống. Cho người rách rưới ăn mặc. Thăm viếng người đau yếu và kẻ tù đầy. Đây là những việc vừa tầm tay mọi người. Ai cũng có thể làm được. Ai cũng có điều kiện để làm.

Lạy Chúa Giêsu Vua Tình Yêu, xin cho con biết thực hành yêu thương, để được nhận vào Nước Chúa. Amen.

III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU.

1- Dụ ngôn ngày phán xét cuối cùng cho thấy những sự thật nào?
2- Ta có thể làm chủ vận mạng mình được không?
3- Điều kiện để được vào Nước Chúa có khó khăn gì không?
4- Nếu mọi người đều thực hiện Lời Chúa, bạn nghĩ thế giới này sẽ như thế nào?

Có trở thành vương quốc của Chúa được không?

---------------------------

 

TN 34-ABC58. Cuộc sống của chúng ta tuỳ thuộc vào Mt 25,40

 

Đây là một bài học khác về cái nhìn của Thiên Chúa trên cuộc sống của chúng ta. Ngài sẽ phán: TN 34-ABC58


Đây là một bài học khác về cái nhìn của Thiên Chúa trên cuộc sống của chúng ta. Ngài sẽ phán xét chúng ta như thế nào? Câu trả lời chứa đựng trong bản văn chính yếu này. Đây là tổng kết cuối cùng của tất cả mọi cuộc sống: ngày phán xét chung. Thiên Chúa sẽ xoay sở như thế nào trước công việc vĩ đại này? Ngài sẽ dùng máy vi tính phân tích các sử thi, các bi kịch, các tiểu thuyết cuộc đời cho đến vô tận hay sao? Ngài sẽ tổ chức những vụ kiện ngắn để cân nhắc lợi hại hay chăng? Đó không phải là điều Chúa Giêsu nói với chúng ta. Chúng ta có nguy cơ bối rối vì sự chọn lọc ngắn ngủi, sự nhanh chóng của các mục xét xử và sự đơn giản của câu: “Ta đói, ngươi đã cho Ta ăn, hãy vào hưởng sự vui vẻ”.

Chúng ta hãy đánh giá đúng hoàn cảnh: đây là lời răn dạy cuối cùng của Chúa Giêsu và nỗ lực tối hậu của Ngài để đặt chúng ta trước điều cốt yếu. Biết bao lần Ngài nhấn mạnh đến nguy cơ chúng ta trở thành kẻ ngập ngừng: chúng ta tưởng tượng ra những điều tốt đẹp chúng ta sẽ làm... thế rồi chúng ta lại không làm.

Ngài biết chúng ta có khuynh hướng thoát ra khỏi những bó buộc cụ thể của tình yêu bằng những xung khắc dài và những mơ mộng: “Chỉ cần yêu thương... Sống yêu thương... Làm thế nào gặp Chúa nơi anh em chúng ta... Làm thế nào thấy Chúa Kitô nơi người nghèo nhất...”. Tốt, rất tốt. Nhưng sẽ đến một ngày nào đó bị tước mất những lời nói chúng ta sẽ trần truồng trước những hành vi của chúng ta. Bạn có hành động khi một người hay tập thể cần đến bạn? Đó là sự chọn lựa những người được chúc phúc và những kẻ bị nguyền rủa. Đó là sức nặng thực sự của cuộc sống của một con người và việc phán xét xem người đó có đáng sống đời đời hay không.

- Ngươi, ngươi hăng hái lao vào giúp đỡ khi có dịp: hãy đi vào Nước Trời... Ngươi, ngươi tránh né biết bao việc phải làm: hãy đi xa khỏi Ta.
- Nhưng lạy Chúa, con đã thực sự muốn gặp Ngài, sống với Ngài, sống vì Ngài.
- Ngươi đã làm gì cho anh em ngươi?
- Con thề với Chúa nếu con đã biết rằng...
- Ngươi đã làm gì?

Mỗi lần chúng ta nghĩ về việc gặp Chúa Giêsu, một cú bấm máy sẽ phải làm bừng sáng trước mắt chúng ta, như một tấm áp phích sáng chói, câu Matthêu 25, 40 mà cuộc sống chúng ta noi theo: “Mỗi lần ngươi làm điều tốt cho một trong những người bé mọn nhất trong số các anh em của Ta thì chính là ngươi đã làm cho Ta vậy”.
Điều vĩ đại trong việc gợi ra ngày Phán xét phải làm cho chúng ta hiểu giá trị của cử chỉ nhỏ nhặt nhất của tình yêu thương. Cuối cùng, có một điều quan trọng đó là điều chúng ta thực sự làm để cứu giúp một hoàn cảnh nguy khốn. Danh sách những việc được Chúa Giêsu lấy lại không ngừng kéo dài ra: “Ta mù chữ và ngươi đã dạy Ta học... Ta bị tàn tật và ngươi, một kiến trúc sư, đã nghĩ đến việc xây dựng những căn hộ có thể đến ở được... Ta là một kẻ tị nạn và ngươi đã đón tiếp Ta”.

Duy chỉ trên những con đường này người ta mới gặp Chúa Kitô Vua. Nước Trời của Ngài là một thế giới gồm những ngừơi cần được giúp đỡ và những người sẵn lòng giúp đỡ. Mỗi lần chúng ta giúp đỡ tức là chúng ta chọn Chúa Giêsu làm Vua của chúng ta.

---------------------------

 

TN 34-ABC59. Phán xét cùng tận


CHÚ GIẢI CHI TIẾT

 

Như người chăn chiên tách chien ra khỏi dê”. Nói cho đúng, đây là chiên và "dê con"; ở Palestine: TN 34-ABC59


"Như người chăn chiên tách chiên ra khỏi dê”. Nói cho đúng, đây là chiên và "dê con"; ở Palestine, việc chăn chung chiên với dê con là chuyện thường. Nhưng chiều đến, người ta phải lựa chúng ra, vì dê con cần được sưởi ấm suốt đêm. Vì chiên có giá trị hơn dê nên ta hiểu tại sao, trong dụ ngôn, chúng được đứng bên hữu Đấng Thẩm phán cánh chung (bên hữu là chỗ danh dự).

"Vua": các chữ này (đây quy chiếu về Chúa Giêsu (x 2, 2; 21. 3; 27, 11; 27, 29. 37. 42).

"Hãy lĩnh lấy làm cơ nghiệp Nước đã dọn cho các ngươi": x.hai mối phúc thật đầu tiên: Vì Nước Trời là của họ" (5, 3) và họ sẽ được đất làm cơ nghiệp" (5, 4).

"Vì xưa Ta đói . . .Ta khát . . . ": Phù hợp với óc tả thực không thay đổi của Mt, các nỗi thống khổ nhân thế được gợi lên ở đây: mình trần thân trụi, lưu đày biệt xứ (nghĩa là không có quyền lợi và sự chở che), bắt bớ giam cầm, đói khát yếu đau, xảy ra rất thường; ta đang ở trong cùng một bầu khí như trong Tám mối phúc thật và Diễn từ trên núi. Các kẻ khốn khổ này là những người, khách quan mà nói, cần được cứu giúp, dù theo chủ quan họ thế nào chăng nữa. Bản răn không bảo những người khách lạ, đói khát, tù đày đó là Kitô hữu hay là thừa sai. Con Người liên đới với mọi nỗi khổ của nhân loại trong tất cả chiều rộng và chiều sâu của nó.

"Lạy Chúa, có bao giờ chúng tôi thấy Ngài đói...": Bản văn không cố ý bảo các người công chính ấy (những kẻ trung thành và tỉnh thức của các dụ ngôn trước) quên điều họ đã làm, nhưng là: họ không biết rằng mình đã làm cho chính Con Người trong bản thân của những kẻ khốn khổ. Ý nghĩa trọn vẹn của các hành vi họ khi được mặc khải cho họ vào giờ chót; điều này phù hợp với toàn bộ luân lý của Mt (x."Cha ngươi, Đấng thấu suốt nơi kín ẩn, sẽ hoàn trả lại cho ngươi"-6,4). Hãy ghi nhận là động từ làm thường xuất hiện trong các câu đây (4 lần trong cc. 40- 45); thế mà trong tiếng Aram, Chúa Giêsu chỉ có thể dùng động từ "abad" vừa có nghĩa làm vừa có nghĩa phục vụ.

"Hãy xéo đi... mà vào lửa đời đời": Như trong suốt các chương 24-25, việc kết án các bất công, nghĩa là kết án những kẻ đã chẳng thi thố lòng nhân lừ, thật vô cùng khủng khiếp. Trong lúc trong sách Khải huyền Do thái, chính lương dân hoặc địch thù của Israel, hoặc các người Do thái bất trung (xét theo quan điểm của nhóm Essêni hay Biệt phái) sẽ bị vị thẩm phán của những ngày cuối cùng đè bẹp, thì ở đây là những kẻ đã chẳng cứu giúp anh em của Con Người. Không một bản văn Tân ước nào diễn tả rõ ràng như ở đây ý tưởng "tránh phục vụ” (“các ngươi đã không làm") cũng lỗi nặng nề như phạm tội ác; sau này, học thuyết của thánh Gioan sẽ dạy rằng không yêu thương tức là giận ghét vậy (1 Ga).

KẾT LUẬN

Người công chính rốt cục là những kẻ đã chu toàn Luật Thiên Chúa như chính Chúa Giêsu đã diễn tả trong giới răn trọng nhất. Một lần nữa Người đồng hóa tình yêu tha nhân với tình yêu Thiên hùa. Cái mặc tính cách "thiện hảo" cho các công việc con người làm đối với anh em mình chính là chúng đã được làm cho Chúa Kitô.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Thế là chúng ta đã đến Chúa nhật cuối cùng của Năm phụng vụ. Giáo Hội, kẻ đã đưa ta vào trong mọi mầu nhiệm của Chúa. Hôm nay muốn thu tóm tát cả sứ điệp đã được nghe trong suốt năm rồi bằng cách lập ra cho ta lễ Chúa Kitô-Vua vũ trụ.

Ta nói vậy là vì dựa vào các bài đọc hôm nay trong đó Chúa Giêsu lần lượt được giới thiệu như là Vua-mục tử săn sóc chiên mình, Vua-chiến thắng đánh bại các quyền lực chống đối và làm ta thông hiệp vào cuộc Người thắng trận, Vua-Thẩm phán phân biệt những kẻ đã biết chấp nhận quyền bá chủ của Người, Vua-tôi tớ giáo quyền thống trị lại cho Chúa Cha. Thật khó mà tóm kết trong vài câu một hình ảnh vừa đa dạng vừa đầy đủ về Chúa như thế.

"Các dân thiên hạ được thâu họp lại trước mặt Người thảy": Đây là một cuộc phán xét phổ quát. Tất cả mọi người đều có liên hệ. Dầu họ thuộc tôn giáo, chủng tộc hay nền văn hóa nào, Chúa Kitô-vua cũng triệu tập tất cả họ lại trong cuộc gặp gỡ tối hậu ấy. Điều lạ lùng là hết thảy những kẻ Chúa Kitô-vua sắp xét xử, đều không biết rằng họ đã phục vụ Người hay bỏ rơi Người. Còn đối với các tín hữu, Tin Mừng đưa ra nhiều tiêu chuẩn xét xử bổ sung khác, mặc khải các yêu sách chính xác khác; điều này thật dễ hiểu vì họ đã biết Chúa Kitô, Đấng đã nhờ Thánh Thần mà tự mặc khải cho họ. Họ đã phải can đảm tuyên xưng Người (10, 32), đã phải thi hành thánh ý Cha thiên quốc (7,1), đã phải tỏ ra lòng nhân ái (5,7), đã phải luôn sẵn sàng thứ tha (6,14)... Ta biết các tín hữu bị xét xử như thế đã nhận nhiều ánh sáng hơn các kẻ khác, vì họ đã được tiền định biết Chúa Kitô từ lúc còn ở dương trần. Thành thử thật dễ hiểu khi người ta đòi hỏi ở họ nhiều hơn. Nhưng cái “nhiều hơn" này vẫn luôn đứng trong đường hướng tình yêu như đối với các lương dân đã không được nhiều ánh sáng ngần ấy. Chỉ khác điểm này là các Kitô hữu, vì đã biết rõ các yêu sách tình yêu hơn, vì đã biết rằng Chúa Giêsu tự đồng hóa với tất cả các kẻ "bé mọn" của thế gian, nên sẽ khó lòng chữa mình hơn lương dân được.

2. Trang Tin Mừng hôm nay chỉ nói đến các việc phục vụ thuộc bình diện vật chất phải thi hành đối với các kẻ "bé mọn” của thế gian nầy. Nhưng đó chỉ là những ví dụ, bảng kê khai các việc lành phúc đức không chỉ từng ấy. Chúa Giêsu chỉ gợi lên những việc rõ ràng nhất. Nhưng Người cũng đã rất có thể đề cập đến việc giáo dục những kẻ dốt nát, phấn khích người suy nhược, bầu bạn với những ai đơn côi, cảm thông vơi các gia đình tang thế, tươi cười với người quạu cọ… Khi vừa đáp ứng nhu cầu của tha nhân, là ta làm được một điều gì đó cho các anh em của con người là ta làm cho chính bản thân Chúa Giêsu. Chính các dấu tích tình yêu đó một ngày kia sẽ lầm ta xứng đáng nghe bảo: hãy đến, hỡi những người được Cha Ta chúc phúc ...".

---------------------------

 

TN 34-ABC60. Lễ Chúa Kitô Vua – Noel Quesson


Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người.

 

Trong bài giảng lớn cuối cùng này của Đức Giêsu, người thợ mộc hèn mọn Nadarét sau cùng biểu: TN 34-ABC60


Trong bài giảng lớn cuối cùng này của Đức Giêsu, người thợ mộc hèn mọn Nadarét sau cùng biểu lộ ý thức phi thường mà Người có về vai trò của mình. Ơ đây, chúng ta có sự khẳng định mạnh mẽ nhất về thiên tính của Đức Giêsu theo nghĩa chặt chẽ. Trong vài ngày nữa, Người sẽ bước vào cuộc khổ nạn (Mt 26,1-5) và trở thành "ông vua" bị nhạo báng, bị đội mão gai, bị giết chết như một người nô lệ tầm thường. Nhưng Người biết mình là ai. Một ngày kia Người sẽ đến trong vinh quang để phán xét thế gian, là đặc quyền mà Cựu ước dành cho Giavê. Ở đây Đức Giêsu lấy lại tước hiệu Con Người mà Người đã sử dụng nhiều lần trong bài giảng về thời Thế Mạt (Cánh chung): Mt 24,3.27.30.37.39.44. Kể từ ngôn sứ Đanien (7,13), Con Người là nhân vật mầu nhiệm, có nguồn gốc từ trời, mà sách Khải Huyền Do Thái (Đặc biệt là sách Hê-nóc) mô tả như vị Thẩm Phán của thời Thế Mạt.

Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái.

Thỉnh thoảng chúng ta nên nghĩ đến "Ngày" này. Tôi sẽ được đưa về với ngày đó rất nhanh. Lúc đó mọi sự vật trần gian sẽ có một tỉ lệ mới: Lạy Chúa, xin Chúa ngay từ bây giờ giúp con phán đoán mọi sự việc theo quan điểm vĩnh cửu, để phân biệt cái gì là không đáng kể với cái gì là quan trọng.

“Các dân thiên hạ..". Tôi cũng thế, tôi sẽ có mặt ở đó. Một đám đông to lớn chờ phán xét. Cũng có mặt ở đó tất cả những người mà tôi yêu thích, tất cả những người mà tôi biết, tất cả những người mà tôi có trách nhiệm.

Nhưng cũng có mặt mọi người khác: Do Thái và không Do Thái, Kitô hữu và không phải Kitô hữu, tín hữu và không tín hữu, Hồi giáo, Ấn giáo, người theo thuyết vật linh… những nhà thần bí suốt đời sống trong sự cầu nguyện, và những người vô thẩm mà cả đời không bao giờ cầu nguyện... tất cả đều đứng trước mặt Đức Giêsu! Người là vị Vua Mục tử, tước hiệu mà văn chương của các ngôn sứ cũng đã dùng để nói về Gia-vê (Ed 34,11-22).

Bấy giờ Đức vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng:"Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho cắc ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa”.

Trong vài ngày nữa, Đức vua này, Con Thiên Chúa sẽ bị đóng đinh. Tuy nhiên Người ý thức được "ý định của Thiên Chúa từ thuở tạo thiên, lập địa!". Người nói Thiên Chúa đã tạo ra con người… để một ngày ban cho con người Nước của Người làm gia nghiệp.

Nhưng sự phán xét dựa trên tiêu chuẩn nào? Trên quy tắc nào sự sàng lọc được thực hiện?

Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn Ta khát, các ngươi đã cho uống, Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc, Ta đau yếu, các người đã thăm nom, Ta ngồi tù, các người đã đến thăm.

Vậy chúng ta được phán xét dựa trên và chỉ dựa trên tình yêu. Và dựa trên một tình yêu rất đơn giản: cho ăn, cho uống, tiếp đón, cho mặc, thăm viếng, săn sóc. Như thế, những cử chỉ yêu thương khiêm hạ và chân thật có một giá trị vô cùng, một giá trị vĩnh cửu. Vả lại danh sách những hành động yêu thương mà Đức Giêsu kể ra không hạn chế. Đó chỉ là những gương mà chúng ta có thể kéo dài ra tùy theo cuộc sống của mỗi người.

Con tôi khóc ban đêm, và tôi thức dậy để dỗ dành âu yếm nó. Bà mẹ già của tôi không thể ngồi dậy, và tôi đã đỡ bà ra khỏi giường để cho bà ngồi vào ghế bành. Những người láng giềng của chúng tôi thiếu thốn tình bạn họ cần và chúng tôi đem tình bạn đến với họ. Trong giáo xứ, linh mục cần các bậc phụ huynh phụ trách việc dạy giáo lý và tôi đã chấp nhận trách nhiệm này và nó chiếm khá nhiều thời gian của tôi. Các đồng nghiệp của tôi cần được bảo vệ và tôi đã lãnh trách nhiệm về cộng đoàn và chính sách.

Thế giới thứ ba yêu cầu chúng ta giúp đỡ để phát triển, và tôi đã tham dự vào chiến dịch thế giới chống nghèo đói…Người phối ngẫu, con cái tôi, bạn bè tôi... đang cần những cử chỉ yêu thương của tôi... Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng:
"Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống, có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp đón hoặc trân truồng là cho mặc. Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến thăm đâu?"

Sự ngạc nhiên của những người "được cứu” là một trong những yếu tố gây kinh ngạc trong cảnh này. Theo Đức Giêsu không một ai trong số những người được Chúa Cha chúc phúc có vẻ nhận biết đích xác điều gì đã được diễn ra trong đời sống hàng ngày của họ: ý nghĩa sau cùng của các hành động họ làm chỉ được tiết lộ vào giờ sau hết.

Như thế, cuộc phán xét sau cùng này mà chúng ta tưởng tượng trong tương lai, còn rất xa trong thời gian, thực ra lại là một biến cố thường xuyên: Chính HÔM NAY là ngày phán xét? Thiên Chúa sẽ không cần phán xét con người, mà con người ta phán xét mình trong suốt cuộc đời.

Thiên Chúa chỉ cần tiết lộ điều đã được "che giấu” trong mỗi ngày mà họ đã sống. Đời sống vĩnh cửu đã được bắt đầu. Vậy điều gì đã được "che giấu” và không được nhận thức?

