Tổng Luận Thần Học Th. Tôma Aquinô - Phần I: CÂU HỎI 12 THIÊN CHÚA ĐƯỢC NHẬN BIẾT BỞI CHÚNG TA THẾ NÀO?
Tổng Luận Thần Học Th. Tôma Aquinô - Phần I:
CÂU HỎI 12
THIÊN CHÚA ĐƯỢC NHẬN BIẾT BỞI CHÚNG TA THẾ NÀO?
Ở trước, chúng ta đã nghiên cứu Thiên Chúa là thế nào trong chính Ngài, giờ đây chúng ta tiếp tục nghiên cứu Thiên Chúa trong tri thức chúng ta thế nào, nghĩa là Thiên Chúa được nhận biết do các thụ tạo thế nào.
Xem ra không một trí năng thụ tạo nào có thể nhận thức yếu tính của Thiên Chúa.
Chrysostome, khi chú giải về thánh Gioan có ghi chép lời: “Nài ai trông thấy Chúa chăng?”, đã nói: Chẳng những các Tiên tri, mà ngay cả các Thiên thần, các Tổng lãnh Thiên thần, đều đã không trông thấy Chúa. Vì làm sao thụ tạo thấy điều không thể sáng tạo được? (In Joan., Hom 15). Denys nói về Thiên Chúa, cũng nói: không có giác quan, không có hình ảnh, cũng không có ý kiến, không có trí năng, cũng không có sự nhận thức về Ngài (De Div. Nom, 1,5).
Về tất cả mọi sự vật vô cùng, với tính cách là vô cùng, người ta không nhận được. Mà Thiên Chúa là vô cùng như đã trình bày ở trước (CH.7, t.1). Bởi đó Thiên Chúa xét trong chính Ngài, không nhận thức được đối với mọi tạo vật.
Hơn nữa trí năng thụ tạo chỉ nhận thức được các sự vật hiện hữu. Vì đối tượng đầu tiên của sự hiểu biết của trí năng là sự hiện hữu. Nhưng Thiên Chúa không phải là một vật hiện hữu; nhưng đúng hơn vì Ngài là siêu hiện hữu, như Denys nói (De Div. Nom., 4,3). Cho nên Thiên Chúa không khả niệm, Ngài vượt lên trên mọi trí năng.
Hơn nữa, phải có tỉ lệ nào giữa chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức, đối tượng nhận thức là sự hoàn hảo của chủ thể nhận thức. Nhưng không có tỉ lệ nào giữa trí năng thụ tạo và Thiên Chúa, vì có một khoảng cách vô cùng ở giữa. Vậy trí năng thụ tạo không có thể thấy Thiên Chúa.
TRÁI LẠI
Có lời ghi chép: “Chúng ta sẽ trông thấy Thiên Chúa đúng như Thiên Chúa có thật” (1Ga 3,2).
TRẢ LỜI
Vì tất cả mọi sự vật có thể được nhận thức tuỳ theo mức độ chúng nó ở trong hiện thể mà Thiên Chúa là hiện thể thuần tuý, không trộn lộn một chút tiềm thể nào, thì Ngài, xét trong chính Ngài, có thể được nhận thức cách tột bực. Nhưng cái gì trong chính mình,, có thể được nhận thức cách tột bực, thì có thể không được nhận thức đối với một trí năng đặc thù, do sự quá mức của đối tượng khả niệm, vượt lên trên trí năng, như, thí dụ: mặt trời có thể được trông thấy tột bực, không có thể trông thấy được đối với con dơi, bởi lý do là mặt trời quá mức sáng.
Do đó một số người nghiệm thấy như vậy, chủ trương trí năng thụ tạo không thể trông thấy yếu tính của Thiên Chúa. Tuy nhiên ý kiến này không thích hợp; vì hạnh phúc cuối cùng của con người, cốt tại sử dụng một hành động cao nhất của mình, đó là hành động của trí năng. Bởi đó nếu chúng ta giả thiết trí năng thụ tạo không bao giờ trông thấy Thiên Chúa, thì hoặc không đạt được hạnh phúc Thiên đàng, hoặc hạnh phúc Thiên đàng cốt tại một cái gì khác Thiên Chúa: giả thiết này trái ngược với Đức Tin. Vì sự hoàn hảo cuối cùng của thụ tạo có lý tính, thì phải gặp được trong cái gì làm nguyên lý hiện hữu cho nó: nó càng đạt tới nguyên lý hiện hữu của mình, thì càng hoàn hảo. Ý kiến đó, còn trái ngược với lẽ phải, vì nói con người, có sự ước ao tự nhiên muốn nhận thức nguyên nhân bất cứ hiệu quả nào nó trông thấy: vò do đó, xuất hiện sự ngắm nhìn thích thú trong con người. Vậy, nếu trí năng của thụ tạo có lý tính, không đạt tới đệ nhất nguyên nhân của vạn vật, sự ước ao tự nhiên đó, tồn tại hư không rỗng tuếch.
Do đó, phải chấp nhận cách tuyệt đối các Thánh trên Thiên Đàng, trông thấy yếu tính của Thiên Chúa.
GIẢI ĐÁP
Cả hai tác giả đều nói về sự trông thấy, tức là sự thấu hiểu. Denys nói ngay trước khi trích dẫn những lời đã nêu ra trong vấn nạn: Thiên Chúa một cách phổ quát không hiểu thấu được đối với tất cả mọi người, và cũng không có giác quan nào, vv... (De Div. Nom. 1,5); và Chryostome, sau khi dẫn chứng những lời được nêu lên trong vấn nạn, thì lập tức đã nói tiếp: “Đây sự trông thấy Đức Chúa Cha, cách đích xác nhất, đó là sự suy nghĩ và sự thấu hiểu hoàn hảo như Đức Chúa Cha suy nghĩ và thấu hiểu Con của Ngài” (In Joan. Hom. 15).
Vô cùng tính của chất thể không được hoàn hảo hoá bởi mô thể, thì không được nhận thức trong chính mình, vì tất cả mọi tri thức đều do mô thể mà có; đang khi vô cùng tính của mô thể không bị hạn định bởi chất thể, thì trong chính nó, được nhận thức tột bậc Thiên Chúa là vô cùng thể theo thể cách này, chứ không theo thể cách một, như xuất hiện rõ ràng do những điều đã trình bày ở trước.
Người ta không được nói rằng: Thiên Chúa không được hiện hữu, dường như Ngài không hiện hữu một thể cách nào cả; trái lại, Ngài hiện hữu trên tất cả những gì hiện hữu, vì Ngài là chính sự hiện hữu của Ngài. Do đó, không phải Ngài không được nhận thức một thể cách nào cả; nhưng đó là Người vượt lên trên mọi tri thức, tức là Ngài không được thụ tạo thấu hiểu. Tỉ lệ có hai thể cách. Theo thể cách một, tỉ lệ nói lên một tương quan nào đó của một lượng với một lượng nữa; theo tương quan này, thì gấp hai, gấp ba và bằng nhau là các thứ tỉ lệ. Theo thể cách thứ hai, tất cả mọi tương quan, của một vật đối với một vật khác, được gọi là tỉ lệ. Theo thể cách thứ hai, có thể có tỉ lệ của thụ tạo với Thiên Chúa, vì thật thụ tạo có tỉ lệ với Ngài; như hiệu quả với nguyên nhân của mình và như tiềm thể với hiện thể; và theo đường lối này, trí năng thụ tạo có thể ở trong tỉ lệ với Thiên Chúa để nhận biết Ngài.
Xem ra yếu tính của Thiên Chúa được trông thấy bởi trí năng thụ tạo nhờ sự tương tự.
Có lời ghi chép: “Chúng ta biết rằng: Khi Ngài xuất hiện chúng ta sẽ tương tự với Ngài, vì ta sẽ được trông thấy Ngài đúng như Ngài có thật” (1Ga 3,2);
Thánh Augustin nói: “Khi chúng ta hiểu biết Thiên Chúa, thì thành hình trong chúng ta một sự tương tự nào đó với Thiên Chúa” (De Trin. 9,2).
Trí năng hiện thể là khả niệm thể hiện thể, như giác quan ở hiện thể là khả giác hữu ở hiện thể; mà việc này xả ra bởi giác quan được mô hiệp với hình ảnh của vật khả giác, và trí năng được mô hiệp với hình ảnh của vật được hiểu biết. Bởi đó, nếu Thiên Chúa được trông thấy cách hiện thể bởi trí năng thụ tạo, Ngài phải được trông thấy nhờ một sự tương tự nào.
TRÁI LẠI
Augustin nói: Khi, thánh Phaolô nói: “Chúng ta trông thấy dường như ngang qua tấm gương và lời bí ẩn” thì qua các từ ngữ “tấm gương” và “lời bí ẩn” được biểu thị những sự tương tự nào đó, đã được làm cho thích hợp với sự hiểu biết Thiên Chúa (De Trin, 15,9). Nhưng trông thấy yếu tính của Thiên Chúa không phải là sự trông thấy cách bí ẩn hoặc qua tấm gương; hai thể cách này đối lập nhau. Vậy, không phải nhờ các sự tương tự mà chúng ta hiểu biết yếu tính Thiên Chúa.
TRẢ LỜI
Hai điều này phải có cho cả hai sự trông thấy của giác quan và cả trí năng: đó là năng lực trông thấy và sự phối hợp của vật được trông thấy với sự trông thấy. Quả thực sự trông thấy chỉ hiện -thể khi vật được trông thấy ở trong chủ thể trông thấy một thể cách nào đó. Và trong các vật hữu hình, rõ ràng vật được trông thấy không thể ở trong chủ thể trông thấy, theo yếu tính của mình, nhưng chỉ là nhờ hình ảnh của mình; như hình ảnh của hòn đá trong con mắt, nhờ hình ảnh này, mà sự trông thấy hiện-thể, chứ bản thể của hòn đá không có ở đó. Nhưng nếu năng lực trông thấy và vật được trông thấy cũng là một thực tại duy nhất thì tất nhiên xảy ra chủ thể trông thấy chiếm hữu năng lực trọng thấy và mô thể của vật đơn nhất và duy nhất này, mà nhờ mô thể đó, nó trông thấy.
