Suy Niệm Tin Mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa C Bài 51-100 Con là con yêu dấu của Cha

Thứ năm - 10/01/2019 08:12
Suy Niệm Tin Mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa C Bài 51-100 Con là con yêu dấu của Cha
Suy Niệm Tin Mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa C Bài 51-100 Con là con yêu dấu của Cha
Suy Niệm Tin Mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa C Bài 51-100 Con là con yêu dấu của Cha
---------------------------------------

TN 1-C51:  PHÉP RỬA.. 2
TN 1-C52: CON ĐƯỜNG YÊU THƯƠNG DIỆU KỲ.. 4
TN 1-C53:  LIÊN ĐỚI VỚI DÂN.. 7
TN 1-C54: TRỞ THÀNH MỘT NGƯỜI KITÔ HỮU PHẢI .... 10
TN 1-C55: THIÊN CHÚA BƯỚC XUỐNG DÒNG SÔNG CUỘC ĐỜI 13
TN 1-C56:  KHI TRỜI MỞ RA.. 15
TN 1-C57: Ý NGHĨA PHÉP RỬA.. 18
TN 1-C58:  KITÔ HỮU ĐÍCH THỰC.. 20
TN 1-C59: CUỘC GẶP GỠ LỊCH SỬ.. 27
TN 1-C60: SỐNG HÂN HOAN THÁNH THIỆN LÀ TRI ÂN THIÊN CHÚA.. 30
TN 1-C61: ĐỪNG SỢ, TÔI ĐANG ĐỨNG BÊN CẠNH BẠN.. 32
TN 1-C62: ƠN GỌI CAO TRỌNG LÀM CON CÁI CHÚA.. 35
TN 1-C63: TRỜI MỞ RA.. 38
TN 1-C64: PHÉP RỬA ĐÒI HỎI PHẢI CÓ MỐI TƯƠNG QUAN GẦN GŨI 39
TN 1-C65: VÌ LOÀI NGƯỜI CHÚNG TA.. 40
TN 1-C66: CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA.. 42
TN 1-C67: PHÉP RỬA VÀ ƠN CỨU CHUỘC.. 44
TN 1-C68: BIẾT MÌNH ĐỂ HẠ MÌNH.. 45
TN 1-C69: Con Là Con Chí Ái Của Ta. 47
TN 1-C70:  Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa. 54
TN 1-C71: Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa. 56
TN 1-C72: Lễ Chúa Giê-su Chịu Phép Rửa. 60
TN 1-C73: LỄ CHÚA GIÊ-SU CHỊU PHÉP RỬA.. 64
TN 1-C74: Con Chí Ái của Ta. 67
TN 1-C75: Lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa. 71
TN 1-C76: SỰ KHIÊM NHƯỢNG TUYỆT ĐỈNH.. 73
TN 1-C77: ĐI BƯỚC TRƯỚC.. 74
TN 1-C78: LỄ CHÚA GIÊ-SU CHỊU PHÉP RỬA.. 76
TN 1-C79: KHAI MẠC SỨ VỤ.. 78
TN 1-C80: LỄ  CHÚA  GIÊSU  CHỊU  PHÉP  RỬA NĂM C.. 80
TN 1-C81:  CHU TOÀN SỨ MẠNG CHA TRAO.. 82
TN 1-C82: SỐNG NHƯ CON THIÊN CHÚA.. 83
TN 1-C83: GIÂY PHÚT QUYẾT ĐỊNH SỨ MẠNG CỦA NGÀI 86
TN 1-C84: CÙNG VỚI SỰ HIỆP THÔNG CÔNG ĐOÀN.. 88
TN 1-C85: ĐỨC GIÊSU CŨNG CHỊU PHÉP RỬA.. 91
TN 1-C86: SỐNG NHƯ CON THIÊN CHÚA.. 92
TN 1-C87:  BÍ TÍCH THANH TẨY.. 97
TN 1-C88: ĐANG KHI ĐỨC GIÊSU CẦU NGUYỆN THÌ TRỜI MỞ RA.. 102
TN 1-C89:  CON THIÊN CHÚA… LÀM NGƯỜI 104
TN 1-C90: ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG.. 107
TN 1-C91: CON YÊU DẤU.. 110
TN 1-C92: DƠ BẨN THÌ PHẢI RỬA THÔI 113
TN 1-C93: Lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa C - Sống như con Thiên Chúa. 115
TN 1-C94: Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa C - Con Chí Ái của Ta. 119
TN 1-C95: Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa - Thời đại ân sủng. 124
TN 1-C96: Con cái Chúa. 128
TN 1-C97: Chúa Giêsu chịu phép rửa – R. Veritas. 129
TN 1-C98: Chúa chịu phép rửa. 131
TN 1-C99: Đức Giêsu chịu phép rửa. 132
TN 1-C100:  Ơn gọi làm con. 134

-----------------------------------

 

TN 1-C51:  PHÉP RỬA


Lm. Vũ Đình Tường

 

Mừng Kính ngày Chúa Giêsu chịu phép Thanh Tẩy nhắc nhớ ngày mỗi người trong chúng ta lãnh: TN 1-C51


Mừng Kính ngày Chúa Giêsu chịu phép Thanh Tẩy nhắc nhớ ngày mỗi người trong chúng ta lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy. Chúng ta cần lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy trong khi Đức Kitô không cần vì Ngài là Đấng vô tội. Ngài lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy với ước muốn tự nguyện hơn là lí do thanh tẩy tội lỗi để gia nhập Giáo Hội.

Tự nguyện

Ngài tự nguyện xuống trần gian để giao hoà, gắn bó, liên kết nhân loại với Chúa Cha. Ngài lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy vì muốn đồng hoá chính mình với nhân loại, tự nhận mình là một thành phần của tập thể nhân loại. Nhân loại cần Thanh Tẩy để trở nên trong sáng. Chính Ngài là ánh sáng nhưng tự đồng hoá với chúng sinh nên cùng chịu Phép Rửa như chúng sinh lãnh nhận. Vì thế Ngài trở nên Ánh Sáng cho trần gian và những ai bước theo Ngài sẽ không đi trong u tối nhưng bước trong ánh sáng sự thật, công lí, bình an và hy vọng.

Thứ hai Ngài muốn chia sẻ thân phận con người như chúng ta. Ngài xuống trần trở thành một trong chúng ta, giống chúng ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi. Ngài nhận Phép Rửa biểu lộ tâm tình khiêm nhu thể hiện qua hành động. Gioan sửng sốt thốt lên sao Ngài xin con thanh tẩy cho.

‘Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi đã làm Phép Rửa cho anh em nhờ nước; còn Người, Người sẽ làm Phép Rửa cho anh em trong Thánh Thần’ Mc 1,8.

Việc làm trên chứng tỏ Đức Kitô muốn có được cùng cảm nghiệm như mỗi người chúng ta trải qua trong sinh hoạt thường ngày về tất cả các phương diện sinh hoạt tôn giáo, mối liên hệ tình cảm xã hội và sinh hoạt chung trong cộng đoàn.

Thứ ba, Đức Kitô tự nguyện lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy để Chúa Cha mặc khải vinh quang qua Ngài. Tỏ cho thế gian biết Ngài là Con Thiên Chúa và là Chúa. Các đại tiên tri và các vị ngôn sứ từng tiên báo về Con Người. Tiên đoán này ứng nghiệm khi Đức Kitô nhận Phép Rửa từ Gioan, vừa bước lên khỏi giòng sông, tầng trời mở ra và tiếng sấm.

‘Thần Khí tựa chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: ‘Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con’ câu 10.

Công thức chung

Chúng ta nhận Phép Rửa theo công thức ‘ta rửa con nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần’. Chúng ta được Thanh Tẩy trong Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Khi lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy, Chúa cũng nói với mỗi người

‘Con là con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về con’

Chúng ta chịu thanh tẩy để thuộc về Chúa, nhận Chúa là Cha và ta là con. Con đáng hưởng lời nói ngọt ngào, yêu thương. Xưa Đức Kitô đại diện nhân loại nhận lời nói yêu thương nơi Chúa Cha. Mỗi khi ta làm việc tốt lành, thực hiện thánh ý chúng ta cũng nhận lời ngọt ngào, yêu thương. Là con cái Chúa chúng ta xứng đáng hưởng ơn thừa tự, lãnh nhận sự sống đời đời dành cho con cái. Bí Tích Thanh Tẩy liên kết chúng ta với Đức Kitô, trở thành dân riêng, dân được hưởng gia nghiệp là nước trường sinh. Trong nước này không còn phân biệt tự do hay nô lệ mà tất cả đều liên kết với Đức Kitô (Ga. 3,28).

Trong Bí Tích Thanh Tẩy chúng ta nhận lãnh Thánh Thần khi được xức dầu thánh để trở thành: linh mục, tiên tri và vương đế muôn đời. Ba nhiệm vụ quan trọng thể hiện ba cách sống để thực hành trọn đời. Ơn linh mục gắn liền với chuyên tâm cầu nguyện; ơn tiên tri thông báo lời khôn ngoan, khuyên người làm lành lánh dữ; ơn vương đế chính là tự làm chủ lời nói, hành động của chính mình. Làm tròn ba nhiệm vụ trên chính là sống tinh thần Bí Tích Thanh Tẩy.

Đấng thánh

Có bao giờ bạn kinh nghiệm sống chung với thánh nhân trong cùng mái ấm gia đình. Bạn thực đang sống với vị thánh trong gia đình nhưng không nhận ra. Cháu bé mới được thanh tẩy là thánh đó. Cháu mới gia nhập Giáo Hội Chúa và cháu là thiên thần của Chúa, thánh thiện, tinh tuyền, không tì ố, không vết nhơ, đơn sơ, hiền lành, dễ thương, dễ mến và luôn cười tươi ngay cả trong giấc ngủ cũng mỉm cười. Cháu thay đổi lối sống gia đình bạn. Từ ngày có cháu mọi sinh hoạt trong gia đình thay đổi. Thời khắc thay đổi, không còn tự tiện đi sớm về khuya, ít diễu nơi phố chợ. Nhạc kích động, tiếng ồn chào tạm biệt đi ra ngoài cửa sổ nhường chỗ cho nhạc nhẹ, êm đềm, lời hát ru con. Khói thuốc thôi không làm chủ phòng khách nhưng bay lơ lửng ngoài hành lang. Nếu có bất bình thì cũng nhỏ giọng, thì thào với nhau hơn là to tiếng. Thời gian coi phim giảm bớt. Lớn hơn chút trong nhà góc nào cũng thấy trò chơi trẻ nhỏ. Sau giờ làm việc tránh la cà nơi phố chợ nhưng mau mắn về nhìn gặp vị thánh cỏn con trong nôi đang ngủ. Đầu óc cả cha lẫn mẹ ngày đêm đều hướng về đấng thánh nhỏ trong nhà. Tất cả những điều này do tự nguyện, tự chủ, không bị ai ép buộc. Tất cả vì tình thương. Người người đều cảm nghiệm được niềm vui và tâm tình tạ ơn rạng rỡ trên khuôn mặt mọi người trong nhà. Mái ấm gia đình, tình thương đùm bọc, bình an và hạnh phúc thật đang hưởng là thành quả của tình yêu Đức Kitô muốn đem lại cho trần gian.

Lối sống tốt hơn, gia đình bình an hơn, con tim yêu mến nhiều và cảm thông trong mọi hoàn cảnh. Ai làm được ngoại trừ thánh nhân. Tái sinh trong Chúa chúng ta cũng được Chúa đón nhận như cha mẹ yêu thương đón nhận con mình.

Lm. Vũ Đình Tường

-----------------------------------

 

TN 1-C52: CON ĐƯỜNG YÊU THƯƠNG DIỆU KỲ


Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

 

Để mạc khải tình yêu cho muôn loài, Con Thiên Chúa đã làm người. Để bày tỏ tình yêu đến cùng: TN 1-C52


Để mạc khải tình yêu cho muôn loài, Con Thiên Chúa đã làm người. Để bày tỏ tình yêu đến cùng với con người, Thiên Chúa chọn con đường đồng thân với nhân loại. “ Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta”( Ga 1,14 ). Không chỉ mang lấy kiếp người, Con Thiên Chúa còn mang vào chính bản thân phận tôi đòi, phận tội nhơ của con người. Xếp mình vào đoàn dân đang tự nhận là tội nhân đến với Gioan Tẩy Giả trên bờ sông Giođan là một hành vi thật khó lý giải theo sự luận suy của lý trí. Con tim có lý lẽ của nó. Và chúng ta chỉ có thể hiểu động thái chịu phép rửa của Chúa Giêsu bằng con tim. Tuy nhiên, dưới ánh sáng lời mạc khải qua các bài đọc Thánh lễ Chúa chịu phép rửa, chúng ta có thể nhận ra mục đích của Đấng Cứu Độ khi để cho Gioan làm phép rửa trên bờ sông Giođan.

1.Tự nguyện liên đới với mọi người để yêu thương hết mọi người:

Hai từ liên đới gợi mở cho ta hình ảnh gắn liền đai lưng với nhau. Nói đến chung lưng đấu cật là nói đến những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ cần vượt qua. Chính vì thế không ai lại nói liên đới trong những thành công hay chung lưng trong những hoàn cảnh thuận lợi. Hoàn cảnh khó khăn, gian khổ nhất của con người có thể nói là khi gặp phải các sự dữ. Có những sự dữ do khách quan như thiên tai hay địch họa. Có những sự dữ lại do chủ quan là do bản thân tự gây ra cho chính mình. Dưới cái nhìn đức tin thì chỉ có một sự dữ đáng gọi là dữ, đó là tội lỗi. Các sự dữ khác chỉ có thể làm hại sự sống đời này, còn tội lỗi thì có thể làm thiệt hại cả sự sống đời này và cả sự sống mai sau.

Dù là Đấng vô tội, dù là Đấng ngàn trùng chí thánh, Chúa Giêsu vẫn muốn đồng phận với nhân loại chúng ta trong kiếp tội nhân. Khởi đầu bằng việc chung hàng với đoàn người tội lỗi và điều này đã làm đẹp lòng Chúa Cha: “Này là Con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha” ( Mt 3,17; Mc 1,11; Lc 1,22 ). Trong quá trình rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu không ngại ngần đến với những người tội lỗi và đồng bàn với họ, bất chấp những lời xầm xì của nhiều người nhóm biệt phái và luật sĩ ( x. Lc 5,29-32; 15,1-2 ). Người còn tự nguyện đứng về phía những người nghèo, những người bất hạnh, cô thế, kém phận, dĩ nhiên vẫn không từ chối lời mời của những người quyền quý, lớn vai hay nhiều vế trong xã hội ( x. Lc 7,36-50 ). Tất cả những sự việc ấy nói lên rằng Chúa Cứu Thế muốn bày tỏ tình yêu với hết mọi người.

2. Đi xuống tận cùng đáy sâu thân phận tội lỗi của kiếp người để nâng mọi người lên:

Tự dìm mình dưới dòng sông Giođan để cho thánh Gioan Tẩy giả làm phép thanh tẩy là quyết định khởi đầu của Con Thiên Chúa làm người khi công khai rao giảng Tin Mừng. Và điểm đến của quyết định ấy là cái chết trong phận một phạm nhân trọng tội. Con Chiên tinh tuyền của Thiên Chúa đã cúi mình xuống trước một Giuđa đã rắp tâm phản bội Thầy, trước một Phêrô lát nữa đây sẽ chối bỏ Thầy và trước cả nhóm môn đồ còn lại, vốn tham sinh, úy tử cách ích kỷ, sẵn sàng bỏ Thầy để giữ lấy mạng sống riêng mình. Người cúi xuống là để nâng con người lên.

Thiên Chúa không muốn bất cứ một ai trong nhân loại phải hư mất. Đấng Cứu độ đã đi xuống tận cùng của cảnh kiếp tội nhân. Và giờ đây không một ai, không một tội nhân nào là không có thể được tha thứ và cứu sống. Một tuơng lai tràn trề hy vọng đang mở ra cho từng người, cho toàn thể nhân loại. Nói như Đức cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận: “ Không một thánh nhân nào là không có một quá khứ ( quá khứ lỗi lầm ), vì thế, chẳng có một tội nhân nào mà chẳng có một tương lai”. Sự khả thể đang mở ra với nhân loại khi Đức Giêsu tự nguyện đồng phận với kiếp tội nhân của con người. Và điều khả thể này đã hiện thực cách rõ ràng với người tử tội bị treo bên phải Chúa Giêsu năm xưa: “ Ta bảo thật với anh: Ngay hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta” ( Lc 23,43 ).

