Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 34-ABC Bài 401-429 Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ

Chủ nhật - 20/11/2022 09:07
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 34-ABC Bài 401-429 Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 34-ABC Bài 401-429 Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 34-ABC Bài 401-429 Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ
--------------------------------------

Năm A: Phúc Âm: Mt 25,31-46: “Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người, và sẽ phân chia họ ra”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Khi Con Người đến trong vinh quang, có hết thảy mọi thiên thần hầu cận, Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người. Muôn dân sẽ được tập họp lại trước mặt Người, và Người sẽ phân chia họ ra, như mục tử tách chiên ra khỏi dê. Chiên thì Người cho đứng bên phải, còn dê ở bên trái.
“Bấy giờ Vua sẽ phán với những người bên hữu rằng: “Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ. Vì xưa Ta đói, các ngươi cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta”.
“Khi ấy người lành đáp lại rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ chúng con thấy Chúa là lữ khách mà tiếp rước, mình trần mà cho mặc; có khi nào chúng con thấy Chúa yếu đau hay bị tù đày mà chúng con đến viếng Chúa đâu?” Vua đáp lại: “Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta”.
“Rồi Người cũng sẽ nói với những kẻ bên trái rằng: “Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng. Vì xưa Ta đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi chẳng tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi không cho đồ mặc; Ta đau yếu và ở tù, các ngươi đâu có viếng thăm Ta!”
“Bấy giờ họ cũng đáp lại rằng: “Lạy Chúa có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói khát, khách lạ hay mình trần, yếu đau hay ở tù, mà chúng con chẳng giúp đỡ Chúa đâu?” Khi ấy Người đáp lại: “Ta bảo thật cho các ngươi biết: những gì các ngươi đã không làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta”. Những kẻ ấy sẽ phải tống vào chốn cực hình muôn thuở, còn các người lành thì được vào cõi sống ngàn thu”. - Ðó là lời Chúa.

******

Năm B: Phúc Âm: Ga 18, 33b-37: “Quan nói đúng: Tôi là Vua”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Philatô hỏi Chúa Giêsu rằng: “Ông có phải là Vua dân Do-thái không?” Chúa Giêsu đáp: “Quan tự ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về tôi?”
Philatô đáp: “Ta đâu phải là người Do-thái. Nhân dân ông cùng các thượng tế đã trao nộp ông cho ta. Ông đã làm gì?” Chúa Giêsu đáp: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do-thái, nhưng mà nước tôi không thuộc chốn này”. Philatô hỏi lại: “Vậy ông là Vua ư?” Chúa Giêsu đáp: “Quan nói đúng. Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi”. - Ðó là lời Chúa.

******

Năm C: Phúc Âm: Lc 23, 35-43: "Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, các thủ lãnh cùng với dân chúng cười nhạo Chúa Giêsu mà rằng: "Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thật là Ðấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn". Quân lính đều chế diễu Người và đưa dấm cho Người uống và nói: "Nếu ông là vua dân Do-thái, ông hãy tự cứu mình đi". Phía trên đầu Người có tấm bảng đề chữ Hy-lạp, La-tinh và Do-thái như sau: "Người Này Là Vua Dân Do Thái".
Một trong hai kẻ trộm bị đóng đinh trên thập giá cũng sỉ nhục Người rằng: "Nếu ông là Ðấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa". Ðối lại, tên kia mắng nó rằng: "Mi cũng chịu đồng một án mà mi chẳng sợ Thiên Chúa sao? Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta đã làm, còn ông này, ông có làm gì xấu đâu?" Và anh ta thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi". Chúa Giêsu đáp: "Ta bảo thật ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta". - Ðó là lời Chúa.
---------------------------------------
TN 34-ABC401: Lòng tốt khơi dậy lòng tốt 3
TN 34-ABC402: Vua Tình Yêu. 4
TN 34-ABC403: Lễ Chúa Kitô Vua. 7
TN 34-ABC404: Những điều lạ lùng của Vua Tình Yêu Giêsu. 14
TN 34-ABC405: Ở THIÊN ĐÀNG VỚI TA.. 18
TN 34-ABC406: VUA GIÊSU.. 20
TN 34-ABC407: VUA KHÔNG NHƯ MONG ĐỢI 21
TN 34-ABC408: VUA CÁC VUA.. 23
TN 34-ABC409: TÌNH YÊU CÓ SỨC BIẾN ĐỔI 25
TN 34-ABC410: LỄ ĐỨC GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ.. 26
TN 34-ABC411: VỊ VUA CUỘC ĐỜI 27
TN 34-ABC412: GIÊSU VUA TÌNH YÊU.. 29
TN 34-ABC413: GIÊSU – VUA TÌNH YÊU.. 30
TN 34-ABC414: TÌM KIẾM NƯỚC THIÊN CHÚA.. 32
TN 34-ABC415: CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ.. 35
TN 34-ABC416: VUA PHỤC VỤ.. 38
TN 34-ABC417: LỜI HỨA CỨU ĐỘ.. 40
TN 34-ABC418: VƯƠNG QUỐC GIÊ-SU.. 42
TN 34-ABC419: VUA “NGƯỢC ĐỜI”. 44
TN 34-ABC420: LỄ CHÚA GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ.. 47
TN 34-ABC421: CHÚA NHẬT LỄ KITÔ VUA_C.. 48
TN 34-ABC422: VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU.. 50
TN 34-ABC423: CHÚA CỨU THẾ LÀ VUA.. 52
TN 34-ABC424: CHÚA GIÊSU KITÔ VUA HIỀN LÀNH, CHÍNH TRỰC, TRAO BAN BÌNH AN.. 55
TN 34-ABC425: VƯƠNG QUYỀN ĐỨC KITÔ.. 58
TN 34-ABC426: CHÚA GIÊSU KITÔ LÀ VUA.. 62
TN 34-ABC427: ĐỨC VUA ĐAU KHỔ.. 65
TN 34-ABC428: CHÚA KITÔ CÓ PHẢI LÀ VUA CỦA BẠN KHÔNG?. 70
TN 34-ABC429: CHÚA KITÔ: VUA VŨ TRỤ, ĐẤNG XÓT THƯƠNG MUÔN LOÀI 72

------------------------------

 

TN 34-ABC401: Lòng tốt khơi dậy lòng tốt


(Suy niệm của JB Lê Ngọc Dũng)

 

Đức Giêsu bị đóng đinh giữa hai tên trộm cướp. Hình ảnh đó làm cho chúng ta suy nghĩ đến một TN 34-ABC401


Đức Giêsu bị đóng đinh giữa hai tên trộm cướp. Hình ảnh đó làm cho chúng ta suy nghĩ đến một loại thế thái nhân tình. Đó là người ta không còn tin vào lòng tốt và sự thiện nữa. Có những lúc trong cuộc đời hay những giai đoạn lịch sử, người ta thấy hình như không còn thấy đâu là công lý, đâu là sự thật nữa; không còn ai là tốt cả. Cuộc đời chỉ toàn là bon chen giành giật, dối trá, mưu hại lẫn nhau.

Điều này dẫn tới một tình trạng thất vọng về cuộc đời, không còn tin vào việc thiện nữa. Đến như Đức Giêsu, một người thành thiện mà còn bị kết án giữa hai tên trộm cướp. Phải chăng sự thiện sẽ bị chiến bại, sự ác sẽ thắng? Phải chăng lòng tốt chẳng mang lại hiệu quả gì, chỉ bị thua thiệt mà thôi? Phải chăng người ta không còn tin vào sự thiện nữa?

Vào một đêm rất khuya, cô y tá ra khỏi bệnh viện. Hôm nay cố gắng giúp thêm cho bệnh nhân nên về trễ, cô vội vã đón xe buýt để về nhà. Chợt nhìn thấy ở vỉa hè trước mặt, một người đang nằm, có vẻ đang bị bệnh hoặc bị thương, cô đi đến xem có thể giúp được gì người ấy không. Nhưng khi cô vừa cuối xuống để xem, thì người ấy chồm lên, giựt túi xách của cô. Người đàn ông chỉ giả vờ nằm đó. Ông ta là một tên cướp giật. Cô vội giữ lấy túi xách. Hai người giằng co nhau túi xách. Rồi bất chợt, hai ánh mắt bắt gặp nhau. Người đàn ông trẻ thả túi xách ra và nói: “Ồ, xin lỗi, cô là cô y tá O’Reily đây mà!”.

Họ bắt đầu nói chuyện với nhau. Thì ra trước đây, người đàn ông này đã bị gãy chân, chữa trị ở nhà thương. Cô y tá O’Reily đã rất tận tình săn sóc và ông ta rất mến phục. Ông ta hỏi cô đi về đâu. Cô nói cô đón xe buýt về nhà. Ông tiễn cô đến trạm xe, nói chuyện với cô, và chờ cho đến lúc cô đi khỏi. Ông chào tạm biệt cô và rất ân hận về việc mình đã làm.

Đây là một câu chuyện có thật đã xảy ra. Câu chuyện làm tôi nhận ra điều này là: một người sẽ không bao giờ đánh mất đi lòng tốt của mình. Nó sẽ được phục hồi khi có một lòng tốt nào đó khơi dậy lại.

Đôi khi lòng tốt chiếu sáng nơi người khác lại là điều rất cần thiết giúp cho chính mình khơi dậy lại lòng tốt của mình. Một kỷ niệm tốt đẹp có thể cứu thoát một người khỏi một giây phút yếu lòng, nguy hiểm nào đó. Sự tử tế có thể cứu một người khác ra khỏi bóng tốt của thất vọng, hay tội lỗi.

Nếu như người phụ nữ trong câu chuyện không phải là cô y tá ấy, người đàn ông đó đã không hành động như vậy. Chắc hẳn ông ta đã trấn lột cô, và không cảm thấy ân hận điều gì. Nhưng ở đây chính con người mà ông đã biết là một con người rất tốt. Ông không thể đối xử xấu với cô. Cái đạo đức của cô đã làm cho ông thấy cái xấu xa của mình đang làm. Nói cách khác là nó làm cho ông ta ý thức được khả năng làm điều thiện của mình. Nó khơi dậy trong ông sự thiện, tưởng như đã chết trong ông.

Câu chuyện nhắc chúng ta đến cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và hai tên trộm cướp trên đồi Calvê. Một trong hai kẻ trộm đã để mình bị chìm mất trong bóng tối đến nỗi không muốn thấy ánh sáng. Còn người kia thì đã nhận ra ánh sáng từ sự thánh thiện của Đức Giêsu, và anh ta đã đáp trả.

Người trộm lành nhìn thấy Đức Giêsu là người vô tội. Còn hơn nữa, anh còn nói biện hộ cho Ngài trước mặt người trộm kia. Anh là người duy nhất làm chứng cho Đức Giêsu về sự vô tội của Ngài. Sự tốt lành của Đức Giêsu đã khiến anh nhận ra những cái xấu xa anh đã làm, nó cũng giúp anh nhận ra mình đã đánh mất sự thiện hảo. Anh quay lại với Đức Giêsu, nhận ra Ngài là người duy nhất có thể cứu anh ta trong những giây phút cuối cùng. Đức Giêsu đã không làm cho anh thất vọng.

Đức Giêsu quả thật là một vị vua, nhưng là một vị vua kỳ lạ hơn tất cả các vị vua. Ngài đến khộng phải để xâm chiếm nhưng để hoán cải, không phải để thống trị nhưng để giải thoát, không phải để cai trị nhưng để phục vụ. Ngài chết như một tên tử tội, nhưng Ngài được đăng quang trên chính Thánh giá. Ngài đã đáp trả cho sự xấu nhất bằng chính lòng tốt nhất. Tại sao Ngài lại không đánh trả kẻ bách hại Ngài? Một thi sĩ, ông Seamus Heaney, nói rằng quyền năng trên mọi quyền năng sẽ không thống trị.

Chúng ta có thể dùng lời thánh Phaolô để nói với Chúa rằng: Con cám ơn Chúa, Đấng đã cứu chúng ta ra khỏi quyền lực của sự dữ bóng tối, và đưa chúng ta đến vương quốc của Con chí ái của Ngài; trong Ngài chúng ta được tự do và được tha thứ hết mọi lỗi lầm.

--------------------------------

 

TN 34-ABC402: Vua Tình Yêu


(Suy niệm của Jos. Hoàng Mạnh Hùng)

 

Tin Mừng Chúa nhật cuối cùng năm Phụng vụ C tường thuật lại cái chết ô nhục của Chúa Giêsu Kitô TN 34-ABC402


Tin Mừng Chúa nhật cuối cùng năm Phụng vụ C tường thuật lại cái chết ô nhục của Chúa Giêsu Kitô trên thập giá để nói về chức vị Vua cao cả của Ngài. Giữa những lời nhạo báng và thách thức, nổi bật lên một lời công nhận vương quốc của Thiên Chúa.

Tên trộm lành, một trong hai kẻ cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu, đã hiểu và tin vào Vua Giêsu Kitô, nên đã thưa với Chúa: "Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi! " (Lc 23,42). Chúa Giêsu đã an ủi và bảo đảm với anh ta: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng." (Lc 23,43).       

Chúa Giêsu là Vua, một vị Vua chỉ nói lời yêu thương và tha thứ, chứ không nói lời kết án. Ngài đã thoát ra khỏi quy luật bình thường của một vị vua trần gian, như Ngài đã nói: “Nước Tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18,36).

Vương quốc của Vua Giêsu Kitô là vương quốc của Tình Yêu vì Ngài là Thiên Chúa, mà “Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,8). Nhưng Ngài không đòi hỏi phải được phục vụ như một vị vương đế: “Con người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người” (Mc 10,45).

Ngài yêu thương con dân và đã hi sinh mạng sống mình trên thập giá một cách khổ nhục để cứu họ thoát khỏi ách thống trị của sự chết. Ngài dùng tình thương để cai trị đồng thời đòi hỏi các thần dân của Ngài cũng phải biết yêu thương như chính Ngài đã yêu thương họ.

Ngài đã tự đồng hóa mình với những kẻ bé nhỏ, những kẻ đau ốm, những kẻ tù đầy, những kẻ đói khát, trần truồng. Mỗi khi chúng ta làm một nghĩa cử yêu thương cho tha nhân là chúng ta làm cho chính Chúa như lời Ngài đã phán: ”Mỗi lần các ngươi làm cho một người bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta“ (Mt 25, 40).

Khi nhận lãnh bí tích Thanh tẩy, chúng ta cũng đã được tham dự vào vương quyền của Đức Giêsu Kitô. Là người thừa kế, là chi thể của Ngài, chúng ta có nhiệm vụ bảo vệ và làm cho vương quyền của Ngài được mở rộng để tất cả mọi nguời nhận biết Đức Giêsu Kitô là vua vũ trụ và hết lòng tin theo Ngài.

Nói cách khác, chúng ta phải củng cố và hoàn thiện vương quốc mà Đức Giêsu Kitô đã thiết lập khi Ngài còn ở duơng thế bằng chính cuộc sống trần gian của mình. Mọi việc chúng ta làm đều phải quy hướng về Người và làm cho danh Người được cả sáng trên trần gian.

Trong xã hội ích kỷ và hưởng thụ của nhiều người hôm nay, Giáo Hội rất cần những con người sống yêu thương và phục vụ, để làm cho khuôn mặt yêu thương của Chúa luôn được tỏa sáng cho mọi người.

Sống theo lương tâm ngay chính, hoà thuận, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, làm những việc lành phúc đức… để ngày càng có thêm nhiều người sống như ta. Qua đó, Nước Chúa ngày càng được mở rộng cho đến khi nào tất cả loài người đều biết sống như thế thì Vương quốc Tình Yêu sẽ tỏ hiện dưới ánh quang Thiên Chúa.

Long trọng mừng lễ Chúa Kitô Vua, chúng ta cũng bình tâm soi xét lại cuộc đời mình để nhận ra những thiếu sót và lỗi lầm vì bao đam mê và vương vấn trần tục. Chúng ta mong đợi ngày hồng phúc, ngày Chúa của chúng ta vinh quang ngự đến, xét xử mọi người chúng ta.

Vì thế, từng giây phút ta phải sẵn sàng và chuẩn bị tâm hồn để đón rước Vua của chúng ta ngự đến trong giờ sau hết của cuộc đời mỗi người. Ngày xét xử đó có thể là “ngày hạnh phúc, vui mừng và vinh quang” nhưng cũng có thể là “ngày tăm tối, khóc lóc và nghiến răng.”

Lạy Chúa, trong những ngày cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo Hội cho chúng con nhìn lại những chân giá trị của cuộc phán xét chung ngày tận thế. Giáo Hội cũng đặc biệt nhắc nhở chúng con về vương quyền của Ðức Giêsu Kitô và mối tương quan giữa hành vi của chúng con với vương quyền ấy.

Xin cho chúng con luôn xác tín rằng chỉ vương quốc của Chúa là bền vững và đem lại hạnh phúc trường cửu cho chúng con. Xin cho mọi thành phần trong Giáo Hội luôn nêu gương bác ái yêu thương cho mọi người. Xin cho các Kitô hữu biết nhìn thấy Chúa trong anh chị em nghèo khổ, bất hạnh xung quanh để tận tình hy sinh, thương yêu giúp đỡ họ cả phần hồn lẫn phần xác.

Và xin cho chúng con biết đặt niềm tin cậy vào Chúa, biết chuẩn bị ngay từ đời này những gì cần thiết. Để mai sau xứng đáng được vào Vương quốc Tình Yêu là “Vương quốc vĩnh cửu và vô biên, vương quốc tràn đầy sự thật và sự sống, đầy tràn ân sủng và thánh thiện, đầy tràn tình thương, công lý và bình an”.

-------------------------------

 

TN 34-ABC403: Lễ Chúa Kitô Vua


(Suy niệm của Lm. Inhaxiô Hồ Thông)

 

Lễ Chúa Ki-tô Vua Vũ Trụ đã được Đức Pi-ô XI thiết lập, nhằm khẳng định niềm tin của Giáo TN 34-ABC403


Lễ Chúa Ki-tô Vua Vũ Trụ đã được Đức Pi-ô XI thiết lập, nhằm khẳng định niềm tin của Giáo Hội vào quyền tối thượng hoàn vũ của Chúa Ki-tô trên cá nhân, gia đình và xã hội. Trong Thông Điệp “Quas primas” được ban hành vào ngày 11 tháng 12 năm 1925, Đức Pi-ô XI lên án đặc biệt chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa này phủ nhận triệt để vương quyền của Chúa Ki-tô. Đức Giê-su không những là Thầy, là Anh, là Bạn mà còn là Vua của chúng ta nữa.

2Sm 5: 1-3

Bài Đọc I gợi nhớ tổ tiên của Chúa Ki-tô là vua Đa-vít. Trước đó, Đa-vít đã được các chi tộc miền Nam tôn phong làm vua, bây giờ lại được các chi tộc miền Bắc tấn phong làm vua tại Khép-rôn. Như vậy, vua Đa-vít, tổ tiên của Đức Giê-su, đã thống nhất toàn thể dân Ít-ra-en và đã thiết lập vương quốc trong sự bình an thịnh trị.

Cl 1: 12-20

Trong thư của thánh Phao-lô gửi cho các tín hữu Cô-lô-xê, chúng ta gặp thấy một bài thánh thi phụng vụ của Giáo Hội tiên khởi, tôn vinh Chúa Ki-tô, Ngài là Chủ Tể của vũ trụ và là Thủ Lãnh của Giáo Hội.

Lc 23: 35-43

Tin Mừng Lu-ca thuật lại tình tiết của người gian phi sám hối. Anh nhận ra ở nơi Đức Giê-su chịu đóng đinh là Người Công Chính thập toàn, Vua Thiên Quốc, Đấng đầy lòng thương xót, Ngài có quyền dẫn đưa các tội nhân vào Vương Quốc của Ngài.

BÀI ĐỌC I (2Sm 5: 1-3)

Bản văn này đưa chúng ta trở lại bối cảnh của năm 1000 trước Công Nguyên. Trong thời gian dài, dân Ít-ra-en đã từ chối chọn cho mình một vị vua, vì Đức Chúa là vua duy nhất của họ.

1. Hoàn cảnh đòi buộc

Trong những giờ phút nguy kịch cần đến những hành động đúng lúc, các chi tộc chỉ định những vị đứng đầu tạm thời mà họ gọi các “Thủ Lãnh”. Nhưng trước mối nguy của quân Pha-lê-tinh càng lúc càng khẩn thiết và nghiêm trọng, toàn dân Ít-ra-en cảm thấy cần phải huy động mọi sức mạnh và phối hợp mọi thế lực. Ông Sa-mu-en, vị Thủ Lãnh cuối cùng đã xức dầu tấn phong vua Sa-un (vào năm 1030-1025 trước Công Nguyên). Nhưng vì vua Sa-un đã làm những điều trái mắt Đức Chúa, ngôn sứ Sa-mu-en được Đức Chúa sai đi xức dầu tấn phong cậu bé Đa-vít, con trai út của ông Gie-sê, thay thế vua Sa-un.

2. Đa-vít được tấn phong làm vua

Kể từ khi còn ở dưới trướng của vua Sa-un, Đa-vít đã tỏ ra là một người có tài thao lược. Vả lại, tên “Đa-vít” có nghĩa “thủ lãnh”, “người chỉ huy”. Thuộc hạ của ông đã ca ngợi nhân cách của ông, lòng quảng đại của ông trong việc phân chia chiến lợi phẩm. Đồng thời, việc ông xuất thân từ làng Bết-lê-hem chiếm được cảm tình của các chi tộc miền Nam, họ đã tôn ông lên làm vua tại Khép-rôn (vào năm 1010 trước Công Nguyên).

Vào lúc đó, các chi tộc miền Bắc vẫn trung thành với nhà Sa-un. Nhưng những cuộc tranh chấp quyền hành và những cuộc trả thù đã dẫn đến việc ám sát vua Ít-bô-sét, con vua Sa-un. Vì thế, các chi tộc miền Bắc liên minh với vua Đa-vít. Đoạn trích hôm nay là chuyện tích về các chi tộc miền Bắc thần phục vua Đa-vít.

3. Sấm ngôn về vua Mê-si-a

Như vậy vua Đa-vít trở thành vua của toàn dân Ít-ra-en và cai trị một dân thống nhất; “vua Đa-vít lập giao ước” với toàn thể các chi tộc Ít-ra-en. Vua đã chiếm Giê-ru-sa-lem và thiết lập thành này làm thủ đô. Đa-vít là vị vua đầu tiên của thành thánh, thành này sẽ là biểu tượng nơi cư ngụ của Đức Chúa ở cõi thế.

Các ngôn sứ sẽ nêu bật nhân cách Đa-vít và sẽ loan báo rằng từ nhà Đa-vít sẽ sinh hạ vua Mê-si-a mà vương quốc của Ngài sẽ là vương quốc bình an và công chính.

BÀI ĐỌC II (Cl 1: 12-20)

Đoạn trích thư của thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-lô-xê này chứa đựng một bài thánh thi tôn vinh Đức Ki-tô, Chủ Tể của vũ trụ và Thủ Lãnh của Giáo Hội.

1. Bối cảnh

Thư gửi tín hữu Cô-lô-xê được viết trong khi thánh Phao-lô bị giam cầm ở Rô-ma vào khoảng những năm 61 và 63. Trong thời gian này, thánh Phao-lô đã suy nghĩ sâu xa về Chúa Ki-tô, trên cùng một mức độ như người ta gặp thấy trong thư gửi tín hữu Ê-phê-xô, thư này thuộc cùng một thời kỳ. Nhưng bài thánh thi, trung tâm phát triển đạo lý của thư gửi tín hữu Cô-lô-xê, xem ra là một bài thánh thi phụng vụ của Giáo Hội tiên khởi, cũng như bài thánh thi được trích dẫn trong thư gửi tín hữu Phi-líp-phê. Trong trường hợp thư gửi tín hữu Cô-lô-xê này, bài thánh thi là câu trả lời tốt nhất cho những biện luận sai lạc được phổ biến trong khắp các giáo đoàn miền Phygia. Thánh nhân đã được báo cho biết những biện luận sai lạc này: chúng giảm thiểu vai trò của Chúa Ki-tô trong công trình tạo dựng cũng như công trình cứu độ, vì quá đề cao những quyền năng trung gian, nhất là các thiên sứ.

Đoạn trích hôm nay gồm có hai phần: phần dẫn nhập (1: 12-14) và bài thánh thi (1: 15-20).

2. Phần dẫn nhập (1: 12-14)

A- Vương Quốc của Thánh Tử

Phần dẫn nhập mở đầu với việc chúc tụng Chúa Cha. Ở phần dẫn nhập này, chúng ta gặp thấy lần duy nhất trong Tân Ước diễn ngữ “vương quốc Thánh Tử chí ái”. Các tác giả Tin Mừng nói về Vương Quốc Thiên Chúa hay Nước Trời, chứ không Vương Quốc Thánh Tử. Thật ra, trước quan tổng trấn Phi-la-tô, Đức Giê-su đã công bố mình là vua và Nước của Ngài không thuộc về thế gian này (Ga 18: 36). Ở đây, rõ ràng thánh Phao-lô ca ngợi vương quốc của Thánh Tử.

B- Cảm tạ Chúa Cha

Chính luôn luôn với Chúa Cha mà thánh Phao-lô dâng lên lời nguyện cầu của mình; và cũng chính luôn luôn về Chúa Cha mà thánh nhân quy chiếu nguyên lý cứu độ. Lời cầu nguyện của Giáo Hội cũng sẽ theo cùng một chuyển động như thế: cầu nguyện là hành vi cảm tạ Thiên Chúa, vì Đức Ki-tô và nhờ Đức Ki-tô.

Rõ ràng thánh nhân đang mời gọi các Ki-tô hữu gốc lương dân, chắc chắn họ chiếm đa số trong Giáo Đoàn Cô-lô-xê, hãy cảm tạ Thiên Chúa, Đấng “đã làm cho anh em trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của các thánh trong cõi đầy ánh sáng”. Ơn cứu thoát vốn là gia nghiệp được dành riêng cho dân Ít-ra-en xưa, nay Thiên Chúa cho dân ngoại cũng được dự phần vào (x. Cl 1: 11-13). Họ được dự phần vào nhờ phép Thánh Tẩy, tức là lìa bỏ mọi quyền lực tối tăm mà bước vào “trong cõi đầy ánh sáng”.

Đoạn, thánh Phao-lô chuyển từ “anh em” sang “chúng ta”: “Người đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm”. Thánh nhân không tách mình ra khỏi cộng đoàn tín hữu. Không phải chính thánh nhân cũng đã được giải thoát khỏi quyền lực tối tăm và được ánh sáng chói lòa của Đấng Phục Sinh quật ngã và chinh phục trên đường Đa-mát đấy sao?

C- Ơn Cứu Độ

Sau cùng, lời ca ngợi cao cả nhất dâng lên Thiên Chúa: “Người đã đưa chúng ta vào vương quốc Thánh Tử chí ái; trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi”. “Ơn cứu chuộc” không gì khác hơn là giải thoát khỏi cảnh đời nô lệ của tội lỗi, tức là ơn tha thứ tội lỗi, do sáng kiến của Chúa Cha, nhờ Đức Giê-su Ki-tô là Thánh Tử.

Chúng ta lưu ý rằng ở đây thánh Phao-lô dùng thì quá khứ: “Người đã đưa chúng ta vào vương quốc Thánh Tử chí ái”. Đây là nét đặc trưng của các “thư trong tù” của thánh nhân. Ơn cứu độ là một thực tại đã được thực hiện rồi và đang thành tựu. Trong thư gửi cho các tín hữu Ê-phê-xô, thánh nhân cũng nói như thế: “Người đã cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Giê-su Ki-tô trên cõi trời” (Ep 2: 6). Trong cảnh xiềng xích, thánh nhân đã chiêm ngắm mầu nhiệm; thánh nhân định lượng sự viên mãn của mầu nhiệm; thánh nhân chăm chú chiêm ngưỡng ơn cứu độ đã được thực hiện và đang đơm bông kết trái. Từ suy niệm, thánh nhân dẫn đưa chúng ta vào bài thánh thi tôn vinh Thánh Tử.

3. Bài thánh thi (1: 15-20)

A- Quyền tối thượng của Đức Ki-tô trong công trình tạo dựng

“Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình,
là trưởng tử nắm quyền Trưởng Tử trên mọi loài thụ sinh,
vì trong Người muôn vật được tạo thành,
trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình”.