Rõ ràng Thiên Chúa là Đấng sáng tạo trí năng và có thể được trông thấy bởi trí năng này. Và bởi vì trí năng thụ tạo không phải là yếu tính Thiên Chúa, nhưng chỉ là hình ảnh được thông phần của yếu tính Thiên Chúa. Yếu tính Thiên Chúa là đệ nhất trí nặng. Do đó, trí năng thụ tạo được gọi là sự sáng khả niệm phát xuất từ sự sáng thứ nhất. Sự sáng thụ tạo khả niệm này được hiểu biết hoặc do năng lực tuy nhiên, hoặc do một sự hoàn hảo được thêm lên bởi ân sủng hoặc bởi vinh quang Thiên Đàng. Vậy để trông thấy Thiên Chúa, thì đòi phải có hình ảnh Thiên Chúa có phía năng lực trông thấy, nhờ đó, trí năng thụ tạo mới có hiệu lực trông thấy Thiên Chúa.
Tuy nhiên, ở phía vật được trông thấy, là vật bằng một thể cách nào, phải phối hợp với chủ thể trông thấy, yếu tính Thiên Chúa không thể trông thấy nhờ hình ảnh thụ tạo.
Thứ nhất, bởi vì, theo lời nói của Denys: hình ánh các vật hạ đẳng, thì các vật thượng đẳng không thể nào biết được (De Div. Nom., 1,1); thí dụ, hình ảnh của vật thể, thì yếu tính của vật vô hình không thể được hiểu biết. Do đó, càng tột bậc không thể trông thấy yếu tính Thiên Chúa nhờ hình ảnh thụ tạo.
Thứ hai, vì yếu tính Thiên Chúa là chính sự hiện hữu của Ngài, như đã trình bày ở trước (CH.3, t.4): đơn nhất tính này không thể chỉ về cho bất cứ mô thể thụ tạo nào. Bởi đó, không mô thể thụ tạo nào có thể là một hình ảnh tiêu biểu yếu tính Thiên Chúa cho chủ thể trông thấy.
Thứ ba, vì yếu tính Thiên Chúa không bị định giới hạn và chứa đựng trong chính mình, bằng cách siêu tuyệt trác, bất cứ cái gì được biểu thị hoặc hiểu biết bởi trí năng thụ tạo. Điều này không một thể cách nào được tiêu biểu bởi tất cả các loại thụ tạo, vì tất cả mọi mô thể thụ tạo bị định giới hạn về một vài phương diện nào đó trong sự khôn ngoan, hoặc, trong năng lực hoặc, trong chính sự hiện hữu, hoặc trong vài sự vật tương tự. Bởi đó, nói Thiên Chúa được trông thấy nhờ một vài sự tương tự, tức là nói yếu tính của Thiên Chúa không được trông thấy gì cả, mà chủ trương yếu tính Thiên Chúa không được trông thấy gì cả, đó là một sự sai lầm.
Bởi đó, phải nói rằng: để trông thấy yếu tính Thiên Chúa, thì đòi phải có một sự tương tự nào trong năng lực trông thấy, nghĩa là, phải có sự sáng của sự vinh quang Thiên đàng tăng cường trí năng thụ tạo để trông thấy Thiên Chúa: lý luận này đã được nói đến ở Thánh vịnh 36,10: Trong sự sáng của Chúa, chúng ta sẽ thấy sự sáng. Yếu tính Thiên Chúa không có thể được trông thấy nhờ một sự tương tự thụ tạo nào tiêu biểu yếu tính Thiên Chúa như đang có trong yếu tính Thiên Chúa.
GIẢI ĐÁP
Kinh Thánh nói về sự tương tự được tạo nên do sự thông phần trong sự sáng vinh quang Thiên Chúa.
Augustin nói về sự hiểu biết Thiên Chúa ở đời này.
Yếu tính Thiên Chúa là chính sự hiện hữu. Bởi đó, như các mô thể khả niệm khác, là những mô thể không phải chính là những sự hiện hữu riêng của chúng nó, thì được phối hợp với trí năng nhờ sự hiện hữu nào đó, mà sự hiện hữu này làm cho chính trí năng được mô hiệp với hiện thể; cũng thế yếu tính Thiên Chúa được phối hợp với trí năng thụ tạo, như đối tượng được hiểu biết cách hiện thể, bằng cách do chính mình làm cho trí năng thụ tạo hiện thể.
VẤN NẠN Xem ra yếu tính Thiên Chúa có thể được trông thấy bởi con mắt xác thịt. Có lời ghi chép: Trong xác thịt tôi sẽ trông thấy Thiên Chúa (G 19,26), và có lời khác: Tôi đã nghe Chúa, nhưng bây giờ mắt tôi trông thấy Chúa.
Augustin nói: những con mắt (mắt của những người được vinh quang Thiên đàng) sẽ có một thị lực hoàn toàn dị biệt không phải theo ý nghĩa trông thấy sắc sảo hơn như rắn hoặc chim phượng hoàng, cho dầu hai loài thú vật này có thị lực sắc sảo mấy đi nữa thì chúng cũng chỉ trông thấy các vật hữu hình; mà theo ý nghĩa có thể trông thấy các hữu thể vô hình (De Civit. Det. 22,29). Vậy kẻ nào có thể trông thấy những hữu thể vô hình, thì có thể được nâng lên cao để trông thấy Thiên Chúa. Do đó, những con mắt đã được vinh quang Thiên đàng, thì có thể trông thấy Thiên Chúa.
Thiên Chúa có thể được trông thấy nhờ sự trông thấy bằng trí tưởng tượng. Vì có lời chép: Tôi trông thấy Thiên Chúa ngự trên Ngai vv... (Is 16,1). Nhưng sự trông thấy của tưởng tượng gốc ở tại giác quan; vì tưởng tượng là một chuyển động bởi giác quan ở hiện thể. Bởi đó, Thiên Chúa có thể được trông thấy bởi sự trông thấy của giác quan.
TRÁI LẠI
Augustin nói: Không ai bao giờ đã thấy Thiên Chúa như Ngài đang có hoặc ở đời này hoặc ở đời sau, theo thể cách mà các vật hữu-hình, được trông thấy, bằng sự trông thấy hữu-hình (Epist. 14,7).
TRẢ LỜI
Tuyệt đối người ta không thể trông thấy Thiên Chúa bằng thị giác hoặc bằng một giác quan nào, hoặc bằng một năng lực của giác hồn trong linh hồn. Vì mỗi năng lực như vậy là sự hiện thể của cơ quan hữu hình, như sẽ trình bày ở sau (CH.78, t.1). Nhưng hiện thể tương xứng với hữu thể mà hiện thể là hành động của nó. Bởi đó, không có năng lực nào thuộc về loại đó, có thể đi ra ngoài các vật hữu hình. Nhưng Thiên Chúa vô hình, như đã trình bày (CH.3, t.1). Bởi đó, Thiên Chúa không thể được trông thấy bởi giác quan hoặc bởi tưởng tượng, nhưng chỉ bởi trí năng mà thôi.
GIẢI ĐÁP
Khi Gióp kêu lên: “Trong xác thịt, tôi sẽ trông thấy Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc tôi”. Không có nghĩa là Thiên Chúa được trông thấy bằng con mắt xác thịt, nhưng có nghĩa người ta hiện hữu trong xác thịt sau ngày sống lại, sẽ trông thấy Thiên Chúa. Cũng vậy ông nói: “Nhưng mắt tôi bây giờ trông thấy Thiên Chúa”, ông có ý hiểu ở đó là con mắt của trí năng như thánh Phaolô nói “Xin Thiên Chúa của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, Cha vinh hiển ban cho anh em tinh thần khôn ngoan và ơn mạc khải để nhận biết Ngài; lại soi sáng con mắt lòng anh em” (Ep 1,17-18).
Thánh Augutin nói như một người đang sưu tầm và nói một cách theo điều kiện. Cái lập trường này được thật rõ ràng do điều mà thánh Augustin đột nhiên xét trước: Bởi đó, các con mắt được vinh quang Thiên đàng, có năng lực dị biệt sâu xa, nếu thật sự nhờ chúng nó mà các bản tính vô hình ấy được trông thấy. Nhưng sau đó thánh Augustin còn giải thích lập trường của mình: Rất có thể tin được rằng chúng ta cũng sẽ trông thấy các vật thể thuộc về vũ trụ ở trời mới và đất mới, như trông thấy rất rõ ràng Thiên Chúa hiện diện khắp nơi và đang thống trị tất cả mọi vật hữu hình. Không phải như hiện giờ chúng ta trông thấy các sự vật vô hình của Thiên Chúa nhờ những vật Ngài đã tạo thành và đã được hiểu biết; nhưng như khi thấy những người mà chúng ta sống giữa họ, chúng ta thấy họ đang sống và thi hành các công việc đời sống nhân loại, chúng ta không chỉ tin họ sống, nhưng trông thấy điều ấy. Như thế rõ ràng là những con mắt được vinh hiển Thiên đàng sẽ trông thấy Thiên Chúa theo thể cách giờ đây mắt chúng ta thấy sự sống của người khác. Nhưng sự sống không được trông thấy với con mắt xác thịt, như vật có thể được trông thấy cách nguyên thường, nhưng như một khả giác ngẫu trừ. Quả thức, nó được tri giác ngẫu trừ không được giác quan tri thức, song lập tức cùng với sự cảm giác, nó được tri thức bởi một năng lực tri thức khác. Việc sau khi các vật thể đã được tri thức, sự hiện diện của Thiên Chúa lập tức được trí năng tri thức, phát xuất bởi hai nguyên nhân, tức là sự sáng suốt của trí năng và ánh sáng chói lọi do vinh quang Thiên Chúa toả tràn ngập trên thân xác đã được đổi mới.
Yếu tính của Thiên Chúa không được trông thấy nhờ sự trông thấy của tưởng tượng, vì tưởng tượng lãnh nhận một vài mô thể tiểu biểu Thiên Chúa theo thể cách tương tự nào đó; như trong Kinh Thánh, các việc về phần Chúa được mô tả các tỷ dụ, nhờ các vật khả giác.
1. Xem ra trí năng thụ tạo có thể trông thấy yếu tính Thiên Chúa do năng lực riêng của mình. Vì Denys nói: Thiên thần là tấm kiếng, trong sáng nhất, lãnh nhận, nếu được phép nói, sự đẹp nguyên vẹn của Thiên Chúa (De Div. Nom., 4,22). Một vật được trông thấy, khi người ta trông thấy sự phản chiếu của nó. Bởi đó, vì Thiên thần hiểu biết chính mình do năng lực riêng, thì xem ra do năng lực riêng cua mình, thiên thần hiểu biết yếu-tính Thiên Chúa.
2. Cái gì có thể được trông thấy cách tột bực, hoá ra ít được trông thấy hơn đối với chúng ta, vì sự khuyết điểm ở sự trông thấy của giác quan hoặc trí-năng. Nhưng trí năng các Thiên thần không có khuyết điểm. Bởi đó, vì Thiên Chúa khả niệm tột bậc trong chính Ngài, xem ra Ngài cũng một thể cách, là khả niệm tột bậc đối với Thiên thần. Do đó, nếu Thiên thần có thể hiểu biết các sinh vật khả niệm do năng lực tự nhiên của mình, càng hơn gấp bội có thể hiểu biết Thiên Chúa.