Vấn nạn đặt ra cho chúng ta hôm nay và mãi mãi:

- Không được phép ngã lòng về bản thân mình cho dù ta đang trong hoàn cảnh bi đát hay tồi tệ thế nào. Không một ai là ngoài tình thương của Thiên Chúa. Không gì có thể tách lìa chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, Đấng đã tự nguyện liên đới với chúng ta cho đến cùng ( x. Rm 8,38-39 ). Không một ai, không một tình trạng nào vượt quá quyền năng vô biên của Thiên Chúa, Đấng mà không có sự gì là không thể ( x.Mt 19,26 ), chỉ trừ người phạm đến Chúa Thánh Thần, tức là cố tình không đón nhận tình yêu cứu độ. Thiên Chúa có thể làm được mọi sự nhưng Người vẫn tôn trọng tự do của con người, một món quà vô giá mà Người đã ban cho nhân loại. Mọi sự đều là có thể cho người luôn biết hy vọng và nỗ lực vươn lên trong niềm tin vào tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa.

- Không được phép thất vọng về bất cứ một ai cho dù họ đang bê bối hay đáng chúc dữ dường nào. Biết bao người thời Chúa Giêsu rất đáng và đã bị Người chúc dữ thế mà vẫn được Người xin Chúa Cha tha thứ vì họ lầm chẳng biết ( x. Lc 23,34 ). Con người là hữu thể đang chuyển thành ( L’homme c’est l’ être en devenir ). Chính vì thế, điều mà ta cần loại bỏ, cần xóa đi, đó là những định kiến của ta về tha nhân. Giữ mãi thành kiến không tốt về tha nhân là ta đang đóng đinh anh em mình bằng những chiếc đinh ác tâm, vô tình. Đừng xét đoán để khỏi bị đoán xét ( x. Mt 7,1-5 ). Xin đừng quên chính khi đóng đinh tha nhân bằng định kiến là ta tự đóng đinh số phận của mình. Lời kinh nguyện duy nhất Chúa Giêsu dạy, nhắc nhớ chúng ta về sự liên đới với tha nhân như là một trong những điều kiện tất yếu để đón nhận hồng ân của Cha trên trời:“Lạy Cha chúng con…”(Mt 6,9-15 )

Mừng mầu nhiệm Chúa chịu phép rửa là tán dương tình thương của Chúa, một tình thương vô biên và diệu kỳ. Mừng mầu nhiệm Chúa chịu phép rửa là phấn khởi và tích cực dưỡng nuôi niềm hy vọng vào Thiên Chúa giàu lòng xót thương, chậm bất bình và rất mực khoan dung. Thiên Chúa đã nên hữu hình nơi Đức Kitô, Đấng không chỉ “không bẻ gãy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói”, mà còn “mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong tối tăm” ( Is 42,3; 7 ), Đấng đầy tràn Thánh Thần và đi đến đâu thì giáng phúc thi ân đến đó ( x. Cvtđ 10,38 ). Mầu nhiệm Chúa chịu phép rửa lại còn thôi thúc chúng ta tích cực đón nhận tha nhân để giúp nhau hoán cải, đổi mới và thăng tiến. Khoanh tay đứng nhìn hay cam chịu thúc thủ trước sự dữ là một thái độ “phỉ báng” hành vi cúi mình chịu phép rửa của chúa Kitô trên dòng sông Giođan. Ước gì được một lần trong đời, ta thầm nghe được lời Chúa phán: “Này là con yêu dấu của Cha, con đẹp lòng Cha”, khi ta biết yêu thương nhau bằng con đường đi xuống (như nghĩa của từ Giođan).

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

-----------------------------------

 

TN 1-C53:  LIÊN ĐỚI VỚI DÂN


Lc 3,15-16.21-22

Lm. Nguyễn hữu Thy

 

Đến nay tôi hãy còn nhớ hồi còn nhỏ đi học ở giáo lý, và khi bàn đến Phép Rửa của Đức Giêsu: TN 1-C53


Ðến nay tôi hãy còn nhớ hồi còn nhỏ đi học ở giáo lý, và khi bàn đến Phép Rửa của Ðức Giêsu, chúng tôi đã hỏi ông thầy giảng lúc bấy giờ: “Thưa thầy, tại sao Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa mà lại còn phải chịu phép rửa sám hối của thánh Gioan Tẩy Giả”

Trước khi nghe câu trả lời của ông thầy của chúng tôi năm xưa, chúng ta thử nhìn lại con người của Gioan Tẩy Giả: Ðó là một người mặc áo lông lạc đà, có nét mặt khắc khổ và nghiêm nghị, đi khắp đó đây trong vùng ven sông Gio-đan và loan báo sứ điệp đầy phẩn nộ của Thiên Chúa: «Hỡi nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các ngươi cách chạy trốn khỏi cơn thịnh độ của Thiên Chúa sắp giáng xuống trên đầu các ngươi? Cái rìu đã đặt sẵn ở gốc cây rồi. Bất cứ cây nào không sinh hoa quả tốt, đếu bị đốn đi và quăng vào lửa !” (Lc 3,7+9). Thánh Gioan Tẩy Giả rao giảng sự thịnh nộ của Thiên Chúa nhiều hơn là lòng nhân hậu của Người. Theo thánh nhân, người ta chỉ có thể tránh thoát được án phạt nghiêm minh và nặng nề của Thiên Chúa bằng sự sám hối tội lỗi và quay trở về cùng Thiên Chúa, qua phép rửa của ông tại bờ sông Gio-đan như dấu hiệu của lòng sám hối.

Nhưng điều đó có liên quan gì đến Ðức Giêsu?

Ông thầy giảng ngày xưa của chúng tôi đã trả lời cho câu hỏi đó một cách rất khéo léo, theo ông: Dĩ nhiên, là Con Thiên Chúa, Ðức Giêsu không cần chịu phép rửa sám hối. Phép rửa đó đối với Người chỉ có giá trị như một sự bày tỏ lòng khiêm nhường công khai. Nhưng trọng tâm của biến cố Chúa chịu phép rửa là việc Chúa Cha công khai thừa nhận Ðức Giêsu «Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta rất hài lòng về Người !” (Mt 3,17). Thật ra, điều quan trọng đối với ông thầy giảng xưa kia của chúng tôi là việc chứng minh Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa, còn sứ điệp của Gioan Tẩy Giả và phép rửa sám hối của ông xem ra không đóng vai trò quan trọng đối với cái hình ảnh về Ðức Giêsu.

Và những đứa học trò chúng tôi đã hài lòng với câu trả lời đó trong một thời gian rất lâu. Một cách thành thật, có lẽ chính các bạn khi nghe thế chắc cũng đồng ý với chúng tôi, và không còn thắc mắc gì nữa về ngày lễ Chúa Chịu Phép Rửa hôm nay.

Nhưng rồi trong suốt thời gian học thần học, khi chúng tôi có dịp tìm hiểu về Ðức Giêsu Na-da-rét hơn; khi chúng tôi tập nghiên cứu và đào sâu ý nghĩa của bản văn có tính cách lịch sử và phê phán nhiều hơn, và khi chúng tôi tìm hiểu nguồn gốc cũng như truyền thống của Kinh Thánh một cách lịch sử hơn, bấy giờ câu trả lời ngày xưa của ông thầy giảng là chưa đủ, tức nếu coi biến cố Chúa Chịu Phép Rửa tại bờ sông Gio-đan chỉ có giá trị như một kiểu bày tỏ công khai sự khiêm tốn và chỉ có được ý nghĩa khi có tiếng từ trời phán ra mà thôi.

Vì thế, hôm nay tôi muốn mời các bạn, chúng ta cùng hướng tầm nhìn của chúng ta về thánh Gioan Tẩy Giả và phép rửa thống hối của ông nhiều hơn. Trước hết, thánh Gioan Tẩy Giả là ai? Sứ điệp của ngài là gì? Phép rửa của ngài có giá trị thế nào?

Mặc dầu, về mặt lịch sử, chúng ta biết rất ít về nhân thân của Gioan Tẩy Giả, nhưng dựa theo nguồn sử liệu Do-thái và lương dân, chúng ta cũng có thể nêu lên được vài nét về sứ điệp và cách hành xử của thánh nhân.

Chúng ta biết rằng giữa thời gian vào các năm 167 trước công nguyên với cuộc nổi dậy của anh em Ma-ca-bê-ô, và năm 70 sau công nguyên với cuộc cuộc chiến tranh Do-thái và hậu quả là việc tàn phá đền thờ Giê-ru-sa-lem, cho đến năm 135 sau công nguyên với cuộc nổi dây của người Do-thái do Bar Kochbar cầm đầu, thì ở thung lủng Gio-đan đã có rất nhiều phong trào rao giảng sự sám hối kèm theo phép rửa. Mục đích của các phong trào sám hối đó là kêu gọi toàn dân hãy quay trở về với Thiên Chúa Gia-vê. Bởi vì theo các vị rao giảng sự sám hối đó, sở dĩ nền chính trị của dân tộc Do-thái bị rơi vào tình trạng tồi tệ và suy thoái như vậy, tức cả đất nước bị nằm dưới ách đô hộ tàn bạo của đế quốc Roma, là vì dân tộc đã xa lìa Thiên Chúa và không còn tuân giữ các giới răn của Người nữa. Vì thế, nếu toàn dân không sám hối và quay trở lại cùng Thiên Chúa Gia-vê – đó cũng là sứ điệp của các Tiên Tri -, thì sẽ không thể tránh khỏi được án phạt tiêu diệt của Thiên Chúa được.

Giữa các vị giảng thuyết sự ăn năn sám hối đó, Gioan Tẩy Giả là người quan trọng và có ảnh hưởng mạnh nhất. Khiến cho cả những tầng lớp lãnh đạo tôn giáo cũng như chính trị phải kiêng nể. Nhưng việc thánh nhân chỉ trích thẳng thắn và gắt gao bạo vương Hê-rô-đê An-ti-pa về tội loạn luân công khai của y (x. Mc 6,18) đã khiến cho thánh nhân phải trả bằng một giá quá đắt là chính mạng sống mình. Ðối với Gioan Tẩy Giả, dấu hiệu của sự sám hối là việc chịu phép rửa tại sông Gio-đan. Ðể cho Gioan Tẩy Giả; người đã được Thiên Chúa sai đến; rửa tội cho, có nghĩa là để cho chính Thiên Chúa biến đổi mình. Và chỉ những ai chịu phép rửa đó, mới có được cơ may thoát khỏi được án phạt tiêu diệt của Thiên Chúa. Phép rửa sám hối của Gioan Tẩy Giả là điều tối cần duy nhất. Và trong thực tế: Toàn dân đã kéo về bờ sông Gio-đan để được Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho.

Còn việc Ðức Giêsu đã để cho Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho là một biến cố lịch sử, nghĩa là một điều đã thực sự xảy ra. Nhưng tại sao Người lại làm như vậy? – Ðức Giêsu luôn giữ một mối quan hệ chặt chẽ với môi trường sống Do-thái của Người. Vâng, Người có một quê hương và một nơi « chôn nhau cắt rốn” cụ thể. Người luôn gắn bó với dân tộc của Người, luôn gắn bó với lịch sử và với tôn giáo của dân tộc. Ðức Giêsu là một người Do-thái thực sự, nói tiếng nói của dân tộc Do-thái, tinh thông lịch sử dân tộc. Người suy tư và hành động, cảm xúc và hy vọng, v.v… hoàn toàn như tất cả mọi người Do-thái khác, và cũng như họ, Người luôn đặt nặng hạnh phúc dân tộc lên hàng đầu.

Vì thế, đối với Ðức Giêsu, những phong trào sám hối và làm phép rửa của dân tộc Người không phải là điều xa lạ. Và Người không hề coi thường hay dửng dưng trước niềm tin của các đồng bào của Người. Người không sống ngoài lề cộng đồng đức tin. Người đã quan tâm tới phong trào của Gioan Tẩy Giả một cách đặc biệt, vì chắc chắn Người đã nhìn nhận Gioan Tẩy Giả là một con người hoàn toàn đặc biệt và đồng thời cũng rất đánh giá ông. Người đã phải cảm phục trước sứ điệp nghiêm chỉnh và chân chính của Gioan Tẩy Giả và vì thế Người đã để cho ông làm phép rửa cho: Người muốn liên đới với dân ! Bởi vì Ðức Giêsu rất quan tâm tới hạnh phúc của dân tộc Do-thái của Người – và đó cũng là điều dễ hiểu – nên Người đã xếp hàng với đoàn người đông đảo, những người muốn tránh cho dân khỏi án phạt tiêu diệt của Thiên Chúa. Người đã hòa mình vào với đoàn dân chúng, những người hoàn toàn tự nguyện sám hối và quay trở về cùng Thiên Chúa.

Dĩ nhiên, trong Lễ Chúa Chịu Phép Rửa của người Kitô giáo chúng ta, chúng ta còn cần phải có những bước tới gần Ðức Giêsu hơn nữa, chứ không chỉ dừng lại ở biến cố lịch sử, hầu cho việc chấp nhận phép rửa sám hối của Gioan Tẩy Giả nơi Ðức Giêsu không mất đi những giá trị đặc biệt của nó.

Ðối với tôi, một câu viết trong bài Tin Mừng hôm nay có một giá trị rất quan trọng: « Cùng với toàn dân, Ðức Giêsu cũng đã chịu phép rửa” (Lc 3,21). Cùng với toàn dân ! Ðức Giêsu không bao giờ đòi hỏi luật trừ cho mình, nhưng Người cùng hòa mình và hành động liên đới với mọi người. Người không xuất hiện như một người cạnh tranh với Gioan Tẩy Giả, nhưng như một thính giả đầy kính trọng và hứng thú lăng nghe sứ điệp của ông. Và cả về sau nữa, khi Người còn bày tỏ sự liên đới của mình với toàn dân một cách tuyệt căn hơn, qua cái chết trên thập giá. Vâng, qua cái chết đau thương và ô nhục trên thập giá Ðức Giêsu đã bày tỏ sự liên đới tột cùng của Người, chẳng những với dân tôc Do-thái mà còn với toàn thể nhân loại tội lỗi. Vậy, Phép Rửa của Ðức Giêsu là hành động liên đới với dân tộc của Người ! Ðối với sự liên đới cùng tận của Người với dân tộc tội lỗi, đối với sự liên đới vô cùng sâu thẳm của Người với chúng ta, qua cái chết trên thập giá, giờ đây chúng ta cùng dâng lời cảm tạ ơn Người qua hy lễ Thánh Thể: Hy lễ tạ ơn ! Amen.

Lm. Nguyễn hữu Thy

-----------------------------------

 

TN 1-C54: TRỞ THÀNH MỘT NGƯỜI KITÔ HỮU PHẢI ....


Lm. Nguyễn hữu Thy

 

Đứng trước câu hỏi: ỡNgười ta phải thực sự trở thành một người Kitô hữu như thế nào?ữ có lẽ sẽ: TN 1-C54


Ðứng trước câu hỏi: «Người ta phải thực sự trở thành một người Kitô hữu như thế nào?» có lẽ sẽ có người bảo rằng, để tìm ra câu trả lời đâu có gì khó khăn: Người ta phải cùng với người đỡ đầu mang trẻ sơ sinh đến nhà thờ để Cha Sở rửa tội cho, thế là đứa trẻ trở thành người Kitô hữu! Dĩ nhiên, một ngày nào đó đứa bé còn phải tự tuyên xưng lời hứa Rửa Tội của mình, tức ngày em Rước Lễ lần Ðầu và ngày em chịu Phép Thêm Sức. Nhưng theo nguyên tắc thì một khi đã được rửa tội, người ta trở thành một Kitô hữu, và hoàn toàn thuộc về Giáo Hội, với tất cả quyền lợi và trách nhiệm kèm theo.

Thế nhưng, ở đây người ta sẽ khó tránh được sự phản đối: Một câu trả lời như vậy thì thật quá đơn sơ và dễ dàng! nếu vậy, thì người ta chỉ là một Kitô hữu theo nghĩa hành chánh dân sự, một Kitô hữu với tấm giấy chứng chỉ Rửa Tội, chứ không phải là một Kitô hữu thực thụ đúng theo ý muốn của Ðức Giêsu, mà nhân danh Người chúng ta đã được lãnh nhận Phép Rửa!