Những câu mở đầu này áp dụng cho Đức Giê-su Ki-tô những từ ngữ ca ngợi tính ưu việt của Đức Khôn Ngoan, trong các bản văn trào lưu minh triết:

– “Đức Khôn Ngoan phản chiếu ánh sáng vĩnh cửu,
là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa,
là hình ảnh lòng nhân hậu của Người” (Kn 7: 26).

– “Đức Chúa đã dựng nên ta như tác phẩm đầu tay của Người,
trước mọi công trình của Người từ thời xa xưa nhất.
Ta đã được tấn phong từ đời đời,
từ nguyên thủy, trước khi có mặt đất…
Đã có ta hiện diện khi Người thiết lập cõi trời…
Khi người đặt nền móng cho đất.
Ta hiện diện bên Người như tay thợ cả…” (Cn 8: 22tt.).

Phần mở đầu của bài thánh thi ca ngợi Đức Ki-tô vừa nguyên nhân tác thành vừa nguyên nhân cùng đích của vũ trụ:

“Vì trong Người muôn vật được tạo thành,
trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình”.

Thánh Gioan sẽ lấy lại những từ ngữ của thư gửi các tín hữu Cô-lô-xê này trong Tựa Ngôn của mình:

“Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành,
và không có Người, thì chẳng có chi tạo thành.
Điều được tạo thành ở nơi Người là sự sống,
và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (Ga 1: 3).

Viễn cảnh của bài thánh thi không mang tính vũ trụ, nhưng mang tính thần học: Đức Giê-su Ki-tô “thâu tóm” trong Ngài toàn thể vũ trụ:

“Người có trước muôn loài muôn vật,
tất cả đều tồn tại trong Người” (1: 17).

B- Quyền tối thượng của Đức Ki-tô trong trật tự siêu nhiên

Nếu Đức Ki-tô là khởi nguyên công trình tạo dựng trong trật tự tự nhiên, thì Ngài cũng là khởi nguyên toàn bộ sự sống siêu nhiên. Ngài là đầu Giáo Hội, thân thể mầu nhiệm của Ngài. Ngài là “Trưởng Tử trên mọi loài thụ sinh” như thế nào, thì Ngài là người đầu tiên từ cõi chết sống lại như vậy, nghĩa là Ngài đã khai mạc sự sống vinh quang; Ngài là Chủ Tể đời sống mới này. Thánh Gioan sẽ nói trong sách Khải Huyền: Đức Giê-su Ki-tô là “An-pha và Ô-mê-ga, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng” (Kh 22: 13).

Chính Đức Giê-su Ki-tô là tác giả của ơn cứu độ:

“Nhờ máu Người đổ ra khi chết trên thập giá,
Thiên Chúa đem lại bình an
cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (1: 20).

Song đối với sự hài hòa của vũ trụ là sự hài hòa của các tâm hồn mà việc tha thứ tội lỗi mang lại: sự bình an trong tâm hồn này là thành quả hy tế của Đức Ki-tô.

Khi trích dẫn thánh thi ca ngợi tính ưu việt của Đức Ki-tô này, thánh Phao-lô đã thấy ở đây trước tiên một vũ khí chống lại những lời nói vớ vẩn của các triết gia Cô-lô-xê; nhưng đồng thời thánh nhân cũng đã gặp thấy ở đây diễn ngữ thần học, diễn tả sâu xa thần học của thánh nhân. Biến cố trên đường Đa-mát đã mặc khải cho thánh nhân tầm quan trọng hàng đầu của vai trò Đức Ki-tô. Con người Đức Ki-tô ngự trị trên quan điểm về ơn cứu độ, quan niệm về Giáo Hội, cũng như kinh nghiệm nội tâm của thánh nhân. Đức Ki-tô là tất cả trong mọi sự.
TIN MỪNG (Lc 23: 34-43)

Vào Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng Vụ này, năm phụng vụ của Tin Mừng Lu-ca, Giáo Hội trích dẫn Tin Mừng Lu-ca để gợi lên dung mạo của Vua Ki-tô.

1. Bối cảnh

Đức Giê-su bị đóng đinh, bị bêu xấu, đối tượng của những lời nhục mạ và chế nhạo. Ở đây, chúng ta có thể nhận ra Tv 22: 8:

“Thấy con ai nấy cũng chê cười,
lắc đầu bĩu mỏ buông lời mĩa mai”.

Ở trên đầu Ngài, một tấm bảng ghi bản án: “Đây là vua người Do thái”.

Thật ra, Tin Mừng Lu-ca bày tỏ thái độ thiện cảm của dân chúng đối với Đấng chịu đóng đinh. Họ không dự phần vào những lời nhục mạ; họ trầm ngâm đứng nhìn. Nhưng rồi một ánh sáng bất chợt lóe lên, những lời nói thốt lên trước khi mọi sự được hoàn tất. Đó là những lời nói phát xuất từ một trong hai tên gian phi chịu đóng đinh với Chúa Giê-su. Tình tiết này thuộc riêng thánh Lu-ca.

2. Lời khẩn nguyện của người gian phi sám hối

Trong khi một trong hai tên gian phi cùng chịu đóng đinh với Ngài buông những lời phỉ báng mà hắn đã nghe các thủ lãnh Do thái nhục mạ Đức Giê-su: “Ông không phải là Đấng Ki-tô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi nữa!”, thì người gian phi kia mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không sợ!”, rồi công bố Ngài vô tội: “Chúng ta chịu như thế nầy là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm gì trái!”.

Ân sủng được ban ngay tức khắc cho người gian phi khiêm tốn này, anh xưng thú tội lỗi mà mình đã làm, và như thế mặc nhiên bày tỏ tâm tình sám hối của mình. Anh ta nhận ra Đức Giê-su là vua Mê-si-a và lời cầu xin đầy tin tưởng của anh chứng tỏ anh tin chắc là mình được tha thứ: “Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”.

Thật hiếm khi Đức Giê-su được gọi đích danh như thế. Chắc chắn, ở đây có một ghi nhận mang tính thực tế: tiếng kêu của một tội nhân ngỏ lời với người cùng chịu chung cảnh cùng khốn với mình: “Xin nhớ đến tôi”. Đây là lời mở đầu kinh nguyện Do thái mà những người hấp hối ngỏ lời với Thiên Chúa: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con”, “Xin nhớ đến giao ước của Ngài”, vân vân.

3. Lời đáp trả của Chúa Giê-su

Đức Giê-su trả lời anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”. Đây là lời khẳng định long trọng: “Tôi bảo thật anh” mà Lu-ca hiếm khi sử dụng.

Tại Tin Mừng Lu-ca, “Hôm nay” là từ ngữ luôn luôn được kết nối với sự đăng quang của ơn cứu độ. Đó là “hôm nay” mà các thiên sứ đã loan báo ở Bết-lê-hem: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa” (2: 11); đó là “hôm nay” mà Chúa Cha đã công bố vào lúc Chúa Giê-su chịu phép rửa: “Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (3: 22); đó là “hôm nay” mà Chúa Giê-su đã tuyên bố ở hội đường Na-da-rét: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quí vị vừa nghe” (4: 21), và cũng là “hôm nay” mà Ngài đã ngỏ lời với ông Da-kêu: “Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (19: 9).

Kể từ thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, niềm tin vào sự sống lại vào ngày tận thế ló rạng, Thiên Đàng biểu tượng nơi ở mà những người công chính mong chờ sau khi qua đời. Thuật ngữ này luân phiên với diễn ngữ “trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham” mà Lu-ca nêu lên trong dụ ngôn ông phú hộ và anh La-da-rô khốn cùng. Anh La-da-rô qua đời, được vui hưởng niềm hoan lạc trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham (16: 23).

4. “Anh sẽ được ở với tôi”

Trong lời khẩn nguyện khiêm tốn, người gian phi sám hối phó thác tương lai của mình vào Đức Giê-su. Tương lai này được tóm gọn vào lời Chúa Giê-su ngỏ với anh: “Anh sẽ được ở với tôi”, lời này định nghĩa đức cậy trông của Ki-tô giáo. Niềm hoan lạc của Nước Trời hoàn toàn được thu tóm ở nơi lời hứa này về cuộc sống thân mật với Chúa.

Chúng ta đừng quên nét đặc trưng của Tin Mừng Lu-ca là lòng Chúa xót thương. Chẳng hạn như chỉ thánh Lu-ca ghi lại lời Đức Giê-su tha thứ người phụ nữ nổi tiếng tội lỗi trong thành: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha thứ, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều” (7: 47), hay chỉ mình thánh Lu-ca ghi lại dụ ngôn: ‘Người cha nhân hậu” (15: 11: 32), dụ ngôn: “Người Sa-ma-ri nhân lành”, hoặc chỉ có mình Lu-ca ghi lại lời Đức Giê-su cầu nguyện cho thánh Phê-rô trước khi bước vào cuộc Thương Khó Tử Nạn của Ngài: “Si-môn, Si-môn ơi, kìa Xa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy cầu nguyện cho anh để anh không mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh” (22: 32).

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, chỉ thánh Lu-ca ghi lại lời Đức Giê-su cầu nguyện trên thập giá cho những người hãm hại Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (23: 34) và câu chuyện thật cảm động của một người gian phi sám hối.

-----------------------------

 

TN 34-ABC404: Những điều lạ lùng của Vua Tình Yêu Giêsu


(Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển)

 

Hôm nay, kết thúc năm Phụng vụ với lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, Giáo Hội nhắc nhớ chúng ta có TN 34-ABC404


Hôm nay, kết thúc năm Phụng vụ với lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, Giáo Hội nhắc nhớ chúng ta có một vị Vua là Vua các vua, Chúa các chúa, nhưng lại không theo kiểu người đời!

Ngày nay, trên thế giới, chúng ta nhận thấy: cứ chuẩn bị đến dịp bầu cử là các ứng viên thường vận động cử chi bầu cho mình, và muốn được trúng cử thì đương sự phải đưa ra những kế hoạch mình sẽ làm trong nhiệm kỳ tới. Nếu lòng dân thấy thuận thì họ bầu cho. Rồi đến khi đắc cử, thường họ hay mở tiệc ăn mừng. Đến ngày ra mắt công chúng, đương sự phải có một bài diễn văn rất hay... như là một cách thức cám ơn dân chúng đã bầu cho mình. Và khi thi hành, người ta dùng quyền để cai trị con dân và giữ gìn an ninh quốc gia.

Hôm nay, kết thúc năm Phụng vụ với lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, Giáo Hội nhắc nhớ chúng ta có một vị Vua là Vua các vua, Chúa các chúa, nhưng lại không theo kiểu người đời, vị Vua ấy lại chọn cho mình một đời sống từ bỏ, khiêm hạ, yêu thương, khước từ vinh hoa phú quý, lợi lộc trần gian. Vị Vua ấy không cai quản và điều hành bằng quyền lực, mà bằng tình yêu. Rồi cuối cùng trở nên Đấng xóa tội trền gian qua cái chết (x. Ga 1,29). Vị Vua ấy chính là Đức Giêsu Kitô.

1. Đức Giêsu là vua cách lạ lùng

Nếu một vị vua theo kiểu trần gian, ngày đăng quang và xưng vương phải là một ngày trọng đại, có các lễ nghi trang trọng, có dân chúng reo hò chúc tụng, thì Đức Giêsu làm vua, lại là vị vua âm thầm, khiêm hạ, cả cuộc đời, không hề có kiểu "diễu sĩ dương oai" không kèn không trống.

Vương quyền của Ngài được tỏ lộ không phải qua một nghi thức trọng thể, mà lại qua một tấm bảng bêu xấu mà Philatô truyền lệnh đóng trên thập giá, phía đầu Ngài: "Đây là Vua dân Do Thái". Ngai vàng không phải là một cái nghế được sơn son thiếp vàng lộng lẫy cao sang, mà là hai thanh gỗ được ghép lại với nhau thành hình thập tự để làm ngai cho Vua trời ngự giá. Đây là một hình khổ mà người Do thái thời bấy giờ dành cho những kẻ bị kết án tử.

Vương niệm của Ngài không phải là mũ làm bằng kim loại quý (thường là bằng Vàng) và được khảm những châu báu, ngọc ngà, đá quý, kim cương. Còn Đức Giêsu lại có một vương niệm đặc biệt, đó là một vòng gai được đội trên đầu. Vương trượng là cây sậy yếu ớt, được người ta đưa cho để nhằm chế giễu, chọc ghẹo. Các quan hầu cận là 12 tông đồ, ít học, kém hiểu biết và hoàn toàn không mảy may am tường về chuyện binh đao, họ còn là kẻ bán Chúa, trối Thầy, những kẻ khác thì chạy trốn,... Áo cẩm bào thì lại là thân hình ô nhục. Người thân dự lễ phong vương lại là kẻ thù, chỉ có một vài người vỏn vẹn là Mẹ Ngài, Gioan, mấy phụ nữ và 2 tên gian phi cùng chịu đóng đinh với Ngài. Lẽ ra thần dân tung hô "chúc tụng vạn tuế đức vua" thì lại là: "đóng đinh nói đi", "đóng đinh nó vào thập giá", đến nỗi ngay cả kẻ cùng chịu đóng đinh với Ngài cũng cất lên những lời nguyền rủa, nhục mạ, thách thức: "Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa". Khung cảnh phong vương thì lại ở trên núi sọ, thay vì ở trong thành phố... Diễn từ khai mạc là: "Lạy Cha xin hãy tha cho họ" và sau cùng: "Mọi sự đã hoàn tất".

Khi lập pháp thì lại hoàn toàn "Vâng theo ý Cha". Khi truyền lệnh hành pháp thì lại chỉ có vỏn vẹn trong giới luật Yêu thương: "Đây là giới răn của Thầy là các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con". Và "Người đã bị đối xử tàn tệ, nhưng đã khiêm tốn chịu đựng, như một con chiên sắp bị đưa tới lò sát sinh. Người không hề thốt ra một lời. Người bị bắt, bị tuyên án, và vị dẫn tới chỗ chết... Người đã phải chết vì tội lỗi chúng ta"(Is 53,7-8). Suốt cả hành trình loan báo về Nước Trời, Ngài đã không ngồi yên, mà nay đây mai đó, miễn sao Tin Mừng cứu độ được loan báo và không hề có một dinh thự, lâu đài, mà là: "con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ dựa đầu".

Như thế, triều đại của Đức Giêsu được kết thúc qua cái chết ô nhục trên thập giá.

2. Đức Giêsu là vua của Tình Yêu

Thế nhưng, đường lối của Thiên Chúa thì vượt xa trí hiểu của con người. Thật vậy, Người đã dùng hành động tưởng chừng như bêu xấu này để mặc khải một lần nữa về bản chất Tình Yêu của Thiên Chúa qua người Con Một của Người là Đức Giê su Kitô.

Ngài là Vua, nhưng lại là một vị vua khiêm nhường, nhân hậu, Ngài là Vua của Hoà bình, Vua Tình yêu. Một vị vua thiếu thốn đủ điều: "Con Người không có nơi tựa đầu", một vị Vua chết cho thần dân được sống. Ngài là một vị vua của lòng người, của nhân tâm. Ngài xử dụng quyền lực, nhưng là thứ quyền lực "mềm" chứ không phải là quyền lực "cứng" như các nhà lãnh đạo vẫn thường xử dụng.

Vị Vua ấy được ví như người mục tử nhân lành, biết và hiểu rõ từng con chiên trong đàn. Người Mục Tử ấy sẵn sàng bảo vệ đoàn chiên khi gặp sói dữ và chấp nhận hy sinh mạng sống vì đoàn chiên của mình (x. Ed 34,11-12.15-17). Thật vậy, người mực tử chân chính là người còn yêu thương cả những con chiên hư hỏng, đi lạc và tìm cách đưa nó về ràn: vị Vua ấy đến trần gian để cứu vớt những gì đã hư mất (x. Lc 19,1-10). Và vì yêu, Ngài đã "đền bù tội lỗi cả thế gian" (1 Ga 2,2), cũng vì yêu mà: "Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người" (2 Cr 5,21). Đức Vua ấy đã trở nên: "Người Tôi Tớ khổ đau của Giavê Thiên Chúa", Đấng gánh lấy mọi tội lỗi của trần gian, và dùng chính cái chết của mình để mưu cầu ơn tha tội cho nhân loại. Ngài "đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra Ngài đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi" (x. Is 53,2-12). Vì yêu, Ngài đã chấp nhận làm bạn với những ai bé nhỏ nghèo hèn, những kẻ tội lỗi, thu thuế, gái điếm, những người ốm đau, bệnh tật, thấp cổ bé họng... Vì thế, Ngài đã lên tiếng bênh vực những người cô thế cô thân. Và mời gọi mọi người hãy Yêu như Thầy là hy sinh mạng sống cho người mình yêu: "Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu" (Ga 15,13).

Và như một quy luật: sự sống, niềm vui và hạnh phúc nơi con người chính là vinh quang của Thiên Chúa. Vì thế, mới nghe người trộm lành cất tiếng kêu xin: "Lạy Ngài, khi vào Nước Ngài, xin nhớ đến tôi!" thì ngay lập tức, Ngài đã đưa anh ta vào vương quốc của mình qua lời tuyên bố: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng ".

3. Người Kitô hữu tham dự vào sứ vụ Vương Đế của Đức Giêsu

Mỗi người Kitô hữu đều được tham dự vào sứ vụ Vương Đế của Đức Kitô ngày ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Qua Bí tích này, chúng ta được dìm vào trong một khuôn đúc mới, để xuất hiện một hình ảnh mới, hình ảnh của chính Đức Kitô, Đấng đã yêu mến, vâng phục Cha hết lòng và, cuối cùng đã chết vì yêu để làm vinh danh Đấng đã sai mình đến trần gian hầu biểu lộ tấm lòng từ ái của Thiên Chúa cho nhân loại.

Khi thông chia và được thừa tự sứ vụ đó của Đức Giêsu qua Giáo Hội, nơi Bí tích Rửa Tội, mỗi chúng ta đều có bổn phận thi hành sứ vụ đó trong cuộc đời Kitô hữu của mình.

Là người kitô hữu, chúng ta chỉ có thể chu toàn bổn phận này với một cách tốt đẹp khi noi gương và trở nên giống Đức Giêsu là dám chấp nhận khước từ những vinh hoa lợi lộc thuần túy trần thế. Ở điểm này, thánh Phaolô đã diễn tả: "Đức Kitô, Đấng vốn dĩ giàu sang, nhưng đã trở nên nghèo để làm cho chúng ta trở nên giàu có nhờ cái nghèo của Người (x. 2 Cr 8,9).

Thật vậy, muốn được cứu độ, ta phải sống thực sự với tinh thần nghèo như Chúa, vì nghèo thì mới dễ yêu và khi yêu mới mong được trọn vẹn. Nếu chúng ta là con người đúng nghĩa thì phải có cả hồn và xác trong một thân thể, thì nghèo và yêu được ví như hai mặt của cùng một tấm mề đai.

Lời mời gọi của Đức Giêsu: "Hãy đến với tôi, hỡi những ai vất vả mang gánh nặng nề, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học cùng tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường" (Mt 11: 28-29). "Mang lấy ách" của Chúa là gì nếu không phải là: "Hãy yêu nhau như Thầy đã yêu anh em". Ách này không thể mang vác được, nếu ta kiêu căng, ngạo mạn và tự mãn, nhưng chỉ với sự hiền lành, khiêm nhường và tình yêu phát xuất từ con tim chân thành.

Thật vậy, chúng ta không thể cùng lúc vừa là Kitô hữu vừa mang tinh thần thế tục. Nếu để hai yếu tố đó thường trực trong con người chúng ta cùng một thời điểm, thì mọi việc chúng ta làm và suy nghĩ sẽ rơi vào tình trạng hư ảo, ngạo mạn, tự đắc.

Ước gì sống tinh thần nghèo và đến với người nghèo bằng một trái tim yêu thương rộng mở sẽ là hướng đích của mỗi chúng ta khi noi gương của vị Vua tình yêu, đã sống và chết vì yêu.

Sống được như thế, chúng ta mới có hy vọng được hưởng lời chúc phúc của Chúa: "Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi" (Mt 25,34), nơi đó có Vua Tình Yêu ngự trị (x. Pl 2,6-11).

Lạy Đức Giêsu là Vua vũ trụ, xin cho danh Cha được cả sáng, Nước Cha được hiển trị đến tận cùng bờ cõi trái đất. Xin Chúa hãy thống trị lòng trí chúng con bằng tinh thần của Chúa. Xin cho chúng con được sống trong quỹ đạo của tình yêu, để sau cuộc đời này, chúng con được vào Vương Quốc của Chúa trên trời là nơi dành cho những người yêu và được yêu. Amen.

------------------------------

 

TN 34-ABC405: Ở THIÊN ĐÀNG VỚI TA


Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc

 

Ngụ ngôn 2 con gà trống, ít nhiều gì cũng đọng lại trong chúng ta một chút suy tư về sự đời TN 34-ABC405


Ngụ ngôn 2 con gà trống, ít nhiều gì cũng đọng lại trong chúng ta một chút suy tư về sự đời. Hai chú gà con được gà mẹ chăm sóc chu đáo, rồi khi lớn lên, chúng trở thành hai con gà trống rất to đẹp. Chúng hay cãi nhau, con nào cũng tự cho là mình đẹp, oai phong, có quyền làm vua của nông trại. Một hôm, chúng cãi nhau, gà mẹ can ngăn không được, chúng quyết chiến với nhau, chúng tuyên bố, nếu ai thắng sẽ làm chủ, làm vua của nông trại này. Cuối cùng thì cuộc chiến cũng có thắng kẻ thua. Con gà thắng trận liền bay lên đống rơm cất tiếng gáy vang trời, nào ngờ tiếng gáy của chú gà, đã khiến con đại bàng từ xa tìm đến vồ luôn chú gà thắng trận mang đi. Trong khi đó chú gà bại trận đang năm thoi thóp nửa sống nửa chết ! Bài học mà tiền nhân chúng ta nhắc nhớ: nơi đâu có tranh chấp, sự chết liền xuất hiện; nơi đâu có tình yêu, đó mới thực sự là tổ quốc, là quê hương.

Yêu và ghét, vui buồn, khổ đau, hạnh phúc, thành công hay thất bại, từ xa xưa vẫn là cơ hội dẫn người ta tới một chân lý ở phía trước. Tình yêu đâu phải vì tiền, tình yêu đâu phải ngẫu nhiên mà thành, tình yêu đâu phải tranh giành, tình yêu là phải chân thành thuỷ chung. Ở đời có hai thứ không thể giấu được ai, đó là đang say và đang yêu. Có hai thứ cần, là được yêu và được tự do. Cổ nhân cũng nói: ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên. Ý tưởng và suy tư mỗi người mỗi khác, điều đó vừa làm phong phú sứ mạng, vừa nói lên sự giới hạn của mình, bạn có thể khuyên bảo nhau, nhưng không thể bắt ai làm việc thiện. Các môn đệ tin Đức Giêsu, rất mong được thấy Chúa thực hiện quyền phép để thắng kẻ thù, số đông khác còn mong muốn Đức Giêsu làm vua để khôi phục đất nước, …

Vâng, trở nên môn đệ, làm thần dân của Thầy Giêsu, xem ra có vẻ mơ hồ, bởi hiện tại là đau khổ thập giá, vị Thầy vĩ đại lúc này đang quằn quại như số phận của tử tội mà thôi ! Đức Giêsu chịu treo trên thập giá không phải say rượu, có chăng là say tình, say tới độ mê muội, dù người ta chế giễu, nhục mạ, Ngài vẫn im lặng, khó hiểu … Tiếng la hét, nhạo cười, quá khủng khiếp, đáng sợ: “nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thật là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn”. Cả đời hai tên trộm làm điều phi pháp cũng lên tiếng: “nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa” ! Được yêu, được tự do là quyết định hết sức ý nghĩa của anh trộm lành: ông này là Vua dân do-thái, tin ông Giêsu là Vua, cảm nhận được ánh mắt nhân từ của Vua Giêsu, và anh ta đã biết phải làm gì để là thần dân của Giêsu …

Hôm nay đây, “anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta”, anh sẽ cảm nhận đau khổ trần gian và hạnh phúc nước trời thật đặc biệt. Hôm nay đây, anh sẽ rõ ràng hơn vua chúa trần gian, không thể so sánh với Vua Giêsu, còn gọi là Vua Tình Yêu, thật đáng tự hào khi được gọi là con Vua Trời. Qua anh trộm lành, có phải Vua Giêsu còn muốn nói cho thiên hạ: nghịch cảnh không phải là để ngăn cản, nhưng là để vượt qua. Một thật bại, có thể trở thành cơ hội vàng, khi ta nắm bắt và xoay chuyển chúng ? Ở trên thiên đàng với Ta, muốn làm thần dân của Ta, các thủ lãnh và đám đông dân chúng hôm đó, đều có thể. Thực ra, tin và yêu không phải là rung động, không phải là ái mộ, càng không phải là động chân động tay, mà phải là hiểu. Hai anh trộm bên tả bên hữu Đức Giêsu đều là kẻ xấu, là tội đồ, nhưng đối diện với giờ sau hết, một anh đã tận dụng được cơ hội để tin, để yêu, và rồi để hiểu, anh ta đã thống hối ăn năn thật sự.

Ở trên thiên đàng với Ta, ở trong vương quốc của Ta, lời vị Vua tình yêu đang chịu treo trên thập giá, sẽ mãi mãi là “mầu nhiệm” đối với những ai cứng lòng, thiếu niềm tin yêu. Người giỏi chiến đấu, không bao giờ trách móc tướng sĩ, mà sẽ tập trung vào thế cuộc. (Tôn Tử). Vua Giêsu, Vua tình yêu, ở đâu, hoàn cảnh nào, thời đại nào, Ngài vẫn là Thiên Chúa yêu thương, Thiên Chúa cứu độ. “Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta làm, còn ông này, ông có làm gì xấu đâu ?”. Qua anh trộm lành, Vua Giêsu rất muốn chuyển tải nhiều thông điệp đến người cùng thời và hậu thế: ai cũng có cơ hội để tuyên xưng niềm tin yêu. Ai cũng phải biết mình, hiểu mình: sống đừng giả bộ, yêu đừng lệ thuộc, nghe đừng bào chữa, nói đừng xúc phạm. Cơ hội sẽ tan biến, đáng sợ nhất là vào một ngày bạn tỉnh táo, bạn nhận ra mình không có ai bên cạnh, không có gì để chờ đợi, để hy vọng !

Ở trên thiên đàng với Ta, không chỉ là lời khích lệ, là phần thưởng cho anh trộm lành, nhưng còn là lời tuyên dương niềm tin yêu, mà Vua Giêsu đã nói với nhân thế: “Ta bảo thật ngươi”, … ngay hôm nay và lúc này, ngươi thực sự là thần dân của Ta. Dù không đo được cảm giác của anh trộm lành, không phân tích được tốc độ của niềm tin mà anh ta đạt được, không hiểu hết hết tài trí mà anh ta đã vận dụng, để rồi anh có được Nước Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta đang là thần dân của Vua Giêsu, nhưng đó mới là một nửa niềm vui, một nửa niềm tin yêu một cách tự do như anh trộm lành. Cái chân lý mà tới “phút 99” người trộm lành đã phát hiện, đã gặp và đã có, đó là TIN, là tuyên xưng NIỀM TIN: Đức Giêsu chính là VUA TÌNH YÊU, là Thiên Chúa cứu độ. Mỗi chúng ta hôm nay, ai cũng có cơ hội để cảm nhận: ở trên thiên đàng với Ta. Amen.