3. Hơn nữa, giác quan hữu hình không có thể nâng lên cao để hiểu biết bản thể vô hình, vì đó là hành động vượt lên trên bản tính của nó. Bởi đó, nếu trông thấy yếu tính Thiên Chúa ở trên bản tính tất cả mọi trí năng thụ tạo, hiển nhiên không một trí năng thụ tạo nào đạt tới việc trông thấy yếu tính Thiên Chúa một tí nào. Nhưng sự khẳng định này sai lầm rõ ràng như đã trình bày trước. Cho nên xem ra một việc tự nhiên của trí năng thụ tạo, là trông thấy yếu tính Thiên Chúa.
TRÁI LẠI
Có lời ghi chép: “Ơn Thiên Chúa là sự sống trường cửu trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 6,23). Nhưng sự sống trường cửu cốt tại sự trông thấy yếu tính Thiên Chúa, theo lời Kinh Thánh “Vậy sự sống vĩnh cửu, tức là họ nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Giêsu Kitô Cha đã sai xuống” (Ga 17,3). Cho nên, thấy, yếu tính Thiên Chúa là có thể đối với trí năng thụ tạo, nhờ ân sủng, chứ không do bản tính của nó.
TRẢ LỜI
Thật là bất khả đối với trí năng thụ tạo sự trông thấy yếu tính Thiên Chúa theo năng lực tự nhiên của mình. Vì tri thức xuất hiện theo vật được tri thức ở trong chủ thể tri thức. Nhưng vật được tri thức ở trong chủ thể tri thức theo thể cách của chủ thể tri-thức. Do đó, sự tri thức của mỗi chủ thể tri-thức, là theo thể cách của bản tính riêng của chủ thể tri thức. Vậy nếu thể cách hiện hữu của một vật được tri thức, vượt quá thể cách của chủ thể tri thức, tất nhiên thành ra sự tri thức về vật đó, ở trên bản tính của chủ thể tri thức. Nhưng thể cách hiện hữu của các vật có nhiều thứ. Vì một số vật chỉ có hiện hữu trong chủ thể cá thể này: thể đó là tất cả các vật thể. Một số hữu thể khác có bản tính lập hữu, không ở trong một chủ thể nào; tuy nhiên chúng nó không phải chính sự hiện hữu riêng của mình, chúng lãnh nhận sự hiện hữu: và đó là những bản thể vô hình, gọi là thiên thần. Duy Thiên Chúa có một thể cách hiện hữu riêng biệt, đó là, Ngài chính là sự hiện hữu lập hữu của Ngài.
Do đó, những gì chi hiện hữu trong chất thể cá thể, được chúng ta hiểu biết cách tự nhiên, vì linh hồn chúng ta là nguyên nhân làm cho chúng ta hiểu biết, làm mô thể cho một chất thể riêng biệt. Như thế, linh hồn chúng ta chiếm hữu hai năng lực tri thức. Một năng lực tri thức là hiện thể của cơ quan hữu hình và tri thức cách tự nhiên các vật hiện hữu trong chất thể cá thể. Cho nên, giác quan chỉ tri thức vật cá biệt; nhưng còn một thứ năng lực tri thức nữa ở trong linh hồn, được gọi là trí năng; và đó không phải là hiện thể của một cơ quan hữu hình. Do đó, trí năng một cách tự nhiên, tri thức các bản tính và các bản tính này chỉ hiện hữu trong chất thể cá thể nhất định không phải với tính cách chúng nó ở trong một chất thể cá thể này hoặc cá thể kia, nhưng với tính cách chung nó đã được trừu xuất ra ngoài chất thể cá thể, do sự suy nghĩ của trí năng. Thành ra nhờ trí năng chúng ta có thể hiểu biết các vật này theo thể cách phổ quát; và sự hiểu biết thế này vượt quá năng lực giác quan. Còn trí năng thiên thần, một cách tự nhiên, tri thức các bản tính không hiện hữu trong chất thể; thể cách tri thức này vượt quá năng lực của trí năng trong linh hồn nhân loại trong tình trạng hiện này, phối hợp với thân thể.
Do đó, có thể kết luận: hiểu biết sự hiện hữu tự lập hữu chỉ là việc tự nhiên đối với trí năng Thiên Chúa mà thôi, cùng vượt quá mọi trí năng thụ tạo; vì không vật thụ tạo nào là sự hiện hữu riêng của mình; sự hiện hữu của vật thụ tạo đã được thông phần. Cho nên không trí năng thụ tạo nào có thể trông thấy yếu tính của Thiên Chúa nếu Thiên Chúa không ban ân sủng phối hợp chính Thiên Chúa với trí năng thụ tạo như đối tượng trở khả niệm cho nó.
GIẢI ĐÁP
1. Thể cách này để tri thức Thiên Chúa là tự nhiên đối với Thiên thần, tức là, để tri thức Thiên Chúa nhờ hình ảnh riêng của Ngài toả sáng chói trong chính thiên thần. Nhưng tri thức Thiên Chúa nhờ hình ảnh thụ tạo, thì không tri thức được yếu tính Thiên Chúa, như đã trình bày trước. Do đó, Thiên thần không thể tri thức yếu tính Thiên Chúa nhờ năng lực riêng của mình.
2. Trí năng Thiên thần không khuyết điểm, nếu sự khuyết điểm được coi là sự khuyết phạp, dường như trí năng Thiên thần không có một cái gì mà theo lẽ p hải có. Nhưng nếu khuyết điểm được hiểu theo thể cách tiêu cực, mà theo ý nghĩa này, tất cả mọi thụ tạo đều khuyết điểm khi được so sánh với Thiên Chúa, bởi tất cả mọi thụ tạo không chiếm hữu sự ưu việt của Thiên Chúa.
3. Thị giác như hữu thể hoàn toàn hữu chất, không có thể được nâng lên cao thành ra hữu thể vô chất. Nhưng trí năng của chúng ta hoặc trí năng Thiên thần, vì được nâng lên cao trên chất thể trong bản tính riêng của mình, có thể được nâng lên trên bản tính riêng của mình đạt tới một bậc cao hơn nhờ ân sủng. Sự nâng lên cao này được biểu thị qua một sự kiện là thị giác không có thể bằng một thể cách nào tri thức được cách trừu tượng điều mà nó tri thức cách cụ thể, vì không một thể cách nào có thể tri thức được cái bản tính, trừ ra bản tính đó là một bản tính riêng biệt còn trí năng chúng ta có khả năng suy nghĩ cách trừu tượng điều mà nó tri thức cách cụ thể. Vì dầu trí năng chúng ta tri thức vác vật có mô thể ở trong chất-thể, nó còn phân chia hợp vật thành ra hai yếu tố, và nghiên cứu mô thể riêng biệt trong chính nó. Cũng thế trí năng của Thiên thần, dầu nó một cách tự nhiên, tri thức sự hiện hữu đã được cụ thể hoá trong một bản tính, nó còn khả năng tách rời hiện hữu này; vì nó tri thức một hữu thể chính là một hữu thể và sự hiện hữu của hữu thể này là một cái gì nữa. Bởi vì trí năng thụ tạo bằng cách trừu xuất theo một lối phân chia nào đó, có thể lãnh hội mô thể đã được cụ thể hoá và sự hiện hữu đã được cụ thể hoá, nó có thể, nhờ ân sủng, được nâng lên cao để tri thức bản thể lập hữu riêng biệt và sự hiện hữu lập hữu riêng biệt.
Xem ra trí năng thụ tạo không cần đến sự sáng thụ tạo nào để trông thấy yếu tính Thiên Chúa.
1. Ở nơi vật khả giác, cái gì sáng chói không đòi phải có sự sáng để mình được trông thấy. Bởi đó, chính điều này cũng ứng dụng cho các vật khả niệm mà Thiên Chúa là sự sáng khả niệm. Vậy Ngài không được trông thấy nhờ sự sáng thụ tạo nào.
2. Nếu Thiên Chúa được trông thấy nhờ trung gian, Ngài không được trông thấy trong yếu tính của Ngài. Nếu nếu được trông thấy nhờ sự sáng thụ tạo, thì Ngài được trông thấy nhờ trung gian. Cho nên Ngài không được trông thấy trong yếu tính của Ngài.
3. Cái gì thụ tạo, có thể là tự nhiên đối với một vài thụ tạo. Do đó, nếu yếu tính của Thiên Chúa được trông thấy nhờ sự sáng thụ tạo nào, sự sáng như thế, có thể trở nên tự nhiên cho một vài thụ tạo. Và như vậy, thụ tạo này có thể không cần đến sự sáng khác để trông thấy Thiên Chúa: đây là một việc có thể. Bởi đó, không tất yếu tất cả mọi thụ tạo đòi phải có sự sáng thêm cho để trông thấy Thiên Chúa.
TRÁI LẠI
Có lời ghi chép: “Trong sự sáng Thiên Chúa chúng ta sẽ trông thấy sự sáng” (Tv 35,10).
TRẢ LỜI
Tất cả mọi vật được nâng lên cao tới điều vượt quá bản tính của chúng, phải được chuẩn bị nhờ một sự sắp đặt trên bản tính của chúng; như, thí dụ, không khí phải lãnh nhận mô thể của lửa, nó phải được chuẩn bị bởi sự sắp đặt cho mô thể như thế. Nhưng khi trí năng thụ tạo nào trông thấy yếu tính Thiên Chúa, chính yếu tính Thiên Chúa trở nên mô thể khả niệm cho trí năng này. do đó, tất yếu phải có một sự sắp đặt được thêm vào cho trí năng để trí năng có thể được nâng lên cao tới sự sáng cao siêu thể ấy. Nhưng bởi vì năng lực tự nhiên của trí năng thụ tạo không thể làm cho trí năng có khả năng để trông thấy yếu tính Thiên Chúa, như đã trình bày trước, thì tất yếu năng lực hiểu biết của nó phải được gia tăng do ân sủng của Thiên Chúa. Và sự gia tăng này cho năng lực của tri năng, được gọi là sự soi sáng trí năng, như chúng ta cũng gọi khả niệm thể là sự sáng hoặc là sự soi sáng. Và đây là sự sáng được nói đến trong sách Khải Huyền (21,23): vì sự vinh quang Thiên Chúa sáng soi nó; tức là đoàn thể các Thánh trông thấy Thiên Chúa. Bởi sự sáng này, các Thánh được biến thành hình ảnh Thiên Chúa, nghĩa là, trở nên tương tự với Thiên Chúa, theo lời đã ghi chép: “Khi Ngài xuất hiện chúng ta sẽ tương tự với Ngài, vì ta sẽ được trông thấy Ngài đúng như Ngài có thật” (1Ga 3,2).