Để đáp lại Đức vua sẽ bảo họ rằng: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”

Điều được "tiết lộ vì thế chính là sự hiển diện khó tin được của Đức Giêsu ! Khi toàn bộ lịch sử nhân loại sẽ hoàn tất, và để tóm thu toàn bộ lịch sử ấy, Đức Giêsu chỉ có thể nói về Người, như thể trong vô số người đàn ông và đàn bà, chỉ mình Người đã hiện hữu, bằng sự hiện diện vô số và ẩn giấu. 'Ta đói …Ta khát… Ta ngồi tù… Ta là khách lạ.. Ta đau ốm...".

Như thế, cuộc quang lâm sau cùng, sáng chói trong vinh quang của Đức Giêsu từ trên các đám mây sẽ là bằng chứng cho một "sự đến" khác, bí mật và ẩn giấu nhưng thường xuyên, và xảy ra qua những hành động yêu thương.

Một cách rõ ràng và hiển nhiên sự hiện diện huy hoàng của Đức Giêsu trong ngày Thế Mạt sẽ nói rằng Người không ngừng đến và không ngừng hiện diện trong mỗi người anh em đang cần đến chúng ta.

Lạy Chúa, xin giữ cho chúng con luôn canh thức cho đến giờ Chúa sẽ hiện ra.

Rồi Đức vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: "Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên ác quỷ và các sứ thần của nó".

Lạy Đức Giêsu, Đấng mạc khải tình yêu của Chúa Cha, chính Chúa đã tuyên bố những lời đáng sợ như thế. Con lắng nghe và không thể trốn tránh trách nhiệm đã gạt bỏ những gì gây phiền nhiễu cho con trong Tin Mừng. Thật vậy Tin Mừng không phải là một thuyết duy tâm mơ hồ và nặng tình cảm, đó là lời kêu gọi của một yêu sách cực độ. Từ chối yêu thương... không giống như yêu thương? Không - tình yêu không thể có chỗ của nó bên cạnh Thiên Chúa là tình yêu. Chúng ta nhận thấy có một khía cạnh có tầm quan trọng tột bậc: Chúa Cha đã chuẩn bị thiên đàng cho người từ thuở tạo thiên lập địa... còn hỏa ngục không được chuẩn bị cho con người nhưng cho sa tan và các sứ thần của nó. Ơ đây chúng ta gặp lại nhân vật hắc ám mà ngay từ lúc đầu đã được giới thiệu như kẻ thù của Đức Giêsu (Mt 4,1), kẻ đã gieo cỏ lùng vào cánh đồng lúa mì (Mt 13,39), kẻ mà Đức Giêsu đã nhiều lần đi đầu để tiêu diệt (Mt 9,34; 12,24; 8,31; 15,22; 17,18).

Tín điều về hỏa ngục không do Giáo Hội bày đặt ra. Chúng ta nghe từ chính miệng Đức Giêsu: “Quân bị nguyền rủa, đi đi cho khuất mắt Ta…”

Tín điều về Hỏa ngục có nghĩa như sau: Thiên Chúa có đủ tình yêu cao cả để cho tạo vặt được tự do với sự tự do chân thật, kể cả tự do nói "không" với Thiên Chúa. Dĩ nhiên Thiên Chúa không muốn có Hỏa ngục. Và sự hiện diện dù của chỉ một người bị sa Hỏa ngục đối với chúng ta cũng là một cớ vấp ngã, đối với Thiên Chúa thì còn hơn thế nữa. Giữa Hỏa ngục “có thể" và Hỏa ngục thực, Thiên Chúa can thiệp với tất cả năng lực của Tình Yêu Của Người: chính ở chỗ đó, thập giá của Đức Giêsu được dựng lên Thiên Chúa đã làm tất cả để không một ai phải vào chỗ đó nội các tạo vật dứt khoát nói "không" với Thiên Chúa. "Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ". "Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người' tội lỗi" (Mt 9,13). "Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi" (Rm 5,9). "Thiên Chúa muốn mọi người được cứu (1Tm 2,4) . Hỏa ngục vì là sự khước từ tuyệt đối Tình yêu nên lúc nào cũng chỉ hiện hữu từ một phía... phía của người đã tạo ra hỏa ngục cho chính mình. Nhưng chính Thiên Chúa không thể có bất cứ sự cộng tác nào trong sự lệch lạc ấy. Chừng nào còn có dù chỉ một con người ở trong sự khước từ ấy thì có thể nói Thiên Chúa còn thấy mình bị đóng dấu sắt nung đỏ bởii sự từ chối ấy xúc phạm đến tình yêu vô hạn của Người và người ta đoán rằng dấu ấn này đã mang hình thể của thập giá?

Vì xưa Ta đói, các Ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm nom". Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ đâu?": Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các người không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy". Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời.

Cả hai cảnh phán xét hoàn toàn giống nhau và đối nhau: điều mà những người này đã làm, những người khác bỏ không làm. Mọi con người dù là Kitô hữu hay không, dù biết hay không biết Đức Giêsu sẽ bị xét đoán trên cùng một tiêu chuẩn: không phải số lời cầu nguyện đã đọc, những hành động thờ phụng đã hoàn tất …những tình yêu cụ thể mà người ấy sẽ biểu lộ cho các anh em mình. Không làm điều xấu chưa đủ. Còn phải làm điều tốt. Mỗi con người ngay từ HÔM NAY được phán xét bằng điều tốt lành mà người ấy làm cho những người cần đến người ấy . Vậy ngày hôm nay, ai đang chờ đợi tôi một điều gì?

---------------------------

 

TN 34-ABC61. NGÀY PHÁN XÉT                           

 

Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn cho các ngươi: TN 34-ABC61


Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn cho các ngươi vì khi xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm. .. Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.  (Mt.25:34-40)

***

Bạn thân mến! Trên đây là tường thuật về ngày phán xét chung cuộc trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.  Trong ngày phán xét chung cuộc này Thiên Chúa sẽ đến trong vinh quang để xét xử muôn dân. Trong ngày đó con người với công phúc hay tội lỗi sẽ được thưởng phạt phân minh rõ ràng.  Trong ngày đó con người không còn chỗ cho địa vị, cho quyền uy, thế  lực hay giàu sang phú quý. Trong ngày đó không một ai được miễn trừ,  cũng không còn có cơ hội để thanh minh hay lập công chuộc tội cho những việc mình đã thực hiện trước đây khi còn sống trên trần gian. Trong ngày đó, tình yêu là thước đo duy nhất để phân biệt kẻ xấu hay người tốt.  Cách cư sử và thái độ sống của mình với anh em đồng loại là tiêu chuẩn duy nhất để xác định công phúc hay tội lỗi.

Cách cư xử và thái độ sống của Mẹ Têrêsa Calcutta là mẫu mực của tình yêu, là gương sáng cho ta noi theo.  Bà bị cuốn hút bởi tình yêu dành cho những người bệnh tật và  đau khổ.  Dưới mắt của bà, những người bệnh tật đau khổ không chỉ là những người đáng thương, mà còn là hiện thân của chính Chúa Giêsu đau khổ.  Tình yêu con người và tình yêu Chúa Giêsu đan quyện vào nhau.  Vì yêu Ngài, nên bà đã yêu người bệnh tật đau khổ mãnh liệt hơn.   Bà tập nhìn ra chính Chúa Giêsu trong mỗi con người, cho dù con người đó mang dáng vẻ bệnh hoạn kinh tởm đến đâu đi nữa.

Ta không phải tìm Chúa  nơi xa xôi.  Ngài không chỉ ở trong nhà thờ, trong bí tích mà Ngài còn ẩn mình trong những người hèn kém đáng thương.  Ngài gần gũi với nỗi đau của người yếu thế.  Ngài chia sẻ những  nỗi câm nín của bất công chèn ép trong xã hội… 

Mỗi người yếu đuối khốn cùng xung quanh ta đều là một bí tích.  Qua họ ta có thể gặp gỡ Chúa Giêsu bằng xương bằng thịt…Chắc hẳn đã bao lần Chúa đi qua đời ta nhưng ta đã không chú ý đến.  Ngài đã đi qua đời ta như một người ăn xin nghèo khổ nơi cuối phố;  như một người bệnh với thân xác gầy còm ốm yếu trong bệnh viện;  như một người già đang sống lê lết những tháng ngày còn lại của cuộc đời nơi viện dưỡng lão …

Hôm nay Chúa Giêsu vẫn mời gọi ta ra tay giúp đỡ cho các anh chị em bé mọn khốn khổ của Ngài:  Những người mù chữ, những trẻ em đường phố, những người bị suy sụp tinh thần cần được yêu thương, những người vô gia cư không đủ khả năng để tìm cho đời mình một chỗ ở, những người tự nhốt mình trong tù ngục đam mê, những người trần trụi vì phải sống nhờ  trên thân xác của mình… Trong ngày phán xét chung thẩm,  ta không thể giả vờ ngạc nhiên khi nghe biết mình đã để Ngài đi qua đời ta với hai bàn tay trắng.  Ta sẽ bị Ngài xét xử dựa trên tình yêu cũng như cách cư sử và thái độ sống của mình với anh chị em xung quanh ta.

***

Lạy Chúa Giêsu, chúng con thường cố ý thu hẹp vũ trụ của Chúa, chúng con đã giữ chặt Chúa ở trong nhà thờ, và kết qủa là nhiều tâm hồn vẫn xa Chúa, nhiều nơi vẫn vắng bóng Chúa cho dù Chúa đã đến trái đất này từ hơn 2000 năm.  

Lạy Chúa!  Ngài là Vua của trời đất vũ trụ,  là vua của muôn vua và là Chúa của mọi tâm hồn… Xin Chúa đến ngự trị trong cung lòng tâm hồn của mỗi người chúng con và của cả nhân loại này nữa, Amen.
(trích R. Veritas)

---------------------------

 

TN 34-ABC62. PHÁN XÉT CUỐI CÙNG


Mátthêu 25,31-46

 

Nhận biết uy quyền của Đức Giêsu và quyền lực của Chúa Cha thúc đẩy chúng ta hành động theo:: TN 34-ABC62


Nhận biết uy quyền của Đức Giêsu và quyền lực của Chúa Cha thúc đẩy chúng ta hành động theo: các tiêu chuẩn của Chúa Cha cũng là của Đức Giêsu.

Lm FX Vũ Phan Long, ofm

I. NgỮ cẢnh

Có những liên hệ về đề tài làm cho phân đoạn 23,1–25,46 thành một diễn từ duy nhất:

(a)     Đề tài bao trùm toàn đoạn 23,1–25,46 là sự phán xét, sự phán xét của Thiên Chúa trong hiện tại và tương lai, được Con Người thực thi. Cũng như khi đến cuối mỗi bài diễn từ lớn trước đây đều có một lời phán xét (x. 7,24-27; 10,32-42 [39, cứu được/mất; 40-42, phần thưởng tương lai]; 13,47-50; 18,23-35), thì bài diễn từ cuối cùng của Đức Giêsu cũng là một bài diễn từ lớn về phán xét, đưa đến cảnh phán xét cuối cùng trong 25,31-46; đây là câu truyện riêng của Mt, cung cấp chìa khoá cho bài diễn từ Mt;

(b)     Mt thêm vào những thuật ngữ của “Vương quốc Thiên Chúa” (Nước Trời, Đức Vua) vào ở 23,13; 24,14; 25,1.34.40 – trong nguồn của ngài thì không có như thế –: đây cũng là đề tài làm cho bài diễn từ được thống nhất, nhất là khi ngài đóng khung bài này bằng 23,13 (đóng cửa Nước Trời) và 25,34 (vào Nước Trời);

(c)     Chương 23 đã có nhiều nét mang tính cánh chung hoàn toàn. Những tư tưởng về cánh chung không chỉ bắt đầu có trong chương 24, trong 23,1-12, những giáo huấn mở đầu đã có nền tảnh cánh chung. Những lời nguyền rủa trong cc. 13-36 cũng có một hình thức cánh chung. Những âm vang cánh chung khác cũng có trong 23,13.32.34-39;

Chỗ ngắt 24,1-3 thật ra nối kết phần đi trước với phần đến sau: “Những sự việc ấy” của 24,3 qui về việc tàn phá Đền thờ trong 24,2. Nhưng đề tài Đền thờ lại liên kết 24,1-2 với 23,38.

Qua bản văn hôm nay, chúng ta gặp được niềm hy vọng của Họi Thánh vào Đức Kitô quang vinh (“Chúa” [Kyrios]: cc. 37.44; Đức Vua: cc. 34.40 // “mục tử”: c. 32). Hẳn là tác giả đã lấy cảm hứng từ các bản văn ngôn sứ như Tv 2,7; 110,1-3; Đn 7,14. Tuy nhiên, ngoại trừ quang cảnh hùng vĩ đó, sứ điệp trọng tâm của bản văn vẫn không khác sứ điệp của những bản văn đi trước: Người đầy tớ trung tín (24,45-51), Các trinh nữ (25,1-13), Ba người tôi tớ (25,14-30) trong đó ta thấy cuộc gặp gỡ với ông chủ, cũng được gọi là kyrios, kết thúc với phần thưởng hoặc hình phạt.

 II. BỐ cỤc

Bản văn có thể chia thành bốn phần:

            1) Quang cảnh Phán xét cuối cùng (25,31-33);
            2) Xét xử những người bên phải (25,34-40);
            3) Xét xử những người bên trái (25,41-45);
            4) Kết luận (25,46).

 III. Vài điỂm chú giẢi

- muôn dân (32): Theo S. Hre Kio (“Understanding and Translating “Nations” in Mt 28,19”, dans The Bible Translator 41 (1990) 236), trong số 16 lần từ ngữ ethnê được dùng trong Mt, chỉ có ba lần liên hệ với cuộc phán xét thế gian (24,7; 24,14; 25,32), thì rất có thể từ ngữ phải được hiểu theo nghĩa tổng quát, không giới hạn (= Do-thái + Dân ngoại); trong những trường hợp khác, từ này được hiểu là “Dân ngoại” (4,15; 5,47; 6,7; 6,32; 10,5; 10,18; 12,18; 12,21; 18,17; 20,19; 20,25; 21,43; 24,9).

- tập hợp trước mặt Người (32): Cựu Ước cũng đã nói đến cuộc quy tụ hoành tráng các dân trên thế giới lại để chịu Thiên Chúa phán xét (Ge 4,2; Is 66,18; Gr 25,31; v.v.). Ở đây chúng ta cũng gặp lại viễn tượng ấy: đây không còn phải là cử chỉ từ bi thương xót của người mục tử cánh chung quy tụ những người được chọn (Mk 4,6; Xp 3,19; Ed 34,12-13) hoặc quy tụ cả Do-thái lẫn Dân ngọai vào một đoàn duy nhất (Gr 3,17), nhưng là hành vi uy quyền triệu tập loài người ra trước tòa Thiên Chúa.

- tách biệt chiên với dê (32): Chính xác thì đây là chiên và dê con. Ban ngày chúng có thể đi chung, nhưng về đêm người ta phải tách dê con ra để giữ cho chúng ấm. Vì chiên thì có giá trị hơn dê con, ta hiểu tại sao chiên được đặt về bên phải vị Thẩm phán cánh chung, vì chỗ bên phải là chỗ danh dự.

- Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn (37): Không phải là những người lành quên, nhưng họ không biết là khi giúp đỡ những người túng cực là họ đã làm cho chính Con Người. Ý nghĩa tròn đầy của các hành vi của họ chỉ được vén mở vào giờ cuối cùng. Điều này hoàn toàn phù hợp với nền luân lý của Mt (“Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh”, Mt 6,4).

- những anh em bé nhỏ nhất (40): Từ ngũ “bé nhỏ” (nêpios và mikros) được dùng nhiều lần trong Mt để gọi những thành viên yếu hơn hoặc có nhu cầu hơn trong cộng đoàn (11,25; 26,16: nêpios; 10,42; 13,32; 18,6; 26,39.73: mikros), còn từ elakistos, “bé nhỏ nhất” để gọi con người thì chỉ xuất hiện trong bản văn ở đây mà thôi. Dường như từ này không đồng nghĩa với hai từ trên, mà lại có nghĩa xã hội nhiều hơn.

IV. Ý nghĩa cỦa bẢn văn

Bản văn mở ra với một quang cảnh hùng vĩ: Con Người “đến trong vinh quang”: Người vẫn là mục tử “tách biệt chiên với dê”, nhưng cũng là Đức Vua uy phong chủ trì cuộc xét xử chung cuộc. Chúng ta mường tượng ra khung cảnh được nói đến trong dụ ngôn Cỏ lùng (13,41-43), với cùng những nhân vật (một bên: Con Người, các thiên thần, Chúa Cha, những người công chính, những người làm việc tốt; bên kia: ma quỷ, các thiên thần của ma quỷ, những kẻ xấu, những kẻ bị chúc dữ), nhưng được triển khai rộng ra. Đức Giêsu xuất hiện trong vinh quang của Người, chung quanh có các thiên thần, ngự trên một cái ngai vinh quang (c. 31). Tất cả những yếu tố mô tả đây là biểu tượng của sự hiện diện và quyền lực của Thiên Chúa. Vinh quang là sự hiển lộ rạng rỡ, chói ngời của Thiên Chúa. Các thiên thần đứng trước nhan Ngài  làm chứng về sự hiện diện của Ngài. Cái ngai tượng trưng uy quyền của Ngài, từ đó Ngài điều khiển cách chắc chắn. Đã có quyền lực và sự uy hùng của Thiên Chúa, Đức Giêsu thực hiện việc xét xử. Lời tuyên án có tính vĩnh viễn, không thể hồi tố. Đức Giêsu đã đến như “Con Người”, Đấng đã được Thiên Chúa trao cho quyền chúa tể, vương vị và vương quyền (x. Đn 7,14). Người tuyên án như “Đức Vua” đang thi hành quyền chúa tể vô song (25,34.40). Người hành động như là “Con Thiên Chúa” đang lên tiếng nhân danh Chúa Cha (x. 25,34) và đứng về phía những người túng quẫn, được coi như là anh em Người và con Thiên Chúa (c. 40). Người được mọi người có mặt nhận biết như là “Chúa tể” (cc. 37.44). Trong cuộc xét xử, địa vị và uy quyền của Đức Giêsu cũng như trọng lượng lời Người và hành động của Người được tỏ bày.

Mọi dân tộc, tất cả mọi người không ngoại lệ, phải trả lẽ về mình trước nhan Người. Tức khắc có một chi tiết khiến chúng ta ngạc nhiên: Đây không phải là những người Israel (23,37–24,31) hoặc các Kitô hữu (24,45–25,30) mà là “muôn dân” (panta ta ethnê) (c. 32). Cả trong Cựu Ước lẫn Tân Ước, “các dân tộc” (ta ethnê) dường như là một tên chuyên được dùng để gọi các Dân ngoại. Tuy nhiên, ở đây cũng có thể hiểu theo nghĩa bao quát: dân Chúa và Dân ngoại. Mt viết cho một giáo đoàn hỗn hợp, gồm các Kitô hữu gốc Do-thái và Dân ngoại, để giáo huấn họ về việc đưa Lời Chúa ra áp dụng (24,45–25,30; x. Rm 2,13). Đến ngày tận thế, mọi người, dân Do-thái cũng như người ngoại, đều được triệu tập đến trước mặt vị Thẩm phán tối cao. Không ai có thể coi như không có Người. Mỗi người sẽ bị xét xử theo tiêu chuẩn chính Người quy định và Người xác định số phận đời đời cho từng người. Bất kể địa vị, giai cấp xã hội, phái tính, giống nòi hoặc tuổi tác, mọi người đều bị xét xử theo một tiêu chuẩn như nhau.