--------------------------------

 

TN 34-ABC406: VUA GIÊSU


Bông Hồng Nhỏ,  MTG.Thủ Đức

 

Có người nào cho đến những giây phút cuối đời lại phải hứng chịu những cười nhạo, chế giễu TN 34-ABC406


Có người nào cho đến những giây phút cuối đời lại phải hứng chịu những cười nhạo, chế giễu, nhục mạ như vua Giêsu? Từ trên thánh giá, vua Giêsu hoàn toàn thinh lặng trước những lời nói xúc phạm của những kẻ đang nhục mạ, cười nhạo và đang thách thức mình. Người chỉ lên tiếng đáp lại lời cầu xin tha thiết của một người tử tù- người duy nhất đã dám lên tiếng bênh vực Người. “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng” (Lc 23, 43). Người hứa ban cho anh phần thưởng tuyệt vời dành cho những ai biết thương xót thì sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Vua Giêsu đã dành cả cuộc đời của mình để sống và rao giảng về vị Thiên Chúa giàu lòng thương xót, một Thiên Chúa là tình yêu. Con đường cứu độ của Người được thực hiện bằng việc hiến dâng cho Thiên Chúa Cha tình yêu tự hiến. Thiết nghĩ, vương quyền của vua Giêsu chính là tình yêu. Người cai trị vũ trụ này với tình yêu khôn dò khôn thấu, Người đã sống cho tình yêu và là chính tình yêu. Những ai muốn trở thành công dân của vương quốc Giêsu thì nhất thiết phải đạt tiêu chuẩn này: biết sống yêu thương. Trước mặt tổng trấn Philatô, Chúa Giêsu đã khẳng định: “Nước tôi không thuộc thế gian này”. Vậy thì Nước của Chúa ở đâu? Lời hứa của Chúa Giêsu dành cho người gian phi đã lên tiếng bênh vực Người cho ta câu trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng”. Thiên Đàng là nơi không còn đau khổ, chỉ còn vui sống hạnh phúc khi được ở với Đức Kitô.

Nếu trên trần gian này ta biết sống yêu thương thì chắc chắn ta sẽ được Chúa Giêsu đón vào Nước của Người. Chính Người đã hứa ban phần thưởng cho những ai yêu mến Người. Dân chúng thì “khoanh tay đứng nhìn”, các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo người tử tù Giêsu, cách lính tráng chế giễu Người, một trong hai người tử tù đã nhục mạ Người. Những hành vi này đều cảnh tỉnh ta về thái độ và cách ta hành xử với những người khác. Đứng trước một người bị kết tội, ta có tỏ lòng thương xót họ hay ta cũng tự cho mình có quyền giết chết người khác bằng lời nói. Vũ khí giết chết thân xác nhưng lời nói đầy bạo lực và thái độ khinh chê của ta sẽ giết chết tinh thần của người khác. Ta có nhận ra khuôn mặt của Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh nơi khuôn mặt đầy thương tích của họ không? Rất dễ để buông một lời than trách, nguyền rủa người khác nhưng lại rất khó để trao ban một lời nói tử tế, tôn trọng người khác, nhất là dành sự quan tâm và yêu thương cho những người bị xem là tội lỗi cách công khai. Hành động đầy can đảm của người tử tội đã bênh vực Chúa Giêsu thôi thúc ta cũng hãy biết kính sợ Thiên Chúa, chê ghét tội lỗi nhưng yêu thương những tội nhân; đừng chỉ nhìn về quá khứ của họ nhưng hãy sống trong giây phút hiện tại, giúp họ mở ra cánh cửa tương lai tốt đẹp hơn. Có lẽ, không có điều gì dễ hơn việc kết án một người bằng một trái tim vô cảm. Chỉ có tình yêu mới sáng tạo và đem lại sự sống mới.

Là công dân của Nước Chúa, ta hãy noi gương vua Giêsu, sống yêu thương mọi người anh chị em chung quanh, học cách tha thứ và quảng đại, trước là đối với mình, sau là với người khác. Khi yêu thương bản thân đúng cách, người ta sẽ biết cách để yêu thương người khác. Khi ta biết yêu thương như Chúa, ta sẽ trở nên giống Chúa, và ta cũng sẽ có được một nguồn năng lực nơi mình phát ra chữa lành hết mọi người- năng lực ấy không phải do chính bản thân ta nhưng là chính Chúa. Một người yêu mến Chúa thực sự thì cũng yêu thương anh chị em mình. Như lời thánh Gioan đã khẳng định: “Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,21).

----------------------------------

 

TN 34-ABC407: VUA KHÔNG NHƯ MONG ĐỢI


Lm Giuse Hoàng Kim Toan

 

Rất nhiều những khát mong Chúa làm vua, xin Người giải quyết mọi khó khăn, bức xúc, bất công TN 34-ABC407


Rất nhiều những khát mong Chúa làm vua, xin Người giải quyết mọi khó khăn, bức xúc, bất công, độc tài và nhiều chuyện khác liên quan đến an sinh, trật tự thế giới. Mong ước về một vị vua đầy toàn năng, toàn trị thế giới này, vẫn là câu trả lời của Chúa im lặng trên thập giá. Vị Vua không như các vị vua trần gian khác.

Thất vọng nếu chỉ dừng ở thập giá.

Khát mong chỉ dừng lại ở thập giá, con người sẽ thất vọng về những mong chờ của mình về một Thiên Chúa toàn năng. Người ta sẽ chẳng bao giờ giải thích được Một Thiên Chúa toàn năng sao lại là con người tử tội? Một Thiên Chúa toàn trị trên địa cầu mà lại chịu chết dưới tay quan quyền thế gian?.

Chúa Giê su là Đấng Messia, đầy quyền năng, đầy tràn sức mạnh, có thể thống trị toàn cõi địa cầu, giải thoát các dân tộc bị toàn trị, bất công, đói kém triền miên, xung đột lợi ích. Đem lại sự thịnh vượng, giải quyết cho những vấn đề khó khăn kinh tế. Một vị vua thay thế các vua quan trên trần gian.

Thật thất vọng cho mọi khát vọng của những người xem Chúa như vị vua trần gian, can thiệp vào chính trị, trả lại nền độc lập tự trị cho Israel. Hoặc như cách nghĩ về vương quyền, như xưa Mẹ con Zêbêdê, xin cho con ngồi bên tả bên hữu (Mt 20, 20 -28). Một số bỏ ra đi khi nghe (Ga, 6, 66) về diễn từ “Bánh Hằng Sống”. Không như kỳ vọng của mọi người, ngay ở toà án Philatô, khi quyết định tha Baraba hay Chúa Giêsu, Người đã bị liệt vào hàng trộm cướp, họ đã xin tha Baraba (Mt 27, 20) và đòi đóng đinh Chúa.

Không như những mong ước của nhiều người, Chúa xuống khỏi thập giá để họ có thể tin, họ đã bỏ ra đi. Có vẻ như họ đã thất vọng về một người uy quyền, toàn năng mà chẳng thể hiện gì trên thập giá, cứ im lặng mà chịu chết. Thật thất vọng!

Mầu nhiệm thập giá thật không hiểu, nếu chỉ dừng lại ở cái chết theo cách nghĩ con người.

Vua các vua

Trở lại vinh tụng ca của Thánh Phaolô nói về việc Thiên Chúa Cha siêu tôn Chúa Con, nhờ sự vâng phục của Người (Pl 2, 6 – 11). Nếu muốn hiểu biết về ý nghĩa của thập giá cần có lòng khiêm hạ lắng nghe cách Thiên Chúa tỏ mình ra nơi Chúa Giêsu.

Là Vua, Chúa Giêsu tự hiến tế chính mình để thánh hiến mọi người (Ga 17, 19).

Là Vua, Chúa Giêsu trở nên người phục vụ sự sống cho con người: “Vì chưng Con Người không đến để được hầu hạ, nhưng là để hầu hạ, và thí mạng sống mình làm giá chuộc thay cho nhiều người” (Mc 10, 45).

Là Vua không ngai: “Chồn có hang, chim trời có tổ, chứ Con người không có chỗ ngả đầu” (Lc 9, 58).

Là Vua mang lại sự sống đời đời nhờ sự Phục sinh của Người. Muốn hiểu về vương quyền của Chúa, cần đón nhận mầu nhiệm Phục Sinh, nghĩa là từ bỏ tội lỗi, sống đời sống mới trong Chúa.

Sau cùng, Chúa là Vua Tình yêu tuyệt đối, yêu thương con người không điều kiện, chỉ vì tình yêu. Dù con người đáp lại, không thể yêu mến Chúa trên hết mọi sự, cũng hãy yêu mến Chúa với tất cả sự yếu kém của mình. Một tình yêu thiếu sót dâng trao tình yêu vô biên, xin được biến đổi trong Người.

Chúa là vua, xin Người làm chủ cõi lòng chúng con, cho chúng con hằng khao khát Người trong mọi hoàn cảnh.

----------------------------------

 

TN 34-ABC408: VUA CÁC VUA


Lm. Giuse Trần Việt Hùng

 

Treo thân thánh giá đớn đau, Nhiều người cười nhạo, hãy mau thoát rời. Họ còn thách thức nhiều TN 34-ABC408


Treo thân thánh giá đớn đau,
Nhiều người cười nhạo, hãy mau thoát rời.
Họ còn thách thức nhiều lời,
Ác tâm phản bội, tạo khơi mối thù.
Hùa theo thủ lãnh đui mù,
Giấm chua thay nước, dập trù tấm thân.
Mạo danh chế diễu ngu đần,
Tuyên xưng danh thánh, thế trần gian manh.
Trả thù bản án đóng đanh,
Tâu vua Do-thái, chính danh của Người.
Xếp hàng trộm cướp nhạo cười,
Đóng đinh xỉ nhục, đồng thời khinh khi.
Tỏ lòng thương xót từ bi,
Một anh kẻ trộm, thực thi giao hòa.
Cả đời làm ác phai nhòa,
Nài xin sám hối, trước tòa thứ tha.
Thiên đàng rộng mở bao la,
Chúa tha tất cả, ác tà xóa tan.
Hôm nay hưởng phúc thiên nhan,
Vua trời chiến thắng, vẻ vang muôn đời.

Các thủ lãnh cùng với dân chúng cười nhạo Chúa Giêsu rằng: Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi. Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá trần trụi mà chúng lại tuyện xưng là Vua. Bảng viết treo trên cây thánh giá: Người này là Vua dân Do Thái, được nhà cầm quyền Rôma ấn định và không thể thay đổi. Tước hiệu quân vương của Chúa Kitô được chính quyền Rôma thừa nhận cách hy hữu trong bản án. Trong khi đó, dưới chân thập giá, đám đông tò mò nhìn xem quân lính nhạo cười Chúa.

Người ta gọi Ngài là Vua dân Do Thái, nhưng chỉ để nhạo báng Ngài. Lúc bị xét xử và kết án như một tên tử tội, bọn lính đặt Chúa ngồi trên ghế và khoác cho Chúa áo choàng đỏ, đội lên đầu một mão gai như Vương miện và bắt cầm cây gậy như cây Phủ việt, rồi qùy gối chế nhạo: Tâu Vua dân Do Thái. Họ đâu có biết họ đang bái lạy Vua cả trời đất, Vua các Vua. Chúa Giêsu là vị Vua có ngai vàng là chính cây Thập giá và lễ phong vương với bảng viết danh hiệu INRI. Chúa Giêsu là vua, nhưng vương quốc của Ngài không thuộc trần gian. Vương quốc của Chúa là vương quốc tình thương và hy vọng.

Chúa kết thúc cuộc sống trần gian trên thánh giá. Các đối thủ nhục mạ và đóng đinh Chúa giữa hai tên trộm và nói rằng hắn xưng mình là Vua, nhưng chỉ là vua bịp đáng chết như tên gian phi. Họ hoàn toàn không biết Chúa Giêsu là ai. Họ đã xúc phạm đến Chúa cách tồi tệ. Chúa im lặng cam chịu mọi khổ nhục để hoàn tất hy tế dâng Chúa Cha để đền tội cho nhân loại.

Chính trên thập giá, vương quyền Chúa đã thắng tâm hồn con người. Một trong hai tên trộm đã thưa rằng: Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhờ đến tôi. Anh trộm đã cảm thông với Chúa. Anh đã nhận ra quyền năng và tin vào ơn cứu độ. Chúa Giêsu đã chấp nhận anh như người đầu tiên bước vào Nước của Chúa: Ta bảo thật ngươi, ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta. Anh đã được giải thoát. Anh đã đi đường tắt vào cửa thiên đàng.

Vua Giêsu là Vua vũ trụ và là Vua của tâm hồn. Chúa yêu thương mọi người như người mục tử nhân lành sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Chúa đã yêu thương và tha thứ tất cả những người đã xúc phạm đến Chúa. Trên thánh giá, Chúa đã xin Chúa Cha tha tội cho họ vì họ lầm chẳng biết. Chúng ta nài xin Chúa tha thứ mọi tội lỗi cho chúng ta, vì chúng ta cố tình phạm tội làm mất lòng Chúa. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

---------------------------------

 

TN 34-ABC409: TÌNH YÊU CÓ SỨC BIẾN ĐỔI


Sr. Anna Nguyễn Như Ý

 

Vua trần gian thì lấy quyền mà thống trị thiên hạ. Còn những ai muốn làm đầu phải làm đầy tớ TN 34-ABC409


Vua trần gian thì lấy quyền mà thống trị thiên hạ. Còn những ai muốn làm đầu phải làm đầy tớ mọi người. Đó là điều mà Đức Giêsu đã dạy các môn đệ qua chính cuộc sống của Ngài khi còn ở trần gian. Và hôm nay, như trong Tin mừng Luca trình thuật, Ngài là Vua vũ trụ nhưng đã chết cho toàn dân thiên hạ. Là Vua nhưng Ngài đã đem chính mạng sống của mình để đánh đổi cho cuộc sống của nhân loại. Ngài chết, nhưng cái chết của Ngài không phải của một tội nhân, nhưng chết cho những ai đáng lẽ ra phải chết. Chắc hẳn chỉ có mình Ngài đã dám làm điều đó. Ngài đang dạy chúng ta bài học về một tình yêu bất tận. Có ông vua nào trên trần gian đã từng làm điều Giêsu đã làm.

Nhìn vào hình ảnh của quân lính và dân chúng, họ có thể làm gì ngoài việc chế nhạo, đóng đinh Ngài vào thập giá. Điều đó cho chúng ta thấy sự bất lực, yếu hèn của kiếp người. Họ mong muốn Giêsu làm một phép lạ nào đó nhằm thỏa mãn sự tò mò nơi bản thân, nhưng điều đó chỉ có thể xảy ra khi con người biết mở rộng lòng mình với Thiên Chúa. Chỉ nhưng ai nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng cứu độ với một lòng tin mạnh mẽ, thì sẽ thấy ơn cứu độ xảy ra ngay trong chính cuộc sống của mình. Và người trộm lành đã nhận được ân huệ ấy ngay từ giây phút anh nhận ra Giêsu là Đấng Cứu Độ. Với lòng ăn năn thống hối thật sự, anh đã được cùng với Thiên Chúa lãnh nhận nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu mà có lẽ anh đã khao khát bấy lâu nay. Và ngay khi nhận ra sự bất toàn yếu đuối của bản thân, anh đã được chính sức mạnh tình yêu của Thiên Chúa lôi cuốn, và giúp anh nhận ra hạnh phúc vĩnh cửu chỉ có từ Thiên Chúa. Anh đã khiêm tốn thật sự để cho Chúa đi vào tâm hồn mình và chính nơi đó anh đã gặp gỡ được Thiên Chúa.

Còn đối với Đức Giêsu, Ngài dùng chính tình yêu thủy chung qua cái chết của mình để biến đổi tội nhân và cứu chuộc nhân loại. Đối với Ngài, tất cả chỉ vì tình yêu. Tình yêu tuyệt đối dành cho Cha đã giúp cho Ngài hi sinh đến giọt máu cuối cùng. Tình yêu vô điều kiện dành cho nhân loại đã làm cho Ngài không còn nhận ra hành động tội lỗi của con người, đến nỗi Ngài đã xin Cha tha thứ cho việc con người làm chỉ vì họ không biết. Đối với Ngài họ là nhưng người đáng thương hơn đáng trách. Tình yêu của Ngài đã che lấp muôn vàn tội lỗi của con người (x. 1Pr 4, 8). Tình yêu đó được biểu lộ cách tỏ tường khi Ngài nói với người trộm lành “Tôi bảo thật anh, hôm nay, ngươi sẽ được ở với Ta trên thiên đàng” (Lc 23, 43).

Còn đối với chúng ta, những Kitô hữu đang sống trong niềm tin và hi vọng vào tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, chúng ta đã và đang làm gì để đáp trả lại tình yêu mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta? Vì tình yêu, vua Giêsu đã từ bỏ địa vị cao sang của mình để mang đến cho nhân loại một tình yêu vĩnh cửu trong Nước của Cha Ngài như Ngài đã hứa “Nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở” (Ga 14, 2). Chúng ta có muốn từ bỏ những gì cuốn hút, quyến rũ nơi trần gian đã làm cho ta không còn nhìn nhận đâu là hạnh phúc bất diệt để vào trong vinh quang mà Giêsu đã hứa như Ngài đã nói với người trộm lành không? Chúng ta có dám để cho Chúa đi vào tận cõi lòng để ta được biến đổi và trở nên bạn nghĩa thiết của Ngài không?

Lạy Chúa, giữa một thế giới đang tìm kiếm những giá trị phù vân, xin cho chúng con luôn biết tìm kiếm những gì phù hợp với giá trị Tin mừng. Xin cho chúng con được biến đổi mỗi ngày nhờ ơn Chúa, để chúng con biết nhận ra đâu là hạnh phúc vĩnh cửu mà Chúa đã hứa ban cho những ai hi vọng vào tình yêu của Ngài, hầu mai sau chúng con cũng xứng đáng hưởng ơn cứu độ muôn đời. Amen.

--------------------------------

 

TN 34-ABC410: LỄ ĐỨC GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ


Bông hồng nhỏ

 

Đồi Canvê, một buổi chiều u ám. Ba người tử tội bị treo trên cây thập giá, mỗi người một cuộc TN 34-ABC410


Đồi Canvê, một buổi chiều u ám. Ba người tử tội bị treo trên cây thập giá, mỗi người một cuộc đời. Người tử tội bị đóng đinh ở giữa đã từng là người nổi danh một thời. Phía trên thập giá của Người có ghi bản án: “Đây Là Vua Dân Do Thái”. Người tên là Giêsu.

Đức Giêsu có phải là vua dân Dothái không? Tại sao Người lại chấp nhận chịu chung một hình phạt với hai tên gian phi, chết nhục nhã trên thập giá? Đứng dưới chân thập giá, dân chúng thì đứng nhìn. Họ đang nghĩ gì, lòng họ có quặn đau trước con người Giêsu, người đã từng chữa lành bệnh tật cho họ, Đấng mà mới hôm qua đây họ còn tung hô: “Hoan hô Con vua Đavít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời” (Mt 21, 9)? Các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn! (Lc 23, 35). Lính tráng chế giễu Người và một trong hai tên gian phi cũng nhục mạ Người. Người là ai?

Khi tổng trấn Philatô hỏi: “Ông có phải là vua dân Dothái không?” (Ga 18, 33), Chúa Giêsu đã trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Dothái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” (Ga 18, 36). Đức Giêsu quả thật là Vua nhưng Nước của Người không thuộc chốn này như lời Người quả quyết. Người hứa với người tử tội đã bênh vực mình khi anh cầu xin: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23, 42) rằng: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23, 43).

Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ, Đấng đã dùng cái chết của mình mà giao hòa con người với Thiên Chúa, đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời (Cl 1, 20). Mừng lễ Chúa Kitô Vua hôm nay, ta được mời gọi nhìn lại chỗ đứng của mình dưới chân thập giá Chúa Kitô. Đứng dưới thập giá của Người, ta đã mang tâm tình và thái độ nào? Trong cuộc sống, có những lúc ta cũng đã thách thức Chúa vì không hài lòng với chính mình. Thật đáng buồn khi ta đã chỉ muốn được Chúa giải thoát khỏi đau khổ mà không lặng nhìn ngắm Chúa để cùng với Người đón nhận chén đắng Cha trao. Chúa Giêsu đã không chối từ cái gọi là thực tế của một con người là khổ đau và bị bách hại. Người chỉ tìm kiếm thánh ý Chúa Cha và yêu mến Cha hết lòng. Theo gương Chúa Kitô, ta hãy phó thách hoàn toàn con người và cuộc sống mình cho Thiên Chúa. Chắc chắn, Thiên Chúa là Đấng yêu thương ta sẽ dành hết tất cả những gì tốt đẹp nhất cho ta. Điều quan trọng là ta có để cho Chúa Kitô làm Vua của lòng mình không?

Lạy Chúa Giêsu là Vua Vũ Trụ! Xin Ngài hãy làm vua của lòng con. Xin cho con đứng dưới chân thập giá Chúa mỗi ngày, để cùng với Mẹ Maria và Thánh Gioan Tông đồ, con được trung kiên theo Chúa đến cùng. Amen.

--------------------------------

 

TN 34-ABC411: VỊ VUA CUỘC ĐỜI


Anna Cỏ may

 

Vua chúa trần gian nắm quyền trị nước. Có nhiều vị vua được quần thần và dân chúng kính trọng TN 34-ABC411


Vua chúa trần gian nắm quyền trị nước. Có nhiều vị vua được quần thần và dân chúng kính trọng và tùng phục. Cũng có một vị vua mang tên Giêsu. Tuy nhiên, ngai của vị vua này không phải là ngai vàng nhưng là cây thập giá. Vì thế, trước một vị vua quá khiêm hạ, các thủ lãnh và binh lính đã cười nhạo, chế giễu. Họ không thể đón nhận vì vị vua dân Do thái lại là người chẳng còn gì.

 “Nếu ông là vua dân Do thái, thì hãy cứu lấy mình đi” (Lc 23,37). “Hãy cứu lấy mình” được Tin Mừng nhắc lại ba lần với ba hạng người khác nhau, nhưng đều có một điểm chung là cùng thách thức Đức Giêsu. Khi tổng trấn Philatô hỏi: “Ông có phải là vua dân Dothái không?” (Ga 18, 33). Chúa Giêsu đã trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Dothái. Nhưng thật ra nước tôi không thuộc chốn này.” (Ga 18, 36). Những người tụ cho mình là hiểu biết lại không thể nhận ra Giêsu bị treo trên thập giá là một vị vua nhưng một trong hai tên gian phi đã nhận ra Ngài là vua khi nói: “ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi” (Lc 23,42). Nhờ sự hoán cải cùng lời kêu xin chân thật, ông đã được Đức Giêsu đáp lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”(Lc 23, 43).

 Đức Giêsu là vua. Ngài đã được Chúa Cha công bố: “Đây là con yêu dấu Ta, hãy vâng nghe lời Người”(Mc 9,7). Thiên Chúa mời gọi mọi người hãy vâng nghe lời Con của Ngài. Thái độ vâng nghe biểu hiện một sự đón nhận và đặt để Đức Giêsu là chủ và là Vua của mình. Ngài là Vua mạnh mẽ oai hùng trước những địch thù gian ác, là Vị Vua cả Vũ trụ và Vua sự sống. Đức Giêsu là vua thật nhưng người ta lại thích vẻ hào nhoáng bên ngoài của những ông vua giả. Vì thời nay, cái giả lại có vẻ đẹp hơn cái thật, hoa giả, điện thoại giả và ngay cả người cũng giả luôn. Sống trong thời đại vàng thau lẫn lộn, liệu còn ai sống sự vâng phục trong Đức Giêsu? Là Kitô hữu, là con Thiên Chúa, chúng ta đang vâng phục vị vua nào? Phải chăng vua đam mê, vua danh vọng hay Vua Giêsu Kitô? Ước gì mỗi người chúng ta được thức tỉnh được như tên gian phi là nhận thấy vị vua đích thực cùng đích của mình là ai. Đức Giêsu Kitô – Vua Vũ Trụ đã từ bỏ vương quyền đến sống với dân mình, để hiểu, để cùng chịu những cực nhọc và đau khổ của dân, để đem ơn cứu độ cho dân. Ngài trao ban chính mạng sống mình để dân được sống và sống dồi dào trong Chúa Cha. Ngài là Vị Vua duy nhất ở đời này và  cả đời sau.

 Lạy Đức Giêsu, “Ngài là Vua từ ái, vinh danh Ngài cùng với Chúa Cha, cao sang hiển trị thiên tòa, cùng Thánh Thần Chúa vinh hoa muôn đời” (Thánh thi kinh sáng). Xin giúp chúng con biết, nhận ra và chọn Ngài là Vua duy nhất của cuộc đời mình. Amen.

--------------------------------

 

TN 34-ABC412: GIÊSU VUA TÌNH YÊU


Maria Kiều

 

Là một Kitô hữu, chắc ai trong chúng ta khi nhìn vào bất cứ cây Thánh giá  đều thấy có chữ TN 34-ABC412


Là một Kitô hữu, chắc ai trong chúng ta khi nhìn vào bất cứ cây Thánh giá  đều thấy có chữ IN-RI, nghĩa là “Giêsu Nadarét, Vua của dân Do thái.” Cùng với Giáo hội, hôm nay chúng ta mừng lễ Đức Giêsu Vua vũ trụ, cũng là Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ. Đây là cơ hội để mỗi người nhìn lại cung cách sống của mình trong tư cách là những thần dân của vua Kitô, chúng ta có sống danh xưng “Kitô hữu” ấy cách ý thức và trách nhiệm hay không?

“Ông Giêsu ơi khi nào ông vào nước của ông xin nhớ đến tôi’’(Lc 23,42b). Đây là câu nói của tên gian phi khi cùng chịu chết trên cây thập giá với Đức Giêsu, tên gian phi này như nhận ra được Đức Giêsu là một vị vua đích thực. Mỗi người trong chúng ta cũng có xu hướng tự tôn cho mình những vị vua. Nào là vua xe hơi, vua nhà lầu, vua tiền tài danh vọng, vua bóng đá … và chính Đức Giêsu cũng là một vị Vua nhưng sao Ngài lại dễ bị con người lãng quên đến thế? Ngài là vị vua của tình yêu, chính Ngài đã đến thế gian mang lấy thân phận con người, phải chịu đau khổ và chịu chết trên cây thập giá như một tội nhân. Trước lúc chịu chết Ngài vẫn tha thứ cho tên gian phi: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng” (Lc 23,43). Chính Chúa Giêsu là ngọn lửa của tình yêu, đã đến thế gian và ném ngọn lửa ấy vào tâm hồn mỗi con người chúng ta và Ngài thầm ước mong rằng ngọn lửa của tình yêu đó sẽ cháy lên và lan tỏa cho mọi người xung quanh.

“Con người đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ” (Mt 10,45) Con Thiên Chúa đã xuống thế gian trong thân phận một con người,  Ngài đã cúi mình xuống mà phục vụ những người nghèo nhất trong các người nghèo, chính Ngài cũng đã cúi xuống mà rửa chân cho các môn đệ trong bữa tiệc cuối cùng trước khi đi chịu chết, đây là một hành động thể hiện sự yêu thương và phục vụ. Ngài là vị Vua của vũ trụ nhưng vị vua này không ngồi trên ngai vàng cao sang, Ngài chọn thánh giá gỗ làm ngai cho mình và đổi lại là sự sống cho nhân loại. Vị Vua không cai trị thần dân bằng quyền lực nhưng bằng tình yêu thương, Vị Vua không có lãnh thổ trong thế giới nhưng luôn có trong tim mỗi con người .

Vậy tôi và bạn hãy thử đặt ra một câu hỏi rằng: “Đức Giêsu có phải là vị vua của đời mình hay không?” Ngài có phải là vị vua mà chúng đang kiếm tìm? hay chính chúng ta đang kiếm tìm và tôn thờ một vị vua nào khác? Hãy để cho Chúa Giêsu chiếm ngự tâm hồn chúng ta, Ngài mới thực sự đáng giá hơn tất cả kho tàng và những thứ phù phiếm mau qua. Chẳng có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người đã thí mạng sống vì chính chúng ta, ngay cả khi chúng ta bất xứng, Chúa vẫn yêu thương ta bằng tình yêu vô điều kiện nhưng chúng ta có nhận ra điều ấy, nhận ra sự cai trị của Ngài cách âm thầm, bằng những yêu thương, phục vụ tế nhị và khiêm tốn đến nỗi không để lại dấu vết gì.  Trong thế giớ 4.0 ngày hôm nay, các bạn trẻ có xu hướng chỉ quan tâm đến bản thân mà không nghĩ đến người khác, họ chỉ nghĩ những thứ tốt đẹp và niềm vui đến với bản thân mà quên đi ngoài kia còn bao người thiếu vắng tình yêu thương và sự chia sẻ và dĩ nhiên Chúa thật xa vời trong khái niệm của họ. Là Kitô hữu, chính tôi và bạn sẽ phải là những chứng nhân tình yêu giữa một xã hội đầy cạm bẫy này, mỗi người trong chúng ta sẽ hiểu được rằng yêu thương phục vụ tha nhân là con đường dẫn đến thiên đàng và vô cảm thờ ơ trước những nỗi đau khổ cảu tha nhân là con đường dẫn đến hỏa ngục. Ước mong rằng mỗi người trong chúng ta sẽ là một ngọn lửa của tình yêu, dám bỏ đi chủ nghĩa cá nhân mà sống yêu thương phục vụ như Chúa đã phục vụ chúng ta.