GIẢI ĐÁP
Sự sáng này đòi phải có để trông thấy yếu tính Thiên Chúa, không như sự tương tự mà trong sự tương tự này Thiên Chúa được trông thấy, nhưng như một hoàn hảo cho trí năng, tăng cường trí năng để trông thấy Thiên Chúa. Sự sáng này không phải là một trung gian mà Thiên Chúa được thêm thắt ở đó; nhưng là một cái gì, mà nhờ đó Thiên Chúa được trông thấy; thứ trung gian này không trở ngại sự trực tiếp trông thấy Thiên Chúa.
Nếu sự sáng này đòi phải có để trông thấy yếu tính Thiên Chúa, hẳn không phải theo thể cách của sự tương tự mà trong đó Thiên Chúa được trông thấy; song nó làm cho hoàn hảo trí năng bằng cách gia tăng năng lực, để trí năng có thể trông thấy Thiên Chúa. Người ta có trình bày sự phân biệt cách này: nó là một trung gian không phải trong đó người ta trông thấy Thiên Chúa, nhưng do hành động của nó mà Thiên Chúa được trông thấy. Và điều đó không làm mất sự trông thấy trực tiếp Thiên Chúa.
Sự sắp đặt để đạt tới mô thể lửa chỉ có thể là tự nhiên đối với các chủ thể của mô thể đó. Bởi đó, sự sáng của vinh quang Thiên đàng không có thể là tự nhiên đối với thụ tạo không có bản tính Thiên Chúa: Đây là một bất khả hữu. Vì nhờ sự sáng này, thụ tạo có trí-năng, được trở nên có mô thể Thiên Chúa, như đã trình bày trước.
Xem ra trong các hữu thể trông thấy yếu tính Thiên Chúa, hữu thể này không trông thấy hoàn hảo hơn hữu thể kia.
Có lời ghi chép: “Chúng ta sẽ trông thấy Ngài đúng như Ngài có thật” (1Ga 3,2). Nhưng Ngài có thật theo một thể cách duy nhất. Bởi đó, Ngài sẽ được trông thấy bởi tất cả mọi hữu thể theo một thể cách mà thôi. Và như vậy, Ngài sẽ không được trông thấy bởi hữu thể này cách hoàn hảo hơn và được trông thấy bởi hữu thể kia cách kém hoàn hảo hơn.
Thánh Augustin nói rằng: đối với cũng một vật duy nhất, người này không thể hiểu biết cách hoàn hảo hơn người kia (Lib 83, Quaest. 32), mà tất cả mọi người trông thấy Thiên Chúa nhờ yếu tính Thiên Chúa, hiểu biết yếu tính Thiên Chúa; Thiên Chúa được trông thấy bởi trí năng, chứ không p hải bởi giác quan, như đã trình bày trước. Bởi đó, trong những người trông thấy yếu tính Thiên Chúa, người này không trông thấy rõ ràng hơn người kia.
Bất cứ vật nào được trông thấy cách hoàn hảo hơn vật khác, có thể xảy ra theo hai thể cách: hoặc do phía đối tượng có thể được trông thấy hoặc do phía thị lực của chủ thể trông thấy. Về phía đối tượng, thể cách hơn kém hoàn hảo này có thể xảy ra, vì đối tượng có thể được lãnh nhận cách hoàn hảo hơn trong chủ thể trông thấy, nghĩa là, theo sự tương tự hoàn hảo hơn. Nhưng việc này không thể được ứng dụng ở đây, vì không phải nhờ sự trung gian của sự tương tự, nhưng nhờ yếu tính mình mà Thiên Chúa hiện diện trong trí năng đang trông thấy yếu tính của Ngài. Thành ra nếu chủ thể này trông thấy Ngài cách hoàn hảo hơn chủ thể kia, thì sự hơn kém hoàn hảo này sẽ xảy ra do sự dị biệt trong năng lực của trí năng. Như thế chủ thể nào có năng lực của trí năng cao hơn, sẽ trông thấy Thiên Chúa rõ ràng hơn; và sự hơn kém này thì phi lý, vì sự bằng nhau với các Thiên thần đã được hứa ban cho nhân loại, được coi là hạnh phúc của nhân loại.
TRÁI LẠI
Sự sống vĩnh cửu cốt tại sự trông thấy Thiên Chúa theo thánh Gioan: “Sự sống vĩnh cửu tức là họ nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật, duy nhất và Giêsu Kitô Cha đã sai xuống” (GA 17,13). Do đó, nếu mọi người trông thấy yếu tính Thiên Chúa bằng nhau trong sự sống vĩnh cửu, thì mọi người bằng nhau. Sự ngược lại đã được thánh Phaolô công bố: “Sao này sáng khác sao kia” (1Cr 15,41).
TRẢ LỜI
Trong những người trông thấy yếu tính Thiên Chúa, người này trông thấy Ngài cách hoàn hảo hơn người kia. Sự hơn kém hoàn hảo này xuất hiện dường như người này có sự tương tự với Thiên Chúa hoàn hảo hơn người kia; mà sự trông thấy đây sẽ không thể hiện nhờ sự tương tự. Nhưng sự đó xảy ra do trí năng này có năng lực hay thích nghi tính cao hơn người kia để trông thấy Thiên Chúa. Tuy nhiên, năng lực trông thấy Thiên Chúa, không thuộc về trí năng thụ tạo một cách tự nhiên, nhưng nhờ sự sáng của vinh quang thiên đàng: sự sáng này thiết lập trí năng trong một thứ mô thể Thiên Chúa, như đã thấy rõ ràng theo sự trình bày ở trước. Do đó, trí năng có nhiều sự sáng vinh quang hơn, sẽ trông thấy Thiên Chúa cách hoàn hảo hơn. Nhưng kẻ nào có nhiều đức mến hơn, sẽ có sự tham dự lớn hơn vào sự sáng vinh quang, vì ở đâu có đức mến cao độ hơn, ở đó có nhiều ước ao hơn, và sự ước ao theo một thể cách nào đó, làm cho kẻ ước ao trở nên thích nghi và được chuẩn bị để lãnh nhận đối tượng mình ước ao. Cho nên, kẻ nào chiếm hữu đức mến cao độ hơn, sẽ trông thấy Thiên Chúa cách hoàn hảo hơn và sẽ được hạnh phúc hơn.
GIẢI ĐÁP
1. Trong mấy tiếng: “Chúng ta sẽ trông thấy Thiên Chúa như Ngài đang hiện hữu”, liên từ “như” quyết định thể cách trông thấy về phía đối tượng được trông thấy, nghĩa là, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa hiện hữu như Ngài đang hiện hữu, vì chúng ta trông thấy sự hiện hữu của Ngài, mà sự hiện hữu của Ngài, tức là yếu tính của Ngài. Nhưng liên từ này không quyết định thể cách trông thấy về phía chủ thể trông thấy; dường như có nghĩa là thể cách trông thấy Thiên Chúa sẽ hoàn hảo như thể cách hiện hữu của Thiên Chúa.
2. Như vậy xuất hiện câu trả lời cho vấn nạn 2. Vì khi nói rằng trí năng này không hiểu biết cũng một vật duy nhất cách tốt đẹp hơn trí năng kia, sự khẳng định đúng, nếu quan hệ với thể cách của vật được hiểu biết; vì bất cứ ai hiểu biết vật được hiểu biết, bằng một thể cách khác với nó đang có thực sự, hiểu biết nó sai lầm.
3. Sự khác nhau trong việc trông thấy không xuất hiện do đối tượng được trông thấy, vì cũng một đối tượng được biểu thị cho mọi người, tức là yếu tính của Thiên Chúa; sự khác nhau cũng không xuất hiện do việc tham dự khác nhau vào cũng một đối tượng nhờ nhiều sự tương tự. Nhưng sự khác nhau sẽ nổi lên do sự khác nhau của trí năng, nhất định không phải vì khả năng tự nhiên, nhưng vì khả năng đã được vinh quang Thiên đàng như đã nói trước.
Xem ra những kẻ trông thấy yếu tính Thiên Chúa, thì lĩnh hội Thiên Chúa.
Thánh Phaolô dạy: “Không phải tôi đã chiếm được hoặc đã nên hoàn hảo, nhưng tôi vẫn theo đuổi, nếu may ra nhờ phương thế nào đó, tôi chiếm được” (Pl 3,12). Và thánh Phaolô không theo đuổi vô ích, vì chính thánh nhân đã nói: “Nên tôi chạy không bâng quơ, cũng không chiến đấu với không khí” (1Cr 9,26). Do đó, thánh nhân đã lãnh hội được. Và theo phương thế đó, những kẻ khác cũng lãnh hội được, những kẻ khác mà thánh nhân kêu mời cũng hành động như vậy, khi thánh nhân nói: “Anh em cứ chạy n hư vật mà giật giải” (1Cr 9,24).
Thánh Augustin nói: “Cái gì được lãnh hội, thì được trông thấy như một toàn thể nguyên vẹn thể ấy đến nỗi không có điều gì trong nó, còn che khuất đối với chủ thể trông thấy” (Epist., 148,9). Nhưng nếu Thiên Chúa được trông thấy trong yếu tính của Ngài, thì Ngài được trông thấy nguyên vẹn, và không có điều gì trong Ngài còn che khuất đối với chủ thể trông thấy, vì Thiên Chúa đơn giản, kẻ nào trông thấy yếu tính Ngài, là lãnh hội Ngài.
Nếu nói Thiên Chúa được trông thấy nguyên vẹn, chứ không phải cách nguyên vẹn, thì “cách nguyên vẹn”, thì “cách nguyên vẹn” có thể biện bác: Cách nguyên vẹn nói lên hoặc thể cách của chủ thể trông thấy, hoặc thể cách của vật được trông thấy. Nhưng kẻ nào trông thấy Thiên Chúa nhờ yếu tính Thiên Chúa, trông thấy Thiên Chúa cách nguyên vẹn, nếu hiểu về phía vật được trông thấy, vì trông thấy Ngài, như Ngài đang hiện hữu, như đã trình bày (t.6 và 1). Cũng thế, kẻ ấy trông thấy Thiên Chúa cách nguyên vẹn, nếu hiểu về phía chủ thể trông thấy, vì trông thấy Thiên Chúa với tất cả nguyên vẹn năng lực của trí năng. Do đó, bất cứ kẻ nào trông thấy Thiên Chúa nhờ yếu tính Ngài, thì trông thấy Ngài cách nguyên vẹn. Vậy kẻ ấy lãnh hội Thiên Chúa.