Vâng, qua lễ nghi của Phép Rửa Tội được thực hiện trong lòng Giáo Hội, Ðức Giêsu ban cho đứa bé một cuộc sống mới. Tuy nhiên, cuộc sống đó không phải là một sự chiếm hữu chắc chắn và đương nhiên, một cách dễ dàng được: một lần là xong, nhưng nó cần phải được nỗ lực mỗi ngày để duy trì và để phát huy không ngừng qua những thực hành cụ thể trong cuộc sống. Chúng ta thư đưa ra một ví dụ nho nhỏ: Đức tin hay cuộc sống đức tin của chúng ta cũng tương tựng như một hạt giống vừa nảy mầm; nhưng mầm non đó chỉ sống sót và rồi đâm hoa kết quả được khi được khi người ta nỗ lực săn sóc phân bón, vun tưới, v.v... Đúng vậy, người ta chỉ thực sự trở nên một Kitô hữu đúng nghĩa, khi người ta biết ra sức bảo vệ đức tin của mình, biết sống đúng với những đòi hỏi của Bí tích Rửa Tội, tức biết sống theo tinh thần bác ái của Tin Mừng. Vì thế, một câu nói được áp dụng ở đây là: Thật ra, qua Bí tích Rửa Tội anh trở thành một người Kitô hữu, nhưng giờ đây vì Bí tích Rửa Tội, anh hãy trở thành người Kitô hữu thực sự! Anh hãy trở thành đúng với danh xưng «Kitô hữu» của anh! Người ta cần phải hiểu điều đó trong bối cảnh Phép Rửa của Ðức Giêsu!

Nhưng điều gì đã thực sự xảy ra trong Phép Rửa của Ðức Giêsu?

Chúa Thánh Thần đã công khai ngự xuống dư tràn trên Người và làm cho Người đủ khả năng để chu toàn sứ mệnh Chúa Cha đã giao phó cho Người, là:

• loan báo Tin Mừng giải thoát và ơn Cứu Rỗi,
• dẹp tan mọi quyền lực của sự ác,
• hy sinh mạng sống mình cho phần rỗi nhân loại.

Trọn cuộc sống và toàn bộ mọi hành động của Ðức Giêsu là do sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Ðúng vậy, chính Chúa Thánh Thần tác động trong Ðức Giêsu và ban cho Người mọi quyền lực, để mọi hành động của Người đều mang lại hiệu quả sung mãn. Ðức Giêsu sống hoàn toàn bởi sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

Chính điều đó cũng đã tương tự xảy ra trong Phép Rửa của mỗi người Kitô hữu chúng ta. Nhờ Ðức Giêsu, Ðấng Tẩy Giả thực sự, Chúa Thánh Thần ngự xuống tràn đầy trên người tân tòng, chiếm hữu trọn vẹn con người anh và tác động trong anh, để anh - nếu không chống lại Người – có thể thực hiện được cuộc sống Kitô hữu của mình, một cuộc sống hoàn toàn theo sát dấu chân Ðức Giêsu; nói cách khác: Anh lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa, suy niệm và đưa ra thực hành trong cuộc sống hằng ngày, hay nói đúng hơn: đem áp dụng Lời Chúa vào trong các hoàn cảnh đa phức của sự thiện và sự ác trong chính mình và trong cuộc sống của mình! Như thế, anh loại bỏ sự ác trong chính mình và trong cuộc sống của mình. Anh được giải thoát khỏi quyền lực của sự ích kỷ.

Chỉ khi nào người Kitô hữu thực sự sống Phép Rửa của mình như thế trong tinh thần môn đệ Ðức Kitô, khi anh sống trong Thánh Thần của tình yêu, chứ không phải trong xác thịt của sự ích kỷ, bấy giờ anh sẽ thực sự trở thành một Kitô hữu chân chính; bấy giờ, khi phải đối mặt với sự ác, anh sẽ là «người khỏe mạnh hơn», giống như Ðức Kitô vậy!

Nhưng trong Phép Rửa của Ðức Giêsu còn có gì khác xảy ra nữa?

Thiên Chúa Cha đã công khai tuyên nhận Người: «Con là Con yêu dấu của Ta, Ta đã chọn Con!» Chúa Cha đã công bố Ðức Giêsu là Con yêu dấu của Người, là Ðấng luôn hiệp nhất trọn vẹn với Người: Trong suốt cuộc đời của mình - từ khi làm người cho đến khi chết - cả trong khi phải gánh chịu mọi đau khổ đến cùng cực và bị bỏ rơi trên thập giá.

Ðiều đó cũng xảy ra trong Phép Rửa của chúng ta: Thiên Chúa tuyên nhận Người là Cha của chúng ta, gọi chúng ta là con cái của Người, yêu thương chúng ta, chứ không hề bỏ rơi chúng ta - cả khi bên ngoài xem ra Người bỏ rơi chúng ta – dù cho bao sự thất trung và sa ngã của chúng ta; Thiên Chúa vẫn yêu thương, chứ không bao giờ bỏ rơi chúng ta, dĩ nhiên không vì sự bất phục tùng của chúng ta, nhưng do sự vâng phục của Ðức Giêsu. Tiếng nói có này của Thiên Chúa được đáp trả bằng tiếng nói có của chúng ta trong Ðức Giêsu Kitô và nhờ Ðức Giêsu Kitô; sự vâng phục của chúng ta là dấu chỉ sự hiệp nhất của chúng ta với Thiên Chúa.

Ðối với con người tân thời ngày nay, hai tiếng «vâng lời» xem ra xa lạ và lạc hậu, lỗi thời và bất xứng, bởi vì họ nghĩ rằng họ đã thoát ly khỏi Thiên Chúa, đã tự giải thoát khỏi Người, không cần đến Người nữa, sẽ có thể làm chủ vũ trụ mà không cần đến Thiên Chúa, sẽ có thể tạo nên một vũ trụ hoàn toàn theo ý riêng của mình.

Nhưng điều đó có nghĩa gì? Sau cùng chẳng phải đó là kế hoạch của Thiên Chúa, Ðấng đã ban cho con người mọi khả năng và bây giờ Người muốn con người sử dụng các khả năng đó sao? Nhưng nếu Thiên Chúa đã ban cho con người các khả năng, thì cuối cùng điều đó có nghĩa là con người - với tất cả mọi khả năng và ý muốn của mình – không được phép xa lìa thánh ý của Thiên Chúa và sự hiệp nhất với Người; đàng khác, tự bản chất là một tạo vật, con người cũng không thể làm được chuyện đó đối với Ðấng Tạo Hóa của mình.

Do đó, không bao giờ có sự thoát ly khỏi Thiên Chúa. Nhưng nếu có ai vẫn quan niệm như thế, thì tự lừa dối mình, và sự lừa dối đó sẽ gặt hái được hoa quả đau thương trong nhiều nơi và nhiều trường hợp của cuộc sống người đó. Việc hiểu rõ được điều đó và tìm cách sống theo, là nguyên nhân làm cho một người trở thành một Kitô hữu đícht thực.

Tất cả những điều đó người ta có thể tóm tắt lại trong lời nói của Giáo phụ Tertulian: «Qua cuộc sống người ta trở thành người Kitô hữu, chứ không phải qua việc sinh đẻ». Dĩ nhiên, điều đó không phủ nhận hình ảnh đẹp của Phép Rửa như được tái sinh qua nước và Chúa Thánh Thần. Ðiều Giáo phụ Tertulian muốn nói, là: Người ta không trở thành Kitô hữu qua một biến cố tự nhiên như việc sinh đẻ, nhưng qua diễn biến của một cuộc sống sám hối và cải thiện, dĩ nhiên được khởi đầu với Bí tích Rửa Tội.

Vậy, Phép Rửa Tội là một lời kêu gọi chúng ta cần phải sống như những người đã được lãnh nhận Phép Rửa nhân danh Ðức Giêsu, tức: Cùng với Ðức Kitô chết cho tội lỗi và cùng với Người sống cho Thiên Chúa. Sự diễn tiến của cuộc sống đó sẽ kết thúc qua ơn Rửa Tội với lời sáng tạo thứ hai của Thiên Chúa: Này đây, Ta sẽ làm mới lại mọi sự! Ðó chính là lúc tất cả chúng ta trở thành những Kitô hữu thật, những con người hoàn toàn được tràn đầy Chúa Thánh Thần, hoàn toàn được Thiên Chúa chấp nhận và kết hiệp cùng Ðức Kitô. Amen.

Lm. Nguyễn hữu Thy

-----------------------------------

 

TN 1-C55: THIÊN CHÚA BƯỚC XUỐNG DÒNG SÔNG CUỘC ĐỜI

Lc 3: 15-16, 21-22

Lm. An Phong, OP

 

Hôm nay, chúa nhật lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa. Đức Giêsu vô tội, nhưng đã gánh tội trần: TN 1-C55


Hôm nay, chúa nhật lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa. Đức Giêsu vô tội, nhưng đã gánh tội trần gian. Đức Giêsu vô tội, nhưng đã tự hoà mình với các tội nhân để chia sẻ thân phận của họ. Đức Giêsu vô tội, nhưng Ngài vẫn đến xin Gioan làm phép Rửa, một phép Rửa chuẩn bị cho mọi người bước vào thời đại cứu thế. Khi Chúa Giêsu chịu phép Rửa, "Trời mở ra và Thánh Thần Chúa ngự xuống trên Người dưới hình chim bồ câu", và có tiếng từ trời phán: "Con là con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha". Đây thực là một mạc khải về Chúa Ba Ngôi: Cha - Con - Thánh Thần, một đời sống thông hiệp, liên kết sâu xa.

"Người sẽ rửa anh em trong Chúa Thánh Thần và trong lửa" (Lc 1,16). Gioan Tẩy giả đã công bố về phép Rửa của Đức Giêsu, khi chính Đức Giêsu lại hạ mình để lãnh phép Rửa của Gioan như bất cứ một người Do Thái nào khác vào thời bấy giờ. Đây là phép Rửa mà mỗi kitô hữu lãnh nhận để được tha thứ tội lỗi, trở nên những con cái Thiên Chúa, đồng thời là thành viên trong đại gia đình tình yêu của Thiên Chúa – Giáo hội. Phép Rửa trong Chúa Thánh Thần và trong lửa đã làm nên đời sống Kitô giáo đích thực.

Trong Thánh Thần tức là được Chúa Thánh Thần hướng dẫn và đạt đến sự viên mãn của Đức ái. Chúa Thánh Thần là nguyên lý sống, hoạt động, tăng trưởng. Người làm cho đời sống Kitô giáo được viên mãn. Nhờ Người, đời sống Kitô giáo trở nên một đời sống vui tươi và ân sủng. Kitô hữu là người sống nhờ Chúa Thánh Thần, tức là tràn đầy "tình yêu và chân lý". Chúng ta được mời gọi sống trong Thánh Thần khi lãnh nhận bí tích Rửa tội. Phải chăng chúng ta đang sống và lớn lên trong Chúa Thánh Thần, Đấng là nguyên lý sự sống, tình yêu và viên mãn đời kitô hữu.

Khi Đức Giêsu lãnh phép Rửa, trời mở ra, tức là giữa Thiên Chúa và con người có một mối thâm tình mới. Không còn rào cản giữa trời và đất. Rào cản mà tội lỗi đã dựng nên nay được phá bỏ nhờ tình yêu. Từ nay con người diện đối diện với Thiên Chúa. Tuy là thân phận tội lỗi, nhưng Thánh Thần đã thắp lên trong con người ngọn lửa mới, ngọn lửa thiêu đốt những hẹp hòi, xấu xa; ngọn lửa xua tan bóng đêm của tội lỗi; ngọn lửa sưởi ấm những cõi lòng lạnh băng. Phép Rửa trong lửa mà Đức Giêsu thực hiện nơi mỗi kitô hữu đã khơi nguồn một tình yêu mới, một lối sống bác ái mới, một cuộc giải thoát mới. Như thế, khi lãnh phép Rửa trong lửa, chúng ta được mời gọi để sống một tình yêu mới, một lối sống mới, và một tự do của con cái Thiên Chúa. Phải chăng chúng ta đang sống mầu nhiệm phép Rửa trong Thánh Thần và trong lửa ?

Mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa là dịp để chúng ta cùng suy nghĩ về phép Rửa trong Chúa Thánh Thần và trong lửa của mình.

Mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa là dịp để chúng ta chiêm ngưỡng "một vinh quang hạ mình", Đức Giêsu tự hòa mình với các tội nhân, để đưa họ thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi.

Lạy Chúa, Mỗi ngày trong đời sống của con là ngày của Chúa. Ngày của ân sủng, ngày của Tình Yêu Chúa. Như thế, thì con phải sống và đón nhận mỗi ngày của con như một ngày của Chúa. Làm sao biến đổi những chuỗi ngày phàm trần của con thành những ngày của Chúa.

Lạy Chúa, chỉ có Ngài mới cho con bí quyết đó được mà thôi. Để con có thể yêu thương cuộc sống thường nhật như dòng thời gian gửi đến. Yêu thương đến nỗi biến đổi mỗi ngày của con thành một ngày hồng ân có điểm tới là Chúa. Tình yêu đó chỉ có Ngài mới ban cho con được mà thôi.

Lm. An Phong, OP

-----------------------------------

 

TN 1-C56:  KHI TRỜI MỞ RA


Lc 3,15-22

Lm. Giuse Đổ Vân Lực, OP

 

Khi niềm hi vọng xa tầm tay, con người rơi vào khủng hoảng. Những cuộc khủng hoảng lớn nhỏ: TN 1-C56


Khi niềm hi vọng xa tầm tay, con người rơi vào khủng hoảng. Những cuộc khủng hoảng lớn nhỏ đang vò nát tâm hồn nhân loại. Bởi đấy, hơn lúc nào, con người cần lắng nghe và dồn hết tâm lực đi tìm niềm hi vọng đích thực. Niềm hi vọng đó chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng giải thoát nhân loại bằng sức mạnh Thần khí.

ĐI TÌM NIỀM HI VỌNG

Cuộc vui hôm nay đang cuốn hút con người vào một cơn lốc vô định. Yêu cuồng sống vội. Thực tế, “lối sống vô luân và những đam mê trần tục” (Tt 2:12) tố cáo sự trống rỗng lớn lao trong tâm hồn con người hôm nay. Nói khác, hạnh phúc không có nền tảng. Cuộc vui không tương lai. Chỉ Đức giêsu mới cống hiến cho nhân loại một nền tảng vững chắc cho niềm hi vọng con người. Là Kitô hữu, “chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang.” (Tt 2:13) Đó là lý do tại sao chúng ta phải “sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này.” (Tt 2:12)

Tại sao Đức Giêsu có thể trở thành niềm hi vọng cho chúng ta ? Trước hết, “Người quyền thế hơn ông Gioan Tẩy giả trong việc đánh đuổi những lực lượng xấu xa,” (The New Jerome Biblical Commentary 1990:687) cội nguồn mọi thất vọng và tuyệt vọng. Sức mạnh Người thể hiện rõ ràng nơi phép rửa đem lại ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại. Khác với ông Gioan, “Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần và bằng lửa.” (Lc 3:16) Có gì mạnh bằng Thánh linh và lửa ? Chính vì thế, niềm hi vọng đó được bảo đảm tuyệt đối. Tương lai chắc chắn sẽ là ơn cứu độ. Thực vậy, “Người cứu chúng ta nhờ phép Rửa ban ơn tái sinh và đổi mới do Thánh Thần thực hiện.” (Tt 2:3:5) Như thế, niềm hi vọng đó chính là lời Thiên chúa hứa đã được thực hiện trong cái chết và sự phục sinh của Người.

Sở dĩ Người có thể thực hiện được công trình lớn lao đó vì “Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu.” (Lc 3:22) Thánh linh chính là hồng ân cánh chung Thiên chúa gởi đến như một bảo đảm cho công cuộc cứu độ thành công hoàn toàn. Vào thời cánh chung, Thánh Thần sẽ đổ tràn hồng ân sáng tạo và ngôn sứ cho Dân Thiên chúa. Thánh Thần ngự xuống Đức giêsu để hoàn thành thánh ý Thiên chúa: giải thoát những ai bị Satan cầm buộc và rao giảng Tin mừng cho người nghèo khổ.

Công cuộc đó bắt đầu “khi toàn dân chịu phép rửa, Đức Giêsu cũng chịu phép rửa” (Lc 3:21) để “tỏ ra tình liên đới với ông Gioan trong việc loan báo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.” (The New Jerome Biblical Commentary 1990: 687) Đúng hơn, từ giây phút đó, Đức giêsu hoàn toàn thay thế ông Gioan. Vì chỉ có Người mới mạc khải tất cả kế hoạch cứu độ.

Kế hoạch đó bắt đầu khi “trời mở ra” (Lc 3:21) và “hình dáng chim bồ câu ngự xuống trên Người.” (Lc 3:22) “Biểu tượng ngôn sứ và cánh chung này cho biết Thiên chúa thực hiện một cuộc mạc khải. Một cuộc thần khải hiển nhiên cho tất cả những ai có con mắt đức tin.” (The New Jerome Biblical Commentary 1990:687) Bồ câu là biểu tượng cho niềm hi vọng con người muốn yêu thương, sinh sống và hiệp nhất với Thiên chúa. Hôm nay những niềm hi vọng này được thực hiện nơi Đức giêsu. Quả thế, trong Thánh linh, Người đã phá sập những trở ngại sự sống và đã chỗi dậy từ cõi chết để về bên hữu Thiên chúa. Đúng như lời hứa, Người đã sai Thánh linh ban sự sống đến cho những ai cầu khẩn danh Người.