Khi đó, tất cả sẽ bị xét xử, không phải tùy theo những công trạng đã đạt hoặc những lỗi đã phạm đối với các khoản luật lệ nào, nhưng là những lỗi phạm đến anh chị em đồng loại. Bản văn không nêu ra những việc như là một cuộc trả thù chống lại các thẩm phán bất công và các bạo chúa đã áp bức Israel hoặc dân mới của Thiên Chúa, nhưng nêu ra những việc đã không làm cho hạng người cùng rốt trong bậc thang xã hội. Đây là những việc làm cho con người (“những anh em”), trong tư cách là con người, chứ không phải là trong tư cách là người Israel hay là Kitô hữu. Cũng không có nét gì là chuyên biệt tôn giáo trong các công việc này. Đức Giêsu đã gọi những ai thi hành ý muốn của Cha Người là “anh em” Người (12,48-50). Nhưng ở đây trong tư cách vị thẩm phán, Người lại nói đến “những anh em bé nhỏ nhất”, tức là những người cùng chia sẻ thân phận nghèo khó và khiêm tốn như Người (x. 11,28-30). Đức Giêsu thích tự đồng hóa với những người bé nhỏ, bởi vì đức tính tapeinôsis, “sự khiêm nhường”, là nhân đức căn bản của Người (x. 11,28-36) và những người yếu đuối là đối tượng Người ưu ái chăm sóc. Tất cả mọi người đều là “anh em” Người (x. Rm 8,29; Dt 2,11.17), nhưng những người túng quẫn hơn và xấu số mới là “anh em” Người cách gần gũi nhất.

Lời tuyên án được công bố vào cuối một cuộc đời hoặc cuối một kinh nghiệm, nhưng án xử thì được thực hiện dọc theo dòng lịch sử. Có thể nói mỗi người xây dựng chính hạnh phúc hay bất hạnh vĩnh cửu ngày qua ngày. Loài người sẽ bị xét xử không phải về những gì đã nghĩ hoặc đã nói, nhưng về những gì đã làm cho chính anh em mình. Không phải mọi người đều đã biết Đức Giêsu, nhưng mọi người đều có một nẻo đường để gặp được Người, đó là nẻo đường “các việc từ bi thương xót”; đó chính là các việc Người đã làm. Ta gặp lại giáo huấn của Đức Giêsu: không phải là nói như Đức Kitô, nhưng là hành động như Người, mới được chiếu cố. Khi săn sóc những người “nhỏ bé nhất”, những người túng quẫn, những người đói khát, những khách lạ, những người trần truồng, những người ngồi tù (cc. 35-36), ta vừa làm giống như Đức Kitô vừa săn sóc chính Đức Kitô. Ta giúp đỡ Đấng một ngày kia sẽ là thẩm phán.

Khi nhắc đến một vài nhu cầu sơ đẳng, như thiếu thức ăn, thức uống, nơi ở, quần áo, và cả tình trạng bệnh tật và tù đày, Đức Giêsu không muốn cung cấp một danh sách rốt ráo. Người không yếu cầu điều không thể làm được, nhưng việc tặng ban và giúp đỡ vừa sức chúng ta. 

Những ai đã dấn thân làm việc tốt, Đức Giêsu gọi họ là “những kẻ Cha Ta chúc phúc” và ban cho họ Vương quốc vĩnh cửu (c. 34). Thiên Chúa trong tư cách là Cha của Đức Giêsu đã chúc phúc cho họ. Như một mặt trời, lòng tốt của Ngài và tình yêu của Ngài rọi tới họ, làm cho họ tươi nở trong niềm vui và hạnh phúc, và ban cho họ sự sống viên mãn (c. 46). Những gì họ đã trao tặng cho người thân cận với sức yếu đuối nay nhận được đầy tràn do Thiên Chúa ban: tình yêu, sự hiệp thông, sự sống và niềm vui.

Còn những người khác thì bị loại khỏi nhan Thiên Chúa. Lửa tượng trưng sự dày vò và đau đớn giáng xuống trên tất cả những ai bị loại không được nhạn sự chúc phúc và sự sống của Thiên Chúa. Họ không được sống trong sự nhân lành chói chan của Chúa Cha và trong cộng đoàn những người có sự tốt lành này. Số phận của họ là cộng đoàn những kẻ ích kỷ và thất bại, là sự thù ghét căm hờn.

 + Kết luận

Bài diễn từ đầu tiên của Đức Giêsu bắt đầu bằng phúc lành (5,3-12), bài cuối cùng kết thúc bằng cảnh phán xét cuối cùng. Toàn thể giáo huấn của Đức Giêsu được gom lại giữa hai giáo huấn quan trọng này, là những giáo huấn nói về những gì chúng ta có thể chờ đợi từ nơi Thiên Chúa và những gì chính chúng ta phải làm. Trong bài nói về phán xét cuối cùng, Đức Giêsu nhấn mạnh đến việc trao trặng nhưng-không, tỏ bày lòng từ bi thương xót và sự tốt lành cho người anh em. Đấy là yếu tố chính, lãnh vực chuyên biệt để chúng ta hành động. Tuy nhiên, cũng không được quên những giáo huấn khác của Đức Giêsu. Nhận biết uy quyền của Người và quyền lực của Chúa Cha làm cho chúng ta có khả năng và thúc đẩy chúng ta hành động theo các tiêu chuẩn của Chúa Cha cũng là của Đức Giêsu.

V. GỢi ý suy niỆm

1. Tất cả những gì chúng ta là và có đều là của cải được ký thác. Chúng ta không được phung phí theo ngẫu hứng, nhưng phải sử dụng theo ý muốn của Thiên Chúa và nhằm phục vụ Ngài  (25,14-30). Bài Tin Mừng hôm nay cho biết ý muốn của Thiên Chúa là gì và việc phục vụ được yêu cầu hệ tại điều gì: giúp cho một người ở trong tình cảnh quẫn bách là giúp chính Đức Giêsu. Việc giúp đỡ ấy khiến chúng ta được chấp nhận trong ngày phán xét để được đi vào cuộc sống vĩnh cửu. Từ khước hoặc bỏ qua không giúp đỡ người khác sẽ khiến chúng ta bị kết án vào ngày phán xét và đưa chúng ta đến hình phạt đời đời.

2. Những người nghèo khó túng cực tự họ không thể tự đồng hóa với Đức Giêsu, nhưng chính Người tự đồng hóa với họ. Do đó, mỗi việc giúp đỡ dành cho những người nhỏ bé có một giá trị bền vững. Đàng sau mỗi người, và nhất là đàng sau mỗi người nhỏ bé, yếu đuối, bị thử thách, có Đức Giêsu đang hiện diện; trong con người này, Đức Giêsu gặp chúng ta và xin chúng ta giúp đỡ. Do Đức Giêsu, mỗi người nhận được một phẩm giá thường hằng, và hành động được thực hiện vì Người sẽ nhận được một giá trị vô song và quyết định đối với số phận của mình.

3. Đức Giêsu không nói: Ta đã bị bệnh và các ngươi đã chữa ta lành, Ta đã bị tù và các ngươi đã giải thoát Ta. Chữa lành bệnh tật và giải phóng thường vượt quá khả năng chúng ta. Tuy  nhiên, để chia sẻ thì không cần nhiều của cải hoặc những tài năng đặc biệt, nhưng cần một trái tim rộng mở và có lòng thương cảm. Bỏi vì có rất nhiều nhu cầu khác nhau, về thể lý, tâm lý hoạc tinh thần. Điều đầu tiên là phải có con mắt, trái tim và sự nhạy cảm; nhất là phải nhận ra nhu cầu của người anh chị em.

4. Bài học của đoạn Tin Mừng này đã rõ: Đến cuối đời, chúng ta sẽ bị phán xét về tình yêu. Những người công chính là những người đã chu toàn Luật Thiên Chúa, như chính Đức Giêsu đã diễn tả qua điều răn lớn nhất. Một lần nữa, ở đây, Người lại đồng hóa tình yêu đối với tha nhân với tình yêu đối với Thiên Chúa. Để những việc ta làm cho anh chị em được gọi là “tốt”, ta hãy làm việc ấy cho chính Thiên Chúa.

Lm FX Vũ Phan Long, ofm

---------------------------

 

TN 34-ABC63. Đức Kitô Vua.

 

Đức Kitô có phải là Vua không? Chắc chắn Đức Kitô không phải là một thủ lãnh của một: TN 34-ABC63


Đức Kitô có phải là Vua không? Chắc chắn Đức Kitô không phải là một thủ lãnh của một đảng phái đối lập, cũng chẳng phải là một vị vua chúa như người đời vẫn quan niệm. Suốt cuộc sống công khai, Ngài không bao giờ chấp nhận tước hiệu Messia, tước hiệu là vua theo mơ ước của dân chúng. Vì mơ ước của họ pha trộn quá nhiều những yếu tố trần tục, quá nhiều những tham vọng chính trị. Thực vậy, sứ mệnh của Ngài không như sứ mệnh của quận vương Hêrôđê, quyền bính của Ngài không như quyền bính của hoàng đế Lamã hay như bất kỳ một vị vua chúa nào trên trần gian.

Sứ mệnh của Ngài thuộc một lãnh vực khác. Chính vì thế mà chúng ta thấy nhiều lần Ngài đã từ chối cái cách tôn phong Ngài lên làm vua của dân chúng. Sau phép lạ bánh hoá nhiều dân chúng muốn tôn Ngài lên làm vua, nhưng Ngài đã lẩn trốn. Nhưng cũng có lần Ngài sẵn sàng biểu dương trước công chúng, khi Ngài hiên ngang tiến vào Giêrusalem, xuất hiện với những phương tiện khiêm tốn, phù hợp với lời tiên báo của Giacaria. Ngài để cho dân chúng tung hô như là vua Israel. Trong phiên toà dân sự tại dinh Philatô, đề tài xét xử chính là vương quyền của Ngài. Khi Philatô hỏi: Ông có phải là vua dân Do Thái không? Chúa Giêsu không phủ nhận tước hiệu ấy, nhưng Ngài đã minh xác rằng: Vương quốc của Ngài không thuộc về thế gian này.

Chúa Giêsu là Vua vũ trụ, là Vua mọi dân tộc, là Vua trên muôn vua, thế nhưng Ngài lại là một vị Vua bị đóng đinh, hoàn toàn bị tước lột khỏi những quyền lực trần thế. Đức Kitô đã lên ngôi bằng con đường của thập giá, của tình yêu. Kẻ thù duy nhất của Ngài là vương quốc của Satan, của thù hận, của chia rẽ và của tội lỗi.

Các ngai vàng, các vương miện, các triều thiên và áo cẩm bào chỉ là những đồ trang sức tạm bợ chóng qua, chúng ta không được phép hiểu vương quyền của Đức Kitô qua những hình ảnh đó. Chính Ngài cũng đã tự tách mình ra khỏi các thủ lãnh của trần gian như lời Ngài đã phán: Vua chúa các nước thì cai trị ân, và những kẻ làm lớn thì lấy quyền mà áp chế dân. Đức Kitô không phải là một thủ lãnh áp chế, trái lại cai trị theo Ngài có nghĩa là lột sạch mọi tự cao, hào nhoáng và vênh vang, cai trị đối với Ngài chính là phục vụ.

Đức Kitô phục vụ chúng ta và Ngài phục vụ một cách khiêm tốn, thận trọng và kín đáo. Ngài đã phục vụ đến độ hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Sự tự hạ của Ngài đi đến chỗ đồng hoá với những kẻ bé mọn và thấp kém nhất. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã thực sự dấn thân để phục vụ và giúp đỡ những kẻ bé mọn thấp kém chung quanh chúng ta hay chưa?

---------------------------

 

TN 34-ABC64. VƯƠNG QUỐC CỦA CHÚA KITÔ


- Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

Mt 25,31-46

 

Trên thế giới ngày nay, chỉ còn một số nước có vua, nhưng vua thực ra chỉ để cho có vị và hình: TN 34-ABC64


Trên thế giới ngày nay, chỉ còn một số nước có vua, nhưng vua thực ra chỉ để cho có vị và hình thức, chứ thực quyền nằm ở tay tổng thống hoặc thủ tướng mà thôi. Do đó, danh từ vua thực sự không gây được ấn tượng cho chúng ta được bao nhiêu. Bởi vì xưa thời phong kiến đã có những vị vua tàn bạo, làm khổ dân lành. Chính vì thế, lễ Chúa Giêsu Vua thoạt nghĩ, xem ra khó gây cảm hứng và ấn tượng khi chúng ta nghĩ tới  những vị vua chúa đã có một thời làm mưa làm gió trên nhiều đất nước. Tuy nhiên, Chúa Giêsu Vua lại hoàn toàn khác, bởi vì Vương Quyền của Ngài không thuộc trần gian này. Chúa là Vua vì Ngài là Thiên Chúa và Ngài là Tình yêu.

 CHÚA GIÊSU LÀ VUA, VÌ NGÀI LÀ THIÊN CHÚA :

Chúng ta vẫn còn nhớ rất kỹ trong vụ án của Chúa Giêsu. Philatô sau khi trao đổi với người Do Thái ngoài phủ đường. Ông vào trong và cho truyền điệu Đức Giêsu Kitô đến. Ông hỏi Chúa Giêsu :” Ông mà lại là Vua dân Do Thái ? “. Câu hỏi này của Philatô minh chứng Ông đã biết trước điều mà người Do Thái cáo tội Chúa Giêsu. Đối với Philatô cũng như trong bản cáo trạng của người Do Thái đã tố Chúa Giêsu, thì tước hiệu “ Vua Do Thái “ mang ý nghĩa chính trị. Đáp lại lời của Philatô, Chúa Giêsu đặt câu hỏi :” Tự mình ông, ông nói thế, hay có ai khác đã nói với ông về Tôi ? “. Chúa Giêsu muốn phân biệt từ Vua về tôn giáo và từ Vua có nghĩa chính trị. Nếu Philatô hiểu theo nghĩa chính trị, Chúa Giêsu sẽ phủ nhận, còn nếu Philatô hiểu theo nghĩa tôn giáo, tức là Vua Mêsia của dân Do Thái, thì Ngài sẽ nhận. Chúa Giêsu nói rõ cho Philatô biết Ngài có một Nước, nhưng nước Ngài không thuộc thế gian này.

Nước của Chúa Giêsu không mang sắc thái chính trị như Philatô và người Do Thái nghĩ.” Nếu Nước Tôi thuộc về thế gian này, thì bộ hạ của Tôi đã cố chiến đấu không để Tôi bị nộp cho người Do Thái “. Philatô hỏi tiếp:”Vậy thì ông là Vua sao ? “. “ Ông nói đó : Tôi là Vua !”. Đây là lời khẳng định hết sức long trọng và quan trong của Chúa Giêsu vì Ngài xác nhận :” Tôi là Vua “.Chúa Giêsu cứ từ từ giải thích cho Philatô ý nghĩa Vương quyền của Ngài :” Chính vì lẽ này mà Tôi đã sinh ra, và chính vì lẽ này mà Tôi đã đến trong thế gian : Ấy là để làm chứng cho sự thật. Phàm ai thuộc về sự thật, thì nghe được tiếng Tôi “( Ga 18,37 ). Đức Giêsu là Thiên Chúa bởi vì chính Thiên Chúa đã sai Ngài đến thế gian:” Quả vì Thiên Chúa đã yêu mến thế gian như thế ( đó ) đến nỗi đã thí ban Người Con Một, ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đời” ( Ga 3, 16 ). Đức Giêsu là Thiên Chúa độc nhất, vô cùng thánh thiện, vô cùng công minh, Ngài luôn chạnh thương và giầu lòng thương xót.

CHÚA GIÊSU LÀ VUA, VÌ NGÀI LÀ THIÊN CHÚA TÌNH YÊU :

Thánh Gioan đã nói “ Thiên Chúa là Tình Yêu “. Chúa Giêsu là Vua, nhưng là Vua khiêm nhượng, hiền từ, Ngài ngồi trên lưng lừa để vào Giêrusalem. Ngài tạo lập một Vương Quốc toàn Kitô hữu sống tình yêu. Ngài là Vua Tình Yêu, Vua phục vụ, không ai trên thế gian này yêu thương như Ngài. Bởi vì yêu thương nhân loại tội lỗi, Đức Giêsu đã gánh hết tội cho thế gian, chết cho thế gian để nhân loại được giải thoát, được ơn cứu độ :” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình vì người mình yêu”  (Ga 15, 13 ). Chúa Giêsu yêu thương như người cha đón nhận người con hoang đàng, phung phá trở về ( Lc 15, 11-13 ). Chúa hy sinh cho đàn chiên, bảo vệ đàn chiên ( Ga 10, 11 ). Ngài đến cho chiên được sống và sống dồi dào ( Ga 10, 10 ). Ngài yêu thương tha thứ cả người tội lỗi bị con người kết án tử hình ( Ga 8, 1-11 ).Chúa Giêsu yêu thương cả kẻ thù ( Mt 5, 43-48 ). Chúa Giêsu quảng đại tha thứ và tha thứ không giới hạn, tha thứ không ngừng. “ Tôi đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ mọi người “ ( Mc 10, 42-45 ). Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Ngài là Thiên Chúa duy nhất như trong mười giới răn, Ngài dạy nhân loại :” Thờ phượng một Thiên Chúa và kính mến Người trên hết mọi sự “ ( Giới luật thứ I ). Tuy là Thiên Chúa tối cao, nhưng Ngài đã hủy mình ra không, nhận kiếp người phàm, ngọai trừ tội lỗi ( Philip 2, 6-8 ). Chúa Giêsu chính là Tình Yêu vì Ngài luôn vâng lời Thiên Chúa Cha, tự nguyện phục vụ nhân loại, rửa chân cho các môn đệ. Chúa là Tình Yêu nhưng Ngài luôn muốn mọi người đáp trả lại Tình Yêu của Ngài.

ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ :

Vương Quốc của Chúa Giêsu là Vương Quốc của sự thật, công lý. Do đó, mỗi Kitô hữu được mời gọi để trở nên một bí tích tình yêu cho Vương Quốc của Chúa Giêsu, trở nên một dấu chỉ cho thế giới về những gì mà Vương Quốc sự thật của Thiên Chúa làm trong trần gian này.Vương Quốc của Chúa Giêsu thuộc về mỗi Kitô hữu, và chính Vương Quốc của Chúa Giêsu sẽ mang lại cho con người, cho mỗi Kitô hữu, cho Giáo Hội sự sống mới, sự sống hoàn hảo khi Chúa Kitô đến lần sau hết trong vinh quang của Ngài. Do đó, Chúa nhật Chúa Kitô Vua mời gọi mọi Kitô hữu, mời gọi Hội Thánh trung thành với Đức Kitô.

Lạy Chúa Kitô Vua, xin cho chúng con được trung thành với Ngài. Xin cho chúng con nhận biết Vương Quốc của Ngài là Vương Quốc Tình Yêu, Sự Thật và Ân Sủng. Xin cho chúng con càng lúc càng nhận ra Vương Quốc của Ngài là Vương Quốc của Sự Thánh Thiện và Vương Quốc của Sự Sống, Vương Quốc của Bình An, Công Bình và Chân Lý. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

Tước hiệu “ Vua Israel “ ( Ga 1, 49 ) có nghĩa gì ?
Tước hiệu “ Vua dân Do Thái “ ( Ga 18, 34 ) có nghĩa gì ?
Vương Quốc của Đức Giêsu là Vương Quốc nào ?
Philatô có để ý gì về Vương Quốc của Chúa Giêsu theo nghĩa “ Vua dân Do Thái không ? “.
Chúa Giêsu là Vua theo nghĩa nào ?

 Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

---------------------------

 

TN 34-ABC65. ĐỨC KITÔ VUA THẨM PHÁN - Lm Giuse Đinh lập Liễm


Mt 25,31-46.

I. BỐI CẢNH NGÀY LỄ.

 

Hôm nay là Chúa nhật cuối năm Phụng vụ, Giáo hội mừng lề Chúa Giêsu Vua để nhắc nhở cho: TN 34-ABC65


Hôm nay là Chúa nhật cuối năm Phụng vụ, Giáo hội mừng lề Chúa Giêsu Vua để nhắc nhở cho mọi người hãy suy tôn, phục vụ và theo Ngài, đồng thời phải chuẩn bị tâm hồn chờ đợi Chúa đến trong ngày tận thế với tư cách là vị Vua Thẩm phán để xét xử kẻ sống và kẻ chết.

 Đức Giáo hòang Piô  XI đã thiết lập lễ này vào ngày 11.12.1925 trong bầu khí tạ ơn và hân hoan của Năm thánh 1925. Ngài thiết lập lễ này vì vào những thập niên đầu thế kỷ 20, thế giới phải đối diện với trào lưu tục hóa và các chủ thuyết khác. Về phía Giáo hội, qua việc mừng kính tước hiệu là Vua của Chúa Kitô, Giáo hội khẳng định niềm tin trước sau như một của mình là tuyên xưng vương quyền của Chúa Kitô trên mọi con người, mọi gia đình, mọi xã hội và trật tự nhân loại.

 Ngoài ra, để điều chỉnh một số lệch lạc trong đời sống đạo nơi một số con cái, Giáo hội là Mẹ nhắc nhở cho mọi người rằng Chúa Kitô không chỉ là người Anh hay người Bạn đồng hành mà Ngài còn là “Vua trên các vua, Chúa trên các chúa. Ngài là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời”.

 II. MỘT NƯỚC CẦN CÓ VUA.

Người ta thường nói :”Kim chỉ phải có đầu”, trong một tập thể không thể có cảnh “cá mè một lứa” được, nhất là trong một nước.  Hầu hết các dân tộc thời xưa đều mơ ước và tin rằng vua của họ là con Trời, vì chỉ có con Trời mới là toàn năng công minh, thấu suốt mọi sự, mới giúp dân, ban ơn cho dân muôn phần tốt đẹp. Họ thường gọi Vua là Thiên tử, Trời có mắt, đèn Trời soi sáng, xin Trời phù hộ.

 Bên phương Đông, Đức Khổng Tử đã thấy rõ vua Nghiêu, vua Thuấn, Vũ vương, Văn Vương làm vua theo mệnh Trời, cho nên vương quốc thời cổ đại của các ngài thật lý tưởng.

 Kinh thư viết :”Thiên hựu hạ dân, tác chi quân, tác chi sư” : Trời giúp dân, đặt vua cai trị, đặt thầy dạy dỗ (Thái hệ thượng 7). Nhận biết Trời đặt mình làm vua, các ông hết lòng hết sức vâng theo mệnh Trời để giúp dân. Vua Vũ Vương viết :”Duy kỳ khắc tướng Thượng Đế, sủng tuy tứ phuơng” : Chỉ vì phục vụ Thượng Đế, giúp nhân dân bốn phương.

 Bên Tây phương, Ba tư, Ai cập, Hy lạp hay La mã đều coi vua là con Thần Trời. Dân Do thái khi chưa có vua, họ đòi tiên tri Samuel :”Thế nào cũng phải có vua cho chúng tôi”(1Sm 8,19).  Và ai được chọn làm vua đều được thánh hiến bằng xức dầu tấn phong, trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa. Thiên Chúa nói với tiên tri Nathanael :”Hãy đi nói với Đavít :Ta là cha nó, nó sẽ là con Ta”(2Sm 7,5.14 và Tv 2,7). Nếu vua trung thành thực hiện sự công chính trong vương quốc và bảo đảm thịnh vượng cho toàn dân, Thiên Chúa sẽ bảo vệ vua khỏi tay quân thù” (Tv 20,21 và 45,4-8). (Vũ khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, năm A, tr 192).

 Truyện : nữ hoàng Elizabeth lên ngôi

Năm 1952, lễ đăng quang của nữ hoàng Anh Elizabeth là một nghi thức long trọng nhất của thế kỷ 20. Ba triệu người đứng chật các đường phố Luân đôn. Từ các thuộc địa Anh, các đoàn đại biểu trong sắc phục địa phương cũng có mặt. Nữ hoàng ngự giá trên chiếc xe ngựa bằng vàng. Hơn 10 sư đoàn trong quân đội hoàng gia diễn hành. Năm trăm chiếc khu trục cơ nhào lộn trên không.

           Vua chúa và các nhà lãnh đạo hầu hết đều có mặt mang theo tặng vật cho vị tân nữ hoàng.  Nhưng có lẽ quà tặng cao qúi nhất mà thế giới tặng cho nữ hoàng là ngọn cờ nước Anh lần đầu tiên được một người Tân tây lan cắm trên đỉnh Everest ở độ cao 8.846 mét vào chính ngày áp lễ đăng quang.

 III. ĐỨC GIÊSU XƯNG MÌNH LÀ VUA.

 1. Nơi Đức Giêsu xưng vương.

 Sau phép lạ bánh ra nhiều, dân chúng hồ hởi muốn tôn Ngài làm vua, nhưng Ngài đã lẩn tránh vì Ngài không muốn cho dân chúng hiểu Ngài làm vua theo kiểu thế gian.  Ngài chỉ nhận mình là Vua khi đứng trước toà án Philatô, với dáng vẻ tang thương tiều tụy, Ngài khẳng định Ngài là Vua : “Ông nói phải, Tôi là Vua”.  Chính Philatô cho Ngài ngồi ở Gabata, ghế dành cho quan tòa.  Như vậy, vô tình Philatô công nhận Ngài là Vua và Ngài sẽ xét xử dân Do thái.

 Ngoài ra, ông còn truyền viết tấm bảng treo trên đầu Chúa Giêsu với hàng chữ I.N.R.I.

(Jesus Nazareth Rex Judaeorum) có nghĩa là Giêsu Nazareth vua dân Do thái, tức là công nhận Đức Giêsu là Vua.  Ngai vàng của Ngài là cây thập giá. Từ trên cao, Chúa nhìn xuống thần dân, giang hai tay ra để ôm lấy dân Ngài. Và diễn từ nhận chức của Ngài là :”Xin tha cho họ”  và cao điểm là :”Mọi sự đã hoàn tất”.

 2. Vương quốc của Ngài.

Vương quốc của Ngài không có tính cách chính trị . Vương quốc của Ngài không thuộc về thế gian như các vua chúa ở trần gian. Vương quốc mà Ngài lập ra không có lãnh thổ hay tài nguyên  vì vương quốc ngài là vương quốc thiêng liêng nên vô biên giới và vĩnh cửu, nước không thuộc thời gian nhưng thuộc thời cánh chung. :”Nuớc Người sẽ không bao giờ cùng”(Kinh Tin Kính).

          IV. ĐỨC GIÊSU LÀ VUA MỤC TỬ.

Đức Giêsu là Vua không theo nghĩa như các vua trần gian, nhưng Ngài xưng mình là Vua Mục tử nhân lành. Ngài tụ họp những con chiên bị phân tán, tìm con chiên lạc, băng bó chiên bị thương tích, chữa lành chiên bị đau ốm, chăn dắt chăm sóc đoàn chiên theo đường công chính (Bài đọc I).  Chính Đức Giêsu đã tuyên bố :”Ta là mục tử nhân lành, Ta biết chiên Ta và chiên Ta biết Ta”(Ga 10,10). Ngài còn nói thêm :”Ta đến để cho chiên Ta được sống và được sống dồi dào.  Chính Ta là mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình vì chiên”.

Ở Nước Trời, Đức Giêsu là Vua đích thực muôn đời vì Ngài đã hạ mình xuống làm tôi trung vâng lời Chúa Cha hiến mình chịu chết trên thập giá để cứu chuộc muôn dân, đưa muôn dân về với Thiên Chúa Cha trong nước vĩnh phúc hằng sống.” Chính vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài, ban cho cho Ngài một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu để trên trời dưới đất và hoả ngục phải bái quì khi nghe danh thánh Giêsu” (Pl 2,6).

 Nếu  Đức Kitô là Vua Mục tử thì vương quốc của Ngài là vương quốc tình thương. Đặc điểm của công dân trong nước này là những con người bất hạnh, khổ đau. Chính Đức Kitô, vị Vua Mục tử, đã tự đồng hóa mình với những kẻ bé mọn nghèo khổ :”Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Tiêu chuẩn để xác định một người thuộc vương quốc của Ngài là chính những hành động của tình thương.

 V. ĐỨC GIÊSU LÀ VUA THẨM PHÁN.

1. Ngài đã khẳng định vậy.

Trong kinh Tin kính chúng ta vẫn tuyên xưng :”Và Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Lòng tin của Hội thánh đã được xây dựng trên lời Chúa :”Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập họp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái”(Mt 25,31).

 Ngai uy linh có nghĩa là ngai vinh quang, người Do thái quan niệm ngai vinh quang chỉ dành cho Thiên Chúa, các ngai khác dành cho các tông đồ (Mt 19,28). Khi nói Chúa ngự lên ngai uy linh là một cách mạc khải Chúa Giêsu là Thiên Chúa.

 2. Ngài phán xét như thế nào ?

           a)  Dựa trên tình thương.

          Sự phán xét của Ngài không tùy thuộc vào kiến thức của chúng ta có, sự may mắn hay tiếng tăm của chúng ta đạt được, nhưng tùy theo vào sự giúp đỡ mà chúng ta đã làm cho người khác.  Cha Mark Link nói :”Khi Chúa đến, Ngài không cân đo trí khôn chúng ta thông minh thế nào. Nhưng Ngài sẽ cân đo trái tim của chúng ta yêu thương ra sao”.

 Những điều Chúa nêu ra là cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, tiếp đón khách lạ, an ủi người bệnh, thăm viếng kẻ bị tù... Đó là những việc mà ai cũng có thể làm, đó là những sự giúp đỡ đơn giản cho mọi người cần đến  mà chúng ta vẫn gặp hằng ngày. Không có ví dụ nào mở ra con đường đi tới vinh quang cho những người tầm thường nhất bằng ví dụ này.

 Người Á đông chúng ta tuy không biết Thiên Chúa, nhưng có một quan niệm rất chính xác và cao sâu về Ông Trời : Ông Trời là chủ tể của mọi loài, không ai sống ngoài tầm kiểm soát của Ông Trời, sống theo ý Trời thì có phúc, làm ngược ý Trời thì bị phạt.  Hai câu phản ảnh rõ nhất  quan niệm trên là “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu” : Lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt được.  Và còn một câu khác nữa cũng nói lên quan niệm ấy :”Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong : Người sống theo Trời thì còn, người nghịch với Trời thì mất.

 Dù là dân đen hay vua chúa, dù nghèo hay giầu, dù trẻ hay già... cuối cùng rồi thì ai cũng chết và trình diện trước mặt Chúa, Vua Trời.  Khi đó Vua Trời sẽ xét xử cuộc sống mỗi người dựa trên Luật Yêu thương.  Người nào sống yêu thương là “thuận thiên” và sẽõ được “tồn” trong hạnh phúc vĩnh hằng.  Kẻ sống mà không yêu thương là kẻ “nghịch thiên” và sẽ “vong” vĩnh viễn trong cõi trầm luâm.  (Lm Carôlô, Sợi chỉ đỏ, năm A, tr 564)

           b)  Giúp đỡ không tính toán.

          Tất cả những người giúp đỡ không nghĩ rằng họ đã giúp đỡ Chúa Giêsu và tích trữ công đức đời đời cho mình. Họ giúp vì không thể không giúp, đó là bản chất tự nhiên không tính toán, phát xuất từ lòng yêu thương thật.  Trái lại những người không muốn giúp đỡ người khác thường tỏ ra :”Nếu chúng tôi biết là anh thì chúng tôi đã sẵn lòng giúp”.  Cũng có những người ra tay giúp đỡ nếu họ được người ta khen ngợi, cám ơn và công bố ra cho nhiều người biết, như thế không phải là họ giúp đỡ ai mà chỉ để chiều theo lòng tự ái tự tôn của họ.  Giúp đỡ như vậy không phải là rộng lượng nhưng là ích kỷ trá hình.  Sự giúp đỡ đẹp lòng Chúa phải là sự giúp đỡ không vì mục đích nào  ngoài sự giúp đỡ cả.

 Truyện : thánh Martinô thành Tours.

Ông là một quân nhân La mã và một Kitô hữu. Một ngày mùa đông lạnh lẽo, khi ông đi vào một thành phố, có người hành khất chặn ông lại xin bố thí , Martinô không có tiền, nhưng ông thấy người hành khất xanh xao và run rẩy vì lạnh, Martinô đã cho những gì ông có : ông cởi chiếc áo nhà binh đã sờn rách và xé một nửa cho người hành khất.  Tối hôm ấy ông nằm mơ thấy thiên đàng có các thiên sứ đang bao quanh Chúa Giêsu và Ngài đang mặc nửa chiếc áo lạnh nhà binh của ông.  Một thiên sứ hỏi Ngài :”Tại sao Ngài mặc chiếc áo sờn rách đó ? Ai đã cho Ngài áo đó”? Chúa Giêsu trả lời :”Martinô, tôi tớ của Ta đã cho Ta”.

           c)  Cho đi thì sẽ được.

          Tất cả những gì chúng ta làm cho tha nhân là làm cho Chúa mà những gì chúng ta làm cho Chúa thì không thể mất được. Những gì chúng ta làm cho tha nhân, dù nhỏ mọn như một chén nước lã thì cũng có phúc trước mặt Chúa. Trái lại, những gì chúng ta không làm cho tha nhân tức là không làm cho Chúa, mà đã không làm cho Chúa là một điều có lỗi. Do đó, Chúa sẽ xét xử chúng ta theo nguyên tắc :”Hữu công tắc thưởng, hữu tội tắc trừng” : có công thì được thưởng, có tội thì phải phạt.  Được thưởng hay bị phạt là do chúng ta định đoạt lấy, không ai có thể làm thay cho chúng ta được..

 Truyện : cho đi thì sẽ được.

Một ngày mùa đông lạnh giá, Lady Grey, một phụ nữ qúi tộc người Anh, rất giầu có, đã cải trang làm một người hành khất đi ăn xin từng nhà trong thành phố Luân đôn.  Đến một số nhà, bà bị xua đuổi một cách tàn nhẫn. Một vài nơi khác, bà chỉ được bố thí cho những thứ thừa thãi vất đi. Điều lạ là tất cả những người ấy là những gia đình giầu có. Thế rồi bà tìm đến một căn nhà lụp xụp nghèo nàn. Tại một túp lều xiêu vẹo, bà được một ông lão tàn tật ân cần mời vào sưởi ấm bên bếp lửa và cùng chia nhau một khúc bánh mì đen.

 Hôm sau chính người nữ qúi tộc ấy sai các gia nhân đến tận nhà mời những người mà bà đã đến ăn xin tối hôm trước tới dự một bữa tiệc tại dinh thự của bà. Tất cả khách được hướng dẫn vào một phòng chiêu đãi sang trọng và mỗi người được đặt chỗ ngồi riêng dọn sẵn. Bấy giờ ai nấy thấy trước mặt mình là những món ăn y như những thứ mà họ đã đem bố thí  cho “bà ăn mày” : chỗ thì củ khoai thối, chỗ thì miếng bánh mốc không ăn được, có nơi là một cốc nước lã bẩn thỉu, lại có nơi chỉ là chiếc đĩa trống không.  Duy chỉ có chiếc đĩa trước mặt ông lão tàn tật đầy ắp những món ăn ngon lành sang trọng.  Mọi người chưa hết ngạc nhiên thì bà qúi tộc xuất hiện và tuyên bố :”Hôm qua tôi đích thân đi ăn xin từng nhà để hiểu biết hơn về lòng nhân ái của qúi vị.  Hôm nay tôi chỉ đáp lễ  bằng cách dọn ra  mời qúi vị những thứ mà qúi vị đã cho tôi. Tôi tin rằng qúi vị cũng sẽ được tiếp đãi như vậy trong bữa tiệc mai sau truớc mặt Thiên Chúa là Đấng bây giờ đang đứng trước nhà qúi vị để trông chờ tấm lòng nhân ái của qúi vị”.

 (Quê Ngọc, Dấu ấn tình yêu, năm A, tr 139)

 Nghe xong câu truyện trên đây, nhất là qua bài Tin mừng của Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, chúng ta thấy cả hai đều qui về một mục đích là nêu cao và làm sáng tỏ một vấn đề hết sức hệ trọng trong đời sống đạo đức : đó là yêu thương giúp đỡõ tha nhân, đặc biệt với những kẻ hẩm hiu cùng khốn là yêu thương chính Chúa và Chúa chỉ căn cứ vào đó mà đối đãi lại với chúng ta.

 Nếu Thiên Chúa là Tình yêu và yêu thương là chính bản tính của Ngài, thì đạo của Ngài hẳn phải là đạo yêu thương. Vì thế, Chúa dạy chúng ta phải sống yêu thương và Chúa coi những việc chúng ta làm cho người khác là chúng ta làm cho chính Ngài.

 Rồi trước khi chấm dứt cuộc đời rao giảng Tin mừng ở trần gian, Chúa còn quả quyết :”Ta  bảo thật, những gì các ngươi làm cho một trong những người bé nhỏ của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta”. Như vậy, Chúa Giêsu tiếp tục nhập thể nơi người anh chị em, và Ngài tiếp tục nhập thể nơi mỗi người Kitô hữu hôm nay. Ngài cần đến đôi tay chúng ta để phục vụ. Ngài cần đến môi miệng chúng ta để nói lời an ủi khuyến khích. Ngài cần đến trí hiểu và con tim chúng ta để sống tình liên đới yêu thương. Ngài cần đến đôi chân chúng ta để đến với mọi người.

Laudetur Christus Rex in saecula saeculorum.

 Lm Giuse Đinh lập Liễm

---------------------------

 

TN 34-ABC66. THIÊN CHÚA ĐÃ TRỞ NÊN GIỐNG NHƯ BẠN VÀ TÔI


 Lm Giuse Tạ Duy Tuyến

 

Có một câu chuyện cổ tích kể rằng: ở một vương quốc nọ. Có một vị vua cao sang quyền qúy: TN 34-ABC66


Có một câu chuyện cổ tích kể rằng: ở một vương quốc nọ. Có một vị vua cao sang quyền qúy, thế mà lại yêu say đắm một cô thôn nữ miền sơn cước. Nhà vua định cưới nàng làm hoàng hậu nhưng có quá nhiều trở ngại, khiến nhà vua phải nhiều đêm đắn đo suy nghĩ. Vì tục lệ chỉ cho phép nhà vua cưới các công nương vương triều. Tuy rằng ngài có đầy quyền lực để xem thường truyền thống nhưng ngài vẫn không dám quyết định. Hơn nữa, một ý nghĩ khác nảy sinh khiến ngài càng khó quyết định, vì nhà vua sợ sự khác biệt về địa vị khiến tương quan giữa hai người sẽ khó mà tự nhiên với nhau, cô gái có thể thán phục đức vua nhưng không thực sự yêu ngài. Vua vẫn là vua, nàng vẫn là thôn nữ chốn hồng hoang. Vua liền nảy sinh một sáng kiến, ngài từ bỏ ngôi vua để sống như một nông dân, để gần gũi và hoà đồng với nàng, nhưng nhà vua lại sợ, với cương vị một chàng nông dân liệu rằng cô thôn nữ còn yêu nữa mình hay không? Cuối cùng, vì quá yêu nàng, nhà vua vẫn đánh liều bỏ mọi sự để hai người có một tình yêu đích thực và trọn vẹn.