TRÁI LẠI
Có lời ghi chép: “Ôi Đấng cao cả, quyền hành, toàn năng: Danh Ngài là Chúa quân lực: Ngài vô cùng đa mưu, túc kế, và không thể được lãnh hội trong tư tưởng của Ngài” (Gr 32,18.19), do đó, Thiên Chúa không thể được lãnh hội.
TRẢ LỜI
Một việc bất khả đối với trí năng thụ tạo, là không lãnh hội được Thiên Chúa. Nhưng đạt tới Thiên Chúa với trí năng đã được nâng cao một vài bậc, là hạnh phúc to lớn, theo lời Augustin nói (Serm. 117,3).
Để minh chứng chân lý này, chúng ta phải nghiên cứu hễ cái gì được lãnh hội, được hiểu biết cách hoàn toàn, hễ cái gì được hiểu biết cách hoàn toàn, được hiểu biết cách sâu xa tột bậc có thể. Như vậy, bất cứ cái gì vốn ó thể được minh chứng các Khoa học, hiểu biết hình tam giác có ba góc bằng hai góc thẳng, người ấy lãnh hội chân lý đó. Còn nếu người nào công nhận chân lý đó, chỉ là ý kiến cái nhiên, bởi vì những Bác học hoặc phần đông nhân loại dạy chân lý đó, thì người đó không lãnh hội sự vật tại sự, vì không đạt tới thể cách hoàn hảo của tri thức mà thể cách tri thức một các nội khởi, có k hằng năm được đạt tới: Nhưng không trí năng thụ tạo nào có thể đạt được thể cách hoàn hảo đó về việc tri thức yếu tính Thiên Chúa mà thể cách tri thức này, một cách nội khởi, có thể đạt tới được. Đây chứng cứ: mỗi một vật có thể được tri thức theo hiện thể tính của mình. Nhưng Thiên Chúa là hiện thể vô cùng, có sự hiện hữu vô cùng, như đã trình bày trước, nên Ngài có thể được tri-thức vô cùng. Mà không trí năng thụ tạo nào có thể tri thức Thiên Chúa vô cùng. Vì trí năng thụ tạo tri thức yếu tính Thiên Chúa các hơn kém hoàn hảo theo tỷ lệ nó lãnh nhận hơn kém sự sáng của vinh phúc. Do đó, vì sự sáng thụ tạo đã được lãnh nhận vào trong trí năng thụ tạo không có thể là vô cùng, thì rõ ràng trí năng thụ tạo hoàn toàn không có thể tri thức Thiên Chúa ở độ vô cùng. Vậy trí năng thụ tạo không lãnh hội Thiên Chúa.
GIẢI ĐÁP
Tiếng compréhension (lãnh hội) có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là sự bao hàm: đây là nghĩa hẹp và chính xác, nói lên một vật nào được gồm có, gồm vào trong một vật chứa đựng. Và thể cách này, Thiên Chúa không cách nào bị bao hàm hoặc bởi trí năng, hoặc bởi vật gì khác, vì Ngài vô cùng, không thể bị bao gồm trong hữu thể hữu hạn, để hữu thể hữu hạn chứa đựng Ngài một cách vô cùng, như Ngài hiện-hữu vô cùng. Đó là một ý nghĩa của tiếng bao hàm đang được hiểu ở đây. Nghĩa thứ hai rộng hơn và đối lập với sự đạt tới không được, vì kẻ nào đạt được đến một người khác, được nói là bao gồm kẻ ấy, khi đạt tới được kẻ ấy. Và theo ý nghĩa này, Thiên Chúa được bao gồm bởi người thánh, theo lời nói: “Ta vừa đi qua họ không lâm, bỗng nhiên gặp được người yên tâm tâm hồn, ôm chằm lấy, giữ lại luôn, đem vào tư thất mẫu thân ta liền” (Dc 3,4). Chúng ta phải theo ý nghĩa này mà hiểu biết các lời của Thánh Phaolô đã được trích dẫn và có liên quan với tiếng compréhension. Theo ý nghĩa này, sự lãnh hội là một trong ba đặc sủng của linh hồn: sự chiếm được là câu trả lời cho đức Cậy, như sự trông thấy là câu trả lời cho đức Tin và sự hưởng thụ là câu trả lời cho đức Mến. Vì chính ở giữa nhân loại chúng ta, không phải tất cả các vật được trông thấy, đều được nắm lấy hoặc được chiếm hữu, vì các vật đôi khi xuất hiện cách xa, hoặc chúng nó không ở trong năng lực có thể đạt được. Và chúng ta cũng không luôn luôn thưởng thức hưởng thụ điều chúng ta chiếm hữu hoặc bởi vì chúng ta không gặp được vui thú trong điều đó, hoặc những vật thể ấy không phải là cùng đích cho sự ước ao của chúng ta, để đem lại cho sự ước ao của chúng ta một sự thoả mãn đầy đủ và sự bình an. Nhưng các Thánh trên Thiên đàng chiếm hữu ba đặc sủng này trong Thiên Chúa, vì các ngài trông thấy Thiên Chúa mà trong khi trông thấy Thiên Chúa, chiếm hữu Thiên Chúa nhờ quà tặng, vì có năng lực luôn luôn trông thấy Chúa cùng chiếm-hữu Ngài, họ thưởng thức hưởng thụ Ngài như đã làm thoả mãn cuối cùng cho sự ước ao.
Thiên Chúa được nói là bất khả đạt, không phải vì có cái gì thuộc về Ngài, không được trông thấy, nhưng vì Ngài không được trông thấy cách hoàn hảo như Ngài có khả năng để được trông thấy. Cũng vậy, khi một đề tài có thể minh chứng, được tri thức do một lý lẽ cái nhiên mà thôi, thì xảy ra không phải một phần của đề tài không được biết, hoặc là chủ từ hoặc là thuộc từ, hoặc sự phối hợp; nhưng với tính cách là nguyên vạn, đề tài đó không được tri thức cách hoàn hảo như nó có khả năng được tri thức. do đó, thánh Augustin nói, trong lúc định nghĩa tiếng lãnh hội: Một cái nguyên vẹn được trông thấy theo một thể cách dường ấy đến nỗi không có gì của nó bị chen khuất đối với chủ thể trông thấy, hoặc khi ranh giới của nó được trông thấy hoặc được thiết lập đầy đủ; vì các ranh giới của một vật được nói là đã được quan sát kỹ lưỡng, khi sự cuối cùng của tri-thức về đề tài đó đã được đạt tới.
Tiếng “cách nguyên vẹn” biểu thị thể cách của đối tượng; không phải nguyên vẹn đối tượng không đến với sự tri thức, những thể cách của đối tượng không p hải là thể cách của chủ thể tri thức. Bởi đó, kẻ trông thấy yếu tính Thiên Chúa thì trông thấy ngay ở nơi Thiên Chúa, việc Thiên Chúa hiện hữu vô cùng và có thể được tri thức vô cùng.
Xem ra những kẻ trông thấy yếu tính Thiên Chúa, trông thấy mọi sự trong Thiên Chúa.
Thánh Grégoire nói: “Cái gì mà họ không trông thấy, họ là những kẻ đã trông thấy Thiên Chúa là Đấng trông thấy mọi sự?” (Dial. 4,33).
Bất cứ ai nhìn vào kiếng trông thấy điều được phản chiếu trên kiếng. Nhưng tất cả mọi vật hiện thể hoặc khả hữu chiếu sáng trong Thiên Chúa, như trong tấm kiếng vì Ngài tri thức mọi sự trong chính Ngài. Bởi đó, bất cứ ai trông thấy Thiên Chúa trông thấy mọi hiện thể, và cũng trông thấy mọi khả hữu.
Hơn nữa, bất cứ ai hiểu biết điều lớn hơn, hiểu biết điều nhỏ nhất, như đã nói trong quyển sách về hồn (Aristote, De An. 3,4). Nhưng tất cả những gì Thiên Chúa tác thành, thì kém hơn yếu tính của Ngài. Bởi đó, bất cứ ai hiểu biết Thiên Chúa; có thể hiểu biết điều Thiên Chúa tác thành, hoặc có thể tác thành.
Thụ tạo có trí năng, tự nhiên ước ao hiểu biết mọi sự. Bởiđó, nếu thụ tạo này, khi trông thấy Thiên Chúa, mà không hiểu biết mọi sự, sự ước ao tự nhiên của thụ tạo này không nghỉ ngơi thoả mãn. Như vậy, trong khi trông thấy Thiên Chúa, thụ tạo này sẽ không được hạnh phúc đầy đủ trọn vẹn: tình trạng phi lý. Cho nên, bất cứ trông thấy Thiên Chúa, thì trông thấy mọi sự.
TRÁI LẠI
Thiên thần trông thấy yếu tính Thiên Chúa, và còn không hiểu biết mọi sự. Vì như Denays nói, thiên thần phẩm dưới thì được chữa cho khỏi trạng thái vô tri nhờ thiên thần phẩm trên (De Cael Hier., 7,5). Cũng vậy, thiên thần không biết những sự bất tất tương lai, và những tư tưởng bí ẩn; vì sự tri thức này thuộc về Thiên Chúa mà thôi. Cho nên, bất cứ ai trông thấy yếu tính Thiên Chúa, không hiểu biết mọi sự.
TRẢ LỜI
Trí năng thụ tạo, khi trông thấy yếu tính Thiên Chúa, không trông thấy trong yếu tính Thiên Chúa, tất cả những gì Thiên Chúa làm hoặc có thể làm. Vì rõ ràng điều này, là các vật được trông thấy trong Thiên Chúa theo thể cách chúng hiện hữu trong Thiên Chúa. Nhưng tất cả mọi vật hiện hữu trong Thiên Chúa, với tính cách là những hiệu quả ở trong năng lực của nguyên nhân của mình. Bởi đó, tất cả mọi sự hiện hữu trong Thiên Chúa như hiệu quả trong nguyên nhân của mình. Còn hiển nhiên điều này, là nguyên nhân được trông thấy cách càng hoàn hảo, cách hiệu quả của nó được trông thấy trong nó càng hoàn hảo. Vì bất cứ ai học thức cao, vừa khi một nguyên lý được đặt ra trước mắt thì liền có thể tri thức nhiều kết luật; nhưng sự kiện này vượt quá tầm người có trí năng yếu kém hơn, vì người này cần được cắt nghĩa từng việc một; và như vậy, trí năng này có thể hiểu biết, trong một nguyên nhân tất cả mọi hiệu quả của nguyên nhân này, cùng các lý do của các hiệu quả đó, là những hiệu quả được bao hàm trong nguyên nhân này, cách nguyên vẹn. Nhưng không trí năng thụ tạo nào có thể lãnh hội Thiên Chúa cách nguyên vẹn, như đã trình bày trước. Bởi đó, không trí năng thụ tạo nào, khi trông thấy Thiên Chúa, tri thức được tất cả những gì Thiên Chúa làm ra hoặc có thể làm ra vì tri thức như vậy, là lãnh hội quyền năng của Ngài. Nhưng với các vật mà Thiên Chúa làm ra, hoặc có thể làm ra, trí năng nào trông thấy Thiên Chúa các càng hoàn hảo, càng tri thức được hơn.