Tất cả bắt nguồn từ việc “Người cầu nguyện.” (Lc 3:21) Nhờ lời cầu nguyện đó, Đức giêsu đã múc được tất cả sức mạnh cứu độ toàn thể nhân loại. Chúa Cha đã công khai mạc khải tất cả bản chất sức mạnh đó khi phán với Người: “Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con.” (Lc 3:22) Quả thực, nếu không là Con Thiên chúa, chắc chắn Đức giêsu sẽ không thể thực thi được chương trình cứu độ của Thiên chúa, một chương trình bao trùm toàn thể vũ trụ và nhân loại. Từ khi được công khai tấn phong làm Đấng Mêsia, Đức giêsu “bắt đầu thi hành sứ mệnh giữa dân Chúa.” (Kinh thánh Tân Ước 1995:265) Đây là tột đỉnh mạc khải về Đức giêsu. Mạc khải này sẽ chiếu sáng toàn thể niềm hi vọng Kitô hữu.

NHÌN VÀO THỰC TẾ

Thế giới hôm nay thuộc về ai tràn đầy niềm hi vọng. Tự bản chất, Kitô hữu phải là một người mang niềm hi vọng vào thế giới. Càng sống ơn gọi Kitô hữu, càng tràn đầy niềm hi vọng. Kitô hữu có sứ mệnh công bố cho mọi người biết Đức Kitô chính là niềm hi vọng của toàn thể nhân loại.

Con đường đưa Đức Kitô vào thế giới hôm nay xuyên qua đối thoại. Quả thực, nhân dip kỷ niệm 60 năm thành lập phong trào Focolare, ĐGH Gioan Phaolô II viết: “Những đoàn viên Focolare đã biến mình thành những tông đồ đối thoại, con đường cổ võ sự hiệp nhất sáng giá nhất: đối thoại trong Giáo hội, đối thoại đại kết, đối thoại liên tôn, đối thoại với những người vô tín.” (Zenit 7.12.2003) Nhờ đối thoại, chúng ta có thể gặp gỡ mọi người. Nội dung gặp gỡ bao giờ cũng là niềm hi vọng. Trong niềm hi vọng đó, Lời Chúa có thể thẩm thấu vào tận con tim mỗi người.

Trước tình hình thế giới đầy biến động hôm nay, nếu không bình tĩnh đối thoại, Kitô hữu không thể làm cho con người thời đại lắng nghe Tin mừng cứu độ. Giữa lúc mọi người bận bịu với nhiều chương trình lớn nhỏ khác nhau, người ta vẫn thấy thiếu vắng “nguyên lý nền tảng hiệp nhất mọi kế hoạch và hành động.” (ĐGH Gioan Phaolô II: Zenit 7.12.2003) Nói khác, nhân loại cần một luồng sinh khí mới, một linh hồn đem lại cho mọi công cuộc hôm nay một giá trị đích thực. Hơn lúc nào, “các tín hữu phải khẩn trương tái cam kết đáp ứng những thách đố trong công cuộc Tân Phúc âm hóa.” (ĐGH Gioan Phaolô II: Zenit 7.12.2003) Có thế, Kitô hữu mới thấy niềm hi vọng vươn lên giữa những đổ nát hôm nay.

Lm. Giuse Đổ Vân Lực, OP

-----------------------------------

 

TN 1-C57: Ý NGHĨA PHÉP RỬA


Lc 3,15-16.21-22

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP.

 

Đông Ca-mê-lô” là tên một cuốn phim, trong đó nêu bật cuộc đối đầu liên tục giữa vị linh mục và: TN 1-C57


 “Đông Ca-mê-lô” là tên một cuốn phim, trong đó nêu bật cuộc đối đầu liên tục giữa vị linh mục và ông thị trưởng. Xem ra hai bên lúc nào cũng hoạt động sát cánh bên nhau để phục vụ công ích, nhưng lúc nào cũng bảo vệ quan điểm của mình: một bên là niềm tin Công giáo, một bên là ý thức hệ vô thần. Một trong những cảnh trong đó dường như ông thị trưởng muốn thỏa hiệp với tôn giáo, đó là cảnh ông lén lút đưa đứa con mới sinh đến nhà thờ xin vị linh mục rửa tội. Nhưng đến khi đặt tên thánh cho con ông lại đưa ra một cái tên là Sta-lin.

Cũng như ông thị trưởng trên đây, ngày nay có nhiều người Công giáo đưa con mới sinh đến nhà thờ xin linh mục cử hành bí tích rửa tội mà không hiểu ý nghĩa tôn giáo cũng như các cam kết mà bí tích này đòi hỏi. Nói khác đi, người ta trở thành Ki-tô hữu mà không sống cho đến cùng niềm tin tôn giáo của mình. Ông thị trưởng trên đây cũng có thể nhìn vào bí tích rửa tội như nhiều người ngoài Ki-tô giáo. Họ xem nghi thức này như một thứ ma thuật, bùa chú, có hiệu năng bảo vệ con người khỏi nghịch cảnh và bất hạnh trong cuộc sống. Nhiều người khác cũng có thể nhìn vào bí tích này như một thứ mê tín dị đoan cần phải loại bỏ. Vậy đâu là ý nghĩa đích thực của bí tích rửa tội ?

Chúng ta hãy trở lại dòng sông Gio-đan bên Pa-lét-tin, nơi Chúa Giêsu đã đến dìm mình trong nước. Tại đây, Gio-an Tẩy Giả đã lôi kéo được đông đảo dân chúng đến nghe giảng và tỏ dấu sám hối bằng cách dìm mình trong nước. Chúa Giêsu cũng chen lẫn trong đám đông ấy để xin Gio-an thanh tẩy cho Ngài. Nhưng là một người không vương tội lỗi, Chúa Giêsu đến dìm mình trong nước không phải để thể hiện sự sám hối. Ngài muốn nói lên một ý nghĩa khác, đó là loan báo cái chết và phục sinh của Ngài: dìm mình xuống nước là biểu hiệu cái chết. Trồi lên khỏi nước là loan báo sự sống lại. Đây cũng là ý nghĩa bí tích rửa tội. Khi chúng ta lãnh nhận phép rửa tội, Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta tham dự vào mầu nhiệm sự chết và sống lại của Ngài. Chúng ta vào đời khi được sinh ra, và vào đạo Thiên Chúa khi được rửa tội. Trong nghi thức rửa tội, chúng ta được dìm trong nước hoặc đổ nước trên đầu để chỉ việc tẩy rửa khỏi tội tổ tông và mọi tội riêng, được sinh lại làm con cái Thiên Chúa và gia nhập vào Giáo Hội. Vì thế, Giáo Hội coi bí tích rửa tội như một cuộc tái sinh: người được rửa tội trở thành một con người mới. Họ thấy đâu là ơn gọi và định mệnh của con người, đâu là ý nghĩa của cuộc đời.

Tôi thấy một số người không mừng sinh nhật ngày họ sinh ra vào đời, nhưng mừng ngày họ được chịu phép rửa tội. Thiết nghĩ điều này rất hay, rất đúng, vì đây mới là ngày trọng đại, cao quý, như Đức Giáo hoàng Pi-ô XI đã nói với hàng ngàn thanh niên nhân ngày kỷ niệm rửa tội của ngài: “Ngày cha chịu phép rửa tội là ngày cao quý nhất của đời cha. Cũng như ngày các con chịu phép rửa tội là ngày cao quý nhất của đời các con”.

Nhờ phép rửa tội, chúng ta được mang tước hiệu Ki-tô hữu. Ki-tô hữu là người có Đức Ki-tô. Mỗi Ki-tô hữu là một Đức Ki-tô thứ hai. Mỗi Ki-tô hữu là một nối dài của chính Đức Ki-tô. Đó là tước hiệu cao cả của chúng ta. Tước hiệu ấy không chỉ sáng ngời trong những dịp lễ lạc, hội hè mà phải luôn chiếu tỏa trong từng giây phút của cuộc sống.

Nhưng tôi xin phép hỏi: Phải chăng nhiều người trong chúng ta đã là Ki-tô hữu một cách miễn cưỡng ? Đức tin chưa phải là niềm vui sống mà chỉ là một mớ những ràng buộc khiến chúng ta cảm thấy nặng nề, khó khăn ? Ngoài những ràng buộc của luân lý Ki-tô giáo và gánh nặng của những sinh hoạt đạo giáo, biết đâu nhãn hiệu Ki-tô lại không là đầu mối của biết bao kỳ thị, thiệt thòi trong cuộc sống của chúng ta ? Chúa Ki-tô đã mang lại cho chúng ta cuộc sống mới của những người con Thiên Chúa, cho dầu cuộc sống ấy có thể tạo ra nhiều ràng buộc, có thể đòi hỏi nhiều hy sinh và chiến đấu, có thể gây nên những phiền toái, thua thiệt…nhưng đó là giá để chúng ta đạt được niềm vui đích thực trong cuộc đời làm con Chúa.

Có thể nói đó là một ước mơ của người Ki-tô. Bình thường có một ước mơ để theo đuổi, đó là sức mạnh giúp người ta có thể thành công và kiên trì trong cuộc sống. Thì trong đời sống đức tin cũng thế, xem ra người Ki-tô cũng theo đuổi một ước mơ. Chẳng hạn: ngay từ khi còn nhỏ, thánh Đông Bốt-cô đã ước mơ được chăm sóc và hướng dẫn các trẻ em lang thang nơi đầu đường xó chợ. Cả cuộc đời ngài đã cống hiến để ước mơ ngày trở thành hiện thực. Mục sư Lu-thơ Kinh cũng đã từng ước mơ một ngày nào đó con cái của những người nô lệ da đen sẽ ngồi đồng bàn với con cái của những chủ nhân da trắng. Cả cuộc đời ông là một cuộc tranh đấu cho đến khi ngã gục, để thực hiện ước mơ ấy. Mẹ Tê-rê-xa Can-cút-ta cũng đã có lần ước mơ được lên tới cổng thiên đàng. Nhưng khi thấy thánh Phê-tô không cho những người khốn khổ cùng được vào thiên đàng, thì mẹ đã trở lại trần gian để tranh đấu cho tới khi nào những người cùng khổ cũng được vào thiên đàng.

Đâu là ước mơ của chúng ta ? Đâu là động lực khiến chúng ta tiêu hao tất cả cuộc sống ? Đâu là lẽ sống của đời chúng ta ? Đó là một cuộc sống đúng danh nghĩa người Ki-tô. Đó là hạnh phúc nước trời. Đây chính là ước mơ, là động lực, là lẽ sống của đời chúng ta.

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP.

-----------------------------------

 

TN 1-C58:  KITÔ HỮU ĐÍCH THỰC


Lm.  Giuse Đinh lập Liễm

 

Trước khi bước vào đời sống công khai đi rao giảng Tin mừng cứu độ, Chúa Giêsu đến xin: TN 1-C58


Trước khi bước vào đời sống công khai đi rao giảng Tin mừng cứu độ, Chúa Giêsu đến xin ông Gioan Tẩy giả làm phép rửa cho mình tại sông Giorđan. Ngài hòa nhập với dòng người đến nhận phép rửa, không phải để xin ơn tha tội vì Ngài là Đấng trong sạch vô cùng, nhưng Ngài nêu gương khiêm hạ cho mọi người; đồng thời thánh hóa nước để thanh tẩy trong phép Rửa tội mà Ngài sẽ thiết lập.

 Sau khi được kéo ra khỏi nước và đang khi cầu nguyện, Chúa Giêsu thấy” trời mở ra và Thánh Thần hiện hình giống như chim bồ câu ngự xuống trên Người. Lại có tiếng từ trời phán rằng:”Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con”(Lc 3,21-22). Đấy là lời Chúa Cha tuyên phong Đức Giêsu là  Đấng Messia để ra đi rao giảng Tin mừng cứu độ. Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Rửa tội để tha tội cho chúng ta. Mọi người đã được chịu phép Rửa tội đều được gọi là Kitô hữu, một danh hiệu vô cùng cao quí. Vì thế, mỗi Kitô hữu phải sống cho xứng với  hồng ân được mang danh Chúa Kitô, được sát nhập vào Chúa Kitô. Mọi người phải lo chu toàn sứ vụ của mình đối với gia đình, đối với xã hội, đối với Giáo hội và đối với mọi người, để đời sống của chúng ta phải được ca ngợi là chứng nhân trung thành của Chúa, có một đời sống “nội thánh ngoại vương”.

I. CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA

1. Phép rửa tại sông Giorđan

Chúng ta đang ở bên bờ sông Giorđan, nơi Gioan Tẩy giả rao giảng, kêu gọi mọi người sám hối, nhận phép rửa để được ơn tha thứ. Thế nhưng, chúng ta thấy rằng điều quan trọng không phải chỉ nhằm ở việc ông Gioan rao giảng, mọi người tuốn đến lãnh nhận phép rửa,… mà đó còn xẩy ra một sự kiện hết sức trọng đại: Chúa Giêsu cùng với bao nhiêu người khác đi vào dòng sông Giorđan để lãnh nhận phép rửa từ tay ông Gioan.

 Sự kiện Chúa Giêsu chịu phép rửa không chỉ là bước khởi đầu cho sứ vụ rao giảng Tin mừng mà Chúa sẽ thực hiện sau này; biến cố chịu phép rửa cũng không chỉ là việc Chúa Giêsu được Gioan Tẩy giả giới thiệu mà đó còn là một sự kiện xuất phát từ chính Thiên Chúa được minh chứng bằng những việc lạ lùng như việc trời mở ra và việc Thánh Thần dưới hình chim bồ câu ngự trên Người cùng với lời tuyên phong của Chúa Cha.

Đời sống công khai của Chúa Giêsu bắt đầu bằng việc Người chịu phép rửa (Lc 3,21). Mặc dầu phép rửa mà Chúa lãnh nhận không phải là bí tích rửa tội, nghĩa là không để được tha tội vì Người không có tội, phép rửa đó cũng đánh dấu quyết liệt trong đời sống của Người. Phép rửa đánh dấu cái sứ mệnh công khai của Người trong việc rao giảng và chữa lành.  Người chịu phép rửa để thánh hóa nước để trở thành chất thể trong bí tích rửa tội do Người thiết lập.

 2. Chúa Giêsu được tấn phong

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay gợi lên ý tưởng một cuộc lễ phong vương.  Ngày xưa khi một vị hoàng vương được tôn lên làm vua thì họ phải trải qua một cuộc phong vương gồm ba sự việc:

Phải tắm rửa sạch sẽ.
Phải được xức dầu.
Phải được tôn phong làm vua.

Hôm nay khi sắp ra giảng đạo để thi hành sứ mệnh Thiên Sai, Chúa Giêsu cũng được tấn phong làm vua qua ba nghi lễ như sau:

Trước tiên Người chịu phép rửa của Gioan dưới sống Giorđan như một dấu ăn năn sám hối, mặc dầu Người là con chiên trong sạch.

Sau đó, “Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người”(Cv 10,38b; Is 61,1), để trở nên Đấng Thiên Sai:”Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỉ kiềm chế”(Cv 10,38c).

Cuối cùng, Người đã được Chúa Cha công nhận là Vua Cứu Thế và là Con Thiên Chúa, như Tin mừng Luca viết:”Khi Người cầu nguyện thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng:”Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con”(Lc 3,22).

 3. Dấu chỉ Bí tích Rửa tội.

Câu hỏi tại sao Chúa Giêsu lại chịu phép rửa ? Các thánh sử đưa ra nhiều khía cạnh như Matthêu (3,14-15), Luca (3,21) hay Gioan (1,31-34). Các thánh giáo phụ còn đưa ra nhiều lý do khác, ví dụ  Chúa chạm đến nước để thánh hóa nước  và làm cho nước được thần lực tẩy xóa tội lỗi trong Bí tích Rửa tội…

 Chúa Giêsu xin đến rửa, không phải là cho mình, mà là cho người khác, vì người khác. Người chịu phép rửa là có ý nói lên: từ nay, Người chung số phận với người tội lỗi và đó là tất cả ý nghĩa đời Người, và cuộc đời này chỉ hoàn tất với Phép Rửa cuối cùng, của sự chết (Lc 12,50) vì chết là cùng chung số phận của con người tội lỗi, con người bị sa ngã và là số phận bi đát nhất, tệ hại nhất.