-------------------------------

 

TN 34-ABC413: GIÊSU – VUA TÌNH YÊU


Lm. Jos. DĐH.

 

Đủ lớn khôn để ghi dấu mức độ trưởng thành, đủ năng lực xây dựng ngôi nhà đẹp, tiện nghi, nhưng TN 34-ABC413


Đủ lớn khôn để ghi dấu mức độ trưởng thành, đủ năng lực xây dựng ngôi nhà đẹp, tiện nghi, nhưng cần lựa chọn vật liệu kiến tạo cuộc đời mình theo tiêu chí hạnh phúc, bao giờ cũng là khó khăn phức tạp. Đầu tư công sức tiền của, nuôi dưỡng ý tưởng: điều lành thì nhớ, điều dở hãy quên, ấy vậy, giữa thành công và thất bại, luôn có “con sông” gian khổ, hẳn vẫn thực sự cần thiết cho ta biết mình là ai ! Hiểu cha mẹ ông bà, các đấng bậc đã từng yêu thương, hy sinh cho con cháu, nhưng chưa chắc ai cũng đủ ý thức để sống, và chu toàn ơn gọi hiếu kính đối với các ngài. Hiểu, biết, và sống niềm tin, dù có trừu tượng lý thuyết, thì phận làm con cháu, vẫn phải sống “ân đức cao dầy” không thể khác được.

Có những thứ người ta cần, và chờ mong trong cuộc sống, ta sẽ nói: càng nhiều càng lành, nhiều tiền, nhiều sự khôn ngoan, nhiều sức khoẻ, nhiều sự hiểu biết… Chúa Giêsu trên thập giá, Chúa đã cầu nguyện bằng lời, bằng hành động yêu thương tha thứ, và Chúa chờ mong mọi người, chờ mong hai kẻ trộm sám hối ăn năn càng nhiều càng tốt. Trong khi đó, hai anh trộm và nhiều người đứng dưới chân thập giá hôm đó, họ chờ mong phép lạ Ông Giêsu sẽ thực hiện ít là thoát khỏi đau thương, xuống khỏi thập giá. Chúa Giêsu thấy rõ nhu cầu của mọi người là cần được sống, Ngài đã minh chứng cho họ thấy thế nào là yêu, như thế nào là Giêsu, Vua tình yêu, khi Ngài xin Chúa Cha tha thứ tội lỗi cho nhân loại, trước khi trút hơi thở cuối cùng trong tín thác.

Vua theo quan niệm thông thường là được ăn trên ngồi chốc, là có kẻ hầu người hạ, được gọi là thái tử con trời, gắn với câu ca dao: con vua thời lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa. Vua Giêsu chịu treo trên thập giá vì yêu, có mão gai nhọn, không có binh hùng dũng tướng, nhất định không phải là vua trần thế, là Thái Tử, nhưng không đến để được phục vụ. Hai anh trộm năm xưa thấm nhuần được như thế nào là phần thưởng và hình phạt của xã hội. Chúa Giêsu bằng lời nói chân thành và hành động yêu thương đã soi sáng và giúp người trộm lành nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa thật lớn lao đối với tội nhân. Tất cả những ai suy gẫm hiệp thông với mầu nhiệm tử nạn và phục sinh, đều có thể cảm nhận: người biết nhìn xa trông rộng thì sớm muộn cũng thấy bình an, người biếng nhác, lười suy xét, nguy hiểm luôn vây quanh.

Giêsu, Vua tình yêu, là Giêsu chịu đau khổ trên thập giá, Giêsu, Vua tình yêu, chính là Giêsu Kitô Đấng đã sống lại từ cõi chết. Giêsu, Vua tình yêu, không xuống khỏi thập giá trước sự thách thức và chờ mong của đám đông đang hò hét. Giêsu, Vua tình yêu, Ngài không phạt, không loại trừ kẻ xấu xa tội lỗi, Giêsu, Vua tình yêu, Ngài đợi chờ kẻ trộm có lòng hối cải và ban ơn tha thứ: “ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”. Đúng, thời nào, ở đâu cũng có người tốt, người chưa tốt, nhưng ở đâu và đối tượng nào, cũng thao thức được hạnh phúc. Đúng, tình yêu và ơn tha thứ, mới làm cho người ta hiểu: sự khác biệt giữa thành công và thất bại không phải ở sức mạnh, kiến thức, hay sự hiểu biết, mà chính là ở lý trí và sự quyết tâm hành động.

Người xưa có câu: xem mặt đặt tên, hoặc chiến thắng, thành công, không thể là do tình cờ. Các luật sĩ biệt phái, đám đông, đắc thắng hò reo, cả anh trộm bên tả cũng a-dua nhục mạ Con Thiên Chúa, trong khi đó, kẻ tội lỗi bên hữu thì vừa đủ sáng, vừa đủ nghe, vừa đủ cảm nhận thế nào là tình yêu và lòng thương xót của Đấng cứu độ trần gian. Giêsu, Vua tình yêu, Ngài là hiện thân của Chúa Cha: đau khổ, thập giá, tử nạn phục sinh, chính là ơn ban, là cơ hội, mỗi gia đình, mỗi tâm hồn, và tất cả những ai tội lỗi, đều là đối tượng của Đấng giầu lòng thương xót. Người đương thời nhìn lên Chúa Giêsu: kẻ vui, người đắc chí, người khác thấy đau thương mất mát, những môn đệ thì khó hiểu, đúng hơn, tất cả đều đáng thương, vì ai cũng cần được biến đổi, cần được hưởng lòng thương xót của Đấng cứu độ trần gian.

Cha ông chúng ta có câu: gươm trần có thể làm cho người ta khiếp sợ mà thay đổi lập trường, nhưng tình yêu thật, lòng bao dung tha thứ thật, mới thu phục và có sức biến đổi tâm tính lòng dạ con người. Chúa Giêsu từ cây thập giá đau khổ, bằng sự trần trụi, bằng hành động yêu thương tha thứ, Ngài đã cho nhân thế một quan niệm đặc biệt: Thiên Chúa làm Người và làm Đấng cứu độ. Hôm nay đây, cả thế giới đang kêu gọi nhà nhà, người người, hãy sống hoà thuận yêu thương, quảng đại tha thứ, trong khi đó, người kitô hữu chúng ta đang tuyên xưng Đức Giêsu, Vua tình yêu, Ngài không xuống khỏi thập giá, Ngài không ban vàng bạc châu báu, không đáp ứng nhu cầu để chúng ta sống mãi ở đời này. Giêsu, Vua tình yêu, Ngài không hứa sẽ cất hết đau khổ bệnh tật cho thế giới, Ngài hứa ban tình yêu, ban sức mạnh, cho chúng ta, cho những kẻ đang tin tưởng cậy trông và sống giáo huấn của Ngài: “ngay hôm nay, ngươi sẽ được ở trên thiên đàng với Ta”. Amen.

-----------------------------

 

TN 34-ABC414: TÌM KIẾM NƯỚC THIÊN CHÚA


Lm.Giuse Đỗ Đức Trí

 

Việc cảnh sát Anh phát hiện ra 39 người Việt chết trong chiếc xe đông lạnh hôm 23/10 vừa qua TN 34-ABC414


Việc cảnh sát Anh phát hiện ra 39 người Việt chết trong chiếc xe đông lạnh hôm 23/10 vừa qua đã gây chấn động cho cả thế giới. Người ta đặt vấn đề: tại sao cho đến hôm nay vẫn có nhiều người dám liều mạng sống để được vào Mỹ hoặc các nước phát triển. Làn sóng di dân từ Châu Phi, Bắc Mỹ và Châu Á đặc biệt là tại Việt Nam dường như chưa lúc nào ngừng. Tại Việt Nam từ năm 1954 khoảng ba triệu người di cư từ bắc vào nam với hy vọng tìm kiếm được một cuộc sống an lành. Sau năm 1975, một đợt di dân khổng lồ bằng đường biển đã khiến cho hành trăm ngàn người Việt bỏ quê hương để đi tìm đất mới, nhiều người trong họ đã bỏ xác ngoài biển khơi. Sau đó là những cuộc di dân qua hình thức HO, bảo lãnh, con lai và đến nay là những cuộc di dân lao động qua các hình thức xuất khẩu lao động. Những người may mắn được “đi nhờ” trên máy bay của Chủ tịch Quốc Hội, có người đi bằng đường bộ qua Trung Quốc hoặc qua những đường dây cò lái…tất cả đều phải trả một giá rất đắt không chỉ bằng tiền nhưng bằng cả mạng sống của mình. Những người này di dân vì lý do gì? Có rất nhiều lý do từ chính trị, kinh tế, tôn giáo… nhưng tất cả có chung một mục tiêu là: mơ ước và tìm kiếm một thế giới mới, một thiên đàng nơi trần gian, với hy vọng sẽ bớt khổ, sẽ hạnh phúc hơn, tự do hơn.

Hôm nay mừng lễ Chúa Giêsu Vua vũ trụ, Lời Chúa giới thiệu cho chúng ta một vương quốc nơi đó sẽ không còn đau khổ nhưng ngập tràn niềm vui và hạnh phúc. Vương quốc này mở cửa đón tất cả mọi người mọi dân. Đó và vương quốc Nước Trời, có vua Giêsu là thủ lãnh là Đấng dẫn dắt và chăm sóc cho toàn dân. Vương quốc Nước Trời là khao khát sâu thẳm của tất cả mọi người. Tuy nhiên, để trở thành công dân Nước Trời, đòi mỗi người phải tỏ lòng thần phục vua Giêsu. Để gia nhập vương quốc Nước Trời mỗi người cần phải có “hộ chiếu và visa” là lòng tin và các việc làm thể hiện tình yêu của mình đối với Chúa mới có thể được cư ngụ lâu dài trong Nước Trời.

Sách Samuen thuật lai một sự kiện những người Israel đến gặp vua Đavit lúc đó đang làm vua miền Giuda để xin ông làm vua dẫn dắt cả miền Israel, khi đó hai miền chưa thống nhất. Vua Đavít đã chấp nhận lời thỉnh cầu của người Israel và ký kết giao ước với họ. Sau đó, họ xức dầu tấn phong Đavít làm vua Israel. Kể từ đây đất nước được thống nhất toàn lãnh thổ, từ Bắc chí Nam quy về một mối. Người Israel xin Đavít làm vua vì tin vào Lời Chúa đã nói với Đavít: “Chính ngươi sẽ chăn dắt Israel dân Ta, chính ngươi sẽ là người lãnh đạo Israel.” Họ tin rằng qua Đavít, chính Thiên Chúa là Đấng làm vua lãnh đạo Israel. Niềm tin có Thiên Chúa làm vua là Đấng lãnh đạo đã trở thành niềm tự hào cho dân Israel và là động lực thúc đẩy Israel sống chu toàn lề luật của Thiên Chúa, xứng đáng là thần dân của Người.

Vương quốc Israel dưới quyền lãnh đạo của vua Đavít là hình ảnh báo trước việc Thiên Chúa sẽ thiết lập vương quốc của Ngài, quy tụ tất cả các dân tộc trên toàn thế giới để làm nên dân thuộc quyền của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã thực hiện việc quy tụ nhân loại trở nên một dân mới qua cái chết và cuộc phục sinh của Chúa Giêsu Kitô. Thánh Phaolô đã diễn tả công trình thiết lập vương quốc Nước Trời qua thư gửi cho cộng đoàn Côlôsê: “Anh em hãy vui mừng tạ ơn Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của dân thánh.” Thánh Phaolô còn diễn tả công trình kỳ diệu này qua bài ca rất đẹp: “Người đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái; trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi.” Thánh Phaolô còn cho thấy Thánh Tử Giêsu chính là Đấng quy tụ muôn loài muôn vật qua cái chết và sự phục sinh của Ngài và đặt muôn vật dưới quyền thủ lãnh của Thiên Chúa Cha. Thiên Chúa Cha đã đón nhận công lao của Chúa Giêsu và trao lại tất cả vương quyền cho Chúa Giêsu, để Ngài làm Thủ Lãnh mọi vật mọi loài và tiếp tục nuôi dưỡng dẫn dắt toàn dân mà Ngài đã đổ máu ra cứu chuộc. Như vậy, được trở nên công dân của Nước Trời, có nghĩa là được gia nhập vào vương quốc của Vua Giêsu và phải sống theo giới răn lề luật của Ngài.

Vương quốc của Chúa Giêsu không có sự phân biệt kỳ thị giàu nghèo, sang hèn nhưng mở ra cho hết mọi người miễn là tin Vua Giêsu là chính Thiên Chúa và là Thủ Lãnh. Câu chuyện trong Tin Mừng thánh Luca thuật lại cho thấy điều đó. Cùng chịu đóng đinh trên thấp giá với Chúa Giêsu có hai tên trộm, một tên bên phải, một tên bên trái. Người Do Thái cố tình làm như vậy để nhục mạ Đức Giêsu, coi Ngài như vua trộm cướp. Tên trộm bên trái đã theo cái nhìn của người Do Thái, anh nhục mạ, mỉa mai Đức Giêsu: “Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu mình và cứu chúng tôi nữa.” Tên trộm bên phải đã không nhìn theo cái nhìn bên ngoài, nhưng anh đã tin Đấng đang bị đóng đinh bên cạnh là Đấng quyền năng là vua là Thiên Chúa. Vì vậy, anh đã mắng tên trộm bên kia vì hắn không biết kính sợ Thiên Chúa và thưa với Đức Giêsu: “Thưa Ngài khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi!” Chúa Giêsu đã đáp lại lòng tin của anh một cách hết sức quảng đại: “Tôi bảo thật anh, ngay hôm nay anh sẽ được vào Thiên Đường với tôi.”

Người đời sẽ cho rằng quyết định cuối cùng này của Đức Giêsu là vô lý, nhưng Thiên Chúa không dựa trên lý lẽ của con người. Thiên Chúa không quan tâm đến quá khứ của mỗi người, Ngài chỉ quan tâm đến hiện tại và mở ra cho con người một tương lai. Chúa Giêsu không quan tâm đến quá khứ trộm cướp của anh trộm này, Ngài chỉ quan tâm lúc này đây, anh sám hối và tin vào Ngài là Thiên Chúa đồng thời khiêm tốn cầu xin với Ngài. Thiên Chúa sẵn sàng mở rộng vòng tay đón nhận tất cả, tha thứ tất cả và ban tặng cho họ một tương lai mới tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn.

Thưa quý OBACE, để xin nhập cảnh vào Hoa Kỳ hay các nước luôn đòi phải có Visa và phải đáp ứng các điều kiện của quốc gia đó. Cũng vậy, để vào Nước Trời mỗi người cũng cần phải đáp ứng điều kiện của Nước Trời. Điều kiện của Nước Trời rất đơn giản, chỉ cần có một đức tin chân thành được thể hiện qua sự thiện chí, cố gắng của mỗi người. Vương quốc Nước Trời là nơi dành cho tất cả mọi người thuộc mọi dân mọi thành phần. Cho dù họ là người tốt lành hay kẻ gian ác, nhưng có lòng tin, biết hối hận và thành tâm thiện chí thì sẽ được vào.

Mừng lễ Chúa Giêsu vua vũ trụ, chúng ta cùng suy tôn vương quyền của Chúa Giêsu, Đấng đã được Thiên Chúa đặt làm vua thống trị muôn loài. Chúng ta suy tôn không chỉ qua một buổi lễ nhưng phải là sự thần phục hoàn toàn vương quyền của Ngài. Nhờ Bí tích Rửa tội, mỗi người đã được gia nhập vào vương quốc của Chúa Giêsu, vì thế chúng ta phải tôn Ngài làm chủ là Đấng dẫn dắt cuộc sống cá nhân và gia đình; phải tuân hành cách tốt đẹp luật pháp trong vương quốc của Ngài, luật của vương quốc Vua Giêsu chính là lề luật của Tin Mừng. Chúng ta còn phải trở thành người bảo vệ và là chiến sĩ chinh phục mọi người gia nhập vào vương quốc của Chúa.

Thế giới ngày nay đang tạo ra rất nhiều ngẫu tượng, thần tượng và những vương quốc ảo để lôi kéo mọi người. Nhiều người bị lôi kéo vào thế giới ảo: thế giới công nghệ, thế giới của người giàu, thế giới kinh doanh…nhiều người đang cố gắng để gia nhập các thế giới đó bằng mọi giá. Nhiều người trẻ ngày nay bị quay cuồng với cám dỗ trở thành vua trong các lãnh vực… coi đó như một giải pháp đem đến sự an toàn và hạnh phúc. Vì vậy, nhiều người đã sẵn sàng đánh đổi đời sống đạo của mình, loại trừ vua Giêsu ra khỏi cuộc đời để phục lạy các thế giới này. Thực tế cho thấy các thế giới do con người tạo ra, các vua do con người dựng nên đều là giả dối, đều mau chóng xụp đổ. Những ai đặt cuộc đời vào nó chắc chắn sẽ bị thất bại và thất vọng.

Thế giới của ma quỷ là có thật, nó rất mạnh và rất mưu mô, nó sẵn sàng tấn công lừa đảo, lôi kéo con người. Khi tâm hồn và gia đình không có Chúa thì ma quỷ sự dữ sẽ xâm chiếm tâm hồn đó và gia đình đó. Ma quỷ sẽ làm cho tâm hồn trở nên ngày càng tồi tệ hơn, bất an hơn; nó làm cho gia đình bất hòa bất hạnh và gây đổ vỡ cho gia đình.

Vương quốc của vua Giêsu là vướng quốc của tình yêu, bình an và hạnh phúc, những ai thường xuyên đón Chúa qua việc lãnh nhận các Bí Tích, Chúa sẽ là vua bảo vệ tâm hồn đó. Cũng vậy, những gia đình nào đem Chúa về với gia đình, đặt Chúa làm vua của gia đình, suy tôn Chúa qua các giờ kinh sớm tối, Chúa sẽ là vua, là chủ và là Đấng bảo vệ gia đình và đem đến cho gia đình hạnh phúc và bình an.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn đặt Chúa làm vua làm chủ hướng dẫn cuộc sống cá nhân và gia đình, tôn vinh vương quyền của Chúa qua việc sẵn sàng vâng theo sự hướng dẫn chỉ dạy của vua Giêsu. Amen.

--------------------------------

 

TN 34-ABC415: CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ


Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

 

Khép lại chu kỳ năm C, phụng vụ của ngày đại lễ hôm nay mời gọi chúng ta chiêm ngắm Chúa Kitô TN 34-ABC415


Khép lại chu kỳ năm C, phụng vụ của ngày đại lễ hôm nay mời gọi chúng ta chiêm ngắm Chúa Kitô là Vua vũ trụ. Các bài đọc Lời Chúa mà chúng ta vừa nghe giúp khám phá ý nghĩa tước hiệu vua của Chúa Kitô, Nước Chúa Kitô và những điều kiện để vào Nước Chúa.

1- Ý nghĩa tước hiệu vua của Chúa Kitô

Chúng ta có thể hiểu sai về tước hiệu vua của Chúa Kitô. Điều này đã xảy ra vào thời Chúa Giêsu.

Quả thế, trong Tin Mừng, dân chúng và nhiều môn đệ của Đức Giêsu có một quan niệm về Đấng Mêsia theo nghĩa chính trị. Họ chờ đợi một Đấng Mêsia, một vị vua đến để giải phóng dân tộc Do Thái khỏi ách đô hộ và thống trị của người La Mã. Bởi thế, khi Đức Giêsu xuất hiện như là một người giảng dạy có uy quyền, có khả năng làm nhiều phép lạ, chữa lành bệnh hoạn tật nguyền, họ tôn Người lên làm vua.

Tuy nhiên, Đức Giêsu đã thẳng thắn khước từ kiểu làm vua theo nghĩa chính trị và trần thế như vậy. Một đàng, Người tự nhận mình là Vua và đến trong thế gian để làm Vua. Nhưng đàng khác, Người xác định rõ tước hiệu vua của mình theo một kiểu khác. Trong cuộc đối thoại với Philatô, Chúa Giêsu làm rõ điều đó. Philatô hỏi Chúa: “Ông có phải là vua không? Chúa Giêsu trả lời: “Chính ông nói điều đó, tôi là vua” (x. Ga 18,37).

Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật về biến cố quan trọng nhất trong cuộc đời của Chúa Giêsu, đó là biến cố thập giá. Nếu thập giá là hình phạt ô nhục nhất đối với người Do Thái và là sự điên rồ đối với người Hy Lạp, thì theo cái nhìn thần học của Luca, thập giá là tột đỉnh của tình yêu và nguồn mạch ơn cứu độ. Bởi thế, cả cuộc đời Đức Giêsu hướng về Giêrusalem và nhất quyết đi lên đó. Đức Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá cùng với hai tên gian phi. Một tên chết đến gần cửa cổ mà vẫn còn chế nhạo Người. Còn một tên nhận ra Người là Con Thiên Chúa và là vua; anh ta cầu khẩn Người: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi” (Lc 23,42). Đây là lúc Đức Giêsu thể hiện khuôn mặt đích thực của một vị vua uy quyền. Câu trả lời của Chúa Giêsu vượt quá lời cầu xin. Thay vì hứa một tương lai bất định, Người nói: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng” (Lc 23,43).

Như thế, Đức Giêsu trên thập giá thực thi quyền bính của một vị vua của tình yêu. Đúng như bản án được ghi trên thập giá: “Đây là Vua người Do Thái.” Người không chỉ là vua Do Thái mà còn là Vua muôn dân, Vua vũ trụ. Trước đây Đức Giêsu tránh tước hiệu vua kẻo người ta hiểu lầm. Bây giờ, tước hiệu vua xuất hiện trước mắt mọi người một cách rõ ràng nhất. Từ khi Người hiến mình trên thập giá, Người là vua đích thực cai quản theo cách của mình mà Philatô và những người lãnh đạo Do Thái không thể nào hiểu.

2- Ý nghĩa Nước Chúa Kitô

Vậy nếu Chúa Kitô là Vua, Người làm Vua ở đâu hay ở nơi nào? Khi nói đến Nước Chúa Kitô, chúng ta có thể hình dung về một vị Vua cai quản một vùng đất, một quốc gia hay một địa hạt nào đó. Thực ra, Nước Chúa Kitô không được đồng hóa với bất cứ quốc gia hay vương quyền trần thế nào trên thế giới, nó vô hình, người ta không quan sát được. Chính Chúa Giêsu quả quyết với Philatô rằng: “Nước tôi không thuộc về thế gian này… Nước tôi không thuộc chốn này” (Ga 18,36).

Nhưng Nước Chúa là “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Chúa Thánh Thần” (x. Rm 14,17); Nước Chúa hiện diện trong tâm hồn mỗi người. Và Đức Kitô là vua các tâm hồn con người. Lời cầu nguyện rất ý nghĩa của Kinh Tiền Tụng nhắc nhở chúng ta rằng vương quốc của Người là “một vương quốc vĩnh cửu và vô biên: vương quốc đầy tràn sự thật và sự sống, đầy tràn ân sủng và thánh thiện, đầy tràn tình thương, công lý và bình an.”

Trong Nước đó, thập giá là ngai tòa, mão gai là vương miện, lưỡi đòng là vương trượng, áo mặc là long bào, hai cánh tay giang ra là cán cân công lý, lề luật xét xử là tình yêu, sự yếu hèn của thập giá là sức mạnh và quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Vương quốc này không có quyền lực, không có binh đội nào để sử dụng. Ai, đứng về sự thật và tình yêu thì thuộc về Nước Chúa.

3- Để thuộc về Nước Trời

Nhờ mầu nhiệm tử nạn và phục sinh, Đức Kitô là Vua nhân loại; Người giải thoát chúng ta khỏi mọi tội lỗi và cho ta được gia nhập vào Nước Chúa, như lời thánh Phaolô nói ở trong bài đọc II: “Người đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái; trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi… Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,13-14.20).
Đức Giêsu là Vua dẫn chúng ta vào Nước Trời để hiệp thông với Thiên Chúa và để lãnh nhận ơn cứu độ. Người trộm lành trở thành hình ảnh của hy vọng – sự an ủi chắc chắn, lòng nhân từ của Thiên Chúa có thể đến với chúng ta ngay trong giây phút cuối cùng; dù có lầm lạc hay yếu đuối thế nào, nhưng nếu chúng ta biết hoán cải và cầu xin ơn lòng khoan hậu của Thiên Chúa. Lời cầu nguyện đó sẽ không vô ích.

Từ những ý nghĩa trên, có một câu hỏi mà mỗi người chúng ta đặt ra trong ngày lễ này là Chúa Kitô có phải là Vua của tâm hồn tôi không? Tôi có nhận biết và tôn thờ Người như là Vua không? Theo thánh Phaolô, có hai cách thế sống: hoặc là sống cho chính mình hoặc là cho Chúa (Rm 14,7-9). Sống cho mình nghĩa là khép kín trên chính mình, chỉ lo tìm thỏa mãn và vinh quang cá nhân mà không có hướng nhìn về vĩnh cửu. Ngược lại, sống cho Chúa là hiến mình cho Người, sống theo ý Người, vì vinh quang và Nước Chúa.

Sống cho Thiên Chúa cũng có nghĩa là thực thi lòng bác ái đối với tha nhân, nhất là phục vụ những người nghèo và người đau khổ. Đây cũng là điều kiện để được vào thiên đàng. Bởi lẽ, vào ngày sau hết, Chúa Kitô Vua sẽ xét xử chúng ta dựa trên những gì chúng ta làm hoặc không làm cho những kẻ bé mọn nhất. Tin Mừng Mátthêu 25 nói về tiêu chuẩn của sự phán xét chung: Vị Vua nói: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc dọn sẵn cho các ngươi… vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng các ngươi đã cho mặc, Ta đau yếu các ngươi thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” (Mt 25,34-36).

Như thế, để được vào hưởng hạnh phúc thiên đàng, chúng ta được mời gọi thực thi lòng thương xót đối với những người nghèo và những ai gặp đau khổ. Nguyện xin Đức Maria, Nữ Vương trời đất, hướng dẫn chúng ta trên con đường hướng về Nước Trời. Amen.

------------------------------

 

TN 34-ABC416: VUA PHỤC VỤ


Lm Vũđình Tường

 

Đức Kitô, vua nước trời xuống trần gian được đại đa số đón nhận và thiểu số cực lực chống đối TN 34-ABC416


Đức Kitô, vua nước trời xuống trần gian được đại đa số đón nhận và thiểu số cực lực chống đối. Đón nhận vua nước trời là những nghèo khó, kẻ bị áp bức, bị đối xử bất công, bị hành hạ, coi thường trong xã hội họ đang sống. Họ vui mừng đón nhận Ngài. Hàng hàng, lớp lớp đến lắng nghe, học hỏi và trở thành môn đệ. Họ là số đông nhưng không nắm quyền hành trong tay, số đông của thấp cổ, bé miệng. Họ đón nhận Ngài vì họ mong được giải thoát khỏi ách nô lệ, giã từ giai cấp bần cùng, bị ép buộc phục vụ. Đối nghịch thành phần nghèo hèn là thành phần kiêu căng, nhờ giầu sang, cậy trưởng giả, bám vào trí thức. Họ là thành phần thiểu số, họ cực lực phản đối, chống lại bởi họ có quyền trong tay, có chức, có lực, có kẻ theo hầu và họ thưởng đám đầy tớ này làm công cụ, phục vụ, nghe lời họ sai bảo, tìm cách trước là hạ nhục vua nước trời, Đức Kitô. Nếu số người ủng hộ vẫn đông đảo họ sẽ thi hành cách tàn bạo, đáng khinh bỉ hơn là thủ tiêu Vua nước trời. Họ thủ tiêu bằng cách mượn tay ngoại bang để tay họ khỏi dính máu người khác. Ngoại bang trong trường hợp này là sức mạnh của quân viễn chinh Roma.