GIẢI ĐÁP
Thánh Grégoire nói đến sự đầy đủ của đối tượng, tức là Thiên Chúa, là Đấng trong chính Ngài, chứng đựng và phô bày cách đầy đủ tất cả các sự vật. Nhưng không vì đó mà bất cứ ai trông thấy Thiên Chúa, tri thức tất cả các sự vật, vì kẻ ấy không lãnh hội Ngài cách hoàn hảo.
Không tất nhiên bất cứ ai nhìn tấm kiếng, có thể trông thấy tất cả mọi sự ở trong tấm kiếng, nếu cái nhìn của người này không bao hàm chính tấm kiếng.
Dầu trông thấy Thiên Chúa thì lớn hơn là trông thấy tất cả mọi sự khác; điều càng lớn hơn đó là trông thấy Thiên Chúa theo thể cách tri thức tất cả mọi sự được hiểu biết trong Ngài, hơn là trông thấy Thiên Chúa theo thể cách không được tri thức tất cả mọi sự được được hiểu biết trong Ngài, nhưng chỉ được tri thức trong Ngài một số sự vật thôi. Vì đã trình bày số các sự vật được tri thức trong Thiên Chúa lệ thuộc vào thể cách hơn kém hoàn hảo mà Thiên Chúa được trông thây các hơn kém hoàn hảo.
Sự ước ao tự nhiên của thụ tạo có trí năng là tri thức tất cả mọi sự thuộc về sự hoàn hảo của trí năng, tức là, các loại, các giống của các sự vật và yếu tính của chúng nó, cùng những điều mà bất cứ ai, hễ trông thấy yếu tính Thiên Chúa, thì muốn trông thấy chúng ở trong Thiên Chúa. Nhưng tri thức các cá nhân, các tư tưởng và các hành vi của họ, không thuộc về sự hoàn hảo của trí năng thụ tạo, cũng không làm cho sự ao ước tự nhiên của trí năng hướng đến các vật này; trí năng cũng không ao ước tri thức những vật chưa hiện hữu, các vật mà Thiên Chúa có thể làm cho hiện hữu. Nhưng nếu duy Thiên Chúa được trông thấy, Thiên Chúa là nguồn mạch của sự hiện hữu nguyên vẹn và của chân lý nguyên vẹn, Ngài có thể làm đầy tràn sự ao ước tự nhiên đối với sự tri thức đến nỗi không còn sự gì khác được ước ao và chủ-thể trông thấy được hạnh phúc đầy đủ trọn vẹn. Bởi đó, Augustin nói: Vô phúc cho người tri thức tất cả các sự này, nghĩa là, tất cả các thụ tạo, mà không tri thức Thiên Chúa; nhưng hạnh phúc cho kẻ tri thức Thiên Chúa, mặc dầu họ không tri thức các sự này. Còn kẻ vừa tri thức Thiên Chúa vừa tri thức tất cả các sự này, thì không vì các sự này mà được hạnh phúc hơn, nhưng chỉ vì Thiên Chúa, mà được hạnh phúc (Conf. 5,4).
Xem ra cái gì được trông thấy trong Thiên Chúa bởi những kẻ trông thấy yếu tính Thiên Chúa được trông thấy nhờ một vài sự tương tự.
1. Tất cả mọi tri thức xảy đến nhờ chủ thể được đồng hoá với đối tượng được tri thức. Vì như vậy, trí năng ở hiện thể trở nên khả niệm hiện thể, và giác quan ở hiên thể trở nên khả giác hữu hiện thể, vì nó được mô hiệp bởi sự tương tự của đối tượng, như con mắt được mô hiệp bởi sự tương tự của màu sắc. Bởi đó, nếu trí năng của chủ thể trông thấy yếu tính của Thiên Chúa, hiểu biết những thụ tạo ở trong Thiên Chúa, nó phải được mô hiệp bởi sự tương tự của chúng nó.
2. Hơn nữa, cái gì mà chúng ta đã trông thấy, thì chúng giữ lại trong ký ức của chúng ta. Nhưng thánh Phaolô đã trông thấy yếu tính Thiên Chúa đang khi xuất thần. Khi ngài thôi trông thấy yếu tính Thiên Chúa, theo lời thánh Augustin nói, thì ngài ghi nhớ nhiều điều trông thấy trong thời gian xuất thần ấy; bởi đó ngài nói: Tôi đã nghe những lời bí ẩn không được tiết lộ (2Cr 12,4). Bởi thế phải nói rằng một vài tương tự về những điều ngài nhớ lại còn tồn tại trong trí năng của mình. Cũng cách ấy, khi đã trông thấy yếu tính Thiên Chúa cách hiện thể, ngài có một vài tương tự hoặc một vài hình ảnh về điều đã trông thấy trong yếu tính Thiên Chúa.
TRÁI LẠI
Một tấm kiếng và cái gì ở trong tấm kiếng, cả hai đều được trông thấy nhờ cũng một hình ảnh. Nhưng tất cả mọi sự được trông thấy trong Thiên Chúa như trong một tấm gương khả niệm. Bởi đó, nếu chính Thiên Chúa không được trông thấy bởi một tương tự nào, nhưng bởi chính yếu tính của Ngài, thì các sự vật cũng không được trông thấy trong Ngài bởi sự tương tự hoặc hình ảnh nào.
TRẢ LỜI
Những kẻ trông thấy Thiên Chúa nhờ yếu tính Thiên Chúa, những gì họ trông thấy trong Thiên Chúa, trông thấy không nhờ sự tương tự nào, nhưng là nhờ yếu tính Thiên Chúa, phối hợp với trí năng của họ. Vì mỗi sự vật được tri thức, tuỳ theo sự tương tự của ó ở trong chủ thể tri thức. Nhưng sự này xảy ra hai thể cách. Vì như hai sự vật đều tương tự với cũng một sự vật khác, tương tự với nhau, thì năng lực tri thức có thể đồng hoá với đối tượng có thể được tri thức bằng hai thể cách. Một thể cách, năng lực tri thức được đồng hoá với chính đối tượng, khi nó trực tiếp được mô-hiệp bởi sự tương tự của đối tượng; ở trường hợp này, đối tượng được tri-thức trong chính nó. Thế cách thứ hai, khi năng lực tri-thức được mô-hiệp bởi hình ảnh của sự vật nào tương tự với đối tượng; và theo thể cách này, sự tri-thức không thuộc về chính sự vật làm đối tượng, nhưng thuộc về sự vật tương tự với đối tượng. Vì sự tri-thức về một người trong chính họ, phân biệt với sự tri thức trong hình ảnh của họ. Bởi đó, tri thức các sự vật nhờ sự tương tự của chúng nó trong chủ thể tri thức, đó là tri thức chúng nó trong chính chúng nó, hoặc trong bản tính riêng của chúng nó; nhưng tri thức chúng nó nhờ các sự tương tự của chúng nó tiền-hiện hữu trong Thiên Chúa, đó là trông thấy chúng nó trong Thiên Chúa, nhưng có sự dị biệt giữa hai thứ tri thức này. Bởi đó, theo thể cách tri thức mà nhờ thể cách này, các sự vật được tri thức bởi những kẻ trông thấy yếu tính của Thiên Chúa, thì các sự vật này được trông thấy trong chính Thiên Chúa, không phải nhờ sự tương tự nào khác, nhưng chỉ nhờ yếu tính Thiên Chúa hiện diện với trí năng cũng chính nhờ yếu tính Thiên Chúa, mà chính Thiên Chúa được trông thấy.
GIẢI ĐÁP
1. Trí năng thụ tạo của chủ thể trông thấy Thiên Chúa, được đồng hoá với các sự vật được trông thấy trong Thiên Chúa, vì ó được phối hợp với yếu tính Thiên Chúa, mà trong yếu tính Thiên Chúa, các sự tương tự của tất cả mọi sự vật tiền hiện hữu.
2. Có những năng lực tri thức có thể tạo nên những hình ảnh khác do các ảnh niệm đã được thu nhận trước; như thế, trí tưởng tượng đi từ hình ảnh đã được thu nhận trước về núi và về vàng, tạo nên sự tương tự về núi vàng; và trí năng từ các tư tưởng đã được thu nhận trước về sự tương tự và dị biệt, tạo nên tư tưởng về loại. Cũng cách đó, từ sự tương tự của một ảnh niệm chúng ta có thể tạo nên trong trí-năng của chúng ta, các sự tương tự về ảnh niệm đầu tiên. Như thế, thánh Phaolô, hoặc một nhân vật nào khác, trông thấy Thiên Chúa; như thật sự trông thấy yếu tính Thiên Chúa, có thể tạo nên trong chính mình các sự tương tự và các sự vật đã được trông thấy trong yếu tính Thiên Chúa; các sự tương tự này đã tồn tại trong thánh Phaolô, dầu sau khi đã thôi trông thấy yếu tính Thiên Chúa. Nhưng thể cách trông thấy mà các sự vật được trông thấy nhờ các ảnh niệm đã được thu nhận trước, không phải là cũng một thể cách mà các sự vật được trông thấy trong Thiên Chúa.
Xem ra những kẻ trông thấy yếu tính Thiên Chúa, không trông thấy mọi sự mà họ trông thấy trong Ngài, cách đồng thời cùng một lúc.
1. Theo Triết gia: “Có thể may mắn xảy ra nhiều điều được tri-thức nhưng chỉ được tri-thức bằng một sự hiểu biết thôi” (Top. 2,10). Mà cái gì được trông thấy trong Thiên Chúa thì được hiểu biết; vì Thiên Chúa được trông thấy bởi trí-năng. Cho nên những kẻ trông thấy Thiên Chúa, thì không trông thấy nhiều sự vật trong Ngài bằng cách đồng thời cùng một lúc.