 Chúa Giêsu đến với ông Gioan để lãnh nhận phép rửa, nhưng chính ông Gioan đã khẳng định ông chỉ làm phép rửa bằng nước, còn Chúa Giêsu là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.  Chúa Giêsu đã khai mở bí tích Rửa tội cho những kẻ theo Người bằng việc đích thân Người xin lãnh phép rửa từ Gioan. Chúa Giêsu muốn chúng ta có sự tiếp nối giữa Giao ước cũ và Giao ước mới, tiếp nối giữa lời rao giảng của vị tiên tri cuối cùng cao đẹp hơn tất cả các vị trước  với lời rao giảng của chính Người để thiết lập Nước Thiên Chúa. Tuy nhiên, lễ rửa này Người đã biến đổi để có thể thực sự khai mào cho Bí tích Rửa tội.

II. HIỆU QUẢ CỦA BÍ TÍCH RỬA TỘI.

Khi Chúa Giêsu để cho Gioan dìm mình trong nước không phải là để thanh tẩy Người vì Người không vương tội lỗi, Người muốn nói lên một ý nghĩa khác, đó là loan báo cái chết và sự phục sinh của Người: dìm mình xuống nước là biểu hiệu cái chết, trồi lên khỏi nước là loan báo sự sống lại.

 Khi chúng ta nhận lãnh bí tích Rửa tội, Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta  tham dự vào sự chết và sống lại của Người.  Chúng ta vào đời khi được sinh ra, và vào đạo Thiên Chúa khi được rửa tội.  Trong phép rửa tội chúng ta được thanh tẩy mọi tội lỗi, tội tổ tông và tội riêng.  Do đó, nó biến chúng ta thành “một tạo vật mới” (2Cr 5,17), một nghĩa tử của Thiên Chúa (Gl 4,5-7), được thông phần vào sự sống thần linh (2Pr 1,4), trở nên chi thể của Chúa Kitô (Rm 8,17) và được gọi là đền thờ của Chúa Thánh Thần (1Cr 6,15).

 Đó chính là ơn siêu nhiên, “ơn thánh hóa”, “ơn sủng của sự công chính hóa” mang lại các nhân đức đối thần và luân lý, cùng các hồng ân của Chúa Thánh Thần. Tóm lại, “toàn bộ cơ thể của sự sống siêu nhiên của người Kitô hữu bắt nguồn nơi bí tích Rửa tội (Giáo lý Công giáo, số 1266).

 Ngày được chịu phép rửa tội là một ngày trọng đại, ngày đáng ghi nhớ của chúng ta. Đức Giáo hoàng Piô XI đã nói với hàng ngàn thanh niên nhân ngày kỷ niệm rửa tội của Ngài:”Ngày chịu phép rửa tội  là ngày cao quí nhất của đời Cha. Cũng như ngày các con chịu phép rửa tội là ngày cao quí nhất của đời các con”.

 Chúng ta đã được chịu  phép rửa tội, một hồng ân cao quí Chúa đã ban cho chúng ta. Chúng ta cũng nên có một vài cảm nghĩ về phép Rửa tội.

 Phép rửa không chỉ được ban một lần khi chúng ta được mang đến giếng Rửa tội trong nhà thờ. Chúng ta được rửa bởi tất cả các biến cố xẩy ra trong đời:

Chúng ta được rửa bởi những cực nhọc, khó khăn: đó là những dòng nước biến động thanh luyện chúng ta  khỏi những gì gian trá và vô dụng.

Chúng ta được rửa bởi những đau khổ, buồn rầu: đó là những dòng nước u ám nhưng chỉ có khả năng giúp ta lớn lên trong đức khiêm tốn và cảm thông.

Chúng ta được rửa bởi niềm vui: đó là dòng nước róc rách khiến ta cảm nghiệm được vị ngọt của cuộc đời.

Chúng ta được rửa bởi tình yêu: đó là dòng nước ấm áp làm cho đời ta tươi nở như hoa  dưới ánh nắng mặt trời.

Phép rửa là một hạt giống, cần phải nảy mầm trong suốt cả đời sống. (Lm Carôlô, Sợi chỉ đỏ, năm C, tr 119)

 III. KITÔ HỮU, NGƯỜI LÀ AI ?

Tất cả những người chịu phép rửa tội đều được gọi là Kitô hữu, một danh hiệu cao quí mà chính thánh Phaolô đã gọi  lần đầu tiên ở Antiochia:”Barnabê và Saulê đến thành Antiochia. Hai người gặp dân chúng trong nguyện đường và dạy dỗ nhiều người. Chính ở Antiochia lần đầu tiên, những tín hữu được gọi là Kitô hữu”(Cv 11,26)

 Nhờ phép rửa tội, chúng ta được mang tước hiệu là Kitô hữu. Kitô hữu là người có Đức Kitô, được mang danh Chúa Kitô. Kitô hữu là một Kitô khác (Alter Christus). Mỗi Kitô hữu là một nối dài của chính Đức Kitô. Đó là tước hiệu cao cả của chúng ta. Tước hiệu ấy không chỉ sáng ngời trong những  dịp lễ lạc, hội hè mà phải luôn chiếu tỏa từng giây phút của cuộc sống.

 Truyện: Kitô là gì ?

Sau đệ nhị thế chiến, tại một vùng mỏ than bên Anh, người ta hỏi tụi con nít:

          - Kitô là gì ?

Chúng trả lời:

          - Là một tiếng chửi thề.

Điều tra ra mới biết người lớn ở vùng này dùng từ Kitô để chửi thề.

 Ở Việt nam, trước giải phóng, có một hãng bột giặt lấy tên Kitô mà đặt cho một loại sản phẩm của họ, cũng như một hãng mì ăn liền lấy tên Phật Tổ để đặt tên cho  mì chay họ sản xuất  Vậy mà người Công giáo lẫn Phật giáo chẳng  thấy ai phản đối. Trong khi đó, ở Pháp, hồi cuối thập niên 50, hãng phô-mai sản xuất loại “con bò cười”,  trước tiên gọi nó là “con bò cầu nguyện” (La vache qui prie), đã bị các Kitô hữu kiện, vì đã nhạo báng tôn giáo.(Thiện Cẩm, Trái chín đầu mùa, tr 13)

 Kitô hữu phải là người mặc lấy Chúa Kitô, trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài như thánh Phaolô đã khuyên nhủ tín hữu Rôma:”Anh em hãy mặc lấy Chúa Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng”(Rm 13,14). Mặc lấy Chúa Kitô  là trở nên chính Chúa Kitô để có thể nói:”Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, mà chính Chúa Kitô sống trong tôi”(Gl 2,20).

 Một người đàn bà quan sát người ta  phân phát quần áo cũ cho người lang thang ngoài đướng phố. Thình lình một ý tưởng đến với bà: Nếu mang áo quần của người khác, gầy dép của người khác, thì mình sẽ như thế nào ? Và từ đó bà khám phá ra ý nghĩa của Kitô giáo.  Kitô hữu là người mang giầy của người khác: giầy của Chúa Kitô. Họ đi đến nơi mà Chúa Giêsu muốn đến và làm những gì Ngài muốn thực hiện.  Và đó cũng là ý nghĩa của việc muốn trở thành Chúa Giêsu trong thế giới ngày nay.

 Khi mang giầy của Chúa Giêsu, tôi cảm thấy dễ chịu đến mức độ nào ? Và đôi giầy làm tôi khó chịu ở chỗ nào ? Mỗi đặc tính  đều có một động lực bên trong. Xin hãy để cho Chúa Kitô là động lực đó. Mỗi hành động đều có một ý nghĩa chính. Xin hãy để cho Đức Kitô là ý nghĩa chính đó (Henry Drummond).

 Định nghĩa trên nghe cũng hay hay. Dùng những từ như: việc mặc lấy, mang lấy giầy của Chúa Kitô, để diễn tả phần nào thực thể  người Kitô là ai, việc dùng từ như vậy, không diễn đạt hết thực thể của người Kitô. Người Kitô không phải chỉ là  là kẻ mang giầy của Chúa mà phải là chính Chúa Kitô, Ngài như thế nào, chúng ta phải như thể ấy.

Khi nói về Kitô hữu, sử gia Tertullianô viết: “Những người tin theo Chúa được mệnh danh là Kitô hữu. Kitô hữu (Christianus) nghĩa là thuộc về Chúa Kitô, nên họ đã và phải có một tâm tình như Chúa Kitô. Họ không sợ chết. Họ không sợ hình khổ. Họ không sợ bách hại, bởi vì họ đã đi cùng một đường với Chúa.

 Câu:”Kẻ muốn theo Ta thì phải từ bỏ mình đi, vác thập giá mình mà theo” đã thấm nhập vào tâm hồn họ, nên mỗi khi phải đau khổ, cũng như bị bách hại, cũng như bị cấm cách, câu nói ấy lại đến với họ như chính Đấng hiện hình. Hèn gì mà trên tín trường họ coi gươm giáo như hoa hồng, coi lý hình như bạn hữu. Họ chỉ sợ một Thiên Chúa – Đấng sẽ phán xét họ, nếu họ đi trệch đường” .

 IV. SỨ VỤ NGƯỜI KITÔ HỮU.

Ngày Chúa Giêsu chịu phép rửa là ngày Ngài được tôn phong để đi rao giảng Tin mừng cứu độ. Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa làm người, là Đấng Thiên Sai, mà dân tộc Israel hàng ngàn năm mong đợi.

 Đức Giêsu đã sinh ra trong trần gian với sứ mạng làm Đấng Messia mang ơn cứu độ đến cho mọi người. Ngài đã chu toàn sứ mạng ấy một cách tuyệt hảo. Mỗi người chúng ta cũng có một sứ mạng. Vậy mỗi người hãy tự hỏi:”Sứ mạng của tôi là gì đối với gia đình, đối với xã hội, đối với Giáo hội và đối với những anh em không cùng tín ngưỡng” ?

Chiêm ngắm Đức Giêsu chịu phép rửa không thể không nhắc nhở chúng ta  nhớ đến sứ vụ của người Kitô hữu. Nhờ Bí tích Rửa tội chúng ta được nhận làm con Thiên Chúa, được hưởng gia tài vĩnh cửu của Thiên Chúa và nhất là cùng được sai đi  đến với mọi người.  Không việc làm gì cụ thể khác hơn là chúng ta học theo mẫu gương của Đức Giêsu và thực thi sứ mạng rao giảng Tin mừng, để nối tiếp công việc của Ngài.

 Là con cái Thiên Chúa quả là một hạnh phúc lớn lao mà Thiên Chúa ban cho mỗi người. Nhưng chúng ta phải làm gì để Chúa Cha được hài lòng ? Nếu Bí tích Rửa tội được cử hành cần đến nước thì cuộc sống người Kitô hữu cũng cần được gội rửa trong nước để trở nên thanh sạch và bắt đầu cuộc sống mới, trở nên con người  mới thuộc hoàn toàn về Thiên Chúa. Muốn được như vậy mọi suy nghĩ, lời nói, và hành động của chúng ta  phải phù hợp với thánh ý của Thiên Chúa, hơn là ý riêng của mình, và hãy để cho Chúa Thánh Thần dẫn dắt như Đức Giêsu.

 Truyện: Nội ngoại đồng nhất.

Có hai người bộ hành đi đường xa mệt nhọc, đêm đến phải vào ngủ trong một cái miếu nổi tiếng  là có ma quái. Một người là Kitô hữu tin tưởng vào sự che chở của Chúa nên không chút sợ hãi.  Trái lại, người bộ hành không phải Kitô hữu lại cảm thấy lo sợ, nên đã đề nghị với người bạn cho mình mượn Thánh giá đeo cổ.

Quả thực, đêm đó yêu tinh xuất hiện, nó lần mò đến từng người, sờ vào cổ người Kitô để sát hại. Con yêu tinh mới thốt lên:”Người này có trong mà không có ngoài”, nghĩa là người này là Kitô đích thực, dù không đeo một dấu hiệu nào.

Sang người bộ hành kia, con yêu tinh chạm đến Thánh giá trên cổ người ấy mà nói:”Người này có ngoài mà không có trong”, nghĩa là người này tuy mang Thánh giá, nhưng không phải là Kitô hữu đích thực.

Chúng ta là những Kitô hữu. Chúng ta thi hành các bổn phận đạo đức, chúng ta mang trên mình nhiều hình ảnh của Chúa và Đức Mẹ, nhưng liệu tâm hồn chúng ta  có đích thực là tâm hồn Kitô hữu không ? Hay có lẽ chúng ta  chỉ có cái bên ngoài hào nhoáng của thời trang, mà bên trong lại trống rỗng  (Mỗi ngày một tin vui, tr 119).

 Chúng ta thường gọi vua Đavít là thánh vương. Người Á đông cũng gọi các vua đạo đức thánh thiện là “thánh vương” như vua Văn, vua Vu thời xưa. Người ta lấy câu nói của Vương Dương Minh làm châm ngôn cuộc sống của các vị ấy:”Nội thánh, ngoại vương”, bên trong là vị thánh, bên ngoài là một ông vua.

 Người Kitô hữu được tham dự vào chức tư tế vương giả của Đức Kitô, và cung cách vương giả của Đức Kitô chính là lòng quảng đại, biểu hiệu một tâm hồn luôn liên kết với Thiên Chúa Tình yêu. Ước gì mọi tư tưởng, mọi hành động của chúng ta đều là một thể hiện của niễm tin sâu xa của đời sống đạo đích thực, chân thành và không giả dối.

Lm.  Giuse Đinh lập Liễm

-----------------------------------

 

TN 1-C59: CUỘC GẶP GỠ LỊCH SỬ


Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 

Ở đời, khi người ta dựng vợ gã chồng cho con cái thường chọn nơi môn đăng hộ đối; khi chọn bạn: TN 1-C59

Ở đời, khi người ta dựng vợ gã chồ
ng cho con cái thường chọn nơi môn đăng hộ đối; khi chọn bạn mà chơi thì cũng chọn người hiền. Bình thường ai cũng chọn cái tốt cái hay. Không ai lại chọn cái xấu cái dở bao giờ.Thiên Chúa là Đấng Thánh. Nếu Người vào đời mà liên đới với những bậc Thánh Hiền, với những Người Công Chính thì chẳng ai phản đối. Nhưng không, Chúa Giêsu đã gắn bó thân phận mình với loài người tội lỗi.Trước khi bắt đầu công cuộc rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu đã làm một cử chỉ thật lạ lùng là Người tới bên bờ sông Giođan và xin Gioan làm phép rửa cho mình.

Đây là sự hạ mình sâu thẳm của Đấng Thánh và là một cuộc gặp gỡ lịch sử Cưụ ước - Tân ước. Biến cố không chỉ loan báo trước cuộc khổ nạn của Đức Giêsu mà còn loan báo về sự phục sinh vinh quang của Người.

1. Khiêm hạ thẳm sâu

Nếu đem so sánh với sông Cửu Long mênh mang thuyền qua lại thì dòng nước Giođan nơi Gioan làm phép rửa cho Đức Giêsu có thể gọi là con kênh nhỏ. Nếu đặt bên cạnh sông Hồng cuồn cuộn xiết chảy thì dòng Giođan chỉ là con lạch. Nếu đứng kề bên sông Hương thơ mộng lững lờ trôi thì Giođan chỉ là con suối nhỏ. Đứng bên bờ này sông Giođan ném hòn đá qua bờ kia, nó có thể đi xa hơn.

Thế mà Đức Giêsu đã chọn dòng nước bé nhỏ này, không phải như Môisen hay Giôsua giơ tay cho dòng nước rẽ đôi, nhưng để dìm mình xuống dòng nước nhỏ cùng với đoàn chịu phép rửa của Gioan Tẩy Giả.

Thiên Chúa, Đấng cho Cửu long giang tuôn chảy tưới mát đồng bằng miền Nam; Đấng cho sông Hồng tuôn nước lũ bồi đắp phù sa cho đồng bằng miền Bắc; Đấng cho Hương giang lững lờ lãng mạng gợi hồn thơ đã chọn dìm mình vào dòng nước Giođan bé nhỏ.

Trong các dòng sông nổi tiếng khắp thế giới thì Giođan bé nhỏ là dòng sông quen thuộc nhất đối với người Kitô hữu. Dòng sông ấy gắn liền với những sự kiện quan trọng của Thánh Kinh.