Câu chuyện bỏ ngỏ ở đây. Câu chuyện không dẫn thính giả đến lời đáp trả của nàng thôn nữ, có đón nhận tình yêu của nhà vua hay từ chối tình yêu. Nhà vua đã rời bỏ ngai vàng, đã chấp nhận trắng tay vì nàng, nhưng liệu rằng nàng có dám yêu anh “khố rách áo ôn”, khi địa vị, danh vọng, tiền bạc của nhà vua đã không còn? Câu chuyện cũng không dẫn độc giả tới tuyệt đỉnh của một tình yêu là “một túp lều tranh, hai trái tim vàng”.Câu chuyện không có đoạn kết, vì đoạn kết tùy thuộc vào tâm trạng của mỗi người đều có quyền điền vào cho hợp với ý của mình. Câu chuyện chỉ muốn gợi lên cho độc giả về một tình yêu cao cả mà nhà vua đã dành cho cô thôn nữ hèn kém này. Một tình yêu thật lớn lao đến độ dám từ bỏ ngai vàng vì một cô thôn nữ xa lạ chỉ một lần thấy thoáng qua trong đời.

Vâng, câu chuyện chưa kết thúc, nó vẫn tiếp diễn. Đây là một câu chuyện có thực về tình yêu của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta. Thiên Chúa hằng yêu thương bạn, yêu thương tôi. Ngài là một vị vua đã tự bỏ ngai vàng, cung điện và cả cung cách của một vì Thiên Chúa để mặc lấy thân phận tôi đòi như chúng ta. Ngài quá yêu chúng ta đến nỗi đã trở nên “đồng hình đồng dạng vì chúng ta”. Ngài đã trở thành một “Emmanuel vì chúng ta”. Nhưng tiếc thay nhân loại hôm qua cũng như hôm nay đã không nhận ra Ngài. Họ cần một vì Thiên Chúa đánh đông dẹp tây, quyền uy sang trọng. Họ cần một vì Thiên Chúa để họ điều khiển theo ý của họ. Họ đòi Thiên Chúa đáp ứng những nhu cầu, nguyện vọng của họ hơn là chính họ phải hành động theo ý của Thiên Chúa. Năm xưa dân Do Thái đã không nhận ra Chúa khi Ngài mang thân phận của một con người như họ. Họ còn xem thường về nguồn gốc của Ngài. Cho dù họ đã chứng kiến biết bao phép lạ phi thường mà chỉ có bàn tay Thiên Chúa mới có thể thực hiện được. Thế mà, họ lại xuyên tạc là nhờ tướng quỷ mà làm được những việc này việc nọ. Từ việc xem thường gốc gác về Ngài, họ đã đẩy Ngài đến án tử trên đồi Golgotha. Chúa vẫn một lòng yêu thương tha thứ, ngài vẫn tiếp tục yêu thương và yêu thương cho đến cùng, vì Ngài là tình yêu.

Vâng, câu chuyện chưa kết thúc, nó vẫn tiếp diễn. Thiên Chúa vẫn đang gõ cửa từng cuộc đời chúng ta. Ngài hằng mong chúng ta đón nhận Ngài qua những con người túng thiếu cơ hàn, qua những mảnh đời tha phương cầu thực, qua những bất hạnh của những anh em đang ở bên cạnh chúng ta. Thiên Chúa đã trở nên đồng hình đồng dạng vì chúng ta, Ngài vẫn cần chúng ta trao ban cho Ngài những nghĩa cử yêu thương. Ngài vẫn đang cần chúng ta săn sóc Ngài trong tôn trọng và vị tha. Ngài vẫn cần chúng ta dâng hiến cuộc đời để phục vụ Ngài một cách quảng đại và bao dung. Ngài là một vì Thiên Chúa đã mặc lấy thân phận con người, nhưng liệu rằng, bạn còn yêu Ngài hay không? Chúng ta yêu một vì Thiên Chúa quyền uy thì dễ nhưng liệu rằng chúng ta có dễ dàng yêu một vì Thiên Chúa đã hoá thân làm người trong thân phận hài nhi yếu đuối, bị truy đuổi, bị loại trừ hay không? Chúng ta sẵn lòng cúi mình làm tôi cho những ai mang lại cho ta tiền bạc, danh vọng, niềm vui, nhưng liệu rằng chúng ta có muốn cùng Chúa đi trên con đường thập giá, đường hy sinh bản thân để trở nên nguồn hạnh phúc cho anh chị em mình không?

Hôm nay, là ngày lễ Chúa Giêsu là Vua, Giáo hội mời gọi chúng ta hãy sống đáp lại tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Vì yêu thương ta Ngài đã tạo dựng chúng ta giống hình ảnh Ngài, chúng ta hãy phục vụ Ngài qua anh em của chúng ta. Vì yêu thương ta, Ngài đã chấp nhận chết để cứu độ chúng ta, chúng ta hãy biết chết đi bản tính ích kỷ của mình, chết đi những toan tính tội lỗi của mình để sống xứng đáng với tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Nguyện xin Chúa Giêsu là Vua cai trị và dẫn dắt chúng ta đi trong đường chính nẻo ngay, và xin Ngài ngự trị thánh hoá cuộc đời chúng ta trong hồng ân và tình thương của Ngài. Amen


Lm Giuse Tạ Duy Tuyến

---------------------------

 

TN 34-ABC67. TÌNH YÊU LÀ THƯỚC ỊO DUY NHẤT...


- Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

 

Kết thúc năm phụng vụ, Mẹ Giáo hội muốn con cái mình suy niệm về viễn tượng của ngày: TN 34-ABC67


Kết thúc năm phụng vụ, Mẹ Giáo hội muốn con cái mình suy niệm về viễn tượng của ngày Thẩm phán- ngày mà Con Người ngự đến trong vinh quang, triệu tập tứ phương thiên hạ đến trước mặt Người để chịu xét xử. Ngày đó cũng là ngày công - tội, thưởng- phạt phân minh rõ ràng, không còn chỗ cho địa vị, cho quyền uy, thế lực hay giàu sang phú quý tác quai tác quái. Ngày đó ai nấy, bất luận là người thế nào, sẽ thấy rõ công việc mình đã thực hiện khi còn sống trên trần gian này và, ngày đó Con Người sẽ dựa vào công trạng để xét xử, số phận được định đoạt hưởng phúc hay hưởng phạt đời đời.

Cảnh tượng ngày thẩm phán tuy được viết theo lối văn thể khải huyền nhưng thánh sử Mátthêu đã trình bày rất xúc tích, rõ ràng và dễ hiểu. Chúng ta có thể thấy đối tượng của ngày chung thẩm không dành riêng người Dothái hay những người thuộc khối Kytô mà còn cho toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc, mầu da, ngôn ngữ, giai cấp. Ngày đó là ngày đại hội toàn dân. Chính Thiên Chúa sẽ triệu tập toàn thể nhân loại đến trước mặt Con Người để chịu xét xử. Ngày đó Chúa Kytô - Vua muôn vua, Chúa các chúa, sẽ ngự trên ngai uy linh của Người để xét xử chư dân. Không một ai trong ngày đó được miễn trừ ngày trọng đại này. Cũng không một ai trong ngày đó tìm được cơ hội để thanh minh hay lập công chuộc tội vì những việc mình đã thực hiện trước đây khi còn sống trên trần gian. Vì thế, tính “nghiệt ngã” của ngày thẩm phán không phải đem ra nhằm hù doạ mà là một sự thật hiển nhiên sẽ xảy đến nếu nhân loại cố tình phớt lờ những gì mình đã gây nên cho đồng loại.

Ngày thẩm phán được sánh ví như ngày vị mục tử tách chiên ra khỏi dê, chiên ở bên phải còn dê ở bên trái. Sở dĩ cần phải tách ra như thế là vì thực tế chiên và dê tuy ban ngày cùng chung một ràn nhưng khi chiều về cần phải tách chúng ra vì dê không thể ở ngoài trời đẫm sương như chiên được. Hình ảnh chiên- dê, tay phải - tay trái mang đầy tính biểu tượng. Chúng ta biết chiên là một loài vật có giá trị, bộ lông mầu trắng của chúng tượng trưng cho sự tinh tuyền, công chính. Còn dê, trái lại, tượng trưng cho sự bất chính, không tinh tuyền; cũng vậy, nếu tay phải tượng trưng cho quyền uy thế lực và giàu sang theo quan niệm của người Dothái, thì tay trái tượng trưng cho những gì xấu xa tội lỗi và hèn nhát.

Tách biệt để thấy sự khác biệt. Tách biệt để thấy hố ngăn cách vô phương cứu chữa. Tách biệt để thấy một sự thật phủ phàng được phơi bày trong chính sự khác biệt này. Tách biệt để thấy công đức được đề cao và cũng để biết đến một hạng người không bao giờ biết đến khái niệm công đức hay việc làm phúc bố thí là gì. Thật vậy, khi tách biệt như thế, chúng ta thấy một bên được vị Thẩm phán hết lời khen ngợi : “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa”; và một bên là lời khiển trách : “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ac quỷ và các sứ thần của nó”.

Sự khác biệt này không đến bởi vị Thẩm phán thiên vị, nhận tiền hối lộ để làm lợi cho bên này hoặc bên kia mà đến từ việc thực thi công bình bác ái của chính đối tượng chịu xét xử. Rõ ràng chúng ta thấy Đức Vua chỉ dựa vào mỗi điều này để xét xử. Theo đó những việc được xem là “đáng được chúc phúc” được Đức Vua liệt kê khá chi tiết. Đó là : cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, tiếp rước khách lạ, cho kẻ rách rưới ăn mặc, thăm người đau yếu và viếng kẻ tù đày. Những người được chúc phúc thật sự ngỡ ngàng vì họ cũng không ngờ những việc làm đạo đức lúc trước của mình lại có ngày được Đức Vua ghi nhận không xót một điều. Và càng ngỡ ngàng hơn nữa khi Đức Vua tự nhận khi họ làm những việc lành phúc đức như thế là làm cho chính Người. “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”.

Còn đối với “quân bị nguyền rủa” họ cũng lấy làm ngỡ ngàng vì có bao giờ họ thấy nhà Vua vi hành, xuống với thường dân để họ có cơ hội tiếp rước đâu. Cố để phân minh thôi, nhưng thật sự họ biết rõ hàng ngày có biết bao con người cần đến sự trợ giúp của họ, thế mà họ vẫn phớt lờ. Bao nhiêu kẻ túng nghèo, rách rưới, bệnh hoạn tật nguyền qua lại trước mắt họ, nhưng họ vẫn làm ngơ không đoái hoài. Như thế bị liệt vào hạng “quân bị nguyền rủa” không bởi vì họ không phải là người Dothái hay Kytô hữu mà là vì họ không có lòng nhân hậu, không biết xót thương, không giúp đỡ đồng loại. Cho hay, đối với Tin mừng Chúa Kytô, không yêu thương, không giúp đỡ anh em đồng loại là một trọng tội và hậu quả là sẽ bị liệt vào hàng “quân bị nguyền rủa” và tệ hơn nữa sẽ rơi vào lửa cực hình muôn kiếp.

Đọc và suy niệm đoạn Tin mừng về ngày Thẩm phán trong ngày cuối cùng của năm phụng vụ giúp mỗi người Kytô chúng ta duyệt xét lại thái độ sống của mình đối với anh em đồng loại. Hãy nhớ rằng điều kiện duy nhất để được vào “thừa hưởng Vương quốc” muôn đời không nằm ở việc chúng ta là ai, địa vị thế nào, thuộc giới tư sản hay vô sản mà nằm ở chỗ chúng ta đã đối xứ với anh em đồng loại như thế nào. Tiêu chuẩn của ngày Thẩm phán dựa trên tình yêu và chính điều này sẽ là thước đo chuẩn xác định đoạt số phận của mỗi người. Tình yêu mới là thước đo duy nhất xác định kẻ tốt người xấu trong ngày Con Người quang lâm.

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

---------------------------

 

TN 34-ABC68. ĐỨC KITÔ LÀ VUA TỐI CAO! - Lm Hà Ngọc Đoài


"Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một tro
ng các người bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta." (Mt 25:40)

 

Đọc qua lịch sử về triều đại của các vua chúa, chúng ta thấy cách cai trị của họ khác với Đức Kitô. Đa: TN 34-ABC68


Đọc qua lịch sử về triều đại của các vua chúa, chúng ta thấy cách cai trị của họ khác với Đức Kitô. Đa số các vua chúa trần gian thường dùng dân làm phương tiện để khai thác và xây dựng hoàng triều của mình. Sinh họat thường ngày của dân chỉ là để xây dựng ngôi báu và uy quyền cho vua. Đức Kitô là Vua vũ trụ đến, không bắt dân phục vụ Ngài, nhưng chính Ngài phục vụ từng người dân. Ngài đến sống giữa dân và đồng hành với dân. Ngài săn sóc mỗi người bằng ân sủng và bí tích. Ngài tiếp nhận và gọi tên từng người qua bí tích Rửa Tội. Ngài phong chức cho họ làm con Thiên Chúa và chọ họ được sống an toàn trong sự che chở của gia đình là Giáo Hội. Ngài dùng bí tích giải tội để giải thóat những ai bị nô lệ thần dữ và băng bó những tâm hồn bị thương đau. Bằng bí tích Thánh Thể, Ngài nuôi dưỡng các tâm hồn trên đường lữ thứ trần gian. Ngài đồng hóa với mọi người, ngay cả kẻ bất hạnh và nghèo khổ nhất. Chuyện kể rằng, một đêm mùa đông băng gía, sau chuyến đi công tác về, Martin thấy một người ăn mày nghèo khổ, rách rưới đang ngồi run run ở cổng thành Tours. Martin liền xuống ngựa, vì không có tiền, mà chỉ có gươm giáo và chiếc áo khoác. Ông liền cắt đôi chiếc áo khoác và trao cho người ăn mày một nửa! Đêm hôm đó, Martin trải qua một thị kiến đẹp! Ông thấy Chúa Giêsu ngồi trên ngai sáng láng có các thiên thần chầu quanh. Ngài mặc miếng áo của Martin cho đêm qua. Các thiên thần hỏi tại sao ngài mặc miếng áo rách ? Chúa Giêsu mỉm cười nói rằng đêm hôm qua Martin cho Ngài. Martin vui mừng nhưng tiếc rằng, nếu được biết người ăn mày đó là Đức Giêsu thì ông sẽ mời Ngài lên ngựa về nhà để ông phục vụ.

Thực Hành: Chúa phán: " Này chính Ta săn sóc đoàn chiên của Ta và Ta sẽ kiểm soát chúng." (Ezek 34:11) Muôn dân đều đồng thanh ca tụng rằng chính Chúa là đấng tạo thành trời đất và muôn vật. Và chính Ngài chăm sóc cũng như xét xử tạo vật Chúa dựng nên. Xin cho con biết lắng nghe tiếng Chúa là Vua của con.


Lm Hà Ngọc Đoài

---------------------------

 

TN 34-ABC69. Chúa Giêsu, Vua tình yêu - Lm. An Phong, OP

Mt 25:1-13

 

Bài Tin mừng hôm nay tường thuật về cuộc phán xử cuối cùng. Như người chủ chăn phân tách TN 34-ABC69


Bài Tin mừng hôm nay tường thuật về cuộc phán xử cuối cùng. Như người chủ chăn phân tách chiên khỏi dê thế nào, thì Con Người cũng sẽ phân tách người lành khỏi kẻ ác như thế; tùy theo những công việc bé nhỏ mà họ đã làm cho một trong những người bé nhỏ nhất.

Dường như chỉ có một tiêu chuẩn duy nhất để phán xử, đó là "mến Chúa, yêu người"; hay nói cách khác, mến Chúa qua yêu người và yêu người tức là mến Chúa. Kitô giáo vốn là một "đạo yêu nhau"; con người bị (được) phán xử theo tình yêu.

Dường như những thiếu xót vì thờ ơ với việc nhà thờ nhà thánh, vì mê tín dị đoan, vì mê đắm điều phàm tục… xem ra còn nhẹ tội hơn là không giúp đỡ một người anh em bé nhỏ. Thiên Chúa nghiêm khắc với những ai không có lòng trắc ẩn.

Dường như trong ngày lễ Chúa Giêsu là Vua vũ trụ, bài Tin mừng về ngày phán xử cuối cùng được đọc lên như là một nhắc nhở : "Thiên Chúa là Vua Tình yêu, vinh quang của Ngài là con người được sống và sống hạnh phúc" (thánh Irênê). Có lẽ Ngài không cần "nhang khói" tế tự, Ngài cần một tấm lòng. Bởi lẽ "Thiên Chúa tìm kiếm vinh quang không phải cho chính mình mà là cho chúng ta" (thánh Tôma Aquinô). Một vị Thiên Chúa tình yêu, đầy lòng trắc ẩn, hẳn sẽ vui lòng khi nhận ra lễ dâng là tấm lòng vị tha, bác ái.

Nhưng, "nói bác ái" thì dễ, mà "thực hành bác ái" lại chẳng dễ chút nào; chẳng hạn:

Cho một người nghèo năm ba ngàn đồng còn dễ hơn là cho một nụ cười trong bất cứ tình huống nào lại không dễ;

Ra tay bảo vệ một người cô thế cô thân, đang bị ức hiếp (một hành vi anh hùng!), điều đó xem ra dễ hơn phải chịu đựng sự quấy rầy khó chịu của người khác.

Một việc bác ái chẳng gây tổn hại gì quyền lợi của ta, ta làm được. Nhưng nếu việc bác ái đụng chạm đến "cái dạ dày của ta", ta sẽ phải ngần ngại đắn đo.

Khi ta gặp khó khăn, ta dễ cảm thấy "quyền được hưởng bác ái". Khi người khác gặp khó khăn, ta không dễ cảm thấy "nghĩa vụ thi hành bác ái".

Lạy Chúa,
xin cho chúng con biết bước theo Vua Tình Yêu :
để, mỗi ngày một chút,
chúng con biết thi hành những điều bé nhỏ
cho những người bé nhỏ.

Lm. An Phong, OP

---------------------------

 

TN 34-ABC70. SỨC MẠNH GIẢI THOÁT - . Giuse Ịổ Vân Lực, OP


Mt 25:1-13

 

Con người vẫn còn là một mầu nhiệm. Câu trả lời không thể tìm thấy trong những nỗ lực khoa: TN 34-ABC70


Con người vẫn còn là một mầu nhiệm. Câu trả lời không thể tìm thấy trong những nỗ lực khoa học hay triết học. Trái lại, mầu nhiệm con người chỉ có thể được mạc khải trong chính mầu nhiệm Con Thiên Chúa

ÐỨC GIÊSU LÀ AI ?

Không thể tìm được câu trả lời dứt khoát cho vấn nạn lớn lao này. Nếu nói Ðức Giêsu là vua cũng không sai. Vì còn hình ảnh nào ngoạn mục bằng "khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người" (Mt 25:31).

Nhưng nếu nói Người là kẻ khố rách áo ôm cũng chẳng xa thực tế. Vì Người đã đồng hóa với những người bần cùng: "Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25:40).