Dù đón nhận hay chống đối cả hai nhóm nghèo, giầu đều hiểu sai í nghĩa phục vụ Vua nước trời giảng dậy.

Thứ nhất, Ngài không đến làm chính trị bởi nước của Ngài không thuộc về trần thế. Ngài không tổ chức đội quân, cảnh sát hay ngấm ngầm cộng tác với côn đồ. Môn đệ của Ngài được học về yêu tha nhân, tha thứ nếu lỡ có tránh tranh chấp. Trong mọi hoàn cảnh luôn tìm cách giúp đỡ, không phân biệt mầu da, thành phần, giai cấp. Ngài đến giải thoát họ khỏi ách nô lệ tội lỗi của chính họ, và tội lỗi của xã hội họ đang sống. Để khỏi chết muôn đời do tội lỗi gây ra, Ngài ban cho họ sự sống trường sinh. Tất cả những ai đón nhận với tâm tình đó đều được hưởng nước trời, sau khi họ hoàn thành cuộc lữ hành trần thế. Thành phần chống đối khởi đầu bằng việc ghen tị. Đám đông khen ngợi, ca tụng Vua nước trời khiến họ bực mình, ghen ghét. Đổ thêm dầu vào lửa là do giáo huấn của Ngài. Giáo huấn ngài hướng dẫn, kêu gọi sống công chính; nghịch điều nhóm lãnh đạo đang làm. Ngài kêu gọi tha thứ; chạm phải điều nhóm lãnh đạo chủ trương trả thù, tiêu diệt thành phần không chung chủ trương với họ. Ngài kêu gọi sống bình đẳng; trái với chủ trương giai cấp cai trị và bị cai trị. Vì những lí do trên mà họ quyết tâm chống lại. Bởi sống theo Ngài là họ mất quyền cai trị, quyền được ăn, được nói, được trọng vọng nơi công chúng. Điều này cho thấy giáo huấn của Vua nước trời không có gì sai. Giáo huấn này bị chống đối bởi nhóm thống trị đặt quyền lợi cá nhân trên công chúng. Họ không thể giết Vua nước trời vì giáo huấn của Ngài. Nhóm thống trị ghép cho Vua nước trời tội làm loạn, tụ tập đám đông chống lại nhóm lãnh đạo, tội phản nghịch xử tử hình.

Thứ hai, cả hai nhóm đều không hiểu Vua nước trời đến không phải để tỏ uy quyền mà để phục vụ và cứu chuộc. Vì hiểu lầm như thế nên khi xét xử Ngài họ luôn kêu Ngài là ‘vua’ theo nghĩa nhục mạ, xỉ nhục hơn là kính trọng. Ba nhóm người đại diện cho xã hội đều kêu gọi Vua nước trời tỏ quyền năng ra nhưng Ngài từ chối. Nhóm lãnh đạo các tôn giáo đứng từ xa nhìn khinh bỉ. Họ nói với nhau: ‘Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu hắn thật là ĐẤng Kitô.’ Lk 23,35. Gần Ngài hơn, dưới chân thập tự, nhóm lính nghe Ngài kêu khát. Chúng lấy dấm đưa cho và nói ‘Nếu ông là vua dân Do Thái, thì cứu lấy mình đi’. c. 37. Gần hơn cả là tên trộm bị treo trên thập giá, lên tiếng ‘Ông không phải là Đấng Kitô sao? hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi nữa c. 39’. Cả ba nhóm đều muốn Vua nước trời tỏ uy quyền. Vua nước trời đến để hoà giải, tha thứ nên Vua nước trời lên tiếng xin tha cho mọi người ‘Lậy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm c. 34’. Tất cả đều muốn được cứu nhưng họ muốn Vua nước trời cứu theo phong cách của họ. Có nghĩa là biểu diễn uy quyền bằng cách tự xuống khỏi thập giá. Vua nước trời muốn cứu họ theo phong cách của Ngài, không phải cách của họ, vì thế họ từ chối.

Không phải tất cả đều từ chối giáo huấn của Vua nước trời. Trong cơn cùng cực một trong hai tên trộm nhận ra điều đó và anh ta đã nói với Vua nước trời. ‘Ông Giêsu ơi, khi nào ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi c.43’ . Vua nước trời hứa với anh ta ‘Ngay hôm nay anh sẽ ở thiên đàng với Tôi c.43b’.

Sau khi Ngài tắt thở một số chứng kiến cảnh bất thường của đất trời liền đấm ngực ăn năn, thống hối. Người đầu tiên là thủ lãnh nhóm hành hình ông ta đấm ngực nói ‘Người này đích thực là người công chính’ c.47b. Đám đông cũng âm thầm ra về, không còn vung tay đả kích như trước.

‘Ngay hôm nay anh sẽ ở thiên đàng với Tôi’ chính là sứ mạng trần thế của Vua nước trời. Mục đích của Ngài đến trần gian là ban sự sống đời đời cho những ai đón nhận và tin vào Ngài.

--------------------------

 

TN 34-ABC417: LỜI HỨA CỨU ĐỘ


Gm Giuse Vũ Văn Thiên

 

Cuộc chạy đua vào Nhà Trắng của các ứng viên tổng thống Hoa Kỳ đã đến hồi kết thúc: ngày 8-11-2016 TN 34-ABC417


Cuộc chạy đua vào Nhà Trắng của các ứng viên tổng thống Hoa Kỳ đã đến hồi kết thúc: ngày 8-11-2016 vừa qua, cử tri Mỹ đã chọn ra vị tân tổng thống cho đất nước của mình. Theo kết quả bỏ phiếu, ông Donald Trump, thành viên đảng Cộng hòa, đã đắc cử và trở thành vị tổng thống thứ 45 của đất nước Cờ Hoa.
 
Trong cuộc tranh cử tổng thống, cả hai ứng viên, bà Hillary Clinton, đại diện cho Đảng Dân Chủ và ông Donald Trump, đại diện cho đảng Cộng Hòa đều hứa hẹn rất nhiều. Họ tranh thủ cử tri bằng việc đưa ra những chiến lược đổi mới trong nhiều lãnh vực: giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, điều chỉnh chính sách thuế, ổn định vấn đề người di dân, cải cách an sinh xã hội… Giờ đây, công dân Mỹ đang chờ đợi xem vị tân tổng thống có thực hiện những điều ông đã hứa khi tranh cử hay không. Thông thường, ngôn từ của các chính trị gia được gọi là “Lời nói gỗ – Langue de bois”, có nghĩa là không thực và chỉ  là những “xảo ngôn”, hứa cho qua.
 
Hôm nay, Chúa nhật cuối năm Phụng vụ, Giáo Hội suy tôn Chúa Giêsu với tước hiệu “Vua vũ trụ”. Người là Vua không giống như một vị tổng thống do cử tri bỏ phiếu bầu ra, nhưng, chính Thiên Chúa Cha đã ban cho Người “mọi quyền năng trên trời dưới đất” (Mt 28, 18). Thiên Chúa Cha cũng sẽ quy phục mọi thù địch dưới chân Người (1Cr 15,25). Đức Giêsu làm vua, vì Người là Con Thiên Chúa, Đấng tác tạo vũ trụ. Người cũng là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là dung mạo đầy từ bi thương xót của Chúa Cha. Người đã vâng lời Đức Chúa Cha đến mức chấp nhận cái chết trên thập giá, để cứu độ con người (x. Phl 2,6-12). Chúa Giêsu là vị Vua đã chiến thắng sự chết và đã phục sinh vinh quang. Người là Vua của vương quốc công chính, an bình và yêu thương. Vương quốc của Người không biên giới. Mọi người bất kỳ thuộc về nền văn hóa, chủng tộc hay ngôn ngữ nào, nếu họ thực hành đức yêu thương thì trở thành công dân của Vương quốc này.

Bài đọc I giới thiệu cho chúng ta vua Đavít, là một gương mặt điển hình trong hàng ngũ các vua của lịch sử Do Thái. Đavít cũng là hình ảnh của vị Vua Giêsu trong tương lai. Nếu Đavít đã đi vào lịch sử Do Thái bằng những chiến công hiển hách tiêu diệt quân thù, và một đời sống đạo đức cầu nguyện gương mẫu, thì vị Vua Giêsu lại hy sinh mạng sống để cứu chuộc con người, phục hồi phẩm giá của họ và mặc cho họ sự thánh thiện cao sang. Người cũng không phải là một vị vua của quá khứ, cũng không phải là vị vua tương lai, mà là vị vua của hiện tại đang cai trị hoàn vũ này và cai trị các tâm hồn bằng tình yêu thương. Người mời gọi chúng ta hãy đón nhận vương quyền của Người để tâm hồn được thanh thản, và để gánh nặng cuộc đời trở nên nhẹ nhàng: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30). “Mang lấy ách” là một kiểu nói diễn tả sự đón nhận, tâm tình yêu mến và thiện chí noi gương bắt chước một bậc thầy.

Nếu những tổng thống trần thế đưa ra những lời hứa hẹn chỉ để lấy lòng cử tri rồi nhanh chóng để những lời hứa hẹn ấy rơi vào quên lãng, thì Chúa Giêsu vị Vua trên thập giá lại chứng minh quyền năng là vua của mình bằng một lời hứa cứu rỗi. Thánh Luca giới thiệu với chúng ta một vị vua không giống quan niệm trần gian. Đó là một vị vua không có hoàng bào, không ngai vàng, không đội quân danh dự. Ngai vàng của Người là cây thập giá. Bên cạnh Người là hai kẻ trộm với hai thái độ khác nhau: một người hằn học lên án, một người khiêm tốn bênh vực. Đối với người trộm bênh vực Chúa, Người hứa cho họ được vào Nước Trời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng”. Còn lời nào ngọt ngào và hy vọng hơn lời này? Bởi lẽ hành phúc thiên đàng là đích điểm cuộc đời của mỗi chúng ta. Qua lời tuyên bố này, Chúa Giêsu chứng tỏ quyền năng Thiên Chúa của Người. Quyền ấy như quyền của một vị vua, có thể cho phép một công dân gia nhập vương quốc của mình.

Nhờ bí tích Thanh tẩy, chúng ta trở nên công dân của vương quốc của vị Vua Giêsu. Khi suy tôn Người là Vua, chúng ta hãy cố gắng sống đúng với kỷ luật của vương quốc ấy. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: đừng quên rằng Đức Giêsu đã giải thoát chúng ta, đồng thời đưa chúng ta từ tối tăm vào ánh sáng kỳ diệu của vương quốc của Người, nhờ đó mà chúng ta được ơn tha thứ mọi tội lỗi (Bài đọc II).

Không chỉ hứa với người trộm biết sám hối ăn năn, Chúa cũng nhiều lần hứa  ban những điều tốt lành cho những ai tin tưởng cậy trông vào Người. Người hứa hiện diện giữa chúng ta khi chúng ta tập hợp với nhau cầu nguyện nhân danh Người. Như người cha, người thày cảm thương những người con, Chúa khẳng định với chúng ta: “Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho” (Lc 11,9). Tin vào lời hứa của Chúa, chúng ta hãy thực hiện những gì Người dạy, vì “Chúa là Đấng phép tắc và lòng lành vô cùng đã phán hứa sự ấy, chẳng có lẽ nào sai được” (Kinh Trông cậy).

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy ngự trị cõi lòng mỗi chúng con, để gánh nặng cuộc đời của chúng con trở nên nhẹ nhàng êm ái. Xin hãy hướng dẫn soi sáng cuộc đời chúng con để lời nói, việc làm và tư tưởng của chúng con luôn ngay thẳng và thánh thiện, đẹp lòng Chúa và thân ái với anh chị em chúng con. Amen.

----------------------------

 

TN 34-ABC418: VƯƠNG QUỐC GIÊ-SU


Lm. Jos. DĐH.

 

Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, vẫn được xem là một hệ thống đạo đức, triết lý, chặt chẽ TN 34-ABC418


Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, vẫn được xem là một hệ thống đạo đức, triết lý, chặt chẽ theo tư tưởng “Nho giáo”. Để  công thành danh toại, dù ở lãnh vực nào, người ta vẫn cần quan tâm đến những chi tiết nhỏ bé, rõ ràng nhất, từ bản thân, gia đình, rồi đến xã hội. Trong giáo dục, các bậc làm cha mẹ luôn đặt trọng tâm vào việc đầu tư : muốn sang thì bắc Cầu Kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy. Phạm vi gia đình, xã hội, đất nước, sẽ phát triển và hữu hiệu khi được liên kết với “từng cá nhân”, theo lý luận: một tinh thần minh mẫn trong một thân xác tráng kiện. Người tốt, gia đình sẽ tốt, xã hội an vui, đất nước vững mạnh.

Vấn nạn chung, Đức Giêsu nhân vật kỳ lạ đến khó hiểu với mọi đối tượng, cả trong ngôn từ lẫn hành động: giảng dạy hấp dẫn, làm cho người què đi được, mở miệng người câm, phục sinh kẻ chết… Tài đức như vậy, tình yêu thương ngập tràn trong cách cư xử, nhưng Ngài bị vu oan cáo vạ, bị đòn vọt, bị đóng đinh thập giá cùng hai tên trộm cướp ! Dưới chân thập giá hôm đó có cả những kẻ từng chứng kiến phép lạ, từng bị “hớp hồn” khi nghe Ngài giảng dạy nay họ đang hò hét, đắc thắng… Cả anh trộm bên tả cũng buông lời thóa mạ: “nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa”.

Cha ông chúng ta có câu : tướng bại trận không thể nói mạnh, quan mất nước không thể nói hay. Đức Giêsu không xưng vương, không hành xử như một dũng tướng “chết vinh hơn sống nhục”. Đức Giêsu khi trên thập giá, người ta chỉ đọc được nơi Ngài là “vua tình yêu”, tha thứ, không hận đời. Trước nhãn giới tự nhiên, Đức Giêsu hoàn toàn thất bại, bị án chết thảm khi tuổi 33, đã từng chữa lành vết thương thể xác tâm hồn cho đám đông, nhưng Ngài không tự cứu mình ! Thắc mắc, chờ mong ông Giêsu xuống khỏi thập giá, hy vọng binh hùng tướng dũng từ Vương Quốc của Ngài sẽ tới ra tay lật đổ kẻ ác tâm. Hy vọng, đợi chờ, tâm trạng đó cả người thánh thiện đạo đức, người tội lỗi nhất đều vô vọng bởi sự lặng thinh của tình yêu Giêsu.

Xưa Tuân Tử dạy các học trò: “im lặng, lắng nghe, ghi nhớ, hành động và khôn ngoan, chính là 5 bậc thang khác nhau của trí tuệ”. Nay người ta chủ trương biết vui với người vui, biết khóc với người khóc, đó là hành vi của người có văn hóa, tri thức, biết ứng xử và thấu cảm. Không có gì vô duyên và đáng trách hơn, khi người ta đang khóc mà mình cười, hoặc ngược lại. Vương Quốc của Đức Giêsu thật mông lung ! Mức độ câu trả lời xác thực bao nhiêu về “Vua Giêsu” khi ở phía đầu Người, có tấm bảng ghi bằng ba thứ tiếng Hy-lạp, La-tinh và Do-thái: “Người này là Vua dân Do-Thái”. Philatô vô tình hãy hữu ý về điều ông đã viết “Vua Giêsu” ? Các thi sĩ thật độc đáo khi đưa ra ý tưởng: chỉ mất 3 giây để nói lời yêu, nhưng họ phải mất cả đời người để chứng minh lời yêu ấy.

Ngoài những phán đoán tiêu cực của một số người đứng dưới chờ Đức Giêsu thực thi vương quyền, nào ai ngờ, anh trộm lành khám phá ra Đức Giêsu chính là “Vị Vua” mà tâm hồn anh đang thiếu : tình yêu, tha thứ. Chỉ một câu nói tưởng chừng vu vơ, nhưng đó lại là lời thống hối, tuyên tín “Vương Quyền Giêsu” : “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Âm nhạc thể hiện những điều không thể nói, và cũng thể hiện những điều không thể lặng câm. (V.Hugo). Anh trộm lành không tấu lên giai điệu uất hận, thách thức chế giễu Đức Giêsu, hay ai oán đời mình…, anh đã thể hiện được điều cần thiết đối với phút “thứ 90” của đời người.

Tục ngữ có câu: im lặng là vàng, hay: thời gian làm lành mọi vết thương. Cái gì rồi cũng trôi qua, cái gì rồi cũng nhàm chán, cái gì rồi cũng tiêu vong, duy chỉ có tình yêu là tồn tại. Trong suốt thời gian chịu treo mình trên thập giá, Đức Giêsu chỉ thinh lặng, dù đám đông vẫn la ó, thách thức, nhạo cười…! Phút giây quý báu trôi qua, người ta chỉ nghe được những lời yêu thương, tha thứ, cụ thể là vết thương tâm hồn người trộm lành. Cuối cùng, không phải chỉ một số người hôm xưa, mà cả nhân loại đã được nghe Chúa Giêsu bày tỏ về “Vương Quốc” của Ngài : “Ta bảo thật ngươi, ngay hôm nay ngươi ở trên thiên đàng với Ta”.

Niềm vui thông thường của người đời là: cha mẹ giầu thì con có, cha mẹ khó thì con không. Ông bà cha mẹ có chức danh, con cháu dễ cậy nhờ, bậc sinh thành sống có đức con cháu mặc sức mà ăn. Niềm tự hào và phúc đức của người Kitô hữu không dừng lại ở hưởng thụ, nhưng hạnh phúc hơn cả là được đứng vào hàng ngũ con cháu của “Vương Quốc Giêsu”. Sai lầm là điều tự nhiên nơi con người, ấy vậy, cái khó ở chỗ làm sao ta biết mình sai để sửa chữa ? Ăn trên ngồi chốc là cách cư xử của đại gia, nhưng làm sao để ta nhận ra sống hài hòa yêu thương mới là cùng đích của công dân “Nước Trời” ? Có gì đẹp trên đời hơn thế, người với người sống để yêu thương. Có gì hạnh phúc hơn, sau một cuộc đời học, hiểu, và sống chữ yêu, để rồi ta được nghe Chúa Giêsu nói : ngay hôm nay người sẽ được trên Vương Quốc của Ta. Amen.

------------------------------

 

TN 34-ABC419: VUA “NGƯỢC ĐỜI”


Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

 

Hôm nay Hội Thánh tuyên xưng Chúa Kitô là Vua, nhưng không phải vua bình thường, không phải TN 34-ABC419


Hôm nay Hội Thánh tuyên xưng Chúa Kitô là Vua, nhưng không phải vua bình thường, không phải vua một quốc gia, một dân tộc, nhưng còn hơn vua quốc gia hay dân tộc: Người là Vua các vua Chúa các chúa. Và còn lớn hơn thế: Người là Vua vũ trụ.

Bài đọc hai, trích thơ gởi tín hữu Côlôsê, thánh Phaolô cho thấy vương quyền của Chúa Kitô còn hơn gấp bội lần, vương quyền đó tuyệt đối. Tuyệt đối vì: Người là hình ảnh của Thiên Chúa. Mọi loài cả trên trời, cả dưới đất, dù hữu hình hay vô hình, tất cả chỉ được tạo thành nhờ Người. Người có trước mọi loài. Người bá chủ mọi loài.

Vì vương quyền của Chúa Kitô là vương quyền tuyệt đối, nên khi nói Chúa Kitô là Vua vũ trụ, ta tuyên xưng và tôn vinh vương quyền của Người theo nghĩa tuyệt đối này.

Nhưng tôi lại thấy có cái gì mâu thuẫn trong cách trình bày của Hội Thánh về khuôn mặt của Vua Kitô?

Người là Vua lớn lao: Vua vũ trụ tuyệt đối, vương quốc của Người bao trùm mọi nơi và mọi sự, vương quyền của Người trải rộng như thế, vậy mà trong lễ này, Hội Thánh lại chọn Tin Mừng nói về việc Chúa chịu đóng đinh để ta suy niệm.

Ngay đầu bài Tin Mừng, thánh Luca cho biết “các thủ lãnh cùng với dân chúng cười nhạo Chúa Giêsu”. Ngày người ta lên ngôi vua, là ngày vinh quang, ngày nổi đình nổ đám, ngày tốn kém không biết bao nhiêu là tiền của. Đàng này một tử tội chịu đóng đinh trên thập giá trần trụi giữa trời giữa đất, lại được tôn xưng là vua!

Có cái gì đó quá mâu thuẫn. Mâu thuẫn đến độ phi lý. Vậy Hội Thánh có sai lầm, hay Hội Thánh có ý gì khác?

Hội Thánh cố tình trình bày như thế, để chính trong cái mà ta cho là mâu thuẫn, đòi ta phải khám phá ý nghĩa đích thực của Vua Kitô.

Đó là Chúa Kitô có đủ mọi uy quyền, nhưng không phải để ra oai tác oái, mà để cai trị bằng tình yêu.

Vương quyền Người càng tuyệt đối, vương quốc Người càng bao trùm bao nhiêu thì tình yêu của Người càng lớn lao bấy nhiêu.

Hóa ra khi trình bày Vua vũ trụ qua khuôn mặt của thập giá, Hội Thánh không mâu thuẫn, ngược lại Chúa Kitô mới “ngược đời”: Vua vũ trụ đấy, nhưng lại bảo rằng: “Ta đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hgiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”.

Vua vũ trụ đấy, nhưng lại cúi xuống rửa chân cho môn đệ.

Vua vũ trụ đấy, nhưng người ta tôn làm vua – sau khi họ hưởng từ nơi Người một phép lạ cả thể: đang thiếu thốn vậy mà được ăn đến phát no và còn dư vật – thì Vua lại chạy trốn, không nhận sự vinh quang được ban tặng từ những con người trần thế.

Còn nhớ khi thánh Phêrô tuyên xưng bằng một lời long trọng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, thì ngay sau lời tuyên xưng đó, Vua Kitô báo trước cuộc khổ nạn của mình: Phải nhiều nhiều đau khổ, bị người ta giết rồi mới sống lại.

Tin Mừng thánh Gioan, trong khi tường thuật cuộc đối thoại giữa Chúa Kitô và ông Nicôđêmô, có ghi lại câu nói của Chúa khi Chúa khẳng định vương quyền của Người: “Như ông Môisen giương cao con rắn trong sa mạc, con người cũng sẽ được giương cao như vậy”.

Lời này tương đương một lời nói khác của Chúa Kitô, cũng theo Tin Mừng Gioan: “Ngày nào Ta được giương cao khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta”. Rồi thánh Gioan kết luận: Người nói Người được giương cao là ám chỉ cái chết của Người.

Mà cái chết của Vua Kitô, cứ nhìn bằng mắt phàm trần, đó là cái chết ô nhục, chết treo trên thập giá. Nhưng với Chúa Kitô, chính khi được treo lên là lúc được giương cao. Treo lên là được tôn vinh.

Vẫn chưa hết. Sau khi phục sinh, sách Công vụ Tông đồ gọi Vua Kitô là Đức Chúa. Tước vị Đức Chúa, trước kia chỉ dành cho Thiên Chúa, nay áp dụng cho Vua Kitô để tuyên phong Người.

Đức Chúa hiện ra trong vinh quang phục sinh để trao ban bình an cho các môn đệ, thì ngay trong lúc trao ban bình an, lại cho các ông xem tay và cạnh sườn. Tại sao? Tại vì dấu của thập giá vẫn hằn sâu trên tay và trên cạnh sườn.

Trên thập giá, Chúa kitô được giương cao, cho nên trên thập giá, vương quyền của Chúa Kitô tuyệt đối. Trên thập giá, Chúa Kitô là Vua, Vua vũ trụ. Trên thập giá Chúa Kitô là Chúa, Chúa mọi loài.

Tất cả những hình ảnh ấy là gì nếu không phải là tình yêu? Dấu của thập giá càng khắc sâu bao nhiêu, thì gương mặt của Vua Tình yêu càng rực rỡ bấy nhiêu. Chỉ khi yêu như thế, Vua Kitô mới là Vua đúng nghĩa.

Chỉ có Vua Kitô mới làm vua “ngược đời” như thế, nhưng lại rất tuyệt vời!

Vì là Vua Tình yêu, cho nên Chúa dạy anh chị em và tôi hãy yêu như Người đã yêu. Chỉ có yêu như Chúa, ta mới xứng đáng là thần dân của Chúa.

Tôi nghĩ hình ảnh anh chị em lo cho con cái, hiến thân nuôi nấng, dạy dỗ con nên người là lúc ta sống tình yêu của Chúa Kitô. Tôi thấy có nhiều cha mẹ quên mình, nhận hết mọi cực nhọc, suốt ngày bán lưng cho trời, bán mặt cho đất; hết buôn gánh lại bán bưng. Nhưng hình ảnh đó rất đẹp để diễn tả Tình yêu Chúa Kitô.

Ngược lại con cái cũng hãy yêu thương cha mẹ mình. Từ lời ăn tiếng nói, sao cho nhẹ nhàng, không gắt gỏng, cải vả, không trả treo, không lời một tiếng hai với cha mẹ; đến hành động và suy nghĩ, sao cho xứng là con thảo, con ngoan.

Sống trên thuận dưới hòa như thế, sẽ là gia đình sống tình yêu của Chúa Kitô.

Anh chị em hãy yêu đi, tình yêu sẽ cho ta biết phải làm gì để tận hiến cho người mình yêu.

------------------------------

 

TN 34-ABC420: LỄ CHÚA GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ


 Lm Giacobe Tạ Chúc

 

Cuộc chạy đua vào nhà Trắng đã đến hồi khép lại. Ông Donald Trump thuộc Đảng Cộng hòa đã TN 34-ABC420


Cuộc chạy đua vào nhà Trắng đã đến hồi khép lại. Ông Donald Trump thuộc Đảng Cộng hòa đã đánh bại đối thủ của mình là bà Hillary Clinton thuộc Đảng Dân chủ.  Tổng thống thứ 45 của Hoa kỳ, một con người có thể nói đầy quyền uy, và mọi đường lối, lãnh đạo có tầm ảnh hưởng rất lớn không chỉ ở Mỹ, mà còn trên toàn thế giới. Người ta biết nhiều đến vị tân tổng thống của Hoa kỳ, qua các phương tiện truyền thông. Nếu không còn gì trở ngại, thì ngày nhận chức chắc là linh đình và nguy nga, hoành tráng và trang trọng biết là dường nào. Chẳng khác nào một vị vua chúa trong các cung điện hoàng gia. Trong chúa nhật cuối của năm phụng vụ, chúng ta được Giáo hội giới thiệu cho toàn thể nhân loại chân dung của một vị Vua, người ta gọi Ngài là: VUA GIÊ-SU.

Khác hẳn với những ông hoàng trần thế. Vị vua này không giống ai cả. Vua không có nơi gối đầu, không vương quốc, lãnh thổ, quân đội. Không đấu tranh, bạo động, không tranh giành quyền lực, chỉ sống và yêu như chính cuộc đời của Ngài. Chịu đóng đinh trên Thập Giá, giữa những người gian phi, tấm bảng trên đầu Ngài khẳng định đây là Vua dân Do thái. Vị vua đã đến trần gian và chịu nộp mình vì tội lỗi của con người. Vua Giê-su đã trở nên người phục vụ, và yêu nhân loại cho đến hơi thở cuối cùng. Ngài đã bỏ cung điện là trời cao, để đến với đất thấp là con người. Chuyến vi hành vỏn vẹn có hơn 30 năm, kể từ lúc sinh ra, nhưng đã để lại nhiều dấu ấn, trong dòng chảy của ơn cứu độ. Làm vua mà không có ngai vàng, đến nỗi các vị vua Hê-rô-đê, Phi-la-tô hết sức ngỡ ngàng khi đối diện với Chúa Giê-su. “Ông là Vua sao”. Vua mà để cho người ta đến bắt và đem đi hành hình, rồi đóng đinh vào cây gỗ giá. Chẳng ai có thể hiểu được, vương quốc của Ngài ở đâu, thần dân của Ngài ở đâu. Người ta lạnh lùng với hình ảnh một Đức Vua đang quặn mình tắt thở trên cây Thánh Giá. Họ đâu biết rằng, Đấng bị treo trên cao là Vua vũ trụ, Vua đất trời. Nước Ngài không thuộc về thế gian, vì thế gian sẽ qua đi. Còn vương của Chúa Giê-su mới trường tồn vĩnh cửu. Người trộm lành không biết xuất phát từ đâu, khi anh nhận ra nơi Đức Giê-su, là Đấng cứu độ: “Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !” Và Đức Giê-su đã chập nhận ngay đều thỉnh cầu của kẻ cùng chung số phận với mình. Kẻ trên Thánh Giá, và người ở bên dưới, hận thù sục sôi khi con người ra tay giết chết Đấng đã rất mực yêu thương mình. Thay vì trả thù cho những đối xử độc ác của con người, thì Chúa Giê-su đã xin Chúa Cha tha thứ cho những ai xúc phạm đến mình.