Như một thân thể của xứ Palestine, sông Giođan góp phần quan trọng trong lịch sử Israel ngay từ những ngày đầu Chúa chọn dân Do thái. Từ Giođan chuyển từ tiếng Do thái, hayyarden, có nghĩa “chảy xuôi dòng thời gian”. Bắt nguồn từ Syria, do ba phụ lưu hợp thành. Sông dài 300km, rất nhiều chỗ cạn, nhiều chỗ uốn khúc, chảy qua biển hồ Galilê và cuối cùng đổ vào Biển Chết. Lòng sông rất dốc, thượng lưu ở độ cao 45 mét, đến cửa sông là 390 mét với mặt nước biển, lưu vực 93 mét khối/s. Mặc dù là con sông rộng nhất của Palestin, sông Jordan khác với những con sông của nhiều nước ở chỗ: Khúc sông từ Biển Hồ Galilê đến Biển Chết có đến 27 ghềnh thác khó lưu thông, lắm chỗ nước chảy qua tạo thành những thung lũng như đầm lầy, nhiều nơi có thú dữ, cây cối hai bên dòng sông mọc tươi tốt, không có thành phố lớn nào được thành lập dọc theo dòng sông. Kinh Thánh nói nhiều đến dòng sông này, khởi đầu là việc liên hệ giữa Abraham và ông Lot ở sông Giođan (St 13,10). Giacob từ Kharan trở về đã vượt qua sông Giođan, các chi tộc vượt sông Giođan cách kỳ diệu dưới sự hướng dân của Giosuê (Gs 3,14-17). Con sông là ranh giới vì dân du mục vượt qua sông vào Cannaan để cướp bóc. Người Israel tìm nơi nương náu bên kia tản ngạn sông Jordan (Tl 6,33; 2Sm 17,22) và được xem như sự che chở: “Trong bụi rậm sông Jordan...” (Gr 12:5; 49:19; 50:44) qua Naaman nước Aran nghe lời ngôn sứ Êliđeo xuống sông tắm 7 lần nên được khỏi bệnh phong hủi (2V 5,1-19). Ngôn sứ Êdêkiel (chương 47) diễn tả sức sống sung túc của sông Giođan, nước sông chảy đến đâu thì trao ban sự sống đến đó.

Chính tại dòng sông Giođan bé nhỏ, Đức Giêsu đã đến khai mạc sứ vụ công khai bằng cách đón nhận phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả.

Thật lạ lùng, trong số những người đến “xưng thú tội lỗi” (Mc1,5) và chịu “ phép rửa sám hối để đước ơn tha tội” (Mc 1,4) lại có Đức Giêsu. Ngài là Đấng Thánh, là Thiên Chúa, siêu việt tuyệt đối, tại sao lại đến xin Gioan làm phép rửa sám hối ? Ngài là Đấng mà Gioan “không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Ngài” sao lại có thể đứng chung với đám đông người tội lỗi chờ đến lượt mình để được chịu thanh tẩy?

Trong đêm Giáng sinh chúng ta đã chứng kiến một Thiên Chúa hạ mình xuống làm người, sinh ra nơi hang đá máng cỏ, làm một người nghèo hèn bé nhỏ, dường như chưa đủ đối với tình yêu thương vô biên của Thiên Chúa. Hôm nay, Người lại hạ mình xuống thêm một bậc nữa, xuống tận cùng xã hội nhân loại khi đến xin Gioan làm phép rửa cho mình như một người dân tầm thường và tội lỗi. Và đã xuống bậc tận cùng khi Chúa hạ mình thẳm sâu chấp nhận chết trên thập giá vì yêu nhân loại.

Biết nói gì về Người bây giờ nếu không phải là cúi đầu cảm phục và tôn thờ sự khiêm hạ thẳm sâu đó của con Thiên Chúa làm người !

2. Cuộc gặp gỡ lịch sử

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Gioan là lúc Tân - Cựu ước giao duyên, là lễ bàn giao giữa hai niên đại cũ và mới mà Chúa Giêsu và Gioan là đại biểu. Gioan, ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước gặp gỡ trao đổi bàn giao với Đức Kitô,vị ngôn sứ của thời kỳ mới.

Cuộc gặp gỡ này không phải là một cuộc tranh cãi dành ưu thế, nhưng thật thú vị tuyệt vời khi cả hai đại biểu đều khiêm nhường đón nhận nhau trong sứ vụ. Đức Giêsu từ tốn bước xuống dòng nước Giođan và xin Gioan làm phép rửa cho mình.Gioan hân hạnh xin Đức Giêsu rửa cho mình vì ông nhìn thấy đây mới chính là nhân vật ban phép rửa trong Thánh Thần như ông đã loan báo.

Nơi cuộc gặp gỡ lịch sử này,Thiên Chúa đã xuất hiện và chứng nhận. Lúc ấy các tầng trời mơ ra, Thánh Thần đáp xuống như chim bồ câu và có tiếng Chúa Cha tuyên phán: Con là Con Ta yêu dấu. Ba Ngôi Thiên Chúa tỏ hiện vào chính lúc lịch sử của hai niên đại mới và cũ chuyển giao.Từ nay Đức Giêsu sẽ lên đường vào sứ vụ mới với niềm hy vọng mọi sự sẽ tốt đẹp theo thánh ý Chúa Cha.

Cuộc gặp gỡ giữa hai Đấng tại sông Giođan đã làm nên lịch sử và đã được Giáo hội chọn làm khởi điểm cho mùa thường niên là mùa phụng vụ cử hành các mầu nhiệm cuộc đời rao giảng tin mừng của Chúa Giêsu.

Biến cố này không chỉ là cuộc bàn giao cũ mới mà còn là điểm giao duyên giữa trời và đất, giữa Thần khí và nước, giữa Tân ước và Cựu ước.Từ nay nhân loại được tái sinh trong đời sống mới. Qua Bí tích Rửa tội của Chúa Giêsu, chúng ta nhận đước ấn tín của Chúa Thánh Thần, trở nên con cái Thiên Chúa.

3. Hãy nhớ mình đã đuợc Thanh Tẩy

Chúa Giêsu chịu phép rửa của Gioan là một sự hạ mình sâu thẳm, một sự khiêm nhường cao cả đã làm cho cửa trời mở ra, ân sủng tuôn đổ, ơn cứu độ được trao ban và lan truyền. Mỗi người Kitô hữu qua bí tích rửa tội, được thần linh ngự xuống, được nghe tiếng Chúa Cha vang dội: này là con yêu dấu của Ta, Ta đặt trọn vẹn yêu thương trên con. Tâm hồn mỗi người trở nên Đền Thờ Ba Ngôi Thiên Chúa.

Ngày lễ hôm nay mời gọi chúng ta hãy ý thức tới ân huệ cao trọng mà Chúa Giêsu đã đem lại cho chúng ta nhờ Phép rửa của Người. Phép Rửa tội là cửa đưa chúng ta vào sự sống mới, vào Nước trời. Đó là bí tích đầu tiên của luật mới. Đó cũng là bí tích Chúa đã trao lại cho Giáo hội cùng với Tin mừng khi Người truyền cho các Tông đồ: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” ( Mt 28,19). Vì thế, Thánh Tẩy là bí tích của đức tin, làm cho loài người được tham dự vào bản tính Thiên Chúa và được ơn làm nghĩa tử, khởi đầu cuộc sống mới trong Đức Kiô. Do vậy, trong nghi thức tiếp nhận, Giáo hội luôn hỏi người dự tòng: “Con xin gì cùng Hội Thánh ?”. “Thưa, con xin đức tin”. “Đức tin mang lại điều gì cho con ? ”. “ Thưa, sự sống đời đời”. Và trước khi nhận bí tích Thánh Tẩy, người dự tòng xác nhận công khai từ bỏ tội lỗi và tuyên xưng đức tin trước mặt cộng đoàn.

Người Kitô hữu được thánh hiến cho Thiên Chúa, đi vào đời sống hiệp thông với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần qua bí tích rửa tội. Ý thức ân huệ cao trọng này để mỗi người chúng ta xây dựng đền thờ tâm hồn mình xứng đáng cho Ba Ngôi Thiên Chúa ngự trị bằng một đời sống công chính, đạo đức, trong sạch. Ước mong mỗi tín hữu chúng ta luôn nhớ mình đã được xức dầu, được mặc áo trắng tinh tuyền, được trao nến sáng Phục sinh, được thanh tẩy trong nước và Thánh Thần để sống xứng đáng mỗi ngày với ân huệ đã lãnh nhận.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

-----------------------------------

 

TN 1-C60: SỐNG HÂN HOAN THÁNH THIỆN LÀ TRI ÂN THIÊN CHÚA


Jos. Tú Nạc, NMS

 

Đọc đoạn trích từ Isaiah mà không nghe những âm hưởng của một Messiah-Handel (Handel: TN 1-C60


Đọc đoạn trích từ Isaiah mà không nghe những âm hưởng của một Messiah-Handel (Handel, George Fideric, 1685 – 1759, nhà soạn nhạc người Anh, sinh ở Đức) thì quả là khó. Những vần thơ trác tuyệt này từ “đoản khúc vỗ về” của Isaiah buông xuống lời chào mừng thính giác. Sự khổ đau đã trải qua và kết thúc. Tất cả những cấm đoán đã chìm vào quá khứ. Ở đây không có “đổ máu và hăm dọa” từ Thiên Chúa, chỉ có những lời dịu dàng êm ái và hình ảnh của đám mục đồng tụ tập chăm sóc đàn cừu. Thiên Chúa không quên họ và không quay lưng lại với họ.

Nhưng có một thử thách. Có thể uy quyền và sự thưởng phạt gợi ý rằng một lần nữa người bênh vực quyền lợi của Israel chống lại kẻ thù của họ. Nhưng trong tương lai sẽ giành rất ít chiến thắng áp đảo và Israel bị đánh tơi bời khắp nơi bởi những sức mạnh siêu cường tham chiến chẳng hạn như Ba tư, Hy Lạp và cuối cùng là những người La Mã. Sự vỗ về an ủi của Thiên Chúa là ý nghĩa hồi sinh một dân tộc chứ không phải một thực thể chính trị. Có lẽ dòng dài nhất trong đoạn trích là lời yêu cầu Israel (dưới cái tên Zion và Jerusalem) hành động như một người đưa tin mang đi tin tức tốt lành. Và chúng ta có thể sử dụng một số tin lành vì nó đôi khi có thể như nguồn cung cấp tóm lược. Nhưng những tin lành ấy ở đây là một điều gì đó đơn thuần và uyên thâm: nơi đây là Thiên Chúa của các bạn!

Trong một thế giới mà niềm tin nơi Thiên Chúa đối với nhiều người khó vươn cao, món quà vô giá mà chúng ta có thể cho đi là tuyên xưng Thiên Chúa trong một chừng mực nào đó khả tín, an ủi, hân hoan. Việc tuyên xưng Thiên Chúa trong thời đại của chính chúng ta phải vượt lên trên những gì là phương châm và xảo ngôn. Nó không được phép phân chia và chối bỏ hoặc thực hiện bạo lực bằng bất cứ cách nào, mà phải đưa ra hy vọng, khuyến khích và mục đích ý nghĩa. Đó là sứ mệnh của Chúa Giê-su và nó đã gây ra những cuộc bút chiến, tranh luận và những mối bất đồng cuối cùng dẫn đến cái chết của Người. Nhưng việc tuyên xưng đó hôm nay ít gây tranh cãi, bất đồng.

Cái thiện và lòng nhân từ bác ái tiềm ẩn kết quả mang danh vì Chúa Giê-su, sự biểu lộ tuyệt đối ân sủng của Thiên Chúa là ai. Cuộc đời, cái chết và sự sống lại của Người là để tất cả có thể lãnh nhận ơn cứu độ. Tốt hơn hết, sự cứu rỗi mà Người mang đến cho chúng ta là điều gì đó mà chúng ta thụ hưởng hoặc để mà chúng ta có quyền thế. Nếu nó là như vậy, chúng ta chắc chắn sẽ trở nên kiêu căng, ích kỷ với thái độ của chúng ta có thể khinh thường những ai mà ngỡ rằng những người đó hèn mọn tâm hồn. Nhưng đó là món quà và phải được chấp nhận vì như thế bằng một sự thú nhận khiêm nhường của sự yếu đuối và lỗi lầm để sống theo như hình ảnh của Thiên Chúa mà chúng ta được tạo dựng. Đây không phải là ngõ tắt lối rẽ bởi bất kỳ ý nghĩa nào vì Chúa giê-su dạy chúng ta một đường lối thích hợp để sống một cuộc sống thánh thiện. Một cuộc sống hoàn toàn thay đổi là một báo hiệu tốt lành mà chúng ta thực sự đón nhận món quà của Người vào tâm hồn mình và đáp lại hồng ân ấy. Một cuộc sống hân hoan và thánh thiện là cách tốt nhất mà chúng ta có thể gửi đến Thiên Chúa với lòng tri ân. Sự kiện Chúa Giê-su chịu phép rủa từ đôi tay của Gio-an Tẩy giả là cội nguồn của tình trạng hoang mang bối rối và mối quan tâm đối với những Ki-tô hữu đầu tiên. Phép rửa của Thánh Gio-an là một trong những ăn năn hối cải. Chúa Giê-su cần gì để trở nên vô tội, đã chịu phép rửa như vậy? Mỗi trong bốn tác giả viết Phúc âm, mỗi người đã kể câu chuyện này một cách khác nhau trong một nỗ lực để giải thích điều này. Thánh Lu-ca đã che giấu sự việc mà phép rửa đã chạm vào tay của Thánh Gio-an và thậm chí đã phát biểu rằng ông đã bị chặn lại.

Nhưng có một khía cạnh khác đối với phép rửa, chẳng hạn sự kết nạp và soi sáng. Chúa Giê-su đã chia sẻ những trải nghiệm loài người của chúng ta và đối với Người phép rửa là bước ngoặt trong cuộc đời của Người – không quay trở lại sau này. Điều này được thực hiện một cách rõ ràng bởi sự kiện mà Chúa Giê-su cầu nguyện sau khi chịu phép rửa. Một điểm duy nhất được hình thành bởi Thánh Lu-ca. Trong Tim Mừng của Thánh Lu-ca, Chúa Giê-su luôn tìm thấy trong lời cầu nguyện những điểm khắt khe trong cuộc sống của Người. Tiếng nói của Thiên Chúa đã làm bản chất và sứ mệnh của Chúa Giê-su hiển nhiên đối với Người. Từ điểm này hướng tới cái nhìn của Người tập trung vào Jerusalem, thành phố định mệnh của Người. Và Gio-an Tẩy giả đưa ra lời gợi ý nhẹ nhàng ý nhị về điều gì đó thật xa xôi, vì bởi phép rửa của Người, cuộc đời và cái chết của Chúa Giê-su sẽ mở ra quyền năng của Chúa Thánh Thần.

Phép rửa của chính mỗi chúng ta góp phần vào sứ mệnh của Chúa Giê-su và một con đường xa hơn nữa để “được cứu rỗi”. Đó là lời kêu gọi trước tình mộn đệ, phục vụ và sự sống trong mối giao hòa với ý nguyên của Thiên Chúa.

Jos. Tú Nạc, NMS

-----------------------------------

 

TN 1-C61: ĐỪNG SỢ, TÔI ĐANG ĐỨNG BÊN CẠNH BẠN


Lm. Minh Anh (Gp. Huế). 

Các bạn trẻ thân mến, 

 

Khởi  đầu sứ vụ công khai của Đức Giêsu, Tin Mừng hôm nay nói đến câu chuyện một dòng sông,: TN 1-C61


Khởi  đầu sứ vụ công khai của Đức Giêsu, Tin Mừng hôm nay nói đến câu chuyện một dòng sông, dòng sông Jordan, nơi Con Thiên Chúa bước xuống để xin vị tiền hô của mình ban phép rửa.

So với Cửu Long mênh mang thuyền qua lại, Jordan có thể chỉ là một con kênh. Sánh với Hồng Hà cuồn cuộn nước mênh mông, Jordan không hơn không kém một con lạch.  Ví với  Dòng Hương dùng dằng những mộng mơ, Jordan có thể được gọi là con lạch nhỏ. Dòng sông ấy có những chỗ thật hẹp; đứng bên bờ nầy, thậm chí, không mấy khó khăn khi ném một hòn cuội sang bờ bên kia. 

Ấy thế, khởi đầu sứ vụ, Đức Giêsu đã chọn cho mình dòng nước ấy; ở đó, Ngài đã bước xuống.  Ngài không vung gậy ra oai xẻ đôi lòng biển như một Môisen phép tắc, cũng không dũng mãnh như một Giosuê trực chiến Giêricô khiến nước Jordan dựng đứng như bức tường thành. Nhưng như bao người khác, Con Thiên Chúa lặng lẽ sắp hàng đợi đến phiên mình xin được nhận phép Rửa. 

Ôi, Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng cho Cửu Long tưới mát để đồng bằng Nam bộ cò bay thẳng cánh; Đấng cho Hồng Hà bốn mùa phù sa sữa mẹ để delta miền Bắc thêm màu mỡ xanh tươi; Đấng cho Hương Giang như không chảy lãng mạn gọi hồn thơ... lại chọn cho mình một con hói nơi một xứ không tên không tuổi trong một châu lục đông người ít của, nghèo thật nghèo... để chịu phép rửa, đánh dấu những chuỗi ngày thi hành sứ vụ Chúa Cha trao. 