2. Thánh Augustin nói: Thiên Chúa tác-dụng thụ tạo thiêng liêng theo thời gian (De Genesi ad Litt., 8,20); nghĩa là, bằng sự hiểu biết và sự yêu mến. Nhưng thụ tạo thiêng liêng là Thiên thần là đấng trông thấy Thiên Chúa. Vậy kẻ trông thấy Thiên Chúa, thì hiểu biết và được cảm xúc kế tiếp, vì thời gian nói lên sự kế tiếp.
TRÁI LẠI
Thánh Augustin nói: Các tư tưởng của chúng ta sẽ không vững bền, đi đi lại lại từ sự vật này đến sự vật kia; nhưng chúng ta sẽ trông thấy tất cả mọi sự chúng ta hiểu biết, bằng một cái nhìn thoáng qua (De Trin., 15,16).
TRẢ LỜI
Cái gì được trông thấy trong Ngôi Lời, được trông thấy, không phải cách kế tiếp, nhưng đồng thời trong một lúc. Để chứng minh điều này, chúng ta tìm hiểu lý do tại sao chúng ta không thể có tri thức nhiều sự vật đồng thời một lúc, đó là vì chúng ta hiểu biết nhiều sự vật nhờ các ảnh niệm khác nhau. Nhưng trí-năng của chúng ta không có thể đồng thời một lúc được hiện thể mô hiệp bởi nhiều ảnh niệm khác nhau, để hiểu biết nhờ chúng nó; như một vật thể, đồng thời trong một lúc không thể mang nhiều hình khác nhau. Do đó, khi nhiều sự vật có thể được hiểu biết nhờ một ảnh niệm, thì được hiểu biết cùng một lúc; như những phần khác nhau của một vật nguyên vẹn, nếu từng phần được hiểu biết nhờ ảnh-niệm riêng biệt, thì được hiểu biết kế tiếp, và không tất ả được hiểu biết cùng một lúc, nhưng nếu tác cả các phần được hiểu biết nhờ cùng một ảnh niệm của vật nguyên vẹn, thì chúng nó được hiểu biết cùng một lúc. Mà đã trình bày ở trước, các sự vật được trông thấy Thiên Chúa, không được trông thấy riêng rẻ từng sự vật, nhưng tất cả được trông thấy nhờ một yếu tính duy nhất của Thiên Chúa. Do đó, chúng được trông thấy cùng một lúc, chứ không kế tiếp.
GIẢI ĐÁP
1. Chúng ta chỉ hiểu biết một sự vật, khi chúng ta hiểu biết nhờ một ảnh niệm; nhưng nhiều sự vật được hiểu biết nhờ một ảnh niệm, thì được hiểu biết cùng một lúc, như trong ảnh niệm của người ta, chúng ta hiểu biết con thú vật và có lý tính, và trong ảnh niệm của cái nhà, chúng ta hiểu biết vách tường và mái nhà. 2. Các Thiên thần, đối với sự tri thức tự nhiên của các ngài, nhờ đó các ngài hiểu biết các sự vật nhờ những ảnh niệm khác nhau mà các ngài đã được thiên phú, thì không tri thức tất cả mọi sự vật cùng một lúc, và như thế, trong việc hiểu biết, các ngài được tác dụng theo thời gian; nhưng đối với sự vật các ngài trông thấy trong Thiên Chúa, thì trông thấy cùng một lúc.
Xem ra trong đời sống này, người ta có thể trông thấy yếu tính Thiên Chúa.
1. Giacóp nói: Giacóp đặt tên nói đó là Pơnuel mà rằng: “Tôi đã thấy mặt Thiên Chúa nhãn tiền, thế mà sinh mạng tôi vẫn còn an toàn” (St 32,31). Nhưng trông thấy Thiên Chúa nhãn tiền là trông thấy yếu tính Thiên Chúa, như rõ ràng trong lời ghi chép: “Hiện nay ta thấy mờ mờ như trông vào gương, nhưng mai sau mặt đối mặt; bây giờ tôi hiểu biết một phần, nhưng lúc ấy tôi sẽ hiểu biết như tôi được hiểu biết” (1Cr 13,12). Bởi đó, Thiên Chúa có thể được trông thấy trong yếu-tính của Ngài ở đời này.
2. Thiên Chúa đã phán về Môisen: Ta chuyện vãn cùng người miệng với miệng rành mạch, và người nhìn thấy Ta nhãn tiền (Ds 12,8); nhưng, thế là trông thấy Thiên Chúa trong yếu tính của Ngài. Do đó, có thể trông thấy yếu tính Thiên Chúa, ở đời này.
3. Cái gì mà ở trong nó, chúng ta tri thức tất cả sự vật khác, và nhớ nó chúng ta phán đoán về các sự vật khác, thì được tri thức trong chính nó đối với chúng ta. Nhưng chính ngay bấy giờ, chúng ta tri thức tất cả mọi sự vật trong Thiên Chúa; vì thánh Augustin nói: “Nếu cả hai chúng ta trông thấy điều anh nói là thật, và cả hai chúng ta trông thấy điều tôi nói là thật, thì ở đâu, tôi xin hỏi, chúng ta trông thấy điều đó? Tôi cũng không trông thấy trong anh và anh cũng không trông thấy trong tôi; nhưng cả hai chúng ta trông thấy trong chính chân lý không thay đổi kia, ở trên trí năng chúng ta” (Confess. 12,25). Thasu còn nói: chúng ta phán đoán về tất cả mọi sự vật theo chân lý của Thiên Chúa (De Vera Relig., 30,31); và thánh Augustin còn nói: Đây là hành động của trí năng là phán đoán các sự vật hữu-hình này theo những tư tưởng vô hình và vĩnh cửu, các tư tưởng này, nếu không ở trên chúng ta, thi không phải là bất biến (De Trin., 12,1). Bởi đó, chính trong đời sống này, chúng ta trông thấy chính Thiên Chúa.
4. Theo thánh Augustin, các sự vật ở trong linh hồn chúng ta, nhờ các yếu tính của chúng nó, được trông thấy do sự trông thấy của trí năng (Kh. Ng. ad litt. 12,24). Nhưng sự trông thấy của trí năng đạt tới các sự vật khả niệm, không phải nhờ sự tương tự này, nhưng nhờ chính các yếu tính thực sự của chúng nó, như thánh Augustin cũng nói ở đó (Kh. Ng. ad litt. 12,24). Do đó, bởi vì Thiên Chúa ở trong linh hồn của chúng ta nhờ yếu tính của Ngài, thành ra Thiên Chúa được trông thấy bởi chúng ta, ngay trong yếu tính của Ngài.
TRÁI LẠI
Có lời ghi chép: Ngươi sẽ chẳng thấy được mặt Ta: vì không người nào trông thấy Ta mà còn sống được (Xh 33,20); và sách chú giải: “Trong đời sống chóng qua này, Thiên Chúa có thể được trông thấy nhờ một số hình ảnh, chứ không phải nhờ chính ảnh niệm của bản tính Thiên Chúa” (Glossa Ord. Ex S Greg., Moral. 18,54).
TRẢ LỜI
Thiên Chúa không thể được trông thấy trong yếu tính của Ngài, bởi một người, thuần tuý là con người, trừ phi người ấy đã ra khỏi đời sống hay chết này. Lý do như đã trình bày trước, là thể cách tri thức đi theo thể cách bản tính của chủ thể tri thức. Nhưng linh hồn chúng ta, bao lâu còn sống trong đời sống đời này có sự hiện hữu của nó trong chất thể, do đó, linh hồn, bằng cách tự nhiên, chỉ tri thức cái gì có mô thể trong chất thể hoặc cái gì được tri thức nhờ mô thể như vậy. Nhưng hiển nhiên điều này là yếu tính Thiên Chúa không có thể được tri thức nhờ bản tính của các sự vật hữu hình. Vì đã trình bày ở trước sự tri thức về Thiên Chúa nhờ sự tương tự thụ tạo, không phải là sự trông thấy yếu tính Thiên Chúa. Do đó, thật là bất khả đối với linh hồn người ta trong đời sống đời này, mà trông thấy Thiên Chúa. Bất khả hữu nầy được trông thấy trong sự kiện linh hồn chúng ta càng được trừu xuất ra ngoài các sự vật hữu hình, thì nó càng có khả năng lãnh nhận các sự vật khả niệm trừu tượng. Trong các giấc mơ và các sự đoán trước về các biến cố tương lai, thì được tri giác cách rõ ràng hơn. Bởi đó, thật là một hành động bất khả đối với linh hồn, là sống ở đời hay chết này, mà được nâng cao đến điểm cao nhất của các đối tượng khả niệm, tức là yếu tính Thiên Chúa.
GIẢI ĐÁP
1. Theo Denys, một người được nói trong Kinh Thánh rằng: đã được trông thấy Thiên Chúa theo ý nghĩa là một số hình được tạo nên trong các giác quan hoặc trong trí tưởng tượng, mang lại một vài tương tự tượng trưng một cái gì thuộc về Thiên Chúa (De Cael. Hier. 4,3). Như thế, khi Giacóp nói: “Tôi đã trông thấy Thiên Chúa mặt thấy mặt”, sự mặt gặp mặt này không biểu thị yếu-tính của Thiên Chúa, nhưng một vài hình tượng trưng Thiên Chúa. Sự tượng trưng Thiên Chúa phải được ứng dụng đối với thể cách cao độ về việc phán Tiên tri, mà Thiên Chúa được trông thấy nói chuyện, mặc dầu chỉ ở trong sự trông thấy do trí tưởng tượng, như sẽ giải thích rõ ràng ở sau (P. II, t. II, CH. 171, t.3). Khi chúng ta nói về các cấp bậc nói tiên tri. Chúng ta cũng có thể nói Giacóp nói như vậy để biểu thị sự chiêm niệm phấn khởi của trí năng trên tình trạng bình thường.
2. Như Thiên Chúa làm các phép lạ nơi các vật hữu hình, thì Ngài cũng làm những dấu lạ siêu nhiên như vậy trên trật tự chung, nâng cao tinh thần của một ít người đang sống trong xác thịt, mà không dùng đến giác quan, nâng cao đến trông thấy chính yếu-tính của Ngài, như thánh Augustin đã nói về Môisen là thầy của dân Do Thái, và về thánh Phaolô, là thầy của các dân ngoại.
Vấn đề này sẽ được thảo luận đầy đủ hơn, khi nói đến câu hỏi về Xuất thần.