Trong thư gởi tín hữu Philipphê, thánh Phao-lô đã viết rằng: “Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong địa ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Ðức Giêsu Kitô là Chúa để Thiên Chúa Cha được vinh quang” (Pl 2, 6-11).

Lạy Chúa Giê-su Vua muôn loài, xin Ngài ngự đến trong cõi lòng mỗi chúng con, để chúng con thuộc về Ngài và là thần dân của Ngài trong nước vinh hiển hằng sống. Amen.

-----------------------------

 

TN 34-ABC421: CHÚA NHẬT LỄ KITÔ VUA_C


Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến.

 

Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng năm Phụng vụ Năm C.  Tuần tới là Chúa nhật thứ nhất mùa Vọng TN 34-ABC421


Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng năm Phụng vụ Năm C.  Tuần tới là Chúa nhật thứ nhất mùa Vọng, khởi đầu cho năm phụng vụ mới Năm A.  Chúa nhật này, cùng với Giáo hội, chúng ta hân hoan mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua.  Nghe bài Tin mừng nhiều người có thể thắc mắc tại sao Giáo hội cho chúng ta nghe bài Tin mừng về sự kiện Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá, bị dân chúng nhạo cười và chết tủi nhục trong ngày lễ kính Chúa Ki-tô Vua hôm nay?  Không biết có lầm không?   Thật khó hiểu!  Khó hiểu bởi vì tâm trí chúng ta thường liên tưởng tới một ông vua theo kiểu trần gian, sống cuộc sống giàu sang và được trọng vọng.  Trong khi Chúa Giê-su đã cho biết trong Tin mừng thánh Gioan “Nước tôi không thuộc trần gian này.”  Vậy thì vương quốc của Chúa là gì? Hay mang tính cách gì? Xin được chia sẻ 3 tính cách vương quyền của Chúa Giê-su Ki-tô sau đây.

Thứ nhất, vương quốc của Chúa Giê-su là của sự trung thành.  Từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã thiết lập vương quốc này, nhưng ma quỉ phá hoại bằng cách xúi dục con người phạm tội không vâng lời Ngài.  Vì thế, Chúa Giê-su đã vâng lời Thiên Chúa Cha, khiêm nhường sinh xuống trần và mặc lấy bản tính con người.  Người đã không sống cho riêng mình, nhưng luôn trung thành sống theo ý Chúa Cha và chu toàn sứ vụ cứu độ nhân loại qua cái chết trên thập giá.  Và trên thập giá, Người đã hoàn tất việc thiết lập Vương quốc ban đầu theo ý định của Thiên Chúa, qui tụ những người tin và trung thành vào trong nhà Cha trên trời.

Thứ hai, vương quốc của Chúa Giê-su là vương quốc của sự tự do.  Khi con người phản bội không vâng lời và rời xa Chúa thì rơi vào bàn tay của ma quỉ và làm nô lệ cho nó.  Ma quỉ trói buộc con người lại bằng những sợi dây ích kỷ và kiêu căng, bằng sợi dây tham lam vật chất và tiền bạc, và bằng những thứ đam mê và nghiện ngập.  Chúa Giê-su xuống thế làm người mục đích là để giải thoát con người khỏi ách nô lệ của ma quỉ, cứu con người khỏi mọi sự sợ hãi, thoát khỏi áp lực của những sự cám dỗ, và dẫn đưa con người sống trong bóng tối của tội lỗi và sự chết ra ánh sáng ân sủng, chân lý và an bình.  Trọn cuộc đời, Chúa Giê-su sống trong tự do, không bị ràng buộc bởi bất cứ một áp lực nào để phục vụ và hy sinh.  Ngay từ giờ phút đầu tiên trước khi rao giảng công khai, Người đã chống lại và đánh tan những cơn cám dỗ của ma quỉ về vật chất, danh vọng và thế lực trong sa mạc, cho đến giờ phút cuối cùng khi bị treo trên cây thập giá bị những sự thách thức của dân chúng: “Nếu ông là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá để chúng tôi tin.”  Nhưng Chúa Giê-su đã đi vào cái chết một cách rất tự do, phá tung những xiềng xích nô lệ, và khởi đầu cho một triều đại mới cho những ai muốn sống tự do là con cái Chúa.

Vương quốc thứ ba của Chúa Giê-su là vương quốc của tình yêu.  Chúa Giê-su xuống trần là để làm chứng về tình yêu của Thiên Chúa Cha.  Người rao giảng về ân sủng Nước Trời, cứu chữa những người đau khổ và tha thứ cho những người tội lỗi. Người tha thứ cho những kẻ vu khống, đánh đập và đóng đinh Người vào thập giá.  Tình yêu lên đến cực điểm khi Người giang tay trên thập giá như Người đã nói “Không có tình yêu nào cao quí cho bằng chết cho người mình yêu.” Chúa Giê-su đã biến thập giá trở thành Thánh giá tình yêu.  Thánh giá diễn tả tình yêu của Chúa Giê-su dành cho Thiên Chúa Cha và cho con người nhân loại mọi thời đại.  Chúa Giê-su là sứ giả tình yêu và lòng thương xót của Chúa Cha cho con người nhân loại, và tình yêu cao cả này đã lan tỏa ra tới mọi góc biển chân trời.

Ông bà anh chị em thân mến.  Các thánh tử đạo Việt Nam cha ông của chúng ta mà chúng ta mừng kính hôm nay đã nhận ra vương quyền và tình yêu của Chúa Giê-su.  Các ngài hân hoan vui mừng minh chứng vương quốc của Chúa Ki-tô bằng sự trung thành, bằng những sự đau khổ và bằng cái chết vì đức tin của các ngài. Để làm chứng cho vương quốc của Chúa Giê-su và làm sáng danh Người, các thánh tử đạo Việt Nam đã phải có những quyết định và chọn lựa can đảm. Có khi thật khó khăn như tuân theo hay không lệnh của vua quan, nhưng có khi rất đơn giản như bước qua hay không bước qua Thánh giá.  Bước qua thì có ngay danh vọng và tiền bạc, nếu không bước qua thì lập tức lãnh lấy những cực hình và cái chết.  Thánh Anrê Kim Thông nói với quan tỉnh: “Thánh giá Chúa Ki-tô tôi kính thờ, tôi bước qua sao được.” Còn Thánh Têphanô Ven, một linh mục trẻ, chỉ mới 31 tuổi thuộc Hội Thừa Sai Paris, đã dứt khoát trả lời cho viên quan ra lệnh cho ngài phải bước qua thập giá rằng: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được?  Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”  Đây là những quyết định, chọn lựa thật can đảm và hùng hồn, minh chứng lòng xác tín vào Chúa Giê-su Ki-tô và vương quốc của Người.

Ông bà anh chị em thân mến. Mừng lễ Chúa Giê-su Ki-tô Vua và kính các thánh Tử đạo Việt Nam hôm nay, mời gọi mỗi người chúng ta, là con cháu của các ngài, nhìn lại cuộc sống đức tin của chúng ta ngày hôm nay như thế nào.  Cuộc sống và những quyết định về lòng xác tín vào Chúa Giê-su Ki-tô Vua của chúng ta hôm nay không đòi chúng ta phải chịu nhiều đau khổ hay cực hình, nhưng cũng không kém phần khó khăn, thử thách và cần nhiều sự hy sinh cũng như quảng đại. Thật vậy, chúng ta đang phải đối diện với những sự lôi cuốn tham lam tiền bạc và vật chất, đứng trước sự cám dỗ của đời sống ích kỷ cá nhân, sự kiêu căng, tự cao và hờ hững với Lời Chúa, làm chúng ta xa Chúa.  Xin Chúa Giê-su Ki-tô Vua, qua lời cầu bầu của các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam, phá tan những xiềng xích trói buộc chúng ta, để chúng ta được sống trong tự do là con cái Chúa, giúp chúng ta biết noi gương các thánh, sống chứng nhân trung thành với Chúa Giê-su Ki-tô Vua và làm sáng danh Người đời này, để chúng ta được chung hưởng vinh phúc Vương Quốc của Chúa đời sau.

---------------------------------

 

TN 34-ABC422: VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU

 

Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Giêsu với TN 34-ABC422


Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Giêsu với một danh xưng rất đặc biệt: Vua vũ trụ. Xin đừng vội phê phán và kết luận danh xưng này đã lỗi thời và thuộc về chế độ phong kiến lạc hậu, vì vương quyền của Chúa Giêsu không như lối suy nghĩ của con người: Người là Vua công chính và là Đấng cứu độ.

Trong Cựu ước, có ba chức vụ được chính Thiên Chúa chọn và xức dầu, đó là vua, ngôn sứ và tư tế. Vì được Thiên Chúa chọn, nên ba vị này hành động nhân danh Thiên Chúa. Họ cũng là người chuyển tải sứ điệp và lệnh truyền của Chúa cho Dân riêng.

– Vua là người thay mặt Chúa để điều hành dân thánh. Ông cũng được gọi là “con Thiên Chúa”. Chính Thiên Chúa khẳng định danh xưng này, trong trường hợp vua Đavít (x. S Sm 7,14)

– Ngôn sứ là người chuyển tải sứ điệp của Thiên Chúa. Nội dung sứ điệp có thể là lời khiển trách hoặc khen ngợi. Đó cũng có thể là lời cảnh báo trước những tai hoạ và kêu gọi ăn năn sám hối để thoát hình phạt.

– Tư tế là người chịu trách nhiệm về sự thánh thiện của dân được tuyển chọn. Họ cũng là những người cầm cân nảy mực trong việc tuân thủ những quy định luân lý cũng như phụng tự.

Đức Giêsu là Đấng Được Xức Dầu. Vì vậy mà Người được gọi là Đấng Kitô. Người kiêm nhiệm cả ba chức vụ nói trên đây. Người vừa là Ngôn sứ, là Tư tế và là Vua. Chúa Giêsu đã đến trần gian để loan báo tình thương của Chúa Cha, kêu gọi mọi người sống chan hoà yêu thương. Ngài đã dâng chính mình làm hy tế, để hoà giải Thiên Chúa với con người. Người thống trị muôn dân bằng tình yêu và bằng dấn thân phục vụ.

Khi còn tại thế, Chúa Giêsu đã tránh sự hiểu lầm về chức vụ vương đế của Người. Sau khi làm phép lạ hoá bánh ra nhiều để nuôi dân chúng, nhiều người muốn tôn người làm vua, chỉ với mục đích từ nay sẽ có bánh ăn hằng ngày mà không phải lao động vất vả. Chúa Giêsu đã lánh mặt đi lên núi một mình (x. Ga 6,15).

Vua Đavít là hình ảnh của Vị Vua Vũ Trụ là Đức Giêsu là chúng ta tôn vinh hôm nay. Ông là vị vua thứ hai sau Saun, kể từ khi Ít-ra-en thiết lập nền quân chủ. Vị vua này đã có một vương quốc ổn định và giàu có. Sau này, Đức Giêsu được gọi là “Con vua Đavít”. Người Do Thái cũng dùng danh xưng này để chào đón khi Người vào thành thánh Giêrusalem. Việc Đavít được xức dầu phong vương được coi như một việc làm theo ý của Thiên Chúa và là một biến cố quan trọng trong lịch sử Do Thái.

Trong ngày tôn vinh Chúa Giêsu là Vua vũ trụ, Thánh sử Luca lại giới thiệu với chúng ta một hình ảnh lạ kỳ về vị Vua này. Đó là vị Vua không ngai vàng, lại còn bị hành hạ dã man, bị đóng đinh trên thập giá và bị phỉ nhổ. Một tên trộm cùng bị đóng đinh cũng nhục mạ Người. Tuy vậy, qua hình hài thâm tím bầm dập ấy, một tên trộm khác lại nhận ra vương quyền thiêng liêng. Lịch sử hơn hai ngàn năm qua, vẫn luôn có những người phỉ nhổ Chúa và vẫn có những người tôn nhận vương quyền của Người. Chúa Giêsu làm Vua không phải để cai trị mà là để phục vụ con người. Chúa đã chết trên thập giá vì yêu thương con người. Người đã mang trên mình tội lỗi của muôn dân. Nếu một vị vua trần thế đã có công lập quốc hay đã thắng trận vẻ vang, thì Vua Giêsu đã loan báo vương quốc vĩnh cửu và đã chiến thắng ma quỷ, chiến thắng tử thần. Những ai tôn nhận vương quyền của Người, sẽ được Người cho hưởng hạnh phúc với Người, như trường hợp người trộm sám hối.

Chúng ta hãy tôn nhận vương quyền của Chúa Giêsu để được Người chúc phúc. Nhờ Bí tích Thanh tẩy, mỗi Kitô hữu được chia sẻ ba chức năng của Chúa Giêsu, cũng là ba chức năng của Giáo Hội, tức là ngôn sứ, tư tế và vương đế. Tôn vinh Chúa Giêsu Vua vũ trụ giúp người tín hữu ý thức hơn về danh dự và bổn phận trách nhiệm của mình. Kitô hữu cũng là công dân của Nước Trời, công dân của vương quốc có Chúa Giêsu làm chủ. Vương quốc của Đức Giêsu không thu hẹp trong ranh giới của một quốc gia, nhưng lan rộng khắp thế giới, vì “Thiên Chúa đã muốn đặt tất cả viên mãn nơi Người, và Thiên Chúa đã giao hoà vạn vật nhờ Người và vì Người. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa ban hoà bình trên trời dưới đất”. (Bài đọc II). Vương quốc của Chúa Giêsu chính là vương quốc của hoà bình và tình yêu. Để xứng đáng là công dân của vương quốc ấy, mỗi tín hữu phải trở nên chứng nhân tình yêu giữa đời.

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

--------------------------

 

TN 34-ABC423: CHÚA CỨU THẾ LÀ VUA

 

Vào Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng vụ, Giáo hội cử hành lễ Chúa Kitô Vua với ước muốn TN 34-ABC423


Vào Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng vụ, Giáo hội cử hành lễ Chúa Kitô Vua với ước muốn cho mọi người thấy Vương quyền của Chúa Kitô Vua hoàn vũ, đồng thời hô vang: Hoan hô Chúa Cứu Thế là Vua!

Dòng dõi vua Đavít

Thiên Chúa đã thề hứa cùng David rằng, giòng dõi ông sẽ làm vua cai trị đến muôn đời (x. 2. Sm 7,10). Nhưng sống cảnh lưu đày, làm sao có vua để cai trị? Lời Chúa hứa qua miệng tiên tri Isaia có viết: “Từ gốc tổ Jesse, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non” (Is 11,1). Mầm non mọc lên từ gốc tổ Jesse chính là Đức Kitô, thuộc giòng tộc Jesse, cha của vua David.

Đavid là vua, Chúa Giêsu thuộc dòng dõi vua Đavid. Khi các đầu mục đến Hêbron yết kiến Ðavít và xin qui phục vương quyền của ông. Họ thưa: Ngài (tức là Ðavít) cũng là cốt nhục với chúng tôi. Ngài đã từng là tướng triều Saulê, Vua nước chúng tôi. Ngài đã được Thiên Chúa chọn để chăn dắt và lãnh đạo dân Người.

Những lời trên cho thấy một vị Vua của Israel… phải có cốt nhục với đồng bào của ông; phải vào sinh ra tử cho đất nước của họ; và nhất là ông phải được Thiên Chúa chọn. Nếu vương quốc của Ðavít chỉ có ở nơi Ðavít thì vương quốc của Chúa Kitô cũng chỉ có ở nơi Chúa Kitô và là công trình của Thiên Chúa và hoàn toàn lệ thuộc Chúa Kitô; nên Nước của Người không thuộc về thế gian này.

Chúa Giêsu Kitô, tuy sinh ra như một con người; nhưng Người lại có uy quyền của Thiên Chúa, vì “Thần khí Đức Chúa sẽ ngự trên vị này: thần khí khôn ngoan và thông hiểu, thần khí mưu lược và mạnh mẽ, thần khí hiểu biết và đạo đức, thần khí kính sợ Đức Chúa” (Is 11, 2).

Ðavít là vị mục tử đầy nhân ái và đạo đức đã là hình ảnh báo trước về Vua Thiên Sai sẽ đến cứu dân và xây hạnh phúc cho dân là Đức Giêsu Kitô, vua vũ hoàn. Cả hai đã được Thiên Chúa tuyển chọn, nhưng vương quyền của cả hai đều phải vào sinh ra tử cho dân mới được dân công nhận, nhằm bảo hộ bênh vực để dân Chúa được bình an và hạnh phúc.

Chúa Giêsu Kitô là Vua

Ai cũng biết suốt đời Chúa Giêsu chẳng có vẻ gì là một ông Vua. Người còn nhất mực từ chối mỗi khi dân chúng có ý tưởng tôn Người làm Vua. Nhưng bỗng dưng Người có một thay đổi bất ngờ. Hôm vào Giêrusalem, Người muốn tỏ ra mình là một ông vua thái hòa. Người cỡi lừa, ung dung để cho người ta lấy lá, lấy áo lót đường cho Người đi, và Người chấp nhận để cho người ta tung hô mình là Con Vua Ðavít, vua của Israel.

Nhưng trong cuộc rước ấy, Người vẫn âm thầm. Và Người cũng không có một cử chỉ hoàng đế nào trong dịp nô nức ấy. Thế rồi Người bị nộp, bị trói, bị đánh, bị điệu ra trước tòa. Chính ở đây và từ đây Người mới có thái độ làm vua.

Hướng nhìn lên đồi Calvariô nơi treo Chúa Giêsu Kitô trên cây Thánh Giá, chúng ta khám phá ra Vị Vua Nhân Lành hiến mạng vì đàn chiên, thương xót, tha thứ và cứu vớt tội nhân. Tấm bảng trên đầu có ghi: “Người này là vua dân Do thái” (Lc 23,38). Điều Philatô đã viết là đã viết. Hình khổ Vua chịu thật là khủng khiếp, mặt mày biến dạng. Thế mà Người lại là vua ư? Sao có thể thế được? Người là Vua những gì?

Câu trả lời: Chúa Giêsu không là vua của những gì hết. Ngài là Vua vinh quang, Vua mọi sự. Đơn giản, Người là Vua, hoàn toàn là Vua.

Vương quốc của Vua Giêsu là sự thật và là sự sống, Vương quốc thánh thiện và tràn đầy ân sủng, Vương quốc yêu thương, công lý và an bình. Một vương quốc được sinh ra từ Máu và nước từ cạnh sườn đâm thủng của Chúa Giêsu Kitô. Vương quốc của Vua Chúa Giêsu, Đấng đã được xức dầu (x. 1Col 1, 12-20), là Vua duy nhất của vũ hoàn, Vua khiêm nhường, Vua quyền năng.

Thánh Giá thẳng đứng trong vinh quang. Ngai vàng gợi lên những sự khiêu khích. Ba lần Chúa Giêsu bị hỏi: “Nếu ông là Đấng Kitô” (x. Lc 23, 35-43). Mỗi nhóm cáo buộc Người đều hỏi về tình trạng cá nhân của chính Người. Các nhà lãnh đạo tôn giáo mong đợi Người Thiên Chúa tuyển chọn nên hỏi: “Nếu ông là Đấng Kitô “(Lc 23, 35). Những tên lính bảo vệ sức mạnh của Đế chế La-mã thách thức Người: ”Nếu ông là vua dân Do-thái, ông hãy tự cứu mình đi“(Lc 23, 38). Một tên trộm cướp cùng bị đóng đinh cũng kêu lên trong đau đớn nhằm thoát khỏi cái chết: “Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa” (Lc 23, 40). Họ khác nhau về địa vị, nhưng lại giống nhau ở điểm thách thức Chúa: “Ông hãy tự cứu mình đi !” Như thể thách Chúa Giêsu xuống khỏi thập giá để chứng minh vương quốc của mình ! Đây là cơn dám dỗ cuối cùng. Nhưng Chúa Giêsu đã không đến thế gian để biểu dương sức mạnh cho ta thấy. Người đến để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa Cha và nhân loại với nhau, đồng thời ban lại cho chúng ta tự do đã bị đánh mất vì tội. Khi chịu treo thên thập giá Chúa Giêsu đã mạc khải vinh quang của Người, Người là Con Chiên bị sát tế để xóa tội trần gian.

Công dân Vua Giêsu

Câu hỏi đặt ra cho chúng ta trong ngày lễ Chúa Kitô Vua, Chúa Kitô có phải là Vua và là Chúa của đời tôi không? Ai hiển trị trong tôi, Chúa Kitô hay ai khác? Theo thánh Phaolô, có hai con đường có thể để sống: “hoặc cho mình hay cho Chúa” (x. Rm 14:7-9), vậy tôi  sống cho chính mình hay sống cho Chúa?

Lạy Chúa Giêsu là Vua các vua, Chúa các chúa, Vua của vũ hoàn. Chúng con cùng với muôn loại thụ tạo cung chúc tôn thờ và cảm tạ Vua Tình Yêu. Xin thương xót chúng con, xin cho đời chúng con thành lời ca ngợi, luôn làm theo ý Vua, nhiệt thành phục vụ Chúa và tha nhân. Lạy Chúa Giêsu Kitô là Vua vũ trụ, mọi vinh quang và danh dự cho Thiên Chúa Cha đến muôn đời. Amen. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

-----------------------------

 

TN 34-ABC424: CHÚA GIÊSU KITÔ VUA HIỀN LÀNH, CHÍNH TRỰC, TRAO BAN BÌNH AN

 

Ngày lễ “Chúa Kitô Vua” lần đầu tiên được thiết lập vào năm 1925, và Đức Thánh Cha Phaolô VI đã TN 34-ABC424


Ngày lễ “Chúa Kitô Vua” lần đầu tiên được thiết lập vào năm 1925, và Đức Thánh Cha Phaolô VI đã mở rộng tên gọi đó thành “Chúa Kitô Vua Vũ trụ” vào năm 1969.

Từ khóa của các bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay là “Vua”, được đề cập đến sáu lần:

“Ngay cả trước kia, khi ông Saun làm vua cai trị chúng tôi, chính ngài đã chỉ huy các cuộc hành quân của Israel. Thiên Chúa đã phán với ngài: ‘Chính ngươi sẽ chăn dắt Israel, dân Ta, chính ngươi sẽ là người lãnh đạo Israel.’ Toàn thể kỳ mục Israel đến gặp vua tại Khéprôn. Vua Đavít lập giao ước với họ tại Khéprôn, trước nhan Thiên Chúa. Rồi họ xức dầu tấn phong Đavít làm vua Israel” (2 Samuel 5: 2-3).

“Nếu ông là vua dân Dothái, ông hãy tự cứu mình đi”. Phía trên đầu Ngài có tấm bảng đề chữ Hy lạp, La tinh và Do thái như sau:“Người Này Là Vua Dân Do Thái” (Lc 23: 37-38).

Việc tôn xưng Chúa Giêsu là Vua, đặc biệt trong bối cảnh của bài đọc hôm nay, đòi hỏi một đức tin sáng suốt. Thường thì hình ảnh của một vị vua gợi ra sự giàu có, hào sảng, cũng như quyền lực quân sự và chính trị. Chúa Giêsu không được mô tả là vua theo cung cách đó. Lần đầu tiên khi Ngài xuất hiện với tư cách là vua, thì Ngài đã đi giữa những người nghèo đang vẫy những cành lá trong khi Ngài ngồi trên lưng một con lừa! Vương quốc của Chúa Giêsu không phải là một vương quốc thế gian. “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18:36)

Tuy nhiên, câu chuyện có tầm quan trọng lớn lao được đề cập trong cả bốn sách Tin mừng, và ứng nghiệm lời của một vị tiên tri lớn trong Cựu ước: “Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Ngài là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ.” (Dacaria 9: 9)

Con lừa tượng trưng cho vị vua hiền lành, chính trực, đem lại hòa bình cho nhân loại và bình an cho mọi cõi lòng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2: 14).

Nhưng Chúa Giêsu không chỉ là một vị Vua của những cõi lòng. Ngài không chỉ là một Thầy dạy toàn cầu, Giảng viên hoàn vũ, hay Người bảo vệ nhân loại. Qua danh hiệu “Vua vũ trụ”, Giáo hội muốn thông truyền tầm mức siêu việt của Chúa Giêsu, rằng Chúa bao gồm tất cả mọi thực tại, không chỉ thực tại phàm trần. Chúng ta đọc trong Kinh Tin Kính Nixêa rằng Thiên Chúa đã tạo ra muôn vật hữu hình và vô hình. Vì vậy, Chúa Giêsu là Vua trên tất cả các hành tinh, ngôi sao, hố đen, chuẩn tinh và những mặt trời đang bùng nổ ở những góc tối đen nhất của không gian xa xôi. Ngài là Vua trên trái đất và tất cả các thác nước, rừng nhiệt đới, đỉnh núi, vùng sa mạc rộng lớn và những đáy biển tối tăm. Ngài cũng thống trị mọi thụ tạo thuần linh thánh thiêng. Ngài thống trị mọi thụ tạo bởi vì Ngài là nguồn gốc của mọi thụ tạo:

“Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử mọi tạo vật; vì trong Ngài, muôn loài trên trời dưới đất đã được tác thành, mọi vật hữu hình và vô hình, dù là các Bệ thần hay Quản thần, dù là Chủ thần hay Quyền thần: Mọi vật đã được tạo thành nhờ Ngài và trong Ngài. Và Ngài có trước mọi loài, và mọi loài tồn tại trong Ngài, Ngài là đầu thân thể tức là Hội thánh, là nguyên thuỷ và là trưởng tử giữa kẻ chết, để Ngài làm bá chủ mọi loài. Vì chưng Thiên Chúa đã muốn đặt tất cả viên mãn nơi Ngài” (Cl 1: 15-19).

Thánh Tôma Aquinô đã dạy một cách chính xác khi ngài viết rằng Thiên Chúa không phải là hữu thể hoàn hảo nhất giữa các thụ tạo, không phải chỉ là hữu thể ấn tượng nhất sống trong quả bong bóng chứa các hữu thể khác nhau, nhưng Ngài chính là “Hữu Thể Tự Tại, vô thủy vô chung, một thực tại là nguyên lý tiên khởi và là cứu cánh tối hậu của mọi sự, “mà mọi người gọi là Thiên Chúa.” [1]

Vì vậy, là những người tin theo Chúa, chúng ta sống trong vương quốc của Ngài như thế nào? Đó là sống trong đức tin và ơn cứu độ. Cần phải có một thái độ đức tin và mở lòng ra để chúng ta có thể sống đúng theo con người thật của chúng ta trong tư cách là con cái của Thiên Chúa.

Khi chúng ta cảm thấy vất vả sống đức tin của mình, chúng ta nên suy ngẫm những lời nói của ĐTC Phanxicô rằng Thiên Chúa hiện diện trong những việc thường ngày:

“Các dụ ngôn mà phụng vụ hôm nay trình bày với chúng ta được lấy cảm hứng từ cuộc sống thường ngày của chúng ta và cho thấy cái nhìn chú ý và sâu sắc của Chúa Giêsu; Ngài quan sát thực tế và qua những hình ảnh nho nhỏ hàng ngày, Ngài mở ra những cửa sổ về mầu nhiệm của Thiên Chúa và diễn tiến của các sự kiện của con người. Chúa Giêsu noi cách rất dễ hiểu, bằng những hình ảnh của thực tế, của cuộc sống hàng ngày. Bằng cách này, Chúa dạy chúng ta rằng ngay cả những sự việc xảy ra mỗi ngày, những điều mà đôi khi có vẻ giống nhau, không thay đổi, và chúng ta thực hiện cách lơ là và mệt mỏi, chính là nơi có sự hiện diện ẩn dấu của Thiên Chúa, nghĩa là chúng cũng có ý nghĩa. Do đó, chúng ta cũng cần những đôi mắt chăm chú để có thể “tìm kiếm và tìm thấy Thiên Chúa trong mọi sự.” [2]

Chính lúc đó chúng ta biết mình đang ở trong vương quốc của Thiên Chúa. Chúng ta giống như tên trộm trên thập giá “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23: 42).