Các bạn có biết, nguyên cái tên gọi Jordan cũng đã nói lên ý nghĩa của nó. Dòng sông Jordan còn có thể được gọi là dòng sông Đi Xuống. Jordan, tiếng Do Thái đọc là yar-dane, nghĩa là đi xuống. Từ rặng Hermon cao ngất (2,814m), ở độ cao 520m, Jordan mải đi xuống những 220 cây số, dừng ở biển hồ Huleh rồi Galilee, cuối cùng đổ ra Biển Chết với độ thấp mặt nước là 394m so với mực biển. Đây hẳn là một trong những chỗ thấp nhất của địa cầu. Con Thiên Chúa khập khễnh lần từng bước xuống dòng nước ấy, chỗ thấp nhất ấy… không chỉ về địa lý không gian nhưng còn thấp cả chiều sâu tâm lý và chiều kích tương quan xã hội.  

Ôi, thẳm sâu thay sự khiêm nhường của Thiên Chúa. Đấng vô tội lại chen vai thích cánh với hạng phàm phu; Đấng ba lần thánh lại lục tục nối đuôi phường tục tử… như để nói với những người đương thời cũng như đang nói với mỗi chúng ta, những con người tội lỗi yếu hèn, “Đừng sợ, bạn ơi, tôi đang đứng bên cạnh bạn!”.  

Ngài không đứng tách riêng hay đặt mình trên những tội nhân, nhưng liên kết với họ. Một sự liên kết tới mức bị coi như một tội nhân, chịu hành xử như một người gây nên tội ác và cuối cùng, lãnh lấy hình án của một tội phạm. Để từ nay, mỗi người chúng ta dù có bất xứng đến đâu, dù có yếu hèn đến mấy vẫn tin chắc, đã có Ngài bên cạnh, luôn cảm thông, luôn tha thứ và biện hộ thay. Mỗi chúng ta có quyền hy vọng vào lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót của một vị Thiên Chúa quyền năng và đời đời yêu thương.  

Rồi cũng từ dòng sông định mệnh ấy, Đức Giêsu Con Thiên Chúa đã bước lên. Trời phải ngẩn ngơ, đất phải bàng hoàng, thần khí Thiên Chúa như chim bồ câu ngự xuống trên Ngài với sự chứng giám của Chúa Cha cũng là Đấng luôn ở bên cạnh Ngài, “Con là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Con!”.  Cũng từ  đó, mỗi người trong nhân loại bất luận ở đấng bậc nào, không thành vấn đề sắc tộc màu da, người Trung hay Nam, hoặc từ miền Bắc xa xôi; cũng không tính đến hiện trạng lành thánh hay tội lỗi đến mức nào... qua phép Rửa, chúng ta nên một trong Đức Giêsu, lãnh nhận cùng một Thánh Thần và đang cùng lắng nghe một tiếng nói, “Con là con yêu dấu của Ta!”. 

Trong Đức Giêsu và qua Ngài, chúng ta, những người con được Thiên Chúa yêu thương cũng hãy ước mong cho nhau học biết lắng nghe những cung giọng nhẹ nhàng nhưng thật mạnh mẽ ấy, “Đừng sợ, bạn ơi, tôi đang đứng bên cạnh bạn! Bạn là con yêu dấu của Chúa Cha!”. Chớ gì những lời nồng ấm ấy hằng vọng ngân trong mọi ngõ ngách của tâm hồn bạn, ngõ ngách của tâm hồn tôi. Ước mong sao trong mọi tình huống cuộc đời, tiếng nói yêu thương ấy vẫn không ngừng tặng trao mỗi người những âm hưởng có sức làm cho sống.  

Nhưng thưa các bạn,  

Hẳn  không dễ gì chúng ta nghe được những lời trìu mến ấy trong một thế giới đầy những tiếng la hét gây thoái chí, “anh thật bình thường, chị không hơn ai”. Những tiếng nói tiêu cực nhưng ầm ĩ và dai dẳng ấy cứ vang đi vọng lại đến mức làm cho một ai đó tin vào chúng cách dễ dàng. Đó là cái bẫy to lớn, cái bẫy tự hạ giá chính mình, và đó cũng là kẻ thù lớn nhất của một đời sống làm con Chúa, bởi lẽ nó đi ngược với tiếng nói thiêng liêng bên trong đang ngỏ với chúng ta ngày mỗi ngày, “Đừng sợ, bạn ơi, tôi đang đứng bên cạnh bạn! Bạn là con yêu dấu của Chúa Cha!”. 

Vậy chớ gì khi mừng kính Chúa Giêsu chịu phép Rửa, mỗi người chúng ta cảm nhận rằng, Ngài đang ở gần chúng ta hơn chúng ta tưởng. Ngài đang ở gần chúng ta khi chúng ta mạnh mẽ, lúc chúng ta yếu đuối; buổi thành công, cũng như hồi thất bại; phút sa ngã cũng như thời đứng lên; những ngày nắng ấm, những chiều giông bão… đã luôn luôn có Ngài bên cạnh, để rồi mỗi người quyết tâm ra khỏi chính mình, ra khỏi những ích kỷ, dứt bỏ những khuynh hướng xấu, đoạn tuyệt với tội lỗi… hầu cất bước tìm về với Ngài. Ngài sẽ băng bó, Ngài sẽ chữa lành, sẽ vác trên vai, sẽ rửa gội thương tích và đem chúng ta về lại trong tình yêu thương của Chúa Cha. 

Vậy mà  bạn có biết, chính khi chúng ta vừa đặt chân xuống dòng nước để tìm lên ngọn nguồn, thì Đức Giêsu, dòng nước cứu độ ấy đã ôm chầm lấy chân chúng ta. Ôi, kỳ diệu thay, tình yêu thương và lòng thương xót từ ái của Thiên Chúa.  

Mỗi lần tham dự Thánh Lễ là mỗi lần chúng ta được diện kiến thánh nhan Ngài, Ngài sẽ đến với chúng ta; với lòng sạch tội, chúng ta đón nhận Ngài, và lòng bên lòng, Ngài lại sẽ thì thầm… thỏ thẻ với linh hồn, “Đừng sợ, bạn ơi, tôi đang đứng bên cạnh bạn! Bạn là con yêu dấu của Chúa Cha!”, Amen. 

Lm. Minh Anh (Gp. Huế). 

-----------------------------------

 

TN 1-C62: ƠN GỌI CAO TRỌNG LÀM CON CÁI CHÚA


Is 42,1-7; Cv 10,34-38; Lc 3,15-22

R. Veritas

 

Châu Á là vùng thường hay có bão lụt. Các trận bão lụt lớn trong các năm qua tại Philippines: TN 1-C62


Châu Á là vùng thường hay có bão lụt. Các trận bão lụt lớn trong các năm qua tại Philippines và Trung Quốc khiến cho hàng chục ngàn người phải thiệt mạng. Hình ảnh các cuộc tàn phá do nước lụt gây ra khiến cho người ta dễ đồng hóa nước với chết chóc và quên rằng nước cũng là nguyên lý của cuộc sống mới, của sự thanh tẩy và tái sinh, bởi vì nước là nguyên lý của sự sống. Sự thật này được Giáo Hội nhắc nhở chúng ta qua các bài đọc lễ hôm nay.

Phép rửa Chúa Giêsu lãnh nhận trong tình liên đới trọn vẹn với loài người chúng ta là hình ảnh bí tích Rửa Tội trao ban cho chúng ta cuộc sống mới, cuộc sống làm con cái Thiên Chúa. Isaia chương 40 loan báo Thiên Chúa giải phóng dân Israel khỏi cảnh sống lưu đày bên Babylon, sau khi thành Giêrusalem bị vua Babylon đánh chiếm và tàn phá thành bình địa năm 587 trước Tây lịch. Dân Israel bị đày sang Babylon, 50 năm sau đó, vua Cyrus cho họ trở về quê cha đất tổ tái lập quốc gia, xây lại thành thánh và đền thờ. Tin vui của cuộc xuất hành thứ hai trong lịch sử Israel ấy được tiên tri Isaia loan báo qua một vài hình ảnh biểu tượng và kiểu cách đặc thù của ông. Sự kiện Thiên Chúa để ý xót thương dân Ngài được diễn tả qua kiểu nói: Hãy nói với con tim của Thành Giêrusalem". Trong ngôn ngữ của Kinh Thánh "nói với con tim" là kiểu nói diễn tả tình yêu thương và mối liên hệ hôn nhân. Thiên Chúa đối xử với dân Israel dân Ngài như một vị hôn phu âu yếm, to nhỏ với hôn thê của mình. Nếu trong cuộc xuất hành đầu tiên Thiên Chúa đã nghe thấy tiếng than khóc của dân Ngài, thì giờ đây, trong cuộc giải phóng thứ hai này, Ngài nghiêng mình xuống trên dân Israel với tất cả lòng dịu hiền, thương mến. "Nói với con tim của Giêrusalem", như thế có nghĩa là Thiên Chúa Tạo Hóa, giờ đây lại mở rộng bàn tay nhân từ ôm ấp lấy Israel với tất cả lòng thương mến.

Hình ảnh thứ hai, tiên tri Isaia dùng diễn tả tin vui giải phóng khỏi kiếp sống lưu đày là hình ảnh sa mạc. Trong cuộc xuất hành thứ nhất, sa mạc Sinai là nơi Thiên Chúa giáo dục, thanh tẩy và chuẩn bị dân Israel bước vào vùng đất Hứa. Giờ đây sa mạc Syria và sa mạc Giuđa, nóng bỏng ban ngày, giá buốt ban đêm cũng không cản ngăn được đôi bàn tay và con tim thương yêu, trìu mến của Giavê Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ biến chúng trở thành các con đường bằng phẳng, rộng rãi thênh thang, tươi vui chào đón người bị đày trở về quê cũ.

Ngoài các hình ảnh kể trên, tiên tri Isaia II còn dùng thứ ngôn ngữ quân sự và ngôn ngữ du mục diễn tả tình yêu thương bao bọc của Thiên Chúa đối với dân Ngài. Thiên Chúa đến với sức mạnh, các chiến lợi phẩm đi trước Ngài và cánh tay vững mạnh của Ngài nắm giữ quyền thống trị. Thiên Chúa của Israel, không phải chỉ với đôi tay tượng trưng cho sự bênh đỡ và che chở, mà cả với con tim biểu tượng cho tình yêu thương hiền dịu và cả với đôi cánh tay tượng ttrưng cho sức mạnh và quyền uy của Ngài nữa. Và Thiên Chúa dẫn dắt dân Ngài như một mục tử chăn dắt đoàn chiên, luôn yêu thương chăm sóc và hiện diện bênh đỡ, không khi nào rời.

Cuộc xuất hành thứ ba trong lịch sử cứu độ được Chúa Giêsu Kitô hiện thực qua bí tích Rửa Tội, là bí tích trao ban ơn giải phóng và cuộc sống ấy cho người tín hữu. Qua phép rửa của Chúa Giêsu (Luca 3), nêu bật một vài biểu hiện thần học quan trọng.

Trước khi dầm mình trong nước để lãnh nhận phép rửa từ tay thánh Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu đã trà trộn giữa đám đông dân chúng giống y như mọi người khác, khiêm tốn và chia sẻ với mọi người nhu cầu sám hối và thanh tẩy. Con đường của Chúa Giêsu đi cũng là con đường của tất cả mọi người. Ðây là nét đặc thù diễn tả sâu đậm các hệ lụy của biến cố nhập thể, Chúa Giêsu trở thành người và sống như mọi người, giữa mọi người.

Lời thánh Gioan Tẩy Giả xác định bản chất của bí tích Rửa Tội mà Chúa Giêsu trao ban cho con người gồm hết mọi lễ nghi thanh tẩy của Cựu Ước, bởi vì Chúa Giêsu sẽ thanh tẩy con người với Chúa Thánh Thần và với lửa. Bí tích Rửa tội mà Chúa Giêsu hiện thực là lửa đốt cháy sự dữ. Nó như lửa luyện lọc và như thuốc giặt thanh tẩy tâm lòng con người như lời tiên tri đã báo trước trong chương 3. Nó như nước tẩy mọi vết nhơ trong tâm hồn con người, trao ban phong phú và sự sống. Và điểm đặc thù nổi bật nhất trong bí tích Rửa Tội Kitô Giáo, là sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, nguyên lý trao ban sự sống thiêng linh của Thiên Chúa cho con người.

Ðiểm thần học thứ ba là thái độ cầu nguyện của Chúa Giêsu trong khi lãnh nhận phép rửa thanh tẩy. Phúc Âm thánh Luca cho thấy Chúa Giêsu là con người cầu nguyện. Ngài cầu nguyện liên lỉ không những trước mọi biến cố quan trọng trong cuộc đời, mà trong mọi lúc cho đến chết. Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ cầu nguyện và dạy các ông nhiều điều liên quan tới lời cầu nguyện, là cách thế Chúa Giêsu sống mối dây liên hệ yêu thương hiệp thông với Thiên Chúa Cha và với Chúa Thánh Thần.

Và sau cùng là biến cố Chúa Giêsu được thánh hiến trong sứ mệnh cứu độ ấy. Nó được diễn tả bằng lược đồ giải thích thị kiến, thường được các soạn giả Kinh Thánh dùng đến để trình bày một chủ ý thần học hay một kinh nghiệm thiêng liêng nội tâm. Thị kiến như tường thuật trong Phúc Âm là một lời giải thích biến cố Chúa Giêsu lãnh phép rửa thanh tẩy. Biến cố này minh chứng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Ngài là hiện thân toàn vẹn của Thiên Chúa. Chính trong khi Chúa Giêsu cầu nguyện, nghĩa là đối thoại thân tình với Thiên Chúa Cha mà Ngài nhận được tràn đầy Chúa Thánh Thần, Ðấng đã hoạt động trong sứ mệnh cứu độ. Sau này, khi các tông đồ tiếp tục sứ mệnh ấy của Chúa Giêsu, các ông cũng sẽ được tràn đầy Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần là ơn đầu tiên mà Chúa Giêsu Phục sinh trao ban cho các môn đệ và cho mọi tín hữu sau này qua bí tích Rửa tội.

Trong thư gởi cho Titô, chương 2,11-14 và chương 3,4-7, thánh Phaolô nhắc lại cho chúng ta biết ơn tái sinh mà Chúa Giêsu Kitô đã trao ban cho chúng ta. Ơn thánh Chúa ban giúp chúng ta tái sinh, nghĩa là có được cuộc sống mới và giúp chúng ta tiếp tục canh tân cuộc sống mỗi ngày. Thánh Phaolô khuyên chúng ta biết sống trọn vẹn ơn gọi Kitô bằng cách từ bỏ gian tà, từ bỏ các đam mê xác thịt thế gian, nghĩa là từ bỏ tất cả những gì khiến cho chúng ta xa Chúa và đánh mất đi cuộc sống mới mà Chúa Kitô đã trao ban cho chúng ta qua bí tích Rửa Tội. Muốn được như thế, cần phải sống thanh đạm và công chính giữa thế giới này và nhất là không bao giờ được quên rằng: Ðích điểm cuộc đời chúng ta là được sống bên Chúa Giêsu Kitô và tham dự vào cuộc sống thiêng linh vĩnh cửu rạng ngời với Ngài.

Lời khuyên trên đây của thánh Phaolô rất là tích cực đối với xã hội chúng ta đang sống hiên nay, là một xã hội bị lôi cuốn vào cơn lốc hưởng thụ và tiêu thụ, một xã hội không còn nghĩ đến công lý nữa và không còn biết chừng mực là gì nữa. Tóm lại, phép rửa của Chúa Giêsu nhắc nhở cho chúng ta ý thức được ơn gọi cao trọng làm con cái Chúa của mình, ơn gọi mà chúng ta đã lãnh nhận ngày chịu phép Rửa tội. Ơn gọi đó đồng thời cũng bao gồm sứ mệnh làm chứng cho Chúa giữa lòng thế giới này. Và chúng ta chỉ có thể hiện thực được nó khi biết cố gắng sống theo mẫu gương của Chúa Giêsu mà thôi.

R. Veritas

-----------------------------------

 

TN 1-C63: TRỜI MỞ RA

 

Các Kitô hữu thời sơ khai thật bối rối trước sự kiện Đức Giêsu lãnh nhận phép rửa của Gioan.: TN 1-C63


Các Kitô hữu thời sơ khai thật bối rối trước sự kiện Đức Giêsu lãnh nhận phép rửa của Gioan. Tại sao Ngài lại đến với Gioan như một môn đệ để chịu phép rửa của ông, nhằm bày tỏ lòng sám hối? Ngài có cần sám hối không nếu thật sự Ngài vô tội?

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay mời gọi chúng ta nhìn ngắm Đức Giêsu bên bờ sông Gio-đan. Ngài đứng chung hàng với người dân để chờ nhận phép rửa trong nước từ tay Gio-an. Ngài đứng trà trộn với những tội nhân để chờ đến phiên mình. Ngài chấp nhận dìm mình xuống cùng một dòng sông với người tội lỗi. Có ai trong đám đông nhận ra Ngài là Chiên Thiên Chúa, là Đấng xóa tội trần gian không? Nếu bạn và tôi cũng ở trong dòng người ấy; cũng đứng chung hàng với Ngài trong ngày hôm ấy, chúng ta có nhìn thấy Ngài không? Có nhận ra Ngài không ?

Đấng thánh thiện lại khiêm nhu đứng xếp hàng bên kẻ tội lỗi. Đấng xóa tội trần gian, lại hòa mình trong đoàn người tội lỗi. Đấng thanh sạch vô biên, lại chịu dìm mình trong dòng sông sám hối. Đấng sẽ làm phép Rửa trong Thánh Thần, nay lại xin được chịu phép rửa sám hối trong nước.

Chiêm ngắm Đấng Cứu Thế cúi mình chịu phép rửa, chúng ta hiểu được thế nào là tình yêu: Một tình yêu vui lòng tự hủy thân phận của mình, để cùng sống chết với người mình yêu, một tình yêu sẵn sàng chia sẻ trọn vẹn, một tình yêu chấp nhận cúi xuống để nâng người mình yêu trỗi dậy.

Nhìn Đấng Cứu Độ cúi mình chịu phép rửa, chúng ta hiểu được thế nào là đồng hành và liên đới. Đồng hành với người khác đòi ta phải đi chậm lại, đòi ta phải có chung một tâm tình, một lối suy nghĩ giống người khác. Liên đới với người khác đòi  buộc ta phải nhỏ bé đi, phải khiêm hạ trong lối sống và cung cách cư xử.

Hôm nay Đức Giêsu đánh dấu cuộc đời công khai của Ngài bằng một hành vi khiêm hạ, dìm mình, mất hút... Bên bờ sông Gio-đan, Ngài chỉ là một kẻ vô danh bên cạnh một Gioan tăm tiếng. Ngài đã cúi xuống, dìm mình trong dòng sông, để nâng con người lên. Ngài tập làm người để hiểu được con người, để chia sẻ thân phận đói nghèo; khổ đau; bệnh hoạn của con người, để cảm nếm nỗi ray rứt khắc khoải của tội nhân, để thấu hiểu niềm khao khát đổi mới trong lòng người tội lỗi.

Sau khi chịu phép rửa, Đức Giêsu cầu nguyện với Thiên Chúa Cha. Ngài muốn gặp gỡ Cha trong tư cách là Con. Chính trong giây phút hiệp thông sâu đậm này mà Ngài cảm thấy được Thánh Thần tràn ngập, và tự thâm tâm, Ngài nghe rõ tiếng của Cha âu yếm gọi Ngài là Con: "Con là Con của Cha. Hôm nay, Cha đã sinh ra Con." Từ hôm nay, Đức Giêsu hiểu rằng: Thời gian ẩn dật ở Nadarét đã kết thúc và giờ lên đường đã điểm. Lên đường để thực thi công trình Cứu Độ, lên đường để làm theo Thánh Ý Thiên Chúa Cha,

Hôm nay, Đức Giêsu đã trải qua một kinh nghiệm tuyệt vời bên bờ sông Gio-đan, nơi Ngài gắn bó với tội nhân, với dân tộc, đã trở thành nơi Ngài gắn bó với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Nơi Ngài đi xuống cũng là nơi Ngài bước lên. Nơi Ngài được sai đến cũng là nơi Ngài đang hiện diện.

Ngày nay, chúng ta đã chịu phép rửa của Đức Giêsu trong Thánh Thần, chúng ta cũng được mời gọi hiệp thông thân mật với Ba Ngôi chí thánh, chúng ta cũng được mời gọi lên đường để phục vụ anh chị em quanh ta, nhất là những anh chị em đang cần một tình yêu chia sẻ, nâng đỡ và trao ban trọn vẹn.

***

Lạy Chúa, trong đôi mắt Chúa con là tất cả… Xin ban cho con đôi mắt của Chúa, để con biết nhìn những người xung quanh con bằng cái nhìn của Chúa, biết đến với anh chị em của con bằng tấm lòng yêu thương, như Chúa đã yêu thương con. Amen

 (Trích trong ‘Manna’)

-----------------------------------

 

TN 1-C64: PHÉP RỬA ĐÒI HỎI PHẢI CÓ MỐI TƯƠNG QUAN GẦN GŨI

VỚI THIÊN CHÚA

 (Trong lễ rữa tội 13 trẻ sơ sinh tại tại nhà nguyện Sistine ngày 11/1/2009)

† ĐGH. Benedict XVI

 

Chúng ta có thể nói, Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa giới thiệu chúng ta về sự gần gũi hàng ngày: TN 1-C64


Chúng ta có thể nói, Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa giới thiệu chúng ta về sự gần gũi hàng ngày của một mối tương quan cá nhân với Người. Thật vậy, qua sự dìm mình trong nước sông Giođan, Chúa Giêsu kết hiệp với chúng ta.”

Khi con người được mời gọi vào sự sống vĩnh cửu, thì tội lỗi đã tạo ra một hố thẳm vùi dập chúng ta mãi mãi. Vì thương yêu chúng ta, Thiên Chúa đã nghiên mình xuống, giơ tay ra để lôi kéo chúng ta ra khỏi vực chết, và đưa chúng ta vào ánh sáng. Phép rửa như “là nhịp cầu [Chúa] đã xây dựng giữa chúng ta và Người, là con đường để Người đến với chúng ta […] là ngưỡng cửa của hy vọng, và đồng thời, là dấu chỉ của con đường chúng ta phải hân hoan và hăng hái bước tới để gặp được Người và cảm nhận được Người yêu thương. “Kể từ lúc Chúa Kitô chịu phép rửa và lúc tầng trời mở ra vào cùng ngày ấy, “chúng ta có thể gửi gắm tất cả mọi đời sống mới nẩy nở trong bàn tay Thiên Chúa, Đấng hùng mạnh hơn quyền lực đen tối của thần dữ.”

Khi làm như vậy “chúng ta trả về cho Thiên Chúa những gì đến từ Người." Ngài khẳng định, “một đứa trẻ không phải là quyền sở hữu của cha mẹ, nhưng đã được Đấng Tạo Hóa gửi gấm cho họ chịu trách nhiệm trông nom, một cách tự do và luôn luôn mới mẻ, để họ có thể giúp nó trở nên một đứa trẻ tự do của Thiên Chúa.”

Chính ý thức này có thể giúp cho các bậc làm cha mẹ giữ được sự thăng bằng giữa việc coi đứa bé như thuộc quyền sỡ hữu của mình hay giúp cho chúng có hoàn toàn tự do, và thỏa mãn mọi ý muốn của nó.

Đức Giám Mục thành Rôma nhấn mạnh, “Nếu với Bí Tích này, đứa trẻ sơ sanh mới rửa tội trở nên con nuôi của Chúa, được hưởng tình yêu vô biên che chở và bảo vệ nó, thì nó phải được dậy dỗ để nhận biết Chúa là Cha của nó và biết cách liên hệ với Người bằng một thái độ hiếu thảo của một người con."

† ĐGH. Benedict XVI

Bùi Hữu Thư lược dịch

-----------------------------------

 

TN 1-C65: VÌ LOÀI NGƯỜI CHÚNG TA


Lc 3, 15-16.21-22

 

Cha Zundel có một nhận định như sau: “sự khiêm nhường nhất của Thiên Chúa là khi Ngài: TN 1-C65


Cha Zundel có một nhận định như sau: “sự khiêm nhường nhất của Thiên Chúa là khi Ngài chấp nhận cho con người dùng ngôn ngữ của mình để nói về Ngài”. Bởi lẽ, ngôn ngữ của con người chúng ta không thể làm diễn tả hết sự thật về Thiên Chúa, đôi khi còn làm méo mó khuôn mặt thật của Ngài nữa. Hôm nay, mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa, chắc chắn khi người ta thấy Đức Giêsu đứng sắp hàng cùng với đám tội nhân, thì họ sẽ nghĩ rằng Ngài cũng là một tội nhân. Đây cũng là một sự khiêm nhường của Thiên Chúa. Ngài chấp nhận cho người khác nghĩ sai về Ngài. Nhưng chúng ta thử hỏi: Tại sao Thiên Chúa lại làm như thế? Thưa vì Ngài yêu thương con người và Ngài muốn làm bạn với hết mọi người. Đây chắc hẳn là mầu nhiệm của tình yêu mà chúng ta chưa hiểu thấu hết được.

Có một câu chuyện kể như sau: Có một vị quan lớn mở tiệc mời nhiều người đến dự. Tất cả các người được mời đều ăn mặc sang trọng và dùng xe đi đến. Trong số ấy có một người khách già. Rủi thay, vì già yếu nên ông cụ này khi xuống xe đã trượt chân té vào vũng bùn. Khách đến dự tiệc được mộp phen cười thoả thích. Vị khách già này xấu hổ và cảm thấy mình không xứng đáng vào dự tiệc nữa, ông quyết định quay về nhà của mình. Gia nhân của vị quan nài nỉ cách mấy ông cũng không chịu ở lại dự tiệc. Rồi bất ngờ, vị quan chủ tiệc bước ra sân, đi tới chỗ vũng nước đó, rồi cố tình té ngã vào vũng nước mà ông cụ đã té trước đó. Thế là áo quần của ông quan cũng dơ dáy y như cụ già kia. Mọi người chung quanh chẳng ai dám cười nhạo nữa! Sau đó, vị quan lớn đến cầm lấy tay ông cụ đưa vào phòng tiệc. Ông cụ chẳng còn lý do nào để chối từ. Chỉ có hành động cố tình té ngã của vị quan lớn kia, mới có thể đưa ông cụ vào bàn tiệc.

Hình ảnh và hành động của vị quan lớn trong câu chuyện trên đã minh hoạ cho chúng ta thấy được phần nào về hình ảnh của Chúa Giêsu. Ngài là Đấng cực thánh mà đã tự “té vào” thế gian để dẫn đưa con cháu Ađam bước vào dự tiệc cưới Thiên đàng.

Khi sinh xuống làm người trong hình dáng của một trẻ thơ yếu ớt, nghèo khổ, thiếu thốn mọi bề, Chúa Giêsu đã trở thành trung gian nối kết trời với đất. Ngài đã từ trời cao bước chân xuống đất thấp đến với con người để con người từ đất thấp bước chân lên trời cao. “Đất với trời giao duyên, Thiên Chúa đến ở với con người”. Rồi hôm nay, khi sắp hàng trong đám tội nhân, Chúa Giêsu đã cất khỏi mọi rào cản, mọi khoảng cách để con người được tự do đến với Thiên Chúa và được Ngài mở rộng vòng tay ôm lấy tất cả.

Thánh Gioan tông đồ đã định nghĩa: “Thiên Chúa là Tình Yêu”, nhưng không ai thấy được tình yêu cả. Người ta chỉ có thể thấy được những bằng chứng của tình yêu mà thôi. Và Chúa Giêsu của chúng ta đã để lại cho chúng ta rất nhiều bằng chứng của tình yêu: Xuống trần vì yêu, sống vì tình yêu, làm mọi việc tốt lành vì tình yêu, chết vì yêu và sống lại cũng vì tình yêu. Làm sao kể hết được những việc Chúa Giêsu đã làm để minh chứng cho tình yêu mà Ngài thực hiện trong suốt cuộc đời dương thế của Ngài. Ngài yêu thương con người bằng chính tình yêu của Thiên Chúa Cha yêu thương Ngài: “Đây là Con Ta rất yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng”.

Chúa Giêsu làm đẹp lòng Chúa Cha mọi đàng nhờ biết Ngài biết ý của Cha mình và Ngài luôn chu toàn mọi sự đúng theo ý Chúa Cha dù mình có “tan nát tấm thân” đi chăng nữa. Ngài đã từng nói với các tông đồ rằng: “lương thực nuôi sống Thầy là làm theo ý của Cha Thầy”. Và trong lúc cô đơn nhất, đau khổ nhất, Ngài vẫn thân thương với Cha: “Xin đừng theo ý Con, nhưng xin làm theo ý Cha”. Đó là tư cách làm Con của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha dù Ngài vẫn là Thiên Chúa, đồng bản tính với Chúa Cha của mình.

Để biết được Thánh ý Chúa Cha trong cuộc đời này, ta phải làm gì? Làm sao biết ta biết được Thánh ý Chúa? Ý Chúa Cha trong cuộc đời chúng ta được thể qua lương tâm ngay lành của chúng ta, qua Lời Chúa trong Kinh Thánh đặc biệt là Giới Luật Yêu thương, qua 10 Giới răn của Chúa cũng như qua những Giáo huấn chính thức của Hội thánh dạy chúng ta. Khi ra sức thực hành những điều ấy, chắc chắn chúng ta sẽ được Chúa Cha nói với chúng ta rằng: “Con là con yêu dấu của Cha”.

Hãy trở thành những người con yêu dấu của Cha trên trời. Hãy nhiệt tâm sống niềm tin của mình trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống theo gương của chính Chúa Giêsu để lại cho chúng ta. Hãy để cho “Tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng ta” để chúng ta dám ra khỏi con người của mình, sống liên đới trách nhiệm với mọi người hầu ý Chúa Cha được thể hiện trong trần gian này. Khi hoàn tất sứ mạng cao quý này với lòng nhiệt tâm và yêu mến, chúng ta sẽ được theo chân Chúa Giêsu bước vào tr ời cao hưởng hạnh phúc muôn đời.

-----------------------------------

 

TN 1-C66: CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA


Lc 3,15-16.21-22

“Đức Giêsu cũng chịu phép rửa” (Lc 3,21)

 

Đức Giêsu chuẩn bị thi hành sứ mạng của mình bằng hai việc quan trọng, thứ nhất là đời sống: TN 1-C66


Đức Giêsu chuẩn bị thi hành sứ mạng của mình bằng hai việc quan trọng, thứ nhất là đời sống nội tâm với việc ăn chay và cầu nguyện trong sa mạc suốt 40 ngày đêm, thời gian đủ dài để suy nghĩ, tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa và nền tảng bước vào sứ mạng quan trọng. Thứ hai, Ngài chịu phép rửa sám hối của Gioan như bao nhiêu người dân thường khác.

Biến cố Giáng Sinh, Thiên Chúa đã chấp nhận hoàn toàn sống thân phận con người như chúng ta. Kể từ đây Chúa Giêsu sống như con người chia sẻ và đón nhận kiếp người. Cụ thể là Ngài “cũng chịu phép rửa” như những con ngươi đồng thời với mình chuẩn bị tâm hồn chờ đợi Đấng cứu thế. Nhưng khác biệt ở đây Ngài chính là Đấng cứu thế.

Sự kiện Chúa Giêsu chịu phép rửa là lúc ý định của Chúa Cha muốn giới thiệu Ngài cho nhân loại, Ngài chính là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ và cũng như Ngài thực sự bắt đầu đời sống công khai rao giảng Tin Mừng cứu độ, Ngài cũng chính là Đấng cứu độ. Ai nghe, tin và sống như Ngài thì được cứu độ.

Dân chúng vẫn còn mơ hồ về Đấng cứu thế, họ lẫn lộn giữa Gioan và Đức Giêsu, lẫn lộn giữa phép rửa của Gioan và Đức Giêsu. Giờ đây Thiên Chúa Cha khẳng định chính thức và công khai giới thiệu cho họ biết Chúa Giêsu mới là Đấng cứu độ. Chỉ nơi Ngài và lãnh nhận phép rửa của Ngài bởi “Thánh Thần và lửa” sẽ mang đến cho chúng ta ơn cứu độ.

Với việc Chúa Giêsu chịu phép rửa và sự giới thiệu của Chúa Cha, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã hành động như bao con người thiện chí, muốn sám hối quay về với Thiên Chúa. Ngài noi gương cho chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, sống hoà đồng, chia sẻ, thông cảm và đón nhận giới hạn của nhau. Ngài không phân biệt, khoảng cách hay vạch rõ ranh giới với con ngươi dù Ngài vẫn là Thiên Chúa. Ngài yêu thương và cứu độ chúng ta. Nhìn lên Chúa Giêsu chúng ta hãnh diện vì mình tôn thờ một Đấng đích thực trong đời sống đức tin và hành trình đời người.

Ước gì mỗi ngày chúng ta càng ngày tin mạnh mẽ vào Chúa, luôn tuyên xưng niềm ra bên ngoài cho mọi người xung quanh và làm cho mọi nhận ra rõ ràng rằng Đức Giêsu là Đấng cứu độ, Đấng mang lại bình an và hạnh phúc cho mọi người.