3. Chúng ta trông thấy mọi sự trong Thiên Chúa, và phán đoán mọi sự tuỳ theo Thiên Chúa, vì do sự thông phần vào sự sáng của Ngài, chúng ta tri thức và phán đoán tất cả mọi sự vật vì sự sáng thật sự của trí-năng tự nhiên là sự thông phần sự sáng của Thiên Chúa; cũng như chúng ta được nói là trông thấy và phán đoán các sự vật khả giác trong sự sáng mặt trời. Do đó, thánh Augustin nói: “Các bài giáo huấn chỉ có thể được trông thấy, nếu được soi sáng bởi mặt trời riêng của chúng” (Solit. 1,8), tức là Thiên Chúa. Bởi đó, đúng như để trông thấy một sự vật khả-giác không cần tri thức bản thể của mặt trời, thì cũng vậy trong thể cách tương tự, để trông thấy một điều khả niệm nào ta không cần thiết trông thấy yếu tính của Thiên Chúa.
4. Sự trông thấy của trí năng đạt tới các sự vật ở trong linh hồn chúng ta nhờ yếu tính của chúng nó, như các sự vật khả niệm ở trong trí năng. Đây là thể cách Thiên Chúa ở trong linh hồn các Thánh trên Thiên Đàng; chứ không phải thể cách Ngài ở trong linh hồn chúng ta. Ngài ở trong linh hồn chúng ta bằng sự hiện diện, bằng yếu tính và quyền năng của Ngài.
Xem ra dùng trí-năng tự nhiên, chúng ta không thể tri-thức được Thiên Chúa ở đời này.
Boèce nói: Trí-năng không hiểu biết được mô thể đơn giản (De Consol. 5, Prose, 4). Nhưng Thiên Chúa là mô thể đơn giản tột bực, như đã trình bày trước. Cho nên, trí năng tự nhiên không thể đạt tới hiểu biết được Thiên Chúa. Linh hồn không hiểu biết được sự gì nhờ trí năng mà không nhờ đến hình ảnh nhưng chúng ta không thể có hình ảnh của Thiên Chúa vì là Đấng vô hình. Bởi đó, chúng ta không thể tri thức Thiên Chúa bằng sự tri thức tự nhiên.
Sự tri thức của trí năng tự nhiên thuộc về vừa sự tốt vừa sự sáng, vì người tốt và người xấu đồng có một bản tính chung nhưng sự tri-thức về Thiên Chúa chỉ thuộc về người tốt thôi vì thánh Augustin nói: “Con mắt của tinh thần nhân loại không được gắn vào sự sáng ưu việt kia, nếu không được thanh lọc do sự công chính của đức tin” (De Trin. 1,2). Cho nên, Thiên Chúa không thể được tri thức bởi trí năng tự nhiên.
TRÁI LẠI
Có lời ghi chép “Vì điều gì người ta có thể tri thức về Thiên Chúa, đều lộ hiện cho họ rồi (các dân ngoại), bởi Thiên Chúa đã bày tỏ ra cho họ” (Rm 1,19).
TRẢ LỜI
Sự tri thức bắt đầu từ giác quan. Do đó, sự tri thức tự nhiên của chúng ta có thể đi xa theo mức độ được dẫn dắt do các sự vật khả giác. Nhưng trí năng của chúng ta không có thể được dẫn dắt đi xa để trông thấy yếu tính Thiên Chúa; vì thụ tạo khả giác là hiệu quả của Thiên Chúa. Các hiệu quả này không bằng năng lực của Thiên Chúa; là nguyên nhân của chúng. Bởi đó, từ sự tri thức các sự vật khả giác nguyên vẹn năng lực của Thiên Chúa không thể được tri thức; nên yếu tính của Ngài cũng không được trông thấy. Nhưng vì chúng nó là những hiệu quả của Ngài là lệ thuộc vào nguyên nhân của chúng, thì chúng ta có thể được dẫn dắt đi từ chúng nó để tri thức Thiên Chúa hiện hữu hoặc không và để tri thức về Ngài những gì tất nhiên thuộc về Ngài là đệ nhất nguyên nhân của tất cả mọi vật vượt qua tất cả mọi sự vật được Ngài sáng tạo.
Nhờ đó, chúng ta tri thức mối tương quan của Thiên Chúa với các thụ tạo, nghĩa là, Ngài là nguyên nhân của tất cả mọi vật; và chúng ta cũng tri thức các thụ tạo dị biệt với Ngài, vì Ngài hẳn không phải là một phần trong tất cả những gì đã do Ngài tạo nên; và chúng ta còn tri thức các hiệu quả mà chúng nó không được đem ra khỏi Ngài, không phải bởi lý do một khuyết điểm nào ở phía Ngài, nhưng bởi vì Ngài tuyệt đối vượt qua chúng nó tất cả.
GIẢI ĐÁP
1. Trí năng không có thể đạt tới mô thể đơn giản, để tri thức nó là cái gì, nhưng có thể tri thức nó hiện hữu hoặc không.
2. Thiên Chúa được tri thức bởi sự tri thức tự nhiên nhờ các hình ảnh của các hiệu quả của Ngài.
3. Vì sự tri thức về yếu tính Thiên Chúa do ân sủng, chỉ thuộc về người tốt; nhưng sự tri thức về Thiên Chúa do trí năng tự nhiên có thể thuộc về vừa người tốt, vừa người xấu; và do đó, thánh Augustin khi rút lại điều đã nói trước, thì nói: Tôi không ưng thuận điều tôi đã nói trong câu kinh “Lạy Chúa, Chúa chỉ muốn các người trong sạch tri thức chân lý” (Retract., 1,4). Vì có thể trả lời rằng, có nhiều người, dầu không trong sạch, tri thức nhiều sự thật, tức là, nhờ trí năng tự nhiên.
Xem ra do ân sủng, không có thể đạt tới được sự tri thức về Thiên Chúa, cao hơn là do trí năng tự nhiên.
Denys nói: Bất cứ ai được kết hợp tốt đẹp hơn với Thiên Chúa trong đời sống ở đời này, thì được kết hợp với Ngài, như một Đấng hoàn toàn bất minh. Ông nói như vậy về Môisen; tuy nhiên Môisen đã được một ưu việt nào đó do ân sủng trao ban. Nhưng được kết hiệp với Thiên Chúa, đang khi không tri thức Ngài là Đấng nào, thì xảy ra do trí năng tự nhiên. Bởi đó, Thiên Chúa không được tri thức do ân sủng hơn do trí năng tự nhiên.
Chúng ta có thể được tri thức về các sự của Thiên Chúa do trí năng tự nhiên, bằng thể cách chỉ nhờ hình ảnh; và thể cách tri thức này cũng áp dụng với sự tri thức do ân sủng. Vì Denys nói: “Một việc không thể có được, là tia sáng của Thiên Chúa chiếu soi một thể cách khác mà không bị che bởi nhiều thứ bức màn Thánh có màu” (De Cael. Hier. 1,2). Bởi ấy chúng ta không tri thức Thiên Chúa do ân sủng cách đầy đủ hơn là do trí năng tự nhiên.
Trí năng chúng ta kết liền với Thiên Chúa do ân sủng đức tin. Nhưng đức tin xem ra không thuộc về tri thức; vì thánh Grégoire nói các sự vật không được trông thấy, là đối tượng của đức tin, chứ không phải là đối tượng của tri thức (In Evang., 2 hom. 26). Cho nên, chúng ta không được ân sủng ban cho một tri thức hoàn toàn về Thiên Chúa.
TRÁI LẠI
Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa đã nhờ Thánh Thần của Ngài, đã mạc khải cho chúng ta biết điều mà không một chức trách nào trên đời tri thức được” (1Cr 2,8.10), tức là các Triết gia như sách Chú giải trình bày.
TRẢ LỜI
Chúng ta tri thức hoàn hảo về Thiên Chúa do ân sủng hơn do lý trí tự nhiên. Và sự khẳng định được minh chứng: Sự tri thức mà chúng ta có do trí năng tự nhiên, đòi phải có hai yếu tố: các hình ảnh được lấy từ các vật khả giác, và một sự sáng khả niệm tự nhiên làm cho chúng ta có khả năng trừu xuất quan niệm khả niệm từ các hình ảnh đó.
Nhưng trong cả hai yếu tố này, sự tri thức nhân loại được giúp đỡ bởi sự mạc khải của ân sủng. Vì sự sáng tự nhiên của trí năng được tăng cường nhờ sự đổ vào một sự sáng được cho không; và đôi khi các hình ảnh trong trí tưởng tượng cũng được Thiên Chúa tạo nên để tỏ bày các việc về Thiên Chúa tốt đẹp hơn các hình ảnh được lãnh nhận cách tự nhiên từ các sự vật khả giác, như thấy rõ trong các thị kiến của các Tiên tri; và trong những lúc ấy, đôi khi các sự vật khả giác, hoặc chính tiếng nói được Thiên Chúa tạo nên để tỏ bày ý định của Ngài; như trong Phép Rửa, Đức Chúa Thánh Thần được trông thấy hình một chim Bồ Câu và tiếng Đức Chúa Cha được nghe: Này là Con Ta yêu dấu, Con làm thoả mãn lòng Ta (Mt 3,17).
GIẢI ĐÁP
Mặc dầu sự mạc khải của ân sủng, trong sự sống đời này, chúng ta không tri-thức về Thiên Chúa, Ngài là Đấng nào; và như vậy, chúng ta kết hợp với Ngài như Đấng bất minh: nhưng chúng ta tri-thức Ngài được đầy đủ hơn tuỳ theo nhiều hiệu quả hơn và hiệu quả ưu tú được tỏ bày cho chúng ta, và tuỳ theo chúng ta chỉ về Thiên Chúa một vài sự vật được tri thức do Thiên Chúa mạc khải các sự vật mà trí năng tự nhiên không đạt tới được, như, thí dụ, vấn đề Thiên Chúa Tam Vị nhất-thể.
Do các hình ảnh được lãnh nhận cách tự nhiên từ giác quan, hoặc được trực tiếp cấu tạo do Thiên Chúa trong trí tưởng tượng, chúng ta có sự tri thức thuộc trí năng càng hoàn toàn hơn nhiều bấy nhiêu, tuỳ theo sự sáng khả-niệm trong con người nhân loại, càng tỏ hơn được bao nhiêu; và như vậy, nhờ sự mạc khải được ban cho qua các hình ảnh, một sự tri thức đầy đủ hơn được lãnh nhận do sự sáng của Thiên Chúa đã đổ xuống...
Đức tin là một thứ tri thức, vì trí năng được quyết định do đức tin đến một đối tượng có thể được tri thức. Nhưng sự quyết định này đến với một đối tượng. Không phát xuất do sự trông thấy của người Tin, nhưng do sự trông thấy của Đấng được người ta Tin. Như vậy, Đức Tin càng thiếu sự trông thấy càng thiếu bản tính của sự tri thức một khi Đức Tin là sự tri thức; vì sự tri thức quyết định trí năng đạt tới một đối tượng do sự trông thấy và tri thức các nguyên lý sơ thuỷ.