Vương quốc của Thiên Chúa là một vương quốc của lòng trắc ẩn và tình yêu thương. Một thế giới mà chúng ta cố gắng yêu thương và tôn trọng lẫn nhau cũng như tôn trọng Trái đất, không phân biệt niềm tin, màu da hay giới tính. Trong thế giới hiện đại của chúng ta, chúng ta có thể sống theo đức tin của mình bằng cách tôn vinh và ngợi khen Thiên Chúa qua nghệ thuật, thi ca, âm nhạc và các điệu múa hát, cũng như cầu nguyện, tự chăm sóc và chăm sóc lẫn nhau. Tất cả những gì chúng ta cần là một tinh thần biết ơn, tin tưởng cậy trông và yêu mến hướng về Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu Kitô.

Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ là liều thuốc khử bỏ sai lầm trong những suy nghĩ về một Giêsu riêng tư, cách biệt, một Giêsu chỉ tác động đến những không gian nào trong đời sống của Kitô hữu mà họ cho phép Ngài được bước vào. Không phải thế! Chúa Giêsu muốn ngự trị trong mọi lĩnh vực cuộc sống của chúng ta, nơi nhà ở, trong nhà máy, ngoài sân, tại văn phòng, khi quây quần ăn uống nói chuyện vui vẻ, trên sân thể thao, trong xe hơi, trong các bữa ăn, khi gọi điện thoại, v..v... Lĩnh vực hành động của Ngài không có biên giới. Từ một góc nhìn này, đây là một lối sống tâm linh đầy thách thức, và đòi hỏi phải hạn chế. Một Thiên Chúa gây khó chịu, cầm giữ mọi thứ như vậy có thể khiến cuộc sống giống như một cái lồng nhốt, nơi mà sự tự thể hiện bị thúc ép bởi các quy tắc của Ngài.

Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, toàn bộ vương quyền của Thiên Chúa trong cuộc đời chúng ta là nhằm giải thoát. Có nghĩa là người ta không tìm thấy Ngài chỉ trong Nhà thờ. Không chỉ trong thánh lễ ngày Chúa nhật? Tất nhiên rồi! Chúng ta không cần lúc nào cũng phải cầm chuỗi Mân Côi trong bàn tay thì mới gọi là ở gần Thiên Chúa và Mẹ Maria. Thiên Chúa được tìm thấy bên trong các bổn phận hàng ngày của chúng ta vốn là chất liệu của cuộc sống. Điều này khiến tâm trí chúng ta nhẹ nhõm và cõi lòng của chúng ta được an ủi. Chúng ta không bị phân tâm bởi những điều cao siêu hơn khi chúng ta quản lý một gia đình, kiếm sống, luyện tập sức khỏe, nuôi dạy con cái hoặc chăm sóc nhà cửa. Khi Chúa Kitô là Vua của mọi thứ, những điều phàm trần không còn phải là những điều tầm thường. Thế giới phong phú và sống động hơn khi cuộc sống của chúng ta là một ơn gọi bao gồm mọi sự. Chúa Giêsu trị vì và chúng ta là thần dân của Ngài. “Chúng ta” có nghĩa là tất cả linh hồn, tâm trí, lương tâm, mục tiêu, tình yêu, công việc, khát vọng, thất vọng và tất cả những gì tạo nên cuộc sống của chúng ta. Chúng ta vui mừng khi được là thần dân của một vị Vua nhân lành hiện diện mọi nơi mọi lúc với chúng ta như vậy.

Thiên Chúa không dùng quyền làm Vua của Ngài để buộc mọi người phải theo Ngài. Thay vào đó, chúng ta được khuyến khích bỏ đi những thứ tin tưởng mù quáng của mình và làm triển nở một đức tin trưởng thành với một tâm trí sáng suốt. Trong đức tin đó, chúng ta được khuyến khích tìm kiếm, học hỏi và tham gia các buổi phụng tự cử hành bí tích của Hội Thánh để có thể được Thánh Thần Thiên Chúa hoán cải, tăng trưởng, và sống đời sống Kitô hữu đích thực trong Vương Quốc Thiên Chúa.

Nếu khi nào hạt giống đức tin Kitô hữu, vốn được gieo trồng khi chúng ta lãnh Bí tích Rửa tội, bị “người ta giẫm lên và chim trời ăn mất” (Lc 8:5) khiến chúng ta rời xa Thiên Chúa nhiều năm tháng như “người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa” (Lc 15:1-13), thì chúng ta hãy cứ tin rằng Thiên Chúa là Cha “là tình yêu” (1 Gioan 4:8) vẫn luôn chờ đợi đứa con hoang đàng trở về.

Lạy Chúa Kitô Vua Vũ Trụ, vương quyền của Chúa trên mọi loài thọ tạo không chất thêm gáng nặng trên cuộc đời của chúng con. Chúa sắp đặt mọi sự quy hướng về Chúa và điều khiển các sinh vật của Chúa với sự hiền lành, chính trực, bình an. Xin giúp chúng con trung thành và tuân theo những gì Chúa mong muốn, để chúng con được sống trong Vương quốc của Chúa, ngay hôm nay và mãi mãi mai sau. Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung
---------
Chú thích:
[1] Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, số 34.
[2] Đức Thánh Cha Phanxicô, Buổi đọc Kinh Truyền Tin tại quảng trường thánh Phêrô, trưa Chúa Nhật 13/6/2021.

-------------------------------

 

TN 34-ABC425: VƯƠNG QUYỀN ĐỨC KITÔ

 

Lễ Chúa Kitô Vua là một lễ mới có trong thế kỷ này, được cử hành lần đầu tiên năm 1925. Trong TN 34-ABC425


Lễ Chúa Kitô Vua là một lễ mới có trong thế kỷ này, được cử hành lần đầu tiên năm 1925. Trong thực tế, việc cử hành đích thực vương quyền của Đức Giê-su là lễ Thăng thiên. Nhưng trong Chúa nhật cuối của Năm Phụng vụ này, chúng ta chiêm ngưỡng “Vương triều Thiên Chúa” đang đến dần qua lịch sử, và đang tiến tới chỗ hoàn thành vào cuối thời gian.

Nhưng nghịch lý thay, để mừng lễ Chúa Ki-tô Vua, Giáo Hội đề ra cho chúng ta quang cảnh Đức Giê-su khai mạc vương triều của Người trên ngai thập giá… với triều thiên là mão gai nhuộm máu khuôn mặt… với sắc phong là một bản án đóng trên đầu: “Đây là vua người Do-thái!”… với hai chứng nhân, hai quan cận thần là hai tên gian phi cùng bị kết án tử.

Một nghịch lý hết sức theo kiểu Tin Mừng! Vua ư? Vâng! Nhưng chắc chắn không như những ai hoan hô ủng hộ hay chống đối kết án Người đã hiểu… Vua “theo cách Thiên Chúa”! Vương quyền “tha thứ yêu thương” mà Thập giá là biểu tượng sống động! Nên trong số những kẻ chứng kiến cuộc “đăng quang”của Người, phần lớn chống đối hoặc không chấp nhận.

1. Những kẻ chống đối

Đầu tiên, thiết tưởng nên đọc câu 33 trước đó để hình dung được quang cảnh tổng quát: “Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá cùng lúc với hai tên gian phi…”. Đây là một đỉnh điểm! Một “đỉnh cao” của Tin Mừng. Sau “đỉnh núi Bát phúc” nơi Đức Giê-su tung ra sứ điệp đầu tiên, sau “đỉnh núi Ta-bo” nơi Đức Giê-su biến hình và được Chúa Cha phong tặng: “Đây là Con Ta, người được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!”… thì đây là đỉnh thứ ba và là đỉnh sau hết của Tin Mừng. Nơi cổng thành Giê-ru-sa-lem, gần cửa Ép-ra-im, trên một công trường khai thác đá cũ, các thợ khai thác đã để lại chỗ một tảng đá cứng hơn, một khối trơ vơ cao khoảng 5 mét. Đối với mọi người, đó là “Gôn-gô-ta”, nghĩa là “Sọ”, do hình dáng khối thạch. Một truyền thuyết cổ xưa cho rằng đó là sọ của A-đam, được chôn ở đó mãi mãi! Đỉnh cao Tin Mừng thành ra là một “hòn trọc”, một “núi quạnh hiu”, một “nơi sầu não”: một gò nhỏ, hơi cao hơn mặt đất, dùng dựng giá xử tử, gần con lộ đông người… hầu tất cả có thể thấy những kẻ bị kết án mà nhớ gương.

Trong thực tế, “dân chúng thì đứng nhìn”! Từ Lu-ca sử dụng ở đây thật ý nghĩa. Ông không dùng tiếng “đám đông”, nhưng là tiếng “dân chúng” (laos trong Hy-ngữ), tiếng thường chỉ “dân Thiên Chúa”. Cũng từ này đã được sử dụng trong câu nói “Toàn dân say mê nghe Đức Giê-su giảng dạy trong Đền thờ” (Lc 19,48), vào chính lúc “các thượng tế, kinh sư và kỳ hào trong dân tìm giết Người cho được” (Lc 19,47). “Và dân chúng đứng đó mà nhìn”, như choáng ngợp trước biến cố. Im lặng của một lũ đông bao giờ cũng gây ấn tượng! Đám dân Ít-ra-en này không còn hiểu gì nữa. Họ đã chờ đợi Đấng Mê-si-a như một “ông vua”, một Đa-vít mới. Vương quyền đã kéo dài ít lâu trong lịch sử họ, với lúc huy hoàng là thời Đa-vít và Sa-lo-mon, song mọi ông vua tiếp đó đều không có tầm cỡ như hai vị. Từ bao thế kỷ, họ đã mơ mộng một Đấng Mê-si-a vương đế, hiếu chiến, đánh bại các kẻ thù. Vâng, họ đã tưởng rằng Đức Giê-su đến “khôi phục vương quyền tại Ít-ra-en”, nên đã thử tôn Người lên làm vua, nhưng Người đã bỏ chạy (Ga 6,15; Lc 19,38). Và bây giờ, Người có đó, bị kết án tử!

Khác với đám dân đứng nhìn, im lặng và ngạc nhiên, đau đớn và thất vọng… thì “các thủ lãnh buông lời cười nhạo: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!” Các thủ lãnh thách thức Đức Giê-su bày tỏ “vương quyền Ki-tô của Người”. “Ki-tô” (“kẻ được Thiên Chúa xức dầu”) là một vương tước, vì vua chúa Ít-ra-en từng được gọi vậy và thật sự đã được “thánh hiến” bằng dầu thánh, khiến họ trở thành những Ki-tô (do chữ Christos của Hy-lạp, dịch từ Mê-si-a của Hip-ri). Nếu Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, là người được tuyển chọn (từ ngữ mượn nơi Is 42,1), là Đấng Cứu thế, thì trước hết Người hãy tự cứu mình!

Các lời gào thét của đám chế giễu làm vọng lại các gợi ý của ma quỷ khi Đức Giê-su bị cám dỗ ở hoang địa, ngày đầu đời công khai (x. Lc 4,3)… cũng như các lời quở trách của đồng hương ở Na-da-rét: “Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình trước” (Lc 4,23). Trong thế giới hiện đại của chúng ta, hạng “chế giễu Thiên Chúa” không mấy còn cao giọng làm việc ấy, nhưng vẫn luôn là cùng câu hỏi, cùng lầm lẫn: “Thiên Chúa hãy tỏ mình ra cho chúng tôi xem nào! Người xuất hiện đi nếu Người có thật!”. Và câu trả lời của Thiên Chúa luôn là câu trả lời của Đức Giê-su: im lặng, không can thiệp ở mức độ các sự vật mà Người để cho hiện hữu với tất cả sự tự trị của chúng… Người chẳng tự biện hộ cho mình… Người để mình bị tố cáo là bất lực và không hiện hữu… Như Thiên Chúa, Đức Giê-su đã chẳng bao giờ chiều theo cám dỗ “hành động vì mình”, sử dụng Toàn Năng của mình cho chính mình. Đó đâu phải là cung cách của Tình yêu!

Cả “lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là Vua dân Do-thái thì tự cứu mình đi!” Chính những người Rô-ma ngoại giáo thuộc đạo quân chiếm đóng sử dụng tước hiệu “vua” cho Người. Chế giễu tột mức đối với kẻ bị gạt ra bên lề này, chịu treo thập giá này, vốn đang thở có tiếng ran… Lại một tên xưng hùng xưng bá nữa!

Chưa hết! “Phía trên đầu Người, có bản án viết: “Đây là Vua người Do-thái”. Nghi lễ đăng quang của vua chúa tại Ít-ra-en thường bao gồm việc tấn phong: một tư tế, nhân danh chính Thiên Chúa, ban cho vua “tước hiệu” qua lời đọc như thấy trong Thánh vịnh: “Ngày đăng quang Con nắm quyền thủ lãnh, vẻ huy hoàng rực rỡ tựa thần linh. Ngay trước lúc hừng đông xuất hiện, tự lòng Cha, Cha đã sinh Con” (Tv 109). Ở đây, bên trên “ngai” ứng biến là thập giá, bản án dùng làm sắc phong tương tự lời Chúa Cha tấn phong Con mình trên giòng nước Gio-đan ngày Người chịu phép rửa: “Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (Lc 3,22). Theo các Tin Mừng, Đức Giê-su đúng là đã tự giới thiệu mình như một ông vua, nhưng “vương quyền chẳng thuộc thế gian này” (Ga 18,36). Trong tất cả sứ vụ của mình, Người đã hết sức chú ý để thiên hạ không thể giải thích sứ vụ ấy theo chiều hướng chính trị. Vương quyền Người đúng là được thiết lập “ở trần gian”, nhưng không tranh chấp với các “vương quốc hay hệ thống chính trị trần thế”. Thập giá này, ngai báu này, vương tước này làm vỡ tung mọi “hy vọng ảo tưởng” về một thứ Mê-si-a vua chúa tại Ít-ra-en.

Cuối cùng, “một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng xỉ vả Người: ‘Ông không phải là Đấng Ki-tô sao? Cứu mình đi xem nào, và cứu chúng tôi với!’” Giê-su đúng là ông vua bị nhạo báng đến cùng cực. Đã bị biến dạng, lột trần, phủ đầy đờm rãi, nhuộm máu toàn thân, có hai tên gian phi làm chứng nhân đăng quang và cận thần hầu hạ, giờ đây lại bị một trong hai đứa xỉ vả. (Thật ra đây là hai tay kháng chiến chống quân xâm lược, nhưng nhà cầm quyền Rô-ma, như nhiều chế độ độc tài hiện đại, đã hình sự hóa việc làm mang tính chính trị của họ. Tác giả Tin Mừng chỉ gọi họ theo cách thông thường giữa dân chúng). Trình thuật của Lu-ca quả đã được xây dựng cách bi thảm, trong một sự căng thẳng càng lúc càng dâng cao: dân chúng “đứng nhìn”… thủ lãnh “nhạo báng”…lính tráng “chế giễu”… bản án “lăng nhục”… và gian phi “xỉ vả”…

2. Những người công nhận

Nhưng trong tiếng la hét khinh bỉ của mọi người, này đây một giọng nói yếu ớt và khốn khổ cất lên, giọng của tên gian phi còn lại: “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” Chi tiết này hẳn đã được chính Đức Ma-ri-a nghe dưới chân Thập giá và đã kể lại cho vị thánh sử. Là tác giả Tin Mừng về lòng “thương xót” và về những “người nghèo”, Lu-ca hẳn đã đặc biệt vui mừng vì câu này, câu mà chỉ mình ông ghi lại.

Đấy là cái hôn đầu hết và cuối cùng của đức tin và tình yêu. Đức tin và tình yêu của tên “gian phi” thống hối. Vương quyền của Đức Ki-tô, Vương quốc của Thiên Chúa, chỉ mở ra cho những ai “thống hối”. Cách Đức Ki-tô thực thi vương quyền mình trên loài người, kể cả các kẻ thù, là ban ơn tha thứ cho họ (Lc 23,34.43)… một ơn tha thứ vô hạn! Để vào Vương quốc đó, thì không phải cần mang cho được danh hiệu “chính nhân”, song phải tự nhận mình là “tội nhân”, biết đón nhận ơn tha thứ luôn được Thiên Chúa cống hiến cho mình. Người thứ nhất cảm nghiệm sự hòa giải phổ quát này là một tên “gian phi” biết thừa nhận tội lỗi mình, đồng thời công bố sự vô tội của Đức Giê-su. Y đã đoán được Vương quốc mà Đức Giê-su chết cho là một vương quốc yêu thương tha thứ, và lời cầu nguyện khiêm tốn của y đã mở được cho y cánh cửa Vương quốc này: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”.

Nếu xem các câu tiếp (23,47-48), ta sẽ khám phá thêm hai hạng công nhận vương quyền ngược đời này của Đức Ki-tô. Đó là viên đại đội trưởng và những kẻ chứng kiến cảnh tượng. Khi thấy sự việc xảy ra, viên sĩ quan tôn vinh Thiên Chúa mà rằng: “Người này đích thực là người công chính”, còn đám đông thì đấm ngực trở về nhà. Họ đã nhận ra Đức Giê-su là vua cao cả, đích thật vì Người đã chiến thắng bản năng báo thù vốn có trong mỗi cá nhân, một bản năng sẽ chỗi dậy như vũ bão khi bản thân bị bách hại; vì Người đã chứng tỏ tình yêu mãnh liệt qua sự tự hiến, tự hiến suốt cuộc đời, tự hiến trong đau khổ và tự hiến bằng cái chết.

Để kết thúc việc suy niệm, ta hãy nghe bài thơ sau đây của một thi sĩ mô tả cái chết của Đức Giê-su theo cách Mẹ Người hỏi chuyện Người, đại ý như sau: “Con sẽ chết lúc đêm khuya, ở nơi kín đáo chăng? - Không, giữa ban ngày và ở nơi muôn mắt nhìn ngó. - Chung quanh con sẽ có bạn hữu yêu dấu chăng? - Không, bạn hữu đều tránh xa, chỉ có kẻ thù nghịch. - Con sẽ nằm trên giường êm ấm mà chết chăng? - Không, con sẽ bị treo trên cây thập tự. - Con sẽ chết lúc già nua yếu nhược chăng? - Không, chính lúc còn thanh niên mạnh khỏe. - Con sẽ chết cách vinh quang xứng đáng chăng? - Không, sẽ chết cách trần trụi ô nhục. - Xác của con sẽ được chôn cất lành lặn cả chăng? - Không, sẽ bị giáo đâm đinh đóng. - Con sẽ chết với những bậc hiền triết quân tử chăng? - Không, con sẽ chết giữa hai tên trộm cướp. - Tội nghiệp! Cớ sao con phải chịu nông nỗi dường ấy? - Để làm trọn thánh ý Đức Chúa Cha và để cứu loài người khỏi tội lỗi!”

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

-------------------------------

 

TN 34-ABC426: CHÚA GIÊSU KITÔ LÀ VUA

 

Suốt năm nay, dựa vào Luca chúng ta đã suy niệm về những hình ảnh gương mẫu của Chúa Giesu TN 34-ABC426


Suốt năm nay, dựa vào Luca chúng ta đã suy niệm về những hình ảnh gương mẫu của Chúa Giesu, đặc biệt sứ vụ Thương xót, Tha Thứ và Hòa Giải. Tin Mừng Luca đã chuyển động từ từ đi dần tới Thập Giá. Và hôm nay chủ đề đó đã đạt tới. Chúa Kitô chịu chết trên thập giá.

Lễ kính Chúa Kitô Vua nhằm Chúa Nhật kết thúc năm phụng vụ, là dịp chúng ta tìm hiểu về Chúa Giêsu Kitô Vua, về Vương Quyền của Người. Người là vua thế nào, có giống những ông vua trần thế không?

CÁI CHẾT CỦA CON THIÊN CHÚA, VUA DO THÁI

Câu chuyện Tin Mừng hôm nay (Lc 23:35-43) cho thấy kẻ tội lỗi biết ăn năn thống hối đã được Chúa Giêsu tha thứ và ban ơn cứu rỗi. Chúa đã luôn luôn nhắc nhở các môn đệ là nên tha thứ, không dùng bạo lực đáp trả bạo lực. Do đó Người đã tha thứ cho những kẻ đã kết án, đánh đập, xỉ vả và lấy dao đâm vào thân xác Người (Lc 23:34).

Việc Chúa Giêsu bị đóng đinh cùng với hai tên tội phạm đã ứng nghiệm lời Chúa nói trong bữa Tiệc Ly (Lc 23:33). Cuộc đối thoại giữa Chúa và hai tên trộm quả là thê lương và nhức nhối. Một tên đã a tòng với đám lính chế nhạo và thách thức Chúa: “Ông không phải là đấng thiên sai sao? Hãy tự cứu mình và cứu chúng tôi đi!” Nhưng tên kia biết mình có tội mắng lại hắn và xin Chúa thương tha thứ (Lc 23:39-43): “Mi cũng đang chịu cùng một hình phạt, mà không sợ Thiên Chúa sao? Chúng ta bị phạt như thế này là đáng rồi, còn ông này có làm gì nên tội đâu.” Rồi hắn thưa cùng Chúa “Thưa Ngài Giêsu, xin nhớ đến tôi khi Ngài về vương quốc của Ngài.” Chúa đã trả lời hắn: “Thật vậy, ta cho ngươi hay, hôm nay ngươi sẽ về ở cùng ta trên thiên quốc. Cuộc đàm thoại này giống như câu chuyên người thu thuế và người biệt phái cầu nguyện trong đền thánh (Lc 18: 9-14). Kết cục Chúa Giêsu hứa với tên tội phạm biết ăn năn hối cải, không chỉ được tha thứ mà còn có chỗ vinh dự trên thiên đàng.

Có ai tưởng tượng được Con Thiên Chúa, Vua dân Do Thái lại bị chết ô nhục như thế? Những tiếng tội phạm, bị kết án, bị đóng đinh, bị trần truồng, nhạo báng, xỉ nhục, cười nhạo, chửi rủa, bị tát vào mặt, bị nhổ nước miếng… quả khó có thể là đùa dỡn về một ông vua. Triều thiên là mạo gai. Sỉ nhục, ê chề thay cho vui mừng, tung hô ca tụng.

KHÁC BIỆT GIỮA VƯƠNG QUYỀN THIÊN CHÚA VÀ VƯƠNG QUYỀN TRẦN THẾ

Danh hiệu VUA của Chúa Giêsu không phải là danh hiệu Vua trần thế. Xuyên suốt lịch sử ơn cứu độ, Thiên Chúa đã hứa ban cho loài người một ông vua công chính, khôn ngoan, công bằng và ngay thẳng ở trần gian để muôn dân an tâm vui sống hạnh phúc. Và Thiên Chúa đã hoàn thành lời hứa đó qua Chúa Giêsu.

Vương quyền của Chúa Giêsu đã chia sẻ với loài người nỗi vô vọng, nhưng Người vẫn là nguồn mạch hy vọng và sự sống, điều mà tên tội phạm bị treo trên thập tự cùng với Chúa đã hiểu được phần nào (Lc 23:35-43). Hắn đã nghĩ đến triều đại mai sau, xin Chúa nhớ đến hắn khi về vương quốc và đã được Chúa tha thứ. Cách sống của Chúa Giêsu không như các vua trần thế. Vương quốc của Chúa không phải vương quốc mà Philatô nghĩ. Rôma là vương quốc thống trị, đặc quyền đặc lợi, oán thù, xâm lăng và chiếm đoạt. Vương quốc Giêsu, trái lại được xây dựng trên tình yêu, công lý, hòa giải, phục vụ và hòa bình. Ai là người có thể đạt tới tầm vóc vua như Đức Kitô mà vẫn giữ được tính ‘vô quyền’? Chiêm ngưỡng Chúa Giêsu trên thập giá, chúng ta có thể hiểu phần nào tước vị Vua của Chúa. Người không cúi đầu qụy lụy, không dùng bạo lực đáp trả bạo lực

ĐỨC KITÔ LÀ ĐẠI DIỆN CỦA THIÊN CHÚA Ở TRẦN GIAN

Nơi thư thánh Phaolô gửi tín hữu Colossians (Cl 1:12-20) đã tóm gọn ơn cứu chuộc của Thiên Chúa Cha. Hình ảnh đó biểu hiện cuộc xuất hành khỏi Ai Cập của dân Do Thái và tính vương quốc của chúa Giêsu Kitô. Cứu chuộc là tha thứ mọi tội lỗi (x. Cv 2:38; Rm 3:24-25; Ep 1:7).

Chúa Kitô cũng là Đấng sáng tạo trung gian (Cl 1:15-18a), là đại diện Thiên Chúa trong việc tạo dựng muôn loài muôn vật và có trước mọi sự, đồng thời là ơn cứu độ trần gian (Cl 1:18b-20).

Một điểm quan trọng nữa là thánh Phaolô gọi Giáo Hội là “thân thể Chúa Kitô” (1 Cr 12:12-27; Rm12:4-5) hoặc là“đầu của cơ thể”. Là trưởng tử được Thiên Chúa cho sống lại từ cõi chết (Cv 26:23; Kh 1:5) thì Người cũng được Thiên Chúa đặt đứng đầu cả cộng đồng Giáo Hội do chính Người đã dựng nên, đồng thời cũng là vua muôn loài muôn vật. Nhiệm vụ của Người là giúp mọi người hòa giải với nhau và với Thiên Chúa (Cl 1:20). Máu Chúa đã đổ trên thập giá (20) là dấu chỉ đặc biệt nhất về ơn cứu độ do cái chết của Đức Kitô (x. Cl 2:14-15; 1 Cr 1:17.18,23).

ĐÔI LỜI KẾT: VƯƠNG QUỐC THIÊN CHÚA VÀ GIÁO HỘI

Mừng lễ Chúa Kitô Vua, chúng ta nên hiểu rõ danh từ Vương Quốc và Triều Đại Thiên Chúa. Nếu dùng kỹ thuật điện tử tân kỳ thời nay để cắt nghĩa những mạc khải Kitô giáo và cách Giáo Hội truyền đạt những mạc khải đó thì quả là khó khăn vô cùng vì người ta sẽ hiểu sai danh từ “Vương Quốc” hay “Triều Đại Thiên Chúa” là danh từ chỉ Đức Giêsu Kitô và Giáo Hội của Người. 

Giáo Hội là cái xe chuyên chở cần thiết, là dụng cụ đặc quyền giúp chúng ta tiếp cận với Chúa Kitô, nhận cuộc sống của Người qua các phép bí tích, nghe Lời Người truyền dạy qua những giảng huấn của Giáo Hội, và làm cuộc hành trình đi đến một vương quốc thiên đàng đang ở trước mặt.

Chúa Giêsu là tiên tri vĩ đại, là Thiên Chúa mạc khải trọn vẹn và duy nhất, là Đấng Cứu Chuộc tất cả mọi người. Nên nhớ từ Kitô hữu thì không bao giờ vô nghĩa mà luôn luôn bao hàm ý nghĩa thần học, phối hợp, đi sâu vào một “viễn tượng” là “sự khôn ngoan” của thời đại ngày nay.

Chúa Giêsu đã mang những vết thương của Người về thiên đàng, ở đó cũng có một chỗ dành cho chúng ta. Có bao giờ chúng ta kêu lên rằng: “Chúa ơi, Chúa đang ở đâu?” Chúa đang treo mình trên thập giá, thân xác tan nát, hai tay giang ra như ôm lấy chúng ta, và âu yếm kêu gọi chúng ta cùng lên đó với Người và ngắm nhìn thế giới từ một viễn tượng hoàn toàn mới. Chúng ta cần phải kêu cầu lòng thương xót của Chúa, xin Chúa đừng quên chúng ta nơi Tân Jerusalem: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy nhớ đến tôi khi Chúa về vương quốc của Chúa”.

Từ vực sâu chúng ta có thể cầu nguyện cùng với Cleopas và người bạn đồng hành với ông trên đường Emmaus: “Lạy Chúa, xin ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều và ngày đã tàn.” Khi thất vọng ê chề tưởng như không lối thoát, chúng tôi vẫn còn hy vọng và nhớ lại tiếng Chúa vang vọng “Lạy Cha, con phó thác linh hồn con trong tay Cha.”