Làm sao có thể thấy nét hoàng gia quý phái của Ðức Giêsu trong những cảnh tồi tàn, đói rách của anh em nghèo khổ ? Nhưng nếu không thấy được như thế, chúng ta dễ bị mù quáng vì những cám dỗ hời hợt bên ngoài. Chắc chắn từ cái nhìn thiên lệch ấy, chúng ta sẽ có những hành động bất công đối với chính Chúa. Do đó thật không phải dễ khi muốn phóng một cái nhìn vượt trên hoàn cảnh.

Chính đức tin sẽ cho phép chúng ta vượt trên hoàn cảnh để nhìn vào tận giá trị đích thực của tha nhân. Một cái nhìn như thế mang đầy tính cánh chung. Không thể dừng lại ở những nét bên ngoài để đánh giá anh em. Chính cái nhìn ấy sẽ cho thấy không phải Ðức Giêsu trong anh em, nhưng anh em chính là Ðức Giêsu ta phải phục vụ. Tùy phương cách và mức độ phục vụ, ta sẽ thấy rõ dung nhan Ðức Giêsu nơi anh em.

Ðức tin biến đổi không những nội tâm, nhưng cả hành động nữa. Chính vì vậy, khi thúc đẩy chúng ta hành động, Ðức Giêsu không nói theo lối dụ ngôn nữa, nhưng nói rất thực tế và cụ thể. Người nhấn mạnh tầm quan trọng phải hành động cho anh em nghèo khổ đến nỗi đã không ngần ngại lặp lại tư tưởng nhiều lần. Có ý thức được tầm quan trọng ấy, mới cố gắng thực hiện tất cả những gì đức tin gợi lên. Không có đức tin ấy, rất khó coi người nghèo như anh em. Càng khó hơn nữa khi thi hành mệnh lệnh Chúa để đáp ứng nhu cầu anh em. Bởi đấy, vấn đề không phải là phục vụ bao nhiêu, nhưng là phục vụ như thế nào. Nếu coi họ như Chúa, chúng ta có dám đối xử với họ như vẫn thường đối xử không ? Nếu không nhìn thấy Chúa trong những anh em nghèo khổ như thế, chúng ta có đủ động lực thi hành những việc bác ái cần thiết cho "những anh em bé nhỏ nhất" (Mt 25:40) hay "những người bé nhỏ nhất" (Mt 25:45) không ? Trong việc bác ái, không còn phân biệt được biên giới đâu là Chúa đâu là tha nhân. Cả hai đối tượng như quyện tròn lấy nhau, đến nỗi bên này không thể thiếu vắng bên kia. Cả hai làm thành hai mặt của một đồng tiền, đồng tiền cần thiết để vào Nước Trời.

DẤN THÂN

Sắm được đồng tiền ấy, không đòi những hành động anh hùng. Chung quanh ta và hằng ngày ta vẫn tiếp xúc với Chúa hiện thân nơi những người đói khát, trần truồng, tù đầy, đau yếu, mất nhà cửa, người thân v.v. Ðối tượng phục vụ quá rõ ràng. Xã hội hôm nay còn có những người cần được phục vụ như những người nghiện xì ke, ma túy, những trẻ em mồ côi, bụi đời, những người bị bỏ rơi, những người mắc bệnh liệt kháng v.v. Ðó là nạn nhân của những cơ chế bất công và những lối sống ích kỷ. Chúng ta không còn phải thắc mắc "ai là anh em tôi ?" (Lc 10:29), nhưng cần biết phải làm gì và ở đâu cần chúng ta phục vụ. Không ai bị gạt ra ngoài đối tượng tình yêu và chúng ta phải phục vụ bất cứ ai trong khả năng của mình (x. New International Version:1991) một cách vô điều kiện.

Phục vụ như thế tức là chuẩn bị đón Chúa trở lại trong vinh quang. Phục vụ đã trở thành một hành vi cứu độ. Không thể trì hoãn tới ngày mai, nhưng phải làm ngay hôm nay (x.Fahey:1994). Ngày mai luôn luôn quá trễ. Trong việc phòng chống bệnh dịch cho đồng bào nạn nhân bão lụt chẳng hạn, nếu cứ trì hoãn, bao nhiêu sinh mạng sẽ phải hi sinh ? Lấy gì bù lại sự mất mát đó ?

Công cuộc từ bi bác ái không thể tùy thuộc tài sản, khả năng hay trí thông minh, cũng không thể ỷ lại vào giáo hội hay chính phủ, nhưng đòi cá nhân phải dấn thân lo cho nhu cầu tha nhân (x. New International Version:1991). Không gì có thể thay thế cho việc dấn thân đó. Ðó là nền tảng mọi giá trị. Vì chính nơi cá nhân mỗi người, Ðức Giêsu gặp gỡ những người nghèo khổ, bệnh tật. Ðó là nguồn hứng khởi phục vụ.

Phục vụ là công việc của người yếu thế, không xứng đáng với những người chức cao quyền trọng. Nhưng đối với môn đệ Chúa Kitô, "sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối" (2 Cr 12:9). Phục vụ chính là chia sẻ vương quyền với Ðức Giêsu, Ðấng "đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mc 10:45). Phục vu chính là sức mạnh cứu độ. Nói khác, phục vụ giúp ta vượt qua giới hạn trần gian để vươn tới chiều kích Thiên Chúa.

Nhưng muốn đạt tới chiều kích Thiên Chúa trong việc phục vụ, chúng ta không thể quanh quẩn với những nỗ lực và quan tâm cá nhân. Trái lại, ngay cả khi phục vụ, Ðức Giêsu cũng luôn liên kết với Chúa Cha và Thánh Linh. Bởi thế nỗ lực cá nhân cần phải được nhân lên thành sức mạnh cộng đoàn. Chẳng hạn nếu không liên kết thành một khối, làm sao chúng ta có sức mạnh trấn át được bạo vũ cuồng phong. Chỉ trong thế liên kết để phục vụ anh em nghèo khổ, chúng ta mới đạt tới chiều kích sung mãn trong Thiên Chúa. Ðức Giêsu luôn hiện diện và đang kêu gào trong từng anh em đau khổ đó. Chúng ta hãy cố gắng phục vụ để chia sẻ vương quyền với Người, vì vương quyền Người chỉ tỏ hiện và hoàn thành trong việc phục vụ. Vương quyền Người bao trùm toàn thể vũ trụ, nên chúng ta càng vững tin và tràn hi vọng khi đến với anh em nghèo khổ. Khi vinh quang Chúa xuất hiện trước mặt muôn dân, chúng ta sẽ thấy tất cả ý nghĩa của việc phục vụ hôm nay.

Sở dĩ hôm nay con người ngày càng mất dần tinh thần phục vụ, vì trong xã hội đang có "những khuynh hướng phủ nhận hay lãng quên tính cách duy nhất của bản chất và ơn gọi con người như những tạo vật được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Khi áp dụng vào cuộc sống, các tài nguyên kỹ thuật đã bỏ qua những thông số căn bản và các tiêu chuẩn nhân chủng và luân lý in sâu vào chính bản tính con người." (ÐGH Gioan Phaolô II : Zenit 19/11/2002) Ðó là lý do tại sao con người không còn được phục vụ đúng mức. Nếu nhìn thấy Ðức Giêsu nơi người anh em nghèo khổ, chắc chắn sẽ có đủ nghị lực phục vụ và dư sức mạnh thắng lướt những cám dỗ thời đại.

Muốn nâng cao tinh thần phục vụ nơi các bạn trẻ hôm nay, phải trả lời được câu hỏi căn bản : "Con người là ai ?" Muốn giải đáp vấn nạn căn bản đó, cần có một "kế hoạch văn hoá theo chiều hướng Kitô giáo để đem lại cho công cuộc Phúc âm hoá một chiều kích văn hoá sâu sắc và mãnh liệt." (ÐGH Gioan Phaolô II : Zenit 19/11/2002) Có thế, mọi người mới thấy rõ nhân phẩm là nguyên lý xây dựng xã hội và văn minh nhân bản đích thực. Nhờ thế, Giáo hội có thể góp phần xây dựng những giá trị văn hoá thời đại và làm cho những giá trị trong kho tàng văn hoá và tinh thần, nguồn tài nguyên trước tiên của các quốc gia, khỏi lâm vòng nguy hiểm (x. ÐGH Gioan Phaolô II : Zenit 19/11/2002). Ðó là phương cách Giáo hội phục vụ con người. Có phục vụ như thế, Giáo hội mới làm cho mọi người nhận biết vương quyền Ðức Kitô như một sức mạnh giải thoát nhân loại.

---------------------------

 

TN 34-ABC71. NIỀM VUI TUYỆT VỜI - Lm. Giuse Ịổ Vân Lực, OP

 

Thế giới đang lo sợ về cuộc chiến giữa Iraq và Hoa kỳ xảy ra và có thể lan rộng đến độ không: TN 34-ABC71


Thế giới đang lo sợ về cuộc chiến giữa Iraq và Hoa kỳ xảy ra và có thể lan rộng đến độ không kiểm soát được.   Cuộc chiến đó chỉ khơi sâu hố ngăn cách giữa các nền văn hoá khác nhau.   Thật là một thách đố lớn lao giữa những giá trị hôm nay.

 NHỮNG CÁI NHÌN KHÁC NHAU

Vì “sắp đi xa” (Mt 25:14) trong “một thời gian lâu dài” (Mt 25:19), một ông chủ khôn ngoan kia đã chu đáo sắp xếp mọi việc.   Được ông giao phó của cải, chắc chắn các đầy tớ phải là những người đáng tin cậy sau nhiều năm làm việc cho ông.  Thật vậy, không một đầy tớ nào cuỗm số tiền bỏ trốn, mặc dù ông vắng nhà khá lâu. Về mặt trung tín không ai có thể trách họ.  

Không những khôn ngoan, ông chủ còn có con mắt tinh đời khi “giao phó của cải mình cho họ,” (Mt 25:14) “tuỳ khả năng riêng mỗi người.” (Mt 25:15)   Hớ hênh một chút, ông có thể trở về trắng tay.  Giả sử ông giao năm yến cho cho người “tôi tớ xấu xa và biếng nhác” (Mt 25:26), chắc chắn tài sản ông đã bị ảnh hưởng lớn và công việc đã ngưng trệ.   Thất đức đã biến anh trở thành một thứ “kỳ đà cản mũi”.   Người tôi tớ đó không hẳn bất tài.   Nhưng tất cả những hành động xấu xa đó đều phát xuất từ một cái nhìn tiêu cực về ông chủ.   Nếu đúng như người đầy tớ này nhận xét, tại sao các người đồng nghiệp với anh lại có thể yên tâm làm việc cho chủ?  

Oâng đã chọn mặt gởi vàng, khi giao năm và hai yến cho các “tôi tớ tài giỏi và trung thành” (Mt 25:21.23).    Điều ông quan tâm nhất không phải là khả năng chuyên môn, nhưng là nhân đức của người tôi tớ.   Chính nhân đức mới quyết định tất cả thành bại cuộc đời.   Những người tôi tớ này không những tài giỏi, nhưng còn có cái nhìn sáng suốt và đặt tất cả niềm hi vọng lớn lao nơi ông chủ.   Bằng chứng họ đã hết sức tích cực làm việc ngay cả khi ông chủ vắng mặt.   Đối với họ, ông chủ có mặt hay không, điều đó không ảnh hưởng tới công việc của họ.    Vì chính lương tâm thúc đẩy họ hoàn thành mọi việc một cách xuất sắc.   Niềm hi vọng đó phát xuất từ niềm tin tưởng ông chủ sẽ ban niềm vui lớn lao vào lúc ông trở về.   Niềm vui chính là phần thưởng chỉ dành cho những “tôi tớ tài giỏi và trung thành”, bất kể số lượng được giao bao nhiêu.  Quả thực, còn gì vui bằng khi nghe ông tuyên bố: “Phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa.” (Mt 25:29)  Niềm vui tràn trề ! Vượt quá niềm tin và hi vọng.

Nhưng trong khi người tôi tớ “tài giỏi và trung thành” vào “hưởng niềm vui của chủ” (Mt 25:21.23), thì  “tên đầy tớ vô dụng kia” bị quăng vào “chỗ tối tăm bên ngoài : ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng.” (Mt 25:29.30)    Một hoàn cảnh, hai số phận.  Giá trị cuộc đời không đo bằng số lượng của cải hay tài năng, nhưng bằng lòng trung thành.  Giả sử người đây tớ nhận một yến hoàn toàn hài lòng và hành động theo chỉ thị ông chủ, chắc chắn anh dư khả năng để hoàn thành nhiệm vụ. Thế nhưng, mặc dù đủ tài năng và được chủ tín nhiệm, anh cũng không muốn cố gắng chút nào. Anh không muốn biết đến cảnh đồng nghiệp đang nỗ lực thi hành ý muốn ông chủ. Anh lợi dụng cơ hội ông xa nhà để đứng nhìn cuộc đời dưới cặp kính đen thui của anh.  Hẳn anh đã từng chê bai và buồn cười trước những lam lũ của những người cúi lưng làm tôi mọi cho một ông chủ “hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi.” (Mt 25:24)    Thực tế, cái nhìn tăm tối đó đã đẩy anh vào “chỗ tối tăm bên ngoài” để “khóc lóc nghiến răng” (Mt 25:30) trong tuyệt vọng.

Chắc chắn đồng nghiệp không chia sẻ quan niệm của anh về ông chủ. Ngược lại, qui luật cuộc sống rất cần để đạt đến hạnh phúc và niềm vui. Phân chia công tác hay lợi lộc, ông chủ căn cứ “khả năng riêng mỗi người.” (Mt 25:15)   Khả năng khác nhau chỉ nhằm phục vụ anh em và giúp mọi người đạt tới hạnh phúc đích thực.  Khả năng này chỉ tỏ lộ khi gặp thách đố. Đúng là “thui ra mới biết béo gầy”. Qua cơn thử thách tất cả sẽ lộ nguyên hình.   Sau cơn thử lửa mới thấy niềm vui tuyệt vời.  

 NIỀM VUI TUỔI TRẺ

Niềm vui chính là hấp lực mạnh nhất đối với tuổi trẻ.   Nhưng làm sao tìm được niềm vui đó giữa một thế giới quá nhiều bất ổn và khủng hoảng về mọi mặt như hôm nay ? Tương lai thuộc về ai “đem lại niềm hi vọng cho một thế giới đầy dẫy những bất công và thiếu vắng những giá trị,” (ĐGH Gioan Phaolô II : Zenit 8/11/2002)    Muốn thế, “giữa một thời đại nổi cộm với một nền văn hoá nhiều lo lắng, trống rỗng và vô nghĩa, hãy lên tiếng rao giảng Thiên chúa siêu việt, Đấng luôn lắng nghe tiếng những người bị áp bức và đau khổ kêu gào.” (ĐGH Gioan Phaolô II : Zenit 8/11/2002)   

Không thể rao giảng Thiên chúa siêu việt, nếu không có lòng “kính sợ Đức Chúa.” (Cn 31:30)  Chính lòng kính sợ ông chủ đã giúp những người tôi tớ hoàn thành công tác  xuất sắc.  “Kính sợ Đức Chúa là bước đầu của tri thức.  Kẻ ngu si khinh thường khôn ngoan và lời nghiêm huấn.” (Cn 1:7)  Như thế các đầy tớ ông chủ đã được phân ra hai hạng rõ rệt : khôn ngoan và ngu si.  Khôn ngoan là thành trì vững chắc nhất bảo vệ mọi giá trị. Không bắt nguồn từ khôn ngoan, niềm vui sẽ hời hợt và lạt lẽo.   Chỉ Đức Giêsu, sự khôn ngoan của Thiên Chúa, mới có thể đem lại niềm vui thực sự cho nhân loại.    Giữa một thế giới đang vắng bóng Thiên Chúa, các bạn trẻ “hãy tin tưởng !  Hãy xây dựng cuộc sống với Đức Giêsu trong niềm hi vọng!” (Các Giám mục Pháp : Zenit 13/111/2002)   Vì chỉ Đức Giêsu mới dẫn mọi người “vào hưởng niềm vui của” Thiên Chúa qua nẻo đường “công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần”(Rm 14:17).   Đó chính là con đường thánh thiện, là “bổn phận căn bản và cấp thiết mà bạn có thể đóng góp vào công cuộc tân Phúc âm hoá, và là một bảo đảm cho công cuộc phục vụ Tin mừng đích thực cho những người cùng khốn.” (ĐGH Gioan Phaolô: II Zenit 8/11/2002)

Giữa “những hoàn cảnh có thể làm lu mờ niềm hi vọng vì những căng thẳng và sợ hãi, chống đối và chia rẽ, quá khích và bạo lực, các bạn phải cấp thiết đem sứ điệp Tin mừng đến cho mọi người.  Để có thể thực hiện sứ mệnh đó, trên hết các bạn phải duy trì sự hiệp thông bền bỉ với Đức Giêsu, không ngừng chiêm niệm thánh nhan Người trong kinh nguyện và hết sức phục vụ Người qua anh em.” (ĐGH Gioan Phaolô: II Zenit 8/11/2002)   Muốn được như thế, họ cần “mở rộng tâm trí trước những nhu cầu nhân loại, vì nhân loại đang chiến đấu để tìm ra mục đích trong một thế giới có quá nhiều xáo trộn do khủng hoảng về ý nghĩa.” (ĐGH Gioan Phaolô: II Zenit 10/11/2002)   Giữa cơn cuồng loạn ngôn từ hôm nay, người ta có thể sẵn sàng hi sinh anh em cho một mục tiêu không tưởng.  Đó là cảnh tăm tối trần gian đang đầy đoạ con người.  

Chúng ta không thể sống trong cảnh tối tăm đó, “vì tất cả anh em là con cái ánh sáng, con cái của ban ngày.” (1 Tx 5:5)   Đúng như Chúa nói : “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.” (Mt 5:14)    Có thế, chúng ta mới có thể làm chứng cho mọi người biết “Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, là trung tâm của lịch sử nhân loại và là chìa khoá mở cho mọi người thấy mầu nhiệm con người và mạc khải về ơn gọi tối cao của Người.” (ĐGH Gioan Phaolô: II Zenit 8/11/2002)   

Sống giữa những ảnh hưởng chồng chéo nhau hôm nay, giới trẻ phải dấn thân vào “việc Phúc âm hoá văn hoá, để làm cho cuộc sống nổi bật lên niềm hi vọng hơn là sợ hãi hay bi quan.” (ĐGH Gioan Phaolô: II Zenit 10/11/2002)   

Muốn được như thế, họ phải lao vào cuộc canh tân đặc sủng Công giáo để trở thành “những dấu chỉ sống động của niềm hi vọng,” (ĐGH Gioan Phaolô: II Zenit 10/11/2002) làm chứng cho mọi người thấy Chúa Thánh linh đang hiện diện và hoạt động giữa lòng nhân loại.  Nhờ Thánh linh giới trẻ sẽ cảm nhận sâu xa chỉ Đức Giêsu mới là niềm vui tột đỉnh, vì “chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta” (Gl 5:1) khỏi mọi chế độ áp bức và bất công.

Lm. Giuse Đổ Vân Lực, OP

---------------------------

 

TN 34-ABC72. ÔNG VUA LÀ NGƯỜI NGHÈO


- Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP

Mt 25:1-13

Vua, chính là người nghèo

 

Có một bức tranh diễn tả về cuộc phán xét cuối cùng, trong đó, bên cạnh hình một tên quỹ là hình Ðức: TN 34-ABC72


Có một bức tranh diễn tả về cuộc phán xét cuối cùng, trong đó, bên cạnh hình một tên quỹ là hình Ðức Kitô oai phong. Bức tranh đó rất lớn, nói lên Con Người đã trở lại, Người được gọi là "Vua" và tất cả mọi nước đều tụ tập trước nhan Người. Xưa kia, tại chân tháp Ba-ben, tội lỗi đã làm tan vỡ các dân tộc, trở thành những mảnh nhỏ. Giờ đây, các mảnh nhỏ ấy lại vỡ tan, nhưng để nảy sinh một nhân loại mới phù hợp với thánh ý Thiên Chúa, một dân tộc thánh thiện, bao trùm cả vũ trụ.

Bản văn phụng vụ trong lễ Ðức Kitô Vua thật lạ lùng. Thánh Mát-thêu sắp xếp trình thuật này vào giai đoạn mà số phận của con người dường như đã được định đoạt : Người bị kết án và chịu hành hình như một nô lệ. Trước đây, khi dân chúng tỏ ra quý chuộng Người, thì Người lại nói về đau khổ và sự chết ; còn ở đây, khi trần gian sắp sửa sụp đỗ dưới chân Người, thì Người lại lên tiếng nói về vinh quang và vương quyền. Người tự giới thiệu về chính mình như vị Vua xét xử cả nhân loại.

Phải chăng đây là một ước mơ muốn báo thù, hay là khoa trương ước vọng ? Phải chăng là Ðức Giêsu muốn khước từ việc xoá mình đi và theo đuỗi quyền lực ? Ðiều lạ lùng nữa là Ðức Giêsu tự nhận Người có quyền xét xử vốn dành riêng cho Thiên Chúa, như lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en : ""Ðức Chúa là Chúa Thượng phán : Này Ta sẽ xét xử giữa chiên với chiên, giữa cừu với dê"" (Ed 34,17). Ðặc biệt hơn, Người còn tự đổng hoá với những người bé nhỏ, hèn kém : ""Mỗi lần các ngươi làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy ... Mỗi lần các ngươi không làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy."

Vị vua này thật khác xa với lời mô tả của ngôn sứ Sa-mu-en khi ông cảnh giác đám đông dân chúng Ít-ra-en đang muốn chọn một ông vua để cai trị họ : "Ðây là quyền hành của nhà vua sẽ cai trị anh em ... Chiên dê của anh em, ông sẽ đánh thuế thập phân. Còn chính anh em sẽ làm nô lệ cho ông. Ngày ấy, anh em sẽ kêu than vì vua của anh em mà anh em đã chọn cho mình, nhưng ngày ấy Ðức Chúa sẽ không đáp lời anh em."" (1 Sm 8,11.17-18)

Ðúng hơn, Thiên Chúa đáp lời con người đang bị áp bức bằng cách gửi đến cho họ một vị vua trong thân phận một nô lệ. Vương quyền của vị vua này không đặt trên quyền lực và cũng không có ý định chiếm chỗ của Thiên Chúa. Vương quyền này đặt sức mạnh của mình trên tình yêu, tình yêu của một vị Thiên Chúa đã đến trong chỗ của một con người. Trong Ðức Giêsu, Vương quyền đã hoàn toàn thay đổi ý nghĩa : thay vì thống trị sẽ là tình yêu.

Một ông vua với những ý nghĩa khác thường

Tin Mừng cho thấy có những lúc Ðức Giêsu từ chối là vua, có lúc Người lại nhận. Thật ra, Ðức Giêsu không bao giờ chấp nhận một vương quyền theo nghĩa chính trị, quân sự và hống hách. Người không hề muốn chấp nhận vai trò của một ông vua theo cách hiểu thông thường của nhân loại.

Tuy nhiên, Người chấp nhận là Vua Lãnh Ðạo như ngôn sứ Ê-dê-ki-en loan báo. Vị vua này là người chăm sóc các con chiên đã được trao phó cho mình. Vương quyền của vị vua này là phục vụ.

Ðức Giêsu cũng chấp nhận là Vua Chiến Thắng vào thời gian cuối cùng như thánh Phao-lô trình bày. Vị vua này là Ðấng chiến thắng sự dữ và sự chết. Chiến thắng bởi vì Người hiến dâng mạng sống của chính mình ; chiến thắng bởi vì Người chấp nhận tự huỷ và hoàn toàn vâng phục Chúa Cha.

Ðức Giêsu còn chấp nhận là Vua Xét Xử như dụ ngôn của thánh Mát-thêu. Thế nhưng vị vua này lại tự đổng hoá với những người nghèo, với những người bị bách hại và với tất cả những người khốn khổ.

Nói tóm, Vương quyền của Ðức Giêsu chỉ được diễn tả cách trọn vẹn và trung thực qua việc dành ưu tiên để phục vụ người nghèo, và dành mọi nỗ lực để phát triển đức ái.

 Lúc này, Ðức Giêsu là vị vua đang trên đường tiến gần đến cái chết, một vị vua sắp bị đóng đinh. Tuy vậy, Người hiểu rõ chương trình từ ngàn đời của Thiên Chúa sẽ được thực hiện : Thiên Chúa đã tạo thành thế gian, để rổi một ngày kia, thế gian sẽ được thừa hưởng vương quyền của Thiên Chúa.

Ðức Giêsu là Vua để phục vụ, để đem lại sự sống, đổng thời Người cũng là Vua để xét xử, để thưởng phạt. Tuy nhiên, đây là một cuộc xét xử kỳ lạ, bởi vì trong đó, con người được phân loại và có quyền tự bào chữa. Một số người cảm thấy hân hoan, còn số khác lại càu nhàu. Một số người ngạc nhiên vì mình được xếp vào loại người lành, một số khác lấy làm lạ vì mình bị liệt vào số người dữ. Dụ ngôn quả là gây ngạc nhiên, bởi vì cuộc xét xử đem lại ơn cứu độ cho những người nghĩ rằng mình chẳng có điều gì tốt lành, và kết ánh những người cho rằng mình công chính.

Nói thế, bởi vì tiêu chuẩn để xét xử là tình yêu. Mà tình yêu đó rất đơn giản, đơn giản đến nỗi ngay những người trong cuộc cũng không nhận ra : cho ăn, cho uống, cho mặc, đón tiếp, thăm viến, săn sóc. Cuộc xét xử của Ðức Giêsu không dựa trên những công trạng, nhưng dựa trên những cử chỉ khiêm tốn để phục vụ anh em đổng loại. Vì vậy, mỗi hoạt động nhằm giúp đỡ người khác, dù âm thầm và nhỏ bé, cũng đều có giá trị vĩnh cửu, giá trị đời đời.

Ðàng khác, cuộc xét xử của Ðức Giêsu không là gì khác hơn việc mặc khải ra những điều còn giấu kín. Có thể mỗi người không hiểu hết giá trị của các công việc, nhưng trước mặt vị Thẩm Phán công minh, các công việc đó đều có ý nghĩa và có ảnh hưởng đến cuộc sống vĩnh cửu. Lời phân xử của vị Thẩm Phán trong dụ ngôn được đặt trong bối cảnh của ngày cuối cùng, nhưng cũng là một cảnh giác cho cuộc sống hiện tại. Tình yêu sẽ là tiêu chuẩn để mỗi người tự xét xử, bắt đầu ngay từ cuộc đời này. Như thế, cuộc sống vĩnh cửu đã được khởi đầu ngay tại trần gian. Vương quyền của Ðức Giêsu đã được thể hiện khi mỗi người biết phục vụ anh em mình.

Cử hành lễ Ðức Kitô Vua, đó chính là dấn thân thực thi việc phục vụ anh em, chứ không phải là hoạt động cho chiến thắng của Ðức Kitô như người ta dấn mình vào chính trị.

Chưa phải là kết thúc

Với dụ ngôn này, cũng có thể hiểu rằng, cuộc chơi chưa kết thúc. Không ai có quyền ngủ yên trên những vầng hào quang, và ngược lại, cũng không ai có quyền thất vọng. Bài Tin Mừng quả là một "cú sốc", có tác dụng như một bản thí nghiệm. Có sáu hành động để bày tỏ lòng thương xót, mỗi người sẽ dựa trên đó để tự đánh giá về mình, đánh giá cách chân thành, không dối trá.

Nếu ai nhận thấy mình đã thi hành trọn đủ sáu công việc - hoan hô người đó - thì họ vẫn phải tiếp tục, bởi vì sau khi đã phục vụ người khác cách anh dũng, theo như lời thánh Phao-lô, họ vẫn có thể bị loại (1 Cr 9,27). Họ cần phải nhớ rằng bản liệt kê đó chưa phải là tất cả. Sáu hoạt động này mới chỉ là những ví dụ điển hình và thông thường. Tuỳ theo sáng kiến và hoàn cảnh của mỗi người, bản liệt kê còn có thể kéo dài, kéo dài đến vô tận, bởi vì tình yêu làm gì có giới hạn.

Nếu ai đó nhận thấy mình ở tình trạng số không, thì đừng lo sợ và kết án chính mình. Tất cả còn có thể thay đổi và còn có thể bắt đầu. Và cho dù tâm hổn mỗi người có kết án chính mình, thì cũng hãy luôn nhớ rằng "Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta" (1 Ga 3,20).

Như thế, trình thuật về cuộc xét xử cuối cùng không làm chúng ta sợ hãi, trái lại, nó khuyến khích chúng ta đón nhận ơn cứu độ, an ủi chúng ta vì cho biết rằng chưa tới thời xét xử và tất cả đều có thể. Nó cũng làm chúng ta an tâm khi nhắc nhở cho ta : không ai có quyền xét xử, trừ một mình Thiên Chúa. Ðiều đó thật đáng mừng.

Hình ảnh về sự phân cách còn cho thấy :

* Có ơn cứu độ, có thiên đàng. Ở dưới đất này, tất cả chưa được quyết định rõ ràng, nhưng cũng không có gì là vô ích. Có một nền công lý dành cho những người bị thất bại, những người bé mọn, những người bị gạt ra bên lề, những người vô tội. Vào ngày chung cuộc, những người bị sát hại sẽ được con cháu mình đón tiếp, và những thế lực sự dữ sẽ phải trả lại vinh quang.

* Và cũng có sự kết án, có hoả ngục. Ðó là đạo lý của Hội Thánh. Nếu không, con người chỉ là một thứ đổ chơi, một thứ máy móc chẳng có tự do, cũng chẳng có tình yêu. Có hoả ngục, nhưng Hội Thánh vẫn hy vọng và cầu nguyện để con người đừng điên rổ mà gieo mình xuống đó, khi quyết liệt từ chối đôi tay rộng mở của vị vua đã đón nhận vòng gai.

Kết thúc năm Phụng vụ

Tuần lễ cuối năm Phụng vụ, trong niềm tiếc nuối một năm đã qua, trong niềm vui mừng một năm thành đạt, trong nỗi ê chề một năm thua bại, trong tất cả vũ trụ đang chuyển mình, trong tất cả mọi người đang tranh sống, trong tất cả công to việc nhỏ của con người, Hội Thánh muốn chúng ta nghe lại những bài Tin Mừng về ngày cánh chung và cử hành lễ Ðức Giêsu Kitô Vua như ngọn đèn soi sáng cho uộc sống nhân linh.

Làm sao không cảm thấy bâng khuâng
trước bầu khí se lạnh của mùa đông đang đến.
Làm sao không xao xuyến
khi nhìn lại quãng hành trình một năm vừa đi qua.



Làm sao không náo nức
trước cánh cửa năm mới đang mở ra,
chào đón và thách thức, kêu mời và đe doạ.


Làm sao không cảm thấy lâng lâng
khi đối diện với cuộc đời,
cuộc đời kỳ lạ của anh, của chị, của em,
và cuộc đời huyền nhiệm của chính mình.



Cuộc đời thật lạ kỳ,
vừa quyến rũ, vừa đáng sợ,
vừa tươi đẹp, vừa hiểm ác,
vừa thúc bách phải bắt tay xây dựng
một thế giới mới đang đến,
vừa cảnh giác đừng bám chặt lấy
một thế giới chóng qua.
P

hải chăng đó là một cuộc giao tranh thực sự ?
Phải chăng đó chính là mầu nhiệm Ðức Giêsu Vua
đang chuyển mình ngay trong chính giữa cuộc đời,
ngay trong chính lòng mình ?



Và phải chăng chính tôi,
tôi cũng đang ẩn núp,
đang lăng xăng một góc nào đó
trong cuộc chiến đấu này ?


* * *

Lạy Chúa Kitô,
Lời chúng con ca hát reo mừng Chúa là Vua,
thật ra cũng là lời hô hào kêu mời chúng con
xông vào cuộc đời.
Việc chúng con cử hành thánh lễ Chúa là Vua
cũng chính là từng bước chân
chúng con tiến vào mầu nhiệm cứu độ trong cuộc đời.


Và lạy Chúa,
Ngọn cờ vương quyền của Chúa
chính là niềm trông cậy vô bờ
cho chúng con trong cuộc đời này.


Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP

---------------------------

 

TN 34-ABC73. VUA TÌNH YÊU - . Giacôbê Phạm Văn Phượng,OP


Mt 25,31-46


 

Nhìn vào bất cứ cây thánh giá nào, chúng ta cũng thấy phía trên đầu có một tấm bảng ghi những: TN 34-ABC73


Nhìn vào bất cứ cây thánh giá nào, chúng ta cũng thấy phía trên đầu có một tấm bảng ghi những chữ mà đọc theo tiếng Việt là IN-RI, thực ra đó là bốn vần đầu viết tắt của bốn chữ La Tinh : Jesus Nazarenus Rex Judaeorum), nghĩa là Giêsu Na-da-rét, vua dân Do Thái. Có lẽ tổng trấn Philatô khi ra lệnh treo tấm bảng đó lên đầu thập giá Chúa, ông không nghĩ đến điều gì khác ngoài lợi thế chính trị cho ông, bất kể sự phản đối của người Do Thái. Nhưng có một điều ông không bao giờ nghĩ tới, mà điều đó lại thật quan trọng đối với đức tin của người Công giáo, bởi vì tấm bảng đó là một lời tuyên xưng không thể xóa nhòa : Chúa Giêsu Kitô thực sự là Vua.

Vậy chúng ta tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là vua  nghĩa là thế nào ? Ngài là vua gì ? Trước hết, chúng ta phải gạt ra ngoài những ý nghĩa về một ông vua mà người đời thường hiểu, tức là một ông vua theo nghĩa chính trị, Chúa Giêsu không bao giờ làm vua theo nghĩa này. Vì thế, khi dân chúng được hưởng phép lạ Chúa làm, họ hồ hởi phấn khởi tung hô Chúa là vua, Ngài đã từ chối. Ngài từ chối vì họ muốn Ngài là một nhà lãnh đạo quốc gia hay một người lãnh đạo quần chúng để đánh đuổi thực dân đế quốc, giành lại chủ quyền cho đất nước và đem lại phồn vinh cho dân tộc.

Tuy nhiên trong ngày Ngài khải hoàn vào thành Giêrusalem, tức là ngày lễ Lá, Ngài đã im lặng, không cải chính, để cho người ta hái lá, lấy áo trải trên đường cho Ngài đi, và chấp nhận để cho họ tung hô Ngài là con vua Đa-vít, vua dân Do Thái. Cũng thế, trước tòa án Philatô, Chúa Giêsu xác nhận Ngài là vua, nhưng Ngài cũng nói rõ ngay :  Nước Ngài không thuộc trần gian này. Ngài là vua không lãnh thổ, không biên giới, Ngài không là vua của riêng một dân tộc hay một đất nước nào mà là vua tâm hồn mọi người. Hiến pháp của Ngài là Kinh Thánh, sức mạnh của Ngài không phải là binh lực vũ khí mà là tình yêu. Mục đích của Ngài đến trần gian là thực hiện kế hoạch và chương trình tình yêu của Thiên Chúa.

Như vậy, chúng ta có thể trả lời cho câu hỏi : Chúa Giêsu là vua gì ? Ngài là vua Tình Yêu. Tình yêu đã đưa Ngài đến trần gian để phục vụ mọi người và xây dựng nước tình yêu, để tất cả những ai ở trong nước của Ngài đều là công dân tình yêu. Nói rõ hơn, Chúa Giêsu là vua vũ trụ, vua cả nhân loại, Ngài đã thi hành vương quyền của Ngài bằng cách yêu thương con người đến nỗi chết cho con người. Đó là cái chết vì tình yêu và cho người mình yêu, nên bất cứ ai đón nhận tình yêu cứu độ của Ngài và sống tình yêu cứu độ ấy, họ sẽ được nhận vào nước Chúa. Do đó, nếu chúng ta nói Thiên Chúa là Tình Yêu, thì chúng ta cũng phải nói Chúa Giêsu là Tình Yêu. “Giêsu, Vua Tình Yêu ”, đó là tựa đề một cuốn sách viết về Chúa đã được xuất bản lâu rồi, và mới đây lại có một cuốn sách khác, có tựa đề là “Một tình yêu có tên là Giêsu”. Cả hai cách gọi đó cũng là những điều chúng ta tuyên xưng Chúa hôm nay : Chúa Kitô là Vua, Chúa Kitô là Tình Yêu, Chúa Kitô là Vua Tình Yêu.

Chúa Kitô là vua của chúng ta, vua tình yêu, vậy chúng ta phải sống thế nào để đúng là thần dân của Ngài ? Bài Tin Mừng hôm nay trả lời cho chúng ta câu hỏi đó, Chúa Giêsu nói về ngày quang lâm của Ngài, và qua đó Chúa bảo chúng ta hãy đối xử tốt đẹp, hãy thể hiện tình yêu thương với nhau. Đúng vậy, Chúa Giêsu nói về ngày quang lâm của Ngài, tức là ngày Ngài trở lại phán xét mọi người. Chúa nói đến vấn đề phán xét không phải là để hù dọa hay  làm cho con người phải lo sợ, nhưng Ngài muốn nhắc bảo cho mọi người biết : có ngày phán xét để sống cuộc sống hiện tại cho tốt hơn, Ngài không muốn nhấn mạnh về tương lai, nhưng nhấn mạnh đến hiện tại.

Đây là một cách tế nhị để bảo cho chúng ta biết : chúng ta đã sống thế nào trong đời sống hiện tại, thì chúng ta sẽ được thưởng hay bị phạt trong đời sống mai sau như vậy. Chúng ta là chiên hay chúng ta là dê ? Vì lý do gì chúng ta trở thành chiên hay dê ? Hay vì lý do gì chúng ta trở thành người được chúc phúc hay bị nguyền rủa ? Được vào cõi sống hạnh phúc muôn đời hay phải vào chốn cực hình ngàn thu ? tất cả đều căn cứ vào cuộc sống của chúng ta hôm nay. Như vậy, cuộc sống hiện tại tuy ngắn ngủi và tạm bợ nhưng lại là tiêu chuẩn Thiên Chúa sẽ căn cứ vào đó mà thưởng hay phạt chúng ta.

Chúng ta trở thành chiên hay dê là tại chúng ta có biết hay không biết phụng sự Chúa, mà phụng sự Chúa như Chúa cho biết là phục vụ những người anh em đồng loại, nhất là những người đau khổ và bất hạnh về thể xác cũng như tinh thần, bởi vì tất cả những gì chúng ta làm cho họ là làm cho chính Chúa, và Chúa căn cứ vào đó mà thưởng phạt chúng ta. Thực vậy, chắc chắn có ngày chúng ta sẽ chết, chết rồi chúng ta sẽ đến tòa Chúa phán xét, Chúa sẽ thưởng hay phạt chúng ta. Thưởng hay phạt đều căn cứ vào cuộc sống hôm nay mà chúng ta đang sống, và tiêu chuẩn được Chúa đặc biệt căn cứ vào đó để phán xét là lòng yêu thương người.

Yêu thương là đặc điểm, là dấu hiệu đích thực của người con cai Chúa như Chúa đã nói : “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau”.

Yêu thương là điều dễ làm tăng uy tín cho người môn đệ Chúa hơn mọi giá trị khác. Nó có thể thay thế được rất nhiều đức tính, nhưng không đức tính nào thay thế được nó.

Yêu thương là phương tiện hữu hiệu nhất để truyền giáo. Nhờ yêu thương, người ta dễ có cảm tình với chúng ta, và nhờ đó sẽ có cảm tình với đạo.

Yêu thương là tiêu chuẩn chính yếu mà Chúa sẽ căn cứ vào đó để định đoạt ai được vào thiên đàng, bởi vì chỉ có yêu thương, con nguời mới có thể được vào thiên đàng, chỉ có tình yêu thương, con người mới có thể xây dựng thiên đàng ngay trên trần gian này, bởi vì thiên đàng cũng đồng nghĩa với yêu thương.

Hôm nay chúng ta suy tôn Chúa Kitô là vua, chúng ta hãy nhìn lại đời sống của chúng ta có đang sống đúng cung cách là những thần dân của vua Kitô không ? Tức là nhìn lại xem chúng ta đang sống, đang thể hiện tình yêu thương như thế nào từ trong gia đình, trong cộng đoàn, trong tập thể và với mọi người. Xin Chúa cho chúng ta cảm nếm được ngay trong cuộc sống ở trần gian này thiên đàng mà Chúa đã hứa, thiên đàng mà chúng ta chỉ có thể có được bằng cuộc sống yêu thương mà thôi.

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng,OP

---------------------------

 

TN 34-ABC74. VỊ VUA MỤC TỬ - . Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm


Ez 34,11-12.15-17; 1C 15,20-26a.28; Mt 25,34-41

I. Phúc Âm: Mt 25, 31-46

"Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người, và sẽ phân chia họ ra".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Khi Con Người đến trong vinh quang, có hết thảy mọi thiên thần hầu cận, Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người. Muôn dân sẽ được tập họp lại trước mặt Người, và Người sẽ phân chia họ ra, như mục tử tách chiên ra khỏi dê. Chiên thì Người cho đứng bên phải, còn dê ở bên trái.

"Bấy giờ Vua sẽ phán với những người bên hữu rằng: "Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ. Vì xưa Ta đói, các ngươi cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta".

"Khi ấy người lành đáp lại rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ chúng con thấy Chúa là lữ khách mà tiếp rước, mình trần mà cho mặc; có khi nào chúng con thấy Chúa yếu đau hay bị tù đày mà chúng con đến viếng Chúa đâu?" Vua đáp lại: "Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta".

"Rồi Người cũng sẽ nói với những kẻ bên trái rằng: "Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng. Vì xưa Ta đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi chẳng tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi không cho đồ mặc; Ta đau yếu và ở tù, các ngươi đâu có viếng thăm Ta!"

"Bấy giờ họ cũng đáp lại rằng: "Lạy Chúa có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói khát, khách lạ hay mình trần, yếu đau hay ở tù, mà chúng con chẳng giúp đỡ Chúa đâu?" Khi ấy Người đáp lại: "Ta bảo thật cho các ngươi biết: những gì các ngươi đã không làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta". Những kẻ ấy sẽ phải tống vào chốn cực hình muôn thuở, còn các người lành thì được vào cõi sống ngàn thu".


 

Hôm nay lễ Chúa Yêsu Làm Vua. Từ ngữ này có vẻ lỗi thời, không khoái tai nhiều người, khiến nhiều: TN 34-ABC74


Hôm nay lễ Chúa Yêsu Làm Vua. Từ ngữ này có vẻ lỗi thời, không khoái tai nhiều người, khiến nhiều người cũng ngại đọc lên. Nhưng nếu tất cả đã nghe Lời Chúa hôm nay và tìm hiểu ý nghĩa, người ta sẽ thấy việc Chúa Yêsu làm Vua không có gì động đến chính trị và từ ngữ kia có một ý nghĩa rất phong phú.

A. Vị Vua Mục Tử

Trước hết, bài sách Êzêkiel đưa chúng ta về quan niệm "Vua" ở trong Kinh Thánh. Dĩ nhiên trong quá trình lịch sử, Dân Chúa cũng như mọi dân tộc khác đã đi qua chế độ quân chủ. Và từ ngữ "Vua" ở trong Kinh Thánh cũng ám chỉ vị hoàng đế cai trị một quốc gia. Nhưng ngay từ khi Dân Chúa nghĩ đến chế độ ấy, Kinh Thánh đã có một lập trường và một lý luận rất đặc biệt.

Chúng ta nhớ câu truyện Dân đến xin tiên tri Samuel thiết lập chế độ quân chủ. Ông đã bắt đầu phản kháng như thế nào. Ông khẳng định đó chỉ là chế độ bóc lột làm khổ dân. Nhưng cuối cùng ông đã nhượng bộ trước sức ép. Nói đúng hơn, ông đã vâng lời Chúa. Và chính Chúa cũng tỏ ý phải chiều theo sự cứng lòng cứng dạ của một dân bướng bỉnh. Nghĩa là ngay từ đầu, Thánh Kinh đã không có cảm tình với chế độ quân chủ.

Và kinh nghiệm cho thấy vị vua đầu tiên đã không tốt. Vì thương dân, Chúa đã phải ra tay cứu vớt. Người không áp đặt ý tưởng của Người, nhưng sửa chữa ý tưởng của người ta và nâng nó lên đến chỗ hoàn thiện. Chúng ta hãy cảm mến thái độ quảng đại chiếu cố cũng như quyền năng êm ái của Người.

Người không hủy bỏ quân chủ, nhưng ban cho Dân một vị vua lý tưởng. Ðó là Ðavít. Hồi ấy, chàng còn là đứa trẻ tóc hoe, đang chăn chiên ngoài đồng. Chúa đã gọi chàng và xức dầu cho chàng làm vua. Mặc dầu đời vua Ðavít không tránh khỏi mọi lỗi lầm, nhưng tựu trung, đó vẫn là vị vua lý tưởng của Kinh Thánh vì ông kính sợ Chúa, rất khiêm nhu và từ tâm, luôn nhớ nguồn gốc và các đức tính chăn chiên của mình. Hành động đặc sắc nhất người làm sau khi được phong vương là đi đương đầu với tên địch thủ Golyat. Ðavít đã thắng y với phương pháp và tâm hồn một cậu bé chăn chiên đạo đức.

Thành ra khi ví các bậc lãnh đạo dân tộc như mục tử, Kinh Thánh không phải chỉ dùng thể văn thời bấy giờ và quan niệm hoàng đế cai trị dân giống như mục tử săn sóc đoàn chiên. Luôn luôn không nhiều thì ít, Kinh Thánh vẫn muốn gợi lại hình ảnh Ðavít, vị vua mục tử rất đẹp lòng Thiên Chúa. Ðặc biệt khi loan tin Ðấng Thiên Sai sẽ có huy hiệu hoàng đế, Kinh Thánh không nghĩ đến vua chúa của các nước lân bang, nhưng chỉ nghĩ đến Ðavít và quan niệm Ðấng Thiên Sai sẽ là vua nhưng là một vua mục tử, khiêm cung, tận tụy, từ tâm.

Bài sách Êzêkiel hôm nay chứng thực điều đó. Nhà tiên tri loan báo ơn Chúa cứu dân. Người sẽ cứu dân ra khỏi cảnh lưu đày và tái lập quốc gia của họ ngay trên xứ sở của họ. Người sẽ làm thế nào? Êzêkiel đáp: Người sẽ làm như một mục tử. Người coi dân lưu đày như đàn chiên tản mác. Người sẽ kéo chúng ra khỏi mọi nơi mà chúng đã bị phân tán trong ngày mù tối, ra khỏi các dân mà chúng đang nô lệ. Người đưa tất cả về trên Núi Thánh cho chúng được gặm cỏ nơi những cánh đồng xanh rì và được nghỉ ngơi bên những dòng suối mát. Chính Người chứ không phải ai khác sẽ chăn dắt chúng; tức là chính Người sẽ lãnh đạo dân, làm vua của dân chứ không ai khác nữa. Chúa tuyên bố Người là vua. Nhưng là vua mục tử và là mục tử tốt sẽ săn sóc từng con chiên, đáp ứng yêu cầu của từng con; đồng thời sẽ không để dê cừu lẫn lộn kẻo chúng húc và làm hại nhau, tức là Chúa sẽ phân biệt kẻ dữ người lành, để đàn chiên của Người, Dân thánh của Người được bình an hạnh phúc.

Ðó là lời sấm của Êzêkiel. Ông loan báo việc Chúa dắt dân trở về, nhưng có thể nói chẳng khi nào để họ lại trở thành một vương quốc có vua cai trị nữa, mà để họ làm thành một dân có sứ mạng thiêng liêng, phổ biến ơn cứu độ của Chúa và có Chúa lãnh đạo một cách vô hình.

Nhưng Thánh Thần đã dùng Êzêkiel để nói về những việc xa hơn. Và đoạn tiên tri hôm nay vẫn được coi như là lời loan báo thời đại Thiên sai. Chúa Cứu thế đã đến không phải chỉ để tập họp một dân tản mác lại, mà là muôn dân thiên hạ làm thành một Hội Thánh. Và Người đã xưng mình là mục tử tốt, cắt đặt các bậc lãnh đạo trong Hội Thánh làm mục tử.

Tuy nhiên viễn tượng của bài tiên tri còn đi xa hơn, đi đến tận cùng lịch sử. Chỉ ở đó, vào thời cánh chung, mọi chiên tản mác của Chúa mới vĩnh viễn được thu về Núi Thánh, để được nghỉ ngơi vô tận bên các dòng suối hạnh phúc từ lòng Thiên Chúa Ba Ngôi chảy ra. Khi ấy người ta mới thấy rõ Người là Vua mục tử cụ thể như thế nào! Và người ta sẽ hân hoan sung sướng nhận Người làm Vua một cách thắm thiết biết bao!

Dĩ nhiên bài sách Êzêkiel chưa nói rõ được tất cả. Nhưng nó đã gợi lên; và có thể giúp ta đi vào hai bài đọc sau.

 B. Vị Vua Vâng Lời

Bài thư Phaolô đưa chúng ta đến thời đại cánh chung. Chúa Yêsu sống lại là hoa quả đầu mùa. Người sẽ lôi theo tất cả loài người và tạo vật sống lại. Người như Ađam mới. Nếu Ađam cũ đã lôi cả loài người - và qua loài người - cả tạo vật vào hư hỏng và chết chóc, thì Ađam mới lại càng kéo được toàn thể nhân loại sa ngã và tạo vật hư hoại đi vào cõi sống muôn đời... Bây giờ chưa xảy ra như thế. Chúa Yêsu đang còn phải lôi kéo tất cả ra khỏi vòng nô lệ của mọi thứ thù địch để kết hợp tất cả vào Thân Mình Người. Khi nào làm xong công việc ấy; Người sẽ tiêu diệt kẻ thù cuối cùng là sự chết. Bấy giờ tất cả sẽ sống lại. Và Chúa Kitô sẽ dâng tất cả lên cho Thiên Chúa để Người là mọi sự ở trong tất cả.

Ðối với chúng ta bản văn trên đã quen thuộc. Và chúng ta hiểu rằng hiện nay Ơn Chúa đang làm việc trong lịch sử để dần dần tất cả được quy lại dưới một Ðầu là chính Ðức Yêsu Kitô. Người là Vua vô hình của toàn thể Hội Thánh là Thân Thể của Người. Người là Vua của toàn tạo dựng được cứu chuộc nhờ mầu nhiệm Thập giá.

Nhưng theo lời thư Phaolô, chúng ta có thể tự hỏi: như vậy Chúa Yêsu không là Vua vĩnh viễn sao? Vào lúc cánh chung, Người sẽ dâng vương quốc của Người cho Thiên Chúa. Vương quyền của Người sẽ không vô tận như chúng ta vẫn tin!

Không! Ai có thể tách rời Chúa Kitô ra khỏi Thiên Chúa? Vương quyền mà Người đã nhận được sau mầu nhiệm tử nạn phục sinh có tính cách vĩnh viễn. Thánh Phaolô viết như trên để nói lên một chân lý: Ðức Kitô đã được làm Vua trong mầu nhiệm Thánh giá vì đức vâng lời của Người. Người luôn luôn làm theo Thánh ý Thiên Chúa và đã vâng lời cho đến chết trên thập giá, nên đã được tôn vinh trên hết thảy, để từ đó nghe Danh Yêsu, trên trời dưới đất đều thờ lạy...

Vậy như Người đã làm Vua vì vâng lời, thì chúng ta muốn vào Nước của Người, muốn được kết hợp vào Thân thể của Người, chúng ta cũng phải có lòng vâng lời Thiên Chúa, tức là thi hành mọi huấn giới của Người. Có như vậy, Chúa Yêsu mới là Ađam mới và chúng ta mới là dòng dõi Ađam mới, khác với Ađam cũ và dòng dõi cũ của ông ở điểm: Ađam cũ và dòng dõi ông đã hư đi vì bất vâng phục, thì Ađam mới và dòng dõi mới của Người sẽ được tôn vinh nhờ đức vâng lời. Khi nói: sau khi đã làm cho tất cả suy phục mình thì Ðức Kitô dâng tất cả cho vương quyền Thiên Chúa, thánh Phaolô không có ý nói đến những công việc trước sau, nhưng chỉ muốn gợi lên ý nghĩa sâu xa và điều kiện căn bản của việc chúng ta thuộc về Ðức Kitô, vì suy phục Người và muốn được Người làm Vua thì phải vâng lời Thiên Chúa, tức là thi hành Thánh ý của Người, như chính Ðức Kitô, vì vâng lời Thiên Chúa, mà được đặt lên thống lĩnh mọi tạo vật. Cũng một hành vi đã đưa Chúa Yêsu lên làm Vua, cũng đưa chúng ta vào Nước của Người, cũng là Nước Thiên Chúa.

Chúng ta hãy dựa vào bài Tin Mừng hôm nay để xác định thêm về hành vi này.

 C. Vị Vua Nhân Ái

Cũng như thánh Phaolô, trong bài Tin Mừng này, thánh Matthêô muốn có một cái nhìn tiên tri về ngày chung thẩm. Vì quen với văn Cựu Ước, nên khi nghĩ đến ngày của Thiên Chúa, người nhớ ngay tới hình ảnh Con Người mà tiên tri Ðaniel đã vẽ ra. Do đó, người viết: khi Con Người sẽ đến trong vinh quang của Người, có mọi thiên thần của Người hầu cận, thì Người sẽ ngự trên ngai vinh hiển của Người.

Chúng ta thấy ngay thánh Matthêô đã muốn ám chỉ Con Người thật là một vị hoàng đế uy nghi, có tất cả mọi sự thuộc về mình. Nhưng vị hoàng đế ấy lại như một mục tử đang kêu mọi dân tộc đến với đàn chiên. Người là Chúa Con vì Người gọi những kẻ lành là kẻ được Cha Người chúc phúc. Như vậy, vào ngày chung thẩm chính Chúa Yêsu sẽ đến phán xét chúng ta. Người ngự trên ngai vinh hiển như một vị Vua. Nhưng cách làm việc của Người lại như một mục tử. Người là Vua mục tử như Êzêkiel đã loan báo. Người phân các dân tộc ra hai bên tả hữu của Người như mục tử phân chiên ra khỏi dê.

Ðể làm công việc này, Người chỉ có một tiêu chuẩn: bên những người lành là những kẻ đã thi hành lòng nhân ái; còn bên kẻ dữ là những kẻ thiếu lòng nhân đạo. Ðiều khó hiểu là Người đã xét xử người ta theo lòng nhân ái và nhân đạo đối với chính Người. Nhưng có ai đã gặp Người ở trần gian mà thi hành lòng nhân ái? Câu Người trả lời còn lạ lùng hơn nữa. Người nói: Khi các ngươi làm hay không làm gì cho một trong các anh em hèn mọn nhất của Người là làm hay không làm cho chính Người.

Truyền thống đã cắt nghĩa từ ngữ "các anh em hèn mọn nhất" ám chỉ mọi con người thiếu thốn, đau khổ mà chúng ta gặp. Quả thật, hết mọi người đã trở thành anh em của Chúa Yêsu kể từ ngày Người mặc lấy bản tính nhân loại. Và khi hiểu như vậy, chúng ta có lý để khẳng định rằng sau này Chúa sẽ phán xét chúng ta theo thái độ bác ái của chúng ta đối với tha nhân. Và đó chính là lệnh truyền Người đã để lại cho chúng ta trước khi về trời. Và như thế chúng ta thấy thánh Matthêô và thánh Phaolô đã hợp ý với nhau khi nói rằng muốn được nhận vào Nước của Chúa Yêsu sau này, chúng ta phải vâng lời Người mà yêu thương bác ái với anh em.

Nhưng dường như thánh Matthêô hiểu từ ngữ "các anh em hèn mọn của Chúa" một cách hẹp hơn. Người nghĩ đặc biệt đến các môn đệ tông đồ của Chúa vì người chỉ dùng từ ngữ này trong hai trường hợp khác (ở đoạn 12,50 và 28,10) đều để nói về môn đệ. Họ thật là những người hèn mọn vì gia thế của họ không có gì cả. Và nhất là vì họ phải nên giống như Người là Ðấng đã tự hạ để trở thành tôi tớ. Cụ thể, ở thời Matthêô, các Tông đồ thừa sai của Chúa bị tầm nã, bắt bớ, đánh đập, phỉ báng vì Danh Chúa. Họ đang sống mầu nhiệm Thập giá là mầu nhiệm cứu thế của Chúa. Những ai đón nhận họ quả thật là đón nhận Chúa. Và những ai cho họ một ly nước lã vì họ là môn đệ thì quả thật là như ban cho chính Chúa. Người ta săn sóc các môn đệ trong hoàn cảnh bắt bớ là săn sóc chính Chúa và xứng đáng với Nước Trời rồi vậy.

Giải thích từ ngữ trên cách nào cũng rất hợp lý. Và giữ cả hai cách lại còn hợp lý hơn. Muốn vào Nước Trời, người ta phải đón nhận các Tông đồ của Chúa, cho dù bề ngoài họ chỉ là những con người hèn mọn. Bấy giờ người ta mới thật sự không đón nhận họ như người phàm và sứ điệp của họ như sự khôn ngoan của thế gian, nhưng như các anh em của Chúa và như Tin Mừng cứu độ. Lúc ấy người ta cũng sẽ khám phá ra rằng theo đạo là hội nhập một cộng đoàn khiêm tốn gồm phần lớn những người nghèo khó, bởi vì chính Chúa, tuy là Vua nhưng cũng đã sống như một mục tử, đến nỗi đã bỏ mạng sống mình vì đàn chiên của Người. Và người ta sẽ hiểu rõ vì sao lệnh truyền của Người là bác ái và có tuân giữ lệnh truyền của Người mới được vào Nước Trời.

Giờ đây Chúa cũng ngự đến trong Bí tích Thánh Thể. Người thật là Vua của chúng ta. Nhưng Người lại chia sẻ Thịt Máu Người cho đàn chiên. Nhận lấy ơn thiêng của Người chúng ta phải muốn xả kỷ hy sinh cho anh em. Và khi làm như vậy chúng ta thống trị được bao khuynh hướng xấu xa phát xuất từ căn bản tội lỗi do nguyên tổ để lại, tức là óc kiêu ngạo, không muốn vâng phục và ch