Vương quyền của Chúa ban cho chúng ta cái gì? Lễ kính Kitô Vua giúp chúng ta nhớ lại ơn cứu độ Chúa ban cho chúng ta qua những biến cố kinh hoàng đau thương. Khi chung quanh chúng ta mọi sự đều chìm đắm trong đêm tối u mê dày đặc, hủy hoại và chết chóc, chúng ta vẫn ‘không cô đơn’, trái lại được tràn đầy Hy Vọng vì chúng ta có Chúa bị treo trên thập giá, hai tay giang ra như đón chào và thương xót. Chớ gì chúng ta có đủ can đảm để kêu xin Chúa Kitô là Vua đầy lòng thương xót nhớ đến chúng ta nơi vương quốc của Người.

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

---------------------------------

 

TN 34-ABC427: ĐỨC VUA ĐAU KHỔ


Vua Muôn Vua – Thiên Vương Đệ Nhất
Chúa Các Chúa – Tạo Hóa Toàn Năng.

 

Chúa Giêsu là Vua nhưng không lễ đăng quang, không ngai vàng, không vương trượng, không vương TN 34-ABC427


Chúa Giêsu là Vua nhưng không lễ đăng quang, không ngai vàng, không vương trượng, không vương miện, không long bào,… như các vua chúa trần gian. Ngài là Vua-đa-không, và cũng chẳng được tiền hô hậu ủng, mà chỉ có những lời phản đối, chế giễu, nhạo báng,...

Qua trình thuật Lc 23:35-43, Thánh Luca kể lại giây phút “đăng quang” đặc biệt của Vua Giêsu: Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: “Hắn đã cứu người khác thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!” Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!” Phía trên đầu Người, có bản án viết: “Đây là vua người Do Thái.”

Vua Giêsu bị sỉ nhục đến tột cùng, nhưng Ngài vẫn im lặng. Sự im lặng của Ngài khiến những kẻ thủ ác hả hê và ngạo nghễ, tưởng mình đã chiến thắng. Sự kiêu ngạo thật tồi tệ! Không chỉ có thế, chính một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Ngài: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” Đúng là kẻ hợm hĩnh già mồm. Chết đến nơi mà còn hống hách với người khác.

Nghe “ngứa tai” nên tên kia lên tiếng mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” Xấu thì xấu, dữ thì dữ, ác thì ác, nhưng tâm hồn của anh ta không như dáng bặm trợn bề ngoài. Và rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Chúa Giêsu nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Tướng cướp khét tiếng Dismas với đời mà thật diễm phúc hơn ai hết.

Tội tày trời, cả đời không hề tỏ ra chút xót thương bất cứ ai, coi trời bằng vung, có lẽ chẳng ai dám “chơi ngông” như Dismas. Chỉ một lời sám hối chân thành, mọi tội lỗi của anh ta được Vua Giêsu xóa bỏ hết, gã được trắng án, không phải vô Luyện Hình, mà được cùng Chúa Giêsu vào Thiên Đàng ngay đêm hôm đó. Vua Giêsu nhân hiền và đại lượng ngoài sức tưởng tượng của loài người. Điều này nhắc nhở chúng ta đừng tuyệt vọng, dẫu có đôi khi cảm thấy thất vọng theo bản tính phàm nhân, hãy vững tin vào Lòng Chúa Thương Xót vô tận.

Nếu thất vọng về tình trạng tội lỗi của mình, đó là một dạng kiêu ngạo, vì không tin vào ơn tha thứ của Thiên Chúa. Vì thế, hãy vững tin, vì chính Chúa Giêsu đã xác định với Thánh Faustina: “Lòng Thương Xót của Ta lớn hơn tội lỗi của con và toàn thế giới.” (Nhật Ký, số 1485) Và Ngài hứa: “Không một linh hồn nào kêu gọi Lòng Thương Xót của Ta mà phải thất vọng bao giờ.” (Nhật Ký, số 1541) Lời hứa đó đã, đang và sẽ được áp dụng với bất cứ tội nhân nào chân thành sám hối, mãi cho đến tận thế.

Lễ Chúa Kitô Vua nhắc nhở những người có chức quyền điều rất quan trọng qua lời Chúa Giêsu xác định với Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài.” (Ga 19:11) Đừng tưởng có “quyền” rồi thì mặc sức “hành” người khác, vả lại “quyền” gì cũng có “hạn” – Việt ngữ thâm thúy khi gọi là quyền hạn. Mọi người đều là tôi tớ, Chúa Giêsu nói rõ: “Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, hoặc không làm theo ý chủ thì sẽ bị đòn nhiều. Còn kẻ không biết ý chủ mà làm những chuyện đáng phạt thì sẽ bị đòn ít. Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn.” (Lc 12:47-48)

Kinh Thánh cho biết: “Thiên Chúa của anh em là Thần các thần, là Chúa các chúa, là Thiên Chúa vĩ đại, dũng mãnh, khả uý, không thiên vị ai và không nhận quà hối lộ, xử công minh cho cô nhi quả phụ, yêu thương ngoại kiều, và cho họ bánh ăn, áo mặc.” (Đnl 10:17-18) Thiên Chúa là Vua Hòa Bình, Vua Công Lý, Vua Lòng Thương Xót, và mọi quyền hành đều phát xuất từ Ngài. Đặc biệt là Ngài chí công, nghiêm minh khi thưởng – phạt. Vua Giêsu là Thiên Chúa, thế mà Ngài đã đi trọn con đường đau khổ mới có thể đạt tới Vương Quốc vinh quang, vĩnh hằng, chắc chắn chúng ta không thể đi bất cứ một con đường nào khác!

Người ta ví von rằng “hạnh phúc giống như chiếc đồng hồ, loại ít phức tạp thì ít hư hỏng, loại càng đơn giản thì càng bền. Dù ít hay nhiều, hạnh phúc nào cũng có nước mắt, loại chất lỏng có vị mặn chát. Tình yêu càng nhiều đau khổ, niềm hạnh phúc càng chan chứa. Cuộc sống cũng tương tự, hầu như đó là nguyên lý cuộc đời.

Sự sống và sự chết liên quan lẫn nhau. Sống mà cứ coi như mình sắp chết để có thể tránh nhiều thứ phiền toái, và thật kỳ lạ, chính cái chết lại là ngưỡng bước vào sự sống. Vinh quang và đau khổ là hai lĩnh vực trái ngược nhau nhưng lại liên quan lẫn nhau. Đức Kitô là Sự Sống, (Ga 14:6) tức là Nguồn Sống, bất cứ ai muốn đến với Chúa Cha đều phải đi qua “con đường của sự sống” ấy, không thể không “đi qua” chính Đức Kitô Giêsu.

Ngài là chính sự sống mà lại bị người ta giết chết, nhưng rồi Ngài đã chiến thắng Tử Thần và phục sinh vinh hiển, và mãi mãi Tử Thần phải thần phục Ngài. Ngài là Vua của muôn loài, và Ngài được Chúa Cha trao quyền xét xử muôn loài, ngay cả Satan cũng phải xuất đầu lộ diện mà trình diện Ngài: “Một ngày kia, con cái Thiên Chúa đến TRÌNH DIỆN Đức Chúa; Satan cũng đến trong đám họ để TRÌNH DIỆN Đức Chúa.” (G 2:1)

Trình thuật ngắn gọn 2 Sm 5:1-3 cho biết: Toàn thể các chi tộc Israel đến gặp vua Đavít tại Khéprôn và thưa: “Chúng tôi đây là cốt nhục của ngài. Ngay cả trước kia, khi ông Saun làm vua cai trị chúng tôi, chính ngài đã chỉ huy các cuộc hành quân của Israel.” Đức Chúa đã phán với ngài: “Chính ngươi sẽ chăn dắt Israel, dân Ta, chính ngươi sẽ là người lãnh đạo Israel.” Toàn thể kỳ mục Israel đến gặp vua tại Khéprôn. Vua Đavít lập giao ước với họ tại Khéprôn, trước nhan Đức Chúa. Rồi họ xức dầu tấn phong Đavít làm vua Israel.

Thời Cựu Ước, Quốc Vương là hình bóng tiên báo về Vị Thiên Vương Tối Cao thời Tân Ước là Đức Giêsu Kitô. Điều tiên báo từ ngàn xưa đã ứng nghiệm từ hai ngàn năm qua: Đức Kitô đã đến thế gian. Và chính Ngài cũng đã xác định: “Ai NGHE lời tôi và TIN vào Đấng đã sai tôi thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.” (Ga 5:24) Vua chúa trần gian có thể hét ra lửa, xử sao nên vậy, nhưng chỉ là cho sống hoặc bắt chết về phần xác mà thôi, còn Thiên Chúa là Chúa của các chúa, Vua của các vua, đặc biệt là Ngài “có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.” (Mt 10:28) Tử Thần còn khuất phục thì không ai có thể trái lệnh Ngài!

Chúng ta được là thần dân của Thiên Vương Giêsu, Thánh Vương Kitô, thật là hạnh phúc biết bao! Không thể có niềm hạnh phúc nào khác khả dĩ so sánh được với niềm hạnh phúc mà chúng ta đang được tận hưởng. Khi vui mừng, chắc chắn người ta không thể trì hoãn cái sự sung sướng ấy được. Thánh Vịnh gia cũng người trần mắt thịt, thế nên không thể không bày tỏ hạnh phúc: “Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: ‘Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa!’ Và giờ đây, Giêrusalem hỡi, cửa nội thành, ta đã dừng chân.” (Tv 122:1-2)

Nhà Chúa luôn linh thiêng, khó diễn tả bằng phàm ngôn, vì đó là Nhà Cầu Nguyện. Giêrusalem là hình bóng của Thánh Đô Thiên Quốc. Dù là Đền Thờ nơi trần gian nhưng vẫn được xây dựng một cách đặc biệt. Thánh Vịnh gia mô tả: “Giêrusalem khác nào đô thị được xây nên một khối vẹn toàn. Từng chi tộc, chi tộc của Chúa, trẩy hội lên đền ở nơi đây, để danh Chúa, họ cùng xưng tụng, như lệnh đã truyền cho Israel. Cũng nơi đó, đặt ngai xét xử, ngai vàng của vương triều Đavít.” (Tv 122:3-5)

Từ ngàn xưa đến muôn đời, Đức Giêsu Kitô là Vua cả vũ trụ, cả càn khôn, cách riêng Ngài là Vua của cuộc đời mỗi chúng ta. Hãy không ngừng tôn vinh Ngài: “Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đavít, tổ phụ chúng ta. Hoan hô trên các tầng trời!” (Mc 11:10) Với diễm phúc này, chúng ta có dành cả đời để dâng lời cảm tạ cũng không đủ. Mong ước chúng ta được tiếp tục là thần dân của Ngài nơi Thiên Quốc Vĩnh Hằng để chúc tụng Ngài đời đời. Niềm vui nối tiếp nỗi mừng, hạnh phúc tăng theo cấp số nhân. Niềm vui quá lớn, hạnh phúc dạt dào. Thật khó tả!

Với kinh nghiệm từng trải và bằng cảm nghiệm tâm linh sâu sắc, Thánh Phaolô chân thành nhắn nhủ: “Anh em hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha, đã làm cho anh em trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của dân thánh trong cõi đầy ánh sáng. Người đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái; trong Thánh Tử, ta ĐƯỢC ơn cứu chuộc, ĐƯỢC thứ tha tội lỗi.” (Cl 1:12-14) Quả thật, tội nhân chúng ta có mơ cũng chẳng thấy, thế nhưng không phải là mơ mà là sự thật.

Thánh Phaolô giải thích cặn kẽ: “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng NHỜ Người và CHO Người.” (Cl 1:15-16) Được làm thụ tạo là hạnh phúc lắm rồi, nhưng chúng ta không chỉ là thụ tạo mà còn được làm người, hơn hẳn các loài thực vật, sinh vật và động vật, đặc biệt còn được làm con cái của Thiên Chúa. Điều đó được chứng minh qua hằng ngày, chúng ta hãnh diện được gọi Thiên Chúa là Thân Phụ: “Lạy Cha (của) chúng con, Đấng ngự ở trên trời,…” Thật là trên cả tuyệt vời, diễm phúc vô cùng!

Thánh Phaolô cho biết: “Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người. Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu. Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.” (Cl 1:17-20)

Chúa Giêsu là Huynh Trưởng, còn tất cả chúng ta là những tiểu đệ và tiểu muội của Ngài. Ngài là Vua, vậy chúng ta là em của Vua, nghĩa là chúng ta thuộc Hoàng Gia. Đặc biệt hơn, chúng ta còn được hòa tan vào Vua Giêsu Kitô, nên một với Ngài mỗi khi lãnh nhận Thánh Thể. Vô cùng kỳ diệu, trí óc phàm nhân không thể hiểu thấu.

Đức Vua Kitô đau khổ, chúng ta cũng phải đau khổ. Ngài đã chết và phục sinh vinh quang, chúng ta cũng vậy. Quả thật, Thánh Phaolô nói: “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người. Nếu ta chối bỏ Người, Người cũng sẽ chối bỏ ta.” (2 Tm 2:11-12)

Lạy Thánh Phụ, xin ban thêm những ơn cần thiết để chúng con sống xứng đáng là con cái của Ngài, xin tha thứ những lần chúng con yếu đuối. Xin ban Thần Khí hướng dẫn chúng con đi đúng hướng Ngài muốn. Chúng con cầu xin nhân danh Thiên Vương Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

--------------------------------

 

TN 34-ABC428: CHÚA KITÔ CÓ PHẢI LÀ VUA CỦA BẠN KHÔNG?

 

Hôm nay là Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng Vụ. Xin mời bạn cùng với tôi đọc qua lời nguyện TN 34-ABC428


Hôm nay là Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng Vụ.

Xin mời bạn cùng với tôi đọc qua lời nguyện nhập lễ, và lời Kinh Tiền Tụng của ngày Lễ Chúa Kitô Vua.

- Nhập lễ: “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã muốn quy tụ muôn loài dưới quyền lãnh đạo của Ðức Kitô là người Con Chúa hằng ưu ái, và là Vua toàn thể vũ trụ. Xin cho hết mọi loài thọ sinh đã được cứu khỏi vòng nô lệ tội lỗi biết phụng thờ Chúa là Ðấng cao cả uy linh và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng.”

- Kinh Tiền Tụng: “Lạy Chúa, Chúa đã xức dầu hoan lạc tấn phong Con Một Chúa là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con làm linh mục đời đời và làm vua vũ trụ, để khi hiến thân trên bàn thờ thập giá làm lễ phẩm hoà giải và tinh tuyền, người hoàn tất mầu nhiệm cứu chuộc chúng con. Khi đã bắt mọi loài quy phục quyền bính mình, Người trao lại cho Chúa là Ðấng uy linh cao cả, một vương quốc vĩnh cữu và vô biên: vương quốc đầy tràn sự thật và sự sống, đầy tràn ân sủng và thánh thiện, đầy tràn tình thương, công lý và bình an.”

Sau khi đọc qua hai lời kinh nguyện trên, bạn có thấy Mẹ Giáo Hội nhắc nhở chúng mình điều gì không? Riêng tôi, tôi nhận ra rằng, Mẹ Giáo Hội muốn nhắc nhở tôi 3 điều rất quan trọng sau đây:

Ø Thứ nhất, Chúa Giêsu chính là Vua vũ trụ. Ngài là Vua trên các vua, và là Chúa trên các chúa.

Ø Thứ hai, qua Bí Tích Rửa Tội, tôi trở thành con Chúa, thuộc dòng dõi hoàng tộc, và là công dân Nước Trời.

Ø Thứ ba, Thiên Quốc là quê hương thật, là cùng đích, và là nơi cư ngụ vĩnh viễn của tôi.

Bạn có nhận ra rằng (1) Chúa Giêsu là Vua của bạn; (2) Bạn là con của Chúa, là Hoàng Tử, là Công Chúa, là công dân Nước Trời; và (3) Thiên Quốc mới là quê hương thật của bạn không? Nếu bạn chưa nhận ra ba điều này, hay đối với bạn ba điều này chả có gì là quan trọng cả, thì tôi xin bạn hãy suy nghĩ lại, tôi cũng xin Chúa ban cho bạn ơn khôn ngoan để bạn chú ý hơn đến 3 điều đó. Bởi vì, đối với tôi, 3 điều mà Mẹ Giáo Hội nhắc nhở cho tôi qua lời nguyện Nhập Lễ và Kinh Tiền Tụng vô cùng quan trọng. Thật vậy!

1. Khi nhận ra rằng Chúa Giêsu Kitô chính là Vua và là Chúa của tôi, thì:

• Tôi sẽ kính sợ và yêu mến Ngài trên hết mọi sự, bởi vì duy chỉ có mình Ngài là “Đấng đã giết rồi, lại có quyền ném vào hoả ngục” (Lc 12:5).

• Tôi sẽ không thờ lạy, và sẽ không làm nô lệ cho những ông vua có tên: tiền, xe cộ, sex, nhà cửa, sắc đẹp, danh vọng, địa vị … Bởi vì tất cả những vua này không bao giờ đem lại cho tôi sự bình an và hạnh phúc lâu dài và đích thực, nhưng chỉ đem lại những hạnh phúc giả tạo, ngắn ngủi và phù phiếm.

2. Khi tôi ý thức rằng, tôi là Con Chúa, thuộc dòng dõi hoàng tộc và là công dân Nước Trời, thì:

• Tôi sẽ không làm những điều xấu xa khiến cho Vua Cha của tôi, và anh chị em trong dòng dõi hoàng tộc của tôi phải mất mặt, phiền lòng và đau khổ.

• Tôi sẽ cố gắng hết sức mình để chu toàn bổ phận của một công dân Nước Trời, qua việc tuân giữ Mười Điều Răn của Chúa, và Năm Điều Răn của Hội Thánh.

• Tôi sẽ không làm cho đồng bào của tôi ở Thiên Quốc phải xấu hỏ hay bẽ mặt vì tôi. Nhưng sẽ cố gắng sống tốt và làm những việc lành, để ngày sau hết, tôi sẽ được định cư trên Thiên Quốc với các ngài.

3. Khi tôi nhận ra rằng, Thiên Quốc chính là quê hương thật và là cùng đích của đời tôi, thì:

• Tôi sẽ không cắm cúi lo đầu tư vào căn nhà tạm ở trần thế này, nhưng tôi sẽ hướng lòng trí về Thượng Giới, lo đầu tư thật nhiều vào căn nhà vĩnh viễn ở trên trời.

• Tôi sẽ cố gắng làm mọi sự, chấp nhận mọi gian nan thử thách, dám đánh đổi tất cả, và tận dụng mọi phương tiện Chúa ban để có được tấm VISA vào định cư vĩnh viễn nơi Thiên Quốc.

Tôi tin chắc rằng, nếu bạn và tôi lắng nghe những lời nhắc nhở của Mẹ Giáo Hội về ba điều trên, xác tín rằng chỉ có Chúa mới là Vua của mình, và cố gắng hết sức mình để kính thờ Chúa, giữ gìn thanh danh của Hoàng Tộc, cũng như luôn hướng lòng về thượng giới, lo đầu tư tất cả vào đời sống mai hậu… thì trong ngày sau hết, Đức Vua Giêsu sẽ cho chúng mình được định cư ở Thiên Quốc. Ở đó, chúng mình sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Đức Mẹ Maria và các chư thánh. Cố gắng lên bạn nhé! mục lục

Lm. Ansgar Phạm Tĩnh, SDD

-------------------------------

 

TN 34-ABC429: CHÚA KITÔ: VUA VŨ TRỤ, ĐẤNG XÓT THƯƠNG MUÔN LOÀI

 

Trong Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, chúng ta hướng về ngày cùng tận của thế giới TN 34-ABC429


Trong Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, chúng ta hướng về ngày cùng tận của thế giới, ngày mà chúng ta trông đợi Đức Giê-su uy nghi vinh hiển đến trong tư thế của một ông vua, không theo nghĩa thế trần. Đức Ki-tô sẽ đến như một vị vua đầy lòng nhân ái, quan tâm, lo lắng, chăm sóc và hy sinh cho toàn dân thuộc về Nước của Người, không loại trừ một ai.

Đó chính là đích điểm nói lên tình yêu, lòng thương xót của Người dành cho thế gian này. Và, để diễn tả ý tưởng này, phụng vụ của Hội Thánh, trong bài Tin Mừng hôm nay, đã mô tả những việc xẩy ra trong giây phút cuối đời của Chúa Giê-su khi Người bị treo trên Thập giá. Giây phút này được coi như cao điểm của những thử thách mà Đức Giê-su đã chiến đấu để hoàn tất vai trò và nhiệm vụ mà Chúa Cha đã trao phó. Những gì xẩy ra hôm nay được coi như thử thách hay cám dỗ cuối cùng mà Đức Giê-su cần phải đối diện. Trận chiến kéo Đức Giê-su ra khỏi thập giá được lập đi lập lại bởi những người đang hiện diện dưới chân của cây thập giá. Còn dân chúng thì đứng từ đàng xa mà nhìn.

Trước hết, các thủ lãnh cám dỗ Chúa: “hãy xuống khỏi thập giá đi!” Lý luận họ đưa ra thật xác đáng rằng nếu Đức Chúa đã từng giúp và cứu nhiều người thì giờ đây tại sao lại chịu trói như thế. Và nếu quyền năng của Thiên Chúa ở với Đức Chúa thì đây là giây phút bộc lộ cho mọi người biết thì hãy tự cứu mình đi. Nghe chúng nói thì chướng tai và nhìn họ lại thêm gai mắt; thôi thì biểu lộ uy quyền cho chúng biết tay. Nếu Đức Giê-su làm như thế sẽ mắc bẫy của chúng!

Quân lính cũng đưa ra món mồi tuơng tự: “Hãy xuống khỏi thập giá”. Vua mà không có quyền thì nói ai tin. Cứu mình khỏi cảnh ô nhục và cho muôn dân thấy vương quyền của Người. Lại một lời mời gọi đi con đuờng tắt dẫn vào ngõ cụt, trái ý Chúa Cha nên Người đã không theo.

Rồi đến người tử tội cũng muốn ăn ké; nhưng cám dỗ mà anh ta đưa ra chạm vào căn tính ‘Mesia’ của Người. Đức Kitô đuợc xức dầu, tấn phong để thực hiện nhiệm vụ của người tôi tớ, chứ đâu phải đến để tìm quyền lực và vinh danh hư ảo.

Đức Giê-su đã không chịu lùi bước, Người đã chiến đấu. Tuy vậy, truớc mắt họ thì hình như Đức Giê-su là nguời thua cuộc, thất bại. Nhưng, qua sự vâng phục thẩm sâu của Đức Giê-su như thế cho nên Thiên Chúa đã siêu tôn Người. Đức Giê-su đã đuợc Chúa Cha tôn vinh là Vua, là Chúa của muôn dân muôn nuớc. Qua tấm lòng hiếu kính và vâng phục, Người đã sửa lại những sai trật của con người từ nguyên thủy để ban cho tất cả nguồn ơn cứu độ.

Còn chúng ta thì sao?

Hãy ghé mắt nhìn vào tội nhân thứ hai. Tôi thấy trong anh có tôi. Anh là đại diện và là mẫu guơng cho các người thuộc về ‘nuớc’ của Đức Giê-su. Anh nhìn nhận lỗi phạm của chính mình và cũng nhận ra sự vô tội của Đức Giê-su, rồi cầu xin Người cứu vớt. Thái độ của anh hòan tòan khác và trái nguợc với những người thủ lãnh, quân lính và phạm nhân bên kia. Và anh đã đuợc cứu.

‘Hôm nay’ không phải ngày mai. Ngay bây giờ, ngay lúc này anh đuợc ở trên thiên đàng với Chúa. Thiên đàng ở đây không phải là nơi chốn, nhưng là tình trạng hiệp nhất hòan hảo giữa Chúa và anh. Anh đã đạt được sự hiệp thông trọn vẹn này qua việc nhận ra sự hèn yếu của bản thân mà nuơng tựa hoàn toàn vào Chúa. Trong mối dây hiệp nhất, anh được ơn tha thứ.

Đây cũng chính là điều mà chúng ta theo đuổi trong suốt cuộc đời. Lòng thuơng xót của Chúa là chốn nuơng thân cho những ai thuộc về Nước Thiên Chúa. Chúa thương xót để chúng ta xót thương nhau.

Sau đây là vài truyện ngắn nói lên một vài gương sáng để chúng ta cùng suy cùng gẫm:

Truyện thứ nhất xẩy ra vào một đêm khuya lạnh giá tại thành phố Dublin, bên Ái Nhĩ Lan. Có cô y tá đang vội vã chạy trên đường hầu bắt kịp chuyến xe buýt cuối cùng để về nhà, thì trước mắt cô là một cảnh tượng rất đáng thương tâm. Một người đàn ông trẻ tuổi nằm trên vỉa hè. Anh ta dường như là người say rượu hay mới bị ai đánh đang cần sự trợ giúp. Tuy đang vội, nhưng lòng trắc ẩn và lương tâm của một y tá đánh thức cô. Cô dừng lại để tìm cách giúp đỡ anh. Nhưng, khi cô vừa cúi mình xuống thì anh ta nhẩy chồm lên, chộp lấy chiếc xách tay của cô. Hai bên giằng co nhau. Cô không chịu buông tay và anh ta cũng không bỏ cuộc. Trong lúc dành giật, thì bỗng nhiên vào một khoảnh khắc nào đó, ánh mắt của họ gặp nhau và chàng thanh niên giả vờ bị thương mới buông tay ra và kêu lên ‘Ồ, chị là cô y tá Murphy,’ và họ bắt đầu trò chuyện.

Số là vào một thời gian trước đây, cậu thanh niên đó đã nằm trong nhà thương với một cái chân bị gãy, và cô y tá Murphy là người đã tận tình săn sóc và đối xử rất tốt với anh.

Trong khi nói chuyện, anh hỏi cô đi đâu? Cô y tá tốt bụng nói cho anh biết là cô đang trên đường đến trạm xe buýt để đón xe về nhà. Nghe đến đó, anh cùng với cô đi bộ đến trạm xe buýt, xin lỗi cô về những gì đã xảy ra và chào tạm biệt cô.

Truyện thứ hai được kể lại bởi mẹ Thánh Teresa thành Calcuta, bên Ấn độ. Vào một ngày kia, từ trong một cống rãnh đầy mùi hôi thối tại Calcuta, Mẹ đã nhặt được một người đàn ông và đưa ông về nhà dành cho những người đang hấp hối. Trước khi chết, anh thưa với mẹ rằng "Thưa sơ, khi còn sống con đã sống như một con vật nhưng khi chết con lại được yêu thương, chăm sóc và chết như một thiên thần." Mẹ vô cùng cảm kích khi nghe những lời như thế. Ông đã chết mà không oán trách hay nguyền rủa ai. Mẹ cảm thấy thật vinh dự khi có cơ hội giúp ông sống những giờ phút cuối đời với cảm giác được yêu thương và trân trọng như một thiên thần.

Lòng nhân ái và sự săn sóc đặc biệt của Mẹ Teresa, các nữ tu trong Dòng của Mẹ và chị y tá mang tên Murphy đã đánh động lòng tốt, sự thiện hảo của nhiều người, trong đó có một người sẵn sàng phạm tội ác. Anh đã được cảm hóa, không cướp giật vì qua việc làm nhân ái của cô y tá Murphy đã đánh thức bản tính thiện lương và lòng tốt mà Thiên Chúa, Đấng tạo hóa đã ban cho anh. Tất cả mọi vật Thiên Chúa tạo dựng đều tốt.

Ước gì qua lối sống xót thuơng mà chúng ta đặt tha nhân làm đối tượng sẽ giúp chúng ta nhận ra sự bất tòan của bản thân mà nương tựa vào Chúa. Vì trong khoảnh khắc như thế, Chúa làm cho con tim ta rung động, mắt ta sáng hơn, đôi tai ta nghe rõ hơn nhưng lời van xin của kẻ khác, nhất là những người nghèo. Họ đang chờ lòng xót thương của anh chị em.

Hãy nuơng tựa vào Chúa. Người chính là nguồn năng lực duy nhất giúp chúng ta tiếp tục sống và làm chứng cho thế giới nhận ra Chúa là Vua yêu thương, là Chúa của lòng thương xót. Amen!

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

--------------------------------

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây